Bài học kinh nghiệm về hợp pháp hóa mại dâm

Bài học kinh nghiệm về hợp pháp hóa mại dâm

Khi ý kiến về việc coi mại dâm là một nghề hợp pháp được đưa ra đã ngay lập tức vấp phải sự phản đối gay gắt của dư luận với lý do làm như vậy là đi ngược lại giá trị đạo đức, cổ súy cho vấn nạn vốn đã gây nhức nhối trong xã hội bao lâu nay.

1. Thực trạng mại dâm tại Việt Nam:

Theo số liệu của Hội nghị tổng kết phòng chống mại dâm, cả nước ước tính có khoảng 31.000 người bán dâm, phần lớn là nữ giới. Độ tuổi bán dâm ngày càng trẻ hóa: Từ 18 - 25 tuổi chiếm 42%, từ 25 - 35 tuổi chiếm 35%. Đặc biệt số trẻ vị thành niên từ 16 - 18 tuổi chiếm 15,3%.

Có rất nhiều hang ổ mại dâm bị triệt phá, các phương tiện truyền thông cũng liên tục nói về tác hại của tệ nạn mại dâm, nhưng nó vẫn tồn tại và có xu hướng ngày càng gia tăng. Chủ yếu vẫn là núp bóng các cơ sở như nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ, quán karaoke, cà phê, mátxa, tẩm quất... đó là hệ quả từ việc dễ dãi trong việc cấp giấy phép kinh doanh nhưng lại lỏng lẻo trong công tác quản lý. Tệ nạn mại dâm còn ngày càng biến tướng dưới nhiều hình thức, tận dụng sự phát triển của công nghệ, rao bán dâm trên cả Internet, điện thoại di động. Cao cấp hơn thì phục vụ theo tour du lịch, phục vụ tại các trung tâm spa dành cho du khách nước ngoài và các quý ông lắm tiền nhiều của, đó là dịch vụ khá mới mẻ xuất hiện trong thời gian gần đây.

Tháng 6/2012, Quốc hội thông qua việc sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính, trong đó có quy định gái mại dâm sẽ không bị đưa đi phục hồi nhân phẩm ở các Trung tâm mà chỉ bị phạt tiền 300 ngàn nếu lần đầu và 5 triệu nếu tái phạm. Nhiều ý kiến lo ngại rằng mại dâm sẽ lan tràn khi các biện pháp xử phạt quá nhẹ, không có tính răn đe. Việc xử lý kiểu phạt ít tiền rồi lại thả thì chẳng khác gì “bắt cóc bỏ đĩa”, theo chiều hướng này sẽ dẫn đến một hệ quả tất yếu: bán dâm thì chẳng e ngại gì, còn kẻ mua dâm thì cứ mặc sức mà mua.

Trước thực trạng nhức nhối về mại dâm, đã có đề xuất cho rằng: Có nên coi mại dâm là một nghề hợp pháp, để dễ bề quản lý? Điều này đã dấy lên cuộc tranh cãi trên bàn cân nghị sự, với hai luồng ý kiến trái ngược nhau.

2. Những quốc gia hợp pháp hóa mại dâm:

Ở các nước Châu Á, mại dâm vẫn là một vấn đề xã hội phức tạp, khó quản lý. Hành vi mua bán, môi giới mại dâm là bất hợp pháp sẽ bị xử phạt tùy theo mức án ở mỗi quốc gia khác nhau. 

Thậm chí, ngay ở Thái Lan, một quốc gia ở Đông Nam Á vốn nổi tiếng với “ngành công nghiệp không khói” (du lịch mại dâm, du lịch sex) mại dâm cũng bị coi là hoạt động bất hợp pháp cho dù đây là điểm đến của các khách du lịch “hám của lạ” đến từ khắp nơi trên toàn thế giới.

Tại Thái Lan, mại dâm bị luật pháp nghiêm cấm từ rất lâu bởi Đạo luật năm 1960, tiếp đó là Đạo Luật phòng chống mại dâm (1996) đã quy định cấm mọi hành vi mua bán dâm. Mua bán dâm sẽ bị phạt 1 tháng tù và/hoặc 1.000 baht, mua dâm trẻ em có thể bị tù 6 năm, còn chủ chứa sẽ bị phạt tù 3-15 năm. Năm 2003, Bộ Tư pháp Thái Lan đã từng đề xuất thảo luận về việc hợp pháp hóa mại dâm. Tuy nhiên, do vấp phải sự phản đối của dư luận và những lo ngại về hệ lụy xã hội nên đề xuất bị bãi bỏ.

Luật là như vậy, nhưng các nhà thổ vẫn hoạt động công khai dưới sự bảo kê của Mafia và sự làm ngơ (thậm chí hợp tác bảo kê) của chính quyền địa phương. Sự trái ngược giữa pháp luật và việc thực thi lớn đến nỗi nhiều người lầm tưởng mại dâm ở Thái Lan là hoàn toàn hợp pháp. Ở khía cạnh khác, nó cũng cho thấy sự yếu kém, "tiền hậu bất nhất" của hệ thống pháp luật Thái Lan, và thậm chí là cả sự lũng đoạn chính quyền địa phương của tội phạm có tổ chức.

Trong khi đó, tại Châu Âu đã có tới hơn 10 quốc gia thừa nhận mại dâm là một nghề hợp pháp. Danh sách các quốc gia đó là: Anh, Đức, Ý, Áo, Hà Lan, Thụy Sĩ, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Hungary, Phần Lan, Cộng Hòa Ireland, Tây Ban Nha và Latvia.

Khu vực Trung Mỹ và Nam Mỹ cũng có tới 9 quốc gia hợp pháp hóa công việc này: Mexico, Panama, Bolivia, Colombia, Ecuador, Paraguay, Peru, Uruguay, Venezuela.

Tuy là cho phép nhưng theo quy định thì các hoạt động mại dâm phải được quản lý nghiêm ngặt: Các đối tượng hoạt động mại dâm phải đi đăng ký, chấp hành lịch khám sức khỏe, xét nghiệm định kỳ để đảm bảo an toàn sức khỏe cho bản thân và người mua dâm, tham gia các khóa tư vấn về an toàn tình dục, được cấp phát miễn phí các biện pháp đảm bảo an toàn.

Vì đây được coi là một nghề kinh doanh nên bù lại, những người hoạt động mại dâm có nghĩa vụ phải đóng thuế cho Nhà nước. Chính quyền sẽ dễ dàng hơn trong công tác quản lý và tuyên truyền về an toàn tình dục.

Gái mại dâm ở Dortmund ( Đức)  phải đóng thuế 6 euro/ngày để được hành nghề

Theo Đại tá Hồ Sỹ Tiến – quyền Cục trưởng Cục CSĐT về TTXH (C45 – Bộ Công an): “Tôi muốn nói vấn đề ở đây là chúng ta nên có một sự nhìn nhận rằng mại dâm là một hiện tượng xã hội cần giải quyết lâu dài. Thực tế là vấn đề này Quốc hội cũng đang bàn luận. Nên chăng chúng ta công nhận đó như “một nghề” với những quy chế hoạt động đặc biệt, công khai hóa thì sẽ quản lý dễ hơn”.

Khi ý kiến về việc coi mại dâm là một nghề hợp pháp được đưa ra đã ngay lập tức vấp phải sự phản đối gay gắt của dư luận với lý do làm như vậy là đi ngược lại giá trị đạo đức, cổ súy cho vấn nạn vốn đã gây nhức nhối trong xã hội bao lâu nay.

Trước luồng dư luận đó, Nhà sử học Dương Trung Quốc đã lên tiếng: "Cần bắt đầu bằng việc nhìn thẳng vào sự thật, dù vẫn phải giữ gìn truyền thống. Cần bớt đi thói đạo đức giả. Bởi không thể nói bản chất xã hội chúng ta là hoàn toàn không có chuyện đó. Các quốc gia khác, ở những trình độ phát triển khác nhau, nền tảng văn hóa khác nhau, cũng có những cách xử lý khác nhau, cái gì hợp nhất với mình thì làm theo. Đừng nói mình là biệt lập, là đặc thù. Tôi cho rằng nên coi đó là một hiện thực. Và vì thế cần có 1 bộ luật để công nhận và quản lý mại dâm.

Chúng ta nhìn cởi mở hơn, gần gũi với thực tiễn hơn, trên nền tảng quyền sống của người phụ nữ, để trên cơ sở đó, giải quyết vấn đề. Chứ thực tế càng thắt, càng nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Xây dựng luật là xây dựng một hành lang pháp lý để các hiện tượng được phát triển một cách lành mạnh, chứ không phải để đối phó với cái chúng ta gọi là tệ nạn”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc khẳng định một ngày không xa, mại dâm sẽ được đặt lên bàn nghị sự.

3. Thất bại của các quốc gia đi trước và những con số giật mình:

Những người ủng hộ hay phản đối đều có những lý lẽ riêng của mình. Không thể phủ nhận rằng hợp pháp hóa mại dâm cũng có những mặt lợi, và không phải bỗng dưng mà mấy chục quốc gia tiến bộ đều đồng ý phê chuẩn điều luật này.

Nhưng hãy nhìn vào thực tế: Dường như đây có vẻ là một điều luật mang tính khả thi, phần nào hạn chế được vấn nạn mại dâm, nhưng sự thật phũ phàng là ở nhiều nước, mọi việc từ lâu đã vượt quá tầm kiểm soát, chính quyền thất bại trong việc thực thi Bộ luật, dân chúng phẫn nộ, phản đối, đòi dẹp bỏ những điều đã ban hành.

Tại Đức, những quy định về giấy phép hành nghề, khám sức khỏe thực tế là vô tác dụng, vì các nhóm tội phạm có thể dễ dàng làm giả giấy tờ và đe dọa những người nào định tố cáo. Chính sách hợp pháp hóa đã thất bại trên tất cả các mặt. Nô lệ tình dục ở Đức đã lan tràn kể từ khi mại dâm và các nhà thổ được hợp pháp hóa. Trong thực tế, những quy định quản lý của pháp luật hầu như không có tác dụng. Trên toàn nước Đức, số hợp đồng bảo hiểm mại dâm được ký không quá chục bản. Trong số hơn 400.000 gái mại dâm ở Đức, chỉ có... 100 người đăng ký hành nghề với chính phủ (tỷ lệ 0,025%), số còn lại vẫn hoạt động lén lút như trước hoặc dùng giấy tờ giả, vì chẳng gái mại dâm nào muốn tự tiết lộ danh tính của mình để rồi chuốc lấy sự hổ thẹn. Quy định về giấy phép hành nghề do vậy đã "thất bại từ trong trứng".

Hiện nay, có hàng trăm nhà thổ hoạt động trên khắp nước Úc, trong đó không ít chủ chứa liên quan đến nạn buôn người. Mặc dù mại dâm là hợp pháp ở các bang phía đông nước Úc, nhưng vẫn có tới 90% nhà thổ và gái mại dâm tại Úc hoạt động không giấy phép để buôn người, trốn thuế, rửa tiền. Sau khi hợp pháp hóa mại dâm, số nhà thổ bất hợp pháp chẳng những không giảm mà còn tăng thêm đến 300%.

Theo thống kê, trong số 25.000 đến 30.000 gái mại dâm ở Hà Lan có đến 15.000 là người nước ngoài, phần lớn là nạn nhân của bọn buôn người. Ước tính 70% gái mại dâm tại Hà Lan hoàn toàn không có giấy phép cư trú chứ chưa nói tới giấy phép hành nghề và khám sức khỏe định kỳ. Số gái mại dâm trẻ em (dưới 16 tuổi) đã tăng gần 4 lần, từ 4.000 năm 1996 lên hơn 15.000 vào năm 2001. Quy định về giấy phép hành nghề cũng không thực hiện được, vì sau 3 năm hợp thức hóa, chỉ có 921 gái mại dâm (chiếm 3%) chịu ra đăng ký hành nghề. Trong năm 2009, Bộ tư pháp Hà Lan đã công bố kế hoạch đóng cửa 320 khu nhà chứa mại dâm ở Amsterdam, và 50% trong số 76 quán cà phê bán cần sa ở trung tâm thành phố. Bộ trưởng Tư pháp đã bổ nhiệm một công tố viên đặc biệt chịu trách nhiệm về việc đóng cửa các nhà chứa này, ông lý giải quyết định này là do "Amsterdam đang trở thành trung tâm của nô lệ tình dục và các băng nhóm tội phạm đang ráo riết thiết lập các khu nhà chứa để tiến hành rửa tiền".

Ở các nước hợp thức hóa tại Trung và Nam Mỹ, tình hình còn tồi tệ hơn. Nạn buôn người diễn ra công khai, sự phân hóa giàu nghèo sâu sắc và tội phạm lũng đoạn chính quyền là phổ biến, tạo ra một môi trường khai thác tình dục phát triển mạnh. Mại dâm được hợp pháp công khai là kết quả của sự sụp đổ kỷ cương xã hội, sự bất lực của pháp luật và sự thao túng chính quyền của giới tội phạm. Các mạng lưới tội phạm có tổ chức, một số liên quan đến các nhóm vũ trang ly khai cát cứ, chịu trách nhiệm về nạn buôn bán người nô lệ tình dục và các cuộc xung đột vũ trang đã đẩy một số lượng lớn các nạn nhân vào con đường bán dâm.

Các chuyên gia của Bộ Phụ nữ và Gia đình tại Đức đánh giá, ước tính doanh thu của khu vực đèn đỏ của nước này có thể lên đến 4,5 tỷ USD mỗi năm, và đa phần trong đó đều chưa bị đánh thuế.

4. Hệ quả không ngờ từ việc hợp pháp hóa mại dâm:

Nữ Tiến sĩ Janice G. Raymond, thuộc Liên minh phòng chống buôn bán phụ nữ quốc tế (CATW), thông qua số liệu thực tế thu thập tại các nước đã hợp pháp hóa mại dâm (Đức, Hà Lan, Úc) đã liệt kê những thất bại và tác hại của biện pháp hợp thức hóa mại dâm:

1 - Tạo cơ hội cho bọn ma cô buôn người, thúc đẩy buôn bán nô lệ tình dục. Ví dụ Đức, Thái Lan, Hà Lan, Úc, Thổ Nhĩ Kỳ (đều là những nước có mại dâm công khai) là các điểm đến hàng đầu của tệ nạn buôn người.

2 - Hợp pháp hóa không thể giúp kiểm soát được mại dâm mà chỉ khiến nó lan tràn thêm. Tiền thuế mà nhà nước thu được rất ít, mà phần lớn chui vào túi bọn chủ chứa, mafia trong khi chi phí bỏ ra để duy trì hệ thống "phố đèn đỏ" và y tế cho gái bán dâm, cũng như truy quét các loại tội phạm "ăn theo mại dâm" (như ma túy, trộm cướp...) lại rất lớn. Nhà nước thu được 1 đồng thuế thì lại phải chi ra vài đồng vì những tác hại gây ra.

3 -  Làm gia tăng "mại dâm chui, gái đứng đường" không giấy phép (do gái bán dâm không muốn phải nộp thuế và bị quản lý), kéo theo đó là bạo lực đường phố và làm giả giấy phép. Rốt cuộc lại tồn tại song hành cả "mại dâm hợp pháp" lẫn "mại dâm bất hợp pháp", việc truy quét vẫn cứ phải tiến hành như trước trong khi việc quản lý càng rắc rối hơn (vì khó có thể xác minh gái mại dâm có hay không có giấy phép hành nghề, giấy phép đó là thật hay giả).

4 - Làm gia tăng nạn mại dâm trẻ em. Không còn sợ bị pháp luật trừng trị, nhiều em bị gia đình bán vào nhà thổ, nhiều em khác sẵn sàng tham gia bán dâm để kiếm tiền tiêu xài khi không được cha mẹ đáp ứng.

5 - Không giúp bảo vệ gái mại dâm, họ vẫn bị đối xử tàn nhẫn. Bởi thực tế, các trùm tội phạm mới là kẻ thực sự điều khiển lĩnh vực này. Các quy định bảo vệ mà chính phủ đề ra chỉ là trên giấy, hiếm khi tồn tại trên thực tế.

6 - Làm tăng nhu cầu mại dâm. Việc không còn bị pháp luật chế áp, răn đe khiến cho đàn ông (nhất là thanh niên trẻ) không còn lo sợ và càng có nhu cầu mua dâm ở quy mô rộng lớn hơn nhiều, khiến kỷ cương xã hội rối loạn, làm hư hỏng đạo đức thanh thiếu niên và đe dọa hạnh phúc mỗi gia đình.

7 - Không giúp bảo vệ sức khỏe của phụ nữ. Theo thống kê, phần lớn khách hàng nam giới không tuân thủ quy định về an toàn khi quan hệ, gái mại dâm phải chịu đựng để giữ khách mà không hề có cảnh sát nhắc nhở như chính phủ từng hứa hẹn.

8 - Không tăng cường sự lựa chọn nghề nghiệp của phụ nữ, mà còn khiến nhiều người bị lũ tội phạm (thậm chí gia đình mình) đẩy vào con đường này để kiếm lợi từ thân xác họ.

9 -  Chính các phụ nữ mại dâm đa phần không muốn hợp pháp hóa ngành công nghiệp tình dục. Họ cảm thấy tủi hổ, bị xa lánh khi tên tuổi mình bị thông báo công khai. Họ đều xem đó là con đường nhục nhã, đã tước đoạt sức khỏe, danh dự và cuộc đời họ, và không muốn con em mình lại sa vào con đường này.

Cuối cùng bà kết luận: "Hợp pháp hóa mại dâm chỉ làm trầm trọng thêm những vấn nạn của nó. Đó chỉ là sự thoái thác trách nhiệm của chính phủ trước những vấn nạn mà mại dâm gây ra cho con người và xã hội".

Nguồn từ yume.vn

Tin mới nhất

Tin mới nhất