trang Blog

nhuhuy_ananTham gia: 24/03/2009
  • Khái Niệm về Nghệ Thuật (1)
    Thư Giãn
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Khái Niệm về Nghệ Thuật (1)





    Platon (428-347 BCN)



    Aristotle (384-322 BCN)

    Vào một ngày đẹp trời nào đó, giả thử có một ai đó, nhận được một thiệp mời tới tham dự một buổi triển lãm (tranh, tượng, sắp đặt, trình diễn, video…etc.). Vốn có mối quan tâm tới nghệ thuật từ lâu, người công chúng này sẽ tới buổi triển lãm đó. Tại đây, sau khi đã dành đủ thời gian cho việc gặp gỡ, thù tạc, và rượu vang, anh/chị ta bắt đầu thưởng thức nghệ phẩm. Việc thưởng thức này tất yếu sẽ đem đến cho anh/chị ta một trong hai cảm giác*. Cảm giác thứ nhất – là sự thỏa mãn, vui sướng, dễ chịu, cảm giác thứ kia, là sự khó chịu, tức tối và căm ghét đối với nghệ phẩm mà anh/chị ta xem

    Một câu hỏi đặt ra ở đây, liệu các cảm xúc của người công chúng này có là chính xác không? Nói khác đi, liệu chỉ với bộ công cụ trực quan thuần túy – không kèm theo bất kỳ kiến thức nào về mặt mỹ học (lẽ dĩ nhiên –bởi không cần thiết phải trở nên một chuyên gia – các kiến thức này chỉ cần ở mức sơ khởi), có là thỏa đáng không để người công chúng nọ có thể tiếp nhận nghệ phẩm một cách đúng như là nó – và do đó, đưa ra các phán đoán trùng kênh với nghệ phẩm? nhất là khi cái phán đoán này xẩy ra trong thời buổi– như từng được triết gia về nghệ thuật Arthur C. Danto gọi tên là –thời buổi của dạng Nghệ Thuật Sau Khi Nghệ Thuật Đã Kết Thúc( The Art after the End of Art)**.

    Câu trả lời ở đây, theo một số tác giả *** là “không” – hay nói chính xác hơn, là: “chưa đủ”.

    Điều này là do, với những tác giả này, tất cả các cảm xúc vui sướng, không vui sướng, thỏa mãn, dễ chịu hay khó chịu, tức tối, căm ghét xẩy ra khi chúng ta tương tác với nghệ phẩm, không chỉ bị chi phối bởi bộ công cụ trực quan sẵn có của chúng ta – mà còn bị chi phối bởi những tri thức tác động vào sự nhận thức của chúng ta. Nói khác đi, với một số những tác giả này, chính khái niệm về nghệ thuật của chúng ta, một cách vô thức ( hoặc ý thức – khi được giáo dục) cũng chi phối các phán đoán của chúng ta về nghệ phẩm, và rồi tiếp đến, chi phối các suy ngẫm và hành vi thực hành khác nhau của chúng ta hướng về nghệ phẩm đó.

    Và theo các tác giả này, cho tới thời điểm hiện tại, theo chiều dọc phát triển tuyến tính của lịch sử nghệ thuật phương Tây, đã có một số khái niệm nghệ thuật xuất hiện****. Chính các khái niệm về nghệ thuật khác nhau này– đã chi phối toàn bộ các thực hành sản tạo và thưởng thức nghệ thuật trong thời kỳ mà khái niệm ấy thống trị.

    Dưới đây, tôi xin điểm sơ lược qua một loạt khái niệm nghệ thuật ***** từng xuất hiện trong lịch sử Mỹ Học (hay còn gọi là lịch sử triết học về nghệ thuật của phương Tây), cho tới nay.

    Mục đích duy nhất của tôi trong loạt blogging này chỉ là để cung cấp thêm cho người xem nghệ thuật nói chung một số công cụ - không phải để hạn chế, trái lại, để mở rộng trường tiếp nhận của họ, để rồi hy vọng họ sẽ tự do, thanh thoát và nếu có thể - giải trừ được các định kiến ( nếu có) khi thưởng thức tác phẩm. Nói khác đi, nhằm giúp họ có thể có thêm phương tiện để thân thiện hơn với những cái-khác-mình –là cách duy nhất, để thưởng thức trọn vẹn các sáng tạo nghệ thuật.

    Sau đây, xin phép được bắt đầu

    1-Khái niệm thứ nhất: Nghệ thuật như sự mô phỏng [Art as Imitation] (hay còn được gọi một cách khác: nghệ thuật như sự nhận thức [Art as Cognition])

    Có thể nói, đây là khái niệm nghệ thuật quan trọng nhất trong lịch sử triết học về nghệ thuật phương Tây. Nhìn một cách nào đó, khái niệm này về nghệ thuật này, một cách sâu xa, bắt nguồn trên hình hệ triết học bản thể (hay hữu thể) học [Ontology] của triết học phương Tây, với câu hỏi khởi nguyên là: Đó là gì vậy? (What is it?).

    Thật vậy, hệ hình triết học bản thể học đặt nền tảng trên sự nghiên cứu về hữu thể (being) hay cái tồn tại, có thể hiểu như là việc đặt chủ thể trong mối tương quan của sự chiêm nghiệm, cắt nghĩa về đối tượng sẵn có phía ngoài – là tất cả các dạng thức của hữu thể (hay của tồn tại) nằm ngoài chủ thể. Sự chiêm nghiệm và quá trình tìm lời giải này khởi nguồn trên nỗi ngạc nhiên, khi con người chợt nhận ra các sự vật hiện tượng bên ngoài và bắt đầu đặt câu hỏi “ đó là cái gì? tại sao lại có cái đó ở đó mà không phải là không có gì hết?”.

    Cái mô hình chủ thể và đối tượng theo kiểu này có lẽ đã phản chiếu rõ nét trong khái niệm về nghệ thuật đầu tiên ( nghệ thuật như sự mô phỏng ) trong lịch sử triết học về nghệ thuật của phương Tây. Và người khởi nguyên cho khái niệm này là Platon, và sau đó, người kế thừa và hiệu chỉnh nó về mặt ý nghĩa là Aristotle, học trò của Platon.

    Theo khái niệm nghệ thuật này, nghệ phẩm chính là một vật thể do nghệ sỹ (kịch tác gia bi kịch, họa sỹ, điêu khắc gia, thi sỹ) tạo ra, với mục đích chủ yếu là để mô phỏng thế giới đối tượng phía ngoài chủ thể. Do đó, hành vi làm nghệ thuật chính là hành vi mô phỏng mọi dạng thức của tồn tại – giờ đây là đối tượng của sự mô phỏng của họ.

    Platon (mượn lời Socrates), đã minh họa cho mô hình mô phỏng kiểu này bằng thí dụ về ba chiếc giường. Chiếc giường thứ nhất, là chiếc giường thuộc Mô Thức ( Form) do thượng đế tạo ra, chiếc giường thứ hai là chiếc giường của đời sống hàng ngày do thợ mộc tạo ra, và chiếc giường thứ ba là chiếc giường do họa sỹ tạo ra. Trong cơ cấu ba chiếc giường này, chiếc giường do họa sỹ tạo ra là có cấp độ thấp nhất, bởi nó chỉ mô phỏng vẻ bề ngoài của chiếc giường mô thức chứ chưa đạt tới cấp của thợ mộc, là kẻ mô phỏng chiếc giường ấy như chính nó.

    Điều này là bởi chiếc giường hiện ra trong các mô phỏng của các họa sỹ, mỗi lần chỉ là một phần nhỏ( tùy theo góc nhìn của họa sỹ) của chiếc giường mô thức, trong khi chiếc giường do thợ mộc làm ra, dù nhìn ở góc nào đi nữa, luôn trọn vẹn theo mô thức chiếc giường của thượng đế.

    Và cũng chính vì lý do này, Platon cho rằng sự mô phỏng của họa sỹ không thể đạt tới được chân lý, tệ hơn nữa, bởi tính chất quyến rũ qua vẻ bên ngoài của nó – nó còn có ma lực làm cho người xem xa rời khỏi chân lý. Thậm chí, trong loạt sách “Sách Cộng Hòa” nổi tiếng của mình, Platon còn đã thẳng tay đòi đuổi cổ các thi sỹ ra khỏi vương quốc lý tưởng.

    Trái với thầy mình, dù cũng coi nghệ thuật là sự mô phỏng, song Aristotle lại không hạ giá sự mô phỏng khi coi nó như một ma lực kéo con người xa rời khỏi chân lý. Ngược hẳn lại, trong cuốn sách nổi tiếng “Thi pháp” (poetics) của mình, Aristotle còn đề cao sự mô phỏng( với các ví dụ từ bi kịch) như thể một công cụ để giáo huấn con người. Ông cho rằng, bởi bản năng cơ bản của con người là học hỏi, thế nên, các câu chuyện hoặc biến cố bi thảm trong bi kịch (như câu chuyện Oedipus giết cha lấy mẹ, và sau này tự móc mù mắt mình vì hối hận) xét cho cùng, chỉ là cái cớ để giúp con người suy ngẫm xa hơn về những gì phía sau câu chuyện ấy, ví như về định mệnh hay số phận của Oedipus. Aristotle dùng khái niệm “thanh tẩy” ( karthasis) để miêu tả tình trạng của con người khi đối diện và suy ngẫm về các tình huống hay biến cố bi thảm trong bi kịch.

    Nói khác đi, với Aristotle, nghệ thuật, thông qua mô phỏng, có tác dụng giáo dục con người và đem lại cho họ sự thanh tẩy. Cũng vì lý do này, một số tác giả còn đặt tên cho khái niệm về nghệ thuật của Aristotle là khái niệm về nghệ thuật như sự nhận thức (Art as cognition)*****

    Khái niệm này về nghệ thuật đã chi phối toàn bộ thực hành sản tạo và tiếp nhận nghệ thuật tại phương Tây cho mãi đến thế kỷ thứ 18, trước khi máy ảnh ra đời. Suốt dọc thời kỳ đó, chỉ những gì có tính mô phỏng mới được gọi là nghệ thuật và tiêu chuẩn mô phỏng chính xác (với mọi biến thể của tiêu chuẩn này) đã luôn là tiêu chuẩn cao nhất cho việc định giá giá trị cho nghệ phẩm. Có thể nói, mọi sáng tạo của mọi họa sỹ trong thời kỳ này đều không vượt quá được giới hạn của yêu cầu mô phỏng. Thậm chí, sự ra đời của sơn dầu – cũng như việc nó được đánh giá cao như một chất liệu tối thượng của hội họa – cũng chỉ bởi khả năng mô phỏng vô tiền khoáng hậu của nó mà thôi.

    Về mặt bản thân sự phát triển của các khái niệm về nghệ thuật - suốt một quãng lịch sử dài từ thời Hy Lạp cổ đại cho tới thế kỷ thứ 18, dù cũng xuất hiện một số khái niệm nghệ thuật khác như khái niệm nghệ thuật như Sự Tái Hiện Về Thiên Nhiên (Art as the Representating of Nature)của Leon Bastia Alberti (1404-72), Nghệ Thuật Như Sự Phát Lộ (Art as Revelation) của Arthur Shopenhauer, Nghệ Thuật Như Sự Cứu Chuộc (Art as Redemtion) của Nietszhe,v.v., thì các khái niệm về nghệ thuật ấy – về mặt bản thể học mà nói - có lẽ cũng chỉ là các phiên bản (có hiệu chỉnh chút ít, nhấn mạnh hoặc là vào đối tượng của sự mô phỏng, hoặc là vào mục đích của sự mô phỏng, hoặc là vào chính chủ thể mô phỏng-là họa sỹ) của khái niệm đầu tiên của Platon và Aristotle, chứ chưa có khái niệm nào mang tính đột phá thoát khỏi mô hình Nghệ Thuật Như Sự Mô Phỏng của Platon và Aristotle.

    ----------------------------

    *Lẽ dĩ nhiên, cái thí dụ trên đây ai cũng sẽ thấy là hoàn toàn cực đoan bởi trong thực tế chúng ta sẽ có nhiều hơn 1, 2, thậm chí 3 cảm xúc khi xem một tác phẩm. Ví dụ này nêu ra chỉ để làm luận cứ riêng cho bài viết nhỏ này mà thôi

    ** Hegel cũng đã từng tuyên bố về cái chết của nghệ thuật, song, không theo nghĩa của Danto. Với Danto, cái chết này là cái chết của dạng nghệ thuật có tính lịch đại (historical art). Có nghĩa là dạng nghệ thuật theo mô hình phát triển kiểu các lớp sóng, cái sau luôn là phản đề của cái trước. Với Danto, dạng nghệ thuật sau khi nghệ thuật đã chết, chính là dạng nghệ thuật có tính chiếu trung, nguyên hợp – mà nói trăng ra, dạng nghệ thuật theo mô hình hậu hiện đại. Tuy nhiên, cái chết của nghệ thuật, theo cách hiểu của Hegel, chỉ là một phản biện lại với quan điểm của Shelling và Schiller, và Kant coi nghệ thuật hoặc là công cụ để hòa giải giữa tự nhiên và con người và con người với con người(Shelling hay Shiller), hoặc là công cụ cho mục đích hòa giải giữa tự nhiên và tất yếu (Kant). Với Hegel, cái chết của nghệ thuật là do “cấu hình của nghệ thuật là không tương thích để trình bầy về cái tuyệt đối”, nói khác đi với ông, chỉ triết học mới có khả năng đó mà thôi.

    ***Ví dụ: Noel Caroll, Philosophy of art: A contemporary Introduction ( Routledge Contemporary Introduction to Philosophy), Berys Gaut, the Routledge Companion to Aesthetics, Cynthie Freeland, But is it art?: An Introduction to Art Theory, Alex Neil and Aaron Ridley, the Philosophy of art: readings Ancient and Modern, Lamarque and Stein Haugom Olsen, Aesthetics and Philosophy of art: the Analytic Tradition: An Anthology ( Blackwell Philosophy Anthologies) Thomas E. Wartenberg, The Nature of art: An Anthology…etc

    ****Việc chia các khái niệm này thật ra không đồng nhất lắm giữa các nhà lịch sử mỹ học khác nhau, có người như Watenberg (sđd) chia làm 28 khái niệm, có những người như Noel Caroll lại chia làm 5 thời kỳ, mỗi thời kỳ có một vài khái niệm liên quan trong một hình hệ chung. Cũng có trường hợp, tuy cũng chung một bảng khái niệm, song có tác giả lại nhấn mạnh hơn vào khái niệm này, trong khi tác giả khác lại nhấn mạnh vào khái niệm khác. Ở một vài trường hợp khác, dù cách miêu tả về khái niệm nghệ thuật là tương tự, song hai tác giả khác nhau lại gọi tên khái niệm tương tự về nội dung ấy theo hai cách khác nhau, phụ thuộc vào việc quan sát nó chỉ trên khung chung, hoặc đi sâu vào diễn giải nó. Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa, một quan điểm về sự xuất hiện theo chiều tuyến tính của các khái niệm về nghệ thuật trong lịch sử nghệ thuật phương Tây và chính các khái niệm này chi phối các thực hành thưởng thức và sáng tạo nghệ thuật trong phạm vi khái niệm ấy luôn là một đồng thuận chung giữa các tác giả khác nhau.

    *****Đầu tiên tôi định viết một bài khái luận dài về vụ này – song, xét thấy thời gian hiện tại không cho phép, thế nên chỉ quyết định làm một số cú blogging mà thôi. Và vì chỉ là các cú blogging (hạn chế về lượng chữ và độ đào sâu), cũng xin đề nghị những người có quan tâm tới vấn đề này – nếu có thể - bổ sung những sai sót (chắc chắn là sẽ có nhiều). Thêm nữa, cách sắp xếp trong những cú blogging này của tôi có lẽ không giống với cách sắp xếp của nhiều tác giả khác nhau ở chỗ, trong một vài trường hợp, theo nhận định chủ quan của tôi, một số khái niệm nghệ thuật được các tác giả khác highlight, song với tôi, thì không hợp lắm với mục đích của loạt blogging này – chỉ tìm đến những khái niệm có tính chất bản thể học về nghệ thuật thế nên xin phép được để lại hoặc chỉ đề cập theo kiểu bổ sung.

    ****** Ví dụ, Thomas E. Wartenberg (sđd) chẳng hạn.







    ©Như Huy

    Khái Niệm về Nghệ Thuật (1)