trang Blog

pmai2Tham gia: 15/05/2009
  • ý nghĩa các loài hoa
    Đời Sống
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    ý nghĩa các loài hoa


     
     
    * Hoa Bướm - Pansy
          Nhớ nhung

     
          Hoa Bướm còn được gọi là Tử La Lan, hoặc thông dụng hơn là hoa păng-xê, từ chữ "pensée" trong tiếng Pháp hay "pansy" trong tiếng Anh. Người ta thường gửi loài hoa này đến những người gần gũi và thân thiết nhất để nhắc nhớ đến nhau. Loài hoa này có những cánh phẳng xòe rộng, mượt mà như nhung, với nhiều màu sắc rực rỡ. Ngày nay, hoa Bướm thường được trồng trong vườn, xuất xứ từ loài păng-xê dại, mà thi hào Shakespeare của Anh từng gọi là "Tình yêu vu vơ". Người đời đã yêu mến đặt cho loài hoa này nhiều biệt danh khác nhau, mà nổi bật nhất có lẽ là Thanh thản (Heartsease), bởi vì người ta tin rằng nếu bạn luôn giữ bên mình những cánh hoa này thì bạn sẽ chắc chắn nhận được tình yêu của người bạn yêu .

    Ta gởi cho người vào dịp đầu năm
    Những đóa păng - xê
    Vàng rực như tia nắng, tím ngắt như trời đêm
    Những đoá hoa nhớ nhung ...
    Và hãy gửi trở lại ta một ý nghĩ của người


                                                   Sarah Doudney

    Cát cánh - Bluebell
           Thủy chung
      

                Cát cánh là một trong các loài hoa dại cứng cỏi nhất, chúng thường trở lại một cách thủy chung năm này qua năm khác, và chắc hẳn chúng mang ý nghĩa của sự bền bỉ là do khả năng tồn tại bền vững một khi đã được trồng trong khu vườn của chúng ta. Ở những nơi hoang dã, loài hoa này phủ những tấm thảm xanh ngát màu da trời lên những cánh rừng vào mỗi độ tháng Năm. Song, chúng sẵn sàng khước từ khi bị chiếm đọat: những đoá hoa hình quả chuông lay động sẽ nhanh chóng rủ xuống một khi bị hái.

              Cát cánh đôi khi bị lầm lẫn với hoa Harebell (Huệ dạ hương) hay Bluebell xứ Xcốtlen, là một loài hoa khác hẳn thuộc họ Campanula. Tên nhóm là Endymion lấy theo tên một chàng chăn cừu trẻ đẹp được nữ thần mặt trăng Selene đem lòng yêu thương. Đây là một thiên tình ca đầy thơ mộng trong thần thoại Hy Lạp.

               Selene yêu Endymion tha thiết. Endymion lại chẳng hề biết đến tình yêu ấy. Chàng chỉ ước mơ một điều là được trẻ đẹp mãi. Chấp nhận lời khẩn cầu của chàng, thần Zeus đã giáng xuống đôi mắt chàng một giấc ngủ triền miên. Selene được tin rất đỗi buồn rầu. Nàng cưỡi cổ xe song mã, cỗ xe có đôi ngựa trắng muốt như tuyết xuống trần gian. Nàng đến động Latmos huyền diệu, nơi Endymion đang chìm đắm trong giấc ngủ vĩnh hằng. Selene ôm lấy chàng, phủ lên người chàng những chiếc hôn nồng ấm. Nàng đưa tay vuốt ve người chàng, nằm xuống bên chàng, nghe tiếng tim chàng đập và say sưa uống từng hơi thở nồng nàng của chàng. Và cứ thế, hàng đêm, khi bóng tối đã bao phủ cả trái đất, Selene lại mặc chiếc áo dài trắng muốt, trên mũ cài một lưỡi liềm, lặng lẽ uy nghi đi ngang qua bầu trời. Nàng hiền hoà tỏa ánh sáng trắng bạc xuống đất. Khi đã đi khắp vòm trời, nàng lại lặng lẽ đến cái hang sâu vùng với Endymion. Nàng cúi xuống bên chàng, vuốt ve chàng, nỉ non những lời ân ái.

               Năm tháng cứ trôi đi, Endymion vẫn ngủ triền miên còn Selene vẫn giữ mãi mối tình thủy chung, thầm lặng mà tuyệt vọng ấy. Vì vậy, ánh sáng của nàng ban đêm chiếu xuống trần gian cũng đượm vẻ mơ màng, buồn bã. Hình như những mối tình thầm lặng và tuyệt vọng đều đẹp, đều êm ái, nhẹ nhàng và bàng bạc như ánh trăng nhưng đều nhiễm phải cái nỗi buồn man mác của nữ thần Selene.

    Hàng năm em trở lại
    Trên sân vườn xanh tươi
    Bao người qua hờ hững
    Em vẫn đời nhớ thương

     
                               John Keats, 1795-1821


    Cúc Dại - Daisy
            Ngây thơ
      
                     daisy                       Marguerite daisy

             Cúc dại là loài hoa nhỏ thường mọc hoang, có những cánh trắng ngần, từ giữa tỏa ra như hình nan hoa quanh một nhụy vàng tươi. Đây là loại hoa của trẻ em. Chúng thường thích hái Cúc dại để kết thành bó hay xâu thành chuỗi. Ở bên Anh, Cúc dại còn được gọi là Baby's pet hay Bairnwort có nghĩa là hoa trẻ em.

    Nếu một cô gái nhỏ nhắm mắt lại và hái một chùm Cúc dại rồi đếm thì số hoa trong chùng hoa đó sẽ là số năm còn lại trước khi lấy chồng. Các cô thiếu nữa thường đoán số mạng của mình bằng cách lần lượt bứt ra từng cánh của một bông Cúc dại đồng thời lập đi lập lại điệp khúc:

    - "Chàng yêu ta, chàng không yêu ta "....

    Daisy có nghĩa là day's eye hay con mắt của ban ngày: nó mở ra cùng với ánh sáng ban mai và rồi khép lại những cánh trắng khi mặt trời lặn xuống, như thể là nó đi ngủ.

    Xin làm loài Cúc dại - nếu là hoa
    Dịu dàng khép cánh mỗi chiều tà
    Và mỗi sớm mai bừng thức giấc
    Đón chào nắng ấm với sương sa.


                         I'd choose to be a daisy - Vô Danh


    Cúc Vạn Thọ - Marigold
                 U sầu
       

              Cúc vạn thọ luôn được liên hệ với cuộc hành trình của vầng thái dương ngang qua bầu trời mỗi ngày, từ 9 giờ sáng tới 3 giờ chiều. Những người dân Anh thời xưa tin rằng họ có thể chỉnh đồng hồ dựa theo thời khắc mà loài Cúc này mở hay khép lại những cánh hoa rực rỡ của nó. Cúc vạn thọ thuộc nhóm Calenduala - hoa nở quanh năm. Còn tên gọi Marigold có lẽ có nghĩa là Mary-gold, từ tên của Đức Mẹ Đồng Trinh.

               Cúc vạn thọ được trồng trong vườn, nở hoa tròn và lớn, có màu vàng hoặc màu cam. Người đời tin rằng hoa này tương trưng cho nỗi buồn bởi vì mỗi ngày hoa đều khóc than cho sự ra đi của mặt trời mà vào lúc đó những cánh hoa đành phải khép lại.

    Anh như tia nắng mặt trời
    Lòng em sưởi ấm chan hòa tình anh
    Hoàng hôn anh đã đi rồi
    C'anh hoa khép lại đau sầu riêng ai
     
                                 John Keats, 1798-1821


    Diên Vĩ - Iris
               Sứ điệp hạnh phúc
       

               Trong thần thoại Hy Lạp, Iris là tín sứ của thần Zeus và nàng thường xuất hiện trước muôn loài trên trái đất dưới hình một chiếc cầu vồng. Người đời nói rằng chiếc cầu vồng rực rỡ đó chính là đường bay của Iris trên đó nàng sải cánh đem theo sứ điệp của c'ac vị thần linh ngang qua bầu trời. Nàng còn phải lướt nhanh bởi vì đời mỗi đóa hoa thường ngắn ngủi. Và cầu vồng có bao nhiêu sắc màu khác nhau thì người đời có thể tìm thấy bấy nhiêu màu sắc nơi những đóa hoa diên vĩ.

               Diên vĩ là loài cây lưu niên có thân thảo vươn cao, có lá hình lưỡI kiếm và những đóa hoa to nhiều màu sắc quyến rũ với ba cánh và ba đài hoa rủ xuống. Loài hoa đầy sức thu hút này được rất nhiều người ngưỡng mộ, trong đó có các vị vua chúa nước Pháp đã dùng nó làm biểu tượng của Hoàng gia và gọi nó là Fleur-de-Lis (hoa Bích hợp). Shakespeare thường hay đề cập tới hoa Diên vĩ trong các vở kịch của ông dưới tên gọi là Flower-de-Luce

    Hãy nở nữa đi, loài hoa sang cả
    Để dòng sông quanh quẩn hôn chân người
    Hãy nở nữa đi, loài hoa khúc hát
    Cho chốn trần này thêm mãi đẹp tươi

     
                                             H.W. Long Fellow, 1809-1882


    Uất Kim Hương - Tulip

    Hoa tulíp

    :

    tỏ tình yêu, thắng lợi và đẹp đẽ, biểu tượng người yêu hoàn hảo.

    Hoa tulíp vàng

    :

    tỏ tình yêu nhưng không hi vọng.

    Hoa tulíp trắng

    :

    tỏ lòng yêu quý.

    Hoa tulíp đỏ

    :

    Tuyên ngôn của tình yêu, tỏ lòng yêu chưa được đáp lại.

    Hoa tulíp xanh

    Lốm đốm nhiều màu sắc

    :

    :

    tỏ lòng chân thành.

    Đôi mắt đẹp



              
                  Không có một loài hoa nào từng trải qua nhiều lần đổi thay trong sự hoan nghênh, hâm mộ của người đời như Uất kim hương. Trong nhiều năm trời loài hoa này bị bỏ mặc trong những công viên thị xã, những khu vườn của các nhà ga xe lửa, thế rồi giờ đây nó lại được ca tụng nồng nhiệt về sắc màu rực rỡ và những cánh hoa trông tựa như áo dài vũ hội của phụ nữ. Được chăm chú và quý chuộng như châu báu bởi người Thổ Nhĩ Kỳ, và cũng được đánh giá cao bởi người Ba Tư, tên Tulip của loài hoa này ph'at xuất từ chữ "tulipant" trong tiếng Ba Tư có nghĩa là cái khăn xếp, để diễn tả hình dáng của hoa. Uất Kim hương thâm nhập vào châu Âu từ thế kỷ XWI và được chào đón khắp nơi, song chỉ có ở Hà Lan loài hoa này mới được đưa vào kinh doanh trên quy mô lớn. Việc trồng, mua và bán hoa Tulip đôi lúc trở nên điên cuồng tới mức đe dọa cả nền kinh tế. Vài thập kỷ sau đó, hội chứng cuồng si Tulip đã ập đến nước Anh và Chính phủ buộc lòng phải thông qua một sắc luật giới hạn giá cả của một củ Uất Kim hương là 400 bảng Anh.

    Hoa vương ánh mắt đa tình
    Hồn dâng như gió ngàn cây bão bùng
    Mắt ai đằm thắm sao trời
    Cho tôi lặng lẽ bên đời quạnh hiu


                        Love's LaBours's Lost, William Shakespeare, 1564-1616


    Hoa Hồng - Rose
            
    Tình yêu

    Hoa hồng

    :

    tỏ lòng ái mộ, tỏ sự hạnh phúc vinh dự.

    Hoa hồng gai

    :

    tỏ lòng tốt.

    Hoa hồng đỏ

    :

    Một tình yêu mảnh liệt và đậm đà, tỏ sự hạnh phúc vinh dự.

    Hồng trắng

    :

    Tình yêu trong sáng và cao thượng.

    Hoa hồng BB

    :

    Tình yêu ban đầu.

    Hoa hồng bạch

    :

    Ngây thơ duyên dáng và dịu dàng.

    Hoa hồng nhung

    :

    Tình yêu say đắm và nồng nhiệt.

    Hoa hồng vàng

    :

    Một tình yêu kiêu sa và rực rỡ. Tình yêu sút giảm và sự phản bội tỏ ý cắt đứt quan hệ.

    Hoa hồng phớt

    :

    Bắt đầu một tình yêu mơ mộng.

    Hoa hồng đậm

    :

    Người đẹp kiêu kì.

    Hoa hồng thẩm

    :

    Tình yêu nồng cháy.

    Hoa hồng cam

    :

    Tình yêu hòa lẫn với ghen tuông.

    Hoa hồng viền trắng

    :

    Tình yêu kín đáo, sâu sắc, sẵn sàng hy sinh cho người mình yêu

    Hoa hồng phấn

    Hồng cải

    :

    :

    Sự trìu mến.

    Sứ giả của tình yêu

    Hoa hồng tỉ muội

    Hồng đại đóa

    :

    Khi được tặng, nếu là bạn trai thì cần hiểu rằng: Bạn là một đứa em ngoan.

    Mỹ nhân kiêu


       

                 Từ đầu thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, nhà thơ trũ tình Sappho trên đảo Lesbos thuộc Hy Lạp đã từng viết : Nếu như vị thần Jupiter - vị chúa tể của các vị thần - muốn tìm một nữ hoàng cho thế giới loài hoa thì hẳn Người sẽ chọn hoa hồng. Hoa hồng là đứa con xinh xắn nhất của buổi sáng đẫm sương, là viên ngọc quý trang điểm cho bộ ngực trái đất, là ánh sáng rực rỡ trên những thảm cỏ xanh và là hơi thở của tình yêu...

                 Cánh Hồng có những cuống lá đầy gai rất đặc trưng, với những lá kép mọc xen kẽ đối nhau, nở ra những đóa hoa nhiều màu sắc, có nhiều nhị hoa và thường tỏa hương thơm. Từ xa xưa, hoa Hồng đã được coi là trượng trưng cho tình yêu. Song, mỗi loại Hồng khác nhau lại mang những ý nghĩa riêng: Hồng trắng là sự trong sạch và tình yêu tinh thần; Hồng vàng là tình yêu phai nhạt và sự không chung thủy; Hồng đỏ là biểu tượng muôn đời của tình yêu đam mê; Hồng Pháp (Rose la France) là tình yêu lãng mạng phóng đãng, Hồng Cabbage (xuất xứ từ Caucasus và là loại hoa Hồng phổ biến khắp nơi hiện nay) là sứ thần của tình yêu; và Hồng đơn (chỉ có một lớp cánh hoa) tượng trưng cho sự giản dị.

    Nụ hồng chớm nở rạng đông
    Hồn linh khẽ động vườn xanh ánh ngời
    Mỹ nhân muôn vạn hoa trời
    Em là sứ giả muôn đời anh yêu


                          Sappho of Lesbos, E. 600 BC


    Hướng Dương - Sunflower
               Kiêu Kỳ
           
                Hướng dương hẳn luôn cảm thấy có quyền kiêu căng. vì lẽ nó là loại hoa cao lớn trồng trong vườn. Hơn nữa, kích thước của Hướng dương không phải là vốn quý duy nhất của nó, mà mọi bộ phận của loại cây này đều hữu dụng theo cách này hay cách khác: hạt Hướng dương để ăn và ép dầu ăn, lá và thân dùng làm thực phẩm gia súc và dệt thành vải, đôi khi còn dùng thay thuốc lá.

               Đóa hoa to lớn có những cánh vàng bao quanh một dĩa tròn màu vàng sẫm, nâu hay tím này thuộc về một nhóm có tên khoa học là Helianthus, do hai chữ Hy Lạp gh'ep lại "helios" nghĩa là mặt trời và "anthos" là hoa. Người Incas ở Peru và sau đó là người da đỏ ở Bắc Mỹ từng tôn thờ loài hoa này như một biểu tượng của mặt trời. Có một truyền thuyết cổ xưa kể rằng một nữ thần dưới nước tên là Clytie đã chết vì trái tim tan vỡ khi bị thần mặt trời Apollo bội phản và nàng hóa thân thành hoa Hướng dương.

              Hướng dương còn có nhiều tên gọi khác ở các nước, song hay nhất có lẽ là "girasole" ở Ý, ghép bởi hai chữ "girare" là quay và "sol" là mặt trời. Đóa hoa này thực sự quay theo hướng mặt trời trong chuyến hành trình mỗi ngày từ Đông sang Tây.

    Hoa đài các qui triều bao ánh sáng
    Như trái tim thương nhớ hướng về em
    Hoa vẫn thế kiêu kỳ không thay đổi
    Vãn ngàn năm soi bóng ánh mặt trời


                                   Thomas Moore, 1779-1852


    Kim Ngân - Honeysuckle
             Sự ngọt ngào thiên phú
      

                  Chỉ cần hút hử một chút mật từ nhị của một đóa Kim Ngân, bạn sẽ hiểu vì sao loài hoa này mang ý nghĩa sự ngọt ngào thiên phú, và vì sao trong tiếng Anh nó được gọi là Honeysuckle (honey: mật, và suckle: cho bú). Hương thơm dịu dàng, ngọt ngào của loài hoa này vẫn làm say đắm các nhà thơ và Shakespeare thường nhắc đến Kim ngân, gọi nó bằng cái tên mộc mạc của đồng quê nước Anh "woodbine". Là một loại cây leo nở rộ những đóa hoa nhỏ màu vàng hoặc hồng, cuống thân mộc của hoa luôn quấn lấy mọi thứ bắt gặp và leo lên theo chiều kim đồng hồ. Trong thảo dược học, nó có tên là Caprifolim, hoa leo nhanh nhẹn như một con dê. Người Pháp gọi kim Ngân (Chevre-feuille) là hoài hoa của lứa đôi, tượng trưng cho tình yêu không bao giờ chia lìa.

                 Thường mọc ở những nơi hoang dã, Kim ngân - hay có người con gọi là hoa Ngẫn Đồng - biến những nơi đó thành một cảnh trí tuyệt vời đầy hoa tỏa ngát một mùi hương gợi cảm.

    Trên đồi thôn nữ hát ca
    Dịu dàng trong gió ôn nhu tiếng cười
    Em tôi trinh nữ xuân thì
    Trên đầu một đóa xanh ngọt ngào


                               Robert Herrick, 1591-1674


    Hoa Lan Chuông - Lily of the Valley
               Hạnh phúc tìm lại -tình yêu thanh khiết, ngây thơ
              

                Không có gì lạ khi hoa Lan chuông được coi như tượng trưng của hạnh phúc tìm lại, vì đây là loài hoa ngọt ngào dễ thương nhất. Người đời nói rằng những đóa hoa trắng xinh xắn hình chuông này với mùi thơm thanh khiết đặc biệt không thể lẫn lộn - đã lôi cuốn những con họa mi ra khỏi tổ và dẫn chúng đi gặp người bạn tình của mình.

                Hoa Lan chuông nở ra trên một loài cây lưu niên thân thảo thường mọc trong bóng mát, mỗi cây chỉ có một cặp nhánh mà mỗi nhánh mang những chiếc lá hình thuôn cùng với một chùm hoa nở rộ, tỏa hương rất thơm. Có người còn gọi là hoa Linh lan, hay hoa Huệ củ thung lũng. Ở phương Tây, hoa Lan chuông còn có tên là May Lily và Our Lady's Tears vì người đời tin rằng chúng mọc lên từ những giọt nước mắt của Đức Mẹ dưới chân Thánh Giá. Loài hoa này thường được các linh mục cho trồng để trang trí bệ thờ và còn được gọi là Ladder to Heaven (thang dẫn lên thiên đường) bởi vì những bông hoa nhỏ bé hình chuông này mọc lên đều đặn từ cuống, giống như những bậc thang.


    Hồn tôi đau đớn muộn phiền
    Giác quan tê cóng nỗi bàng hoàng xưa
    Hay là độc dược cần sa
    Đưa hồn xa cõi lãng quên tuyệt mù
    Nhẹ nhàng tung cánh phiêu du
    Trong niềm diễm phúc ngọt ngào tình ta
    Xanh rờn thảm cỏ bóng cây
    Mùa hè vang tiếng bài ca dâng đời


                              Ode To A Nightingale, John Keats, 1795-1821


    Lan Dạ Hương - Hyacinth
               Nỗi buồn
           

                 Trong huyền thoại Hy LL.ap có một chàng tuổi trẻ đdd.ep tai tên gọi Hyacinthus, ở xứ Sparta. Chàng là bb.an thân của Apollo, vị thần mặt trời vẫn thường ngự trên chiếc chiến xa song mã bay từ trên trời xuống trái đất để chơi đùa với Hyacinthus. Một ngày nọ hai người rủ nhau thi ném dĩa xem ai là người ném xa nhất. Bấy giờ có thần gió Zephyrus đứng coi. Thần gió vốn sãn ghen tuông với thần Apollo, vì ông ta mến thích Hyacinthus và đang tìm dịp trả hận. Khi tới lượt Apollo ném cái dĩa tròn và nặng, Zephyrus bèn thổi một ngọn gió Tây làm cho cái dĩa chuyển hướng đánh trúng vào đầu Hyachinthus một cú chí tử. Apollo tràn ngập nỗi buồn nên đã khiến những đóa Lan dạ hương mọc lên từ vũng máu của bạn mình. Bằng cách đó, Apollo giữ cho kỷ niệm về người bạn thân thiết sẽ còn sống mãI.

                 Cây Lan dạ hương mọc từ củ, có những chiéc lá xẻ rãnh và hoa mọc thành chùm màu trắng, vàng, đỏ, xanh da trời, hay đỏ tía.

    Em mệch bạc ngàn thu sầu vĩnh biệt
    Cõi vô thường chẳng thấy bóng em yêu
    Ta đi mãi trong cuộc đời vô tận
    Hồn nhớ thương hoa tím ngủ trên mồ


                                        JOHN MILTON, 1608-1674


    Lâu Đẩu - Columbine
              Khờ dại
      

                 Thi hào Shakespeare vốn rất am tường về ngôn ngữ loài hoa, và trong tác phẩm Hamlet bất hủ, ông đã để cho nàng Ophelia điên rồn khốn khổ ôm những cánh hoa Lâu đẩu trong vòng tay. Những cánh Lâu đẩu hoàn toàn thi'ch hợp để kết thành bó hoa cho một người tình bị bỏ rơi. Riêng những đó màu đỏ lại tượng trưng cho sự lo âu và những đóa màu trắng, sự quả quyết.

                Ở vùng thôn quê nước Anh, hoa Lâu đẩu có tên là Granny's Bonnet (mũ trùm đầu của bà), và trên khoa học của nhóm hoa này là Aquilegia, chữ Latinh để chỉ chim ưng, bởi vì đài hoa có hình dáng giống như móng vuốt của loài mãNh cầm. Hoa Lâu đẩu còn gợi cho một số người hình ảnh một đàn chim bồ câu, vì tên Columbine xuất xứ từ chữ La Tinh "columba", nghĩa là bồ câu. Cũng do sự liên tưởng này mà hoa Lâu đẩu đã trở thành biểu tượng của Thánh thần và đã thường xuyên xuất hiện trong các họa phẩm tôn giáo của các danh họa bậc thầy phương Tây.

               Lâu đẩu là loại cây trong vườn nở ra những đóa hoa xinh xắn đa sắc, có cánh mỏng, nhọn.

    Ta đã đến trong hình hài đơn giản
    Hồn nát tan môi vẫn nở tiếng cười
    Ta không khóc, ta không còn đâu khổ
    Trái tim non ai lấy mất đi rồi


                       HAMLET, WILLIAM SHAKESPEARE, 1564-1616


    Loa Kèn - Lily
              Trong Trắng
         
               Hoa Loa kèn - còn được gọi là hoa Rum, Arum, hoa Huệ tây, Huệ trắng, hay Bách hợp - được coi là biểu tượng của sự trong sạch và là một trong các loài hoa xưa nhất thế giới. Ngày nay ta còn tìm thấy những đóa Loa kèn được vẽ trên tường những tòa lâu đài cổ Hy Lạp, nơi mà Loa Kèn là loại hoa của chính nàng Hera, vợ của thần Zeus (và cũng là nữ thần của phụ nữ và hôn nhân).

               Hoa Loa kèn được dâng tặng Đức Mẹ Đồng Trinh để tỏ lòng kính trọng đối với sự trong sạch của Người, có lẽ đó là lý do vì sao các cô dâu thích có những cành Loa kèn trong bó hoa ngày cưới, và vì sao hoa này có mặt trong nhiều buổi lễ hội tôn giáo. Còn theo thuyền thuyết thì đóa hoa Loa kèn đều tiên đã mọc lên từ những giọt nước mắt của nàng Eva khi nàng bước chân rời khỏi Vườn địa đàng.

    Và trong ánh bạc sáng lung linh
    Những đóa Loa kèn trang nghiêm đứng đó
    Như những nữ tu trinh bạch, ngọc ngà
    Trong bài kinh cầu nguyện
    Nhả ra nhữNg làn hơi thanh khiết
    Khiến không trung trở nên thánh thiện
    Và hương hoa tràn ngập màn đêm, thơm ngát.


                                                        VÔ DANH


    Lưu Ly - Forget-me -not
            Tình yêu chân thành
       

                Hoa Lưu ly thường được gắn với những hoài niệm yêu đương và tình yêu chân thành. Ngày xưa có một hiệp sĩ mặc áo giáp sánh bước cùng người yêu dọc theo một dòng sông. Người đẹp trông thấy mấy cánh hoa đẹp mọc ở ven bờ, chỗ mí nước, và yêu cầu chàng hái dùm cho nàng. Trong lúc cố vươn tay với lấy các cánh hoa, chàng kỵ sĩ trượt ngã xuống dòng sông đang chảy xiết. Do áo giáp nặng nề, chàng không thể bơi được và bị nước cuốn trôi đi mất. Song trước đó, chàng đã kịp ném những cành hoa cho nàng và kêu lên: Xin đừng quên tôi (forget-me-not). Người thiếu nữ chẳng bao giờ quên chàng và đã đăt tên cho loài hoa nọ là Forget-me-not để tưởng nhớ tới chàng. Người Pháp lại gọi loài hoa này là Myosotis như biểu tượng của nỗi cô đơn.

               Hoa Lưu ly có tên khoa học là Myosotis Scorpioides từ ý tưởng cho rằng những chiếc lá của loài hoa này trông tương tự như những cái tai nhỏ nhắn của loài chuột; và toàn bộ cây thuộc họ này được gọi chung là Scorpion Grass (cỏ bò cạp) bởi vì các cụm hoa đều uốn cong lên giống như đuôi con bò cạp.

    Gương nga xõa lộng yêu kiều
    Em tôi dãi lụa trên vòng khung thêu
    Tên em một đóa rêu hồng
    Lưu ly thảo mọc trên dòng cuồng lưu
    Tên em một chốn lưu đày


                  THE KEEP SAKE, SAMUEL TAYLOR COLERIDGE


    Ngọc Trâm - Primrose
              Thanh xuân
       
                Ngọc trâm - hay còn gọi là Anh thảo, hoa Báo xuân - là loài hoa dại, mọc nhiều ở các vùng ôn đới, có một đài hoa hình ống và năm cánh hoa mùa vàng lợt

               Ít có loài hoa nào được chờ đón nồng nhiệt như hoa Ngọc trâm, bởi vì nó là một trong những dấu hiệu đầu tiên báo tin mùa Xuân đã về. Trong tiếng Anh, hoa này được gọi là Primrose nghĩa là "hoa hồng đầu tiên", mặc dù ngày nay không còn ai coi nó là một trong số các loại hoa Hồng. Ở một số nơi thuộc miền Tây nước Anh, loài hoa này còn được gọi một cách mộc mạc là Butter-rose, do hoa có màu vàng lợt rất giống với loại bơ được làm trong các trang trại ở đó.

               Dưới triều đại Nữ hoàng Victoria, hoa Ngọc trâm trở thành một loại hoa thời thượng và được Thủ tướng Disreali yêu thi'ch nhất. Nữ hoàng Anh thường gửi ông những bó Ngọc trâm hái từ khu vườn Hoàng gia, và khi ông mất, Nữ hoàng đã gửi đến một vòng hoa lớn kết bằng những đóa Ngọc trâm để bày tỏ mối thiện cảm và sự kính trọng.

                Với tâm hồn thi sĩ, Shakespeare đã nhìn những đóa Ngọc trâm bằng cái nhìn ảm đạm - khi trong một bài thơ - ông so sánh loài hoa này với những nàng thiếu nữ chết ở tuổi thanh xuân khi chưa kịp kết hôn, chưa kịp nhìn thấy vầng ánh dương vào lúc rạng rỡ nhất.

    Yêu em bạn ngọc bên đời
    Hồng xuân xin tặng tim bồi hồi đau
    Hoa trinh một nụ tươi cười
    Tuổi thơ xanh ngát một đời nhớ thương


                           THE WINTER'S TALE, WIILLIAM SHAKESPEARE, 1564-1616


    Hoa Nhài - Jasmine 
    Nhài vàng - Duyên dáng và tao nhã

    yellow jasmine
    Nhài trắng Nhài Tây Ban Nha - đam mê khoái cảm

    Nhài là loại cây mọc thành bụi có hoa thơm màu trắng, vàng, hoặc đỏ, được dùng để chế biến nước hoa hay để ướp trà. Nó thuộc loại cây vùng nhiệt đới hay cận nhiệt đới.

               Trong tiếng Anh, hoa Nhài được gọi là Jasmine, xuất xứ tư các chữ Ả Rập: "jas" nghĩa là tuyệt vọng và "min" là lời nói dối. Đây là loài hoa nổi tiếng nhờ hương thơm nồng nàn kỳ lạ, đặc biệt tỏa hương ngào nhạt về đêm. Người Hindu đã gán cho loài hoa này một tên gọi mỹ miều: Ánh trăng của khu rừng nhỏ

    Nàng Sara u sầu của ta !
    Gò má nàng dịu dàng nghiêng xuống
    vậy là nỗi ngọt ngào êm ái nhất hạ trên cánh tay ta
    Ngồi bên túp lều tranh, túp lều tranh mọc đầy
    Những đóa Nhài trắng và những đóa hải đào trắng bừng nở
    Để cùng gặp những biểu tượng của
    Tình yêu trong trắng.


                 THE AEOLIAS HARP,1796, SAMUEL TAYLOR COLERIDGE, 1772-1834

    Phong Lan - Orchid
               Mỹ nhân
      

               Cho tới nay, nhiều người trong chúng ta vẫn coi Phong Lan là những đóa hoa kỳ lạ, đến từ những vùng rừng núi xa xăm. Song thực ra Phong lan đang được trồng rất nhiều ở những nhà kính, vườn cây, hay mái hiên nhà. Có cả những cành phong lan mọc hoang trên những cánh đồng xanh hay những hàng cây trong thành phố. Tất cả mọi loài lan đều có những đốm nhiều màu sắc, và đây là nét đẹp đặc trưng rất riêng của loài hoa tuyệt đẹp này. Truyền thuyết dân gian kể rằng đã có những đóa phong lan mọc lên dưới chân Thánh Giá khi Chúa Giêsu bị đóng đinh trên cây thập tự. Máu ủa Người nhỏ xuống những cánh hoa và chúng mãi mãi mang trên mình những dấu vết từ đó. Người Pháp gọi Phong lan là biểu tượng cho những cảm xúc thầm lặng, những dấu hiệu đầu tiên về một tình yêu nồng cháy.

                Phong lan mọc trên đất hoặc trên các cây khác, nhưng chúng không phải thuộc loại ký sinh, vì chúng tự sản xuất thức ăn bằng sự quang hợp. Ngoài các vết đốm, phong lan còn được đặc tả với những cụm phấn hoa giống như sáp, những hạt nhỏ và từng cặp hoa mọc đối xứng. Mỗi đóa hoa thường có ba cánh, trong đó có một cánh hình lưỡi với rất nhiều dáng vẻ khác biệt. Loài hoa này luôn luôn làm người ta ngạc nhiên trước sự phong phú về các hình dáng khác lạ và màu sắc rực rỡ của chúng. Đây là loài hoa độc đáo, rất được ngưỡng mộ, và đôi khi có giá rất cao.

    Tiên nga kiều mị tuyệt vời
    Tóc em bay xõa trong chiều hoàng hôn
    Nhẹ nah`ng bóng dáng thướt tha
    Mắt em hoang dại một màu tịch liêu


                     LA BELLE DAME SANS MERCI, JOHN KEATS, 1795-1821


     Phong Lữ - Geranium
            Phong lữ màu sẫm - u sầu
            Phong lữ lá sồi - Tình bạn chân thành
            Phong lữ đỏ hoặc hồng - Ưu ái
            Phong lữ đỏ tươi - An ủi, vỗ về

       

                 Phong lữ - hay có người còn gọi là Phong lữ thảo, Thiên trúc quỳ - là loại hoa được trồng trong vườn, có những bông hoa màu sắc khác nhau và đầy lôi cuốn, có lá hình thùy. Trong tiếng Anh, nó được gọi dưới tên Geranium do xuất xứ từ chữ Hy Lạp "geranos" nghĩa là con sếu, vì trái của loại cây này trông tương tự như mỏ con chim sếu, và do vậy nó còn có biệt danh là Cranesbill (mỏ sếu). Có truyền thuyết cho rằng sỡ dĩ Phong lữ chủ yếu có màu đỏ hoặc hồng, đó là vì Mohanmmed (đấng tiên tri Ả rập, người sáng lập đạo Hồi) có một lần phơi áo trên một luống hoa Cẩm quỳ. Những bông hoa liền đỏ bừng lên vì hãnh diện và không bao giờ mất đi sắc đỏ đó. Ở vùng Địa Trung Hải, loài hoa này mọc trên những bức tường đá hoặc túa ra từ những chậu bằng đất nung, và màu sắc đỏ hồng của vô số các cánh hoa này dễ tạo ra trong lòng người tâm trạng tưng bừng của những ngày lễ hội.

    Em tôi kiều lệ mất rồi
    Hoa phong lữ thảo anh bùi ngùi trao
    Bến sông em đã xa vời
    Đóa hoa hiu quạnh bên trời nhớ thương


                                           ROBERT BOWNING, 1812-1889


    Hoa Súng - Water lily
               Tinh khiết
         

              Trong thực vật học, hoa Súng được xếp vào bộ Nymphaeales, xuất xứ từ chữ "numpho" để chỉ những nữ thần trong thần thoại Hy Lạp, đây là những nữ thần trẻ trung, xinh đẹp sống ở sông suối, ao hồ. Người đời tin rằng ở những nơi mà các nữ thần đến chơi đùa thì đều có mọc lên những bông hoa Súng. Chính vẻ thanh tú và sắc trắng tinh khôi của loài hoa này đã đem lại ý nghĩa tượng trưng cho sụ trong sạch của tâm hồn. Ngoài ra, loài hoa này thường chỉ nở vào lúc chớm chiều ta, giống như các buổi nô đùa ngắn ngủi của các nữ thần.

               Bông Súng là loài cây mọc trên nước, có hai lá mầm mọc từ phôi, phát triển thành những phiến lá rộng, phẳng, nổi trên mặt nước. Ngoài màu trắng chủ đạo, còn có nhiều loại hoa Súng có những màu sắc sặc sỡ khác nhau, tô điểm cho vẻ đẹp của những mặt hồ tĩnh lặng.

    Như bông súng gói trọn vẻ dịu ngọt của nó.
    Và e ấp nép vào lòng hồ.
    Cũng vậy , em yêu ơi, hãy nép vào lòng anh.
    Và tan biến trong anh.


                                   Alfred, Lord Tennyson, 1809-1892


    Thu Mẫu Đơn - Anemone
              Bơ vơ


                 Có cùng họ với hoa Mao hương vàng, song trái ngược với người anh em họ vui tính của minh, Thu mẫu đơn là một c'anh hoa nhỏ bé buồn rầu. Loài hoa hình ngôi sao trắng, đỏ hoặc tía này con được gọi là hoa GIó, bởi vì người Hy Lạp cổ xưa tin rằng chúng chỉ nở ra khi có gió thổi, và do vậy họ đã đặt tên loài hoa này theo tên thần gió Anemos.

               Người dân thôn dã ở Anh còn gọi hoa này là Candlemascaps (mũ Candlemas) vì chúng nở ra vào ngày 2 tháng Hai trong dịp lễ Candlemass vinh danh Đức Mẹ Đồng Trinh. Những tên gọi khác của Thu mẫu đơn là Drops-of-snow (giọt tuyết), Granny's Nightcap (mũ đêm của Bà), Chimney smock (áo choàng của ống khói), và nhất là White Wood Anemone (Thu mẫu đơn trắng trong rừng) vì thường mọc trong những khoảnh rừng cô quạnh với vẽ đẹp nổi bật của sự hoang dại rất đặc trưng.

               Một thần thoại khác kể rằng: Venus yêu Adonis, con trai của vua đảo Chypre. Vì chàng, Venus quên cả núi Olympe, quên cả sắc đẹp của mình. Dưới trời nắng như thiêu hay trong mưa to gió lớn, nàng đều đi theo Adonis để săn hươu nai. Thần Chiến Tranh Acres, chồng nàng, biết chuyện, ghen tức, hóa thành một con lợn rừng, nhân lúc vắng mặt Venus, đã đâm bổ vào người chàng. Adonis chết. Venus đau khổ vô cùng. Nàng đến chân núi tìm xác người yêu. Và khi nữ thần của tình yêu và sắc đep Venus khóc thương Adonis trong rừng, những cánh hoa Thu mẫu đơn đã mọc lên ở nơi mà nước mắt của nàng nhỏ xuống trên những giọt máu của chàng.

               Có lẽ đó là lý do tại sao cuối cùng, Thu mẫu đơn mang ý nghĩa của sự bơ vơ.

               Ở nước ta, loài hoa này còn được gọi là Cỏ - chân ngỗng, hoặc Bạch -đầu - ông.

    Đóa hoa phong nguyệt gọi mời
    Em e ấp đó anh bồi hồi đây
    Phút giây cầu mộng đêm hè
    Nghìn trùng xa cách hoa rơi bẽ bàng


                        On observing a blossom on the first of February 1796, Samuel Taylor Coleridge, 1772-1834.
             
    ý nghĩa các loài hoa