trang Blog

nguyentamTham gia: 21/11/2008
  • CÁC BIỆN PHÁP CHỐNG Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC
    Công Nghệ Thông Tin
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    CÁC BIỆN PHÁP CHỐNG Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC

    Các giải pháp cải thiện tình trạng ô nhiễm nguồn nước phục vụ nuôi trồng thuỷ sản và cấp nước sinh hoạt tại Bạc Liêu

    Nguồn nước phục vụ nuôi trồng thuỷ sản (chủ yếu là tôm sú) yêu cầu về chất lượng nước khá nghiêm ngặt, nước không bị ô nhiễm, độ đục thấp, hàm lượng oxy hoà tan trong nước ca, hàm lượng chất hữu cơ trong nước thấp, hàm lượng các chất độc hại trong nước thấp hoặc không có (thuốc BVTV, thuốc trừ sâu, H2S...). Qua các kết quả khảo sát, đo đạc thực tế vùng phía Nam và Bắc QL1A cho thấy những vùng nuôi tôm tập trung dễ bị ô nhiễm nguồn nước do nước thải từ các ao nuôi chưa xử lý thải ra môi trường chứa hàm lượng chất hữu cơ cao, chứa các mầm bệnh tôm, chất kháng sinh. Hàm lượng vi sinh đo được trong nước còn khá cao, đặc biệt vào giai đoạn mùa khô và đầu mùa mưa trên hệ thống kênh rạch trong vùng.

    Để sử dụng nguồn nước mặt cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản đạt hiệu quả cao và phát triển bền vững cần phải có các giải pháp quảnlý, giải pháp kỹ thuật, giải pháp giáo dục cộng đồng... làm cơ sở để hạn chế sự ô nhiễm nguồn nước mặt trên diện rộng, bảo vệ chất lượng môi trường nước. Một số các giải pháp chính có thể được đề xuất như sau:

    Các biện pháp trong nuôi trồng thuỷ sản nhằm giảm ô nhiễm nguồn nước:

    - Quy hoạch hệ thống cấp nước và tiêu nước cho các vùng nuôi tôm nên được tách riêng ra khỏi những khu canh tác lúa, đặc biệt là hệ thống lấy nước cấp cho các khu nuôi.

    - Cần tiến hành xử lý nguồn nước thải từ các ao nuôi trước khi thải ra môi trường.

    - Có thể ứng dụng các kỹ thuật xử lý nước thải sau nuôi tôm bằng biện pháp xử lý sinh học như dùng các loài nhiễm thể hai mảnh vỏ lọ bỏ các chất hữu cơ trong nước thải tại các ao chứa nước thải và có thể tái sử dụng nguồn nước này cấp lại cho các ao nuôi (đã áp dụng thành công tại Cà Mau, đề tài khoa học cấp Tỉnh do Viện Khoa học Thuỷ lợi miền Nam thực hiện).

    - Lượng bùn sên vét đáy cào ao nuôi cần được xử lý làm phân bón vi sinh học được chôn lấp, không được để tràn tự nhiên ra môi trường.

    Các biện pháp thuỷ lợi nhằm giảm ô nhiễm nguồn nước.

    Thiết kế hệ thống cấp nước, tiêu nước cho các khu nuôi thuỷ sản đáp ứng đủ yêu cầu cấp nước và kênh tiêu phải tách rời khỏi kênh lấy nước.

    Thiết kế, xây dựng hệ thống cống lấy nước và lọc phù sa đáp ứng tiêu chuẩn nuôi trồng để tôm có thể phát triển tốt trong môi trường nước được cấp.

    Hệ thống kênh dẫn, kênh tiêu đào đắp đi qua vùng đất phèn cần lựa chọn các giải pháp hợp lý để hạn chế quá trình oxy hoá các vật liệu sinh phèn gây chua cho các vùng xung quanh và nguồn nước phía hạ lưu.

    Xây dựng chế độ tưới, tiêu hợp lý cho các vùng quy hoạch sản xuất lúa, vùng nuôi thuỷ sản, xây dựng quy trình đóng mở cống ngăn mặn hợp lý đáp ứng yêu cầu: Lấy nước mặn, ngăn mặn, xả phèn và trữ ngọt.

    Quản lý nước trong hệ thống kênh mương nội đồng cần phải được tính toán theo chế độ rửa, chế độ tưới cho các loại cây trồng, cho từng loại đất và hướng dẫn người dân cách thức vận hành quản lý nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao về hệ số sử dụng nước và giảm mức độ gây ô nhiễm môi trường hoặc gây lãng phí nguồn nước.

    Xây dựng các tổ dùng nước nhằm sử dụng hợp ý, có hiệu quả nguồn nước tưới tạo điều kiện tốt cho việc quản lý tài nguyên nước, sử dụng nước tiết kiệm và các hộ gia đình học hỏi lẫn nhau về kỹ thuật canh tác, nuôi trồng cũng như kỹ thuật sử dụng nguồn nước cho thuỷ sản.

    Lập các chương trình dự báo về diễn biến môi trường nước trong các vùng bố trí quy hoạch nuôi thuỷ sản, trồng lúa theo các phương án thiết kế hệ thống công trình thuỷ lợi.

    Các biện pháp trong nông nghiệp:

    - Quy hoạch sản xuất nông nghiệp cho từng tiểu vùng cần phải xét đến tính phù hợp về điều kiện thổ nhưỡng, tập quán canh tác, nguồn nước cấp, mức tăng trưởng dân số trong những năm tới.

    - Các vùng đất trũng, phèn nặng cần xây dựng các hồ sinh thái phát triển tổng hợp: Phát triển thuỷ sản, lấy nước tưới vào thời kỳ hạn và sử dụng nước sinh hoạt.

    - Thiết kế, quy hoạch của các ngành như nông nghiệp, thuỷ lợi, giao thông, thuỷ sản, xây dựng nên được xét đồng bộ nhằm xây dựng một kế hoạch hoàn chỉnh, lâu dài, không chồng chéo để không xảy ra hiện tượng lãng phí và ảnh hưởng tới môi trường.

    - Canh tác trên vùng đất phèn phải thực hiện theo các hướng dẫn kỹ thuật nhằm hạn chế sự xì phèn, tiêu thoát các độc tố từ trong đất ra nguồn nước mặt do quá trình thau rửa phèn.

    - Khuyến cáo nông dân sử dụng phân bón vi sinh, sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ có thời gian phân giải ngắn.

    Biện pháp quản lý và giáo dục cộng đồng:

    - Cần có sự hợp tác toàn diện giữa Ban quản lý các dự án với các ban ngành có liên quan của địa phương bàn về vấn đề tổ chức thực hiện, về tiến độ thi công, về biện pháp thi công và về giám sát thi công công trình.

    - Giám sát việc thực thi các hạng mục công trình theo nội dung thiết kế, khi có các vấn đề ô nhiễm môi trường xảy ra cần đề xuất ngay các giải pháp cụ thể mang tính khả thi để khắc phục mà không phải chờ đợi kéo dài thời gian tăng thêm mức độ nghiêm trọng.

    - Thông báo cho người dân trong vùng dự án về những kế hoạch, tiến độ xây dựng các công trình và lợi ích của các công trình này đối với đời sống dân sinh kinh tế.

    - Tuyên truyền vận động quần chúng hưởng ứng các chương trình chống ô nhiễm môi trường nước: Không thải các chất thải sinh hoạt, chất thải chăn nuôi và chất thải rắn xuống các kênh rạch.

    - Di rời các nhà ở phía lòng kênh vào phía trong để tránh hiện tượng xả thải xuống lòng kênh và tai nạn giao thông thuỷ.

    - Xây dựng các khu tái định cư cần phải bố trí hệ thống thu gom xử lý nước thải, rác thải, xây dựng hệ thống nước cấp sinh hoạt.

    - Cần xây dựng kế hoạch thu thập, phân tích định kỳ về chất lượng nước trong vùng. Phân tích diễn biến về thành phần các loài sinh vật nước.

    e. Giải pháp xây dựng hồ sinh thái cấp nước ngọt mùa khô phục vụ sản xuất nông nghiệp.

    - Hồ sinh thái (HST) nước ngọt là một khái niệm không mới ở các nước tiên tiến, nhưng rất mới ở nước ta, tiêu chí cơ bản của HST là hồ chứa nước sạch, không bị ô nhiễm, bền vững trong môi trường tự nhiên, có cây xanh, thảm cỏ ven bờ hồ, có nguồn cấp, có công trình xử lý nước vào và cấp nước.

    - Hồ sinh thái là dạng hồ phục vụ đa mục tiêu: Từ cấp nước ăn, nước tưới đến nước cho công nghiệp, du lịch, tầng nước ngầm, cải tạo khí hậu, bảo vệ môi trường và tô điểm cho cảnh quan của vùng. HST cũng là nơi bảo tồn các hệ động thực vật hoang dã. HST không có quy mô nhất định, có thể cho một gia đình, nhóm gia đình (từ 500 đến vài ba ngàn m2), có thể cho một thôn (vài ha) và có thể lên đến hàng trăm, hàng ngàn ha tuỳ điều kiện đất đai và nhu cầu phát triển. Tuy nhiên, Bạc Liêu là tỉnh có diện tích đất đai đã được khai phá hết cho phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản thì việc xây dựng các hồ sinh thái lớn từ vài chục ha trở lên là khó khăn. Do vậy, việc tập trung phát triển loại HST liên hộ gia đình với quy mô từ 500 đến 5000 m2, cải tạo, xây dựng các công trình xử lý nước vào, ra, trồng cây quanh hồ, chống thấm, chống nhiễm phèn, mặn bằng vải địa kỹ thuật, bằn lớp lọc nhân tạo, chống bốc hơi kết hợp nuôi trồng thuỷ sản là loại hình có thể được ứng dụng tốt ở địa bàn tỉnh Bạc Liêu. Đối với một số kênh rạch không có nhiệm vụ giao thông thuỷ có thể được cải tạo sử dụng để trữ nước ngọt vào cuối mùa mưa, và được giữ sạch phục vụ cung cấp nước ngọt cho mùa khô, trồng cây xanh và cỏ ở hai bên bờ kênh. Cần có giải pháp chống thấm vì đây là công việc phức tạp khi bờ kênh dài hàng ngàn mét và nước trong kênh được tích đầy vào cuối mùa mưa. Hiện nay giải pháp đơn giản nhất vẫn là sử dụng vải chống thấm để chống thấm qua lớp bờ hai bên kênh, có thể lựa chọn một số kênh cấp 2 để nâng cấp (đào sâu, mở rộng) cải tạo nâng cao bờ kênh, làm cống hai đầu kênh để trữ nước, cấp nước ngọt vào mùa khô phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất.

    - Trong tương lai nên tìm giải pháp để có đất xây dựng khoảng 20 hồ sinh thái vùng ven biển (Vĩnh Lợi, Đông Hải) với tổng diện tích hồ vào khoảng 1000 ha, chúng ta sẽ có khoảng 50 đến 70 triệu m3 nước phục vụ cho đời sống, sản xuất và bảo vệ môi trường của vùng khan hiếm nước ngọt của tỉnh Bạc Liêu.

    Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ các phương tiện giao thông thủy.

    a.      Biện pháp giảm thiểu ô nhiễm do rác thải.

    Tuy đã có những quy định rất cụ thể về việc thải rác đối với các phương tiện thủy khi hoạt động trên tuyến nhưng việc thực hiện các quy định này mới chỉ áp dụng triệt để đối với các tàu lớn và tàu nước ngoài tới khu vực. Trong thời gian tới, kiến nghị một số giải pháp sau:

    -         Nghiên cứu lựa chọn địa điểm để xây dựng một trung tâm chứa và xử lý rác thải riêng cho các hoạt động giao thông vận tải thủy.

    -         Bắt buộc các tàu nhỏ có số nhân viên từ 3 người trở lên phải áp dụng những biện pháp quản lý rác thải bao gồm việc thu gom và phân loại như quy định của phụ lục V của Marpol.

    -         Cấm đốt rác trên tàu khi tàu đang chạy, neo đậu hay nằm cầu trên toàn tuyến để hạn chế ô nhiễm không khí do khí thải và bay bụi từ việc đốt.

    -         Áp dụng biện pháp tính phí “không phân biệt” – Bất cứ tàu nào ghé cảng đều phải trả phí thu gom rác dù có tạo ra rác hay không và đưa ra quy trình thông báo sử dụng thiết bị tiếp nhận rác của cảng. Muốn vậy thì cần phải thay đổi cách tính cảng phí để tích hợp loại phí thu gom rác vào và phải đầu tư các thiết bị tiếp nhận các loại rác khác nhau để thực thi công việc một cách linh hoạt và hiệu quả.

    b.      Biện pháp giảm thiểu ô nhiễm do nước thải và nước dằn tàu.

    -         Chúng ta cũng đã có những quy định chi tiết về việc thải nước thải theo công ước Marpol đối với tàu chạy tuyến quốc tế hoặc theo quy định của quốc gia và thành phố Hồ Chí Minh với tất cả các tàu trong đó cấm thải nước thải xuống sông và vùng nước của cảng mà phải giữ lại trên tàu hoặc đưa vào thiết bị tiếp nhận. Tuy nhiên, việc xử lý nước thải thu gom từ các tàu hiện chưa được thực hiện triệt để. Cần phải xây dựng một trung tâm chứa và xử lý nước thải từ tàu cho toàn tuyến, vị trí của trung tâm này phải được chọn lựa đảm bảo tính kinh tế trong việc thu gom và vận chuyển nước thải từ các tàu tới trung tâm và phải chọn được các phương pháp xử lý thích hợp, phù hợp với năng lực đầu tư của chính quyền và đáp ứng được các tiêu chuẩn về môi trường.

    -         Nước dằn tàu có thể có những tác hại tới môi trường. Để phòng ngừa tác động của nước dằn tàu, cần quy định bắt buộc các tàu phải thải nước dằn vào thiết bị tiếp nhận trên bờ trừ khi chúng được kiểm tra và cho thấy không lẫn dầu và có các chỉ số sinh học đáp ứng được tiêu chuẩn của công ước quốc tế về quản lý nước dằn và cặn bùn tàu. Các tàu phải có quy trình thải nước dằn và phải báo cho chính quyền cảng biết trước khi tiến hành thải nước dằn.

    c.      Biện pháp giảm thiểu ô nhiễm do hàng độc hại.

    Hàng hóa độc hại chở trên tàu bao gồm hai nhóm chính là chất độc lỏng chở xô và chất có hại đóng trong bao gói. Các biện pháp kiến nghị bao gồm:

    -         Tàu chở loại hàng này phải có giấy chứng nhận phù hợp đặc biệt, phải báo trước cho chính quyền cảng về thời gian tàu tới cảng và phải có giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với sự cố gây ô nhiễm với mức tương đương với công ước LLMC.

    -         Cấm thải cặn hàng và nước có lẫn hàng lỏng độc hại xuống sông trên tuyến và vùng nước của cảng. Khi cần thải cặn hàng hoặc nước lẫn hàng bắt buộc phải sử dụng các thiết bị tiếp nhận từ trên bờ. Đơn vị làm dịch vụ thu gom chất thải của loại hàng này phải có đủ năng lực và có giấy phép của cơ quan chức năng.

    -         Hàng độc hại chở trong bao gói phải có đầy đủ ký mã hiệu thể hiện đầy đủ đặc tính của hàng. Các thông tin về hàng gồm danh mục, số lượng và vị trí xếp trên tàu phải được gửi cho chính quyền cảng trước khi tàu tới khu vực đón trả hoa tiêu tại Vũng Tàu.

    -         Cấm vứt bỏ, đốt rác, vật liệu bao gói, chèn lót có lẫn hàng độc hại khi tàu di chuyển, neo đậu hay nằm cầu trên toàn tuyến. Cặn hàng và các vật liệu chèn lót, bao gói có lẫn hàng phải được thu gom và báo cho chính quyền cảng biết để được đưa đi xử lý theo đúng quy trình và quy định của pháp luật về môi trường.

    d.      Biện pháp giảm thiểu ô nhiễm do dầu.

    Do lượng dầu thông qua các cảng trên tuyến TP.Hồ Chí Minh- Vũng Tàu là rất lớn, cộng với số lượng tàu lưu thông trên tuyến cũng cao nhất nước nên nguy cơ gây ô nhiễm dầu là lớn nhất và cần phải đặc biệt ưu tiên phòng chống.

    -         Cần thẩm định và triển khai ngay kế hoạch khẩn cấp ứng phó sự cố dầu tràn như đề xuất của Chi cục bảo vệ môi trường thành phố Hồ Chí Minh.

    -         Tăng cường hệ thống báo hiệu an toàn hàng hải trên toàn tuyến, đưa vào sử dụng hệ thống VTS đã lắp đặt để tăng độ an toàn lưu thông tàu thuyền trên tuyến. Kiểm tra giám sát chặt chẽ của các phương tiện thủy, đặc biệt là các phương tiện thủy nội địa về việc lưu thông, neo đậu, an toàn trang thiết bị và con người điều khiển phương tiện.

    -         Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho một đơn vị hạt nhân trên tuyến để có đủ năng lực xử lý sự cố tràn dầu ở cấp độ cấp II.

    -         Các tàu chở dầu khi vào các cảng trên tuyến bắt buộc phải có đủ các giấy chứng nhận an toàn theo quy định và phải có giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với ô nhiễm dầu với mức tương đương với công ước LLMC.

    -         Biện pháp sử dụng phao quây và lực lượng trực ứng cứu phòng ngừa dầu tràn ra từ các tàu có thể thực hiện theo hai giai đoạn:

                                                                              i.      Giai đoạn một: áp dụng cho tất cả các tàu dầu khi bơm nhận, trả hàng cũng như cho tất cả các tàu khi nhận nhiên liệu tại cầu hay ở nơi neo, đậu phao.

                                                                           ii.      Giai đoạn hai: áp dụng cho tất cả các tàu khi nằm cầu hay neo đậu trên tuyến.

    -         Các tàu phải duy trì các kế hoạch ứng cứu sự cố đến khi công tác bơm nhận, trả dầu kết thúc.

    -          Khi có sự cố tràn dầu cần áp dụng các quy trình như đề xuất của Chi cục bảo vệ môi trường thành phố.

     

     

    e.      Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí.

    Nguồn gây ô nhiễm không khí từ các phương tiện thủy chủ yếu là khí thải của động cơ, sự bay hơi của dầu chứa trên tàu và việc thải các chất gây suy giảm tầng ôzôn khi sửa chữa tàu. Căn cứ vào kinh nghiệm của các nước và điều kiện thực tế tại khu vực, đề án kiến nghị các biện pháp cụ thể sau:

    -               Do Việt nam chưa tham gia phụ lục VI của Marpol nên chưa thể công bố tuyến TP. Hồ Chí Minh – Vũng tàu là vùng “Kiểm soát khí thải đặc biệt”, tuy nhiên trong thời gian trước mắt có thể áp dụng các biện pháp tương tự như sau :

                                                            i.            Qui định các tàu vào, ra khu vực phải đảm bảo chất lượng khí thải đáp ứng quy định tương tự phụ lục VI của Marpol khi thải ra môi trường. Để đáp ứng yêu cầu này, chủ tàu sẽ phải thay thế loại dầu đốt có nồng độ sunphua thấp hơn hoặc phải lắp đặt thiết bị lọc khí thải cho tàu.

                                                         ii.            Giới hạn tốc độ của các tàu chạy trên tuyến để hạn chế lượng khí thải.

    -         Cấm đốt rác trên tàu khi hoạt động trên tuyến.

    -         Khuyến khích các chủ tàu sử dụng nhiên liệu có nồng độ sunphua thấp thông qua cảng phí khuyến khích theo kinh nghiệm của Phần Lan: Những tàu thải NOx dưới 10g/kW.hr sẽ được nhận mức phí giảm, mức giảm này bắt đầu từ 1% ở nồng độ 9g NOx/kW.hr và tăng tuyến tính lên tới 8% ở nồng độ 1g NOx/kW.hr. Những tàu sử dụng nhiên liệu có dứơi 0,5% sun phua sẽ nhận được mức giảm phí 4% và những tàu thải ít NOx hơn hay dùng nhiên liệu có nồng độ sunphua thấp hơn nữa cũng sẽ nhận được mức giảm cộng thêm. Mức giảm tối đa cho cảng phí là 20%.

    -         Đối với các cảng mới, khuyến khích đầu tư hệ thống cung cấp điện bờ cho tàu khi nằm bờ.

    -         Đối với các cảng nhận, trả dầu, hóa chất lỏng chở xô: khuyến khích sử dụng hệ thống nối kín tàu-kho để hạn chế lượng hơi hàng thoát ra ngoài môi trường khi làm hàng.

    Xử lý nước rỉ rác thải bằng cỏ

     

    Phương pháp xử lý nước rỉ rác ngay tại bãi chôn lấp bằng các loại cây thực vật như dầu mè, cỏ vetiver, cỏ voi và cỏ signal, không những giải quyết được bài toán ô nhiễm môi trường, mà còn tiết kiệm chi phí vừa được TS Ngô Hoàng Văn (Hội Nước và Môi trường nước thuộc Liên hiệp các Hội khoa học - kỹ thuật TP Hồ Chí Minh) nghiên cứu thành công.

     

     

    Giải quyết nạn ô nhiễm môi trường

     

    Hiện nay, tại nhiều bãi chôn lấp rác ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, lượng nước rỉ rác do không kịp xử lý là rất lớn, gây ô nhiễm môi trường. Việc chuyên chở nước rỉ rác còn gây ô nhiễm cho các nơi xe đi qua, chi phí chuyên chở tốn kém, chưa kể có khi các xe này còn xả "trộm" gây ô nhiễm môi trường sống của người dân.

     

     

    Từ thực tế đó, TS Ngô Hoàng Văn đã thực hiện đề tài: "Nghiên cứu xử lý nước rỉ rác bằng công nghệ cánh đồng tưới và cánh đồng lọc". Theo TS Ngô Hoàng Văn, TP Hồ Chí Minh nên tận dụng diện tích đất tại bãi chôn lấp để trồng cây có giá trị kinh tế cao như cỏ vetiver, cỏ voi, cỏ signal hoặc cây dầu mè. Cách làm này vừa giúp tận dụng được đất của các bãi chôn lấp rác để làm kinh tế, vừa kết hợp tận dụng xử lý nước rỉ rác để làm nguồn nước tưới dinh dưỡng cho cây nên giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường.

     

     

    TS Ngô Hoàng Văn cho biết, nước rỉ rác là chất lỏng thấm qua các lớp chất thải rắn mang theo các chất hòa tan hoặc các chất lơ lửng. Thành phần nước rỉ rác có chứa nồng độ pH, COD, BOD, a-xít, kim loại nặng... rất cao. Còn cỏ vetiver có bộ rễ chứa nhiều vi khuẩn và nấm, có khả năng xử lý chất thải gây ô nhiễm cho môi trường. Cụ thể, vi khuẩn cố định đạm có tác dụng chuyển hóa ni-tơ tự do thành ni-tơ sinh học; vi khuẩn điều hòa sự sinh trưởng của cây có thể điều hòa được các chất như auxin, gibbrrellins, ethylene, a-xít... là những chất hữu cơ ảnh hưởng đến quá trình sinh lý của cây dù ở nồng độ thấp; nấm phân giải phốt-pho; nấm rễ... Nhờ vậy mà cây có thể mọc nhanh trên những vùng đất nghèo dinh dưỡng hoặc đất bị nhiễm độc kim loại nặng trong những điều kiện khắc nghiệt như hạn hán, sương muối, nước mặn, nước có hóa chất, độc chất. Tương tự, cây dầu mè cũng có thể sinh trưởng và phát triển trong môi trường ô nhiễm. Loại cây này đã được trồng thử nghiệm cải tạo môi trường bị nhiễm độc đi-ô-xin tại Huế và Cần Thơ.

     

     

    Chi phí rẻ, lợi ích kinh tế cao

     

    Ðể thực hiện nghiên cứu của mình, TS Ngô Hoàng Văn cùng nhóm cộng tác đã trồng thực nghiệm cỏ vetiver, cỏ voi và cây dầu mè tại bãi chôn lấp rác Ðông Thạnh (TP Hồ Chí Minh) và sử dụng nước rỉ rác của bãi chôn lấp rác này để tưới. Kết quả cho thấy các loại cây và cỏ này phát triển bình thường. Nguồn nước rỉ rác đậm đặc có nồng độ các chất ô nhiễm cao sau khi được pha loãng với tỷ lệ 10% để tưới vào cây đã được cây hấp thụ và xử lý bằng phương pháp phát triển tự nhiên cho ra chất lượng nước thải đạt tiêu chuẩn loại A.

     

     

    TS Ngô Hoàng Văn cho biết, kết quả thu được qua bộ rễ, phản ứng đồng hóa của thực vật có thể xử lý các chất ô nhiễm có trong nước. Ngoài ra, qua bộ lá, thực vật còn có thể xử lý được khí thải, mùi hôi và khí CO2 có trong nước thải. Các nhà khoa học đã dùng nước rỉ rác pha loãng ở nồng độ 10% để tưới cho khu trồng cỏ vetiver rộng gần 100m2, khu trồng dầu mè rộng khoảng 150m2, kết quả cho thấy NH3, phốt-pho và mùi hôi đều được xử lý rất tốt và đơn giản.

     

     

    Ðặc biệt chi phí xử lý chỉ khoảng 8.000 đồng/m3 nước rỉ rác, rẻ hơn gấp mười lần chi phí xử lý hiện tại. Ðáng chú ý là ngoài tác dụng xử lý rác, những loại cây này có giá trị kinh tế cao như: cây dầu mè dùng để sản xuất dầu đi-ê-den sinh học hoặc thuốc trị bệnh; cỏ vetiver có thể tận thu để sản xuất giấy; cỏ signal làm thức ăn cho cá và gia súc...

     

     

    Từ những kết quả ứng dụng thu được, đề tài vừa được Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh nghiệm thu và đánh giá cao.

     

    Nguồn:ND

    Xử lý nước nhiễm sắt bằng tro bếp

    18/09/2009, 12:50:40 PM

    (VFEJ)-Học sinh Phùng Thủy Tiên, lớp Hóa K19, Trường THPT chuyên Thái Nguyên (tỉnh Thái Nguyên) đã thực nghiệm thành công và đưa ra biện pháp xử lý nước nhiễm sắt hiệu quả. Công trình này đạt giải 3 cuộc thi quốc gia về "Cải thiện việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước" lần thứ 6 năm 2008-2009.




    Sắt tồn tại trong đất và khoáng chất chủ yếu dưới dạng không tan hoặc ít tan. Trong nước ngầm, sắt phản ứng với một số thành phần khác tạo thành hiện tượng nước bị phèn sắt, có màu nâu đậm, do đó, các vật liệu tiếp xúc với nước giếng nhiễm sắt thường bị ố vàng nâu. Nước ngầm từ các vùng đất trũng thường chứa nhiều sắt. Việc khai thác nước ngầm quá mức cũng làm mức nước ngầm hạ thấp xuống, làm tăng sự thâm nhập chất hữu cơ từ trên bề mặt vào nước và tăng hàm lượng sắt trong nước ngầm.

     


    Từ việc nghiên cứu thực trạng này, chỉ bằng những vật liệu có sẵn tại địa phương, học sinh Phùng Thủy Tiên đã đưa ra biện pháp xử lý nước nhiễm sắt nêu trên. Phương pháp xử lý này đơn giản, nguyên vật liệu dễ tìm, có thể tận dụng tro bếp là rác thải sinh hoạt, thân thiện với môi trường. Cách làm này có thể áp dụng quy mô hộ gia đình, nhất là những vùng người dân đang phải sử dụng nước giếng khoan.




    Qua đó, người dân có thể kiểm tra mức độ nhiễm sắt của nước bằng cách thử với nhựa chuối bằng việc lấy bẹ chuối băm nhỏ, vắt lấy nhựa cho vào mẫu nước thử. Kết quả nếu nước nhiễm sắt sẽ chuyển sang màu đỏ và mức độ nhiễm sắt tăng hay giảm tùy thuộc vào độ đậm của màu nước. Sau đó, tro bếp được cho vào mẫu nước với liều lượng từ 5 đến 10g/l rồi để lắng trong vòng 15 phút. Các phản ứng hóa học xảy ra và hợp chất sắt không tan sẽ bị loại bỏ qua quá trình lọc.




    Tuy vậy, người dân không nên cho nhiều tro bếp vì nước sau khi xử lý xong sẽ hình thành một lớp màng trên bề mặt, lớp màng bám vào các đồ dùng sinh hoạt sẽ rất khó rửa. Nước sau khi để lắng tro bếp đem lọc qua cát thạch anh 2 lần, có thể kiểm tra lại chất lượng nước đã qua xử lý bằng nhựa chuối hoặc pha với nước chè.

     


    Hoàng Minh Nguyệt

    CÁC BIỆN PHÁP CHỐNG Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC