trang Blog

nguyenquochoang_arcTham gia: 26/04/2009
  • Binh chung dac cong ( phan 3 )
    Thư Giãn
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Binh chung dac cong ( phan 3 )

    TẬP KÍCH ĐỒNG DÙ- CĂN CỨ "BẤT KHẢ XÂM PHẠM" CỦA SƯ ĐOÀN "TIA CHỚP NHIỆT ĐỚI" MỸ
    Có lẽ cho đến bây giờ, nhiều lính Mỹ vẫn không hiểu được tại sao với một hệ thống bố phòng chặt chẽ đến mức–như họ từng khoe khoang: “bất cứ một sinh vật nào cũng không thể chui lọt” vậy mà bỗng nhiên căn cứ Đồng Dù bị đánh cho tơi tả. Lại càng ngạc nhiên hơn khi tập kích vào đây lại không phải là xe tăng, phi pháo cùng với những đơn vị chủ lực hùng mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, mà ngược lại, chỉ là một lực lượng rất nhỏ những người lính mình trần, chân đất...

    Đồng Dù là căn cứ quân sự lớn có sở chỉ huy của sư đoàn “Tia chớp nhiệt đới” Mỹ. Đây cũng được coi là một cái dạ dày chứa vật chất chiến tranh phục vụ cho các cuộc hành quân về phía tây bắc Sài Gòn của quân Mỹ và ngụy. Chính vì vậy, việc Đồng Dù được xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố, với các trang thiết bị hiện đại bậc nhất của Mỹ lúc bấy giờ là một điều không lạ. Riêng hệ thống vật cản đã có tới 7 lớp rào thép gai các loại bao quanh căn cứ, ở phía nam và tây nam có tới 12 lớp. Các loại mìn được bố trí xen kẽ, dày đặc trong các lớp kẽm gai. Hệ thống canh gác được bố trí xen kẽ với các ụ chiến đấu có quân thường trực tuần tra 24/24 giờ. Bên trong căn cứ, tại các mục tiêu cụ thể như kho tàng, sân bay, nhà chỉ huy lại có hệ thống canh gác độc lập. Bên ngoài căn cứ, địch đã cho san ủi bằng phẳng, tạo một khoảng trống lớn xung quanh căn cứ. Với cách bố phòng như trên, thì việc đột nhập vào căn cứ quả thật vô cùng khó khăn.

    Tiểu đoàn đặc công 3 của Miền được giao nhiệm vụ tập kích căn cứ này, nhằm vừa tạo ra sự rung chuyển lớn trong tâm lý lính Mỹ ở Việt Nam, vừa tiêu diệt sinh lực địch. Ngày 14-12-1968, được sự giúp đỡ của nhân dân, tiểu đoàn đã tổ chức được hai mũi trinh sát đột nhập vào phía nam căn cứ. Đến ngày 8-1-1969, Ban chỉ huy trận đánh tiếp tục tổ chức 7 mũi trinh sát đột nhập căn cứ lần thứ hai. Sau 7 đêm tổ chức đột nhập trinh sát, mọi mục tiêu trong căn cứ Đồng Dù được các chiến sĩ nắm chắc đến từng chi tiết mà địch không hề phát hiện ra. Điều đó chứng tỏ nghệ thuật ngụy trang, khả năng tiếp cận địch của bộ đội đặc công ta là rất thành thục và tính toán chặt chẽ, hiện đại trong bố phòng căn cứ của quân đội Mỹ cũng không phải là cao siêu như họ vẫn từng nói.

    Rạng sáng ngày 26-2-1969, sáu mũi tiến công của tiểu đoàn đặc công 3 đã cơ bản lót sẵn vào các mục tiêu. Hơn 2 giờ sáng hôm ấy, lệnh nổ súng phát ra, các mũi đồng loạt tiến công các mục tiêu theo quy định. Cuộc chiến đấu diễn ra sau hơn một giờ thì cơ bản các mục tiêu trong căn cứ Đồng Dù đã bị phá hủy. Ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.000 tên địch, phá hủy khu trung tâm thông tin, ra-đa, làm hỏng hơn 50 máy bay các loại, 179 xe cơ giới trong đó có nhiều xe tăng, xe bọc thép, đánh sập 200 nhà ở, hàng chục hầm ngầm, hơn 100 lô cốt, đốt cháy 4 kho xăng và đạn trong căn cứ. Và điều quan trọng là sau khi kết thúc trận đánh, lực lượng của ta đã rút lui thành công. Cuộc tập kích vào căn cứ, sở chỉ huy của sư đoàn “Tia chớp nhiệt đới” đã thực sự gây “sốc” cho lính Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Họ không thể hiểu nổi bằng cách nào mà hơn 100 con người với đầy đủ vũ khí trang bị lại có thể đi vào, đi ra khỏi căn cứ được canh gác nghiêm ngặt vào loại bậc nhất ở miền Nam Việt Nam một cách “dễ dàng” như vậy. Sau này họ cũng không ngờ rằng, tất cả các cặp mắt của đội quân nhà nghề, tất cả các trang thiết bị hiện đại để chống đột nhập đã chịu thua những vệt nhọ nồi, những tấm áo cỏ và ý chí sắt đá của bộ đội đặc công Việt Nam.

     

    Những chiến công đặc biệt


    Đó là những chiến công của bộ đội đặc biệt tinh nhuệ VN (đặc công), một lực lượng chiến đấu hầu như chỉ VN mới có. Ra đời từ chiến tranh nhân dân với các cách đánh du kích... rồi trở thành một binh chủng thần kỳ của quân đội VN, đặc công VN là nỗi kinh hoàng của kẻ thù suốt 30 năm chiến đấu chống Mỹ. Và trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trên các hướng tấn công thành lũy cuối cùng của kẻ thù - những người lính đặc công là những chiến sĩ mở đường cho đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn.
    Trải chiến công mở đường vào dinh Độc Lập

    Thần tốc, táo bạo, quyết liệt - lực lượng đặc công (ĐC) đã hạ gục nhiều mục tiêu trọng yếu nhất trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Họ có mặt ở hầu hết những cánh quân tiên phong, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mở đường cho bộ binh tiến thẳng về Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

    Ba hướng tiến công
    Trước tình hình quân đội Sài Gòn đang trên đà sụp đổ, ngày 31.3.1975, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị, quyết định mở chiến dịch giải phóng Sài Gòn mang tên "Chiến dịch Hồ Chí Minh". Đại tá Nguyễn Chí Điềm - Tư lệnh Binh chủng ĐC được cử vào cơ quan tham mưu Bộ chỉ huy chiến dịch.

    Huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong ngày thành lập Binh chủng Đặc công 19.3.1967:
    "Đặc công tức là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải cố gắng đặc biệt. Các chiến sĩ đặc công được tin tưởng đặc biệt, bất kỳ nhiệm vụ gì, nhiệm vụ đặc biệt nào cũng phải hoàn thành và hoàn thành cho tốt. Bất kỳ khó khăn đặc biệt nào cũng phải vượt qua, cũng phải khắc phục cho kỳ được...". Có 1 sư đoàn, 4 tiểu đoàn và nhiều tổ biệt động nội tuyến Sài Gòn thuộc Binh chủng ĐC tham gia trực tiếp chiến đấu dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh Miền. Lực lượng được bố trí trên 3 hướng chính: Hướng đông (gồm cánh đông và đông nam) có trung đoàn 113, 116, 10 (Sư đoàn 2); tiểu đoàn (TĐ) 80, các Z22, Z23, Z24 (lữ đoàn 316); TĐ 4 Thủ Đức. Đồng chí (đ/c) Tống Viết Dương được cử làm tư lệnh, đ/c Lê Bá Ước được cử làm chính uỷ. Hướng bắc (gồm cánh bắc và tây bắc) có trung đoàn 115 (Sư đoàn 2); TĐ 81, 83, các Z20, Z28, Z31, Z32 (lữ đoàn 316); trung đoàn 198 (Tây Nguyên). Đ/c Nguyễn Thanh Tùng (Mười Cơ) được cử làm tư lệnh, đ/c Tư Được được cử làm chính uỷ. Hướng tây (gồm cánh tây và tây nam) có trung đoàn 117, trung đoàn 429 (Sư đoàn 2); TĐ 82, Z25, Z26, Z30 (lữ đoàn 316). Đ/c Nguyễn Văn Mây được cử làm tư lệnh, đ/c Bảy Dũng được cử làm chính uỷ.

    Diệt thành luỹ cuối cùng
    Ngày 8.4, trung đoàn 116 đánh chiếm Trường Sĩ quan thiết giáp Nước Trong, bắn phá trạm biệt kích Yên Thế, Lôi Hổ và căn cứ Long Bình... Từ ngày 9-16.4, ĐC Quân khu 6 phối hợp với chủ lực đánh chi khu Thiện Giáo, yếu khu Phú Long, căn cứ Ê Dơ Pích, tạo điều kiện cho binh chủng hợp thành giải phóng Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Tuy... Chỉ trong thời gian rất ngắn ta đã tạo được bàn đạp áp sát Sài Gòn.


    Trên hướng đông và đông nam, khi Quân đoàn (QĐ) 2 đánh chiếm Bà Rịa, phát triển xuống Vũng Tàu... thì đêm 28 rạng ngày 29.4, Z24 biệt động đánh chiếm và trấn giữ cầu Rạch Bà, ấp Long Xuyên; Z19 cướp tàu địch tiến vào cảng Rạch Dừa; sau đó Z24 và Z29 cùng Sư đoàn 3 và thị đội Vũng Tàu đánh chiếm khu rada Núi Lớn... giải phóng toàn bộ Vũng Tàu. Ở xa lộ Sài Gòn - Biên Hoà, trung đoàn 116 đánh chiếm cầu Biên Hoà (ngày 27 và 28), phân chi khu Bến Gỗ.

    Cùng thời gian đó, đoàn 10 rừng Sác đánh đồn bảo an Phước Khánh; ngày 30 chiếm cảng Nhà Bè, thu 126 tàu các loại. Sáng sớm ngày 30.4, TĐ 81, Z22, Z23 và TĐ 4 Thủ Đức đánh chiếm cầu Rạch Giá và Tân Cảng...

    Trên hướng bắc và đông bắc, khi QĐ 4 đánh chiếm chi khu quân sự Trảng Bom, tiến về Biên Hoà, thì đêm 27 rạng ngày 28, trung đoàn 113 đánh chiếm cầu Ghềnh, cầu Hoà An, căn cứ thiết giáp Hốc Bà Thức. Cầu Ghềnh có vị trí hết sức quan trọng nên địch tập trung lực lượng phản kích quyết liệt nhằm chiếm lại. 50/52 đ/c của đại đội 1 đã anh dũng hy sinh để giữ vững vị trí hiểm yếu này.

    Trên hướng tây và tây nam, khi các lực lượng khác đánh chiếm nhiều cứ điểm quan trọng của địch, thì ngày 29.4, TĐ 80 và một bộ phận của Z22 (lữ đoàn 316) đánh chiếm trụ sở An Phú Đông, loại khỏi vòng chiếm một đại đội biệt động quân nguỵ và nhiều cảnh sát, dân vệ...

    Sáng ngày 30.4, lực lượng biệt động nội tuyến gồm 14 chiến sĩ đột nhập, đồng thời phối hợp với Sư đoàn 10 (QĐ 3), 320B (QĐ 1) đánh chiếm toàn bộ Bộ Tổng tham mưu nguỵ và cắm cờ giải phóng.

    * Theo bạn, đặc điểm nào là nổi bật nhất của bộ đội đặc công Việt Nam:
    - Đặc biệt tinh nhuệ: 25,5%.
    - Anh dũng tuyệt vời: 13%.
    - Mưu trí táo bạo, đánh hiểm thắng lớn: 61,5%.

    Trưa ngày 30.4, xe tăng của lữ đoàn tăng 203 được ĐC dẫn đường hùng dũng tiến vào dinh Độc Lập. Trung uý xe tăng Bùi Quang Thận và đại đội trưởng đại đội 1 ĐC Phạm Duy Đô (TĐ 19, trung đoàn 116) xông thẳng lên tầng thượng dinh Độc Lập hạ cờ chính quyền Sài Gòn, kéo cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam lên đỉnh cột cờ lúc 11h30 phút. Ngay sau đó, đ/c Phạm Duy Đô và chiến sĩ ĐC Phạm Huy Nghệ đã phát hiện toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn trong phòng họp. Tướng Dương Văn Minh - Tổng thống nguỵ Sài Gòn - phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Q.Hương tổng hợp

    - Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lực lượng ĐC đã đánh hàng nghìn trận, loại khỏi vòng chiến hàng vạn tên địch, phá huỷ hàng nghìn máy bay các loại, hàng chục nghìn xe tăng, xe bọc thép, xe quân sự, đánh chìm hàng nghìn tàu, thuyền chiến đấu, đốt cháy hàng triệu lít xăng dầu, trên ba nghìn tấn bom, đạn và nhiều sở chỉ huy, căn cứ quan trọng của địch trên khắp ba vùng chiến lược: rừng núi, đồng bằng, đô thị...

    - Qua 38 năm phát triển và trưởng thành, xây dựng và chiến đấu, bộ đội ĐC đã có 74 đơn vị, 174 cán bộ, chiến sĩ được Đảng, Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang.


    Trên khắp các chiến trường

    * Tháng 1.1960, 3 đại đội bộ binh và 1 đại đội ĐC 60 (Ban quân sự Miền) tấn công căn cứ Tua 2 (Tây Ninh), diệt và làm bị thương 400 tên, bắt 1000 tên, thu 1500 súng, 5 xe đạn.
    * Tháng 7.1964, tiểu đoàn (TĐ) 407 và TĐ 200 pháo binh tấn công trại biệt kích Plâymơrông, tiêu diệt gọn tiểu đoàn biệt kích nguỵ đầu tiên ở Tây Nguyên.
    * Tháng 2.1965, TĐ 409 tập kích sân bay lên thẳng Plâycu và trại lính Mỹ Holoway (Gia Lai), diệt và làm bị thương 108 tên Mỹ, 1 trung đội nguỵ, phá huỷ 20 máy bay, đánh sập 54 gian nhà và 3 lô cốt, đốt cháy 2 xe quân sự.
    * Tháng 1.1968, ĐC- biệt động đồng loạt tiến đánh nhiều mục tiêu quan trọng ở nội thành: cổng số 4 Bộ Tổng Tham mưu nguỵ, Đài Phát thanh, Dinh Độc lập, Đại sứ quán Mỹ...
    * Tháng 2.1969, TĐ 3 ĐC Miền và K28 ĐC Sư đoàn 7 phối hợp với một TĐ pháo hỗn hợp tập kích căn cứ Đồng Dù (Củ Chi), làm thiệt hại nặng 2 sở chỉ huy Mỹ, khu thông tin, đài rađa, trận địa pháo, sân bay, bãi xe, khu hậu cần, 29 hầm ngầm, 100 lô cốt... Diệt hơn 1000 tên Mỹ, làm cháy nổ nhiều kho xăng, hoả tiễn, đạn; phá huỷ 50 máy bay, 179 xe tăng và thiết giáp, 12 pháo 105.
    * Tháng 7.1970, TĐ ĐC nước đặt 120kg thuốc nổ làm chìm 1 tiểu pháo hạm và 2 xà lan, hỏng nặng 1 tàu chiến, diệt 146 tên địch.
    * Tháng 6.1971, TĐ 405 qua ba lần đánh kho Đèo Son (Quy Nhơn, Bình Định) phá huỷ 42 dãy nhà kho, 41.200 tấn bom đạn, thuốc nổ, 200 phuy xăng lớn (khoảng 40 tấn), 2 xe tăng, 61 ô tô vận tải, 15 tấn hàng quân sự và diệt 1 đại đội nguỵ.
    * Tháng 12.1972, Đoàn 10 ĐC Rừng Sác đánh khu kho Thành Tuy Hạ với 80 gian, phá huỷ hơn 18.000 tấn bom đạn.

    Tháng 5-1969, Lữ đoàn đặc công 429 Đông Nam Bộ quyết tâm tiến công căn cứ Phước Vĩnh, nhằm tiêu hao lực lượng địch, tạo thế mở rộng vùng giải phóng. Đêm 13-5, lực lượng đặc công bắt đầu hành quân tiến về phía căn cứ địch. Quá nửa đêm, toàn bộ lực lượng đã tiếp cận được tới hàng rào của căn cứ. Cùng lúc ấy, lực lượng đi trước từ trong hàng rào của địch trở ra báo cáo đã cắt xong 11 lớp rào của địch. Chỉ huy trận đánh liền ra lệnh cho toàn bộ đội hình bắt đầu luồn sâu vào căn cứ địch. Nhưng đội hình vừa chui vào hàng rào địch thì bỗng nhiên hàng loạt đạn pháo của địch bắn chụp lên hệt như chúng phát hiện ra lực lượng của ta đang đột nhập. Đã có thương vong xảy ra, buộc chỉ huy trận đánh phải ra lệnh cho các mũi rút lui.

    Khi trở về căn cứ, anh em tiến hành rút kinh nghiệm. Đang loay hoay tìm nguyên nhân thất bại thì cơ sở đến báo cáo sở dĩ đội hình của ta bị pháo địch tập kích là do chúng đã đặt máy nghe tiếng động. Hôm ấy chúng nghe thấy hướng đó có tiếng động, liền dùng pháo bắn tọa độ. Thực ra chúng chưa phát hiện ra ý đồ tiến công của ta.

    Đồng chí chỉ huy trận đánh liền tìm mọi cách lấy được một chiếc máy của địch về để nghiên cứu. Ngày hôm sau, đơn vị đã được cơ sở cung cấp một chiếc máy nghe trộm của địch. Cả lữ đoàn liền bắt tay vào nghiên cứu và cuối cùng anh em phát hiện ra rằng, đây là bộ máy thu tiếng động bằng cảm biến. Nếu như ngắt chiếc ăng-ten mỏng như lá lúa thì chiếc máy trở nên vô dụng. Biết được bí mật của địch, đơn vị lại tiếp tục tổ chức tiến công căn cứ địch, nhưng lần này không phải là Phước Vĩnh mà là căn cứ Bù Na. Đây là căn cứ hỗn hợp có hơn 1.300 tên địch cả Mỹ và ngụy đồn trú. Để hạn chế tiếng động khi tiềm nhập, anh em đã tập luyện những động tác tiếp cận thật nhẹ nhàng. Khi phát hiện ra máy nghe của địch thì nhanh chóng gỡ lấy và bẻ ngay chiếc ăng-ten lắp trên đầu máy. Bằng cách ấy, đêm 20-6-1969, đội đặc công của Khu 5 đã đột nhập êm gọn vào căn cứ Bù Na. Chỉ trong ít phút chiến đấu, các chiến sĩ đặc công Lữ đoàn 429 Đông Nam Bộ đã hoàn toàn làm chủ căn cứ với hàng trăm tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu.



    Những khác biệt ở đoàn M13
    Ngày 26 tháng 03 năm 2006

    Đoàn M13 là đơn vị huấn luyện thể lực và hoạt động thể thao giỏi toàn quân. Nếu chỉ như vậy thì hàng năm từ phong trào tập luyện hàng ngày toàn quân chúng ta có không ít đơn vị đạt được thành tích này. Song, ngoài các chỉ tiêu chung, ở Đoàn M13 còn có những chỉ tiêu và yêu cầu khác. Đó là "tự đánh giá" của tham mưu trưởng đoàn M13, thượng tá Phạm Ngọc Quyển. Và cuối tuần qua, chúng tôi đã có mặt tại đoàn để tìm hiểu, chứng kiến.

    Ngay khi tuyển quân, Đoàn M13 đã được trên ưu ái và chỉ chọn người có sức khỏe loại 1. Chế độ ăn uống của cán bộ, chiến sĩ Đoàn M13 lên tới 22 nghìn đồng/người.

    Những ngày đầu làm quen với hành quân xa mang vác nặng, chiến sĩ phải mang một viên đất thó đã đóng thành khuôn, nặng 20kg. Như vậy không ai có thể bớt đi một tí nào, dù chặng đường dài, đèo dốc và đôi lúc nhiệt độ nắng nóng tới 320C.

    Các đợt diễn tập dài ngày, các đơn vị bạn thường có lộ trình 70-80km, riêng đoàn M13 là 120km.

    Các buổi tập luyện nâng cao sức bền, sự dẻo dai, lòng dũng cảm cũng thường xuyên hơn. Riêng ở đội 12 còn có những đặc thù và chúng ta cùng tham khảo những nét chính trong lịch học tập, rèn luyện ở đơn vị cơ sở này.

    Thứ hai: Sáng, học luyện kỹ thuật khắc phục vật cản trong thành phố. Buổi chiều, chạy 100 mét. Buổi tối, hành quân xa mang vác nặng.

    Thứ ba: Sáng học chính trị. Chiều tập co tay xà đơn, chống đẩy xà kép và tập cơ bụng.

    Thứ tư: Sáng, kiểm tra sử dụng máy chuyên ngành. Bơi ếch (từ 9 giờ 30 đến 11 giờ 30). Chiều, tập vượt vật cản 100+100 mét. Tối (từ 20 đến 22 giờ) luyện kỹ thuật khắc phục vượt vật cản.

    Thứ năm: Sáng, bơi ứng dụng. Chiều, tập nhảy xa, nhảy ba bước. Tối luyện chiến thuật từ 22 giờ đến 24 giờ.

    Thứ sáu: Sáng, bơi ứng dụng (từ 6 giờ 30 đến 8 giờ 30). Chiều, luyện binh thao, chạy vượt đồi (5km).

    Thứ 7: Tập binh thao và chơi các môn thể thao yêu thích...

    Chứng kiến buổi tập của đội 12 chúng tôi cùng chung nhận xét: Phải có thể lực, sức bền và nhất là lòng dũng cảm thì mới trụ vững, bởi các đội viên chỉ cần bám vào dây chống sét thì thoáng một phút đã nhìn thấy họ đang thoăn thoắt, leo trèo ép sát cửa sổ tầng 3 của ngôi nhà cao 4 tầng. Còn trước những vật cản cao 1,2 mét dài 2,0 mét mà anh em bay qua tiếp đất nhẹ tênh. Xem các anh luyện võ một cách thuần thục, chúng tôi hỏi đại úy, đội trưởng Phạm Ngọc Vũ: "Nếu tay không thì trong số các anh những ai hạ được cùng lúc 3,4 kẻ đối địch (có gậy, gộc và dao, mác).

    Người đội trưởng trả lời một cách khiêm tốn: "chỉ quá nửa thôi anh ạ"!

    Dù gan góc và mạnh bạo như vậy những trên sân cỏ họ cũng hồn nhiên như những cầu thủ hạng chân đất khác. Riêng thiếu úy Trịnh Hữu Vẻ, thiếu úy Nguyễn Văn Lương lại là những cầu thủ hào hoa rất khéo léo, tinh tế trong các đợt tấn công của đội nhà. Các anh còn là những diễn viên chính trong các Hội diễn văn nghệ quần chúng của Đoàn M13 và của cả binh chủng.