trang Blog

ngoinhachung_k28Tham gia: 01/11/2011
  • SO SÁNH GIỌNG ĐIỆU TỰ TRÀO TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN VÀ TÚ XƯƠNG
    Thư Giãn
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    SO SÁNH GIỌNG ĐIỆU TỰ TRÀO TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN VÀ TÚ XƯƠNG

    SO SÁNH GIỌNG ĐIỆU TỰ TRÀO TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN VÀ TÚ XƯƠNG.

    (ĐTTH) * *

        Nói đến và Tú Xương và Nguyễn Khuyến là độc giả thường nghĩ ngay đây là hai nhà thơ kiệt xuất của thơ ca trào phúng Việt Nam, trong đó mảng thơ tự trào chiếm một vị trí không nhỏ. Thơ tự trào là một mảng thơ thể hiện rất rõ tâm trạng của hai nhà thơ này một cách khá chân thực. Bài viết sau đây của chúng tôi sau đây sẽ đi sâu vào vấn đề: So sánh giọng điệu tự trào trong thơ Tú Xương và Nguyễn Khuyến.

    I.Điểm giống nhau

            Như chúng ta thấy ngoài những bài thơ nói rõ mục đích tự trào thì đa số các bài thơ khác của Nguyễn Khuyến và Tú Xương có tính chất tự trào lúc đậm lúc nhạt, man mác khắp các tác phẩm. Những bài thơ tự trào phản ánh sâu sắc tâm trạng trữ tình của tác giả thông qua tiếng cười ở từng chặng đường qua những cảnh ngộ cuộc sống, những biến đổi thời cuộc. Ở mảng thơ này ít tìm thấy giá trị phê phán, tố cáo xã hội nói chung mà chủ yếu là đời sống tâm hồn tác giả. Hầu như nhà nho nào cũng có một vài bài thơ để tự trào, tự thuật. Trong nụ cười mang tính chất tự tiếu và tiếu ngã ấy, các nhà nho đem thân ra làm đối tượng để cười: Cười bản thân để tự răn mình. Nguyễn Khuyến và Tú Xương cũng không nằm ngoài số đó.

         Trong sự nghiệp văn thơ của Nguyễn Khuyến và Tú Xương đã có rất nhiều những sự gặp gỡ lý thú, đặc biệt là ta đều bắt gặp trong thơ ca của hai ông đối tượng trào phúng mang tính khách thể và đối tượng trào phúng mang tính chủ thể. Ở đối tượng trào phúng mang tính chủ thể này tự trào là những tiếng cười chế giễu bản thân, từ hình dáng bên ngoài đến phẩm cách bên trong, từ bản thân đến cuộc sống gia đình… Mỗi một nhà thơ đều có những nỗi niềm, những tâm sự riêng và những điều bất mãn về bản thân để từ đó tạo ra những vần thơ tự trào theo từng tâm trạng khác nhau, phủ định hay khẳng định. Nhưng quy chung lại thơ tự trào cũng để thổ lộ, giãi bày tâm sự những điều bí bách trong lòng. Tất cả những nỗi niềm đó đều được Nguyễn Khuyến và Tú Xương thổ lộ qua những vần thơ tự trào, tự chế giễu.

    II. Điểm khác nhau

    1. Giọng điệu tự trào của Nguyễn Khuyến:

      Xuyên suốt những bài thơ tự trào của Nguyễn Khuyến là một giọng điệu thâm trầm mà kín đáo, nhưng cũng hết sức thâm thuý. Đó là một dòng thơ trào phúng của nhà nho, rất đậm nét và sinh động. Có khi nhà thơ tự trào một cách trực tiếp : Tự trào, Tự giễu mình, Tự thuật, Than nghèo, Than nợ…

                                    Cờ đương dở cuộc không còn nước

                                   Bạc chửa thâu canh đã chạy làng

                                   Mở miệng nói ra gàn bát sách

                                   Mềm môi chén mãi tít cung thang

                                   Nghĩ mình mà gớm cho mình nhỉ

                                 Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng

                                                       (Tự trào)

        Và cũng có khi tự trào một cách kín đáo ý nhị. Vịnh tiến sĩ giấy 1 và 2, Ông phỗng đá...

    Ông đứng làm chi đó hỡi ông

      Trơ trơ như đá vững như đồng

    Đêm ngày gìn giữ cho ai đó

        Non nước đầy vơi có biết không

    (Ông phỗng đá)

    Dù trong hoàn cảnh nào thơ tự trào của Nguyễn Khuyến cũng thể hiện khá rõ hình ảnh: một ông già tự cười mình. Nụ cười xem ra rất nhỏ nhẹ mà chứa chan suy tư. Chẳng hạn khi cười về hành dáng của mình:

    - Đôi gót phong trần vẫn khoẻ khoe

    - Bốn mươi năm lụ khụ lại về đây

    - Tóc bạc lòng son chửa dám già

    - Thêm tuổi thêm được tóc râu phờ

    Đôi khi là nụ cười hối tiếc, thâm trầm:

    Sách vở ích gì cho buổi ấy

    Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già

    (Ngày xuân dặn các con)

    Kiểu cười tưởng như nhẹ nhàng nhưng hết sức thâm thuý và có sức công phá mãnh liệt. Đặc biệt khi ông cười về vai trò lịch sử của mình trong chốn quan trường, kiểu cười chua chát, xót xa, ân hận:

          Cũng cờ cũng biển cũng cân đai

    Cũng gọi ông nghè có kém ai

         Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng

    Nét son điểm rõ mặt văn khôi

    Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ

    (Vịnh tiến sỹ giấy II)

    Hay:

    Vua chèo còn chẳng ra gì

    Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề

    (Lời vợ anh phường chèo)

    Còn đây là giọng cười chua chát thấm đượm sự khinh bỉ đối với cái địa vị cao sang mà Nguyễn Khuyến đã từng ngồi. Khinh bỉ vì hiểu được bản chất thật của nó. Chua chát khi nghĩ đến mình thế mà đã từng ngồi trên địa vị đó:

    -Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ

    -Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh choẹ

    Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi

    (vịnh tiến sĩ II)

        Nhiều khi Nguyễn Khuyến cũng buông những lời lẽ bông lơi, những giọng cười tưởng như sảng khoái để diễn đạt những cơn sóng lòng hết sức dữ dội:

    - Lúc hứng đánh thêm dăm chén rượu

    Khi buồn ngâm láo một câu thơ

    (Đại lão)

    - Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ

    Cái giá khoa danh thế mới hời

    (Vịnh tiến sĩ giấy II)

    Nhiều lúc ông cũng muốn buông xuôi vì đã nặng lòng lắm rồi: “Túi vũ trụ mặc đàn sau gánh vác”. Chính vì thế những nụ cười xem ra nhỏ nhẹ ấy nhưng chứa chan suy tư: Đại sự thì đã hỏng cả rồi mà mình thì gàn dở vô tích sự. Nói như nhà nghiên cứu Đoàn Hồng Nguyên thì đó là một kiểu tự trào “ngôn chí” có sự khẳng định bản ngã, nhưng đó vẫn là sự khẳng định của một nhà nho theo những chuẩn mực đạo đức nhà nho. Vì vậy tựu trung lại giọng điệu tự trào của Nguyễn Khuyến vẫn còn mang tính chất giáo hoá, có khi chưa thoát ra khỏi quy phạm văn chương nhà nho.

    2. Giọng điệu thơ tự trào của Tú Xương:

    Không thâm trầm kín đáo như Nguyễn Khuyến, Tú Xương luôn tự trào một cách trực tiếp, khi thì phủ định khi thì khẳng định. Nói như nhận xét của Đoàn Hồng Nguyên: Nếu thơ tự trào của Nguyễn Khuyến là kiểu thơ tự trào mang phong cách của một nhà nho thì kiểu tự trào của Tú Xương là kiểu tự trào thị dân, kiểu hình nhà nho thị dân. Nếu như khi cười về hình dáng bản thân mình Nguyễn Khuyến nhẹ nhàng, thâm thuý thì Tú Xương bốp chát chế giễu và tự bôi xấu mình:

    Ở phố Hàng Nâu có phỗng sành

    Mắt thời thao láo mặt thời xanh

    (Tự cười mình)

    Áo quần rách rưới

    Ăn uống xô bồ

    Nhà thơ còn có kiểu tự trào rất ác miệng với mình, tự thoá mạ mình:

    Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ

    Rượu chè trai gái đủ tam khoanh

    (Tự cười mình)

    Cao lâu thường ăn quịt

    Thổ đĩ lại chơi lường!

    (Tự vịnh)

    Hay ông tự giễu bản thân mình vô tích sự giống như một đứa con lớn của bà Tú:

    Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ

    Đem chuyện trăm năm dở lại bàn

    (Quan tại gia)

    Ngồi đấy chẳng hơn gì chú Cuội

    (Ta chẳng ra chi)

    Ông tự trào bằng những nụ cười chế giễu cái xấu của bản thân, tự phủ định bản thân. Nhưng cách tự trào của ông không phải kiểu như tự hạ mình xuống để tự cao giống như các nhà nho xưa hay làm mà ông đã tự tạo cho mình một tiếng cười chế giễu rất riêng. Đoàn Hồng Nguyên nói đấy là kiểu tự trào “phi ngôn chí”. Ông không phải tự hạ thấp mình, cười để tự cao hay là một kiểu cười bông đùa mua vui mà đó là tiếng cười “để giải thoát”, giải thoát khỏi tâm trạng bí bách dồn nén trong lòng. Có người nói: Cách tự trào của ông là cách chế giễu cái dốt nát nhếch nhác thảm hại của nhà nho phong kiến, chế giễu tính chất ăn bám của đức ông chồng trong chế độ gia trưởng phong kiến, chế giễu sự hèn kém… Nói chung ông đã chế giễu, đã phê phán tính chất hủ lậu của kẻ sĩ phong kiến và những khuôn phép lỗi thời của xã hội phong kiến. Theo chúng tôi ý kiến này có phải là áp đặt quá không khi mà thơ tự trào là một thể loại bộc lộ tâm trạng của tác giả hơn là có giá trị phê phán xã hội . Nếu như thơ tự trào của các danh nho xưa giấu mình là để đề cao, thì Tú Xương giễu mình, bôi xấu mình là để giải thoát bản thân. Thơ tự trào của ông giống như một liều thuốc giảm những nỗi niềm đè nặng trong lòng ông. Đây chính là điểm khác nhau rất rõ rệt giữa giọng điệu tự trào trong thơ Nguyễn Khuyến và trong thơ Tú Xương. Vì giọng điệu tự trào trong thơ của Yên Đổ, xét cho cùng cũng là giọng điệu chế giễu bản thân để tự khẳng định mình để đề cao mình, nó vẫn mang phong vị kiểu tự trào của các danh nho xưa. Với Tú Xương, bên cạnh những kiểu thơ tự trào, tự chế giễu mình, bôi xấu mình, phủ định mình thì ông cũng có những bài thơ tự trào biểu lộ thái độ tự khẳng định mình. Đó là một Tú Xương không xấu xí, dị hợm mà là một ông Tú “phong lưu”, “thế thiệp” ở chốn thị thành:

    Kìa thơ tri kỷ đâu xinh nhất

    Nọ khách phong lưu bậc thứ nhì

    (Tự đắc)

    Hay ở cách ăn mặc:

    - Ăn rặt những thịt quay, lạp xường

    - Mặc rặt những quần vân áo xuyến

    Qua nhiều lần trượt thi nhưng ông vẫn luôn quyết tâm và tâm huyết với cuộc đời đèn sách:

    Năm nay ta học, sang năm đỗ

    Chẳng những lương đường có thủ khoa

    (Thân thân chưa đạt)

    Với lối tự trào khẳng định này ta dường như thấy tồn tại trong Tú Xương là hai con người hoàn toàn khác nhau, đối nghịch nhau. Ta tưởng chừng như mâu thuẫn, tưởng chừng như hai con người ấy luôn đối đầu với nhau và không thể tồn tại thống nhất. Con người xấu xí, xấu xa; con người phủ định ấy chỉ là một con đường giải thoát, giải thoát tâm trạng con người thật của ông và con người thật của ông chính là con người khẳng định với biết bao chí lớn, với biết bao nỗi niềm tha thiết với nước non: Nhân tài đất Bắc nào ai đó Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà Như vậy ta thấy thơ tự trào của Nguyễn Khuyến và thơ tự trào của Tú Xương bên cạnh sự tương đồng lại có những điểm khác nhau rõ rệt.

    III. Nhận xét

       Đọc thơ tự trào của Nguyễn Khuyến, chúng ta có thể cảm nhận rất rõ đó là một bộ phận thơ cũng đã góp phần làm nên một dòng thơ tự trào theo hướng thể hiện bản ngã trong thơ trào phúng nhà nho, nhưng đã có sự giải thoát khỏi lối văn chương khuôn phép của thơ văn thời trung đại. Có thể ghi nhận đây là một biểu hiện của sự vùng vẫy nhằm thoát khỏi thi pháp văn chương trung đại. Tuy nhiên thơ tự trào của ông vẫn còn trong khuôn khổ văn chương quy phạm nhà nho. Bời lẽ Nguyễn Khuyến vẫn sáng tác trong cảm thức nhà nho phong kiến, vẫn là kiểu tự trào tự giễu để đề cao, để khẳng định mình.

        Khác với Nguyễn Khuyến, thơ tự trào của Tú Xương mang một phong cách rất riêng, ông không phụ thuộc hoàn toàn vào lối sáng tác khuôn phép của nhà nho xưa. Thơ tự trào của ông có một sự bứt phá ông không phụ thuộc vào kiểu sáng tác xưa cũ mà đó là những cảm nhận của một nhà nho thị dân. Ông đã tạo cho mình một giọng điệu trào phúng rất riêng, đầy ý thức cá nhân mà chúng ta tạm gọi là kiểu trào phúng thành thị. Chúng tôi có thể lý giải sự giống và khác nhau trong thơ tự trào của hai nhà thơ này.

        Chúng ta có thể thấy, tuy là hai nhà nho sống cùng thời, một già một trẻ nhưng hai cuộc đời của hai nhà nho ấy lại hoàn toàn khác nhau. Nguyễn Khuyến với con đường công danh rất thành đạt, ông từng làm quan mười năm sau đó là cuộc đời sống ở nông thôn thanh bình. Còn ngược lại, Tú Xương từ lúc sinh ra, lớn lên và cho đến mất ông đều sống ở nơi đô thị. Con đường công danh của Tú Xương mịt mù lận đận trong khoa cử để rồi liên tiếp những lần hỏng thi vỡ mộng, thất vọng, chán chường. Nguyến Khuyến là một bậc chân nho, là đại diện khá tiêu biểu cho lớp người được xã hội phong kiến đào tạo. Ông được vua Tự Đức ban cờ bỉên và hai chữ Tam nguyên tài năng lừng lẫy một thời. Đường công danh mở ra biết bao những vinh quang. Cuộc đời của ông sẽ chẳng có gì để ông có thể tự giễu mình với một giọng điệu chua chát đượm cảm giác ân hận nếu như tài năng ấy của ông thực sự cống hiến được cho dân, cho nước, cho đời. Ấy vậy mà bỗng nhiên Nguyễn Khuyến nhận ra thực chất cái xã hội đã đào tạo và tôn vinh mình. Và đến khi đạt đến đỉnh cao của vinh quang cũng là lúc ông đã thừa nhận sự bất lực của tầng lớp nho sỹ trước lịch sử. Nguyễn Khuyến là một trong rất ít những tri thức thời kỳ ấy sớm nhận ra sự bất lực của giai cấp mình. Để rồi ông đã quyết định rời bỏ quan trường về quê để tránh xa sự nhố nhăng của xã hội, sự cám dỗ của đồng tiền. Ông đã bày tỏ tâm sự ấy rất chân thật:

    Cờ đương dở cuộc không còn nước

    Bạc chửa thâu canh đã chạy làng

    (Tự trào)

          Suốt quãng đời còn lại của mình ông luôn sống trong dằn vặt và ân hận vì cái sự đỗ đạt và con đường danh vọng của mình. Vì vậy ông đã tự giễu mình với một giọng điệu hết sức chua chát: Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh choẹ Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi (Vịnh tiến sỹ giấy II) Ông còn đem cả lỗi lầm của mình ra để châm biếm, để nhạo báng:

    Nghĩ mình cũng gớm cho mình nhỉ

    Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng

    (Tự trào)

    Và ông luôn đắng cay khi nghĩ đến xã hội từ trên xuống dưới chẳng khác chi bọn phường chèo. Tưởng rằng là oai phong lắm, là tự hào lắm nhưng thực ra cũng chỉ là sân khấu hề mà thôi. Nguyễn Khuyến cũng sớm nhận ra mình chẳng qua cũng chỉ là một vai nhọ. Về mặt này ông đã giễu mình với giọng điệu chua chát hơn. Nhưng kiểu tự trào với giọng điệu chua chát bao nhiêu thì càng chứng tỏ phẩm chất cao đẹp của nhà thơ bấy nhiêu. Và đây cũng là kiểu tự bôi nhọ, tự giễu mình là để chứng tỏ phẩm chất đẹp của mình, khẳng định mình và cũng để đề cao mình. Chính vì vậy đây chính là điểm khác biệt rõ nét nhất trong giọng điệu tự trào của cụ Tam nguyên Yên Đổ và giọng điệu tự trào của Tú Xương.

        Một điểm khác nữa trong giọng điệu tự trào của Nguyễn Khuyến so với giọng điệu tự trào của Tú Xương, đó chính là danh vị xã hội và môi trường sống. Có lẽ cũng là một phần do tuổi đời của nhà thơ đã cao mà giọng điệu tự trào của Nguyễn Khuyến có phần kín đáo hơn, ý nhị hơn, thâm trầm hơn, tất nhiên cũng không kém phần sâu sắc. Khi ông đả kích, châm biếm bản thân mình ông không nói một cách trực tiếp mà kín đáo ý nhị thông qua hình ảnh “ông tiến sĩ giấy”. Hay khi Nguyễn Khuyến giễu mình, cười cợt mình trở thành một kẻ vô tích sự, không còn có ích gì nữa ông cũng chỉ nhẹ nhàng:

    Bây giờ đến bậc ăn dưng nhỉ

    Có rượu thời ông chống gậy ra

    (Lên lão)

        Ai cũng biết “bậc ăn dưng” là chỉ những người đã hết tuổi làm việc khi trong làng có hội hè gì thì chỉ việc đi ăn không còn phải đóng góp. Mới ngoài 50 tuổi đầu mà Nguyễn Khuyến đã ví mình như vậy, giọng điệu có vẻ nhẹ nhàng nhưng dụng ý thì thật là không đơn giản.

        Trong thực tế ở cái tuổi ấy và còn cao hơn nữa Nguyễn Khuyến đã lao động cật lực bằng cả tâm hồn mình, ông để lại cho đời một gia tài văn học cho đến bây giờ đã hơn 100 năm trôi qua mà tên tuổi của ông vẫn không bị mờ phai. Góp phần để tạo nên một giọng điệu thâm trầm nhẹ nhàng kín đáo của Nguyễn Khuyến phải chăng do môi trường sống của nhà thơ là ở vùng nông thôn, ít nhiều cũng không xô bồ như nơi đô thị. Sự thanh bình của cảnh sắc nơi thôn dã cũng làm cho tâm hồn con người được dịu bớt những lo toan căng thẳng. Chính vì thế mà giọng điệu tự trào của Nguyễn Khuyến phải chăng có phần nhẹ nhàng và thâm trầm cũng là nhờ lẽ đó. Khác với cụ Tam Nguyên đã đỗ đạt, thành danh nay về quê ở ẩn, Tú Xương vẫn còn là một thanh niên tuổi còn trẻ, sống ở nơi đô thị xô bồ và cả đời lận đận trong khoa cử. Trọn cuộc đời, từ khi sinh ra lớn lên và đến khi mất Tú Xương chỉ quanh quẩn ở đất Thành Nam, khu đô thị đang bị thực dân hoá. Một đô thị sầm uất, tu chí làm ăn khi xưa không còn nữa mà thay vào đó là một đô thị xô bồ, cuộc sống đảo lộn, đạo đức xuống cấp…Gia đình cũng vì thế mà xáo trộn:

    Nhà kia lỗi phép con khinh bố

    Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng

    Một nơi cao lâu, thổ đĩ nhiều hơn cả, trong khi đó thì cái sự học:

    Cô hàng bán sách lim dim ngủ

    Thầy khoá tư lương nhấp nhổm ngồi…

    Và còn biết bao điều đáng khinh bỉ không kể xiết… Sống trong hoàn cảnh như vậy thì ít nhiều môi trường cũng tác động đến cái giọng điệu sắc bén lồ lộ của thơ Tú Xương. Nhưng có lẽ là tác động nhiều hơn cả là cái sự thất bại liên miên của nhà thơ trên con đường khoa cử để kiếm tìm công danh. Tám lần thất bại (trừ một lần đậu tú tài) với bao nhiêu năm đèn sách đã vắt kiệt sức lực của nhà thơ. Ông là một đấng nam nhi, là trụ cột cho gia đình, ấy vậy mà ông không giúp gì được cho vợ con mà còn như một đứa con cao cấp của bà Tú. Vốn dĩ là một chàng trai chốn thị thành nổi tiếng hào hoa phong lưu nay chẳng khác chi một người sống nhờ vợ. Lẽ nào nhà thơ không thất vọng về bản thân mình. Điều thật trớ trêu, Tú Xương lại là một người có tài văn chương thật sự. Tài của ông được mọi người công nhận, chỉ có một nơi duy nhất không chấp nhận đó là quan trường là hoan lộ. Phải chăng tất cả những điều đó đã tạo nên một giọng điệu rất riêng cho Tú Xương. Ông có một lối trào lộng hí hoạ, bằng cách tự chế giễu, bôi xấu mình. Mọi khía cạnh ông đều trở nên xấu xí. Ông không hề ngần ngại khi nói về bản thân một cách trực diện:

    Vị Xuyên có Tú Xương

    Dở dở lại ương ương

    Cao lâu thường ăn quỵt

    Thổ đĩ lại chơi lường

    (Tự vịnh)

    Tự phô mình trong mọi góc cạnh Tú Xương đã phác hoạ lên hình ảnh của chính ông – một nhà nho trong thời mạt vận. Hoàn cảnh như thế đã tạo nên ở Tú Xương một kiểu tự trào trực diện, tự bôi xấu. Không phải ông bôi xấu mình là để đề cao mình như trong thơ tự trào của Nguyễn Khuyến, ông bôi xấu mình như là để giải thoát bản thân. Phải xấu xa như vậy, dốt nát như vậy ông mới giống kẻ suốt tám lần thi không đỗ, mới giống kẻ vô tích sự ăn bám vợ…mới giống kẻ sống giữa xã hội xô bồ nơi đô thị. Nói như vậy để thấy rằng trong hoàn cảnh của Tú Xương, khó mà viết được những vần thơ êm ả. Điều này đã tạo nên một giọng điệu mới mẻ trong thơ của ông Tú, vượt xa kiểu tự trào của các nhà nho xưa để hình thành một kiểu tự trào mới – kiểu tự trào thị dân. Nếu như kiểu tự trào của Nguyễn Khuyến vẫn mang tính giáo hoá, phi ngã chưa thoát khỏi quy phạm văn chương của nhà nho thì thơ tự trào của Tú Xương đã làm được điều đó. Trong cảm thức thị dân, bằng lối tự trào, tự vịnh, Tú Xương đã tạo nên một kiểu hình nhà thơ thị dân, một kiểu trữ tình phúng thể thị dân. Trước Tú Xương, trong thơ trào phúng nhà nho điều đó chưa hề có. Ông quả thực đã tạo được cho mình một kiểu tự trào hết sức độc đáo, làm nên phong cách rất riêng

    Tóm lại: So sánh giọng điệu tự trào trong thơ Nguyễn Khuyến và Tú Xương, không phải để xác định ai hơn ai mà để từ đó ta thấy được tài năng cũng như phong cách của từng nhà thơ. Cho dù đã trải qua hơn một trăm năm nhưng Nguyễn Khuyến và Tú Xương luôn để lại trong lòng người đọc sự yêu mến kính trọng, Một cụ Tam Nguyên Yên Đổ nhẹ nhàng mà sâu sắc, một ông Tú Vị Hoàng sắc sảo và dữ dội. Cùng là tự cười mình song mỗi tác giả đều có những cách cười thật khác nhau. Chính vì vậy so sánh giọng điệu tự trào của Nguyễn Khuyến và Tú Xương trong thơ để từ đó ta có thể thấu hiểu thêm về hai tác giả qua sự tương đồng cũng như khác biệt trong sáng tác thơ của hai nhà thơ, từ đó góp phần làm sáng tỏ phong cách của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương./.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Phan Văn Các, Lại Cao Nguyên. Sổ tay từ Hán Việt.NXB Giáo dục, Hà Nội, 1989

    2. Nguyễn Huệ Chi. Nguyễn Khuyến về tác giả và tác phẩm. NXB Giáo dục, Hà Nội,2003.

    3. Nguyễn Phương Chi. Thi hào Nguyễn Khuyến và đời thơ, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003.

    4. Nguyễn Đình Chú. Trần Tế Xương về tác gia và tác phẩm. NXB Giáo dục, Hà Nội 2003.

    5. Xuân Diệu (giới thiệu). Thơ văn Nguyễn Khuyến. NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 1979.

    6. Nguyễn Phạm Hùng. Thái độ trào lộng trước đối tượng khách thể trong sáchNguyễn Khuyến về tác gia tác phẩm. NXB Giáo dục Hà Nội.2003. 7. Nguyễn Văn Huyền. Nguyễn Khuyến – tác phẩm. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984. 8. Đoàn Hồng Nguyên. Tú Xương với kiểu tự trào thị dân trong cuốnTrần Tế Xương về tác gia tác phẩm. NXB Giáo dục 2003.