Sáng Tác > Văn

09/04/2012 09:0611138 lượt xem

Trao duyên

Trao duyên

"Truyện Kiều" là tuyệt tác văn học của đại thi hào Nguyễn Du và của văn học Việt Nam.Tác phẩm có thể coi là một bi kịch lớn, chứa đựng những bi kịch nhỏ.

Ảnh internet

Thảo luận

"Truyện Kiều" là tuyệt tác văn học của đại thi hào Nguyễn Du và của văn học Việt Nam.Tác phẩm có thể coi là một bi kịch lớn, chứa đựng những bi kịch nhỏ. Quyết định bán mình chuộc cha của Kiều cũng là một bi kịch.Vì vậy, Kiều đã nhờ cậy Thúy Vân thay mình để trả nghĩa cho chàng Kim. Giây phút trao duyên của Kiều gây cho chúng ta sự xúc động và ấn tượng mạnh.

TRAO DUYÊN

(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

I.         TÌM HIỂU CHUNG:

1.        Vị trí – hoàn cảnh trao duyên

–          Trích từ câu 723 đến câu 756 trong Truyện Kiều. (thuộc phần II “Gia biến và lưu lạc”)

Quyết định bán mình cứu cha và em, trong đêm cuối cùng trước khi theo Mã Giám Sinh, Kiều vẫn canh cánh món nợ tình cùng chàng Kim:

“Nỗi riêng, riêng những bàng hoàng,

Dầu chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn”.

Nghe tiếng sụt sùi của chị trong đêm:

“Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân,

Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han.”

Ngay lúc ấy, Kiều đã nảy ra ý định trao duyên – trao mối tình đầu dang dở cho Vân, nhờ Vân thay mình trả nghĩa chàng Kim. Đoạn trích khắc họa cảnh trao duyên cùng bao tâm tình trĩu nặng của nàng Kiều.

–          Trao duyênlà đoạn thơ mở đầu cuộc đời lưu lạc đau khổ và đẫm nước mắt của Vương Thúy Kiều. Đoạn thơ khắc họa bi kịch tình yêu tan vỡ, bi kịch được xem là mở đầu cho hàng loạt bi kịch liên tiếp xảy đến trong cuộc đời Kiều – nói cách khác: Trao duyên là âm hưởng mở đầu cho cung đàn bạc mệnh của nàng Kiều.

2.        Bốcục: 2 đoạn

–          Đoạn 1: 12 dòng đầu ®Kiều trao lời với Vân:

+  Lời ướm hỏi mở đầu(2 dòng đầu)

+   Lời tâm sự về cảnh ngộ éo le (6 dòng tiếp sau)

+   Lời thuyết phục Vân (4 dòng tiếp sau)

–          Đoạn 2: 14 dòng tiếp ®Trao kỉ vật và dặn dò Vân + tâm trạng khổ đau của nàng Kiều

+  Trao kỉ vật

+   Đau đớn vì tình yêu tan vỡ, Kiều ngỡ như mình đã chết. Dù ở cõi chết, Kiều vẫn mong muốn trở về gặp lại người yêu bằng linh hồn bất tử và khát khao nhận được sự thấu hiểu, cảm thông

–          Đoạn 3: 8 dòng cuối ®Lời độc thoại nội tâm – nỗi đau khổ đã lên đến tột cùng

+   Tâm trạng đau đớn tuyệt vọng vì mâu thuẫn trong tâm hồn không thể giải quyết được.

II.      TÌM HIỂU VĂN BẢN:

1.        Kiều trao lời với Vân:

a.        Lời ướm hỏi mở đầu:

–          Buổi trao duyên được mở đầu bằng những lời lẽ và thái độ khẩn thiết, chân thành, trang trọng:

Cậy em em có chịu lời,

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.”

+ Từ ngữ:

·      “Cậy”: nhờ bằng tất cả sự tin tưởng ®ý tha thiết gửi gắm.

Không phải “nhờ” mà là “cậy”, chị nhờ em giúp chị với tất cả lòng tin. Nhờ em nhưng cũng là gửi gắm vào em. Bao nhiêu tin tưởng, bao nhiêu thiêng liêng Kiều đặt cả vào từ “cậy” ấy! Thật vậy, từ “cậy” làm thanh điệu lời thơ trở nên trúc trắc, như góp phần diễn tả được cái quằn quại, khó nói của nàng Kiều và cả hy vọng tha thiết của một lời gửi gắm, nương tựa, trối trăng.

·      “Chịu”: nhận lời trong tâm thế bị ràng buộc, người được nhờ sẽ phải chịu thiệt thòi, đòi hỏi phải có sự chia sẻ, thấu hiểu, cảm thông đối với người nhờ mình ®cách dùng từ cho thấy Kiều rất hiểu sự khó xử của Vân ®khéo léo ràng buộc.

Kiều mở đầu lời trao duyên không chỉ bằng lời tha thiết gửi gắm, có sức ràng buộc mà còn bằng cả một thái độ khẩn khoản, chân thành:

+ Thái độ: mời em ngồi … lạy… thưa

Kiều không phải “nói” với em mà là “thưa”, kèm với “lạy”. Hành động của nàng Kiều bất ngờ đến mức philí mà hợp lí biết bao. Việc cậy nhờ phải thiêng liêng đến mức nào mới có sự "thay bậc đổi ngôi" giữa hai chị em như thế. Kiều là người chịu ơn, muốn bày tỏ lòng biết ơn của mình trước sự hi sinh to lớn và cao quí của em. Hành động “lạy” rồi mới “thưa” đầy kính cẩn của nàng Kiều vừa tạo không khí trang trọng cho buổi trao duyên, vừa cho thấy nàng xem Vân là ân nhân của mình, vừa thể hiện được lòng biết ơn sâu nặng của Kiều đối với nghĩa cử cao đẹp của Vân.

®   Hiểu rõ việc mình sắp cậy nhờ em là một việc hết sức hệ trọng và tế nhị, Vân sẽ khó xử, vì vậy Kiều đã mở đầu buổi trao duyên bằng những lời lẽ thiết tha gửi gắm, khéo léo ràng buộc và bằng cả một thái độ khẩn khoản, chân thành, đầy kính cẩn khiến Vân khó lòng từ chối.

b.        Lời tâm sự về cảnh ngộ éo le:

“Giữa đường đứt gánh tương tư,

Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.

Kể từ khi gặp chàng Kim,

Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.

Sự đâu sóng gió bất kì,

Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.”

Trong lời tâm sự, Kiều có nói “Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai” nhưng thật ra mâu thuẫn trong lòng Kiều lúc này không phải là mâu thuẫn giữa hiếu và tình (Kiều đã từng cân: “Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn” và Kiều đã chọn chữ hiếu, đành phụ chữ tình với chàng Kim). Giờ đây, khi đang đứng trước một mối tình không trọn vẹn, Kiều rơi vào mâu thuẫn giữa hạnh phúc đã có trong quá khứ và sự đau khổ trong hiện tại:

Khigặp chàng Kim                              “đứt gánh tương tư”    

Khingàyquạt ước                               “keo loan chắp mối tơ thừa”

Khi đêmchén thề                                 “sóng gió bất kì”


hạnh phúc đã có                              khổ đau đang hiện hữu.

–          Quá khứ hạnh phúc:

+   Điệp từ “khi” cộng với từ chỉ thời gian không hạn định “ngày, đêm” và hình ảnh ước lệ “quạt ước, chén thề” cho thấy Kiều vừa kể với Vân về mối tình giữa mình với chàng Kim, vừa hồi tưởng, vừa sống lại với những kỉ niệm êm đềm, những tháng ngày hạnh phúc ®mối tình đẹp, sâu đậm, thiêng liêng.

Mối tình giữa Kiều với chàng Kim không chỉ là một mối tình đẹp mà còn là một mối tình sâu đậm, thiêng liêng vì mối tình ấy có lời thề son sắt, có chén rượu giao bôi, có vật làm tin và có vầng trăng làm chứng.

–          Hiện tại đổ vỡ, chia lìa:

+   Nỗi đau khổ của Kiều vì tình yêu dang dở được thể hiện qua câu thơ mang sắc thái thành ngữ “Giữa đường đứt gánh tương tư”. Hình ảnh “đứt gánh tương tư” nói lên sự bất lực, tuyệt vọng của Kiều khi tình yêu đột ngột tan vỡ bởi “sóng gió bất kì”.

®   Lời Kiều nói với Vân tưởng chừng như chỉ là lời kể đơn thuần để Vân hiểu được tình cảnh của mình, thật ra, bên trong lời kể ấy là cả một tấm lòng, là sự dồn nén, chất chứa biết bao đớn đau, mất mát, chia lìa.

Nỗi đau khổ vì không giữ trọn lời đính ước với chàng Kim đã buộc Thúy Kiều phải nói thật, nói hết với em, phải giãi bày tất cả. “Gánh tương tư” đâu có nhẹ nhàng gì, nhưng vì trong tình cảnh “giữa đường đứt gánh”, không còn cách nào khác Kiều phải cậy nhờ em. Gánh nặng vật chất thì san sẻ được, nhờ người khác giúp được, còn “gánh tương tư” làm sao “trao” được cho người, thế nhưng Kiều vẫn phải “trao”. Trong tình cảnh ấy, ai mà không đau khổ. Vậy mà, nàng Kiều đã phải gắng gượng, nuốt lệ vào trong để giải bày tâm sự cùng em, để nói lời thuyết phục với em.

c.         Lời Kiều thuyết phục Vân:

“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”

–          Kiều thuyết phục Vân bằng những lời lẽ khéo léo, ràng buộc:

+   Tuổi xuân của Vân (Kiều nói “ngày xuân em hãy còn dài” cũng có nghĩa là thừa nhận ngày xuân mình đã hết).

+   Lay động ở em tình máu mủ ruột thịt (chỉ có tình chị em thiêng liêng sâu nặng mới có thể khiến em vì chị mà gánh lấy trách nhiệm nặng nề).

+   Kiều viện dẫn cả cái chết để ràng buộc em (vì nghĩa chết là nghĩa tận) và nói lên sự thanh thản, toại nguyện của mình nếu Vân đồng ý, qua đó thể hiện lòng biết ơn, trân trọng của Kiều trước sự hi sinh cao đẹp của em.

®   Lời nhờ cậy, thuyết phục của Kiều tế nhị, chân tình. Lí lẽ của Kiều thể hiện sự thông minh, sắc sảo song cũng rất nghĩa tình.

Þ   Kiều đã thuyết phục em bằng ngôn ngữ của lí trí, bằng cả “lí, sự, tình”. Lời lẽ của nàng điềm tĩnh, rạch ròi song dường như có sự kìm nén tình cảm và nỗi đau.

2.        Trao kỉ vật cho Vân và tâm trạng đau khổ của nàng Kiều:

“Chiếc vành với bức tờ mây,

Duyên này thì giữ /vật này /của chung.

...

Rưới xin giọt nước cho người thác oan.”

–          Kiều đã không thể kìm nén tình cảm, cảm xúc của mình nên đã thốt lên tiếng nói chân thành của trái tim: “Duyên này thì giữ vật này của chung.”

Lời có thể trao, nhưng khi nhìn thấy kỉ vậtvật chứng tình yêu, Kiều không thể và không nỡ trao đi. Nhìn thấy kỉ vật như nhìn thấy người, tình yêu, kỉ niệm, … như hiện hữu. Vì vậy, Kiều đã dùng dằng khi trao kỉ vật. Để Kiều thốt lên hai tiếng “của chung”, Nguyễn Du đã để lí lẽ của con tim nàng lên tiếng. Kiều có thể trao cho em trọn vẹn chữ “duyên”, còn bao nhiêu tình cảm trong đó Kiều không thể trao đi. Nhịp thơ 4/2/2 diễn tả sự lưu luyến, ngập ngừng và từ "của chung" nhấn mạnh nỗi xót xa của một trái tim sâu đậm đang nhói đau, quặn thắt.

=> Trao lời, trao kỉ kỉ vật, trao duyên nhưng không trao tình.

®   Đây cũng có thể hiểu là mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm. Về lí trí, Kiều muốn Kim Trọng hạnh phúc nên gá nghĩa Thuý Vân cho chàng; nhưng về tình, tình yêu của Kim - Kiều quá sâu nặng nên Kiều không thể trao đi, dù là trao cho em mình. Tình yêu sâu nặng mà vẫn phải "trao duyên" chứng tỏ rằng Kiều là người trọng tình yêu và vì tình yêu, Kiều đặt hạnh phúc của người yêu lên trên hết. Đó là biểu hiện của một tình yêu đích thực, của tấm lòng vị tha, hi sinh cao cả.

–          Van nài em nhận lời trao duyên, mục đích đã đạt được nhưng đến đây, tâm trạng đau đớn của Kiều lại bùng lên mãnh liệt. Nàng cảm thấy như mình là kẻ "mất người", khi hạnh phúc, tình yêu không còn, cuộc sống đối với Kiều cũng trở nên vô nghĩa, nàng tự thấy mình là “người mệnh bạc”, đau đớn nghĩ đến cái chết:

“Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rảy xin chén nước cho người thác oan.”

–          Về hình thức, vẫn là lời Kiều nói với em, nhưng ta nghe như Kiều đang thì thầm với chính mình, quên đi sự có mặt của em, lời Kiều như từ cõi xa xăm vọng về. Trao duyên, tình yêu tan vỡ, Kiều tưởng như mình đã chết, hồn bay vật vờ trong gió mà trở về gặp lại người yêu bằng linh hồn bất tử: “Trông ra ngọn cỏ lá cây…………chị về”.

–          Lời Kiều là lời của một oan hồn khao khát nhận được sự đồng cảm nơi người còn sống: “Hồn còn mang nặng lời thề………cho người thác oan”.

®   Chới với trước viễn cảnh tương lai, Kiều như nửa tỉnh, nửa mê; nửa như đang sống, nửa như người đã chết. Nói với em mà lời Kiều như phảng phất từ cõi bên kia đang vọng về. Hình ảnh thơ chập chờn, ma mị, mang không khí liêu trai (ngọn cỏ, lá cây, gió hiu hiu, hồn, dạ đài, hương khói, …) thể hiện sự cảm nhận của Kiều về số phận bi thảm của mình, qua đó cho thấy nỗi đau đớn trong lòng Kiều đang dâng cao tột độ.

3.        Lời độc thoại nội tâm – nỗi đau khổ đã lên đến tột cùng:

–          Hướng đến tương lai đã không cho Kiều một sự giải thoát, quay về thực tại Kiều càng đau đớn bội phần. Tiếng nói thành tiếng than khóc, nói với em mà như nói với chính mình, rời quên hẳn xung quanh chỉ còn hướng đến người yêu đang vắng mặt:

“Bây giờ trâm gãy bình tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng
Ôi Kim lang! hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây
Cạn lời hồn ngất máu say
Một hơi lặng ngắt hai tay giá đồng.”

–          “Bây giờ” của Kiều là “trâm gãy gương tan”, “tơ duyên ngắn ngủi”, là“phận bạc như vôi”, là“nước chảy hoa trôi”. Hình ảnh ước lệ “trâm gãy gương tan” và một loạt những thành ngữ, từ ngữ dân gian cho thấy sự ý thức sâu sắc về bi kịch hiện tại của Thuý Kiều. Thực tại đó hoàn toàn đối lập với quá khứ hạnh phúc, đẹp đẽ không sao kể xiết mà nàng đã có "muôn vàn ái ân". Quá khứ giờ đây đã trở thành niềm khát khao mãnh liệt của Kiều. Bi kịch vì vậy càng sâu sắc.

–          Câu thơ “Trăm nghìn gửi lại tình quân” thể hiện sự day dứt, giày vò, biểu hiện tình yêu cao đẹp Kiều dành cho Kim Trọng, đồng thời cũng cho thấy một nhân cách vị tha trong sáng.

–          Khi bi kịch tình yêu lên đến đỉnh điểm, Kiều thốt lên tiếng kêu xé lòng: “Ôi Kim lang! hỡi Kim lang / Thôi thôi tiếp đã phụ chàng từ đây.”

+   Thán từ “ôi, hỡi” như một tiếng nấc đau thương.

+   Lời gọi được lặp lại một cách trang trọng “Kim lang” như một lời kêu cứu tuyệt vọng.

+   Nhịp thơ 3/3 ở câu trên như một tiếng nấc nghẹn ngào, trong khi đó, điệp từ “thôi” vừa thể hiện sự dằn vặt, vừa xác nhận sự phụ bạc, nhịp thơ ngân dài như một tiếng than vọng mãi không lời đáp, tiếng kêu cứu trong tuyệt vọng.

Đoạn trích kết lại bằng tiếng kêu xé lòng trong tột cùng đau đớn của Thúy Kiều khi nàng ý thức sâu sắc bi kịch tình yêu tan vỡ của mình. Kiều thương mình thì ít, thương cho chàng Kim thì nhiều. Nàng đã nhận hết mọi trách nhiệm của sự tan vỡ tình duyên về mình. Có thể nói, trong đau khổ tột cùng Kiều vẫn sáng lên vẻ đẹp của một nhân cách cao thượng: ân cần, chu đáo với Kim Trọng mà vẫn tự trách, nàng quên đi bất hạnh của mình để cảm thông cho người khác. Đây là giây phút độc thoại thật nhất, nhân bản nhất.

®   Lời trao duyên khép lại bằng một lời than, bằng một tiếng kêu đớn đau, tuyệt vọng bởi tình yêu tan vỡ nhưng đó là lúc khát vọng tình yêu được lên tiếng.

Khát vọng mãnh liệt, đau khổ tột cùng, Kiều rơi vào cơn mê sảng:

“Cạn lời hồn ngất mau say,

Một hơi lạnh ngắt, đôi tay lạnh đồng.”

Bởi:

“Nợ tình chưa trả cho ai,

Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.”

Trong câu chuyện tình bi thảm giữa Trương Chi và Mị Nương, linh hồn của chàng Trương cùng mối oan tình đã được hóa giải bởi giọt nước mắt của Mị Nương. Còn trong câu chuyện tình giữa Kiều và chàng Kim, nàng Kiều đau khổ hơn chàng Trương bội phần bởi nỗi oan tình không thể giải, nàng cũng không thể chết, mười lăm năm cay cực, lên thác xuống ghềnh còn đang đợi sẵn “người mệnh bạc”.

III.   Tổng kết:

–          Trao duyênlà âm hưởng mở đầu cho cung đàn bạc mệnh của Thuý Kiều. Đoạn trích khắc hoạ những phẩm chất cao đẹp của Thúy Kiều: son sắt, thuỷ chung, giàu đức hi sinh, giàu lòng vị tha, quên mình vì hạnh phúc của người khác. Qua đoạn trích, Nguyễn Du đã tỏ ra thấu hiểu, cảm thông với những khổ đau và khát vọng tình yêu của nàng Kiều – một con người vừa cao cả về mặt đạo đức, vừa nhân bản về mặt con người.

–          Tài năng bậc thầy của Nguyễn Du trong việc miêu tả nội tâm nhân vật (vừa sâu sắc, vừa phức tạp, vừa tinh tế), sử dụng ngôn từ chọn lọc, hàm súc đã được khẳng định qua đoạn trích.

    Tin mới nhất

    Tin mới nhất