trang Blog

phamnghiavanTham gia: 09/01/2010
  • THANH NGU, TUC NGU
    Công Nghệ Thông Tin
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    THANH NGU, TUC NGU

    ("Mài sắt thành kim", tục ngữ "Có công mài sắt có ngày nên kim")



    李白是唐朝有名的诗人,传说他小的时候不爱学习,很贪玩。一天,他逃学到小溪边,看见一位老婆婆手里拿着根铁杵(铁棍),在一块大石头上磨。
    李白问:“你磨铁作干什么?”
    老婆婆回答:“我给女儿磨一根绣花针。”
    李白又问:“这么粗的铁杵,什么时候才能磨成绣花针呢?”
    老婆婆说:“只要功夫深,铁杆磨成针。”
    李白听后,心里想:“不错,做事情只要坚持下去,总会做好的。”从此以后,他努力学习,后来真成了一个有名的大诗人。
    磨杵成针 比喻只要有恒心,再难的事也能做成。



    Lý Bạch là nhà thơ nổi tiếng vào thời nhà Đường. Chuyện kể rằng lúc nhỏ ông không thích đi học, suốt ngày mê chơi. Một hôm, ông trốn học ra bờ suối chơi, nhìn thấy một bà lão tay cầm thanh sắt và mài trên một tảng đá.
    Lý Bạch hỏi: “Bà mài sắt để làm gì vậy?”
    Bà lão trả lời: “Bà mài cho con gái bà cây kim thêu hoa.”
    Lý Bạch lại hỏi: “Cây sắt thô như thế này mài đến bao giờ mới thành được cây kim thêu hoa?”
    Bà lão nói: “Chỉ cần thật sự muốn làm, thì sắt cũng mài được thành kim.”
    Lý Bạch nghe xong chợt nghĩ: “Đúng rồi, khi làm việc gì chỉ cần kiên trì nhất định sẽ làm được thôi.” Từ đó về sau ông cố gắng học tập và đã trở thành một nhà thơ nổi tiếng.
    “Mài sắt thành kim” ý nói chỉ cần dụng tâm làm một việc gì đó thì dù khó khăn đến mấy cũng sẽ thành công.

     

    好,我来支持你!
    百 步 穿 楊
    (Bách bộ xuyên dương hoặc Bách phát bách trúng)
     


    养由基,又名养叔,是春秋时代楚人。他年轻时就勇力过人,射得一手好箭。


    有一天,邻里年青们都聚集在一块空场上练射箭,周围拥了许多观看。
    靶子设在50米以外的地方。一位射手拉开弓箭连射三箭,箭箭射中红心博得一片喝采声。
    养由基看到人们赞扬那位射手,就站出来说:“射中五十米以外的的靶子,没什么稀奇,咱们来个‘百步射杨’吧!




    养由基叫人在一百步以外的杨树上选定一片叶子,涂上红色做记号,然后对射手们说:“射吧,能够射穿那片杨叶,才是真正的好汉!”




    那位射手不甘示弱,举起弓瞄准杨叶射了一箭。箭落了空。连叶边也没擦着。人们失望的喊了一声。那射手又连着射了两箭,一箭都没射中,他红着脸退到一旁。其他的青年没有人再敢出来试射。



    养由基向人群环视一下,从容不迫的走上一步,抽出箭,搭上弦。只登的一声,那支箭似流星地直飞而去,把杨叶射了个对穿。周围的人顿时爆发出一片热烈的叫好声。
    那位射手不服气的地咕哝了一句说:“这一箭谁知道是不是碰巧射中的,养由基听了,丝毫不动声色,叫人再去选定十片杨叶,只见他连连张弓发箭,箭箭都命中目标,人们随着他手臂的一举一落,连声叫好。




    养由基射得性起,叫射手们把所有的箭都集中在自己面前,他一箭一箭地朝着任意看中的杨叶射起,一口气射了一百箭,百发百中,没有一箭落空,把周围的人们都惊呆了。




    养由基收起弓箭,向射手们告别。人们都用敬慕的眼光目送他远去。从此以后,养由基“百步穿杨”的威名很快就传遍了楚国。


    ĐIỂN TÍCH:

    Dưỡng Do Cơ, còn có tên là Dưỡng Thúc, người nước Sở thời Xuân Thu. Thuở trẻ, ông đã có dũng lực hơn người, rất giỏi bắn cung tên.

    Một hôm, các thanh niên trong làng tụ tập tại một bãi đất trống luyện tập bắn cung, chung quanh đám đông vây kín để xem. Mục tiêu được đặt xa hơn 50 bước chân, một xạ thủ dương cung bắn liền 3 mũi, mũi tên nào cũng trúng giữa hồng tâm, xạ thủ được mọi người hoan hô vang dậy. Dưỡng Do Cơ bước ra nói lớn: “Bắn trúng mục tiêu xa 50 bước chẳng có gì là lạ. Chúng ta hãy thử tài “bách bộ xuyên dương” xem sao!”. Dưỡng Do Cơ bảo mọi người chọn một lá liễu cách xa 100 bước rồi tô màu đỏ lên cái lá ấy làm dấu, sau cùng ông nói với các xạ thủ: “Ai bắn xuyên qua được lá dương kia mới đúng là hảo hán chân chính!”.

    Vị xạ thủ vừa rồi bước tới, đưa cung lên nhắm lá dương bắn một mũi tên. Mũi tên bay lên không trung, không chạm được tới lá dương. Mọi người thất vọng “ồ!” lên một tiếng. Vị xạ thủ kia bắn thêm hai mũi tên nữa vẫn không trúng, y đỏ mặt lui về một góc. Những thanh niên khác không ai dám ra bắn thử nữa.

    Dưỡng Do Cơ nhìn một vòng đám đông rồi ung dung bước lên một bước, rút mũi tên ra đặt lên dây cung. Chỉ nghe bật một tiếng, mũi tên buông ra mau như ánh chớp xuyên suốt qua lá dương. Mọi người chung quanh hò lên hoan hô. Vị xạ thủ lúc nãy có vẻ chưa chịu phục buông câu châm chọc: “Mũi tên ấy biết đâu chỉ là may mắn bắn trúng!”. Dưỡng Do Cơ không hề động sắc, ông gọi người chọn sẵn 10 lá dương. Rồi chỉ thấy ông liên tục giương cung lên bắn luôn một loạt, mũi tên nào cũng đều trúng mục tiêu. Dưỡng Do Cơ nổi tính háo thắng, ông gọi các xã thủ tập trung hết tên đến, ông bắn từng mũi từng mũi xuyên qua từng lá dương. Bắn một lúc đúng 100 mũi tên, bách phát bách trúng, không hề sai lạc một mũi tên nào, khiến mọi người chung quanh kinh ngạc đến ngẩn người. Dưỡng Do Cơ đeo cung lên vai, cáo biệt với các xạ thủ.

    Từ đó, uy danh “bách bộ xuyên dương" của Dưỡng Do Cơ mau chóng lưu truyền khắp nước Sở.
    (ST)
    Default 破镜重圆

    破镜重圆
    (Gương vỡ lại lành)







    “镜子”是中国传统文学中是一个广泛使用的文学意象。文学家把满月比作镜子,也用镜子来形容一个人的品德无暇疵,还有的时候说某某人的心里明镜似的,形容他对事情的明晰洞察。成语“破镜重圆”是借镜子比喻离散夫妻重新团聚的。
      故事发生在公元九世纪,当时中国北方是强盛的隋政权,南方则并存着好几个小国家,国都在建康(今南京)的陈国就是其中的一个。隋政权对南方的小国家虎视耽耽,随时准备统一整个中国。

      徐德言是陈国的皇帝陈叔宝的侍从官,他娶了皇帝的妹妹乐昌公主为妻,两人非常恩爱。但当时陈国朝政腐败,徐德言预料到,总有一天国家会遭受灭亡之祸,因此非常忧虑。

      一天,他愁容满面地对妻子说:“天下大乱的事可能不久就会发生,到时我要保护皇帝,我们夫妻将被迫拆散。但只要我们活着,总会有再次见面的机会。我们应该先留下一件东西,作为将来重见的凭证。”

      乐昌公主同意丈夫的看法和建议。于是徐德言取来一面圆形的铜镜,把它一破为二,一半自己留下,一半交给妻子,告诉她好好保存,并对她说:“如果离散后,就在每年正月十五日那天,托人将这半面镜子送到市场上去叫卖。只要我还活着,我一定前去探听,以我的半面镜子为凭,与你团聚。”

      不久,已经统一中国北方的隋文帝杨坚,果然发兵攻打陈国的都城建康,小小的陈国被消灭,陈国国王被杀,徐德言被迫逃亡。隋文帝奖赏攻打陈国有功的人,被俘获的乐昌公主则被赏给了大臣杨素为妾。

      流亡的徐德言打听到妻子已到了隋的京都大兴(今陕西西安),便长途跋涉赶到那里,打听妻子的具体下落。每当夜深人静,他总是取出半面镜子,怀念与妻子在一起的美好时光。而他的妻子乐昌公主,虽然在杨素的官府中过着非常奢侈的生活,但内心一直惦记着丈夫,也经常抚摸半面镜子,回忆往事。

      正月十五日终于来到了。徐德言赶到热闹的市场,看见一个老人以高价出卖半面铜镜,自然没有人愿意出高价买半面镜子,所以老人就来回在市场上走动。徐德言假装要买老人的镜子,细细察看,果然是妻子的那半块。原来他是杨府的仆人,受乐昌公主委托来卖镜寻夫的。于是徐德言写了一首诗,交给仆人带回。诗写道:“镜与人俱去,镜归人未归。无复嫦娥影,空留明月辉。”意思是镜子与人都去了,但如今镜子归来而人却没有归来。正好比月中没有嫦娥的身影,只空留明月的光辉。

      乐昌公主见到丈夫保存的半面铜镜和诗后,终日哭泣,茶饭不思。杨素知道实情后,受到感动,把徐德言叫来,让他把乐昌公主带回自己的故乡去,还赐给了他许多东西。夫妻终于重新团聚。

      后世文学中用“破镜重圆”指离散夫妻的团聚,用“破镜难圆”表示因为客观的原因夫妻被迫分离。



    Phá kính trùng viên


    Ý của câu thành ngữ này là chỉ “Gương vỡ lại lành”.

    Câu thành ngữ này có xuất xứ từ “Bản sự thi – Tình cảm” của Mạnh Khởi triều nhà Đường.

    Từ Đức Ngôn-môn khách của Thái tử nước Trần thời Nam Triều và Công chúa Lạc Xương là vợ chồng rất mực thương yêu nhau. Triều chính nước Trần lúc bấy giờ rất hủ bại, Từ Đức Ngôn đã đoán biết nước Trần đang ̣đứng trước thảm họa bị diệt vong, vợ chồng mình sẽ buộc phải chia lìa, nên ông mới dặn vợ rồi bẻ chiếc gương gẫy làm đôi, mỗi người giữa một nửa làm tin để sau này lại đoàn tụ với nhau.
    Ít lâu sau, vua nước Tùy Dương Kiên diệt được nước Trần thống nhất miền Bắc. Dương Tố là người có công trong việc tiêu diệt nước Trần không những được phong làm Việt Quốc Công, mà còn được nhiều phong thưởng, trong đó có Công chúa Lạc Xương. Còn Từ Đức Ngôn thì đành phải chạy trốn. Tuy tình cảnh vợ chồng bị chia lìa, nhưng họ vẫn nhớ thương nhau da diết.
    Ngày 15 tháng giêng năm đó, Từ Đức Ngôn đến một phiên chợ rất nhộn nhịp, thì thấy một cụ già đang ngồi bán một nửa mảnh gương đồng với giá rất đắt. Ông chăm chú nhìn kỹ thì nhân ra ngay đó là nửa mảnh gương của vợ mình. Thì ra bà già này là người đầy tớ trong Dương phủ được Công chúa Lạc Xương sai đem gương ra bán để tìm chồng mình. Từ Đức Ngôn liền viết một bài thơ nhờ bà cụ chuyển cho Công chúa. Trong thơ đại ý viết: Gương và người đều rời tôi mà đi, nhưng nay thấy gương mà chẳng thấy người. Công chúa Lạc Xương sau khi đọc thơ và thấy mảnh gương kia của chồng, ngày nào nàng cũng đầm đìa nước mắt. Dương Tố biết được việc này thì vô cùng cảm động, bèn cho phép hai vợ chồng họ đoàn tụ và còn biếu tặng nhiều của cải.

    Hiện nay, người ta vẫn thường dùng câu thành ngữ này để ví về việc sau khi vợ chồng lìa xa nhau hoặc tình cảm vợ chồng bị rạn nứt lại được đoàn tụ hòa hảo với nhau.

    (Sưu Tầm)
    __________________
    成功也好,失败也好
    但愿留在你我心中不是句号

    不入虎穴,不得虎子 - Không vào hang cọp sao bắt được cọp con!


    Bản gốc:
    东汉时候,班超跟随奉车都尉(官名)窦固和匈奴打仗,立有功劳。后被派出使西域(今新疆全省,甘肃边,和葱岭以西中亚一部份地区)。他首先到郑善国。国王早知班超为人,对他十分敬重,但隔一个时期,忽然变得怠慢起来。班超召集同来约三十六人说:郑善国最近对我们很冷淡,一定是北方匈奴也派有人来笼络他,使他躇踌不知顺从那一边。
    聪明人要在事情还没有萌芽的时候就发现它,何况现在事情已经很明显了。经过打听,果然是这样。于是班超又约同所有的人:我们现在处境很危险,匈奴使者才来几天,郑善国王就对我们这么冷淡,如果再过一些时候。郑善国王可能会把我们绑起来送给匈奴。你们说,这该怎么办?当时大家坚决地表示愿听他的主张。他使继续道:不入虎穴,不得虎子。现在唯一的办法,就是在今天夜里用火攻击匈奴来使,迅速把他们杀了。只有这样,郑善国王才会诚心归顺汉朝。
    Bản dịch:
    Vào thời Đông Hán Ban Triệu cùng Phụng Xa Đô Vệ (một chức danh quan ngày xưa) tham gia trong trận chiến giữa bên quân Hung Nô và quân Đậu Cố lập nên công lớn. Sau được phái đi sứ sang Tây Vực (chính là một phần đất của khu vực Tây Trung Á bao gồm toàn bộ Tỉnh Tân Cương, biên giới tỉnh Cam Túc và Thông Lĩnh Trung Quốc ngày nay). Trong chuyến đi sứ Tây Vực ông đến nước Trịnh Thiện đầu tiên. Quốc vương nước Trịnh Thiện đã sớm biết đến tên tuổi của Triệu Ban, nên đối đãi với ông vô cùng kính cẩn, nhưng bẵng đi một quãng thời gian, đột nhiên thái độ của vị vua này đột nhiên thay đổi trở nên rất lạnh nhạt. Triệu Ban triệu tập khoảng tầm ba mươi sáu người đi cùng đoàn với mình lại và nói: “Vua nước Trịnh Thiện dạo này đối xử với ta rất lãnh đạm, nhất định là bọn Hung Nô ở phương Bắc đã phái người đến nhằm lung lạc ông ta rồi, khiến cho ông ta chần chừ không biết nên đi theo bên nào. ”
    Một người thông minh là người phải phát hiện ra mọi chuyện khi nó còn chưa nảy sinh, huống hồ hiện tại mọi chuyện đã rất rõ ràng rồi.” Sau khi cho người đi thăm dò xong mọi việc, quả nhiên mọi việc đúng như dự đoán của ông. Chính vì vậy Triệu Ban lại hẹn tất cả mọi người lại: “Hiện tại chúng ta đang lâm vào tình cảnh rất nguy hiểm, sứ thần bên quân Hung Nô chỉ mới đến đây có mấy hôm, vua nước Trịnh Thiện đã đối xử với chngs ta lãnh đạm như thế, nếu như để thêm một thời gian nữa, khéo vua nước Trịnh Thiện sẽ đem trói chúng ta lại rồi dâng lên cho quân Hung Nô mất. Nên các ngươi thử nói xem, chúng ta nên làm thế nào?” Khi đó mọi người đều kiên quyết thể hiện rõ thái độ sẽ nghe theo chủ trương của ông. Lúc đó ông mới nói tiếp: “Không vào hang cọp làm sao bắt được cọp con, hiện tại chỉ có một cách duy nhất, đó chính là ngay trong đêm nay chúng ta sẽ dùng hoả kích đánh vào chỗ nghỉ của sứ thần Hung Nô, nhanh chóng tiêu diệt gọn bọn chúng. Chỉ có như thế thì vua nước Trịnh Thiện mới thành tâm thành ý quy thuận triều Hán.”

     井底之蛙 - Ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung!


    Bản gốc:
    一口废井里住着一只青蛙。有一天,青蛙在井边碰上了一只从海里来的大龟。青蛙就对海龟夸口说:“你看,我住在这里多快乐!有时高兴了,就在井栏边跳跃一阵;疲倦了,就回到井里,睡在砖洞边一回。或者只留出头和嘴巴,安安静静地把全身泡在水里:或者在软绵绵的泥浆里散一回步,也很舒适。看看那些虾和蝌虾,谁也此不上我。而且,我是这个井里的主人,在这井里极自由自在,你为什么不常到井里来游赏呢!”
    那海龟听了青蛙的话,倒真想进去看看。但它的左脚还没有整个伸进去,右脚就已经绊住了。它连忙后退了两步,把大海的情形告诉青蛙说:“你看过海吗?海的广大,哪止千里;海的深度,哪只千来丈。古时候,十年有九年大水,海里的水,并不涨了多少;后来,八年里有七年大早,海里的水,也不见得浅了多少。
      可见大海是不受旱涝影响的。住在那样的大海里,才是真的快乐呢!”井蛙听了海龟的一番话,吃惊地呆在那里,再没有话可说了。

    Bản dịch:
    Trong một miệng giếng bỏ hoang có một con cóc. Có một hôm, con cóc gặp một con rùa lớn đi từ biển đến ngay bên cạnh giếng. Con cóc nọ liền ngồi bốc phét với con rùa biển rằng: “Anh xem, tôi sống ở đây quá vui vẻ! Có lúc hứng lên, liền nhẩy nhót bên cạnh thành giếng một trận; lúc mệt rồi thì lại chui vào trong giếng, đánh một giấc trong hốc gạch. Hoặc chỉ lò mỗi cái đầu hoặc cái miệng, yên tĩnh trầm mình trong nước; hoặc giả dạo nhẩy mấy bước trong lớp bùn mềm êm ái, cũng rất thoải mái. Xem ra mấy tên cóc nhái và nòng nọc tên nào cũng không sướng bằng tôi. Hơn thế tôi còn là chủ nhân của cái giếng này, trong cái giếng này sống vô cùng tự do tự tại, tại sao anh lại không thử đến ngắm cái giếng đó của tôi nhỉ! ”

    Rùa biển nghe xong mấy câu bốc phét của ếch, rất muốn thử đi xem thực hư thế nào. Nhưng chân trái của rùa còn chưa đặt chân hẳn vào giếng thì chân phải của nó đã bị vướng lại rồi. Nó vội vàng lùi về sau hai bước, đem chuyện về vùng biển lớn kể ếch nghe nói: “Anh đã từng nhìn thấy biển chưa? Biển vô cùng rộng lớn, không ít hơn mấy nghìn dặm đâu; độ sâu của biển, cũng không sâu ít hơn cả nghìn trường. Thời cổ đại, mười năm thì đến chín năm nước lớn, nước trong biển không hề dâng lên cao là bao; về sau, ba năm thì có đến bẩy năm đại hạn, cũng không thấy nước biển nông đi là bao. Điều đó cho thấy biển lớn không bao giờ chịu ảnh hưởng của việc hạn hán. Sống trong biển lớn như thế, mới là cuộc sống vui vẻ thực sự!” Ếch nghe rùa biển nói liền một mạch, đứng thộn ra vì ngạc nhiên, không còn câu nào để nói được nữa.

    TAM SINH HỮU HẠNH 三生有幸

    Tiếng Việt:
    Thời Đường có một vị hoà thượng, hiệu Quốc Trạch 国泽, phật pháp tinh thông, kết thân với người bạn tên Lý Nguyên Thiện 李源善.
    Một hôm, hai người cùng nhau du ngoạn, đi qua một con sông, chợt họ nhìn thấy một phụ nữ đang ngồi bên bờ múc nước, bụng bà ta khá to, thì ra là bụng bầu.
    Quốc Trạch trỏ nguời phụ nữ mà nói với Lý Nguyên Thiện
    - Bà này mang thai 3 năm rồi đấy, đang đợi tôi đi đầu thai làm con bà ấy, nhưng tôi một mực tránh, đến bây giờ đối mặt bà ta, e rằng chẳng còn cách nào tránh nữa rồi. Ba ngày sau, bà ta sẽ trở dạ, Tới lúc đó phiền anh đến nhà bà xem xem, nếu đứa bé mỉm cười với anh, ấy chính là tôi đó. Lại đợi đến năm thứ 30, đêm trăng tiết Trung thu, tôi đợi anh ở chùa Thiên Trúc Hàng Châu nhé, lúc đó ta lại gặp nhau.

    Sau hôm hai nguời bạn chia tay nhau, Quốc Trạch vô bệnh tật mà chết, cùng lúc người phụ nữ sinh hạ một đứa con trai. Lý NGuyên Thiện nghe tin, vội vàng y lời Quốc Trạch mà tìm đến gia đình bà ta thăm hỏi, đứa bé sơ sinh quả tình nhìn ông ta mà cười...
    Năm thứ 30 kể từ hôm đó, nhằm đêm Trung thu, Lý Nguyên Thiện lần đến chùa Thiên Trúc Hàng Châu tìm đợi bạn hiền.
    Vừa bước vào cổng, liền nhìn thấy một chú mục đồng đang cưỡi trâu, miệng hát
    Tam sinh thạch thượng cựu tình hồn 三生石上旧情魂
    Thưởng nguyệt ngâm phong bất yếu luận
    赏月吟风不
    要论
    Tàm quý tình nhân viễn tương phỏng
    惭愧情人远相访
    Thử thân tuy dị tính trường tồn
    此身虽异性常存
    Thành ngữ 三生有幸nay được dùng để xưng tán những duyên phận đặc biệt, như gặp nhau ngẫu nhiên hoặc trong hoàn cảnh bất ngờ mà trở nên tri kỷ.

    Đặt câu với三生有幸:
    1/今天您肯赏光亲临寒舍,令我感到三生有幸
    2/能够进天阙朝拜天子, 真是三生有幸呀!
    3/感谢你能来枉顾小店, 小弟真是三生有幸
    4/文人汇聚, 雅言不绝于耳, 我真是三生有幸
    5/今得拜识尊颜,三生有幸
    --------------------------
    Tiếng Hoa:
    三生有幸'这则成语中,三生,佛教指前生,今生,来生.三生都很幸运,形容极难得的好机遇.
    这个成语来源于《甘泽谣》:唐李源与圆泽善,圆泽将亡,约十二年后杭州相见。源后诣杭州赴约,有牧童歌曰:三生石上旧精魂,赏月吟风不要论,惭愧情人远相访,此身虽异性长存。
    唐朝时,有一个法号叫圆泽的和尚十分精通佛学,他有一个很要好的朋友,名叫李源。
    有一天,他们两人相约去游览长江三峡,路过一个村子里,看到一位大肚的妇人正在溪边汲水。圆泽指着妇人对李源说:
    这个妇人已经怀孕三年了,正等着我去投胎做她的儿子,可是我却一直避着,现在既然已看见了,就没法再逃避。三天后,这位妇人应该生下个孩子,到那时候请你到他家里去看看,如果那婴儿对你笑一笑,那便是我。我们就拿这一笑来作我们之间的凭证吧。十二年后的中秋之夜,我在杭州天竺寺的三生石上等你,那时我们再相会吧!
    他们分别后,就在这一天夜里,圆泽果然圆寂,而在同时,那位孕妇也生了一个男孩子。
    第三天,李源照着圆泽的话,到那位妇人家里去探望,婴儿果然对他笑了笑。
    时间飞快地过去,第十二年的中秋日终于来临了。当天晚上,李源如期来到天竺寺;刚到寺门口,就看到那一个牧童在牛背上唱歌:
    三生石上旧精魂,赏月吟风不要论;惭愧情人远相访,此身虽异性长存。
    这首歌谣的意思是:在三生石和你相见的,仍然是旧时的我啊!我还清楚地记得我们过去一起赏月吟风的情景;感谢你从远地来探望我,你对我的这份情谊,实在令我感动。虽然我的面貌和往日已不相同,但我对你的友谊却是永远不变的。
    那牧童唱完歌,便离去了。
     


     

    刮目相看
    (thay đổi cách nhìn)




      三国时期,吕蒙是吴国有名的大将军,因为家里很穷,没有办法让他念书,所以,常常被人笑说吴国的吕蒙只不过是会打仗而已,其实也没多了不起。为了这句玩笑话,他一直非常生气。
      有一天,吴国的君主孙权严肃地说:「你现在已经是吴国的大将军,拥有很高的权力,如果只有一身武功是不够的,还希望你可以多读点书。」刚开始,吕蒙还说自己太忙,想要推掉孙权的要求,最后受到孙权的鼓励,奋发图强。后来,当他和鲁肃一起讨论军事的时候,鲁肃不免觉得吕蒙已经有了很大的改变,跟过去完全不同。吕蒙听到鲁肃的话,也高兴地说:「只要过了三天,人也是会变的,应该要用不一样的眼光看待啊!」

    Phần Dịch né:

    Vào thời Tam Quốc , nước ngô có một vị đai tướng quân giỏi có tiếng đó là Lữ Mông. Do hoàn cảnh gia đình nghèo khó , không có tiền cho ông ăn học nên thường bị người đời cười chê.Họ nói ông chẳng qua cũng chỉ biết cầm quân đánh giặc thôi kì thực chẳng có tài cán gì .Vì những câu nói đó Lữ Mông vô cùng tức giận
    Một ngày, vua nước Ngô là Tôn Quyền nghiêm túc nói với Lữ Mông: “Nhà ngươi bây giờ đã là đại tướng quân của nước Ngô rồi, nắm quyền lực rất lớn trong tay, nếu chỉ giỏi võ thôi chưa đủ, ta hi vọng nhà ngươi có thể bỏ thời gian đọc thêm sách vở.”
    Lúc đầu Lữ Mông cò lấy cớ mình quá bận, để từ chối yêu cầu của Tôn Quyền. Nhưng cuối cùng nhờ lời động viên khích lệ của Tôn Quyền, ông đã phấn đấu vươn lên. Về sau, khi Lữ Mông và Lỗ Túc cùng nhau luận đàm việc quân, Lỗ Túc cảm thấy rõ ràng Lữ Mông thay đổi rất nhiều, khác hẳn so với trước đây. Lữ Mông nghe những câu đó của Lỗ Túc thì rất phấn khởi nói rằng: “Chỉ cần ba ngày không gặp, con người cũng đã khác rồi, nên phải có cách nhìn nhận đánh giá khác về họ chứ!”
    Chính từ câu chuyện này đã dần dần hình thành nên câu thành ngữ quen thuộc: 目相看 – Thay đổi cách nhìn mà chúng ta hay đề cập đến 

    合作
    力不从心
    (Lực bất tòng tâm)






    释义: 比喻力量不够,无法实现愿望。
    出处: 《后汉书•班超传》

    故事: 东汉时,班超受明帝派遣,率领几十个人现使西域,屡建奇功。然而,班超在古西域经过了27个年头,年事已高,身体衰弱,思家心切,于是就写了封信,叫他的儿子捎至汉朝,请求和帝刘肇把他调回。此信未见反应。他的妹妹班昭又上书皇帝,申明哥哥的意思。

      信中有这样的几句话:“班超和他同去西域的人中,年龄最大,现在已过花甲之年,体弱多病,头发已白,两手不遂,耳朵不灵,眼睛不亮,扶着手杖才能走路……如果有淬不及防的暴乱事件发生,班超的气力,不能顺从心里的意愿了,这样,对上会损害国家的长治之功,对下会毁坏忠臣好不容易取得的成果,实在令人痛心呀!”
      和帝刘肇被深深地感动了,马上传旨调班超回汉。班超回到洛阳不到一个月,就因胸胁病加重而支世,终年71岁




    Ý của câu thành ngữ này là chỉ người sức lực yếu kém, không thể làm công việc mà mình mong muốn.

    Câu thành ngữ này có xuất xứ từ “Hậu Hán thư – Truyện Ban Siêu”.

    Thời Đông Hán, Ban Siêu theo lệnh Minh Đế dẫn theo mấy chục người đi xứ sang Tây Vực, đã lập nên nhiều công trạng to lớn. Năm tháng trôi qua, bất giác Ban Siêu ở lại Tây Vực đã được 27 năm trời. Khi ông mới đến Tây Vực còn là tuổi tráng niên, còn bây giờ thì tuổi đã cao, sức khỏe ngày một suy yếu. Người đã già rồi rất mong muốn lá rụng về gốc, ông đã viết một bức thư bày tỏ lòng nhớ quê da diết của mình, rồi sai con trai đem về nhà Hán, dâng lên Hòa đế Lưu Triệu xin điều ông về kinh thành. Nhưng bức thư trình lên đã lâu mà nhà vua cũng chẳng để ý tới. Sau đó, em gái của Ban Siêu là Ban Chiêu lại viết một lá thư dâng lên nhà vua, nhấn mạnh niềm mong muốn của anh mình. Trong thư có mấy câu như sau: “Ban Siêu là người cao tuổi nhất trong số những người cùng đi Tây Vực, nay tuổi đã ngoài 60, sức yếu lắm bệnh, mái tóc bạc phơ, mắt mờ tai kém, chân tay bủn rủn, đi đâu cũng phải chống gậy, nếu chẳng may xảy ra bạo loạn, thì sức lực của Ban Siêu không thể nào chiều theo ý muốn của mình nữa. Như vậy, trên thì phương hại đến công trị vì lâu dài của nhà nước, dưới thì hủy hoại đến thành quả do các bậc trung thần không dễ mà giành được, thực là đau lòng lắm thay”.
    Bức thư của Ban Chiếu đã có hiệu quả, Hòa Đế hết sức xúc động trước lời lẽ trong thư, bèn lập tức truyền chỉ điều Ban Siêu về nhà Hán. Ban Siêu về tới Lạc Dương chưa đầy một tháng thì bệnh tình nặng thêm rồi qua đời, hưởng thọ 71 tuổi.

    Hiện nay, người ta vẫn thường dùng câu thành ngữ “Lực bất tòng tâm” để ví về hiện tượng sức yếu, không thể làm được những công việc mà mình mong muốn.
    __________________
    成功也好,失败也好
    但愿留在你我心中不是句号
    骑虎难下qí hǔ nán xià
    Kỵ hổ nan hạ

    Tiếng việt:
    Năm hàm hòa thứ 3 Tấn Thành Đế, tức năm 328 công nguyên, tướng giữ thành Lịch Dương là Tô Tuấn và tướng giữ thành Thọ Xuân là Tổ Ước, cùng hợp binh nổi loạn đánh vào kinh thành Kiến Khang với danh nghĩa trị kẻ có tội là trung thư lệnh Dũ Tín đang phò tá Tấn Thành Đế.
    Trong lúc nguy cấp, thứ sử Giang Châu là Ôn Kiều đã đứng ra liên hợp với Dũ Tín lúc đó đang lánh nạn tại Giang Châu, cùng đề cử thứ sử Kinh Châu là trinh tây đại tướng quân Đào Khản làm thủ lĩnh để dẹp quân phiến loạn. Nhưng do quân phiến loạn thế mạnh người đông, Đào Khản liên tiếp bị thua mấy trận liền, tình hình lương thảo lại gặp khó khăn. Nên nảy sinh tâm trạng lo sợ mới trách hỏi Ôn Kiều rằng: "Ban đầu khi khởi binh, ông nói ông có nhiều binh lắm tướng, lương thảo sung túc, chỉ cần tôi ra làm bang chủ là được. Nhưng hiện nay tướng ở đâu? Lương thảo ở đâu? Nếu không có lương thảo thì tôi chỉ còn cách rút quân về, đợi khi nào có đủ lương thảo hãy đánh ".
    Ôn Kiều nghe xong điềm nhiên đáp: "Ông nghĩ như vậy là lầm to, muốn thắng kẻ địch thì điều chủ yếu là phải có tinh thần đoàn kết, Lưu Tú và Tào Tháo trước kia sở dĩ có thể lấy ít thắng nhiều là bởi lẽ họ là đội quân chính nghĩa. Còn Tô Tuấn và Tổ Ước là hạng người hữu dũng vô mưu, mượn danh lừa người, chúng ta nhất định sẽ đánh bại chúng. Hiện nay nhà vua đang gặp nạn, nước nhà đang trong cơn nguy khốn, chúng ta không thể nửa chừng bỏ dở. Ông hiện như đang cưỡi trên lưng thú, không đánh chết nó thì làm sao mà xuống được? Nếu bây giờ ông rút quân về thì tất ảnh hưởng tới dũng khí của quân lính ". Đào Khảm nghe xong đành phải làm theo kiến nghị này và cuối cùng đã giành được thắng lợi.
    Hiện nay, người ta vẫn thường dùng câu thành ngữ này để ví về hiện tượng đang làm việc thì gặp khó khăn, do tình thế bức bách mà việc không thể không làm.

    Tiếng Hoa: 骑虎难下qí hǔ nán xià
    解:比喻做事中途遇到困难,迫于形势又无法中止。
    述源:《晋书?温峤传》:"今之事势,义无旋踵,骑猛兽安可中下哉!"(唐人讳""为兽。)
    成帝司马衍时,叛将苏峻和祖约率军攻入都城,挟持晋成帝,专擅朝政。江州刺史温峤组织了以征西将军陶侃为盟主的联军征讨叛军。由于叛军势大,而联军将少粮缺,初战接连失利。陶侃见军心浮动,心中焦急,就对温峤说:"现在军中大将奇缺,粮食也所剩无几,如果再不能添将增粮,我只能下令撤军,待条件具备再起兵!"
    温峤耐心地劝说:"现在皇上蒙难,国家处在危急关头,我们仗义讨伐逆贼,乃正义之师。苏峻、祖约之辈欺世盗名,有勇无谋,目前叛军势猛,我军又遇许多困难,但这是暂时的,只要联军上下团结一致,定可以寡敌众,现正是我们杀敌报国的时候,现在我们就象骑在猛兽背上,中途怎么能下来,只有勇猛向前,才有出路!"
    陶侃听了温峤的劝告后,激励众将士,齐心协力,克服重重困难,一举平定了叛乱。
    【近义词】进退两难: Tiến thóai lưỡng nan
    【反义词】一帆风顺: thuận buồm xuôi gió

    平易近人

    周公是周武王的弟弟,一直忠心辅佐武王和成王。


    周公的儿子伯禽被封在鲁地,当了鲁公。三年后伯禽向周公汇报鲁地的惰况。周公问他:“为什么这么慢才来汇报?” 伯禽答道:“改变那里的习俗,革新那里的礼法,三年后才能看到效果,所以来晚了。”

    姜子牙被封在齐地。过了五个月,姜子牙回来向周公报告齐地的情况。周公问他:“你怎么这样快就报告情况呀?” 姜尚回答说:“我简化了君臣之间的礼节,一切按照当地风俗去做,所以快。”

    所以周公听了,叹道:“唉,鲁国的后代将要当齐国的臣民了!政令不简单易行,百姓就不会对它亲近;政令平和易行,百姓才会乐于接受(平易近人)。”
    “平易近人”现指态度和蔼可亲,使人愿意接受。

    Bản tiếng Việt :

    Bình dị cận nhân
    Ý của câu thành ngữ này vốn chỉ chính sạch hòa dịu dễ thi hành.

    Câu thành ngữ này có xuất xứ từ “Sử ký - Lỗ Chu Công thế gia”.

    Chu Công em trai của Chu Vũ Vương, là người từng phò tá Chu Vũ Vương đánh đổ triều nhà Thương, có công lớn trong việc thành lập vương triều Tây Chu. Về sau, ông được Chu Vũ Vương phong làm Lỗ Công, trao quyền cai quản Khúc Phụ, nhưng ông không đi sang Khúc Phụ, mà vẫn ở lại kinh đô tiếp tục phò tá Chu Vũ Vương, chỉ sai người con cả của mình là Bá Cầm tiếp nhận phong hiệu Lỗ Công sang cai quản Khúc Phụ.

    Sau khi đến Khúc Phụ được ba năm, Bá Cầm mới báo cáo với Chu Vũ Vương về tình hình thi hành chính sách ở địa phương. Chu Vũ Công rất không vừa ý trước việc này bèn hỏi: “Tại sao ông lại báo cáo muộn đến như vậy?”. Bá Cầm trả lời rằng: “Muốn thay đổi phong tục tập quán và đổi mới lễ pháp ở địa phương, thì phải mất tới ba năm mới thấy được hiệu quả của nó, cho nên tôi mới báo cáo muộn như vậy”.

    Trước đó có Khương Thượng là người từng phò tá Văn Vương và Vũ Vương, được Chu Vũ Vương phong ở Tề Địa, ông ta chỉ trong thời gian 5 tháng là đã báo cáo với Chu Vũ Vương về tình hình thi hành chính sách ở địa phương. Lúc đó, thấy ông trở về nhanh chóng, Chu Công rất ngạc nhiên mới hỏi ông làm sao lại có thể báo cáo nhanh đến như vậy. Khương Thượng trả lời rằng: “Vì tôi đã đơn giải hóa nghi lễ vua tôi ở đó, mọi việc đều làm theo tập tục địa phương, nên mới nhanh như vậy”.

    Do đó, Chu Công sau khi nghe xong báo cáo của Bá Cầm liền than rằng: “Ôi, đời con cháu của nước Lỗ sắp trở thành thần dân của nước Tề rồi, chính sách mà không đơn giản và dễ thi hành, thì dân chúng tất sẽ không gần gũi nó. Nếu chính sách hòa dịu và dễ thi hành thì dân chúng nhất định sẽ quy phục nó”.

    Hiện nay, người ta vẫn thường dùng câu thành ngữ này để chỉ người có thái độ khiêm tốn hòa nhã, dễ gần gũi.

    __________________

    是不是真心的人越来越少
    天长和地久只是随人聊聊
    如果你也相信永远不变的爱情
    可不可以陪我到天荒地老
    画蛇添足
    (vẽ rắn thêm chân)


     

     
    有个楚国贵族,在祭祀过祖宗后,把一壶祭酒赏给门客们喝。门客们拿着这壶酒,不知如何处理。他们觉得,这么多人喝一壶酒,肯定不够,还不如干脆给一个人 喝,喝得痛痛快快还好些。可是到底给谁好呢?于是,门客们商量了一个好主意,就是每个人各自在地上画一条蛇,谁先画好了这壶酒就归谁喝。大家都同意这个办 法。

     
      门客们一人拿一根小棍,开始在地上画蛇。有一个人画得很快,不一会儿,他就把蛇画好了,于是他把酒壶拿了过来。正待他要喝酒时,他一眼瞅见 其他人还没把蛇画完,他便十分得意地又拿起小棍,边自言自语地说:“看我再来给蛇添上几只脚,他们也未必画完。”边说边给画好的蛇画脚。

     
      不料,这个人给蛇画脚还没完,手上的酒壶便被旁边一个人一把抢了过去,原来,那个人的蛇画完了。这个给蛇画脚的人不依,说:“我最先画完 蛇,酒应归我喝!”那个人笑着说:“你到现在还在画,而我已完工,酒当然是我的!”画蛇脚的人争辩说:“我早就画完了,现在是趁时间还早,不过是给蛇添几 只脚而已。”那人说:“蛇本来就没有脚,你要给它添几只脚那你就添吧,酒反正你是喝不成了!”

     
      那人毫不客气地喝起酒来,那个给蛇画脚的人却眼巴巴看着本属自己而现在已被别人拿走的酒,后悔不已。


     
    Bản tiếng Việt :

     
    Thời xưa nước Sở có một quý tộc, sau khi cúng lễ tổ tiên, liền thưởng cho các môn khách đến giúp việc một ấm rượu. Các môn khách bàn với nhau: “Một ấm rượu chia cho mọi người cùng uống thì không đủ, một người uống thì có thừa. Vậy thì chúng ta cùng thi vẽ một con rắn trên mặt đất, ai vẽ xong trước, thì người đó được uống ấm rượu này.”

     
    Có một người vẽ xong trước nhất. Anh ta cầm ấm rượu định uống, nhưng lại đắc chí lấy tay trái cầm ấm rượu, tay phải tiếp tục vẽ rắn, miệng nói: “Các người xem, ta còn có thời gian để vẽ thêm mấy chiếc chân cho rắn đây.”

     
    Thế nhưng không đợi anh ta vẽ xong chân rắn, một người khác đã vẽ xong rắn. Người đó giằng lấy ấm rượu nói: “Rắn làm gì có chân, anh vẽ thêm chân cho rắn làm gì”, nói xong liền uống rượu trong ấm. Người vẽ thêm chân cho rắn đã để mất ấm rượu đáng lẽ thuộc về anh.

     
    Chuyện ngụ ngôn này nói với mọi người, nếu làm một việc, cần phải có yêu cầu cụ thể và mục tiêu rõ ràng, phải theo đuổi nó, hoàn thành nó với ý chí tỉnh táo kiên định, không nên bị thắng lợi làm mê muội đầu óc, dẫn đến thất bại.
    后生可畏
    (hòu shēng kě wèi)

     
    (hậu sinh khả úy)



    孔子在游历的时候,碰见三个小孩,有两个正在玩耍,另一 个小孩却站在旁边。孔子觉得奇怪,就问站着的小孩为什么不和大 家一起玩。 小孩很认真地回 答:“激烈的打闹能害人的性命,拉拉扯扯的玩 耍也会伤人的身体;再退一步说,撕破了衣服,也没有什么好处。所 以我不愿和他们玩。这有什么可奇怪的呢?”

    过了一会几,小孩用泥土堆成一座城堡,自己坐在里面,好久不 出来,也不给准备动身的孔子让路。孔子忍不住又问:‘你坐在里面, 为什么不避让车 子?”“我只听说车子要绕城走,没有听说过城堡还 要避车子的!”孩子说。 孔子非常惊讶,觉得这么小的孩子,竟如此会说话,实在是了不 起,于是赞叹他 说:“你这么小的年纪,懂得的事理真不少呀:” 小孩却回答说:“我听人说,鱼生下来,三天就会游泳,兔生下 来,三天就能在地里跑,马生下来,三天就可 跟着母马行走,这些都 是自然的事,有什么大小可言呢?” 孔子不由感叹他说:“好啊,我现在才知道少年人实在了不起 呀!”

    后生可畏的意思是:后生:年轻人,后辈;畏:敬畏。年轻人是可敬畏的。形容青年人能超过前辈。
    释义 赞扬少年聪明努力,有光明的前途。

    Bản dịch :

    Khổng Tử chu du các nước, đánh xe đến mỗi quốc gia. Hai đứa trẻ đang chơi đùa, còn đứa khác thì đứng ở cạnh. Thấy vậy, Khổng Tử liền hỏi: “Này cháu, sao cháu không chơi với các bạn?”. Đứa trẻ đáp: “Cãi nhau sẽ làm tổn thương đến tính mệnh, đùa nghịch cũng có hại cho sức khỏe, cho dù chỉ xé rách quần áo cũng gây phiền phức, không chơi với chúng có gì lạ đâu ạ”.

    Đứa trẻ lấy bùn đắp thành một cái thành bao, nó vui mừng ngồi trong thành và không ra. Khổng Tử hỏi: “Cháu ngồi trong này. Tại sao lại không tránh xe của ông?”. Đứa trẻ trả lời: “Chỉ nghe nói xe đi vòng quanh thành, chưa nghe nói thành phải tránh xe”. Khổng Tử rất kinh ngạc, đứa trẻ tí tuổi mà đã biết nói câu như thế này. Đứa trẻ lại nói: “Cháu nghe nói cá nở ba ngày thì biết bơi, thỏ đẻ bảy ngày thì biết chạy,ngựa con sinh ra chỉ cần ba ngày là có thể đi được… đâu có nói gì đến lớn nhỏ đâu?”. Khổng Tử tỏ vẻ mừng rỡ và nói: “Tuyệt! Hậu sinh khả úy quả là tài giỏi”.

    HẬU SINH KHẢ ÚY thường dùng để ca ngợi người nhỏ tuổi thông minh, nỗ lực, thành tích nổi bật, cũng dùng để chỉ lớp người sau lại đáng sợ, đáng phục cho nên không thể coi thường lớp trẻ được.

    南柯一梦:Nam Kha nhất mộng


      拼音】nán kē yī mèng

      【解释】[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...],南面的大树枝。形容一场大梦,或比喻一场空欢喜。

      【出处】唐·[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...][Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]

      唐传奇小说《南柯太守传》,写[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]醉后梦入大槐安国,官任南柯太守,二十年享尽荣华富贵,醒后发觉原是一梦,一切全属虚幻。后人因此用“南柯一梦”借喻世间荣华富贵不过是一场空梦。现在常比喻为一场空欢喜。

      隋末唐初的时候,有个叫淳于棼的人,家住在广陵。他家的院中有一棵根深叶茂的大槐树,盛夏之夜,月明星稀,树影婆婆,晚风习习,是一个乘凉的好地方。

      淳于棼过生日的那天,亲友都来祝寿,他一时高兴.多贪了几杯。夜晚,亲友散尽,他一个人带着几分酒意坐在槐树下歇凉,醉眼惺忪,不觉沉沉睡去。

      梦中,他到了大槐安国,正赶上京城会试,他报名入场,三场结束,诗文写得十分顺手,发榜时,他高中了第一名。紧接着殿试,皇帝着浮于弊生得一表人才,举止惆院,亲笔点为头名状元,并把公主许配给他为妻,状元公成了驸马郎,一时成了京城的美谈。

      婚后,夫妻感情十分美满。淳于棼被皇帝派往南河郡任太守,一呆就是20年。淳于棼在太守任内经常巡行各县,使属下各县的县令不敢胡作非为,很受当地百姓的称赞。皇帝几次想把淳于棼调回京城升迁,当地百姓听说淳于棼太守离任,纷纷拦住马头,进行挽留。淳于棼为百姓的爱戴所感动,只好留下来,并上表向皇帝说明情况。皇帝欣赏淳于棼的政绩,赏给他不少金银珠宝,以示奖励。

      有一年,敌兵入侵,大槐安国的将军率军迎敌,几次都被敌兵打得溃不成军。败报传到京城,皇帝震动,急忙召集文武群臣商议对策。大臣们听说前线军事屡屡失利,敌兵逼近京城,凶猛异常,一个个吓得面如土色,你看我,我看你,都束手无策。

      皇帝看了大臣的样子,非常生气地说:“你们平田养尊处优,享尽荣华,朝中一旦有事,你们都成了没嘴的葫芦,胆小怯阵,一句话都不说,要你们何用?”

      宰相立刻向皇帝推荐淳于棼。皇帝立即下令,让淳于棼统率全国精锐与敌军决战。

      淳于棼接到圣旨,不敢耽搁,立即统兵出征。可怜他对兵法一无所知,与敌兵刚一接触,立刻一败涂地,手下兵马被杀得丢盔解甲,东逃西散,淳于棼差点被俘。皇帝震怒,把淳于棼撤掉职务,遣送回家。淳于棼气得大叫一声,惊醒过来。但见月上枝头,繁星闪烁。而梦中经历好像已经整整过了一辈子。

      淳于棼把梦境告诉众人,大家感到十分惊奇,一齐寻到大槐树下,果然掘出个很大的蚂蚁洞,旁有孔道通向南枝,另有小蚁穴一个。梦中“南柯郡”、“槐安国”,其实原来如此!从梦中惊醒,此时他才知道,所谓南河郡,不过是槐树最南边的一枝树干而已。


     
    Câu chuyện “Giấc Mộng Nam Kha”



    Trong tiếng Hán có một câu thành ngữ “Giấc mộng Nam Kha”, được dùng để hình dung cõi mộng hoặc một không tưởng không thể thực hiện được của một người nào đó. Thành ngữ này có nguồn gốc từ cuốn tiểu thuyết “Tiểu sử Nam Kha Thái Thú” của tác giả Lý Công Tá đời Đường Trung Quốc thế kỷ 9 công nguyên.
    Một người tên Thuần Vu Phân, ngày thường thích uống rượu. Trong sân nhà ông có một cây hòe lớn rễ sâu cành rậm, một đêm giữa hè, trăng tỏ sao thưa, gió thổi hiu hiu, chỗ dưới cây hòe là một chỗ hóng mát tốt.
    Vào ngày sinh nhật của Thuần Vu Phân, người thân và bạn bè đều đến chúc thọ, ông vui mừng quá, và uống nhiều chén rượu. Sau khi người thân và bạn bè về nhà, Thuần Vu Phân ngà ngà say hóng mát dưới cây hòe, bất giác ngủ quên.
    Trong giấc mơ, nhận lời mời của hai sứ thần, Thuần Vu Phân bước vào một lỗ cây. Trong lỗ có thời tiết tốt đẹp, là một thế giới riêng biệt, có nước Đại Hòe. Lúc đó, kinh thành đang tổ chức cuộc thi lựa chọn quan chức, ông cũng đi đăng ký. Ông đã thi ba cuộc, viết văn rất suôn sẻ. Khi công bố kết quả cuộc thi, ông đứng đầu bảng. Tiếp theo nhà vua tổ chức thi đình. Nhà vua nhìn thấy Thuần Vu Phân vừa đẹp trai, vừa tài ba lỗi lạc, nên hết sức ưa thích, rồi chọn ông là trạng nguyên, và gả công chúa cho ông. Trạng nguyên trở thành phò mã, nhất thời việc này được truyền thành giai thoại ở kinh đô.
    Sau khi lấy nhau, vợ chồng hết sức đằm thắm. Không lâu, Thuần Vu Phân được nhà vua cử đến quận Nam Kha làm thái thú. Thuần Vu Phân cố gắng làm việc và quý mến nhân dân, thường đến địa phận quận Nam Kha điều tra nghiên cứu, kiểm tra công tác của bộ hạ, công tác hành chính ở các địa phương đều rất liêm khiết và có trật tự, nhân dân địa phương hết sức khen ngợi. Ba mươi năm trôi qua, thành tích của Thuần Vu Phân đã nổi tiếng khắp toàn quốc, và ông đã có 7 con, 5 trai 2 gái, cuộc sống rất hạnh phúc. Nhà vua mấy lần muốn điều động Thuần Vu Phân về kinh thành đảm nhiệm chức vụ cao hơn, nhưng sau khi được biết, nhân dân địa phương kéo nhau lên phố, ngăn lại xe ngựa của thái thú, thỉnh cầu ông tiếp tục làm quan thái thú quận Nam Kha. Thuần Vu Phân cảm động trước sự yêu mến của nhân dân, đành phải lưu lại, và trình thư lên nhà vua giải thích rõ tình hình. Nhà vua rất vui mừng trước thành tích công tác chính trị của ông, và ban thưởng cho ông nhiều vàng bạc châu báu.
    Một năm, nước Thiện La cử quân đội xâm phạm nước Đại Hòe, các tướng quân nước Đại Hòe thừa lệnh chặn đánh địch, bất ngờ bị đánh bại nhiều lần. Tin thua trần truyền tới kinh thành, nhà vua bị choáng, khẩn cấp triệu tập quan chức văn võ thương lượng cách đối phó. Nghe nói quân đội mình nhiều lần bị đánh bại ở tiền tuyến, địch hết sức mạnh mẽ đã tiến gần kinh thành, các đại thần sợ hãi đến nỗi tái mặt, đại thần này nhìn đại thần kia, đành chịu bó tay.
    Nhìn thấy thần sắc của đại thần, nhà vua hết sức tức giận và nói: “Nhà ngươi ngày thường ăn ngon ở nhàn, hưởng thụ hết vinh hoa phú quý, một khi nhà nước gặp khó khăn, nhà ngươi lại trở thành quả bầu không có mồm, hèn nhát khiếp trận, cần nhà ngươi có tác dụng gì?”
    Tể tướng chợt nghĩ tới ông Thuần Vu Phân, thái thú quận Nam Kha có thành tích công tác xuất sắc, bèn giới thiệu với nhà vua. Nhà vua ra lệnh ngay, điều động Thuần Vu Phân điều khiển quân đội tinh nhuệ toàn quốc đánh địch.
    Sau khi nhận được mệnh lệnh của nhà vua, Thuần Vu Phân lập tức dẫn quân xuất chinh. Nhưng ông không biết gì về phép dùng binh, vừa giao chiến với quân địch, đã bị thua liểng xiểng, chiến sĩ và ngựa bị tổn thất nặng nề, ông xuýt nữa bị bắt. Được tin này, nhà vua hết sức thất vọng, ra lệnh truất bỏ mọi chức vụ của ông, giáng xuống làm bình dân, và đưa về quê. Thuần Vu Phân nghĩ tên tuổi anh hùng của mình bị phá hủy hoàn toàn, hết sức xấu hổ và tức giận, kêu một tiếng thật to, ông tỉnh dậy từ giấc mơ. Ông theo cõi mộng đi tìm nước Đại Hoè, hóa ra dưới cây hòe có một lỗ con kiến, những kiến đang cư trú ở đó.
    “Giấc mơ Nam Kha” có khi cũng chỉ đời người như giấc mơ, phú quý quyền thế đều là hư ảo

     
    唇亡齿寒


      春秋时候,晋献公想要扩充自己的实力和地盘,就找借口说邻近的虢(guó)国经常侵犯晋国的边境,要派兵灭了虢国。可是在晋国和虢国之间隔着一个虞国,讨伐虢国必须经过虞地。“怎样才能顺利通过虞国呢?”晋献公问手下的大臣。大夫荀息说:“虞国国君是个目光短浅、贪图小利的人,只要我们送他价值连城的美玉和宝马,他不会不答应借道的。”晋献公一听有点舍不得,荀息看出了晋献公的心思,就说:“虞虢两国是唇齿相依的近邻,虢国灭了,虞国也不能独存,您的美玉宝马不过是暂时存放在虞公那里罢了。”晋献公采纳了荀息的计策。
      虞国国君见到这两们珍贵的礼物,顿时心花怒放,听到荀息说要借道虞国之事时,当时就满口答应下来。虞国大夫宫之奇听说后,赶快阻止道:“不行,不行,虞国和虢国是唇齿相依的近邻,我们两个小国相互依存,有事可以自彼帮助,万一虢国灭了,我们虞国也就难保了。俗话说:‘唇亡齿寒’,没有嘴唇,牙齿也保不住啊!借道给晋国万万使不得。”虞公说:“人家晋国是大国,现在特意送来美玉宝马和咱们交朋友,难道咱们借条道路让他们走走都不行吗?”宫之奇连声叹气,知道虞国离灭亡的日子不远了,于是就带着一家老小离开了虞国。
      果然,晋国军队借道虞国,消灭了虢国,随后又把亲自迎接晋军的虞公抓住,灭了虞国。 故事出自《左传•僖公五年》。成语“唇亡齿寒”,比喻双方关系密切,相互依存。

    English
    If the Lips Are Gone, the Teeth Will Be Cold
    During the Spring and Autumn Period (707 - 476 B.C.), Duke Xian of the State of Jin Wanted to expand his position of strength and sphere of influence. Therefore he would like to send his troops to destroy the State of Guo on the pretest that the State of Guo often encroached on theborders of the State of Jin. But there was a third state, the State of Yu,between the State of Jin and the State of Guo, and the Jin army had to cross the State of Yu before it could reach the State of Guo . "How can my army cross the State of Yu without a hitch?" Duke Xian of the State of Jin asked his ministers.Xun Xi , one of the ministers, said, "The monarch of the State of Yu is short - sighted and covets small advantages. If we give him priceless precious stones and fine horses, it is not unlikely that he will allow our army to pass through his country. " Seeing that Duke Xian of the State of Jin was a little bit grudging, Xun Xi continued to say, "The State of Yu and the State of Guo are neighbor stated as closely related as lips and teeth. The State of Yu cannot exist independently if the state of Guo is destroyed. Your precious stones and fime hores are just left in the care of the monarch of the State of Yu." So Duke Xian of the State of Jin accepted Xun Xi's plan. When the monarch of Yu saw the precious gifts, he was elated,and readily promised to let the Jin army pass through his state. Hearing the news, Gong Zhiqi, one of the ministers as the State of Yu, hastened to admonish the monarch, saying," That won't do.For the State of Yu and the State of Guo are neighbor states as closely related as lips and teeth. Our two small states are interdependent, and can help cach other when problems crop up .If the State of Guo were destroyed, it would be difficult for our State of Yu to continue to exist. As the common saying goes, if the lips are gone ,the teeth will be cold, The teeth can hardly be kept if the lips are gone. So it won't do at all to allow the Jin army pass our state." The monarch of the State of Yu said," The State of Jin is a big state. Now they here specially to present gifts to us with the intention of being on friendly terms with us. Under suchcircumstances, how can we refuse to allow them to pass through our state?" Hearing this, Gong Zhiqi sighed repeatedly. Knowing that the State of Yu would soon be destroyed, Gong Zhiqi left the State of Yu together with his whole family.
    As expected, the troops of the State of Jin, allowed to pass through the State of Yu, destroyed the State of Guo and on their return trip captured the monarch of the State of Yu who went out personally to meet them, htus destroying the State of Yu as Well.
    This story appears in the chapter " The Fifth Year of Duke Xi " in Zuo zhuan,the famous commentary by Zuo Qiuming on The Spring and Autumn Annals. The set phrase " if the lips are gone, the teeth will be cold " is used to mean that two persons or things share a common lot and that is one fails ,the other is in danger.
     
     
     

     
    Môi hở răng lạnh

     
    Vào thời Xuân thu, Phổ Hiến Công muốn khuyếch trương thực lực và mở rộng địa bàn nên vịn cớ nói nước láng giềng là Quách quốc thường xuyên xâm phạm biên giới nước Phổ, nên phải đem quân đi tiêu diệt nước Quách. Nhưng Ngu quốc lại ngăn giữa hai nước Phổ và nước Quách, muốn đánh nước Quách nhất định phải qua đất Ngu. “Làm thế nào có thể thuận lợi đi qua đất nhà Ngu bây giờ?” Phổ Hiến Công đem việc đó ra hỏi các quan đại thần trong triều. Hà Tức liền hiến kế:”Vua nước Ngu là người nhận thức nông cạn, ham lợi nhỏ trước mắt, chúng ta chỉ cần đem Ngọc Liên Thành và Ngựa Quý làm lễ vật dâng tặng cho ông ta, ông ta sẽ không từ chối việc cho chúng ta mượn đường đâu” Phổ Hiến công nghe thấy thế trong lòng có đôi chút tiếc rẻ .Hà Tức đọc được suy nghĩ trong bụng Phổ Hiến Công, liền nói:”Nước Ngu và nước Quách là hai nước láng giềng gắn bó với nhau như môi với răng, nước Quách bị tiêu diệt rồi, nước Ngu cũng khó có thể tồn tại được, ngọc và ngựa quí của ngài chẳng qua cũng chi là tạm thời gửi chỗ Ngu Công mà thôi.” Phổ hiến công nghe xong liền chấp nhận làm theo kế sách của Hà Tức
    Vua nước Ngu nhìn thấy hai lễ vật quí giá kia như mở cờ trong bụng. Khi vừa nghe thấy Hà Tức đề cập đến chuyện mượn đường đi qua nước Ngu liền đồng ý ngay. Một số quan đại thần nước Ngu sau khi nghe xong đã vội vã lên tiếng ngăn cản: ”không được , không được, nước Ngu và nước Quách là hai nước lang giềng kề cận nhau gắn bó như môi với răng, hai nước nhỏ chúng ta cùng dựa vào nhau mà tồn tại, khi có chuyện có thể cùng giúp đỡ hỗ trợ cho nhau, ngộ nhỡ nước Quách bị tiêu diệt rồi, thì e rằng nước Ngu chúng ta cũng khó lòng mà tồn tại. Tục ngữ vốn đã có câu :”môi hở răng lạnh”, không có môi, răng cũng không giữ được vậy! Tuỵêt đối không thể cho nước Phổ mượn đường được. Ngu công nói: “Phổ quốc họ là một nước lớn, bây giờ họ có ý biếu tặng riêng cho chúng ta ngọc đẹp và ngựa quí để kết giao bạn bè với nước chúng ta, Chả nhẽ chỉ cho họ mượn đường để họ đi lại cũng không được hay sao?” Các vị quan nọ chỉ còn biết thở dài than vãn, hiểu rằng thời gian diệt vong của nước Ngu không còn xa nữa, nên họ liền dẫn theo cả nhà cả già lẫn trẻ rời khỏi nước Ngu.
    Quả nhiên quân Phổ sau khi mượn được đường Ngu quốc, tiêu diệt xong nước Quách thì liền bắt luôn vua nước Ngu là Ngu Công, người đã từng đích thân tiếp đón đoàn quân Phổ, tiêu diệt luôn nước Ngu. Câu chuyện được lấy từ cuốn: Tả Truyền – Hi Công Ngũ Niên”. Từ đó hình thành câu thành ngữ “Môi hở răng lạnh” để nhằm chỉ quan hệ của hai bên gắn bó khăng khít, cùng dựa vào nhau mà tồn tại.
    )
     
    杀鸡吓猴
    (Giết gà dọa khỉ)

    故事 :
    有个耍猴戏的,新买了一只受过训练的猴子。这猴子可机灵了,他一听到鼓声就会跳舞,一听到锣声就会翻斤斗,可是就不听新主人的指挥。耍猴戏的使劲打鼓,使劲敲锣,猴子眨眨眼睛,一动也不动,只做没听见。耍猴戏的想了个法子,他抓了一只公鸡来,对着公鸡又打鼓,又敲锣。公鸡怎么会演戏呢,他听到鼓声锣声早吓呆了,蹲在地上动也不敢动。耍猴戏的拿起一把刀,一刀把公鸡宰了。这一下可把猴子吓坏了。耍猴戏的一打鼓,他就连忙跳舞,一敲锣,他就连忙翻斤斗,一点儿也不敢含糊。


    杀鸡吓猴就是从这个故事来的。惩罚一个不相干的人,来威胁另一个人,可以说是杀鸡吓猴

    Bản dịch :
    Có một nghệ nhân xiếc mới mua về một chú khỉ đã được huấn luyện. Chú khỉ này rất nhanh nhẹn, khôn, nghe tiếng trống thì múa theo, nghe gõ la thì sẽ nhào lộn, nhưng chỉ là không chịu nghe sự chỉ huy của người chủ nhân mới này. Trong khi vị chủ nhân mới cố hết sức để gõ la đánh trống thì con khỉ này ngồi đó nhìn ngược ngó xuôi, không hề nhúc nhích, như không hề nghe thấy.

    Chủ nhân tức lắm bèn nghĩ ra một cách. Ông ta bắt về một con gà trống rồi vừa đánh trống vừa gõ la trước mặt con gà. Con gà nào có biết diễn gì đâu, nó sợ cứng người lại, nằm co dưới đất không dám động đậy. Chủ nhân liền cầm con dao thịt luôn con gà. Chú khỉ ngồi bên cạnh quan sát, sợ run người. Về sau, chỉ cần chủ nhân vừa mới đánh trống, khỉ liền múa; vừa mới đánh la, khỉ liền nhào lộn một chút cũng không dám lơ là như trước.

    Thành ngữ SÁT KÊ HẠ HẦU dùng để ví trừng phạt một người để răn đe kẻ khác.


    井底之蛙
    ếch ngồi đáy giếng
    一口废井里住着一只青蛙。有一天,青蛙在井边碰上了一只从海里来的大龟。青蛙就对海龟夸口说:你看,我住在这里多快乐!有时高兴了,就在井栏边跳跃一阵;疲倦了,就回到井里,睡在砖洞边一回。或者只留出头和嘴巴,安安静静地把全身泡在水里:或者在软绵绵的泥浆里散一回步,也很舒适。看看那些虾和蝌虾,谁也此不上我。而且,我是这个井里的主人,在这井里极自由自在,你为什么不常到井里来游赏呢!那海龟听了青蛙的话,倒真想进去看看。但它的左脚还没有整个伸进去,右脚就已经绊住了。它连忙后退了两步,把大海的情形告诉青蛙说:你看过海吗?海的广大,哪止千里;海的深度,哪只千来丈。古时候,十年有九年大水,海里的水,并不涨了多少;后来,八年里有七年大早,海里的水,也不见得浅了多少。可见大海是不受旱涝影响的。住在那样的大海里,才是真的快乐呢!井蛙听了海龟的一番话,吃惊地呆在那里,再没有话可说了。




    Trong "Truyện ngụ ngôn Việt Nam" có câu chuyện kể về một chú ếch hợm hĩnh, nông nổi, đáng thương.
    Số là, có một con ếch, do sự ngẫu nhiên nào đó, ngay từ khi sinh ra đã ở trong một cái giếng nọ. (Cũng có thể không phải do ngẫu nhiên mà còn là do sở thích của họ hàng nhà ếch nữa. Chả thế trong kho tàng thành ngữ, tục ngữ Việt Nam có câu: Giếng đâu thì ếch đó). Sống cùng với ếch ở trong giếng chỉ có vài con nhái, cua, ốc nhỏ. Từ dưới đáy giếng nhìn lên ếch ta chỉ nhìn thấy khoảng trời bé bằng cái vung. Nó nghĩ: Tất cả vũ trụ chỉ có vậy, vì thế ếch tự coi mình là chúa tể. Hàng ngày, nó cất tiếng kêu ồm ộp làm vang động cả giếng khiến các con vật bé nhỏ kia hoảng sợ. Nó càng lấy làm oai.
    Nhưng có một năm, có thể do thái độ xấc xược "coi trời bằng vung" của ếch thấu đến tai Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng nổi giận đùng đùng và quyết định phế truất "ngai vàng" nơi đáy giếng của ếch nên đã làm một trận mưa thật to. Nước trong giếng dềnh lên, tràn vào bờ, đưa ếch ta ra ngoài.
    Quen thói cũ, ếch nhâng nháo nhìn lên trời, nó bỗng thấy cả một bầu trời rộng lớn hơn nhiều cái khoảng trời nó vẫn thấy. Ếch ta không tin và thấy bực bội vì điều đó. Để ra oai, nó cất tiếng kêu ồm ộp. Vị chúa tể hy vọng là sau tiếng kêu của mình mọi thứ đều phải trở lại như cũ. Nhưng bầu trời vẫn là bầu trời. Còn nó vì mãi nhìn lên trời chả thèm để ý đến xung quanh, nên đã bị một con trâu đi qua dẫm bẹp.
    Từ cách nhìn thế giới bên ngoài chỉ thông qua miệng giếng của chú ếch nọ mà thành ngữ "Ếch ngồi đáy giếng" trước hết để chỉ "những người hiểu biết ít do điều kiện tiếp xúc hẹp". Sau nữa, lại từ thái độ nhâng nháo "coi trời bằng vung" của ếch mà thành ngữ này còn hàm ý nói về sự chủ quan, coi thường thực tế. Số phận của những người đó, nếu không giống như con ếch huênh hoang, hợm hĩnh nọ, thì chí ít, họ cũng phải trả bằng những thất bại chua xót khi tiếp xúc với thực tiễn phong phú và sinh động, mà khi hiểu ra thì sự đã rồi.

    英雄无用武之地
      成语: [Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]无用武之地


      拼音: yīngxióng wú yòng wǔ zhī dì


      释义: 比喻有才能却没地方或机会施展。


      出处: [Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]·[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...][Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]·汉纪·[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]建安十三年》:“英雄无用武之地,故豫州遁逃至此。”


      示例: 《[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]·寄生氏·五美缘·第四十回》:“这是天绝我也,‘英雄无用武之地’,”将朴刀向江中一抛,非是做好汉有始无终,此时却不能顾你了。”


      典故:


      东汉末年,曹操靖北后,南攻荆州。刘备势单力孤,不能与之抗衡,迫而逃至夏口。诸葛亮自请于备,偕鲁肃一道往东吴谒孙权。以行“东联孙权,北拒曹操”之“[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]”策略。亮见权时,以“激将计”说之曰:“值天下大乱,公据江东。吾主聚众于南,与操逐鹿中原。今操已扫北,乘势南下,大破荆州,威震四海。吾主‘英雄无用武之地’,故远遁于此。望公量力而为,若能合吴越之众,戮力拒之,事宜早决。否则,按兵束甲,俯首称臣,北面而事之。观公外似臣服,内实踌躇,当断不断,祸将至矣。”权本欲一战,复闻此言,勃然大怒,遂从亮言,联手抗曹。


      近义词:怀才不遇


      反义词:[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]


      英语翻译:A hero with no place to display his prowess.或者是 have no scope for the exercise of one's ability

     
    ANH HÙNG VÔ DỤNG VÕ CHI ĐỊA


    英 雄 無 用 武 之 地


     
    (ANH HÙNG KHÔNG ĐẤT DỤNG VÕ)


    XUẤT XỨ: Phần "Gia Cát Lượng truyện, Thục thư" trong sách Tam Quốc Chí, có câu: "Lượng thuyết phục (Tô) Quyền rằng: ... Nay (Tào) Tháo là thế lực đại anh hùng trừ diệt tất cả đã gần dẹp yên, vừa phá Kinh Châu, uy thế chấn động bốn biển. Anh hùng mà không đất dụng võ, nên Dực Châu (tức Lưu Bị) mới trốn chạy đến đây" (Lượng thuyết Quyền viết: "... "Kim Tháo sản di đại hùng, lược dĩ bình hĩ, toại phá Kinh Châu, uy chấn tứ hải. Anh hùng vô sở dụng võ, cố Dự Châu độn đào chí thử"

    GIẢNG NGHĨA;
    Câu "Anh hùng vô dụng võ chi địa" chuyển hóa từ câu "Anh hùng vô sở dụng võ" ở trên. Nguyên ý nói: anh hùng không có chỗ để thi triển tài dùng binh của mình để tỉ dụ người tài năng không có chỗ phát huy.

    ĐIỂN TÍCH: Năm 208, sau khi bình định phương bắc không lâu, Tào Tháo thân hành chỉ huy đại quân tiến xuống hướng nam, chuẩn bị dẹp tan Lưu Biểu đang chiếm vùng Kinh Châu. Quân Tào chưa kịp tới Kinh Châu đã nghe tin Lưu Biểu chết vì bệnh. Con trai nhỏ của Lưu Biểu là Lưu Tông hoảng hốt chẳng có chủ kiến gì, bị các nhóm thủ hạ thân tín xúi giục quyết định ra hàng Tào Tháo để bảo vệ an ổn cho mình.

    Lúc này, Lưu Bị đang được Lưu Biểu giao phó trấn giữ Phàn Thành (nay thuộc Hồ Bắc) chưa hay biết gì, đến khi quân Tào tiến vào huyện Uyển, Bị mới hay tin, vội vàng dẫn quân triệt thoái xuống phương nam. Lưu Bị đến chân thành Tương Dương, Lưu Tòng đóng chặt cửa thành không cho Bị vào. Trước tình hình ấy, Gia Cát Lượng khuyên Bị nên đánh chiếm lấy Tương Dương rồi hiệu triêu dân chúng Kinh CHâu cùng chống lại quân tào. Lưu Bị không đồng ý, bảo: "Lưu Biểu vừa mới qua đới, ta nào nhẫn tâm làm thế!". Rồi Bị tiếp tục lệnh cho quân tiến sâu nữa xuống phương nam, rút về hướng Giang Lăng. Nhân dân Tương Dương không muốn đầu hàng (theo Lưu Tông) nên đua nhau theo Lưu Bị, đội ngũ của Bị đột ngột tăng lên tới hơn 10 vạn người. Có người khuyên Bị nên bỏ họ lại và chạy trước để khỏi bị quân Tào Tháo đuổi kịp, Bị đáp: "Người làm nên đại sự lấy lòng nhân làm gốc, nay nhân dân Kinh Châu theo về với ta, ta nào nỡ bỏ học mà chạy trước!".

    Quân Tào vừa đến Tương Dương, Lưu Tông vội dẫn văn võ bá quan ra cửa thành nghênh đón. Tào Tháo hỏi rõ hướng chạy của Lưu Bị rồi lập tức đem theo 5 ngàn kỵ binh đuổi riết theo. Quân tào đuổi kịp đội ngũ của Lưu Bị ở Đương Dương Trường Bản (nay thuộc Hồ Bắc). Lưu Bị chỉ huy vài chục tướng sĩ đột phá vòng vây, chạy về hướng Hán tân ở phía đông (nay là bến Hán Thủy). Bị vượt sông Hán Thủy, hội quân với đại tướng Quan Vũ và con lớn của Lưu Biểu là Lưu Kỳ rồi quyết dịnhđóng quân lại ở Hà Khẩu (nay là thanh phố Vũ Hán, Hồ Bắc). Quân Tào tiếp tục nam tiến, chiếm trấn Giang Lăng. Tháo ra lệnh cho quân nghỉ ngơi chút ít, chuẩn bị xuôi dòng nước về phía đông đuổi đến Hạ Khẩu tiêu diệt lực lương của Lưu Bị rồi thừa thắng tiêu diệt luôn Đông Ngô của Tôn Quyền, quét sạch vùng Giang Nam.

    Lúc ấy quân Tào Tháo có hơn 50 vạn người (thanh xưng lên tới 83 vạn quân) còn cả binh mạ của Bị chỉ có hơn 1 vạn. Binh lực hai bên cách biệt hẳn. Do vì Tôn Quyền sợ Tào Tháo nên cứ đóng yên ở Sài Tang (nay thuộc Giang Tây) không dám động binh. Vì muốn liên hợp với Đông Ngô cùng chống lại quân tào, Lưu Bị sai Gia Cát Lượng đến Sài Tang thuyết phục Tôn Quyền.

    Gia Cát Lượng gặp Quyền, nói: "Tào Tháo đã chiếm mất Kinh Châu, tướng quân dự định làm gì? Nếu như chuẩn bị chống cự thì hãy quyết chiến với Tào Tháo; còn như không chuẩn bị chống cự thì hãy sớm đầu hàng đi. Không nên do dự chờ thời, tai họa sẽ đến mau lắm đấy!". Tuy Tôn Quyền sợ Tào Tháo nhưng lại không can tâm bỏ cơ nghiệp tổ tiên quý gối đầu hàng Tào. Nay bị Gia Cát Lượng nói khích, Quyền khó chịu hỏi ngược lại: "Nếu đã như thế, sao Lưu Dự Châu (tức Lưu Bị) không đầu hàng?" Gia Cát Lượng đáp: "Lưu Dự CHâu đã quyết định không đầu hàng. Bị đến Kinh Châu tạm thời nương thân ở Phàn Thành, anh hùng không có đất dụng võ, nên mới bị Tào Tháo đánh bại, nhưng Bị vẫn là dòng dõi vương thất, anh hùng cái thế hào kiệt bốn phương dốc lòng ngưỡng mộ giống như nước trăm sông đều đổ vào biển lớn, tương lai chắc chắn sẽ cùng Tào Tháo tranh đoạt thiên hạ, làm sao khuất thân đầu hàng hắn được?" Tôn Quyền kích động nói: "Lưu Dự Châu anh hùng khí khái khiến người khâm phục! Tôn Quyền ta kế thừa đại nghiệp của cha anh, quyết không thể dâng đất Đông Ngô cho người khác. Tâm ta đã quyết chống lại quân tào, không thể đầu hàng!".

    Một ngày vào tháng 12 năm ấy, xảy ra trận chiến lịch sử trên sông Xích Bích (nay thuộc phía tây huyện Võ Xương, Hồ Bắc) giựa quân Tào Tháo và liên quân Lưu Bị - Tôn Quyền.


     
    (NGUYỄN TÔN NHAN)
    Default 车水马龙 - Ngựa xe như nước áo quần như nêm!

    车水马龙


     
    Ngựa xe như nước áo quần như nêm




    东汉明帝在位的时候,立马氏当他的皇后,可是马皇后并没有儿子,所以,明帝就立贾氏的儿子当太子,还要马氏抚养太子长大。而马皇后对太子像自己的亲生儿子一样好,并没有特别地偏心。那时马皇后还经常读一些《春秋》之类的史书,虽然明帝也让马皇后看一些奏章,但马皇后却没有和政治扯上关系。


    Vào thời Đông Hán khi Hán Minh Đế còn tại vị đã lập Mã Thị lên làm Hoàng hậu, nhưng Mã Hoàng hậu lại không có con trai, chính vì vậy, Minh Đế đã lập con của Giả Thị lên làm Thái Tử, còn cho Mã Thị đứng ra dưỡng dục Thái Tử cho đến lúc lớn khôn. Nhưng Mã Hoàng hậu lại đối xử với Thái Tử tựa như chính con đẻ của mình, không hề có một chút thiên vị. Lúc nuôi dậy Thái tử Mã Hoàng hậu còn thường xuyên mua một số loại sách như sách Xuân Thu, mặc dù Minh Đế còn để cho Mã Thái hậu xem một số sách Tần Chương, nhưng Mã Thái hậu lại không hề lôi kéo các quan hệ về mặt chính trị.


    後来,明帝死了,太子继承皇位,是历史上的章帝。章帝那年十八岁,马皇后被封为皇太后。当时,许多大臣都提议要给皇太后的兄弟封官,可是皇太后非常反对。第二年,各地发生旱灾,很多人说是因为没有给太后的兄弟封官的缘故,皇太后就说:「我知道为了封官的事情,有很多人到我娘家去,那情形可以说是车子像流水一样,马匹也像一条长龙一样接连不断,可是,那是不应该的。」此後,再也没有人提起封官的事情了。 


    Về sau, Hán Minh đế mất, Thái tử tiếp tục kế thừa ngai vàng, chính là vua Chương Đế trong lịch sử Trung Quốc. Chương Đế lên ngôi vua lúc ông mười tám tuổi, Mã Thái hậu được phong lên làm Hoàng Thái Hậu. Khi đó, rất nhiều Đại thần đều đề nghị nên phong hàm quan cho các anh em của Hoàng hậu, nhưng Hoàng Thái hậu kiên quyết phản đối. Đến năm thứ hai, khắp nơi xảy ra nạn hạn hán, rất nhiều người đều nói rằng vì Hoàng Thái hậu không phong quan cho anh em của mình nên mới dẫn đến hạn hán. Thái Hậu nghe xong liền nói: “Ta biết vì chuyện phong quan mà rất nhiều người đã đến nhà mẹ của ta, Cảnh đó có thể ví xe nhiều như nước, ngựa xếp hàng dài giống như một con rồng dài nối tiếp nhau không dứt, nhưng việc đó là việc không đáng có” Về sau, không còn ai nhắc lại chuyện phong quan với bà nữa.

     
    一人得道,鸡犬升天



      【一人得道,鸡犬升天】 ( yī rén dé dào,jī quǎn shēng tiān )


    解 释 比喻一个人做了官,和他有关系的人也都跟着得势。

    出 处 语本汉淮南王刘安举家升天的传说。汉王充《论衡·道虚》:“淮南王学道,招会天下有道之人,倾一国之尊,下道术之士,是以道术之士并会淮南,奇方异术,莫不争出。王遂得道,举家升天,畜产皆仙,犬吠于天上,鸡鸣于云中。” ”后用以比喻一人得势,与其有关者亦皆随之发迹。多含讽刺意。

    用 法 复句式;作宾语、分句;含贬义

    近义词 一人飞升,鸡犬升天

    Nhất nhân đắc đạo kê khuyển thăng thiên.
    Một người làm quan cả họ được nhờ.

    Giải nghĩa: Một người làm quan thì những người có quan hệ với người đó đều được thơm lây.

    Xuất xứ:Theo truyền thuyết Hoài Nam Vương Lưu An đời Hán đắc đạo thành tiên. Hán Vương Sung" Luận Hành. Đạo Hư" : " Hoài Nam Vương học đạo. triệu tập những người hiểu biết về đạo trong thiên hạ, khuynh nhất quốc chi tôn, hạ đạo thuật chi sĩ, là những người hiểu về đạo cùng với Hoài Nam và các đạo ở khắp nơi cùng nhau tranh luận. Vương toại nguyện đắc đạo, đưa được cả nhà lên trời, tất cả các con vật nuôi trong nhà như chó, gà cũng đều lên theo ".
    Người đời sau dùng thành ngữ này để châm biếm những người có quyền lực thì bạn bè thân thích họ cũng được thơm lây.

    Cách dùng: Câu phụ, làm tân ngữ, phân câu, mang nghĩa xấu.

    Từ gần nghĩa: Nhất nhân phi thăng, kê khuyển thăng thiên.

    故事西汉淮南王刘安,谋反事败而被迫自杀。以其生前炼丹修道,道家便为之编一神话。述刘安拜八公为师,习道与炼丹。丹炼成后,尚未服用,辄闻汉武帝谴人来捕。八公告刘安,其已得道,可即时服丹成仙。于是,刘安与家人服下丹药,成仙升天。所余药器置於中庭,鸡犬舐啄,尽得升天而去。


      谚语“一人得道,鸡犬升天”据此神话概括而来,历为道教掌故之一。今时过境迁,原为褒义而成贬义。多喻一人得势,与其有关者亦随之发迹。常用以讽刺官场上之裙带关系。

    Cốt truyện:Tây Hán Hoài Nam Vương Lưu An, mưu phản thất bại bị ép đến bước đường cùng. Do vậy lúc còn sống đã luyện đan tu đạo, đạo gia vì thế đã đưa việc này thành một câu chuyện thần thoại. Câu truyện kể rằng Lưu An bái 8 lão ông làm thầy để học đạo và luyện đan. Đan luyện xong còn chưa kịp dùng thì nhận được tin Hán Vũ Đế cho người đến bắt ông. 8 lão ông khuyên Lưu An rằng bản thân đã đắc đạo chi bằng nuốt linh đan để được thành tiên. Thế là Lưu An cùng người trong nhà đều nuốt linh đan và thành tiên, bay lên trời. Do ở lò luyện đan trong vườn còn vương vãi ít đơn dược, chó gà nhà ông ăn phải, cũng bay lên trời hết.
    Ngạn ngữ: "NHẤT NHÂN ĐẮC ĐẠO, KÊ KHUYỂN THĂNG THIÊN " theo câu truyện thần thoại này mà thành, được coi là một trong những truyền thuyết của đạo giáo. Đến nay thời thế thay đổi, nghĩa tốt lại thành nghĩa xấu. Nay được dùng nhiều là để châm biếm những người có quyền lực thì bạn bè thân thích họ cũng được thơm lây.

    一场春梦 - Nhất trường xuân mộng
    一场春梦 ( yī chǎng chūn mèng )


      解 释 比喻世事无常,转眼成空。也比喻幻想破灭。
    出 处 唐·[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]《哭李郢端公》:“诗侣酒徒销散尽,一场春梦越王城。”
    宋 赵令畤 《侯鲭录》卷七:“ 东坡老人 在 昌化 ,尝负大瓢,行歌田间。有老妇年七十,谓 坡 云:‘内翰昔日富贵,一场春梦。’ 坡 然之。里中呼此媪为 春梦婆 。” 元 张可久 《落梅风·叹世》曲:“土库千年调,金疮百战功,叹兴亡一场春梦!”《水浒传》第一○五回:“ 廖立 被 王庆 觑个破绽,一朴刀搠翻, 段三娘 赶上,复一刀结果了性命。 廖立 做了半世强人,到此一场春梦。”
    用 法 偏正式;作宾语;含贬义
    故 事 宋朝时期,大文豪苏东坡被贬到海南昌化,他背着一个大瓢在田野间步行,不时哼着曲调,遇到一个70多岁的老婆婆,她知道苏东坡的坎坷经历,现在亲眼目睹他的现状,十分感慨地说:“昔日内翰的荣华富贵只不过像一场春梦而已。”

     
    Nhất trường xuân mộng
    Giấc mộng tan tành, Mông đẹp vỡ tan.

    Giải nghĩa: Ví với thế sự vô thường, chớp mắt đã hóa hư không, ảo tưởng tan thành mây khói.

    Xuất xứ: Đời Đường. Lư Diên NhượngKhóc Lí Dĩnh Đoan Công: " Thi lữ tửu đồ tiêu tản tận, nhất trường xuân mộng Việt vương thành "
    Tống. Triệu Lệnh Trù Hầu Thanh Lụcquyển 7: " Đông Pha lão nhân ở Xương Hóa ( nay là huyện Xương Giang tỉnh Quảng Đông). Hàng ngày mang một chiếc gầu lớn ca hát trên ruộng đồng. Một hôm có một bà lão hơn 70 tuổi đến và nói với Pha rằng: "Khi ông làm hàn lâm học sĩ thì rất giàu có, bây giờ xem ra chỉ là giấc mộng mùa xuân".Pha rất tán đồng với ý kiến của bà.
    Nguyên.Trương Khả CửuLạc Mai Phong thán thếkhúc:” Sĩ khố thiên niên điệu, kim sang bách chiến công, thán hưng vong nhất trường xuân mộng!”
    Thủy hử truyệnhồi thứ 105:” Liêu Lập bị Vương Khánh thấy được chỗ yếu, đâm cho một đao, Đoạn Tam Nương lại bồi thêm một đao nữa kết liễu mạng sống. Liêu Lập nửa đời hào kiệt, đến lúc này cũng chỉ như một giấc mộng xuân.”

    Cách dùng: Không chính thức, làm tân ngữ, mang nghĩa xấu

    Cốt truyện: Thời Tống, đại văn hào Tô Đông Pha bị biếm đến Hải Nam Xương Hóa, trên lưng vác một cái gầu lớn ra ngoài đồng bất giác ngâm nga hát, gặp một bà lão hơn 70 tuổi, bà ta biết những khó khăn mà Tô Đông Pha đã trải qua, nay được tận mắt thấy, than thở mà nói rằng:" Khi ông làm hàn lâm học sĩ thì rất giàu có, bây giờ xem ra chỉ như một giấc mộng xuân "

    Chú thích: Về sau người ta dùng "nhất trường xuân mộng" để chỉ mộng đẹp tan vỡ, hoặc toan tính khôn ngoan của kẻ xấu bị đổ vỡ. Cũng có thể nói: "Xuân mộng nhất trường".

    有一个农夫在田里干活,忽然看见一只野兔跑得过猛,一头撞死在树桩上。农夫高兴地拾起死兔,回家美美地吃了一顿。从此以后,他放下锄头,再也不干活,天天守在那棵树桩旁边,等待再有野兔来撞树碰死。他等呀等呀,十天,半月都过去了,再也没有遇到这样的事情,田里的庄稼也荒芜了
    Có 1 nông dân đang làm việc trên ruộng,bỗng nhiên nhìn thấy 1 chú thỏ rừng chạy rồi đâm vào gốc cây mà chết.Người nông dân vui mừng nhặt thỏ và đem vè làm 1 bữa thật ngon lành.Từ đó trở đi,ông ta vứt bỏ cái cuốc,không làm đồng nữa,ngày nào cũng ngồi bên cạnh cái gốc cây đó,để đợi sẽ lại có 1 con thỏ đâm vào gốc cây mà chết nữa.Ông ta cứ đợi cứ đợi,10 ngày,nửa tháng qua đi,vẫn chẳng thấy có việc như trước nữa,hoa màu thì đã trở lên hoang vu
    名落孙山
    (Danh lạc Tôn Sơn)





      在我国宋朝的时候,有一个名叫孙山的才子,他为人不但幽默,而且很善于说笑话,所以附近的人就给他取了一个“滑稽才子”的绰号。
    有一次,他和一个同乡的儿子一同到京城,去参加举人的考试。
    放榜的时候,孙山的名字虽然被列在榜文的倒数第一名,但能然是榜上有名,而那位和他一起去的那位同乡的儿子,却没有考上。
    不久,孙山先回到家里,同乡便来问他儿子有没有考取。孙山既不好意思直说,又不便隐瞒,于是,就随口念出两句不成诗的诗句来:
    “解元尽处是孙山,贤郎更在孙山外。”
    解元,就是我国科举制度所规定的举人第一名。而孙山在诗里所谓的“解元”,乃是泛指一般考取的举人。他这首诗全部的意思是说:
    “举人榜上的最后一名是我孙山,而令郎的名字却还在我孙山的后面。”
    从此,人们便根据这个故事,把投考学校或参加各种考试,没有被录取,叫做“名落孙山”。






    Ảnh đã được thu nhỏ. Click vào đây để xem với kích thước đủ. Ảnh nguyên bản có kích thước 490x302 dung lượng 37KB.




    Thời nhà Tống, có một tài tử tên gọi Tôn Sơn, anh ta không những có hài hước lại còn rất hay nói đùa. Bởi thế nên mọi người đặt cho cậu ta biệt hiệu là “Tài tử Hề”

    Năm ấy, Tôn Sơn cùng với con trai người đồng hương lên kinh ứng thí. Đến ngày phát bảng. Tôn Sơn rất sốt ruột chen đến gần bảng xem đi xem lại mấy lượt, trong khi chán nản thất vọng, thì chàng đột nhiên thấy tên mình đứng ở hàng cuối cùng, tuy xếp cuối cùng nhưng chàng vẫn đỗ cử nhân. Còn người con trai của ông lão trong làng cùng đến thì không có tên trên bảng.

    Vài hôm sau Tôn Sơn thu xếp lên đường về nhà trước, người bạn đi cùng buồn vì thi trượt nên ở lại mấy hôm. Bấy giờ cả làng đều đến chúc mừng anh, ông lão trong làng thấy con trai không cùng về mới hỏi Tôn Sơn con mình có trúng cử hay không? Tôn Sơn không nỡ nói thẳng, nhưng cũng không muốn che giấu đã buột miệng đọc hai câu thơ: "Giải danh tận xử thị Tôn Sơn, hiền lang canh tại Tôn Sơn ngoại". Hai chữ " Giải danh" ở đây là chỉ tên cử nhân trên bảng.

    Ý của hai câu thơ này là nói: Tên cuối cùng trên bảng cử nhân là Tôn Sơn tôi, đại danh của cậu nhà vẫn còn xếp sau tôi thì đương nhiên là trượi rồi.

    Ngày nay, người ta vẫn thường dùng câu thành ngữ "Danh lạc Tôn Sơn" để ví về việc thi trượt.
    __________________
    成功也好,失败也好
    但愿留在你我心中不是句号
    叶公好龙
    yè(旧读shè) gōng hào lóng

    【典籍】
    子张见鲁哀公,七日而哀公不礼。托仆夫而去,说:“臣闻君好士,故不远千里之外,犯霜露,冒尘垢,百舍重研,不敢休息以见君。七日而君不礼,君之好士也,有似叶公子高之好龙也。叶公子高好龙,钩以写龙,凿以写龙,屋室雕文以写龙。于是天龙闻而下之,窥头于牖,施尾于堂。叶公见之,弃而还走,失其魂魄,五色无主。是叶公非好龙也,好夫似龙而非龙者也。今臣闻君好士,故不远千里之外以见君,七日而君不礼,君非好士也,好夫似士而非士者也。诗说:‘中心藏之,何日忘之!’敢托而去。”



      译文


      子张去拜见鲁哀公,过了七天鲁哀公仍不理他。他就叫仆人去,说:“传说你喜欢人才,因此,冒着风雪尘沙,不敢休息而来拜见你。 结果过了七天你都不理我,我觉得你所谓的喜欢人才倒是跟叶公喜欢龙差不多。据说以前叶子高很喜欢龙,衣服上的带钩刻着龙,酒壶、 酒杯上刻着龙,房檐屋栋上雕刻着龙的花纹图案。他这样爱龙成癖,被天上的真龙知道后,便从天上来到了叶公家里。龙头搭在窗台上探望 ,龙尾伸进了大厅。叶公一看是真龙,吓得转身就跑,好像掉了魂似的,脸色骤变,简直不能控制自己。叶公并非真的喜欢龙呀!他所喜欢 的只不过是那些似龙非龙的东西罢了!现在我听说你喜欢英才,所以不远千里跑来拜见你,结果过了七天你都不理我,原来你不是喜欢人才 ,你所喜欢的只不过是那些似人才非人才的人罢了。诗经早说过:‘心中所藏,什么时候可以忘!’,所以很抱歉,我要离开了!”后来,大家就用“叶公好龙”来形容一个人对外假装自己很爱好某样事物,其实私底下根本就不喜欢!
    Tử Trương yết kiến Lỗ Ai Công ,qua 7 ngày trời Lỗ Ai Công cũng vẫn không thèm để ý đến Tử Trương.Tử Trương bèn gọi nô bộc đi,nói rằng: nghe nói ngài trọng người tài ,vì thế dù phải trải qua phong ba bão táp cũng không dám lơi là mà không đến bái kiến ngài.Kết quả là chờ ngài tận 7 ngày ngài cũng không để ý,tôi cho rang cái mà ngài bảo là trọng người tài chẳng khác gì Diệp Công thích rồng.Nghe nói trước kia có người tên Diệp Tử Cao rất thích rồng,trên y phục cũng thêu hình rồng,vò rượu,chén rượu đều tạc hình rồng,Trong phòng trên các cột trụ cũng khắc hoa văn hình rồng.Câu chuyện Diệp Tử Cao thích rồng được con rồng thật trên trời biết,nó bèn từ trên trời bay vào nhà Diệp Công.Đầu rồng tì vào cửa sổ,đuôi rồng thò ra tận phòng lớn.Diệp Công vừa nhìn thấy rồng thật,sợ quá chạy cãi linh hồn,sắc mặt tái mét,không thể khống chế nổi mình.Thật ra Diệp Công rất thích rồng.Nhưng cái mà ông ấy thích chẳng qua là cái thứ rồng không có thực.Bây giờ tôi nghe nói ngài trọng anh tài ,cho nên tôi không quản nghìn dặm xa xôi đến yết kiến ngài ,vậy mà ngài vẫn không để ý gì đến tôi.Thì ra ngài không hề trọng người tài ,người mà ngài thích chẳng qua chỉ giống như những kẻ chằng có tài cán gì.Thư kinh đã từng nói rằng: Những tâm sự che dấu trong lòng ,đến lúc nào mới có thể quên được?Xin lỗi ngài ,tôi phải từ biệt ngài!Sau đó ,mọi người dùng câu thành ngữ: Diệp Công thích rồng”để nói đến 1 người nào đó giả vờ thích 1 thứ nhưng kì thực suy cho đến cùng không hề thích chút nào.
    __________________
    “何处是我停泊的边岸?
    何处是我避风的港湾?”
     三人成虎 - Tam Nhân Thành Hổ



    (Tam Nhân Thành Hổ)




    将太子交给对方作为人质。"战国策":"魏策"有这样一段记载:
      魏国大臣庞葱,将要陪魏太子到赵国去作人质,临行前对魏王说:
      "现在有个一人来说街市上出现了老虎,大王可相信吗?"
      魏王道:"我不相信。"
      庞葱说:"如果有第二个人说街市上出现了老虎,大王可相信吗?"
      魏王道:"我有些将信将疑了。"
      庞葱又说:"如果有第三个人说街市上出现了老虎,大王相信吗?"
      魏王道:"我当然会相信。"
      庞葱就说:"街市上不会有老虎,这是很明显的事,可是经过三个人一说,好像真的有了老虎了。现在赵国国都邯郸离魏国国都大梁,比这里的街市远了许多,议论我的人又不止三个。希望大王明察才好。"
      魏王道:"一切我自己知道。"
      庞葱陪太子回国,魏王果然没有再召见也了。
      市是人口集中的地方,当然不会有老虎。说市上有虎,显然是造谣、欺骗,但许多人这样说了,如果不是从事物真相上看问题,也往往会信以为真的。
      这故事本来是讽刺魏惠王无知的,但后世人引伸这故事成为"三人成虎"这句成语,乃是借来比喻有时谣言可以掩盖真相的意思。例如:判断一件事情的真伪,必须经过细心考察和思考,不能道听途说。否则"三人成虎",有时会误把谣言当成真实的。





    Nếu lời nói dối hoặc tin đồn bị người ta truyền bá nhiều lần, thì nhân dân bình thường rất có thể coi những sự việc vốn không tồn tại hoặc không chân thật đó là tồn tại và có thật. Trong văn hóa Trung Quốc có một câu chuyện “Tam nhân thành hổ” chính là nói về việc như thế.

    Thời Chiến Quốc Trung Quốc thế kỷ 5 trước công nguyên, cùng lúc tồn tại nhiều nước nhỏ. Giữa các nước này thường xẩy ra chiến tranh bởi tranh chấp lãnh thổ, nên xã hội bấp bênh. Cũng chính vì vậy, nhà sử học đời sau mới gọi thời kỳ lịch sử này là “thời đại chiến quốc”.

    Lúc đó, nước Ngụy và nước Triệu lân cận ký hiệp ước hữu nghị. Để khiến hiệp ước có hiệu quả hơn, hai nước quyết định đổi con tin với nhau để bảo đảm. Cho nên, nhà vua nước Ngụy đưa con trai của mình đến thủ đô Hàn Đan nước Triệu làm con tin. Nhằm bảo đảm an toàn của con trai, nhà vua nước Ngụy quyết định cử đại thần Bàng Thông tiễn con trai mình đến nước Triệu.

    Bàng Thông là một đại thần rất có tài năng của nước Ngụy, trong triều đình có một số quan chức chống ông, cho nên ông lo có người sẽ thừa cơ hãm hại mình sau khi mình rời khỏi nhà vua nước Ngụy. Cho nên, trước khi khởi hành, ông nói với nhà vua nước Ngụy rằng: “Thưa bệ hạ, nếu một người nói trên phố có một con hổ, bệ hạ có tin không?”

    Nhà vua nước Ngụy trả lời: “Ta không tin. Con hổ đâu có thể chạy đến phố?”

    Bàng Thông tiếp tục hỏi: “Thưa bệ hạ, nếu có hai người đều nói với bệ hạ rằng, trên phố có một con hổ, thì bệ hạ có tin không?”

    Nhà vua nước Ngụy trả lời: “Nếu có hai người đều nói như vậy, thì ta nửa tin nửa ngờ.”

    Bàng Thông lại hỏi: “Thưa bệ hạ, nếu có ba người đều bảo bệ hạ, trên phố có một con hổ, thì bệ hạ có tin không?”

    Nhà vua nước Ngụy trả lời một cách do dự rằng: “Nếu mọi người đều nói như vậy, thì ta đành phải tin.”

    Nghe nhà vua nước Ngụy trả lời như trên, Bàng Thông ngày càng lo lắng. Bàng Thông thở dài một cái và nói: “Thưa bệ hạ, bệ hạ nghĩ, con hổ đâu có thể chạy đến phố, đây là sự việc ai ai cũng biết. Nhưng vì có ba người nói như thế, thì tin đồn trên phố có con hổ trở thành việc thật. Khoảng cách giữa Hàn Đan và kinh đô Đại Lương nước Ngụy chúng ta xa hơn nhiều so với khoảng cách giữa vương cung và phố sá, hơn nữa rất có thể không chỉ có 3 người nói xấu thần sau lưng thần.”

    Nhà vua nước Ngụy nghe hiểu ý của Bàng Thông, gật đầu nói: “Ý của nhà ngươi ta đã biết, nhà ngươi cứ yên tâm mà đi!”

    Bàng Thông đi cùng con trai của nhà vua nước Ngụy đến Hàn Đan.

    Bàng Thông rời khỏi chưa lâu, quả thật có nhiều người nói xấu Bàng Thông với nhà vua nước Ngụy. Ban đầu, nhà vua nước Ngụy luôn biện bạch cho Bàng Thông, nêu rõ ông là một đại thần có tài năng và trung thực. Điều không may là, khi đối thủ của Bàng Thông ba lần bẩy lượt nói xấu Bàng Thông với nhà vua nước Ngụy, nhà vua nước Ngụy đã tin lời nói của họ. Từ đó, sau khi Bàng Thông từ nước Triệu trở về nước Ngụy, nhà vua nước Ngụy luôn không cho phép Bàng Thông đến gặp mình.

    Hiện nay, thành ngữ “Tam nhân thành hổ” chỉ lưỡi mềm độc quá đuôi ong hoặc sức mạnh của dư luận.

    杯弓蛇影
    (bôi cung xà ảnh - sợ bóng sợ gió)



      晋朝人乐广曾经请朋友到家里喝酒。当那个朋友喝了一口酒,正准备把杯子放到桌上的时候,突然看见杯子里漂着一条小蛇,心里就有点不安,不过还是勉强喝了那杯酒。

      回家之后,那个朋友就生了病。乐广派人去问候他,才知道原因是他怀疑杯子里有小蛇。所以,乐广很仔细地观察他家一遍,追究事情的缘由。后来,他发现墙上挂了一把弓,弓的影子倒映在酒杯里看起来很像一条小蛇。

      后来,他再把朋友请到家里,让他朋友看清楚墙上的弓,再请他看看杯子里的东西。最后,他朋友终于明白杯子里并没有小蛇的时候,病立刻就好了。



    Thời Tấn, có một người tên là Nhạc Quảng mời bạn đến nhà uống rượu. Khi bạn nâng cốc rượu lên uống, bỗng nhiên nhìn thấy trong cốc có bóng một con rắn nhỏ và rồi vẫn cứ cố uống.

    Sau khi trở về nhà, người bạn này đã sợ đến nỗi sinh bệnh. Nhạc Quảng cho người dò hỏi, mới biết nguyên nhân do bạn nghi ngờ trong ly có rắn. Nhạc Quảng đã tỉ mỉ quan sát nhà mình để tìm ra nguyên do, hóa ra trên tường nhà treo một thanh cung, bóng cung chiếu vào ly trông như con rắn nhỏ.

    Sau đó lại mời bạn đến một lần nữa, hai người vẫn cứ ngồi ở chỗ cũ uống rượu. Bấy giờ người bạn mới rõ, bóng con rắn ở trong cốc vốn là cây cung treo trên tường phản chiếu xuống. Việc đã rõ, bệnh cũng khỏi theo.

    Thành ngữ này dùng để ngụ ý cứ nghi nghi hoặc hoặc cho là thần là quỷ thành ra tự gây rắc rối cho mình.


    成语故事 - Câu chuyện thành ngữ
    大公无私
    Chí công vô tư


    成语“大公无私”意思是为了公众的利益,不计较个人的得失。这是对一个人的宽阔胸襟的描述。这个成语来自春秋时期的故事。
      春秋时,晋平公有一次问祁黄羊说:“南阳县缺个县长,你看,应该派谁去当比较合适呢?”
      祁黄羊毫不迟疑地回答说:“叫解狐去,最合适了。他一定能够胜任的!”
      平公惊奇地又问他:“解狐不是你的仇人吗?你为什么还要推荐他呢!”
      祁黄羊回答道:“你只问我什么人能够胜任,谁最合适;你并没有问我解狐是不是我的仇人呀!”于是,平公就派解狐到南阳县去上任了。解狐到任后。替那里的人办了不少好事,大家都称颂他。
      过了一些日子,平公又问祁黄羊说:“现在朝廷里缺少一个法官。你看,谁能胜任这个职位呢?”
      祁黄羊说:“祁午能够胜任的。”
      平公又奇怪起来了,问道:“祁午不是你的儿子吗?你怎么推荐你的儿子,不怕别人讲闲话吗?”
      祁黄羊说:“你只问我谁可以胜任,所以我推荐了他;你并没问我祁午是不是我的儿子呀!”
      平公就派了祁午去做法官。祁午当上了法官,替人们办了许多好事,很受人们的欢迎与爱戴。
      孔子听到这两件事,十分称赞祁黄羊。
      孔子说:“祁黄羊说得太好了!他推荐人,完全是拿才能做标准,不因为他是自己的仇人,存心偏见,便不推荐他;也不因为他是自己的儿子,怕人议论,便不推荐。像黄祁羊这样的人,才够得上说“大公无私”啦!”
    中国还有句古话说“荐贤不避仇,举贤不避亲”,意思是在为国家推举贤才的时候,不考虑这个人跟自己的亲疏关系,只要对国家有好处就可以。在现实生活中,能做到这一点的人就可以被称为“大公无私”的人。



    Thành ngữ “Chí công vô tư” có nghĩa là làm việc vì lợi ích của mọi người mà không nghĩ việc được mất của bản thân. Câu này dùng để miêu tả cho người có lòng dạ rộng lượng và được bắt nguồn từ thời Xuân Thu.
    Thời Xuân Thu, Tấn Bình Công có lần hỏi Kỳ Hoàng Dương: “Ở Nam Dương đang thiếu một huyện lệnh. Ngươi xem, ai có thề đảm đương chức ấy?”
    Kỳ Hoàng Dương không chút do dự trả lời rằng: “Để Giải Hồ đi là hợp lý nhất ạ. Ông ấy nhất định đảm đương được việc này.”
    Bình Công kinh ngạc hỏi ông ta: “Giải Hồ chẳng phải là kẻ thù của ngươi sao? Sao còn tiến cử cho ông ta?”
    Kỳ Hoàng Dương thưa: "Chúa công chỉ hỏi ai có thể đảm đương được chân huyện lệnh Nam Dương, chứ có hỏi đến kẻ thù của hạ thần đâu".
    Tấn Bình Công bèn dùng Giải Hồ làm huyện lệnh Nam Dương. Sao khi nhận chức, Giải Hồ đã vì dân chúng địa phương làm nhiều việc tốt, được mọi người ca tụng.
    Ít lâu sau, Tấn Bình Công lại hỏi Kỳ Hoàng Dương: "Quốc gia đang khuyết chức Đô Úy, ai có thể đảm đương chức ấy?"
    Kỳ Hoàng Dương thưa rằng: "Kỳ Ngọ có thể đảm đương chức ấy."
    Tấn Bình Công lại hỏi: ""Kỳ Ngọ chẳng phải là con của ngươi đó sao? Tiến cử con trai của mình, ngươi không sợ lời ra tiếng vào à?"
    Kỳ Hoàng Dương thưa: "Chúa công chỉ hỏi ai đảm đương được chức Đô Úy, chứ có hỏi Kỳ Ngọ là con của hạ thần đâu."
    Tấn Bình Công lại dùng Kỳ Ngọ làm chân Đô Úy. Kỳ Ngọ sau khi nhận chức cũng đã vì dân chúng làm nhiều việc tốt và được mọi người kính trọng, tin yêu.
    Khổng Tử biết chuyện khen: "Kỳ Hoàng Dương nói rất phải, tiến cử nhân tài không thể vì người ấy là kẻ thù mà dìm đi, cũng chẳng vì người ấy là người thân mà tránh tiếng. Người như Kỳ Hoàng Dương thế mới thật là “Chí công vô tư” a."
    Người Trung Quốc còn có câu “Tiến hiền bất tị cừu, cử hiền bất tị thân” ý nói: Khi tiến cử nhân tài cho đất nước, chẳng nghĩ đến việc người đó với mình là có quan hệ gì, chỉ cần việc đó giúp ích được cho quốc gia. Cho đến ngày nay, những việc làm như thế mọi người vẫn gọi là “Chí công vô tư”.
     


     

     

    1.爱不释手 ai4bu2shi4shou3: yêu thích không muốn rời.

    【解释】释:放,放下。由于非常喜欢,拿在手里舍不得放下。形容十分喜爱。

    【同义】手不释卷 :shou3bu4shi4juan4
    【反义】弃若敝屣 qi4ru2bi4xi3: bỏ mặc không ngó ngàng tới。
    Miêu tả yêu thích 1 vật gì đó đến mức cầm trong tay không nỡ đặt xuống,không muốn rời.
    Notes:Cách dùng của
    "爱不释手"và"手不释卷"có khác biệt các bạn cần chú ý như sau:
    "爱不释手" thì phạm vi sử dụng rộng hơn có thể dùng cho tất cả các đồ vật cụ thể nhưng "手不释卷" thì chỉ dùng cho sách;"手不释卷" về ý nghĩa thường dùng chỉ sự say mê,cần mẫn không rời ra được còn "爱不释手" thì chỉ đơn thuần chỉ sự yêu thích.


    【情景1】日本留学生武田小姐与中国朋友李莲从书店里出来。
    【对话1】李莲:看样子你很喜欢鲁迅的作品,刚才你一拿起鲁迅的书就爱不释手
    武田:我是喜欢鲁迅的作品,可还读不懂多少。
    李莲:那本《日汉大词典》我也爱不释手,就是太贵了。
    武田:你先用我的吧。

    【情景2】苏东与伊朗留学生木三威在商店里走着。
    【对话2】苏东:木三威,那把让你爱不释手的扇子,你怎么没买?
    木三威:我不过看一看,什么叫爱不释手
    苏东:看一看,那么半天不放下就叫爱不释手
    木三威:那扇子太精美了,还有香味儿,我真的爱不释手

    2.安分守己 an1fen4shou3ji3:an phận thủ thường.

    【解释】老老实实守本分,没有违法行为。褒义。
    Luôn tuân thủ bổn phận,không có hành động trái pháp luật.Mang nghĩa tốt.

    【近义】循规蹈矩 xun2gui1dao3ju1
    【反义】惹是生非 re3shi4sheng1fei1

    Notes:Từ "分” ở đây không thể đọc là fen1,cũng không thể viết thành "份"。"
    安分守己" thiên về nghĩa luôn làm tròn bổn phận,không làm những hành vi phạm pháp còn "循规蹈矩" còn có nghĩa bảo thủ,khư khư nếp cũ.

    【情景】有人怀疑某外国公司卖了假货,公司员工何塞与中国雇员张轩谈论此事。
    【对话】何塞:我们老板一向安分守己,那些骗人害人的事他决不会干。
    张轩:他还常教育我们要安分守己呢。

    3.安家落户 an1jia1luo4hu4:an cư lạc nghiệp.
    【解释】在一个新地方定居。多指人,有时也可以指上品等物。
    Định cư ở một nơi mới,đa số dùng chỉ người nhưng cũng có khi có thể dùng để chỉ đồ vật.

    【近义】安居乐业 an1ju1le1ye4,安家乐业an1jia1le1ye4
    【反义】颠沛流离dian1pei4liu2li2

    【情景1】一批外国游客参观某山村,村长为客人介绍情况。
    游客:听说你们以前住的山沟交通很不方便,连用水都困难。
    村长:是呀,所以我们山沟里的百姓到这里来安家落户了。
    游客:到这里安家落户的有多少人?
    村长:有三十多户,一百多口人。
    游客:这里风景真美,我都想来安家落户了。
    村长:欢迎啊!

    【情景2】法国商务代表团参观一个酒厂。
    【对话2】尼古拉:你们的就已经在北京安家落户了。
    厂长:我们的就还要到欧美安家落户呢!
    尼古拉:好啊,就到法国安家落户吧。

    【情景3】越南农民代表团参观果园。
    【对话3】阮文雄:你们这里有不少南方水果啊!
    果农:是啊,北方人也很喜欢南方水果,越南的青龙果就很受欢迎。
    阮文雄:让我们的青龙果早日来安家落户吧。
    果农:那太好了,我们很希望。

    4.白头偕老 bai2tou2xie2lao3:bách niên giai lão.
    【解释】夫妇共同生活到老年。多用来祝愿新婚夫妇婚姻美满长久。
    Chỉ vợ chồng chung sống với nhau đến đầu bạc răng long.Thường dùng chúc cô dâu chú rể có được hạnh phúc dài lâu.

    【同义】白头到老,比翼双飞bi3yi4shuang1fei1
    【反义】中道而弃zhong1dao4er2qi4

    【情景1】中村夫人去参加中国朋友云峰、玉娟的婚礼。
    【对话1】中村夫人:这里送给你们的小小礼物,祝你们新婚快乐,白头偕老
    云峰、玉娟:谢谢。

    【情景2】在日本公司工作的中国员工戴先生与日本高田小姐结婚了。
    【对话2】高田小姐:你们中国人讲究从一而终,我也希望与你白头偕老
    戴先生:愿我们今生今世永不分离,白头偕老

    5.半途而
    ban4tu2er2fei4: bỏ cuộc nửa chừng.
    Bỏ cuộc,không tiếp tục nữa.Thường chỉ những việc làm không đến nơi đến chốn bỏ dở giữa chừng,không kiên trì đến cùng.Mang hàm nghĩa không tốt.

    【解释】停止,不再继续下去。中途停止。形容做事有始无终,不能坚持到底。贬义。

    【同义】浅尝辄止 qian1chang2zhe2zhi3
    【反义】待之以恒 dai4zhi1yi3heng2
    Notes:"
    半途而" và "浅尝辄止" đều mang ý nghĩa chưa làm đến nơi đến chốn đã bỏ cuộc nhưng cũng có khác biệt."半途而"từ "" chỉ công việc đã làm được khá nhiều,còn "浅尝辄止" có"" chỉ công việc mới ở giai đoạn bắt đầu.

    【情景1】留学生阿里因为家里突然有事要回国,来跟老师告别。
    【对话1】阿里:老师,我要回国了。
    老师:阿里,你的汉语学得不错,要继续学下去呀,不能半途而废
    阿里:我一定学好,不会半途而废的。

    【情景2】外国友人雷阳与中国朋友舒兵谈一次试验。
    【对话2】雷阳:我那次来,你正在搞一个什么试验,搞成功了吗?
    舒兵:搞了几次都没有成功,后来有的人被调走了,只好半途而废了。
    雷阳:半途而废了?太可惜了。

    6.半信半疑 ban4xin4ban4yi2: bán tín bán nghi


    【解释】:又相信有怀疑。即又信又不信。形容不敢确信的矛盾心情。
    Vừa tin tưởng vừa hoài nghi.Miêu tả tâm lí không dám tin tưởng hoàn toàn,nửa tin nửa ngờ.


    【近义】将信将疑 jiang4xin4jiang4xin4

    【反义】深信不疑 shen1xin4bu4yi2



    【情景1】伊老师告诉学生们,汉语系半汉语水平考试(HSK)辅导班,公费生可以免费参加,课后学生们议论纷纷。

    【对话1A:老师说我们这次参加辅导班不收费,我是半信半疑
    B:好多人对老师的话都半信半疑
    C:用不着半信半疑,老师还能骗咱们?


    【情景2】留学生端娜特卖了一盒中药,看完说明书,来找中国朋友曲光。
    【对话2】端娜特:曲光,这说明书说的能都是真的吗?
    曲光:你怎么对着说明书半信半疑?不是在药店买的吗?
    端娜特:说的太好了,我才半信半疑
    曲光:别半信半疑了,这药我吃过,就是好。


    7.杯盘狼藉 bei1pan2lang2ji2: Chén bát ngổn ngang,cơm rượu thừa mứa.


    【解释】狼藉:杂乱的样子。形容酒饭过后,就和盘子放得乱七八槽。贬义
    Miêu tả cảnh tượng bừa bộn sau khi ăn uống xong,chén bát vất lung tung mỗi cái 1 nơi.Mang nghĩa không tốt.


    【近义】 杂乱无章 za2luan4wu2zhang1



    【情景1】田中先生刚送走几位客人,夫人回来了,见桌子放着杯盘,问阿姨。
    【对话1】夫人:招待什么人了?弄得杯盘狼藉
    阿姨:没有别人,公司的几个领导。


    【情景2】刘老师在家里招待极为留学生吃完饭。
    【对话2】学生:刘老师,咱们唱卡拉OK 吧?
    刘老师:好,我把桌子收拾一下儿,这样杯盘狼藉太不雅了。
    学生:杯盘狼藉是我们弄的,我们来收拾。
    刘老师:我自己来,你们先唱吧。


    8.背信弃义 bei4xin4qi4yi4: lật lọng, bội tín bội nghĩa.
    【解释】违背诺言,不讲信用,不顾道义。贬义。常用来责备人。
    Miêu tả việc phản bội lời thề,không coi trọng chữ tín,đạo nghĩa.Thường dùng để trách móc 1 người.Mang hàm nghĩa không tốt.


    【近义】食言而肥 shi2yan2er2fei2,忘恩负义 wang4en1fu4yi4

    【反义】信而有信 xin4er2you3xin4


    Notes:"背信弃义" và "忘恩负义" đều mang ý nghĩa bội tín bội nghĩa tuy nhiên "背信弃义" nhấn mạnh việc không coi trọng chữ tín,không giữ lời hứa, còn "忘恩负义" thì có thêm ý nghĩa phản bội lại tình cảm,ơn nghĩa của người khác đối với mình."背" không thể đọc thành bei1.


    【情景1】中方商务代表 A 与外方代表 B 在为履行合同的事进行谈判。
    【对话1】A:你们为什么不履行合同,做出这种背信弃义的事?
    B:背信弃义?言中了。情况有变化嘛,谈不上背信弃义


    【情景2】某外国公司老板麦克与中国员工许永久谈论海域公司不履行合同的事情。
    【对话2】麦克:海域公司如此背信弃义,我们以后再不要跟他们合同了。
    许永久:真没想到他们会这样背信弃义,一点儿起码的信誉都不讲。


    9.本末倒置 ben3mo4dao4zhi4: đảo gốc thành ngọn, đảo lộn trật tự.
    【解释】本:根本,主要的。末:末稍,次要的。比喻颠倒主要和次要的关系。贬义。多用来批评,责备人。
    Miêu tả việc đảo lộn, nhầm lẫn giữa cái quan trọng và thứ yếu.Mang nghĩa không tốt.Thường dùng phê bình hoặc trách móc người khác.


    【近义】舍本逐末 she4ben3zhu2mo4

    【反义】正本清源 zheng4ben3qing1yuan2


    【情景1】中国朋友林祥批评外国朋友伊万经常不去上课,却找人练习口语。
    【对话1】林祥:伊万,你简直本末倒置,怎么不上课,光找人练口语。
    伊万:我想学一些地道的口语嘛!这怎么叫本末倒置
    林祥:你连课都不去上,基础打不好,就是本末倒置
    伊万:还有人不上课去打工呢。
    林祥:那更是本末倒置


    【情景2】大洋公司做出培训临时工的决定后,中国员工马文与外国员工海蒂私下议论。
    【对话2】海蒂:公司正式职工还没培训好呢,培训什么临时工,真是本末倒置
    马文:抓临时工的技术培训,是对的,不是本末倒置


    10.避重就轻 bi4zhong4jiu4qing1: chọn việc nhẹ tránh việc nặng
    【解释】躲避重的,拿轻的。比喻回避重要的,只抓次要的。贬义。多用来批评人不讲自己严重的错误。也指躲开要害的问题,只谈无关紧要的事。
    Miêu tả những người luôn chỉ tìm việc nhẹ né tránh việc nặng..Mang hàm nghĩa không tốt.Thường dùng để phê bình những người không dám thừa nhận những lỗi nghiêm trọng chỉ nhận những lỗi lặt vặt.Cũng dùng để nói những người luôn lảng tránh vấn đề chính chỉ nói chuyện vô thưởng vô phạt.


    【近义】拈轻怕重 nian1qing1pa4zhong4

    【反义】迎难而上 ying2nan2er2shang


    【情景1】经理杰克逊批评了做欺骗广告的雇员章南。
    【对话1】杰克逊:你夸大宣传的事怎么不说?净避重就轻
    章南:你不是有意避重就轻,我不知道该说哪些。
    【情景2】警察抓到一个私香烟的老外,让他交到问题。
    【对话2】警察:你必须把问题都说出来,不能避重就轻
    老外:我有什么说什么,决不避重就轻

    11.变化无常 bian4hua4wu2chang2: biến hóa vô thường.
    【解释】形容变化多而且快,让人摸不到规律。含贬义。可以说人的性情,也说天气等。
    Được dùng để miêu tả những thay đổi lớn và nhanh,khiến người khác không thể tìm ra quy luật.Chứa hàm nghĩa không tốt.Có thể dùng để nói tình tình của 1 người hoặc thời tiết...
    【近义】变化多端 bian4hua4duo1duan1
    【反义】原封不动 yuan2feng1bu4dong4
    Notes:“变化无常”、“变化多端” đều mang ý nghĩa như nhau nhưng
    “变化无常” thường dùng để nói sự thay đổi không có quy luật của tình cảm,thời tiết...còn “变化多端” thì những sự thay đổi hoàn thiện,biến hóa nhiều về phương thức,thường dùng với những sự vật cụ thể.

    【情景1】约翰跟跟女朋友蒂娜吹了,他跟中国朋友胡希谈论她。
    【对话1】约翰:蒂娜这个人
    变化无常,她说的话我总觉得靠不住。
    胡希:我觉得她是一个认真的人,你怎么会觉得她
    变化无常
    约翰:我比你了解她,她真是的
    变化无常啊。
    【情景2】丽莎跟中国朋友万方商量去香山游玩的事。
    【对话2】丽莎:万方,今天天气不错,下午骑车去香山玩玩儿吧。
    万方:最近天气总是
    变化无常,下午说不定会下雨呢。
    丽莎:啊?会这样
    变化无常
    万方:五六月的天气就是
    变化无常嘛。

    12.
    别具一格 bie2ju4yi1ge2: có phong cách riêng
    【解释】具有一种与众不同的风格、特色。褒义。秤赞的话。
    Mang một phong cách khác hẳn.Có hàm nghĩa tốt.Thường dùng khen ngợi.
    【近义】独树一帜 du2shu4yi2zhi4
    【反义】千篇一律 qian1pian1yi2lv4
    Notes:“
    别具一”、“独树一帜” đều mang ý nghĩa giống nhau nhưng 别具一” thường được dùng chỉ những ý tưởng nghệ thuật độc đáo hoặc những cách nhìn nhận mới lạ...còn 独 树一帜” thì chỉ việc thành lập 1 đội ngũ độc lập như:tìm ra những hướng đi mới hoặc tự thành lập lên 1 công ty riêng,phạm vi sử dụng rộng.Cũng có thể được dùng để chỉ những sáng tạo nghệ thuật hoặc đường lối chính trị độc đáo,mới lạ.

    【情景1】田川与中国朋友于波一起去酒店喝酒。
    【对话1】于波:这个酒店的布局
    别具一,服务台在中间。
    田川:是别具一,我在中国还第一次见过呢。
    【情景2】中国朋友小花陪韩国朋友朴春美去买家具。
    【对话2】朴春美:这种家具的设计很新颖,
    别具一
    小花:这种
    别具一的家具既方便实用、又美观大方。

    13.
    不计其数 bu2ji4qi2shu4: không sao đếm xuể
    【解释】计算不出它的数目。形容极多。多用在不好的方面,常说人,有时也说事物。
    Miêu tả số lượng nhiều đến mức không sao đếm được.Thường dùng để nói những mặt không tốt.Đa phần dùng để chỉ người nhưng cũng có lúc được dùng cho sự vật.
    【近义】不可胜数 bu4ke3sheng4shu4
    【反义】屈指可数 qu1zhi3ke3shu4
    Notes:“
    不计其数 ”、“不可胜数 đều mang ý nghĩa như nhau tuy nhiên 不计其数 ” thường dùng cho những đồ vật cụ thể có thể đếm được,còn 不可胜数
    ngoài như thế còn có thể dùng cho những đồ vật không thể đếm được đặc biệt là những thứ trừu tượng.

    【情景1】中国学生吕建在给外国同学石田讲社会上一些人性骗的事。
    【对话1】石田:真有人相信那些人吗?
    吕建:有,上当受骗的人
    不计其数
    【情景2】村长向来访记者保罗介绍地震情况。
    【对话2】保罗:请问,地震造成的伤亡情况怎么样?
    村长:由于地震发生在深夜,人们毫无防备,人畜死伤
    不计其数
    【情景3】克拉拉向中国朋友孟悦谈起了她的童年。
    【对话3】克拉拉:我小时候体弱多病,父母在我身上花的钱
    不计其数
    孟悦:现在你身体还真不错。

    13.
    不翼而飞 bu2yi4er2fei1: không cánh mà bay
    【解释】翼:翅膀。没有翅膀却能飞走。比喻消息、事件等迅度传播出去,或事物失踪。
    Dùng để chỉ tin tức hoặc sự kiện lan truyền với tốc độ nhanh hoặc 1 đồ vật bị thất lạc.
    【近义】不胫而走 bu2jing4er2zou3

    【情景1】M公司与N公司高技术合作的事还没定下来,外面已经传开了,经理毕克谈到了这件事。
    【对话1】毕克:我一再嘱咐大家要保密,消息为什么
    不翼而飞了?
    王先生:经理调查一下儿,是谁说出去的?
    【情景2】蒙古留学生道尔吉早上去上课,自行车不见了,她看见了中国朋友金灿。
    【对话2】道尔吉:金灿,看见我的自行车了吗?
    金灿:你的车不是也放在这儿了吗?
    道尔吉:是啊,怎么
    不翼而飞了?
    金灿:不会吧,怎么能
    不翼而飞呢!
    道尔吉:确实“飞”了!你用车带我吧!

    14.
    不务正业 bu2wu4zheng4ye4
    【解释】掉下本职工作不干,去干其他事情,或者不从事正当职业,搞些歪门邪道。贬义,常用来责备人。
    Dùng để chỉ việc không tập trung vào công việc chuyên môn chỉ lo đi làm những việc không liên quan,hoặc cũng có thể chỉ làm việc 1 cách không đường đường chính chính toàn làm những việc gian dối.Mang hàm nghĩa không tốt thường dùng khi khiển trách người khác.
    【近义】游手好闲 you2shou3hao3xian2
    【反义】克尽厥职 ke4jin4jue2zhi2

    【情景1】泰国学生黄元美与中国朋友兰花谈起了兰花的哥哥。
    【对话1】黄元美:你哥哥干什么工作?
    兰花:他本来是搞服装设计的,可是忽然迷上了传销,
    不务正业
    黄元美:你怎么说哥哥
    不务正业
    兰花:爸爸天天这样说他。
    【情景2】留学生汤米访问了业余家何一兵。
    汤米:何先生,外面很喜欢读你的小说。
    何一兵:谢谢。我是一名警察,利用业余时间写一点儿文章,有人说我
    不务正业。
    汤米:你用业余时间写作,怎么能说
    不务正业呢!
    何一兵:他们跟我开玩笑,我可不是那种
    不务正业的人。

    15.
    不辞而别 bu4ci2er2bie2: không từ mà biệt
    【解释】不打招呼就离开了。含贬义,常来用责备人。
    Không chào hỏi đã đi về.Mang nghĩa không tốt thường dùng để trách móc người khác.
    【近义】溜之大吉 liu1zhi1da4ji2
    【反义】依依惜别 yi1yi1xi1bie2

    【情景1】叠尼跟中国朋友崔红谈昨晚生日会的事。
    【对话1】叠尼:昨天晚会开到十点多的时候,戴维说去洗手间,就那么
    不辞而别了。
    崔红:他一定有事,没人惹她生气,他怎么会
    不辞而别
    【情景2】劳可兰约中国朋友李进一起去西兰朋友家做客。
    【对话2】劳可兰:咱们今天去做客,离开时候要跟主人打个招呼,不能
    不辞而别


     

    16.不欢而散bu4huan1er2san4
    【解释】很不愉快的分开了。多指因为发了争执,使聚会之类的活动很扫兴。分开的可以是两人,也可以是很多人。
    Ra về trong tâm trạng không vui vẻ,nguyên nhân thường do có tranh chấp,bất hòa khiến cuộc gặp mặt không vui,có thể chỉ mâu thuẫn của 2 hoặc nhiều người.
    【近义】一哄而散 yi1hong4er2sa
    【反义】欢聚一党 huan1ju4yi1dang3
    Notes:“不欢而散一哄而散” đều mang ý nghĩa chỉ sự bỏ đi nhưng “不欢而散” thì chỉ sự bất đồng về ý kiến hoặc cảm tình mà bỏ đi còn “一哄而散” thì nhấn mạnh việc bỏ về ngay tức khắc.

    【情景1】石川生清二跟中国朋友王军谈他给人介绍对象的事。
    【对话1】石川清二:我给远蓬介绍了一个女朋友,他们第一次约会就不欢而散了。
    王军:不欢而散?没吵起来吧?
    石川:没有,只是谈不到一块儿。
    【情景2】日本留学生铃木扣子跟中国朋友王珍但昨天晚会的情况。
    【对话2】王珍:扣子,昨天的晚会开得怎么样?
    扣子:别提了,有两个人喝酒多了,吵了起来,弄得大家不欢而散
    王珍:好好的晚会怎么不欢而散呢!

    17.不慌不忙bu4huang1bu4mang2: từ tốn không vội vã
    【解释】不慌张不慌乱。形容人从容、镇静。褒义。
    Miêu tả những người ung dung,từ tốn không vội vàng,hấp tấp.Mang nghĩa tốt.
    【近义】从容不迫 cong2rong2bu2po4
    【反义】手忙脚乱 shou3mang2jiao3luan4
    Notes:“不慌不忙从容不迫” có ý nghĩa tương đồng nhau.Nhưng ”不慌不忙“ thường dùng trong khẩu ngữ chỉ tâm trạng không hoang mang.Còn“从容不迫” thì chỉ trong những hoàn cảnh nguy hiểm cận kề cái chết vẫn bình tĩnh.

    【情景1】几位留学生谈论二年级上第一堂汉语课的情况。
    【对话1】阿都喜华:记得那天汉语课,老师让我们在黑板上写出自己的名字,你不不慌不忙地写了三个大字-具泰雄。
    具泰雄:那是19939月吧?那天大家都不慌不忙啊。
    阿都喜花:我不是不慌不忙,我是想快也快不了。
    【情景2】老师带留学生去参观工厂,学生都上了车,老师看见罗伯特从远处走来。
    【对话2】老师:要开车了,罗伯特,你怎么还不慌不忙的?
    罗伯特:来了,来了!

    18.不了了之 bu4liao3liao3zhi1
    【解释】了:完了,结果。问题并没有解决,却放在一边不去管它,就算没事了。多喊贬义,反映一种不负责任的态度。
    Dùng để chỉ việc chưa giải quyết xong việc đã vất sang 1 bên coi như xong,không thèm đoái hoài nữa.Mang nghĩa không tốt để phản ánh thái độ không có trách nhiệm với công việc.
    【近义】束之高阁 shu4zhi1gao1ge2

    【情景1】日本留学生河本跟老师说,他在某饭店因打抱不平打架被罚款了,并说他要求饭店做调查。
    【对话1】老师:事情调查得怎么样了?
    河本:我向饭店提出过几次要弄清楚责任,他们也不积极,我看就算不了了之了。
    老师:怎么能不了了之
    河本:人家说事情很复杂,调查起来非常麻烦,我看只能不了了之了。
    【情景2】外国留学生别佳问老师参观北京胡同的事。
    【对话2】别佳:老师,我们还去参观北京胡同吗?
    老师:系主任说过一次,又不了了之了,可能不去了。
    别佳:可别不了了之我们都希望去呢。

    19.不三不四 bu4san1bu2si4
    【解释】形容人不正经,不正派。贬义,说人不好。
    Dùng để chỉ những người không đứng đắn,không ra gì.Mang ý nghĩa không tốt.
    【近义】不伦不类 bu4lun2bu2lei4
    【反义】一本正经 yiben3zheng4jing1
    Notes:”不三不四不三不四“ đều có ý nghĩa giống nhau tuy nhiên ”不三不四“ thì ý nghĩa rất rộng có thể kết hợp cùng với sự vật cụ thể hoặc trừu tượng.Còn”不三不四“ thì ý nghĩa nặng hơn thường ám chỉ những người qua đường hoặc hành vi không giống ai.

    【情景1】中国学生王家兴提醒外国朋友啊普社拉与人交往要注意。
    【对话1】王家兴:啊普社拉,不要跟那些不三不四的人交往。
    啊普社拉:我交往的人没有不三不四的。
    王家兴:我看那个叫阿毛的就不三不四
    啊普社拉:看他好像不三不四的样子,其他人不错。
    【情景2】爱碧回来后埋怨中国朋友慧小丽骑车碰了人不道歉。
    【对话2】爱碧:你骑车碰了人,不道歉,说话还不三不四,这样不好!
    慧小丽:道什么歉?说话凶点儿,他就不敢欺负你,这是经验!

    20.不相上下 bu4xiang1shang4xia4: ngang tài ngang sức
    【解释】分不出高低好坏,不能确定谁胜谁负。多用来形容水平、程度差不多。
    Dùng để chỉ việc không phân cao thấp,không ai hơn ai .Dùng chỉ việc trình độ tương đương nhau.
    【近义】势均力敌 shi4jun1li4di2
    【反义】判若云泥 pan4ruo4yun2ni2
    Notes:”不相上下势均力敌“ đều mang ý nghĩa giống nhau nhưng ”势均力敌“ thường dùng để chỉ lực lượng tương đồng còn ”不相上下“ thì phạm vi sử dụng rộng hơn có thể dùng để chỉ không phân biệt được cao thấp,tốt xấu,to nhỏ...

    【情景1】越南留学生范氏花与张老师谈论期中考试成绩等问题。
    【对话1】范氏花:老师,我们班成绩比202班高不高?
    老师:两个班成绩不相上下
    范氏花:口语能比他们好一点儿?
    老师:我看也不相上下,说的都相当流利了。
    【情景2】看完世界杯女子足球赛传播以后,老师在路上遇见了美国学生莎曼。
    【对话2】老师:莎曼,你们美国女足队好厉害呀!
    莎曼:中美两国女子足球对的水平不相上下啊。
    老师:是不相上下,所以争夺特别激烈。
    不学无术 bu4xue2wu2shu4

    【解释】学:学习,学问。术:方法,本领。没有学问。没有本领。贬义。多用来批评、讽刺人无知识。
    Dùng để miêu tả những người không có học vấn,kém cỏi.Mang hàm nghĩa không tốt.Thường dùng phê bình hoặc châm chọc những người không có trình độ.
    【近义】才疏学浅
    【反义】学富五车
    Notes:”才疏学浅“ và ”不学无术“ đều mang ý nghĩa giống nhau nhưng ”不学无术“ thì thiên về không có bản lĩnh còn ”才疏学浅“ thì nhấn mạnh về năng lực kém.Mức độ của ”不学无术“ nặng hơn.



    【情景1】日本某公司要提拨一位科长,本田先生征求雇员淋漓的意见。
    【对话1】本田:林先生,您看谁合适?
    林立:当科长要业务好、人品好,不能不学无术
    本田:不学无术?那当然不行!我们公司没有不学无术的人。
    林立:都不是不学无术的人,就得看能力了。
    【情景2】留学生布拉维要去拜见杨教授,征求博士生戴维的意见。
    【对话2】布拉维:戴维,我看杨教授那么老了,一定很有学问吧?
    戴维:别看他那么老,他才不学无术呢!
    布拉维:是吗,我看他不像不学无术的样子。
    戴维:不学无术不是一眼就看得出来的呀。


    22.不约而同 bu2yue1er2tong2



    【解释】约:约定。事先没有商量,彼此的看法或行动却完全一致。
    Không hẹn mà gặp, không bàn bạc trước mà vẫn nhất trí.
    【情景1】同学们刚看了校园橱窗里优秀教师的照片,费依玛在路上遇见了罗老师。
    【对话1】费依玛:我们看家你的大照片,他家不约而同地说:“我们师 真棒!”

    罗老师:谢谢,我还差得远呢。
    【情景2】老师跟大家强调上课不要迟到,问格卓。
    【对话2】老师:格卓,早上起得来吗?
    格卓:老师问我,大家都不约而同地看我。以后我不再迟到了!


    23.层出不穷 ceng2chu1bu4qiong2



    【解释】层:重叠,重复,持续不断。穷:完了(liao3)。接连不断的出现,没完没了。
    Miêu tả sự xuất hiện liên tục tầng tầng lớp lớp.Mang hàm ý tốt thường dùng để chỉ người tốt việc tốt.
    【近义】层见叠出 ceng2jian4die2chu

    【反义】屈指可数 qu1zhi3ke3shu4


    【情景1】外国人参观了朝霞小区沉主任座谈。
    【对话1】外国人:沉主任,你们小区有什么特点?
    沉主任:我们开展了精神文明教育活动,小区里助人为乐的人和事层出不穷
    【情景2】汉语写作课上,老师布置学生写一件难忘的事。
    【对话2】老师:同学们,大家有没有事情可写呀?
    桑尼亚:社会上层出不穷的好人好事,我们也遇见过,有事情可写。


    24.车水马龙 che1shui3ma3long2 Ngựa xe như nước
    【解释】车子很多,一辆接一辆,像水流一样;马也很多,首尾相接,好像一条龙。形容路道上车子多,来往不断,十分热闹。
    Miêu tả xe cộ đi lại trên đường rất đông đúc nhộn nhịp.
    【近义】络绛不绝 luo4jiang4bu4jue2
    【反义】冷冷清清 leng3leng3qing1qing1


    【情景1】韩国留学生权秀趁从南方旅行回来,与老师谈起了某一城市。
    【对话1】老师:那个城市怎么样?
    权秀趁:小城不大,但很繁华,大街小港,车水马龙,十分热闹。

    老师:你喜欢城市的车水马龙
    权秀趁:是的,我喜欢车水马龙,他像征着繁华。
    【情景2】郎华约外国朋友苏珊娜进城玩玩儿,遭到了拒绝。
    【对话2】郎华:苏珊娜,咱们进城玩玩好吗?
    苏珊娜:我不去。
    郎华:你很少进城,为什么?
    苏珊娜:我从小就喜欢清静,不喜欢城市的热闹,不喜欢车水马龙


    25.称心如意 chen4xin1ru2yi4 vừa lòng đẹp ý
    【解释】称心:合乎心意。如意:令人满意。符合心愿,感到满意。
    【近义】心满意足 xin1man3yi4zu2
    【反义】事与愿违 shi4yu3yuan4wei2
    Notes:“称心如意” đa số dùng cho con người,sự vật cụ thể.“心满意足” thì lại dùng cho những sự vật trừu tượng hơn như ước mơ,hi vọng...


    【情景1】汉语系四年级留学生要去南方进行语言实践,老师谈了活动安排。
    【对话1】老师:不知这样安排能不能让大家称心如意?
    雷米:我觉得安排得还算适合,我感到称心如意了。
    老师:真正收获大才能称心如意
    【情景2】日本友好人土中川先生想在北京投资建一所大学,专门培养日语翻译。他看了房屋设计图纸。
    【对话2】设计师:这样设计,您觉得怎么样?
    中川:这房子无论是地段还是整体设计,都让我称心如意

    26.成千上万 cheng2qian1shang4wan4
    【解释】形容数量很多,达到千、万。说人、物都可以。
    Miêu tả số lượng rất nhiều lên đến hàng ngàn,hàng vạn.Có thể dùng cho cả người hoặc vật.
    【近义】千千万万 qian1qian1wan4wan
    【反义】寥寥无几 liao2liao2wu2ji3


    【情景1】课堂上,留学生学了课文《我的希望工程》后老师问问题。
    【对话1】老师:开展希望工程有什么意义?
    诺维拉:希望工程救了成千上万失学青少年,使他们重新回到了校园。
    【情景2】留学生们到了北京都想买自行车作为交通工具。他们常常谈论自行车。
    【对话2】小高:北京人太多,节日里,聚集在天安门广场的群众成千上万
    米拉:北京人是多,自行车更叫多。
    米格尔:北京真是自行车王国,街上的自行车成千上万


    27.诚心诚意 cheng2xin1cheng2yi4 thành tâm thành ý
    【解释】诚:真诚,真心。真心实意。形容十分真诚。多用来说激情、招待等。
    Miêu tả sự nhiệt tình thường dùng khi mời hoặc tiếp đãi khách.
    【近义】真心实意 zhen1xin1shi2yi4
    【反义】虚情假意 xu1qing2jia3yi4

    【情景1】日本留学生柳田激情王老师参加她的生日晚会。
    【对话1】柳田:王老师,请参加我的生日晚会好吗?我是诚心诚意地激情您。
    老师:谢谢,我知道你是诚心诚意的,我实在有事。
    【情景2】德国学生端娜特要回国了,她的中国朋友苗坤送她一件礼物。
    【对话2】苗坤:这点儿礼物带上吧,这是我的诚心诚意送给你父母的。
    端娜特:多谢了。
    苗坤:我诚心诚意欢迎你再来我的家做客。
    端娜特:我一定再来。我也诚心诚意希望你到我家做客。


    28.承前启后 cheng2qian2qi3hou4
    【解释】承:承接,继承。启:开,开创。继承过去了,开创未来的。多用与学问、事业等方面。
    Nối tiếp trước sau,truyền cho đời sau.Thường dùng chỉ học vấn,sự nghiệp...
    【近义】承上启下 cheng2shang4qi3xia4

    Notes:承前启后承上启下đều mang ý nghĩa như nhau nhưng 承前启后thường dùng cho sự nghiệp học vấn còn承上启下thì dùng trong văn chương.


    【情景1】留学生代莱萨和中国朋友江岩互帮互学,今天她要 预习课文。
    【对话1】代莱萨:江岩,课文里说:“年轻人起着承前启后的作用”,山么叫“承前启后”?
    江岩:这是成语,给你《成语词典》。
    【情景2】留学生古力吉利在听新闻听力课的录音,他时而向中国朋友王红请教。
    【对话2】录音:“这是一部成分的理论著作,是一部全新的学说,在社会发展的历史长河中承前启后。”
    古力吉利:王红,你听这最后一句话,什么“成起去后”?
    王红:是“承前启后”,我给你写出来,你看看《成语词典》。


    29.出类拔萃 chu1lei4ba2cui4
    【解释】出:招出,招过。拔:招出,高出。萃:聚集在一起的人或事物。褒义。形容才能品德高于一般人,十分出众。
    Miêu tả những người có tài năng phẩm chất cao hơn những người bình thường, xuất sắc siêu việt.Mang hàm nghĩa tốt.
    【近义】鹤立鸡群 he4li4ji1qun2
    超群绝伦 chao1qun2jue2lun2
    【反义】默默无闻 mo4mo4wu2wen2


    【情景1】优秀毕业生的成绩连同照片在校园橱窗里公布出来了。同学们议论纷纷。
    【对话1】霍尔赫:这十位毕业生真是出类拔萃,听说前三名可以免试读研究生呢。
    米格尔:这样出类拔萃的学生就是参加考试也准考得上。
    李老师:你们两个也是出类拔萃的,两年后我会在这里看见你们的照片。
    【情景2】某外国公司的中国雇员在谈论出国进修的事,被旁边的经理听到了。
    【对话2】于秀凌:听说公司要选派人到英国进修,不知会选上谁?
    经理:选谁?当然选出类拔萃的了!


    30.川流不息 chuan1liu2bu4xi1
    【解释】川:河流。息:停止。像河水那样不停地流。多形容人、车马、船只等来往不绝。
    Miêu tả người,ngựa xe,thuyền bè đi lại đông đúc như nước chảy không ngừng.
    【近义】络绎不绝 luo4yi4bujue2
    【反义】时断时续 shi2duan4shi2xu4


    【情景1】晚饭后,中国学生赵发与外国朋友谢尔盖站在窗前向马路上观望。
    【对话1】谢尔盖:我特别喜欢欣赏川流不息的车辆和人群。
    赵发:你那麽有情趣!我一看见川流不息的车啊,人啊,就觉得头晕!
    谢尔盖:我看见车辆人群川流不息觉得特热闹。
    【情景2】某地发现在地下热水,好多外国人前去考察,劳可兰先生刚刚考察回来。
    【对话2】中国朋友:劳可兰先生,路上车很多吗?
    劳可兰:车很多,从早到晚川流不息

    31.吹毛求疵 chuī máo qiú cī
    【解释】疵:毛病,缺点。把表皮的毛吹起来寻找毛病。比喻故意逃毛病,找错误。贬义。
    Vạch lá tìm sâu, bới lông tìm vết, cố ý tìm lỗi sai của người khác.Mang hàm nghĩa không tốt.
    【近义】求全责备:qiú quán zé bèi

    【反义】隐恶扬善:yǐn è yáng shàn


    【情景1】麦哈姆德在一个品店买牛奶,差点儿跟售货员吵起来。
    【对话1】售货员:生产日期怎么了?看不清楚?你简直
    吹毛求疵
    麦哈姆德:什么叫
    吹毛求疵?看不清楚还不能问吗?
    【情景2】汉语老师向留学生强调语音语调的重要性。
    【对话2】老师:我说有的同学语音语调有问题,有的同学还觉得我
    吹毛求疵。
    费依玛:老师就得
    吹毛求疵!老师要是马马虎虎,我们能学好吗?

    32.此起彼伏:cí qǐ bǐ fú

    【解释】此:这,这里。彼:那,那里。伏:低下去。这里起来,那里低下。形容一起一落,连续不断。
    Miêu tả hết đợt này đến đợt khác, liên tục không ngừng
    【近义】层见叠出:céng jiàn dié chū

    【反义】县花一现:xiàn huā yī xiàn

    【情景1】语言文化大学体育运动会开过之后,安娜见到了中国朋友宋云。
    【对话1】安娜:那天我没有看比赛,怎么样?
    宋云:那天热闹极了,看台上掌声、喊声
    此起彼伏
    【情景2】留学生们常常到田边散步,马特遇见了一个农民。
    【对话2】农民:你们在田边散步,麦田有什么好看的?
    马特:我就喜欢麦田
    此起彼伏的麦浪。

    33.从容不迫:
    cóng róng bù pò
    【解释】从容:沉着镇定,不慌不忙。迫:急迫。形容非常沉着,不紧张,不着急。
    Miêu tả việc cực kì bình tĩnh, không hốt hoảng, lo lắng.
    近义】不慌不忙:bù huāng bù máng

    慢条斯理:màn tiáo sī lǐ
    【反义】惊慌失措:jīng huāng shī cuò

    【情景1】口语考试结束了,田中同学跟老师谈这次考试。
    【对话1】田中:老师,我真紧张。
    老师:你选题时候那么
    从容不迫,看不出你紧张。
    田中:还
    从容不迫?我都急出汗了。
    【情景2】在赛扬外,小金遇见了外国朋友菲利浦。
    【对话2】小金:你去哪?
    菲利浦:去比赛呀,我是参赛选手。
    小金:看你那
    从容不迫的样子,我还以为你只是观众呢。

    34.粗心大意:cū xīn dà yì
    【解释】粗心:不细心。大意:疏忽,不注意。指做事不细心,不认真,马马虎虎。
    Miêu tả làm việc gì đó không cẩn thận, không chăm chú, qua loa đại khái.
    【近义】粗技大叶:cū jì dà yè

    【反义】一丝不苟:yīsībùgǒu

    【情景1】考试前老师嘱咐学生不要马虎。
    【对话1】老师:好好看看题,上次就有
    粗心大意,少做了一道题。
    学生:平常
    粗心大意,考试还粗心大意
    老师:
    粗心大意的人什么时候都粗心大意
    【情景2】罗丽陪高田洋子去打电话。
    【对话2】罗丽:你怎么老打不通?
    高田:是我
    粗心大意,记错了电话号码。

    35.大公无私:dà gōng wú sī
    【解释】一心为公,没有私心。褒义,称赞人的话。
    Miêu tả những người 1 lòng vì công, không tư vị.Chí công vô tư.Mang nghĩa tốt, thường dùng khi khen ngợi ai đó.
    【近义】公而忘私:gōng ér wàng sī

    铁面无私:tiěmiànwúsī
    【反义】假私济私:jiǎ sī jì sī

    【情景1】留学生到电机厂搞语言实践,见工人们都喜欢大张师傅。
    【对话1】留学生:你们怎么都喜欢大张师傅?
    王师傅:他
    大公无私,所以我们都喜欢他。
    【情景2】留学生在报刊阅读课上读了常有义的事迹后,一个个都很感动。
    【对话2】老师:罗德,你看懂了吗?
    罗德:我完全懂了,我很羡慕常有义
    大公无私的精神。

    Ý nghĩa : thế hệ trẻ vượt lên thế hệ trước, thế hệ sau giỏi giang hơn thế hệ trước.
    Tiếng Trung tương đương thì có những câu sau
    青出于蓝而胜于蓝
    qīng chū yú lán ér shēng yú lán
    后生可畏
    hòu shēng kě wèi
    并寒于水
    bìng hán yú shuǐ
    后来居上
    hòu lái jū shàng
    Quen tay hay việc



    Ý nghĩa: đã làm nhiều lần, có nhiều kinh nghiệm, trở nên thành thạo thì công việc sẽ làm rất tốt.
    Tiếng Trung tương đương câu sau:
    - “熟能生巧
    shú néng shēng qiǎo
    Giấy trắng mực đen

    Ý nghĩa: đã có bằng chứng cụ thể rõ ràng, bằng văn bản, không thể chối cãi được.
    Tiếng Trung có câu tương đương như sau :
    -白纸写黑子
    bái zhǐ xiě hēi zi
    "Quýt làm cam chịu" hoặc
    "chó đen ăn vụng, chó trắng phải đòn"
    Ý nghĩa :
    Cách so sánh để nói lên phạt sai đối tượng, người này làm sai hỏng, người kia phải gánh vác trách nhiệm.
    Tiếng Trung tương đương có những câu sau:
    - “白狗偷吃,黑狗遭殃
    bái gǒu tōu chīhēi gǒu zāo yāng
    - “黑狗偷时,白狗当灾
    hēi gǒu tōu shíbái gǒu dāng zāi
    Có tiền mua tiên cũng được
    Ý nghĩa:
    Tiền đóng vai trò quyết định, có tiền làm được mọi chuyện.
    Tiếng Trung có câu tương đương như sau:
    - “钱大买钱二炮
    qián dà mǎi qián èr pào
    -钱能沟通神
    qián néng gōu tōng shén
    Ý nghĩa:
    Tiền đóng vai trò quyết định, có tiền làm được mọi chuyện.

    Tiếng Trung có câu tương đương như sau:
    - “钱大买钱二炮
    qián dà mǎi qián èr pào
    -钱能沟通神
     
    qián néng gōu tōng shén 汉语成语应该是:钱可通神
    THANH NGU, TUC NGU