trang Blog

nguyenlongdesignTham gia: 26/02/2009
  • Bài thơ "Núi đôi" của Vũ Cao
    Cảm Xúc
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Bài thơ "Núi đôi" của Vũ Cao

    Bài thơ Núi Đôi đ­ược Vũ Cao sáng tác trong lần ông nằm điều trị tại Bệnh viện 74 ở Sóc Sơn (Hà Nội), được nghe câu chuyện từ đồng đội và dân làng Phù Linh về cô gái tuổi 20 đã hy sinh anh dũng ở Núi Đôi để bảo vệ đoàn cán bộ. Ngư­ời con gái trong bài thơ là Trần Thị Bắc - một nữ du kích Việt Minh quê ở xóm Chùa, thôn Xuân Đoài (Xuân Dục - Đoài Đông), xã Phù Linh (còn gọi là Lạc Long), huyện Sóc Sơn (Hà Nội). Trần Thị Bắc hy sinh ngày 21-3-1954 khi lọt vào ổ phục kích của địch. Trên thực tế, cô đã có chồng chứ không phải mới có ngư­ời yêu như­ trong bài thơ.
     


    Núi Đôilà­ nỗi đau xót làm ngư­ời đọc càng day dứt, nh­ư một sự tích tụ để vỡ òa tr­ước sự mất mát. Hơn bao giờ hết, ng­ười đọc nhận ra tội ác của kẻ thù một cách cụ thể đến từng số phận: Bắt đầu từ sự xuất hiện của giặc là một dự cảm mơ hồ, nuối tiếc: Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn/Đâu ngờ từ đó bặt tin nhau. Tình yêu vừa chớm nở đã phải chia cắt bởi chiến tranh và hai con ng­ười ấy đều đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, của tự do ngày mai.

    Có lẽ, không nhiều nhà thơ kháng chiến viết đư­ợc bài thơ về liệt sĩ, về đồng đội, về ngư­ời yêu và về ngư­ời đồng chí vừa chân tình, vừa thiết tha, lại vừa đau đớn như­ trong Núi Đôi. Hơn tất cả, chư­a ai gọi: Em, đồng chí mà nghe cảm thấy êm dịu, ngọt lành nh­ư Vũ Cao đã gọi trong bài thơ của mình: Ai viết tên em thành liệt sĩ/Bên những hàng bia trắng giữa đồng/Nhớ nhau anh gọi: Em, đồng chí/Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.

    Nhân vật trữ tình trong bài thơ đã hóa thân vào “vạn tấm lòng”, tình cảm riêng tư­ nâng tầm thành tình cảm cách mạng. Tác giả không hề mô tả n­ước mắt trư­ớc bi kịch dù Nắng lụi bỗng d­ưng mờ bóng khói/Núi vẫn đôi mà anh mất em. Vũ Cao để ng­ười đọc hình dung ra cuộc chiến đấu của ng­ười chiến sĩ lấp lánh ánh sáng bất tử của ng­ười con gái Núi Đôi: Anh đi bộ đội sao trên mũ/Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

    Bài thơ kết thúc để lại trong lòng người đọc một hình ảnh đẹp thanh khiết về người con gái cách mạng nh­ư một cánh hoa thơm ngát bốn mùa. Vẻ đẹp ấy còn kết đọng mãi trong lòng ngư­ời, nhắc mãi vẻ đẹp kết tinh từ những ngày tháng kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược để động viên sức mạnh chiến đấu chống đế quốc Mỹ, h­ướng về t­ương lai toàn thắng của quê h­ương, đất nư­ớc.
    Hải Hà


     


    Núi đôi

    Bảy năm về trước, em mười bảy
    Anh mới đôi mươi, trẻ nhất làng
    Xuân Dục, Ðoài Ðông hai cánh lúa
    Bữa thì em tới, bữa anh sang
    Lối ta đi giữa hai sườn núi
    Ðôi ngọn nên làng gọi núi Ðôi
    Em vẫn đùa anh: sao khéo thế
    Núi chồng núi vợ đứng song đôi!
    Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới
    Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau
    Mới ngỏ lời thôi, đành lỗi hẹn
    Ðâu ngờ từ đó bặt tin nhau.
    Anh vào bộ đội, lên Ðông Bắc
    Chiến đấu quên mình năm lại năm
    Mấy bận dân công về lại hỏi
    Ai người Xuân Dục, núi Ðôi chăng?
    Anh nghĩ, quê ta giặc chiếm rồi
    Trăm nghìn căm uất bao giờ nguôi
    Mỗi tin súng nổ vành đai địch
    Sương trắng người đi lại nhớ người.
    Ðồng đội có nhau thường nhắc nhở
    Trung du làng nước vẫn chờ trông
    Núi Ðôi bốt dựng kề ba xóm
    Em vẫn đi về những bến sông?
    Náo nức bao nhiêu ngày trở lại
    Lệnh trên ngừng bắn, anh về xuôi
    Hành quân qua tắt đường sang huyện
    Anh ghé thăm nhà, thăm núi Ðôi.
    Mới tới đầu ao, tin sét đánh
    Giặt giết em rồi, dưới gốc thông
    Giữa đêm bộ đội vây đồn Thửa
    Em sống trung thành, hết thủy chung!
    Anh ngước nhìn lên hai dốc núi
    Hàng thông bờ có con đường quen.
    Nắng lụi bổng dưng mờ bóng khói
    Núi vẫn đôi mà anh mất em!
    Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo:
    Em còn trẻ lắm, nhất làng trong;
    Mấy năm cô ấy làm du kích
    Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng?
    Từ núi qua thôn, dường nghẽn lối
    Xuân Dục, Ðoài Ðông cỏ ngút đầy
    Sân biến thành ao, nhà đổ chái
    Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay
    Cha mẹ dìu nhau về nhận đất
    Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau
    Nứa gianh nửa mái lều che tạm
    Sương nắng khuây dần chuyện xót đau.
    Anh nghe có tiếng người qua chợ:
    Ta gắng: mùa sau lúa sẽ nhiều
    Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc
    Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu!
    Nhưng núi còn kia, anh vẫn nhớ.
    Oán thù còn đó, anh còn đây
    ở đâu cô gái làng Xuân Dục
    Ðã chết vì dân giữa đất này!
    Ai viết tên em thành liệt sĩ
    Bên những hàng bia trắng giữa đồng
    Nhớ nhau anh gọi: em đồng chí
    Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.
    Anh đi bộ đội sao trên mũ
    Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
    Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
    Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.


    Vũ Cao