Đăng nhập

PHÂN LOẠI VIRUS

 
Virus Boot
Ngày nay hầu như không còn thấy virus Boot nào còn lây trên các máy tính của chúng ta. Lý do đơn giản là vì virus Boot có tốc độ lây lan rất chậm và không còn phù hợp với thời đại của Internet. Tuy nhiên virus Boot vẫn là một phần trong lịch sử virus máy tính.
Khi máy tính của bạn khởi động, một đoạn chương trình nhỏ trong ổ đĩa khởi động của bạn sẽ được thực thi. Đoạn chương trình này có nhiệm vụ nạp hệ điều hành (Windows, Linux hay Unix...). Sau khi nạp xong hệ điều hành bạn mới có thể bắt đầu sử dụng máy. Đoạn mã nói trên thường được để ở vùng trên cùng của ổ đĩa khởi động, và chúng được gọi là "Boot sector". Những virus lây vào Boot sector thì được gọi là virus Boot.
Virus File
Là những virus lây vào những file chương trình và phổ biến nhất là trên hệ điều hành Window như file .com, .exe, .bat, .pif, .sys...Khi bạn chạy một file chương trình đã bị nhiễm virus cũng là lúc virus được kích hoạt và tiếp tục tìm các file chương trình khác trong máy của bạn để lây vào. Có lẽ khi đọc phần tiếp theo bạn sẽ tự hỏi "virus Macro cũng lây vào file, tại sao lại không gọi là virus File?". Câu trả lời nằm ở lịch sử phát triển của virus máy tính. Như bạn đã biết qua phần trên, mãi tới năm 1995 virus macro mới xuất hiện và rõ ràng nguyên lý của chúng khác xa so với những virus trước đó (những virus File) nên mặc dù cũng lây vào các File, nhưng không thể gọi chúng là virus File.
Tuy nhiên bạn cũng không phải quá lo lắng về loại virus này vì thực tế các loại virus lây file ngày nay cũng hầu như không còn xuất hiện và lây lan rộng nữa. Khi máy tính của bạn bị nhiễm virus lây file, tốt nhất là bạn nên diệt virus trong chế độ Safe Mode của hệ điều hành vì ở chế độ này, hệ điều hành (Windows...) chỉ nạp những dịch vụ tối thiểu nhất nên có thể hạn chế được khả năng thường trú, lây lan của virus.
Virus Macro
Là loại virus lây vào những file văn bản (Microsoft Word) hay bảng tính (Microsoft Excel) và cả file trình diễn (Microsoft Power Point) trong bộ Microsoft Office. Macro là những đoạn mã giúp cho các file của Office tăng thêm một số tính năng, có thể định một số công việc sẵn có vào trong macro ấy, và mỗi lần gọi  macro là các phần cài sẵn lần lượt được thực hiện, giúp người sử dụng giảm bớt được công thao tác. Có thể hiểu nôm na việc dùng Macro giống như việc ta ghi lại các thao tác, để rồi sau đó cho tự động lặp lại các thao tác đó với chỉ một lệnh duy nhất.
Ngày nay trên thực tế thì các loại virus Macro cũng gần như đã "tuyệt chủng" và hầu như không ai còn sử dụng đến các macro nữa. Bkav có một tuỳ chọn là diệt "Tất cả các Macro" hay "All Macro", khi chọn tuỳ chọn này thì Bkav sẽ xoá tất cả các macro có trong máy mà không cần biết chúng có phải là virus hay không, điều này đồng nghĩa với việc tất cả các virus macro có trong máy cũng sẽ bị diệt theo. Nếu bạn không dùng đến macro hay cũng chẳng để ý nó là cái gì thì bạn nên dùng tuỳ chọn này, nó sẽ giúp bạn loại bỏ nỗi lo với những virus macro bất kể chúng vừa xuất hiện hay xuất hiện đã lâu. Còn trong trường hợp bạn có sử dụng macro cho công việc của mình thì không nên chọn tuỳ chọn này (khi không dùng tuỳ chọn này thì bkav chỉ diệt những macro đã được xác minh chính xác là virus)
Trojan Horse
Thuật ngữ này dựa vào một điển tích cổ, đó là cuộc chiến giữa người Hy Lạp và người thành Tơ-roa. Thành Tơ-roa là một thành trì kiên cố, quân Hy Lạp không sao có thể đột nhập vào được. Người ta đã nghĩ ra một kế, giả vờ giảng hoà, sau đó tặng thành Tơ-roa một con ngựa gỗ khổng lồ. Sau khi ngựa được đưa vào trong thành, đêm xuống những quân lính từ trong bụng ngựa xông ra và đánh chiếm thành từ bên trong.
Phương pháp trên cũng chính là cách mà các Trojan máy tính áp dụng. Khác với virus, Trojan là một đoạn mã chương trình HOÀN TOÀN KHÔNG CÓ TÍNH CHẤT LÂY LAN. Đầu tiên kẻ viết ra Trojan bằng cách nào đó lừa cho đối phương sử dụng chương trình của mình hoặc ghép trojan đi kèm với các virus Worm để xâm nhập, cài đặt lên máy nạn nhân. Đến thời điểm thuận lợi, Trojan sẽ ăn cắp thông tin quan trọng trên máy tính của nạn nhân như số thẻ tín dụng, mật khẩu....để gửi về cho chủ nhân của nó ở trên mạng hoặc có thể sẽ ra tay xoá dữ liệu nếu được lập trình trước.
Bên cạnh các Trojan ăn cắp thông tin truyền thống, một số khái niệm mới cũng được sử dụng để đặt tên cho các trojan mang tính chất riêng biệt như sau:
    *BackDoor: Loại trojan sau khi đã cài đặt vào máy nạn nhân sẽ tự mở ra một cổng dịch vụ cho phép kẻ tấn công (hacker) có thể kết nối từ xa tới máy nạn nhân, từ đó nó sẽ nhận lệnh và thực hiện lệnh mà kẻ tấn công đưa ra.
    *Phần mềm quảng cáo bất hợp pháp - Adware và phần mềm gián điệp - Spyware: Gây khó chịu cho người sử dụng khi chúng cố tình thay đổi trang web mặc định (home page), các trang tìm kiếm mặc định (search page)..hay liên tục tự động hiện ra (popup) các trang web quảng cáo khi bạn đang duyệt web. Chúng thường bí mật xâm nhập vào máy của bạn khi bạn vô tình “ghé thăm” những trang web có nội dung không lành mạnh, các trang web bẻ khóa phần mềm…hoặc đi theo các phần mềm miễn phí không đáng tin cậy, các phần mềm bẻ khóa (crack, keygen).
Sâu Internet - Worm
Sâu Internet -Worm là loại virus có sức lây lan rộng, nhanh và phổ biến nhất hiện nay. Worm kết hợp cả sức phá hoại của virus, sự bí mật của Trojan và hơn hết là sự lây lan đáng sợ mà những kẻ viết virus trang bị cho nó. Một kẻ phá hoại với vũ khí tối tân. Tiêu biểu như Mellisa hay Love Letter. Với sự lây lan đáng sợ chúng đã làm tê liệt hàng loạt các hệ thống máy chủ, làm ách tắc đường truyền.
Vào thời điểm ban đầu, Worm được dùng để chỉ những virus phát tán bằng cách tìm các địa chỉ trong sổ địa chỉ (Address book) của máy mà nó đang lây nhiễm, đó thường là địa chỉ của bạn bè, người thân, khách hàng... của chủ máy. Tiếp đến, nó tự gửi chính nó qua email cho những địa chỉ mà nó tìm thấy, tất nhiên với địa chỉ người gửi là chính bạn, chủ sở hữu của chiếc máy hay giả danh một người nào đó. Điều nguy hiểm là các email virus đều có nội dung hấp dẫn, hoặc được virus trích dẫn nội dung của 1 email trong hộp thư của nạn nhân để tạo ra phần nội dung của email giả mạo. Điều này giúp cho email giả mạo có vẻ “thật” hơn và người nhận dễ bị mắc lừa. Những việc này diễn ra mà bạn không hề hay biết. Với cách hoàn toàn tương tự trên những máy nạn nhân khác, Worm có thể nhanh chóng lây lan trên toàn cầu theo cấp số nhân. Điều đó lý giải tại sao chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ mà Mellisa và Love Letter lại có thể lây lan tới hàng chục triệu máy tính trên toàn cầu. Cái tên của nó Worm hay "Sâu Internet" cho ta hình dung ra việc những con virus máy tính "bò" từ máy tính này qua máy tính khác trên các "cành cây" Internet.
Với sự lây lan nhanh và rộng lớn như vậy, Worm thường được kẻ viết ra chúng cài thêm nhiều tính năng đặc biệt, chẳng hạn như chúng có thể định cùng một ngày giờ và đồng loạt từ các máy nạn nhân (hàng triệu máy) tấn công vào một địa chỉ nào đó. Ngoài ra, chúng còn có thể mang theo các BackDoor thả lên máy nạn nhân cho phép chủ nhân của chúng truy nhập vào máy của nạn nhân và có thể làm đủ mọi thứ như ngồi trên máy đó một cách bất hợp pháp.
Khái niệm Sâu Internet còn bao gồm các virus lây lan qua mạng chia sẻ ngang hàng peer to peer, các virus lây lan qua các dịch vụ chatting và đặc biệt là các virus khai thác các lỗ hổng phần mềm để lây lan. Các phần mềm (nhất là hệ điều hành và các dịch vụ trên đó) luôn chứa đựng những lỗi tiềm tàng (ví dụ: lỗi tràn bộ đệm…) mà không phải lúc nào cũng có thể dễ dàng phát hiện ra. Khi một lỗ hổng phần mềm được phát hiện, không lâu sau đó sẽ xuất hiện các virus có khả năng khai thác các lỗ hổng này để lây nhiễm lên các máy tính từ xa một cách âm thầm mà người chủ máy hoàn toàn không hay biết. Từ các máy này, Worm sẽ tiếp tục "bò" qua các máy tính khác trên mạng Internet với một cách thức tương tự.

Bình luận

 Bình luận
0 Bình luận