trang Blog

nguoikhongtinhyeuTham gia: 19/02/2009
  • VAI TRÒ CỦA DOANH NHGIỆP
    Kinh Tế
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    VAI TRÒ CỦA DOANH NHGIỆP

     MÔN : quản trị doanh nghiệp

    Lớp : cao đẳng KT2

    TÊN THÀNH VIÊN:

    1.   PHẠM THỊ MINH HIẾU

    2.   TRẦN THỊ HOA

    3.   NGUYỄN THỊ LƯƠNG

    4.   LÊ THỊ LIÊN

    5.   TRƯƠNG BÍCH LOAN

    6.   LƯƠNG THỊ NGA

    VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP

                Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP). Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo...

                Nếu như năm 1995 khu vực doanh nghiệp mới chỉ tạo ra được 103,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 45,3% tổng GDP (khu vực còn lại gồm khối hành chính, sự nghiệp, hộ SXKD cá thể chiếm 54,7%), thì đến năm 2001 khu vực này đã tạo ra 255,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 53,2% tổng GDP, gấp 2,5 lần năm 1995. Trong đó doanh nghiệp nhà nước chiếm 30,6% tổng GDP, doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 8,8%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 13,8%. :

                Doanh nghiệp là yếu tố quan trọng, quyết định đến chuyển dịch các cơ cấu lớn của nền kinh tế quốc dân như: Cơ cấu nhiều thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phương.

                Doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là DN ngành công nghiệp tăng nhanh là nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững ổn định và tạo thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập.

                Có thể nói vai trò của DN không chỉ quyết định sự phát triển bền vững về mặt kinh tế mà còn quyết định đến sự ổn định và lành mạnh hoá các vấn đề xã hội, thực tế đó đã được phản ảnh qua kết quả hoạt động của DN sẽ được phân tích ở phần sau.

     

     

    Doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển nhanh

    Sau khi các luật về đăng ký kinh doanh được ban hành và sửa đổi như: Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Ðầu tư trực tiếp của nước ngoài, Luật Hợp tác xã và đặc biệt là Luật Doanh nghiệp đã đi vào cuộc sống, hoạt động trong khu vực doanh nghiệp có nhiều thay đổi, môi trường thông thoáng hơn, sản xuất kinh doanh sôi động hơn, vai trò của doanh nghiệp được ghi nhận và có nhiều tiến bộ, nhất là trong các ngành công nghiệp, thương mại, vận tải.

    *  DOANH NGHIệP TĂNG TRƯởNG NHANH TRONG NHữNG NĂM GầN ĐÂY ĐÃ ĐƯA LạI NHữNG KếT QUả QUAN TRọNG SAU:

    ƯU ĐIỂM CỦA DN :

    (1) Giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người lao động

    Trong những năm gần đây, số doanh nghiệp tăng nhanh đã giải quyết được nhiều việc làm với thu nhập cao hơn cho người lao động. Tại thời điểm 01/01/2000 khu vực doanh nghiệp đã thu hút 3,194 triệu lao động, đến 01/01/2002 là 3,933 triệu lao động và 01/01/2003 là 4,658 triệu lao động. Như vậy trong 3 năm từ 2000 - 2002, khu vực doanh nghiệp đã thu hút thêm 1,464 triệu lao động, nếu kể cả số tuyển dụng để thay thế trên 650 nghìn giảm do các nguyên nhân, thì số lao động mà khu vực doanh nghiệp tuyển vào trong 3 năm là trên 2,1 triệu lao động, bình quân mỗi năm gần 700 nghìn lao động, là con số đáng kể trong yêu cầu tạo ra việc làm mới cho toàn xã hội.

    Lao động ở khu vực doanh nghiệp có thu nhập cao hơn nhiều so với khu vực cá thể và hộ gia đình, năm 2002 thu nhập bình quân tháng của một lao động gần 1,25 triệu đồng (tăng 18,5% so với năm 2000). Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2002 của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt cao nhất, gần 1,9 triệu đồng, tiếp đến là khu vực doanh nghiệp nhà nước gần 1,31 triệu đồng và thấp nhất là khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh 0,92 triệu đồng. Tuy có mức thu nhập bình quân thấp nhất, nhưng doanh nghiệp ngoài quốc doanh lại là khu vực đang thu hút nhiều lao động mới và có tốc độ tăng thu nhập nhanh nhất trong ba khu vực (năm 2002 tăng 24,3% so với năm 2000). Lao động hiện đang làm việc trong khối doanh nghiệp năm 2000 chiếm 11,3% tổng số lao động toàn xã hội hiện đang tham gia làm việc và tăng lên 13% trong năm 2001, dự kiến khoảng 16% năm 2003. Tuy chiếm tỷ trọng không cao trong tổng lao động toàn xã hội, nhưng lao động của khu vực doanh nghiệp lại là lực lượng chủ yếu tạo ra nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và đóng góp lớn cho tăng trưởng GDP. Thu nhập cao và tăng nhanh của lao động khối doanh nghiệp góp phần cải thiện và nâng cao mức sống chung của toàn xã hội và tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp.

    (2) Doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển là yếu tố quyết định đến tăng trưởng cao và ổn định của nền kinh tế những năm qua

    Năm 2002 tổng doanh thu thuần của khối doanh nghiệp đạt 1212 nghìn tỷ đồng, gấp 4,8 lần năm 1994 và gấp 1,5 lần năm 2000, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước chiếm 51,3%, khu vực ngoài quốc doanh chiếm 30,1%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 18,7%. Ngành có doanh thu lớn nhất là thương nghiệp 515,0 nghìn tỷ đồng, chiếm 42,5%, gấp 4,3 lần năm 1994 và gấp 1,49 lần năm 2000. Ngành công nghiệp chế biến đạt 374,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 30,9%, gấp 5,6 lần năm 1994 và gấp 1,52 lần năm 2000; ngành xây dựng đạt 86,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 7,2%, gấp 6 lần năm 1994 và gấp 1,86 lần năm 2000,...

    Doanh nghiệp phát triển nhanh những năm gần đây đã làm cho tỷ trọng đóng góp của khu vực này vào GDP tăng nhanh, năm 1995 chiếm 45,31%, năm 2001 là 53,13% và dự kiến năm 2003 khoảng 56%.

    Lợi ích cao hơn mà tăng trưởng doanh nghiệp đem lại là tạo ra khối lượng hàng hoá và dịch vụ lớn hơn, phong phú hơn, chất lượng tốt hơn, thay thế được nhiều mặt hàng phải nhập khẩu, góp phần quan trọng cải thiện và nâng cao mức tiêu dùng trong nước và tăng xuất khẩu, đó cũng là yếu tố giữ cho nền kinh tế ổn định và phát triển những năm qua.

    (3) Doanh nghiệp phát triển tác động đến chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh tế quốc dân và trong nội bộ mỗi ngành

    - Trước năm 2000, doanh nghiệp phát triển chủ yếu trong ngành công nghiệp với vai trò quyết định là doanh nghiệp nhà nước, các ngành khác hoạt động của cá thể, hộ gia đình là chính, chiếm từ 85-95% sản lượng toàn ngành (như nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, thương mại...). Ðến năm 2002, hoạt động của loại hình doanh nghiệp có mặt ở hầu hết các ngành sản xuất kinh doanh; Trong đó, doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chiếm trên 90% giá trị sản xuất toàn ngành, thương mại, khách sạn nhà hàng chiếm từ 20-30%, xây dựng, vận tải trên 60%, hoạt động tài chính ngân hàng chiếm 95-98%,... Một số ngành như hoạt động khoa học và công nghệ, văn hoá, thể thao, cứu trợ xã hội, hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng, cũng xuất hiện trên 500 doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực này với số vốn gần 7500 tỷ đồng, nộp ngân sách 206 tỷ đồng.

    - Doanh nghiệp phát triển nhanh trong tất cả các ngành và ở khắp các địa phương đã tạo ra cơ hội phân công lại lao động giữa các khu vực nông lâm nghiệp, thủy sản và sản xuất kinh doanh nhỏ của hộ gia đình là khu vực lao động có năng suất thấp, thu nhập không cao, chiếm số đông, thiếu việc làm sang khu vực doanh nghiệp, nhất là công nghiệp và dịch vụ có năng suất cao và thu nhập khá hơn. Thực tế 3 năm từ 2000 - 2002 mỗi năm có 700 nghìn lao động được tuyển dụng vào khu vực doanh nghiệp, chiếm khoảng 50% lao động được giải quyết có việc làm hàng năm, đây chính là giải pháp tích cực nhất để thực hiện chuyển dịch lao động nông nghiệp từ gần 70% hiện nay xuống còn 56 - 57% vào cuối năm 2005.

    (4) Phát triển doanh nghiệp tác động đến giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội

    Những năm gần đây, sản phẩm hàng hoá và dịch vụ do khối doanh nghiệp tạo ra ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loại mặt hàng, chất lượng hàng hoá, dịch vụ được nâng lên, do đó đã giải quyết cơ bản nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ ngày càng cao của toàn xã hội, góp phần nâng cao mức sống vật chất của dân cư và tăng nhanh lượng hàng hoá xuất khẩu. Nhiều sản phẩm trước đây thường phải nhập khẩu cho tiêu dùng thì nay đã được các doanh nghiệp sản xuất thay thế và được người tiêu dùng trong nước tín nhiệm như: Ô tô, xe máy, phương tiện vận tải, các mặt hàng đồ điện, điện tử, may mặc, thực phẩm, đồ uống, hoá mỹ phẩm, đồ dùng gia đình, sản phẩm phục vụ xây dựng,...

    NHƯỢC ĐIỂM CỦA DN :

    Mặc dù có tiến bộ về tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu và hiệu quả sản xuất kinh doanh ở một số mặt được nâng lên, song so với yêu cầu của chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2010 và hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế, thì doanh nghiệp nước ta bộc lộ nhiều yếu kém bất cập như sau:

    (1) Doanh nghiệp phát triển còn mang nặng tính tự phát, chưa có quy hoạch định hướng rõ ràng

    Trong số 62.908 doanh nghiệp hiện đang hoạt động ở thời điểm 1/1/2003, thì chủ yếu tập trung trong các ngành thương nghiệp chiếm 39,4%, Khách sạn, nhà hàng 4,5%, Công nghiệp thực phẩm đồ uống 6,3%, Dệt may, da giầy chiếm 2,6%, chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ lâm sản chiếm 2,6%, lắp ráp và sản xuất hàng tiêu dùng thông thường chiếm 3,1%, kinh doanh bất động sản và hoạt động tư vấn chiếm 5,1%...

    Những doanh nghiệp hoạt động ở các ngành trên cũng đồng nghĩa với những ngành cần vốn đầu tư ít, vào kinh doanh nhanh và chuyển đổi cũng nhanh có lãi suất cao và độ rủi ro thấp; còn những ngành như: Chế biến nông sản xuất khẩu, sản xuất hoá chất, sản xuất nguyên liệu thay thế nhập khẩu và một số ngành có hàm lượng công nghệ cao như sản xuất thiết bị máy móc, kỹ thuật điện, điện tử, thiết bị chính xác... rất cần tăng thêm năng lực sản xuất, nhưng ít được chú ý đầu tư, số doanh nghiệp đã ít song chủ yếu là quy mô nhỏ, kỹ thuật công nghệ thấp.

     (2) Số lượng doanh nghiệp nhiều, nhưng quy mô nhỏ phân tán đi kèm với công nghệ lạc hậu

    Tại thời điểm 1/1/2003, bình quân 1 doanh nghiệp chỉ có 74 lao động và 22,9 tỷ đồng tiền vốn, so với năm 2000 là 83 người và 26 tỷ đồng vốn. Như vậy xu hướng quy mô nhỏ càng tăng trong 3 năm qua, bởi khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng rất nhanh, nhưng phần lớn đều là doanh nghiệp nhỏ. Trong tổng số 62908 doanh nghiệp thì:

    - Số doanh nghiệp dưới 10 lao động chiếm 48,0%.

    - Từ 10 đến dưới 50 lao động chiếm 32,9%.

    - Từ 50 đến dưới 300 lao động chiếm 14,1%.

    - Từ 300 đến dưới 500 lao động chiếm 2,2%.

    - Từ 500 lao động trở lên chiếm 2,7%.

     (3) Các yếu tố sản xuất kinh doanh không được đáp ứng đầy đủ

    Không đặt vấn đề phân tích về mặt môi trường pháp lý, mà chỉ phân tích các yếu tố cơ bản nhất sử dụng cho sản xuất kinh doanh là: lao động, tiền vốn, đất đai và các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật, thông tin.

    3.1 Lao động

    Nguồn lực lao động của nước ta dồi dào, lực lượng lao động trẻ là to lớn, sẵn sàng vào làm việc cho các doanh nghiệp và chấp nhận mức lương chưa phải là cao. Thực tế 3 năm qua, doanh nghiệp đã tiếp nhận mới mỗi năm gần 70 vạn lao động, riêng năm 2002 tiếp nhận trên 1 triệu người. Song thực trạng là không ít doanh nghiệp vẫn thiếu lao động có tay nghề cao, lao động có kỹ thuật được đào tạo hệ thống, phải chăng đây là vấn đề chất lượng lao động. Ta có đủ và thừa về mặt số lượng, nhưng lại quá yếu và thiếu về trình độ tay nghề của người lao động. Theo số liệu Tổng điều tra cơ sở Kinh tế - hành chính sự nghiệp 1/7/2002 thì cơ cấu trình độ tay nghề của lao động khu vực doanh nghiệp như sau:

    - Lao động có trình độ từ cao đẳng trở lên chiếm 12,8%.

    - Lao động là công nhân kỹ thuật chiếm 29,2%.

    - Lao động được đào tạo trình độ trung cấp chiếm 7,4%.

    - Không được đào tạo chiếm 50,6%.

    3.2 Vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh

    Như trên đã phân tích, vốn của doanh nghiệp rất thấp, 86,2% số doanh nghiệp có vốn dưới 10 tỷ đồng, doanh nghiệp có vốn trên 500 tỷ đồng (tương đương 32 triệu USD trở lên) chưa phải là lớn nhưng cũng chỉ chiếm gần 0,4% (cả nước có 260 doanh nghiệp ở thời điểm 1/1/2003). Thực trạng đó ngoài nguyên nhân do tiềm lực của các nhà đầu tư chưa mạnh, nhưng có nguyên nhân quan trọng là thị trường vốn chưa hoàn chỉnh, chưa đủ sức đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp. Qua số liệu về cơ cấu vốn đầu tư tăng thêm của năm 2002 cho thấy vốn vay tín dụng chỉ chiếm 38% trong tổng vốn đầu tư tăng thêm trong năm, vốn tự có trên 49%, vốn từ ngân sách nhà nước 4% và các nguồn huy động khác gần 9%. Trong 38% vốn tín dụng thì doanh nghiệp nhà nước chiếm 56,4%, trong số đó 63,4% là vốn tín dụng ưu đãi của nhà nước, như vậy nguồn vốn tín dụng đã thấp, nhưng quá nửa dành cho doanh nghiệp nhà nước, còn lại ưu thế thuộc về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốc doanh chịu khó khăn nhiều hơn khi tiếp cận với nguồn vốn tín dụng và luôn phải kinh doanh trong tình trạng thiếu vốn.

    3.3 Ðất đai

    Ðối với doanh nghiệp thì đất đai là yếu tố quan trọng, nhưng các doanh nghiệp sử dụng có tình trạng vừa thừa lại vừa thiếu, thừa với các doanh nghiệp nhà nước được thành lập trước đây do lịch sử để lại, nhưng thiếu với một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh mới thành lập gần đây. Ðã vậy chính sách tiếp cận với đất đai ở các địa phương còn những khó khăn phiền hà, nhất là các thành phố và khu vực kinh tế tập trung. Theo số liệu điều tra toàn bộ Công nghiệp năm 1999 thì bình quân một doanh nghiệp Công nghiệp sử dụng 0,50 ha đất, nhưng doanh nghiệp nhà nước sử dụng bình quân 1,61 ha/1 doanh nghiệp, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 0,55 ha/1 doanh nghiệp, còn khu vực ngoài quốc doanh chỉ có 0,17 ha/1 doanh nghiệp. Ðiều đó cho thấy:

    - Cần phải sử dụng tiết kiệm đất ở những doanh nghiệp thừa đất mà chủ yếu là những doanh nghiệp nhà nước trước đây.

    - Giải quyết nhu cầu đất cho các doanh nghiệp mới thành lập còn thiếu đất hoặc sắp thành lập, chủ yếu là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

    3.4 Các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật công nghệ, thông tin còn yếu kém

    TÓM LẠI: một trong những tư tưởng chính sách xuyên suốt trong kế hoạch là: phải (1) coi doanh nghiệp là đội quân chủ lực trong phát triển kinh tế và hội nhập,, (2) Xây dựng cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh chính là một thành tố quan trọng bậc nhất của chiến lược phát triển KTXH 5năm 2006-2010 và (3) coi nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và hoạt động có hiệu quả, có trật tự, kỷ cương của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

    DOANH NGHIỆP CẦN ĐÓNG GÓP CHO XÃ HỘI

    Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, hơn nữa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, lạm phát do các yếu tố trong nước cộng hưởng với lạm phát toàn cầu, an sinh xã hội là mục tiêu rất quan trọng. Chính vì thế, ngay cả khi chuyển hướng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội vẫn được coi là một trong bốn mục tiêu quan trọng hiện nay của đất nước (kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, tăng trưởng bền vững). Trên tinh thần đó quan điểm của Đảng và Nhà nước về vai trò, tầm quan trọng của an sinh xã hội là: đầu tư cho an sinh xã hội chính là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển, an sinh xã hội đã trở thành động lực góp phần cho kinh tế phát triển và tăng trưởng bền vững. 

    Thực hiện an sinh xã hội là một nội dung cơ bản và tất yếu trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một vấn đề khá cũ đối với các nước phát triển nhưng còn khá mới mẻ và nó đang được quan tâm ở Việt Nam hiện nay. Theo quan niệm của Hội đồng Thương mại thế giới, thì “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết trong việc ứng xử hợp đạo lý và đóng góp vào sự phát triển kinh tế, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình họ, cũng như của cộng đồng địa phương và của toàn xã hội nói chung”. Mặc dù có thể có nhiều cách diễn giải khác nhau, tuy nhiên có thể hiểu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm 4 yếu tố cấu thành:

    (1) trách nhiệm với thị trường và người tiêu dùng;

    (2) trách nhiệm về bảo vệ môi trường;

    (3) trách nhiệm với người lao động;

    (4) trách nhiệm chung với cộng đồng.

    NGOÀI NHỮNG VẤN ĐỀ TRÊN DOANH NGHIỆP CẦN :

    1.       Doanh nghiệp cần phải nộp thuế ,kê khai thuế , đăng ký thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pl.

    2.        bảo vệ môi trường, không gây ô nhiễm tàn phá môi trường , bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh

    3.       Thực hiện các nghĩa vụ kháctheo quy định của pháp luật

    4.       Bảo đảm chất lượng hàng hoá theo tiêu chuẩn đã đăng ký

    5.       Tạo việc làm cho người khuyết tật vì theo tổng cục thống kê 2009 vn có khoảng 5,3 triệu người khuyết tật chiếm 6,3% dân số

    6.       Cần thực hiện gói kích cầu để chống suy giảm nền kt , để giải quyết công ăn việc làm cho người lao động , góp phần ngăn chặn tình trạng suy giảm nền kinh tế và đảm bảo an sinh xh

     

    VAI TRÒ CỦA DOANH NHGIỆP