Đăng nhập

PHONG TỤC TẬP QUÁN CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM

 1. Nghi thức ‘khóc trâu’ của người Cơ Tu

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào Cơ Tu sinh sống lâu đời, bền bỉ với thời gian, lưu giữ được nhiều bản sắc văn hoá quý giá về phong tục, lễ hội, trang phục, âm nhạc, ẩm thực…, trong đó có nghi thức khóc trâu (nơơi) trong lễ đâm trâu.

Già làng Alăng Avel (85 tuổi), thôn Tà Làng, xã Bhalêê (Tây Giang, Quảng Nam) kể, khi xưa, mỗi mùa lúa mới, dân làng thường tổ chức lễ lớn. Người Cơ Tu có phong tục đâm trâu trong các lễ hội được mùa (Bhuối A ví), lễ hội mừng lúa mới (Cha ha roo Tơmêê), lễ hội nhà Gươl (Langtơrí).

Vào dịp này, nhà nào cũng chuẩn bị sẵn một vài món ngon, sau lễ đâm trâu, mang đến nhà Gươl góp, tổ chức ăn uống linh đình trong suốt một tuần và nghi thức đâm trâu cũng có nhiều luật tục phức tạp hơn bấy giờ.

Chiều tối của đêm trước ngày đâm trâu, già làng, người có uy tín trong cộng đồng, sẽ tổ chức cúng trâu tại sân Gươl. Người Cơ Tu gọi là dục t’trí. Cúng dục t’trí phải có đầu heo, gà luộc và chai rượu cúng tại xnur và khấn với Yàng rằng mọi việc chuẩn bị xong xuôi, ngày mai xin Yàng cho dân làng đâm trâu.

Đêm này, cả làng múa hát vui vẻ múa hát đên khuya còn người già thường thức đến sáng để tế, khóc trâu (nơơi).

Màn tế, khóc trâu thưởng được mở đầu bằng câu: ”Trâu ơi, giờ trâu đã buộc vào neo, biết gỡ vào đâu…". Nội dung khóc tế trâu thường nói lên tình cảm, thương tiếc con vật đã suốt đời gắn bó, phục vụ con người, nay lại làm vật hiến sinh cúng Yàng.

Giữa đêm khuya tĩnh lặng của rừng núi bao la với vài ngọn lửa le lói cháy giữa sân Gươl, khoảng 5-6 người ngồi vừa tế, vừa đánh trống ngắt nhịp kèm theo lời ai oán, não nề, không gian lúc này rất thiêng liêng, u tịch. Nơơi là hình thức tế trâu rất đặc sắc của văn hoá  Cơ Tu…”, các già làng cho rằng, với lời than vãn thắm thiết, nhiều con trâu có thể hiểu và nghe tiếng khóc, trâu chảy nước mắt theo.

Nghi thức khóc trâu thường được bắt đầu bằng một người già có vai vế trong làng, có năng khiếu về nói lý, hát lý, đại diện cho dân làng ra đứng gần bên con trâu mà than khóc trâu với âm điệu rất tha thiết như: ''Trâu ơi, trâu đừng trách dân làng, đây là nghi lễ truyền thống bao đời của dân làng hằng năm hiến tế trâu cho trời, đất, tổ tiên để cầu cho dân làng được bình an, không bị dịch bệnh, thú dữ, hoa màu tươi tốt, mọi người khoẻ mạnh. Cầu cho linh hồn trâu về cõi trời được an lành. . .''.

Sau nghi thức ''khóc trâu'' tốp đàn ông, thanh niên, phụ nữ Cơ tu mang trống chiêng, gươm, giáo. . . nhảy múa vòng quanh trụ Gươl với vũ điệu múa Tung tung- Za zá. Cánh đàn ông múa gươm oai hùng, phụ nữ thì múa rất uyển chuyển. 

Sau cuộc nhảy múa này họ bắt đầu lễ đâm trâu. Đồng bào Cơ Tu cắt đầu trâu cùng với một hũ rượu cần đặt sát trụ Gươl để cúng trời, đất, tổ tiên, ông bà hưởng; còn thân trâu thì mổ thịt chia đều cho từng hộ dân làng. Buổi chiều, cái đầu trâu ấy sau khi già làng khấn vái xong lễ, họ mang đi làm sạch, nấu rục cho những người có công trong việc tổ chức lễ hội ăn uống ngày hôm sau.

2. Tiếng trống trong đời sống người Huế

Từng hồi trống đầy đặn, khoẻ khoắn vang lên trong không gian tĩnh lặng xứ Huế, hoà cùng tiếng trống, tiếng cồng, tiếng khánh, len lỏi qua từng mạch thời gian, rồi để lại trong tiềm thức người dân về ý nghĩa sự tồn sinh. Không biết tự lúc nào, tiếng trống đã ăn sâu vào nếp nghĩ của người dân xứ Huế nó không thể thiếu trong những bài kinh, kệ nhà Phật, trong những lễ hội, đình đám và trong đời sống tâm linh của họ.

 Trống dùng trong tín ngưỡng có 2 loại là Trống đại và Trống tiểu (hay trống kinh). Trống đại là trống lớn đánh trong những lúc như trước khi đánh chuông minh vào đầu đêm hoặc cuối đêm, theo thể thức bài "Tam luân cửu chuyển", Trống Tiểu là thứ trống nhỏ, dùng đánh trong những khi tụng kinh bái sám. Thường thì trống được làm từ gỗ mít lâu đời và bịt da trâu để dễ dàng đạt được âm lượng trầm hùng nhất. Tiếng trống tượng trưng cho chánh pháp. Chúng sanh nghe trống chánh pháp thì nghiệp chướng tất tiêu trừ và sẽ được thoát ly luân hồi sanh tử. Tiếng trống không ai, không bi mà có sức mở, sức giải thoát tự nhiên. Mỗi khi tiếng trống được gióng lên, đánh lên, thì như đưa con người ta trở về với chánh pháp, với sự an lạc. Những lúc Đức Phật thuyết pháp, ngài nói rằng ngôn ngữ của mình cũng giống như trống chánh pháp, có thể thu phục lóng người, đưa hồn họ đạt đến an tịnh, thanh tao. Tiếng trống chốn thiền môn không những nhắc nhở người ta đừng lạc vào những bản ngã, mà còn làm rơi rụng đi tính tự kiêu, tự thị, giải phóng sự khổ đau, cô đơn trong cuộc sống của mỗi con người, tự hỏi một ngày đã qua đã làm được gì đối với chánh pháp và để đón chào một bình minh, một sức sống mới trong tâm hồn người để chuẩn bị cho một ngày hành động đầy ý nghĩa tốt đẹp.

Không giống tiếng chuông xoáy sâu vào hồn người nghe, tiếng trống thúc giục lòng người, tạo ra sự hưng phấn, niềm vui. Từng tiếng cắc - tang - tùng - rụp - vê liên hồi, tạo thành những chuỗi âm thanh trầm bổng, mạch lạc nhưng không réo rắt, đinh tai, đưa hồn người lên theo từng cung bậc, để rồi hòa nhập vào thế giới tự nhiên. Trống còn có ý nghĩa "đỡ hơi" cho người tán tụng và giúp cho buổi lễ được tăng phần trang nghiêm, long trọng.

Với "sứ mệnh" như vậy mà trong những lễ hội, đình đám ở xứ Huế ngày nay, bên cạnh những nhạc cụ như kèn sona, chiêng, cồng, sáo, bộ gõ... thì trống là nhạc cụ không thể thiếu được. Trái với tiếng kèn sona, chiêng, cồng, sáo, bộ gõ... thì trống là nhạc cụ không thể thiếu được. Trái với tiếng kèn nỉ non, tiếng sáo réo rắt, bi ai, thì tiếng trống tỏ rõ sự sinh tồn của vạn vật và luật sinh tử của con người. Tiếng trống trầm hùng, mạch lạc, hoà cùng tiếng chiêng, cồng, như nhắc nhở người ta hãy nhớ đến những người đã khuất nhưng không bi ai, lệ luỵ. Tiếng trống như nói lên rằng, vạn vật phải tuân theo quy luật luân hồi; ở thế giới này hay thế giới khác, vạn vật đều tồn tại và cõi âm dương cũng chỉ là hai thái cực không tách rời.

Trong những lễ hội như Lễ hội cầu ngư ở Thuận An, lễ hội Thánh Mậu y A Na ở điện Hòn Chén, lễ Phật Đản hàng năm, hay lễ Vu Lan... tiếng trống vọng lên chúa trời về sự hiện diện của con người và sự dâng lễ của họ...

Ở chốn làng quê, trong không gian rộng lớn, những cuộc hoà cồng chiêng, trống như đánh thức thiên nhiên, thôi thúc sự sinh sôi, nảy nở, cho mùa màng tốt tươi, thóc lúa đầy kho, con cháu đầy nhà. Người đánh trống thường là người có uy quyền già làng, trưởng thôn, hay trưởng họ... Điều này phần nào cho thấy tầm quan trọng của tiếng trống đối với người dân.

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, tiếng trống đã hằn sâu vào đời sống tâm linh và tinh thần của người dân xứ Huế. Dù đi ngược hay về xuôi, ở bất cứ ở nơi đâu, ai ai cũng sẽ mãi nhớ đến tiếng trống trầm hùng, vang vang, trang nghiêm, nổi lên trước giờ đánh chuông U minh và những tiếng trống rộn ràng, mạnh mẽ, long trọng, trong những ngày lễ hội, đình đám ở nơi đây.

3. Các phong tục cần biết khi đến làng bản của đồng bào các dân tộc

Đồng bào các dân tộc Lào Cai rất hiếu khách, nhưng khi du khách đến thăm làng, bản nên chú ý những điều kiêng kỵ và cần biết một vài phong tục, tập quán sinh hoạt để tiện ứng xử và giao tiếp.

  1. Khi đến bản làng

Trên đường vào nhà người Hà Nhì, khi thấy một cánh cổng chào dựng tạm phía trên buộc tua tủa những dao gỗ, kiếm gỗ, đầu cánh gà ... đó là lúc rong làng đang tổ chức lễ cúng xua đuổi tà ma.

Tương tự như vậy hàng năm các nghi lễ chung cúng thần làng, xua đuổi ma ác của đồng bào Tày, thái, Giáy, Lào, Bố y, Xá Phó... thường được tổ chức vào tháng 2 hoặc tháng 6, tháng 7 âm lịch. Khi cúng đồng bào đặt các dấu hiệu kiêng kỵ cấm người lạ vào làng như buộc chùm lá xanh ở cột cao trên đường vào làng hoặc đan phên mắt cáo, buộc vào đó xương hàm lợn, trâu, bò. Cả làng không ai đi làm, không cho người lạ vào làng. Nếu người lạ vô tình gồng gánh, đội nón, che ô, đeo gùi, ba lô... vào làng sẽ bị phạt bằng cách nộp đủ số lễ vật để làm lại lễ cúng làng. Trường hợp có việc khẩn cấp, muốn vào làng ngay, khách lạ phải bỏ mũ, ba lô, gồng gánh ... tất cả đồ đạc đều phải xách tay. Như vậy mới mong được giảm hoặc miễn phạt.

Mỗi làng đồng bào các dân tộc ở Lào Cai đều có khu rừng cấm, thờ thế lực siêu nhiên. Nơi thờ cúng có thể ở gốc cây to, hòn đá lớn ở trong rừng. Rừng cấm là khu rừng chung của cả làng. Mọi người tự nguyện bảo vệ rừng, không ai được tự tiện chặt phá, phóng uế, trai gái không được phép đến nơi đó tâm tình.

2. Khi vào thăm nhà

Trước khi vào thăm nhà đồng bào các dân tộc, du khách cần quan sát kỹ, nếu thấy ở trước cửa nhà, ở đầu cầu thang cắm hoặc treo một cành lá xanh, một cành gai hoặc cắm một tấm phên đan hình mắt cáo... Đó là những dấu hiệu kiêng cấm, gia đình không muốn người lạ vào nhà.

Nhà người Hà Nhì Đen có hai lớp cửa, khách xa tới chỉ nên vào cửa thứ nhất. Nếu muốn vào cửa thứ hai thì phải được gia đình chủ đồng ý.

Nhà người Thái có đầu cầu thang, phụ nữ chỉ được lên cầu thang có sân phải ( bên trái), không được lên cầu thang bên phải.

Ở vị trí quan trọng nhất trong nhà (vách nhà ở gian giữa hoặc góc đầu nhà sàn, là nơi thờ tổ tiên. Trang trí nơi thờ tổ tiên mỗi dân tộc có khác nhau, nhưng đều chung một quan niệm : Nơi thờ tổ tiên là chốn linh thiêng nhất . Khách không dược đặt mũ, nón, tư trang và đồ dùng khác ở nơi đó, không được sờ tay lên các đồ thờ cúng . Khi ngồi không được quay lưng vào nơi thờ. ở vùng người Thái Đen, phụ nữ không được đến gian đầu ngồi nhà sàn- nơi thờ tổ tiên.

Bếp lửa vừa là nơi nấu nướng vừa là nơi tiếp khách của đồng bào các dân tộc, đồng thời là nơi thiêng liêng thờ vua bếp, thần lửa. Do đó có nhiều kiêng kị liên quan đến bếp lửa, ngồi cạnh bếp lửa sưởi không đặt chân lên hoặc làm xê địch hòn đá kê làm kiềng , vì theo quan niện của một số dân tộc thì các hòn đá này là nơi trú ngụ của thần lửa . Khi đun nấu đồng bào Tày, Thái, Nùng, Giáy, Bố Y, Lào, Lự... đều chú ý đặt quay ninh, chảo, nồi lên bếp không được để hai quay nồi , chảo theo hương cây xà ngang (vì đó là hướng nằm của người chết) mà phải đặt theo hướng đòn nóc nhà . ở vùng đồng bào Mông, Dao, Hà Nhì.... khi đưa củi vào bếp, không đưa ngọn vào trước, vì quan niện sợ con gái gia chủ sau này sẽ sinh ngược. Khi ngồi gần bếp , du khách không quay lưng và giẫm chân vào bếp.

Trong ngôi nhà đồng bào các dân tộc cửa và cây cột chính cũng là vị trí linh thiêng thờ thần cửa, thần cột cái. Vì vậy không nên ngồi bậu cửa hoặc treo mũ nón và tựa lưng vào cột cái.

Ở vùng người Thái, Tày, Kháng, La Ha, Phú Lá kiêng không đem lá xanh, cành cây xanh, rau xanh vào cửa chính.

Đồng bào kiêng không huýt sáo ở trong nhà, vì nó là tín hiệu gọi ma tà, bão giông.

3. Giao tiếp sinh hoạt

Chào hỏi: Khi đến nhà, đi đường, khách cần chủ động chào hỏi bằng thái độ chân thành, nụ cười thật thà sẽ xoá đi mặc cảm bất đồng ngôn ngữ. Khi chia tay có thể bắt tay, không cần nói lời tạm biệt, hẹn gặp lại nhưng luôn nở nụ cười. Không xoa tay lên đầu trẻ em người Mông, Dao, vì theo quan niện của họ, hồn người trú ngụ ở đầu, người lạ sờ vào , hồn hoảng sợ bỏ trốn ,làm cho trrẻ hay bị ốm đau.

Khi ăn uống: Mỗi dân tộc có quan niện khác nhau về vị trí chỗ ngồi , vì vậy cần lưu ý không ngồi vào một số vị trí đặc biệt như: ở vùng người Giáy, Dao phía dãy ghế ở gần bàn thờ dành riêng cho người cao tuổi nhất, khách quý nhát. Đồng bào Mông khi bố mẹ mất, vị trí đầu bàn (gần bàn thờ) luôn bỏ trống với ý niệm nơi đó giành cho hồn bố mẹ. Người Thái, Tày, Mường nơi giáp cửa sổ gia chủ đặt hai chén con có ý giành cho tổ tiên về tiếp khách, khách không ngồi ở vị trí đó.

Trước khi ăn uống cần kiên trì nghe gia chủ tién hành các nghi lễ mời tổ tiên, chúc tụng các điều tốt lành. Khách không rót rượu trước, không gắp thức ăn trước, khi dùng xong tuyệt đối không úp chén, úp bát xuống mâm.

Khi ngủ: Mỗi căn nhà của đồng bào dân tộc ở Lào Cai đều có chỗ ngủ dành riêng cho khách, nên cần tuân theo sự bố trí của gia chủ, không nằm để chân về phía bàn thờ. ở một số vùng người Mông, Dao,Thái, La Ha, Kháng kiêng không mắc màn màu trắng trong nhà.

4. Cưới hỏi – nghi lễ giàu bản sắc văn hóa Việt

Dân gian có câu: "Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà. Trong ba việc ấy thật là khó thay". Cưới là nghi lễ truyền thống quan trọng nhất của cả đời người, trong đó có nhiều những lễ nghi không thể bỏ qua, vì vậy việc tổ chức một lễ cưới dù theo phong cách truyền thống hay hiện đại cũng cần được nghiên cứu hết sức cẩn trọng.

Cưới hỏi là một nghi lễ không thể thiếu tại bất kỳ quốc nào trên thế giới. Tùy thuộc vào phong tục tập quán của mỗi nước, mỗi vùng miền mà ở đó người ta có những cách tổ chức lễ cưới khác nhau. Chỉ nói riêng ở Việt Nam, trong tổng số 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc lại có những cách tổ chức lễ cưới theo phong tục riêng của mình. Cưới hỏi từ lâu đã là một nét văn hóa đẹp, mang đậm bản sắc của Việt Nam.

Việt Nam với phần đông là người dân tộc Kinh, lại chia làm hai nhóm theo tôn giáo để có những phong tục tổ chức lễ cưới khác nhau. Nhìn chung, các lễ cưới dù được tổ chức ở đâu, theo phong tục nào thì đó cũng là một đại lễ quan trọng của đời người.

Về định nghĩa, lễ cưới hay đám cưới là một phong tục văn hóa trong hôn nhân nhằm thông báo rộng rãi về sự chấp nhận của xã hội và các bên thành hôn về cuộc hôn nhân. Với ý nghĩa này, lễ này còn gọi là lễ thành hôn. Trước đây, người Việt gọi lễ này là lễ rước dâu.

Ngày nay, trong ngôn từ của đời sống thường ngày, người ta gọi lễ này là lễ cưới (dịch theo tiếng Hán là hôn lễ). Đây là hình thức liên hoan, mừng hạnh phúc cô dâu, chú rể và hai gia đình. Đây là nghi lễ được một số xã hội quan tâm và thường chỉ được tổ chức sau khi đã được chính quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.

Trong tâm thức người Việt thì lễ cưới có giá trị cao hơn cả giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Sự quan tâm lớn của xã hội vào buổi lễ này đôi khi gây sức ép lên những người tổ chức: họ phải đảm bảo để có thể làm hài lòng nhiều người tham dự.

Trước đây, trong lễ cưới Việt Nam, những người tham dự thường đem tặng các đồ mừng đám cưới. Quà cưới thường trang trọng, được bọc giấy điều. Trong đám cưới, ban lễ tân (thường là người thân) đứng ra nhận quà mừng. Có những đám cưới tổ chức tiệc trà, đơn giản hơn tiệc cưới thông thường, có ý không yêu cầu người tham dự mang quà mừng.

 Còn ngày nay, chỉ với những bạn bè thân thiết của cô dâu và chú rể mới tặng quà cưới cho hai người và ông bà bố mẹ với những người thân trong họ hàng, trao quà cưới làm của hồi môn cho đôi tân giai nhân. Còn lại tất cả khách mời đều mừng bằng phong bì tiền, và đó là cách đơn giản gọn nhẹ nhất, cũng tiện nhất và hợp ý của người tổ chức.

Lễ cưới đầy đủ bao gồm các lễ sau:

Chạm ngõ: là nghi thức gặp gỡ hai bên gia đình, dụng ý lần đầu tiên được biết nhau một cách công khai, chính thức. Từ đó thỏa thuận, tiến tới tác thành, xây dựng cho hai con. Đồ lễ mang sang nhà gái thường là trầu, cau, rượu, chè.

Lễ ăn hỏi: nhà trai mang lễ vật sang nhà gái hỏi vợ. Lễ vật đựng trong các tráp phủ vải điều màu đỏ, thường có trầu, cau, rượu, chè, bánh cốm, bánh xu xê, mứt sen, xôi, thủ lợn, lợn sữa quay.

(Đồ lễ ăn hỏi)

Lễ đính hôn:về mặt ngữ nghĩa lễ đính hôn, hay lễ cầu hôn tương đương lễ ăn hỏi (hỏi vợ) của người Việt, tuy phương Tây thường thịnh hành phong tục trao nhẫn đính hôn đính kim cương hoặc đá quý cùng lời cầu hôn.

Lễ vấn danh: nhằm hỏi tên tuổi (vấn danh), so đôi lứa để xem xét xung, hợp của đôi trai gái đồng thời nhằm có dữ kiện để chọn ngày giờ tốt cho các nghi thức, thủ tục cưới hỏi. Lễ vấn danh cũng bao gồm những lễ vật tương tự lễ ăn hỏi tuy có thể ít hơn và giản dị hơn. Cô gái nhà nào đã nhận lễ vấn danh coi như đã có chồng (dù chưa cưới). Hiện nay trong Lễ cưới người Việt lễ vấn danh kết hợp trong lễ ăn hỏi.

Lễ nạp tài: nhà trai mang sính lễ sang nhà gái. Đồ sính lễ gồm trầu cau, gạo nếp, thịt lợn, quần áo và đồ trang sức cho cô dâu. Lễ nạp tài hiện nay trong phong tục lễ cưới người Việt đã kết hợp một phần vào lễ ăn hỏi (lễ vật ăn hỏi) và một phần vào trong lễ cưới (trao của hồi môn).

Lễ xin dâu: trước giờ đón dâu, mẹ chú rể hoặc một hai bà cô, bà dì, họ hàng thân thích (nữ) sang nhà gái để xin được đón dâu. Lễ vật trong lễ cưới người Việt thường là tráp đựng trầu têm cánh phượng.

Đón dâu: nhà trai đưa đoàn sang nhà gái đón dâu về, thường đi bằng xe.Lễ vu quy: diễn ra tại nhà gái, nơi tiễn cô dâu đi lấy chồng.

Lễ thành hôn: còn gọi là lễ cưới nói chung, tuy vẫn thiên về chỉ lễ cưới chính thức tại nhà trai.

Lễ tơ hồng: lễ khấn ông Tơ bà Nguyệt và cao đường (cha mẹ), diễn ra tại nhà trai. Thường chỉ có người thân thích, sau khi khách mời đã ra về hết.

Lễ hợp cẩn: Đây là buổi lễ kết thúc đám cưới tại nhà trai. Trước giường có bàn bày trầu rượu và một đĩa bánh phu thê (sau này ta đọc thành bánh xu xê). Ông cụ già đứng lên rót rượu vào chén rồi mời đôi vợ chồng cùng uống, phải cùng cạn chén, cùng ăn hết cái bánh không chia cho ai, không để thừa. Sau đó mọi người ra ngoài, để hai vợ chồng cùng tâm sự. Ở một số nhà khá giả, thiên về hoạt động văn hoá, thì những bạn bè văn chương chữ nghĩa với chàng rể còn mang hoa, thắp đền sáng rực trong phòng hợp cẩn. Họ cũng ca hát, gây tiếng động, hoặc vỗ tay, đập các khúc gỗ vào nhau. Do đó mà sau có chữ động phòng hoa chúc.

Lễ báo hỉ: thường là tiệc mặn hoặc ngọt tổ chức sau nghi lễ cưới chính thức tại quê quán của cô dâu hoặc chú rể, hoặc nơi ở của bố mẹ vợ, bố mẹ chồng, trong trường hợp quá xa ông bà, cha mẹ không thể xuống dự đám cưới với con cháu được.

Lễ lại mặt: là lễ do chú rể mang về nhà gái sau ngày cưới từ 2 đến 4 hôm như một lời cảm ơn bên thông gia.

Lễ cheo: lễ vật hoặc kinh phí nộp cho làng, xóm có con gái đi lấy chồng, với dụng ý để xóm làng tiếp thu thêm thành viên mới, tế bào mới của làng. Lễ cheo có thể tiến hành trước nhiều ngày, hoặc sau lễ cưới một ngày. Hiện nay nhiều nơi đã không còn giữ phong tục này.

Tuần trăng mật: chỉ những ngày đầu tiên sau hôn lễ. Nhiều cặp vợ chồng trẻ có điều kiện thường tổ chức đi chơi du lịch tuần trăng mật tới những địa điểm có phong cảnh hữu tình. Tuần trăng mật cũng là thời điểm nghỉ ngơi cho cặp vợ chồng trẻ sau những ngày căng thẳng tiến hành hôn lễ.

Ngày nay, một số lễ được lược bỏ bớt hoặc lồng ghép để tránh sự rườm rà trong tổ chức, các lễ chính còn giữ lại chủ yếu gồm: Lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ cưới, có nơi có hoặc bỏ lễ lại mặt và chỉ với những cô dâu chú rể trong gia đình khá giả, có điều kiện thời gian và công việc cho phép thì mới tổ chức được tuần trăng mật sau cưới. Và mùa cưới thường được chọn vào dịp cuối năm, bắt đầu từ tháng 8 âm lịch cho đến sang đầu năm mới, mùa cưới vẫn còn được tổ chức vào dịp đầu xuân.

Tiệc cưới cũng có sự thay đổi, thay vì tổ chức ở cả hai nhà và chọn giờ đi rước dâu thì nay cùng đặt tiệc tổ chức tại một nhà hàng, khách sạn để tiện cho việc tiếp khách, đơn giản một số thủ tục và hai bên gia đình không phải lo nghĩ về khâu tổ chức cũng như trang trí nữa vì đã có nhà hàng, khách sạn lo chu tất.

Đó là đối với các gia đình khá giả ở các thành phố lớn, còn ở các tỉnh lẻ hay vùng nông thôn, tiệc cưới vẫn giữ nếp xưa: bạn bè được mời đến ăn trầu uống nước tối hôm trước, hôm sau là ăn cỗ cưới và dự lễ đón dâu, có nơi còn tổ chức nhảy múa, ca hát rộn ràng, tưng bừng mừng cho lễ cưới.

Dù tiệc cưới có thay đổi để phù hợp với cuộc sống mới, một số những thủ tục trong lễ cưới vẫn được giữ và tổ chức trang trọng, đó là lễ trải chiếu, lễ gia tiên, lễ trao nhẫn cưới, trao của hồi môn, … Người Việt Nam rất coi trọng gia phong và những lễ nghi truyền thống, người Việt Nam thường quan niệm về cuộc sống yên vui hạnh phúc, gặp nhiều may mắn là phải theo những lễ nghi truyền thống đó để có được sự an lành về sau.

5. Tục “kéo vợ” của người H’Mông

Ở Hà Giang, người H’Mông có dân số đông nhất, với hơn 190.000 người, phân bố chủ yếu ở các huyện vùng cao phía Bắc là Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ và hai huyện phía Tây là Xín Mần và Hoàng Su Phì.

Với dân số đông, sống tương đối tập trung, người H’Mông ở Hà Giang vẫn giữ được những nét văn hoá truyền thống đặc sắc của mình. Tục “kéo vợ” mà ta hay gọi là cướp vợ, cướp dâu là nét riêng độc đáo trong hôn nhân của người H’Mông.

Bao giờ cũng vậy, Xuân về, Tết đến cũng là dịp để thanh niên nam nữ H’Mông có cơ hội gặp gỡ, tìm hiểu nhau, đó có thể là các phiên chợ cuối năm, hội hè trong những ngày Tết hay đơn giản chỉ là những buổi đi lấy củi, địu nước chuẩn bị cho một năm mới... Khi đôi trai gái đã ưng ý và thề nguyền đi đến hôn nhân thì họ sẽ về thưa chuyện với bố mẹ và dòng họ. Nếu mọi chuyện suôn sẻ thì nhà trai sẽ mời ông mối sang đánh tiếng dạm hỏi, rồi tiến tới lễ ăn hỏi (hẹn cưới) và cuối cùng là lễ cưới (đón dâu). Đám cưới của người H’Mông thường được tổ chức linh đình vào ngày lành tháng tốt, thường là vào mùa Xuân vì người ta rất kiêng làm đám cưới vào những tháng có sấm sét. Và người ta cho rằng mùa Xuân là mùa của vạn vật sinh sôi nảy nở mà con người không nằm ngoài vòng quay đó. Thế nhưng không phải câu chuyện tình yêu nào cũng có một cái kết có hậu mà không phải trải qua sóng gió. Trong thực tế có rất nhiều đôi trai gái yêu nhau tha thiết nhưng lại không được một hoặc cả hai bên cha mẹ đồng ý (chủ yếu là cha mẹ người con gái). Khi cha mẹ đã không đồng ý mà đôi trái gái tự tìm đến sống với nhau thì không những bị coi là bất hiếu mà cuộc hôn nhân đó còn không được cộng đồng chấp nhận. Thế nên tục “kéo vợ” có thể được coi là một giải pháp khá hiệu quả cho những đôi trai gái yêu nhau tha thiết nhưng lại gặp phải trở ngại từ phía gia đình. Khi đó, đôi trái gái sẽ bàn cách tiến tới hôn nhân bằng tục “kéo dâu” bằng cách nhờ cậy những ông chú, bà thím, bà cô, ông cậu, anh em, bạn bè... làm nội ứng, thống nhất kế hoạch “kéo dâu”, hợp lý hoá cuộc hôn nhân.

Mọi chuyện được tính toán trong bí mật, gia đình nhà gái không hề hay biết, cô gái vẫn ngày ngày đi nương, lấy củi, địu nước như thường. Rồi một ngày như đã hẹn... chàng trai xuất hiện. Hai người đang tâm sự thì bạn bè của chàng trai xuất hiện và giúp chàng trai kéo cô gái về nhà mình. Cô gái dù biết trước mọi chuyện vẫn cảm thấy bất ngờ, kêu toáng lên. Không những thế cô gái phải giả vờ kêu cứu, khóc lóc để mọi người nhà mình biết đến cứu. Người ta cho rằng người con gái bị kéo về làm vợ mà không khóc lóc, kêu la thì đó là đồ con gái rẻ rúng và hư hỏng, bị gia đình và làng xóm coi khinh. Khi người nhà gái mang gậy gộc đến cứu cô gái thì các bạn của chàng trai sẽ xông ra đỡ đòn (theo luật lệ của người H’Mông là đã đi “kéo vợ” thì nhà trai không được phép đánh lại nhà gái) để chàng trai mang cô gái về nhà. Sau khi gia đình chàng trai mang gà ra làm lễ quét phép, cô gái mới được đưa vào nhà. Người H’Mông quan niệm, con gái đã bị người ta dùng gà trống làm lễ nhập nhà rồi thì có bỏ về bố mẹ đẻ cũng không thể chấp nhận được vì cô ta đã trở thành người của nhà khác, khi chết cũng là ma nhà khác rồi. Chính vì vậy, khi biết con gái mình đã bị người ta kéo về làm vợ thì dù có không đồng ý, có ấm ức thì đa phần nhà gái cũng đành đồng ý. Tuy nhiên, nếu cứ theo thủ tục thông thường thì khi đi ăn hỏi hai bên có thể thỏa thuận về khoản lễ cưới, nhưng nếu nhà trai dùng tục “kéo vợ” thì nhà gái sẽ ít khi thông cảm và thường phạt bằng cách đòi lễ cao hơn bình thường. Khi đã chấp nhận dùng tục “kéo vợ” thì nhà trai phải xác định ngay là sẽ bị nhà gái phạt. Và khi nhà gái đòi bao nhiêu thì phải trả bấy nhiêu để tránh sự chê cười của làng xóm. Chính vì những lệ này mà không phải gia đình nào cũng có thể dùng tục “kéo vợ” cho con trai. Những gia đình muốn dùng tục “kéo vợ” thường phải là những gia đình, dòng họ tương đối khá giả thì mới có thể đáp ứng nhu cầu khi nhà gái phạt. Bởi có không ít gia đình phải mất vài ba năm mới có thể trả hết lệ phạt mà nhà gái đặt ra.

Tục “kéo vợ” còn có thể diễn ra bởi nhiều lý do như: người con trai thích người con gái nhưng người con gái lại từ chối; gia đình người con trai dùng quyền thế “cướp vợ” cho con trai... nhưng những trường hợp này chỉ xảy ra trước kia, dưới thời xã hội phong kiến. Còn ngày nay, cũng như nhiều dân tộc khác, người H’Mông luôn trọng chế độ hôn nhân một vợ, một chồng và quan niệm cái đẹp lứa đôi là khỏe mạnh, đạo đức và chăm chỉ. Hôn nhân là kết quả của tình yêu tự nguyện, các cuộc “kéo vợ” giờ đây chỉ là sự khẳng định cho tình yêu mãnh liệt, khát vọng về một gia đình hạnh phúc của trai gái người H’Mông mà thôi. Chính vì vậy, hiểu tục “kéo vợ” của người H’Mông như ngày này chúng ta vẫn hiểu, là khi người con trai thích một người con gái, liền rủ bạn bè bắt cóc người đó về làm vợ là rất sai lầm, nghiêng về khía cạnh bạo lực mà không thấy hết được tính nhân văn sâu sắc trong đó. Chính vì vậy, có thể nói, người H’Mông có rất nhiều tục lệ với những ràng buộc khắt khe song bên trong đó đều chứa đựng các yếu tố nhân văn rất tình người, được xử lý linh hoạt trên cơ sở đoàn kết thương yêu. Đó chính là nhân lõi để giữ gìn sự gắn bó của cộng đồng và bảo lưu các giá trị văn hóa độc đáo của người H’Mông.

***

Người H'Mông cướp vợ
Tháng giêng, khi những rừng mơ nở trắng, báo hiệu mùa cưới lung linh sắc màu thổ cẩm rộn lên khắp các bản làng Tây Bắc và Ðông Bắc cũng rộn lên. Người Mông có tục kéo con gái về làm vợ ( Cuớp vợ ) Khi người con trai quen biết một người con gái và muốn cô gái đó làm vợ họ sẽ đi kéo cô gái về nhà. Để kéo được cô gái về nhà, người con trai phải chiêu đãi, mời rượu một số người bạn cùng lứa tuổi để họ đi kéo giúp. Chàng trai và bạn bè của anh có thể tìm cô gái ở chợ, ở đêm chơi trăng hay lúc đi làm nương. Khi đã kéo được cô gái về nhà, chàng trai lại phải mời rượu bạn để cảm ơn. Chàng trai sẽ phải nhờ chị gái của mình (hoặc em gái) để trông không cho cô gái trốn khỏi nhà mình. Chị gái của chàng trai sẽ có mặt bên cô gái được kéo về suốt cả ba ngày đêm.
Phong tục chính là thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội của con người, được mọi người công nhận và làm theo. Có những phong tục mang tính cổ hủ, song có phong tục tô đẹp bản sắc văn hóa người dân Việt Nam
Tục cướp vợ được coi là chế độ lược hôn. Tục này rất phổ biến ở các vùng Tây - Ðông Bắc. ở vùng Tây Bắc giáp biên giới nước Lào, tục cướp vợ có sắc thái biểu cảm thật trữ tình. Vào một đêm trăng thanh, chàng trai miền núi vác chiếc thang tựa cửa nhà người yêu, rồi thổi một điệu kèn môi tình tứ bằng chiếc lá. Âm điệu du dương khiến lòng cô gái thổn thức, xốn xang. Nàng bắt đầu hé cửa sổ thì chàng lập tức ghé thang lên, trèo vào và cõng nàng chạy vào rừng. Họ ở bên nhau 3 ngày, rồi trở về nhà bố mẹ vợ, xin phép cưới.
Ở vùng tiếp giáp biên giới Trung Quốc, tục cướp vợ mang tính mạnh mẽ, quyết liệt hơn. Chàng trai đi chợ, bắt gặp một cô gái xinh đẹp. Chàng liền quay về, rủ một số bạn trai thân tình, mượn những con ngựa thật khoẻ. Họ hùng dũng ra chợ, chàng đi sát bên cô gái, bất ngờ bế thốc cô gái lên ngựa rồi phi nước kiệu. Nếu chàng và nàng đã có tình ý từ trước thì chàng đặt tay trái về phía cô, cô đặt tay trái lên rồi đạp chân trái của mình lên mô bàn chân cứng cáp của chàng, theo đà lên ngựa. Họ sống với nhau từ 2 đến 7 ngày. Sau đó, chàng đưa nàng về nhà vợ hỏi cưới.
Trong khi đó, tục cướp vợ của người Kinh mang tính chất cộng đồng, làng xóm. Cụ thể, một số làng thuộc huyện Ðông Anh, ngoại thành Hà Nội thường tổ chức tục cướp vợ rất đặc biệt (ngày nay không còn). Vào dịp lễ xướng, dân làng chọn một cô gái xinh đẹp, dịu dàng, chăm chỉ và một chàng trai khỏe mạnh, chịu khó. Cô gái ra làng ở, nằm mộng 7 ngày 7 đêm. Chàng trai nấp dưới bụi khoai nước bờ ao. Khi lễ hội được diễn ra, cô gái cất tiếng hát:

Tao có chiếc yếm lưỡi cày
Chẳng để cho mày thì để cho ai.

Tiếng hát vừa dứt chàng trai vọt lên bờ vác cô gái chạy đi, theo sau là tiếng hò reo, đuổi, ném đất dẻo, bắn cung bằng thân dâu của dân làng. Nếu chàng đưa cô gái sang bờ bên kia an toàn thì năm ấy dân làng làm ăn thịnh vượng, được mùa, trẻ em mau lớn. Bằng không thì ngược lại. Nhìn chung, tục lệ cướp vợ ở mỗi vùng khác nhau, song tựu chung lại vẫn là phản ánh tâm tư, tình cảm của con người, đồng thời tạo nên nét độc đáo riêng cho nền văn hóa nước nhà.

6. Giỗ họ - tín ngưỡng bảo tồn nét truyền thống

Lễ giỗ họ được tổ chức tại Từ đường. Khi làm lễ, người trưởng họ đứng trước bàn thờ tổ đọc lịch sử dòng họ và đây là cách nhắc nhở con cháu nhớ công ơn tổ tiên và để giáo dục truyền thống, gia phong của gia tộc.

Lễ giỗ của họ Nguyễn (làng Nam Trang, Trực Nội, Trực Ninh, Nam Định) thường diễn ra vào dịp rằm Trung thu, từ chiều 14 đến sáng 15 (âm lịch). Theo lời ông Nguyễn Văn Liễu, Trưởng họ, mọi việc chuẩn bị cho ngày giỗ từ mua sắm đồ lễ đến chế biến cỗ bàn đều phải chuẩn bị từ trước và hoàn thành trước chiều ngày 14. Gia đình đến lượt "làm lễ" phải đảm trách việc này.

Cũng theo ông Liễu, chi phí để tổ chức trong ngày giỗ họ này được lấy từ số tiền đóng góp của con cháu trong dòng họ (được gọi là quĩ họ), không phân biệt con trai hay con gái, những người đã lấy vợ, lấy chồng được cho là đã trưởng thành đều có trách nhiệm đóng góp.

"Con cháu đi làm ăn, công tác ở xa thì không quy định số tiền đóng, mà cho phép tùy tâm nhưng những người này thường đóng góp nhiều hơn với quan niệm tỏ lòng biết ơn tổ tiên dòng họ đã “phù hộ” cho mình làm ăn phát đạt, thuận lợi", ông Liễu nói.

Nhiều họ lớn, buổi lễ giỗ họ được tổ chức rất linh đình. 

Trách nhiệm quản lý quỹ họ cũng như tiến hành tổ chức giỗ đều do trưởng họ chịu trách nhiệm. Các thành viên khác trong họ sẽ được phân công từng việc cụ thể. Theo phong tục, chiều 14 con cháu làm lễ cúng gọi là “tế cáo”, mời tổ tiên về, sáng hôm sau là lễ “tế chính”. Tất cả con cháu xa gần đều được thông báo về dự lễ

Lễ giỗ họ được tổ chức tại Từ đường, xây trên mảnh đất hương hỏa tổ tiên để lại. Người trưởng họ sẽ được ở trên mảnh đất đó để trông coi, hương khói. Khi làm lễ, trưởng họ đứng trước bàn thờ tổ đọc lịch sử dòng họ và đây là cách nhắc nhở con cháu nhớ đến công ơn tổ tiên và để giáo dục các thế hệ hậu sinh về truyền thống, gia phong của gia tộc.

Sau khi tiến hành xong hết các nghi lễ cúng, lễ vật sẽ được “hạ” xuống để tất cả con cháu quây quần cùng ăn, gọi là “thụ lộc”. Tiếp đến, các trưởng chi sẽ ngồi lại họp bàn về công việc chung của họ, cụ thể là tổng kết công việc năm trước và lên kế hoạch cho năm sau.

Cũng theo ông Liểu, họ Nguyễn của ông đã thành lập được quỹ khuyến học, khuyến tài. Mỗi lần giỗ, họ sẽ trích ra một phần tiền trao thưởng cho các cháu học giỏi, thi đỗ ĐH để báo cáo với tổ tiên và khuyến khích con cháu tiếp tục phấn đấu. Những gia đình, cá nhân thành đạt, làm ăn giỏi cũng được biểu dương trong ngày này; ai trong họ mắc lỗi, có khuyết điểm sẽ được nhắc nhở để khắc phục, sửa chữa.

Đối với họ Nguyễn làng Nam Trang, lễ giỗ họ được tổ chức hằng năm nhưng thông thường, cứ ba năm lại làm với quy mô lớn gọi là lễ Tế Tổ. Khác với những lễ giỗ họ bình thường là những năm này thường mời đội tế của xã, có quần áo tế chỉnh tề và đội nhạc để làm lễ. Quy mô của lễ tế Tổ được tổ chức rộng, mời cả đại diện các họ khác trong làng đến dự. 

Ông Nguyễn Văn Tỵ, một thành viên trong họ Nguyễn, hiện sống và làm việc tại Hà Nội về dự lễ giỗ họ, vui vẻ cho biết: "Đến ngày giỗ họ, dù bận đến đâu, chúng tôi cũng cố gắng thu xếp về dự bởi đây là dịp để gặp mặt đông đủ anh em, cháu con trong họ, được chuyện trò, ôn lại những năm tháng vất vả và thấy mình phải phấn đấu hơn nữa để làm vẻ vang dòng tộc". Cũng giống như ông Tỵ, chị Nguyễn Thu Thảo, cho biết mỗi lần được về quê dự ngày giỗ họ, chị cảm thấy vô cùng ấm cúng.

Cũng là lễ giỗ họ với cùng một ý nghĩa tưởng nhớ công đức của tổ tiên nhưng cách thức tổ chức của họ Hoàng, thôn Hạ, Phường Định Công, quận Hoàng Mai (Hà Nội) lại có một số điểm khác.

Là một dòng họ đã cư ngụ lâu đời ở đây nên số con cháu trong họ tộc của họ Hoàng khá đông đúc. Hiện,  chỉ tính riêng ở Định Công, số nhân khẩu của dòng họ Hoàng đã lên tới con số gần 400 người với hai nhánh Hoàng Đình và Hoàng Văn. Ngày giỗ Tổ (giỗ họ) của họ Hoàng là ngày 23/7 (âm lịch).

Ngày giỗ họ của họ Hoàng chỉ giỗ một người, gọi là giỗ Tổ cô. Theo ghi chép trong gia phả dòng họ này thì đây là bà Hoàng Thị Trang, cô tổ của họ. Khi còn sống, bà theo vua Lê đi đánh giặc, khi chết xác bà trôi về làng Mai Động, quận Hai Bà Trưng. Sau đó, con cháu dòng họ mới đem xác bà về an táng tại Định Công. Hiện, làng Mai Động cũng lập đền thờ bà, gọi là đền Hai Cây và tổ chức lễ giỗ bà ngày 20/8 (là ngày vớt được xác bà). Còn họ Hoàng thì làm giỗ bà theo ngày mất là 23/7.

Lễ giỗ tổ Cô của họ Hoàng được tổ chức khá linh đình. Trước ngày giỗ, trưởng họ cho mời tất cả các trưởng chi đến nhà để họp bàn việc chuẩn bị và cách tổ chức. Phân công “Nhà chứa họ”, là nhà chịu trách nhiệm chuẩn bị làm cỗ cúng và đón tiếp con cháu trong họ về dự. Nhà chứa họ sẽ được ứng trước tiền để mua lợn (thường phải 2 đến 3 con) và gạo nếp để làm lễ.

Còn cơm, canh và các món khác thì nhà chứa họ phải tự lo liệu. Đến ngày giỗ, con cháu tụ tập tại nhà chứa họ để mổ lợn và chuẩn bị làm lễ. Sau đó, lễ vật sẽ được đội lên nhà thờ họ để dâng lên cúng tế. Tuy nhiên, ngoài hai thứ chính là thủ lợn và xôi thì đồ tế lễ còn rất nhiều loại khác nữa như: tiền vàng, mã, hoa quả...đều phải chuẩn bị từ trước rất cầu kỳ.

Kết thúc lễ tế, đồ cúng lại được đem trở lại nhà chứa họ để tất cả con cháu cùng ăn uống. Ngoài phần cỗ để ăn uống ngay tại chỗ, nhà chứa họ còn phải chuẩn bị lượng thức ăn dư ra để chia phần cho từng gia đình mang về gọi là “lộc tổ”.

Cho nên, mỗi lần chứa họ thường rất tốn kém cho gia chủ. Thế nhưng, gia đình nào cũng lấy làm vinh dự, thậm chí còn tranh nhau được “chứa” vì họ cho rằng, đó là may mắn khi được thay mặt cả họ làm lễ cúng tổ tiên. Đối với những gia đình kinh tế khá giả, nếu không được chứa họ mà có lòng thành thì có thể xin với "quan họ" (những người cao tuổi đứng đầu trong họ) được góp lễ với nhà chứa họ để dâng cúng Tổ.

Ông Hoàng Văn Thụy (Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội), một chi trưởng trong họ Hoàng cho biết: “Đối với họ chúng tôi, giỗ họ là dịp tỏ lòng biết ơn, hiếu kính với Tổ họ nên nhà nào có vinh dự được chứa họ đều cố gắng chuẩn bị đồ lễ và làm cỗ chu đáo hết mức có thể”.

Trong truyền thống văn hóa của người Việt Nam, đạo lý “uống nước nhớ nguồn” luôn luôn được đề cao. Thờ cúng tổ tiên là một hình thức tín ngưỡng thể hiện rõ nét truyền thống ấy. 

Đây là  một phong tục không bắt buộc nhưng lại gần như là thứ "luật bất thành vǎn" trong đời sống tâm linh của người Việt tồn tại qua bao thế hệ. Người Việt Nam coi việc thờ phụng tổ tiên là thể hiện sự hiếu thuận và lòng biết ơn của con cháu đối với công ơn các bậc sinh thành. Đối với người Việt, mối quan hệ huyết thống, thân tộc vô cùng quan trọng. Dù đi xa hay gần, mỗi người đều luôn ý thức về cội nguồn, tổ tiên, dòng họ của mình.

Theo Giáo sư Vũ Ngọc Khánh, Viện Văn hóa dân gian Việt Nam, những năm trở lại đây, các phong tục, nghi lễ văn hóa truyền thống ngày càng được toàn thể xã hội quan tâm, chú trọng. Nghi lễ gia đình, dòng họ ở một khía cạnh nào đó, cũng chính là một di sản văn hoá phi vật thể. Nó được lưu giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ cá nhân này đến cá nhân khác. 

Rất cần có phương án gìn giữ, lưu truyền để các thế hệ người Việt sau này có được cái nhìn đầy đủ về cội nguồn dân tộc. "Tuy nhiên hiện nay, điều cần nhất là làm sao đưa ra được những nghi lễ vừa bảo tồn được nét truyền thống, lại vừa phù hợp với xã hội hiện đại. Cách thức tổ chức cũng cần tiến hành sao cho vẫn thể hiện được đầy đủ ý nghĩa, mà không quá xa hoa lãng phí", giáo sư Khánh nói.

7. Phong tục cúng giỗ của người Việt

Theo tập quán lâu đời, dân ta lấy ngày giỗ (ngày mất) làm trọng, cho nên ngày đó, ngoài việc thăm phần mộ, tuỳ gia cảnh và tuỳ vị trí người đã khuất mà cúng giỗ. Ðây cũng là dịp gặp mặt người thân trong gia đình trong dòng họ, họp mặt để tưởng nhớ người đã khuất và bàn việc người sống giữ gìn gia phong.

Vào dịp đó người ta thường tổ chức ăn uống, nên mới gọi là ăn giỗ, thì cũng là trước cúng sau ăn, cũng là để cho cuộc gặp mặt đậm đà ấm cúng, kéo dài thời gian sum họp, kể chuyện tâm tình, chuyện làm ăn. Với ý nghĩa "Uống nước nhớ nguồn" việc đó có thể xếp vào loại thuần phong mỹ tục.
 * Ngày cúng giỗ

Ngày giỗ theo âm Hán là huý nhật hay kỵ nhật, tức là lễ kỷ niệm ngày mất của tổ tiên, ông bà, cha mẹ, cũng có nghĩa là ngày kiêng kỵ.

Nguyên ngày trước, "Lễ giỗ" gọi là "Lễ chính kỵ"; chiều hôm trước lễ chính kỵ có "lễ tiên thường" (nghĩa là nếm trước), con cháu sắm sanh một ít lễ vật, dâng lên mời gia tiên nếm trước. Ngày xưa, những nhà phú hữu mời bà con làng xóm ăn giỗ cả hai lễ tiên thường và chính kỵ. Dần dần hoặc vì bận việc hoặc vì kinh tế hoặc vì thiếu người phục dịch, người ta giản lược đi, chỉ mời khách một lần nhưng hương hoa, trầu rượu vẫn cúng cả hai lễ. Tóm lại, nếu vận dụng đúng phong tục cổ truyền phổ biến trong cả nước thì trước ngày chết (lễ tiên thường) phải cúng chiều, cúng đúng ngày chết (lễ chính kỵ) phải cúng buổi sáng.

 * Mấy đời tống giỗ

Theo gia lễ: "Ngũ đại mai thần chủ", hễ đến năm đời thì lại đem chôn thần chủ của cao tổ đi mà nhấc lần tằng tổ khảo lên bậc trên rồi đem ông mới mất mà thế vào thần chủ ông khảo.
Theo nghĩa cửu tộc (9 đời): Cao, tằng, tổ, phụ (4 đời trên); thân mình và tử, tôn, tằng tôn, huyền tôn (4 đời dưới mình). Như vậy là chỉ có 4 đời làm giỗ (cao, tằng, tổ, phụ) tức là kỵ (hay can), cụ (hay cố), ông bà, cha mẹ. Từ "Cao" trở lên gọi chung là tiên tổ thì không cúng giỗ nữa mà nhập chung vào kỳ xuân tế, hoặc phụ tế vào ngày giỗ của thuỷ tổ.

 * Cúng giỗ người chết yểu

Những người đã đến tuổi thành thân, thành nhân nhưng khi chết chưa có vợ hoặc mới có con gái, chưa có con trai hoặc có con trai nhưng con trai cũng chết, trở thành phạp tự (không có con trai nối giòng). Những người đó có cúng giỗ. Người lo việc giỗ chạp là người cháu (con trai anh hoặc anh ruột) được lập làm thừa tự. Người cháu thừa tự được hưởng một phần hay toàn bộ gia tài của người đã khuất. Sau khi người thừa tự mất thì con cháu người thừa tự đó tiếp tự.

Những người chưa đến tuổi thành thân (dưới 16 hoặc dưới 18 tuổi, tuỳ theo tục lệ địa phương) sau khi hết lễ tang yết cáo với tổ tiên xin phụ thờ với tiên tổ. Những người đó không có lễ giỗ riêng, ai cúng giỗ chỉ là ngoại lệ. Có những gia đình bữa nào cũng xới thêm một bát cơm, một đôi đũa đặt bên cạnh mâm, coi như người thân còn sống trong gia đình. Ðiều này không có trong gia lễ nhưng thuộc về tâm linh, niềm tưởng vọng đối với thân nhân đã khuất.

8. Lễ DÔLTA cũng là lễ báo hiếu

Tháng tám, tiết thu mát mẻ, ngoài đồng ríu rít tiếng chim kêu (người Khmer gọi đó là “Satt đôn ta” - chim tổ tiên). Đôlta là dịp để con cháu trong gia đình biết ơn bà “chà đôl” và ơn ông “chà ta” những người đã dày công nuôi dưỡng, sinh thành.

Nếu như lễ Vu Lan của người Kinh được xem là “mùa báo hiếu” của con cái với đấng sinh thành, thì lễ Đôlta (có nghĩa là cúng ông bà) của đồng bào dân tộc Khmer cũng có ý nghĩa tương tự. Lễ Đôlta, họ hàng anh em, con cháu trong gia đình quây quần bên nhau, biếu quà ông bà, cha mẹ và làm lễ cầu phước cho người quá cố.

Trước đây, lễ Sene Đôlta kéo dài suốt 2 tuần, nhưng ngày nay, do công việc mua, bán, làm mùa bận rộn... đồng bào Khmer Nam bộ tổ chức lễ Sene Đôlta chỉ trong ba ngày, nhưng bản sắc văn hóa truyền thống vẫn được lưu giữ.

Ngày cúng thứ nhất - cúng tiếp đón

Sáng sớm, mọi nhà dọn dẹp lại bàn thờ Phật, bố trí một giường thờ với mùng, mền, chiếu, gối và bộ quần áo mới để rước ông bà về dự. Một mâm cơm được bày biện gồm thức ăn với bốn chén, đũa và rượu, trà, bánh, để nơi giường thờ. Gia chủ mời họ hàng thân tộc đến thắp nhang đèn cúng bái. Quanh mâm cơm cúng, phụ nữ ngồi xếp chân sang một bên, đàn ông ngồi chồm hổm, cùng chắp tay lạy và đọc kinh cầu nguyện cho vong hồn những người thân quá cố về hưởng vật thực.

Sau ba tuần rượu, trà khấn vái, chủ nhà gắp thức ăn mỗi món một ít, rót một chút rượu và trà cúng lên bốn chén cơm, xong mang ra đặt ở bốn góc rào chung quanh nhà, mỗi nơi cắm một nén nhang mời vong hồn ông bà về dự lễ cùng con cháu.

Buổi chiều, mọi người ăn mặc đẹp, dọn mâm cơm cùng thức ăn mới cúng ông bà, sau đó thắp hương mời vong hồn ông bà đến chùa nghe nhà sư tụng kinh cầu siêu và thuyết pháp. Buổi tối, các vị A cha lấy những nắm cơm vắt đựng trên mâm cúng Tam bảo đem ra ngoài để chung quanh điện Phật cho những vong hồn cô đơn đang đói khát ăn, vì những vị này không có con cháu đến chùa dâng cúng. Cũng trong thời gian này, các trò chơi dân gian, chương trình văn nghệ được tổ chức tại sân chùa, thu hút đông đảo bà con đến vui chơi trong lễ Sene Đôlta.

Ngày cúng thứ hai - được tổ chức ở chùa

Ngày cúng thứ hai là ngày cúng chính. Lễ cúng do các sư tụng kinh cầu siêu cho vong hồn ông bà của mọi nhà trong phum sóc. Sau khi các vị sư độ cơm xong, các phật tử cùng ăn, trao đổi kinh nghiệm trong công việc đồng áng và vui chơi tại chùa.

Đến chiều, rước vong hồn ông bà về nhà, cúng mâm cơm và mời vong hồn ông bà ở lại chứng kiến cuộc sống sung túc của con cháu. Để tỏ lòng mến khách và tình đoàn kết trong cộng đồng phum sóc, gia chủ mời bạn bè người Kinh và người Hoa tại địa phương đến nhà chung vui

Ngày thứ ba - ngày cúng tiễn

Mỗi nhà làm một mâm cơm cùng thức ăn và bánh trái ngon, đặt bốn chén cơm với bốn đôi đũa ở bốn góc giường thờ, mời vài vị sư cùng họ hàng thân tộc trong phum sóc đến nhà tụng kinh cầu siêu để tiễn đưa vong hồn ông bà và những người thân quá cố.

Chủ nhà gắp thức ăn mỗi thứ một ít vào chén, xong đổ bốn chén này vào chiếc thuyền làm bằng bẹ chuối, gắn thêm hình nộm cá sấu và treo cờ hình tam giác, có nơi người ta còn để thêm các gói đậu, mè, muối, bánh trái... mỗi thứ một gói nhỏ để ông bà có thức ăn dự phòng và tránh tai nạn xảy ra dọc đường, thắp một nén nhang rồi thả chiếc thuyền này xuống sông rạch gần nhà để tống tiễn ông bà. Kết thúc ba ngày lễ, chủ nhà thu xếp mùng, mền, chiếu, gối và bộ đồ mới trên giường thờ cất vào tủ để đón lễ năm sau.

Với tinh thần đoàn kết giữa 3 dân tộc anh em, lễ Đôlta không chỉ là ngày lễ của đồng bào dân tộc Khmer mà người Kinh, Hoa cũng đến chung vui, gắn kết tình làng nghĩa xóm.

9. Làng văn hóa Cơ Tu – Nơi bảo tồn nguyên vẹn những giá trị văn hóa các

Làng văn hóa Cơtu xã Atiêng (Tây Giang, Quảng Nam), là nơi diễn ra nhiều hoạt động văn hóa thể thao của huyện; trở thành nơi duy nhất lưu giữ và bảo tồn tương đối nguyên vẹn những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của đồng bào các dân tộc miền tây Quảng Nam.

Nằm trên một ngọn núi thấp, diện tích gần 5 hecta nhìn xuống phía dưới là trung tâm hành chính huyện. Làng văn hoá là quần thể gồm 12 nhà truyền thống của người Cơtu với 10 nhà sàn, 01 nhà gươl và một nhà dài. Các nhà được bố trí theo hình bầu dục đối diện với cây neo đâm trâu chính giữa. Nổi bật nhất là ngôi nhà gươl nằm ở vị trí trung tâm được chạm trổ các hoạt cảnh mang đậm nét văn hóa của đồng bào dân tộc Cơtu, cùng ảnh của nhiều thế hệ lãnh đạo huyện Tây Giang qua các thời kỳ được treo trang trọng trên các vách.

Bên trong nhà hiện đang trưng bày 2 trống đồng cổ của người Cơtu xưa được người dân tại xã biên giới Axan phát hiện trong lúc đào đất. Cách nhà gươl không xa là ngôi nhà dài 30m với sức chứa gần 200, được chuyển từ thôn Atu xã Ch’Ơm về, ngôi nhà có chức năng như là nơi quần tụ của nhiều thế hệ người Cơtu trong cộng đồng gia tộc xưa. Các nhà sàn còn lại có kiến trúc và kích thước tương đối giống nhau mô phỏng hình dáng các nhà sàn truyền thống đồng bào dân tộc, đây là kết quả sự đóng góp công sức của 10 xã trong huyện vào làng văn hóa.

Theo ông Bling Biên trưởng phòng Văn hóa huyện Tây Giang thì Làng văn hóa ra đời với mục đích lưu niệm và bảo tồn nguyên vẹn các kiểu kiến trúc nhà ở truyền thống người Cơtu cùng các giá trị văn hóa của dân tộc này. Từ khi hoàn thành đến nay đã diễn ra nhiều sự kiện văn hóa lớn của huyện như: Đại hội văn hóa, thể thao kỷ niệm 5 năm ngày tái lập huyện; gặp mặt các già làng, trưởng bản tiêu biểu; gặp mặt các văn nghệ sĩ, các cụm trưởng nước bạn Lào.... và mới nhất, tháng tám vừa qua trong dịp huyện Tây Giang tổ chức ngày hội đoàn kết các dân tộc, tại Làng văn hóa đã diễn ra hội trại giao lưu của nhân dân 11 xã và lễ đâm trâu, lễ ăn mừng lúa mới... thu hút sự quan tâm của du khách trong và ngoài nước.

Cuối năm 2009 dự án nâng cấp phục dựng Làng văn hóa Cơtu giai đoạn II sẽ được lập, trình phê duyệt để tiếp tục triển khai hoàn chỉnh. Giai đoạn này dự án tập trung vào các hạng mục như trang trí hoa văn, điêu khắc bên trong các ngôi nhà, phục dựng nhà mồ, nhà kho, chum, nhà giữ lúa và đưa các nghề truyền thống của người Cơtu như đan lát, dệt thổ cẩm... cùng các nghệ nhân vào sản xuất trong Làng. Bên cạnh đó, cũng sẽ đưa đội thông tin văn hóa, đội cồng chiêng Tây Giang vào hoạt động thường xuyên nhằm phục vụ cho các sự kiện văn hóa, thể thao của huyện.

Dự án hoàn thành bên cạnh việc bảo tồn nguyên vẹn các giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc Cơtu sẽ là một mô hình làng tiêu biểu với các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể phục vụ cho các hoạt động du lịch trong tương lai. Cùng với khu du lịch BơHôồng (xã Sông Kôn huyện Đông Giang), địa đạo Anông (xã Anông và xã Bhalêê, huyện Tây Giang) và Nhà truyền thống các dân tộc Nam Giang tại thôn Crung, xã Cà Dy (đang xây dựng) sẽ hình thành tuyến tham quan chạy dọc theo tỉnh lộ 604 nối Đà Nẵng với đường Hồ Chí Minh góp phần làm phong phú, đa dạng hơn tuor du lịch về nguồn thuộc phía Đông của dãy Trường Sơn miền tây Quảng Nam.

10. Người Mông với tục "kéo vợ"

Mỗi độ xuân về, khi cành đào tung hoa, cây ngô trổ mầm, những phiên chợ rộn ràng người mua bán, cũng là lúc thanh niên nam nữ người Mông có cơ hội tìm hiểu nhau. Đó chính là tục"Kéo vợ" - một nét văn hóa riêng, độc đáo của người Mông huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang.

Khi đôi trai gái đã ưng ý và thề nguyền đi đến hôn nhân thì họ sẽ về báo cáo với bố mẹ và dòng họ. Nếu mọi chuyện suôn sẻ thì nhà trai sẽ tiến hành mời ông mối sang nhà gái đánh tiếng dạm hỏi, rồi tiến tới lễ ăn hỏi (hẹn cưới) và cuối cùng là lễ cưới ( đón dâu). Đám cưới của người Mông thường được tổ chức linh đình vào mùa xuân bởi người ta cho rằng mùa xuân là mùa của vạn vật sinh sôi nảy nở mà con người không nằm ngoài quy luật đó của tạo hóa. Người ta rất kiêng làm đám cưới vào những tháng có sấm sét (mùa hạ).   

 Trong thực tế có rất nhiều đôi trai gái yêu nhau tha thiết nhưng lại không được một hoặc cả hai bên cha mẹ đồng ý (chủ yếu là cha mẹ người con gái). Khi cha mẹ đã không đồng ý mà đôi trái gái khác tự tìm đến sống với nhau thì không những bị coi là bất hiếu mà cuộc hôn nhân đó còn không được cộng đồng chấp nhận. Thế nên tục “kéo vợ” có thể được coi là một giải pháp khá hiệu quả cho những đôi trai gái yêu nhau tha thiết nhưng lại gặp phải trở ngại từ phía gia đình. Đôi trai gái đó sẽ nhờ cậy những ông chú, bà thím, bà cô, ông cậu, anh em, bạn bè... làm nội ứng, thống nhất kế hoạch “kéo dâu”, hợp lý hoá cuộc hôn nhân. Mọi chuyện được tính toán trong bí mật, gia đình nhà gái không hề hay biết, cô gái vẫn ngày ngày đi nương, lấy củi, địu nước như thường. Rồi một ngày như đã hẹn... chàng trai xuất hiện. Hai người đang tâm sự thì bạn bè của chàng trai xuất hiện và giúp chàng trai kéo cô gái về nhà mình. Cô gái dù biết trước mọi chuyện vẫn cảm thấy bất ngờ, kêu toáng lên. Không những thế cô gái phải giả vờ kêu cứu, khóc lóc để mọi người nhà mình biết đến cứu. Người ta cho rằng người con gái bị kéo về làm vợ mà không khóc lóc, kêu la thì đó là đồ con gái rẻ rúng và hư hỏng, bị gia đình và làng xóm coi khinh. Khi người nhà gái mang gậy gộc đến cứu cô gái thì các bạn của chàng trai sẽ xông ra đỡ đòn (theo luật lệ của người Mông là đã đi “kéo vợ” thì nhà trai không được phép đánh lại nhà gái) để chàng trai mang cô gái về nhà.

 Sau khi gia đình chàng trai mang gà ra làm lễ quét phép, cô gái mới được đưa vào nhà. Người Mông quan niệm: con gái đã bị người ta dùng gà trống làm lễ nhập nhà rồi thì có bỏ về bố mẹ đẻ cũng không thể chấp nhận được vì cô ta đã trở thành người của nhà khác, khi chết cũng là ma nhà khác rồi. Chính vì vậy, khi biết con gái mình đã bị người ta kéo về làm vợ thì dù có không đồng ý, có ấm ức thì đa phần nhà gái cũng đành đồng ý. Tuy nhiên, nếu cứ theo thủ tục thông thường thì khi đi ăn hỏi, hai bên có thể thỏa thuận về khoản lễ cưới nhưng nếu nhà trai dùng tục “kéo vợ” thì nhà gái sẽ ít khi thông cảm và thường phạt bằng cách đòi lễ cao hơn bình thường.

Khi đã chấp nhận dùng tục “kéo vợ” thì nhà trai phải xác định ngay là sẽ bị nhà gái phạt. Và khi nhà gái đòi bao nhiêu thì phải trả bấy nhiêu để tránh sự chê cười của làng xóm. Chính vì những lệ này mà không phải gia đình nào cũng có thể dùng tục “kéo vợ” cho con trai. Những gia đình muốn dùng tục “kéo vợ” thường phải là những gia đình, dòng họ tương đối khá giả thì mới có thể đáp ứng nhu cầu khi nhà gái phạt. Bởi có không ít gia đình phải mất vài ba năm mới có thể trả hết lệ phạt mà nhà gái đặt ra.

Ngày nay, cũng như nhiều dân tộc khác, người Mông luôn trọng chế độ hôn nhân một vợ, một chồng và quan niệm cái đẹp lứa đôi là khỏe mạnh, đạo đức và chăm chỉ. Hôn nhân là kết quả của tình yêu tự nguyện, các cuộc “kéo vợ” giờ đây chỉ là sự khẳng định cho tình yêu mãnh liệt, khát vọng về một gia đình hạnh phúc của trai gái người Mông mà thôi.

Có  thể  nói, người Mông có rất nhiều tục lệ với những ràng buộc khắt khe, song bên trong đó đều chứa đựng các yếu tố nhân văn rất tình người, được xử lý linh hoạt trên cơ sở đoàn kết yêu thương. Nó chính là nhân lõi để giữ gìn sự gắn bó của cộng đồng và bảo lưu các giá trị văn hóa của họ.

11. Phong tục Tết xưa

Dân tộc ta có nhiều ngày Tết. Tết là cách nói tắt hai chữ lễ tiết. Có Tiết Thương Nguyên, Trung Nguyên, Hạ Nguyên, Thanh Minh, Đoan Ngọ, TrungThu... Ngày tết nêu ở đây tức là nói tắt Lễ tiết Nguyên Đán (ngày đầu năm).

Ngày Tết, dân tộc ta có nhiều phong tục hay, đáng được gọi là thuần phong như khai bút, khai canh, hái lộc, chúc tết, du xuân, mừng thọ... Từ trẻ đến già ai ai cũng biết, không nhắc thì thanh thiếu niên cũng mua cho được cành hoa bánh pháo, nghèo cũng có chiếc bánh chưng, chai rượu. Vì vậy xin miễn liệt kê dài dòng, để trao đổi một vài phong tục đáng được duy trì phát triển.

Tống cựu nghênh tân:

Cuối năm quét dọn sạch sẽ nhà cửa, sân ngõ, vứt bỏ những thứ rác rưởi, cùng làng xóm dọn dẹp nhà thờ, đình chùa, đường sá phong quang, tắm giặt, cắt tóc, may sắm quần áo mới, trang trí bàn thờ, lau chùi bàn ghế ấm chén và mọi thứ thức ăn vật dụng.

Nhiều gia đình nhắc nhở, dặn dò con cháu từ phút giao thừa trở đi không quấy khóc, không nghịch ngợm, cãi cọ nhau, không nói tục chửi bậy, không vứt rác viết vẽ bừa bãi. Cha mẹ, anh chị cũng không quở mắng, tra phạt con em, đối với ai cũng tay bắt mặt mừng, vui vẻ niềm nở dầu lạ dầu quen.

Đối với bà con xóm giềng dù trong năm cũ có điều gì không hay không phải, điều nặng tiếng nhẹ hay xích mích gì đều xúy xoá hết. Dầu có thực lòng hay không nhưng không để bụng, cũng không ai nói khích bác hoặc bóng gió, ác ý gì trong những ngày đầu năm. Dẫu mới gặp nhau ít phút trước, nhưng sau phút giao thừa coi như mới gặp, người ta chúc nhau những điều tốt lành.

Hái lộc, xông nhà, chúc tết, mừng tuổi:

Ai cũng hy vọng một năm mới tài lộc dồi dào, làm ăn thịnh vượng, mạnh khỏe tiến bộ, thành đạt hơn năm cũ. Lộc tự nhiên đến, đi hai lộc (chỉ là một cành non ở đình chùa, ở chốn tôn nghiêm mang về nhà), tự mình xông nhà hoặc dặn trước người "Nhẹ vía" mà mình thích đến xông nhà. Bạn nào vinh dự được người khác mời đến xông thì nên chú ý, chớ có sai hẹn sẽ xúi quẩy cả năm đối với gia đình người ta và cả đối với bạn. Ở thành thị thời trước, sáng mồng một, có một số người nghèo gánh một gánh nước đến các gia đình giầu có lân cận và chúc họ "Lộc phước dồi dào". Những người này được thưởng tiền rất hậu. Nhiều người không tin tục xông nhà nhưng cũng phải dè dặt, chưa dám đến nhà ai sớm, sợ trong năm mới gia đình người ta xảy ra chuyện gì không hay đổ tại mình "Nặng vía". Chính vì vậy, đáng lẽ sáng mồng một đông vui lại hoá ít khách, trừ những nhà đã tự xông nhà, vì tục xông nhà chỉ tính người đầu tiên đến nhà, từ người thứ hai trở đi không tính.

Sau giao thừa có tục mừng tuổi chúc Tết. Trước hết con cháu mừng tuổi ông bà, cha mẹ. Ông bà cha mẹ cùng chuẩn bị một ít tiền để mừng tuổi cho con cháu trong nhà và con cháu hàng xóm láng giềng, bạn bè thân thích. Lời chúc có ca có kệ hẳn hoi nhưng xem người ta thích nhất điều gì thì chúc điều đó, chúc sức khoẻ là phổ biến nhất. Chú ý tránh phạm tên huý gia tiên, tránh nhắc tới lỗi lầm sai phạm cũ, xưng hô hợp với lứa tuổi và quan hệ thân thuộc. Chúc Tết nhưng người trong năm cũ gặp rủi ro tai hoạ thì động viên nhau "Của đi thay người", "Tai qua nạn khỏi", nghĩa là ngay trong cái hoạ cũng tìm thấy cái phúc, hướng về sự tốt lành. Kể cả đối với người phạm tội vẫn với thái độ nhẹ nhàng, khoan dung. Nhưng, nhìn chung trong những ngày đầu năm, người ta kiêng không nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa.

Quanh năm làm ăn vất vả, ít có điều kiện qua lại thăm hỏi nhau, nhân ngày Tết đến chúc mừng nhau, gắn bó tình cảm thật là đặm đà ý vị; hoặc điếu thuốc miếng trầu, hoặc chén trà ly rượu, chẳng tốn kém là bao. Hiềm một nỗi, nhiều người còn quá câu nệ, công thức ruờm rà, không chủ động được kế hoạch. Nhiều vùng nông thôn, hễ đến chúc Tết nhau nhất thiết phải nâng ly rượu, nếm vài món thức ăn gì đó chủ mời vui lòng, năm mới từ chối sợ bị giông cả năm.

Quà Tết, lễ Tết:

Bình thường qua lại hỏi thăm nhau có khi cũng có quà, biểu lộ mối ân tình, nhưng phong tục ta đi lễ Tết vẫn có ý nghĩa hơn, nhất là đi trước Tết càng quý. Loại trừ động cơ hối lộ quan trên để cầu danh cầu lợi thì việc biếu quà Tết, tổ ân nghĩa tình cảm là điều đáng quý. Học trò tết thầy giáo, bệnh nhân tết thầy thuốc, con rể tết bố mẹ vợ... quà biếu, quà Tết đó không đánh giá theo giá thị trường. Nhưng cũng đừng nên gò bó, câu nệ sẽ hạn chế tình cảm: Không có quà, ngại không dám đến. Dân tộc ta tuy nghèo nhưng vẫn trọng nghĩa tình, "Lời chào cao hơn mâm cỗ".

Lễ mừng thọ:

Ở các nước Tây Âu thường mừng thọ vào dịp kỷ niệm ngày sinh, ở ta ngày xưa ít ai nhớ chính xác ngày sinh tháng đẻ nên vào dịp đầu xuân thường tổ chức mừng thọ lục tuần, thấp tuần, cửu tuần... tính theo tuổi mụ. Ngày tết ngày Xuân cũng là dịp mọi người đang rảnh rỗi, con cháu tụ tập đông vui.

Cũng vào dịp đầu xuân, người có chức tước khai ẩn, học trò sĩ phu khai bút, nhà nông khai canh, thợ thủ công khai công, người buôn bán mở hàng lấy ngày: Sĩ, Nông, Công, thương "Tứ dân bách nghệ" của dân tộc ta vốn cần cù, ai cũng muốn năm mới vận hội hành thôn làm ăn suôn sẻ, đầu xuân chọn ngày tốt đẹp, bắt tay lao động sớm, tránh tình trạng cờ bạc, rượu chè, hội hè đình đám, vui chơi quá đà. Sau ngày mồng một, dù có mãi vui tết, hoặc còn kế hoạch du xuân, đón khách, cũng chọn ngày "Khai nghề", "Làm lấy ngày". Nếu như mồng một là ngày tốt thì chiều mồng một đã bắt đầu. Riêng khai bút thì giao thừa xong, chọn giờ hoàng đạo bắt đầu không kể mồng một là ngày tốt hay xấu. Người thợ thủ công nếu chưa ai thuê mướn đầu nǎm thì cũng tự làm cho gia đình mình một sản phẩm, dụng vụ gì đó (nguyên vật liệu đã chuẩn bị sẵn). Người buôn bán, vì ai cũng chọn ngày tốt nên phiên chợ đầu xuân vẫn đông, mặc dầu người bán chỉ bán lấy lệ, người đi chợ phần lớn là đi chơi xuân.

Cờ bạc:

Ngày xưa các gia đình có nề nếp quanh năm cấm đoán con cháu không được cờ bạc rượu chè nhưng trong dịp tết, nhất là tối 28, 29; gia đình quây quần bên nồi bánh chưng thì ông bố cho phép vui chơi, có cả trẻ con người lớn những nhà hàng xóm, những gia đình thân cận cùng vui. Tam cúc, cơ gánh, cờ nhảy, cờ tướng, kiệu, chắn, tổ tôm... ai thích trò nào chơi trò ấy. Đế lế khai hạ, tiễn đưa gia tiên, coi như hết Tết thì xé bộ tam cúc, thu bàn cờ tướng, cất bộ tổ tôm hoặc đốt luôn khi hoá vàng.

12. Tết Trung thu xưa và nay

Heo may về trên phố, không khí mùa thu mát mẻ và đâu đây như đã vang lên tiếng trống tùng rinh rinh tưng bừng. Tiếng trẻ em với câu hát rộn rã quen thuộc “chiếc đèn ông sao , sao năm cánh tươi màu” vang lên khắp nơi. Vậy là Tết trung thu đã về.

Trung thu là ngày trăng tròn nhất trong năm, bởi lẽ nó trùng vào ngày thu phân, lúc ấy mặt trời rọi tương đối thẳng vào mặt trăng nên nó nhận được nhiều ánh sáng hơn cả. Người xưa cho rằng mọi thứ trong đêm rằm trung thu đều phải sáng. Có lẽ vì thế, đêm trung thu các loại đèn đều được thắp  sáng lung linh.

Tết Trung thu còn được trẻ em mong ngóng với tên gọi Tết trông trăng. Đây là dịp các bé được bố mẹ ông bà tặng những đồ chơi dễ thương, những chiếc bánh thơm lừng và những hoa quả đặc trung của mùa. Có lẽ, trong kí ức tuổi thơ của mỗi người không thể nào quên được tiếng trống thúc giục tưng bừng, tiếng vui cười rộn rã đêm phá cỗ trông trăng. Nằm trong vòng quay có tính chu kì của thời gian, bao nhiêu rằm tháng Tám đã đi qua nhưng mỗi năm, mỗi thời và trong mỗi hoàn cảnh, trẻ em lại được đón trung thu theo những cách khác nhau

Đã từ rất lâu rồi, cứ đến độ giữa tháng Tám- thời điểm giữa mùa thu -cũng là lúc trăng tròn và sáng nhất không chỉ các em nhỏ mà ngay cả người lớn cũng có cái gì đó náo nức lạ thường. Người lớn không chỉ lo chuẩn bị cho con cái một Tết Trung thu tươm tất, vui vẻ mà trong lòng mỗi người còn có kí ức tuổi thơ ùa về. Thời kì trước, khi đất nước còn khó khăn, các đồ chơi cho trẻ chưa bày bán nhiều như bây giờ, những ông bố khéo léo thường tự tay mình làm đồ chơi cho con trẻ. Đó là những chiếc đèn ông sao năm cánh dán giấy đỏ, là chiếc mặt nạ bằng bìa bên ngoài vẽ hình nhân vật các em yêu thích trong các tích truyện, chiếc chong chóng, đèn kéo quân…

Có ai lại chưa một lần cảm giác hồi hộp khi ngồi ngắm chiếc đèn kéo quân đợi đốt nến để ngắm những hình thù ngộ nghĩnh chạy chầm chậm. Có khi, mỗi chiếc đèn kéo quân lại chứa một câu chuyện cổ tích. Các hình chạy đến đâu, các em lại được lắng nghe ông bà kể chuyện đến đó. Khoảng thời gian ấy thật tĩnh lặng, chỉ còn vầng trăng trên cao cũng đang ghé mình nghe ngóng. Trong không gian đâu đây thoảng mùi thơm của hạt bưởi bị đốt. Thường ngày, các hạt bưởi được gom lại, bóc vỏ và phơi khô xiên vào sợi dây thép. Đêm hôm rằm những chuỗi hạt này đốt lên vừa phát ra những tiếng lách tách nho nhỏ, vài tia lửa be bé và đặc biệt là mùi thơm đặc trưng của vỏ bưởi.

Mỗi đêm rằm tháng Tám, ngoài những đồ chơi dễ thương, các em nhỏ còn trông đợi mâm cỗ trông trăng. Thông thường, mâm cỗ này cũng được chuẩn bị khá cầu kì và tươm tấ bởi bàn tay khéo léo của các mẹ, các chị. Một chú chó xù làm bằng tép bưởi được gắn hai hạt đậu đen là mắt, xung quanh có nhiều hoa quả, đặc biệt là những quả hồng chín mọng. Đối với người Hà Nội, mùa trông trăng tháng Tám cũng là mùa cốm nức hương. Những hạt cốm mềm dẻo thơm lừng tỏa hương nhè nhẹ làm cho không khí thêm đầm ấm. Đây cũng là dịp cả nhà quây quần bên nhau, một buổi sum họp gia đình vui vẻ. Người lớn nghe con trẻ hát múa, vui đùa. 

Trẻ con đeo những chiếc mặt nạ ngộ nghĩnh, gõ trống đợi trăng lên cao. Đến khi vầng trăng tròn vành vạnh tỏa sáng giữa bầu trời thì mâm cỗ được phá. Trong đêm Tết Trung thu, trẻ cũng rất thích  chơi trò rồng rắn. Đi trước là đội múa lân, đội gõ trống, trên tay các em là những chiếc đèn rực rỡ sắc màu và hình thù. Thêm vào đó là ông địa vui nhộn với cái bụng tròn, khuôn mặt phúc hậu với nụ cười rạng rỡ. Đoàn múa lân và các em nhỏ cùng nhau đi đến từng nhà chúc mừng Trung thu vui vẻ, được các gia đình thưởng kẹo bánh. Sau khi đi hết một vòng, số kẹo bánh này lại được mọi người mang ra tổ chức liên hoan vui chung. Đêm cứ thế rộn rã cho đến khuya. Những cái Tết Trung thu giản dị mà đáng nhớ ấy không thể nào phai mờ trong kí ức mỗi người. Tuổi thơ lớn lên, mỗi năm đến hẹn, rằm tháng tám lại tưng bừng náo nức tiếng hát, tiếng trống rinh tùng rinh.

Khắp phố phường Hà Nội đã rực lên những sắc màu trung thu rực rõ: đèn ông sao, đèn cá chép, đèn kéo quân, các loại bánh nướng, bánh dèo.  Ngày nay, cuộc sống hiện đại và đầy đủ nên cái tết rằm tháng tám cũng có phần khác trước. Các đồ chơi dành cho trẻ cũng hiện đại hơn có khi không phải là đèn ông sao làm bằng tre giản dị mà là những chiếc súng phun nước, những cây đèn sáng bằng pin nhân tạo các đồ chơi siêu nhân, ô tô, máy bay ... Nhận được bất kì đồ chơi nào trẻ cũng đều rất thích thú, chỉ có điều đôi khi người lớn vô tình đã khiến cho trẻ quên mất những nét đẹp đón Tết Trung thu cổ truyền.

Tết Trung thu có khi các em được tặng chiếc vé mới đi xem phim, đi xem biểu diễn ca múa, thậm chí là bữa tiệc trong một nhà hàng sang trọng nào đó. Trăng vẫn  tròn vành vạnh nhưng các em chẳng được ngắm trăng lên giữa bầu trời cao rộng nữa. Mâm cỗ trung thu có khi còn bị lãng quên vì cha mẹ  bận rộn công việc chỉ kịp mua ít bánh trung thu có bày bán trong các siêu thị, các túi kẹo đủ màu mà quên mất vài múi bưởi xếp hình đáng yêu. Liệu tất cả những điều đó có đủ đáp lại niềm háo hức trông đợi Tết trung thu của các em ? Tết Trung thu năm nay sắp đến,  tôi cứ ước ao những đêm rằm Trung thu xưa:  tiếng trồng rộn ràng, chú lân nhảy múa tưng bừng và ông địa hiền lành múa đón trăng lên….

13. Bản sắc văn hoá các dân tộc Hà Giang

Hà Giang là mảnh đất hội tụ của đa dạng nền văn hoá. Đó là mảnh đất của 22 tộc người cư trú và mỗi dân tộc mang đến cho Hà Giang một nét văn hoá độc đáo riêng.

Người Mông

Người Mông ở Hà Giang có khoảng 194.483 người với 2 nhóm chính là Mông trắng và Mông hoa. Người Mông ở đây nổi tiếng với truyền thống canh tác nương đá, trồng lúa, ngô và các loại hoa màu khác. Sản xuất thủ công của đồng bào Mông đạt đến trình độ khá cao như dệt, đan lát, làm đồ gỗ, rèn đúc...

Trang phục truyền thống của phụ nữ Mông rất độc đáo. Một bộ nữ phục bao gồm váy, áo cánh, áo xẻ ngực có yếm lửng, thắt lưng, khăn quấn đầu, xà cạp... Váy thường là hình nón cụt, xếp nếp xoè rộng, cũng có khi là váy ống, khi mặc xếp ở hai bên hông. Nhà của người Mông làm bằng đất, có 3 gian, gian giữa đặt bàn thờ tổ tiên.

Các cửa chính và cửa phụ đều mở về phía trong. Văn hoá truyền thống người Mông là một kho tàng hết sức phong phú với những phong tục tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng. Các dòng họ người Mông có cách thờ cúng tổ tiên không giống nhau. Một số lễ cúng chính như cúng ma cửa (xia mình), ma lớn mụ (đa trung) với số lượng, nội dung các bài cúng, bài trí, sắp xếp nơi cúng, nơi ăn uống đa dạng và phức tạp.

Văn học nghệ thuật Mông thể hiện tâm lý, ý thức của cộng đồng, các vấn đề về tự nhiên, xã hội và lịch sử. Nổi bật trong đó là những khúc hát về tình yêu, được thể hiện bằng khèn, sáo, đèn môi, kèn lá. Hoa văn trang trí trên váy là các hình bướm, rắn, hoa, răng bừa, mắt chim, chân lợn... màu sắc hài hoà. Tất cả là những tài sản vô giá của cộng đồng người Mông được lưu giữ từ lâu đời.

Người Dao

Người Dao ở Hà Giang có khoảng 95.959 người với các ngành Dao đỏ, Dao tiền, Dao quần trắng, Dao áo dài, Dao lô giang. Họ sống bằng nông nghiệp nương rẫy, ruộng bậc thang. Người Dao có một số nghề thủ công mang dấu ấn riêng độc đáo như rèn đúc làm đồ trang sức, thêu in hoa trên vải bằng sáp o­ng... Người Dao Hà Giang ở nhà sàn, nhà đất hoặc nửa sàn, nửa đất. Họ thường ở gần nguồn nước.Trang phục của họ có nhiều yếu tố truyền thống như hoa văn chỉ màu, các loại khăn, áo, váy quấn của phụ nữ rất đa dạng.

Văn hoá tín ngưỡng truyền thống của người Dao rất phức tạp thể hiện quan niệm, ý thức tâm linh cộng đồng. Thờ cúng và ma thuật là một phương diện chứa đựng màu sắc riêng, có chiều sâu văn hoá, đó không đơn giản là những hình thức mê tín dị đoan bình thường. Văn nghệ dân gian Dao rất phong phú bao gồm những thần thoại, truyện cổ, truyện thơ, dân ca, tục ngữ, câu đố phản ánh trong đó là quan niệm của cộng đổng về vũ trụ, nhân sinh quan, thế giới quan.

Người TàyVới khoảng 157.757 người sinh sống ở Hà Giang. Họ sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước tại các chân ruộng ở ven núi, sông và trồng trọt trên nương rẫy. Các nghề thủ công gia đình khá phát triển như đan lát, sản xuất nông cụ, đóng đồ gỗ, làm đồ gốm... Nghề dệt vải của người Tày khá phát triển, đặc biệt là các loại chăn, khăn thổ cẩm với hoa văn phong phú được nhiều người yêu thích. Làng người Tày thường ở chân núi và có từ 20 đến 30 nóc nhà.

Họ ở nhà sàn, lợp gianh hoặc cọ. Trang phục của họ chủ đạo là màu chàm, nữ chít khăn mỏ quạ, mặc áo năm thân có thắt lưng, đeo vòng cổ, tay, chân bằng bạc. Văn hoá tín ngưỡng người Tày rất phong phú với các loại lễ nghi và các bài cúng tế lễ liên quan đến sản xuất, vòng đời con người, cưới hỏi, tang ma, lễ mừng nhà mới... Văn học dân gian Tày là một kho tàng về các loại thần thoại, truyện cổ, truyện thơ, dân ca... Dân ca Tày nói tiếng với các làn điệu "lượn"- đây là một hình thức văn hoá như hát ví, hát đối đáp ở người Việt.

Người Nùng
Họ sinh sống ở Hà Giang với khoảng 61.312 người. Họ sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng nước với kỹ thuật canh tác, tưới tiêu khá cao. Chăn nuôi gia súc khá phát triển. Đa dạng về nghề thủ công như rèn, đúc, đan lát, nghề mộc, làm giấy bản đặc biệt là nghề dệt vải. Người Nùng thường sinh sống ở các thung lũng bên sườn đồi hoặc ven sông, suối. Trang phục của họ được nhuộm chàm, phụ nữ mặc áo năm thân, cúc cài nách phải. Nam giới mặc áo cổ đứng xẻ ngực với hàng cúc vải và 4 túi không nắp. Họ ở nhà sàn khá to, rộng.

Nhà ngoài dành cho nam giới và là nơi thờ cúng tổ tiên, nữ giới ở nhà trong. Người Nùng không làm giỗ sau khi chết mà làm sinh nhật (lễ mừng thọ) cho người sống từ 50 tuổi trở lên và cúng chay cho người chết vào rằm tháng 7 âm lịch. Lễ cưới của người Nùng còn bảo lưu nhiều tập quán cổ và người cậu bên mẹ có một vai trò rất quan trọng thay mặt nhà trai đi dạm hỏi và tổ chức các công việc có liên quan đến tục lệ cưới xin. Văn nghệ dân gian người Nùng nổi tiếng nhất là điệu Sli, là cách hát giao duyên của thanh niên nam nữ.

Người Giáy

Người Giáy ở Hà Giang có khoảng 61.312 người. Họ sống bằng nguồn chính là nghề trồng lúa nước, ngoài ra còn làm nương. Hàng năm người Giáy có lễ Roóng poọc để mở đầu việc làm ruộng. Chuồng trại của họ xa nhà mà lại gần nương rẫy. Nghề thủ công của người Giáy đáng chú ý là nghề dệt và đồ đan lát từ tre lạt. Trang phục của họ đơn giản, hầu như không có hoa văn thêu thùa. Nam phục gồm có quần dài chấm gối, xẻ nách phải, ống tay rộng và chiếc quần ống rộng.

Nữ phục gồm áo dài che kín mông, xẻ nách phải, ống tay rộng, trên cổ tay đắp miếng vải khác màu. Kiến trúc của họ là nhà sàn, gian thờ ở chính giữa. Bàn thờ có 3 bát hương thờ thần đất, thần bếp và tổ tiên. Khi trong nhà có người chết phải làm ma, con cháu trong nhà kiêng ăn thịt, không vui đùa, không ngồi ghế cao, ngủ giường cao. Khi đưa đám phải đi nhanh như chạy vì "sợ bị cướp xác". Trai gái đến tuổi dựng vợ gả chồng thường phải làm thủ tục xem lá số, xem mệnh nếu hợp mới được lấy.

Văn nghệ dân gian Giáy rất phong phú , thơ ca, tục ngữ, thành ngữ, câu đối của họ nhiều về số lượng và phong phú về nội dung. Dân ca Giáy có 3 hình thức rất phổ biến là Vươn há lản (hát bên mâm rượu), Vươn chăng hằm (hát tỏ tình) và Vươn sroỏng răn (hát tiễn đưa).

Người La Chí

Người La Chí duy nhất chỉ có ở Hà Giang còn có tên gọi khác là Cù Tê, Thổ Đen, Mán Xá. Cộng đồng người La Chí chỉ có khoảng 10.361 người. Họ rất giỏi canh tác ruộng bậc thang và làm nương với các loại cây trồng chủ yếu như lúa, ngô, khoai, sắn...nhưng có một điều đặc biệt là những nương rẫy màu mỡ nhất bao giờ cũng được dùng để trồng bông và cây chàm.

Làng bản La Chí thường nằm ở trên các sườn núi cao. Nhà ở loại nửa sàn, nửa đất, phần đất dùng làm bếp và phần sàn dùng làm nhà ở. Trang phục của họ không cầu kỳ. Đàn ông mặc áo dài nhuộm chàm, cài khuy cách trái. Phụ nữ chủ yếu mặc quần, bộ nữ phục đáng chú ý có chếc váy thêu, bên ngoài là chiếc áo dài xẻ ngực không cài cúc, dùng thắt lưng vải để giữ vạt áo. Người La Chí coi mọi vật đều “có hồn”, trong đó đáng chú ý là “hồn lúa”.

Trong nhà có nhiều bàn thờ của nam giới xếp theo thứ tự từ bố đến con trai út, con thứ và con cuối cùng là con trai cả. Khi có người chết, quan tài được rửa bằng xương gà để chọn đất chôn. Trong hôn nhân họ có tục lệ “trói” chú rể cùng với bạn bè, bà mối dẫn cô dâu ra khỏi buồng về nhà chú rể. Văn học nghệ thuật La Chí là những câu chuyện kể, giải thích nguồn gốc con người, nguồn gốc dân tộc và nguồn gốc mặt trời, cây lúa. Trong các dịp lễ hội, có nhiều trò chơi vui nhộn như thú ném còn, đánh đu và đặc biệt là bài hát “Ní ca”, đánh đàn tích, chiêng, trống.

Trên đây chỉ là một phần nhỏ văn hoá của 6 dân tộc đông dân ở Hà Giang. Họ còn nhiều nét văn hoá rất độc đáo khác cần tìm hiểu, nghiên cứu và khám phá. Các dân tộc khác chưa kịp nhắc đến như người Cờ lao, Pu Péo, Lô Lô, Phù Lá, Người Hoa, Pà Thẻn…cũng có đời sống văn hoá, sinh hoạt riêng khá độc đáo góp phần cùng các dân tộc trên tạo ra một Hà Giang đa dạng bản sắc văn hoá dân tộc.

14. Síp xí - tết của người Thái đen Mường Lò, Yên Bái

Ai đã từng đến Mường Lò (thị xã Nghĩa Lộ), một vùng đất phì nhiêu, trù phú của vùng Tây Bắc, nơi có cánh đồng bằng phẳng, thẳng cánh cò bay rộng thứ hai khu vực Tây Bắc, nổi tiếng với “gạo trắng, nước trong”, với đặc sản chè tuyến Shan cổ thụ, với hương thơm nồng nàn của nếp Tan Tú Lệ. Nơi đây còn là mảnh đất quần cư của người Thái đen giàu bản sắc, đậm đà phong tục, tập quán.

Mường Lò - theo các nhà khoa học, đó là mảnh đất quần cư đầu tiên của người Thái đen khi vào Việt Nam. Đặc biệt hơn, nếu du khách đến Mường Lò vào dịp 13 - 14/7 âm lịch, hẳn sẽ vô cùng thích thú khi được tham dự vào lễ tết đặc biệt cổ truyền của người Thái đen, đó là tết Síp Xí cổ truyền.

Các cụ già nơi đây cũng không nhớ tết Síp Xí có tự bao giờ, chỉ biết rằng hàng năm bản Thái đều tổ chức Tết Síp Xí một cách trang trọng, đầm ấm, vui tươi. Là tết lớn nhất của người Thái đen Mường Lò nên ngày 10 -13/7 Âm lịch, các bà, các mẹ, các chị trong mỗi gia đình đều chuẩn bị lá chuối rừng, gạo nếp, thịt gà, lạc... để làm món bánh síp xí (pảnh síp xí), một loại bánh quan trọng nhất trong lễ tết này bánh síp xí của người Thái đen Mường Lò.

Bánh síp xí 2 loại: một loại là “Pảnh cuổi”, bánh làm bằng gạo nếp nghiền với chuối tiêu, gói bằng lá chuối xôi chín; loại thứ 2 là “Pảnh cáy”, bánh có nhân làm từ đỗ xanh và thịt gà băm nhỏ với lạc, cũng được gói bằng lá chuối đồ chín. “Pảnh síp xí” được gói 2 chiếc trên một tàu lá chuối sau đó xoắn giữa cặp đôi 2 chiếc vào với nhau, dùng một dây lạt buộc ở đầu. Trong ngày tết Síp Xí, bánh này ngoài dùng làm lễ vật cúng ma nhà (Co lo hoóng), còn được đồng bào dùng làm quà biếu bà con anh em trong dòng họ, biếu tặng khách quý và những người dân tộc khác

Ngoài việc làm thật nhiều “Pảnh síp xí” để đón tết các thiếu nữ dân tộc Thái ra chợ lựa chọn mua hoặc tự đi lấy các loại lá cơm màu để về làm xô ngũ sắc dâng cúng tổ tiên, lễ vật không thể thiếu. Thịt vịt là món ăn chính trong Tết Síp Xí, theo quan niệm của người dân là tổng kết một vụ mùa, cầu xin cho con trâu được khỏe mạnh, cây lúa được tốt tươi, người người được hạnh phúc

Do đó gia đình nào cũng mổ một vài con vịt trong dịp tết để “phá xúi” xua tan đi những điều đen đủi, không may mắn trong cuộc sống. Rượu, thịt, cá và các món ăn được đồng bào chuẩn bị khá chu đáo để thiết đãi bạn bè, khách khứa trong dịp tết này. Cùng với việc chuẩn bị lễ vật để cúng tổ tiên, thì nhà cửa, ngõ xóm, ruộng vườn cũng được đồng bào sửa sang trang hoàng cho thật sạch đẹp. Các cô gái tuổi cập kê cũng chuẩn bị lựa chọn cho mình những bộ áo váy cùng dây xà tích, khăn piêu đẹp nhất để diện trong dịp tết.

Được chứng kiến và tham dự vào tết Síp Xí của người Thái đen Mường Lò, chúng ta không chỉ cảm nhận các giá trị văn hóa hết sức đặc sắc qua văn hóa ẩm thực trong ngày tết của đồng bào mà còn hiểu được những giá trị nhân văn qua các nghi thức, nghi lễ, phong tục tập quán truyền thống. Bắt đầu bước vào tết Síp Xí là lễ cúng tổ tiên (co lo hoóng) của gia chủ. Chủ nhà cúng khấn mời tổ tiên, các ma nhà về dự tết chung vui cùng con cháu. Lễ cúng này được diễn ra ngay tại gian thờ “co lo hoóng”, bao gồm xôi ngũ sắc, bánh síp xí và một thủ lợn.

Nghi thức tiếp theo là lễ cúng ruộng “Tam tế ra”. Mâm cúng xôi và thịt gà đặt ngang đầu ruộng của gia đình. Thầy cúng ngồi trước thửa ruộng cầu xin ma bản, ma làng, tổ tiên thần thánh về phù hộ và chăm sóc cho cây lúa của gia đình không bị con sâu, con thú về phá hoại, cho lúa lên nhanh, hạt to, chắc, mẩy. Kết thúc lễ cúng, lễ vật sẽ được thả xuống ruộng như lời minh chứng về sự cầu xin thành khẩn của gia đình trong ngày tết.

Con trâu là con vật quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp của người Thái đen Mường Lò. Một năm cầy cấy vất vả trong dịp tết Síp Xí đồng bào dân tộc Thái nơi đây cũng cho trâu được “ăn tết” bằng nghi thức cúng vía cho trâu “Tám khuôn quai”, cầu xin tổ tiên thần thánh che chở, bảo vệ cho trâu được khỏe mạnh để giúp đỡ gia đình trong sản xuất nông nghiệp.

Trong ngày tết Síp Xí, các cháu chắt nội ngoại sống gần nhà, ông bà sẽ mang những cặp bánh síp xí mới nhất, ngon nhất cùng 1 bộ gan vịt (đó là phần mà đồng bào quan niệm là ngon nhất và quan trọng nhất) sang nhà ông bà chúc phúc mừng tuổi ông bà. Đáp lại tình cảm của các cháu, ông bà tặng mỗi cháu 2 cặp bánh síp xí cầu mong cho các cháu luôn khỏe mạnh, ngoan ngoãn.

Rất nhiều những món ăn đặc sắc của người Thái đen Mường Lò được người dân thể hiện trong tết Síp Xí cổ truyền này. Cùng với đó là những nét văn hóa trong sinh hoạt văn hóa ẩm thực hết sức đặc sắc mà đồng bào còn lưu giữ được như một “gia sản” văn hóa mà không phải bất cứ dân tộc nào cũng được sở hữu. Sau bữa cơm síp xí, theo phong tục truyền thống, các nam thanh nữ tú rủ nhau đi chơi hội hang Thẩm Lé, hội chơi núi hái nêm (quả sim), mọi người đều nô nức vui chơi trong niềm vui tươi phấn khởi.

Kết thúc tết Síp Xí cổ truyền là nghi thức cúng then và xòe then (xe then) tại nhà Mo Then trong bản. Mọi người từ khắp nơi đều tập trung tại đây. Các điệu xòe then như: xòe gậy, xòe khăn, xòe quạt, xòe hoa... được đồng bào thể hiện trong suốt đêm hội “xe Then” để múa mừng và mời các thần Then về dự tết và chung vui cùng trai làng gái bản. Cùng với đàn tính và chùm sắc nhạc rung lên liên hồi làm cho không khí của ngày hội càng rộn ràng như không có hồi kết.

Tết Síp Xí người Thái đen Mường Lò tích hợp nhiều giá trị văn hóa dân gian đặc sắc, hội tụ đầy đủ các yếu tố văn hóa cổ truyền mà người dân nơi đây đã gìn giữ được từ đời này qua đời khác. Hãy thử một lần đến Mường Lò vào dịp tết Síp Xí (14/7 Âm lịch), chúng ta sẽ cảm nhận được những nét đặc sắc, độc đáo, những giá trị tinh hoa còn được lưu giữ đến tận ngày nay trong các bản làng của người Thái đen Mường Lò, Yên Bái.

 

15. Hà Nội phục dựng lễ cúng đàn Mông Sơn thí thực

Đàn lễ Mông Sơn thí thực thể hiện sự hòa nhập, pha trộn tín ngưỡng giữa Phật giáo và Đạo giáo cũng như tín ngưỡng dân gian Việt Nam, đặc biệt là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.

Nằm trong mùa lễ Vu Lan của Phật giáo, việc cúng Mông Sơn thí thực tại chùa chú trọng đến việc siêu độ các oan hồn, uổng tử không nơi nương tựa. Tương truyền việc siêu độ cô hồn phát xuất từ đời nhà Đường - Trung Quốc khi ngài Huyền Trang trở về sau chuyến Tây Du, lập đàn siêu độ cho tứ sinh đang luân hồi trong lục đạo. Qua đời Tống, ngài Bất Khinh Tam Tạng chuyên tu Mật Giáo ở Mông Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, quán biết các cô hồn đang vất vưởng, nên có tên gọi là đàn lễ Mông Sơn thí thực.

Tương truyền tại Việt Nam, Khoa cúng Phật được tổ Huyền Quang (Tam tổ Trúc Lâm) đặt ra nhằm thu hút Phật tử, nên Ngài đã tận dụng tối đa những tinh hoa của nghệ thuật Tuồng và Chèo cũng như các làn điệu dân ca để tạo cho Khoa cúng một màu sắc nghệ thuật hấp dẫn nhất.

Đàn lễ Mông Sơn thí thực cũng thể hiện sự hòa nhập, pha trộn tín ngưỡng giữa Phật giáo và Đạo giáo cùng tín ngưỡng dân gian Việt Nam, đặc biệt là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.

Theo nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Bùi Trọng Hiền thì Lễ Mông Sơn thí thực còn hấp dẫn bởi âm nhạc với “Dàn nhạc lễ được sắp đặt theo một sơ đồ nghệ thuật có tính chuyên nghiệp khá cao, một người cầm chuông gõ mõ đóng vai trò giữ nhịp như nhạc trưởng, các thành viên còn lại chia làm 2 thành phần đối xứng, hát xướng quăng bắt đầy tính phức hợp. Điều đặc biệt, các thành viên vừa hát xướng tụng tán lại vừa phải đảm nhiệm các nhạc cụ hỗ trợ, đó là năng lực không dễ gì rèn luyện”.

Đáng chú ý nhất trong đàn lễ Mông Sơn thí thực chính là màn phá ngục, đó thực sự là trò diễn dân gian với tính biểu tượng tôn giáo rất giá trị có sự kết hợp của diễn xướng dân gian, bí pháp và đạo pháp và sự huyền vi của Phật pháp.

16. Vũ khúc của người Mông Nà Hẩu, Yên Bái

Nà Hẩu là xã vùng cao của huyện Văn Yên (tỉnh Yên Bái). Với đa số là đồng bào dân tộc Mông sinh sống, nơi đây vẫn còn lưu giữ được những giá trị văn hóa độc đáo, đặc sắc riêng, đặc biệt là các bài dân ca, dân vũ góp phần quan trọng trong đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Mông.

Dân ca, dân vũ của người Mông là những bài hát, điệu múa do đồng bào dân tộc Mông sáng tác, được lưu truyền từ lâu đời và gắn liền với phong tục, với cuộc sống, với tình yêu quê hương, tình yêu nam nữ của đồng bào dân tộc. Một trong những điệu dân vũ được người Mông yêu thích, ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người con dân tộc và được lưu giữ đến ngày nay đó là điệu múa gậy tiền (hay còn là múa sênh tiền) của người Mông.

 Vàng A Phử, người con của dân tộc Mông, đội trưởng đội văn nghệ của thôn Khe Cạn, xã Nà Hẩu yêu điệu múa Sênh Tiền từ rất lâu rồi. Từ nhỏ, Phử đã đi xem người già trong bản biểu diễn và đã say với điệu múa này. Điệu múa này không biết có từ bao giờ, chỉ biết rằng đây là một điệu cổ truyền của dân tộc đã được các thế hệ đi trước biểu diễn và cứ truyền lại cho con cháu từ đời này qua đời khác. Điệu múa đã giúp cho mọi người xích lại gần nhau hơn và đem lại một không khí đầm ấm, vui tươi cho cả làng, cả bản.

 Loại nhạc cụ được sử dụng trong điệu múa này chỉ là một cây gậy được làm bằng một đoạn trúc hoặc tre có đường kính từ 5 cm đến 7 cm, dài 1m đến 1,2m và được chia làm 4 khấu trong đó có 3 khấu được đục lỗ ở giữa để xâu đồng xu vào giữa. Khấu còn lại nằm ở khúc thứ 2 không đục lỗ để người múa khi biểu diễn cầm vào; trong mỗi một khấu đục lỗ lại được chia làm 4 dãy đồng xu, mỗi dãy có từ 4 đến 6 đồng xu hợp lại (trước đây là những đồng xu cổ được sản xuất từ năm 1938 trở về trước nhưng hiện nay những đồng xu đó không còn nữa thì người Mông sử dụng những miếng nhôm hoặc lá đồng cắt theo hình tròn để thay thế) và khoảng cách giữa các dãy đồng xu là từ 5 đến 10 cm.

 Ở hai đầu chiếc gậy được buộc một túm chỉ với các màu xanh, đỏ, tím, vàng... để trang trí cho cây gậy đẹp hơn khi biểu diễn và 2 chùm dây này chính là điểm nhấn để tạo sự mềm mại và uyển chuyển cho người múa. Mới nhìn thì ai cũng tưởng cây gậy đơn giản, nhưng để làm ra nó là cả một quá trình mà người Mông đã chắt chiu cả ước mơ gửi vào trong đó.

 Khi múa, người chơi cầm cây tiền vừa múa vừa di chuyển với các động tác khéo léo để cây gậy chạm nhẹ vào cơ thể như tay, chân, vai, bàn chân để cho các đồng xu tạo ra thứ âm thanh vui nhộn mà kỳ bí.

Múa Sênh tiền thường có từ bốn đến tám nam, nữ kết hợp; cũng có thể là chỉ có nam múa hoặc nữ múa đôi. Các đôi trai gái biểu diễn các động tác lên xuống, xoay người nhịp nhàng trong sự cổ vũ nhiệt tình của bà con dân bản.

 Với đôi tay khéo léo của chàng trai, cô gái những đồng tiền cổ xoay tít làm phát ra tiếng kêu xoèn xoẹt với cường độ lớn hơn thể hiện niềm phấn khởi và tưng bừng của dân làng. Điệu múa Sênh Tiền được người Mông biểu diễn chủ yếu vào các ngày lễ, ngày hội văn hóa dân tộc... đặc biệt là lễ hội Gầu Tào (hay còn gọi là tết của người Mông). Đây cũng chính là dịp để các chàng trai, cô gái người Mông phô diễn những nét đẹp văn hoá của dân tộc mình. Và cũng là nơi để trai gái người Mông tìm hiểu nhau qua các điệu nhảy.

Điều Vàng A Phử mong muốn lúc này là có nhiều các em nhỏ trong bản say với điệu múa này, Phử sẽ dạy cho các em trong bản hiểu và biết múa những điệu múa mang đậm bản sắc của dân tộc.Những giá trị văn hóa, văn nghệ của dân tộc Mông là món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người dân Nà Hẩu. Nét đẹp của Sênh tiền là sự kết hợp hài hòa, nhịp nhàng giữa các động tác nhảy múa và gậy Sênh tiền. Những nhân tố này phối hợp và hòa trộn với nhau đã tạo ra một điệu múa độc đáo riêng có của dân tộc Mông.

 Tuy đời sống nơi vùng cao của dân tộc Mông còn gặp nhiều khó khăn nhưng những điệu dân ca dân vũ mang đậm bản sắc dân tộc vẫn được người Mông Nà Hẩu, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay đang gìn giữ, bảo tồn và phát huy để những nét văn hóa tinh tế của đồng bào dân tộc Mông mãi còn nguyên giá trị.

17. Luật tục người K’ho: Mồ côi khi cha còn sống

Người già K’ho phải trở về bản quán ngay sau khi vợ qua đời. Những đứa con bị dứt khỏi vòng tay cha sau ngày mẹ mất.

 Người K’ho ở Tánh Linh (Bình Thuận) theo chế độ mẫu hệ. Đến tuổi trưởng thành, con gái đi bắt chồng, con trai khi cưới vợ là theo về ở rể.Ông K’Giá (buôn Tà Lốp, xã La Ngâu, huyện Tánh Linh) được vợ bắt từ năm 1957. Nhà vợ sắm đủ lễ vật để bắt chồng theo đúng tục lệ của buôn làng gồm 25 lá khăn, một con trâu biết cày, một con heo hai người khiêng, một con gà trống và bốn ché rượu cần.

Vợ chết, chồng phải về nhà cũ

Họ có với nhau năm gái và ba trai. Đến năm 2003, vợ ông qua đời, lúc đó ông đã 72 tuổi. Đứa con út của ông cũng đã hơn 20 tuổi. Sau lễ mở cửa mả bảy ngày cho vợ, ông K’Giá thu xếp trả lại toàn bộ tài sản mà hai vợ chồng làm ra trong hơn 40 năm cho bên vợ trước khi về lại nhà mình. Ông không được đưa bất kỳ đứa con nào đi theo.

Trước lúc ông về lại nhà, hai đứa cháu gái gọi ông bằng cậu đến nhà vợ ông bày lễ vật xin đón cậu. Lễ vật gồm một chai rượu trắng, hai trứng gà luộc chín, hai chén cơm và một chén nước. Tất cả đặt trước bàn thờ trong nhà vợ ông để người ra đi nói vài lời tạ từ với người đã khuất.

Ông K’Giá nhìn sững sờ lên bàn thờ trống trơ. Mấy chục năm mải mê nương rẫy, ông chưa đưa vợ về xuôi chụp cho vợ tấm ảnh. Nước mắt lăn dài trên má người đàn ông đã bao nhiêu năm lăn lộn với núi rừng để tìm cái ăn nuôi vợ, nuôi con. Ông biết rằng tập tục của buôn làng như vậy, muốn làm khác cũng không được. Và dù đã cố nén lòng, ông cũng chỉ nói được một câu: “Thôi bà ở lại, tôi đi đây!”.

Mặt trời đã lên trên đỉnh núi bên hông nhà. Ông bước ra sân nhưng vẫn cố ngoái lại nhìn ngôi nhà thân thương của mình. Con cháu ông đứa nào đứa nấy đều nước mắt ngắn dài nhìn theo bước chân người cha, người ông của mình. Họ đã nhiều lần chứng kiến những cuộc tiễn đưa theo tập tục người K’ho nhưng khi chuyện đó xảy đến với chính gia đình họ thì sự đau xót lại quá lớn.

Chị Bờ Đam Thị Hem, sinh năm 1960, con gái lớn của ông K’Giá, kể: “Ba tôi về nhà bà con ở, tụi tôi thấy thương và nhớ cha lắm. Tôi thấy tục lệ này có gì đó quá vô lý. Vì vậy mấy ngày sau, tụi tôi lại đến nhà bà con đưa ông về nhà nuôi, không cho ông ở đó nữa vì ông quá già rồi, mà nhà bà con tôi cũng nghèo”.

Ông K’Giá về sống với các con ông được hai năm thì bà Bờ Đam Mẵng (55 tuổi, chồng chết) đưa lễ vật đến nhà bắt ông K’Giá về làm chồng. Lễ cưới gồm 30 lá khăn, một con heo khoảng 50 kg, một con gà trống và ba ché rượu cần. Các con ông đều đồng ý cho bà Mẵng bắt cha mình bởi từ khi mẹ qua đời, họ chỉ lo cho cha cái ăn, cái uống... còn cái buồn, cái vui thì không lo được.

Chúng tôi đến thăm ông K’Giá vào một ngày giữa tháng 8. Ông đang ngồi một mình với chiếc kèn bầu dưới cái chòi đựng lúa của nhà vợ mới là bà Mẵng. Thỉnh thoảng ông đưa kèn lên môi thổi. Trong cơn mưa chiều của rừng núi âm u, tiếng kèn của ông nghe thật buồn. Ông nói: “Tôi sống với bà Mẵng không khổ nhưng vẫn nhớ mẹ của con Hem. Già rồi, chỉ muốn sống sum vầy với con cái. Thế nhưng tục lệ của cha ông thì không thể làm khác được!”.

Những đứa trẻ mồ côi

Anh Đặng Công Khanh, Phó Chủ tịch xã La Ngâu, nói: “Nhiều năm công tác tại địa phương này, điều tôi day dứt chính là nhiều đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ trong khi người cha vẫn còn sống”.

Anh dẫn tôi đến nhà chị K’Thị Mẫm. Chị ốm yếu và xanh xao, tưởng tuổi ngoài 60. Ít ai ngờ năm nay chị chưa quá 50 tuổi. Năm ngoái chị có đứa em bị bệnh nặng và qua đời. Em rể là Hoàng Văn Thỉnh (lúc đó mới 22 tuổi) phải trở về với bà con của mình ở tỉnh Lâm Đồng, để lại cho chị đứa con gái tên Bờ Đam Nhã mới ba tháng tuổi. Vợ chồng chị Mẫm phải nuôi tám đứa con trong điều kiện nghèo khổ. Nuôi thêm cháu, chị vẫn phải dành tiền mua sữa cho cháu uống thay sữa mẹ.

“Hồi mẹ của con Bờ Đam Nhã chết, nhà tui còn một đứa em gái 15 tuổi. Nó không chịu bắt thằng Thỉnh làm chồng nên thằng Thỉnh phải về nhà ở Lâm Đồng” - chị Mẫm nói. Nhìn ngôi nhà tềnh toàng, rách nát của vợ chồng chị Mẫm, đồng thời nghe kể là hằng ngày cháu Bờ Đam Nhã dù mới bảy tuổi nhưng vẫn vào rừng bẻ măng phụ vào bữa ăn của gia đình, tôi không khỏi chạnh lòng. Trường hợp của cháu Bờ Đam Nhã chỉ là một trong nhiều trường hợp mồ côi mẹ ở xã La Ngâu không được quyền ở với cha.

Cần một sự đổi thay

Anh Hà Văn Dinh - Chủ tịch UBND xã này cho biết: Hiện nay tại xã có bảy trường hợp vợ chết. Trong đó, năm người phải bỏ con lại để về ở với bà con của mình. “Tôi không dám cho tập tục người K’ho của mình khi vợ chết, chồng phải trở về nhà cũ để ở là lạc hậu. Nhưng nếu vì tập tục này mà để cho các cháu mồ côi cha trong khi cha vẫn còn sống là không công bằng” - anh Dinh nói. Cũng theo anh thì đời sống mẫu hệ của người dân K’ho ở đây hiện đang có những thay đổi. Ngày càng có nhiều người không theo tập tục cũ. Đa phần người K’ho đều muốn khi người vợ chết, người chồng vẫn được phép ở lại với con cái.

Anh Nguyễn Văn Thiểu, người K’ho, Bí thư chi bộ thôn Tà Cụ, thị trấn Lạc Tánh, huyện Tánh Linh, cho biết: Tại thôn Tà Cụ, chủ yếu là đồng bào K’ho sinh sống rất hòa thuận. Họ đều theo tập tục bắt chồng và người chồng phải trở về với bà con của mình mỗi khi người vợ chết. Anh nhận thấy tập tục này không còn phù hợp với cuộc sống hiện nay, vì vậy đã vận động bà con không nên theo nữa. Nhiều người nghe anh, thôi về nhà bà con để ở mỗi khi vợ chết.

Anh Mang Sơn (sinh năm 1975) là một thí dụ điển hình. Tháng 3-2008, vợ anh qua đời, bỏ lại cho anh bốn đứa con. Đứa lớn 12 tuổi và đứa nhỏ mới tám tháng tuổi. Theo lời khuyên của anh Thiểu, anh Mang Sơn không về nhà theo tập tục, vẫn ở lại nuôi con. Sau đó, có một chị dân tộc ở xã kế bên đến ngỏ ý bắt anh làm chồng. Vậy là anh Sơn phải để các con lại cho bà ngoại nuôi. Nhà ngoại nghèo vẫn chấp nhận nuôi bốn đứa cháu. Cả bốn cháu đều lớn lên trong sự nghèo khổ của ngoại.Thấy thương hoàn cảnh của bà cháu, anh Thiểu đề nghị Ủy ban thị trấn cấp cho các con anh Sơn một căn nhà tình thương. Qua công tác nắm tình hình ở cơ sở, Hội phụ nữ Công an huyện Tánh Linh phát hiện hoàn cảnh các con anh Sơn. Dù Hội phụ nữ Công an huyện chỉ có năm chị nhưng mỗi tháng mỗi chị đều trích tiền lương 20.000 đồng cấp cho các cháu 10 kg gạo, một hộp sữa, 1 kg đường cát. Việc tặng quà đó vẫn được thực hiện đúng, đủ hơn một năm nay. Đây cũng chính là những tấm lòng đáng trân trọng khi biết các chị chưa hẳn khá giả nhưng vẫn dành dụm để chia sẻ cho nhau những khó khăn trong cuộc sống cộng đồng.

Thay đổi một tập tục là điều không dễ dàng. Nhưng hủ tục đã đẩy những đứa trẻ thơ ngây vào cảnh mồ côi cả cha lẫn mẹ ngay sau khi mẹ mất. Việc cải tiến phong tục là cần thiết để những đứa trẻ kia được lớn lên trong tình yêu thương, chăm sóc của cha, để những người già không phải trở nên bơ vơ khi vợ qua đời, khi mà con cái họ còn đề huề và có khả năng lẫn mong muốn được phụng dưỡng...

18. "Củi hứa hôn" và phong tục cưới hỏi của người Giẻ

Dọc hai bên đường Hồ Chí Minh lịch sử, đoạn qua huyện Đắc Glây (Kon Tum), chúng ta dễ nhận thấy rất nhiều gia đình có những đống củi được cắt bằng nhau, xếp ngay ngắn ở đầu nhà, hoặc trước sân và được che chắn cẩn thận. Đấy là "củi hứa hôn" của các cô gái dân tộc Giẻ.

 

Để tìm hiểu rõ hơn về những đống củi này, chúng tôi đã tìm gặp một số già làng hiểu biết về phong tục, tập quán của người Giẻ. Theo phong tục, khi cô gái đã đến tuổi cập kê, đã nhận lời một chàng trai nào đó mà mình ưng ý (sắp lấy chồng), các cô gái thường lên rừng tìm những thân cây chất liệu tốt, đượm than, suôn và thẳng (tốt nhất là thân cây dẻ) đốn bằng nhau, phơi khô và cõng về nhà để chuẩn bị "ngày lành tháng tốt" cõng đến nhà trai. Số lượng củi thường là 100 bó, chiều dài 1 mét và đường kính bó củi từ 40 đến 50cm. Phía nhà trai cũng tích cực chuẩn bị thịt chuột, thịt chim phơi hoặc sấy khô (nguyên cả con) để tiếp đón nhà gái khi cõng củi đến cho mình. Số lượng chuột và chim tùy theo từng gia đình, nhưng thường thì cỡ 60 đến 70 con.

Trong thời gian đôi trai gái tìm hiểu nhau, một người có uy tín trong làng, không có họ hàng với hai gia đình chuẩn bị lễ vật đứng ra làm mai mối. Lễ vật bao gồm: Một hũ rượu nhỏ, hai chiếc cần (ống hút) để uống đem đến nhà trai hoặc nhà gái do người mai mối chọn (thường thì nhà chàng trai) và gọi người con gái đến cùng uống rượu. Sau khi đôi trẻ đã uống, cha mẹ của chàng trai sau đó là người mai mối cùng uống rượu chung vui. Cũng trong thời gian uống rượu và trò chuyện, người mai mối trình bày nội dung của buổi uống rượu hôm đó. Khi hũ rượu đã được uống cạn, cũng là lúc đôi trai gái thành vợ thành chồng. Và, tất nhiên đêm về đôi trai gái được phép ngủ chung. Tuy là vợ chồng của nhau, được ngủ chung trong chiếc buồng nhỏ dành cho họ, nhưng trong thời gian một năm ngủ chung ấy, người con gái không được phép có bầu. Nếu vi phạm quy định, người con gái mang thai khi chưa đủ một năm chung sống, đôi trai gái ấy phải chịu "hình phạt" của làng, sẽ bị đuổi ra xa cách làng hơn 2km, tự làm lều để ở và cũng không được ai quan tâm thăm hỏi đến họ. Nếu ai đến đó sẽ bị lây và mang theo tật xấu về làng...

 

Kể từ ngày đôi trai gái bị đuổi, nếu trong làng có ai bị đau ốm, bệnh tật hoặc do sơ ý gây nên tai nạn, gãy chân, gãy tay hoặc mất mát của cải v.v. gia đình nạn nhân và cả làng đổ lỗi cho đôi trai gái ấy. Tất nhiên họ phải bồi thường thiệt hại do họ gây nên là một con trâu, ít nhất cũng phải một con lợn hơn 50kg... do họ đã vi phạm luật của "thần nước", "thần đất", "thần lúa" nên bà con trong làng bị "thần" phạt.

Và cũng kể từ khi bị đuổi khỏi làng sống cách ly với bà con, cho đến khi con họ sinh ra được trên ba tháng mới được làm lễ "Tạ lỗi" và quay về chung sống với dân làng. Lễ vật bao gồm lương thực, thực phẩm phục vụ buổi lễ, kèm theo hai con lợn. Một con dùng để bồi thường uy tín cho già làng, giết thịt cho những người cao tuổi trong làng ăn. Một con dùng cho dân làng ăn mừng "đứa con mới" của đôi trai gái.

Trở lại chuyện về những bó củi "Hứa hôn" của người con gái. Trong thời gian một năm đến ngủ chung ở nhà chồng, cô gái thường lên rừng cõng củi về cho gia đình chàng trai. Thỉnh thoảng, tự tay mình giã gạo mang đến cho "người yêu". Những người trong gia đình cô gái cũng giúp cô cõng củi về nhà tập kết và che chắn cẩn thận. Đến một ngày được xem là "ngày lành tháng tốt", nhà gái cử người đến báo với nhà trai và tập trung họ hàng cõng củi đến nhà trai (chỉ cho phép cõng trong một ngày). Nếu gia đình nhà trai đã đi lên nương rẫy, đích thị chàng trai phải lên nương tìm gọi bằng được họ hàng về để tiếp đón nhà gái. Không chỉ cõng củi cho gia đình chồng, mà nhà gái phải cõng cho anh chị ruột của chồng, là những người đã xây dựng gia đình ra ở riêng mỗi người 20 đến 30 bó củi. Đáp lại tình cảm của họ hàng nhà gái, gia đình chàng trai cũng tập trung anh em lại, giã gạo, thổi cơm mời những người cõng củi ở lại "dự tiệc". Ngoài ra, mỗi người tham gia cõng củi, đều được nhà trai "tặng" một bộ áo quần, ít nhất cũng được một cái Kà Tu. Riêng anh em ruột của cô gái thì nhất thiết phải đủ mỗi người một bộ.

Sau ngày nhà gái đã cõng củi đến nhà trai, gia đình chàng trai chuẩn bị làm cơm mời nhà gái đến "dự tiệc", để cảm ơn nhà gái đã cõng củi cho gia đình. Khi đến mời gia đình nhà gái dùng cơm, phải mang theo lễ vật là những chú chuột, chú chim đã được sấy khô chuẩn bị từ những ngày trước. Số lượng từ 60 đến 70 con tùy thuộc vào nhà trai. Sau hôm cõng củi và lễ mời cơm ấy, họ hàng hai bên mới chính thức trở hành "sui gia", tiếp tục đi lại thăm hỏi nhau theo phong tục của người Việt Nam.

19. Lễ ăn cơm mới của người Xá Phó

Trong ngày làm lễ cơm mới, người nhiều tuổi nhất trong nhà sẽ ra nương một mình để gặt một vài cụm lúa mới về cúng tổ tiên. Người đó phải dựng một ngôi sàn nhỏ trên nương, bày ba chén rượu, ba đôi đũa, một hòn đá, một quả trứng gà luộc, một nắm cơm và ba sợi chỉ trắng, rồi khấn thần lúa.

Sau đó, dùng chỉ buộc vào ba cây lúa để không cho hồn lúa bay đi, rồi mới dùng một nhíp nhỏ ngắt 6 khóm lúa mới ở cạnh đó. Việc cắt lúa được thực hiện từ tây sang đông. Người Xá Phó quan niệm rằng, khi gặt mà hướng về phía mặt trời mọc thì thóc lúa sẽ được nhiều. Khi gặt, vừa nhanh, vừa phải nhìn chăm chăm vào khóm lúa đang gặt để tránh chim chuột biết đến tranh cướp hết. Người gặt sẽ bày đủ sáu khóm lúa vừa gặt được dưới chân bàn thờ, rồi bóc quả trứng luộc để xem. Nếu như lòng trắng quả trứng tròn vo, mịn màng thì năm đó mùa màng thất bát. Vì thế, trước khi ra về, kết thúc nghi lễ của ngày đầu tiên, người gặt sẽ cắm một cái ta leo để cấm người lạ.

Ngày thứ hai, cả vợ lẫn chồng chủ nhà cùng đi gặt. Theo phong tục, họ vẫn không được nói gì và mỗi người gặt đủ 15 bó lúa để cúng như hôm trước.

Ngày thứ ba, việc gặt lúa vẫn được tiến hành trong im lặng, dẫu lần này cả gia đình cùng tham gia. Mãi đến khi, lúa gặt đã cơ bản xong, chủ nhà bỏ cái ta leo đi thì mọi người mới được nói chuyện bình thường.

Sau những nghi lễ bắt buộc của mùa gặt mới, gia chủ chờ đến một ngày tốt mới làm lễ ăn cơm mới chính thức. Lễ gồm ba mâm cơm: mâm thờ mẹ (hoặc bà nội), gồm các loại thịt thú rừng sấy khô, hoa chuối đồ, củ gừng, củ khoai sọ và tám bát rượu to, nhỏ. Hai mâm thờ bố (hoặc ông nội) có các món tương tự, chỉ có điều, cơm cũ và không phải là tám bát rượu mà chỉ có một bát to và một bát nhỏ. Khi cúng, thầy mo cúng mâm bố trước, cúng mâm mẹ sau. Lúc này, bà chủ nhà hoặc vợ của các người anh em chồng phải ngồi túc trực bên mâm. Lễ cúng xong, phụ nữ được ăn cơm trước và ăn ở mâm có cơm mới. 

Bà chủ nhà sẽ gói một gói cơm mới và một bát rượu to cho chồng, rồi đem thêm cơm mới cùng các thức ăn ngon cúng ở mâm mẹ chia cho các thành viên nam giới ngồi bên mâm cúng bố. Nhiều người trong bản cùng kéo đến ăn cơm mới và múa hát cùng gia chủ. 

Lúc này, lễ ăn cơm mới của người Xá Phó mới được coi là kết thúc.

  1. Hà Nội mùa Tết Vu lan

Tháng bảy Âm lịch về, chút hương sắc đầu thu đã rây rây khắp phố. Đây cũng là dịp người ta hướng về miền tâm linh nhiều hơn, có nhiều người còn gọi đây là thời điểm mùa ăn chay trong năm. Bởi lẽ, ai ai cũng biết rằng rằm tháng bảy là Tết Vu lan, dịp để con cháu tưởng nhớ đến cha mẹ, ông bà tổ tiên

Nơi chùa chiền thanh tịnh những ngày này đông người đến nhang khói hơn, cái ồn ã lắng dần đâu đó. Bởi lẽ, người người đang hướng về lễ Vu lan- một dịp để tỏ lòng biết ơn thành kính đối với các bậc sinh thành.

Chuyện xưa kể rằng Bồ Tát Mục Kiều  Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp Ngạ Quỷ. Từ đó mới có ngày Vu lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung) - cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước. Không biết đã mấy trăm mấy ngàn năm đã trôi qua, người Việt từ nông thôn đến thành thị đều rất coi trọng ý nghĩa của ngày lễ đặc biệt này.

Lễ Vu lan, đi qua hàng Mã tấp nập người người chen chân mua vàng mã, quần áo, mũ mão thần linh về để hóa vàng gọi là tấm lòng thành kính tưởng nhớ đền người đã khuất. Ta có thể bắt gặp trong con hẻm nhỏ, cô gánh gàng rong với các thức quà vặt như bỏng chè lam…Những thứ lễ không thể thiếu dùng trong ngày lễ vu lan. Ai nấy chẳng khỏi ngậm ngùi “trần sao âm vậy” với mong muốn người thân đã quá cố khỏi tủi thân.

Tiếng văn tế thập loại chúng sinh văng vẳng trong chùa càng khiến lòng người bổi hồi tưởng nhớ đến những người đã khuất. "Lòng nào lòng chẳng thiết tha, Cõi dương còn thế nữa là cői âm" . Tháng bảy lên chùa, nếu vào ngày rằm thì thật khó chen chân bởi ai ai cũng muốn tìm chỗ đặt mâm lễ của mình. Vào ngày này, người ta không đến chùa xin công danh lợi lộc mà cầu mong sự bình yên hạnh phúc và may mắn. Lên chùa để tâm hồn được thanh tịnh, nhớ về cha mẹ và mong cầu cho người thân quá cố được siêu thoát, mát mẻ chốn suối vàng. Đó chẳng phải là cách bày tỏ sự tưởng nhớ và biết ơn với người đã nhắm mắt hay sao ? Mâm lễ có thể rất giản dị, chỉ là dăm ngọn nến, thẻ hương, bỏng gạo, chè lam, bánh kẹo…Dường như, đây cũng là một dịp đặc biệt để người dù thường ngày có bận bịu đến bao nhiêu với những toan tính cuộc sống mưu sinh cũng sắp xếp thời gian đến chùa.

Lễ Vu lan còn là dịp để đại gia đình sum vầy, quây quần cho mâm cơm cúng gia tiên. Thông thường thì các gia đình làm lễ vào giờ Ngọ, mâm lễ cho gia tiên tùy theo điều kiện từng gia đình, làm cơm hay cúng đồ cúng thông thường, ngoài ra  chuẩn bị vàng mã, quần áo, đồ dùng cho gia tiên. Hương tàn sẽ tiến hành hóa vàng. Gia đình có bền vững và hạnh phúc mới mong ăn nên làm ra. Con người có tấm lòng thành kính với tổ tiên mới được phù hộ may mắn khỏe mạnh và không bị các vong hồn quấy nhiễu. Từ những suy nghĩ ấy, mà có một ngày lễ mang ý nghĩa thật đẹp.

Dịp Tết Vu lan, ngay cả những người con đang xa nhà, cũng cúi đầu nhớ về hình ảnh mẹ còn đang đợi mình bên bậc cửa, nhớ ngày thơ bé được mẹ chăm sóc, nâng niu. Khi cái tâm hướng về quá khứ, về cõi thanh tịnh trong kí ức, lại thấy những bữa cơm chay mà mẹ thường làm cho cả nhà vào dịp này. Có phải, ăn chay để thấy tâm hồn mình được bình an hơn ? Không ít người lên xin bữa cơm chùa đạm bạc như muốn thưởng cảm giác thanh tịnh yên tĩnh từ trong lòng mình. Chẳng biết họ có mong cầu có được chút giao hòa tâm linh với tổ tiên.

Xã hội Việt Nam từ ngàn xưa đã coi trọng con người biết hiếu thảo và nếp sống ấy mặc nhiên đã hình thành nền đạo đức hàng đầu trong đời sống của dân tộc. Ngày Tết Vu lan là phong tục đẹp trong truyền thống của người Việt. Tuy vậy cũng không thể từ đó mà suy diễn ra những ý nghĩa mê tín không đúng với bản chất tốt đẹp của ngày lễ này. Nói như vậy không có nghĩa lễ vu lan chỉ hạn hẹp báo hiếu đối với người đã khuất núi. Đây là dịp để nghĩ đến cha mẹ ta còn đang sống giữa đời, vẫn ngày đêm lo lắng cho ta mà có lúc ta vô tình chẳng quan tâm. Người Việt chưa có ngày dành riêng cho bố, cho mẹ thì đây chăng phải là một cơ hội để các con  tỏ lòng thành kính với công ơn dưỡng dục của các đấng sinh thành. Đức Phật dạy: "Công ơn cha mẹ sâu dầy vô tận. Dù vai phải cõng cha, vai trái cõng mẹ mà đi hàng trăm nghìn kiếp, người con vẫn không thể nào đền đáp nổi công ơn ấy!" .  Bởi vậy nên ngày lễ Vu lan - tuy chỉ một chút thôi nhưng cũng là lúc chúng ta thể hiện lòng báo hiếu đối với cha mẹ.

Giữa chốn thị thành ồn ã, con người tưởng như chỉ còn biết cuốn vào những guồng quay đến chóng mặt của cuộc sống, thật cảm động biết bao khi những ngày lễ này vẫn còn tồn tại, được mọi người trân trọng và nhớ đến. Hà Thành vốn  là mảnh đất lưu giữ nhiều nét đẹp văn hóa truyền thống, chính vì thế ngày lễ Vu lan được người dân coi trọng và gìn giữ. Vu lan còn gợi cho chúng ta ý nghĩa thâm trầm về sự giải thoát, và sự chỉ dẫn cho chúng ta con đường tự do thênh thang trong từng bước đi, hơi thở hướng thiện.

Trai gái chọn hoa hồng để nói chuyện tình yêu. Còn với lòng kính yêu cha mẹ, ông bà, có bận gì đi chăng nữa thì cũng dâng một cành lan hay bông sen với hương thơm tinh khiết để tỏ lòng hiếu kính?

21. Tết Trung Thu và các phong tục

Tết Trung Thu theo Âm lịch là ngày rằm tháng 8 hằng năm. Đây là ngày tết của trẻ em, còn được gọi là "Tết trông Trăng". Trẻ em rất mong đợi được đón tết này vì thường được người lớn tặng đồ chơi, thường là đèn ông sao, mặt nạ, đèn kéo quân, súng phun nước... rồi bánh nướng, bánh dẻo. Vào ngày tết này, người ta tổ chức bày cỗ, trông trăng. Thời điểm trăng lên cao, trẻ em sẽ vừa múa hát vừa ngắm trăng phá cỗ. Ở một số nơi, người ta còn tổ chức múa lân, múa sư tử để các em vui chơi thoả thích.  Ở Việt Nam, ngày tết Trung Thu được diễn tả trong tục: "Ban ngày làm cỗ cúng gia tiên, tối đến bày cỗ thưởng Nguyệt. Đầu cỗ là bánh mặt trăng, và dùng nhiều thứ bánh trái hoa quả, nhuộm các màu sắc sặc sỡ xanh, đỏ, trắng, vàng. Con gái hàng phố thi nhau tài khéo, gọt đu đủ thành các thứ hoa nọ hoa kia, nặn bột làm con tôm con cá coi cũng đẹp". 

Múa lân

Theo các nhà khảo cổ học thì Tết Trung Thu ở Việt Nam có từ thời xa xưa, đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Còn theo văn bia chùa Đọi năm 1121 thì từ đời nhà Lý, Tết Trung Thu đã được chính thức tổ chức ở kinh thành Thăng Long với các hội đua thuyền, múa rối nước và rước đèn. Đến đời Lê - Trịnh thì Tết Trung Thu đã được tổ chức cực kỳ xa hoa trong phủ Chúa.

Nghiên cứu về nguồn gốc Tết Trung Thu, theo học giả P.Giran (trong Magiet Religion, Paris, 1912) thì từ xa xưa, ở Á Đông người ta đã coi trọng Mặt Trăng và Mặt Trời, coi như một cặp vợ chồng. Họ quan niệm Mặt Trăng chỉ sum họp với Mặt Trời một lần mỗi tháng (vào cuối tuần trăng). Sau đó, từ ánh sáng của chồng, nàng trăng mãn nguyện đi ra và dần dần nhận được ánh dương quang - trở thành trăng non, trăng tròn, để rồi lại đi sang một chu kỳ mới.

Do vậy, trăng là âm tính, chỉ về nữ và đời sống vợ chồng. Và ngày Rằm tháng Tám, nàng trăng đẹp nhất, lộng lẫy nhất, nên dân gian làm lễ mở hội ăn Tết mừng trăng. Còn theo sách “Thái Bình hoàn vũ ký” thì: “Người Lạc Việt cứ mùa Thu tháng Tám thì mở hội, trai gái giao duyên, ưng ý nhau thì lấy nhau”. Như vậy, mùa Thu là mùa của thành hôn. 

Việt Nam là một nước nông nghiệp nên nhân lúc tháng Tám gieo trồng đã xong, thời tiết dịu đi, là lúc “muôn vật thảnh thơi”, người ta mở hội cầu mùa, ca hát vui chơi Tết Trung Thu. 

Ý nghĩa tết Trung Thu 

Theo phong tục người Việt, vào dịp Tết Trung Thu, cha mẹ bày cỗ cho các con để mừng Trung Thu, mua và làm đủ thứ lồng đèn thắp bằng nến để treo trong nhà và để các con rước đèn. Cỗ mừng Trung Thu gồm bánh Trung Thu, kẹo, mía, bưởi và các thứ hoa quả khác nữa. Đây là dịp để cha mẹ tùy theo khả năng kinh tế gia đình thể hiện tình thương yêu con cái một cách cụ thể. Vì thế, tình yêu gia đình lại càng khăng khít thêm. 

Cũng trong dịp này người ta mua bánh Trung Thu, trà, rượu để cúng tổ tiên, biếu ông bà, cha mẹ, thầy cô, bạn bè, họ hàng và các ân nhân khác. 

Người Trung Hoa thường tổ chức múa rồng vào dịp Trung Thu, còn người Việt múa sư tử hay múa lân. Con Lân tượng trưng cho sự may mắn, thịnh vượng và là điềm lành cho mọi nhà... Thời xưa, người Việt còn tổ chức hát Trống Quân trong dịp Tết Trung Thu. Điệu hát trống quân theo nhịp ba "thình, thùng, thình". 

Ngoài ý nghĩa vui chơi cho trẻ em và người lớn, Tết Trung Thu còn là dịp để người ta ngắm trăng tiên đoán mùa màng và vận mệnh quốc gia. Nếu trăng thu màu vàng thì năm đó sẽ trúng mùa tằm tơ, nếu trăng thu màu xanh hay lục thì năm đó sẽ có thiên tai, và nếu trăng thu màu cam trong sáng thì đất nước sẽ thịnh trị. 

Ngắm trăng (Thưởng nguyệt) 

Tết Trung Thu là tết của trẻ em. Ngay từ đầu tháng, Tết đã được sửa soạn với những cỗ đèn muôn mầu sắc, muôn hình thù, với những bánh dẻo, bánh nướng mà ta gọi gồm là bánh Trung Thu, với những đồ chơi của trẻ em muôn hình vạn trạng, trong số đó đáng kể nhất của thời xưa là ông Tiến sĩ giấy.

Trẻ em đón tết có đèn xếp, đèn lồng, đèn ông sao, đèn con giống... sặc sỡ thắp sáng kéo nhau đi từng đoàn ca hát vui vẻ, tối tối cùng nhau đi nhởn nhơ ngoài đường, ngoài ngõ. Và khi rằm tới, có những đám múa sư tử với tiếng trống, tiếng thanh la thật náo nhiệt. Trong dịp này, để thưởng trăng có rất nhiều cuộc vui được bày ra. Người lớn có cuộc vui của người lớn, trẻ em có cuộc vui của trẻ em. 

Bày cỗ 

Mâm cỗ Trung Thu thông thường có trọng tâm là con chó[được làm bằng tép bưởi, được gắn 2 hạt đậu đen làm mắt. Xung quanh có bày thêm hoa quả và những loại bánh nướng, bánh dẻo thập cẩm hoặc là loại bánh chay có hình lợn mẹ với đàn lợn con bép múp míp, hoặc hình cá chép là những hình phổ biến. Hạt bưởi thường được bóc vỏ và được xiên vào những dây thép, phơi khô từ 2-3 tuần trước khi đến hôm rằm, và đến đêm Trung Thu, những sợi dây bằng hạt bưởi được đem ra đốt sáng.

Những loại quả, thức ăn đặc trưng của dịp này là chuối và cốm, quả thị, hồng đỏ và hồng ngâm màu xanh, vài quả na dai...và bưởi là thứ quả không thể thiếu được. Đến khi trăng lên tới đỉnh đầu chính là giây phút phá cỗ, mọi người sẽ cùng thưởng thức hương vị của Tết Trung Thu.

Phong tục trông trăng cũng liên quan đến sự tích Chú Cuội trên cung trăng, do một hôm Cuội đi vắng, cây đa quý bị bật gốc bay lên trời, chú Cuội bèn bám vào rễ cây níu kéo lại nhưng không được và đã bị bay lên cung trăng với cả cây của mình. Nhìn lên mặt trăng, có thể thấy một vết đen rõ hình một cây cổ thụ có người ngồi dưới gốc, và trẻ em tin rằng, đó là hình chú Cuội ngồi gốc cây đa.

Hát trống quân 

Tết Trung Thu ở miền Bắc còn có tục hát trống quân. Ðôi bên nam nữ vừa hát đối đáp với nhau, vừa đánh nhịp vào một sợi dây gai hoặc dây thép căng trên một chiếc thùng rỗng, bật ra những tiếng "thình thùng thình" làm nhịp cho câu hát. Những câu hát vận (hát theo vần, theo ý) hoặc hát đố có khi có sẵn, có khi lúc hát mới ứng khẩu đặt ra.

Cuộc đối đáp trong những buổi hát trống quân rất vui và nhiều khi gay go vì những câu đố hiểm hóc. Trai gái dùng điệu hát trống quân để hát trong những đêm trăng rằm, nhất là vào rằm tháng tám. Trai gái hát đối đáp với nhau vừa để vui chơi vừa để kén chọn bạn trăm năm. Người ta dùng những bài thơ làm theo thể thơ lục bát hay lục bát biến thể để hát. Tục hát trống quân, theo truyền thuyết, có từ thời vua Lạc Long Quân đời Hồng Bàng. Tết Trung Thu của người Hoa không có phong tục này. 

Múa sư tử (múa lân) 

 Vào dịp Tết Trung Thu có tục múa Sư tử còn gọi là múa Lân. Người Hoa hay tổ chức múa lân trong dịp Tết Nguyên Đán. Người Việt lại đặc biệt tổ chức múa Sư Tử hay Múa Lân trong dịp Tết Trung Thu. Con Lân tượng trưng cho điềm lành. Người Trung Hoa không có những phong tục này. Người ta thường múa Lân vào hai đêm 14 và 15.

Ðám múa Lân thường gồm có một người đội chiếc đầu lân bằng giấy và múa những điệu bộ của con vật này theo nhịp trống. Ðầu lân có một đuôi dài bằng vải màu do một người cầm phất phất theo nhịp múa của lân. Ngoài ra còn có thanh la, não bạt, đèn màu, cờ ngũ sắc, có người cầm côn đi hộ vệ đầu lân... Ðám múa Lân đi trước, người lớn trẻ con đi theo sau. Trong những ngày này, tại các tư gia thường có treo giải thưởng bằng tiền ở trên cao cho con lân leo lên lấy. 

Trẻ em thì thường rủ nhau múa Lân sớm hơn, ngay từ mùng 7 mùng 8 và để mua vui chứ không có mục đích lĩnh giải. Tuy nhiên có người yêu mến vẫn gọi các em thưởng cho tiền. Ngoài ý nghĩa vui chơi cho trẻ em và người lớn, Tết Trung Thu còn là dịp để người ta ngắm trăng tiên đoán mùa màng và vận mệnh quốc gia. Nếu trăng thu màu vàng thì năm đó sẽ trúng mùa tằm tơ, nếu trăng thu màu xanh hay lục thì năm đó sẽ có thiên tai, và nếu trăng thu màu cam trong sáng thì đất nước sẽ thịnh trị v.v.

22. Một số phong tục hay của các dân tộc thiểu số Việt Nam

Phong tục làm cho sắc thái văn hoá trở nên đa dạng, phong tục giúp cho ta phân biệt được cộng đồng này, dân tộc này với cộng đồng kia, dân tộc kia. Sống đúng với phong tục, mới là sống với truyền thống. Một khi xa lạ với những phong tục của cộng đồng, thì sẽ không được cộng đồng chấp nhận, sẽ bị xem là trái với văn hoá truyền thống của cộng đồng.

Phong tục của các dân tộc thiểu số Việt Nam là cả một đề tài vô tận. Cả 54 dân tộc có biết bao nhiêu là hiện tượng, sự kiện văn hoá rất đáng quan tâm. Những vẻ đẹp trong những bộ y phục, trong đồ uống, thức ăn, những cách thức thờ cúng, cách tổ chức ngày sinh nhật, những nề nếp độc đáo trong các cuộc tang ma, cưới hỏi... là những hiện tượng mang đậm ý nghĩa văn hoá truyền thống. Vì thế mà có người đã cho rằng, muồn hiểu biết về văn hoá truyền thống của các cộng đồng phải tìm hiểu qua các phong tục.
1. Sự tích rượu cần (nhiều dân tộc)
Các dân tộc thiểu số, hầu như nơi nào cũng uống rượu cần. Hiện nay, chúng ta chưa sưu tầm được hết sự tích rượu cần của các dân tộc, chỉ mới biết người Mường, người Thái giải thích lý do ra đời của rượu cần như sau:
Một ông cụ có hai người con dâu. Cụ muốn thử xem ai là người thông minh, đức hạnh. Cụ bảo:
- Bố đi ăn uống đã nhiều, nhưng chưa được ăn con vật gì mà thịt lại nằm trong xương, cũng chưa được uống loại nước gì chảy ngược cho ngọt ngào, ý vị. Các con cố tìm cho bố. Được ăn uống những thứ đó, bố mới khoẻ ra được.
Cô dâu cả nghĩ mãi, không hiểu là thức ăn thức uống gì. Cô dâu thứ hai cũng bí, hỏi chỗ này chỗ khác cũng không ai biết thức ăn ấy ra sao. Chị buồn rầu ra suối ngồi nghĩ. Bỗng chị nhìn thấy con ốc bên bờ suối. Thôi phải rồi! Con ốc, ruột trong mềm, vỏ ngoài cứng, thế chẳng phải thịt nằm trong xương hay sao? Bên bờ suối, lại có ai đã cắm một cái vòi chuyền cho nước chảy ngược lên máng. Muốn nước chảy ngược cũng phải làm như vậy. Chị liền bắt một mớ ốc về nấu canh, múc một bầu nước, vót cái cần cắm vào bầu. Cứ để nước lã như thế thì sẽ chẳng có mùi vị gì, chị bỏ vào bầu vài nắm lá thuốc trong rừng. Đưa về nhà thì ông cụ đang đi vắng. Chị dấu kín các thức đã chuẩn bị, chờ bố về đưa nộp.
Người dâu cả đang nghĩ chưa ra cách, thấy em thu dấu thì bực, liền lén bỏ vào bình một nắm bã trấu và tấm vụn. Không ngờ như thế lại làm cho bình nước thêm chất - Lá, trấu, tấm quện lại, lên men, hoá thành một thứ rượu ngọt. Ông bố ăn canh ốc rối cầm cần hút. Đúng là nước thân nước thương chảy ngược và canh thịt nằm trong xương. Ông cụ khen nức khen nở, giao cả cơ nghiệp cho cô em. Và lịch sử xa xôi của bình rượu cần có từ đó.
2 . Trao vòng cầu hôn (Dân tộc Ê Đê)
Trai gái Ê Đê đã yêu nhau, họ báo cho gia đình biết để sắp xếp lễ đính hôn. Gia đình bên gái nhờ ông đăm đai (ông cậu) sang nhà trai đặt vấn đề xin cưới, hẹn ngày gặp và chuẩn bị trao vòng (trôk kôông). Đến ngày hẹn, họ hàng nhà gái đến nhà trai làm lễ. Hai già làng có uy tín đại diện hai bên bàn bạc. Mỗi bên đại diện đặt trên chiếu một cái vòng bạc. Khi hoàn toàn đồng ý, họ cầm vòng lên trao cho đôi nam nữ. Chàng trai và cô gái yêu nhau mỗi người đeo một cái vòng ấy. Và sau là đến việc tổ chức lễ cưới.
Trường hợp chàng trai bội ước, không làm lễ cưới, thì anh ta phải trả cho cô gái một khoản phạt bằng hiện vật, và làm cho cô gái một lễ hiến sinh (một con lợn).
3 . Chiếc khăn piêu (Phụ nữ Thái)
Khăn đội đầu của phụ nữ Thái gọi là khăn piêu, có thể xem là một đặc trưng văn hoá. Nhìn khăn đội đầu, người ta có thể phân biệt được người đó thuộc dân tộc nào, thậm chí có thể phân biệt được các ngành khác nhau trong cùng một dân tộc.
Khăn piêu của phụ nữ Thái đen dệt bằng sợi bông nhuộm màu chàm tím sẫm, có độ dài chừng một sải tay. Mặt khăn piêu gọi là Nả piêu, được thêu bằng những đường chỉ ngũ sắc, tạo ra những đường dây hoa văn, gọi là dây Sài peng (dây tình). Các sợi dây tình này, đan xen vào nhau, tạo thành các hình vuông, hình ngôi sao xéo tám cánh, đối nhau từng đôi một. Hai đầu khăn piêu là vải ngũ sắc, các góc tết thành sừng, gọi là cút piêu. Cút piêu là những hình tròn như đồng xu quấn chỉ dày, đậm. Khi đã tìm hiểu nhau rồi, đi đến đính ước, thì khăn piêu trở thành vật tin. Piêu là quà biếu khi về nhà chồng, là sợi dây tình. Và cũng có thể là vật dâng cúng trong ngày lễ.
4. Mừng ngày sinh nhật
(Dân tộc Dao)
Một số dân tộc vùng núi xa xôi vẫn có tục tổ chức ngày sinh nhật để mừng... chủ yếu là mừng người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên). Chẳng hạn như người Dao. Tiếng Dao gọi là Sèng nhật. Người ta trước hết mừng sinh nhật ông bà, cha mẹ hoặc người cao tuổi nhất trong nhà, chứ không mừng tràn lan cho tất cả mọi người. Năm đầu tiên, mời đông khách nhất, gồm họ hàng thân thích, hàng xóm láng giềng. Trước đó, gia đình chuẩn bị các đồ ăn thức uống. Phải dọn một mâm lên bàn thờ, mời thầy cúng khấn báo với tổ tiên là ngày này mừng sinh nhật ai, mời tổ tiên cùng về ăn cỗ. Khách đến dự lần lượt đến chào người được mừng sinh nhật, tặng quà và chúc những lời tốt đẹp. Những năm tiếp theo, nếu không có điều kiện thì không mời khách, nhưng vẫn làm cỗ trong gia đình để các cụ được vui.
5. Bát canh rêu đá (Dân tộc Thái)
Trong các ngày lễ lạt, người Thái cũng dùng các món ăn: thịt, cá, nộm và canh xương hầm măng, hầm đu đủ, nhưng giá trị nhất phải là bát canh rêu đá, tiếng Thái gọi là Kênh tau.
Người ta cho rằng thơm và ngon nhất là rêu đá ở Mường Lò (Văn Chấn) lại cho rằng không nơi nào có rêu đá ngon bằng ở suối núi (Nậm Thia), vì nơi đây có câu chuyện tình đau thương và cảm động. Truyền thuyết kể rằng có đôi trai gái yêu nhau, song bị bố mẹ ngăn cản. Nàng khóc, nước mắt chảy xuống ướt chín quả đồi, ướt mười ngọn núi, thành một dòng nước chảy xuyên rừng. Chàng trai nhớ thương bạn, đã lao đầu xuống dòng nước ấy. Thân thể chàng bị tan ra thành nhiều mảnh đá. Tóc xanh của người con gái bám vào những mảnh đá ấy, biến thành rêu xanh. Rêu đá suối Thia là kết quả của thiên tình sử bi thương. Ăn canh rêu đá ấy thì sẽ đậm đà tình thương nỗi nhớ.

23. Người Triêng với cây đinh tút

Qua bao đời nay, người Triêng vẫn lưu giữ nhiều vốn văn hóa quý, trong đó có âm nhạc truyền thống và đặc biệt giá trị của loại sáo đinh tút, làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần.

Người Triêng (một nhóm địa phương thuộc dân tộc Giẻ-Triêng), nơi có nền văn hóa cổ truyền từ ngàn đời, hội đủ những đặc trưng của cư dân miền núi. Người Triêng sinh sống chủ yếu ở ba xã La Dêê, Ðắc Pre và Ðăk Pring thuộc huyện miền núi cao Nam Giang, Quảng Nam.

Mỗi khi tiếng sáo đinh tút thổi lên hòa cùng tiếng trống và cồng chiêng, âm thanh ấy lan tỏa, bay bổng vào ngõ ngách, trên các triền núi cao, nơi định cư của người Triêng, tạo nên một không gian văn hóa huyền ảo...

Già làng Zơrâm Ớt 84 tuổi, dân tộc Triêng, hiện ở thôn Ðăk tà Vâng, xã La Dêê, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam cho biết: Ðinh tút được làm từ cây trúc, loại này mọc rất nhiều ở vùng của người Triêng sinh sống, nhưng không phải cây nào cũng làm được đinh tút đúng kỹ thuật và cho âm hay. Ðinh tút của người Triêng gồm có sáu ống dài ngắn và lớn nhỏ khác nhau được làm từ thân cây trúc.

Các ống đinh tút theo thứ tự từ lớn đến nhỏ và từ dài đến ngắn nhất: Piđu, piđy, chel, chắk, rơn 1, rơn 2. Mỗi cây đinh tút có một lóng và được giữ nguyên một mắt, đầu rỗng được vót hai bên tạo cho ống có dáng hình phễu để thổi. Muốn thổi được đinh tút, phải có sức khỏe và có kỹ thuật. Bộ đinh tút của họ hiện nay so với đinh tút truyền thống thì ống nhỏ và ngắn hơn, vì vậy có nhiều người biết thổi.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, muốn thổi đinh tút thì phải có từ tám người trở lên. Trong đó tám nghệ nhân thổi đinh tút tùy vào sở trường của từng người mà mỗi người phụ trách một ống, còn lại hai nghệ nhân hòa điệu cồng chiêng. Ðinh tút hay, hay dở là phụ thuộc vào người tạo ra nó, từ khâu chọn loại trúc đến việc thẩm âm là kinh nghiệm của nghệ nhân đó.

Ðinh tút là loại nhạc cụ không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, trong lao động sản xuất, nhất là vào dịp mùa xuân. Ngoài ra, trong các dịp lễ hội của cộng đồng như: lễ lập làng, lễ mừng nhà mới, mừng cưới hỏi... và đặc biệt nó luôn có mặt trong lễ hội Choóc đăil truyền thống thường gọi là ngày hội đinh tút của người Triêng.Người Triêng lớn lên trong tiếng đinh tút, tiếng sáo độc đáo này cũng góp phần làm nên những tình yêu đôi lứa.Già làng Zơrâm Ớt cho biết thêm: Tùy thuộc vào từng bài đinh tút mà người thổi hòa âm với nhau theo ba hoặc bốn cặp một. Trong quá trình thổi đinh tút thì cặp đinh tút ngắn và nhỏ nhất sẽ thổi trước, kế đến là cặp trung, rồi đến cặp dài nhất cùng hòa âm với nhau thành tám điệu, gọi là tám bài đinh tút tương ứng gồm: Za zá, pê lách, túk chiêng hoong, troong zục, trơn lăil, zức zăih... hòa cùng những điệu múa tạo nên một dòng chảy không dứt làm cho hội đinh tút luôn tiếp diễn.Sự chuyển hóa linh hoạt của những bài đinh tút và sự uyển chuyển của các cô gái Triêng trong bộ trang phục truyền thống đẹp nhất, với các bài múa và những điệu sáo đinh tút vang lên bên những thung lũng hẹp, núi rừng vào hội tạo âm thanh giàu cảm xúc, phóng khoáng làm cho tâm hồn người Triêng luôn được thoải mái, nhẹ nhàng...

Tiếng sáo đinh tút thổi lên, âm thanh của nó cứ bay bổng, lan tỏa trên các triền núi cao nơi định cư lâu đời của người Triêng hòa cùng trống, cồng chiêng vào núi rừng đại ngàn tạo nên một không gian văn hóa huyền ảo, thôi thúc mọi người tạm gác mọi lo toan của cuộc sống đời thường để cầu mong một năm an lành, hạnh phúc, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và no đủ, mọi người thương yêu và đùm bọc nhau.

Ngoài công việc nương rẫy, những lúc rảnh rỗi, họ đều dành thời gian để truyền nghề cho lớp trẻ và mọi người đều thích thú học để thổi loại nhạc cụ độc đáo này. Ðến nay, các xã như: La Dêê, Ðăl Pre và Ðăk Pring đã hình thành nên nhiều đội đinh tút như: Ðội đinh tút làng Ðăktà Vâng, Ðăk Chờđây, Ðăk Lôi, Ðăk Hlôil, Ðăk Ôốc, Ðăk Rế...

Nếu có dịp đến các vùng của đồng bào Triêng sinh sống vào mùa lễ hội, chúng ta vẫn còn nghe tiếng sáo đinh tút mọi lúc mọi nơi cứ bay bổng ngân nga ăn sâu vào tiềm thức và là thông điệp gửi gắm những điều tốt lành cho cộng đồng người Triêng. Ðây là dấu hiệu đáng mừng của cộng đồng này trong việc bảo tồn và phát triển vốn âm nhạc truyền thống

24. Đạo Mẫu - giá trị văn hóa tinh thần của người Việt

Dù không phải là mùa lễ hội, song Phủ Giầy, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, vẫn nhộn nhịp người, xe, nghi ngút khói hương, rộn ràng tiếng đàn, lời hát. Tín ngưỡng thờ Mẫu quả là sức cuốn hút.

Tín ngưỡng thờ Mẫu hay Đạo Mẫu là một trong những tín ngưỡng lớn ở Việt Nam. Có thời kỳ loại hình tín ngưỡng này bị cấm vì bị cho là mê tín, dị đoan, song với những giá trị, tính nhân văn vốn có, Đạo Mẫu đã được nhìn nhận lại một cách nghiêm túc.

Từ năm 1992 đến nay có thể kể đến 4 cuộc hội thảo lớn về tín ngưỡng thờ Mẫu, qua đó những giá trị văn hoá, tín ngưỡng trong Đạo Mẫu ngày càng được hiểu rõ hơn.

Mẫu trong Đạo Mẫu là một hình tượng của người mẹ Việt Nam, hình tượng của một đấng thần linh luôn luôn cứu vớt chúng sinh thoát khỏi những cơn hiểm nguy trong cuộc sống. Nét đặc trưng trong tín ngưỡng thờ Mẫu là nghi thức hầu đồng.

Với 36 giá đồng, Mẫu đã hoá thân vào tất thẩy để giúp cho nhân dân, cầu cho nhân dân vượt qua mọi khó khăn, xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn, no ấm, hoà bình hơn. Đặc biệt, Đạo Mẫu luôn ca ngợi, tôn vinh công đức của những danh nhân, những người có công xây dựng và bảo vệ tổ quốc, giúp đỡ nhân dân thoát khỏi những tai ương trong cuộc sống.

Bên cạnh ý nghĩa tín ngưỡng, Đạo Mẫu còn tích hợp những giá trị văn hoá, nghệ thuật mà ít có tín ngưỡng nào có được gồm: văn học dân gian, nghệ thuật diễn xướng (hát, múa, nhạc), tạo hình. Đây cũng là một sinh hoạt văn hoá cộng đồng, thu hút nhiều người, nhất là các bà, các mẹ tham gia.

Trong quá trình hình thành, phát triển của Đạo Mẫu có hàng trăm bài văn chầu được dân gian sáng tác. Các bài văn chầu được ví như những truyền thuyết bằng thơ, thường có hàng trăm câu với nội dung mô tả cảnh tình, ca ngợi công đức, răn dạy người đời.

Đạo Mẫu sản sinh ra những hình thức diễn xướng riêng, bắt nguồn từ dân gian, mang sắc thái dân gian độc đáo, không bị trộn lẫn với bất cứ hình thức diễn xướng nào. Nét đặc trưng của hình thức diễn xướng này là hát chầu văn. Tự bao đời, dân gian đã sáng tạo nên hàng chục điệu chầu khác nhau như Bỉ, Miễu, Thống, Phú, Dọc, Cờn, Xá...

Trong hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu, Phủ Giầy được coi là một trong những trung tâm lớn. Nhân vật trung tâm được thờ trong quần thể với gần 20 di tích này là Mẫu Liễu Hạnh - một trong tứ bất tử của thần điện Việt Nam và là thần chủ của tín ngưỡng thờ Mẫu.

Lễ hội Phủ Giầy được khôi phục từ năm 1995 với nhiều hoạt động mang đậm bản sắc văn hoá như: rước thỉnh kinh, hoa trượng hội, thi hát văn, trình diễn các làn điệu dân ca... Vào mùa lễ hội, Phủ Giầy ngập tràn những điệu chầu.

Ngày thường, Phủ Giầy vẫn nhộn nhịp người xe, nhang khói đón tiếp những người không có điều kiện dự lễ chính, vừa xa cơ, lỡ vận hoặc những người muốn thăm quan, tìm hiểu di tích.

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một trong những giá trị văn hoá có sức sống trường tồn, bền vững, có sức hút và đi vào đời sống văn hoá, tinh thần của người dân Việt Nam. Việc lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Đạo Mẫu, nghi lễ hầu đồng là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại là xứng đáng và cần thiết./.

25. Xem ngày kén giờ

Việc cưới xin, việc làm nhà cửa, việc vui mừng khai hạ, việc xuất hành đi xa, việc khai trương cửa hàng, cửa hiệu, việc gieo mạ cấy lúa, việc tế tự, việc thương biểu, việc nhập học, việc xuất quân, việc an táng... việc gì thường cũng phải xem ngày kén giờ, nhất là đầu năm mới bắt đầu làm việc gì, hoặc động thổ hoặc xuất hành, hoặc khai bút, khai ấn... lại cần xem ngày lắm. Đến những việc vụn vặt như cạo đầu xỏ tai cho trẻ thơ, việc tắm gội, may áo... cũng có người cẩn thận quá trong kén ngày.

Kén thì phải xem đến lịch. Sách lịch do toà khâm thiên giám soạn ra. Mỗi năm về ngày mồng một tháng chạp, Hoàng Đế ngự điện khai trào, các quan Khâm thiên giám cung tiến Hiệp Kỷ Lịch, rồi khâm mạng vua mà ban lịch khắc nơi...... Ban lịch trọng thể nhất là để cho thiên hạ biết chính xác nhất tiết khí, tháng thiếu tháng đủ, ngày tốt ngày xấu, để tuân hành được đều nhau.
Đại để ngày nào có nhiều sao cát tinh như thiên đức, nguyệt đức, thiên ân, thiên hỷ... hoặc là ngày trực khai, trực kiến, trực bình, trực mãn thì là ngày tốt. Ngày nào có những sao hung tính như sao trùng tang, trùng phục, thiên hình, nguyệt phá thì là ngày xấu.
Kiêng nhất là ngày sát chủ, ngày thụ tử, việc gì cũng phải tránh. Mỗi tháng có ba ngày là ngày năm, mười bốn, hai mươi ba, gọi là ngày nguyệt kỵ, việc gì cũng nên kiêng và nhất là nên kiêng nhập phòng. Trong một năm lại có mười ba ngày gọi là ngày Dương công kỵ nhật, hết thảy việc gì cũng phải tránh những ngày ấy.
Những ngày ấy là:

 

Ngày 13 tháng giêng
Ngày 11 tháng hai
Ngày 9 tháng ba
Ngày 7 tháng tư
Ngày 5 tháng năm
Ngày 3 tháng sáu
Ngày 8, 29 tháng bảy
Ngày 27 tháng tám
Ngày 25 tháng chín
Ngày 23 tháng mười
Ngày 21 tháng một
Ngày 19 tháng chạp

 

Hễ phạm phải ngày ấy thì việc gì cũng hư hỏng không thành.
Phàm việc lại cần kén ngày hợp mệnh, mà kiêng ngày tuổi.
Ngoại giả lại còn những ngày thập linh, ngày đức hợp là tốt, ngày thập ác đại bại, ngày tứ lỵ, ngày tứ tuyệt là xấu.
Nói qua mấy việc dân gian cần dùng nên kén nên kỵ.
Cưới xin nên tìm ngày thiên đức, nguyệt đức, kỵ ngày trực phá, trực nguy. Làm nhà nên tìm ngày thiên ân. Thiên hỷ, kỵ ngày thiên hoả, địa hoả và ngày kim lâu. Xuất hành nên tìm ngày lộc mã, hoàng đạo, kỵ ngày trức phá, trực bế. An táng nên tìm ngày thiên hỷ, thiên đức, kỵ ngày tử khí quan phù...
Còn như kén giờ thì việc gì lúc mới bắt đầu như lúc mới xuất hành, lúc mới ra ngõ đi cưới, lúc mới dựng nhà, lúc hạ huyệt... Thường đều kén lấy giờ hoàng đạo. Phép tính giờ hoàng đạo phải nhớ bốn câu thơ:

 

Dần, thân gia tý; mão dậu dần
Thìn, tuất tầm thìn: tý ngọ thân;
Tỵ, hợi thiên cương tầm ngọ vị
Sửu mùi tòng tuất định kỳ chân

Lại cần phải nhớ hai câu:

Đạo viễn kỷ thời thông đạt
Lộ dao hà nhật hoàn trình


Lúc đánh giờ trước hết phải biết ngày gì, rồi dùng hai câu thơ dưới mà bấm theo giờ ở bốn câu thơ trên. Hễ bấm mà gặp cung nào có chữ "đạo, viễn, thông, đạt, dao hoàn" thì giờ ấy là giờ hoàng đạo...... Xét phép chọn ngày, từ đời Đường, Ngu, Tam đại đã có. Song khi bấy giờ thì chỉ tuỳ việc mà chọn ngày: Nội sự dụng nhu, ngoại sự dụng cương. Nội sự là việc trong như việc tế tự cưới xin... thì dùng những ngày âm can là các ngày: ất, đinh, kỷ, tân, quý. Ngoại sự là việc ngoài như đánh dẹp, giao thiệp... thì dùng ngày dương can là các ngày: Giáp, bính, mậu, canh, nhâm. Dùng như thế chỉ có ý làm các việc êm ái, hoà nhã thì theo về ngày âm, việc cứng cáp mạnh mẽ thì theo về ngày dương, nghĩa kén lấy ngày có chút ý nghĩa hợp với nhau mà thôi.
Đến đời sau các nhà âm dương thuật số mỗi ngày mới bày thêm ra ngày tốt, ngày sao xấu, ngày này nên là việc nọ, ngày kia nên làm việc kia. Hết ngày rồi lại có giờ sinh, giờ hợp, giờ xung, giờ khắc, động làm việc gì cũng phải xem ngày, kén giờ, thực là một việc phiền toái quá. Đã đành làm việc gì cũng nên cẩn thận, mà chọn từng ngày, kén từng giờ mà phí câu nệ khó chịu. Mà xét cho kỹ thì có ích gì đâu, chẳng qua việc thành hay bại cốt do ở người chớ có quan hệ gì ngày tốt hay ngày xấu. Nếu cứ chọn ngày giờ mà nên việc thì không cần gì phải dùng đến sức người nữa hay sao? (Trích "Việt Nam phong tục" Phan Kế Bính).

26. Hội chùa Trăm Gian và lệ đánh cờ người

Chùa Trăm Gian, còn gọi chùa Núi, chùa Tiên Lữ, tên chữ là Quảng Nghiêm Tự, thuộc xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ. Tọa lạc trên núi Sở, ngôi chùa như một bông hoa nghệ thuật xòe nở lên bầu trời, đón nhận linh khí từ trên cao truyền xuống.

Lễ hội chùa Trăm Gian mở vào ngày 4 tháng Giêng. Suốt năm làm ăn buôn bán, chạy ngược chạy xuôi, bận rộn vất vả, chỉ có ngày tết, ngày hội người dân nơi đây mới được thư thả thanh nhàn, sống thật hồn mình. Khi đó gặp nhau là tay bắt mặt mừng, vui vẻ sởi lởi, dẫu có giận hờn chê trách cũng bỏ qua cho nhau, cùng sống với cái tình cộng đồng làng xã. Hội mở sớm, nhằm ngày hóa của đức Bồ tát Khai Sơn. Ngài có tên là Nguyễn Bình An, quê ở làng Bối Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai. Bấy giờ, vào thời nhà Trần, ngài đến tu ở chùa Núi Tiên Lữ, nổi tiếng là một vị cao tăng thông tuệ Phật pháp, được dân sùng tín gọi là pháp sư và được triều đình coi trọng. Tương truyền ngài có nhiều phép lạ, hú gió gọi mưa, bước chân nhanh như gió. Từ chùa Tiên Lữ ngài đi mấy bước đã về đến Bối Khê, dấu chân thành những ao hồ như ở Quán Thánh, Lương Xá, ổ Vực và in trên phiến đá ở trước cửa chùa Bối, đến nay đều còn. Ngài lấy tương cà ở Bối Khê về Tiên Lữ nấu cơm cho thợ làm chùa ăn. Niêu cơm nhỏ mà đoàn thợ hàng trăm người ăn mãi không hết, chẳng khác gì niêu cơm Thạch Sanh.

Năm 95 tuổi, ngày 13 tháng Chạp, ngài vào khám nhập định, đến mồng 4 tháng Giêng, dân làng thấy có mùi thơm mới mở ra, thì hương thơm sực nức, hào quang sáng chói, biết là ngài đã hóa, mới lập bàn thờ. Ngài đã thành Thánh. Đức thánh Bối, tức là Bồ tát Bình Đẳng Hành Nghĩa, còn gọi là Bồ tát Khai Sơn.

 Khám thờ ngài được đặt trên gian gác lửng, có ván bưng, cửa luôn khép kín, tạo một không gian u tịch, linh thiêng ở bên trái điện Phật. Những người thành tâm hướng thiện đến cầu sẽ được ứng nghiệm. Truyền thuyết về ngài đậm màu sắc hoang đường kỳ ảo, nhưng đó là hình thức nghệ thuật dân gian nhằm tôn vinh một vị cao tăng đã trở nên linh thiêng trong dân chúng và phản ánh ước mơ tài sức của người bình dân.

 Lễ hội chùa Trăm Gian là lễ hội vùng, gồm các thôn như thôn Nội, thôn Thượng, thôn Phương Khê (đều thuộc xã Tiên Phương, Chương Mỹ) và thôn Thổ Nghĩa (nay thuộc xã Tân Hòa, Quốc Oai). Quan anh Bối Khê từ quê hương đức Thánh ngày đại đám cử một đoàn gồm 8 cụ ông, 8 cụ bà, những bậc đạo cao đức trọng, không vướng "bụi", đem pháo bông sang lễ và giao lưu kết chạ.

 27. Hát Chầu Văn Trong Hầu Bóng

Hầu bóng là một phong tục gắn liền với đời sống tâm linh của người Việt. Đây là một lễ thức đặc trưng mà tiêu biểu nhất là tín ngưỡng Tứ Phủ. Tín ngưỡng Tứ Phủ là tín ngưỡng đặc thù của người Việt. Tín ngưỡng này có rất nhiều nghi lễ đầy mầu sắc và là mấu chốt đã tạo ra nhiều lễ hội rất phong phú, đa dạng đến phức tạp.

Hầu bóng là nghi lễ nhập hồn của các vị Thánh Tứ Phủ vào thân xác ông Đồng bà Cốt . Khi các vị Thánh đã nhập đồng thì Đồng chính là Thánh hiển linh để phán truyền, ban phúc cho các tín dân. Để phục vụ cho nghi lễ quan trọng này người ta đã sáng tạo ra một hình thức lễ nhạc gọi là Hát Vǎn để phục vụ cho quá trình nhập đồng hiển thánh.
Hầu Bóng
Hầu bóng còn là một đam mê của các ông bà tin tưởng vào tâm linh sâu đậm của mình đối với các vi thánh.
Hầu đồng chính là  “Sa Man Giáo” từ thời thương cổ của nhiều dân tộc trên thế giới.
Theo quan niệm dân gian thì người hầu đồng trước hết là người có duyên với đạo Mẫu (Có căn). Là những người trong phong trào theo nhau đội bát nhang.
Dạng thứ hai là những người có căn cơ qua một lễ Phủ
Dạng thứ ba là những người có cao căn đã mở tứ phủ để hầu đồng hay còn gọi là lính của ngài
Dạng thứ tư là những người đã mở điện thờ tại gia. Muốn thành ông đồng bà cốt phải qua hai lễ tôn bát nhang và ra đàn Tứ Phủ. Như vậy hầu đồng thực chất có thể xem là một hình thức diễn xướng dân gian có đủ yếu tố Lễ nhạc và Vũ Đạo.
Các Nghi Thức Chuẩn Bị Cho Một Buổi Hầu Đồng
Ðiện thờ: Điện thờ chính thờ hệ thống Mẫu Tứ Phủ, Mẫu Thượng Thiên (Trời) ở giữa, Mẫu Ðịa (Ðất) ở bên phải, Mẫu Thoải (Nước) ở bên trái, Mẫu Thượng Ngàn (Núi, Rừng). Ở các chùa chiền miếu mạo thường những bức tranh thờ bà Chúa, đức Thánh Trần, ông Hoàng Ba, Hoàng Bẩy, Tam Phủ, Tứ Phủ theo nghệ thuật thời thượng Đông Hồ, Hàng Trống hay Sỳnh.
Người hầu đồng trước tiên phải chọn ngày lành tháng tốt để chuẩn bị hầu với thủ nhang nhà đền, phủ hay điện
Dàn nhạc Hầu Bóng. Dàn nhạc hầu bóng gồm có 1 đàn nguyệt, 1 đàn nhị, 1 sáo, 1 trống lớn, 1 trống nhỏ, 1 cảnh đôi, 1 phách. Tùy từng địa phương, tùy hoàn cảnh hành lễ mà người ta có thể thêm bớt nhạc cụ này hoặc nhạc cụ khác, nhưng người ta không thể bớt đi đàn nguyệt, trống nhỏ, cảnh đôi vì đây là những nhạc cụ nòng cốt, nhạc cụ tính cách của dàn nhạc Hầu Bóng..
Nhân sự cho một buổi hầu đồng: Hai người phụ đồng là người thân hay người trong hội hoặc trong nhóm và một ban cung văn
Trang phục: Tang phục thích hợp cho từng vị thánh, thần nhập đồng. Vì vậy người hầu đồng phải chuẩn bị đầy đủ trang phục tùy theo định hầu mấy giá. Thường thì cần những trang phục sau đây:
-          Khăn đỏ phủ diện
-          Ít nhất là 5 chiếc áo dài mầu sắc khác nhau và một quần dài trắng
-          Khăn tấu hương và một ít loại khăn khác
-          Thắt đai lưng mầu
-          Thẻ ngà, kiềng bạc, vòng, hoa tai, chuỗi hạt, xuyến, quạt và son phấn
-          Tuy nhiên cũng có trường hợp, người hầu đồng chỉ cần một vuông vải đỏ.
Mầu sắc của trang phục phải phù hợp với mầu sắc của từng phủ. Mầu đỏ Thiên Phủ, mầu vàng Địa Phủ, mầu xanh Nhạc Phủ và mầu trắng Thoái Phủ.
Lễ vật
Lễ vật trình đồng phải khác với lễ vật hầu bản mệnh hay tiệc khao, được trình bày trên một kỷ tháp hình chữ nhật kê chính giữa và gồm những thứ sau đây:
Chén đũa bạc, đĩa và cốc pha lê chính giữa là một cái gương trên phủ một chiếc khăn thêu. Hai bên bục và trước kỷ ( bày bốn mâm lễ Tứ Phủ mỗi mâm có chín quả trứng, một cái lược, một cái quạt, một đôi guốc, chín vuông vải nhiễu mầu phủ lên trên (nhiễu hoặc lụa). Mầu phải là ma6`u chính của Tứ Phủ (Xanh, đỏ, trắng và vàng). Bên cạnh mâm lễ có một cái chung nhỏ , một cái thau nhỏ. Cứ mỗi lễ phải thay một hình nhân (nôm) và bốn lốt (2). Bên cạnh mâm lễ Tứ phủ  là mâm lễ sơn trang (3), mà bất cứ thứ lễ gì cũng phải chia ra làm 13 phần (4). Một phần lớn bày ở giữa còn 12 phần nhỏ bày xung quanh. Ngay cạnh đó là một mâm hài sơn trang (hoặc giống) mầu. Mũi hài có thêu hình chim phượng. Một trăm vàng thoi (Giấy vàng xếp thành thoi).
Ở dưới bệ, trước bàn thờ bầy đủ các loại mã và một chiếc thuyền rồng hình  cánh phương có 12 hinh nhân chèo thuyền, một đôi ngựa và một đôi voi có đủ yên cương và hàm thiếc. Những đồ dung mã người ta sẽ hóa (đốt) sau khi lễ.
Ngày ngay lễ vật có thay đổi đôi chút tùy nơi, tuy  nhiên vẫn phải giữ căn bản tối thiểu tùy đồng tiền dâng cúng
Trình Tự Một Buổi Hầu Đồng:
Băt đầu buổi hầu đồng người ta đặt các lễ vật lên hương án. Người hầu đồng để các dụng cụ lên chiếu đồng, bước lên chiếu đồng, lấy hoa xoa lên mặt, quần áo rồi vẩy xung quanh để tẩy uế . Cung văn lên giây đàn, dạo nhạc, hát văn cộng đồng. Ba động tác tiên khởi mà người hầu đồng phải làm là: Chấp tay chờ cho phụ đồng phủ khăn diên lên đầu trùm cả tay xong  thì đưa tay lên trán rồi bước chân trái lên môt bước, chân phải chụm lên với chân trái, lập lai them hai lần mới quỳ xuống. Người hầu đồng làm lễ vái dập người, hai tay chống xuống chiếu, mặt úp sát, vái ba lễ. Sau đó đứng dậy đi dật lùi ba bước về vị trí cũ. Giá đệ nhất được bắt đầu.
Cũng như giá đầu, khi sang một giá khác, người hầu đồng sau khi thay đổi trang phục và lễ cụ sẽ bước lên chiếu đồng, cung văn chuẩn bị tấu nhạc. Người hầu đồng, chit xoa khăn vái, ngồi xếp bằng. Người phụ đồng kính cẩn đưa một chiếc khăn phủ diện mầu đỏ. Hầu đồng cầm khăn, vái mấy vái rồi phủ lên đầu, hai tay cầm hai mép khăn phủ ở đầu gối. Một lúc sau đầu hầu đồng lắc lư, đảo đảo rồi bất ngờ hét lên một tiếng, chỉ ngón trỏ trái lên trời. Đó là dấu hiệu giá quan lớn đệ nhất nhập đồng.
Một Giá Đồng Có Thể Tiến theo Trình Tự Sau:
a.      Thay Lễ phục:
Mỗi vị thánh đều có lễ phục riêng phù họp với danh hiệu của vị đó và mầu sắc cũng khác biệt tùy từng phủ, từng gốc tích sắc tộc gốc, phẩm hàm cũng như văn hay võ.
b.      Dâng hương hành lễ:
Đây là một nghi thức không thể thiếu được cho bất cứ gía nào. Hầu đồng tay trái cầm một bó nhang đã đốt sẵn, boc trong mot chiếc khăn có tẩm hương. Tay phải rút một nén nhang rồi huơ lên bó nhang trong tay làm động tác phù phép mà ngôn ngữ hầu đồng gọi là khai nông, để xua đuổi tà ma
c.      Lễ thánh giáng
Khi hầu đồng có thánh nhập vào thì buông các nén hương đang cầm theo tay chắp , nghiêng mình ra hiệu thánh thuộc hạng thứ bậc nào.
Có hai hình thức thánh giáng
- Giáng trùm khăn (hầu tráng mạn) với các giá thánh mẫu. Mẫu chỉ đến chứng giám rồi đi ngay.
- Giáng mở khăn – với các hang quan trở xuống.
Khi thánh đã nhập, người hầu đồng không còn là người phàm nữa, xuất thần, tự thôi mien đã giúp cho họ nhảy múa một cách uyển chuyển, nhịp nhàng mà bình thường họ không làm được. Đó chính là hứng khởi mang tính tâm linh tôn giáo (Chỉ có ở một số người)
d. Múa đồng
Múa đồng là một hình thức diễn xướng đã được cách điểm hóa, khẳng định sự ứng nhập của thần linh. Bởi vậy động tác múa khác nhau tùy theo từng vị thánh. Nhưng chung chung thì thấy có ảnh hưởng của chèo và vũ điệu dân gian.
Mỗi động tác múa trong các giá chầu phản ảnh con người thật của vị thánh giáng đồng. Khi múa đồng thì ông đồng bà cốt sử dụng một số lễ cụ như kiếm, đao, gậy, mái chèo, quạt hay cờ…
Trước khi sử dụng lễ cụ, người hầu đồng bắt chéo hai dụng cụ lên trước trán, sau đó cúi đầu làm lễ. Khi múa xong một giá, người hầu đồng lại bắt chéo hai lễ cụ trước trán để tạ lễ.
e. Ban Lộc và nghe Văn chầu
Sau khi đã múa các thánh thường ngồi nghe cung văn hát, kể sự tích lai lịch vị thánh đang giáng. Với các giá ông Hoàng thì cung văn ngâm các bài thơ cổ. Thánh biểu hiện  sự hài long bằng động tácvề gối và thưởng tiền cho cung văn. Lúc nầy cũng là lúc, thánh dùng những thứ người hầu đồng dâng  như: rượu thuốc lá, trầu nước v.v. Các thứ thánh dùng phải làm nghi thức khai cương (khai quang) cho thanh sạch.
Lúc nầy những người ngồi dự chung quanh đến gần để cầu xin hoặc nghe thánh phán truyền. Và đây cũng là lúc thánh phát lộc. Lộc thánh gồm nhiều thứ như: hoa quả, bánh trái, gương lược, tiền bạc, nén nhang cháy v.v.
f. Thánh thăng
Cuối cùng là dấu hiệu thánh thăng. Người hầu đồng ngồi yên, hai tay bắt chéo trước tránquạt che lên đỉnh đầu, khẽ rung mình, lúc ấy hai người phụ hầu đồng cấp tốc phủ khăn diện lên đầu người hầu đồng, cung văn trổi nhạc và hát điệu thánh xa giá hồi cung
Một giá đồng kết thúc.

28. Thơ ca giao duyên của đồng bào dân tộc Pa Cô

Trên đại ngàn Trường Sơn bao la, hùng vĩ, đồng bào dân tộc Pa Cô, nhất là thanh niên nữ nữ rất yêu thích thơ ca giao duyên. Bất cứ ở đâu và lúc nào, hễ có nhu cầu văn nghệ là ở đó thơ ca giao duyên lại được họ sử dụng với tất cả niềm say mê, hào hứng.
Vì sao đồng bào dân tộc Pa Cô, nhất là tầng lớp thanh niên nam nữ Pa Cô lại thích thơ ca giao duyên đến như vậy? Phải chăng đó là tiếng nói chung của người Pa Cô vốn có tâm hồn rất mộc mạc, chân tình nhưng cũng rất nghệ sĩ, hồn nhiên và thơ mộng?
Người dân Pa Cô sống gắn bó với tự nhiên nên trong thơ ca trữ tình của họ, hình ảnh thiên nhiên bao giờ cũng rất sống động. Thiên nhiên ở đây đã được cảm hóa bởi con người, ít nhiều mang sắc thái hoạt động của con người, không còn chỉ là tự nhiên vì nó đã được gắn liền với cuộc sống lao động thường ngày.
Sau một ngày lao động vất vả nhưng đầy hứng thú trên các triền sông, cánh đồng, nương rẫy... tối về các cô gái lại làm việc trong nhà với những công việc quen thuộc như thêu thùa, quay xa, dệt vải... Các chàng trai đã không bỏ lỡ cơ hội đến để giải bày tâm sự:
"Muốn có em về dệt cửi ở chân cầu thang
Muốn có em như cái chân khung cửi
Muốn có em mặc váy bên bếp lửa ở sàn".

Tùy theo hoàn cảnh mà các chàng trai có cách ứng xử, bày tỏ khác nhau. Có lúc họ không dừng lại ở những lời bóng gió xa xôi mà tỏ ra mạnh dạn, trực tiếp, chân thành và nồng nhiệt:
"Anh đây muốn ăn cơm cùng mâm
Ăn cá cùng bát
Ăn chuối cùng nải
Ngắm trăng cùng rừng
Tắm cùng một vực...".

Trai gái Pa Cô không chỉ tìm hiểu nhau qua lao động, qua những cuộc tiếp xúc, gặp gỡ ở chân cầu thang, trong nhà, ngoài vườn mà ở nhiều nơi, nhiều lúc. Họ hy vọng gặp được những chàng trai, cô gái mà mình mong mỏi bấy lâu. Họ vừa hát giao duyên, vừa liếc mắt đưa tình tìm bạn đời chung thủy. Khi chưa tìm được ai chàng trai có thể than thở, trách móc dễ làm mủi lòng các cô gái:

"Sao em chẳng thương khuôn mặt anh, đôi mắt anh
Ðôi mắt tròn đen láy, miệng chẳng nói nên lời!".

Nếu cô gái còn hững hờ, chàng trai hát tiếp:
"Hay là em có người yêu, mắt anh soi chẳng thấy em ơi?"
Nhưng có khi lời trách móc, than thở không phải là của các chàng trai mà lại là của các cô gái:
"Ơi anh! Gối em đã nhồi bông gạo
Em mong ngày âu yếm bên anh
Nhưng càng mong đường tình càng đứt
Càng mong anh càng rứt tâm can
Em phải khóc, nước mắt chảy trong đêm dài vô tận
Nước mắt thấm vào gối
Ðể cho mầm hột bông gạo đâm chồi".

Thanh niên nam, nữ dân tộc Pa Cô khi yêu nhau, tìm hiểu nhau, nhớ nhung rất nhiều. Sự nhớ nhung đó đôi khi chẳng trừu tượng, nhút nhát mà rất cụ thể:
"Anh nhớ em mỗi ngày ba bữa
Buổi thứ nhất lúc trâu vừa về
Buổi thứ hai lúc kê nồi thổi cơm chiều
Bữa thứ ba ấy là bữa quay xa chọn sợi
Lòng anh bối rối, tơ tưởng chẳng quên em".

Tình yêu của họ vừa hiện thực, vừa lãng mạn, bay bổng:
"Em đi trước lấy tóc đuôi gà và lược
Anh sẽ bước theo sau lấy sáo với khèn
Ðôi ta trang điểm, khoe tài khoe sắc cùng nhau".

Các bạn trẻ dân tộc Pa Cô rất trân trọng tình yêu và luôn bảo vệ tình yêu của mình. Ðây là lời nhắn nhủ chân tình và ý nhị của một chàng trai:
"Nếu tóc em cuốn, đừng dùng hai lược
Khi đã có một rồi thì đừng tìm thêm hai em nhé".

Nỗi khát khao của chàng trai là chiếm được trái tim cô gái, người mà chàng trai luôn trong tâm trạng trộm nhớ thầm yêu. Và, nếu:
"Lấy được em, anh sẽ bạt cả trái núi lau làm ruộng
Sẽ san cả trái đồi cỏ tranh làm bản
Tâm tình ta sẽ phải bện thành đôi".

Ðẹp thay, hạnh phúc đôi lứa của các chàng trai cô gái Pa Cô luôn lớn lên trong nhịp sống lao động. Nhờ lao động mà có hạnh phúc và nhờ có hạnh phúc mà bài ca lao động vang lên, kể cả trong những trường hợp:
"Nếu như người yêu tôi phải từ giã trần gian để lên cõi trời
Thì xin hãy lên đó để làm ruộng đợi tôi
Tôi sẽ nhổ mạ ở thế gian này lên cấy trên ruộng ấy
Ðã yêu rồi phải thành lứa thành đôi...".

Rồi còn đó những làn điệu trữ tình với những lời thơ đầy lưu luyến khi tiễn biệt người yêu:
"Xa người yêu ta chưa được vỗ về
Xa người tình ta chưa được nói hết lời ái ân".

Những lời hát giao duyên thường được trộn lẫn trong những âm thanh của tiếng đàn, tiếng khèn, tiếng sáo tất cả đều tạo nên một sự hài hòa, có lúc nghe não nuột, day dứt; có lúc triền miên như lướt thuyền trên sông và trào lên những đợt sóng xô trên ghềnh thác. Giọng hát giữa đại ngàn Trường Sơn có lúc thanh cao, mềm mại, có lúc nức nở nghẹn ngào tạo nên những tình cảm nhớ thương quyến luyến lạ thường.

29. Y/tố Việt Mường và Tày Thái trong nền VH dân gian đất Tổ

Việt - Mường và Tày - Thái là hai nhóm chính của người Việt cổ cư trú ở đất Tổ Phú Thọ. Văn hoá vùng đất Tổ vì thế mang đậm sắc thái văn hoá Việt – Mường và Tày – Thái. Đoạn sông Hồng chảy qua Phú Thọ được mang tên theo ngữ hệ Tày – Thái là dòng Nậm Tao, dịch ra tiếng Việt là sông Thao. “Sông Thao nước đục người đen”, “Ai lên phố Ẻn thì quên đường về” (ca dao K.C chống Pháp).

Dọc bờ hữu ngạn sông Thao xa xưa là địa vực cư trú của người Tày Thái cổ. Thời Hùng Vương một bộ tộc người Tày, họ Ma cư trú ở vùng chân núi Đọi Đèn thuộc huyện Sông Thao. Ông tổ họ Ma, tên là Ma Khê được Vua Hùng phong làm Lương Tướng. ở Văn Khúc vị Lương Tướng họ Ma thường hội kiến với Vua Hùng và Nguyễn Tuấn sau được hoá thân thành thánh Tản Viên, người Mường. Đình làng Văn Khúc thờ Ma Khê có sắc phong ông là “Phụ Quốc đại thần đại tướng quân Ma Khê” vì tương truyền ông được vua phong chức quan đầu triều lo bề chính sự thay vua cha khi già yếu và giúp vị Vua trẻ lúc mới kế vị ngai vàng. Ma Khê lấy người con gái ở chân núi Vi, cạnh Đền Hùng. Về sau ông chuyển cả bộ tộc sang tả ngạn Sông Thao. Con trai ông là Ma Xuân cho đắp thành trồng luỹ gọi là Ma Thành, gọi chệch là thành Mè. Ngày nay thị xã Phú Thọ có chợ Mè và ở Phú An có đền thờ ông là vì vậy. Vào thời loạn lạc 12 xứ quân cát cứ, cháu chắt Ma Khê là Ma Xuân Trường cầm đầu Ma tộc trấn giữ thành Mè. Khi thành Hội Hồ (ở làng Văn Khúc) bị thất thủ, tướng quân Kiều Công Thuận chạy sang Ma Thành cùng với Ma Xuân Trường chống lại Đinh Bộ Lĩnh. Kiều Công Thuận tử trận. Ma Xuân Trường chạy lên Tuần Quán, Trấn Yên, Yên Bái. Sau mất ở đấy, được dân làng lập đền thờ và Đinh Bộ Lĩnh vì thán phục uy đức mà truy phong ông là “Ma tộc thần tướng”. Nay ở làng Trù Mật, thị xã Phú Thọ cũng có đền thờ Kiều Công Thuận và Ma Xuân Trường. Dòng họ Ma nay cư trú ở thị xã Phú Thọ, Lâm Thao hậu duệ của bộ tộc ấy hiện có một chi nhánh cư trú ở Việt Trì có gia đình cụ Ma Văn Thực nguyên chủ nhiệm Liên hiệp hợp tác xã thủ công nghiệp Vĩnh Phú là thân sinh ca sĩ Ma Thị Bích Việt. Hiếm có dòng họ nào còn lưu giữ được thần phả, gia phả từ thời Hùng Vương như họ Ma ở Phú Thọ. Họ Ma gốc Tày cũng như nhiều họ gốc Mường: Đinh, Quách, Bạch, Hà... là những nhóm cư dân Việt Cổ phát triển lên thành người Kinh.

Các truyền thuyết về Ma Khê và Tản Viên ở vùng Đất Tổ cũng nói đến sự hội nhập của hai nhóm Việt – Mường và Tày – Thái ở Phú Thọ. Tản Viên chính là người Mường. Dù Tản Viên đã được thần thoại hoá đến hoang đường nhưng bóc bỏ lớp huyền thoại ta vẫn tìm được lõi thật lịch sự ông là con một bà làng Yên Sơn. Bà lấy chồng rồi về sống, sinh đẻ Tản Viên ở Động Lăng Xương, làng Trung Nghĩa bên bờ sông Đà thuộc Phú Thọ. Ông được dân gian tôn sùng đắp vẽ thành một thần tượng cộng đồng, vừa là anh hùng trận mạc vừa là anh hùng văn hoá. Ông đánh giặc tài lại có công chống lại Thuỷ Tinh biểu tượng của thiên tai lũ lụt. Ông là người anh linh nghĩa cử khước từ ngôi báu, khuyên vua cha nhường ngôi cho Thục Phán để muôn dân thái bình. Thục Phán cũng là gốc Tày – Thái quản lĩnh miền rừng núi phía trên nước Lạc Việt của các Vua Hùng.

Yếu tố Việt – Mường và Tày – Thái có biểu hiện ở sự pha trộn ngôn ngữ. Ngôn ngữ Tày – Thái gọi tre là pheo, gọi chim là chóc, gọi chó là , gọi thật là chăn để đan xen thành những từ ghép trong tiếng Việt như: tre pheo, chim chóc, chó má, chân thật. Cũng ghép như vậy với tiếng Mường để có các từ ghép: cá mú, nắng nôi, v.v...

Ở khu di tích Đền Hùng có 3 quả núi thiêng, tam sơn cấm địa. Trong đó có núi Nỏn, cạnh núi Nghĩa Lĩnh đặt tên theo ngữ hệ Tày – Thái: Nỏn là út vì thế quả núi còn tên nôm thuần Việt một âm tiết là núi Út.

Xoè là điệu múa dân gian của đồng bào Thái. Người Mường ở các xã sát Sơn La, Nghĩa Lộ xưa cũng hay múa xoè. Phụ nữ Mường ở các xã đó tuy mặc áo cóm và áo dài kiểu Mường truyền thống nhưng khuy cài cúc cũng khâu giải ngang, cổ và hai nẹp áo trước ngực cũng thêu như áo phụ nữ Thái, và đầu vấn khăn piêu theo kiểu Thái. Người Mường ở vùng này cũng gọi quan đầu Mường của mình là ông quan ngài như người Thái.

Có một họ Hà thờ con cuốc vì truyền thuyết họ Hà này cùng họ hàng với Thục Đế (họ Thục Phán). Con cuốc là tổ tiên của Thục Phán (theo tô tem giáo).

Vùng Mường ở Phú Thọ vì thế có pha trộn văn hoá Tày – Thái ở cận kề.

Tiếng Mường và Tày – Thái đều gọi ruộng là na hoặc nà. Ở vùng người Việt Phú Thọ cũng nhiều nơi gọi ruộng là na như ở Tứ Xã (1 xóm) Sơn Vi, Do Nghĩa, Hà Thạch, Thuỵ Vân. Làng Cao Xá có những khu đồng như: Nà Pheo, Nà Giũa, Nà Đỏ v.v...

Một tấm bia trên Đền Hùng có 50% số địa danh được ghi là na như Na Hưu, Na Dầu, Na Hoàng v.v... (theo Lê Tượng Nguyên Trương Ban Quản Lý Đền Hùng).

Vì nước Văn Lang thời các Vua Hùng là nước của người Lạc Việt (Việt – Mường) nên yếu tố Mường đậm đặc hơn yếu tố Tày – Thái trong nền văn hoá dân gian vùng Đất Tổ.

Người Việt ở Phú Thọ cũng như ở các nơi gọi điểm tụ cư là kẻ, chạ, thôn, làng. Trước đây người Mường thường vẫn gọi điểm tụ cư của mình là động. Triều đình gọi là các động Man. ở Phú Thọ cũng có các địa danh gọi là động như động Khuất Lão ở huyện Tam Nông, động Lăng Xương ở Thanh Thuỷ – thị xã Phú Thọ cũng có thời gọi là Phú An động. Thị trấn Hưng Hoá gọi Hoa Nham động. Làng Cự Đà (Phù Ninh) thời nhà Lý còn gọi là động Cự Đà, làng Văn Khúc là động Hoa Khê, v.v...

Người Mường có tục gọi vía lúa. Những năm mất mùa người ta phải đi gọi vía lúa về làng bản của mình. Người ta phải làm lễ cúng vía lúa rồi thầy mo hoặc một người hát rang gọi vía lúa, rủ rê vía lúa về với mình.

Nhiều làng Việt cũng có tục rước bông lúa thần trong lễ hội làng mình. Người Việt gọi là thần lúa cũng bắt nguồn từ người Việt – Mường gọi thần lúa và vía lúa. Vì có truyền thuyết Vua Hùng từng đứng trên núi Nghĩa Lĩnh gọi vía lúa nên ở Đền Hùng xưa cũng thờ hạt lúa bằng gỗ đóng to như thuyền một cắng.

Nếu như người Mường thuộc Mường Kịt có bài hát rang gọi vía lúa như sau:

“...Lúa nương thì ở phương xa”

“Lúa nhà thì ở phương gần”

“Về cúng mâm cơm mâm rượu”

“Vui từ cửa từ nhà”

“Sáng ngày mai vui ra đồng ruộng”...

Thì người Việt ở làng Nam Cường (huyện Tam Nông) lại có tục múa mo. Có chúa mo đứng chủ trò. Chúa mo có nguồn gốc từ các ông mo là người hoạt động về tín ngưỡng, tâm linh của các cộng đồng người Mường. Chúa mo ở Nam Cường hát gọi:

“Trong làng cây muống”

“Làng ta làm ruộng”

“Lúa tốt đề đa”

“Là hú ha ha!”

“Là hú hơ hơ!”

Các lễ hội về mùa màng của người Việt cũng gần giống như của người Mường: Lễ hạ điền, thượng điền, cơm mới v.v...

Nhiều làng Mường và Việt ở Phú Thọ cùng thờ Tản Viên làm Thành Hoàng.

Nếu như nhiều làng Mường thờ dâm thần như ở Thu Cúc xưa có đình miếu thờ nam thần dâm ở xóm Quẽ, nữ thần dâm ở Đồng Than thì nhiều làng Việt ở Tam Nông, Lâm Thao, Cẩm Khê cũng có tục cầu thờ sinh thực khí như thờ nõ nường ở Tứ Xã, Sai Nga. Thờ Kén (30 cặp sinh thực khí nam) ở làng Dị Nậu v.v...

Nếu như người Mường làm nhà mồ chia của cho người chết thì người Việt cũng có tục đem theo đồ dùng cho người chết gọi là đồ tuỳ táng.

Các hình thức cưới xin của người Việt cũng tương tự người Mường như tục nòm (ăn hỏi) đưa đón dâu, của hồi môn v.v... Người Việt và người Mường đều có các trò chơi ném còn, cướp phết; từ đu cọn của người Mường, người Việt đã làm ra đu tiên. Cả hai dân tộc đều hát ví, hát đúm...

Người Mường Thanh Sơn có tục hát nàng bung nàng bạn. Những đêm trăng thanh gió mát các nhà mày (đạo diễn) trải 6 chiếu ra bãi cỏ cho nam thanh nữ tú vào hát đua tài. Có hát các tích truyện thơ Mường. Chỉ có hát mà chưa có diễn. Có tích nhưng chưa dịch ra trò. Phải chăng chiếu làng bung, làng bạn là tiền thân chiếu chèo của người Việt ở Trung du và đồng bằng Bắc Bộ.

Văn hoá vùng Đất Tổ là sự kế thừa phát huy văn hoá gốc Lạc Việt (Việt Mường), Tày – Thái và tiếp thu các dòng văn hoá khác qua hàng ngàn năm giao thoa hội nhập với các vùng khác, các tộc người khác.

30. Ngày kiêng Hổ của người Dao đỏ Mồ Sì San

những ngày đầu năm mới hằng năm, người Dao đỏ ở xã Mồ Sì San (huyện Phong Thổ - Lai Châu) lại tổ chức tục kiêng Hổ. Đây là dịp để dân bản được quần tụ vui chơi, trao đổi kinh nghiệm làm ăn để có được một năm mới ấm no, hạnh phúc.

Các già bản người Dao đỏ ở xã Mồ Sì San (huyện Phong Thổ - Lai Châu) nói rằng, từ xa xưa cha ông họ đã có tục kiêng Hổ vào ngày đầu năm mới, kéo dài trong 3 ngày. Theo quan niệm của họ, ngày Dần đầu tiên trong tháng giêng âm lịch, hổ sẽ xuất hiện bắt gà, lợn, trâu bò, gây thiệt hại về người và của. Trong những ngày tục kiêng Hổ, dân bản không lên nương, không lên rừng, nông cụ được xếp gọn gàng vào một góc nhà không ai được đụng đến và đặc biệt là không gây ra những tiếng động lớn trong nhà. Họ cho rằng, nếu làm những việc ấy sẽ gặp điều rủi trong suốt cả năm. Các cụ già thường ngồi viết chữ mừng năm mới, nam thanh niên tổ chức các trò chơi, phụ nữ thì may vá, thêu thùa, trẻ em được mặc những trang phục dân tộc đẹp nhất, mới nhất để vui chơi, giao lưu tìm bạn... Là xã vùng cao biên giới, Mồ Sì San có 4 bản Séo Hồ Thầu, Mồ Sì San, Tân Séo Phìn, Tô Y Phìn nằm trên độ cao 1700m so với mặt nước biển, cư dân toàn bộ là người Dao đỏ. Tục kiêng Hổ ngày đầu năm mới là dịp để dân bản được quần tụ vui chơi, trao đổi kinh nghiệm làm ăn để có được một năm mới ấm no, hạnh phúc./.

  1. Ý nghĩa thiêng liêng của bàn thờ vọng

 Bàn thờ vọng áp dụng cho con cháu sống xa quê, hướng vọng về quê, thờ cha mẹ ông bà tổ tiên, hương khói trong những ngày giỗ, tết.

Ngày xưa, với nền kinh tế nông nghiệp tự cung, tự cấp, người nông dân suốt đời không rời quê cha đất tổ, chuyển cư sang làng bên cạnh cũng đã gọi là biệt quán, ly hương, vì vậy bàn thờ vọng chỉ là hiện tượng cá biệt và tạm thời, chưa thành phong tục phổ biến.

 "Vọng bái ", nghĩa là vái lạy từ xa. Ngày xưa, khi triều đình có những điển lễ lớn, các quan trong triều tập trung trước sân rồng làm lễ, các quan ở các tỉnh hoặc nơi biên ải, thiết lập hương án trước sân công đường, thắp hương, nến, hướng về kinh đô quỳ lạy Thiên tử. Khi nghe tin cha mẹ hoặc ông bà mất, con cháu chưa kịp về quê chịu tang, cũng thiết lập hương án ngoài sân, hướng về quê làm lễ tương tự. Các bàn thờ thiết lập như vậy chỉ có tính chất tạm thời, sau đó con cáo quan xin về cư tang ba năm (xem bài Lễ Cư tang). Các thiện nam tín nữ hàng năm đi trẩy hội đền thờ Đức Thánh Trần ở Vạn Kiếp, đức Thánh Mẫu ở Đền Sòng v.v... dần dần về sau, đường sá xa xôi, cách trở, đi lại khó khăn, cũng lập bàn thờ vọng như vậy. Nơi có nhiều tín đồ tập trung, dần dần hình thành tổ chức. Các thiện nam tín nữ quyên góp nhau cùng xây dựng tại chỗ một đền thờ khác, rồi cử người đến bàn thờ chính xin bát hương về thờ. những đền thờ đó gọi là vọng từ (thí dụ ở số nhà 35 phố Tôn Đức Thắng Hà Nội có "Sùng Sơn vọng từ" nghĩa là Đền thờ vọng của núi Sòng, thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh).

Bàn thờ vọng ông bà cha mẹ chỉ được tập trung trong trường hợp sống xa quê. Những người con thứ, bất cứ giàu nghèo, sang hèn thế nào, nếu ở gần cánh cửa trưởng trên đất tổ phụ lưu lại, thì đến ngày giỗ, ngày tết, con thứ phải có phận sự hoặc góp lễ, hoặc đưa lễ đến nhà thờ hay nhà con truởng làm lễ, cho dù cửa trưởng chỉ thuộc hàng cháu, thì chú hoặc ông chú vẫn phải thờ cúng ông bà tại nhà cửa trưởng. Do đó không có lệ lập bàn thờ vọng đối cửa thứ ngay ở quê nhà. Nếu cửa trưởng khuyết hoặc xa quê, thì người con thứ 2 thế trưởng được lập bàn thờ chính, còn bàn thờ ở nhà người anh cả ở xa quê lại là bàn thờ vọng.

Phong tục rất hay và rất có ý nghĩa. Bởi lẽ chữ Hiếu đi đôi với chữ Đệ. Khi sống cũng như đã mất, ông bà cha mẹ bao giờ cũng mong muốn anh chị em sống hòa thuận, một nhà đầm ấm. Thỉnh vong hồn về cầu cúng lễ bái, mà anh chị em ở gần nhau không sum họp, mỗi người cúng một nơi, thì đó là mầm mống của sự bất hoà, vong hồn làm sao mà thanh thản được.

Cách lập bàn thờ vọng:

Chưa phải là phong tục cổ truyền, chưa có nghi lễ nhất định, mà chỉ là kinh nghiệm truyền cho nhau khoảng đầu thế kỷ lại nay tuỳ hoàn cảnh thuận tiện mà vận dụng: Khi bắt đầu lập bàn thờ vọng phải về quê chính báo cáo gia tiên tại bàn thờ chính. Sau đó xin phép chuyển một lư hương phụ hoặc mấy nén hương đang cháy giở mang đến bàn thờ vọng rồi thắp tiếp. Nếu có nhà riêng, tương đối rộng rãi khang trang, thì bàn thờ đặt hẳn một phòng riêng chuyên để thờ cúng cho tôn nghiêm, hoặc kết hợp đặt ở phòng khách, nhưng cao hơn chỗ tiếp khách. Nếu đặt bàn thờ gia thần riêng, thì phải đặt thấp hơn bàn thờ gia thần một ít. Đặt hướng nào? - Hướng về quê chính, để khi người gia trưởng thắp hương vái lạy thuận hướng vái lạy về quê. Thí dụ người quê miền Trung sống ở Hà Nội thì đặt bàn thờ vọng phía Nam căn phòng hay ngoài sân, ngoài hiên. Không nên đặt bàn thờ trong buồng ngủ, trừ trường hợp nhà chật hẹp quá thì phải chịu. Không nên đặt cạnh chỗ uế tạp, hoặc cạnh lối đi. Đối với những gia đình ở khu tập thể nhà tầng, nếu câu nệ quá thì không còn chỗ nào đặt được bàn thờ. Những người sống tập thể, chỉ đặt một lọ cắm hương đầu giường nằm của mình cũng đủ, miễn là có lòng thành kính, chẳng cần phải câu nệ hướng nào, cao thấp rộng hẹp ra sao

Tương truyền, khi quân Minh sang xâm lược kéo đến giết người, cướp của, đốt chùa vô cùng tàn ác, ngài làm ra mưa máu khiến chúng bị bệnh mà chết rất nhiều, phải rút đi. Sau khi quân Minh kéo về nước, còn một số ít xin ở lại lập nghiệp tại Mai Lĩnh. Vì  thế hằng năm cứ đến đêm chính hội chùa Trăm Gian (đêm mồng bốn tháng Giêng) dân Mai Lĩnh, nay thuộc quận Hà Đông lại cử một đoàn người đến lễ trình con rối như một nghi thức trình diện của quân Minh xưa. Nếu như năm nào không lễ trình thì y như rằng không bị hỏa hoạn cũng làm ăn thua lỗ.

Lễ hội chùa Trăm Gian thu hút khách hành hương khắp nơi nơi. Trẩy hội chùa là để lễ Phật, lễ Thánh, du xuân, chơi núi, kết giao bè bạn và xem các trò dân gian. Từ mồng bốn đến mồng sáu tháng Giêng có rước kiệu Thánh, thổi cỗ chùa, thi oản chuối, múa rối, đốt pháo, đấu vật… Nhưng đặc sắc nhất là thi đánh cờ người.

Cuộc cờ bày trên sàn nổi ở hồ bán nguyệt trước cửa chùa. Người đóng quân được tuyển kỹ lưỡng. Trước hết phải tuyển chọn được một ông già và một bà già, là người thôn Nội và thôn Thượng (hai thôn chính thuộc làng Tiên Lữ  xưa), tuổi từ 50 trở lên, song toàn, không có "bụi", vóc dáng đẹp, đóng  tướng ông và tướng bà. Các quân cờ khác đều là trai thanh nữ tú ở thôn Nội và thôn Thượng. Tướng ông mặc áo gấm, tướng bà mặc áo nhiễu. Quân bên tướng ông là những chàng trai dũng mãnh, vận bộ đỏ, bên tướng bà là những cô gái đoan trang trong bộ trắng.

Cuộc cờ thu hút kỳ thủ mọi miền. Danh thủ thiên hạ hoặc xem bảng hội cáo yết ở trong vùng mà tới hoặc nhớ ngày hội chùa mà sang, đều phải qua tuyển chọn ở cờ bàn rồi mới vào sàn đấu. Đây là cuộc so tài, đọ trí giữa các kỳ thủ lừng danh trong thiên hạ. Cuộc cờ trở thành trung tâm lễ hội, được mọi người nao nức, đứng ngồi kín cả vùng đất quanh hồ hồi hộp, dõi xem từng nước thấp cao. Đây không chỉ đơn thuần là cuộc thi tài giữa các kỳ thủ, mà còn là một nghi thức linh thiêng trong lễ hội.

Núi Sở - vùng đất thiêng, linh khí tụ hội, nằm trong một vùng núi non đồi gò biểu tượng các con vật. Núi Sở là con ngựa, gần đó là các con hổ, con long, con mộc, con hỏa… Chùa Trăm Gian tọa lạc ở đỉnh cao trên núi Sở, được xem như mang yếu tố dương, còn con hồ bán nguyệt trước cửa chùa là vùng trũng, thấp được xem như  yếu tố âm. Âm dương giao hòa đối đãi, tạo thế trường tồn và sinh sôi. Nước hồ bốn mùa trong vắt. Nơi tích thủy cũng là nơi tích phúc, tích đức, tích tài, tích thiện cho dân chúng trong vùng. Cũng có thể xem con hồ như một tấm gương chiếu lên trời, thu nhận linh khí từ tầng cao. Nơi đón nhận khí thiêng từ cha trời truyền xuống mẹ đất cũng là nơi diễn ra cuộc cờ. Hai bên quân cờ, những trai thanh nữ tú trong trang phục màu đỏ và màu trắng là có ý nghĩa về âm dương ngũ hành. Màu đỏ, màu của lửa, tượng trưng cho hỏa, còn màu trắng, màu của nước, tượng trưng cho Thủy. Thủy, Hỏa là hai thành tố quan trọng trong năm thành tố gốc (Ngũ hành - Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ). Cũng có thể xem hai màu trắng - đỏ là hiện thân của âm - dương, trong đó màu đỏ dương tính nhưng cũng là màu của trí tuệ, sức mạnh và đại cát, còn màu trắng mang tính âm, nhưng cũng là màu của sự sống và hạnh phúc. Bản thân những người đóng vai quân cờ, hai bên nam - nữ đã hàm chứa ý nghĩa âm dương. Khi đánh cờ, các quân cờ di chuyển trên bàn là biểu hiện sự chuyển hóa âm dương ngũ hành. Nước cờ càng hay, thế cờ càng biến hóa, cũng có nghĩa là âm dương ngũ hành chuyển động thuận chiều, thông tỏ. Tiếng trống thúc quân ròn rã cộng hưởng với tiếng hò reo khích lệ và lời trầm trồ khen ngợi, mách nước của người xem ở quanh hồ làm nền cho cuộc đấu. Tất cả những âm thanh sôi động và không khí rạo rực đó, tựa như vũ trụ vận hành ở quanh, hỗ trợ cho thế cuộc đang diễn ra sôi nổi. Cuộc cờ như một thông điệp, người bình dân gửi tới các đấng linh thiêng ước nguyện muốn cho trời đất vận hành thận lợi, thế cuộc hanh thông thịnh đạt, đời sống yên vui phát triển.

Các kỳ thủ vào cuộc đấu, ai cũng trổ hết tài năng, cố gắng đoạt giải, nhưng không phải để ăn thua. Điều quan trọng là làm sao có được những nước cờ hay, sáng tạo độc đáo chuyển đổi cả cục diện. Có như vậy mới thể hiện được ước nguyện của mọi người, mong muốn trời đất vận hành hanh thông. Bản thân các kỳ thủ, đã khảo qua cờ bàn, vào đến sàn đấu là đã được may mắn cả năm, còn như có được nước cờ độc thì càng được nhiều phúc lộc.

Cuộc cờ càng trở nên linh thiêng hơn vì còn có cả đức Thánh cùng xem. Bên hồ nước có nhà Giá ngự, có trò thì rước kiệu Thánh ra để Ngài cùng xem, đặng thấy rõ ước nguyện của dân mà làm theo. Nghi thức này rất hiếm ở lễ hội nơi khác, cho thấy mối quan hệ gần gũi giữa thần linh với con người - một biểu hiện văn hóa tín ngưỡng cổ của người Việt và là nét đặc sắc ở lễ hội chùa Trăm Gian.Hội tụ văn hóa Phật giáo và văn hóa tín ngưỡng bản địa, chùa Trăm Gian còn bảo tồn được những di sản văn hóa truyền thống cả vật thể và phi vật thể. Ngôi chùa bề thế, có tới trăm gian, với gần 200 pho tượng theo Thiền phái Đại Thừa và theo tín ngưỡng bản địa, những mảng nghệ thuật tạo hình bằng đá, bằng gỗ, bằng đất nung… có niên đại trải dài từ Trần, Lê, Mạc, Tây Sơn đến Nguyễn. Hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng làng xã - tiêu biểu là lệ đánh cờ người - ở đây là hết sức hiếm quý. Rất tiếc là những năm gần đây, khi tổ chức lễ hội, địa phương đã không chú ý đến nghi thức văn hóa này. Đấy không chỉ là những cuộc cờ tỷ thí cao thấp, mà còn bao nhiêu ý nghĩa, bản sắc dân tộc. Mong sao tới đây, xã Tiên Phương và ngành văn hóa phục hồi được truyền thống rất đặc sắc, rất bản địa ấy.

32. Người bên núi” nổi chiêng

Từ đời này sang đời khác, đồng bào Pa Kô vẫn lưu giữ bản sắc rất riêng trong cộng đồng các dân tộc anh em trên dải Trường Sơn, phía tây tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong một lần ngược lên miền cao A - Lưới, chúng tôi tình cờ được nghe những câu chuyện ly kỳ, “mục sở thị” những sinh hoạt độc đáo của “người bên núi” - đồng bào Pa Kô.

Và trong ký ức từ người trẻ, đến những già làng Pa Kô đã sống qua hơn 100 mùa lúa mới là những câu chuyện được các thế hệ truyền kể về gốc tích của dân tộc mình.

 

Chuyện cổ tích kể giữa đại ngàn

Xuất phát từ nguyện vọng của đồng bào dân tộc Pa Kô muốn được công nhận là một dân tộc riêng, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế giao Ban Dân tộc tỉnh thực hiện đề án “Bổ sung dân tộc Pa Kô vào danh mục các dân tộc Việt Nam”.

 

Đến thời điểm này, Ban dân tộc vừa hoàn thành khảo sát đề án, trong đó xác định nguồn gốc, sự ra đời và phát triển, đồng thời phân biệt dân tộc Pa Kô với một số dân tộc khác sống lân cận.

 

Ban đề án đã tổ chức điều tra, khảo sát 8/12 xã có đồng bào dân tộc Pa Kô (gồm các xã: Hồng Thượng, Đông Sơn, Hồng Trung, Hồng Vân, Hồng Thủy, Hồng Quảng, Hồng Kim, Hồng Bắc) và 4/5 xã có đồng bào dân tộc Tà Ôi (gồm: Hồng Thái, A Ngo, A Đớt, Nhâm) thuộc huyện A Lưới nhằm xác định nguồn gốc, sự ra đời và phát triển của dân tộc Pa Kô.

 

Đồng thời, cuộc khảo sát này cũng làm rõ sự khác biệt giữa dân tộc Pa Kô với dân tộc Tà Ôi để đề xuất Đảng, Nhà nước công nhận dân tộc Pa Kô vào danh mục các dân tộc Việt Nam.

Một trong những người sưu tầm, cũng như được nghe các già trong bản kể chuyện của bản làng mình, ông Hồ Văn Hạnh (dân tộc Pa Kô) - Bí thư Đảng ủy xã Hồng Trung kể: “Ngày xưa, lâu lắm rồi, người Pa Kô làm ăn sinh sống ở một khu vực gần với biển, với ruộng đồng. Nơi đồng bào sinh sống còn có một đồng bào anh em khác nữa. Qua năm tháng, người Pa Kô và người anh em “láng giềng” vẫn sinh sống hòa thuận, nhưng rồi xuất hiện hai người nhà giàu - chủ thể của đất họp bàn để nhường phần đất đang sinh sống lại cho một trong hai người làm kinh đô - lập quốc. 

Một cuộc thi thố đã được thống nhất giữa hai “người láng giềng” - xây một tòa thành trong vòng một đêm, ai thua thì phải nhường lại “kinh đô” của mình cho “đối phương” và đi tìm vùng đất mới. Sau khi đã thống nhất, tối hôm đó, toàn dân làng được điều động để xây thành.

 Người Pa Kô vốn thật thà đã huy động dân làng xây một bức tường thành kiên cố. Cả đêm đó, toàn dân làng đi tìm những cây gỗ lớn, những vật dụng chắc chắn nhất để dựng thành, còn “người láng giềng” thì ngược lại - dựng một bức thành tạm bợ bằng những vật liệu dễ kiếm, dễ tìm. 6 giờ sáng, khi mặt trời vừa lên, bức thành của người Pa Kô vẫn chưa được hoàn thành, còn bức thành của “hàng xóm” đã được xây xong, đã dựng cờ trên nóc. 

Theo giao kèo, người Pa Kô phải rời khỏi vùng đất đang ở. Họ dắt nhau đi về phía tây. Đi mãi, đi mãi, họ tìm đến dựng nhà sinh sống dưới các chân đồi, dưới các đỉnh núi. Tuy ở miền cao, những sinh hoạt của đồng bào Pa Kô vẫn gắn với đồng bằng. Họ sống bên những nơi có nước, có hồ, mua muối ăn của người đồng bằng, mua dụng cụ để dệt áo mặc”...  

Trong không gian thâm u của miền sơn cước, trong men say của chén rượu cần, rượu Đoác, ông Hồ Văn Hạnh tiếp thêm một câu chuyện cổ tích khá ly kỳ về sự tích nòi giống, quá trình sinh con đẻ cái của đồng bào dân tộc mình được các thế hệ xưa truyền lại: “Biết được thời điểm trên trái đất bị ngập nước, vạn vật trên không sẽ chết hết; người Pa Kô đã đục những thân cây gỗ đủ sức chứa cho một đến hai người, thả trôi trên biển cả. Trong thân cây gỗ đó, có chứa các dụng cụ, cây giống để khi nước rút đi, tìm kế sinh nhai. Hơn một tuần sống trong khúc gỗ, nước cạn, họ chọc khúc gỗ chui ra tìm đất đai sản xuất. 

Quá trình sinh sống, làm ăn rồi sinh con đẻ cái. Sinh được chục con, 5 trai, 5 gái (ông trời chỉ cho một trong hai người trong khúc gỗ được sống, nên người được sống phải ghép với một loài vật khác mới có thể sinh con, con sinh ra chỉ có thể sinh toàn nam, hoặc toàn nữ), đến khi trưởng thành thì không biết kết hôn với ai. Cha mẹ bày cho con cứ đi mãi, quanh núi quanh non để tìm bạn đời. Họ đi mãi, đi mãi rồi con trai gặp được những người con gái muốn tìm và ngược lại. Gặp nhau ở một khu rừng, đủ đôi, đủ cặp để thành vợ thành chồng, lập nên làng xóm”...

“Tôi là người Pa Kô”

Trong cuộc hành trình này, chúng tôi may mắn được gặp già làng Quỳnh Át. Ông cùng sống với người em trai (đã ngoài 90 tuổi) trong một ngôi nhà dài truyền thống của người Pa Kô tại thôn Lê Triên, xã Hồng Trung, A Lưới. Già Quỳnh Át kể: Già được sinh ra vào mùa lúa mới, đến nay già không còn nhớ là mình đã sống qua bao mùa lúa mới nữa - còn với những người lớn tuổi trong làng thì già Quỳnh Át là “báu vật sống” của người Pa Kô (đã ngoài 100 tuổi) và là biểu tượng của sự hào hoa, giàu có của người đồng bào.

Vốn là con nhà khá giả, ngày trẻ già nổi tiếng khắp vùng với tài đánh chiêng giỏi, hát rất hay. Tiếng chiêng già đánh ngân vang khắp cả núi rừng, tiếng Ântoong Atục (nhạc cụ gồm 3 thanh gỗ, một ống tre) của già xua đuổi hết những bầy thú dữ. Tiếng khèn Âng Krao, Âng qoại, Ti reel của già đắm hồn biết bao thiếu nữ...

Dứt ngang câu chuyện kể, già Quỳnh Át lấy ra chiếc chiêng “biểu diễn”, vừa đánh chiêng vừa múa xoay tròn bên bếp lửa. Những đứa trẻ, thanh niên, đến những thiếu nữ trên nương nghe tiếng chiêng của già Quỳnh Át nổi lên bên ngôi nhà dài, họ hội tụ về, cùng chung thêm điệu nhảy, điệu múa...

Dứt tiếng chiêng, mồ hôi lăn dài trên trán, già cười móm mém bảo: “Mệt, già mệt lắm nhưng tiếng chiêng, tiếng khèn là báu vật của núi rừng phải gìn giữ, lâu cũng phải nổi chiêng, nổi khèn lên để đánh thức bản, làm vui cho bản và để con cháu còn học để biết thổi cái khèn Âng Krao, Âng  qoại... gọi bạn tình nữa chứ”.

Người PaKô trước đây thường sống trong những nhà dài, trong đó gồm nhiều bếp, nhiều hộ gia đình, thường quây quanh một sân lớn được dùng cho các sinh hoạt chung (của làng). Họ có lễ hội Ada - lễ hội ăn mừng lúa mới để tri ân mùa màng, để tạ ơn đất trời, nắng mưa, dông gió, sông suối, núi rừng, cây cối và cả ma quỷ.

Ở lễ cúng Ada, điều mong mỏi nhất là mỗi nhà mỗi bếp cũng như cả làng được bình yên, con người được mạnh khỏe, mùa vụ năm tới bội thu. Người Pa Kô còn có lễ cải táng mồ mả (A riêu ping) được tổ chức với mục đích đem lại sự bình yên, siêu thoát cho những người đã khuất, mang lại cho dân làng một cuộc sống ổn định, không ốm đau, bệnh tật.

 

Để chuẩn bị cho lễ hội, trước đó một tuần, toàn bộ trai làng được huy động để đưa hài cốt của những người đã khuất về tập trung ở giữa làng; 3 ngày sau, những hài cốt đó sẽ đưa đi cải táng. Việc bốc mộ không chỉ riêng lẻ từng gia đình mà được tổ chức bốc theo làng, dòng họ dưới sự chỉ đạo của già làng. Sau khi hoàn thành việc bốc mộ, người Pa Kô nổi chiêng, nổi trống lên cùng nhảy múa, ca hát suốt ngày đêm.

Rời miền cao, mang theo những câu chuyện kể của người anh em trên núi chúng tôi tâm đắc câu nói của già Quỳnh Át: “Âng là tikuôi Pakôh” (Tôi là người Pa Kô). Từ thế hệ này qua thế hệ khác, người Pa Kô luôn tự hào mình là một dân tộc, có lối sinh hoạt, ngôn ngữ và bản sắc văn hóa riêng, là con, là cháu Bác Hồ.

 

Theo kết quả khảo sát ban đầu, Pa Kô là dân tộc thiểu số, định cư chủ yếu ở huyện A Lưới (Thừa Thiên Huế) và huyện Hướng Hóa (Quảng Trị). Họ sống xen kẽ với người Cơ Tu, Tà Ôi, Vân Kiều và có nhiều đặc điểm tương đồng với các dân tộc nhóm Môn - Khmer về trang phục, nhà ở, cách thức canh tác. Với 18.000 người, đồng bào Pa Kô hiện chiếm số dân lớn nhất trong cộng đồng dân tộc thiểu số tại Thừa Thiên Huế. Tiếng nói của dân tộc Pa Kô là một ngôn ngữ độc lập.

 

Về mặt tổ chức xã hội, người Pa Kô không phân chia ranh giới giữa làng này với làng khác trong khi làng của người Tà Ôi lại phân chia ranh giới rất rõ ràng. Người Pa Kô xem con voi là vật quý nhất, thể hiện sự giàu sang trong khi với người Tà Ôi, cái quý nhất thể hiện sự giàu có lại là những vòng ngọc có màu trắng ngà.

 

Về dòng họ, nếu người Pa Kô phần đông lấy tên họ mình là Tâng Koal (con chó) thì người Tà Ôi lấy tên họ mình là A Kê, Pê Kê (con chim). Đàn ông trong gia đình người Tà Ôi đảm đang, nấu ăn rất giỏi, còn với người Pa Kô thì công việc nấu nướng chỉ dành riêng cho phụ nữ. Tuy cùng có tập quán ở nhà dài nhưng nhà của người Pa Kô mái xuôi và có vách ngăn riêng biệt cho từng gia đình trong đại gia đình, còn nhà của người Tà Ôi lại có mái thẳng đứng và không chia vách ngăn.


33. Mầu sắc với truyền thống văn hóa dân tộc

Ở mỗi dân tộc việc vận dụng mầu sắc có tập quán khác nhau. Thí dụ ở các nước phương Tây, mầu đen là mầu tang tóc, còn ở Việt Nam và các nước phương Đông thì phổ biến màu tang là mầu trắng.

Mầu sắc còn mang đặc trưng sắc thái của các tầng lớp xã hội khác nhau: Thí dụ mầu vàng là của vua, từ các quan đại thần cho đến thường dân, cấm không ai được mặc quần áo hoặc xây dựng nhà cửa màu vàng. Mầu tím là sắc phục của các quan đại thần. Mầu điều, mầu đỏ dành riêng để tế thần và làm sắc phục cho các cụ thượng thọ. Mầu nâu sòng là của cửa Thiền dành cho những kẻ quy y Phật tổ, cũng như mầu đen là sắc phục của linh mục đạo Ky-Tô. Mầu xanh là của những người còn theo đòi Cửa Khổng sân Trình, của học trò chưa đậu đạt.

Trong bài thơ La-sơn phu-tử Nguyễn Thiếp gửi Tiến sĩ Nguyễn Khản có câu:

Quân kim bào hốt trung triều sĩ,

Cố ngã lâm tuyền khâm thượng thanh...

(Có nghĩa là: Nay ngài đã là khanh tướng trong triều, mà còn nhớ đến bạn học ngày xưa áo vẫn xanh). "Áo vẫn xanh" tức là chưa hiển đạt, vẫn còn là bộ quần áo của người hàn sĩ. Mầu đào tức mầu hoa đào là của các nàng ca sĩ, cho nên mới có danh từ "Hát ả đào".

Mầu đen, mầu nâu là trang phục rẻ tiền nhất của quần chúng nông dân. Mầu xanh nhập nội từ đất nước Trung hoa sau giải phóng gọi là xanh công nhân.

Ở Việt Nam, từ xưa tới nay, mầu đỏ, màu vàng, màu hồng, dùng trong trướng đối chỉ dành để chúc tụng, khao lão, mừng rỡ, còn trong lễ tang chỉ có thể dùng mầu trắng, mầu xanh, mầu đen, mầu tím... không hiểu vì sao, gần đây nhan nhản ở các cửa hàng, trướng điếu (lễ tang) cùng dùng mầu đỏ, mầu vàng rực rỡ, phải chăng các cụ già chết là đáng mừng, không cần phải an ủi, lưu luyến, nên chẳng cần dùng mầu đen, trắng, xanh, tím như ngày xưa. Vì thế mới xẩy ra câu chuyện oái oăm: Có người đi mừng ông ban 70 tuổi lại mua một bức trướng điếu mầu đỏ thêu 4 chữ vàng "Tiên cảnh nhàn du", có khác gì chúc cho bạn mình mau chết để chóng được lên dạo chơi trên cảnh Bồng Lai. Nguyên "Tiên cảnh nhàn du", (Nghĩa là thanh nhàm dạo chơi trên cảnh tiên) là để an ủi người mới mất từ nay hết nợ trần gian lên hưởng cảnh tiên.

34. Chợ Việt Nam - Nét văn hoá dân tộc Việt

Chợ Việt Nam có lẽ được hình thành từ thời lập quốc, theo truyền thuyết từ thời Hùng Vương, người Việt đã biết giao lưu buôn bán với nước ngoài, chợ là nơi trao đổi hàng hóa, sản phẩm giữa các cộng đồng người khác nhau. Cùng với tiền trình của lịch sử dân tộc, Chợ Việt Nam còn mang đậm dấu ấn văn hóa.

Chợ là nơi giao duyên

Người đến chợ không chỉ để trao đổi các sản phẩm và tìm kiếm những sản phẩm thiết yếu của mình, mà còn để gặp gỡ, trao đổi thông tin và tình cảm. Nói đến những phiên chợ tình thì người ta nghĩ ngay tới các phiên chợ của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc. Phiên chợ Bắc Hà được coi là một trong 10 phiên chợ hấp dẫn nhất Đông Nam Á có lẽ cũng vì đặc điểm độc đáo này. Ngay từ khi tỉnh Lào Cai được thành lập thì chợ Bắc Hà được hình thành tại Châu Bắc Hà. Từ đó đến nay chợ Bắc Hà bao giờ cũng chỉ họp mỗi tuần một phiên vào ngày Chủ nhật, nó không chỉ đơn thuần là nơi mua và bán như các chợ khác mà nó còn là nơi giao lưu văn hóa giữa các dân tộc anh em trong vùng Tây Bắc.

Chợ Bắc Hà là nơi trao đổi hàng hóa địa phương với hàng hóa ngoài tỉnh, được chia ra các khu chợ nhỏ mang tính chất đặc trưng như: chợ thổ cẩm, chợ ẩm thực, chợ ngựa, chợ gia cầm, chợ thực phẩm, chợ chim, chợ rèn đúc… Mỗi khu chợ đều phong phú đa dạng và mang màu sắc dân tộc địa phương. Nhưng hiện nay hàng hóa được bày bán không chỉ là hàng hóa địa phương đơn thuần, mà còn có hàng hóa của nhiều nơi khác mà nhiều nhất vẫn là hàng hóa của Trung Quốc tràn sang. Nhưng điều làm nên vẻ hấp dẫn của Phiên chợ Bắc Hà không chỉ nằm ở đó, mỗi phiên chợ Bắc Hà còn là nơi giao lưu gặp gỡ giữa các dân tộc trong vùng. Sau mỗi tuần làm việc, đồng bào dân tộc lại xuống núi, họ mặc trên mình những bộ váy áo sặc sỡ đủ màu và xem đó như ngày hội, trai gái coi đó như một lần được gặp gỡ trao duyên. Người già vui vẻ đi thăm hỏi bạn bè, lớp trẻ có cơ hội để tiếp xúc và làm quen với bạn khác giới. Điểm đặc biệt là mọi người kết bạn qua tiếng Khèn, tiếng Sáo... Trong đó có chứa đựng tình cảm mà của họ muốn thổ lộ. Những sắc màu Văn hóa của phiên chợ Bắc Hà đã tạo nên sự hấp dẫn cũng như sức sống trường tồn của nó.

Bên cạnh chợ Bắc Hà thì khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam còn hấp dẫn du khách với nhiều  phiên chợ khác mang đặc trưng văn hóa địa phương như: phiên chợ Lượn hay thấy ở vùng Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn. Nó vốn là phiên hát giao duyên của người dân tộc Tày, Nùng, Thái, hầu như không buôn bán gì. Đi chợ chủ yếu là để gặp gỡ, trao duyên, trao tình. Đồng bào các dân tộc Hà Giang thì lại có một phiên chợ gắn liền với một câu chuyện cổ tích về tình yêu,  đó là chợ tình Khâu Vai: Cô gái và chàng trai thuộc hai tộc khác nhau, do những lời nguyền của dòng tộc, họ không được bên nhau. Nhưng tình yêu đã cho họ dũng khí, họ đã đến nơi vùng núi cao này để thề nguyền trọn đời có nhau và cùng chết. Và ngày 23/3 âm lịch hàng năm đã trở thành Ngày Tình yêu của người H'Mông với phiên chợ hẹn hò duy nhất.

Chợ là nơi mua may bán rủi

Chợ Việt Nam, ngoài việc thoả mãn sở thích mua sắm còn là cách để tìm hiểu bản sắc văn hoá bản địa mỗi vùng, miền, chợ gắn liền với văn hóa tâm linh. Phiên chợ Âm Dương (chợ Âm Phủ) làng Ó, Võ Giàng, Bắc Ninh, chợ mỗi năm họp một lần vào đêm 4/1 đến rạng sáng 5/1 âm lịch. Theo huyền sử, nơi đây ngày xưa là chiến trường, có nhiều tử sĩ. Chợ họp để người trần có cơ hội để trò chuyện, cầu may, cầu phúc… Chợ họp vào ban đêm nhưng không ai được đốt đèn, hàng hoá chỉ có giấy tiền, vàng mã, trái cây, trầu cau, hương hoa… Tất cả bày dưới đất lót lá chuối khô. Không mặc cả, không nói to, không cả đếm tiền… Ngoài ra, nếu ai đi chợ cầu xin gì thì phải mang theo một con gà đen cúng lễ Thành Hoàng làng Ó. Trong lúc đợi mặt trời lên, những người đi chợ mời nhau ăn trầu, hát quan họ, uống nước…

Được nhiều người biết tới hơn phiên chọ ở làng Ó là chợ ở Gôi, Vụ Bản, Nam Định là phiên chợ cầu may nằm gần Phủ Giày, nơi thờ bà chúa Liễu Hạnh, một trong "tứ bất tử" thần linh Việt Nam. Chợ Viềng họp phiên duy nhất vào 8/1 âm lịch hàng năm. Chợ là nơi tập hợp các sản phẩm của những làng nghề truyền thống từ rèn, đúc, chạm, khắc, thêu, đan… đồ kim loại, đồ gốm sứ, đồ gỗ, đồ thờ cúng của khắp các vùng, miền trong Nam ngoài Bắc. Ngoài ra đây còn là nơi bán cây cảnh, các giống cây trái ngon của các vùng. Đặc biệt, phiên chợ này còn bán cả đồ cũ, những thứ tưởng như không còn dùng được.  Ở chợ phiên này có tục người bán không hề nói thách và người mua cũng không hề mặc cả - một nét đẹp đáng yêu chỉ phiên chợ này mới có. Hình như sự bán mua ở đây mang nặng một ý thức tâm linh nào đó - rằng người ta chỉ cần bán hoặc mua được một vật gì đó dù rất nhỏ thì người bán kẻ mua đều gặp nhiều may mắn tốt lành, và cả đôi bên đều cùng vui vẻ hỉ hả ra về. Chính vì vậy hội chợ Viềng ngày xưa còn có tên gọi là chợ Cầu May.

Khách thập phương về hội chợ phần lớn là do nghe danh tiếng của chợ Viềng mà về, nhưng phần đông vẫn là những người có gốc gác hoặc quê quán ở tỉnh Nam đi làm ăn xa nay nhớ đất Tổ, đất quê tìm về. Đối với họ về với chợ là về với những nét văn hóa độc đáo của quê hương cũng như trở về với hồn thiêng của dân tộc.

Chợ mùa nước lên

Chợ Việt Nam - một nét đẹp văn hoá đặc sắc riêng biệt. Mỗi vùng, mỗi miền mang một nét đẹp đặc trưng. Nếu như ngoài Bắc với những phiên chợ miền núi mang đặc bản sắc dân tộc vùng cao thì tới miền Nam, nơi nổi tiếng với những phiên chợ Nổi, những phiên chợ mùa nước lên với phương tiện và trao đổi hàng hoá trên ghe thuyền.

Chợ nổi là một loại hình chợ thường xuất hiện tại vùng sông nước được coi là tuyến giao thông chính. Nơi cả người bán và người mua đều dùng ghe/thuyền làm phương tiện vận tải và di chuyển. Địa điểm có chợ nổi thường tại các khúc sông không rộng quá mà cũng không hẹp quá. Khúc sông phải tương đối rộng, không cạn quá mà cũng không sâu quá. Nếu sông sâu quá, lớn quá thì không thể neo đậu ghe, xuồng một cách dễ dàng và rất nguy hiểm.

Với 700km bờ biển, 28.000km kênh rạch (70% chiều dài đường sông của cả nước), từ bao đời nay, nói đến đồng bằng sông Cửu Long, không thể không nhắc đến chiếc ghe tam bản. Với những cư dân vùng sông nước, chiếc tam bản không chỉ là phương tiện di chuyển mà còn như một ngôi nhà di động, cùng họ dãi dầu mưa nắng. Theo năm tháng, một cộng đồng ghe tam bản dần dần hình thành, tập trung sinh sống, mua bán, trao đổi hàng hoá tại giao điểm các dòng sông và... chợ nổi, trở thành nét đặc thù của miền Tây Nam bộ.

Nói đến Chợ nổi người ta không thể không nhắc tới chợ Nổi Cài Bè và Chợ nổi Cần Thơ. Chợ nổi Cái Bè (Tiền Giang) là một trong hai chợ nổi nổi tiếng ở miền Tây Nam bộ (chợ nổi Phụng Hiệp - Cần Thơ và chợ nổi Cái Bè - Tiền Giang), có từ khoảng thế kỷ XVIII. Chợ nằm ở nơi giáp ranh giữa 3 tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre và Tiền Giang, nơi được hình thành bởi cù lao Tân Phong, xưa là Cồn Cù, thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ (hợp thành bởi 6 hòn đảo xinh xắn có tổng diện tích 2.430 ha).

Cũng như bao ngôi chợ Việt, hàng hoá chợ nổi rất đa dạng, từ thực phẩm tươi sống, đặc sản hoa quả địa phương... Khác chăng là mỗi quầy hàng có thể di chuyển mọi lúc, mọi nơi. Đặc biệt, khi tới chợ nổi ta sẽ bắt gặp hình thức tiếp thị hàng hoá khá độc đáo: ai bán loại gì thì cắm một cái sào trên mũi thuyền và treo sản phẩm mình muốn bán lên cái sào đó để mời gọi bạn hàng hay còn gọi là "bẹo hàng”. Do vậy, chợ không có tiếng rao hàng như các chợ trên bờ, mà có rao thì tiếng sóng, tiếng máy nổ của tàu cũng làm át đi. Đơn vị mua là "thiên", "giạ", ít cũng là "chục", hàng hoá trao qua đổi lại tung hứng trên các ghe thuyền với nhau. Chợ nổi thường họp cả ngày, nhưng đông đúc nhất là vào buổi sáng khi mà khí hậu còn khá mát mẻ. Đến với chợ nổi người ta không chỉ thấy bạt ngàn những sản vật của vùng sông nước miền Tây mà họ còn được chứng kiến cuộc sống sinh hoạt, văn hóa của người dân miền Tây: nổi tiếng là phóng khoáng và hiếu khách.
 
Theo dọc chiều dài của dải đất hình chữ S, đi tới đâu cũng thấy những điều thú vị, từ phiên chợ tình trên những vùng núi xa xôi, đến phiên chợ cầu may mỗi năm chỉ họp có một lần vào dịp đầu xuân, hay những phiên chợ trên sông nước của miền Châu thổ Đồng bằng sông Cửu Long tất cả cộng hưởng, hòa điệu góp phần tạo nên bề dày văn hóa và lịch sử của dân tộc. Đây không chỉ là câu chuyện của Chợ Việt Nam, mà nó câu chuyện về Văn hóa và con người Việt.

35. Con so về nhà mạ, con rạ về nhà chồng tại sao?

Con so là con sinh đầu lòng, con rạ là những đứa con sinh sau. Nếu nuôi được cả thì con so là trưởng, con rạ là thứ. Phong tục này phổ biến ở Bình Trị Thiên và một số địa phương ngoài Bắc, còn ở Nghệ An, Hà Tĩnh thì trừ trường hợp ở rể, nói chung con gái không được sinh đẻ ở nhà cha mẹ mình.

Con gái mới lớn lên, mới sinh lần đầu tiên, trẻ người non dạ, chưa biết đi đứng, ăn uống, tắm giặt, kiêng khem ra sao, hơn nữa trong người yếu khoẻ ra sao muốn nhờ vả mẹ chồng hoặc chị em nhà chồng cũng ngần ngại, khó nói hơn với mẹ đẻ và em út mình. Còn những lần sinh sau đã có kinh nghiệm, có thể tự mình giải quyết được nhiều việc.

Phong tục, "Con so về nhà mạ" là một phong tục hay nhưng muốn giải quyết được êm đẹp cũng phải có thu xếp: Gần ngày ở cữ, mẹ chồng hoặc chàng rể sang quê ngoại thưa chuyện trước, nếu có khó khăn về kinh tế hoặc đường xá xa xôi cách trở cũng cần thảo luận với nhau về trách nhiệm cho thoả đáng, sau khi mẹ tròn con vuông, cháu cứng cáp, chàng rể cũng cần sắm một số lễ vật, nhằm ngày tốt sang tạ ơn gia tiên bên ngoại và ông bà ngoại để xin đón vợ con về. Ông bà ngoại còn cẩn thận đánh dấu vôi hoặc nhọ nồi ở trán cho cháu và các thứ bùa phép khác để các thứ tà ma ác quỷ không dám đến quấy rối cháu dọc đường.

Ở Nghệ Tĩnh lại có phong tục ngược lại: Cho là sinh dữ tử lành, ngoài con dâu ra, không ai được quyền sinh trong nhà. Con gái về nhà mạ, nếu nhỡ đến kỳ động thai, trở dạ, không kịp trở về nhà chồng, sợ sinh nở dọc đường thì bố mẹ phải dựng tạm chiếc lều ở góc vườn, hoặc nếu không kịp, thì ra chuồng trâu mà đẻ.

Thiết nghĩ không cần phân tích, bạn đọc cũng thấy được phong tục nào hợp tình lý hơn.
Trường hợp đã mồ côi mạ, về nhà mạ thiếu người chăm nom thì con so cũng về nhà chồng.

36. Đặc sắc rối Tày

Ở thôn Thẩm Rộc, xã Bình Yên, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên từ 13 đời nay nghề rối Tày được dòng họ Ma Quang gìn giữ. Dù trải qua nhiều thăng trầm, nhưng may thay nghề vẫn được truyền đến ngày nay.

 Đặc biệt, vẫn còn 33 quân rối cổ trên 200 năm tuổi. Theo tục lệ dân tộc Tày ở Định Hóa, những quân rối cổ xưa được xem là “ma” nên phải thờ cúng.Trước lời đề nghị của khách muốn được xem bộ rối cổ, ông Mai đến gần bàn thờ làm lễ xin phép ông tổ. Những quân rối cổ được cất cẩn thận trong một chiếc hòm gỗ lớn đã cũ kỹ. 33 quân rối cổ, mỗi quân một kiểu; có rối mô phỏng người, động vật và đồ vật…
Rối cổ trông khá đơn giản, cách vận hành cho rối hoạt động cũng ít thao tác. Ông Mai tâm sự “trông như đống củi mục vậy mà vô giá đấy! Từng có đoàn nghiên cứu ở tận Mỹ sang hỏi mua cả hòm rối cổ với giá trên chục ngàn đô mà chúng tôi không bán”.Hiện ông Ma Quang Mai đã bước sang tuổi 73, sức khỏe không còn cho phép ông gánh vác vai trò của người Tộc trưởng Tộc rối Thẩm Rộc nữa.Theo tục lệ, ông Mai truyền lại chức vị cho con trai mình là Ma Quang Chóng. Năm 1996, đoàn nghiên cứu của Viện Dân tộc học và hai nhà nghiên cứu người Mỹ tình cờ phát hiện ra ở Thẩm Rộc từng có múa rối Tày rất đặc sắc. Họ động viên anh Chóng khôi phục lại phường rối, để không đánh mất đi một nét văn hóa truyền thống độc đáo của tổ tiên. Gần chục năm nay, anh Chóng đã bỏ nhiều công sức vực dậy phường rối.
Ban đầu, anh Chóng thuê người dịch sách cổ của các cụ truyền lại để tìm phương pháp làm rối. Sau đó, bằng sự sáng tạo của tuổi trẻ, anh Chóng tự mình làm ra những con rối. Những con rối mới đều tinh vi và có thể diễn được nhiều động tác khó… Phường rối hiện có 14 người, ai cũng mê rối nhưng chỉ riêng anh Chóng làm được rối để diễn.
Vây quanh bếp lửa tối nay có 6 anh em trong phường rối. Họ quyết định diễn vài trò cho khách lạ thưởng thức. Sau hồi trống dạo đầu, con rối đi trong cánh gà ra, từ từ ngồi lên ghế, tay đặt lên cây đàn bầu.
Cả căn nhà yên lặng, tiếng đàn bầu ngân lên, tay con rối nhẹ nhàng gảy điệu nhạc “Tiếng đàn bầu”. Người xem những tưởng chính con rối đang đàn bản nhạc này thật sự vì tay nó thể hiện giống quá.
Người nghệ nhân dân gian đã khéo léo xây dựng tiết mục mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
Anh Ma Đình Sung cho biết: “Nếu biểu diễn thật ở các nơi phải có đủ một bộ rối chơi năm loại nhạc khí dân tộc gồm: sáo, đàn nhị, trống quân, đàn bầu, đàn nguyệt”. Nhiều lần anh em có ý kiến bật băng nhạc biểu diễn cho đỡ vất vả, nhưng anh Chóng bảo “không chơi nhạc sống thì làm sao khán giả biết con rối diễn giống thật như thế nào”.
Tiết mục tiếp theo diễn ra trong ba phút mà thật sự ấn tượng. Con rối trong vai người nông dân ngồi nghỉ bên gốc đa làng, tay cầm điếu cày, tay nhồi thuốc; ro… ro… ro, sau tiếng rít dài, khói từ miệng con rối nhả ra. Con rối hút thuốc lào là con rối mới nhất anh Chóng vừa hoàn thành và đưa ra biểu diễn. Điểm đặc biệt của con rối hút thuốc lào ở chỗ miệng nó có thể cử động linh hoạt. Công sức cả tháng của anh Chóng nay đã thành công. Những trò rối của anh Chóng “gần gũi với cuộc sống của người nông dân thuần phác nơi miền đất núi rừng Định Hóa”.
Hiện nay, phường rối Thẩm Rộc có trên 20 trò thường xuyên biểu diễn. Bên cạnh đó, vẫn còn 12 bài giáo (mỗi bài giáo như một câu chuyện, được mô tả bằng những hoạt cảnh sống động của các con rối). Bài giáo luôn ẩn chứa giá trị giáo dục sâu sắc. Trong một buổi, người trưởng phường rối thường chọn ra vài bài giáo biểu diễn để khán giả biết đến lịch sử của múa rối Tày, hiểu về đời sống nghệ thuật của người xưa…
Các nghệ nhân dân gian minh chứng ngay cho các vị khách bằng màn biểu diễn múa rối táp cổ xưa. Hai con rối tay cầm chiêng nhảy khắp sân khấu và người diễn đọc bài giáo của múa táp cổ.

37. Hợp tự

Hợp tự có nghĩa là : rước các tiên linh các đời vào thờ chung trong cùng một nhà thờ của đại tôn hay của từng tiểu chi.

Theo phong tục cổ truyền: Năm đời tống giỗ, hay "Ngũ đại mai thần chủ" (Đến 5 đời thì chôn thần chủ). Thực chất chỉ có bốn đời, tức là làm giỗ cha mẹ (đời 2), ông bà (đời 3), cụ ông cụ bà (hay cố 4 đời) và kỵ (hay can 5 đời). Cao hơn kỵ gọi chung là tiên tổ, thì không cúng giỗ nữa, mà rước chung tất cả thuỷ tổ, tiên tổ các đời vào chung một nhà thờ mỗi năm tế một lượt. Thần chủ con cúng cha mẹ, đề là Hiền khảo, Hiền tỷ, đến khi người con trưởng chết, cháu đích tôn cúng ông bà, đối thần chủ là Hiền tổ khảo, Hiền tổ tỷ, đến lượt cháu trưởng mất, chắt trưởng tiếp tục thờ cụ là Hiền Tằng tổ khảo (hoặc tỷ), chít (chiu) trưởng thờ kỵ là Hiền Cao tổ khảo (hoặc tỷ). Sau năm đời thì rước vào nhà thờ tổ rồi chôn thần chủ đó đi. Trong nhà thờ tổ chỉ để duy nhất có một ngôi thần chủ cao nhất (thuỷ tổ hoặc tiên tổ bậc cao nhất của nhà thờ chi đó) gọi là "Vĩnh thế thần chủ".

Gộp chung tất cả tiên tổ của nhiều đời lại để tế chung thay cho từng lễ giỗ, đó là hình thức hợp tự cổ truyền. Song trong phong tục đó còn có nhiều điều bất tiện: Chỉ con trưởng, cháu trưởng, chắt trưởng v.v...nối dòng qua nhiều đời mối được thờ ở nhà thờ chính. Vì vậy con , cháu, chắt những ông con thứ qua nhiều đời phải xây nhiều nhà thờ lớp con thứ, lớp cháu thứ, lớp chắt thứ v.v...Nếu cứ thế tiếp tục mãi, thì có nơi số nhà thờ còn nhiều hơn cả số nhà ở của người dương trần. Chính vì lẽ trên, nên hồi đầu thế kỷ 20 ở nhiều nơi đã có phong trào tiến hành hợp tự vào các nhà thờ họ: Dầu cửa trưởng hay cửa thứ, sau khi mất, hết vòng tang, đều được rước linh vị vào thờ ở nhà thờ chung của họ. Linh vị xếp theo thứ tự trên dưới. Đến ngày giỗ người nào, thì đưa linh vị người đó vào hàng giữa theo thứ bậc, cúng xong lại xếp vào vị trí cũ. Việc hợp tự như vậy: trước là hợp với tâm linh, con cái ở dưới chân cha mẹ, cháu chắt về với tổ tiên, tượng trưng sự đoàn tụ ở cõi âm, sau nữa thuận tiện cho việc chung sức, chung lòng xây dựng nhà thờ, mua sắm tế khí, quanh năm hương khói, gắn bó thêm mối tình ruột thịt trong nội thân. Song cũng có những gia đình, kinh tế dồi đào hơn, lại ở cách xa nhà thờ đi lại bất tiện, nên họ cúng riêng, tiện hơn, không hợp tự. Do đó, ngày nay nên vận động hợp tự, trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện.

38. Miếng trầu là đầu câu chuyện

Theo phong tục Việt Nam, miếng trầu tuy rẻ tiền nhưng chứa đựng nhiều tình cảm ý nghĩa, giàu nghèo ai cũng có thể có, vùng nào cũng có. Miếng trầu đi đôi với lời chào, người lịch sự không "ăn trầu cách mặt" nghĩa là đã tiếp thì tiếp cho khắp.

Tiện đây ăn một miếng trầu

Hỏi rằng quê quán ở đâu chăng là

"Đầu trò tiếp khách" là trầu, ngày xưa ai mà chẳng có, hoạ chăng riêng Tú Xương mới "Bác đến chơi nhà ta với ta"

Quí nhau mời trầu, ghét nhau theo phép lịch sự cũng mời nhau ăn trầu nhưng "cau sáu bổ ra thành mười".

Đặc biệt "Miếng trầu là đầu câu chuyện" giao duyên giữa đôi trai gái:

"Lân la điếu thuốc miếng trầu, đường ăn ở dễ chiều lòng bạn lứa".

- Trầu vàng nhá lẫn trầu xanh

Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời.

Mời trầu không ăn thì trách móc nhau:

- Đi đâu cho đổ mồ hôi

Chiếu trải không ngồi trầu để không ăn.

- Thưa rằng bác mẹ tôi răn

Làm thân con gái chớ ăn trầu người.

Khi đã quen hơi bén tiếng, trai gái cũng mượn miếng trầu để tỏ tình, nhất là các chàng trai nhờ miếng trầu mà tán tỉnh:

- Từ ngày ăn phải miếng trầu

Miệng ăn môi đỏ dạ sầu đăm chiêu.

- Một thương, hai nhớ, ba sầu

Cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi.

"Có trầu, có vỏ, không vôi" thì môi không thể nào đỏ được, chẳng khác gì "có chăn, có chiếu không người nằm chung".

- Cho anh một miếng trầu vàng

Mai sau anh trả cho nàng đôi mâm.

- Yêu nhau chẳng lấy được nhau

Con lợn bỏ đói, buồng cau bỏ già.

Miếng trầu không đắt đỏ gì "ba đồng một mớ trầu cay" nhưng "miếng trầu nên dâu nhà người".
Ngày nay để răng trắng nhiều người không biết ăn trầu nữa, nhất là ở thành phố, nhưng theo tục lệ nhà ai có con gái gả chồng, sau khi ăn hỏi xong cũng đem cau trầu cau biếu hàng xóm và bà con nội ngoại. Vì miếng trầu là tục lệ, là tình cảm nên ăn được hay không cũng chẳng ai chối từ

Thời xưa, ăn trầu còn sợ bị bỏ "bùa mê", "bùa yêu" nên người ta có thói quen:

- Ăn trầu thì mở trầu ra

Một là thuốc độc hai là mặn vôi.

Các cụ càng già càng nghiện trầu, nhưng không còn răng nên "đi đâu chỉ những cối cùng chày" (Nguyễn Khuyến). Cối chày giã trầu làm bằng đồng, chỉ bỏ vừa miếng cau, miếng trầu, miếng vỏ nhưng trạm trổ rất công phu, ngày nay không còn thấy có trên thị trường nên các cụ quá phải nhở con cháu nhá hộ.

Vì trầu cau là "đầu trò tiếp khách" lại là biểu tượng cho sự tôn kính, phổ biến dùng trong các lễ tế thần, tế gia tiên, lễ tang, lễ cưới, lễ thọ, lễ mừng... Nên têm trầu cũng đòi hỏi phải có mỹ thuật, nhất là lễ cưới có trầu têm cánh phượng có cau vỏ trổ hoa, "cau già dao sắc" thì ngon. Bày trầu trên đĩa, hạt cau phải sóng hàng, trầu vào giữa, đĩa trầu bày 5 miếng hoặc 10 miếng, khi đưa mời khách phải bưng hai tay. Tế gia tiên thì trầu têm, còn tế lễ thiên thần thì phải 3 là trầu phết một tí vôi trên ngọn lá và 3 quả cau để nguyên

39. . Lễ sêu tết Đoan Ngọ

Ca dao có câu:

Tháng Tư đong đậu nấu chè

Ăn tết Đoan Ngọ trở về tháng Năm...

Chứng tỏ rằng tết Đoan Ngọ là một tết cũng được sự chú ý của người Việt Nam ta xưa, nay. Theo sách "Phong thổ ký" thì Đoan nghĩa là mở đầu, Ngọ là giữa trưa. Đoan Ngọ là bắt đầu lúc giữa trưa. Sở dĩ được gọi như thế vì tháng Năm là tháng có nắng to, khí dương đang thịnh như mặt trời vào lúc giữa trưa. Tết Đoan Ngọ ăn vào ngày mồng 5 tháng Năm âm lịch. Cũng như các tết khác, tết Đoan Ngọ cũng có cúng lễ (lễ đền, miếu, thần linh, tổ tiên và ông bà). Ngoài cúng lễ còn có nhiều tục lệ như: tục giết sâu bọ, nhuộm móng chân, móng tay, tục đeo bùa tui, bùa túi, tục tắm nước lá mùi, tục khảo cây lấy quả, tục hái thuốc vào giờ Ngọ, tục treo ngải cứu để trừ tà, tục đi sêu... Trong tám tục lễ trên, có lẽ tục người ta chú ý nhất là tục lễ sêu- một tục lệ mang đầy tính nhân văn giữa người với người, con cháu với ông bà, cha mẹ, người bệnh với thày thuốc, học trò với thày giáo.

Những chàng trai đã dạm vợ hoặc hỏi vợ nhưng chưa cưới thường đi sêu bố mẹ vợ nhân ngày Tết Đoan Ngọ.

Lễ sêu trong dịp này bao giờ cũng có đậu xanh mới hái vào tháng Tư, gạo nếp của vụ chiêm. Ngoài ra tháng Năm cũng là mùa ngỗng và mùa chim ngói, cùng với gạo nếp, đậu xanh, bao giờ cũng có một đôi ngỗng và một, hai chục chim ngói. Kèm thêm là cân đường cát, trái dưa hấu, nghĩa là toàn những sản phẩm trong mùa.

Chàng rể đi sêu, lẽ tất nhiên bố mẹ vợ nhận đồ lễ, nhưng bao giờ cũng hoàn lại một phần, thường chỉ nhận một nửa. Bởi lễ trọng ở lòng thành, chứ không trọng ở chỗ nhiều ít. Theo tập quán ít ai nhận đồ biếu tết mà không lại quả, nghĩa là để lại cho người biếu một nửa. Có những trường hợp các chàng rể nài nỉ để bố, mẹ vợ nhận hết, bố mẹ vợ sẽ nói: "Thầy mẹ đã nhận cả, nhưng đây là thầy mẹ gửi biếu ông, bà đằng nhà...".

Thật là lịch sự vậy thay!

Chỉ những chàng rể chưa cưới vợ mới đi lễ sêu, còn những chàng rể đã cưới vợ rồi thì hết lễ sêu, nhưng trong dịp tết Đoan Ngọ (hoặc các dịp lễ, tết khác) các chàng rể dù nghèo vẫn cố chạy món quà nhỏ để biếu bố, mẹ vợ. Lễ biếu này nhiều, ít tuỳ tâm và không quan trọng bằng lễ sêu.

Các ông đồ xưa dạy học thường không lấy học phí. Hàng năm vào dịp mồng 5 tháng Năm các học trò đều có đồ lễ tết thầy. Thúng gạo, đôi ngỗng, phong chè, gói bánh hoặc túi hoa quả, tuỳ tâm bố mẹ học trò. Những gia đình giàu có thường phong bao một số tiền. Học trò cũ đã làm nên danh vọng cũng không quên thăm thầy vào dịp này.

Các con bệnh được các ông lang chữa khỏi bệnh, mặc dù đã trả tiền thuốc, nhưng cũng không quên ơn cứu mệnh cho mình, nên trong dịp tết Đoan Ngọ (còn gọi là tết hái thuốc) cũng mang quà tết thầy lang. Đồ lễ cũng gồm: đậu xanh, gạo nếp, ngỗng, chim ngói... như đồ lễ học trò tết thầy học.

Thế đấy, người Việt Nam ta ăn tết Đoan Ngọ để mừng mùa lúa chiêm bội thu, rau, đậu sai quả, chim, thú nảy nở, ăn mừng kết quả của những ngày lao động chống nắng, thắng mưa, đem về cái no, cái ấm của mọi nhà.

Cùng với nhiều tục lệ cổ truyền về tết, những tục lệ này đã bảo tồn được tính chất đặc biệt của nền văn hoá Việt Nam, xây dựng trên căn bản nhân nghĩa và đạo đức.

Những tục tết thầy học, tết thầy thuốc tết nhạc phụ, nhạc mẫu, biếu tặng những người đã tri ân cho mình, chứng tỏ rằng lễ giáo của ta đẹp, giàu tính nhân văn, đáng được tôn trọng, giữ gìn và phát huy; những ân sâu, nghĩa trọng không bao giờ chúng ta quên.

Dẫu qua bao biến đổi về thời cuộc, song tết Đoan Ngọ với tục lễ đi sêu vẫn tồn tại trong lòng nhân dân với ý nghĩa thiêng liêng, riêng biệt và đặc biệt của người Việt xưa, nay

  1. Lễ đền ơn đáp nghĩa của người Raglai

Một nét đẹp đã trở thành truyền thống trong đời sống tinh thần của nhiều dân tộc trên dải đất Việt Nam là lòng tôn kính, yêu thương và biết ơn sâu sắc ông bà, cha mẹ.

Ăn ở hiếu thảo đối với cha mẹ đã trở thành đạo lý quan trọng trong đạo làm người. Lễ đền ơn đáp nghĩa cha mẹ của người Raglai cũng nằm trong quan niệm “Cây có cội, nước có nguồn”, nhưng cách thể hiện có những nét độc đáo riêng và giữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của họ. Người Raglai coi lễ này không phải là chuyện nội bộ của một gia đình, mà là việc chung của cả cộng đồng và do đó được xếp vào trong hệ thống lễ hội chung, như lễ bỏ mả, lễ cưới, lễ ăn cơm mới, lễ cúng Yang...

Đền ơn đáp nghĩa cha mẹ, tiếng Raglai là “Ea tixâu pilâu dhadha”. Bất cứ người Raglai nào cũng đều cho rằng công lao của cha mẹ như núi cao, như nước mạch nguồn chảy ra. Và họ tâm niệm sẽ đền đáp xứng đáng ngay từ khi còn ở chung nhà, chung bếp cho đến khi có vợ, có chồng ra ở riêng. Nhưng như thế chưa đủ, theo tập tục của người Raglai, việc đền ơn đáp nghĩa cha mẹ đối với họ phải được nâng lên thành nghi lễ, được họ tộc và buôn làng chứng kiến, thừa nhận, như thế mới được coi là trọn vẹn. Theo quan niệm đã có từ lâu đời của người Raglai, điều bất hạnh lớn nhất của con người là cha mẹ qua đời mà người con chưa kịp làm lễ Ea tixâu pilâu dhadha. Sự ân hận này nhiều khi ray rứt người con suốt cả đời. Do đó, mỗi người Raglai khi trưởng thành, ngoài trách nhiệm chăm sóc, kính yêu cha mẹ thường ngày, nếu cảm thấy cha mẹ có dấu hiệu già yếu (sức khỏe kém, da mặt có nhiều nếp nhăn, tóc bạc, kém ăn, mất ngủ...) thì phải chuẩn bị lễ vật để tổ chức lễ đền ơn đáp nghĩa cha mẹ.

Thông thường, lễ vật gồm có thịt heo, thịt gà, gạo, nếp, rượu cần, một ít trầu cau, thuốc lá... Nhà nhiều của thì chuẩn bị làm lễ lớn, giết trâu, bò... người nghèo thì tùy theo khả năng kinh tế của mình mà tổ chức. Vật chất không phải là tiêu chuẩn để đánh giá tấm lòng hiếu thảo của con đối với mẹ cha, cái chính là thái độ, là tấm lòng của người con đối với cha mẹ trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng. Sự có mặt của bà con trong buôn làng vừa biểu thị tình cảm quý mến, vừa để chứng kiến việc thực hiện một tập tục xã hội. Họ mang đến những lời chúc tụng chân thành của cộng đồng đối với gia đình nói chung và cha mẹ của gia chủ nói riêng. Những gia đình khá giả, hoặc gặp những năm được mùa, thường tổ chức cuộc lễ này rất lớn và vui chơi kéo dài hai ba ngày đêm.

Về nghi thức, khi cỗ bàn được bày ở giữa nhà, thì mẹ cha - đối tượng chính của buổi lễ - được mời ngồi vào vị trí trung tâm, nơi trên mâm cỗ đặt một đĩa thịt và lòng heo đủ món. Những người khác gồm bà con, họ hàng, người trong buôn... đều tề tựu đông đủ chung quanh. Sau khi tiến hành lễ khấn vái các Yang, mời gọi tổ tiên, ông bà và những người khuất mặt cùng về chứng kiến tấm lòng của con đối với cha mẹ, người con rót một chum rượu trắng thật đầy kính cẩn mời mẹ cha. Tiếp đó, người con tự tay bưng đĩa thịt, gắp từng miếng đút cho cha mẹ ăn để tỏ lòng hiếu thảo, trước sự chứng kiến của cộng đồng. Nếu đĩa thịt được ăn hết, thì đó là một niềm hạnh phúc rất lớn đối với gia đình người con. Hoặc có thể cha mẹ chỉ ăn vài miếng tượng trưng, như thế cũng đã đủ là điều vui sướng. Trong không khí hân hoan ấy, chủ nhà mời bà con, họ hàng cùng chia sẻ niềm vui. Họ vừa ăn uống, vừa trao đổi những lời chúc tụng tốt đẹp đối với gia đình và những người cao tuổi trong buôn. Lễ vật còn được dành ra một phần để mẹ cha đưa về cúng ông bà tại nhà mình và biếu cho một số người thân.

Sau bữa tiệc, đến phần sinh hoạt văn nghệ, vui chơi. Khi tiếng mã la nổi lên cùng dàn nhạc hòa theo, nam nữ thanh niên và cả những người lớn tuổi cùng nhau nhảy múa, ca hát. Cuộc vui kéo dài đến suốt đêm.

Lễ đền ơn đáp nghĩa cha mẹ của người Raglai nhìn về hình thức có vẻ như rất đơn sơ, mộc mạc, nhưng bên trong hàm chứa một đạo lý sâu sắc được cả cộng đồng thừa nhận và hưởng ứng nhiệt thành, đầy tình nghĩa. Truyền thống đạo lý mang đậm tính nhân văn này đã được các thế hệ người Raglai kế thừa và bảo tồn cho đến ngày nay.

41. Tục Khao lão

Bây giờ đến bậc ăn dưng nhỉ, Có rượu thì ông chống gậy ra. (Nguyễn Khuyến)
Lên lão cũng phải khao. "Khao lão" không khó khăn như khao vị thứ đình trung. Lo đủ lệ là được, có mời thì mời phe giáp hay thôn xóm khác đến, vì lên lão là quyền đương nhiên không phải cầu cạnh.
Những nhà giàu có thường nhân dịp bày tiệc mừng thọ tế lễ, ăn uống linh đình. Tế sống cha mẹ, có văn chúc thọ với ban tư văn hành lễ trợ tế. Cha mẹ ngồi phía trong, con trái, gái, dâu, rể, cháu chắt, phân thứ bậc trên dưới đứng hai bên, nam bên trái, nữ bên phải, làm lễ tế ba tuần rượu, có tấu nhạc trọng thể , vui vẻ. Tế sống cha mẹ mỗi lần hai lạy, khác tế thần, tế tổ mỗi lần bốn lạy. ở đất văn vật, bài văn tế chúc thọ thường là cả một công trình bút mực, có khi người trong vùng nô nức đến xem tế và nghe đọc văn.

Có đám mừng thọ mời bà con họ hàng làng tổng, tiệc tùng hát xướng hai ba bốn ngày.
"Phú quý sinh lễ nghĩa", có nhiều nhà làm lễ mừng thọ cha mẹ lên lão 70, 80, 90 tuổi...Không phải tục lệ bắt buộc, giàu có bày ra thết đãi mời mọi người đến chia vui với mình, đồng thời làm vui lòng cha mẹ, tưởng cũng là một tục hay, có thể khiến cho những kẻ nhẹ tình hiếu thảo, không lo phụng dưỡng cha mẹ cho được tuổi thọ như người, phải lấy làm suy nghĩ và hổ thẹn

 

42. Hát trao dâu trong đám cưới của dân tộc người Giáy

Trong đám cưới người Giáy, trao dâu là nghi thức quan trọng khi nhà gái đi đưa dâu đến nhà trai và đã đến lúc chuẩn bị ra về. Các bài hát trao dâu nói lên tình cảm của cha mẹ, anh chị em, họ hàng đối với cô dâu khi về nhà chồng.

Đám cưới (Cưn láu) là một trong những ngày hội vui nhất của người Giáy. Họ quan niệm, Cưn láu càng lớn, càng đông vui thì hạnh phúc của đôi trai gái càng được bền lâu và thiêng liêng hơn. Và trong các đám cưới người Giáy thường bao giờ cũng có các cuộc hát đối đáp giữa trai gái của bản làng này với trai gái của bản làng khác đến dự đám cưới. Các cuộc hát đối đáp này thường được bắt đầu vào chập tối và có khi kéo dài đến tận ngày hôm sau, đêm hôm sau. Ngoài ra trong các nghi thức lễ cưới đều có kèm theo các bài hát như hát đón dâu, hát đưa dâu, hát rửa mặt, hát trước mâm trước rượu, hát đạo lý, hát khuyên răn, hát cám ơn.

Trong đám cưới người Giáy, trao dâu là nghi thức quan trọng khi nhà gái đi đưa dâu đến nhà trai và đã đến lúc chuẩn bị ra về. Khi đó, những bài hát trao dâu là không thể thiếu trong nghi thức này. Nội dung của các bài hát trao dâu nói lên tình cảm của cha mẹ, anh chị em, họ hàng đối với cô dâu khi về nhà chồng. Đối với những giờ nhà gái ra về khác nhau, người Giáy đều có những bài hát tương ứng.Ví như trong trường hợp nhà gái ra về vào giờ sửu thì sẽ hát:

Giờ sửu là giờ con trâu

Bốn chân đỡ bồ thóc

Đó mới là giờ tốt

Con xuất giá theo chồng.

Đó cũng là những lời dặn dò, khuyên răn cô dâu khi về sống ở gia đình nhà chồng:

Đêm thì nên thức khuya

Sáng thì nên dậy sớm

Hãy dậy trước mọi người.

Người Giáy quan niệm làm dâu là một việc khó. Chính vì thế, các lời hát trong nghi thức trao dâu thực chất là những lời tâm sự, dạy bảo chân thành của mọi người đối với cô dâu. Những lời dạy bảo này sẽ giúp cô dâu ứng xử tốt hơn với họ hàng nhà chồng, nhất là bố mẹ và anh em của chú rể:

Miếng nạc gắp cho mẹ

Miếng ngon lấy cho cha

Mếng mềm dành cho em.

Hát trao dâu trong đám cưới người Giáy là một phong tục đẹp, vẫn được duy trì đến ngày nay. Những lời hát cũng được bổ sung ngày càng phong phú, thiết thực hơn đối với những cô dâu trẻ khi bước chân về nhà chồng.

43. Chiếc vòng bạc

Thiên tình sử bi tráng Kham Panh kể rằng xứ Mường Khoòng của người Thái xa xưa do Tù trưởng Kham Panh đứng đầu là một vùng đất giàu có và màu mỡ. Con gái ở đây đẹp như trăng rằm còn con trai mạnh như hổ. Làng bản sống như trong hội, như trong xứ sở thần tiên.

Thế rồi một ngày kia có chàng thợ bạc, con tộc trưởng Khun Ha ở phía Bắc lần mò đến đất Mường. Chàng trẻ tuổi, đẹp trai, ăn khôn nói khéo. Tuy nhiên, thế cũng chưa có gì là đặc biệt với người Mường Khoòng. Duy một thứ chàng có mà đất Mường chưa bao giờ có, đó là nghề thợ bạc. Chàng ta là một thợ bạc giỏi giang. Chàng đem những vòng cổ, vòng tay, khuyên tai ra để thu hồn những cô gái đẹp Mường Khoòng. Trong số đó, có cô con gái yêu của tù trưởng Kham Panh – nàng Mứn. Thế là những nghi kỵ về người xứ lạ dần tan biến đi như sương mù gặp nắng, như cơn mưa gặp gió. Chàng trai ngày ngày đánh vòng, gò khuyên tai cho con gái Mường, không bao giờ hết việc. Con gái tù trưởng Kham Panh đã đem lòng yêu chàng thợ bạc.

Nhưng có ai ngờ đâu đó là cái bẫy. Chàng trai đã dùng nghề thợ bạc để có cớ lưu lại do thám đất Mường. Ngày cưới của con gái tù trưởng với chàng thợ bạc cũng chính là ngày khởi đầu bộ tộc Khun Ha ém đường đưa quân đến thôn tính Mường Khoòng. Thiên tình sử đẹp đã trở thành khúc ca bi tráng bởi sự thất thủ của Mường Khoòng. Chiếc vòng bạc trong trường ca Kham Panh như muốn nhắn lại cho đời sau một triết luận: Trong mọi vẻ đẹp đều ẩn chứa một mối hiểm họa khôn lường.

Trở lại chuyện chiếc vòng trong đồ nữ trang các dân tộc thiểu số. Phụ nữ miền núi phía Bắc có nhiều loại vòng: Vòng cổ, vòng tay, vòng chân, vòng vía hay vòng đeo tai. Vòng thường được làm bằng kim loại. Quý nhất, đắt nhất là vòng bạc, ngoài ra còn có vòng sắt, vòng đồng (hai loại này thường là vòng vía để giữ hồn, kỵ gió máy, đuổi tà ma) lại có vòng được làm bằng cườm, xâu hạt thành dây để đeo cổ hoặc tay (ở dân tộc Dao, Phù Lá, Tày).

Cách đeo vòng ở phụ nữ dân tộc cũng rất khác nhau. Phụ nữ Tày thường chỉ đeo chiếc vòng bạc vừa đủ để tạo nên độ sáng lấp lánh trên nền áo chàm. Dân tộc Dao thì khác, ngoài các đồ trang sức trên ngực áo, nẹp áo, thắt lưng, họ còn đeo nhiều vòng cổ có khi từ năm đến bảy chiếc tương phản mạnh với trang phục rực rỡ. Với người Dao, đeo vòng nhiều khi còn là sự khoe giàu khoe có. Số lượng vòng trên cổ còn như để xác định vị thế của người con gái danh giá. Ở Tây Nguyên còn có vòng tay cầu hôn. Chưa rõ thủ tục cầu hôn trao vòng như thế nào, nhưng với con gái Dao khi ra chợ được chàng trai nào đó sấn đến cướp vòng tay thì cũng được coi như sự ngỏ lời. Người con gái không quyết liệt đòi lại là biểu hiện nhận lời. Và chàng trai giữ lại chiếc vòng như vật làm tin. Duyên vợ chồng sẽ dần được khẳng định. Người Thái có cả một trường ca bi thương về chiếc vòng nhưng phụ nữ cũng chỉ giản dị đeo trên cổ một cái vòng bạc hoặc đồng, hoặc thêm một cái vòng tay.

Được biết, người Mông (cụ thể là Mông trắng) đeo nhiều đồ trang sức nhất. Thứ đồ được ưa thích nhất của họ là vòng cổ với nhiều kích thước to nhỏ, nhiều họa tiết trang trí cầu kỳ với nhiều chất liệu khác nhau dùng thành từng bộ trong ngày cưới, ngày lễ hội. Ngày thường họ chỉ đeo vòng vía bằng bạc hoặc đồng hoặc dây mây. Riêng vòng vía đeo vào thì không cởi bỏ, bởi vòng vía cốt để trừ tà ma, đau ốm. Trẻ em đeo vòng bạc để kỵ gió máy, giữ sức khỏe.

Ngoài các dân tộc kể trên, phụ nữ các dân tộc khác cũng đều sử dụng vòng bạc và các kim loại khác để làm đồ trang sức, mức độ khiêm nhường hơn nhưng nó luôn là đồ nữ trang ưa thích của người phụ nữ.

Xung quanh chiếc vòng trang sức là cả một câu chuyện dài gắn liền với vẻ đẹp vĩnh hằng của người phụ nữ. Cũng bởi thế, nó góp phần để lại trong ký ức nhân gian nhiều chuyện vui buồn còn tiếp nối.

44. Tò he - Một nét văn hóa dân gian

Trong số các trò chơi dân gian, có lẽ tò he vẫn là một trong những trò chơi còn được hiện hữu đến nay. Mới đây thôi, tò he còn được chọn là một trong những mặt hàng nghệ thuật truyền thống tiêu biểu của Việt Nam tham gia trong Chương trình giao lưu văn hóa Việt - Mỹ.

Xưa kia, tò he là sản phẩm mang nhiều ý nghĩa: chơi, ăn, cúng, lễ… Cái tên “tò he” cũng tồn tại trong dân gian từ khá lâu, và người làm nghề có ở nhiều nơi, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là làng Xuân La (xã Phượng Dực, Phú Xuyên - Hà Tây). Theo lời một cụ già trong làng, nghề nặn tò he có lịch sử hơn 300 năm. Nhưng đến nay, vẫn chưa có thông tin chính xác về cái tò he này có từ bao giờ?

Ban đầu, người ta gọi tò he là đồ chơi chim cò: các con công, gà, lợn, cá, trâu, bò… những con vật gần gũi với đời sống của cư dân nông nghiệp; Nhưng về sau, sản phẩm thường được gắn với một chiếc kèn ống sậy, đầu kèn có dính kẹo mạch nha, nguyên liệu làm bằng bột gạo hấp chín, màu sắc tươi rói và có nhiều chủng loại. Kèn có thể phát ra một thứ âm thanh hấp dẫn, khi thổi lên có tiếng kêu ngắt quãng tò… te… tò… te. Có lẽ vì thế người ta gọi là “tò te”, sau nói chệch thành “tò he”. Một loại sản phẩm khác không thuộc loại chim cò mà là các mâm bồng như: nải chuối, đĩa xôi, chân giò, quả cau, quả hồng, quả oản… để phục vụ cho các bà, các cô đi lễ chùa vào các ngày rằm, mồng một có màu sắc đẹp. Sản phẩm tương đối giống đồ thực và pha thêm chút đường có thể ăn được nên trẻ con và người lớn đều thích, thường gọi là bánh vòng hoặc “con bánh”.

Người nặn tò he có một nguyên tắc của dòng họ là chỉ truyền cho con trai và con dâu. Nặn tò he có nguồn gốc lâu đời nhưng do tư liệu chép đã bị cháy nên không tìm ra được ông tổ nghề. Hơn nữa, trong làng có rất nhiều dòng họ: Ðặng, Nguyễn, Vũ, Lê, Chu, Trịnh... mà họ nào cũng biết nặn tò he. Vì thế chức danh ông tổ nghề được phong cho dòng họ nào cũng xứng đáng cả.
Ðể nặn ra tò he chỉ cần những nguyên liệu rất đơn giản, gần gũi với cuộc sống nông dân. Ðó là những sản phẩm nông nghiệp do chính bàn tay họ làm ra: bột gạo, phẩm mầu, que tre.

Giai đoạn làm bột là giai đoạn công phu nhất. Bột được làm từ gạo nếp trộn với gạo tẻ nghiền nhỏ theo tỷ lệ 1 kg gạo tẻ với 1 lạng gạo nếp. Nhào bột với nước cho đến khi bột nhuyễn, quyện dính vào nhau, vê thành cục. Cho cục bột vào nồi nước đang sôi để một giờ đồng hồ đến khi bột nổi, chìm rồi lại nổi thì vớt ra, để nguội bột, và nhuộm màu cho bột.

Màu sắc dùng để nhuộm bột cũng lấy từ cây nhà lá vườn: mầu xanh từ lá cây, màu đỏ của gấc, mầu vàng từ nghệ, mầu đen từ tro bếp, màu tím từ một loại lá của người dân tộc thiểu số... Ðiều đáng nói ở đây là mầu rất bền, không bị loang ra. Màu nào vẫn giữ nguyên màu đó khi ta đem trộn lẫn chúng vào nhau.

Tò he - Lưu giữ nét văn hóa dân gian

 

Với một hòm hành trang gọn nhẹ, các nghệ nhân nặn tò he thường xa nhà ít nhất là vài ba ngày, lâu là hàng tháng trời. Họ rong ruổi trong các phiên chợ quê, trong các ngõ xóm, phố phường để sống và giữ nghề tổ tiên? Đâu có họ là có đám đông trẻ nhỏ xúm quanh. Chỉ được xem các nghệ nhân thao tác thôi, cũng đủ thấy mê rồi. Cá biệt, có người mời họ về nhà đắp những nhân vật trong hòn non bộ, nặn những bộ tam đa, những nhân vật trong truyền thuyết. Những lần như vậy, họ thường được đón tiếp và trả công khá hậu hĩnh. Theo các nghệ nhân, nếu một ca gạo chuyển thành bột, qua tay người nặn, thành sản phẩm bán thu về có giá trị bằng 3 ca gạo. Xưa thế, nay vẫn thế. Nhiều gia đình làm nghề xây nhà, mua sắm trang thiết bị, dành tiền cho con đi học, tất cả đều trông vào hòm hàng tò he.

Người làm tò he bây giờ cũng năng động rất nhiều trước thị hiếu của khách hàng. Nếu như ngày trước các đối tượng để nặn tò he chủ yếu là các loại cây quả, con giống, hình người là Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới,.. thì bây giờ tò he phong phú hơn rất nhiều. Với riêng đối tượng thiếu nhi, họ rất để ý đến những phim hoạt hình mới mà các em được xem. Nếu “chẳng may” các em yêu cầu được mua những hình mình thích thì chỉ cần nhìn qua là các nghệ nhân có thể nặn giống được. Và để nắm vững được thời gian cụ thể của những ngày hội, ngày lễ họ có trong tay cả quyển sách ghi lại các ngày lễ tết của tất thảy mọi vùng miền trong cả nước. Họ cũng quan tâm cả đến thời tiết, nhiệt độ… vì đó cũng là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cũng như số lượng tò he bán được. 

Nghệ nhân cao tuổi nhất trong làng là cụ Ðặng Văn Tố (81 tuổi). Cụ được phong tặng những danh hiệu:“Nghệ nhân dân gian”, “Ngôi sao quê lụa” của Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam và UBND tỉnh Hà Tây. Cụ đã vinh dự được mang nghề truyền thống của quê hương đại diện cho Việt Nam tham gia "Những ngày văn hóa Việt Nam" tại Nhật Bản. Nghề nặn tò he đã được đông đảo bạn bè quốc tế biết đến. Đó thực sự là những phần thưởng quý giá dành cho người có nhiều cống hiến trong việc giữ gìn và phát huy làng nghề truyền thống - nghề làm tò he. 

Tìm hướng đi mới cho nghề làm tò he

 

Đã có một thời gian, nghề làm tò he truyền thống này tuởng chừng như bị mai một do không cạnh tranh nổi với nhưng món đồ chơi nước ngoài. Đặc biệt là đồ chơi Trung Quốc vừa rẻ, bền đẹp lại đa dạng về mẫu mã, màu sắc. Tuy nhiên, nhờ những chính sách nhằm duy trì và phát triển các làng nghề truyền thống của Đảng và Chính phủ, làng nghề Xuân La đã và đang gìn giữ được một loại hình nghệ thuật đặc sắc của văn hoá dân gian.

Song, cũng như nhiều làng nghề truyền thống khác ở nước ta là đều vướng mắc ở “đầu ra”’ cho sản phẩm. Xuân La cũng đang vươn mình tìm đến những thị trường rộng lớn hơn. Người ta thích tò he không giống như sự yêu thích những thứ đồ chơi hiên đại, đắt tiền. Mà thích ở cái mộc mạc, đậm tính dân tộc của tò he, ở tính thủ công từ những đôi tay khéo léo. Sở dĩ tò he chưa được quảng bá rộng rãi ra nước ngoài là vì nhược điểm của chất liệu tạo ra chúng. Bột gạo rất rẻ và dẻo khi nặn nhưng lại không để được lâu, dễ bị mốc và khô, nứt. Mỗi sản phẩm tò he thông thường chỉ để được từ 3 đến 30 ngày (tuỳ thuộc vào tay nghề của thợ nặn, thời tiết và cách bảo quản). Gia đình nghệ nhân dân gian Đặng Văn Tố từng đón tiếp rất nhiều đoàn khách trong và ngoài nước đến tìm hiểu về nghề nặn tò he. Trong số những vị khách ấy, có không ít người đặt vấn đề đưa tò he ra nước ngoài. Thế nhưng sản phẩm làm ra, đem đóng hộp mang sang đến nước bạn thì bị khô nứt. Kế hoạch đưa tò he ra thị trường thế giới đành phải tạm dừng ...vô thời hạn!

 Một mặt, người dân Xuân La vẫn cố gắng duy trì nghề truyền thống của mình. Mặt khác, họ không ngừng thử nghiệm, tìm kiếm những chất liệu mới. Gia đình bà Diền là gia đình đầu tiên và duy nhất ở Xuân La thử nặn tò he bằng bột đao. Tò he làm bằng bột đao có thể để được rất lâu (khoảng 1năm) mà không sợ nứt, mốc. Nhưng nhược điểm là rất khó nặn và không đẹp bằng tò he làm từ chất liệu bột gạo. Hơn nữa, khi nặn xong phải đem luộc lại - mất rất nhiều thời gian. Vì vậy, thợ nặn phải làm trước ở nhà rồi mới đem bán. Chính điều này làm mất đi cái hay của tò he - người mua được chứng kiến tận mắt bàn tay khéo léo của thợ nặn.

Mong muốn lớn nhất của người dân Xuân La là có được sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng trong việc định hướng phát triển cho làng nghề. Đặc biệt là sự giúp đỡ của các nhà khoa học trong việc nghiên cứu, tìm ra chất liệu mới để làm tò he không những đẹp mà còn bền hơn rất nhiều lần . Có như thế, làng nghề Xuân La mới phát triển hết nội lực của mình và tò he Việt Nam mới có thể bước chân vào “sân chơi” lớn hơn.

Tò he là sản phẩm đồ chơi dân gian độc đáo, vừa mang bản sắc dân tộc, vừa mang tính khoa học. Nó có tầm quan trọng trong cuộc sống, học tập, vui chơi giải trí và rèn luyện tính thẩm mỹ cho trẻ em. Những người tạo tác ra nó mặc dù chưa đủ nâng các sản phẩm của mình lên hàng mỹ nghệ (vì sản phẩm chỉ sử dụng trong khoảng từ 10 đến 30 ngày) nhưng các sản phẩm ấy đã để lại cho người xem những tình cảm thắm đượm. Ngôn ngữ khối trong tò he giàu tính biểu cảm, tính nhịp điệu mang nét gợi nhớ. Nó giản dị như ca dao, là tích tụ của trí tuệ nhân dân qua nhiều đời. Tò he thực sự là món ăn tinh thần rất gần gũi với người dân Việt Nam.

45. Nét đẹp văn hóa của ngày Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây

Tết Chôl Chnăm Thmây mang ý nghĩa là đón mừng năm mới, mừng thêm một tuổi, tương tự như Tết Nguyên đán của người Việt, với hy vọng năm mới đến sẽ đem lại những điều may mắn. Ngoài ra, Tết Chôl Chnăm Thmây còn có ý nghĩa chấm dứt thời kỳ nắng hạn, bước sang thời kỳ có nước trời dồi dào để chuẩn bị cho vụ mùa tới.

Tết được diễn ra vào giữa tháng 4 dương lịch (tháng 3 âm lịch), không cố định ngày, hàng năm đều do các nhà thiên văn bói toán ấn định, tính theo vòng quay trái đất quanh mặt trời trong một năm sẽ định ra được ngày, giờ cụ thể trong năm đó. Năm nay, Tết Chôl Chnăm Thmây diễn ra trong ba ngày 14, 15, 16 tháng 4 dương lịch (nhằm ngày 20, 21, 22 tháng 3 Âm lịch).

Đi đến những khu vực có đông đồng bào Khmer sinh sống, chúng ta sẽ bắt gặp không khí náo nhiệt của bà con chuẩn bị Tết cổ truyền của mình. Nào là chuẩn bị ăn mặc gọn đẹp, nhang, đèn, gạo, rượu, thịt, làm bánh…để phục vụ cho việc ăn uống, đãi khách và dâng cho nhà chùa. Mọi người sửa sang bàn thờ Phật, trang hoàng nhà cửa, quét dọn sân nhà, kết cổng chào…Trong đêm giao thừa, trên bàn thờ có bày sẵn 5 nhánh hoa, 5 đèn cầy, 5 cây nhang, 5 hạt cốm và nhiều loại trái cây. Cha mẹ, ông bà tập hợp con cháu lại , ngồi xếp chân về một phía trước bàn thờ tổ tiên, đốt nhang đèn, vái ba cái để tiễn đưa Têvêđa cũ và rước Têvêđa mới, mong được ban phúc lành. Họ tin rằng Têvêđa là ông tiên được trời sai xuống chăm sóc dân chúng trong thời gian

Tết Chôl Chnăm Thmây diễn ra trong ba ngày:

Ngày thứ nhất gọi là Thngay Chôl Chnăm Thmây (ngày vào năm mới) (lễ rước “Mâh Sangkran mới”). Lễ này có thể tổ chức sớm hay muộn trong ngày, miễn là chọn đúng giờ tốt, theo quan niệm của người Khơme. Mọi người được tắm gội, mặc quần áo đẹp, mang nhang đèn, lễ vật đến chùa dâng lên các vị sư và được nghe các vị chúc tụng năm mới. Dưới sự điều hành của ông Acha, mọi người xếp hàng đi vòng quanh chính điện 3 lần để làm lễ chào mừng năm mới. Đêm lại, nghe các vị sư tụng kinh cầu an năm mới, cầu cho “Quốc thái dân an” và hưởng được 4 pháp của đức Phật (sống lâu, sắc đẹp, an vui và sức mạnh), rồi được nghe các vị thuyết pháp về ý nghĩa của lễ Chôl Chnăm Thmây và sau đó thanh niên nam nữ cùng nhau múa hát trước sân chùa.

Ngày thứ hai gọi là Thngay Von-boch: mỗi gia đình làm lễ dâng cơm buổi sớm và buổi trưa cho các vị sư sãi. Theo đạo Phật Tiểu thừa, thì các ngày lễ tín đồ đi chùa lạy Phật có bổn phận mang cơm và thức ăn dâng cho sư sãi và lắng nghe các vị chúc tụng, cầu an, thuyết pháp giảng đạo, rồi các thanh niên nam nữ vui chơi trước sân chùa. Buổi chiều, người ta làm lễ “đắp núi cát” (Puôn phnôm khsach) ngay tại khuôn viên chùa, để mong gặp được điều lành. Tập tục này cũng bắt nguồn từ một sự tích của một thợ săn bắn gắn với ma thuật cầu mùa của người xưa.

Ngày thứ ba gọi là Thngay Lơn-săk (ngày thêm tuổi), mới chính là ngày chánh cũng là ngày cuối tết, tương tự như hai ngày đầu, sau khi đã dâng cơm sáng cho các vị sư ở chùa, người ta làm lễ tắm tượng Phật bằng nước có ướp hương thơm, rồi sau đó tắm cho các vị sư cao niên ở chùa, nhằm rửa sạch hết cái cũ, những bụi bặm của trần thế trong năm cũ, để bước sang năm mới với một thân thể sạch sẽ và hoàn toàn mới. Tiếp theo đó là lễ cầu siêu (Băng Skôl), các vị sư được mời đến tháp lưu giữ hài cốt của những người quá cố để cầu kinh, mong vong linh của họ sớm được siêu thoát. Đến trưa, mọi người về nhà để làm lễ tắm tượng Phật thờ trong từng gia đình, để tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn đức Phật, rồi chúc mừng cha mẹ, ông bà, dâng bánh trái để tạ ơn, đồng thời cũng để rửa những điều không may của năm cũ để sang năm mới vạn sự như ý. Tết Chôl Chnăm Thmây được kết thúc.

 Trong ba ngày hội Chôl Chnăm Thmây, bà con Khmer còn đi thăm hỏi, mừng tuổi năm mới cho nhau, chúc nhau sức khỏe, cuộc sống yên vui, phát đạt. Tối đến, người ta đốt pháo thăng thiên, thả diều, đánh quay lửa... Các cụ già kể chuyện thần thoại, cổ tích cho con cháu. Gái, trai tham gia các cuộc hát đối đáp aday, hát dùkê, múa rômvông...

46. Phong tục tập quán của cư dân xưa ở TP Hồ Chí Minh

Còn quá nhiều điều ta chưa biết được trong việc đi tìm “chân dung” đích thực của những dòng họ cư dân đã khai phá đất Nam bộ. Qua việc thờ cúng tổ tiên của nhiều tộc họ sinh sống lâu đời tại TP. Hồ Chí Minh ta mới phần nào thấu hiểu được bề dày lịch sử của các dòng họ lưu dân ấy trên bước đường Nam tiến, và càng thấy rằng 300 năm qua là một chặng đường lịch sử thật quan trọng và vĩ đại mà cư dân Việt đã trải qua đầy gian nan lao nhọc nhằn để góp phần tạo dựng nên vùng đất Nam Bộ này.

Do bối cảnh xã hội Nam bộ hình thành đặc thù nên việc thờ cúng tổ tiên của cư dân Việt tại đây ngoài những dạng chung nhất, còn thấy thể hiện một số hình thức khác lạ so với miền Bắc và miền Trung như cúng Việc lề, cúng Tổ cô v.v…

Tìm hiểu một số hình thức thờ cúng tổ tiên của dân Việt tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay càng thấy được sắc thái tín ngưỡng và văn hóa khá đặc biệt đã hình thành nên từ 300 năm qua nơi vùng đất này. Chúng tôi xin đề cập khái quát về lễ cúng tảo mộ, lễ giỗ tộc họ, lễ cúng Việc lề và lễ cúng Tổ cô của một số dòng họ cư dân đã sinh sống lâu đời tại thành phố này.

1. Lễ cúng tảo mộ

Cũng như người Hoa, người Việt thường tảo mộ vào tiết Thanh Minh từ khoảng mồng 5 đến 15 tháng 3 âm lịch. Trong dịp này người ta thăm viếng, cải táng hoặc sửa sang phần mộ của tổ tiên, thân nhân. Ngoài ra, khá đông người Việt tại thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu đi tảo mộ vào một số ngày quanh rằm tháng chạp, là thời điểm mà việc đồng áng đã xong, người nông dân chỉ chờ đón tết. Lúc đó, người ta mới có điều kiện để “chuẩn bị” cho tổ tiên, thân nhân quá vãng "ăn tết”. Họ giẫy cỏ, cọ rửa, sơn phết, đắp thêm đất, trồng thêm hoa, thêm cây quanh mộ. Hành động này xuất phát từ quan niệm cho rằng mộ của người chết cũng quan trọng như cái nhà của người sống, nó phải được chăm sóc, chuẩn bị để đón tết. Một người có hiếu không khi nào để cho phần mộ của tổ tiên, ông bà, cha mẹ mình hoang tàn, lạnh lẽo. Trong dịp tảo mộ, trẻ con cũng được người lớn dẫn theo để nhận biết phần mộ của tổ tiên.

Sửa sang mộ xong, người ta bày thức ăn cúng ngay nơi mộ để dâng lên tổ tiên, phần lớn là những món ăn truyền thống của miền Trung như cá lóc nướng trui, bánh tráng nướng v.v… Không chỉ dừng lại đó, nhiều dòng họ còn tiếp tục tiến hành nghi thức cúng miếu, chủ yếu là miếu Ngũ hành. Trước đây, nơi khu mộ của những dòng họ cư trú lâu đời đều có lập miếu Ngũ hành… Vào dịp tảo mộ, mọi người trong dòng họ đều tề tựu đến miếu Ngũ hành của gia tộc để cúng. Trong tín ngưỡng dân gian, tùy thuộc vào tính chất của khu vực cư trú và nghề nghiệp của cư dân mà một trong 6 nguyên lý của ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) được "lựa chọn" vận dụng và thể hiện với mức độ khác nhau, và thông thường, nguyên lý có ưu thế nhất sẽ được cư dân đồng hóa như một vị thần. Ví dụ, những người làm nghề gốm, do sản phẩm của họ phải được nung trong lửa nên họ chú ý yếu tố "hoả" nhất trong ngũ hành, còn với cư dân nông nghiệp tại các huyện ngoại thành như Bình Chánh, Hóc Môn, Củ Chi… do chủ yếu chỉ làm ruộng, cuộc sống gắn liền với đất đai nên yếu tố "thổ" trong ngũ hành được đề cao nhất và được đồng hoá thành Thổ thần. Tại khu mộ tổ tiên của dòng họ Phan (ấp 1, xã Tân Nhựt, thành phố Hồ Chí Minh) người ta lập miếu Ngũ hành và thực chất nó được cúng kiến dưới ý niệm như miếu Thổ thần. Họ tin rằng vì Thổ thần là vị thần cai quản khu vực đất đai – nơi có các ngôi mộ - nên các ngôi mộ của tổ tiên sẽ được đặt dưới sự che chở, bảo hộ của Thổ thần. Do quan niệm Thổ thần là vị thần hoang dã nên thức cúng chủ yếu là thịt heo, vịt, mắm sống… Cúng miếu xong, mọi người tập trung lại cùng dự chung bữa cơm trong thân tộc.

2. Lễ giỗ tộc họ

Như ta đã biết, trên bước đường vào Nam tìm đất sống nhiều dòng họ đã tụ cư tại đây, dần dà họ lập làng, lập xóm, xây đình, chùa, miếu, nhà thờ họ, từ đường… Chỉ từ khi làng có đình, họ mới không còn mặc cảm về thân phận lưu dân của mình nữa; và chỉ từ khi lập được từ đường, miếu họ thì họ mới yên tâm không còn sợ bị "lạc bổn sai căn", "mất nguồn mất cội" nữa. Tinh thần gia tộc và tình đồng hương giúp cho những lưu dân sức mạnh để vượt qua được những gian khó trên bước đường khẩn hoang.

Với tác động tích cực của các sinh hoạt cúng giỗ họ tộc, nhiều năm nay tín ngưỡng này đã và đang phát triển trên diện rộng, nhất là khi đời sống kinh tế xã hội người dân được nâng cao hơn. Những thế hệ già, trung niên, những người có tinh thần gia tộc nhớ ơn tổ tiên, có nhiệt tâm đã cùng nhau vận động, khôi phục nếp sinh hoạt cộng đồng dòng họ. Người ta liên lạc, vận động, tập hợp họ hàng quyến thuộc, đồng hương xây dựng sửa chữa từ đường, nhà thờ họ, tái lập gia phả, sửa sang mồ mả tổ tiên, thành lập những Hội đồng gia tộc v.v… Nhiều dòng họ lớn đã mua đất, xây mới các nhà thờ họ tại thành phố Hồ Chí Minh (ngoài từ đường chính của họ ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung).

Qua nghi thức cúng giỗ của các dòng họ này có thể biết được địa vị xã hội của các vị tiền hiền khi còn sinh tiền. Ví dụ lễ cúng giỗ của tổ tiên dòng họ Trần Công là Trần Công Xích được tổ chức với các nghi thức rất long trọng, vì ông này nguyên là một võ tướng biên trấn từ thời Nguyễn Hoàng. Sau những cuộc chinh phạt chiến thắng ông đều được lệnh triều đình Đàng Trong đưa quân, mộ dân, lập làng tại Quảng Nam, được phong chức Tổng Quản (quan võ kiêm quan văn). Do đó khi cúng tế vị tiền hiền này, ngoài các nghi thức như cờ xí rợp trời, tế heo sống, trống chiêng cùng ban nhạc lễ, đội lễ sanh còn có cả tế văn tế võ. Nghi thức tế võ Việt Nam cổ truyền vốn là nghi thức dành để cúng tế các vị quan Võ tướng.

Nội dung các bài tế khi cúng giỗ tổ tiên các dòng họ có thể là nguồn tài liệu để nghiên cứu về quá trình di dân khẩn hoang của lưu dân từ miền Bắc vào đến miền Trung rồi miền Nam.

Các nhà thờ tộc họ tại thành phố Hồ Chí Minh có thể có quy mô xây dựng to, vừa hoặc nhỏ, có thể về nghi thức cúng tế có những mức độ khác nhau… nhưng tất cả đều hội tụ một mục đích dùng làm nơi để những người trong tộc họ liên lạc, gặp gỡ nhau để cúng tế, tưởng nhớ công đức của tổ tiên, lưu truyền lai lịch tổ tiên và gia phả đồng tộc.

Việc cúng giỗ tổ tiên của các tộc họ tại thành phố Hồ Chí Minh không chỉ diễn ra tại các từ đường, nhà thờ họ mà còn được tổ chức tại các tịnh xá, chùa chiền, đó là các cơ sở vốn do một gia đình hay một nhóm thân tộc lập ra và tự quản lý. Dần dà các tịnh xá hoặc chùa này được dùng làm nơi thờ cúng cho cả dòng họ. Về sau có thể các cơ sở này trở thành chùa Phật thuộc hệ thống quản lý của Giáo hội Phật giáo, song do công lao lập chùa, người ta vẫn dành cho dòng họ một khu vực nơi chính điện để thờ cúng tổ tiên của dòng họ ấy.

3. Lễ cúng việc lề

Cúng Việc lề là nghi thức cúng truyền thống theo việc đã thành lề thói, thành lệ, được hình thành trong quá trình khai phá, khẩn hoang vùng đất Nam bộ của người Việt. Tín ngưỡng này không có ở miền Bắc và không rõ ràng ở miền Trung.

Cúng Việc lề khá phức tạp, đa dạng vì ở Nam bộ, tín ngưỡng này bao hàm nhiều nội dung được đan ghép vào nhau. Người dân Nam bộ quan niệm về tín ngưỡng này khá rõ ràng, rạch ròi như một công thức: "Trước hết là cúng Việc lề, sau là sẵn cúng đất, cúng cô hồn, cầu an cho dòng họ".

Cúng Việc lề là cúng các vị thủy tổ dòng họ của những lưu dân từ miền Trung đi vào Nam khẩn hoang, lập làng từ vài thế kỷ trước. Do gốc gác cư dân từ miền Trung nên thức cúng việc lề của họ cũng là những món ăn truyền thống của miền Trung như thịt phay, cháo nấu ám (cháo nấu thật nhừ với cá lóc để nguyên cả con)…

Điểm đặc biệt trong nghi thức cúng Việc lề là người cúng cố tái hiện lại cuộc sống nhọc nhằn, cơ cực của ông bà, tổ tiên thời xưa đi khẩn hoang ở Nam bộ, như thức cúng chỉ dọn trên đệm bàng hoặc chiếu trải dưới đất ngoài sân. Chén bằng gáo dừa, đũa làm bằng que tre… Thức cúng đều là những món ăn mộc mạc, đơn sơ, phản ánh hoàn cảnh sống thiếu thốn, như cá lóc nướng trui, cháo ám, cá để nguyên vảy, không chặt bỏ kỳ, vi, đuôi (vì không có dao); rau ráng luộc (rau mọc dại ven sông), mắm sống, cốm nổ rang v.v…

Cách thức cúng như thế nhằm để con cháu đời sau hình dung phần nào cuộc dấn thân phiêu bạt tìm đất sống gian nan của tiền thân, từ đó nhớ ơn tổ tiên và cố gắng sống cho xứng đáng với sự hy sinh ấy.

Cúng Việc lề còn là dạng "giỗ hội", là ngày "hiệp kỵ" tổ tiên của một dòng họ, những bậc tiền bối quá vãng từ 4 đời trở về trước được tổ chức cúng gom chung lại thành giỗ "Cửu huyền thất tổ". Các bài vị thờ quá 4 đời trong nhà sẽ được con cháu chuyển về thờ chung nơi miếu họ, từ đường… để rồi đến ngày giỗ của dòng họ sẽ tổ chức "giỗ hội" chung một lần. Ngày giỗ hội có thể chính là ngày cúng việc lề, hoặc là ngày mất của vị thủy tổ, hay chọn một ngày trong tháng tảo mộ (gọi là "lễ chạp"), thường vào tháng chạp âm lịch…

Cúng Việc lề hoàn toàn mang tính cách riêng tư của từng dòng họ, nên mỗi dòng họ tự quy ước với nhau về ngày cúng và thức cúng, như là một hình thức ghi "gia phả sống". Xưa kia do chiến tranh, loạn lạc, bắt bớ, truy nã… nên nhiều gia đình, dòng họ phải thay tên đổi họ, đốt bỏ gia phả để tránh liên lụy, do đó ngày cúng, thức cúng được quy định trong cúng việc lề được xem như một “ký hiệu riêng" của nhiều dòng họ ở Nam bộ . Chính nhờ những "ký hiệu riêng" ấy trong cúng Việc lề mà người cùng dòng họ có thể nhận biết được nhau trên bước đường lưu lạc.

Cúng Việc lề còn nhằm cầu an cho dòng họ, khấn bái ông bà, tổ tiên quá vãng phù hộ con cháu tránh được mọi điều rủi ro, dịch bệnh, tai ương.

Cúng Việc lề cũng bao hàm cả nghi thức cúng thí thực. Người ta cúng một mâm cơm để ngoài sân dành cho cô hồn, cho những vong linh xấu số "xiêu mồ lạc mả", chết khi phiêu bạt, tha phương trên bước đường khẩn hoang, kiếm sống, không có con cháu cúng kiến, thờ tự. Trong tâm thức của cư dân Việt, Nam bộ họ không chỉ muốn chia xẻ, an ủi những vong linh xấu số, xa lạ mà còn tin rằng trong số những linh hồn bơ vơ, vất vưởng ấy còn có cả họ hàng, thân thích trong gia tộc mình đã chẳng may bỏ mình chốn rừng thiêng nước độc nào đấy vì đi khẩn hoang, vì tha phương cầu thực hoặc vì nạn đao binh.

Cúng Việc lề hầu như luôn kèm theo cúng đất (tức cúng tạ thổ, cúng chủ thổ), là một dạng tín ngưỡng xuất xứ từ tục cúng "tạ thổ kỳ yên" của cư dân vùng Ngũ Quảng trong quá trình khẩn hoang ở Nam bộ. Tín ngưỡng "tạ thổ" rất được xem trọng và đã được địa phương hoá. Do thiên nhiên Nam bộ khi mới khai phá còn quá khắc nghiệt (thú dữ, rừng thiêng, nước độc, dịch bệnh…), nên người ta cúng đất nhằm ngụ ý mua hay thuê, hoặc mượn tạm đất của thần linh để gia đình dòng họ được yên ổn làm ăn sinh sống.

Trong trường hợp tổ tiên dòng họ đi từ Trung vào Nam bằng tàu ghe thì trong lễ cúng Việc lề người ta lấy thân chuối làm thành chiếc tàu nhỏ, trên đó đặt thức ăn, được xem như lương thực đi đường - để đưa tiễn tổ tiên – sau đó chiếc tàu này được thả trôi nơi ngã ba sông rạch.

Tóm lại, cúng Việc lề là tín ngưỡng đặc thù của địa phương Nam bộ, được hình thành từ thời khẩn hoan đến nay đã trên dưới 300 năm. Hiện nay, tại vùng ngoại thành, thành phố Hồ Chí Minh cũng như các vùng nông thôn Nam bộ, tín ngưỡng này còn được lưu giữ khá đậm nét ở nhiều dòng họ lớn như một sinh hoạt văn hoá đặc thù có tác dụng gắn kết cộng đồng, củng cố tình thân gia tộc, dòng họ, bộc lộ sự đồng cảm, lòng nhớ ơn của con cháu đối với nguồn cội, tổ tiên và công cuộc mở đất của các bậc tiền thân.

4. Cúng lễ tổ cô

Trong quá trình di dân khẩn hoang vài trăm năm qua, không ít yếu tố văn hoá, tín ngưỡng dân gian của người Việt Nam Bộ đã có những biến thái so với nội dung và tính chất ban đầu của nó tại miền Bắc và miền Trung. Một trong những dạng tín ngưỡng dân gian ấy là tín ngưỡng thờ Tổ cô tại thành phố Hồ Chí Minh đã biến thái so với tín ngưỡng Bà cô ông mãnh tại miền Bắc và Bà cô ông quận tại miền Trung.

"Môtip" chung tín ngưỡng Bà cô ông mãnh tại miền Bắc và Bà cô ông quận tại miền Trung và tín ngưỡng "Tổ cô" tại miền Nam là: người ta thờ những đồng nam, đồng nữ (chưa lập gia đình, đồng trinh, rất trẻ), chết oan khuất vào giờ thiêng nên hiển linh như thần thánh, có nhiều huyền thoại. Các hồn này thường biểu hiện hai "thái độ": thứ nhất là trừng phạt sự lơ là cúng lễ của con cháu bằng cách "bắt" trẻ con theo về thế giới bên kia; thứ hai là cứu nạn, độ trì cho trẻ em, người lớn trong dòng họ nếu biết giữ lễ thờ cúng.

Trong thực tế, việc thực hiện các dạng tín ngưỡng Bà cô ông mãnh tại miền Bắc, Bà cô ông quận tại miền Trung và tín ngưỡng Tổ cô tại miền Nam còn mang những sắc thái có phần khác biệt.

Tín ngưỡng Bà cô ông mãnh thờ cả đồng nam lẫn đồng nữ, cách thức thờ cúng còn rất đơn sơ “nơi một kệ thờ thuộc vị trí thấp dưới gầm hương án của bàn thờ tổ tiên". Còn tín ngưỡng Bà cô ông quận cũng thờ cả đồng nam lẫn nữ, song việc thờ cúng được nâng cao hơn qua việc lập am nhỏ trước sân nhà. Tuy nhiên nghi thức cúng lại mang đậm màu sắc "đồng bóng" thuộc phạm vi tín ngưỡng "Thờ Mẫu và Chư vị". Trong khi đó, vào tới Nam Bộ, tín ngưỡng Tổ cô chỉ còn thờ "đồng nữ", nghi thức thờ cúng tổ cô không liên quan gì đến việc Thờ Mẫu và Chư vị mà tín ngưỡng này đã nâng lên thành một bộ phận của việc Thờ cúng tổ tiên, nơi thờ được xây dựng riêng, thậm chí thành một loại "Tộc miếu" của những dòng họ lớn. Các tộc miến này đủ chỗ để hàng trăm thành viên trong gia tộc hàng năm về dự giỗ họ. Ví dụ tại huyện Bình Chánh ở thành phố Hồ Chí Minh có các tộc miếu thờ Tổ cô của giòng họ Lại (thờ cô Lại Thị Diệu) ở các xã Vinh Lộc B, Tân Tạo, Phong Phú…; Tộc miếu thờ Tổ cô của dòng họ Hồ (thờ cô Hồ Thị Hiên, hoặc Hồ Thị Bông) tại các xã Bình Chánh, Hưng Long, Tân Phú… tại quận Tân Bình tín ngưỡng Tổ cô cũng được thờ chung với các vị tiền hiền nam trong những ngôi từ đường, miếu họ lớn như tộc miếu của dòng họ Trương Phú; tộc miếu của dòng họ Trần Công…

Tóm lại, qua một số hình thức cúng giỗ tổ tiên của nhiều dòng họ tại thành phố Hồ Chí Minh đã thể hiện một phức hợp về tôn giáo và tín ngưỡng dân gian. Với sự phát triển nhanh việc xây dựng nhà thờ tộc họ và các hình thức đa dạng về cúng giỗ tổ tiên đã cho thấy đây là một hiện tượng xã hội đáng chú ý và là nhu cầu thực sự bức bách của người dân. Nhu cầu này chính đáng hơn nếu nhìn về mặt tâm lý xã hội và đời sống tâm linh vì trong đó, ý thức về cội nguồn của gia tộc, ý niệm "uống nước nhớ nguồn", "tri ân tổ tiên" và sự kết gắn thân tộc, tương trợ đùm bọc nhau… chính là những khía cạnh tích cực của Văn hoá tộc người, xét trên bình diện cổ truyền lẫn hiện đại.

47. Đồng bào Khơ-me An Giang vui đón Tết cổ truyền Chol Chnam Thmay

Tết cổ truyền Chol Chnam Thmay 2009 của đồng bào dân tộc Khơ-me sẽ diễn ra vào các ngày 14, 15 và 16-4. Khắp vùng Bảy Núi và một số xã của các huyện Châu Thành, Thoại Sơn, Châu Phú đang chuẩn bị đón một cái Tết trong niềm vui trúng mùa, được giá.

Ông Danh Thế Lộc, dân tộc Khơ-me, là nông dân sản xuất và kinh doanh giỏi ở thị trấn Óc Eo (huyện Thoại Sơn) cho hay, đồng bào dân tộc Khơ-me núi Ba Thê ngày nay có nhiều thay đổi, từ việc sản xuất đến nâng cao đời sống, nhà cửa, sinh hoạt và ngay cả chuyện đi lại, học hành của con em đã tốt hơn. Nước xài cho sinh hoạt hàng ngày luôn đủ đầy, không còn cảnh khó khăn như trước đây. Chùa Khơ-me Ba Thê cũng được trùng tu lại, trở thành trung tâm sinh hoạt tâm linh của cộng đồng, đứng đầu là Thượng tọa Chau Chanh.

Tại các xã Cần Đăng, Hòa Bình Thạnh và Vĩnh Thành (huyện Châu Thành), cuộc sống của đồng bào dân tộc Khơ-me cũng từng bước vươn lên, thoát nghèo bằng những dự án vừa và nhỏ của các đoàn thể, với sự hỗ trợ của Ngân hàng Chính sách xã hội và chính quyền các cấp. Thượng tọa Danh Thiệp, sãi cả chùa Khơ-me Vĩnh Thành, luôn phấn khởi khi nhìn thấy sự tiến bộ của đồng bào Khơ-me và sinh hoạt cộng đồng hòa nhập cùng phát triển của các dân tộc anh em. Tụ điểm sinh hoạt văn hóa và ngôi nhà truyền thống-thư viện trong khuôn viên chùa được bảo quản tốt; đáp ứng nhu cầu vui chơi và giải trí. "Nhờ tỉnh hỗ trợ kinh phí, huyện hướng dẫn chuyên môn nhà chùa mới có chỗ nơi đàng hoàng phục vụ đồng bào và xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh tốt hơn"-Thượng tọa Danh Thiệp khoe. Bên cạnh đó, hoạt động thể dục thể thao nhất là phong trào bóng chuyền Khơ-me ở Vĩnh Thành được duy trì và trở thành sinh hoạt nòng cốt của huyện Châu Thành.

Niềm vui nối tiếp niềm vui khi lúa đông xuân 2008-2009, nông dân dân tộc Khơ-me ở các huyện Châu Phú, Tri Tôn và Tịnh Biên phấn khởi nhờ trúng mùa, được giá và cuộc sống phum, sóc ngày càng sung túc. Đạt được kết quả trên, nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với việc đầu tư, phát triển miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng đặc biệt khó khăn. Trường trung học phổ thông Dân tộc nội trú An Giang luôn phát triển và xứng đáng với sự tin cậy của đồng bào. Đại học An Giang hiện cũng có hàng trăm sinh viên là con em đồng bào Khơ-me theo học các chuyên ngành, phục vụ đào tạo nguồn nhân lực cho vùng Bảy Núi và cả tỉnh An Giang. Mới đây, Trường trung cấp Nghề Dân tộc nội trú An Giang cũng được khởi công xây dựng tại ấp Tô Hạ, xã Núi Tô, huyện Tri Tôn, là niềm phấn khởi lớn đối với thanh niên và người lao động dân tộc Khơ-me trong tỉnh.

Đón Tết cổ truyền Chol Chnam Thmay 2009 của đồng bào dân tộc thiểu số Khơ-me, năm nay, Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch An Giang phối hợp với Ban Dân tộc tỉnh An Giang và UBND huyện Tri Tôn  tổ chức "Ngày hội Văn hóa-Thể thao và Du lịch dân tộc Khơ-me tỉnh An Giang lần VII". Theo ông  Hồ Văn Dũng, Trưởng phòng Văn hóa-Thông tin huyện Tri Tôn, nét mới của ngày hội năm nay là có thêm phần hội chợ-triển lãm, diễu hành xe ngựa (hình thức phục vụ du lịch) và đua bò được tổ chức và hoạt động xuyên suốt từ ngày 10 đến 13-4 với sự tham dự của các huyện có đông đồng bào dân tộc Khơ-me. Đây là dịp gặp gỡ, giao lưu để bảo tồn, phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Khơ-me; đồng thời, giới thiệu tiềm năng, thế mạnh dịch vụ-du lịch vùng Bảy Núi và tỉnh An Giang.

48. Tết của Người Mông

Dân tộc Mông gồm nhiều nhóm: Mông Đơ (Mông Trắng), Mông Lềnh (Mông Hoa), Mông Sí (Mông Đỏ), Mông Đú (Mông Đen), Mông Súa (Mông Mán). Hiện nay, trên địa bàn tỉnh ta có khoảng 5.000 đồng bào Mông cư trú tập trung ở miền núi vùng cao thuộc 2 xã Hang Kia, Pà Cò, huyện Mai Châu. Trong những ngày này, ở 2 xã Hang Kia, Pà Cò, đồng bào Mông đang nô nức vào ngày hội xuân.  

Người Mông có một hệ lịch riêng, theo nhận định của các nhà nghiên cứu, có lẽ họ tiếp thu cách tính lịch của dân tộc Di (Trung Quốc). Theo đó, Tết của họ vào khoảng cuối tháng 11, đầu tháng 12 âm lịch của Âm Dương hợp lịch mà ngày nay chúng ta sử dụng. Tuy nhiên, ngày nay đa số các vùng người Mông đã ăn Tết Nguyên Đán như người Kinh, chỉ trừ một bộ phận nhỏ vẫn duy trì song song Tết theo hệ lịch riêng của họ. Đây được coi là một trong những nét đẹp văn hoá riêng có của đồng bào Mông.

Ngày 25, 26 tháng Chạp, người Mông bắt đầu nghỉ ngơi, chuẩn bị đón Tết. Khi đó, họ phong tất cả các công cụ sản xuất lại, ví dụ như các lò rèn phải làm lễ đóng lò, cối xay ngô tháo ra, dán một tờ giấy bản lên rồi làm lễ với gà, bánh ngô, rượu.

Trước đây, người Mông không gói bánh chưng. Bây giờ thì có gói, nhưng bánh chưng không nhất thiết có trong bữa cỗ Tết của họ. Với họ, ba món không thể thiếu là thịt và rượu và bánh ngô. Trong ngày Tết, nhất thiết mỗi nhà phải có một mâm bánh dầy được làm từ những hạt gạo nếp nương do chính tay người Mông làm ra. Vào những ngày Tết, tuỳ thuộc vào mỗi xóm, bản, người Mông lại tổ chức thi giã bánh dầy. Nhà nào làm được bánh dầy vừa dẻo, vừa thơm, lại đẹp thì sẽ được thưởng. Phần thưởng có khi chỉ là những tiếng vỗ tay, hoặc chính mâm bánh dầy đó. Nowng quý nhất vẫn là phần thưởng được mọi người bình bầu là gia đình khéo tay.

Người Mông không đón giao thừa. Đối với họ, tiếng gà gáy đầu tiên của sáng sớm mùng Một mới là cái mốc đánh dấu một năm mới bắt đầu. Tối hoặc nửa đêm 30, người ta cúng ma nhà (tổ tiên) bằng một con lợn sống, một con gà còn sống (và phải là gà trống, mà tốt nhất là gà trống tơ). Sau đó mới mang lợn và gà ấy đi giết thịt (nhà nào giàu có thì thịt một con lợn từ 28, 29 để ăn trước). Thịt xong đem cúng một mâm thịt chín, rồi ăn cơm uống rượu đến khi nghe thấy tiếng gà gáy đầu tiên.

Các nhóm Mông có phong tục hơi khác nhau, nhưng về đại thể đều rất quan trọng lúc cúng ma nhà bằng lợn và gà sống vào tối 30. Từ mùng 1 trở đi họ mặc quần áo mới, đi hài đi chơi. Ném papao là một trong những trò chơi ngày Tết mà người Mông rất thích; ngoài ra còn múa khèn, múa ô, chơi cầu lông gà, hát ống, hát dân ca, đua ngựa, bắn nỏ...

Đặc biệt, nói đến Tết của người Mông không thể không nói đến một lễ hội gọi là hội Sải Sán hay Gầu tào (hội cầu phúc). Một gia đình trong làng, nếu hay đau ốm hay chậm có con thì mùng 2 đi dựng một cây nêu lớn ở bãi cỏ đầu làng. Hội này tiếng là do một gia đình tổ chức (gia đình đó gọi là chủ nêu) nhưng thật ra đó là một lễ hội của cộng đồng, thậm chí khi làng này dựng nêu, làng khác cũng đến dự hội. Hội Gầu tào nhằm tạ ơn tổ tiên về mùa màng, súc vật; cầu cho con cháu đông đàn. Hội có thể kéo dài 3 ngày nếu 1 năm tổ chức một lần hoặc 9 ngày nếu 3 năm tổ chức một lần. Đây là lễ hội lớn nhất của người Mông trong năm và nó thể hiện rõ nhất những đặc trưng văn hoá Mông trong ngày Tết. Trong lễ hội này, sau phần lễ là hát giao duyên và các trò chơi yêu thích của người Mông như vừa kể trên.

49. Tín ngưỡng phồn thực quanh vùng Đền Hùng

Các di tích thờ Hùng Vương và các nhân vật thời Hùng có đậm đặc ở vùng Đất Tổ quanh Đền Hùng.

Hàng năm xuân thu nhị kỳ các làng đều mở hội, xưa gọi là vào đám để làm lễ hội kỷ niệm vị thần do dân làng thờ cúng. Lễ hội không chỉ đơn thuần kỷ niệm thần mà thông qua đây con người còn muốn bày tỏ thế giới quan và nhân sinh quan của mình. Do vậy cùng một lúc các tín ngưỡng dân gian được thể hiện để cầu sự che chở phù hộ cho dân khang vật thịnh, cuộc sống yên vui, no đủ cho cả cộng đồng và từng thành viên của làng Chạ. Các lớp tín ngưỡng vật linh, đa thần giáo, ma giáo, tô tem, phồn thực... thuộc nhiều niên đại xa gần khác nhau trùng lợp lên nhau cùng được thể hiện trong một hội lễ. Nhưng mục đích cuối cùng  của lễ hội đình đám là cầu mong mùa màng, con người, con của được sinh sôi nảy nở cho đông đàn dài lũ, ngô lúa đầy cót đầy bồ. Đó chính là tín ngưỡng phồn thực của các cộng đồng cư dân trồng lúa nước. Trong kho tàng văn hoá dân gian thời Hùng Vương đã để lại nhiều dấu ấn của tín ngưỡng này. Vật tượng trưng của sự sinh sôi nảy nở chính là nõ nường, là vật giống nam và nữ. Tên khoa học gọi là Linga và Yoni. Do vậy quanh đền Hùng có nhiều làng thờ sinh thực khí, biểu tượng chung nhất cho tín ngưỡng phồn thực. Một làng ở Việt Trì dựng ngôi miếu thờ tượng một bà banh còn gọi là miếu bà tốc (tốc váy). Miếu này thờ trước con đường ngập lụt quanh năm, đàn bà con gái lội qua đều phải tốc váy. Thờ bà tốc là thờ vật giống sinh sôi ra nòi giống. Ở đầu làng Thu Cúc người ta thờ Bà Nàng, tương truyền là con quan địa phương. Một con người ham muốn tột độ, bắt nhiều con trai hầu hạ không xuể, phải dùng ngựa đực thay đàn ông nên Bà Nàng bị chết. Người ta thờ bà là thờ cái dâm, biểu tượng của sự sinh sôi giống nòi. Cái dâm đã được dân gian thiêng hoá cầu cúng để  lấy khước.  Hàng năm họ rước chân nhang ở miếu Bà về làng làm tiệc cầu tế và hội hè linh đình để mong lấy sự cầu tế linh nghiệm cho mùa màng tốt tươi và con người sinh sôi đông đúc. Đền miếu làng Tứ Xã không xa Đền Hùng thờ một cái dùi và cái mo cau khoét lỗ. Nửa đêm 11 tháng giêng ông từ và đôi trai gái làm lễ mật. Ông Từ cúng nõ nường xong đưa dùi cho nam cầm, mo cau đưa cho nữ giới. Ông từ hỏi “Cái sự làm sao?” nam nữ chọc dùi vào lỗ mo cau cùng đáp: “Linh tinh tình phộc”. Sau 3 lần như thế họ cùng dân làng chạy quanh miếu 3 vòng rồi tản ra rừng trám thực hiện “năm nữ tính giao đích thực”. Cặp thanh nữ tú nào có chửa vào dịp ấy được làng thưởng hậu hĩnh.

Đình làng ấy thờ các nhân vật thời Hùng. Khi nhà nước cổ đại ra đời, xã hội chuyển giao từ nữ quyền sang nam quyền, vị trí người đàn ông được đề cao thì tín ngưỡng phồn thực ở nhiều làng gần Đền Hùng chỉ thấy thờ vật giống nam. Lễ hội ở làng Dị Nậu có trò cướp kén. Ba mươi cặp kén là những đoạn tre tròn nhỏ dài hơn gang tay. Người ta cúng lễ xong tung kén ra sân đình cho dân làng vào cướp với quan niệm cướp được thì “khước”, may mắn, sẽ sinh trai. Cũng theo quan niệm ấy mà dân gian treo các đoạn tre, gỗ nhỏ dài gang tay, tượng trưng vật giống nam ở giàn mướp giàn bầu lấy sinh khí nam cho chúng sai quả hơn.

Làng Phú Lộc phía Bắc Đền Hùng, thờ Tản Viên và Sơn Quân Thần Hổ ở trên quả đồi rừng Cấm. Lễ mở cửa rừng đầu xuân với nghi lễ phồn thực được mở ra trong hậu cung đền từ 3 tết. Đến mồng 7 tết tại đây có tục múa gà phủ: Các cặp nam nữ, nam đóng khố cởi trần, nữ mặc yếm và váy cộc múa vờn nhau như động tác trống mái phủ nhau ở sân đền. Nửa đêm tách từng đôi nam nữ tản vào các gốc cây tiếp tục múa vờn nhau. Điệu múa nghi lễ này vừa mô tả cảnh săn bắt  của người sơn cước vừa thể hiện tính phồn thực của nam nữ giao hoan. Sau nghi lễ này dân làng vững tin một năm mới được mùa  và sẽ có thêm nhiều đinh được sinh ra.

Hát xoan là di sản văn hoá được ra đời từ thời Hùng vương vì theo truyền thuyết, một lần công chúa theo vua Hùng tuần du đến Lãi Lèn làng Kim Đức thì trở dạ. Vua Hùng cho vời dân làng đến hát cho công chúa bớt đau bụng. Để công chúa kịp về quê ở làng Thời Mại sinh đẻ, người ta vừa khiêng kiệu vừa chạy. Dân làng cũng vừa chạy theo vừa hát. Từ đấy hàng năm dân Thời Mại, nay là xã Cao Mại huyện Lâm Thao lại mời phường xoan ở Kim Đức đến hát xoan ở đình Thời Mại. Vì hát vào mùa xuân người ta phải gọi chệch thành hát xoan để kiêng chạm huý nữ tướng Xuân Nương thời Hai Bà Trưng được thờ ở nhiều làng Phú Thọ.

Hát xoan là hát thờ trước cửa đình, là dân ca lễ nghi thường chỉ diễn ra các ngôi đình thờ Vua Hùng và các nhân vật thời Hùng. Lễ hội hát xoan có 14 quả cách, tức là 14 bài diễn xướng. Quả cách cuối cùng gọi là “cài hoa -  mó cá” tiết mục này diễn ra lúc tàn đêm nhưng chưa thành ngày. Đó là lúc trời đất còn mù mờ, âm dương lẫn lộn. Đó là khoảnh khắc thiêng liêng sinh thành “âm dương hợp đức”. Khi ấy lòng đình được dọn sạch, cửa đóng, tắt hết đền nến chỉ có một ngọn nến cháy trên thượng cung tạo ra thứ ánh sáng yếu mơ hồ nửa đêm nửa ngày. Các cô đào của phường xoan cùng trai đình làng sở tại cài tay vào nhau tạo thành những cánh hoa nở. Hành động này mang ý nghĩa nam nữ tác hợp thì ra hoa kết trái. Diễn xướng này là sự mô phỏng của phồn thực. Sau cài hoa là múa hát “ mó cá”. Cá là các cô đào của phường xoan. Trai làng múa dồn bắt “cá” để làm lễ  dâng cúng lên vị vua của làng. Điệu múa cũng tượng trưng cho nghề sông nước chài lưới của cư dân làng Chạ xưa. Nhưng ý nghĩa sâu xa của diễn xướng này là biểu hiện tín ngưỡng phồn thực. Thực hiện nghi thức tín ngưỡng ấy để cầu cho sự sinh sôi nảy nở, mùa màng cùng vật nuôi, cả con người sẽ sinh sôi, phát triển.

Ở quanh Đền Hùng còn thấy đậm đặc những lễ hội dân gian mà trong phần lễ của hầu hết các lễ hội đều thực hiện tín nguỡng phồn thực. Vì trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ nên phồn thực được thể hiện qua cách thờ lễ rất khác nhau ở mỗi làng nhưng với cùng mục đích cầu chúc cho sự sinh sôi phát triển.

Tìm hiểu tín ngưỡng này sẽ giúp ta hiểu sâu hơn về nền văn hoá Hùng Vương trên quê hương Đất Tổ và cả nước.

50 Đèn lồng Việt Nam

Những chiếc đèn lồng vốn được xem là biểu trưng của người Trung Hoa. Tuy nhiên, ngày nay chiếc đèn lồng đã xuất hiện nhiều nơi và được nhiều quốc gia xem như là một nét đẹp văn hóa.
Đèn lồng trên thế giới
Chiếc đèn lồng của Trung Quốc đã ra đời cách đây hơn 2.000 năm, trở thành nét văn hóa riêng, huyền bí không nơi nào có được. Người Trung Quốc dùng chiếc đèn lồng thay cho lời cầu chúc một tương lai tốt đẹp, một cuộc sống đầm ấm, hạnh phúc. Tuy nhiên, cùng với thời gian và sự giao lưu văn hóa của các nước, thú chơi đèn lồng lan rộng khắp thế giới. Với công nghệ tiên tiến, tư duy sáng tạo, ngày nay người ta đã làm cho đèn lồng ngày càng hiện đại và đẹp hơn.
Tại châu Á, ngoài việc làm đèn lồng để đón năm mới hoặc trưng bày, trang trí cho lễ Giáng sinh, hằng năm nhiều nơi đã tổ chức những cuộc thi làm đèn lồng với sự tham gia của nhiều nghệ nhân khắp năm châu. Tại Anh, Mỹ, Canada, Úc, lễ hội đèn lồng cũng thường xuyên được tổ chức. Đèn lồng được làm từ nhiều thứ vật liệu truyền thống như gỗ, giấy, nến cho đến các chất liệu hiện đại, sử dụng đèn điện đổi màu có nhạc hỗ trợ. Hình dáng đèn lồng tại các cuộc thi rất đa dạng từ con gà, con bướm đến chiếc đĩa bay, xe đua, tháp nghiêng Pizza, nhà hát Opera House... Sau mỗi lễ hội là cuộc diễu hành qua các đường phố chính hoặc tổ chức nhảy múa, đốt pháo hoa...
Đèn lồng Hội An
Du khách đến phố cổ Hội An thường bị hút hồn vào sắc màu huyền hoặc, lung linh của những chiếc đèn lồng giăng kín các ngả đường vào phố cổ. Có một chút gì như là sự hoài niệm về quá khứ, rất gần mà cũng rất xa, rất thật mà cũng rất mơ hồ. Dường như không khí của một thương cảng sầm uất đang hiển hiện về, dưới ánh đèn lồng và dưới bóng những ngôi nhà cổ đầy chất thơ.
Nghe đâu, trước kia, ở Hội An chỉ có một ít gia đình biết làm đèn lồng và họ cũng chỉ làm trong các dịp lễ Tết, cưới xin... Khi lượng khách du lịch đến Hội An tăng, nhu cầu mua đèn lồng làm quà kỷ niệm tăng theo. Và thế là hình thành nghề làm đèn lồng ở phố cổ như ngày nay.
Đèn lồng Hội An có hình thức, màu sắc khá đa dạng thể hiện vẻ tinh tế, tài hoa của người thợ Việt Nam. Các nghệ nhân ở Hội An đang dần dần xây dựng nên thương hiệu đèn lồng Việt Nam. Đèn lồng Hội An khá đẹp, nhẹ và quan trọng là có thể thu gọn lại bằng cách xếp khung theo nếp để mang đi, vì vậy không ít du khách mua vài chiếc đèn lồng như là sự lưu giữ kỷ niệm về một phố cổ nên thơ, đồng thời làm quà tặng thật ý nghĩa cho người thân. Đèn lồng Hội An đang đã trở thành nét văn hóa riêng của phố cổ.
Đèn lồng chất liệu nhựa PP
Đèn lồng chất liệu nhựa PP xuyên sáng, không độc hại, không khung xương và có hoa văn của Công ty Kỹ Thuật Mới xuất hiện lần đầu tiên trên thị trường vào khoảng tháng 9/2005 (Tết Trung thu). Đợt “ra quân” đầu tiên này đã đánh bạt đèn lồng Trung Quốc vốn chiếm lĩnh trên thị trường từ nhiều năm trước.
Đèn lồng chất liệu PP được cấu thành bởi nhiều tấm nhựa phẳng ghép lại, có thể lắp ghép theo nhiều hình dáng: tròn, oval, ngôi sao, hoa sen, con cá, cà na... ; có thể treo ở bất kỳ nơi đâu: lễ hội, sân vườn, nhà hàng, khách sạn, nhà ở... và quan trọng là gọn, nhẹ, dễ vận chuyển. Có lẽ vì vậy mà đèn lồng này đang được nhiều khách hàng trong và ngoài nước quan tâm. Ngoài Canada đã đặt mua hàng từ tháng 11/2005, khách hàng ở Hồng Kông, Mỹ, New Zealand cũng đến tham quan và mua mẫu.
Với mong muốn làm cho Tết cổ truyền Việt Nam thêm nhiều màu sắc, phong phú và sinh động hơn, Công ty Kỹ Thuật Mới đang sản xuất 2 mẫu đèn lồng đặc biệt dành riêng cho Tết Nguyên đán có in hình hoa mai và câu đối chúc Tết.
Bên cạnh đó, Công ty Kỹ Thuật Mới vừa giới thiệu loại đèn lồng mô phỏng Văn Miếu Quốc Tử Giám. Theo ông Hà Văn Lô (người thiết kế mẫu đèn lồng này): “Trung Hoa có văn hóa đèn lồng hơn 2.000 năm, còn ở nước ta gần như còn mờ nhạt. Từ lễ hội, sân khấu hóa đến các khách sạn, nhà hàng, ở đâu cũng thấy đèn lồng Trung Quốc, không thấy đèn lồng mang bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam. Đó là điều làm tôi băn khoăn, day dứt mãi. Phải tìm một biểu tượng gì để khi nhìn vào biết ngay đó là đèn lồng Việt Nam, không phải của Trung Quốc? Phải sử dụng chất liệu gì, thiết kế như thế nào để “hợp nhãn”người Việt Nam? May thay, ông Huỳnh Văn Khánh, Tổng Giám đốc Công ty Kỹ Thuật Mới, cũng có chung trăn trở đó. Sau nhiều ngày đêm tìm tòi, suy nghĩ, chúng tôi đã chọn hình ảnh Văn Miếu Quốc Tử Giám làm biểu tượng cho đèn lồng Việt Nam”.
Chiếc đèn lồng Quốc Tử Giám có mẫu mã thanh thoát, đường nét hoa văn tinh tế làm toát lên vẻ trang nghiêm, cổ kính nhưng không kém phần lung linh huyền ảo. Sẽ thật đẹp biết bao nếu được treo trang trọng trong các lễ hội lớn, các hội trường, sân khấu... ! Ông Khánh cho biết đang tiếp tục nghiên cứu làm đèn lồng có mô hình chợ Bến Thành, chùa Một Cột, tháp Rùa... để làm phong phú thêm cho đèn lồng Việt Nam.
Bạn hãy thử treo đèn lồng...
Ngày Tết, lễ hội ở nước ta thường ít khi treo đèn lồng, thường chỉ có ở cung điện vua chúa... Ở nông thôn nước ta, ngày Tết thường treo đèn nhưng là những loại đèn trái ấu, đèn gương (kính)... Đèn thường gắn trên trụ cây tre, cây đùng đình, thậm chí trên cây chuối lột vỏ ngoài... Văn hóa ấy giờ phảng phất trên các kiểu kiến trúc nhà ở đô thị nước ta hiện nay khi ở trước nhà chủ nhân thường thiết kế hai trụ cổng, phía trên có gắn đèn để thắp sáng khi cần, hoặc dịp lễ, tết, đám tiệc...
Tết này, nếu thích bạn hãy thử dùng đèn lồng treo trước nhà, sẽ thấy không khí ngày Xuân ấm áp hẳn lên...

51. Tục bó vỏ ống cơm lam của dân tộc Thái

Cơm lam là một món ăn truyền thống của dân tộc Thái, Tày, Nùng… Ngày nay, ở một số tỉnh: Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn… cơm lam đã trở thành món ăn hấp dẫn khách tham quan, du lịch. Ai đã từng thưởng thức cơm lam một lần, sẽ không quên vị thơm đậm, dẻo và ngọt của nó. Đối với dân tộc Thái, cơm lam không chỉ là món ăn truyền thống mà trong ống cơm lam còn chứa đựng tín ngưỡng, giải thích một hiện tượng của tự nhiên.
Quan niệm cổ xưa của đồng bào dân tộc Thái, thế giới tự nhiên được chia làm 3 phần gồm: cõi trời, trái đất và con người. Trong đó, cõi trời là một thế giới đặc biệt, chứa đựng quyền lực tối cao, quyết định mọi hoạt động của con người và mọi sự vật, hiện tượng trên trần gian. Cõi trời còn được gọi là “Mường Then”, cai quản có 34 vị thần gọi là các Phi Then. Trong đó, 12 Then lớn đảm nhận việc cai quản và chỉ đạo mọi hoạt động trên trần gian, 22 Then nhỏ là những vị thần giúp việc Then lớn. Trong 12 Then lớn có 1 Then tên là Then Chất - Then Chát chuyên theo dõi việc sinh, tử của loài người. Then Chất - Then Chát giữ sổ lớn gọi là sổ Hương then, trong sổ ghi họ tên, chỗ ở, địa vị xã hội và tuổi thọ của từng người ở trần gian. Hàng năm Then Chất - Then Chát đem sổ ra soát niên hạn sống của từng người, nếu ai hết hạn Then Chất - Then Chát sẽ gọi người đó về Mường Then tiếp tục một cuộc sống mới, chấm dứt sự sống trên trần gian của họ. Sống ở Mường Then là ước nguyện cuối cùng của người dân tộc Thái, tuy nhiên không phải bất cứ ai cũng được về Mường Then sinh sống, người Thái quan niệm rằng có người khi sinh ra mà các Then vô tình không biết do vậy người đó không có tên trong sổ nhà Then, khi chết đi không được hồi sinh ở cõi Mường Then, do vậy linh hồn người đó sẽ bơ vơ lạc lõng.
Phụ nữ dân tộc Thái trong những ngày đầu ở cữ thường ăn cơm lam, tất cả vỏ ống cơm lam không vứt đi mà được bó lại sau đó treo lên cành cây gần nhà, hoặc bìa rừng cùng ống tre trong có nhau của đứa trẻ mới sinh. Người Thái tin rằng, thực hiện thủ tục này chính là thông điệp họ gửi cho các Then nhà trời thông báo đã có 1 đứa trẻ được sinh ra ở trần gian, với mong muốn Then Chất - Then Chát ghi tên đứa trẻ này vào sổ Hương Then. Đứa trẻ lớn lên và kết thúc cuộc sống trên trần gian của mình thì Then Chất - Then Chát sẽ gọi người đó về cõi trời và được hưởng cuộc sống tươi đẹp tại cõi Mường Then.

52. Trâm cài đầu của phụ nữ - một hiện vật giàu tính văn hóa

Trâm cài đầu là một vật dụng quen thuộc của người phụ nữ ở nhiều dân tộc. Nó vừa là vật dụng để giữ cho tóc gọn gàng vừa là đồ trang trí.
Nhưng đối với người phụ nữ Thái đen ở Sơn La thì trâm cài đầu còn là một vật chứng trong lễ “Tẳng cẩu”( lễ búi tóc ngược lên đỉnh đầu khi đã có chồng), một nghi lễ để lại nhiều dấu ấn không phai mờ trong suốt cả cuộc đời họ.
Lễ “ Tẳng cẩu” được tổ chức tại nhà gái, trước khi làm lễ đón dâu về nhà chồng. Đây là một nghi lễ được người Thái đen hết sức coi trọng, do đó, dù gia đình giàu hay nghèo, lễ ‘ Tẳng cẩu” vẫn được chuẩn bị đầy đủ và tổ chức hết sức trang trọng .
Trước ngày cưới, nhà trai chuẩn bị 1 sải piêu, 1 sải khít ,1 đôi vòng tay bạc, 1 đôi hoa tai bạc, 1 chiếc nhẫn vàng hoặc bạc, 1 trâm cài tóc, 1 chiếc gương con, 1 chiếc lược sừng và 1 lọn độn tóc đem sang nhà gái tặng cô dâu.
Sáng ngày làm lễ “Tẳng cẩu”, nhà trai cử một đoàn sang nhà gái gồm 3-5 thiếu nữ trẻ đẹp, 3-5 thiếu phụ khoẻ mạnh, tháo vát, am hiểu sâu sắc phong tục, tập quán và thông thạo động tác búi tóc ngược cho cô dâu mới. Phía nhà gái cũng có số người tương ứng, trong đó có 2 thiếu nữ làm phù dâu, thường là bạn thân của cô dâu.
Lễ “Tẳng cẩu “ được thực hiện theo từng bước rất cụ thể, chặt chẽ và độc đáo. Trước tiên là phần gội đầu cho cô dâu mới.
Vào một buổi sáng đẹp trời, khi sương đã tan, ánh mặt trời đã trải rạng rỡ trên khắp núi rừng thì tại “Ta bản’ (bến nước của bản bên bờ suối), hai cô gái phù dâu sẽ giúp cô dâu xõa tóc và gội đầu bằng “Nặm khảu má” (nước ngâm gạo nếp) đựng sẵn trong ống tre nứa cùng với nước đun lá bưởi, lá xả, tre ngà, hương nhu, long não.
Dưới làn nước trong mát của dòng suối, cô dâu thả tóc xuôi dòng để “xák phôm” (rũ tóc) với ý niệm để nước suối cuốn trôi đi tất cả những gì mòn cũ của ngày hôm qua để nhẹ nhàng, trong sạch bước qua một cuộc sống mới. Gội xong, cô quay tròn vồng tóc trên không để mái tóc văng hết nước, chóng khô. Sau đó, cô vấn tóc quanh đầu rồicùng chúng bạn trở về bản.
Từ chân cầu thang, cô đã được đón rước và bước chậm rãi lên từng bậc thang lên nhà sàn. Đến ‘ tang chan”(ngoài sàn) cô ngồi vào giữa một hàng ghế mây, hướng về phía mặt trời mọc. Hai thiếu nữ phù dâu cùng phụ nâng chiếc khay đựng đồ trang sức do nhà trai mang sang. “ Nai cẩu”, là người được chọn để tẳng cẩu cho cô dâu đứng ở phía sau lưng cô dâu, nhẹ nhàng chải tóc rồi dùng hai tay vuốt ngược tóc từ phía sau gáy lên kèm theo lọn tóc độn và búi cuốn chặt lại từ trái sang phải hoặc ngược lại. Khi búi tóc đã hoàn chỉnh, “ Nai cẩu” khẽ nâng chiếc trâm bằng bạc xuyên búi tóc để giữ cho cẩu không thể xổ rối tung ra được và chiếc trâm bạc xinh xắn nổi bật trên nền đen óng mượt của búi tóc của cô dâu mới.
Lễ “Tẳng cẩu” đã xong, “Nai cẩu” khẽ hát những lời dặn dò yêu thương và chúc mừng hạnh phúc cho tình yêu đôi lứa.
Mái tóc dài, chải cho mượt
Búi ngược lên thành “ Tẳng cẩu”
Từ nay về sau, người đã có chồng
Nước không đổi dòng, lòng không đổi hướng, con ơi.

Từ đây, chiếc trâm cài đầu gắn bó với người phụ nữ Thái đen như hình với bóng. Mái tóc được “tẳng cẩu” là dấu hiệu của người phụ nữ đã có chồng, và muốn “ tẳng cẩu’ được phải có cái trâm cài đầu.
Với người phụ nữ dân tộc Lự ở Bình Lư (Tam Đường, Lai Châu) thì chiếc trâm cài đầu ngoài chức năng là một vật dụng để giữ tóc, mang ý nghĩa làm đẹp, là một bộ phận của đồ trang sức của phụ nữ, trâm cài đầu còn là lễ vật của gia đình nhà trai mang sang nhà gái, tặng cô dâu trong ngày cưới. Họ cũng dùng khái niệm tẳng cẩu để chỉ các búi tóc ngược trên đỉnh đầu của người phụ nữ nhưng hoàn toàn không có ý nghĩa là dấu hiệu của người phụ nữ đã có chồng như người Thái đen.Các cô gái ở đây khoảng 14,15 tuổi là bắt đầu tẳng cẩu , bắt đầu dùng trâm cài đầu. Do tập quấn tóc từ bé nên các em có thể tự quấn tóc được mà không cần phải ai giúp. Cũng chính vì vậy mà họ không có nghi lễ tẳng cẩu như người Thái đen. Chiếc trâm cài đầu này thường do bố mẹ sắm cho con gái từ lúc nhỏ hoặc khi đến tuổi làm đẹp (14,15 tuổi, cũng là lúc các cô gái bắt đầu nhuộm răng đen). Trâm cài đầu có nhiều chất liệu, có thể là bạc, ngà, xương hoặc gỗ, thậm chí bằng lông nhím, ngày nay họ thường dùng trâm cài đầu bằng nhôm. Nhà nào khá giả thì tặng con trâm cài đầu bằng bạc, bằng ngà. Nếu nghèo khó hơn thì tặng con trâm cài đầu bằng những chất liệu rẻ tiền hơn. Còn trong ngày cưới, chiếc trâm cài đầu do gia đình nhà trai mang sang tặng cô dâu thường bằng bạc và có một sợi dây xích nhỏ bằng bạc.Trong ngày cưới, cô dâu sẽ dùng cả hai chiếc trâm cài đầu (một do bố mẹ tặng lúc nhỏ và một do nhà trai mang tặng). Sau ngày cưới, họ thường dùng chiếc trâm cài đầu do bố mẹ tặng, còn chiếc kia sang trọng hơn chỉ thường dùng khi dự đám cưới, hội hè... Những chiếc trâm cài đầu này sẽ theo họ suốt cả cuộc đời. Người già 80, 90 tuổi, tóc rụng lơ thơ cũng vẫn dùng trâm cài đầu.
Cũng giống như người Lự, người Lào cũng dùng trâm cài đầu với chức năng và ý nghĩa như vậy. Tuy nhiên, trâm cài đầu của người Lào ở bản Phiêng Hào, xã Mường Khoa, huyện Than Uyên, Lai Châu còn có một điểm khác. Thay vì là một đồ dùng được bố mẹ tặng khi đến tuổi làm đẹp thì các cô gái Lào được tặng trâm cài đầu từ khi mới 1 tháng tuổi và chiếc trâm này sẽ do ông ngoại tặng cháu gái trong lễ đầy tháng. Khi đứa trẻ được một tháng tuổi, gia đình thắp hương cúng tổ tiên, lễ vật có gà, xôi và rượu và làm cơm mời họ hàng, người thân đến dự lễ đầy tháng của cháu bé và cũng là lễ đặt tên của trẻ. Nếu là bé gái thì trong lễ đặt tên cho trẻ, ông ngoại thường tặng cháu đồ trang sức như trâm cài tóc, hoa tai, vòng đeo tay. Nhà nào khá thì tặng cả 3 thứ, nhà nào không có thì tặng cháu 1, 2 thứ và thường họ tặng trâm cài tóc để sau này khi cháu lớn thì“tẳng cẩu” (tuy nhiên, với người Lào, tẳng cẩu chỉ có ý nghĩa là búi tóc ngược lên đỉnh đầu, hoàn toàn mang ý nghĩa làm đẹp của phái nữ chứ không hề có ý nghĩa như là một dấu hiệu đặc trưng cho người phụ nữ đã có chồng như “tẳng cẩu” của người Thái đen).
Điểm qua 3 chiếc trâm cài đầu của phụ nữ ba dân tộc Thái, Lào, Lự mới thấy những giá trị văn hóa tộc người độc đáo và phong phú làm sao. Quả thật, chiếc trâm cài đầu của phụ nữ các dân tộc - một vật dụng quen thuộc, nhỏ bé, khiêm nhường nhưng thực sự giầu chất văn hóa.

53. Nét đặc trưng của văn hóa Châu Thành

Ở Châu Thành, võ thuật cổ truyền dân tộc đã xuất hiện từ rất lâu, ngay trong thời chiến tranh đã xuất hiện nhiều người có võ thuật rất tinh thông như Ba Thăng, Tư Ớ...; Vào những năm 80 của thế kỷ XX có nhiều đoàn Lân sư nổi tiếng khắp miền Tây nam bộ, thời gian sau do không được người dân địa phương gìn giữ và lưu truyền từ đời này sang đời khác nên hiện nay truyển thống này đã bị mai một nhiều.

Hiện nay, tại làng Phú Nghĩa, Phú Hữu có một lang y nổi tiếng chữa bệnh Trĩ và các bệnh phụ nữ như rong kinh, huyết trắng...và rất được người dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tin tưởng, nhiều người từ Huế cũng tìm đến nơi này chữa bệnh.

Làng Phú Nghĩa còn có một đặc sản mà ít ai biết đến đó là Mắm Nêm. Đây là loại mắm làm từ con cá Cơm, một loại cá nhỏ bằng đầu đũa ăn cơm, có mày trắng, sau khi mua từ các ghe Đáy ngoài sông Hậu(Basac còn gọi là sông Cái) người dân sẽ rửa sạch cá (không làm cá) và tiến hành ủ theo bí quyết riêng của từng nhà từ 2 đến 3 tháng tuỳ vào thời tiết. Mắm Nêm ngon phải có mùi vị thơm, ngọt dịu; Món này trước đây vốn là một món ăn không thể thiếu trong bữa cơm của các địa chủ trong vùng. Những nhà giàu có thường dự trữ từ 5 đến 10 khạp da bò để ăn suốt năm, mắm Nêm được ăn với rau sống như bông Lục Bình, rau muống đồng, chuối chát, dái mít, lá xoài non, hoa bí sống, đậu rồng,...; muốn có đặc sản này bạn phải đến nhà dân chơi, nếu thân và quý bạn họ sẽ tặng cho bạn một keo nhỏ để làm quà.

Nghề làm Đáy là nghề bắt cá trên sông hay theo tiếng địa phương gọi là Trãi Đáy, người dân sử dụng loại lưới bắt cá giống như một cái Lú, có miệng rộng, khoảng từ 7 đến 15 mét chiều dài Đáy chừng 20 đến 30 mét, được thả bắt đầu từ thời gian nước đứng và bắt đầu nước ròng, cho đến nước gần đứng để nước lớn thì kéo lên, họ kéo từ miệng Đáy trước, để trách cá đi ngược ra, phía đáy của Đáy được cột kín cẩn thận, sau đó những gì hứng được sẽ xổ hết vào một ghe nhỏ và sẽ được lựa ra, cá bắt được họ cho vào trong hầm ghe lớn để gọng, trong ghe có đục một lỗ thông ra ngoài có lưới che và đảm bảo ghe không chìm bằng lỗ lủng này, trong ghe lớn chia thành nhiều khoan để chứa các loại cá, tôm tép khác nhau. Ngoài ra họ còn gọng những loại cá sẽ được bán ngay sau con nước(có người mua ngay sau khi bắt xong) thì được gọng trong những lồng bằng tre được treo phía ngoài ghe lũng lẳng. Những loại cá như cá Trạch, cá Rô, cá Lìm Kìm, cá Lưỡi Búa,... được ướm muối phơi khô ngay trên mui ghe, kỹ thuật ướp muối của họ rất đặt biệt, ruồi và kiến không bao giờ bu. Những ghe đáy thường nuôi vịt phía sau ghe để vịt ăn những con cá nhỏ. Vịt nuôi kiểu này lớn nhanh, có người còn nuôi chim, nuôi chó, những con chó này thường bơi rất giỏi. Thông thường mỗi ghe đều có một cái cầu để chó có thể tự bơi vào bờ rồi bơi ra ghe và tự leo lên ghe khi nào chúng thích. Ở đây, chim được nuôi thả tự do, thoải mái bay lượn trên bầu trời, khi nào đói chúng lại bay về đậu trên sào phơi quần áo trên ghe, cất tiếng kêu để đòi ăn, ăn xong chúng bay vòng quanh các thùng phuy nơi chúng ngủ hàng đêm. Mỗi ngày họ thường thả đáy 2 lần tuỳ vào nhật triều mà họ có thể thả đáy lúc sáng hay tối, có khi họ thả ngay trong đêm khuya, để tránh người đi trên sông đi vào vùng có lưới nguy hiểm họ thường đốt những chiếc đèn bão trên các thùng phuy, người đi trên sông khi gặp đèn này phải đi bên ngoài để tránh bị chìm ghe. Ngày nay khi luật an toàn giao thông đường thuỷ có hiệu lực, giao thông ngày càng đông đúc, chính quyền tạo điều kiện cho các tàu lớn ra vào cảng Cần Thơ cũng như cảng Cái Cui thì nghề Đáy cũng dần không còn, vì thế nghề làm mắm Nêm cũng dần mai một. Người dân chỉ làm một ít để dành ăn trong nhà.

54. Chợ nổi Ngã Bảy nét văn hóa sông nước đặc trưng

Hậu Giang các văn hóa nổi bật như: văn hóa trao đổi, văn hóa giao tiếp, hò đối đáp, đờn ca tài tử, hát bội và sân khấu cải lương... Trong đó văn hóa sông nước, nét văn hóa đặc trưng ở chợ nổi Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. Chợ họp ở thị xã Ngã Bảy, được hình thành từ 1915, là chợ nổi trên sông, hàng hoá rất đa dạng, phong phú.

Mênh mông chợ nổi Ngã Bảy. Ở đây mặt sông mênh mông rẽ về 7 ngả. Từ các ngả, thuyền bè tấp nập tụ về đây. Chợ ở trên mặt đất có những thứ gì, thì chợ nổi cũng đủ những mặt hàng mà người dân cần, từ cái kim sợi chỉ cho đến quần áo, thức ăn, rượu thịt... còn các loại trái cây thì nhiều vô kể. Từ chợ nổi, du khách sẽ được cập bến để lên chợ rắn. Cái tên chợ rắn Ngã Bảy cũng đã rất quen thuộc với du khách quốc tế. Đến tham quan chợ rắn, du khách sẽ được mời uống rượu rắn và được xem những màn biểu diễn múa rắn rất mạo hiểm. Chợ Ngã Bảy quanh năm có rắn, rùa, chim, sóc, kỳ đà … phục vụ du khách.

55. Góp bàn thêm về tục thờ Mẫu

Vai trò và vị trí của người phụ nữ trong gia đình, trong cộng đồng và đặc biệt trong truyền thống của dân tộc Việt Nam luôn xứng đáng được ngợi ca và tôn vinh dù trong bất cứ thời đại nào từ thời tiền sử cho đến thời kỳ văn minh hiện đại mà chúng ta đang sống.

Dân tộc ta đã từng có những huyền thoại rất đẹp về người mẹ: Bà Âu Cơ (giống tiên) kết hôn với Lạc Long Quân (giống rồng) mà sinh ra chỉ một bọc trăm trứng, lại nở ra một trăm người con để rồi phân đôi, nửa theo cha xuống biển, nửa cùng mẹ lên non, từ đó hình thành lên các cộng đồng người của dân tộc Việt Nam, sinh cùng một bọc, khởi tự một nguồn, máu đỏ, da vàng tất cả đều là anh em. Thật là hồn nhiên, thật đẹp đẽ, tuyệt vời về nguồn gốc của một dân tộc đã được nuôi dưỡng, bồi đắp, lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác liền mạch, để mãi mãi, chúng ta vẫn cứ được tự hào về dòng dõi tiên rồng của dân tộc Việt Nam và hơn thế nữa, sự tự hào đó cũng giành trọn cho người mẹ vĩ đại, đã có được một dân tộc trường tồn.

Trải qua hàng nghìn năm của xã hội thị tộc mẫu hệ, hoàn toàn là vai trò người mẹ, hình ảnh người mẹ là tất cả trong mỗi thành viên và của cộng đồng từng đơn vị cư trú, cho đến khi hình thái gia đình một vợ một chồng hình thành và phát triển, thay thế cho hình thái xã hội thị tộc mẫu hệ thì vai trò của người mẹ vẫn giữ vị trí chủ yếu trong gia đình, bởi ngoài thiên chức làm vợ, làm mẹ, với sự phân công tự nhiên, người mẹ vẫn mặc nhiên đảm nhiệm hầu hết các vai trò, về duy trì nòi giống, nuôi dưỡng các thế hệ kế tục, trao gửi những tâm tư, tình cảm một cách gẫn gũi, thường xuyên, liên tục, giáo dưỡng để có được những thế hệ mới cho gia đình, cho quê hương, cho đất nước.

Điều kiện sống của thời kỳ nguyên thuỷ (thời sơ sử, tiền sử) con người sống dựa chủ yếu vào thiên nhiên, săn bắt thú rừng và thuỷ, hải sản ở sông suối, hái lượm hạt, quả do núi rừng và thiên nhiên tạo ra, cho đến khi biết đến nền kinh tế nông nghiệp bao gồm trồng trọt và chăn nuôi, con người vẫn phải dựa vào thiên nhiên, đời sống chưa thể ổn định trước sự khắc nghiệt của tự nhiên, sự thất thường của thời tiết, khí hậu đã gây cho con người muôn vàn khó khăn về cuộc sống. Bất lực trước tự nhiên, con người đã dần quan sát, rút kinh nghiệm và dần hình thành ý thức hệ về tự nhiên, kèm theo đó là sự tôn thờ các hiện tượng tự nhiên (tô tam giáo) họ thờ các vị thần rừng, thần núi, thần sông, thần biển v.v… là những môi trường tự nhiên hoặc đem cho các cuộc sống no đủ, hoặc cũng lấy đi tất cả của họ những gì phục vụ cho cuộc sống.

Quan niệm trời là cha, đất là mẹ cũng xuất phát từ đó, ngửa mặt lên là bầu trời bao la với biết bao những bí ẩn của thời tiết, khí hậu, dưới chân là mặt đất với muôn vàn loài động vật thực vật giúp kiếm tìm sự sống và đất chính là mẹ, đất mẹ sinh sôi nảy nở muôn loài, con người khi sinh ra trưởng thành rồi chết đi lại trở về với đất, đó vừa là nhận thức, vừa là cách ứng xử của con người với tự nhiên, về mặt triết học, quy luật âm dương ngũ hành được tổng kết vận dụng, áp dụng sâu rộng để lý giải mọi hiện tượng của đời sống con người và xã hội. Trong thuyết âm dương ngũ hành, trời là dương (cực dương), đất là âm (cực âm), trong dương có âm và trong âm có dương (phép biện chứng), trời đất (âm dương) giao hoà tạo lên muôn loài, muôn vật. Trong bản thể con người, âm dương điều hoà thì khoẻ mạnh, âm dương lấn lướt sinh bệnh tật, ốm đau v.v… cùng với tiến trình của nhân loại, ý thức Mẹ đã thường trực trong từng cá thể từ thời kỳ nguyên thuỷ của xã hội loài người và ngày nay nó càng được củng cố, mẹ là tất cả, là chỗ dựa cả về vật chất lẫn tinh thần, tư tưởng tình cảm v.v… và vì vậy ngay từ thuở nguyên sơ con người đã tôn các hiện tượng thiên nhiên như là Mẹ: mẹ trời, mẹ núi, mẹ sông, mẹ biển  v.v… về mặt ngữ nghĩa Mẹ trở thành Mẫu, mẫu thiên (mẹ trời), mẫu thuỷ (mẹ nước), mẫu sơn (mẹ núi) vv… rồi tôn các Mẫu là Thánh để rồi từ đó hình thành nên khái niệm “Tam tòa thánh mẫu” khi mà con người muốn vật chất hoá, cụ thể hoá những tư duy tình cảm đối với thiên nhiên ngày càng gần gũi hơn với cuộc sống. Mẫu thiên (mẫu cửu trùng) được dân gian hiểu là bà Huyền thánh mẫu. Mẫu thượng ngàn là Lâm cung thánh Mẫu. Mẫu thuỷ là Thuỷ cung thánh Mẫu.

Ở cả 3 cõi: Trời, non, nước (từ thiên nhiên trở thành các đấng siêu nhiên). Tuy vậy, cũng phải có thêm một mẫu (mẹ) ở cõi trần gian và đến sau này (thế kỷ XVI) hình thành thêm một thánh mẫu nữa là: Địa cung thánh mẫu - Mẫu Liễu Hạnh. Về Liễu Hạnh (một trong tứ bất tử trong quan niệm dân gian Việt Nam, hẳn có nhiều công trình nghiên cứu, xin không nêu ra ở đây), dân gian chọn vào vị trí này thật thoả đáng. Bởi bà là biểu tượng cho sức sống giải phóng ý thức tự do và lòng nhân đạo. Bà đã trải qua chức phận làm vợ, làm mẹ, làm chủ gia đình, trưởng một cộng đồng, bà biết làm thơ, am hiểu đạo lý, biết cầm quân đánh giặc, biết chữa bệnh cứu nhân độ thế. Ở bà là sự tựu trung những nét đẹp của người mẹ, người chủ, một vị tướng và vị thánh. Thánh mẫu Liễu Hạnh được dân tôn thờ từ thực thể và trở thành tâm linh, là vị thánh thứ tư trong tứ bất tử và cũng là vị thánh thứ tư - Mẫu địa phủ - là chủ cõi đất, cõi trần gian, cõi gần gũi với con người. Và từ đó cũng hình thành quan niệm về tứ phủ, tứ phủ cộng đồng.

Hiện nay, cách bài trí tại điện Mẫu (thường ở các ngôi chùa) thượng có 3 toà, được hình tượng hoá, cụ thể hoá là 3 pho tượng với phong cách tượng có tính nữ giới. Chính giữa, mặc áo đỏ là mẫu Thiên (mẫu cửu trùng), bên trái mẫu thiên là mẫu thượng ngàn (mặc áo xanh) và bên phải là mẫu thuỷ mặc áo trắng.

Còn Thánh mẫu Liễu Hạnh được thờ ở đâu? Như đã nêu trên, trong dân gian, mẫu Liễu Hạnh được thờ với tư cách là một vị thánh bất tử trong bốn vị thánh bất tử ở Việt Nam là: Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đồng Tử, Thánh Gióng, Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Thánh Mẫu Liễu Hạnh có riêng phủ thờ rất nổi tiếng như: Phủ Giầy (Nam Định), phủ Tây Hồ (Hà Nội), phủ Sông (Thanh Hoá), vv… Hoặc có những nơi thờ Tứ phủ cộng đồng, trong đó có 4 cõi: Trời, đất, nước, non mà dân gian quen hiểu là “Điện”. Điện thờ tứ phủ.

Nếu với cách hiểu như trên, việc thờ tam toà thánh mẫu hay thờ Tứ Phủ trong dân gian là có nguồn gốc xuất xứ với những nguyên nhân sâu xa được hình thành và phát triển từ hàng nghìn năm trong trong quan niệm của con người về vũ trụ quan, nhân sinh quan. Điều đó vừa thể hiện tư duy, niềm khao khát về mặt tinh thần đối với Mẫu, trước hết là người sinh ra, nuôi dưỡng, bảo lưu các thế hệ giống nòi, là điểm tựa về mặt vật chất và tinh thần cho mỗi bản thân, là sự ấp ôm che chở bao la trước mọi sự khó khăn, và mẹ là tất cả. Trước  những hiện tượng siêu nhiên, mọi môi trường sống dần được gắn với mẹ, từ người mẹ cụ thể đến mẹ siêu trần, mẹ siêu phàm. Mẹ trong bao quát khái niệm tư duy và được thần tượng hóa trong đời sống con người, mà việc thờ Mẹ thì cũng tự nhiên và cũng là điều đáng tự hào về tính nhân văn nói riêng, rất đẹp ở người Việt Nam, mà chẳng nơi nào trên thế giới có được.

Điều đáng quan tâm hiện nay là các địa phương, những người làm công tác quản lý nhà nước và quản lý văn hoá ở các cơ sở nên quan tâm, hướng dẫn, phổ biến những nét đẹp về văn hoá, truyền thống của dân tộc nói chung, những thần phong mỹ tục của địa phương nói riêng, việc bài trí, xếp đặt nơi thờ tự chung của cộng đồng cho đúng, phù hợp, không lộn xộn, cũng không nên gán ghép tất cả là mê tín dị đoan, mà làm mai một đi phong cách văn hoá truyền thống của dân tộc ta.

56. Phong tục đón Tết của người Mường

Tết đến, xuân về, người Mường rất coi trọng đền thờ Thành Hoàng làng. Việc đầu tiên mà các cụ già trong làng nhắc con cháu phải làm trước Tết là ra đền để dọn dẹp, lau rửa sạch sẽ đồ thờ cúng. Giáp Tết, nhà nào cũng tất bật làm bánh dầy, bánh chưng, đóng oản và trang trí nhà cửa.

Người Mường xưa, không ăn Tết ông Công, ông Táo như người Việt, vì thế Tết bắt đầu từ ngày 27, 28. Đêm 30, tức ngày "chín cối tháng ba" theo lịch của người Mường, tất cả con cháu sẽ tụ tập ở đền thờ để làm lễ "khai sáng". Lễ này được cúng cả bằng lễ chay và bằng lễ mặn. Lễ chay gồm các loại hoa quả trong vườn, càng nhiều càng tốt, để tổ tiên, thánh thần phù hộ cho mùa xuân mới nhiều lộc, hoa, trái. Lễ mặn gồm oản, gà, thịt, bánh dầy, bánh chưng. Trước đây, ngày Tết người Mường chỉ ăn thịt lợn, thịt gà chứ không có giò, chả, mọc như người Kinh. Đến thời điểm sang canh thì con cháu tất cả phải ở phía ngoài đền, chỉ có ông Trùm, ông Seo và những người già trong bản mới được vào đền làm lễ. Sau khi lễ ở đền, mọi người ai về nhà nấy đón giao thừa. Một thủ tục không thể thiếu trong đêm giao thừa của người Mường đó là một lễ cúng ngoài trời gồm một con cá diếc và một cái bánh chay. Sáng ra, lễ này được mang cho con trâu ăn trước, vì họ cũng quan niệm như người Kinh - "con trâu là đầu cơ nghiệp", cho con trâu ăn trước để con trâu đi làm.

Với người Mường, việc thờ cúng ngoài trời rất quan trọng nên trong những ngày Tết nhà ai cũng chuẩn bị cho mỗi thành viên trong gia đình một cây hương để cúng bản mệnh ngoài trời. Món ăn trong ngày Tết của người Mường từ xưa đến nay không bao giờ thiếu bánh chưng và bánh dầy để biểu hiện trời tròn, đất vuông và cũng là để tưởng nhớ đến ông vua của người Mường là Vua Lang. Gia đình nhà nào thờ cúng bao nhiêu người thì làm bao nhiêu cái bánh chưng. Trong ba ngày Tết, người ta chỉ tết cha, tết mẹ và tết thầy cúng - những người quan trọng nhất trong quan niệm của họ.

Trong những ngày Tết, nếu chưa được sự cho phép của ông Trùm thì không ai được phép ra đồng làm việc. Đến ngày 7 tháng Giêng là ngày lễ lớn nhất của người Mường, đây là lễ hội "mở mắt cồng, mắt lệnh", lễ hội "xuống đồng". Từ 5 giờ sáng, người dân trong bản tập trung tại phủ thờ Thành Hoàng. Theo phong tục của người Mường thì trước khi mở hội Cồng Chiêng, làng phải có một thủ tục làm mâm lễ trình với các vị Thánh trong làng. Mâm lễ bắt buộc phải có một con lợn "non 5 già 3" để làm cỗ vành 3-5-7-9 tính từ trong ra. Mở đầu lễ hội Cồng Chiêng, ông Trùm sẽ có lời trình báo với dân làng rằng: "Lang co le chao khoan". Sau đó ông Trùm sẽ đánh ba hồi chiêng đầu, sau đó con chá mới được bước vào phủ để làm lễ, và tiếng chiêng kết thúc cũng là lúc kết thúc phần lễ ngày hôm đó...

Ngày nay, phong tục lễ của người Mường cũng có nhiều thay đổi. ở nhiều nơi họ cũng bắt đầu ăn Tết 23 tháng Chạp, cũng mua cá về nhà để thả, việc thờ cúng cũng gọn nhẹ hơn. Nhiều trò chơi dân gian vẫn được tổ chức nhưng cũng có thêm các trò chơi hiện đại thu hút nhiều người tham gia.

57. Phong tục hôn nhân của người Cần Thơ

Trong tâm lý người Việt, dựng vợ gả chồng là việc "chung thân đại sự" phải được tổ chức chu đáo, trang nghiêm với nhiều thủ tục lễ nghi. Trước cách mạng tháng Tám, ở Cần Thơ vẫn tiến hành hôn nhân theo nghi thức cổ truyền. Cha mẹ vẫn toàn quyền định đoạt hôn nhân cho con, "Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó . "Áo mặc sao qua khỏi đầu” là tiêu chí định giá sự hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ.

 Tuy nhiên, ở đây không có nạn tảo hôn, cũng không có chuyện xem thường, bỏ qua mọi ý nguyện chính đáng của con trong chuyện hạnh phúc trăm năm. Bậc cha mẹ, trước khi định đoạt việc cưới gả cho con, phải xem xét nhiều mặt: Xem dòng tộc bên trai và bên gái có xứng đáng, phù hợp sui gia với nhau? (môn đăng hộ đối). Xem tuổi tác của đôi trai gái có hạp nhau hông? Xem truyền thống gia đình bên gái (nuôi heo chọn nái cưới gái chọn dòng)... Những việc đó cũng vì lo mệnh hệ đời người của con.

Thủ tục tiến hành hôn nhân, từ sơ giao cho đến chính thức vợ chồng, có nhiều bước: làm mai đi đến hôn nhân gia đình hai bên nam nữ quyết định hôn lễ cho hai con. Thủ tục thời phong kiến khi cưới thường có đủ sáu lễ :

 

1 - Chạm mặt hay dạm vợ

2 - Vấn danh (hỏi tên tuổi và họ người vợ)

3 - Nạp cát (đưa lễ cưới)

4 - Thỉnh kỳ (định ngày) để làm lễ cưới

5 - Nạp tệ (đưa lễ cưới)

6 - Thần nghinh (đón dâu)

 

Sau này 6 lễ không còn, ở Cần Thơ chỉ có 3 lễ quan trọng:

 

1- Lễ dạm mặt (coi mắt)

2 - Lễ hỏi (lễ nói)

3 - Lễ cưới.

 

Từ sau Cách mạng Tháng Tám, các phong tục lễ nghỉ cổ truyền đã được sàng lọc, điều chỉnh, loại bớt những thủ tục phiền phức rườm rà. Ngày nay, nam nữ thanh niên đã tự tiếp xúc tìm hiểu lẫn nhau, nên những hôn lễ thông thường chỉ qua 3 bước: coi , mắt, lễ hỏi và lễ cưới. Những cuộc hôn nhân đơn giản chỉ làm đăng ký kết hôn và lễ cưới.

Trong kháng chiến, thực hiện "đời sống mới" các đám cưới đổi thành lễ tuyên hôn do cơ quan hoặc chính quyền địa phương tổ chức. Lễ tuyên hôn là nơi cô dâu chú rể hứa hẹn xây dựng hạnh phúc lứa đôi gắn liền với hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, công tác gãp phần cho kháng chiến thành công. Lễ tuyên hôn được tổ chức trang trọng có sự chứng kiến của chính quyền, tổ chức, thân tộc họ hàng, bạn bè. Với tiệc trà và văn nghệ vui vẻ chúc mừng đôi tân hôn.

Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, việc tổ chức lễ cưới Cần Thơ chỉ có rất ít gia đình làm lễ tuyên hôn như thời kháng chiến, phần lớn trở lại thủ tục cũ nhưng có cải tiến giản đơn hơn, tập trung hai lễ chính: lễ nói và lễ cưới. Nhưng các ngành chức năng (văn hóa thông tin) đang hướng dẫn thực hiện lễ cưới theo "nếp sống văn hóa mới", với phương châm vui tươi, lành mạnh, tiết kiệm.

58. Tết Các Dân Tộc

Tết Prơ-Giê-Râm của người Cơ Tu
Vào mùa xuân, lúc bắt đầu vụ mùa lúa mới, đồng bào các huyện Phước Sơn, Giằng, Hiên ở Quảng Nam tổ chức ăn Tết Prơ-giê-răm. Đây là ngày lễ lớn nhất trong năm. Nhà nhà đều trang trí hết sức đẹp đẽ. Các loại ghẻ, cung nỏ, giáo, mác, thanh la, trống, chiêng được lau chùi cẩn thận. ở nhà Guơi (nhà làng) người ta dựng cột đâm trâu bằng cây gạo trạm trổ, sơn vẽ đẹp mắt. Nhiều sinh hoạt văn hoá diễn ra tại nhà Guơi như kể chuyện, nhảy múa, hát dân ca. Con gái được dịp trao đổi tâm tình và rủ nhau chơi xuân kéo dài cả tháng....

Tết nhảy của người Dao

Người Dao ở Việt Bắc cho rằng, ngày đầu năm không được làm việc mà chỉ lo vui chơi, thăm viếng và chúc tụng lẫn nhau. Nhà nào nhà ấy đều trang hoàng sáng sủa và dán nhiều câu đối bằng chữ Hán lên cột nhà hay trên các vách tường để đón mừng xuân.

Người Dao đón Tết bằng tết nhảy gọi là "Nhiang chằm Ðao" để rèn luyện sức khoẻ và võ nghệ. Tết nhảy bắt đầu trước tết Nguyên Ðán chừng vài ba hôm. Thanh niên phải tập các điệu múa, điệu nhảy, làm gươm đao bằng gỗ để múa. Tết nhảy, mỗi người phải nhảy múa đến hàng trăm lượt trong tiếng trống, tiếng thanh la giục giã...

Tết giọt nước của người Xơ Đăng

Người Xơ Đăng ở Kon Tum ăn tết rất giản dị và chỉ có hai tết rất giản dị và chỉ có hai tết chính là tết Giọt nước và tết Lửa. Tết Giọt nước vào khoảng tháng 3 dương lịch. Sau khi mãn mùa, người Xơ Đăng bắt đầu sửa sang lại các máng nước và tổ chức lễ "cúng máng" để cầu mong Thần nước (Yang Dak) ban cho dân làng năm mới được mùa, nước non đầy đủ.

Người trong buôn làng mang choé, nồi đồng ra tại các máng nước để lấy nước mang về nhà, đồng thời tổ chức ăn uống, vui chơi suốt mấy ngày liền. Riêng "Lễ cúng máng nước" cho buôn làng thì được tổ chức tại nhà Rông, do thầy cúng tổ chức vui say, ca hát, nhảy múa, gái trai được tự do trao đổi tâm tình.

Tết của người Mông (H'Mông)

Người H'Mông ở vùng cao Tây Bắc và Việt Bắc ăn tết rất thịnh soạn, chẳng kém gì ở miền xuôi. Trong nhà trang hoàng đủ màu sắc, nhưng màu đỏ là được ưa chuộng nhất. Tết Nguyên đán của người H'Mông gọi là NaoX-Cha. Ðể chuẩn bị sẵn con lơn béo. Ngoài thịt ra, còn có bánh bằng bột nếp, bánh chưng ít khi dùng. Tết của người H'Mông thường tổ chức giữa mùa đông giá rét, trước hay sau Tết dương lịch chỉ có mấy hôm. Ðêm giao thừa các gia đình thường cử con trai đi "mở nước", tức là đi lấy nước ngoài sông suối đem về nhà cúng.

59. Tục ra gà - Một nét văn hóa ở Chu Hóa

Ở xã Chu Hóa (Lâm Thao, Phú Thọ), tục ra gà cho các bé trai sinh trong năm có từ thời phong kiến cách đây hàng trăm năm. Đến khi hòa bình lập lại, đình làng trở thành nhà kho HTX nông nghiệp, tục ra gà tạm thời bị quên lãng. Song 10 năm trở lại đây, đình làng được khôi phục, theo đó tục ra gà được coi trọng và trở thành phong tục không thể thiếu trong những ngày đầu năm mới. Tục ra gà được 2 làng: Làng Thượng và làng Hạ duy trì và bảo tồn.

Thời phong kiến, tục ra gà vào ngày mùng 5 tết được tổ chức rất công phu: gia dình nào sinh được con trai (gọi là Đinh), Sẽ chọn một con gà trống từ 3-4kg (không chọn gà thiến), trước Tết 4-5 tháng nhốt gà vào lồng, hàng ngày bón cho gà ăn 3 lần/ngày bằng cơm nóng trộn cám gạo loại 1. Đến ngày 5 tết, gia chủ mổ gà, thổi xôi làm lễ gánh ra đình làng. Lễ cúng bắt đầu từ 1 giờ sáng, lần lượt từng gia đình nhờ các cụ già thông thạo cúng lễ sau khi cúng xong trời vừa sáng, tổ chức thi xem con gà nhà ai to đẹp nhất. Mọi người tin rằng gà càng to, đẹp thì đứa trẻ sẽ khỏe mạnh, hay ăn chóng lớn. Sáng ra, dân làng đến xem rất đông và cùng nhau hưởng lộc ngay tại đình.

Ngày nay, các gia đình không tổ chức bón gà được mà chọn con gà trống to cỡ 3,5-4,5kg, cúng xong mang về nhà mời anh em nội tộc đến ăn mừng cho dòng họ có thêm 1 cháu trai khỏe mạnh. Không chỉ các cháu sinh ra ở 2 làng trên được làm lễ ra gà mà cả các cháu sống với bố mẹ ở mọi miền của Tổ quốc thì ông bà, họ hàng ở quê vẫn tiến hành làm lễ ra gà khi có thành viên mới chào đời. Tục ra gà ở 2 làng Thượng và làng Hạ ở Chu Hóa mang đậm tính chất tín ngưỡng về phong tục thờ cúng phật ở đình làng của người Việt cổ. Thông qua hình thức này, ngay từ khi sinh ra, con người đã  gắn chặn  với  tổ tiên, cộng  đồng. Đây là nét đẹp truyền thống văn hóa của một làng quê cần được bảo tồn để thế hệ con cháu luôn luôn nhớ về cội nguồn, quê hương.

Cùng với tục ra gà, ở Chu Hóa còn nhiều lễ hội như: Hát đúm, chọi trâu... vẫn chưa được khôi phục.

60. Nguyên-Tắc Cúng, Khấn, Vái, và Lạy

I. Nghi-Thức Cúng Gia-TiênKhi cúng thì chủ gia đình phải bầy đồ lễ cùng với hoa quả theo nguyên-tắc “đông bình tây quả,” rượu, và nước. Sau đó, phải đốt đèn (đèn dầu, đèn cầy, hay đèn điện), thắp nhang, đánh chuông, khấn, và cúng trước rồi những người trong gia đình theo thứ tự trên dưới cúng sau. Nhang (hương) đèn để mời và chuông để thỉnh tổ tiên. Khi cúng thì phải chắp tay đưa lên ngang trán khấn. Khấn là lời trình với tổ tiên về ngày cúng liên quan đến tên người quá cố, ngày tháng năm ta và tây, tên địa phương mình ở, tên mình và tên những người trong gia đình, lý do cúng và lời cầu nguyên, v.v.. Riêng tên người quá cố ta phải khấn rõ nhỏ. Sau khi khấn rồi, tuỳ theo địa vị của người cúng và người quá cố mà vái hay lạy. Nếu bố cúng con thì chỉ vái bốn vái mà thôi. Nếu con cháu cúng tổ tiên thì phải lạy bốn lạy. Chúng ta cần hiểu cho rõ về ý nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy.

II. Định-Nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy

a. CúngKhi có giỗ Tết, gia-chủ bày hoa (bông) quả, nước, rượu, cỗ-bàn, chén bát, đũa, muỗng (thìa) lên bàn thờ rồi thắp nhang (hương), thắp đèn, đốt nến (đèn cầy), khấn, vái, hay lạy để tỏ lòng hiếu-kính, biết ơn, và cầu phước-lành. Đây là nghĩa rộng của cúng. Trong nghĩa bình-thường, cúng là thắp nhang (hương), khấn, lạy,và vái.

b. Khấn (*)Khấn là lời cầu-khẩn lầm-rầm trong miệng khi cúng, tức là lời nói nhỏ liên-quan đến các chi-tiết về ngày tháng năm, nơi-chốn, mục-đích buổi cúng lễ, cúng ai, tên những người trong gia đình, lời cầu xin, và lời hứa.
 Sau khi khấn, người ta thường vái vì vái được coi là lời chào kính-cẩn. Người ta thường nói khấn vái là vậy. Trong truyện Kiều, Nguyễn Du dùng từ khấn vái trong câu “Lầm rầm khấn vái nhỏ to,/ Sụp ngồi đặt cỏ trước mồ bước ra.” (câu 95-96)

c. VáiVái thường được áp-dụng ở thế đứng, nhất là trong dịp lễ ở ngoài trời. Vái thay thế cho lạy ở trong trường hợp này. Vái là chắp hai bàn tay lại để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi đầu và khom lưng xuống rồi sau đó ngẩng lên, đưa hai bàn tay xuống lên theo nhịp lúc cúi xuống khi ngẩng lên. Tùy theo từng trường-hợp, người ta vái 2,3,4, hay 5 vái (xem phần sau).

d. LạyLạy là hành-động bày tỏ lòng tôn-kính chân-thành với tất-cả tâm-hồn và thể-xác đối với người trên hay người quá-cố vào bậc trên của mình. Có hai thế lạy: thế lạy của đàn ông và thế lạy của đàn bà. Có bốn trường hợp lạy: 2 lạy, 3 lạy, 4 lạy, và 5 lạy. Mỗi trường hợp đều có mang ý-nghĩa khác nhau.

Thế Lạy Của Đàn ÔngThế lạy của đàn ông là cách đứng thẳng theo thế nghiêm, chắp hai tay trước ngực và dơ cao lên ngang trán, cúi mình xuống, đưa hai bàn tay đang chắp xuống gần tới mặt chiếu hay mặt đất thì xòe hai bàn tay ra đặt nằm úp xuống, đồng thời quì gối bên trái rồi gối bên phải xuống đất, và cúi rạp đầu xuống gần hai bàn tay theo thế phủ- phục. Sau đó cất người lên bằng cách đưa hai bàn tay chắp lại để lên đầu gối trái lúc bấy giờ đã co lên và đưa về phía trước ngang với đầu gối chân phải đang quì để lấy đà đứng dậy, chân phải đang quì cũng theo đà đứng lên để cùng với chân trái đứng ở thế nghiêm như lúc đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy (xem phần Ý-Nghĩa của Lạy dưới đây). Khi lạy xong thì vái ba vái rồi lui ra.

Có thể quì bằng chân phải hay chân trái trước cũng được, tùy theo thuận chân nào thì quì chân ấy trước. Có điều cần nhớ là khi quì chân nào xuống trước thì khi chuẩn-bị cho thế đứng dậy phải đưa chân đó về phía trước nửa bước và tì hai bàn tay đã chắp lại lên đầu gối chân đó để lấy thế đứng lên. Thế lạy theo kiểu này rất khoa-học và vững-vàng. Sở-dĩ phải quì chân trái xuống trước vì thường chân phải vững hơn nên dùng để giữ thế thăng-bằng cho khỏi ngã. Khi chuẩn-bị đứng lên cũng vậy. Sở-dĩ chân trái co lên đưa về phía trước được vững-vàng là nhờ chân phải có thế vững hơn để làm chuẩn.
 Thế lạy phủ-phục của mấy nhà sư rất khó. Các Thầy phất tay áo cà sa, đưa hai tay chống xuống ngay mặt đất và đồng-thời quì hai đầu gối xuống luôn. Khi đứng dậy các Thầy đẩy hai bàn tay lấy thế đứng hẳn lên mà không cần phải để tay tỳ lên đầu gối. Sở dĩ được như thế là nhờ các Thầy đã tập-luyện hằng-ngày mỗi khi cúng Phật. Nếu thỉnh-thoảng quí cụ mới đi lễ chùa, phải cẩn-thận vì không lạy quen mà lại bắt chước thế lạy của mấy Thầy thì rất có thể mất thăng-bằng.

Thế Lạy Của Đàn BàThế lạy của các bà là cách ngồi trệt xuống đất để hai cẳng chân vắt chéo về phía trái, bàn chân phải ngửa lên để ở phía dưới đùi chân trái. Nếu mặc áo dài thì kéo tà áo trước trải ngay ngắn về phía trước và kéo vạt áo sau về phía sau để che mông cho đẹp mắt. Sau đó, chắp hai bàn tay lại để ở trước ngực rồi đưa cao lên ngang với tầm trán, giữ tay ở thế chắp đó mà cúi đầu xuống. Khi đầu gần chạm mặt đất thì đưa hai bàn tay đang chắp đặt nằm úp xuống đất và để đầu lên hai bàn tay. Giữ ở thế đó độ một hai giây, rồi dùng hai bàn tay đẩy để lấy thế ngồi thẳng lên đồng-thời chắp hai bàn tay lại đưa lên ngang trán như lần đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy cần thiết (xem phần Ý Nghĩa của Lạy dưới đây). Lạy xong thì đứng lên và vái ba vái rồi lui ra là hoàn tất thế lạy.

Cũng có một số bà lại áp dụng thế lạy theo cách quì hai đầu gối xuống chiếu, để mông lên hai gót chân, hai tay chắp lại đưa cao lên đầu rồi giữ hai tay ở thế chắp đó mà cúi mình xuống, khi đầu gần chạm mặt chiếu thì xòe hai bàn tay ra úp xuống chiếu rồi để đầu lên hai bàn tay. Cứ tiếp tục lạy theo cách đã trình bày trên. Thế lạy này có thể làm đau ngón chân và đầu gối mà còn không mấy đẹp mắt.

Thế lạy của đàn ông có vẻ hùng-dũng, tượng trưng cho dương. Thế lạy của các bà có tính cách uyển-chuyển tha-thướt, tượng-trưng cho âm. Thế lạy của đàn ông có điều bất-tiện là khi mặc âu-phục thì rất khó lạy. Hiện nay chỉ có mấy vị cao-niên còn áp-dụng thế lạy của đàn ông, nhất là trong dịp lễ Quốc-Tổ. Còn phần đông, người ta có thói quen chỉ đứng vái mà thôi.

Thế lạy của đàn ông và đàn bà là truyền-thống rất có ý-nghĩa của người Việt ta. Nó vừa thành-khẩn vừa trang-nghiêm trong lúc cúng tổ-tiên. Nếu muốn giữ phong-tục tốt đẹp này, các bạn nam nữ thanh-niên phải có lòng tự-nguyện. Muốn áp-dụng thế lạy, nhất là thế lạy của đàn ông, ta phải tập-dượt lâu mới nhuần-nhuyễn được. Nếu đã muốn thì mọi việc sẽ thành.

III . Ý-Nghĩa của Lạy và Vái

Số lần lạy và vái đều mang một ý-nghĩa rất đặc-biệt. Sau đây chúng tôi xin trình-bày về ý-nghĩa của vái và lạy. Đây là phong-tục đặc-biệt của Việt Nam ta mà người Tàu không có tục-lệ này. Khi cúng, người Tàu chỉ lạy 3 lạy hay vái 3 vái mà thôi.

a. Ý-Nghĩa Của 2 Lạy và 2 Vái Hai lạy dùng để áp-dụng cho người sống như trong trường-hợp cô dâu chú rể lạy cha mẹ. Khi đi phúng-điếu, nếu là vai dưới của người quá-cố như em, con cháu, và những người vào hàng con em, v.v., ta nên lạy 2 lạy.

Nếu vái sau khi đã lạy, người ta thường vái ba vái. Ý-nghĩa của ba vái này, như đã nói ở trên là lời chào kính-cẩn, chứ không có ý-nghĩa nào khác. Nhưng trong trường- hợp người quá-cố còn để trong quan-tài tại nhà quàn, các người đến phúng- điếu, nếu là vai trên của người quá-cố như các bậc cao-niên, hay những người vào hàng cha, anh, chị, chú, bác, cô, dì, v. v., của người quá-cố, thì chỉ đứng để vái hai vái mà thôi. Khi quan-tài đã được hạ-huyệt, tức là sau khi chôn rồi, người ta vái người quá cố 4 vái.

Theo nguyên lý âm-dương, khi chưa chôn, người quá-cố được coi như còn sống nên ta lạy 2 lạy. Hai lạy này tượng-trưng cho âm dương nhị khí hòa-hợp trên dương-thế, tức là sự sống. Sau khi người quá cố được chôn rồi, phải lạy 4 lạy.

b. Ý-Nghĩa Của 3 Lạy và 3 VáiKhi đi lễ Phật, ta lạy 3 lạy. Ba lạy tượng-trưng cho Phật, Pháp, và Tăng (xin xem bài về “Nghĩa Đích Thực của Quy Y Tam Bảo” đã được phổ biến trước đây và sẽ được nhuận sắc và phổ biến). Phật ở đây là giác, tức là giác-ngộ, sáng-suốt, và thông hiểu mọi lẽ. Pháp là chánh, tức là điều chánh-đáng, trái với tà ngụy. Tăng là tịnh, tức là trong-sạch, thanh-tịnh, không bợn-nhơ. Đây là nói về nguyên-tắc phải theo. Tuy-nhiên, còn tùy mỗi chùa, mỗi nơi, và thói quen, người ta lễ Phật có khi 4 hay 5 lạy.

Trong trường-hợp cúng Phật, khi ta mặc đồ Âu-phục, nếu cảm thấy khó-khăn trong khi lạy, ta đứng nghiêm và vái ba vái trước bàn thờ Phật.

c. Ý-Nghĩa Của 4 Lạy và 4 VáiBốn lạy để cúng người quá-cố như ông bà, cha mẹ, và thánh-thần. Bốn lạy tượng-trưng cho tứ-thân phụ-mẫu, bốn phương (đông: thuộc dương, tây: thuộc âm, nam: thuộc dương, và bắc: thuộc âm), và tứ-tượng (Thái Dương,Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm). Nói chung, bốn lạy bao-gồm cả cõi âm lẫn cõi dương mà hồn ở trên trời và phách hay vía ở dưới đất nương vào đó để làm chỗ trú-ngụ.

Bốn vái dùng để cúng người quá-cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần, khi không thể áp-dụng thế lạy.

d.Ý-Nghĩa Của 5 Lạy và 5 VáiNgày xưa người ta lạy vua 5 lạy. Năm lạy tượng-trưng cho ngũ-hành (kim, mộc, thuỷ, hỏa, và thổ), vua tượng-trưng cho trung-cung tức là hành-thổ màu vàng đứng ở giữa. Còn có ý-kiến cho rằng 5 lạy tượng-trưng cho bốn phương (đông, tây, nam, bắc) và trung-ương, nơi nhà vua ngự. Ngày nay, trong lễ giỗ Tổ Hùng-Vương, quí-vị trong ban tế lễ thường lạy 5 lạy vì Tổ Hùng-Vương là vị vua khai-sáng giống nòi Việt.

Năm vái dùng để cúng Tổ khi không thể áp-dụng thế lạy vì quá đông người và không có đủ thì-giờ để mỗi người lạy 5 lạy.

IV Kết Luận

Phong tục có được là do thói quen mà mọi người đã chấp nhận, nhiều khi không giải thích được lý do tại sao lại như thế mà chỉ biết làm theo cho đúng thôi. Trong mỗi gia đình Việt Nam, dù theo đạo nào cũng vậy, chúng ta, con dân nước Việt, hãy cố gắng thiết lập một bàn thờ gia tiên. Có như thế, con cháu ta mới có cơ hội học hỏi cách thiết lập bàn thờ gia tiên, và hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng ra sao.

Thờ cúng là cách biểu thị lòng nhớ ơn tổ tiên cũng như lòng thương và hiếu thảo đối với ông bà cha mẹ. Đây là một truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Việt mà chúng ta cần phải duy trì.

 Khải-Chính Phạm Kim-Thư

(*) Góp ý thêm của TRANG CHỦ: Lời khấn vái là lời nói chuyện với người quá cố, do đó lời khấn là tấm lòng của người còn sống. thì muốn khấn sao cũng được. Tuy nhiên người xưa cũng đã đặt ra lễ khấn và lời khấn.

 Lễ khấn gồm các thủ tục như sau: (Chỉ nhớ đại khái mong quý vị cao niên dạy dỗ thêm cho để hiệu đính cho đúng để đời sau dùng)

1. Sau khi mâm cỗ đã đặt xong thì gia trưởng ăn mặc chỉnh tề (ngày xưa thì khăn đống áo dài) đi ra mở cửa chính. Ở xứ lạnh thì cũng phải ráng hé cửa chứ không đóng được cửa kín mít.

2. Sau đó phải khấn xin Thành Hoàng Thổ địa để họ không làm khó dễ Linh về hưởng lễ giỗ.

3. Và sau đây là một đoạn khấn theo lối xưa:

Duy .....quốc.....Tỉnh/Thị xa.... trang/gia tại... (số nhà). Việt lịch thứ 488..., thử nhật ... (ngày âm lịch) húy nhật  gia phụ/mẫu/Tằng tổ v.v. là Hiển khảo/Tỷ.. (tên) (cho đàn bà thì là hiển tỷ;  với ông nội ngọai thì thêm chữ tổ - hiển tổ khảo/tỷ), Hiếu tử/nữ/tôn v.v là (Tên) tâm thành kính cáo thành hoàng và thổ thần bản địa, tiền chủ tiếp dẫn gia phụ mẫu/cô di v.v. (Người được giỗ hôm nay) đồng cung thỉnh Cao tằng tổ khảo, cao tằng tổ tỷ, liệt vị tổ tiên, hiển tổ khảo, hiển tổ tỷ, cô di tỷ muội, nội ngoại đồng giai lâm, tọa ngự linh sàn chứng giám. Cẩn cáo.

61. Tục thờ cá voi ven biển Nam bộ

Cá voi đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống tâm linh của cư dân vùng biển Nam Bộ. Vì thế ở hầu hết các làng ven biển đều có tục thờ cá voi thậm chí, ngay cả những vùng nằm sâu trong đất liền cũng có lăng thờ loài cá này.

Theo Đại Nam nhất thống chí thì cá Voi được gọi là Đức Ngư. Cuốn sách này còn ghi rõ “Đức Ngư đầu tròn, nơi trán có lỗ phun nước ra, sắc đen trơn láng, không có vảy, đuôi có mảng như đuôi tôm, cá tánh từ thiện hay giải cứu cho người khi qua biển mắc cạn. Đầu niên hiệu Minh Mạng vua đặt cho tên là Nhân Ngư, đầu niên hiệu Tự Đức đổi lại tên này (Đức Ngư). Loại cá này trong Nam Hải thì linh, còn ở biển khác thì không linh”.

Nếu như các quốc gia ở phương Tây coi cá voi là một nguồn lợi lớn có giá trị kinh tế cao, thì các dân tộc ở vùng Đông Nam Á lại coi cá voi như linh vật, ân nhân cứu mạng của mình. Cá voi là một Phúc thần của biển cả mà họ luôn tôn kính và được dân gian thành kính gọi bằng nhiều danh xưng trang trọng như: ông Khơi, ông Lộng, ông Nam Hải...  và được các vua nhà Nguyễn sắc phong là Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Thượng Đẳng Thần. Cá voi ở vùng Đông Nam Á không hề bị giết hại, thậm chí ý thức bảo vệ cá voi còn được ngư dân nâng lên gần như là một phong tục một tín ngưỡng mà đa phần những người làm nghề biển đều phải tuân theo.

Cho đến nay, có rất nhiều truyền thuyết, giai thoại, truyện kể trong dân gian liên quan đến tục lệ thờ cá ông. Tục truyền rằng, cá voi là tiền thân của đức quan thế âm Bồ Tát đã có lần hóa thân để cứu khổ chúng sinh. Ngài hóa thân thành cá voi đi tuần du biển Nam Hải.

Một hôm, trên tòa sen nhìn lướt qua sóng gió đại dương, ngài không khỏi đau lòng khi thấy muôn vàn sinh linh gặp cơn phong ba bão táp phải bỏ mình vì giông tố, mà những nạn nhân đáng thương này chỉ là những ngư dân hiền lành lấy nghề đánh cá để nuôi thân. Trước cảnh tượng đau lòng đó, Bồ Tát liền cởi chiếc pháp y, xé tan thành từng mảnh nhỏ ném xuống mặt biển mênh mông.

Mỗi mảnh vụn theo nguyện ý của Bồ Tát đã biến thành một con cá voi với trách nhiệm cứu nguy đám ngư dân lâm nạn trước bão tố của Nam Hải đại dương. Kể từ đó, cá voi là ân nhân của đám thuyền chài sống trên biển cả.

Tuy nhiên, hình vóc cá voi lúc đó tương đối nhỏ không đủ sức chống chọi với sóng to gió lớn, do vậy đức Quan Thế Âm liền mượn bộ xương của ông Tượng (voi) trên rừng cho đàn cá, nhờ thế đàn cá mới đủ sức mạnh chống lại sức mạnh của đại dương. Cũng vì thế, đàn cá mang tên là cá voi (vì mượn xương voi và cũng vì to lớn như voi).

Với sức vóc to lớn, cá voi mặc sức vẫy vùng giữa biển cả và đương đầu với sóng to gió lớn, kèm giữ cho thuyền, ghe được thăng bằng, không bị tan vỡ trong bão tố, lại dìu cho ghe thuyền vào tận bờ biển. Tuy nhiên do to lớn nên chậm chạp, nhiều trường hợp biết có thuyền chài lâm nạn nhưng ở quá xa, cá voi cố sức bơi tới cũng không cứu kịp nạn nhân. Để giúp cho cá voi làm tròn nhiệm vụ cứu nạn của mình, Bồ Tát liền ban cho chúng phép thâu đường, dù ở bất cứ nơi nào cần đến đều có thể cứu kịp thời.

Một câu chuyện khác lại kể rằng: vào khoảng năm 1799, trong lúc Nguyễn Ánh bôn tẩu Tây Sơn, tìm đường chạy sang Xiêm thì gặp cơn bão lớn làm thuyền ông chao đảo. Đúng lúc ấy, có con cá voi đến nâng thuyền lên và đưa vào bờ nên ông mới thoát nạn. Vì lẽ đó, vào năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu là Gia Long, nhớ ơn cá ông đã cứu giúp mình nên mới sắc phong cho ông là Nam Hải Đại Tướng Quân.

Cho dù bắt nguồn từ truyền thuyết nào đi nữa, trong dân gian Nam Bộ, nhất là những ngư dân ven biển thì cá voi (còn gọi là cá ông) là một động vật linh thiêng thường xuyên cứu giúp những người gặp nạn trên biển. Ngư dân, mỗi khi ra khơi, nếu gặp chuyện gì bất trắc thì họ lập tức cầu "ông", mong “ông” đến cứu giúp. Họ cho rằng, lần nào “ông” cũng đến kịp thời để cứu vớt những người bị tai nạn trên biển và  khi gặp cá “ông” lụy (chết), dân làng biển coi như gặp điều lành, tin rằng sẽ được phù hộ.

Theo quy ước, người phát hiện “ông” lụy đầu tiên được xem là người được “ông” tín nhiệm, do đó được vinh hưởng chức trưởng nam, thay mặt dân làng chịu tang ông trong suốt 100 ngày. Khi phát hiện “ông” lụy, người ta tìm cách dìu xác “ông” vào bờ, và vạn trưởng huy động dân làng đưa ông lên bờ để làm lễ an táng. Trường hợp gặp phải xác cá ông quá lớn thì người ta dùng đăng quàng lại, cử người canh giữ cho đến khi thịt rã hết mới lấy bộ xương đưa lên lăng thờ.

Thời Nguyễn, còn có quy định, làng nào bắt gặp cá ông chết thì lý trưởng phải trình lên phủ, huyện để quan cho lính về khám định, cấp tiền tuất, hương đèn, vải đỏ quấn đủ 7 vòng và cho khâm liệm, cấp đất xây lăng và ruộng hương hỏa để thờ. Nghi thức tang chế hoàn toàn dựa vào “Thọ Mai Gia Lễ”, rất long trọng tuy có rút gọn hơn so với lễ tang người. Sau đó, đủ ba năm thì cải táng, lấy xương xếp vào quách, khạp đưa vào lăng đã xây sẵn để thờ. Lăng ông có người trông coi, hương khói, có một hội đồng quản lý lăng.

Ngày lễ cúng ông diễn ra giữa các nơi không đồng nhất, điều này phụ thuộc vào ngày cá ông lụy. Hễ cá ông lụy vào ngày nào thì người ta lấy ngày đó làm ngày cúng. Nhưng thông thường, cá ông thường lụy vào những tháng có biển động, có gió bão nhiều. Vì vậy, ở Bình Đại, Bến Tre thì lấy ngày 16/6 âm lịch để cúng còn ở Sông Đốc, Cà Mau lấy các ngày 14, 15, 16 tháng 2 âm lịch; Cầu Ngang, Trà Vinh thì cúng vào ngày 10,11,12 tháng 5 âm lịch.

Lễ cũng tổ chức quy mô lớn hay nhỏ cũng phụ thuộc vào tình hình kinh tế của từng địa phương. Năm nào, địa phương nào làm ăn khấm khá, đi biển đánh bắt được nhiều cá tôm... thì năm đó địa phương đó sẽ cúng lớn, còn ngược lại thì cúng nhỏ. Duy có điều, vật phẩm dùng để cúng trong ngày lễ này thì gần như không có sự khác biệt lớn giữa các địa phương.

Về cơ bản, nghi thức cúng cá ông không khác mấy so với nghi thức cúng ở đình làng,  gồm nhiều nghi lễ và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Thông thường thì, lễ hội nghinh ông được bắt đầu từ lúc rạng sáng. Một đoàn thuyền được chuẩn bị sẵn để ra khơi. Hằng trăm chiếc tàu đánh cá của ngư dân trong và ngoài tỉnh được trang trí cờ hoa, neo đậu ken đặc dưới bến sông. Mặc dù vậy, các ghe này đều đậu một cách rất trật tự, có hàng có lối và trông rất đẹp mắt. Đi đầu là chiếc ghe chính có trọng tải lớn, chủ lễ trực tiếp rước lư hương lên tàu. Tàu được trang trí rất công phu, lộng lẫy và lớn nhất. Có khi người ta kết từ ba chiếc tàu lại. Trên tàu có kết hoa, treo cờ, có bàn hương án và bài vị thủy tướng, có trang bị dàn nhạc ngũ âm và một số người biết hát múa ăn mặc chỉnh tề, hướng thẳng ra biển.

Ra tới cửa biển, nhiều tàu khác tiếp tục được nhập vào đoàn diễu hành. Hàng trăm đến hàng ngàn tàu đủ mọi kích cỡ, công suất, kiểu trang trí tạo ra một khung cảnh đầy màu sắc sống động cả một vùng cửa biển rộng lớn. Tiếng sóng nước, tiếng động cơ ầm ầm vang xa. Hàng ngàn người đủ mọi sắc áo đứng ngồi trên boong tàu vẫy cờ hoa lung linh trong cảnh non nước mây trời xanh ngắt pha lẫn khói tàu lan tỏa trên mặt biển. Trong khi đó, ở trên bờ, tiếng kèn, tiếng trống, tiếng nhạc nổi lên rộn rã.

Trên đường diễu hành, nếu gặp cá ông phun nước (ông dọi) thì đoàn tàu quay trở về ngay. Nếu không gặp thì đoàn tàu tiếp tục ra khơi, khi ra đến địa điểm đã định thì dừng lại. Vị chủ lễ mặc áo dài đen, chít khăn, chân đi hài, ra lệnh gióng ba hồi trống, rồi làm lễ dâng hương, dâng rượu, đọc sớ cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, biển nhiều tôm cá, sau đó làm lễ xin keo rước ông về. Tại lăng sẽ tiếp tục diễn ra các nghi lễ cúng bái đến tận khuya.

Tiếp theo là lễ cúng tiền hiền, hậu hiền, có đọc văn tế, có tổ chức học trò lễ dâng hương, và thức cúng làm từ thịt gia súc, gia cầm là chính. Lễ chánh tế bắt đầu từ 24 h cùng ngày. Thức cúng thường là một con heo trắng, hai mâm xôi đắp cao, có cả rượu và trà, có học trò lễ dâng hương và dàn ngũ âm tấu nhạc.

Trong khoảnh khắc này, khoảng cách giữa thần linh và đời sống dân dã dường như không còn nữa. Tục thờ cá ông của cư dân Nam bộ là một đạo lý cổ truyền, thấm đượm tính nhân văn của dân tộc. Và lễ hội nghinh ông chính là dịp để thỏa mãn nhu cầu đền ơn, đáp nghĩa của cư dân vùng biển đối với đấng cứu nhân độ thế, được con người tôn sùng và biết ơn.

63. Kéo lửa thổi cơm thi - Trò chơi dân gian đánh thức truyền thốngMụ Thố của người Mường

Những người con của vùng đất Mường Bi, thời thơ ấu, bố, mế thường kể cho họ nghe về áng mo “Đẻ đất, Đẻ nước”... được đắm mình vào các ngày hội của bản, của Mường. Họ không bao giờ quên không khí thành kính đầy ý nghĩa của lễ vía mụ Thố.

Một lễ nghi chỉ được tổ chức cho người già lúc ốm đau bệnh tật. Gia đình sợ vía của người già đi xa mất, mọi người tổ chức làm vía cho người già để cầu mong sức khoẻ. Trở về với Mường Bi hôm nay, một lần nữa tôi được hoà mình vào nghi lễ trang trọng này. 

Bao giờ cũng vậy, trước khi tổ chức lễ vía mụ Thố, mỗi một gia đình người Mường thường nhờ ông Mo chọn ngày lành tháng tốt để làm vía. Ngày lành tháng tốt đến người con dâu cả trong gia đình đội nón chống gậy cầm ớp khọ đi xin gạo, xin vải của hàng xóm. Số gia đình người con dâu vào xin gạo tương ứng với thứ tự ngày hôm đó.

Nếu là ngày mùng 3 cô đi xin gạo vào 3 nhà, ngày mùng 5 sẽ vào 5 nhà. Lúc này, người con dâu không khác gì ăn xin, song dù ít nhiều không quan trọng, điều quan trọng hơn cả là sự đùm bọc thương yêu nhau của xóm giềng đối với người già. 

 Cùng lúc đó, người con trai trưởng trong gia đình là chồng cô đi vào rừng tìm cây si mọc ở nơi cao ráo đem về. Trong nghi lễ này không thể thiếu cành si bởi trong đời sống tâm linh của đồng bào Mường hình tượng cây si được tôn vinh như một vị thần có sức sống kỳ diệu.

 Và theo quan niệm của đồng bào, cây si truyền sức sống mạnh mẽ kỳ diệu cho những người cao tuổi để họ luôn có sức khoẻ không gặp ốm đau bệnh tật sống lâu trăm tuổi.

 Đối với người Mường, bữa ăn thường ngày rất đơn giản, đạm bạc, nhưng bất kỳ ngày lễ, Tết hay nhà có công có việc, mâm cỗ được chuẩn bị khá tỉ mỉ. Khi  những tia nắng cuối ngày khuất dần sau núi cũng là lúc gia đình tổ chức lễ Mụ Thố. 

Ngay trong lễ mụ Thố, điều nhận thấy đó là công việc bếp núc cỗ bàn hầu hết do người đàn ông đảm nhận. Đây cũng là thói quen lâu đời của người Mường. Còn người phụ nữ chỉ đảm nhận tiệc chay trong buổi lễ. Đồ xôi, gói bánh, từ hái rau hay ở  vóng trong phụ giúp. 

Nhận được lời mời họ hàng thân thích, anh em hàng xóm mang theo một gói cơm hoặc một bát gạo, một chai rượu đến với ý nghĩa để góp lễ mời vía người ốm ăn gọi là làm “cấp”. Cỗ cúng trong ngày lễ mụ Thố thường được sắp đặt 5 mâm. Trên các mâm cúng đều có xôi, rượu, vải, tiền đặt lễ, đồ chay. Thế nhưng trong 5 mâm thờ đó, mỗi mâm thời vị thần khác nhau. Mâm đầu tiên có một cái vai lợn đùi trước, một lá thịt đầu thăm, đĩa muối và bát nước canh Mâm này dâng lên tổ tiên ông mo. Mâm thứ 2 thờ ông hộ gốc kéo si, bà hộ lộc kéo sang. Hai vị này ngự ở cửa liền đến Nam Chu nơi đình chân vua Pán quán vua trời. Mâm thứ 3 thờ ông Kem cầm sổ trạng, mâm thứ tư thờ vua Pua sang nàng mụ thêm già.

Hai vị này ngự tại vòm si hoa, cành si thơm, bờm si ngọt. Mâm thứ năm thờ hai Pua sang nàng mụ, vị này cũng ngự tại vòm si hoa, cành si thơm, bờm si ngọt. Mâm cỗ đặt thứ tự từ ngoài vào trong ở vị trí trang trọng nhất trên sàn. Bên cạnh các mâm cúng là 1 cái rá đựng cành si và các vật dụng làm lễ khác như cuốc, nón, quần áo. 

Trong đời sống tinh thần của đồng bào Mường, thầy Mo có vai trò hết sức quan trọng. Ông là nhân vật có quyền năng thông quan với thế giới thần linh. Vì thế một trong những người không thể thiếu trong lễ mụ Thố là ông Mo. Khi các mâm cỗ đã sắp đặt đầy đủ, thay mặt cho gia đình, thầy mo khăn áo chỉnh tề thắp hương rồi khấn.

Phải năm trời không thuận, đất không lành, người già ốm lắm đau nhiều, hôm nay họ hàng con cháu có lòng đức, lòng đạo, lòng thảo, lòng nhân, soạn lên mâm vía lễ mụ thố, cầu mong giữ vía cho người già mạnh khoẻ trở lại, sống xa già lâu cùng con cháu họ hàng”. Sau khi trình bày lý do xong, ông mo tiếp tục khấn để mời mụ thố về.

Dân gian tương truyền, nhà mụ trú ở gốc cây si trên trời cao nên thầy mo phải lên trời đi tìm mụ về. Dâng đủ 10 “thông” cơm chay, 10 “thông” cơm rượu. Con cháu ngồi dưới vái lạy mời các thần và mụ thố. Sau đó, thầy Mo gieo quẻ âm dương. Khi công việc thuận lợi, bà mụ xuống chứng giám, ông Mo thay mặt bà mụ đội nón tay cầm mảnh vải viết lên sổ trạng xin được thêm số, thêm phận cho người già đang đau ốm. 

Viết sổ trạng xong, người nhà một sợi dây được buộc vào cành si để tiến hành nghi lễ kéo si, đây là nghi lễ quan trọng nhất trong buổi lễ này. Trước khi kéo, ông Mo tiếp tục khấn. Con cháu ở đâu hãy lại đây! Cầm dây kéo cây si dậy. Cho hồn người mạnh mẽ trở lại, để người sống lâu nghìn năm trăm tuổi. Buổi nào cây si đổ, người mới đổ.

Chỗ nào cây si héo người mới héo. Con cháu hỡi, con cháu hà, ta cùng kéo cây si dậy! Để cây si mãi chắc gốc bân cành. Để người sống lâu ngàn năm. Để người sống lâu trăm tuổi. Dậy dậy si hỡi! Dậy dậy si hà. Lúc này con cháu cùng xúm vào cùng kéo, mỗi nhịp kéo mọi người lại đồng thanh “ hò....hơ” cho đến khi cây si dựng vưng chắc mới thội. 

Cây si được dựng lên vững chắc, ai nấy trong gia đình cảm thấy trong lòng  thư thái. Người già trong nhà thì cảm thấy yên lòng, yên dạ, tinh thần sảng khoái như được tăng hêm sinh lực. Làm lễ xong ông Mo tuyên bố kéo si đã lành, xanh lá gốc, lá ngọn con cháu hãy cùng mời ông bà uống rượu, ăn uống no say. Con cháu bê mâm cơm vía đến cho người già ăn gọi là ăn lấy vía. 

Trong không khí hân hoan của bà con và gia đình làm lễ, ông Mo cho phép mọi người ăn cơm, uống rượu cần để hưởng phúc, hưởng  lộc của thần linh. Không ồn ào, náo nhiệt như những lễ hội khác, lễ vía mụ Thố gần gũi với đời sống tâm linh của người Mường. Ngày nay, nghi lễ này vẫn được tổ chức ở khắp các bản mường khi gia đình nào có người già yếu. 

Được đắm mình vào lễ mụ, tôi càng hiểu thêm tâm hồn và lẽ sống của đồng bào Mường. Nghi lễ này còn thể hiện sự gắn kết hoà đồng giữa thiên nhiên và con người. Con người vun đắp cho cuộc sống, thiên nhiên thêm tươi, thêm đẹp. Thiên nhiên tạo ra môi trường sống trong lành cho con người.

63. Tùy theo PTTQ của từng địa phương, cuộc thi kéo lửa thổi cơm có nhiều kiểu thi khác nhau. Cổ Loa là 1 ví dụ về sự khác biệt này.

Trò thổi cơm thi phản ánh đậm nét đời sống lao động của cư dân trồng lúa ở Việt Nam. Tùy theo tập quán của từng địa phương, trò thổi cơm thi được tiến hành ở mỗi nơi một khác, nhưng nó không chỉ là một trò chơi giải trí trong dịp lễ hội. Sản phẩm đoạt giải của cuộc nấu cơm thi được coi là vật phẩm quý giá để cúng thần linh.

Tất nhiên, muốn có cơm thì phải có gạo và phải biết nấu, biết thổi. Dù không khó khăn lắm, nhưng nếu không học hỏi, tập luyện thì cũng không thể nấu cơm ngon. Do vậy, trò "thổi cơm thi" đã xuất hiện khá nhiều trong các hội làng ở những vùng có đông cư dân trồng lúa. Trò thổi cơm thi cũng đã được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Người thì bảo thổi cơm thi là để có cơm nhanh cho binh sĩ kịp ăn trước khi lên đường ra trận. Người thì nói thổi cơm thi là một trò vui giải trí trong ngày hội.

Tuy nhiên, với cách nhìn của nhà nông, người ta vẫn có thể nói rằng, thổi cơm thi là một trò diễn nhằm thể hiện lòng quý trọng lúa gạo, trau dồi thao tác chế biến một sản phẩm nông nghiệp quan trọng bậc nhất do chính tay họ làm ra.

Tùy theo phong tục tập quán của từng địa phương mà trò thổi cơm thi được tiến hành ở mỗi nơi một khác. Nơi thì tổ chức giữa sân đình, nơi thì thi thổi trên thuyền ở giữa hồ nước, nơi thì phải tự kéo lửa, nơi thì vừa kết hợp làm thêm việc khác... Nhưng dù tổ chức ở đâu và cách thức như thế nào thì cũng phải đảm bảo tiêu chuẩn: nhanh và thật ngon, bất luận trong hoàn cảnh nào

64. Người Văn Hán ăn Tết lại

Xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên có tục ăn tết lại, đây là phong tục lưu truyền lâu năm tại Văn Hán và cho đến nay, tập tục này vẫn được nhân dân thực hiên đều đặn hàng năm.

Tục ăn Tết lại của người Văn Hán là một nét văn hóa đẹp bắt nguồn từ câu chuyện lịch sử: Theo Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái, trước khi tiến đánh vào giải phóng Thăng Long, vua Quang Trung đã mở tiệc khao quân ở đền Tam Điệp. Hôm đó là ngày 30 Tết (25/1/1789) Kỷ Dậu. Rồi nhà vua bảo kín với các tướng rằng: "Ta với các ngươi hãy tạm sửa lễ ăn Tết Nguyên Đán trước đã. Hẹn đến năm mới, mồng 7, thì vào thành Thăng Long, sẽ mở tiệc lớn. Các ngươi hãy ghi nhớ lời ta xem có đúng không?" Nhưng chỉ đến ngày mồng 5 Tết, vua Quang Trung đã tiến quân vào thành, giải phóng kinh đô.
Trước đó, dân thành Thăng Long đã chuẩn bị ăn Tết với đầy đủ các thứ vật phẩm. Nhưng do phải chạy giặc Thanh, họ chỉ đem được rất ít, còn bánh chưng, phần lớn phải vứt xuống ao. Khi kinh thành được giải phóng, họ trở về và thử vớt bánh lên, thấy vẫn còn thơm ngon. Thì ra, tiết trời lạnh, nước ao lạnh nên bánh không bị hư hỏng. Dân chúng cảm tạ thần linh đã giúp vua Quang Trung giải phóng kinh đô, cho họ được mở tiệc ăn Tết tại nhà.
Từ đó, ở nhiều nơi, nhiều nhà giữ lại cách thức ngâm bánh chưng xuống ao, xuống giếng nước, sau vớt lên "ăn Tết lại". Hoặc tiện hơn là gói đợt bánh khác để ăn tới tận rằm tháng giêng, có khi tới tận cuối tháng giêng, gọi là tục "ăn Tết lại".

65. Tết Nguyên Tiêu – đêm trăng tròn đầu tiên trong năm

Chỉ còn vài ngày nữa là Tết Nguyên Tiêu lại đến, đây là một lễ hội rất lớn của người Hoa trên khắp đất nước Việt Nam cũng như trên toàn thế giới. Theo truyền thuyết thì lễ hội này bắt đầu từ thời nhà Hán bên Trung Hoa nhưng mãi đến đời nhà Đường mới phổ biến rộng rãi trong dân gian.

Người Hoa thường gọi ngày Tết Nguyên Tiêu là ngày đoàn viên, Tết Thượng Nguyên -  đêm trăng tròn đầu tiên trong năm, còn người Việt quen gọi là rằm tháng Giêng. Vào ngày này trên địa bàn sinh sống của người Hoa (Chợ Lớn, Hội An, Bạc Liêu, Bình Dương...) sẽ tổ chức hội hoa đăng, múa lân sư rồng và cùng nhiều tiết mục dân gian truyền thống như đi cà kheo, hát hồ quảng, múa hẩu, biểu diễn võ thuật,.. Trên khắp mọi nẻo đường và  trước mọi cổng nhà người dân sẽ treo đèn lồng đỏ. Cha mẹ, con cái sẽ đi lễ chùa cầu bình an trong năm mới và quây quần bên nhau ăn bánh tro tàu - một món ăn truyền thống dành riêng cho ngày này.

Tại thành phố HCM, đèn lồng sẽ được treo bắt đầu từ đường Nguyễn Trãi đến Lương Nhữ Học, Hải Thượng Lãn Ông, Châu Văn Liêm, Trang Tử...Du khách có thể đến tham dự Tết Nguyên Tiêu tại Hội quán Nghĩa An (chùa Ông) trên đường Nguyễn Trãi, chùa ông Bổn (Nhị Phủ Miếu) trên đường Hải Thượng Lãn Ông và lễ hội đường phố diễn ra trên đường Lê Duẩn, công viên 30/4 - trước dinh Thống Nhất. Tại Bình Dương có chùa Bà Thiên Hậu, tại Hội An lễ hội được tổ chức tại hội quán Quảng Đông trên đường Trần Phú và hội quán Triều Châu trên đường Nguyễn Duy Hiệu.

66. Báo Bản - Một phong tục tập quán đẹp vùng chân quê

Xã Yên Từ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình là xã có phong tục Báo Bản. Thôn Nộn Khê, một trong 6 thôn của xã Yên Từ là chốn chân quê, nơi giữ gìn lâu đời phong tục đẹp này. Nộn Khê hình thành làng từ thời Lê-Hồng Đức, cách đây đã hơn 500 năm. Làng có 8 họ chính: Bùi, Đinh, Phạm, Cao, Mai, Lê, Trần, Nguyễn. Quá trình xây dựng và phát triển, 8 họ chính trên đã mở ra nhiều chi, hiện nay có đến 26 dòng họ.

Tục lệ Báo Bản hình thành từ lâu và được phát huy cho đến ngày nay, mà trong thời đổi mới này tục lệ đẹp càng thêm phong phú, đa dạng. Báo là báo công, báo những việc đã làm trong năm qua, bản là gốc. Vậy Báo Bản là tổ chức một cuộc lễ hội để nhớ về nguồn gốc, nhớ về tổ tiên, những người đã có công lao xây dựng làng xóm ngày nay và sự đóng góp của lớp con cháu sau này. Ngày Báo Bản là ngày hội tụ của con cháu, của tất cả các dòng họ đang công tác, học tập, lao động từ "bốn phương" về. Nhiều người từ phía Nam, đông nhất là ở TP.Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh ở phía Bắc, đến ngày Báo Bản là rủ nhau về quê dự lễ hội. Ca dao về ngày này được lớp lớp cháu con thuộc lòng:

Dù ai muôn nẻo đó đây
Mười tư tháng Một là ngày hội quê
Dù ăn buôn bán trăm nghề
Nhớ ngày Báo Bản, ta về quê ta
Đúng ngày 14 tháng Giêng âm lịch, sau Tết, không khí mùa xuân còn đậm nét, làng tổ chức lễ hội. Đầu tiên là cuộc rước kiệu, những cỗ Bát cống, Long đình được đặt trên vai các công dân trẻ của làng, trong tiếng trống cái và điệu nhạc du dương của phường bát âm, kiệu được rước quanh làng rồi trở về đình. Một cụ già có uy tín, mũ áo chỉnh tề, hướng lên nơi thờ tổ tiên, trong ánh sáng của các cây nến và hương thơm của những cây nhang trầm, trịnh trọng, dõng dạc đọc bài văn tế. Bài văn tế được soạn công phu, nói về công ơn của tổ tiên và việc xây dựng làm xóm trong thời đại mới, những tiến bộ, những thành tích của dân làng, những nét đẹp trong tình làng nghĩa xóm, trong việc sản xuất và học hành và xin hứa với người xưa là luôn vun đắp cho cái gốc được muôn đời bền vững.
Sau lễ là tổ chức yến lão, mừng các cụ vào tuổi thọ đáng kính, từ 60 tuổi trở lên. Các xóm đứng ra cáng đáng việc này. Không tổ chức ăn uống, mà làm lễ dâng hương, đọc thơ chúc mừng. Cụ Bùi Văn Mược, một cán bộ cấp úy của quân đội, vừa vào tuổi "xưa nay hiếm", vui vẻ nói với tôi:
- Sống trong chế độ mới, ở nông thôn, môi trường thoáng đãng, con cháu phụng dưỡng chu đáo, lại được thảnh thơi về tinh thần, nên tuổi thọ của các cụ ở Nộn Khê khá cao. Đến đầu xuân 1998 này, Nộn Khê có hơn 500 cụ đã qua tuổi 60, hơn 200 cụ từ 70 đến 79 tuổi; 80 cụ từ 80 trở lên. Bà cụ Đinh Thị Vi, thọ đến 102 tuổi, vừa qua đời tháng 4/1998. Năm nay, lễ Báo Bản có 5 ô tô chở đầy con cháu các nơi về, trong đó có TP.Hồ Chí Minh, Thanh Hóa, Hà Nội, Nam Định.

Nộn Khê còn một nét đẹp này: thôn có chùa lại có nhà thờ, bà con theo đạo Phật, đạo Công giáo và nhiều người không theo đạo nào nhưng tất cả vẫn đoàn kết, giúp đỡ nhau trong sản xuất, dựng xây, học hành. Làng này, việc trị an được đảm bảo, nghề phụ phát triển, đan lát, thêu ren, cây cảnh và đặc biệt, việc học hành của các cháu được mọi người chăm lo.
Qua chuyện trò với bác Bùi Văn Mược và gặp mấy cụ cùng mấy anh cán bộ, tôi được biết, Nộn Khê có truyền thống về học hành. Thời xưa, Nộn Khê có 53 cử nhân và tú tài. Sau Cách mạng tháng 8-1945, làng này có một tiến sĩ, 6 phó tiến sĩ, 132 thạc sĩ và cử nhân. Năm 1997, Nộn Khê có 10 học sinh thi đỗ vào các trường đại học. Đến mấy xóm nhỏ, tôi được các cụ đọc cho nghe một câu đối khá hay:
Bách niên văn vật thanh danh địa
Tứ giáp nay y quan lễ nhạc đình
Đã hàng trăm năm, đất này nổi tiếng là nơi văn vật.

67. Kỵ nhật

Ngày giỗ cụ kỵ, ông bà, cha mẹ gọi là ngày kỵ nhật. Chiều hôm trước là cúng tiên thường, hôm sau mới là ngày chính kỵ. Cái giỗ xa (cụ kỵ ông bà) thì sắm sửa con gà, ván xôi hoặc một vài mâm cỗ, trước cúng gia tiên, sau con cháu sum họp ăn uống với nhau. Còn về ngày giỗ cha mẹ thì tục thường làm phong hơn.
Trong khi giỗ, dẫu làm lớn nhỏ thế nào mặc lòng, nhưng tất làm sao phải có bát cơm úp vào một quả chứng luộc làm đầu. Cỗ bàn thì tuỳ nhà giàu, nghèo mà sử phong kiệm khác nhau. Nhiều nhà mời bà con khách khứa. Bà con khách khứa người thì mang chè, cau, rượu, người thì đem vàng hương đến lễ giỗ, rồi mới uống rượu.
Nhà hào trưởng trong làng, có khi cả làng đến ăn giỗ, nhà ông thầy dạy nhiều học trò, thì cả học trò đến ăn giỗ, nhà quan trưởng thì thường cả tổng lý phủ huyện đến lễ giỗ, ăn uống phiền phí lắm.
Có nơi, nhiều hôm cúng tiên thường, bà con đã đến chơi đông, uống rượu xong thì dở ra bài bạc thuốc phiện, lấy tiếng rằng ở lại chầu chực gia tiên mà bày ra cuộc vui vẻ. Sáng hôm sau uống một bữa rượu chính kỵ nữa mới tan.
Nhớ kỵ nhật tiền nhân mà cúng cấp cũng là một bụng tốt. Nhưng nguyên ý lúc người mới chế lễ ra, chẳng qua dùng cách ấy để tỏ lòng nhớ tiền nhân là người sinh mình, người gây dựng nên cơ nghiệp cho mình, là một ý bất vong bản mà thôi. Chớ không dùng cách ấy để làm sự vui vẻ làm cách giao thiệp với đời. Kỳ thủy ta không phải là không hiểu ý ấy, nhưng chắc vì cớ mấy người trước muốn nhân dịp nhà mình có sẵn cỗ bàn cúng cấp mà muốn hội mặt bà con anh em. Hoặc vì bà con anh em, cùng người gia hạ, nhớ đến ân tình của ông cha mình, hay là ví nể mình và đến lễ kỵ, mình có lẽ nào vong tình được mà chẳng khoản đãi. Vì thế thành tục, rồi nhiều người phải miễn cưỡng mà theo tục, té ra phần nhớ đến tiên nhân thì ít, mà phần lo về khoản đãi bà con khách khứa thì nhiều.
Đã đành cho rằng có thì mâm cao cỗ đầy, chẳng có thì lưng cơm cái trứng, cũng đủ tỏ chút lòng thành, nhưng ngặt vì tục đã quen, không cố mà lo được thì người ta chê là bủn xỉn, mà trong lòng mình cũng áy náy không đành!
Ngày kỵ, là một ngày chung thân chi tang, là ngày thương xót, ngày rầu buồn, đáng lẽ chỉ nên đóng cửa mà thương nhớ mới phải. Mà dẫu có theo tục dùng cách cúng tế làm sự kỷ niệm thì làm thế nào cho giản tiện, miễn là tỏ chút lòng với tổ tiên là đủ, tưởng không nên bày vẽ cho sinh tốn làm gì. Nếu có của mà muốn họp mặt bà con anh em, khoản đãi khách khứa thì tưởng nên dùng vào những dịp ăn mừng còn phải hơn.
Xét như tục Âu châu, nhớ ngày huý nhật, con cái chỉ đem bó hoa ra mả là cùng.
Tục Nhật Bản cũng chuộng sự tế tự, nhưng đến ngày huý nhật, con cháu chỉ đem hương hoa dưng cúng mà thôi.
Xem như tục các nước văn minh ấy, tuy rằng thanh đạm nhưng thực đủ tỏ lòng thành kính, mà lại giữ được tiền của để dùng vào việc đáng dùng.

69. Tết Việt và những tập tục từ ngàn xưa

Tết Nguyên Đán của người Kinh là một sự kết hợp hài hoà các nghi lễ cúng bái của Phật Giáo Bắc Tông và đạo ông bà. Tuỳ theo mỗi gia đình và theo thời gian mà các nghi lễ ấy dần thay đổi và gia giảm ít nhiều nhưng tựu chung thì tất cả đều được tổ chức dựa theo âm lịch.

Sự kiện đầu tiên chính thức báo hiệu mùa Tết Nguyên Đán bắt đầu là lễ tiễn đưa ông Táo về Trời vào ngày 23 tháng Chạp hàng năm. Ắt nghĩ người Việt ta từ Bắc chí Nam đã không còn lạ lẫm với hình ảnh ông Táo cưỡi cá chép bay về Trời để chầu Ngọc Hoàng và báo cáo tình hình năm vừa qua của gia chủ. Do vậy, ngoài bánh thèo lèo và giấy tiền vàng mã cúng ông Táo thì không thể thiếu đôi cá chép. Sau khi cúng xong, cá được phóng sanh nhằm góp thêm nét đẹp ngày Tết - nét đẹp của lòng từ bi.

Ngày 24 tiếp theo được xem là lễ tảo mộ. Vào ngày này, con cháu mua giấy tiền cùng xôi thịt, bánh trái lên cúng mộ ông bà đồng thời phát quang rẫy cỏ, dọn dẹp khu mộ cho tươm tất và sạch sẽ trước thềm năm mới.

Ngày 25 là lễ cúng đưa chư thiên về Trời như thần tài thổ địa, mẹ sanh mẹ độ, đức quan công...Tuỳ theo mỗi nhà, nhà nào thờ thần nào thì sẽ mua bộ giấy tiền vàng mã tương ứng để cúng.

Tiếp đó, trưa 30, khi mọi công đoạn dọn dẹp chuẩn bị đón Tết gần như hoàn thành thì đồng thời mỗi nhà phải bày biện một mâm cơm cho lễ rước. Trước là rước chư thiên về ngự trong năm mới, bao gồm cả ông Táo, Thần Tài Thổ Địa...sau là rước ông bà về sum họp cùng con cháu đón giao thừa và lưu lại dương gian trong 3 ngày Tết. Có thể nói, đêm 30, đêm giao thừa hay còn gọi là đêm trừ tịch là thời khắc chuyển giao thiêng liêng nhất của Tết Nguyên Đán. Khi ấy, con người bỏ lại sau lưng những buồn vui ngày cũ, hồ hởi và hy vọng một năm mới đủ đầy sung túc. Đó cũng là tinh thần "tống cựu nghênh tân" lạc quan trong mùa Tết cổ truyền

Tuần tự sau đó, từ mồng một đến mồng 10 có các nghi lễ cúng kiến như:

 Sáng mồng 1 cúng Trời Phật.

- Mồng 2 cúng người khuất mặt khuất mày trong cửa trong nhà.

- Mồng 3 cúng ra mắt quan hành quân hành khiển. Ngoài ra trong cả ba ngày Tết, theo đúng tục lệ thì phải cúng cơm cửu quyền thất tổ, tức ông bà tổ tiên trong gia đạo, riêng ngày mồng 3, lễ cúng cơm cũng chính là lễ tiễn đưa ông bà trở lại Trời, chỉ khi dịp giỗ hoặc đến trưa 30 cuối năm mới lại đón ông bà về.

- Mùng 6 vía Thần Tài

- Mùng 8 cúng Sao Hội Nhị Thập Bát Tú

- Mùng 9 vía Ngọc Hoàng

- Mùng 10 cúng Thổ Địa Đất Đai và chính thức khép lại mùa Tết Nguyên Đán.

Có thể nói, phong tục cúng kiến là một phong tục đẹp không thể thiếu trong ngày Tết. Nó nhắc nhở chúng ta rằng Tết không của riêng ai mà còn là mối dây gắn kết giữa người với người, giữa con cháu với tổ tiên, người đang sống cũng như người đã khuất, là sự tương thích tâm linh giữa con người với tín ngưỡng của họ, bởi một điều đơn giản: cả đất trời vũ trụ như sống dậy trong thời khắc chuyển giao thiêng liêng, giữa khởi thủy và tận cùng đó.

69. Đi tìm lời chúc đầu năm

Theo tục xưa, những gì xuất hiện vào đầu năm sẽ ảnh hưởng đến cả năm. Vì vậy, trong những ngày đầu xuân ai cũng chọn cho mình bộ quần áo "bảnh" nhất, tìm cho được những lời chúc tốt đẹp nhất để gửi đến những người mình thương yêu, quý trọng. Những lời chúc ấy tập trung chủ yếu vào tuổi thọ, tiền tài, danh vọng, hạnh phúc... Mỗi lời chúc thể hiện một ước mơ và đâu là ước mơ đáng để mơ nhất?

Sống lâu trăm tuổi

Sống lâu trăm tuổi là một ước mơ của người xưa khi tuổi thọ con người chỉ ở khoảng 45 - 50 năm. Ngày nay, nhờ tiến bộ của khoa học, tuổi thọ con người đang ngày càng tăng.

Theo quan niệm ở Tổ chức Y tế thế giới (WHO): dưới 65 được xếp vào "lứa" trung niên, từ 65 đến 74 được gọi là cao tuổi, từ 75 - 90 mới bị gọi là già; còn lão niên phải từ 90 - 120. Như vậy, có lẽ bài hát "60 năm cuộc đời" của NS Y Vân sẽ phải được điều chỉnh lại! Tuy nhiên, đa số các cụ khi đã thọ lại phát hiện ra rằng, tuổi thọ không phải là tất cả. Có ai vui khi thọ đến 100 tuổi trong tư thế... "ngọa triều"? Như vậy, chất lượng sống tốt mới là "chỉ tiêu" cần "phấn đấu".Theo giáo sư Hồng Chiêu Quang, chuyên gia nổi tiếng của Trung Quốc về bệnh tim mạch và sức khỏe người cao tuổi, thì những sinh hoạt hằng ngày có khả năng làm chất lượng cuộc sống trở nên kém đi, thậm chí làm người ta đoản thọ. Trong cuốn sách Hãy là bác sĩ của chính mình, giáo sư Hồng hướng dẫn: Về ăn uống, hằng ngày, uống một ly sữa bò hay hay ly sữa đậu nành để không thiếu canxi; ăn một lượng chất bột vừa phải từ một đến hai bát cơm (tùy công việc nặng hay nhẹ), 100g thịt hay 200g cá, hoặc 200g đậu phụ, ăn 500g rau xanh và quả chín, không ăn no.

Lưu ý ăn các chất có màu: đỏ (cà chua), vàng (cà rốt), xanh (lá chè xanh), trắng (bột yến mạch), đen (nấm mộc nhĩ) để tăng cường hệ miễn dịch, phòng bệnh. Vận động vừa sức tốt nhất là đi bộ, mỗi tuần đi bộ khoảng năm lần, mỗi lần độ 3km, khoảng 30 phút. Đi bộ giúp cơ thể không dự trữ mỡ, máu huyết lưu thông. Nếu lỡ kết tình thâm giao với thuốc lá và rượu thì nên "nói lời chia tay" càng sớm càng tốt.Như vậy, lời chúc sống lâu trăm tuổi chưa đủ nên chưa thể là lời chúc hay!

Tiền vô như nước...

Đây là lời chúc rất hình tượng đang khá phổ biến trong thời buổi thị trường. Thậm chí "cư dân mạng" trong những lúc nhàn tản còn đem mãnh lực đồng tiền ra làm đề tài để... "phẫu thuật", lý luận đại loại như: Tiền là tiên là phật/ Là sức bật của lò xo/ Là thước đo lòng người/ Là tiếng cười tuổi trẻ/ Là sức khỏe tuổi già/ Là cái đà danh vọng/ Là cái lọng che thân/ Là cán cân công lý...

Chúng tôi đã thử làm một cuộc phỏng vấn bỏ túi, đối tượng là các chị phụ nữ có cuộc sống khá giả về vấn đề này. Trả lời câu hỏi: "Người phụ nữ trong gia đình mơ ước điều gì?", đa số các chị cho rằng nếu được lựa chọn giữa một cuộc sống giản dị bên chồng con và một cuộc sống giàu có nhưng vò võ một mình thì các chị sẽ chọn ngay cuộc sống giản dị. Không ai dại gì ôm một đống tiền, nhưng lại đánh mất những thứ thật sự không mua được bằng tiền.

Thành công, thành đạt

Có lẽ đó là ước mơ của bất kỳ ai khi bắt đầu... lớn. Vì vậy, lời chúc này luôn được đề cập đến trong mỗi dịp xuân về. Giáo sư Roger Cole - tác giả cuốn Sứ mệnh yêu thương đã can đảm tự nhận mình là người có tham vọng thành công, thích được mọi người công nhận. Ông đã chăm chỉ học tập để tốt nghiệp bác sĩ tại Guy's and King's Colledge Hospitals - Luân Đôn; sau đó trở thành nghiên cứu sinh tại trường ĐH Y Hoàng gia Úc (FRACP). Tự mãn khi đã đạt mục tiêu cao nhất của đời mình, nghĩ rằng không còn gì để phấn đấu nữa, ông rơi vào bế tắc!

Đời thường, vẫn có không ít người khi leo lên đỉnh vinh quang rồi lại thấy trơ trọi, thấy mất mát, thấy đó không phải là đích đến. Trong quá trình tìm kiếm vinh quang, họ đã đánh mất nhiều điều quan trọng đối với bản thân mà không hề hay biết, cho đến khi đã đứng trên đỉnh, quay đầu nhìn lại mới nhận ra.

Không chỉ bắt mình thành đạt, nhiều bậc cha mẹ còn mong muốn con mình thành công hơn cả mình. Họ biến con mình thành "ngựa đua". Các bậc cha, mẹ xin hãy dừng lại một phút trước khi đăng ký học thêm cho con, để thử hỏi con: "Con có thích học trường này, lớp nọ không?". Có thể câu trả lời của con trẻ... "lạ tai" lắm.

Thành công, suy cho cùng, có lẽ chỉ là một chút thỏa mãn nhất thời.

Chúc hạnh phúc

Hạnh phúc là điều ai cũng mong muốn sở hữu. Người xưa khi nói đến hai chữ hạnh phúc đã ràng buộc trách nhiệm cho người phụ nữ: "Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm" hoặc "phúc đức tại mẫu". Theo cách nghĩ ấy, gia đình có được yên ấm hay không là do người phụ nữ mang lại. Để đem lại hạnh phúc cho gia đình, ngay từ nhỏ người con gái đã được dạy dỗ những đức tính ngăn nắp, nhường nhịn, bao dung, độ lượng, ứng xử có văn hóa...

Bác sĩ Trương Trọng Hoàng - Phó giám đốc Trung tâm Thông tin Giáo dục Sức khỏe TP.HCM cho rằng, người phụ nữ thời xưa dễ hoàn thành nhiệm vụ hơn phụ nữ ngày nay vì họ không bị stress từ công việc, toàn tâm toàn ý lo cho chồng, cho con. Phụ nữ ngày nay còn tham gia công việc xã hội nên nếu dồn hết trách nhiệm vào người phụ nữ là... bất công! Hạnh phúc phải được "nuôi" từ... hai người. Chúc hạnh phúc như vậy cũng vẫn cứ thiếu...

Đâu là lời chúc có ý nghĩa?

Bác sĩ Nguyễn Thị Kim Hưng - ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch TP.HCM cho rằng, đứa bé khi được sinh ra trong gia đình đủ cha mẹ là đã có hạnh phúc.

Tuy nhiên, chính người lớn và cuộc sống xung quanh đã lấy mất hạnh phúc của đứa bé. Những câu như: "Ôi, chiếc xe SH này đẹp quá", khiến đứa bé nghĩ "Có xe mới là hạnh phúc". Người mẹ nói: "Con trai người hàng xóm "săn" được học bổng đi Mỹ". Đứa bé nghĩ: "Có được học bổng đi nước ngoài mới là hạnh phúc". Rồi lớn thêm một chút, đứa bé lại bị tác động bởi chuyện kiếm tiền, chuyện thăng quan tiến chức v.v... Người ta đặt điều kiện cho hạnh phúc và đưa vào suy nghĩ của đứa bé khiến đứa bé biến những điều người ta nói, mục tiêu của người khác thành của... mình! Cứ như thế, đạt được một mục tiêu là một lần đứa bé ngày xưa lại thấy hụt hẫng, mất mát.

Cuối cùng thì bạn nghĩ về bản thân mình như thế nào mới là điều quan trọng. Có sức mạnh tinh thần, có thể sẽ có tất cả, từ tuổi thọ đến sự an bình trong cuộc sống. Làm sao đạt được điều đó? Theo bác sĩ Nguyễn Thị Kim Hưng: "Thực phẩm" của tinh thần là ý nghĩ, được chia làm năm nhóm, xếp theo thứ tự từ xấu đến tốt là: độc hại, lãng phí, cần thiết, tích cực và hướng thượng.

"Thực phẩm" độc hại là những suy nghĩ tiêu cực (ghen tuông, thất vọng, giận dữ, mất niềm tin, nghi ngờ). Và những suy nghĩ lãng phí (ân hận, nuối tiếc quá khứ, lo lắng về tương lai, trong đầu luôn có câu "giá mà", "nếu", "phải chi"). Cả hai nhóm "thực phẩm" này cần tránh xa. Nếu không, chúng sẽ lấy hết... thời gian, cơ hội của chúng ta, bởi có những điều không thể thay đổi được.

70. Khai bút đầu năm - nét văn hóa đẹp của người Việt

Trong văn hóa và thói quen của người Việt, mọi người quan niệm rằng, ngày đầu tiên của năm là ngày quan trọng cho một khởi đầu mới. Những ngày đầu tiên của năm, nếu mọi việc suôn sẻ, ai nấy vui vẻ thì cả năm sẽ luôn được may mắn. Trong khoảng thời gian ấy, mọi người thường tranh thủ làm nhiều việc lấy may cho cả năm, trong đó, tục chắp bút (hay khai bút) đầu năm luôn luôn được nhân dân ta để ý, nhắc nhở nhau thực hiện, mong cho một năm mới phát tài.

 Tục khai bút thường chỉ có giới học giả trong xã hội mới thực hiện. Tục này xưa có ông đồ, thầy đồ, học sĩ... ngày nay có học sinh, giới văn sĩ, thi sĩ, người làm nghề viết. Thường thì sau giao thừa, mọi người sẽ chọn một giờ tốt để làm lễ khai bút. Đây cũng chỉ là một lễ tượng trưng, gọi là để bắt đầu sự nghiệp, sự học, sự viết cho một năm mới. Có người chỉ viết lên ngày, tháng đánh dấu việc khai bút, nhưng cũng có người sáng tác cả một tác phẩm đầu năm cho lúc khởi đầu này. Cũng có người viết lên những mong muốn cho một năm mới nhiều thuận lợi, học hành được tiến bộ và tương lai nghề nghiệp rộng mở. Những ông đồ hay Nho sĩ khai bút thường viết câu đối hoặc một chữ đẹp để treo trong nhà.

Tục khai bút không phải là một nghi lễ bắt buộc trong ngày Tết, nhưng từ bao lâu nay, nó vẫn được mọi người đề cập đến nhiều trong cuộc sống, nhất là những ngày đầu năm. Và, không nhất thiết phải khai bút vào ngay sau giao thừa, mà có thể chọn một ngày hay một giờ thích hợp nào đó để làm việc này, từ ngày mùng 1 Tết cho đến những ngày sau đó.

 Khai bút đại cát - người xưa thường viết như thế khi đưa những nét chữ đầu tiên của năm, với ý nghĩa là khai bút để gặp những điều tốt lành, đồng thời thể hiện sự tôn trọng chữ nghĩa, đề cao sự học. Đây là một tập tục đẹp, một nét văn hóa Tết đáng được nhân dân ta gìn giữ, phát huy cho đến tận mãi về sau.

80. Cúng Chạp Mả

Hằng năm, từ đầu tháng Chạp, các chi, phái tộc ở vùng quê Hòa Phú, Hòa Vang, Đà Nẵng tiến hành dẫy mả, chạp mả. Đó là dịp con cháu ở xa tìm về nguồn cội...Và mỗi tộc họ đều chọn cho mình một ngày "chạp" cố định và giữ mãi cho đến ngày nay.

Trước khi chính thức cúng chạp mả độ vài ngày, những người cao tuổi ở các chi, họ đều hướng dẫn con cháu đi dẫy mả. Trước khi dẫy, người già đưa mọi người đến ngôi mộ có vai vế cao nhất, thắp hương khấn vái với thần hoàng bổn xứ và người đã khuất. Theo tập tục tổ tiên ông bà, hằng năm con cháu dẫy mả để mộ phần được đẹp đẽ hơn, sau đó khấn mời chư vị về nhà thờ tộc để sum họp và hưởng phẩm vật...Tuy không bắt buộc nhưng mỗi gia đình trong họ tộc dẫu có bận đến mấy cũng sắp xếp cử người đi dẫy mả cùng anh em trong họ tộc. Người thì mang theo cuốc bén, người thì đắp lại những phần mộ bị sụt, khuyết đất, lở đất, người thì dùng liềm phát quang chung quanh mả. Qua đây, các người già nói con cháu biết vai vế, công trạng, đức tính... từng người nằm dưới mồ.

Song song với dẫy mả, ông tộc trưởng cử người đi mua bò, heo trước đó ít ngày. Gặp năm trời nắng tốt, con cháu đông đủ thì làm bò, gặp năm mưa gió thì làm heo. Khoảng 3 giờ sáng, họ đã thức dậy nhóm lửa bắc nước làm bò, heo. Mờ sáng, các chị, các mẹ mang theo gióng, mủng xuống chợ Túy Loan mua hương đèn, hoa trái, các loại rau trái như sắn mồi, đậu cô ve, khoai tây, cà rốt, mì khô, khoai môn...gánh về nhà xúm nhau nấu nướng. Ông tộc trưởng còn phân công người dọn bàn thờ, thay nước, tiếp khách, chuyện trò về mùa màng, mưa nắng, khuyến học... trong tộc họ thời gian qua.

Đúng 11 giờ, sau khi kiểm tra "phẩm vật" trên các bàn cúng, ông tộc trưởng bằng lòng cho tiến hành cúng, các bàn thờ được thắp hương đèn sáng loá, trầm hương nghi ngút. Tuy nhiên, bàn cúng đặt trước sân là cúng thần hoàng được cúng trước. Sau đó là nghi lễ cúng ông bà tổ tiên trong nhà. Con cháu vòng tay đứng hai bên, có người chiết tửu (rót rượu), có người quỳ gối đọc lá sớ viết trên giấy vàng. Ông tộc trưởng lạy, khấn trước, sau đó tùy theo vai vế mà lần lượt lạy ông bà tổ tiên. Trong không khí thiêng liêng, ấm áp với hương trầm nghi ngút, hình như tổ tiên, ông bà đã về sum họp cùng cháu con. Khi hương đã sắp tàn, kết thúc bằng màn vái, lạy của ông tộc trưởng, nước trà được rót vào chén để ông bà dùng và nhận phần diêm mễ, vàng mã, áo giấy được mang ra sân đốt.

Trước khi vào tiệc, ông tộc trưởng cho người mang trên ban thờ xuống một bàn lễ gồm có: 1 chai rượu gạo, một đĩa trầu cau và các đĩa đựng đầu heo, nọng, 2 miếng thịt tợ (thịt luộc) và mời đại diện các chi nhánh, nội ngoại nhận lễ. Theo đó, đầu heo kính họ nội, cái nọng kính họ ngoại, hai miếng thịt tợ kính các chi nhánh. Theo tập tục xưa bày nay bắt chước, kính đầu heo, nọng là tỏ lòng biết ơn họ nội, ngoại, các chi đã giúp sức rất lớn để tổ chức chạp mả được thành công tốt đẹp.

Ngoài ra, nhiều làng ở Hòa Vang hằng năm còn có một buổi đi dẫy mả "Âm linh", nghĩa là dẫy những nấm mồ vô chủ. Khoảng nửa buổi, làng cũng có cúng Đình, tế Âm linh với chiêng trống đánh "bru...bru... bằm...bằm...". Gần trưa, các cánh trai tráng, nông dân đi dẫy mả Âm linh về trước sân đình để rửa tay chân, sau đó vào đình ăn đám cúng Âm linh, chủ yếu là rượu gạo, xôi, thịt heo, bánh tráng nướng...

81. Tục xông đất ngày Tết

Với ngày đầu tiên trong năm còn gọi là Nguyên Đán, Tết đã có một ý nghĩa dặc biệt trang nghiêm. Vì ngày đó bắt đầu một năm nên mọi công việc làm trong khoảng 24 tiếng đồng hồ đều có ảnh hưởng trọn năm. Sự xông đất, xuất hành những cử chỉ đầu tiên, những lời nói đầu năm là điều mà ai cũng phải cẩn ngôn cẩn trọng. Trong tất cả mọi việc có tục xông đất được coi là quan trọng hơn hết.

Ngay từ nửa đêm sau lễ giao thừa đánh dấu một năm đã qua, nhường cho một năm mới tốt đẹp đến, nhà ở được coi như hoàn toàn đổi mới, người bước chân tới xông đất sẽ là sứ giả do sự may mắn đưa đến! Do đó, mọi người đã cân nhắc kỹ về nhân phẩm, chức phận, sự giàu sang, cũng như về tính tình, hạn vận khi mong cầu người đến xông nhà ngày đầu năm là hệ trọng hơn cả. Chính vì nghĩ đến ảnh hưởng của việc xông đất đên việc làm ăn cho cả năm, nên các bậc cao niên rất thận trọng đối với người đến đầu tiên trong ngày Nguyên Đán để long trọng mang lại giúp họ sự tốt lành suốt năm mới. Mặc dù đã tính toán như vậy, vẫn có người khách bất ngờ độc xuất đến xông đất trước sự ngạc nhiên của cả gia đình và làm xáo trộn những toan tính không thể thực hiện được một cách chính xác như ý mong muốn. Tuy nhiên để đề phòng những sự kiện này xảy đến, trong buổi sáng tinh mơ các cửa ngõ đều đóng chặt và chỉ mở khi nào người được chọn tới xông đất mà thôi.
Người đến xông đất thường chỉ đến thăm, chúc tết chừng năm mười phút chứ không ở lại lâu, cầu cho mọi việc trong năm của chủ nhà cũng được trôi chảy thông suốt. Người đi xông đất xong có niềm vui vì đã làm được việc phước, người được xông đất cũng sung sướng vì tin tưởng gia đạo mình sẽ may mắn trong suốt năm tới. Thời xưa chỉ có 2 cách chọn người tốt vía xông đất ngày đầu năm. Kẻ làm quan, người có học chọn người xông đất có tuồi hợp tuổi với chủ nhà. Người xông đất phải là đàn ông trụ cột trong gia đình. Đối với người dân lao động thì đơn giản hơn nhiều. Người được chọn xông đất phải khoẻ mạnh, tốt tính, và gia cảnh khấm khá, hoà thuận...

82. Mượt mà Then cổ

Trong những nghi thức vừa kỳ ảo, vừa huyền bí của nghi lễ đan xen với làn điệu Then cổ đã lôi cuốn hàng nghìn người cùng cộng hưởng trong niềm cảm xúc với tiếng đàn tính và làn điệu Then mượt mà.

Xuyên suốt trong ngày hội văn hoá các dân tộc vùng Đông Bắc, những làn điệu Then cổ vẫn thu hút sự quan tâm của đông đảo khán giả. Vẫn là những làn điệu hát then, đàn tính mượt mà của các nghệ nhân chuyên nghiệp và nghệ nhân dân dã cho thấy sức sống mãnh liệt của loại hình nghệ thuật dân tộc này.
Then cổ trong lễ cấp sắc
Gặp lại nghệ nhân Nguyễn Đình Tích của đoàn Bắc Kạn tại liên hoan lần này, nom ông trẻ hẳn ra, ông vui lắm. Ông Tích cho biết: “Bây giờ, khắp thôn, bản tôi đều vang lên tiếng đàn tính và điệu hát Then. Chúng tôi tự hào bởi văn hóa của dân tộc mình được khôi phục”. Trong ngày hội Văn hoá các dân tộc vùng Đông Bắc được tổ chức tại Bắc Giang lần này, ông Tích mang đến cho người xem một tiết mục độc đáo: “Suôi Sluông khảm hải” (Tìm người vượt biển). Từ sau Liên hoan nghệ thuật hát Then, đàn tính lần thứ II tổ chức tại Cao Bằng đến nay, Câu lạc bộ Then của ông Tích sáng lập đã tăng lên gần 50 thành viên trong đó đã quy tụ được nhiều thành viên trẻ tuổi và cả các cháu thiếu nhi. Hiện tại, ông Tích đang có hơn 10 học trò, độ tuổi từ 12 đến 15.
Ở mỗi vùng quê đều có những làn điệu hát Then khác nhau, nhưng nhìn một cách tổng thể, Then có mấy loại hình thể hiện với những chức năng chính. Đó là Then Kỳ Yên (cầu an); Then cầu mùa, Then chúc tụng; Then chữa bệnh; Then cấp sắc (Lẩu Then). Tại hội trại của tỉnh Lạng Sơn, chúng tôi được nghe làn điệu Then cổ trong nghi lễ cấp sắc của bà Nông Thị Lìm, nghệ nhân then cổ cấp Quốc gia. Bà Nông Thị Lìm người dân tộc Tày, năm nay đã bước sang tuổi lục tuần nhưng giọng hát vẫn còn khoẻ và trong như nước suối ngàn. Mỗi khi bà cất tiếng hát là cả hội trại của xứ Lạng lại chật kín người vây xung quanh. Tới ngày hội văn hoá, bà mang đến tiết mục múa trầu và nghi lễ thăng sắc (Thăng quan tiến sắc).
Pháp sư đường tăng Hoàng Văn Đoàn là người chủ trì làm lễ phong sắc cho bà bày tỏ: Bà Lìm hiện tại đang ở cấp 5 lần này được phong thêm 2 cấp được 7 sắc. Từ 5 sắc trở lên là có đủ điều kiện cấp sắc và nhận đệ tử. Hiện tại bà Lìm đã có 6 đệ tử được bà cấp sắc. Lễ vật trong nghi thức cấp sắc gồm có một hũ gạo sống dùng hương cắm lên trên, một nải chuối và hoa quả, dải then tượng trưng cho con hạc là lễ vật không thể thiếu bởi nó chứng giám cho người được cấp sắc bay bổng. Trong số những ông thầy của người dân tộc Tày cũng được phân ra quan văn và quan võ. Quan văn là có thể viết được sớ bằng chữ nho, bắt buộc phải thông thạo chữ nho còn quan võ là những người chỉ biết đọc mà không cần phải biết viết. Ngày nay, những ông thầy văn và thầy võ ấy vẫn giữ một vị trí quan trọng trong đời sống của đồng bào dân tộc Tày. Nhiệm vụ của các thầy là làm việc từ thiện, giúp bà con họ hàng trong làng, bản dâng sao giải hạn. Nếu ai có làm việc sai với đạo lý cũng phải tìm đến các ông thầy, bà thầy chỉnh sửa…
Trong suốt quá trình diễn ra nghi lễ phong sắc, bà Lìm vừa múa vừa hát những làn điệu Then quyết rũ làm đắm say lòng người tới xem. Bà Lìm trong trang phục sặc sỡ trước một bàn thờ hoa quả chuẩn bị công phu với khói hương nghi ngút là màn trình diễn uyển chuyển với những điệu múa và làn điệu Then cổ huyền bí, đầy mê hoặc diễn ra hơn 1 tiếng đồng hồ, thu hút hàng trăm người xem.
Để tiếng hát then, đàn tính ngân vang
Bà Nông Thị Lìm vốn là nghệ nhân đời thứ 5 của họ Vi. Bà cụ tổ là Vi Thị Sang đã trở thành người thiên cổ từ hơn 100 năm về trước. Ngày về làm dâu họ Vi, bà Lìm được ông bố chồng Vi Đoàn Thành truyền lại những làn điệu then mượt mà. Lời Then vốn là những câu chữ được dân gian chắt lọc, gọt giũa; vừa là những câu thơ trữ tình, giàu nhạc điệu, vừa là lời khuyên răn, khích lệ; vừa là những kinh nghiệm về đối nhân xử thế... Cho nên nghe đàn Tính, nghe lời hát Then, người ta cứ thấy trong đó có một cuộc sống của mình.
Hát then là tài sản chung của đồng bào Tày, Nùng, Thái - ba dân tộc sống chủ yếu ở vùng núi cao phía Bắc. Đàn tính tẩu - loại nhạc cụ hai dây được làm từ vỏ cây bầu, có âm thanh trầm ấm - hoà quyện với hát then hiện hữu trong đời sống như một nét văn hoá đặc trưng không thể thiếu của người dân. Người ta gọi đàn Tính là đàn Then. Then là từ biến âm của chữ Thiên, (tức trời). Đàn Then là đàn trời cho các bà bụt (người chuyên sử dụng đàn Then vào việc cúng lễ). Tương truyền, trong một giấc mơ vàng, họ được ban cho cây đàn trời và dạy cho các bài hát Then. Do đó, tiếng đàn Tính, lời hát Then mới có sức lôi cuốn kỳ lạ đến như vậy. Tiếng đàn ngân nga, dìu dặt, đưa tâm hồn cả người già, người trẻ, con gái, con trai vào trạng thái bồng bềnh, chơi vơi, mơ màng, huyền ảo... ấy là tiếng đàn Tính và lời hát Then, đã cất lên thì không mắt nào nhắm nổi, không tai nào có thể làm ngơ.
Thiếu nữ say mê hát then
Bảo tồn Then như thế nào để không mất đi bản sắc mà vẫn phù hợp xã hội hiện đại đang là vấn để cấp thiết đặt ra. Hiện nay, Then đang tồn tại ở hai dạng chính: Then cổ (then tâm linh phục vụ việc hành nghề tín ngưỡng) và Then mới (then văn nghệ có cải biên, sáng tác dựa trên âm hưởng then cổ).
Lâu nay, chúng ta thường tổ chức các cuộc điền dã thu thập tư liệu từ các nghệ nhân, bảo tồn từ cách lưu giữ tư liệu để nâng cao, phát triển, nhưng lại chưa đánh giá đúng giá trị của các di sản. Các nhà nghiên cứu văn hoá cho rằng Nghệ nhân Then phải được coi là đối tượng quan tâm đặc biệt trong chương trình bảo tồn không gian nghệ thuật hát then, đàn tính. Về bản chất các thầy then là thầy cúng kiêm nghệ sĩ dân gian. Đây là hai yếu tố tuy hai mà một hòa quyện với nhau tạo thành một hình ảnh chân thực về nghệ nhân Then, một nét độc đáo mà không phải dân tộc nào cũng có.
Muốn bảo tồn nghệ nhân trước hết phải tôn trọng nguyên tắc nghề nghiệp. Bên cạnh đó, muốn bảo tồn Then cổ cần bảo tồn nguyên bản môi trường và không gian của Then như nó đang tồn tại và diễn ra trong đời sống. Không thể bảo tồn nếu dẹp bỏ nghề của các ông bà Then bởi họ chính là linh hồn của Then. Vì vậy, nhiệm vụ của những người làm văn hóa cần phải tôn vinh những người giữ Then, có sự lựa chọn hạn chế những sắc thái mê tín. Việc tôn vinh gia đình dòng họ có truyền thống hát Then cũng rất quan trọng...
Nếu như việc bảo tồn Then nghi lễ có phần khó khăn phức tạp vì liên quan tới chính sách với nghệ nhân và tính chất công việc của họ thì việc bảo tồn phát huy diễn xướng Then mới có phần đơn giản hơn bởi các đối tượng tham gia đông đảo, trình diễn ở bất kỳ môi trường diễn xướng nào, truyền dạy với nhiều hình thức, sáng tác và phóng tác lời hát với những nội dung phong phú. Tuy nhiên, việc đổi mới và cách tân không có nghĩa là loại bỏ yếu tố nghi lễ, chính yếu tố nghi lễ mới làm cho con người gắn bó và say mê loại hình nghệ thuật này.
Trong những nghi thức vừa kỳ ảo, vừa huyền bí, nửa thực nửa hư của nghi lễ đan xen với làn điệu then cổ đã lôi cuốn hàng nghìn người cùng cộng hưởng trong niềm cảm xúc với tiếng đàn tính và làn điệu Then mượt mà. Có lẽ, ngày hội văn hoá các dân tộc vùng Đông Bắc năm nay sẽ còn được nhiều người nhắc tới những làn điệu Then cổ của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao.
Đâu đó trong ký ức người xem vẫn còn vang lên những tiếng đàn tính và lời Then ngọt ngào: “Trai gái đi, hát cười vang bỗng dừng. Bảo nhau im lặng, bảo nhau nghe. Có bùa chăng! Dây tính hỡi say mê. Mười hai vía trong người tôi tỉnh dậy… Bản làng em nở trắng hoa lê. Long lanh nước trong xanh suối reo. Ném trái còn vui đón xuân sang. Tua ngũ sắc bay qua tay anh, tay nàng...”./.

83. Tết nhảy - nét sinh hoạt độc đáo của người Dao đỏ

Khoảng cuối giờ Thìn, đầu giờ Tỵ ngày mùng một và mùng hai Tết âm lịch hằng năm, lễ hội Tết nhảy - một hình thức sinh hoạt văn hóa độc đáo của người Dao đỏ - sẽ được tổ chức duy nhất tại nhà ông trưởng họ bản Tà Phìn, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai.

Ban đầu, một tốp nam thanh niên "sài cỏ" theo sự hướng dẫn của thầy cả "chái peng pi" tổ chức 14 điệu nhảy dẫn đường, bắc cầu đưa đón tổ tiên, thần linh về "ăn" Tết. Để chào bố mẹ, tổ tiên đã khuất, điệu nhảy chỉ được thực hiện bằng một chân, đầu cúi, ngón tay trỏ giơ cao; Để mời tiên nương, tiểu nữ giáng trần, điệu nhảy được diễn tả bằng múa cò "pẹ họ", mô phỏng cảnh chim cò sải cánh bay xa, rồi dáo dác tìm chỗ đậu lại; Điệu nhảy mời thần linh "ăn" Tết được diễn tả bằng nhịp bước khoan thai và uy lực của loài hổ... Các điệu múa mang tính hình tượng cao và độc đáo. Không biết có từ bao giờ, nhưng đêm của những vũ điệu vẫn được người Dao đỏ ở Tà Phìn lưu giữ cho tới ngày nay, và coi như một sinh hoạt văn hóa không thể thiếu trong những ngày đất trời vào xuân.

Kết thúc các điệu nhảy mở đường, đón chào tổ tiên, thần linh, cả dòng họ tiến hành điệu nhảy rước tượng tổ tiên. Tượng tổ tiên làm bằng gỗ tốt, là tác phẩm điêu khắc độc đáo của người Dao đỏ. Tượng được chạm khắc đẹp với nét hoa văn trang phục thời cổ xưa, dài khoảng 25 cm, đường kính thân 5 cm, bàn tay phải của tượng có cầm thẻ bài ghi rõ tên ông tổ.

Ngày thường trong cả năm, tượng được bọc kín bằng vải trắng. Đến ngày Tết, con cháu rước tượng xuống làm lễ tắm gội, thay khăn choàng mới. Nước tắm cho tượng cũng làm từ lá thơm qua một quy trình chưng cất nghiêm ngặt, thể hiện đậm nét văn hóa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam. Sau lễ tắm gội cho tượng tổ tiên, con cháu tổ chức các điệu nhảy dâng gà, xôi và lễ vật. Thầy cả và 3 thanh niên tay cầm con gà trống sống, nhảy theo điệu dâng gà, có động tác rước gà lên đầu, có động tác vác gà qua hai vai, rồi vừa nhảy múa vừa vặt đầu gà làm thịt... Kết thúc là điệu nhảy múa cờ.

Tết nhảy của người Dao đỏ ở Tà Phìn diễn ra từ cuối giờ Thìn đến giờ Dậu (khoảng 5 tiếng đồng hồ) và mang tính tổng hợp khá đầy đủ các loại hình nghệ thuật dân gian khác của dân tộc Dao đỏ, như nghệ thuật nhảy múa, âm nhạc, ngôn ngữ ... Trong Tết nhảy, người Dao đỏ còn hát các điệu hát nói về công lao của đấng tổ tiên, sự tích dòng họ, các sinh hoạt cấy trồng, dệt vải, săn bắn...

84. Lễ xin dâu có những ý nghĩa gì?

Lễ này rất đơn giản: Trước giờ đón dâu, nhà trai cử một hai người, thường là bà bác, bà cô, bà chị của chú rể đưa một cơi trầu, một be rượu đến xin dâu, báo trước giờ đoàn đón dâu sẽ đến, để nhà gái sẵn sàng đón tiếp.

Phong tục này có nhiều ý nghĩa hay:Mặc dù hai gia đình đã quy ước với nhau từ trước về ngày giờ và thành phần đưa đón rồi, nhưng để đề phòng mọi sự bất trắc, mọi tin thất thiệt, nên mới định ra lễ này, biểu hiện sự cẩn trọng trong hôn lễ.
Thời gian này chú rể và cha mẹ chú rể rất bận rộn không thể sang nhà gái, nên nhờ người đại diện sang báo trước như bộ phận "Tiền trạm".
Để trong trường hợp vạn nhất hoặc do thời tiết, hoặc do trở ngại giao thông, gần qua giờ quy ước mà đoàn đón dâu chưa đến, nhà gái biết để chủ động làm lễ gia tiên hoặc phái người sang nhà trai thăm dò.
Trường hợp hai gia đình cách nhau quá xa hoặc quá gần, hai gia đình có thể thoả thuận với nhau miễn là bớt lễ này, hoặc nhập lễ xin dâu và đón dâu làm một.

Cách nhập lễ xin dâu và đón dâu tiến hành như sau:Khi đoàn đón dâu đến ngõ nhà gái, đoàn còn chỉnh đốn tư trang, sắp xếp lại ai đi trước, ai đi sau, trong khi đó một cụ già đi đầu họ cùng với một người đội lễ (một mâm quả trong đựng trầu cau, rượu... )vào trước,đặt lên bàn thờ, thắp hương vái rồi trở ra dẫn toàn đoàn vào làm lễ chính thức đón dâu. Lễ này phải tiến hành rất nhanh. Thông thường nhà gái vái chào xong, chủ động xin miễn lễ rồi một vị huynh trưởng cùng ra luôn để đón đoàn nhà trai vào.

85. Giá thú

Tuổi đính hôn - Con giai con gái độ mười lăm mới sáu tuổi trở lên, đã là tuần sắp sửa lấy vợ lấy chồng. Hai ba mươi tuổi mới cưới gọi là muộn. Cũng có nhà cưới cho con từ năm 12, 13 tuổi, có nhà ước hôn với nhau từ trong thai.
Tục vợ chồng cứ hơn kém nhau một hai tuổi là vừa đôi.
Dạm hỏi - Trước hết kén chọn chỗ nào môn đăng hộ đối, xem đôi tuổi không sung khắc nhau, mới mượn mối lái. Mối lái nói với cha mẹ người con gái bằng lòng gả rồi, nhà con trai mới đem cau đem chè đến dạm. Từ đó thì mồng năm ngày Tết hoặc ngày kỵ nhà gái, người rể phải đưa đồ lễ vật đến mới là trọng thể. Cách ít lâu thì làm lễ ăn hỏi; nhà trai đem cau chè, lợn xôi đến nhà gái lễ gia tiên, có nhà dùng cách giản tiện thì chỉ dùng cau, chè, mứt mà thôi. Ở Quảng Nam thì trong lễ ăn hỏi thường lại thêm đôi hoa tai vàng nữa.
Sêu - Ăn hỏi rồi mới sêu. Sêu thì mùa nào thức ấy, như mùa vải thì sêu vải, mùa dưa thì sêu dưa...
Có nơi một năm chỉ sêu bốn mùa, tháng ba sêu vải, tháng năm sêu dưa hấu, đường, mắm, chim, ngỗng, tháng chín sêu hồng, cốm gạo mới, chim ngói, tháng chạp thì sêu cam, mứt bánh cốm. Đồ sêu nhà gái lấy một nửa còn một nửa trả lại nhà trai gọi là đồ lại mặt.
Cưới - Sêu trong một năm hoặc nửa năm thì cưới, cũng có khi phải sêu hai ba năm mới đợc cưới. Nếu không sêu thì xin cưới là thiếu lễ, người ta chê cười, mà nhà gái không mấy người nghe.
Trao thư, thách cưới - trước khi muốn cưới thì thì đôi bên nhà giai nhà gái đều quang quẻ cả mới được, nghĩa là người chủ hôn không có tang chế gì. Cưới thì nhà giai viết thư hỏi xem nhà gái ăn những lễ vật như thế nào. Nhà gái muốn những thức gì thì viết thư trả lời nhà giai, nhà giai liệu thế lo được thì mới chọn ngày lành tháng tốt, đính ước ngày cưới với nhà gái. Nếu nhà gái lấy lễ nặng quá thì nhà giai xin bớt đi ít nhiều. Nhà gái không nghe thì có khi lại hoãn việc lại. Mà nhà giai bất đắc dĩ lại phải lo thì có khi vì thế mà hai bên sui gia sinh ra oán ghét nhau..Đồ thách cưới thì đại để: Bao nhiêu lợn gạo, hoặc ăn bò thì thách bò, bao nhiêu chè, bao nhiêu cau, bao nhiêu rượu, vòng nhẫn, hoa, hột quần áo, chăn màn, và kèm thêm bao nhiêu bạc...Tuỳ nơi thành thị, quê mùa, nhà giàu, nhà nghèo, ăn nhiều, ăn ít, nhưng đại khái cũng trong những khoản ấy.
Đám cưới - Về vùng hương thôn với nhau, cưới thường đi về đêm. Lúc đi phải chọn giờ hoàng đạo mới đi, và phải có người đàn ông dễ tính ra đón ngõ trước, khi ra thì reo ầm cả lên rằng gặp giai, để cho mọi việc được dễ dàng mau mắn. Trong đám cưới có một ông già (kén ông già hiền lành, mà vợ chồng còn song toàn, lắm con nhiều cháu mới tốt) cầm một bó hương đi trước, rồi đến các người dẫn lễ, kẻ đội mâm cau, người khiêng lợn rượu... Chú rể thì khăn áo lịch sự, có một đám thân thích dẫn đi. Khi đến nhà vợ, dàn bày đồ lễ, người chủ hôn nhà gái khấn lễ gia tiên rồi thì mời rể vào lễ.
Tế tơ hồng - Bày hương án ra sân, dùng lễ xôi, gà, giầu, rượu, tế tơ hồng, rồi hai vợ chồng đều vào lễ.
Điển tế tơ hồng do chuyện ngày xưa, có một người tên là Vi Cố, một bữa đi chơi giăng, gặp một ông già đang xe các sợi dây đỏ ở dưới bóng giăng. Hỏi thì ông ấy nói rằng ta là Nguyệt lão coi việc xe duyên cho vợ chồng nhân gian, ta đã buộc sợi dây này vào chân người nào thì dù thế nào cũng phải lấy nhau. Vì thế ta cho việc vợ chồng là có ông nguyệt lão định trước, cho nên thành vợ thành chồng rồi thì phải tạ ơn ông ấy, và cầu ông ấy phù hộ cho ở được trăm năm với nhau.
Tế tơ hồng rồi thì người rể vào lạy cha mẹ vợ (tục ấy người theo lối văn minh bây giờ không chịu). Rồi cho họ hàng ăn uống xong mới về.
Đưa dâu - sáng hôm sau thì đưa dâu, nhà trai nhà gái cùng ăn mừng, làm cỗ bàn, mời bà con khách khứa. Bà con khách khứa mừng nhau thì kể mừng tiền người mừng chè, cau hoặc là câu đối... Mà thường chỉ mừng bên nhà giai, chứ không có mấy nơi mừng bên nhà gái, nhưng chỉ mừng cho con gái hoặc vài vuông nhiễu điều, hoặc may sẵn thành yếm mà thôi.
Đưa dâu, nhà gái cũng kén một ông già cầm bó hương đi trước, rồi bà con họ hàng dẫn cô dâu đi sau. Đến nhà trai rồi thì một vài bà già dẫn cô dâu vào lạy gia tiên, rồi đưa đi lễ nhà thờ đôi bên bố chồng mẹ chồng. Đoạn giở về mới lạy bố mẹ chồng, hoặc còn ông bà chồng cũng lạy. Ông bà cha mẹ chồng, mỗi người mừng cho một vài đồng bạc hoặc một vài chục.
Họ hàng ăn uống xong thì lấy phần. Phần phải có xôi thịt, bánh trái, giò chả, cau chuối mới là cỗ cưới
Ở thành phố thì thách cưới thường nặng hơn ở nhà quê, mà không có lệ đi ăn cưới đêm. Cưới ban ngày rồi đón dâu về luôn. Trong khi cưới và đón dâu, hai ông già cầm hai cái lư hương ngồi xe che lọng xanh đi trước, rồi các kẻ dẫn lễ khiêng ché rượu, khiêng quả phù trang. Trước còn đi bộ, ít nay đám thì đi toàn xe.
Lễ bái cũng như cách nhà quê. Ăn xong cũng có phần, phần có những bánh đường bánh ngọt, lại thêm một cái khăn mặt đỏ để gói phần. Sau lại có bánh dầy bánh chưng chia biếu những người quen thuộc nữa.
Phương thuật - Trong khi cô dâu đi đường, ăn mặc tốt đẹp e thiên hạ quở quang, phải cài vài cái kim vào choàng áo, để có độc mồm độc miệng, thì đã có kim ấy chấn áp đi. Có nơi lại đặt hoả lò giữa cửa cho cô dâu bước qua, cũng là ý đấy. Cũng có nơi dâu mới đến cửa, mẹ chồng cầm bình vôi tránh đi một lúc, có nơi dâu mới đến cửa, một người lấy chày cối giã một lúc, tục ấy thì ngộ quá, không hiểu ý làm sao.
Đóng cửa giăng dây - Trong khi cưới và lúc đưa dâu, lại có tục đóng cửa, giăng dây. Lúc nhà trai đem lễ đến nhà gái đóng cửa, không cho vào. Nhà trai phải cho chúng nó dăm ba hào, một đồng bạc thì mới mở cửa. Trong lúc đi đường thì những kẻ hèn hạ hoặc lấy sợi chỉ đỏ, hoặc mảnh vải, lụa đỏ giăng ngang giữa đường, đám cưới đi đến, phải nói tử tế và cho chúng vài hào thì chúng mới cởi dây cho đi. Chỗ thì chúng nó bày hương án, chờ đi đến, đốt một bánh pháo ăn mừng, chỗ ấy phải đãi họ một vài đồng mới xong. Nếu bủn xỉn mà không cho chúng nó tiền, thì chúng cắt chỉ cắt dây nói bậy nói bạ, chẳng xứng đáng cho việc vui mừng, vì vậy đám nào cũng phải cho.
Tục giăng dây này đã có lâu. Về đời huyền tôn, ngời đường thiệu đã dâng biểu nói rằng: Ngày người đớn đau, những kẻ hèn hạ thường lấy xe ngăn trở đường đi, đòi cỗ bàn ăn uống. Tục ấy mỗi ngày một thịnh, đến nỗi các đám cưới của nhà vương công, chúng nó cũng tụ họp đàn lũ, che lấy đường đi, làm cho lôi thôi thì giờ, để đòi tiền của, thành ra tiền giăng dây nặng hơn tiền cưới, xin cấm hết đi mới được, xem vậy thì tức là tục giăng dây của ta bây giờ.
Giao duyên - Tối hôm cưới , người chồng lấy trầu trăm (Trầu tế tơ hồng), trao một nửa cho vợ, rót một chén rượu, mỗi người uống một nửa, gọi là lễ hợp cẩn. Vợ trải chiếu lạy chồng hai lạy, chồng đáp lại vái một cái. Tục ấy nhà đại gia mới dùng đến, nhà thường thì không mấy người dùng.
Lại mặt - Cưới được ba hôm, đến hôm thứ tư thì hai vợ chồng làm lễ chè xôi đem về nhà vợ lạy gia tiên, gọi là lễ lại mặt, chữ gọi là tế hỷ.
Tục Mường - Tục cưới về Mường, Mán rất nực cười. Khi cưới nhà gái nấu một nồi nước bẩn thỉu, cả nhà khóc lóc, chờ khi họ hàng đưa dâu ra cửa lấy gạo muối mang theo và rẩy nước bẩn thỉu ấy, hễ ai chạy không mau thì bẩn cả quần áo.

86. Tại sao khi mới đẻ chưa đặt tên chính?

Theo phong tục, một người từ sinh ra đế khi chết mang rất nhiều tên gọi: Mới lọt lòng thì thằng Cu, thằng Cò, con Hĩm, thằng Mực, con Cún, thằng Chắt em, con Chắt ả... thường là đặt tên xấu cho dễ nuôi, đến khi lớn lên thì anh Hai, anh Ba, chị Bảy... lấy vợ lấy chồng thì anh Nhiêu, anh Đồ, chị Xã...

Có con gọi theo tên con, có cháu đích tôn gọi theo tên cháu, đến khi chết thì đặt tên hèm gọi là hiệu để cúng, người có học thì tự đặt tên tự, người có chức tước thì đặt tên thụy, người có chức tước học vị cao sang thường được xưng tôn theo họ, hay tên địa phương: Cụ án Mai, Cụ Tam Nguyên Yên Đổ, ông Trạng Trình, ông Tú Vĩ Xuyên, Quan Thám Nam Sơn... Đó là theo phong tục xưng hô của Trung Quốc. Trong nhiều tên gọi nhưng chỉ có tên huý là chính: Tên huý là tên đặt khi vào sổ họ, khi vào làng ghi trong sổ hộ, khi đi học đặt khi vào sổ họ, khi vào làng ghi trong sổ hộ, khi đi học.

Tại sao mới đẻ chưa đặt tên chính (tên huý)?

Ngày nay đẻ ra là khai sinh, có thủ tục quản lý hộ tịch chặt chẽ. Ngày trước mỗi làng xã cũng có hương hộ lo sổ sách sinh tử, giá thú nhưng không quản lý chặt chẽ, Nhà nước chỉ quan tâm đến sổ đinh (từ 18 tuổi), sổ điền để thu thuế và bắt lính, bắt phu, vì vậy vào sổ làng càng muộn càng hay, lớn lên đỡ được vài năm thuế thân, phu phen tạp dịch.

Trong xã hội cũ, tình trạng hữu sinh vô dưỡng khá phổ biến, ít có gia đình sinh năm đẻ bảy được vuông tròn, vì vậy qua các tuần cữ mới tạm yên tâm, khi đó mới đặt tên huý.

Các họ mỗi năm tế tổ một lần. Trong dịp tế tổ, các gia đình có con cháu mới sinh sắm sửa cơi trầu, chai rượu, hương hoa, lễ vật đến nhà thờ họ yết cáo tiên tổ và vào sổ họ cho các con trai trước lễ yết cáo, ngày đó mới có tên huý chính thức, được họ hàng công nhận. Trong khi vào sổ họ phải đối chiếu gia phả để xem có trùng tên các vị tiên tổ hoặc ông bà chú bác trong nội thân hay không. Nếu có tức là phạm huý thì phải đổi tên. Không những phải tránh phạm huý tổ tiên bên nội mà còn phải tránh phạm huý can cụ ông bà ngoại mặc dầu khác họ, tránh phạm huý hiệu của thành hoàng, thánh mẫu, linh thần từng địa phương. ở nông thôn, các vị có uy vọng trong làng, trong họ thường được dân chúng biếu trầu rượu và nhờ đặt tên cho con. Người đặt tên được gia đình đó nhớ ơn suốt đời.

87. Văn hóa ứng xử trong bữa ăn của người Tày

Ăn uống là một phần quan trọng trong các dân tộc, các hoạt động sinh tồn của loài người, ngoài việc nuôi dưỡng con người, nó còn gắn liền với các hoạt động văn hoá. Mỗi dân tộc, mỗi địa phương đều có những tập quán ăn uống riêng. Với người Tày tập quán ăn uống của họ mang đặc tính của cư dân vựng thung lũng và phản ánh đặc trưng văn hoá tộc người, nhất là khía cạnh ứng xử gia đình trong ăn uống.

Trong bữa ăn hàng ngày của người Tày thì mâm cơm thường để ở chính giữa nhà, phía trên của bếp sinh hoạt. Về mùa hè, họ thường để mâm ăn ngay khu vực tiếp khách, cạnh cửa sổ chính. Gia đình truyền thống của người Tày thường có 6 đến 7 người, gồm có 3 thế hệ (ông bà, bố mẹ, con cái). Nếu ông bà còn khoẻ, có thể cùng ngồi ăn chung với gia đình thì người ta sắp đặt vị trí ngồi ăn theo thứ tự từ ông - bà; Cha - mẹ; Con cái, tính từ phía cửa sổ trở xuống. Nồi cơm đặt phí dưới (hướng bếp). Mâm cơm làm bằng gỗ hình tròn, trong mâm bày các bát, đĩa thức ăn dùng chung; giữa mâm để bát nước chấm hoặc một đĩa muối ớt. Một số gia đình để lọ ớt muối ngâmmột bát ớt nhỏ giành cho người cao tuổi thích ăn cay. Người Tày ăn cơm bằng đũa, bát ăn cơm riêng và thìa ăn canh riêng. Cơm để trong nồi, xới bằng một đôi đũa cả (đảm). Những người ngồi quanh nồi thường là người phụ nữ hoặc con gái để làm nhiệm vụ xới cơm hoặc thêm canh rau. Đó được coi là trách nhiệm vất vả nhất trong bữa ăn mà người phụ nữ, người nội trợ vẫn phải đảm nhiệm.

Trong đời sống thường ngày do cuộc sống có nhiều vất vả mà họ đã rút ra được những câu tục ngữ như các cư dân, cộng đồng khác. Người Tày có câu: Xẩu quan khỏ, xẩu mở miền (Gần quan thì khó nhọc, cạnh nồi thịt thì nhọ nhem), có ý nghĩa so sánh giữa công việc phục vụ quan lại với việc bếp núc, phục vụ bữa ăn. Nếu trong nhà có người già yếu thì chủ nhà bố trí cho ngồi ăn riêng ở cạnh bếp hoặc tại nơi nằm nghỉ hàng ngày. Những người già và trẻ đều có thể ngồi ăn uống một cách bình đẳng, không phân biệt vị trí và nhiệm vụ.

Nhưng nếu trong một gia đình mới cưới con dâu, cháu dâu thì họ tự nhận thức trách nhiệm của mình trong bữa ăn để thể hiện là dâu hiền chứ không có quy định bắt buộc. Tuy nhiên, những nề nếp gia phong theo lối sống Nho giáo từ xưa kia đã thấm sâu vào ý thức của nhiều gia đình, nhất là những gia đình trung lưu, phú quý hoặc gia giáo. Vì thế mỗi thành viên trong gia đình tự ý thức được bổn phận cũng như trách nhiệm của mình trong cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt, gia đình người Tày, trước bữa cơm, họ có ý thức chờ đợi nhau, ít khi ăn trước nếu còn thiếu người. Câu tục ngữ: "thíp tua mạ thả ăn an" (mười con ngựa chờ đợi một cái yên) hàm nghĩa là đã ngồi quanh mâm thì mười người, còn thiếu một người thì ăn phải chờ đợi. Điều đó nói lên tính cộng đồng, cộng cảm trong ăn uống của đồng bào.

Đối với người Tày ở đây, ứng xử trong ăn uống của mỗi gia đình còn là ý thức về sự nhường nhịn. Họ luôn dành sự ưu tiên cho người cao tuổi, trẻ nhỏ, người ốm đau, phụ nữ đang ở cữ hay có mang. Những đối tượng trên được gia đình dành riêng khẩu phần tốt hơn như nấu cơm riêng, thức ăn riêng. Còn đối với người cao tuổi thì được ăn thức ăn mềm, ít lượng chất bổ. Người Tày có tục ngữ: "Cầu ké kin khẩu khao, lục slau kin khẩu xáo, lục báo kin khẩu  pay" (người già ăn gạo trắng, con gái ăn gạo giã dối, con trai ăn xay) để nói lên một đạo lý là giành phần ngon cho người già. Nếu là ngày bình thường, khi công việc còn bề bộn, bữa ăn còn đạm bạc thì người ta thường ăn một cách qua quýt cho xong, nhất là đàn ông khi công việc nào đó còn đang dở dang. Những lúc như vậy, tính cộng cảm càng lớn lao: Người vợ, người con thường nhường phần cho người chồng, người cha. Họ chăm lo cho miếng ăn, giấc ngủ của chủ nhà bởi đó là trụ cột mọi mặt của gia đình. Với người đàn ông, họ thường "có gì ăn nấy", "không còn gạo thì ăn khoai, ăn sắn", "hết canh rau thì ăn măng chua, ăn mẻ", còn đàn bà thì hầu như đảm nhận lo toan cái ăn hàng ngày như là một phận sự. Vì thế vai trò của người phụ nữ trong gia đình rất quan trọng, bởi họ trực tiếp lo toan cái ăn hàng ngày.

Trong ăn uống của gia đình, người Tày cũng có những kiêng kỵ, chẳng hạn: Người đẻ kiêng kỵ các loại thịt trâu, bò, ngựa, cá không vảy, cá chép có ria và các loại thịt thú rừng. Trẻ em kiêng ăn quả cật gà (mác lừm) vì họ cho rằng ăn quả cật sẽ dốt nát, hay quên; kiêng ăn chân gà vì nếu ăn vào thì viết chữ sẽ xấu như gà bới; kiêng ăn móng vì nếu ăn thì không đi qua cầu được; kiêng chan canh ốc vì sợ tròn như con ốc. Trẻ em và phụ nữ không nói chuyện khi ăn vì sợ mất vệ sinh và không ý tứ. Trong bữa cơm thường ngày của gia đình người Tày thì khi sới cơm xong thì phải được đậy vung để giữ cơm nóng. Đôi đũa cả để trong nồi, quay ra phía sau tuyệt đối không được quay vào mâm hay quay vào phía người đang ngồi ăn vì như thế sẽ làm cho người ăn bị ngẹn hay đau bụng. Khi ăn, không ai được gõ đũa hay gõ đũa cả vì như thế là gọi ma….

Mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa ứng xử riêng trong bữa ăn gia đỡnh, là một phong tục tập quán tốt đẹp cần bảo tồn và phát huy những giá trị đó, như Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) BCH Trung ương Đảng đó chỉ rõ: “Giữ gìn và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

88. Các loại Tết tiết

1. Tết Khai Hạ

(Mồng bảy tháng giêng)

Người giàu khai hạ, tớ khai bị

Hết rượu cho nên mới ngủ khì

Tết khai hạ có nghĩa là Tết mở đầu một ngày vui để chào đón một ngày xuân mới. Theo cách bói toán của người xưa thì tuy tháng đầu năm, ngày mồng một ứng vào gà, mồng Hai: chó, mồng Ba: lợn, mồng Bốn: dê, mồng Năm: trâu, mồng Sáu: ngựa, mồng bảy: người, mồng Tám: lúa. Trong tám ngày đầu năm, hễ ngày nào khô ráo, sáng sủa thì giống nào thuộc về ngày ấy, có năm được tốt. Cho nên, đến ngày mồng bảy thấy trời nắng ráo thì người ta tin rằng cả năm người được mạnh khoẻ, gặp nhiều may mắn tốt lành Mồng bảy hạ cây nêu để "bế mạc" tết Nguyên Đán thì người ta mở ngày tết khai hạ để mong mỏi một năm dài tốt lành, vui vẻ.

2. Tết Rằm tháng giêng- (Tết Thượng Nguyên)

"Lễ vật quanh năm không bằng ngày rằm tháng giêng". Đó là ngày trăng tròn đầu tiên của năm mới. Đó là tết rằm tháng giêng hay tết Thượng Nguyên. Tết này phần lớn tổ chức tại chùa vì ngày rằm tháng giêng còn là ngày vía Phật tổ Adiđà. Thiện nam, tín nữ đi lễ rất đông.

3. Tết Hàn Thực- (Mồng ba tháng ba)

Hàn thực có nghĩa là đồ ăn nguội. Gốc tết này vốn ở Trung Quốc thời Xuân - Thu cổ đại. Tích cũ kể: Vua Văn Công nhà Tấn khi gặp cảnh long đong hoạn nạn được người hiền sĩ Giới Từ Thôi hết lòng phù hộ. Khi vua Văn Công đói quá, Giới cắt thịt đùi mình nấu cháo dâng vua ăn. Trải qua 19 năm trời nay trú Tề, mai náu Sở, một ngày Văn Công lại về làm vua Tấn. Mọi người có công giúp vua đều được ban thưởng nhưng rủi thay vua lại quên mất Giới Từ Thôi đang cùng mẹ cày cuốc trong núi Điền Sơn. Khi vua Tấn nhớ ra, cho người vào tìm, mời mãi Giới không chịu rời núi. Vua bèn cho đốt rừng, hy vọng Giới sẽ ra, nhưng Giới đã cùng mẹ già chịu chết cháy trong đó. Vua vô cùng thương xót Giới, cho lập đền thờ trên núi. Và cứ mỗi năm vào ngày mồng ba tháng ba, ngày giỗ Giới, có nước lại tổ chức cúng ông. Hôm đó, kiêng đốt lửa, ăn thì dùng đồ nguội đã nấu sẵn từ hôm trước.

Từ thời Thăng Long Đại Việt, nhân dân ta đã ăn tết này. người ta làm bánh trôi, bánh chay, thay cho đồ nguội, cúng gia tiên là chính, chứ ít ai biết đến ông Giới Từ Thôi.

4. Tiết Thanh Minh- (Mồng chín tháng ba)

Thanh minh trong tiết tháng ba

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.- Nguyễn Du

Thanh minh có nghĩa trời độ ấy mát mẻ quang đãng. Ta cũng nhân dịp ấy mà đi thăm mộ những người trong dòng họ đã mất. Tết thanh minh là lễ tảo mộ. Đi thăm mộ thấy có rậm thì phát quang đất khuyết thì bồi đắp, rồi về nhà thắp hương cúng gia tiên.

5. Tết Đoan Ngọ- (Mồng năm tháng năm)

Còn gọi là Tết Đoan Dương cho nên mới có câu thơ.

Chưa ăn bánh tết Đoan Dương

Áo bông chẳng dám khinh thường cởi ra.

Theo lịch cũ thì ngày 5 tháng 5 là ngày hết xuân sang hạ. Đây là khi thời tiết chuyển mùa nên hay có bệnh thời khí, nhưng cũng là ngày giỗ của Khuất Nguyên - Một thi sĩ Trung Hoa cổ đại, là một trung thần. Khuất Nguyên khi còn làm quan đã can ngăn Hoài Vương . Hoài Vương không nghe, ông phẫn chí gieo mình xuống dòng sông Mịch La tự vẫn. Dân Trung Quốc làm giỗ ông vào ngày 5 tháng 5 và cúng bằng cách ném các loại bánh bao, bánh ngọt cuốn chỉ ngũ sắc ở ngoài (có ý làm cá khỏi đớp mất) xuống sông.

Ta không mấy ai biết ông Khuất Nguyên và tích đó, nên cứ gọi tết 5 tháng 5 là tết "giết sâu bọ", vì như trên đã nói, tiết này là tiết chuyển mùa nên sâu bọ và bệnh tật hay hoành hành.

Xin kể ra đây mấy cách phòng bệnh của nhân dân ta: Lấy lá ngón nhuộm các đầu móng tay móng chân (trừ ngón trỏ), ăn rượu nếp, trứng luộc, cháo chè kê, bánh đa và các loại quả chua chát. Có nơi người lớn uống rượu xương bồ, trẻ em bôi thuốc hồng hoàng (vào thóp đầu, ngực và rốn) gọi là để trừ trùng. Một số vùng nông thôn còn lấy lá ngải cứu kết hình rồng rắn treo ở cửa, lại uống nước các loại lá: ích mẫu, mâm xôi, cối xay, vối vào giờ ngọ (11-12 giờ trưa). Người mê tín thì kết bùa bằng hình màu hoa sen, quả khế đeo vào cổ trẻ em. Không ít người lại mang áo vàng đến xin dấu ấn của Phật, mong ma quỷ bệnh ác đừng quấy rầy.

Tết Đoan Ngọ ở ta vừa có nghĩa là tết giữa năm, phòng bệnh trừ tà vừa là tết tưởng nhớ tổ tiên.

6. Tết Trung Nguyên- (Rằm tháng bảy)

Tiết tháng bảy ma dầm sùi sụt

Toát hơi mây lạnh buốt xương khô - Nguyễn Du

Tết rằm tháng bảy có tên khác là tết Trung Nguyên , người xưa gọi là ngày "xá tội vong nhân". Do đó vào ngày ấy, tại các chùa thờ phật thường làm chay chân tế và cầu kinh Vu Lan. Còn các nhà thì bày cỗ cúng gia tiên, đốt vàng mã và các đồ dùng bằng vàng mã để người ở âm ty dùng.

7. Tết Trung Thu- (Rằm tháng tám)

Tết của trẻ con nhưng người lớn cũng gặp nhau để trà, tửu, ngâm thơ, ngắm trăng gọi là "thưởng nguyệt". Cổ thưởng nguyệt (trông trăng) có chiếc bánh nướng hình trăng tròn, bưởi, hồng và nhiều thứ hoa quả khác (có khi còn được tỉa thành hoa và các hình con giống rất đẹp). Đáng chú ý là các đồ chơi của các em như tiến sĩ giấy, voi, đèn kéo quân, ngựa hồng, các loại mặt nạ, đèn ông sao .... và tối đến trước khi phá cỗ là trò chơi múa rồng, múa sư tử, xem đèn kéo quân.

8. Tết Trùng Cửu- (Mồng chín tháng chín)

Tết này có nguồn gốc ở Trung Quốc, ra đời vào thời kỳ thịnh hành của đạo Lão. Chuyện xưa kể rằng: có người tên là Hoàn cảnh muốn học được phép tiên. Học mãi đến ngày cuối cùng thì thầy bảo hãy may mỗi người một cái túi, hái hoa cúc bỏ vào rồi lên núi ẩn náu. Quả nhiên ngày hôm ấy, mồng chín tháng chín mưa to, ngập hết cả mặt đất. người chết đuối rất nhiều, còn gia đình Hoàn cảnh thì vẹn nguyên.

Thời kỳ Lý - Trần, nho sĩ Việt Nam theo tích đó cũng tổ chức leo núi, uống rượu hoa cúc gọi là thưởng tết Trùng Dương. Bây giờ ít có nơi tổ chức tết trùng cửu.

9. Tết Trùng Thập- (Mồng mười tháng mời)

Tết này các ông thày thuốc thường làm rất lớn. Theo sách cổ Dược lễ thì vào mồng mười tháng mười, các thầy thuốc mới tụ được khí âm dương, mới kết được sắc tứ thời (xuân-hạ-thu-đông) và dùng thật tốt. ở nông thôn gọi là tết cơm mới, có bánh dày, chè kho, gà luộc dùng cúng tổ tiên mừng được mùa lúa.

10. Tết ông Táo- (Tết hai mươi ba tháng chạp)

Tương truyền là ngày ông Táo (Táo quân, vua bếp) lên chầu trời để tâu việc làm ăn cả xứ của mỗi gia đình với Ngọc Hoàng. Chuyện cũ kể rằng: Xưa có hai vợ chồng vì nghèo quá phải bỏ nhau. Sau người vợ lấy được chồng giàu, một hôm đang đốt hàng mã thì thấy một kẻ đến ăn xin. người vợ nhận ra người ăn xin ấy chính là chồng xưa của mình, thương cảm bèn đem cho rất nhiều gạo thóc, tiền bạc. Người chồng mới nghi ngờ vợ, vợ ức quá đâm đầu vào bếp chết. Thương vợ cũ người ăn xin cũng đâm đầu vào lửa chết theo. Ân hận và đau khổ, người chồng mới cũng nhảy vào bếp lửa đó chết nốt. Thượng đế nghe chuyện thương cảm ba con người có nghĩa kia, bèn phong họ làm vua bếp.

Ca dao cổ có câu:

Thế gian một vợ một chồng

Chẳng như vua bếp hai ông một bà.

Theo tích ấy, vào ngày 23 tháng chạp, người ta mua hai mũ đàn ông một mũ đàn bà bằng hàng mã cùng một con cá chép để vua bếp lên chầu trời. Cá chép thường là cá tươi, rất to, khi cúng, cúng cả con ... Và bây giờ mỗi khi vẽ ông Táo, người ta thường vẽ ông đội mũ cỡi cá bay trong mây, nhưng rất tiếc lại không có .... quần.

Bởi vậy mới có bài thơ vui:

Hăm ba ông táo dạo chơi xuân

Đội mũ mang hia chẳng mặc quần

Thượng đế hỏi rằng sao chướng vậy

Tâu rằng: Hạ giới nó duy tân.

Trên đây là điểm qua mười một lễ tết trong năm. Riêng Tết Nguyên Đán còn gọi là Tết Cả vì to hơn thế.

Các lễ tết trên có nơi tổ chức có nơi không, với nhiều hình thức nội dung khác nhau. Còn lễ tết Nguyên đán thì khắp nơi trong cả nước , từ đầu núi đến cuối sông, từ thành thị đến nông thôn, từ biên cương đến hải đảo đều tổ chức gần giống nhau trong mấy ngày. Chỉ khác nhau ở mức sang hèn của từng gia đình hay các loại hoa quả, bánh trái, cơm nước của từng vùng, miền.

Tại Châu Á, vùng bắc Ấn Độ ăn tết vào tháng tư, Nam Ấn Độ từ tháng ba. ở Lào, năm mới bắt đầu trung tuần tháng tư dương lịch. ở Cam Pu Chia, năm mới vào tháng tư, có nơi xê dịch qua tháng ba hay tháng năm. Đặc biệt giao thừa từ năm này qua năm khác, lại vào giữa trưa. Các nước này thường ăn tết theo Phật lịch vào tháng sinh hay ngày xuất gia của Phật tổ Thích ca. Chỉ có Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên (những dân tộc ăn cơm bằng đũa) đón tết Nguyên Đán đúng vào ngày mùng một tháng giêng âm lịch. Riêng nước ta, thì tết Nguyên đán rất phù hợp với đời sống của người nông dân. Vì đó là những ngày mùa màng đã kết thúc. Mọi người được rãnh rỗi, nghỉ ngơi, vui chơi và thăm viếng lẫn nhau, cũng là việc rất cần sau một năm dài lao động cần cù vất vả.

"Tháng giêng ăn tết ở nhà"

Tết nguyên đán trước hết là tết của gia đình. Theo phong tục cổ truyền thì ba ngày tết Việt Nam có ba cuộc gặp gỡ hết sức thiêng liêng và quan trọng ngay trong một nhà. Trước hết là sự gặp gỡ của các vị thần linh. Thần linh ở đây không cao xa, không huyền bí như ở các miếu, các am. Mà toàn các vị thần trong nhà gọi là gia thần. Gia thần gồm có ba vị:

Thứ nhất là tiên sư hay nghệ sư tức vị tổ đầu tiên đã dạy nghề mình đang làm. Nghề nào có tổ ấy, sĩ, nông ,công, thương đều có tổ cả. Kể cả ngành hát tuồng, hát chèo cũng có tổ sư ...

Thứ hai là thổ công, vị thần giữ đất, trông coi nơi nhà mình đang ở.

Thứ ba là táo quân hay vua bếp đã chăm sóc, giúp đỡ việc nấu ăn cho mọi người trong gia đình. Táo quân lên chầu trời vào ngày hai ba tháng chạp. Nhưng tối ba mươi cũng về vui vầy với các gia thần.

Xem ra mỗi người đều cần có nghề nghiệp, cần ăn, mặc, và ở thì ba vị gia thần trên đã đảm nhiệm cho tất cả.

Cuộc gặp gỡ thứ hai là của tổ tiên, ông, bà ... đã khuất (gia tiên)

Tết đến hương hồn họ cũng về sum họp với con cháu trong gia đình (theo sự tưởng tượng phong phú và tình cảm của người đời).

Cuộc gặp gỡ thứ ba là của những người trong nhà. Tức là của một cuộc họp mặt gia đình. Theo tập quán, dầu ai bất cứ ở đâu, làm bất cứ nghề gì, hàng năm mỗi khi tết đến cũng mong muốn tha thiết được trở về nhà sum họp gia đình trong ba ngày tết. Mấy ngày tết tiết trời thường lạnh, đêm lại rất tối nên chẳng ai muốn ra ngoài mà thích nhất là quây quần dưới bóng hương hoa của gia thần tiên chuyện vãn với người ruột thịt trong gia đình. Qua ngày Tết Việt Nam là ngày nhớ nhau, ngày hội đoàn tụ, đoàn viên ấm cúng.

89. Tục “đánh đụng”, “ăn đụng” ngày Tết

Ở nhiều làng quê của Việt Nam, cứ vào những ngày Lễ, Tết, người dân lại cùng nhau "ăn đụng", "đánh đụng". Việc này thường làm với những món thực phẩm chủ yếu và tốn kém nhiều hơn, nhất là thịt. Thịt lợn, thịt trâu, bò, bê... Và ngày thường có cả "đụng" thịt chó ... "Ăn đụng" hay "đánh đụng" có thể hiểu là ăn chung, mấy gia đình cùng chia nhau một con lợn, hoặc một phần con bò, bê. Thường thì những gia đình anh em, họ hàng hoặc cũng có khi là những người láng giềng, những gia đình thân thiết cùng nhau "ăn đụng". Không chỉ những gia đình nghèo mới "ăn đụng" mà cả những gia đình có khả năng chi trả một khoản lớn cho ngày Tết cũng làm việc này. Bởi một lẽ, chỉ trong mấy ngày Tết, một gia đình không thể ăn hết một con lợn, hay một phần con bò.
Việc chuẩn bị "ăn đụng" cũng được chuẩn bị từ trước. Những hộ gia đình có cùng mong muốn sẽ làm chung với nhau. Họ chọn một con lợn thích hợp, rồi làm thịt. Sau khi đã làm xong, sạch sẽ, mọi người đem chia đều tất cả các phần của con lợn ra thành những phần bằng nhau. Mỗi gia đình một phần. Việc "ăn đụng" như thế này tiện ở chỗ, nhà nào cũng có được những phần khác nhau của con lợn, không quá nhiều lại rất thích hợp trong việc chế biến nhiều dạng khác nhau, nhiều món khác nhau cho ngày Tết.

Xưa, cuộc sống của nhân dân còn khó khăn, cả năm mới có một dịp Tết để nghỉ ngơi, ăn uống và thiết đãi anh em, họ hàng. Có gia đình nuôi lợn cả một năm chỉ để cuối năm dành "ăn đụng". Ngày nay việc "ăn đụng" vẫn còn tồn tại ở một số nơi, tuy nhiên không phổ biến như trước nữa. Đến ngày Tết, hàng hóa nhiều, dịch vụ cũng rất thuận tiện, người dân muốn mua ăn lúc nào cũng được, ngày Tết cũng không cần phải trữ nhiều như trước nên không cần thiết phải "ăn đụng".

"Ăn đụng" dù còn phổ biến hay không, đó cũng vẫn là một nét văn hóa đẹp của dân tộc, đặc biệt là trong những ngày chuẩn bị cho Tết Nguyên Đán. Những buổi "đánh đụng" hay "ăn đụng" làm cho không khí Tết thêm phần rộn rã, nhộn nhịp, khắp nơi đều nghe vang tiếng cười nói, tiếng dao thớt rất vui. Và khi đó Tết cũng ý nghĩa hơn

90. Họp họ ngày xuân

Dân tộc ta có nhiều phong tục đẹp trong ngày đầu xuân mới, một trong những nét đẹp ấy, đến nay vẫn được gìn giữ và thực hiện là tục họp họ đầu xuân.
Đây là một hoạt động để mọi người trong cùng họ tộc gặp gỡ nhau, trao đổi và nói chuyện về những gì đã trải qua trong năm, về những dự định năm mới. Việc họp họ thường diễn ra ở nhà trưởng tộc. Các hoạt động diễn ra trong ngày họp họ gồm có thăm mộ tổ tiên và người thân trong dòng họ; tổ chức ăn uống; họp bàn những việc cần làm của họ trong năm tới...

Bắt đầu buổi họp họ, thường thì có sự phân công công việc. Những phụ nữ thường đảm trách việc nấu nướng, làm cỗ. Người đứng đầu dòng họ sẽ làm việc cúng tế tại nhà thờ họ và tại khu mộ. Khi mọi việc xong xuôi mọi người mới tổ chức ăn uống trong không khí thân tình.

Sau khi ăn xong, họ sẽ họp bàn các việc liên quan đến cả dòng họ, gồm có việc xây mộ tổ, lập quỹ chung, quy định tài chính, phận sự của mỗi người trong dòng họ...

Đây là một nét đẹp đã có từ lâu của dân tộc, tuy nhiên đã có thời bị lãng quên. Phát huy và duy trì tập tục này là một điều cần thiết để giữ gìn những bản sắc văn hóa dân tộc.

 91. Dòng họ - nguồn mạch truyền thống

Ở Việt Nam, dòng họ bền vững trong nếp sống cộng đồng. Lịch sử của một làng có khi từ một gia đình sinh cơ lập nghiệp. gia đình lớn dần thành chi, thành phái. Tổ họ đồng thời là Thành hoàng, thành tổ nghề và họ truyền cho con cháu hậu duệ giữ lấy nghiệp lấy nghề, giữ lấy truyền thống làng xã, tổ phụ.

Bởi thế mối liên kết dòng họ tưởng như không thành văn, thành luật nhưng vô cùng chặt chẽ, không chỉ một vài đời con cháu mà nhiều nơi hội đồng gia tộc truyền đời tới vài ba chục thế hệ. Trong cuốn tộc phả dòng họ Nguyễn Ðình ở Nghệ An, mở đầu trang trọng truyền lại cháu con: "Muôn vật sinh ra là nhờ có đất trời, con người sinh ra là nhờ có Tổ tiên. Lòng biết ơn Tiên tổ từ bao đời nay đã là nét cao đẹp trong nhân cách con người. Biết ơn Tổ tiên, con người có thêm sức mạnh tinh thần để yêu giang san, xã tắc, có thêm hạnh phúc bền lâu với đời...". Mới hay việc lập đền, thờ cúng Tổ tiên chứa đựng trong đó tâm thức hướng tới đạo nghĩa làm người ở trong trời đất.
Mối liên kết tộc họ bằng nhiều cách riêng, tùy tập quán địa phương, những quy thức của từng họ mà lâu đời trở thành nền nếp, thành tập quán và truyền thống. Tuy nhiên tính tương đồng mang tính phổ quát. Dòng họ có nhà thờ Tổ. Ngày giỗ, con cháu thập phương tìm đường về thắp hương, dâng lễ tạ ơn Tiên tổ, trời đất. Ðây cũng là dịp các chi xa chi gần tìm về nhận họ hàng, phân định trên dưới, anh em. Những cuộc đoàn tụ như vậy thường diễn ra vào ngày giỗ tổ, hoặc tháng 3, tháng 7 âm lịch, nhằm vào tiết Thanh Kinh hằng năm. Ðó là những dịp gặp gỡ ấm tình huyết thống và cảm động. Cháu con chung sức xây dựng tôn tạo nhà tờ, sửa sang phần mộ. Ðây cũng là dịp để họ đương chi phái kiểm điểm lại những việc cháu con đã làm, những công tích đáng ghi. Theo đó cuốn gia phả, tộc phả có dịp ghi thêm vào truyền thống của dòng họ mình đời này qua đời khác.
Hằng năm, cứ đến ngày 28 tháng 2 âm lịch tại làng Kim Ðôi tỉnh Bắc Ninh dù ai đi đâu về đâu cũng nhớ về giỗ Tổ để tự hào về tổ tiên dòng họ. Trong số 25 tiến sĩ của làng mà bia đá còn ngời ngời nơi Quốc Tử Giám, có tới 18 vị tiến sĩ dòng họ Nguyễn với 13 đời nối tiếp đỗ đại khoa. Ðặc biệt trong đó có 1 gia đình 5 anh em đỗ tiến sĩ trong 4 khoa thi Ðình liên tiếp. Hiếu học là một bằng chứng của truyền thống văn hóa dòng họ. Nhưng không chỉ có thế. Trong gia đình, họ đương nhiều đời truyền lại cháu con nghề truyền thống mà nay thường gọi là nghề gia truyền. Nghề ươm tơ dệt vải, nghề rèn, nghề mộc, nghề chạm khảm, nghề đúc đồng, nặn tượng v.v... Khởi thủy của dòng nghề đó là từ một gia đình, một dòng họ.
Dòng họ trong cuộc sống cộng đồng người Việt mang đậm bản sắc văn hóa. Cây có gốc có rễ, người có nguồn có cội. Bởi thế mà nhiều người Việt, dù đã sống xa Tổ quốc nhưng vẫn hướng lòng về xứ sở, về nguồn cội thiêng liêng của mình. Mấy năm về trước, dòng họ Lý đã đón tiếp hậu duệ một quân vương họ Lý phiêu bạt sang Hàn Quốc. Tính đến nay đã ngót 9 thế kỷ mà con cháu họ Lý vẫn không nguôi nhớ về Tổ tiên xa xưa của mình. Nhiều Việt kiều xa nước, chưa có điều kiện về lại quê hương, đã gửi tiền về cho Hội đồng tộc họ để góp phần mình tu tạo nhà thờ, phần mộ Tổ tông.
Nhiều người tâm huyết với văn hóa dòng họ đã để công trong nhiều thập kỷ nghiên cứu, sưu tầm hệ thống những tinh hoa, truyền thống của dòng họ Việt Nam nói chung cũng như của một số dòng họ đặc sắc trong lịch sử, đóng góp xứng đáng cho sự phát triển văn hóa dân tộc. Cuốn sách công phu "Tìm hiểu di sản văn hóa gia đình Việt Nam", hay "Cuộc hành trình trở về cội nguồn" v.v... Ðặc biệt có những cuốn gia phả như trong "Thiên Nam liệt truyện Nguyễn Cảnh Thị Hoan Châu ký" chép lại một dòng họ từ giữa thế kỷ 17 lại nay.
Tại câu lạc bộ UNESCO, thông tin các dòng họ Việt Nam cách đây không lâu đã tổ chức thành công hội thảo mang tên "Dòng họ với truyền thống văn hóa dân tộc". Nhiều tham luận có giá trị như một công trình nghiên cứu văn hóa đặc thù Việt Nam.

Họ Nguyễn, họ Trần, họ Lê, họ Phan, họ Ðặng... trăm họ tạo nên dân tộc. Trăm ngàn nhà tạo nên làng xã, làm nên Ðất Nước. Nhà có yên thì nước mới vững. Dân có giàu thì nước mới mạnh. Quan niệm về Dân-Nước, về Làng-Nước quyện vào trong hình tượng Tổ quốc, Dân tộc. Dân tộc trường tồn trong nguồn mạch văn hóa cộng đồng. Dòng họ đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu được trong quá trình dựng nước và giữ nước. Gìn giữ bản sắc dân tộc, truyền thống cùng với phong tục tập quán văn minh, tạo nên nếp sống của dân tộc. Tìm về dòng họ, tìm về cội nguồn chính là tìm về truyền thống tốt đẹp của dân tộc của đất nước mình.

92. Vành tóc người Mông Hoa - Nét đẹp trong văn hóa Tây Bắc

Tây Bắc từ lâu được du khách khắp nơi biết đến như là một vùng đất kỳ thú, hấp dẫn với núi cao hùng vĩ, con người mộc mạc thân thiện cùng những nét đặc sắc hiếm có. Và một trong những điều độc đáo đó chính là mái tóc cuốn bồng bềnh như mây trời của người phụ nữ Mông Hoa.

So với các dân tộc sống ở Tây Bắc thì người phụ nữ Mông Hoa thường phục trang hết sức rực rỡ và trên đầu cũng không bao giờ thiếu một vành tóc quấn to hết sức cầu kì. Mái tóc là niềm tự hào của họ, nhất là trong những dịp vui lễ hội, chơi xuân, chị em càng trổ tài sự khéo léo của mình trong việc tết, quấn búi tóc... làm sao có được một mái tóc thật ấn tượng, để gây sự chú ý của mọi người - nhất là các chàng trai đang tìm ý trung nhân.

Để có được mái tóc cầu kì như thế, những bé gái ngay khi còn nhỏ được mẹ chải tóc cho, người mẹ phải dành lại những sợi tóc rơi của con. Những sợi tóc đó được cất vào một chỗ khi được khá nhiều sợi tóc rụng cùng với sự lớn dần lên của những cô con gái thì người mẹ lại đem ra trau chuốt, se lại thành những sợi to bằng nửa chiếc đũa. Lớn dần lên, các cô gái Mông Hoa đã ý thức được việc làm của người mẹ và biết nhặt những sợi tóc rụng của mình mỗi khi chải tóc hoặc gội đầu. Khi đến tuổi trưởng thành các cô gái sẽ mang những sợi tóc rụng giữ được qua bao năm tháng, se tết thành từng sợi to và làm nên búi tóc độn dài đẹp. Vào những ngày tết cổ truyền, lễ hội, ngày vui của cộng đồng, họ lấy búi tóc độn cùng với tóc thật và tạo thành một vành tóc thật to ở trên đầu. Đôi khi ta còn bắt gặp các cô gái làm duyên cho búi tóc bằng chiếc khăn mùi xoa rực rỡ hay những phụ nữ đã có chổng quấn một chiếc khăn bằng vải lanh màu đen quanh đầu tạo thành một vành khăn.

Mái tóc ấy không chỉ làm đẹp cho người phụ nữ trong những buổi chợ phiên mà còn ẩn chứa trong ấy nét văn hóa, một nếp sống và cả tình mẫu tử thiêng liêng của người mẹ dành cho con.

93. Cách đổi ngày dương lịch ra ngày can chi

Ngày can chi:Ngày can chi theo chu kỳ 60, độc lập không lệ thuộc vào năm tháng âm lịch hay năm tháng can chi - (Kể cả tháng nhuận). Tính ngày can chi chuyển đổi sang âm lịch rất phức tạp vì tháng âm lịch thiếu đủ từng năm khác nhau, ngược lại tính ngày can chi theo dương lịch đơn giản hơn.

Cách tính ngày dương lịch ra ngày can chi: Mỗi năm dương lịch có 365 ngày, nghĩa là 6 chu kỳ Lục thập hoa giáp cộng thêm 5 ngày lẻ. Năm nhuận có thêm 1 ngày 29-2 tức 366 ngày, thì công thêmn 6 ngày lẻ. Nếu lấy ngày 1-3 là ngày khởi đầu thì các ngày sau đây trong mọi năm cùng can chi giống 1-3 : 1/3, 30/4, 39/6, 28/8, 27/10, 26/12, 24/2 năm sau đó. Nếu biết ngày 1/3 (hay một trong bảy ngày nói trên) là ngày gì, ta dễ dàng tính nhẩm những ngày bất kỳ trong năm (gần với một trong bảy ngày nói trên).

Nếu muốn tính những ngày 1/3 năm sau hay năm sau nữa chỉ cần cộng thêm số dư là 5 đối với năm thường (tức là từ 24-28/2) hoặc là 6 đối với năm nhuận (có thêm ngày 29/2).

Thí dụ ngày 1/3 năm 1995 là ngày Tân Mão, từ đó tính nhẩm 25/2/1996 cũng là ngày Quí Tị, 27/2/1996 là ngày giáp Ngọ. (1996 có hàng chục đơn vị chia hết cho 4 tức là nǎm nhuận có ngày 29/2).

Ta biết 1/3/1996 là ngày Đinh Dậu vậy 24/21997 cũng là Đinh Dậu. Chỉ cần cộng thêm 5 ngày. Ta dễ dàng tính ra 1/3/1997 là ngày Nhâm Dần, theo tính nhẩm = Đinh đến Nham hay Dậu đến Dần = 5 ngày.(Xem bài so sánh âm dương lịch ở phần Phụ lục sẽ trình bày năm nào nhuận dương lịch và nhuận âm lịch. Thí dụ: Theo cách tính trên ngày 1/3/1997 là ngày Nhâm Dần, ngày 26/12/1997 cũng là ngày Nhâm Dần, vậy ngày1/1/1998 sẽ là ngày Mậu Thân (sau đó 6 ngày)...

94. Yến lão

"Yến" là tiệc rượu. Nhiều làng có tục yến lão, hàng năm hay hai ba năm một lần, thết tiệc mừng thọ các quan lão. Có thể nói đây là một thịnh điển thời thái bình, không phải là một hủ tục đã gây nên nhiều tệ đoan như tục ngôi thứ hương ẩm. "Sống lâu lên lão làng", tự nhiên có vinh dự tuổi thọ, không phải tranh dành mới có, chẳng phải có tiền mà mua được, có quyền thế mà tạo nên được.

Mỗi năm cứ đến dịp làng mở hội hoặc ngày đại lễ có định kỳ, các quan lão tụ hội ở chùa hay nơi công quán hay một đương cai, làng đem cờ quạt với phường bát âm đến rước ra đình. Những làng trù phú thường sắm đủ võng lọng rước lão, lão 100 tuổi đi võng điều che bốn lọng xanh, lão 90 tuổi đi võng điều hai lọng xanh, lão 80 tuổi vọng xanh (đòn cong) một lọng, lão 70 võng xanh (đòn ống) một lọng. Trai tráng cầm cờ khiêng võng đều nón dấu áo nẹp. Đám rước rất trọng thể.
Tại đình làng, nơi giữa thiết lập bàn thờ tiên lão, các quan lão ngồi hai gian bên theo thứ bậc tuổi, có làng yến cả lão bà thì gian trái lão ông ngồi, gian bên phải lão bà ngồi.
Tuỳ theo lệ làng, có nơi lão 90 tuổi hoặc lớn hơn nữa ngồi một mình chiếu nhất, có nơi chưa đến 60 tuổi đã là bậc cao niên nhất, cũng ngồi một mình chiếu nhất.
Tế lão cũng đủ nghi thức như tế thần, ba tuần rượu với văn tế tiên lão, văn chúc thọ quan lão, có ban tư văn hành lễ, phường bát âm tấu nhạc.
Lúc tế, quan lão ngồi trước những mâm cỗ đặt giữa chiếu, chỉ uống rượu suông không ăn, là thủ ý trang nhã, trịnh trọng đối với dân làng, ngồi chứng kiến cuộc lễ diễn hành và chăm chú nghe văn tế, văn chúc thọ. Những mâm cỗ kia sẽ được mang đến từng nhà biếu các cụ.
Cỗ yến lão thường là rất thịnh hậu cả về phẩm lẫn lượng, có nơi mỗi cỗ hai bánh dày, hai bánh chưng với những món giò, nem và nhiều thứ bánh khác làm rất công phu.
Chiếu nhất, một cụ ngồi thì được biếu cả một cỗ gọi là cỗ một, chiếu nhì, hai cụ ngồi là cỗ đôi thì được biếu mỗi cụ một nửa cỗ, những cỗ dưới là đồng hạng cứ bốn cụ một cỗ.
Từ ngàn xưa, những khi có việc làng, không hề có bóng phụ nữ nơi đình trung. Ngày yến, sự hiện diện của các lão bà đem lại cho dân làng một cảm giác đặc biệt vui vể đầm ấm.
Mỹ tục yến lão là do đạo hiếu mà ra, một đặc tính dân tộc, có ý nghĩa rất trọng hậu, trẻ vui đạo trẻ, già vui tuổi già, trái ngược hẳn với cái thảm cảnh ở mấy nước văn minh cường thịnh cứ đến tuổi già là bị liệt vào hạng người vô dụng, ăn hại xã hội, con cháu ít chăm nom, người đời lạnh nhạt.
Lúc vãn niên, tóc bạc da mồi, với cuộc sống buồn tẻ nơi thôn dã năm tháng trôi, các cụ hẳn cũng cảm thấy sung sướng đã được cả làng tỏ tình quý trọng, quý trọng rất mực trong cuộc rước đón những buổi yến ẩm, con cháu các cụ thì được hãnh diện là gia đình có phúc mới được tuổi thọ, cho nên nhiều nhà, dù ngèo cũng ráng may sắm cho ông bà đi dự yến.
Cụ thì mũ ni nhung đen, áo vóc đại hồng, cụ thì khăn nhiễu tam giang, giầy văn hài, cụ thì áo đoạn huyền quần lụa bạch, có những cụ nhà bần hàn, quanh năm quần nâu áo vải lúc này cũng quần chúc bâu, áo the thâm, áo láng chéo go, dép mới thay quai... Y phục tuỳ hoàn cảnh mỗi nhà, không có lệ định nào, chỉ trừ màu vàng của nhà vua, quan dân đều không được mặc.

Trước ngực, dưới vòng dây thao quàng cổ là túi gấm màu lam, màu huyền đựng trầu, thuốc, cối, chày...
Đám rước quan lão, y phục màu sắc như vậy với võng lọng cờ quạt, vừa gợi cảm. Những nhà từ mấy đời không hề có ông cha được dự, không khỏi bùi ngùi tiếc thương người đã khuất, không khỏi thèm muốn ước mong cho gia đình đời nay và đời sau.

95. Tục thờ Thành hoàng

Người Việt Nam có truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, do vậy hầu hết ở mỗi làng quê hay phố nghề (nơi thị thành) đều lập đình (hoặc đền, miếu) thờ vị Thành hoàng của làng hay phường hội.

Thành hoàng là người có công với dân, với nước, lập làng, dựng ấp hay sáng lập nên một nghề (ông tổ của nghề). Dưới các triều vua thường có sắc phong cho Thành hoàng, vì hầu hết Thành hoàng đều có công với nước. Dân làng, hay phường hội đi lập nghiệp nơi khác cũng xây miếu, đền thờ Thành hoàng quê gốc của mình tại nơi ở mới.

Hàng năm, ngày giỗ Thành hoàng là ngày hội đông vui nhất của làng, của phố. Trong những ngày hội làng, ngoài việc làm cỗ, ăn uống còn rất nhiều nghi lễ như diễn lại sự tích về Thành hoàng, tế lễ, rước kiệu hay các trò vui: đấu võ, chọi gà, thổi cơm thi, bơi chải, đánh đu, đánh cờ người, hát chèo, diễn tuồng... Không khí vui vẻ cả ngày lẫn đêm (có nơi hai, ba ngày), từ các lão ông, lão bà đến mỗi cháu bé, và chờ đợi nhất, vui nhất là những trai gái đương lứa, hội hè đình đám là dịp gặp gỡ, kết bạn, tỏ tình.

Ngày nay, vào ngày giỗ Thành hoàng, người dân nhiều địa phương đồng thời thờ cúng các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh vì dân vì nước. Họ được ghi nhớ công ơn hoặc lưu danh trên bia mộ.

96. Báo bản-Một phong tục tập quán đẹp vùng chân quê

Xã Yên Từ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình là xã có phong tục Báo Bản. Thôn Nộn Khê, một trong 6 thôn của xã Yên Từ là chốn chân quê, nơi giữ gìn lâu đời phong tục đẹp này. Nộn Khê hình thành làng từ thời Lê-Hồng Đức, cách đây đã hơn 500 năm. Làng có 8 họ chính: Bùi, Đinh, Phạm, Cao, Mai, Lê, Trần, Nguyễn. Quá trình xây dựng và phát triển, 8 họ chính trên đã mở ra nhiều chi, hiện nay có đến 26 dòng họ.

Tục lệ Báo Bản hình thành từ lâu và được phát huy cho đến ngày nay, mà trong thời đổi mới này tục lệ đẹp càng thêm phong phú, đa dạng. Báo là báo công, báo những việc đã làm trong năm qua, bản là gốc. Vậy Báo Bản là tổ chức một cuộc lễ hội để nhớ về nguồn gốc, nhớ về tổ tiên, những người đã có công lao xây dựng làng xóm ngày nay và sự đóng góp của lớp con cháu sau này. Ngày Báo Bản là ngày hội tụ của con cháu, của tất cả các dòng họ đang công tác, học tập, lao động từ "bốn phương" về. Nhiều người từ phía Nam, đông nhất là ở TP.Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh ở phía Bắc, đến ngày Báo Bản là rủ nhau về quê dự lễ hội. Ca dao về ngày này được lớp lớp cháu con thuộc lòng:

Dù ai muôn nẻo đó đây
Mười tư tháng Một là ngày hội quê
Dù ăn buôn bán trăm nghề
Nhớ ngày Báo Bản, ta về quê ta
Đúng ngày 14 tháng Giêng âm lịch, sau Tết, không khí mùa xuân còn đậm nét, làng tổ chức lễ hội. Đầu tiên là cuộc rước kiệu, những cỗ Bát cống, Long đình được đặt trên vai các công dân trẻ của làng, trong tiếng trống cái và điệu nhạc du dương của phường bát âm, kiệu được rước quanh làng rồi trở về đình. Một cụ già có uy tín, mũ áo chỉnh tề, hướng lên nơi thờ tổ tiên, trong ánh sáng của các cây nến và hương thơm của những cây nhang trầm, trịnh trọng, dõng dạc đọc bài văn tế. Bài văn tế được soạn công phu, nói về công ơn của tổ tiên và việc xây dựng làm xóm trong thời đại mới, những tiến bộ, những thành tích của dân làng, những nét đẹp trong tình làng nghĩa xóm, trong việc sản xuất và học hành và xin hứa với người xưa là luôn vun đắp cho cái gốc được muôn đời bền vững.
Sau lễ là tổ chức yến lão, mừng các cụ vào tuổi thọ đáng kính, từ 60 tuổi trở lên. Các xóm đứng ra cáng đáng việc này. Không tổ chức ăn uống, mà làm lễ dâng hương, đọc thơ chúc mừng. Cụ Bùi Văn Mược, một cán bộ cấp úy của quân đội, vừa vào tuổi "xưa nay hiếm", vui vẻ nói với tôi:
- Sống trong chế độ mới, ở nông thôn, môi trường thoáng đãng, con cháu phụng dưỡng chu đáo, lại được thảnh thơi về tinh thần, nên tuổi thọ của các cụ ở Nộn Khê khá cao. Đến đầu xuân 1998 này, Nộn Khê có hơn 500 cụ đã qua tuổi 60, hơn 200 cụ từ 70 đến 79 tuổi; 80 cụ từ 80 trở lên. Bà cụ Đinh Thị Vi, thọ đến 102 tuổi, vừa qua đời tháng 4/1998. Năm nay, lễ Báo Bản có 5 ô tô chở đầy con cháu các nơi về, trong đó có TP.Hồ Chí Minh, Thanh Hóa, Hà Nội, Nam Định.
Nộn Khê còn một nét đẹp này: thôn có chùa lại có nhà thờ, bà con theo đạo Phật, đạo Công giáo và nhiều người không theo đạo nào nhưng tất cả vẫn đoàn kết, giúp đỡ nhau trong sản xuất, dựng xây, học hành. Làng này, việc trị an được đảm bảo, nghề phụ phát triển, đan lát, thêu ren, cây cảnh và đặc biệt, việc học hành của các cháu được mọi người chăm lo.
Qua chuyện trò với bác Bùi Văn Mược và gặp mấy cụ cùng mấy anh cán bộ, tôi được biết, Nộn Khê có truyền thống về học hành. Thời xưa, Nộn Khê có 53 cử nhân và tú tài. Sau Cách mạng tháng 8-1945, làng này có một tiến sĩ, 6 phó tiến sĩ, 132 thạc sĩ và cử nhân. Năm 1997, Nộn Khê có 10 học sinh thi đỗ vào các trường đại học. Đến mấy xóm nhỏ, tôi được các cụ đọc cho nghe một câu đối khá hay:
Bách niên văn vật thanh danh địa
Tứ giáp nay y quan lễ nhạc đìnhĐã hàng trăm năm, đất này nổi tiếng là nơi văn vật.

97. Làm lễ yết cáo tổ tiên xin đặt tên cho con vào sổ họ như thế nào?

Vấn đề này đã có lệ từ xưa, chẳng có gì mới mẻ. "Họ nào đã có nề nếp sẵn thì cứ theo lệ cũ tiến hành".
Đối với những họ mới phục hồi lại việc họ, chưa vào nền nếp, chúng tôi xin mách một vài kinh nghiệm:

Yết cáo tổ tiên: Theo lệ cũ chỉ sau khi đối chiếu gia phả, kiêng kị các trường hợp phạm huý (đặt tên trùng với tên huý của tổ tiên và thân nhân gần gũi nhất, kể cả nội ngoại) mới chính thức đặt tên huý cho trẻ sơ sinh, yết cáo tổ tiên và xin vào sổ họ. Ngày nay phải làm thủ tục khai sinh kịp thời, trường hợp ở xa quê, không kịp về đối chiếu gia phả, nhỡ trùng tên huý tổ tiên trực hệ, thì tìm cách đổi, hoặc tránh gọi thường xuyên trong nhà. Lễ yết cáo tổ tiên rất đơn giản, nén hương, cơi trầu, chén rượu cũng xong, thường kết hợp lễ tế tổ hàng năm mà yết cáo chung tất cả con cháu trong họ sinh trong năm cùng một lượt. Lễ vào số họ cũng đơn giản, cốt sao cho gia đình nghèo nhất trong họ cũng không gặp phải điều gì phiền phức.

Vào sổ họ: Thứ tự sổ họ ghi theo năm sinh, ai sinh trước ghi trước, sinh sau ghi sau. Trường hợp nhiều năm bị phế khoáng nay mới lập lại sổ họ, thì phải thống kê theo đơn vị hộ gia đình hoàn chỉnh cả họ, sau đó mới lập số tiếp đối với những trẻ sơ sinh.
Mẫu số: Họ Tên (Tên Huý. Tên thường gọi) con ông bà, thuộc đời thứ mấy, chi thứ mấy? Con trưởng hay con thứ mấy? Ngày tháng, năm, sinh, ngày vào sổ họ.
Con gái vào sổ họ: Bất cứ trai hay gái, sau khi sinh đều có yết cáo tổ tiên, đã được tổ tiên phù trì phù hộ, nhưng nhiều họ ngày xưa không vào sổ họ đối với con gái, cho rằng "Nữ nhân ngoại tộc", con gái là con người ta, lớn lên đi làm dâu lo cơ nghiệp nhà chồng vì thế không công nhận con gái vào họ. Tuy vậy, ngay trước Cách mạng Tháng Tám 1945 một số họ đã xoá bỏ điều bất công đó, con gái cũng có mọi quyền lợi nghĩa vụ như con trai.
Ngày nay, trong phong trào khôi phục việc họ, xin kiến nghị các họ đặc biệt quan tâm đến con gái và nàng dâu của họ, họ nào coi trọng vai trò phụ nữ, và coi trọng vai trò người mẹ, người vợ, người cô, người chị, thì họ đó mới vững mạnh. Cả nước đang ra sức vận động kế hoạch hoá gia đình, con gái cũng như con trai, vậy nên vận dụng phong tục cũng phải phù hợp với tư duy thời đại.

98. Tục cưới ba miền

Hôn lễ của dân tộc Việt có quy định chặt chẽ từ trước tới nay. Đám cưới mỗi miền Bắc, Trung, Nam có một nét đặc trưng riêng biệt, mang đậm phong tục, tập quán riêng của từng vùng.
Lễ cưới miền Bắc- Nghi lễ cưới ở miền Bắc phải giữ 3 lễ:
Dạm ngõ: là lễ tiếp xúc đầu tiên, chính thức của hai gia đình nhà trai và nhà gái, được xem là thủ tục cần thiết để "chỗ người lớn" thưa chuyện với nhau. Sau lễ dạm ngõ, người con gái được xem như có nơi có chốn, bước đầu tiến tới chuyện hôn nhân.

Lễ ăn hỏi: Gia đình dù giàu hay nghèo cũng không thể thiếu cơi trầu. Một lễ ăn hỏi của người Hà Nội  phải có cốm và hồng. Nếu gia đình khá giả, ngoài cốm, hồng và trầu cau còn có thêm lợn sữa quay. Ðồ lễ ăn hỏi gắn liền với đặc sản của các vùng như: bánh cốm, bánh su sê, mứt sen, chè, rượu, trầu cau, thuốc lá... Thông thường ăn hỏi gồm có 3 lễ: đàng nội, đàng ngoại, tại gia.

Lễ cưới: Sau khi ăn hỏi khoảng 10 ngày, lễ cưới được tổ chức. Ngày xưa, lễ rước dâu có rất nhiều thủ tục, đi đầu đám rước là những người giàu có, địa vị trong làng xã. Khi đón dâu ra đến đầu làng còn có lễ chăng dây, muốn đi qua phải đưa một ít tiền. Ăn uống, tiệc tùng diễn ra trước khi cưới 1 ngày.Ðám cưới bắt đầu bằng thiệp báo hỷ, khi đưa thiệp mời cưới phải đưa kèm theo chè và hạt sen (lấy từ lễ ăn hỏi). Ðến nay tục này vẫn còn được giữ lại.

Trong lễ đón dâu, cô dâu chú rể phải làm lễ gia tiên như một sự tưởng nhớ đến cội nguồn, tổ tiên. Sau lễ thành hôn, hai vợ chồng trở về nhà gái mang theo lễ vật để tạ gia tiên gọi là lễ lại mặt. Sau đó, bố mẹ cô dâu mới chính thức tới nhà thông gia vì trong lễ cưới mẹ cô dâu không đi đưa dâu. Lễ lại mặt thường tiến hành vào ngày thứ hai hoặc thứ tư sau lễ cưới (gọi là nhị hỷ hoặc tứ hỷ).

Lễ cuới miền Trung

Quy trình tổ chức lễ cưới ở miền Trung cũng có đủ các bước từ lễ chạm ngõ, hỏi cưới, đến vu quy. Đám cưới miền Trung thường diễn ra giản đơn, không phô trương nhưng ở mỗi phần cụ thể khá cầu kỳ với quan niệm "trọng lễ nghi khi (khinh) tài vật".

Trước khi chuẩn bị lễ hỏi, cưới, người ta thường xem ngày giờ tốt xấu, có khi lên chùa thỉnh ý các cao tăng. Sau khi chọn được ngày giờ đẹp, hai bên thông gia sẽ báo cho nhau bằng một cuộc thăm đơn giản. Việc này đôi khi do đôi bạn trẻ thực hiện nhưng phải là hai nhà có thân tình từ trước.
Ðối với đám hỏi, người miền Trung chỉ xem là buổi gặp mặt giữa hai gia đình và họ hàng thân thích để giới thiệu đôi bạn trẻ, không tổ chức rầm rộ. Ðám cưới có các lễ: xin giờ, bái tơ hồng, rước dâu diễn ra ở nhà gái, đón dâu, trình báo gia tiên ở nhà trai. Người miền Trung không có tục thách cưới. Lễ vật tối thiểu chỉ gồm: mâm trầu cau, rượu trà, nến tơ hồng, bánh phu thê. Nếu khá giả, nhà trai có thể thêm bánh kem, bánh dẻo, không có "lợn quay đi lộng" như nhiều nơi. Ngoài ra, đám cưới ở miền Trung thường có phù dâu, phù rể và hai đứa trẻ thường là một trai, một gái tuổi tương đương cầm đèn hay cầm hoa đi trước.

Khi đưa dâu, thông thường bố mẹ cô gái không đi cùng mà hôm sau mới sang nhà trai với ý nghĩa xem con gái ngày đầu về làm dâu có gì phật lòng nhà chồng không. Buổi gặp này, hai bên thông gia đối đáp những câu khách sáo, nhắn gửi con cái cho nhau, căn dặn con mình phải thuận thảo với gia đình.

Trong phòng tân hôn phải có: một khay lễ với 12 miếng trầu, đĩa muối, gừng và rượu giao bôi. Ðôi bạn trẻ phải nhai hết 12 miếng trầu, tượng trưng cho 12 tháng hòa hợp trong một năm, 12 năm hòa hợp tuần hoàn trong một giáp âm lịch. Việc ăn muối, gừng mang màu sắc dân gian, biểu tượng nghĩa tình nồng thắm. Rượu giao bôi theo đúng với lễ giáo phong kiến của Trung Hoa cũ.

Hiện nay, lễ này đã được nhiều gia đình miền Trung giảm bớt. Khi rước dâu, bố cô gái theo về nhà trai bằng một chiếc xe khác, tại tiệc đãi sẽ trao đổi với nhà trai. Ba ngày sau lễ cưới, cô dâu mới được trở về nhà bố mẹ đẻ để thu dọn tư trang, bắt đầu cuộc sống mới tại nhà chồng.

Tính cầu kỳ của người miền Trung tại lễ cưới chủ yếu trong cách hành xử. Không ầm ĩ, ồn ào, thái quá trong các lễ và tiệc cưới. Việc thưa gửi, trình bày của chủ hôn, bố mẹ hai bên rất cầu kỳ và không bỏ sót.Vị chủ hôn thường là cao niên trong dòng tộc hai bên, thân thuộc với gia đình, vợ con đầy đủ, không tật bệnh, tuổi không khắc kỵ đôi tân hôn. Các phù dâu, phù rể là người chưa có chồng, vợ, tính tình vui vẻ nhanh nhẹn.
Việc bài trí phòng tân hôn phải do một người phụ nữ lớn tuổi, phúc hậu sửa soạn. Lễ vật rước dâu, nhà trai nhờ một người cao tuổi, đủ vợ chồng con cái, gia đình hòa thuận kiểm tra. Sau khi lễ xong, cặp nến hồng được người này thổi tắt. Số người nhà trai đi rước dâu luôn ở số chẵn. Khi đón dâu, nhà trai thường cử vài người đàn ông trẻ tuổi hoạt bát, đã có vợ con ra đứng đón sẵn để "lấy hên" cho đôi tân hôn.

Nét riêng trong đám cưới Nam bộ

Hôn lễ chính cử hành tại bàn thờ tổ tiên trong gia đình. Bàn thờ phải có đủ "hương đăng hoa quả".Họ hàng nhà trai đến phải có người làm mai đi đầu. Lễ vật gồm: trái cây, bánh kẹo, trầu cau. Ngoài ra, phải có cặp đèn (nến) trùng với kích thước của đôi chân đèn trên bàn thờ. Đây được xem là nét văn hóa, linh thiêng của dân tộc Việt. Ðại diện nhà trai kính cẩn mời nhà gái uống trà, rượu, và mời ăn trầu. Hai bên bàn bạc với nhau vài chi tiết, tặng nữ trang, tiền mặt. Khi trưởng tộc nhà gái tuyên bố: "Xin làm lễ lên đèn" là lúc đôi bạn trẻ chính thức trở thành vợ chồng.

Lên đèn là nghi lễ quan trọng và thiêng liêng. Hai ngọn nến to do nhà trai đem đến được đặt trên bàn thờ ông bà. Người trưởng tộc khui một chai rượu do nhà trai đem đến đứng trước bàn thờ, giữa cô dâu và chú rể, chờ lửa ở hai ngọn nến cháy đều, ông trưởng tộc trao cho hai vợ chồng mỗi bên một ngọn để cắm vào chân đèn. Ngọn đèn phải cháy thong dong, đều đặn, nếu bên cao bên thấp thì sẽ có dư luận chàng rể sợ vợ, cô dâu sẽ “làm chồng”.

Lễ lên đèn có một sự tôn nghiêm kỳ lạ với ý nghĩa: lửa là sự sống, niềm lạc quan, nối quá khứ đến hiện tại, mặt đất lên trời...Chính vì thế, đây là một nghi thức bắt buộc không thể thiếu ở mọi hôn lễ từ xưa đến nay của người miền Nam.

99. Lễ khai sinh đặt tên -1 nét VH độc đáo của người Raglay

Dân tộc Raglay là một trong 26 dân tộc thiểu số tại Bình Thuận, tập trung ở 6 huyện: Bắc Bình, Tuy Phong, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân và Tánh Linh. Ở Tuy Phong, người Raglay cư trú tại 3 xã: xã Phan Dũng, Vĩnh Hảo, Phong Phú. Ở Phan Dũng, người Raglay cư trú thành từng buôn làng, giống như người Chăm (palei).
Bà con nơi đây sống chan hòa, cùng nhau làm ăn sinh sống, cùng nhau bảo vệ buôn làng.
Không như một số dân tộc khác như Kinh, Chăm, người Raglay không để lại một nền văn hóa rực rỡ, mà chỉ là những lễ nghi liên quan đến tập quán canh tác, chu kỳ đời người. Về việc thờ cúng, người Raglay ở đây thờ cúng thần linh, tổ tiên, các nghi lễ cúng bái này diễn ra thường xuyên hằng năm để mong thần linh, tổ tiên phù trợ, giúp đỡ. Về lễ tết, người Raglay thường tiến hành các nghi lễ khi chọn rẫy, phát và đốt rẫy, gieo trỉa và thu hoạch lúa. Theo chu kỳ đời người, người Raglay có các lễ khi sinh nở, ốm đau, cưới xin, ma chay… Ở đây chúng tôi chỉ xin đề cập đến lễ khai sinh đặt tên của người Raglay ở xã Phan Dũng huyện Tuy Phong.
Sau khi đứa bé chào đời, mẹ cha tiến hành nghi lễ Pơl Sa-úp vavruh Payua anãn-cúng bái khai sinh đặt tên hay còn gọi là lễ ra mắt, trình diện. Với mọi người Raglay đây là nghi lễ đầu tiên, thường được tiến hành sau khi chào đời nên từ xưa đã có câu “đẻ tại bếp mẹ xỏ tai, đặt tại sạp cha đặt tên”. Tuy vậy, tùy hoàn cảnh mỗi gia đình, lễ khai sinh đặt tên có thể lùi lại chậm nhất 15-20 ngày sau khi đứa bé chào đời. Buổi lễ được tiến hành tại nơi trang trọng nhất trong nhà, gia đình sửa soạn các loại mâm có chân cao vài mươi phân, mâm có vành quý và mới đặt cạnh để bày các lễ vật dâng cúng Yàng và trình diện tổ tiên, ông bà, cỗ cúng thường có cơm và cỗ khau trầu tạ.
Mời dân làng súc rửa miệng chà răng, ăn vôi tiện đãng ăn trầu trên khau: ba mươi bảy miếng trầu têm, bốn mươi bảy miếng cau, bày rượu nguyên ché, gà nguyên con. hầu ta súc rửa miệng chà răng là cách nói hàm ý khiêm tốn vì lễ vật nhỏ mọn, không có gì quý giá, chỉ đủ để tráng miệng thôi. Tuy nói ba mươi bảy miếng trầu têm, bốn mươi bảy miếng cau bửa, nhưng thực chất chỉ bày trên khay bảy miếng trầu têm và bảy miếng cau bửa cùng các lễ vật khác. Cạnh các lễ vật trên, theo tục lệ trong lễ cúng khai sinh đặt tên, gia đình còn bày biện các mâm lễ vật là những đồ dùng trong gia đình. Trẻ sơ sinh là con gái thì bày cái dừng, cái sàng, cái nia… Trẻ sơ sinh là con trai thì bày cái rựa, cái ná và ống tên…
Sau khi khấn vái, thường trong buổi sáng nếu là con trai, người cha đem cây ná (nỏ) ra sân bắn về phía mặt trời mọc sáu mũi tên và bắn về phía mặt trời lặn ba mũi tên cho bay mất hút vào không trung, hàm ý cầu mong cho đứa bé dồi dào sức khỏe, trở thành chàng trai thông minh lanh lợi, đủ sức vượt qua mọi thử thách, làm ăn no đủ, thăng tiến trong cuộc sống không gì ngăn cản được.
Lễ vật bày trên mâm cúng theo tục lệ xưa tuy chỉ là những đồ dùng thô sơ trong sinh hoạt thường ngày khi xã hội chưa phát triển, nhưng bao hàm ý nghĩa sâu xa là cầu mong cho con cái khi lớn lên có nhiều sức khỏe, cần mẫn làm ăn, siêng năng lao động, có trí thông minh, tay chân khéo léo… để tạo dựng cuộc sống ấm no và bảo vệ nương rẫy xóm làng. Dù xã hội đã phát triển, lễ tục có thể có biến đổi nhưng trước hết lễ khai sinh đặt tên nhằm tạ ơn Yàng Giùc-Giàng Bà mụ đã phù hộ cho việc sinh đẻ an toàn. Trong lễ nghi này có lời khấn: Cúng hầu Thần dưới, tạ ơn Thần trên, rượu rót trong chén nhỏ, đựng lọ bạc quý mời ăn uống, nhấm nháp…Lễ vật trong lễ khai sinh đặt tên tùy hoàn cảnh gia đình mà sửa soạn đơn giản hoặc phong phú bằng những hiện vật có sẵn trong nhà trên rẫy, nhưng vật chất dù ít hay nhiều thì ngoài những người trong họ, gia đình còn mời bà con hàng xóm láng giềng đến ăn trầu, hút thuốc, chúc mừng đứa bé ra mắt chào đời, cùng chứng kiến lễ tục Iaq càc Pach hàc tubuai-xem lưỡi gà (trước đây thường nói bói lưỡi gà) và chung vui cùng gia đình, góp lời bàn tốt đẹp về tương lai một thành viên mới của gia đình và cộng đồng.

100. Tại sao phải có phù dâu

Tục lệ xưa cần có phù dâu vì hôn nhân cưỡng ép, do cha mẹ định đoạt, nhiều nơi lại có nạn tảo hôn, thông thường thì "Nữ thập tam nam thập lục", con gái mười ba tuổi về nhà chồng đã biết gì đâu! do đó cô dâu phải có người dẫn dắt. Người dắt cô dâu gọi là phù dâu.Ngày xưa phù dâu phải là người cô, người dì hay chị em thân thiết của cô dâu, có khả năng thuyết phục, bày vẽ cho cô dâu, được cô dâu kính nể, mến phục, được bố mẹ cô dâu ủy thác. Người phù dâu phải là người may mắn, tốt phúc, duyên ưa, phận đẹp, con gái lành mạnh ngoan ngoãn, gia đình êm ấm, đề huề có thể truyền kinh nghiệm làm dâu, làm mẹ, làm vợ cho em, cho cháu mình. Phù dâu nhiều khi còn phải ở lại năm bảy ngày sau để cho cô dâu đỡ buồn và để chỉ bảo kinh nghiệm. Thông thường phù dâu cũng trở lại với dâu rể trong lễ lại mặt.

Đám cưới ngày xưa phải có phù đâu, không định lệ, và cũng không có danh từ "Phù rể". Đám cưới ngày nay, nhiều nơi có cả phù dâu, phù rể, có đám mời đến năm sáu đôi phù dâu phù rể toàn là trai thanh, gái lịch, chưa vợ chưa chồng. Có lẽ chủ yếu để cô dâu thêm bạn, chú rể thêm bầu. Hay phải chăng ngày nay chàng rể bẽn lẽn e thẹn hơn xưa, nên phải có người dẫn dắt. Hay đám cưới trước thường sinh ra nhiều đám cưới sau nên phải chăm lo đào tạo những cô dâu, chú rể tương lai.

101. VSao có tục bán mở hàng?Bán mở hàng tn cho đắt khách?

Đầu năm ai cũng muốn vận hội hanh thông, làm ăn suôi sẻ, làm quan có ngày khai ấn, kẻ sĩ có ngày khai bút, nhà nông có ngày khai canh, làm thợ có ngày khai công, người làm nghề buôn bán có ngày mở hàng.

Theo tâm lý chung mọi việc khởi đầu đều khó khăn, mà "Đầu đi thì đuôi lọt!". Riêng trong nghề buôn bán lại càng bấp bênh, có ngày mua may bán đắt, có ngày ngồi suốt buổi chẳng ai ngó tới, có tháng lời lãi nhiều, lợi lộc lớn, có tháng thua lỗ mất cả chì lẫn chài, vì vậy không những chọn ngày mở hàng đầu năm, mà cả đầu tháng, đầu tuần, từng ngày còn phải để ý đến chuyện mở hàng: mở hàng vào lúc nào ? Bán cho ai "Nhẹ vía" để cả ngày bán đắt hàng?

Thông thường muốn được đông khách đến mua thì thái độ người bán hàng phải niềm nở, vồn vã, ân cần, bán nới giá hơn bình thường để cầu được đông khách và giữ được chữ Tín đứng hàng đầu. Song có người lại tưởng nhầm bán mở hàng phải bán cho đắt, người mua mặc cả chê đắt không mua bỏ đi, rốt cuộc ngồi lì suốt buổi không ai hỏi đến, thậm chí còn có thái độ và ma thuật bỉ ổi cho là tại người mở hàng nặng vía, chửi rủa ngầm và "Đốt vía" người mở hàng. Người bán hàng như vậy không biết rằng: chính mình là người nặng vía nhất.
Ngày trước người ta muốn đi chợ sớm để được mau mở hàng có giá rẻ hơn chút ít, nhưng ngày nay nhiều người ngại mở hàng vì sợ vướng phải hạng người không biết mình bán hàng nặng vía lại đòi "Đốt vía" người mua mở hàng.
Đến đây ta có thể kết luận được: Bán mở hàng nên bán đắt hơn hay rẻ hơn giá bình thường?
Chuyện vui: "Mở hàng nhẹ vía" hay "Nợ như Chúa Chổm"
"Nợ như Chúa Chổm". Đó là thành ngữ phổ biến để chỉ người lắm nợ. Nhưng tại sao Chúa Chổm lại lắm nợ như vậy ? Truyền thuyết kể rằng: "Chổm" là hàng cùng dân ở miền Thanh Hoá, chẳng có gia tài điền sản hay nghề ngổng gì, quanh năm chỉ có đánh dậm, mò cua, bắt ốc nuôi thân. "Chổm" tên thật là gì, quê quán ở đâu, bà con họ hàng thân thích có những ai ? Chẳng ai để ý đến. Một con người "Tứ như Chúa Chổm" được. Nguyên do: có mấy lần sáng sớm, Chổm vào một quán nhỏ ăn lót dạ, tự nhiên những hôm dó chủ quán bán rất đắt hàng. Vì vậy, một đồn mười, mười đồn trăm, các chủ quán ai gặp Chổm, cũng có nài Chổm vào ăn quà lấy may. Ai được Chổm hôm nào chiếu cố vào ăn thì hôm ấy đều bán được đắt hàng. Nhưng Chổm làm gì có nhiều tiền để trả, người ta vui lòng mời Chổm ăn, bao giờ có tiền trả cũng được, mà không có cũng thôi, do đó trong khắp vùng không ai mắc nợ nhiều bằng Chổm.
Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi của vua Lê Cung Hoàng, dựng nên nhà Mạc. Đến nay 1532 Nguyễn Kim khởi nghĩa phò Lê chống Mạc, đi tìm hậu duệ tôn của vua Lê, tìm được Chổm, mặc dầu khố rách áo ôm, nhưng có khí tướng đế vương (người ta còn đồn đại rằng: Chổm đi đâu cũng có đám mây che trên đầu, trời đang nắng gắt cũng trở nên dâm mát...) Chổm được phò lên ngôi vua mở đầu thời Lê Trung Hưng đóng đô ở Thanh Hoá (tức Tây đô) để chống với nhà Mạc ở Hà Nội (tức Đông đô).
Sau khi lên làm vua, không có điều kiện gần gũi quần chúng như trước, và cũng không nhớ nợ ai bao nhiêu mà trang trải nợ nần nữa, Chúa Chổm (thực ra là Vua Chổm) đành phải hạ lệnh đúc thật nhiều tiền, rồi Chổm đi đến đâu rải tiền ra đến đấy, cho công chúng ai nhanh tay, mạnh bước thì nhặt lấy. Vì thế nên mới có thành ngữ "Nợ như Chúa Chổm".

102. Tục chèo thuyền trên sông Đà, đêm ba mươi Tết

Còn một canh giờ nữa mới đến giao thừa. Thế mà ông lái đò già râu tóc bạc phơ đã áo the khăn xếp chỉnh tề ra ngồi ở bến sau đình. Chả là đêm nay làng Khê Thượng, huyện Ba Vì có một tục lệ quan trọng. Từ bao đời nay, đình làng này cũng như biết bao ngôi đình của xứ đoài thờ Tản Viên sơn thánh, vị thánh đứng đầu Tứ Bất tử trong tâm linh người Việt.

Rất nhiều làng có lễ hội tế thánh Tản vào đầu xuân. Riêng làng này ngoài lễ hội tế thánh từ chiều mùng 2 Tết đến hết mùng 6 tháng Giêng có đấu vật, “chém may” (chém cây chuối tượng trưng chém kẻ trộm), lại đặc biệt có tục đêm giao thừa làm lễ chèo thuyền trên sông Đà đưa Công chúa Ngọc Hoa là vợ của Sơn Tinh về thăm Vua cha Hùng Vương ở Nghĩa Lĩnh. Các cụ kể rằng: Ngọc Hoa là người con rất hiếu thảo, lấy chồng về núi Ba Vì rồi nhưng Tết nào cũng đòi được về thăm cha mẹ.
Tại sao chỉ riêng làng này có tục lệ ấy? Có lẽ là nếu chiếu thẳng 2 đỉnh núi Ba Vì và Nghĩa Lĩnh thì đường qua Khê Thượng là ngắn nhất chăng? Nhưng đây chỉ là lượt Công chúa đi sang Nghĩa Lĩnh thôi! Lượt trở về núi Tản, là ngày mùng tám tháng Giêng thì nàng lại đi qua làng Trẹo, ở Phong Châu, Phú Thọ. Đến ngày mùng tám, làng Trẹo mở hội Rước Chúa gái, có cô gái trinh đóng vai Công chúa, có trò "bách nghệ khôi hài"...
Đã 50 năm qua, từ ngày giặc Pháp đốt phá, làng Khê Thượng không còn đình. Mấy năm gần đây mới xây lại, không được to đẹp như xưa nhưng vẫn giữ dáng dấp đình Đoài, mái sụp thấp xuống, các đầu đao cong vểnh lên như một bông hoa loa kèn úp xuống.
Từ sau ngày hai ba tháng Chạp, ông Táo lên trời, bô lão trong làng đã chọn ra một người lái đò để đến giao thừa chèo thuyền đưa Công chúa. Phải là người khoẻ mạnh và có đức hạnh, phải sạch bụi (không có trở) và chay tịnh, được trai tân là tốt nhất. Năm nay, làng chọn người con trai của ông lái đò già. Trong tâm linh của dân làng, ai được chọn là vinh dự và tốt phúc, nhưng phải hết sức nghiêm cẩn vì là việc nhà Thánh. Từ mấy hôm nay, chiếc thuyền gỗ nhà ông được cọ sạch, đêm nay được trải chiếu hoa và được kết hoa lá, đang đỗ ở bến kia. Anh con trai hôm nay đã tắm gội bằng nước hạt mùi và mặc quần áo mới, ngoài trùm chiếc áo nỉ đỏ của làng, lúc này trực sẵn bên mái chèo, hồi hộp chờ đợi. Đêm hết năm, bốn bề yên tĩnh, các làng xóm xa in bóng lờ mờ, mặt sông Đà phẳng lặng, lắng tai nghe mới nghe thấy tiếng vỗ bờ róc rách.
Mấy ngày qua, ông lái đò già đã kể lại những truyền thuyết về Sơn Tinh, Thuỷ Tinh cho con trai nghe và đưa con chèo thuyền về phía thượng lưu, đến những nơi có di tích. Nào lăng Đồng Luận có Sụ đá là nơi bà mẹ của Nguyễn Tuấn - tên của Sơn Thánh, đã ngồi đẻ ra ông, nay còn in vết bàn chân; nào động Lăng Xương là nơi có đền thờ bà, nào Bãi cơm rơi, tục truyền là nơi xưa Nguyễn Tuấn qua sông đi hái củi, bẻ cơm nắm rơi, những hạt cơm tụ thành doi bãi; nào Ngòi Lạt là nơi Sơn Tinh cho quân chẻ lạt tươi thả xuống, mọc thành rừng tre gai chặn quân Thuỷ Tinh...
Đêm nay, anh lái đò trẻ nhìn lên trời, nhìn làng mạc và nhìn dòng sông tưởng như khí thiêng đang bao trùm cả trời đất. Mấy đêm trước, giữa khuya, bố anh đều gọi anh dậy, tập chèo, tập lái, tập bát, tập cạy thế nào cho thật êm, thật nhẹ như ru.
Từ phía điếm canh vọng về 3 tiếng trống: đã canh ba. Từ đình làng, chiêng trống nổi lên, tiếng tù và ốc, tù và sừng rúc lên êm ru. Tiếng đàn sáo mỗi lúc một gần. Đám rước cờ quạt và hương án đã tiến ra bến sông. Tiếng những lá cờ đuôi nheo vẫy phần phật trong gió. Cụ chủ tế và các cụ bô lão làm lễ trước hương án. Dân làng đứng chật bên bờ sông. Anh lái đò trẻ bỗng thấy mình rét run lên bần bật. Anh đoán là lúc này Công chúa đã đến bên bờ sông. Cả một vùng trời bỗng có mùi hương hoa ngây ngất. Chở đò đây là chở hồn vía của Công chúa. Công chúa tàng hình, mắt người trần không thấy được như lời bố anh đã dặn. Anh đứng chéo chân trên thuyền, hai tay lăm lăm nắm chặt mái chèo.
Có tiếng gì như tiếng quần áo lụa tơ tằm bay trong gió? Công chúa vốn là người chăn tằm, dệt cửi mà! Bỗng anh thấy mũi chèo chúi nhẹ một cái. Anh giật mình: Công chúa bước xuống thuyền. Người lái đò phải có cái linh cảm rất nhạy để bắt được phút giây này, nếu không sẽ bị Thánh quở phạt. Thế là anh hất nhẹ mái chèo cho mũi thuyền quay sang ngang. Phải cho thuyền lướt thật êm, không được chòng chành chút nào, không được nước bắn tung toé.
Tất cả đám rước và dân làng đông nghịt đứng trên bờ nín thở lặng đi một giây rồi như sực tỉnh nhìn bóng con thuyền lờ mờ lướt nhẹ trên mặt sông loang loáng. Trống chiêng lại vang lừng và đàn sáo lại réo rắt. Thuyền chèo đi, chèo về ba lần mới đỗ vào bến bên kia một lát rồi quay về. Tất cả mọi người đều trang nghiêm hướng vọng về phía Đất Tổ. Mọi người hình dung ra công chúa Ngọc Hoa đang cưỡi mây cưỡi gió, Vua cha Hùng Vương đang bày tiệc mừng đón người con gái hiếu thảo. Nàng công chúa quá quyến luyến cha mẹ còn ở lại qua Tết, đến ngày mùng tám tháng giêng mới chịu quay về núi Tản. Đến ngày ấy thì làng Trẹo ở Phong Châu, Phú Thọ lại tổ chức lễ Rước Chúa gái để đưa tiễn nàng.
Đêm nay, đêm ba mươi, trời êm gió tạnh, đưa Công chúa qua sông tốt đẹp, cả làng Khê Thượng vui mừng vì đó là điềm lành báo trước một năm phong đăng hoà cốc. Một đêm trừ tịch hướng về cội nguồn để đón một năm mới bình yên và hạnh phúc.

103. "Tông ngó" - Một tục đẹp của dân tộc tày

"Tông ngó" - tiếng Tày là kết bạn. Đây là một tục đẹp có từ xa xưa. Con trai, con gái tuổi 18 - 20 trở lên, có thể cùng dân tộc hay khác dân tộc, biết rõ họ hàng, làng bản của nhau, thấy cùng sở thích, cùng tính tình thì đều mong muốn được kết bạn với nhau.

Tục "Tông ngó" của người Tày Văn Chấn - Mường Lò được thể hiện dưới nhiều dạng, như: bạn cùng năm sinh, có tên giống nhau, cùng nghề nghiệp, ngang hàng nhau ở thôn bản, cùng học với nhau. Ngoài ra chung nhau về một sở trường nào đó, ví dụ: đàn hát, đan lát, dệt may. Cũng có thể đồng cảnh đặc biệt như: góa bụa, muộn vợ, muộn chồng, con một hoặc hiếm con v.v...

Những người kết bạn, họ phải tổ chức lễ chứng kiến. Họ xin phép cha mẹ hai bên cho họ được chính thức kết bạn. Lễ đơn giản: gà một con, rượu một chai, gạo nếp một cân, hoa quả tùy ý. Ngày nay, có thêm ít bánh kẹo để làm bữa ăn cam kết thêm vui.

Đồ lễ được đặt lên nơi thờ tổ tiên. Gia chủ người kết bạn thắp hương báo cáo với tiên tổ, gia tộc mình về việc con, cháu trong nhà kết bạn, mong các vị chứng giám và phù hộ. Kết thúc lễ cũng là từ đây, giữa hai người kết bạn sẽ coi tổ tiên, ông bà, cha mẹ, anh em họ hàng trong nhà, trong gia tộc của nhau cũng như của mình. Họ tham gia mọi công việc, chia sẻ ngọt bùi với nhau. Kết bạn rồi, nếu người nhiều tuổi hơn sẽ là anh, là chị.

Ngược lại, người kém tuổi nhận là em. Tục "Tông ngó" chỉ thực hiện với người cùng giới và chỉ với một mà thôi. Sau này, một trong hai người có việc tang thì người không có tang phải thực hiện mọi nghĩa vụ, thủ tục với người quá cố giống như bạn mình (tùy theo vai vế mà tiến hành), đồng thời chịu tang như con, cháu trong nhà. Mối quan hệ này duy trì dài lâu. Nhiều cặp kết "Tông ngó" kéo dài đến tận đời con, đời cháu, đời chắt.

Vì tục "Tông ngó" ý nghĩa như vậy nên việc chọn để kết bạn khá công phu, thận trọng. Chưa thấy trường hợp nào đã kết bạn rồi mà bị một trong hai bên phản bội, bị tan vỡ. Thường ngày, vẫn thấy mọi người đi lại, chơi thân với nhau, thậm chí từng cặp một, nhưng như thế không có nghĩa là họ đã kết bạn theo tục "Tông ngó". Do đó, không có gì để họ phải ràng buộc với nhau. Mọi quan hệ chỉ là bình thường mà thôi.

104. Phong tục ứng xử

Ứng xử với bản thân -“Người ta là hoa đất”. Là hoa của miền đất luôn luôn được coi là “đệ nhất”, “thứ nhất Kinh Kỳ”, người Thăng Long - Hà Nội tự cảm thấy phải có những ứng xử phải đạo trong đời sống riêng tư cũng như trong sinh hoạt gia đình và xã hội, để có được lòng tự hào về thuần phong mỹ tục xứng đáng với lời ca ngợi “người thanh mà tiếng nói cũng thanh” cũng tựa như “chuông kêu khẽ đánh bên thành cũng kêu”.

Ý thức nói trên ăn sâu vào tâm lý cộng đồng, được củng cố bởi dư luận xã hội và thấm thía trong ý thức của mỗi người. Thăng Long là nơi cư trú của những cư dân từ bốn phương tụ hội: “Bán anh em xa, mua láng giêng gần”. Họ sinh sống bên nhau với (hoặc phải có) tình thân thiết, quan tâm, giúp đỡ nhau khi tối lửa tắt đèn. Không là dân cùng làng, nhưng đã là người “hàng phố”, “hàng phường” với nhau thì vẫn phải sẵn sàng hòa hợp, giúp đỡ, kẻ đến trước bao dung kẻ đến sau, dù khác gốc quê. Do vậy, bản thân từng người đều tự thấy phải nâng cao TÍNH CÁCH HÒA HỢP, BAO DUNG, CỞI MỞ. Đó là nét xử sự đáng quý đầu tiên của người Hà Nội. Những phong tục tập quán chứa đựng những nhân tố cơ bản của nền văn hiến Thăng Long.
Một cách xử sự khác của cư dân ở đây là tự tin và nghị lực. Cũng bởi chốn Kẻ Chợ sầm uất vốn là nơi cạnh tranh, đọ sức đua tài dữ dội, phải nghề tinh, tài cao mới trụ nổi. Vì thế, đằng sau vẻ bề ngoài bình yên của Thăng Long - Hà Nội, là một cuộc cạnh tranh khá dữ dội, ngặt nghẽo của tài và nghệ tứ chiếng nhưng khá ngặt nghèo. Cái còn lại, phát triển được chính là cái tiêu biểu, cái tinh hoa. Những gì xoàng xĩnh, vô bổ, sớm muộn đều bị đào thải. Chi nên hơn bất cứ nơi nào khác, tại đây con người cần phải có bản lĩnh, tự tin và nghị lực. Đấy là còn chưa kể rằng, từ thời kỳ Đại La mảnh đất này đã là thành “bách chiến” nơi cứ dăm bảy chục năm đến một trăm năm lại là chiến địa (nội chiến hoặc chống ngoại xâm). Ở một nơi như thế, muốn tồn tại, con người phải can trường.
Mặt khác như đã nêu ở các phần phong tục bên trên, người Hà Nội vốn có từ trong bản chất một nếp sống, nếp cư xử. Nhã nhặn, tôn trọng người đối thoại, chăm chút cái ăn, cái mặc, lời nói, tiếng nói, quan tâm và trọng thị bạn bè… Lớp thanh niên cùng trang lứa gọi nhau là anh - tôi (chứ không mày - tao), bậc trung niên trở lên trong những trường hợp sơ giao thường hay gọi nhau bằng “ông”, thân thì gọi nhau bằng bác. Phụ nữ, dù người đối thoại có ít tuổi hơn chút ít cũng gọi nhau là “bà”, “bà chị”, xưng “em” v.v… Tất cả những đức tính trên là do lối sống có văn hóa mà có.
Đó là cách cư xử đối với bản thân.
Ứng xử với cộng đồng
a) Hơn ai hết, người Hà Nội rất tôn trọng cộng đồng vì họ vốn là người bốn phương về đây tụ hội. Không đoàn kết, nhường nhịn, đề cao cộng đồng thì khó tồn tại, với họ những “người hàng phố” sát cánh nhau, cũng thân thiết chẳng khác gì người “hàng xóm” khi còn ở làng quê.
Trong cuộc sống hàng ngày, họ chia sẻ với nhau nỗi buồn và niềm vui. Hà Nội có câu: Văn ai tất điếu, nghe tiếng khóc là đến hỏi thăm. Họ giữ hòa khí, cận duyệt viễn lai, ở gần đẹp lòng, ở xa muốn đến.
Cả phố tránh mất lòng nhau, “chín bỏ làm mười”, giữ gìn cho nhau, đi vắng thì “gửi nhà nhau”. Mãi về sau này đến tận những năm chống Mỹ 1965 - 1972, đi sơ tán gửi nhà nhau vẫn là chuyện thường thấy.
Ra quét hè, tiện chổi, quét sang cả cho hè hàng xóm. Bà dặn cháu: Chớ có “Được lòng ta, xót xa lòng người”. Cha dặn con: “Cái mà mình không muốn, thì đừng làm cho người”.
Khách đến nhà, không bao giờ cởi trần ra tiếp. Đang để đầu trần thì phải quay vào nhà trong chít khăn đã, rồi mới ra đón khách. Trong nhà còn vậy, nên khi ra đường không mặc cẩu thả, đó là ý tôn trọng người thiên hạ. Chỉ có người đang làm việc nặng là được ở trần. Áo quần không cần quý giá, chỉ cần mặc ngay ngắn, chỉnh tề. Áo vá không sao nhưng không mặc áo rách. Mặc áo hàng đắt tiền thì thường ý tứ phủ chiếc áo bình thường hơn ở bên ngoài.
Tất nhiên, không phải ai cũng được như vậy. Vì có một bộ phận chưa thấy thanh lịch là cần, cho nên chưa tự điều chỉnh mình, chưa rũ bỏ những lề thói thô phác, dữ dằn. Những người ấy, một là phải đợi thời gian để tự điều chỉnh và hai là sẽ không được coi là “người Tràng An”.
Cũng có khi “phú quý sinh lễ nghĩa”, một số người Hà Nội sửa đổi, thêm thắt, bày vẽ nhiều thủ tục đặc biệt trong cưới xin, ma chay, giỗ tết, làm phong tục thành cầu kỳ, tốn kém tiền của.
b) Một cách ứng xử cũng rất Hà Nội là lòng hiếu khách. Ngày trước, trong những ngày hội hè lễ tiết thi cử, khách thập phương kéo về Thăng Long - Hà Nội rất đông. Nhưng họ không bị coi thường mà ngược lại, Thăng Long - Hà Nội đã sắp sẵn nước nôi, một vò chè vối, một nồi chè tươi được đặt bên hè, chén bát sạch sẽ để khách các nơi tiện việc giải khát. Tết Trung thu, nhiều nhà bày cỗ xong rồi, khi vãn cuộc còn mời cả khách đi xem cỗ cùng tham gia phá cỗ. Đây là những dịp để người Thăng Long - Hà Nội tỏ lòng mến khách và cũng là dịp khách cảm nhận rõ hơn những nét đáng yêu của người Tràng An thanh lịch. Chẳng thế mà ca dao cổ có câu:

Nhất cao là núi Ba Vì

Nhất thanh, nhất sắc, kinh kỳ Thăng Long.

Kết nghĩa, giao hiếu
Chúng tôi muốn dành hẳn một phần để nói riêng về một tục lệ rất tốt đẹp và rất lý thú của người Thăng Long - Hà Nội. Đó là có kết chạ, kết nghĩa, giao hiếu… giữa những làng phố trong phạm vi một vùng của Hà Nội hoặc giữa một phố, một làng Hà Nội với một làng của các tỉnh xung quanh. Hiện nay, tục lệ tốt đẹp đó vẫn được trân trọng giữ gìn và trở thành mối quan hệ truyền thống trong đời sống văn hóa hiện đại.
Giao hiếu từ nhu cầu đoàn kết bảo vệ xóm làng
Bốn làng Quang Liệt (nay là xã Thanh Liệt), Huỳnh Cung (xã Tam Hiệp), Lê Xá (xã Hữu Hòa) và Yên Xá (xã Tân Triều) đều ở huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội đã cùng là Xa La (thuộc thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây bây giờ) phối hợp đặt ra quy ước giúp đỡ nhau chống trả giặc cướp. Một tấm bia đá hiện đặt ở chùa Xa La còn ghi tường tận sự việc này.
Giao hiếu do cùng chiến thắng thiên tai
Đó là tình kết nghĩa, giao hảo giữa dân làng Vạn Phúc (huyện Gia Lâm) và dân làng Nga My (huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây). Tục truyền từ đời nhà Lý nhà Minh gì đó, kinh đô cũng như các địa phương lân cận hay bị lũ lụt. Vùng sông Nhuệ bị nặng nhất. Vua mới điều dân làng Vạn Phúc vào Nga My (huyện Thanh Oai, Hà Tây) đắp đê. Dân Vạn Phúc có sáng kiến gánh bằng đòn ống, sọt tre đầy ắp đất, sắn bằng mai, nên chóng xong và do đó, kịp ngăn nước lũ công phá vùng Nga My. Từ đó hai làng kết chạ, coi nhau như anh em, các ngày lễ tết đều cử người qua lại cúng tế.
Giao hiếu vì Thành hoàng làng là anh chị em hoặc thờ chung một thành hoàng.
+ Làng Phú Mỹ (xã Mỹ Đình) và làng Kiều Mai, cùng huyện Từ Liêm (?) thờ Quốc công. Tương truyền đây là hai tướng của Hai Bà Trưng. Hàng năm hai hàng cùng dự hội làng. Năm trước làng Chạ chị (Phú Mỹ) rước sang làng Chạ em (Kiều Mai). Năm sau Chạ em rước sang tạ Chạ chị.
+ Ba làng Nam Dư Thượng, Nam Dư Hạ, Thúy Lĩnh vào dịp hội làng lại còn rước bài vị thánh làng mình sang làng đăng cai. Ví dụ: Thúy Lĩnh có hội thì hai làng Nam Dư Thượng, Nam Dư Hạ mang phù trang, hương hoa, oản quả, kiệu Long đình có đặt bát hương thánh làng mình rồi rước đến đình làng Thúy Lĩnh (đang cai). Đến nơi, bát hương của hai làng đặt vào bên bát hương của vị thành hoàng làng sở tại. Tế xong chủ khách đều ăn cỗ. Nhiều năm khách làng bên đến ngồi gần 60 chiếu, mỗi chiếu bầy một mâm cỗ cho 6 người ngồi ăn. Thù tiếp xong, “quan anh”, “quan em” bịn rịn chia tay.
Về nghi thức kết chạ, giao hiếu thì thường là vào các ngày cúng lễ thành hoàng, làng này cử một đoàn bô lão sang dự lễ tế ở làng kia. Hoặc những khi làng này có sự cố gì thì làng kia tới giúp đỡ giải quyết. Tất nhiên là có ăn uống, to nhỏ là tùy kinh tế từng làng.
Ở ven nội thành thì phải kể tới đền Voi Phục nay thuộc phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình thuộc làng Thủ Lệ. Làng này và các làng Thụy Khuê, Hào Nam kết nghĩa, vì đều thờ thánh Linh Lang. Lệ mở hội xưa là ngày đầu (10/2) rước kiệu từ Thụy Khuê về Thủ Lệ. Ngày thứ hai (11/2) rước kiệu từ Thủ Lệ về Hào Nam. Thủ Lệ giữ lệ thờ cúng. Chính hội 5 năm một lần thì Thủ Lệ làm chủ tế. Vạn Phúc đọc chúc văn. Còn hội lệ hàng năm Vạn Phúc làm chủ tế. Thủ Lệ đọc chúc văn. Thực ra không chỉ có 3 làng này mà các địa phương ở các tỉnh lân cận có thờ Linh Lang cũng cử đoàn về dự chính hội như: Bồng Lai, Chí Trung, Đình Vĩ (Hà Tây), Đình Bảng (Bắc Ninh), Thọ Vực (Hưng Yên)…
Cũng ở ven thành có một trong tứ trấn của kinh thành là Kim Liên (quận Đống Đa). Xuất phát từ tình nghĩa giao hiếu, có ba nơi rước kiệu đến Kim Liên khi mở hội là Quỳnh Lôi, Phương Liệt, Bạch Mai, vì cả 4 làng này đều thờ thánh Cao Sơn.
Việc kết chạ giao hiếu ở nội thành cũ
Xin được nói kỹ hơn về tục giao hiếu, kết chạ ở những địa phương thuộc phạm vi kinh thành Thăng Long - Hà Nội cũ. Cho tới thời Pháp thuộc, một số thôn phường ở nội thành vẫn giữ tục giao hiếu. Qua điều tra hồi cố, tục này diễn ra như sau: Hàng năm trong dịp lễ lớn nhất, các thôn phường gần nhau, hoặc cùng thờ một vị thần thì rước lẫn sau nhau, gọi là rước đánh giảI, trước là lễ thần, sau là giải tọa uống rượu nghe hát, để tỏ tình giao hiếu với nhau. Cũng có nơi mỗi phường thôn làm chủ một năm, các phường thôn khác rước kiệu thánh về cả làng đó mà hội tế.
Khi phường này rước sang phường kia, các người đi rước thường làm sẵn một mâm cơm lịch sự, đựng vào cái quả dỏ, cho người đem sang đám rước, gọi là Cơm quả. Với những viên chức thì đã có đăng cai sửa năm ba mâm cỗ nấu, gọi là Cơm quan viên. Khi rước sang đến làng khác, lễ thánh đâu vào đấy thì nghỉ ngơi ăn uống. Ăn uống xong xuôi, mới vào đình giải tọa nghe hát.
Cỗ bàn khoản đãi phường giao hiếu, hoặc dùng cỗ mặn hoặc dùng cỗ chay. Nhưng thường dùng cỗ chay nhiều hơn. Mỗi cỗ có một đĩa mía, một đĩa lạc luộc, một đĩa mứt, một đĩa trám, mơ, nhót, dừa… Trong khi ăn uống, làng sở tại phải cử người mặc áo thụng ra mời mọc rất là cung kính, mà mời hạng người nào thì phải cử hạng người ấy, ví như mời hạng bô lão thì cử người bô lão, mời viên chức thì cử người viên chức… (Theo tư liệu Phan Kế Bính).
Ở nội thành Hà Nội có những thôn sau này giao hiếu với nhau:
- Hai thôn Cổ Thành (phố Trịnh Hoài Đức) và Hẫu Mễ (một đoạn phố Cát Linh) giao hiếu do cùng thờ một thần Tăng Bảo An Chính Trực (không rõ lai lịch).
- Hai thôn Đức Viên (phố Trần Xuân Soạn) và Hương Viên (khu phố Lò Đúc) giao hiếu do cùng thờ Chu Văn An.
- Bảy thôn ở cửa sông Tô: Hương Tượng, Giang Nguyên, Hương Bài, Ưu nghĩa, Phúc Lộc, Phất Lộc… (nay là các phố Mã Mây, Lương Ngọc Quyến, Hàng Mắm, Phất Lộc) giao hiếu do cùng thờ Nguyễn Trung Ngạn.
- Nguyên Khiết Thượng và Nguyên Khiết Hạ () giao hiếu do cùng thờ Bạch Hoa công chúa (không rõ lai lịch).
- Thôn Thạch Khối Thượng, Hạ (nay là đoạn cuối đường Yên Phụ và phố Hàng Than) và Giai Cảnh (nay thuộc các phố Hàng Than và Hòe Nhai) giao hiếu do cùng thờ Uy Linh Lang.
- Nam Ngư (phố Nam Ngư) và Vĩnh Xương (đầu phố Nguyễn Thái học) cùng thờ một vị thần (không còn lưu lại tên).
- Xuân Biểu (đầu phố Sơn Tây) cùng Ngọc Hà - Hữu Tiệp giao hiếu do cùng thờ Hắc Đế.
- Sơ Trang (phố Lò Sũ) và Trang Lâu (giữa phố Nguyễn Hữu Huân) cùng giao hiếu do thờ cùng một thành hoàng (không còn lưu lại tên).
- Yên Viên (đầu phố Cửa Bắc), Trúc Yên (phố Đặng Dung) và Châu Yên (phố Châu Long) cùng thờ Quan Công nhưng chỉ có Yên Viên và Trúc Yên giao hiếu.
Đến thời Pháp thuộc, lệ tục có đơn giản hóa, nhất là sau dịp cải lương phong tục 1927 thì các lễ giao hiếu chỉ có trầu cau oản quả.
Làng thôn vốn là cơ cấu gốc về tổ chức xã hội của người Việt, là một chỉnh thể kinh tế - xã hội, văn hóa và là cấp hành chính cơ sở của nước. Do tính chất cố kết cộng đồng cao biểu hiện ở cộng đồng dân cư, cộng đồng lãnh thổ, cộng đồng kinh tế - văn hóa nên tục lệ kết chạ, kết nghĩa, giao hảo, giao hiếu… khá phổ biến, có khi là hai làng, khi là 5 làng, có khi là 10 làng, 20 làng… kết chạ từ rất xa xưa và giữ lệ đến tận nay.
Mỹ tục này cốt lõi là tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau của mỗi làng quên trong sản xuất, tổ chức đời sống, đấu tranh chống thiên tai, chiến đấu chống ngoại xâm…
Ngày nay, tục lệ kết chạ, giao hiếu… được phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau.
Có khi là sự kết nghĩa trong mối tình “quân dân cá nước”. Đã có biết bao đơn vị bộ đội kết nghĩa với những làng xã nơi đóng quân. Các đoàn thể, tổ chức xã hội như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân… thì kết nghĩa với các đơn vị bộ đội ở biên giới hay hải đảo xa xôi. Hàng năm, vào dịp Tết Nguyên đán hay những ngày kỷ niệm lớn của dân tộc… các đơn vị, đoàn thể, làng xóm… ấy đều có tổ chức thăm viếng lẫn nhau, chu đáo và đầm ấm.
Lại có khi là sự kết nghĩa giữa Hà Nội với các tỉnh thành. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cùng với phong trào kết nghĩa giữa các tỉnh miền Bắc - hậu phương lớn với các tỉnh miền Nam - tiền tuyến lớn, Hà Nội đã kết nghĩa với Huế - Sài Gòn. Câu ca nổi tiếng sau đây đã thể hiện tình nghĩa keo sơn ấy:

Hà Nội - Huế - Sài Gòn

 

Là cây một gốc, là con một nhà.

Phong trào kết nghĩa còn diễn ra ở các tỉnh có quan hệ mật thiết về kinh tế, văn hóa, xã hội như Hà Nội kết nghĩa với Lai Châ

Ngày nay, trong xu thế của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế khu vực, hình thành tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Đó là mối quan hệ phát triển kinh tết khu vực, vừa là mối giao hảo, kết nghĩa nối tiếp mạch phong tục cổ truyền đẹp đẽ, những phong tục tập quán chứa đựng các nhân tố cơ bản của nền văn hiến Thăng Long.

105. Tục truyền nghề bốc thuốc và dạy chữ viết Nôm Dao của người Dao

Một trong những phong tục độc đáo có từ lâu đời của người Dao là truyền dạy chữ viết và nghề bốc thuốc. Đây là một tục lễ đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Theo phong tục này, hằng năm cứ mỗi dịp Tết Nguyên đán, trong từng gia đình người Dao lại diễn ra các lễ trao truyền, cụ thể là việc dạy con cháu học chữ Nôm Dao và đặc biệt là nghi thức truyền nghề thuốc cho các thế hệ kế tiếp diễn ra tại gia đình các thầy thuốc trong thôn. Ðây là dịp cộng đồng tôn vinh việc học hành, lễ nghĩa, học nghề và học cách làm người.

Sáng sớm mồng một Tết, người Dao tổ chức dạy bảo học chữ cho con trai tuổi từ 12 đến 13 trở lên (người Dao đỏ gọi là "tu xô hiu", người Dao tuyển gọi là "châu dặt hô đăng" - nghĩa là mùng một học chữ). Với người Dao, dạy chữ không chỉ đơn giản ở việc dạy cho con biết đọc biết viết chữ của tộc người mà còn dạy con học biết cái tình cái lý, không quên gốc rễ tổ tông. Con trai học chữ, con gái học thêu thùa, khâu vá. Nơi các cô gái ngồi thêu hoa, cũng là điểm hẹn để các chàng trai đến ném còn và tìm hiểu để kết duyên đôi lứa.

Người Dao đỏ còn có tục chọn ngày tốt để dạy chữ cho con, thường những ngày từ mồng một Tết đến rằm tháng giêng; theo quan niệm của bà con thì những ngày này đều là ngày tốt, nhưng chọn ra ngày hợp với tuổi của con thì việc học hành sẽ tấn tới, học tập thành công. Bên cạnh việc dạy chữ cho nam thiếu niên, trong dịp Tết, cộng đồng người Dao còn tổ chức truyền dạy phép thuốc (học nghề thuốc). Người Dao có hệ thống chữ viết và một di sản sách cổ Nôm Dao rất giá trị, tuy nhiên sách về y học lại rất hiếm.

Bên cạnh đó, người Dao cũng nổi tiếng về y dược, chữa bệnh cứu người. Người học nghề thuốc theo phải tuân thủ tuyệt đối các yêu cầu nghiêm ngặt của cha ông truyền lại. Sau khi kết thúc lễ truyền, người thầy hướng dẫn người học cách lấy cây thuốc và các quy định của nghề y phải tuyệt đối phải tuân thủ, như: Không được làm việc thất đức, cứu chữa không đúng bệnh mà mình biết, không lừa người ốm; thuốc quý không được coi thường; không được phản thầy; cứu người là việc chính, không được lừa dối để lấy tiền hay lười biếng, dù họ có ở xa, khó khăn vẫn phải chữa trị khi người ta tìm đến.

106. Tục ăn trầu

Tục ăn trầu tương truyền có từ thời Hùng Vương và gắn liền với một chuyện cổ tích nổi tiếng “chuyện trầu cau”.

Miếng trầu gồm 4 thứ nguyên liệu: cau (vị ngọt), lá trầu không (vị cay), rễ (vị đắng) và vôi (vị nồng). Ăn trầu thể hiện nếp sinh hoạt mang đậm tính dân tộc độc đáo của Việt Nam . Sách xưa ghi rằng “ăn trầu làm thơm miệng, hạ khí, tiêu cơm”.

Miếng trầu làm cho người ta gần gũi, cởi mở với nhau hơn. Miếng trầu nhân lên niềm vui, khách đến chơi nhà được mời trầu; tiệc cưới có đĩa trầu để chia vui; ngày lễ, tết, ngày hội miếng trầu với người lạ để làm quen, kết bạn; với người quen miếng trầu là tri ân tri kỷ. Miếng trầu cũng làm người ta ấm lên trong những ngày đông giá lạnh, làm nguôi vợi bớt nỗi buồn khi nhà có tang, có buồn được sẻ chia cảm thông bởi họ hàng, bạn bè, làng xóm. Miếng trầu còn là sự thể hiện lòng thành kính của thế hệ sau với các thế hệ trước cho nên trên mâm cỗ thờ cúng gia tiên của người Việt bao giờ cũng có trầu cau.

Sẽ là thiếu nếu nhắc đến trầu mà không nhắc đến thuốc lào. Đa số nữ giới ăn trầu và miếng trầu là đầu câu chuyện, còn đàn ông, thuốc lào gắn bó với họ lúc vui, lúc buồn. Có người ngỡ thuốc lào được sản xuất từ nước Lào, nhưng hoàn toàn không phải thế. Loại thuốc này chỉ có ở Việt Nam , nó đã đi vào ca dao tục ngữ Việt Nam từ rất xa xưa “Nhớ ai như nhớ thuốc lào. Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên”. Hơn thế nữa, trong 54 dân tộc anh em, hầu như dân tộc nào cũng biết hút thuốc lào.

Thuốc lào được hút bằng điếu bát loại thông dụng cho hầu hết các gia đình. Điếu ống dùng trong những gia đình quyền quý. Để cho tiện dụng khi xa nhà, những người lao động lại hút bằng điếu cày - loại điếu để hút thuốc trong lúc cày bừa ở đồng ruộng nên gọi là điếu cày. Cùng với cơi trầu, chiếc điếu và bộ đồ pha trà là những đồ dùng tiếp khách trong mỗi gia đình.

Trầu xanh, cau trắng, chay hồng,

Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên

107. Phong tục trọng người cao tuổi

Một trong những biểu hiện của tình thương yêu quý trọng con người của dân ta là lòng kính yêu những bậc già cả tuổi tác.

Tình cảm này có lẽ đã ăn sâu trong cuộc sống cộng đồng của người Việt từ thuở xa xưa, từ thuở mà người già nhất trong cộng đồng cũng chính là người đảm đương công việc điều hành cộng đồng, dựa trên kinh nghiệm sống và uy tín về mọi mặt của bản thân mình. Giao lưu với văn hoá phương Bắc, ông cha ta có thêm một khái niệm để biểu thị lòng kính yêu này, đó là coi tuổi thọ là một tước vị trời ban (thiên tước), xét về mặt nào đó mà nói thì thiên tước có khi còn được coi trọng hơn tước vị của triều đình.

Chúc thọ - Lên lão - Khao lão

Lệ thường cứ 60 tuổi là lên lão; có nơi 50 tuổi cũng được lên lão. Từ đấy ông lão được miễn mọi công việc, mọi sự đóng góp, nhân dịp này con cháu trong nhà tổ chức lễ mừng thọ, biện lễ ra đình tế thần rồi chia phần biếu các chức sắc trong làng, gọi là khao lão.

Qua lệ khao lão, các cụ chính thức gia nhập lớp người vì tuổi tác mà được trọng vọng trong xóm làng chứ không nhất thiết cần phải là đã từng giữ chức vị gì. “Sống lâu lên lão làng” là như vậy. Từ đó, nếu các cụ sống tới 80 tuổi thì con cái tổ chức lễ mừng lớn hơn gọi là lễ mừng thượng thọ.

Yến lão

Nhà nước phong kiến cũng có những hình thức biểu thị lòng tôn kính tuổi già. Trong lĩnh vực chính trị, có thể nêu Hội nghị Diên Hồng đời Trần làm thí dụ. Trong sinh hoạt xã hội, đó là lệ yến lão, một hình thức tôn vinh người già cả, có tác dụng lớn đối với việc đề cao thuần phong mỹ tục.
Yến lão là tiệc vua ban cho người già trong nước. Hàng năm, theo chỉ dụ của triều đình, các tỉnh chọn một ngày lành trong mùa xuân, trích công quỹ đặt bữa tiệc để mừng thọ người già cả trong hàng tỉnh. Ở Hà Nội, ngày trước có lưu truyền câu ca:
Ung dung gậy trúc chống đi,
Áo chùng chấm gót mũ ni che đầu.
Cụ ơi, cụ sắp đi đâu?
Ra đình yến lão tiệc chầu vua ban!
Cháu ơi, cháu chơi cho ngoan,
Cụ về có gói phần ban chia đều.
Ơn vua ít cũng như nhiều.
Theo Doãn Kế Thiện trong Hà Nội cũ, đình Yến lão ngày trước ở vào quãng đầu đường Điện Biên Phủ hiện nay. Nơi đó gần Hoàng Thành. Ngày ban yến lão thường là vào trung tuần tháng hai ta. Các cụ già ở các phủ huyện quanh Hà Nội được quan sở tại đưa vào điện Kính Thiên làm lễ bái mạng. Vì tuổi già cho nên chỉ cần đứng bá vai chứ không phải quỳ lạy. Sau đó, quan khâm mạng tuyên đọc sắc chỉ, nêu bật ý nghĩa “tôn trọng tuổi già” của nhà vua. Tiếp đó, các cụ được đưa sang đình Yến lão, cứ bốn cụ cùng tuổi ngồi một cỗ, cùng nhau uống rượu trò chuyện. Tương truyền có nhiều lần, các cụ chỉ uống rượu suông, còn thức ăn, hoa quả, bánh trái trên mâm cỗ cùng tiền lụa vua ban các cụ chia nhau mang về cho gia đình con cháu để đều được chung hưởng ơn vua lộc nước.
Cũng như trên cả nước, Hà Nội nay có hội Người cao tuổi. Tổ chức của hội có tới cấp xã phường. Trên đại thể, các cụ đã và đang là những tấm gương sáng, trong sạch, thanh cao, yêu nước, yêu dân, để cho lớp trẻ noi theo, xây dựng xã hội văn minh, gia đình văn hoá.

108. Tục "Juê nuê" trong hôn nhân của người Êđê

1. Juê nuê [1] là một luật tục cổ truyền, tồn tại đã khá lâu và bền vững trong hôn nhân của người Êđê. Nét nổi bật trong quy tắc hôn nhân của đồng bào được quy định cho từng trường hợp với 9 điều luật và được bảo vệ nghiêm ngặt trong hôn nhân truyền thống (từ điều 97 đến điều 103 về luật hôn nhân và gia đình).

Đây là một kiểu tập quán hôn nhân (quy định cho chị em vợ và anh em chồng) có truyền thống từ xa xưa. Luật tục quy định rõ “rầm sàn gẫy thì phải thay, giát sàn nát thì phải thế, chết người này phải nối bằng người khác”. Bởi đồng bào sợ rằng: “gia đình sẽ tan tác ngoài nương rẫy, dòng họ sẽ kiệt quệ, giống nòi sẽ khô kiệt như những dòng suối cạn nước, kẻo tuyệt nòi không còn con cháu nữa”, vì vậy, trong trường hợp chồng chết, người phụ nữ có quyền đòi hỏi nhà chồng phải thế một người em trai chồng để làm chồng mình. Ngược lại, nếu người vợ chết, chồng người phụ nữ ấy có thể lấy em gái vợ (em ruột hoặc em họ của vợ) để nối nòi. Ngoài ra, tục ]uê nuê này còn vượt ra ngoài cả phạm vi kiểu hôn nhân anh em chồng hoặc chị em vợ (người trong dòng họ vợ hoặc chồng để làm nuê).
Với người Êđê, luôn xem gia đình là một “hrú mđao” (tổ ấm), nơi để cho ông bà cha mẹ và con cái cùng chia vui, xẻ buồn. Trong đó bố mẹ là nguồn sống, là hơi ấm, là nơi nương tựa của trẻ. Việc tìm cho những đứa trẻ bất hạnh ấy một người “kế” [2] để thay thế người qua đời nuôi dạy chúng là điều cần thiết. Hơn nữa tục Juê nuê không những tìm mẹ (hoặc cha) làm chỗ dựa tinh thần cho những đứa trẻ bất hạnh, tìm bạn đời cho người còn lại mà người này có nhiệm vụ thay người xấu số chăm sóc con cái, quản lý tài sản, đất đai (nếu có) và duy trì gia đình như nó vốn có. Đồng thời, vẫn tiếp tục giữ mối quan hệ thân tình, bền vững mà hai gia đình đã tạo dựng từ trước đến nay. Trong thực tế, chúng tôi thấy đa số những người vợ (hoặc chồng) nuê ấy đứng ra thay người đã khuất để đảm nhiệm vai trò nuê này một cách tự nguyện[3].
Tục ]uê nuê được xem như là một luật tục bình thường, hiển nhiên và được cộng đồng thực hiện một cách tự nguyện như mọi luật tục khác trong hôn nhân truyền thống từ bao đời nay. Trường hợp người nuê chênh lệch quá về tuổi tác thì họ chỉ là vợ chồng trên danh nghĩa, trường hợp này cũng đã được luật tục điều chỉnh và quy định rõ ràng: “Nếu người goá đã đứng tuổi mà người thay thế còn nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu làm vợ (chồng), thì người goá phải có trách nhiệm nuôi nấng, dạy bảo nuê như một đứa trẻ bình thường khác” (điều 99, điều 100, điều 101 trong luật tục hôn nhân và gia đình). Luật đã quy định người góa phải “Biết che chở, chờ đợi nuê, đến một lúc nào đó nuê sẽ làm được nhiệm vụ nối tiếp giống nòi”. Như vậy, tùy theo từng trường hợp, mỗi một trường hợp khác nhau luật tục có những quy định khác nhau về việc Juê nuê (trường hợp vợ nuê, chồng nuê quá nhỏ, hoặc người còn lại đã quá già yếu thì phải tìm một người tương xứng với nuê để thay thế mình làm chồng (hoặc vợ) nuê. Nếu ai vi phạm những điều đã quy định trên thì coi như đã vi phạm luật tục).
Việc duy trì và bảo vệ gia đình mẫu hệ không chỉ biểu hiện ở tục Juê nuê mà còn thể hiện trong quan hệ giữa các chị em gái ruột, và con cái của họ nữa. Trong tộc mẹ, những người phụ nữ luôn luôn xem những đứa con của các chị em gái ruột hoặc chị em gái họ như con đẻ. Không những thế họ còn nuôi nấng, yêu thương và chăm sóc nó như chính con đẻ của mình. Những người phụ nữ được sinh ra cùng một mẹ hoặc một bà không chỉ gọi con mình là con (dam: con trai, con gái: anak (hoặc mniê điêt)) mà họ gọi cả những đứa con trai con gái của chị em gái mình cũng là anak (con). Tương tự như vậy, những người đàn ông cũng gọi con trai và con gái của anh em trai mình là anak. Những đứa con của chị em gái không chỉ gọi mẹ mình là amí (mẹ) mà còn gọi chị của mẹ mình là amí próng (mẹ lớn), em gái của mẹ là amí mneh và dì út thường được gọi là amí điêt hoặc amí mda (mẹ nhỏ, mẹ trẻ). Những đứa trẻ cùng bà ngoại (con của các chị em gái cùng một mẹ) đều coi nhau như anh em một mẹ. Như vậy, việc người phụ nữ trong dòng họ của vợ chấp nhận làm vợ nuê không những xuất phát từ tình yêu thương với người góa kia mà còn có trách nhiệm và tình thương đối với những đứa trẻ bất hạnh. Theo đồng bào, làm như vậy không những làm “đẹp lòng” Yang mà còn mang lại hạnh phúc cho những đứa trẻ bất hạnh, cho dòng họ và đây cũng là một trong những quy định để bảo vệ gia đình mẫu hệ.
2. Trong văn học dân gian Êđê, vấn đề Juê nuê được phản ánh khá phong phú. Điều này được nghệ nhân dân gian thể hiện rõ nhất trong khan-sử thi (khan Dam Săn, khan Khinh Jú…), một thể loại văn học có giá trị vô cùng to lớn trong nền văn hóa dân gian Việt Nam.
Trong sử thi khan Dam Săn, anh hùng Dam Săn và H’Jí là đôi vợ chồng nuê. Phần đầu của khan Dam Săn, khi bà H’Bia Klu chết, dòng họ bên H’Jí thay thế bà bằng cháu cho ông Mtao Kla, H’Jí còn nhỏ chưa thực hiện được việc “kế tiếp giống nòi”, ông Mtao Kla đã chăm sóc H"Jí như những đứa cháu khác, khi người “vợ nuê” này của ông Mtao Kla thành thiếu nữ thì cũng là lúc ông “mắt đã mờ tóc bạc, như tàu lá đã héo hon, không mong gì rồi đây ông còn lấy cháu ông được. Khi nương đã cằn, rẫy đã cỗi, khi cây đã đổ, gỗ đã mục, khi ông đã già”[3] và ông không còn có thể làm chồng nàng H’Jí được nữa, nên ông đã chọn Dam Săn thay thế mình làm chồng H’Jí. Việc ông Mtao Kla chăm sóc H’Jí lúc nhỏ tuổi không những là trách nhiệm của một người chồng đối với người vợ nuê nhỏ tuổi như luật tục đã quy định, mà còn thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của một người đàn ông với vai trò là ông, là người thân trong gia đình đối với đứa trẻ đang còn dưới tuổi vị thành niên.
Như vậy, tục Juê nuê không những tìm lại sự trọn vẹn của gia đình mẫu hệ, tạo điều kiện cho con trẻ không bị khủng hoảng về tình cảm, tâm lý mà còn bảo vệ của cải vật chất, bảo vệ gia đình mẫu hệ. Theo họ, có như vậy thì gia đình mới không bị “đứt dây”, người còn lại “ không bị lẻ đôi đơn chiếc”. Điều này, nếu xét trên bình diện xã hội học thì luật tục Juê nuê chưa hẳn là một luật tục lạc hậu, ấu trĩ mà nó mang tính nhân văn rất cao trong việc bảo vệ sự bền vững trong hôn nhân, đồng thời bảo vệ quyền lợi bên dòng mẹ, cũng có nghĩa bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ - những người thường phải chịu thiệt thòi nhiều hơn nam giới trong xã hội.

3. Hiện nay trong hôn nhân của người Êđê, tục Juê nuê vẫn còn tồn tại và vẫn được bà con áp dụng ở mức độ đậm nhạt khác nhau. Tuy nhiên, việc chấp nhận làm vợ hoặc chồng nuê đều được thực hiện một cách tự nguyện, không ép buộc. Có thể nói luật hôn nhân - gia đình nói chung và tục ]uê nuê nói riêng gắn với sự bảo vệ và duy trì gia đình mẫu hệ, trong đó cơ chế tâm linh đã chi phối các thành viên trong cộng đồng Êđê gắn bó, ràng buộc với nhau thông qua hôn nhân. Và sự gắn bó này vẫn dựa trên nguyên tắc một vợ một chồng, tôn trọng, dân chủ, tự nguyện, yêu thương và bình đẳng.
Chú thích:
[1] Juê nuê (hoặc m]ueâ nuê): mjueâ có nghĩa là nối, nuê: một từ dùng để gọi người vợ hoặc chồng được thay thế.
[2] Juê nuê đã được quy định theo luật tục và được mọi người chấp nhận, thường trước khi di quan một ngày, người ta phải thông qua ý kiến này trước dòng họ, bà con hai họ, còn việc được chấp nhận hay không và sẽ chấp nhận với đối tượng nào, điều đó lại phụ thuộc vào người goá ấy. Dĩ nhiên người goá phải thật sự xứng đáng là người vợ, người mẹ (người chồng, người cha) của những đứa trẻ kia thì dòng họ mới tìm cho một người nuê.
[3] Bản thân tôi đã từng chứng kiến cuộc hôn nhân theo kiểu Juê nuê này (1994). Người cô út của tôi qua đời lúc 36 tuổi, chị gái của cô út tôi chấp nhận làm vợ nuê của chú dượng tôi, cả hai người cùng đến với nhau tự nguyện, cô lớn tôi đã yêu thương hai đứa con của cô út như con ruột, không hề phân biệt đối xử. Hiện tại họ đã có với nhau một con gái và rất hạnh phúc.
Một trường hợp khác ngay tại xã Eâa Bông, huyện Krông Ana, năm 1998 một cán bộ y tế chết vợ, anh ta kết hôn với em gái của vợ, cả hai đến với nhau tự nguyện. Hiện nay, họ đã có thêm hai đứa con và sống rất hạnh phúc cùng với 4 người con (cả con chung và con riêng).

109. Thời gian để tang

Việc để tang ở nước ta chia ra đại tang và tiểu tang. Về tiểu tang có 4 bậc, đại tang chỉ có 1 bậc. Đại tang và tiểu tang gồm tất cả 5 bậc, gọi là ngũ phục.

1. Đại tang: để tang 3 năm.
Thời gian để đại tang là 3 năm, nhưng trên thực tế, người ta chỉ để đại tang có 27 tháng. Trong thơ bà Hồ Xuân Hương cũng đã nói tới điều này. Khi ông Phủ Vĩnh Tường mất, bà làm bài thơ để khóc ông ta trong đó có hai câu nói về việc để tang: "Hai bảy tháng trời là mấy chốc,/ Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ơi!"
Đại tang dành cho con để tang cha mẹ ruột và cha mẹ nuôi, nàng dâu để tang cha mẹ chồng, vợ để tang chồng, cháu đích tôn thừa trọng (thay cha khi cha mất) để tang ông bà, và chắt thừa trọng (thay cha và ông khi cha và ông đều mất) để tang cụ ông cụ bà.
2. Tiểu tang
Theo tục lệ, tiểu tang có nhiều loại với tên khác nhau và thời gian để tiểu tang cũng khác nhau tùy theo thân sơ.
a. Cơ niên: để tang một năm
Để tang một năm còn gọi là cơ niên. Để tang một năm dành cho cha mẹ để tang cho con trai, con dâu trưởng, và con gái (chưa đi lấy chồng); chồng để tang cho vợ; con rể để tang cho cha mẹ vợ; anh em và chị em (chưa đi lấy chồng) kể cả anh chị em cùng cha khác mẹ để tang cho nhau; em để tang cho chị dâu trưởng; cháu trai và cháu gái (chưa đi lấy chồng) để tang cho ông bà nội; cháu để tang cho chú bác ruột và cô ruột (chưa đi lấy chồng); cháu dâu để tang cho ông bà nhà chồng.
b. Đại công: để tang 9 tháng
Để tang 9 tháng còn gọi là đại công. Để tang 9 tháng dành cho cha mẹ để tang con gái (đã đi lấy chồng) và con dâu thứ; chị em ruột (đã đi lấy chồng) để tang cho nhau; anh em con chú con bác ruột để tang cho nhau; chị em con chú con bác ruột (chưa đi lấy chồng) để tang cho nhau.
c. Tiểu công: để tang 5 tháng
Để tang 5 tháng còn gọi là tiểu công. Để tang 5 tháng dành cho anh chị em cùng mẹ khác cha để tang cho nhau; chị em con chú con bác ruột (đã đi lấy chồng) để tang cho nhau; con để tang cho dì ghẻ; cháu để tang cho ông chú, bà bác, và bà thím; cháu để tang cho bà cô (chưa đi lấy chồng), chú họ, bác họ, thím họ, cô họ (chưa đi lấy chồng), ông bà ngoại, cậu, và dì ruột; và chắt để tang cho cụ ông cụ bà bên nội.
d. Ti ma: để tang 3 tháng
Để tang 3 tháng còn gọi là ti ma. Để tang 3 tháng dành cho cha mẹ để tang cho con rể; con cô con cậu và đôi con dì để tang cho nhau; cháu để tang cho ông chú họ, ông bác họ, bà cô họ (chưa đi lấy chồng), bà cô (đã đi lấy chồng), và cụ cô (chưa đi lấy chồng); chắt để tang cho cụ chú cụ bác; và chút để tang cho kỵ ông kỵ bà bên nội.
Chúng ta nhận thấy một điều nổi bật nhất trong việc để tang của người Việt là quan niệm "trọng nam khinh nữ," chẳng hạn như thời gian vợ để tang chồng là 27 tháng, tức là đại tang. Còn chồng để tang vợ chỉ có một năm và được coi là tiểu tang mà thôi. Một điều đặc biệt nữa là khi người con gái đã đi lấy chồng thì bị coi là ngoại tộc, đúng với quan niệm “nữ nhân ngoại tộc" và "dâu là con rể là khách.” Người đàn bà, nếu đã đi lấy chồng, khi mất đi, được thân nhân để tang một thời hạn ngắn hơn là lúc chết mà chưa có chồng.
Việc để tang của ta đã thể hiện một nền văn minh lâu đời, có tôn ti trật tự, có phép tắc hẳn hoi, và thân sơ phân biệt rõ ràng.
Việc để tang cần phải học hỏi và được giáo dục mới biết và thực hiện đúng theo phong tục được. Nhìn vào việc con cái để tang ông bà hay cha mẹ mà người ta biết được gia đình đó có giáo dục theo nếp Việt hay không.
Để tiện công ăn việc làm và lo cho đời sống hằng ngày, ngày nay đồ tang phục chỉ được mặc cho đến khi chôn cất thân nhân xong. Sau đó, người ta đeo một cái băng màu đen ở tay áo trái rộng độ 10 phân đối với đàn ông trong trường hợp đại tang, và đeo một miếng vải đen nhỏ bằng đầu ngón tay cái ở nẹp áo trước ngực hay ở trên mũ trong trường hợp tiểu tang. Còn đàn bà, người ta thường vấn khăn trắng hay cài miếng vải đen ở trước ngực phía trái khi mặc áo dài.

110. Tín ngưỡng thờ thần nước của người dân Bắc Ninh

Thờ Thần nước là một trong những tín ngưỡng cổ xưa của người Việt mà ngày nay vẫn còn thấy rõ nét ở các ngôi làng cổ Bắc Ninh: Kẻ Diềm (làng Viêm Xá), Kẻ Chóa (thôn Chân Lạc, xã Dũng Liệt) và hệ thống các đền thờ Bách Noãn ở phía Nam sông Đuống. Theo các nhà nghiên cứu thì Bắc Ninh là vùng nông nghiệp phát triển sớm vì điều kiện tự nhiên thuận lợi. Thời trước các kinh đô cổ đều tập trung lâu dài ở vùng này, tiêu biểu là dàn trải gần hết thời Bắc thuộc. Nông nghiệp lúa nước phát triển thì nước rất cần để tưới tiêu đồng ruộng nhưng có những năm hạn hán lại liên tiếp xảy ra, mùa màng thất bát, có những năm lại mưa lũ, đồng ruộng lại ngập úng tất cả đều vì nước. Vì thế mà người dân nơi đây sớm có tục thờ Thần nước để cầu khấn Thần cho nước dưới sông hiền hòa không gây lũ lụt, nước trên trời rơi xuống đúng lúc để người dân có thể canh tác trên đồng được thuận lợi.

Có dịp đến làng Diềm trong tiết Thanh Minh (mồng 3 tháng 3 âm lịch) chắc hẳn mọi người sẽ có dịp tham dự lễ cúng nữ thần Giếng và thần cá ở đền Giếng hay còn gọi là đền Cùng. Theo truyền thuyết thì ngôi đền này được xây từ năm 1642, khi vùng này là rừng núi um tùm, người dân đến khai phá và dựng nên một ngôi đền, trước cửa đền lại cho đào một cái giếng lấy nước từ mạch ngầm từ trong núi chảy ra và lấy nước đó để nấu ăn. Trong giếng có một đôi cá mà theo các bô lão thì đôi cá này đã sinh sống ở đây cả trăm năm, dù có lụt lội nước tràn ngập làng cá vẫn không đi và được dân làng gọi là "Cá Thần". Cứ hàng năm vào tiết Thanh minh người dân trong làng lại chuẩn bị vật phẩm gồm xôi gà, ngũ quả, hương hoa và chọn ra vài chàng trai tân đến làm lễ tát giếng, đôi "Cá Thần" được trân trọng vớt lên thả vào 1 cối đá to (đường kính khoảng 1m) bên cạnh bờ giếng. Trong đền dân làng tổ chức tế lễ thì phía ngoài bên bờ giếng cũng làm lễ thờ Cá (gọi là ông Cá).

Cũng là tục thờ Thần nước nhưng làng Kẻ Chóa và hệ thống các đền thờ Bách Noãn ở phía Nam sông Đuống lại thờ các con của Lạc Long Quân và Âu Cơ mà thể hiện rõ nét nhất là tục "Cầu đảo" - cầu mưa mỗi khi hạn hán. Nghi thức tế lễ Thần được tiến hành trong ba ngày liền, không mưa lại ba ngày tiếp theo. Nếu trời vẫn không mưa thì dân làng tổ chức "Tắm kiệu" trên sông, người ta sẽ dùng gáo đồng múc nước dội lên kiệu. Sau lễ tắm kiệu mà trời vẫn không mưa, dân làng lại tổ chức "Rước bơi" - tổ chức bơi chải. Sau ba ngày rước bơi mà trời vẫn không mưa thì nhân dân ở đây tổ chức "Rước huyện", tức đồng loạt các làng ven sông đều tổ chức tế lễ cầu đảo.

Đây là một tín ngưỡng cổ xưa của người Việt cổ vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay tại các ngôi làng cổ ven sông mà không phải bất cứ nơi nào trên đất nước Việt Nam ta có thể tìm thấy. Nó chứng tỏ một đều là nước Việt đã tồn tại từ rất lâu đời và con người luôn sống gắn bó với thiên nhiên, đồng ruộng, xóm làng, văn hóa Việt Nam không dễ phôi pha khi mà đất nước Việt Nam ngày càng phát triển.

111. Gia phả hoàn chỉnh có những mục gì?

Gia phả được coi là hoàn chỉnh trước hết phải là một gia phả được ghi chép rõ ràng, chữ nghĩa chân phương có ghi rõ tên người sao lục, biên soạn thuộc đời thứ mấy, năm nào, triều vua nào, căn cứ vào bản nào, tên người tục biên qua các đời cũng có cước chú rõ ràng. Đầu gia phả có lời tựa ghi được nguồn gốc xuất xứ của thủy tổ có cứ liệu thành văn hay truyền ngôn.

Mở đầu là thuỷ tổ, lần lượt đến tiên tổ các đời, nối dòng đến lớp con cháu mới sinh.

Đối với tiền nhân có các mục sau đây:
Tên: Gồm tên huý, tên tự, biệt hiệu, thụy hiệu và tên gọi thông thường theo tập quán địa phương? Thuộc đời thứ mấy?
Con trai thứ mấy của ông nào? Bà nào?
Ngày tháng năm sinh (có người còn ghi được cả giờ sinh).
Ngày, tháng, năm mất? Thọ bao nhiêu tuổi?
Mộ táng tại đâu? (có người ghi được cả nguyên táng, cải táng, di táng tại đâu? Vào tháng, năm nào?).
Học hành, thi cử, đậu đạt, chức vụ, địa vị lúc sinh thời và truy phong sau khi mất: Thi đậu học vị gì? Khoa nào? Triều vua nào? Nhận chức vị gì? năm nào?
Được ban khen và hưởng tước lộc gì? Sau khi mất được truy phong chức gì? Tước gì? (Đối với những vị hiển đạt thì mục này rất dài. Ví dụ trong Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả, chỉ riêng Xuân quận công Nguyễn Nghiễm, mục này đã trên mười trang)
Vợ: Chánh thất, kế thất, thứ thất...
Họ tên, con gái thứ mấy của ông nào, bà nào? Quê ở đâu? Các mục ngày, tháng, năm sinh; ngày, tháng, năm mất, tuổi thọ, mộ, đều ghi từng người như trên.
Nếu có thi đậu hoặc có chức tước, địa vị, được ban thưởng riêng thì ghi thêm.
Con: Ghi theo thứ tự năm sinh, nếu nhiều vợ thì ghi rõ con bà nào? Con gái thì cước chú kỹ: Con gái thứ mấy, đã lấy chồng thì ghi tên họ chồng, năm sinh, con ông bà nào, quê quán, đậu đạt, chức tước? Sinh con mấy trai mấy gái, tên gì? (Con gái có cước chú còn con trai không cần vì có mục riêng từng người thuộc đời sau).
Những gương sáng, những tính cách, hành trạng đặc biệt, hoặc những công đức đối với làng xã, họ hàng, xóm giềng...
Ngoài những mục ghi trên, gia phả nhiều họ còn lưu lại nhiều sự tích đặc biệt của các vị tiên tổ, những đôi câu đối, những áng văn hay, những bài thuốc gia truyền...đó là những tài sản quý giá mà chúng ta để thất truyền, chưa biết khai thác.

Những nội dung ghi trên chỉ có tính chất gợi ý với các bậc huynh trưởng các họ, đang chăm lo công việc phổ biến và tục biên gia phả dành cho con cháu đời sau. Còn phần trên gia phả hoàn chỉnh hay sơ sài, các cụ còn giành lại cho ta được bao nhiêu biết bấy nhiêu, ai dám sáng tác thêm? Tuy nhiên, nếu tìm được quốc sử, hoặc trong gia phả, thần phả khác những tư liệu liên quan thì có thể cước chú kỹ, giúp đời sau thêm sáng tỏ.

Gia phả là gia bảo có đúng không?

Đúng và rất đúng với những người có ý thức tôn kính tổ tiên và quý trọng tình cảm họ hàng gia tộc. Gia phả là lịch sử của một dòng họ, một gia đình lớn. Thiết tưởng không cần phải nói nhiều về ý nghĩa mà mỗi cuốn gia phả của từng dòng họ đều đã nói rõ trong từng lời tựa. Đành rằng cái ăn, cái mặc để nuôi sống gia đình và bản thân là việc hàng đầu. Nhưng có thấy nỗi day dứt của những người có tâm huyết muốn truyền cho con cháu biết đời cha mình do ai sinh ra, từ đâu đến, tổ tiên công đức ra sao, ngặt vì gia phả đã mất; có thấy được nỗi niềm của những người trú ngụ ở phương xa không được cha ông truyền cho biết gốc gác của mình từ đâu, họ hàng là ai, khi đó mới thấy đầy đủ ý nghĩa của hai chữ "Gia phả-Gia bảo". Giọt nước rất quý đối với người sống trên sa mạc, còn đối với người sống ven sông, dễ gì mỗi lần "Uống nước" lại phải "Nhớ nguồn".
Thời trước họ nào cũng có gia phả, có họ từng nhà còn có gia phả. Nếu vì thuỷ, hỏa, đạo tặc để mất vàng bạc- của cải gì thì mất, chứ không để mất gia phả. Ngặt vì gia phả ngày xưa viết bằng chữ Hán, hơn nữa từng chi từng nhà chỉ nối phần trực hệ của chi mình, nhà mình, thảng hoặc mới có một cuốn gia phả ghi đời tiếp nối của chi anh, chi em, đến đời hai đời ba là cùng, do đó nếu một chi mất gia phả thì chi khác không thể bổ cứu. Hiện nay, do mất gia phả nên nhiều họ tuy cùng ở với nhau trong một địa phương vẫn không biết nhau, không nhận được quan hệ họ hàng.
Về một ý nghĩa khác, gia phả sở dĩ gọi là gia bảo vì đó là lịch sử của tổ tiên nhiều đời truyền lại, là điều tổ tiên muốn gửi gắm lại cho đời sau. Bất cứ họ nào, bất cứ con người nào trong họ, có tài năng lỗi lạc đến đâu, cá nhân cũng không thể viết được toàn bộ gia phả mà chỉ có kế thừa đời trước và truyền dẫn đời sau.
Gia phả các họ là các nguồn bổ sung tư liệu rất quý, rất dồi dào cho quốc sử, nếu các nhà sử học biết khai thác cũng có khả năng từ gia bảo trở thành quốc bảo.

112. Trò thổi cơm thi trong lễ hội cổ truyền

Trò thổi cơm thi phản ánh đậm nét đời sống lao động của cư dân trồng lúa ở Việt Nam. Tùy theo tập quán của từng địa phương, trò thổi cơm thi được tiến hành ở mỗi nơi một khác, nhưng nó không chỉ là một trò chơi giải trí trong dịp lễ hội. Sản phẩm đoạt giải của cuộc nấu cơm thi được coi là vật phẩm quý giá để cúng thần linh.
Tất nhiên, muốn có cơm thì phải có gạo và phải biết nấu, biết thổi. Dù không khó khăn lắm, nhưng nếu không học hỏi, tập luyện thì cũng không thể nấu cơm ngon. Do vậy, trò "thổi cơm thi" đã xuất hiện khá nhiều trong các hội làng ở những vùng có đông cư dân trồng lúa. Trò thổi cơm thi cũng đã được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Người thì bảo thổi cơm thi là để có cơm nhanh cho binh sĩ kịp ăn trước khi lên đường ra trận. Người thì nói thổi cơm thi là một trò vui giải trí trong ngày hội.
Tuy nhiên, với cách nhìn của nhà nông, người ta vẫn có thể nói rằng, thổi cơm thi là một trò diễn nhằm thể hiện lòng quý trọng lúa gạo, trau dồi thao tác chế biến một sản phẩm nông nghiệp quan trọng bậc nhất do chính tay họ làm ra.
Tùy theo phong tục tập quán của từng địa phương mà trò thổi cơm thi được tiến hành ở mỗi nơi một khác. Nơi thì tổ chức giữa sân đình, nơi thì thi thổi trên thuyền ở giữa hồ nước, nơi thì phải tự kéo lửa, nơi thì vừa kết hợp làm thêm việc khác... Nhưng dù tổ chức ở đâu và cách thức như thế nào thì cũng phải đảm bảo tiêu chuẩn: nhanh và thật ngon, bất luận trong hoàn cảnh nào.
Hội làng Cảnh Thụy (Yên Dũng, Bắc Giang) mở vào mùa xuân hằng năm có trò thổi cơm thi rất phong phú, độc đáo. Sau khi tế Thành hoàng, làng tổ chức một cuộc thổi cơm thi với quy mô rộng lớn để nhiều người tham dự. Trò thi này được thực hiện theo bốn kiểu sau đây:
Kiểu thứ nhất: Thành viên tham dự là các cô gái chưa chồng trang phục đẹp. Họ vừa thổi cơm vừa phải bế một đứa trẻ chưa đầy một tuổi và giữ một con cóc không cho nó nhảy ra khỏi cái vòng tròn có đường kính chừng 1 m. Ðịa điểm dự thi là khu đất bằng phẳng bên cạnh đình làng, thời gian quy định là cháy hết một nén hương dài khoảng 40 cm. Các cô gái dự thi đều phải buộc một sợi dây bao ở lưng để cài vào phía sau dây bao ấy một cái cần câu uốn cong về phía trước mà treo niêu thổi cơm. Vật dụng kèm theo là một nắm bùi nhùi, hai thanh nứa để kéo lửa, nhai mía lấy bã làm củi. Mọi người dự thi phải tự mình thực hiện các khâu kéo lửa, nhóm lửa, thổi cơm, giữ đứa trẻ không khóc, giữ cóc không ra khỏi vòng trong khoảng thời gian quy định.
Sau khi thẻ hương cháy hết, những ai thổi được niêu cơm chín tới, thơm dẻo, khi đập vỡ niêu có một lớp cháy vàng ôm lấy chung quanh và trong quá trình thi mà con không khóc, cóc không nhảy ra khỏi vòng tròn là đoạt giải. Làng sẽ trao giải thưởng và đem nồi cơm đoạt giải ấy vào đình làm lễ cúng thổ công cùng với thần nông, thành hoàng.
Kiểu thứ hai: Cũng có phần tương tự như kiểu trước về mặt vật dụng nhưng người dự thi là những cô gái cải trang thành con trai, trong lúc thi họ không đứng một chỗ mà phải đi vòng quanh đình theo quy định một số vòng thì cơm phải chín, phải thơm dẻo. Ở kiểu thứ hai này thời gian phải dài hơn bởi vì vừa đi vừa thổi thì niêu cơm sẽ đung đưa làm cho lửa khó tập trung vào đáy niêu, vả lại gió thổi trong lúc vận động cũng giảm bớt độ nóng của lửa. Trong trường hợp ấy nếu người thi không điều khiển tốt thì rất có thể cơm không chín hoặc chín không đều. Ði hết số vòng quy định thì dừng lại. Cơm người nào chín, ngon, không vương vãi quanh nồi thì sẽ được thưởng, được đưa vào đình cúng thần linh để cầu lộc, cầu may.
Kiểu thứ ba: Những người dự thi, từng đôi một, vừa bơi thuyền trên hồ, vừa thổi cơm thi. Ðây là kiểu thuyền thúng đan bằng tre, bơi bằng tay, luôn luôn chồng chềnh, nếu không khéo là lật xuống nước. Từng đôi phân công nhau một người bơi, một người thổi cơm và bơi hết một số vòng quy định thì phải dừng lại dù cơm đã chín hay chưa. Người thi cũng phải chuẩn bị dụng cụ đánh lửa, nhóm lửa và củi để đốt (củi ở đây là những que đóm chứ không phải là bã mía như kiểu thi thứ nhất). Cơm thi cũng nấu bằng nồi đất, buộc vào một cái cần phía trước mũi thuyền, đáy nồi chỉ cách mặt nước khoảng 20cm. Kiểu thi này khó hơn hai kiểu trước vì khoảng cách đốt lửa quá ngắn (20cm). Nếu đốt sát đáy nồi thì cơm dễ bị cháy nhưng trong ruột vẫn chưa chín nhừ; nếu đốt lửa gần nước mà thuyền chồng chềnh một tý là tắt luôn. Khi đã tắt thì củi bị ướt rất khó nhóm lại, nếu nhóm được cũng đã hết thời gian. Trên trường thi lại có giám thị kiểm soát nghiêm ngặt từ điểm xuất phát đến điểm về đích. Thi thổi cơm trên thuyền đã khó, lại tổ chức vào buổi tối nên mọi thao tác đều khó khăn. Tuy vậy, do có sự tập luyện, chuẩn bị chu đáo nên nhiều đôi vẫn giành được giải. Ðó là những thuyền bơi về đích sớm nhất lại thổi được cơm chín, cơm dẻo.
Kiểu thứ tư: Vừa thi thổi cơm vừa hoạt động văn nghệ. Thành viên dự thi là 20 cô gái xinh đẹp, chưa chồng được hàng tổng chọn cử. Bước vào cuộc thi, họ phân thành hai nhóm trong đó một nhóm cải trang thành nam giới. Họ cũng phải chuẩn bị hai que nứa đánh lửa, bùi nhùi để nhóm, mía để nhai lấy bã làm củi, niêu thổi cơm bằng đất treo trên cần như kiểu thi thứ nhất nhưng không phải giữ con, trông cóc. Hai nhóm này vừa khẩn trương thổi cơm, vừa hát đối đáp với nhau theo kiểu hát giao duyên nam nữ thường thấy trong hội làng. Những người hát cũng phải hát hay, đúng quy cách, bài bản theo trình tự hát vào đám, hát kết, hát rã đám. Ban giám thị ngồi cạnh theo dõi lời hát, lượt hát, ghi vào thẻ để cho điểm. Ngoài những bài hát quen thuộc, họ còn phải ứng khẩu đối đáp nhau bằng sự sáng tạo của cá nhân. Giải thưởng trao cho nhóm thắng cuộc được căn cứ vào chất lượng nồi cơm thổi được cùng với số lượng câu hát đối đáp của mỗi nhóm diễn ra trong cùng một thời gian.
Làng Cao Ðài (thuộc huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Ðịnh) hằng năm mở hội vào ngày 22 tháng bảy âm lịch để tưởng niệm Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải và công chúa Phụng Dương (vợ của ngài) đã có công trong việc xây dựng, mở mang làng ấp. Trong lễ hội có trò thổi cơm thi rất khó nhưng lại cuốn hút được sự quan tâm của nhiều người. Cuộc thi này chỉ dành riêng cho những cô gái chưa chồng. Ban chấm thi là các lão nông tri điền có uy tín do làng chọn cử, trong đó có một vị chủ khảo điều hành chung. Chủ khảo đầu quấn khăn lụa đỏ, áo thụng vàng, quần dài trắng ra điều khiển cuộc thi bằng những hồi trống dõng dạc, các tốp trai gái mặc quần áo đẹp hát đối đáp làm nền. Các cô gái dự thi thì đi chân đất, mặc áo tứ thân, váy lụa đen, yếm trắng, đầu chít khăn màu, lưng thắt dải lụa. Người thi phải thực hiện tất cả các khâu từ đầu đến cuối nên phải chuẩn bị đầy đủ các thứ như quang gánh, hũ đựng sẵn nước, bó đóm bằng tre ngâm phơi khô, bùi nhùi rơm có ủ lửa, bã mía phơi khô, rá vo gạo, đũa bếp để khuấy cơm. Khi nghe trống lệnh, các cô gái quảy gánh lên vai đi vòng quanh trường thi theo nhịp trống, vừa đi vừa thực hiện các thao tác thổi cơm. Theo quy định của ban giám khảo thì gánh trên vai của mỗi người phải thật cân, tay không được giữ đòn gánh mà gánh vẫn không lệch về bên nào. Ðộng tác đầu tiên là phải lấy gạo, rót nước từ hũ ra vò và phải giữ cho gạo không rơi một hạt (nếu rơi là bị loại ngay ở vòng đầu vì đã phạm quy). Tiếp theo là rót nước vào niêu cho vừa, không được rơi một giọt nào ra ngoài. Sau hai động tác ấy người dự thi phải chuyển hướng quang gánh đưa bếp từ phía sau ra phía trước để lấy lửa từ mồi rơm ra bùi nhùi, ra đóm mà đốt vào đáy niêu. Nước bắt đầu sôi thì lấy gạo ở phía sau đổ vào rồi tiếp tục điều khiển cho đến khi cơm chín. Trong suốt quá trình thổi chỉ được dùng đũa bếp khuấy cơm ba lần vào những thời điểm quy định chứ không được dùng hơn. Cái khó trong cuộc thi này là đương sự phải tự mình làm rất nhiều khâu, tất cả đều nằm trong quang gánh, nằm trên vai, phải thao tác theo bước đi, theo nhịp trống do người khác điều khiển và phải tuân theo những quy định hết sức nghiêm ngặt của ban giám khảo.
Vốn là những cô gái đồng quê hằng ngày tiếp xúc với củi đuốc gạo cơm, lại được sự động viên, cổ vũ của dân làng và đặc biệt là những chàng trai chưa vợ đang để ý, theo dõi nên nhiều cô vẫn hoàn thành được phận sự của mình, vẫn nhận được phần thưởng của cộng đồng ban cho bàn tay sáng tạo khéo léo, cho đức tính kiên nhẫn, cần cù mà kết quả của nó là những niêu cơm thơm dẻo, đảm bảo thời gian.
Làng Ðào Xá (Tam Thanh, Phú Thọ) trong lễ hội cầu xuân (29 tháng giêng âm lịch) có trò thổi cơm thi thật là độc đáo. Gọi là thổi cơm nhưng chưa có gạo mà chỉ mới có thóc nên buộc người dự thi phải xay giã, giần sàng từ đầu chí cuối rồi mới thực hiện được công đoạn chính. Dĩ nhiên là thời gian trong cuộc thi này phải dài hơn (khoảng 90 phút) và số người cũng phải đông hơn (4 người) vì không chỉ thổi cơm mà còn phải cướp gà, thịt gà mới hoàn tất công việc.
Sáng 29, sau lễ cáo yết thành hoàng, trai đinh của bốn giáp trong làng bắt tay vào cuộc thi, mỗi giáp cử 4 người đại diện. Ðịa điểm thi là giữa sân đình, mỗi giáp dựng riêng một bếp ở góc sân để đun nấu đàng hoàng chứ không treo nồi vào cần câu hay quảy nồi trên vai vừa đi vừa nấu như các làng trên. Bốn người tham gia phân công nhau: một người cướp gà, một người kéo lửa, một người gánh nước, một người giã gạo. Tất cả đều quần áo chỉnh tề buộc khăn đỏ ngang lưng và mang theo đầy đủ dụng cụ như nồi đất thổi cơm, nồi đồng luộc gà, cối xay lúa, cối giã gạo, một cái chày, một cái kiềng, một bó củi hay que giang, dao thớt đủ dùng.
Sau ba hồi trống mở màn cuộc thi, mỗi người khẩn trương thực hiện phần việc của mình. Người thì lên thềm đình cướp gà, người thì đến giếng gánh nước, người thì xay giã gạo, người thì kéo lửa từ hai sợi giang. Vấn đề quan trọng để bảo đảm thắng lợi là cả bốn người phải hoạt động đồng bộ, đều tay, phải tính toán việc nào làm trước, việc nào làm sau để hợp lý, khỏi lãng phí thời gian và vật dụng. Chẳng hạn nếu đưa nồi cơm lên thổi đầu tiên thì sẽ rất bất lợi vì đã cháy hết củi nhưng gạo vẫn chưa xay giã xong. Trong trường hợp này họ có thể đun nước sôi làm thịt gà sau đó mới nấu cơm. Nhưng nếu chưa bắt được gà thì cũng nhỡ. Do đó các khâu phải được thực hiện liên hoàn, công việc này phải liên kết với công việc kia mới có thể dành được kết quả như ý muốn. Phần thưởng của làng sẽ giành cho giáp nào nấu được nhanh, cơm chín dẻo, gà thơm ngon.
Trong ngày hội đầu năm của làng Ðông Liệt (Nam Thái, Nam Ðàn, Nghệ An) thì có trò thổi cơm thi theo từng cặp. Sau khi tế Thành hoàng ở đình, làng tổ chức thổi cơm thi cho trai gái trong làng tham gia. Những người dự thi tự ghép thành từng đôi - một nam, một nữ - đảm nhiệm một niêu cơm trình làng. Nữ thì trang phục quần lĩnh, áo mớ ba, nam thì áo dài đen, quần trắng, thắt lưng xanh, đội khăn xếp. Mỗi đợt thi có chừng 10 đôi. Họ phải chuẩn bị đầy đủ những thứ cần thiết để khi bước vào trường thi không phải nhờ vả nhau như lúc ở nhà. Niêu cơm được treo vào một chiếc dóng bằng thép mắc vào cây gậy do chàng trai quảy lủng lẳng trên vai. Cô gái thì làm nhiệm vụ cầm bó đuốc đỏ lửa đi theo chàng trai để đốt lửa vào đáy niêu cơm cho đến khi cơm chín. Cuộc thi ở đây không bắt đương sự phải xay giã gạo, kéo lửa, lấy nước mà những thứ đó đã có sẵn. Tài khéo được thể hiện qua việc đôi trai gái phải phối hợp chặt chẽ với nhau, phải hiểu ý nhau, điều tiết cho nhau trong các động tác đun nấu. Vì cái niêu cơm luôn luôn chuyển động theo nhịp bước của chàng trai nên cô gái cũng phải đi theo đúng nhịp bước ấy thì ngọn lửa mới kề sát được đáy niêu. Nhưng nếu chàng trai bước không đều, không nhẹ nhàng thì niêu sẽ lủng lẳng, ngọn lửa không bám được dễ dẫn đến tình trạng cơm sống hoặc chín không đều hay không kịp thời gian. Rồi khi cơm đã cạn thì cô gái phải biết bớt lửa kẻo cơm cháy. Bớt lửa nhưng không được phép rút bớt đóm quăng đi mà phải điều chỉnh bằng cách xoay trở bó đuốc hoặc tiến lùi bước chân. Việc làm này không dễ và người ta thường hơn thua nhau là ở chỗ này.
Khi trống lệnh vang lên, các đôi trai gái dự thi lần lượt bước ra sân đình trình làng. Trống điểm tiếp ba tiếng thì cuộc thi bắt đầu. Từng đôi một đi với nhau, vừa đi vừa nấu cơm theo nhịp trống khoan thai của người cầm chịch. Bà con xem hội đứng hai bên sân đình cổ vũ, hò reo, theo dõi từng động tác của con em mình trong mọi thời điểm. Ðể giúp vui cho ngày hội, làng bố trí một chú làm trò giữa sân đình. Chú len lách, trêu ghẹo hết đôi này đến đôi nọ cốt làm cho họ mải vui mà sao nhãng công việc đang phải tiến hành.
Kết quả của cuộc thi là đôi nào nấu chín cơm nhanh nhất, ngon nhất thì sẽ được ban giám khảo cho điểm cao nhất và làng sẽ tặng giải thưởng cho họ. Hội làng Cảnh Dương (Quảng Trạch, Quảng Bình) vào dịp Tết Nguyên đán cũng có trò thổi cơm thi tương tự như làng Đông Liệt. Ở đây, chỉ khác là phải đi lấy nước vo gạo bằng một cái đĩa nhỏ, lại phải có hai thanh niên khỏe mạnh kéo lửa nên tổng số từng tốp thi lên đến bốn, năm người. Họ cũng treo niêu vào cần câu dài rồi một người vác đi, một người đốt lửa vào niêu để nấu cơm cho đến chín. Cả tốp vừa đi vòng quanh sân vừa hò đối đáp với nhau rất vui vẻ nhưng cũng vừa phải trông coi một con cóc buộc ở cạnh sân không cho nó nhảy ra ngoài cái vòng vôi đã vạch.
Kết thúc cuộc thi, tốp nào thổi nhanh, thổi ngon, giữ được cóc đúng vị trí thì sẽ được làng tặng giải thưởng và bà con khen ngợi chúc mừng.
Trò thổi cơm thi trong lễ hội cổ truyền không chỉ là một trò chơi giải trí, thi tài trong dịp lễ hội mà nó thực sự còn là loại trò diễn mang yếu tố nghi lễ. Sản phẩm của cuộc nấu cơm thi thường được coi là thức cúng thần linh với ý nghĩa phẩm vật ấy đã được tạo ra từ những gì quý giá, tinh khiết, trong trắng nhất, mất nhiều công sức và được cả cộng đồng ủng hộ từ khâu chuẩn bị đến lúc hoàn thiện sản phẩm biểu trưng cho lòng thành kính của cộng đồng đối với thần linh.
Trò thổi cơm thi phản ánh đậm nét đời sống lao động của cư dân trồng lúa, ý thức tôn trọng sản phẩm nông nghiệp là hạt thóc, hạt cơm. Tùy từng địa phương khác nhau mà trò thổi cơm thi được lồng ghép vào những hình thức biểu hiện độ khó khăn, phức tạp khác nhau.
Trò thổi cơm thi cũng là yếu tố quan trọng, một tín hiệu riêng để chúng ta có thể nhận ra nét khác biệt giữa các lễ hội cổ truyền của từng vùng miền.
Thổi cơm thi là một thành tố trong cấu trúc tổng thể lễ hội cổ truyền. Thành tố này có thể chỉ xuất hiện ở một vài lễ hội diễn ra tại một số vùng miền nhưng nó đã trở thành một trong những hành động hội thu hút và làm say mê đông đảo dân chúng. Và như vậy trò thổi cơm thi hội đủ điều kiện để có thể tồn tại mãi mãi cùng với những lễ hội cổ truyền, cho dù ở một số địa phương, vì nhiều lý do khác nhau, trò diễn này đến nay vẫn chưa được phục hồi hay không còn dấu vết trong lễ hội làng, hoặc đã được thay bằng những hình thức khác, vật cúng khác đồng đẳng với nó như thi bánh dày, thi xôi nén, thi bánh trôi, bánh tẻ, v.v.

113. Trò chơi dân gian - nét văn hóa dân tộc giàu bản sắc

Mỗi người chúng ta ai cũng đã từng là một đứa trẻ và đã từng chơi những trò chơi của trẻ. Những vòng quay của con quay (chơi cù) hay những bước nhảy lò cò của trò chơi ăn quan... tất cả như một bức tranh sinh động của cuộc sống. Những điệu nhảy mềm mại, những cánh diều bay nhè nhẹ trên cao như đưa văn hóa Việt Nam đến khắp năm châu.

Trò chơi trẻ em Việt Nam thường bắt nguồn từ những bài đồng dao, một thể loại văn vần độc đáo của dân tộc. Đấy là những bài ca có nhịp điệu đơn giản gieo vần một cách thoải mái, có thể ngắn dài bất kỳ hoặc lặp đi lặp lại không dứt.

Chơi chọi gà là một trong những thú chơi được trẻ em thích thú vì không chỉ nó là con vật gần gũi với đời sống của trẻ mà nó còn mang ý nghĩa như một chiến binh khát vọng chiến thắng:

“Con gà cục tác cục ta/ Hay đỗ đầu hè hay chạy rông rông/ Má gà thì đỏ hồng hồng/ Cái mỏ thì nhịn, cái mồng thì tươi/ Cái chân hay đạp hay bơi/ Cái cánh hay vỗ lên trời gió bay”.

Hay bài đồng dao của trò chơi ô ăn quan: “Hàng trầu hàng cau/ Là hàng con gái/ Hàng bánh hàng trái/ Là hàng bà già/ Hàng hương hàng hoa/ Là hàng cúng Phật...”. Vì đặc tính của trò chơi rất đơn giản, chỉ là những hòn sỏi được rải trên nền đất và khi chơi phải đếm từng hòn sỏi một nên nó là trò chơi hiền lành, không đòi hỏi nhiều lắm vào trí tuệ, sức lực nhưng lại yêu cầu tính kiên nhẫn nên người chơi chủ yếu là các em gái.

Rồng rắn lên mây là trò chơi gắn với đồng dao nhằm rèn luyện sự nhanh nhẹn, khéo léo, phát huy tinh thần đoàn kết, tôn trọng kỷ luật và khả năng đối đáp, có liên quan đến nghi thức cầu mưa của cư dân nông nghiệp: “Rồng rắn lên mây/ Có cây núc nắc/ Có nhà khiển binh/ Hỏi thăm thầy thuốc có nhà hay không...” .

Đồng dao được cấu trúc theo một lôgic riêng, đôi khi không có nghĩa gì cả, nhưng bằng tư duy liên tưởng, trẻ em vẫn có thể nhập vào câu hát để dẫn đến những kết cục bất ngờ: cái ngược đời, cái phi lý, lại có thể chấp nhận vì đấy là bài hát của trẻ em.

“Cây mốt, cây mai, lá trai, lá hến, con nhện chăng tơ, quả mơ có hạt...” là bài đồng dao mà các cô bé thường hát để chơi chuyền. Đây là trò chơi chủ yếu dành cho bé gái, dụng cụ là một quả bóng (có thể được thay bằng một hòn đá hoặc quả ổi xanh) và 10 que tre được vót tròn (có thể thay bằng đũa).

“Cút ca cút kít/ Làm ít ăn nhiều/ Nằm đâu ngủ đấy/ Nó lấy mất cưa/ Lấy gì mà kéo...” là bài đồng dao của trò chơi quay (cù) cũng được trẻ em yêu thích. Ta có thể bắt gặp những đứa trẻ túm năm tụm ba, bỏ quên hết nhọc nhằn của cuộc sống, những bài học khó để cuốn theo vòng xoáy của những con quay.

Từng vòng, từng vòng xoay tít, vui thú với những cú đánh lắc bổ nhào trúng quay của đối phương, cuộc sống của chúng dường như chỉ có vậy. Con quay được tiện hay đẽo bằng gỗ, hình giống quả ổi; tuỳ theo từng địa phương, dân tộc mà con quay có thể có hoặc không có núm (còn gọi là tu) ở phía trên. Bên dưới thân quay có “chân” làm bằng gỗ hoặc bằng đinh hình chóp nón hoặc không có “chân”. Khi chơi, các em quấn dây một vòng quanh tu, sau đó quấn dần xuống thân. Kẹp đầu dây còn lại có nút thắt vào giữa hai ngón tay để giữ dây, sau đó vung tay liệng hoặc bổ quay rơi xuống đất. Lúc này, theo quán tính con quay sẽ quay tít, gần như đứng yên (ngủ), sau đó các em khác ra bổ quay hoặc cứu quay và xác định người thắng cuộc.

Trò chơi dân gian có nhiều thể loại phù hợp với các sở thích, cá tính khác nhau của nhiều đối tượng người chơi như sôi nổi, điềm đạm hay trầm tĩnh. Mỗi trò lại có một quy luật riêng, mang những sắc thái khác nhau khiến trẻ em chơi suốt ngày mà không thấy chán.

Rồng rắn lên mây, cướp cờ... là trò chơi nhằm rèn luyện sự nhanh nhẹn, khéo léo, phát huy tinh thần đoàn kết, tôn trọng kỷ luật và khả năng đối đáp.

Đẩy gậy lại có nhiều nét tương đồng và gần gũi với môn thi đấu vật hay chọi trâu của người lớn.

Trò kéo co cũng thể hiện tinh thần thượng võ, rèn luyện thể lực và sự nhanh nhẹn, khéo léo.

Đánh đáo, chơi chuyền, chơi ô ăn quan lại rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cá nhân, khả năng tính toán, phán đoán chính xác. Từ chỗ ganh đua mang tính chất tượng trưng, dần dần các trò chơi trở thành những cuộc thi tài, thi khéo, các cuộc thi đấu thể thao như bi sắt, nhẩy ngựa, đá cầu...

Trò chơi dân gian chủ yếu dành cho trẻ em ở các vùng nông thôn nên cái tên cũng giản đơn, nôm na như tên thằng Tí, con Na, thằng Ốc, cái Hến vậy: nào là đánh đáo, đánh quay, nào là đi cà kheo, nổ pháo đất...

Hơn nữa, các trò chơi dân gian Việt Nam thường giản tiện, không cầu kỳ, tốn kém nên có thể dễ dàng chơi mọi lúc, mọi nơi, dụng cụ dễ kiếm, dễ làm, chủ yếu lấy từ trong tự nhiên, thậm chí chỉ là cái gậy, hòn đá, hòn bi chúng có thể nhặt trong vườn, dưới ruộng là có thể lập được một hội chơi.

Người chơi thường là những trẻ chăn trâu lê la túm tụm ngoài bãi cỏ, ngoài việc vui đùa, rèn luyện thân thể, còn thể hiện nỗi khát khao chiến thắng tiềm ẩn trong mỗi đứa trẻ.

PGS.TS Nguyễn Văn Huy, Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cho rằng: “Cuộc sống đối với trẻ em không thể thiếu những trò chơi. Trò chơi dân gian không đơn thuần là một trò chơi của trẻ con mà nó chứa đựng cả một nền văn hóa dân tộc Việt Nam độc đáo và giàu bản sắc. Trò chơi dân gian không chỉ nâng cánh cho tâm hồn trẻ, giúp trẻ phát triển khả năng tư duy, sáng tạo, sự khéo léo mà còn giúp các em hiểu về tình bạn, tình yêu gia đình, quê hương, đất nước. Trẻ em ở một xã hội công nghiệp, chỉ quen với máy móc và không có khoảng trống để chơi cũng là một thiệt thòi. Thiệt thòi hơn khi các em không được làm quen và chơi những trò chơi dân gian của thiếu nhi thuở trước - đang ngày càng bị mai một và quên lãng, không chỉ ở các thành phố mà còn ở cả các vùng nông thôn, nơi mà đang dần bị đô thị hóa mạnh mẽ. Vì thế giúp các em hiểu và tìm về cội nguồn với những trò chơi dân gian là một việc làm cần thiết”.

114. Tục thờ thần chuột của người Dao Tiền Hòa Bình

"Uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" là một trong những lề luật của dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa. Người Dao Tiền ở Hòa Bình cũng thế, họ có một tập tục vô cùng kỳ lạ là thờ chuột, trong làng lập hẳn một ngôi miếu thờ.

Theo những người con của bản Bương, vùng Đà Bắc, Hòa Bình này thì tổ tiên xa xưa của họ khi đến vùng đất này thường xuyên phải chịu đói, chịu rét, thức ăn vô cùng khan hiếm còn chuột thì nhiều vô kể. Cũng chính vì vậy mà thịt chuột trở thành thức ăn chính không thể thiếu trong mỗi bữa. Sau này khi đã khấm khá người dân trong bản không quên thuở xưa đói rét nên lập miếu thờ và tôn chuột thành thần. Ngôi miếu được đặt sâu trong bản, cao ráo và luôn được quét tước sạch sẽ. Đầu năm mới mỗi nhà phải nộp một con chuột khô, một chai rượu và một cái bánh chưng để tế lễ cúng thần làng. Vào đêm giao thừa nhà nào cũng tự cúng thần chuột nhưng cứ sang ngày mồng hai tết thì thầy mo bản phải đến miếu cúng thần chuột, tỏ lòng thành kính cầu thần một năm mới tốt lành và đừng phá phách mùa màng của dân bản, lâu dần thành lệ, thành một tín ngưỡng đặc biệt của người dân xứ này.

Vào những ngày làm lễ cơm mới, hội làng hay cúng tổ tiên trên mâm cơm cũng không bao giờ thiếu thịt chuột khô để ông bà tổ tiên đừng quên những ngày khốn khó.

115. Lễ đền ơn đáp nghĩa cha mẹ của người Raglai

Một nét đẹp đã trở thành truyền thống trong đời sống tinh thần của nhiều dân tộc trên dải đất Việt Nam là lòng tôn kính, yêu thương và biết ơn sâu sắc ông bà, cha mẹ.
Ăn ở hiếu thảo đối với cha mẹ đã trở thành đạo lý quan trọng trong đạo làm người. Lễ đền ơn đáp nghĩa cha mẹ của người Raglai cũng nằm trong quan niệm “Cây có cội, nước có nguồn”, nhưng cách thể hiện có những nét độc đáo riêng và giữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của họ. Người Raglai coi lễ này không phải là chuyện nội bộ của một gia đình, mà là việc chung của cả cộng đồng và do đó được xếp vào trong hệ thống lễ hội chung, như lễ bỏ mả, lễ cưới, lễ ăn cơm mới, lễ cúng Yang...
Đền ơn đáp nghĩa cha mẹ, tiếng Raglai là “Ea tixâu pilâu dhadha”. Bất cứ người Raglai nào cũng đều cho rằng công lao của cha mẹ như núi cao, như nước mạch nguồn chảy ra. Và họ tâm niệm sẽ đền đáp xứng đáng ngay từ khi còn ở chung nhà, chung bếp cho đến khi có vợ, có chồng ra ở riêng. Nhưng như thế chưa đủ, theo tập tục của người Raglai, việc đền ơn đáp nghĩa cha mẹ đối với họ phải được nâng lên thành nghi lễ, được họ tộc và buôn làng chứng kiến, thừa nhận, như thế mới được coi là trọn vẹn. Theo quan niệm đã có từ lâu đời của người Raglai, điều bất hạnh lớn nhất của con người là cha mẹ qua đời mà người con chưa kịp làm lễ Ea tixâu pilâu dhadha. Sự ân hận này nhiều khi ray rứt người con suốt cả đời. Do đó, mỗi người Raglai khi trưởng thành, ngoài trách nhiệm chăm sóc, kính yêu cha mẹ thường ngày, nếu cảm thấy cha mẹ có dấu hiệu già yếu (sức khỏe kém, da mặt có nhiều nếp nhăn, tóc bạc, kém ăn, mất ngủ...) thì phải chuẩn bị lễ vật để tổ chức lễ đền ơn đáp nghĩa cha mẹ.
Thông thường, lễ vật gồm có thịt heo, thịt gà, gạo, nếp, rượu cần, một ít trầu cau, thuốc lá... Nhà nhiều của thì chuẩn bị làm lễ lớn, giết trâu, bò... người nghèo thì tùy theo khả năng kinh tế của mình mà tổ chức. Vật chất không phải là tiêu chuẩn để đánh giá tấm lòng hiếu thảo của con đối với mẹ cha, cái chính là thái độ, là tấm lòng của người con đối với cha mẹ trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng. Sự có mặt của bà con trong buôn làng vừa biểu thị tình cảm quý mến, vừa để chứng kiến việc thực hiện một tập tục xã hội. Họ mang đến những lời chúc tụng chân thành của cộng đồng đối với gia đình nói chung và cha mẹ của gia chủ nói riêng. Những gia đình khá giả, hoặc gặp những năm được mùa, thường tổ chức cuộc lễ này rất lớn và vui chơi kéo dài hai ba ngày đêm.
Về nghi thức, khi cỗ bàn được bày ở giữa nhà, thì mẹ cha - đối tượng chính của buổi lễ - được mời ngồi vào vị trí trung tâm, nơi trên mâm cỗ đặt một đĩa thịt và lòng heo đủ món. Những người khác gồm bà con, họ hàng, người trong buôn... đều tề tựu đông đủ chung quanh. Sau khi tiến hành lễ khấn vái các Yang, mời gọi tổ tiên, ông bà và những người khuất mặt cùng về chứng kiến tấm lòng của con đối với cha mẹ, người con rót một chum rượu trắng thật đầy kính cẩn mời mẹ cha. Tiếp đó, người con tự tay bưng đĩa thịt, gắp từng miếng đút cho cha mẹ ăn để tỏ lòng hiếu thảo, trước sự chứng kiến của cộng đồng. Nếu đĩa thịt được ăn hết, thì đó là một niềm hạnh phúc rất lớn đối với gia đình người con. Hoặc có thể cha mẹ chỉ ăn vài miếng tượng trưng, như thế cũng đã đủ là điều vui sướng. Trong không khí hân hoan ấy, chủ nhà mời bà con, họ hàng cùng chia sẻ niềm vui. Họ vừa ăn uống, vừa trao đổi những lời chúc tụng tốt đẹp đối với gia đình và những người cao tuổi trong buôn. Lễ vật còn được dành ra một phần để mẹ cha đưa về cúng ông bà tại nhà mình và biếu cho một số người thân.
Sau bữa tiệc, đến phần sinh hoạt văn nghệ, vui chơi. Khi tiếng mã la nổi lên cùng dàn nhạc hòa theo, nam nữ thanh niên và cả những người lớn tuổi cùng nhau nhảy múa, ca hát. Cuộc vui kéo dài đến suốt đêm.
Lễ đền ơn đáp nghĩa cha mẹ của người Raglai nhìn về hình thức có vẻ như rất đơn sơ, mộc mạc, nhưng bên trong hàm chứa một đạo lý sâu sắc được cả cộng đồng thừa nhận và hưởng ứng nhiệt thành, đầy tình nghĩa. Truyền thống đạo lý mang đậm tính nhân văn này đã được các thế hệ người Raglai kế thừa và bảo tồn cho đến ngày nay.

116. Mâm ngũ quả - Một tục lệ đẹp đẽ đầy nét nhân văn

Ngày Tết, gia đình nào cũng có mâm ngũ quả dâng lên bàn thờ tổ tiên, ông bà. Mâm ngũ quả bên cành đào, câu đối đỏ, bức tranh Tết, bánh chưng xanh... tạo nên khung cảnh ấm áp của mỗi gia đình khi Tết đến xuân về.

Không biết phong tục này có từ bao giờ, phải chăng vì đất nước ta vốn bốn mùa hoa trái, nhất là vào mùa Xuân hoa quả càng rộ. Hoa qủa là lộc của thiên nhiên, đất trời. Lộc Xuân càng quý. Dâng lộc trời, cúng ông bà, tổ tiên trong những ngày đầu Xuân thật là một tục lệ đẹp đẽ đầy nét nhân văn.

Cứ vào khoảng 28 tháng Chạp âm lịch thì nhà nhà đều cho bày biện một mâm ngũ quả kèm với nhiều sản vật khác trên bàn thờ. Mâm ngũ quả thường bày trên một cái mâm bằng gỗ tiện, sơn son, có chân, gọi là mâm bồng. Nếu không có mâm bòng, có thể bày trên một cái đĩa to, nhưng phải đặt trên chồng bánh chưng để tạo dáng cao, uy nghiêm, thành kính.

Mâm ngũ quả có 5 loại. Tại sao lại 5? Theo các vị cao niên, am tường về Nho giáo thì xuất xứ của mâm ngũ quả có liên quan đến quan niệm triết lý Khổng giáo của phương Ðông, thế giới được tạo nên từ năm bản nguyên - gọi là “ngũ hành”: Kim - Mộc - Thuỷ - Hỏa - Thổ, nghĩa là 5 yếu tố cấu thành vũ trụ. Còn theo quan niệm của dân gian thì “quả“ (trái cây) được xem như biểu tượng cho thành quả lao động một năm. Ông cha ta chọn 5 loại trái cây để cúng đêm giao thừa là ngụ ý rằng : Những sản vật này đựơc kết tinh từ công sức, mồ hôi, nước mắt của con người lao động, kính dâng lên đất trời, thần thánh trong giờ phút linh thiêng của vũ trụ vạn vật sinh tồn. Tư tưởng, hình ảnh ấy đã ăn sâu và tâm thức của người Việt Nam bao đời nay.

Ðã gọi là ngũ quả thì nhất thiết phải là 5 loại quả. Nhưng các vùng, các miền do mùa xuân hoa trái khác nhau, nên mâm ngũ quả cũng khác nhau như: chuối, bưởi, phật thủ, dưa hấu, cam, quýt, dừa, na, hồng xiêm, táo...

Mỗi quả mang một ý nghĩa:

Chuối - phật thủ: như bàn tay che chở.
Bưởi - dưa hấu: căng tròn, mát lành, hứa hẹn năm mới đầy ngọt ngào, may mắn.

Hồng - quýt: rực lên màu sắc mạnh mẽ, tượng trưng cho sự thành đạt.

Ở vùng Thủ Dầu Một, ngày Tết hầu như nhà nào cũng có mâm lễ: Long - Lân - Quy - Phụng. Kết từ hoa quả - tứ linh hoàn toàn mang tính hình tượng như hoa quả kết thành “vật thực”, thể hiện lòng thành của con cháu tưởng nhớ gia tiên, cảm tạ ơn trời, ơn đất.

Mâm ngũ quả trong Nam cũng khác so với ngoài Bắc. Trên mâm ngũ quả ở ngoài Bắc thường có : Bưởi, đào, quýt, chuối, hồng. Có khi người ta thay bưởi bằng phật thủ hoặc lựu Mâm ngũ quả trong Nam vẫn cứ giữ nguyên truyền thống là mãng cầu, sung, dừa xiêm, đu đủ, xoài mà các bà thường quan niệm sơ đẳng là “cầu - sung - vừa - đủ - xài”.

Một mâm ngũ quả được bày dưới cùng là một nải chuối to già còn xanh, nải chuối đều, hoặc 2 nải chuối nhỏ ghép bên nhau như một chiếc bệ cong gồm 2 tầng nâng đỡ hoàn toàn hoa trái khác. Ở đây có sự phối hợp màu sắc, mâm ngũ quả đẹp là đủ màu sắc rực rỡ. Chính giữa bệ mâm xanh sẫm, trước đây bày quả phật thủ . Ngày nay ít trồng phật thủ nên thường thay bằng quả bưởi to, càng to càng đẹp. Bưởi chín vàng, tươi nổi bật trên bệ chuối màu xanh. Những quả chín đỏ đặt xung quanh, những chỗ khuyết dưới đặt xen kẽ quýt vàng và táo màu xanh ngọc, còn bao nhiêu lá xanh cố tình để sót lại ở cuống quả như hoàn thiện những nét trang trí cuối cùng.

Mâm ngũ quả đã làm quang cảnh ngày Tết và không gian cúng thêm phần ấm áp, rực rỡ mà hài hoà. Nó thể hiện sinh động ý tưởng triết lý - tín ngưỡng - thẩm mỹ ngày Tết. Tìm hiểu về mâm ngũ quả cũng là tìm hiểu về nguồn gốc, lịch sử, truyền thống tốt đẹp để chúng ta nhớ lại ông bà, tổ tiên.

117. Tục lệ cưới xin của dân tộc La Hủ

Mời bạn lên vùng cao phía Bắc, thăm bà con dân tộc La Hủ thuộc tỉnh Lai Châu. Tục lệ cưới xin ở đây có nét đẹp riêng. Tháng 11, 12 hàng năm - là dịp Tết của người La Hủ - cũng là mùa cưới của các đôi trai gái yêu nhau. Chàng trai tìm hiểu cô gái, đã tới độ "chín muồi", anh có thể tới nhà cô gái ngủ một vài tối. Tục lệ cho phép anh, chị có thể ngủ chung giường.
Lễ na-nhí, tức lễ dạm hỏi như vùng xuôi, thường vào buổi tối. Ông "mối" cùng bố mẹ và anh em nhà trai sang nhà gái để "có lời". Lễ vật là rượu và một thứ "quà quý" của rừng - ("quà quý" này nhất thiết phải có thịt sóc rừng). Qua trò chuyện, nhà gái thấy bằng lòng thì hai bên cùng uống rượu, nhắm thịt sóc.
Sau lễ dạm là lễ hỏi, hai lễ này cách nhau khoảng bảy, tám ngày. Theo tục lệ, lễ hỏi gồm hai chai rượu và số con sóc phải là số chẵn chứ không được số lẻ, chừng 6 đến 8 con. Nhà trai phải "tuân theo" số lượng con sóc của nhà gái: 6 hoặc 8 con, vì theo lệ từ xưa, số sóc không được ít hơn 4 nhưng cũng không được nhiều hơn 8. Người làm mối trong lễ hỏi còn là người "đầu bếp", tự tay làm thịt sóc, trình bày các món ăn này sao cho ngon để mời nhà gái.
Trong khi ăn uống vui vẻ hai bên trao đổi về tiền cưới và thời gian ở rể. Ngày xưa, tiền cưới khá "nặng túi": những 70 đến 80 đồng bạc trắng. Trường hợp nhà rể nghèo, không có bạc trắng, thì anh phải ở lại làm rể ngay tối hôm đó. Thời gian ở rể bây giờ rút xuống còn từ 2 đến 4 năm, thời trước từ 8 đến 12 năm.
Nếu lễ ăn hỏi có số con sóc phải chẵn, thì lễ cưới quy định: đoàn đi đón dâu phải là số lẻ, trong đó có hai ông "mối" và chàng rể. Khi nhà trai đón dâu đi, ông "mối" trao tiền cưới cho nhà gái. Trên đường đi, dù có nhớ bố mẹ, cô dâu cũng không được ngoảnh lại nhìn ngôi nhà cô sinh ra và lớn lên, vì nếu vấp ngã, e sau này vợ chồng có chuyện cãi cọ không hay.
Rước dâu về đến nhà, bà mẹ chồng đã đứng đợi ở cửa. Bà lấy một nắm gạo xoa lên lưng con dâu, ngụ ý "xóa hết cỏ để con dâu không mang cỏ về, trên nương sẽ không có nhiều cỏ mọc". Lại còn tục lệ: bà mẹ chồng trồng hai cây riềng ở hai bên cửa vào nhà, rồi buộc sợi chỉ trắng qua hai cây riềng. Lúc vào nhà, cô dâu đi phía tay trái, chú rể đi phía tay phải, rồi chú rể dùng tay trái, cô dâu dùng tay phải "cắt" đứt sợi chỉ đó, bước vào nhà. Xong thủ tục này hai họ cùng nâng chén chúc những câu tốt lành và ăn uống vui vẻ.
Ði thăm đất nước vào dịp xuân về, các bạn sẽ có được nhiều thú vui, nhiều điều bổ ích.

118. Nghi thức cưới của người Lô Lô

Cũng giống như các dân tộc khác, với người Lô Lô, việc cưới hỏi là một sự kiện vô cùng trọng đại. Theo tập quán cổ truyền, nhà trai phải nhờ bốn người làm mối gồm hai nam, hai nữ, tốt nhất là được hai cặp vợ chồng song toàn. Chọn được ngày tốt, những người làm mối này mang hai chai rượu và lễ vật đến dạm hỏi. Nếu nhà gái đồng ý thì làm cỗ và dùng hai chai rượu đó uống rượu và bàn định ngày cưới. Đồ thách cưới bao gồm gạo nếp, gạo tẻ, thịt lợn, rượu… để dùng cho tiệc cưới, ngoài ra còn có váy, áo, vòng tay, vòng cổ cho cô dâu, thậm chí còn thách cả bạc trắng để làm của hồi môn.

 

Nhà trai sẽ mang lễ vật đến cho ông cậu của cô dâu, người này giao lại lễ vật đó cho chủ nhà. Nhà gái làm cỗ cúng trình tổ tiên và mời bà con họ hàng đến ăn uống vui chung. Cô dâu thường được khách mời mừng khăn, áo, tiền bạc và các đồ dùng khác. Thường thì nhà trai dẫn lễ cưới đến vào ngày lễ hôm trước để ngày hôm sau đón dâu sẽ là ngày chẵn với mong ước đôi trẻ mãi mãi không bị lẻ loi. Lễ dâng cưới diễn ra trong lời ca đón rể đón dâu mừng hai họ hết sức thân mật. Tối hôm đó nhà gái tổ chức hát thâu đêm suốt sáng để phúc chúc cho cô dâu chú rể.

Sáng hôm sau, cơm nước xong, chú rể cùng phù rể vào bái lạy tổ tiên, lễ sống bố mẹ vợ cùng ông cậu và quan khách. Ông cậu sẽ dắt cháu gái từ trong buồng ra trao cho nhà trai. Cả gia đình nhà gái đều khóc thể hiện sự quyết luyến với người con gái đi lấy chồng, cô dâu thì khóc to hơn như lưu luyến không muốn rời xa bố mẹ đẻ của mình. Nhà trai, nhà gái mỗi bên có một phù dâu dắt tay cô dâu đi ra. Dẫn đầu đoàn dâu là bốn người làm mối, đi sau là cô dâu cùng phù dâu và họ hàng nhà trai.

Nghi thức đón dâu ở nhà trai cũng giống như đón rể ở nhà gái. Bốn người làm mối phải uống rượu và hát. Tập quán của người Lô Lô là khi cô dâu bước chân vào nhà, bố mẹ chồng phải tạm lánh mặt đi nơi khác vì sợ gặp mặt thì sẽ át vía con dâu, sau này sẽ không khoẻ mạnh.

Đoàn dẫn dâu về nhà trai được một lúc thì đoàn ông cậu của nhà gái mang của hồi môn sang bao gồm lợn, gà, cái cuốc, cái cháo, con dao, hòm quần áo của cô dâu cùng rượu, thịt, xôi nếp… với những nhà giàu thì có cả một con bò. Nhà trai tổ chức linh đình và hát mừng suốt đêm để chúc cho hạnh phúc của đôi trẻ. Khi tiễn ông cậu về, nhà trai tuỳ số của hồi môn ít hay nhiều của cô dâu mà đưa lại một số tiền gọi là tiền đi đường và làm quà.

Sau ba ngày cưới, cô dâu chú rể trở lại thăm nhà vợ, có thể ở lại nhà gái ít bữa, sau đó sẽ trở về ở hẳn tại nhà trai.

119. Nghi thức hôn lễ của người Chăm An Giang

An Giang có 2.110 hộ người Chăm với 13.700 người luôn sống gắn bó, hoà nhập vào cộng đồng các dân tộc anh em và giữ gìn bản sắc văn hoá riêng. Xin giới thiệu với bạn đọc nghi thức hôn lễ cổ truyền của đồng bào Chăm An Giang.
Lễ dứt lời (Pakioh - Po Nuối)

Trước “lễ dứt lời”, bà mai (Maha) sang nhà gái trao đổi trước. Đúng ngày giờ đã định, nhà trai đến nhà gái. Vị Cả Chùa tuyên bố: “Hôm nay là lễ Pakioh - Po Nuối cho hai trẻ, tiền đồng là… tiền chợ là…”. Hai họ dùng tiệc, chi phí bữa tiệc do đôi bên cùng lo. Vài hôm sau, đàng gái mang sang nhà trai 1 mâm bánh trả lễ, đàng trai trao tượng trưng 1 bao thư tiền.

Sau đó cứ đến ngày Ro-Ja, chú rể và bạn bè đến thăm nhà cô dâu vào ban ngày, cô dâu không được ra gặp chú rể nhưng gia đình bố trí cho nhìn lén. Buổi tối, cô dâu cùng bạn gái qua thăm nhà chú rể.

 

Chú rể cũng được sắp xếp để nhìn lén cô dâu. 3 ngày trước đám cưới, vị Cả Chùa và người nhà trai mang 1 cái giường qua nhà gái. Vị Cả Chùa cầu nguyện, những người cùng đi dọn phòng cưới. Tiếng Chăm gọi việc này là đi Thon - Kghe (đi ráp giường). Cũng ngày này, các phụ nữ bên nhà gái may mùng cho đôi tân hôn.
Đám cưới

Diễn ra trong 3 ngày: ngày nướng bánh (Âm-Ha), ngày nhóm họ (Pa Thưng – Pa Gú), Ngày lễ lên ghế (lần II và III). Nhà trai đưa rể sang nhà gái. Khi chú rể bước xuống cầu thang nhà mình, mọi người hát: “Xin cha mẹ tha thứ, con từ giã cha mẹ”. Khi chú rể bước tới chân cầu thang nhà gái, các bà đàng gái bưng nước rửa chân cho chú rể trong lúc mọi người hát vang bài hát có nội dung hân hoan rửa chân, và trải khăn trắng mời chú rể bước vô nhà.

Tiến hành lễ đính hôn (Ka Pol): Sau khi một người có uy tín đọc xong đoạn kinh Coran, nội dung nhắn nhủ chú rể tôn trọng người bạn đời thì cha cô dâu cầm tay chú rể nói: “Tôi gả đứa con gái tên là…”. Chú rể đáp: “Tôi nhận cưới…”. Khi được đưa vào phòng cô dâu, chú rể sẽ gỡ cây trâm cài trên tóc vợ, rồi cùng ngồi trên giường lắng nghe vị Cả Chùa cầu nguyện.

Bữa cơm của đôi tân hôn: Mâm cơm có 1 đĩa cơm, 1 đĩa thức ăn và 4 phụ nữ có gia đình hạnh phúc nói lời chúc mừng và đôi vợ chồng trẻ sẽ cùng bốc ăn chung.

Lễ động phòng hoa chúc (Sen Thoa): 4 phụ nữ nói trên giăng mùng, trải chiếu, tiến hành lễ “lượm bạc cắc”. Người ta đặt 1 xô nước trong đó có 10 đồng bạc cắc. 2 vợ chồng thò 1 bàn tay vào một lượt để mò bạc cắc. Ai lượm số bạc cắc nhiều hơn thì được có tiếng nói quyết định trong gia đình.

Đám cưới người Chăm An Giang trang trọng, ấm áp, không xa hoa phù phiếm. Ngày nay có một chút thay đổi trong nghi lễ: đám cưới chỉ trong 2 ngày; đưa chú rể sang nhà cô dâu vào buổi sáng thay vì buổi chiều; bỏ lễ “lên ghế lần III”; trang phục cô dâu chú rể được cách tân, vẫn giữ vẻ đẹp cổ truyền nhưng tiện dụng hơn.

120. Vợ chồng xưng hô với nhau thế nào?

Người Việt Nam ta từ nhỏ đến lớn, đến già nói chuyện với nhau đã quen tai nhưng nếu diễn giải cho người nước ngoài biểu đạt được đầy đủ sắc thái ngôn ngữ kể thật lý thú.

Thời nay vợ chổng trẻ xưng hô với nhau "anh anh em em" âu yếm thân thiết biết bao! Dẫu chồng ít hơn dăm ba tuổi vẫn là anh. Lùi lại bốn mươi năm trước, những gia đình ít nhiều được Âu hoá, vợ chồng gọi nhau bằng "mình" cũng thể hiện được tình cảm đậm đà, gọi nhau bằng "cậu, mợ" cũng thanh nhã, nhưng những từ đó còn xa lạ với nông thôn, một số tân tiến muốn gọi nhưng vẫn còn ngượng ngùng với hàng xóm, chỉ thầm kín tỏ tình với nhau trong buồng, thỏ thẻ chỉ đủ hai người nghe với nhau. Cách gọi nhau bằng tên "trống không" cũng là một bước cải tiến lớn, chứ các cụ ngày xưa, thời trẻ chỉ gọi nhau bằng "bố thằng cu", "u nó", "mẹ hĩm"... Người mới lấy nhau chưa có con, chồng chẳng có chức vị gì mà gọi thì làm sao? Bí quá, có cô mới về làm dâu, muốn gọi chồng đang chơi bên nhà hàng xóm về, chẳng biết xưng hô ra sao bèn ra ngõ gọi thật to "Ai ơi! Về nhà ăn cơm". Từ "ai" ở đây không phải là đại từ nghi vấn, hay đại từ phiếm chỉ mà có nghĩa là "chồng tôi ơi".

Còn khi nói chuyện với người khác thì giới thiệu vợ mình hay chồng mình là "nhà tôi". Từ "nhà tôi" thật là đậm đà gắn bó, "mình" và "tôi" tuy hai nhưng một. "Nhà tôi" tức là "chồng tôi" hay "vợ tôi" chứ không thể nói "vợ anh", "chồng nó" là "nhà anh nhà nó".

Vợ chồng nói chuyện với nhau thường hay nói trống không "Này! Ra tôi bảo!" hoặc "nào ai bảo mình"...

121. Lệ buộc cót, nét văn hóa truyền thống của người NùngMỗi một vùng một dân tộc đều có nét văn hoá truyền thống riêng, người Nùng Bắc Kạn họ sống xen với các dân tộc khác. Họ có nét văn hoá riêng rất độc đáo, tạo ra truyền thống tốt đẹp. Một trong những truyền thống là lệ buộc cót (tiếng Tày, Nùng gọi là lẹ lảm dảo), là một phần nghi thức trong lễ Kỳ Yên của người Tày, Nùng.
Trong lễ Kỳ Yên có nghi thức”Pủ lường pủ váng” có nghĩa là (đắp bồ đắp cót). Cót ở đây tượng trưng cho cót gạo nuôi dưỡng người già, cũng là “cót hộ mệnh” được con cháu bồi đắp tiếp, cầu cho người già được sống lâu, khoẻ mạnh ”thực túc sức cường”. Ở lệ buộc cót gồm có: Một cái cót hình trụ tròn, rỗng trên dưới, để ở giữa đựng gạo, một cái cân tiểu ly mang ý nghĩa trường thọ  sống lâu, một ngọn chuối non, một ngọn dâu tằm non tượng trưng cho sự trẻ trung, tươi tắn. Một cây đèn, một cây chuối non, một đoạn tre non cả rễ. Tất cả đều thể hiện cho số mệnh sống lâu, trường tồn. Những ý nghĩa đó đã thể hiện rất rõ ở lời lẽ của Bụt (then). Trong lễ buộc cót khi Bụt khởi lễ đắp cót hộ mệnh thì các con cháu, họ hàng... những người trong gia đình sẽ xúc gạo ở cái thúng cạnh đó cho đầy ắp. Có một người là nam giới khoẻ mạnh, đạo đức tốt phải lên tầng gác buộc cót. Người này sẽ lấy cái cót tượng trưng ở dậu gạo và ngọn dâu, ngọn chuối non để ở trong cót đặt lên xà nhà.
Sau lễ buộc cót, con cháu của người được làm lễ sẽ đem cây chuối non và đoạn tre non có cả rễ ra vườn trồngcho cây sinh sôi phát triển. Lễ buộc cót đã thể hiện sự kính trọng, lòng yêu thương và sự quan tâm của con cháu đối với ông bà, cha mẹ. Đây là hình thức mừng thọ của người dân tộc Nùng. “lễ buộc cót” đã mang đậm đà bản sắc dân tộc, đã thể hiện truyền thống tốt đẹp của người dân tộc nùng.

122. Tục đeo vòng vía của người Mông - Lào Cai

Việc trẻ ốm yếu cúng giải hạn hoặc gửi cửa theo số của nó đều không được thì thầy cúng sẽ xem số và đeo vòng vía cho trẻ. Nghi lễ đeo vòng vía cho trẻ của người Mông hoa ở Cát Cát tương tự như nghi lễ đeo vòng vía cho trẻ của nhóm người Mông trắng ở Bảo Phố - Bắc Hà. Nghi lễ và sự chuẩn bị diễn ra như sau:

Gia đình phải chuẩn bị 3 chiếc vòng cuốn bằng tre có đường kính 1,5m. Họ dựng ngoài cửa 1 vòng, giữa nhà 1 vòng và phần giáp bàn thờ 1 vòng. Họ dùng một tấm vải trắng dài 12m đặt lên trên vòng tre từ cửa chính vào tới bàn thờ. Mâm cúng đặt ở góc phải, phía dưới bàn thờ bao gồm: 3 đôi đũa, 3 bát cơm, 3 chén rượu, 3 chén nước, 1 con gà luộc, 1 gói muối. Trên bàn còn có chiêng, kiếm của thầy cúng. Người nhà còn mời, nhờ một người trung tuổi, con cái khoẻ mạnh đến bế đứa trẻ để tiến hành nghi lễ đeo vòng vía. Khi thầy cúng bắt đầu việc cúng thì đứa trẻ đứng ở ngoài cửa trên mép vải đặt từ giữa cửa đến bàn thờ. Đầu tiên, thầy cúng cho mời tổ tiên của gia đình về chứng kiến việc làm tốt của thầy cúng cho đứa trẻ. Sau đó thầy cúng mời sư tổ của mình về và xin cho phép mầu để trừ tà diệt ma. Tiếp đó, thầy cúng gõ một hồi chiêng dồn dập, vừa gõ vừa gọi các âm binh đến. Thầy cúng uống một hớp rượu sau đó múa xung quanh nhà. Mỗi khi rú lên một tiếng, thầy cúng lại đâm thẳng kiếm xuống đất, tượng trưng cho việc trừ ma xấu làm hại trẻ. Khi thầy cúng đi ra cửa và đâm thẳng kiếm ra ngoài tức là ma đã bỏ ra khỏi nhà, khỏi đứa trẻ.

Người phụ cúng sẽ cho đứa trẻ bước vào qua vòng tre thứ nhất. Khi đứa trẻ bước vào trong vòng (qua cửa) thầy cúng bước ra ngoài và chém kiếm xuống đất chỗ đứa trẻ vừa đứng với ý nghĩa là chém ma xấu. Sau đó, thầy cúng đi vào trước bàn cúng, đặt kiếm xuống bàn và cầm chai rượu đổ ra tay tung vào đứa trẻ, tượng trưng nước phép vừa trừ ma, vừa rửa hồn vía đã bị ma xấu làm ô uế. Sau đó, đứa trẻ được người phụ cúng cho bước qua vòng thứ hai. Thầy cúng ngậm một ngụm rượu phun mạnh vào nơi đứa trẻ vừa đứng. Tiếp đến, thầy cúng đọc lời dồn hồn vía cho trẻ từ nay vía không được theo ma xấu. Một tiếng thét của thầy cúng tức là ma đã bỏ chạy và vía đã nhập vào đứa trẻ. Người phụ cúng hai tay đỡ hai vai trẻ và trẻ nhảy qua vòng tre cuối cùng, thầy cúng lập tức cầm vòng vía (cổ, tay, tai) đeo ngay cho trẻ với ý nghĩa là rào vía cho trẻ. Từ nay, hồn vía trẻ sẽ không bỏ đi chơi và ma xấu cũng sẽ không dám bén mảng đến vì đã có vòng vía là thứ vũ khí để trừ tà diệt ma.
Sau phần làm lễ, thầy cúng, phụ cúng và gia đình cùng ăn cơm, uống rượu bình thường. Khi ra về, thầy cúng được bắt một con gà trống và một lít rượu.

Vòng vía được đeo suốt đến lúc già. Trường hợp vòng vía đã đeo tự nhiên rơi hoặc bị mất thì được. Còn nếu người đeo tự tháo ra thì rất có thể họ sẽ bị ốm trở lại.

123. Tục mừng nhà mới

Ngày xưa, người nông dân Việt Nam quan niệm làm nhà là một trong ba việc lớn của cả cuộc đời. “An cư mới lạc nghiệp” nghĩa là chỗ ở có yên ổn mới lo được sự nghiệp. Quan niệm ấy đến nay vẫn gắn bó với người dân Việt Nam. Bởi thế ai ai cũng phấn đấu để có được một chỗ ở, một cơ ngơi riêng. Nhiều người có khi đến cuối đời mới cố xây được một ngôi nhà mặc dù sống chẳng được bao lâu nhưng sau này để lại cho con cháu. Có người khi chết vẫn chưa có chỗ nương thân thì rất khổ tâm.
Với ý nghĩa quan trọng như vậy nên một phong tục rất phổ biến ở người Việt Nam là tục mừng nhà mới. Chủ nhân khi làm xong một ngôi nhà mới (thậm chí chỉ sửa chữa, nâng cấp nhà hay di chuyển đến nơi ở mới) đều sắm một lễ cúng. Hàng xóm, bạn bè, họ hàng được mời đến uống chén rượu, chén trà mừng cho gia chủ, chúc cho gia chủ bình yên, làm ăn gặp may, phát đạt.Tục lệ này đến nay vẫn còn khá phổ biến đối với người Việt Nam.

124. Phong tục của dân tộc Dao Tây Bắc-Những điều kỳ lạ

Ở Việt Nam, người Dao có khoảng 45 vạn người, đứng thứ 9 so với các dân tộc trong nước. Cuộc sống của họ do ly tán, bất ổn định, chủ yếu dựa vào rừng núi cao... nên gặp nhiều khó khăn. Người Dao thật thà, hiền lành, chất phác và hiếu khách.Đồng bào Dao có nhiều phong tục kỳ lạ như trong hôn nhân, Nam giới phải ở rể từ hai đến ba năm, có khi ở luôn nhà vợ (nếu ở luôn nhà vợ thì phải đổi họ bên vợ). Họ còn có tục dùng bạc trắng để định giá cô dâu, theo nghĩa đen là mua và gả bán, số bạc ấy sau này sẽ là của đôi vợ chồng trẻ. Ngày cưới, cô dâu trang điểm rất đẹp, đội mũ màu đỏ, có hoa văn; cổ và tay đeo nhiều vòng bạc. Ngày cưới, đoàn đưa cô dâu, có cả thầy cúng, và thổi kèn, đánh chiêng, khua trống, rung nhạc. Tới nhà chồng, cô dâu phải qua nhà tạm, khi được giờ thì mới được vào nhà chồng. Lên tới nhà chồng, cô dâu phải “rửa tay”, bước qua chậu than hồng và nhiều nghi thức khác... trước sự chứng kiến của hai họ rồi mới bước qua cửa vào nhà với ý nghĩa là “Từ nay đoạn tuyệt với con ma họ ngoại và từ nay theo con ma họ nhà nội”. Sau khi vợ chồng lấy nhau, khi sinh con đầu lòng thì họ đẻ ngay tại buồng ngủ của mình. Ba ngày đầu, các cửa ra vào đều phải cắm lá kiêng không cho người lạ vào nhà. Gia đình dân tộc Dao tồn tại bền vững theo chế độ phụ quyền, người con gái không có tên trong chúc thư, không được thừa kế tài sản của gia đình.

Về cấu trúc nhà ở của người Dao có ba loại nhà: nhà sàn, nhà đất, nhà nửa sàn nửa đất; nhà ở bằng gỗ, tre, nứa rất chắc chắn, đơn giản nhưng được kết hợp khéo léo toát lên sự kín đáo, tế nhị của người Á Đông. Kiểu nhà truyền thống của người Dao quần trắng là nhà sàn, thường được làm ba gian, cách chắp nối các cấu kiện bằng nguyên liệu rời. Tuy nhiên, họ không phải dùng đinh trong quá trình lắp ghép nhà ở. Kiểu nhà này chỉ có một cầu thang lên xuống, cầu thang có số bậc lẻ; trong nhà thường có hai bếp. Nhà người Dao đỏ làm nửa sàn nửa đất ở lưng chừng đồi. Cách chọn hướng nhà thì cũng như các dân tộc khác.

Tín ngưỡng của người Dao là tín ngưỡng đa thần “vạn vật hữu linh” mang dấu ấn của Nho giáo và Đạo giáo chính thống. Tư tưởng Nho giáo được thể hiện rõ trong cách phân định tôn ti, trật tự, theo thứ bậc ở mỗi gia đình, mỗi dòng họ. Đồng thời, Đạo giáo ảnh hưởng bao trùm hầu hết các phong tục tập quán thờ cúng tổ tiên (Bàn Hồ – Bàn Vương), được thể hiện qua lễ đặt tên cho con trai và cấp sắc cho người làm thầy cúng... Người Dao quan niệm khi chết thì chỉ chết về thể xác, còn linh hồn mãi mãi bất diệt “quay về với tiên tổ”.

Về trang phục, so với các dân tộc khác thì dân tộc Dao được coi là còn giữ được nhiều nét bản sắc của mình với chất liệu bằng vải bông nhuộm chàm, màu xanh, đỏ, đen, tím than hoặc để trắng. Tộc người Dao đỏ đội khăn đỏ, đeo những bông hoa đỏ trước ngực; Dao quần chẹt mặc quần ống hẹp bó sát vào chân; Dao quần trắng nổi bật là yếm rất to che kín cả ngực và bụng, ngày cưới cô dâu mặc quần trắng; Dao làn tuyển mặc áo dài, đội mũ nhỏ...

Dân tộc Dao có một nền văn hóa rất phong phú và đậm đà bản sắc thể hiện qua nhiều phong tục, nhiều điệu múa đẹp, nhiều bài hát hay, kho tàng truyện cổ tích, thần thoại, ngụ ngôn, ca dao, thành ngữ, chiêm tinh, tướng số, câu đố... Nhưng cũng giống các dân tộc thiểu số khác chủ yếu tồn tại dưới dạng truyền khẩu, vốn này ngày nay cũng bị mai một, thất truyền với những lý do khách quan cũng như chủ quan.

125. Lễ cưới của người Chăm

Vào ngày cưới, nhà gái cho ông mối (chano) sang đón rể. Lễ vật đi rước gồm có: Chiếc vòng mà trong lễ hỏi, nhà trai đã tặng (máongang), gạo, rượu, thịt, ên, áo, chén đồng… khi họ đến đầu làng, nhà trai phải cho người ra đón và dẫn về nhà.

Người Chăm theo chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Thông thường, con trai và con gái người Chăm thích lấy nhau cùng làng. Để đến được với nhau, họ phải có một quá trình tìm hiểu hoặc có người làm mối. Khi hai bên gia đình và con đồng ý thì tiến hành lễ hỏi, sau lễ hỏi 15 ngày, họ tổ chức lễ cưới.

Vào ngày cưới, nhà gái cho ông mối (chano) sang đón rể. Lễ vật đi rước gồm có: Chiếc vòng mà trong lễ hỏi, nhà trai đã tặng (máongang), gạo, rượu, thịt, ên, áo, chén đồng… khi họ đến đầu làng, nhà trai phải cho người ra đón và dẫn về nhà. Sau khi sắp đặt các lễ vật như trầu cau, rượu cần và 2 chiếc vòng (một nam, một nữ) 1 cái nồi đồng, 1 chiếc kiềng bạc, họ hàng hai bên ngồi xung quanh chứng kiến, chủ nhà khấn ông bà, tổ tiên về nhận mặt người mới vào nhà và phù trợ cho người đó luôn mạnh tay, khoẻ chân. Khấn xong, hai bên làm lễ trao vòng, vòng nam khắc 7 dấu, vòng nữ khắc 3 dấu. Theo phong tục, khi hai người không còn ăn ở với nhau mà chiếc vòng chưa trả lại thì quan hệ vợ chồng vẫn còn và đương nhiên các thành viên này không được kết hôn với người khác.

Sau lễ trao vòng, người mẹ chồng cầm chiếc kiềng bạc đeo vào cổ con dâu và trao cho đôi vợ chồng chiếc nồi đồng. Đây là những đồ vật gắn với họ suốt đời và phải giữ gìn, bảo quản cẩn thận, không để người khác mang ra khỏi bếp, không cho ai mượn hoặc không được làm mất. Xong lễ, hai bên ngồi uống rượu, trò chuyện với nhau, đến lúc trời đã về khuya, rượu đã ngấm, nhà trai và nhà gái bắt đầu hò đối đáp.

Sáng hôm sau, đoàn người nhà gái cùng nhà trai về nhà nhà gái để làm lễ ra mắt tổ tiên. Khi đến đầu làng thì cô gái chạy trốn, ông chano cùng với dân làng đi tìm. Họ đi quanh trong buôn một lúc rồi cũng bắt được. Lúc này chano lấy sợi dây vải, dài độ sải tay buộc vào tay cô gái dẫn về nhà, họ đặt cho cô dâu, chú rể cùng ngồi một chiếc chiếu mới trải ở nhà, hai người đưa tay cầm chung mảnh vải, từ đây người con trai đã chính thức trở thành thành viên của gia đình nhà gái. Vài tháng hoặc một, hai năm sau họ mới tổ chức lễ cưới chính thức.

Trong lễ cưới chính thức, cô dâu, chú rể ngồi bên chén rượu, thầy cúng bốc gạo vãi lên trời gọi Yàng trời, Yàng đất, Yàng ông bà về chứng kiến ngày hợp thành vợ chồng của đôi trai gái. Cúng xong, xả heo thịt, đem nấu các món ăn, rượu hút ra, cô dâu chú rể cầm đi mời khách uống làm phép. Sau đó, cô dâu, chú rể ngồi vào chiếc chiếu trải cạnh chén rượu để trao rượu cho họ hàng đôi bên. Từ đây, cha mẹ chồng goi cô dâu là "Nghê", em chồng xưng hô với chị dâu là "Ai". Sau lễ cưới một ngày gia đình nhà gái tổ chức cho vợ chồng đi bắt cá. Trong ngày đó, nếu vợ chồng bắt được nhiều cá thì sau này làm ăn gặp nhiều may mắn, giàu có, con cái khôn ngoan, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc.

Ba ngày sau, hai vợ chồng về lại nhà trai làm lễ đạp tro nhà chồng. Lúc này nhà trai mổ heo, làm gà, nhắc rượu mời họ hàng, người thân và những người trong buôn để chung vui, đồng thời tiễn người con trai về ở nhà vợ. Dịp này nhà trai trao cho vợ chồng của hồi môn./.

126. Lễ cấp sắc của dân tộc dao

Cấp sắc là một thủ tục không thể thiếu của đàn ông Dao. Lễ cấp sắc cũng tương tự như lễ thành đinh của một số dân tộc khác. Đối với người đàn ông dân tộc Dao được cấp sắc mới được coi là người đàn ông đã trưởng thành, được làm nghề cúng bái và được giao tiếp với cõi âm. Lễ cấp sắc có nhiều bậc: 3 đèn, 7đèn và 12 đèn.

Ông thầy trong lễ cấp sắc phải chọn thầy cao tay, ngày tháng cấp sắc được chọn rất cẩn thận, người được cấp sắc cũng phải thuần thục các nghi lễ trong các bản sắc. Việc cấp sắc trong gia đình được tuân thủ từ trên xuống dưới. Buôỉ lễ cấp sắc có thể làm thủ tục cho một người hoặc vài người cũng được nhưng phải là số lẻ. Người đàn ông có vợ thường là những người được cấp sắc, tức là để được coi là người đàn ông trưởng thành bắt buộc phải qua lễ cấp sắc.

Lễ cấp sắc có nhiều bậc, bậc đầu tiên họ được cấp 3 đèn và 36 binh mã, đây là nghi thức thông thường được diễn ra trong lễ cấp sắc của người Dao. Bậc 2 họ được cấp 7 đèn và 72 binh mã và cuối cùng là 12 đèn và 120 binh mã. Nhón Dao Tiểu Bản thường chỉ cấp sắc ở 2 mức độ: 3 đèn và tẩu slai hoặc 7 đèn trở lên ( đối với nhóm Đại Bản) thì người đàn ông Dao mới trở thành thầy cúng. Thầy cúng có 2 cấp: Sài có là người theo thầy để giúp và học việc; sài tía là người đã trải qua lễ cấp sắc 3 đèn hoặc 7 đèn.

Việc đầu tiên của lễ cấp sắc là gia chủ phải làm cơm, rượu cúng báo tổ tiên về việc chuẩn bị và hẹn thời điểm tiến hành lễ cấp sắc. Sau đó phải nuôi 2 con lợn 1 đực 1 cái chuẩn bị cho việc cúng bái trong lễ cấp sắc . Ngoài ra phải chuẩn bị lợn, gà, rượu, gạo…để làm cỗ và vài trăn nghìn tiền mặt để bồi dưỡng thầy. Thường là một lễ cấp sắc 3 đèn thì cần 3 thầy, 7 đèn thì 7 thầy. Ông thầy cả gọi là chí chẩu sai hoặc cô tàn sai, các thầy phụ gồm: dần chái, tình mình, pá tạn, tông tàn.

Ngày hành lễ cấp sắc thường được tiến hành vào những tháng cuối năm. Trước khi hành lễ , người cấp sắc phải kiêng khem một số thủ tục như: không được nói tục chửi bậy, không được quan hệ vợ chồng, không được để ý đến phụ nữ…. Thời gian tiến hành lễ cấp sắc 3 đèn kéo dài từ 1 đến 2 ngày; cấp sắc 7 đèn kéo dài 3 đến 5 ngày.

Các nghi lễ chính trong lễ cấp sắc gồm lễ trình diện, gia chủ mổ lợn để tế lễ tổ tiên. các thầy cúng phải tẩy uế xong mới đánh trống mời tổ tiên về dự, sau đó thầy cúng làm lễ khai đàn, nhằm báo cho tổ tiên biết lý do của buổi lễ. Lễ thụ đèn , người được cấp sắc phải ăn mặc chỉnh tề ngồi trước bàn thờ, hai tay giữ một cây tre, nứa, ngang vai có đục và xuyên một thanh ngang dài vừa tầm vai để thày đốt đèn, đặt nến để làm lễ. Đặc biệt trong lễ cấp sắc là cấp đạo sắc cho người thụ lễ với 10 điều cấm và 10 điều nguyện, tại đạo sắc này tên âm của người thụ lễ được ghi luôn để khi chết về được với tổ tiên. Quan trọng nhất trong nghi lễ là cấp pháp danh cho người thụ lễ. Người thụ lễ lấy vạt áo để hứng gạo từ thầy cả và bố đẻ. Sau đó các thầy sẽ dạy cho người thụ lễ một số điệu múa.

Kết thúc nghi lễ, các thầy múa để dâng rượu, lễ vật tạ ơn thần linh. Từ đây chàng trai thụ lễ đã được coi như một người đàn ông trưởng thành hoàn toàn về thể chất cũng như tâm linh.

127. Tết lạ ở đất mới Ea Ly

Tết này người Tày tung còn

Ông Hoàng Thái Lân là một trong những triệu phú người Tày mới ở Tân Sơn (Ea Ly). Ít ai biết rằng cách đây 15 năm, gia đình ông Lân đến Ea Ly chỉ với hai bàn tay trắng và đã trải qua những năm tháng vật lộn với từng góc rừng để kiếm sống. “Năm nay gia đình tôi ăn Tết lớn để tạ ơn tổ tiên, kỷ niệm 15 năm rời Cao Bằng vào Phú Yên lập nghiệp”- ông Hoàng Thái Lân bày tỏ. Các gia đình người Tày ở Ea Ly đang khôi phục nhiều phong tục, tập quán đẹp vào ngày Tết “để con cháu nhớ về tổ tiên, không mất gốc”- như lời ông Lân nói.

Mỗi năm ông Lân đều lựa chọn, chuẩn bị kỹ lưỡng bốn cây mía đẹp nhất để buộc vào bốn góc chân bàn thờ trong ngày Tết bởi người Tày quan niệm rằng đó là những cái gậy để tổ tiên chống, dìu dắt con cháu. Ngay từ ngày 27-28 tháng Chạp, các gia đình đã làm thịt heo, gói bánh chưng dài, làm bỏng, chè lam, bánh khảo… những đặc sản của người Tày trong ngày Tết. Năm nào cũng vậy, những người con gái đã có chồng của ông Lân đều mang bánh chưng dài, xôi, hoa quả về nhà bố mẹ cúng lễ tổ tiên vào mùng hai Tết. Mùng bảy tháng Giêng hàng năm, ông Lân đều tổ chức cho con cái làm lễ “lồng tồng”, tức hội xuống đồng của người Tày. 

Cụ Hoàng Thanh, 84 tuổi, người Tày cao niên nhất ở Tân Sơn, tỏ ra hết sức phấn chấn khi nói rằng những năm gần đây người Tày ở Ea Ly đã khôi phục được hội tung còn vào ngày Tết, một trò chơi tìm bạn, tìm duyên rất hấp dẫn đối với nam nữ thanh niên.

Buôn làng người Nùng vang tiếng sli 

Từ năm 1989, ba anh em ông Hứa Văn Thấy, Hứa Văn Chuyền, Hứa Văn Phong là những người Nùng đầu tiên đến lập nghiệp ở Ea Ly và giờ đây họ trở thành những gia đình giàu nhất ở Ea Ly. Ông Thấy bày tỏ: “Bây giờ đời sống ổn định, đang khôi phục lại một số phong tục, lễ hội của người Nùng để con cháu giữ gìn bản sắc của dân tộc mình”. Ông Chuyền nói rằng gà thiến sống là món không thể thiếu trong mâm lễ cúng tổ tiên đêm 30 cũng như trong bữa cơm ngày Tết của người Nùng. Sáng mùng một những người đàn ông Nùng sẽ mang một đôi gà thiến sống đi lễ bố mẹ vợ.

 

Ông Hứa Văn Chuyền cho biết năm nay bà con người Nùng ở Ea Ly sẽ tổ chức các phiên chợ Tết vào những ngày đầu năm mới tại thôn Tân Lập, nhiều gia đình đã háo hức chuẩn bị các sản vật cho chợ Tết từ vài tháng nay. Các phiên chợ Tết của người Nùng là hình thức để trưng bày, giới thiệu những sản vật, người ta có thể trao đổi với nhau mà không thách giá. Tại những phiên chợ này, người Nùng tổ chức chơi ném còn, cầu lông gà, chơi quay, múa lượn, sư tử... Trong những dịp này, tiếng sli của người Nùng vang lên khắp buôn làng. Theo ông Hứa Văn Thấy, trong những ngày đón Tết, vui xuân, những dịp lễ hội, đám cưới, người Nùng không thể thiếu làn điệu giàu sức truyền cảm này nên bất cứ ai cũng biết hát vài câu sli. Anh Hứa Văn Vân- con trai ông Chuyền- nói rằng để chuẩn bị cho những ngày hội mùa xuân, nam nữ trong thôn vừa làm bánh khảo vừa hát sli. 

Tết “Nhiang chằm Dao” ở thung lũng xanh 

Người Dao ở Ea Ly sống quần tụ trong một thung lũng được bao bọc bởi những quả đồi, họ lấy tên dân tộc mình tự đặt cho tên làng như để nhắc nhở con cháu không được quên cội nguồn. Ông Bàn Nguyên Tân, một trong những người Dao đầu tiên đến định cư ở Sông Hinh, nói rằng từ 20 tháng Chạp người Dao đã chuẩn bị đón Tết với việc làm bánh dợm, bánh dày, nặn những con heo, gà, hươu, nai… bằng bột gạo. Trong mấy ngày Tết, các gia đình luân phiên tổ chức tiệc để mời dân làng. Vào tiệc, mọi người hát giao duyên, diễn lại các điệu múa từ ngàn xưa. 

Người Dao chính thức ăn Tết từ đêm 29, rạng sáng 30 tháng Chạp bằng việc bắt đầu Tết nhảy, gọi là “Nhiang chằm Dao”, là lễ hội để khuyến khích dân làng rèn luyện sức khỏe, võ nghệ theo truyền thống của các thần thánh Bàn Vương. Vào Tết nhảy, mỗi người phải nhảy múa hàng chục lượt trong tiếng trống, thanh la giục giã...

128. Nét đẹp trong ngày Tết bản làng

Trên mỗi làng quê Việt Nam, có biết bao điều kỳ lạ và hấp dẫn quanh tục lệ đón xuân. Dù có khác nhau ở từng dân tộc, song những tục lệ đó đều toát lên ước vọng mong muốn một năm mới nhiều hạnh phúc và may mắn cho mọi người

Tết là thời khắc thiêng liêng chuyển giao giữa Cũ và Mới, thời điểm trọng đại nhất trong vòng quay bất tận của vũ trụ. Việt Nam có 54 dân tộc, và vì vậy cũng có 54 sắc thái, phong vị Tết khác nhau. Những phong tục đón Tết của người Việt hoặc Kinh - dân tộc lớn nhất Việt Nam ngày nay đã biến đổi nhiều do tác động từ những thay đổi của cuộc sống hiện đại.

Nhưng bên cạnh đó, tại những rặng núi trùng điệp phương Bắc và vùng sông nước chằng chịt kênh rạch của phương Nam, quê hương ngàn đời của các cộng đồng dân tộc thiểu số H'mông, Thái, Dao, Mường, Khơ-me…,những đặc thù văn hoá hầu như còn được bảo tồn nguyên vẹn, đa dạng và độc đáo. Chính các phong tục, tập quán lâu đời trong những ngày lễ, Tết sẽ có dịp bộc lộ rõ nét, làm say lòng khách phương xa nếu có dịp ghé thăm.

H'mông được coi là cộng đồng dân cư có cá tính mãnh liệt và phóng khoáng nhất. Họ sống trên các rẻo cao miền núi phía bắc, đời sống người H'mông gắn liền cùng nương ngô, cây súng kíp. Tết H'mông rơi vào cuối tháng một, đầu tháng chạp âm lịch. Tết thường kéo dài 12 ngày với nhiều sinh hoạt cộng đồng. Dân tộc H'mông rất ưa chuộng các nghi thức cúng tế cùng những trò vui. Trong mỗi gia đình, ngày Tết được khởi đầu bằng lễ hiến sinh gà, lợn vào giữa đêm giao thừa và sáng mồng 1 Tết. Cặp chân gà cúng đêm giao thừa sẽ cho gia chủ biết trước điều lành dữ sẽ đến trong năm. Sau đó, các gia đình trong họ tộc thường tổ chức ăn uống tại từng nhà. Trong ngày Tết, bên cạnh nghi lễ tín ngưỡng còn có nhiều trò chơi dân gian quen thuộc nhưng đầy tính thượng võ như chơi cù, ném pao, bắn nỏ, đua ngựa, múa khèn, chọi chim họa mi. Nói đến Tết của người H,mông không thể quên lễ hội Gầu Tào đi chơi ngoài trời, hay theo tiếng Quan hỏa là hội Sải sán leo – núi. Đây là một trong hai lễ hội quan trọng nhất với mục đích chính là cầu tự, cầu phúc, cầu sức khoẻ. Hội tổ chức trên bãi đất bằng rộng rãi, có trồng 1 hoặc 3 cây nêu cao, trên buộc 3 mảnh vải lanh màu đen, trắng và đỏ. Khách xa gần đến hộI đều được gia chủ đón tiếp thân tình với những bát rượu ngô nồng ấm và các làn điệu khèn tha thiết, ân tình.

Song thơ mộng nhất trong hội Gầu tào chính là những đám hát giao duyên của nam nữ thanh niên. Giữa lãng đãng của mây ngàn xứ núi, bóng áo chàm của các chàng trai quấn quít bên những bộ váy áo rực rỡ của các cô gái. Họ hát với nhau không chỉ thi thố tài nghệ mà còn để tìm hiểu nhau với ước mong nên vợ nên chồng sau những đêm hội đầu xuân.

Rời vùng núi đá trập trùng, bạn nên tìm tới các bản Mường ở độ cao thấp hơn, gần đồng bằng, sông suối. Văn hóa Mường có nhiều nét gần gũi với văn hóa Việt. Ngày Tết của người Mường cũng trùng với Tết của người Việt. Có thể cảm nhận được hương vị Tết Mường từ ngày 23 tháng chạp, khi những cô gái mường bắt đầu ngồi gói bánh chưng, bánh ống. Những ngôi nhà Thần linh của bản Mường được dọn sạch và cạnh đó được trồng một cây nêu với những hoa nêu kết từ phên đan hình mắt cáo.

Trước giờ giao thừa, những người con dâu cả của mỗi gia đình phải đi ra suối hoặc ra giếng múc một lọ nước gọi là "nước rồng”, "nước khú” về để thờ. Các "phường bùa" gồm từ 5, 7 đến vài chục người bắt đầu đến các gia đình trong làng hát xéc bùa chúc tục với những lời cầu phúc, cầu tài. Chủ nhà dón nhận lời chúc của phường bùa bằng thái độ trân trọng và lấy lúa gạo, quà cáp ra tặng lại. Sau hiệu lệnh điểm giao thừa, các gia đình bất đầu gõ mõ, đánh chiêng, cồng, đánh trống hoặc đâm đuống (máng để giã lúa), tạo nên nhũng thanh âm rộn ràng kéo dài chừng một khắc đánh dấu thời điểm năm mới đã đến. Có thể nói, âm hưởng đặc sắc, tiêu biểu nhất trong những ngày tết Mường chính là âm thanh của các dàn cồng và các phường bùa. Tiếng cồng ngân vang khắp ngày đêm ở khắp nơi , hòa quện với tiếng hát xéc bùa vui nhộn, nghe rạo rực lòng người.

 

Nếu một ngày nào có dịp tới đất phương Nam, đi sâu vào những miền kênh rạch xanh ngắt cây trái, bạn sẽ có cơ hội cùng những người Khơ-me chất phác ăn một cái Tết vào một thời điểm thật lạ, chẳng phải trong tiết trời se lạnh, lất phất mưa xuân của miền Bắc, mà giữa cái nắng như thiêu của vùng đất miền Nam Trung bộ. Chịu ảnh hưởng của đạo Bà la môn và Phật giáo tiểu thừa, người khơ- me ăn Tết năm mới hay còn gọi Chuônch năm Thmây khác hẳn với các dân tộc anh em khác, vào khoảng từ 12 đến 15 tháng 4 dương lịch hàng năm. Trước ngày Tết, mọi con đường, mọi ngôi nhà trong làng được quét tước sạch sẽ, các cổng chào được dựng lên. Nhiều vùng, người dân chung nhau tiền mua tre nứa, cất nhà lễ rổn boon ở ngoài đồng. Sáng mồng một Tết, mọi người tập trung đông tại chùa làng để làm lễ mừng năm mới. Mỗi gia đình đều có mâm cỗ riêng, có các loại bánh như bánh tét, bánh tổ, bánh ít, bánh gừng, bánh tai yến, trước để cúng phật sau là cùng thụ hưởng. Trong ba ngày Tết, đồng bào khơ-me cũng đi mừng tuổi năm mới, chúc nhau sức khỏe, công việc làm ăn hưng thịnh.

129. Lễ hội cúng thần rừng của dân tộc Pu Péo                  

Nhằm bảo tồn, phát huy bản sắc các dân tộc Việt Nam và được sự hỗ trợ của Dự án phát triển dân tộc Pu Péo giai đoạn 2005-2010, ngày 8.7, Ban Dân tộc tỉnh phối hợp với UBND huyện Đồng Văn, UBND xã Phố Là tổ chức Lễ hội cúng thần rừng tại thôn Chúng Trải, xã Phố Là (Đồng Văn).
Lễ hội cúng thần rừng của dân tộc Pu Péo có từ lâu đời, tồn tại và phát triển cùng với nhiều thế hệngười Pu Péo; là sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng dân gian, gắn với đời sống triết lý đa thần của cư dân nông nghiệp như: Thần suối, thần sông, thần núi, thần rừng, thần cây... đã tạo ra sắc thái văn hóa riêng trong đời sống cộng đồng. Lễ hội không những có giá trị sâu sắc về tinh thần mà còn khẳng định vai trò, vị trí của cộng đồng gắn với thiên nhiên. Hòa đồng cùng thiên nhiên, tôn trọng, bảo vệ thiên nhiên, coi rừng là bạn, gắn bó với rừng, bảo vệ rừng đã trở thành ý thức chung của cộng đồng người Pu Péo, được thể hiện ở từng gia đình, làng bản và cũng từ đó rừng sinh thủy phục vụ đời sống, sản xuất, cải tạo môi sinh và có giá trị trong thực tiễn cộng đồng. Mỗi khu rừng thiêng được người dân bảo vệ chăm sóc không những mang lại giá trị vật chất, tinh thần cho cộng đồng làng bản mà còn góp phần bảo vệ, phát triển môi trường sinh thái chung.
Trong thời gian một ngày, với không khí tưng bừng, đoàn kết của các dân tộc trong xã, phần lễ đã được các nghệ nhân dân gian dân tộc Pu Péo thực hiện nghiêm túc, đảm bảo những yêu cầu cơ bản theo phong tục tập quán truyền thống của Lễ cúng thần rừng. Phần hội được toàn thể nhân dân trong xã tham gia hưởng ứng sôi nổi. Với những nội dung thi đấu các môn thể thao truyền thống như đẩy gậy, kéo co, đánh yến, chơi “ào”, nhảy cóc đã thu hút đông đảo bà con các dân tộc trong xã tham gia. Ngoài ra, còn có chương trình múa hát các làn điệu dân ca, hát đối đáp, giao duyên được các nghệ nhân dân gian của xã trình bày, thể hiện được cuộc sống hàng ngày của bà con dân tộc Pu Péo xã Phố Là.

Nhân dịp này, đồng chí Mai Ngọc Hướng, Phó Ban Dân tộc tỉnh, Trưởng Ban tổ chức Lễ hội cúng thần rừng và lãnh đạo huyện Đồng Văn đã trao giải thưởng cho các vận động viên tham gia các môn thi đấu thể thao và các nghệ nhân tham gia Lễ hội.

130. Lễ thôi sưởi lửa của người Thái Tây Bắc

Người Thái Tây Bắc có tục các sản phụ đều sưởi lửa trong thời gian ở cữ. Lửa trong quan niệm của họ sẽ giúp các sản phụ và trẻ sơ sinh thêm mạnh khỏe, tránh được sự quấy nhiễu của ma quỷ, đồng thời lửa còn giúp các sản phụ tránh được một số bệnh sau khi sinh nở. 

Khi gia đình có người mới sinh, chủ nhà treo "ta leo" để tránh ma tà và cũng là thông điệp cho tất cả mọi người. "Ta leo" gồm một tấm phên đan hình mắt cáo, trên đó gài lá cúc tần - "co nát" và một mẩu củi cháy dở. Những ngày này không cấm người ngoài họ tộc lên nhà, nhưng những người dữ vía thường giữ ý không lên. Còn lại khách trước khi lên đều ý tứ nói: "Nha chắp nha pét nớ, e nọi ơi!", có nghĩa là: "Đừng giống như chú, như bác nhé, bé yêu ơi!”. Người nhà cháu bé mới sinh lịch lãm trả lời: "Nha chắp nha pét ben đi đò", nghĩa là: "Được giống như chú như bác càng tốt, càng hay". Nếu sinh con trai, sản phụ sưởi lửa bảy ngày, sinh con gái sưởi lửa chín ngày, ứng với bảy vía và chín vía.

Khi đến ngày ra lửa, người mẹ phải tắm bằng nước lá thơm, gội đầu, thay váy áo mới. Chủ nhà mời bà mo đến cúng. Trong đời sống tâm linh của người Thái Tây Bắc, bà mo "một nhính" có vai trò rất quan trọng, được mời trong các lễ cúng cầu xin con cho các đôi vợ chồng hiếm muộn con - "xên so lụk, cúng vía trâu - "tám khuôn quái", thôi sưởi lửa - "nhá phay"...

Bởi người Thái Tây Bắc quan niệm, trên trời có một bà mụ gọi là "Me bẩu" chuyên dùng một khuôn để đúc người, cũng chính vì vậy trên đầu chỗ nằm của sản phụ bao giờ cũng có một chiếc bát cổ gọi là "thuổi bẩu" trong đựng tóc rối tượng trưng cho nhau của người mẹ. Ông nội hoặc đàn ông trong nhà đan một chiếc giỏ tre nhỏ gọi là "tạy ho" để đánh dấu sự ra đời của đứa trẻ. "Tạy ho" của con trai có hai cánh, của con gái có cái bật bông. Sau khi cúng, "tạy ho" của con trai được treo ở gian thờ, của con gái treo ở gian dành riêng cho phụ nữ. Khi người con gái đi về nhà chồng sẽ đem theo và đến khi qua đời sẽ đem hỏa thiêu cùng thi thể.

Mâm cơm cúng bao giờ cũng có gà, trứng, xôi... Đầu tiên, bà mo cúng ở gian thờ tổ tiên - "hỏng hóng", bên cạnh mâm cúng bao giờ cũng đặt chiếc váy của bà đỡ, người đã đón cháu bé chào đời. Bà mo thay mặt gia chủ báo cáo với tổ tiên và các thế lực siêu nhiên, cầu xin cho hai mẹ con mạnh khỏe, sau đó mới cúng ở gian hai mẹ con nằm. Lời cúng ngoài kể lại quá trình mang nặng đẻ đau thì còn chúc cho đứa trẻ: "Thằng cu, cái hĩm đều to cao lớn đều/ Người Thái trong bản bảo nhau/ Sau này bố mẹ, ông bà sẽ được nhờ cậy cháu/ Con cháu trưởng thành lớn khôn...".

Tiếp đó, bà mo cúng cầu cho bầu sữa của người mẹ nhiều sữa, không tắc, bà mo lấy kéo cắt hờ trước đầu vú của sản phụ yểm không cho ma quỷ làm hại, rồi lấy rượu chải xuôi bầu vú cho không tắc tia sữa, lấy trứng xoa vào bầu vú người mẹ và chấm vào miệng đứa trẻ, cầu mong cho đứa trẻ hay ăn chóng lớn.

Trứng trong quan niệm của người Thái tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở và viên mãn. Sau khi bà mo cúng xong, bà ngoại cắt tóc cho cháu. Sau đó, bà mo buộc chỉ vào cổ người mẹ để giữ vía, mọi người buộc chỉ cổ tay cho cháu bé, cầu chúc và ban phước. Ông ngoại cháu bé treo nôi, bà mo còn cúng chiếc nôi cho cháu bé được ngủ ngon, sau đó bà nội đặt cháu bé vào nôi ru cháu ngủ, mọi người cùng ăn uống vui vẻ.

Trong lễ thôi sưởi lửa này, cháu bé sẽ được ông bà ngoại đặt tên. Người Thái rất coi trọng bên ngoại, bởi quan niệm phúc lộc của con cháu là do họ ngoại mà có. Cũng chính vì vậy, trong lễ thôi sưởi lửa này, người cao tuổi nhất bên ngoại được mời ngồi vị trí trang trọng nhất, mọi người đều buộc chỉ cổ tay cho cụ, cầu mong cụ mạnh khỏe, trường thọ, ban phúc cho con cháu.

Mỹ tục này được các thế hệ người Thái duy trì như một nét đẹp văn hóa. Mỗi thành viên thêm vững tin vào cuộc sống, kính yêu các bậc sinh thành, để rồi sống tốt hơn, có trách nhiệm hơn.

131. Một vài tục thờ cúng của người Thái đen vùng Mường Lò

Trong vườn của gia đình người Thái đen vùng Mường Lò, thường có một ngôi nhà sàn nhỏ. Đó chính là nhà thờ cha mẹ của người phụ nữ Thái khi đã lập gia đình.

Tục thờ cha mẹ của phụ nữ Thái

Trong vườn của gia đình người Thái đen vùng Mường Lò, thường có một ngôi nhà sàn nhỏ. Đó chính là nhà thờ cha mẹ của người phụ nữ Thái khi đã lập gia đình. 

Ngôi nhà sàn này cao khoảng 1m trở lên, có diện tích khoảng 1,3 -1,4m. Nếu người phụ nữ có anh hoặc em trai thì làm nhà một mái, nếu không có anh hoặc em trai thì làm nhà 2 mái. Ngôi nhà còn thờ cả anh (hoặc em trai) và chị (hoặc em gái) nếu chị (hoặc em gái) mất mà chưa có gia đình.
Người phụ nữ Thái cúng cha mẹ vào ngày giỗ, ngày lễ tết và lúc ốm đau, cầu mong có được sự phù hộ của cha mẹ.

Lễ cúng thường gồm: đĩa gà luộc, rau luộc, cá mắm (không được dùng cá tươi), bát cơm trắng, trầu cau và bát đũa (thờ bao nhiêu người thì sắp bấy nhiêu bộ bát đũa). Hương cúng được cắm vào bát gạo. Ngày tết thì lễ cúng có thêm đĩa hoa quả trong mâm cúng và hai cây mía được để hai bên ngôi nhà. Khi cúng, người phụ nữ Thái lấy áo và vòng tay của mình và áo của những người con gái họ nếu những người con gái này chưa đi lấy chồng để vào bên cạnh mâm cơm cúng. Những chiếc áo này chính là thể hiện cho bản thân họ và cháu gái mời bố mẹ, ông bà về ăn cỗ.

Trong trường hợp ngôi nhà bị hỏng cần phải làm lại thì khi dỡ ra, vật liệu của ngôi nhà được đưa cho một gia đình khác đốt chứ không được đốt tại gia đình. Khi người phụ nữ Thái mất, ngôi nhà sẽ được dỡ, đốt theo quan tài của người phụ nữ.

 Tục thờ thổ công

Ngôi nhà thờ thổ công của người Thái đen là nhà đất hoặc nhà sàn thấp đặt ở trước hoặc sau nhà ở. Ngôi nhà này chỉ làm 1 mái, có diện tích nhỏ vừa đủ để mâm cơm cúng. Trong ngôi nhà đặt một hòn đá vẽ hình người, tượng trưng cho thổ công. Việc thờ cúng thổ công thể hiện ý nghĩa tâm linh cầu mong sự phù hộ của thổ công, bảo vệ, ngăn chặn tà ma, những điều rủi ro, phù hộ độ trì cho đất đai và gia đình gia chủ. Lễ cúng gồm có: 2 bát cơm, 1 đĩa muối, 5 chén rượu, 5 đôi đũa, 1 đĩa trầu cau, 2 bát nước canh, 1 bát nước lã, gà hoặc cá.

Khi cúng, gia chủ sẽ mời 2 bậc: chủ đất (thổ công), ma quỷ và chủ cai quản vật nuôi trong nhà. Lễ cúng được sắp vào những ngày lễ tết, động thổ, có vật nuôi mới hoặc gia đình có người ốm đau.

132. Vài nét về phong tục của dân tộc Dao Tây Bắc

Người Dao thật thà, hiền lành, chất phác và hiếu khách. Bản chất quý báu đó vẫn là nét chủ đạo, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa. Trong cuộc sống thường nhật, họ ít nói nhưng không thù ghét ai. Do sống phân tán, tiếp giáp với nhiều dân tộc nên họ cũng dễ hòa đồng, tạo điều kiện cho sự phát triển, tiếp thu cái mới.

Ở Việt Nam, người Dao có khoảng 45 vạn người, đứng thứ 9 so với các dân tộc trong nước. Cuộc sống của họ do ly tán, bất ổn định, chủ yếu dựa vào rừng núi cao... nên gặp nhiều khó khăn. Người Dao thật thà, hiền lành, chất phác và hiếu khách. Bản chất quý báu đó vẫn là nét chủ đạo, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa. Trong cuộc sống thường nhật, họ ít nói nhưng không thù ghét ai. Do sống phân tán, tiếp giáp với nhiều dân tộc nên họ cũng dễ hòa đồng, tạo điều kiện cho sự phát triển, tiếp thu cái mới.

Về nguồn sống cơ bản, đồng bào Dao chủ yếu dựa vào các sản phẩm nông nghiệp mang tính tự cung tự cấp như lúa, ngô, khoai, sắn; thức ăn chủ yếu là các loại rau, đậu, củ, quả tự trồng. Công cụ sản xuất còn thô sơ, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu. Người Dao có nghề làm giấy bản, nhuộm màu đỏ thẫm, vàng chanh hoặc để thô được đem đi bán khắp mọi nơi. Dân tộc Dao có nhiều bài thuốc nam (thuốc lá) bí truyền chữa được nhiều bệnh nan y bằng kinh nghiệm bắt mạch, cắt thuốc theo y pháp phương Đông.

Về cấu trúc nhà ở của người Dao đơn giản nhưng với sự tổ hợp ba phần toát lên sự kín đáo, tế nhị của người Á Đông. Họ có ba loại nhà: nhà sàn, nhà đất, nhà nửa sàn nửa đất; nhà ở bằng gỗ, tre, nứa rất chắc chắn. Người Dao lấy địa thế đồi núi để dựng nhà, thường là chỗ bằng phẳng. Kiểu nhà truyền thống của người Dao quần trắng là nhà sàn, thường được làm ba gian, cách chắp nối các cấu kiện bằng nguyên liệu rời. Tuy nhiên, họ không phải dùng đinh trong quá trình lắp ghép nhà ở. Kiểu nhà này chỉ có một cầu thang lên xuống, cầu thang có số bậc lẻ; trong nhà thường có hai bếp. Nhà người Dao đỏ làm nửa sàn nửa đất ở lưng chừng đồi. Cách chọn hướng nhà thì cũng như các dân tộc khác.

Tín ngưỡng của người Dao là tín ngưỡng đa thần “vạn vật hữu linh” mang dấu ấn của Nho giáo và Đạo giáo chính thống. Tư tưởng Nho giáo được thể hiện rõ trong cách phân định tôn ti, trật tự, theo thứ bậc ở mỗi gia đình, mỗi dòng họ. Đồng thời, Đạo giáo ảnh hưởng bao trùm hầu hết các phong tục tập quán thờ cúng tổ tiên (Bàn Hồ – Bàn Vương), được thể hiện qua lễ đặt tên cho con trai và cấp sắc cho người làm thầy cúng... Người Dao quan niệm khi chết thì chỉ chết về thể xác, còn linh hồn mãi mãi bất diệt “quay về với tiên tổ”.

Hôn nhân nam, nữ tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn theo chế độ một vợ một chồng, người cùng họ không được lấy nhau. Nam giới phải ở rể từ hai đến ba năm, có khi ở luôn nhà vợ (nếu ở luôn nhà vợ thì phải đổi họ bên vợ). Họ còn có tục dùng bạc trắng để định giá cô dâu, theo nghĩa đen là mua và gả bán, số bạc ấy sau này sẽ là của đôi vợ chồng trẻ. Ngày cưới, cô dâu trang điểm rất đẹp, đội mũ màu đỏ, có hoa văn; cổ và tay đeo nhiều vòng bạc. Ngày cưới, đoàn đưa cô dâu, có cả thầy cúng, và thổi kèn, đánh chiêng, khua trống, rung nhạc. Tới nhà chồng, cô dâu phải qua nhà tạm, khi được giờ thì mới được vào nhà chồng. Lên tới nhà chồng, cô dâu phải “rửa tay”, bước qua chậu than hồng và nhiều nghi thức khác... trước sự chứng kiến của hai họ rồi mới bước qua cửa vào nhà với ý nghĩa là “Từ nay đoạn tuyệt với con ma họ ngoại và từ nay theo con ma họ nhà nội”.

Sau khi vợ chồng lấy nhau, khi sinh con đầu lòng thì họ đẻ ngay tại buồng ngủ của mình. Ba ngày đầu, các cửa ra vào đều phải cắm lá kiêng không cho người lạ vào nhà. Gia đình dân tộc Dao tồn tại bền vững theo chế độ phụ quyền, người con gái không có tên trong chúc thư, không được thừa kế tài sản của gia đình.

Về trang phục, so với các dân tộc khác thì dân tộc Dao được coi là còn giữ được nhiều nét bản sắc của mình với chất liệu bằng vải bông nhuộm chàm, màu xanh, đỏ, đen, tím than hoặc để trắng. Tộc người Dao đỏ đội khăn đỏ, đeo những bông hoa đỏ trước ngực; Dao quần chẹt mặc quần ống hẹp bó sát vào chân; Dao quần trắng nổi bật là yếm rất to che kín cả ngực và bụng, ngày cưới cô dâu mặc quần trắng; Dao làn tuyển mặc áo dài, đội mũ nhỏ...

Dân tộc Dao có một nền văn hóa rất phong phú và đậm đà bản sắc thể hiện qua nhiều phong tục, nhiều điệu múa đẹp, nhiều bài hát hay, kho tàng truyện cổ tích, thần thoại, ngụ ngôn, ca dao, thành ngữ, chiêm tinh, tướng số, câu đố... Nhưng cũng giống các dân tộc thiểu số khác chủ yếu tồn tại dưới dạng truyền khẩu, vốn này ngày nay cũng bị mai một, thất truyền với những lý do khách quan cũng như chủ quan.

Từ khi có Đảng, cũng như các dân tộc khác, đồng bào Dao luôn đoàn kết, định canh định cư, phát triển kinh tế, góp phần xây dựng quê hương và từng bước khôi phục, bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình.

133. Tục xông đất đầu năm

Tục lệ xông đất đã có lâu đời ở nước ta. Người dân Việt Nam quan niệm ngày mồng Một là ngày đầu của một năm. Họ cho rằng vào ngày mồng Một, nếu mọi việc xảy ra suôn sẻ, mau mắn thì cả năm cũng sẽ được tốt lành thuận lợi. Người khách đến thăm nhà đầu tiên trong một năm cũng vì thế mà quan trọng.

Cho nên cứ cuối một năm, mọi người có ý tìm xem những người nào vui vẻ, linh hoạt, đạo đức, và thành công trong bà con hay láng giềng để nhờ sang thăm. Tục này gọi là tục xông đất. Người khách đến xông đất phải đến thăm sáng sớm ngày mùng Một (vì muốn là người khách đầu tiên), mang theo quà biếu như trái cây, bánh mứt, và tiền lì xì cho trẻ con trong nhà. Chủ nhà, do đã sắp đặt trước, sẽ tiếp đón niềm nở và nhận những lời chúc tốt lành.

Người đến xông đất thường chỉ đến thăm, chúc Tết chừng năm mười phút chứ không ở lại lâu, hầu cho mọi việc trong năm của chủ nhà cũng được trôi chảy thông suốt. Người đi xông đất xong có niềm vui vì đã làm được việc phước. Người được xông đất cũng sung sướng vì tin tưởng gia đạo mình sẽ may mắn trong suốt năm tới.

134. Tục gõ sạp đón khách của người Thái (Yên Bái)

Gõ sạp đón khách là một nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo của đồng bào Thái vùng phía tây tỉnh Yên Bái. Gõ sạp tạo bầu không khí sôi động, náo nhiệt khi trong bản, trong mỗi nhà tổ chức các cuộc vui có đông khách tham dự.
Kiến trúc nhà sàn của đồng bào Thái mang một nét khá khác biệt với kiến trúc nhà sàn của một số dân tộc khác ở chỗ: khi đi lên hết cầu thang, nó không chỉ có cửa rẽ vào lòng nhà, mà nó còn có một lan can - nơi diễn ra cảnh gõ sạp đón khách tới chơi nhà - nằm dọc theo trái nhà dẫn thẳng xuống khu vực bếp.
Số người tham gia gõ sạp từ 9 đến 12 người, là nữ trẻ, giỏi văn nghệ. Trong số đó, có một người điều khiển trống cái và số còn lại mỗi người cầm một đôi ống tre hoặc nứa cắt bỏ mấu ở hai đầu, đứng thành hàng sát mép ngoài lan can.
Khi khách đã đến sân nhà, người điều khiển trống cái nổi một hồi trống thật dài. Sau đó đánh trống dặp để những người cầm ống làm động tác chuẩn bị. Đến khi tiếng trống dặp chuyển thành những tiếng tùng... cắc... cắc. Rồi lại đảo lại cắc... cắc... tùng... tùng liên tiếp, biến hóa thì những người cầm ống cũng trỗ ống xuống sàn nhà, đập hai ống vào nhau, sao cho âm thanh của ống xen kẽ vào âm thanh của trống. Tiếng trống, tiếng gõ sạp vừa nhanh vừa liên hoàn tạo cho khách đến chơi có một cảm giác rất hưng phấn và hòa đồng trong cuộc vui.
Khi khách đã quây quần quanh những mâm cỗ, tiếng gõ sạp sẽ dừng lại. Các cô gái chuyển sang việc tỏa đi các mâm rót rượu mời khách. Rồi sau đó họ tập trung ở một góc nhà hát khắp, hát ví đối đáp với khách. Cho đến khi cuộc rượu đã tàn và chuyển sang màn múa xòe thì những cô gái sẵn sàng lẫn trong vòng xòe cùng với khách. Khi khách bắt đầu ra về, các cô gái nhanh chóng cầm những chai rượu và những chiếc chén được chuẩn bị sẵn, tiếp tục đứng ra lan can rót rượu mời khách uống chén rượu chúc mừng và chia tay với khách. Du khách khi ra về sẽ cảm thấy mình đã có một cuộc vui thật thú vị trong sự mãn nguyện về tấm lòng nhiệt tình và hiếu khách của người dân nơi đây.

136. Lễ cưới của dt M’nông Preh ở Tây NguyênTục tảo mộ

Phong tục thuần tuý Việt Nam trong dịp Tết là tục tảo mộ cuối năm hay vào những ngày đầu năm mới. Vào những ngày cuối năm hay đầu năm, các gia đình thường tụ họp ở nghĩa địa để sửa sang, quét dọn phần mộ của tổ tiên và những thân quyến quá cố. Họ đem hương hoa lễ vật bày ở mộ và "cung thỉnh" hương hồn những người quá vãng về nhà ăn Tết cùng con cháu...

Tục tảo mộ Tết này, trước các thời kỳ chiến tranh vẫn còn được duy trì nhiều nơi ở miền Bắc và nhiều tỉnh ở miền Trung như ở Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa v.v... Theo sách "đại Nam thống Chí", nhiều nơi ở miền Bắc nhất là quanh vùng Hà Nội còn có tục cả họ (nghĩa là tất cả mọi người trong cùng một gia tộc) tụ họp nhau lại để cùng đi tảo mộ tổ tiên và thân quyến quá cố, vào những ngày trước Tết... Có nơi thì đi thăm mộ vào những ngày đầu năm. Tục tảo mộ Tết này được gọi là Lễ Tổ Lạp.

Tục tảo mộ Tết này cho thấy ta khác với Tàu, vì chính lễ Thanh Minh tảo mộ của Trung Hoa là vào tháng Ba âm lịch, do đó thơ Kiều mới có câu: "Thanh minh trong tiết tháng Ba/ Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh..."

136. Lễ cưới của dân tộc M’nông Preh là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian mang đậm bản sắc riêng biệt của người M’nông. Phong tục hôn nhân của người M’nông Preh gồm mấy bước: Lễ ngỏ lời, Lễ dạm hỏi, Lễ cưới.

Khi chàng trai tìm được cô gái vừa ý, chàng tặng cô gái một cái lược, một chuỗi hạt hoặc một vòng đeo tay để làm tin. Sau đó, chàng trai về thông báo với bố mẹ và xin ý kiến. Nếu đồng ý, bố mẹ chàng trai sẽ nhờ ông mối mang lễ vật đến nhà gái. Lễ vật gồm : một con gà, một con dao và ống măng chua. Khi nhà gái bằng lòng, ông mối sẽ thay mặt nhà trai bàn bạc với nhà gái về Lễ dạm hỏi.
Đến ngày đã định, nhà trai cử một người già có uy tín cùng một số trai tráng khỏe mạnh mang lễ vật đến nhà gái. Tùy từng nơi, từng gia đình mà sính lễ khác nhau. Lễ chính gồm : một con trâu hoặc lợn, một gùi măng chua và da trâu mối, một ché rượu cần nhỏ. Nhà gái cử một vị cao tuổi nhận lễ vật rồi bày lên chiếc chiếu hoa ở giữa nhà để cúng Giàng xin làm Lễ dạm hỏi. Xong xuôi hai bên nhà trai, nhà gái mới tiến hành bàn bạc, chọn ngày lành tháng tốt để tổ chức đám cưới.
Lễ cưới sẽ được tổ chức ba ngày liền ở nhà gái. Hôn lễ được mở đầu bằng việc nhà gái đem biếu nhà trai mỗi người một bát gạo đầy, tượng trưng ý nguyện cầu mong cuộc sống họ luôn luôn no đủ. Mỗi bát gạo tương đương một ché rượu mà nhà trai tặng nhà gái. Ông mối sẽ đóng luôn vai trò người làm chủ hôn. Ông dẫn đôi uyên ương đến bên cột nhà chính. Hai người làm chứng đại diện cho hai họ cầm chiếc khăn buộc vào cột nhà. Chủ lễ cầm tay đôi vợ chồng trẻ nắm vào chiếc khăn, ý nói tình cảm hai người đã được buộc chặt, luôn gắn bó bên nhau. Sau đó chủ lễ dặn dò chú rễ, cô dâu về đạo vợ chồng và trách nhiệm của mỗi người đối với cha mẹ, gia đình họ hàng.
Tiếp sau đó là người làm chứng, họ xúc cho hai vợ chồng mỗi người ba muỗng cơm và cũng được đôi vợ chồng phúc đáp lại. Sau nghi thức này, ông mối đưa cần rượu để hai vợ chồng trẻ uống đầu tiên mở màn cho lễ uống rượu mừng ngày cưới. Những ché rượu được cột sẵn ở Cột buộc ché rượu theo hàng dọc giữa nhà. Mọi người cùng uống rượu, ca hát, nhảy múa theo nhịp cồng chiêng rộn rã suốt ngày đêm. Những người đến dự đám cưới mang theo rượu, thuốc lá, gạo nếp .. góp vào ngày vui của gia chủ. Lễ cưới còn là dịp để các chàng trai, cô gái tìm hiểu nhau. Sau lễ cưới còn có lễ rước rể vào ngày hôm sau. Cưới xong đôi vợ chồng trẻ phải ở trong nhà bảy ngày, không được ra khỏi nhà tránh gặp mặt người lạ. Hết thời gian kiêng cử, họ trở về nhà trai bảy ngày, sau đó về bên nhà gái ở trọn đời

138. Tăng cẩu"- nét đẹp trong văn hoá của người Thái đen

 Người Thái có nhiều nhóm: Thái đen, Thái trắng, Man Thanh, Tày Mười, Tày Thanh... với dân số hơn 1 triệu người phân bố ở nhiều vùng đất nhưng nhiều nhất vẫn là ở vùng Tây Bắc (Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Nghệ An). Dân tộc Thái có vốn văn học cổ truyền quý báu với kho tàng thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện thơ, ca dao… có nhiều điệu múa (khắp) độc đáo: xoè Thái, múa sạp.

Văn hoá của người Thái rất phong phú thể hiện ở nhiều nghi lễ khác nhau như: cúng trời đất, cúng bản mường, nghi lễ cầu mùa, đám ma được gọi là lễ tiễn người chết về "mường trời", người dân tộc Thái ở nhà sàn, riêng người Thái đen làm nhà có hình mai rùa và được trang trí theo phong tục xưa. Nhưng tục búi tóc (tăng cẩu) lại chỉ phổ biến ở nhóm người Thái đen. Hôn nhân của người Thái đen là hôn nhân theo kiểu phụ hệ, nhưng từ trước tới nay, tập người này vẫn duy trì tục ở rể, gửi rể.

Khi chàng trai người Thái đen đến tuổi lấy vợ (trước đây là 13-14 tuổi), nay mười tám, đôi mươi sẽ tự đi tìm người con gái mà mình ưng ý hoặc do bố mẹ "nhắm cho". Tiếp đến, nhà trai nhờ một ông Mối (tiếng Thái gọi là Phòlam) đến nhà cô gái để làm mối. Nếu được gia đình cô gái ưng ý, chàng trai sẽ bắt đầu cuộc đời ở rể.

Chọn ngày lành, tháng tốt, nhà trai chuẩn bị cho con trai một số sính lễ để đến ở rể. Lễ vật gồm: một chiếc áo, một con gà mổ sẵn, một gói cơm, một chai rượu và một cái "Tôống bai" là cái đựng vía (khoắn) được làm bằng một sợ dây mây một đầu được cuộn xoắn lại (theo như lời người Thái đen cho biết thì vật này để cho vía chú rể trú ngụ ở đó). Ông Mối sẽ là người trực tiếp đưa chàng trai đến nhà cô gái. Sau khi kiểm xong lễ vật, nhà gái để mọi thứ lên bàn thờ để báo cho tổ tiên biết nhà đã có chàng rể. Trong thời gian ở rể chàng trai được đối xử như một thành viên mới của gia đình.

Nhưng do phải có thời gian thử thách nên anh ta phải chăm chỉ, lao động cật lực, cùng ăn với cả gia đình vợ, chỉ có điều anh ta chưa được ngủ cùng cô gái, mà phải ngủ ở vị trí dành cho khách (người Thái gọi là khơi). Trong ngôi nhà sàn của người Thái, ngoài các buồng thông thường, ở hai phía đầu hồi còn có hai phần được sử dụng với từng mục đích khác nhau, một đầu là khan dùng để làm công việc bếp núc. Đây là phần đầu hồi ở phía sau, để nước và làm bếp, nơi này thường là chỗ sinh hoạt của phụ nữ. Khơi (trong tiếng Thái, khơi là rể, lục khơi là con rể) là phần đầu hồi nhà ở phía trước, phía cầu thang chính lên nhà. Đây là phần dùng để tiếp khách và nếu gia đình nào có chàng rể đang trong giai đoạn thử thách thì sẽ ngủ ở đây...

Sau thời gian ở rể có thể chỉ 3 tháng hoặc kéo dài cho đến khi chàng rể được nhà cô gái chấp nhận. Để đôi uyên ương được ngủ chung với nhau thì hai gia đình phải tiến hành làm lễ "tăng cẩu" (búi tóc), chính thức công nhận họ là vợ chồng. Búi tóc của người phụ nữ Thái đen từ thời điểm này được coi như là một dấu hiệu thông tin cho mọi người biết họ đã có chồng. Để làm lễ này, nhà trai lại phải mang tới nhà gái một số lễ vật. Theo tục lệ, lễ "Tăng cẩu" được thực hiện ở gian gần bếp, người ta chuẩn bị một chậu nước lá thơm. Đại diện phía nhà trai gội đầu, chải tóc và búi tóc cho cô dâu. Tóc được búi lên, cuộn lại bằng một dây xà tích bằng bạc và cài một chiếc trâm bạc giữ cho tóc không bị xổ ra. Trong lúc búi tóc cho cô gái, đại diện hai nhà cùng uống rượu và hát đối đáp "khắp toóc". Nội dung của các bài khắp nói lên hoàn cảnh của mỗi nhà và những lời dặn dò đôi trai gái.

Sau lễ tăng cẩu, chàng trai và cô gái được ngủ chung với nhau, cũng từ đó cô gái phải luôn búi tóc vừa để làm đẹp vừa như là một dấu hiệu thông báo cho các chàng trai khác biết họ đã có chồng. Về nguyên tắc, lễ cưới có thể được tổ chức bất kỳ lúc nào mà hai gia đình muốn, sau lễ "tăng cẩu".

138. Tập tục sống và ăn Tết của người Pu Péo - Hà Giang

Về nhà mới, cúng thần rừng hay Tết Nguyên đán là những dịp lễ quan trọng nhất trong hệ thống tín ngưỡng của người Pu Péo. Bánh chưng ngày Tết của họ gói bằng nếp cẩm dành cho năm cũ để xua đi điềm xấu và bánh chưng trắng đem vận may đến trong năm mới.

Người Pu Péo chỉ có duy nhất ở Hà Giang, theo số liệu điều tra năm 1999 chỉ có 705 khẩu, phân bố ở ba huyện Ðồng Văn, Mèo Vạc và Bắc Mê. Dân tộc Pu Péo có số dân đứng thứ 53 trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Tài liệu xưa nhất đề cập đến người Pu Péo ở Việt Nam là Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Ðôn, viết vào giữa thế kỷ 18, với tên gọi La Quả. Ðến đầu thế kỷ 19, người Pu Péo được ghi với các tên gọi như: Penti, Pentilôlô, Kaobeo và Pu Péo. Trên địa bàn tỉnh Hà Giang, mặc dù dân số không đông, nhưng người Pu Péo sống khá phân tán trên rẻo cao biên giới Việt - Trung.
Song người Pu Péo không giống người Mông sống ở trên núi cao mà chọn những hồn địa giữa rừng núi để lập làng. Khu vực cư trú của người Pu Péo ở Phố Là, Sủng Tráng, hay Phú Lũng đều thuộc vùng núi giữa, mang đậm khí hậu Á nhiệt đới.
Với điều kiện tự nhiên như vậy, người Pu Péo có thể vừa làm ruộng nước, vừa tận dụng được những thế mạnh của rừng trong cuộc sống mưu sinh.

Làm nhà, là một trong những công việc lớn của đời người. Người Pu Péo quan niệm rằng sự thành bại trong cuộc sống mỗi gia đình, mỗi cá nhân phụ thuộc rất nhiều vào điền trạch. Chính vì thế, có rất nhiều tín ngưỡng chung quanh ngôi nhà của họ, từ việc chọn đất đến quá trình chọn cây, cột và xây cắt, nghi thức vào nhà mới...
Về nhà mới là lễ thức quan trọng nhất trong hệ thống tín ngưỡng liên quan đến ngôi nhà của người Pu Péo. Bao giờ lễ cũng được tổ chức vào gần sáng, từ khi gà mới gáy lần thứ nhất.
Trước khi vào nhà mới, thầy cúng phải thắp hương cúng tổ tiên ở nhà cũ (nếu tách hộ thì phải cúng ở nhà bố mẹ đẻ của chủ nhà) để xin về nhà mới, sau đó cúng các vị thần linh chung quanh nhà rồi thắp hương ở bếp sưởi, bếp lò và cửa ra vào.
Tiếp đó thầy cúng và chủ nhà mỗi người đốt một bó đuốc ở bếp sưởi của nhà cũ rồi cả nhà dẫn nhau đến nhà mới, mang theo một nia gạo, một chiếc nồi, ba ông đầu rau và một con gà trống.
Ðến nhà mới, thầy cúng vào trước, vung đuốc khắp nhà để đuổi tà ma, rồi ném đuốc ra ngoài cửa. Tiếp đến chủ nhà dùng bó đuốc nhóm đống lửa ở gian Thoang Plu cạnh nơi đặt bếp sưởi và đào một hố hình vuông (sâu 20 cm rộng mỗi chiều 50 cm) ở giữa nhà, chiếu thẳng với ban thờ tổ tiên và cắm ba nén hương vào đó. Tiếp theo là nghi thức lễ giết gà cúng thần bếp. Sau khi cắt tiết, vặt lông và mổ gà, người ta đổ cả tiết, lông và nước làm lông vào hố bếp.
Lúc này, ông cậu (cậu em mẹ hoặc em vợ chủ nhà) mới lấp hố bếp, lấy ba hòn đá kê làm ba ông đầu rau và châm lửa vào bếp. Vì tục này mà người Pu Péo gọi các ông đầu rau nhà mình là Peo Chau (hòn đá của cậu). Sau đó, ông cậu treo một miếng vải đỏ ở giữa cửa để xua tà ma, vừa làm ông ta vừa nói to những lời chúc phúc cho gia chủ.
Chỉ sau khi thực hiện xong nghi thức ở bếp thiêng và cửa ra vào mới được nhóm lửa bếp lò để đun nấu lễ vật cúng ở bàn thờ tổ tiên.
Người Pu Péo thờ đến ba đời (Pệ - đời bố mẹ; Tế ngân - đời ông bà; Tế gạo - đời các cụ), ứng với mỗi đời là một chiếc hũ (loog ten) đặt trên bàn thờ. Lễ vật cúng tổ tiên trong ngày vào nhà mới được tính theo số hũ thờ, thường thì mỗi hũ một con gà, năm nắm cơm nhỏ và một ít thịt. Sau khi cúng và đưa các hũ lên ban thờ mới, người ta lại phải cúng một lần nữa.

Mọi nghi thức phải hoàn tất vào lúc trời hừng sáng. Ðến khi trời sáng, họ hàng, làng xóm sẽ sang mừng tân gia, người con gà, người chai rượu hoặc ít tiền chúc phúc cho gia chủ.
Người Pu Péo sử dụng lịch cổ, mỗi giáp 12 năm (khuộp mai), mỗi năm chia thành 12 tháng, mỗi tháng có 29 hoặc 30 ngày, mỗi ngày có 12 giờ. Cứ ba năm có một năm nhuận, hoàn toàn giống cách tính lịch âm ngày nay. Vì vậy họ cũng ăn Tết Nguyên đán như nhiều dân tộc khác.
Trong những ngày Tết, người Pu Péo cũng có tục gói bánh chưng, nhưng có nét độc đáo riêng; họ gói bánh chưng đen bằng nếp cẩm (mí uột lặng) ăn vào tối 29 Tết để kết thúc năm cũ, ngụ ý trút bỏ hết vận đen trong năm và bánh chưng trắng (mí uột lìn) cúng vào tối 30 để mừng năm mới.
Khi bước sang năm mới (qua 12 giờ đêm), nếu ai mở cửa ra ngoài thì khi vào nhà phải mang quà vào lấy may; quà đó có thể là một bó củi. Sau đó nam nữ đi gánh nước "nước vàng, nước bạc" để cầu may.
Khi đi mang theo một bó hương và giấy vàng, đến mỏ nước thì đốt hương cầu khấn, khi lấy đầy nước vào thùng thì bỏ giấy vàng vào thùng và gánh về. Ðó là một trong những biểu hiện của tín ngưỡng liên quan đến nông nghiệp, cầu cho mưa gió thuận hòa để có đủ nước cấy trồng. Mặc dù số dân không đông, nhưng người Pu Péo ở Hà Giang vẫn còn lưu giữ trong ký ức cộng đồng nhiều nghi lễ và cả một kho tàng văn nghệ dân gian phong phú. Cùng với nghi thức về nhà mới còn lễ cúng thần rừng vào ngày 6-6 âm lịch hằng năm.
Cũng chính từ nghi lễ này nên khu vực nào có người Pu Péo sinh sống rừng thường được bảo vệ rất tốt, nhất là khu rừng thiêng: việc bảo vệ rừng để có nước làm ruộng và có gỗ làm nhà luôn được truyền tụng từ đời này sang đời khác.

139. Tục Cúng lúa của người Chăm

Đồng bào Chăm, tỉnh Phú Yên, quan niệm lúa có hồn nên sau mùa gieo cấy, thu hoạch hay mở kho thóc thường tổ chức lễ cúng. Nghi thức này bày tỏ lòng biết ơn với núi rừng, ruộng rẫy đã tạo ra của cải vật chất, đem đến cho con người cuộc sống ấm no.

Khi lúa bắt đầu uốn cần câu, lác đác chín, khoảng tháng 9 - 10, các cụ cao tuổi hoặc chủ gia đình chọn gặt những bông lúa trĩu hạt để thiếu nữ trong làng mang về chòi đập, sẩy, đảo khô và giã làm gạo, chuẩn bị lễ cúng lúa mới.

 

 

Lễ hội của đồng bào Chăm Phú Yên. Ảnh: Báo Biên Phòng.

Nhà nào tổ chức cúng cũng phải mời cả làng cùng dự, lấy may cho năm sau. Do đó, lần lượt các hộ thay phiên tổ chức nghi lễ này. Chủ và khách ngồi quây quần bên bếp lửa hồng, ánh sáng soi rõ từng khuôn mặt háo hức chờ ngày lúa đưa vào kho. Gia đình nào khá giả thì thịt một con lợn, một con gà cồ và một con gà mái cúng Yàng, dẫn đường cho lúa.

Khi lúa đã chín đều người Chăm cúng Yàng đất, hồn lúa để tiến hành thu hoạch (cúng thu hoạch). Lễ cúng có một ché rượu cần, chai rượu trắng. Họ mời buôn làng, chủ yếu là bà con, anh em trong dòng tộc đến tham dự. Người Chăm ở Phú Yên không cho phép ngũ cốc bị thấm nước, rơi đổ khi qua sông, suối. Họ cho những điều này là dấu hiệu mất mùa, phải giết gà, heo, dâng rượu cúng Yàng xin tha tội.

Lúa gặt về được bó lại rồi đem cất vào chòi ngoài ruộng. Khoảng hai tháng sau, gia chủ bắt một con gà làm thịt cúng mời hồn lúa từ ruộng về kho (cúng lúa vào kho). Nếu đường vào làng qua sông, suối thì phải dùng gà luộc chín hoặc trứng cúng, rồi giăng sợi chỉ trắng làm đường dẫn hồn lúa đi.

Đến tháng Giêng, Hai, sau khi đập lúa xong, người Chăm lại thịt một con lợn cúng Yàng để mở cửa kho mang đi xay gạo. Lễ vật là một con gà, chén rượu.

140 Tục làm đèn trời ở Đồng Minh – Vĩnh Bảo - Hải Phòng

Xã Đồng Minh huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng là một địa phương được biết tới với nghề làm đèn trời. Điều đặc biệt ở đây chính là ở chỗ, từ rất lâu rồi, cả xã cùng làm đèn trời và cả xã cùng thả đèn trời.

Ngày nay đèn trời được thả ở nhiều nơi. Người ta thấy loại đèn này trong các lễ hội, các dịp tết, đặc biệt là Tết Trung thu (Rằm tháng tám âm lịch). Đèn trời cháy sáng bằng sự thông minh, khéo léo của người và bay cao vào cõi bao la, thinh không của trời như một lời cầu mong về hạnh phúc, may mắn được tượng hình hoá.

Trong những dịp lễ tết đặc biệt là Đêm giao thừa tết Nguyên đán và Tết trung thu, Rằm tháng Bảy, hội làng, hội đình, lễ chùa, mừng thọ, cúng giỗ, khánh thành, lễ kỷ niệm… khắp nhà nhà trong 14 làng của xã Đ ồng M inh đều thả đèn trời, tạo thành một cảnh tượng rất rực rỡ, đẹp mắt và oai linh mà những người dân ở các xã khác cách đó gần chục cây số cũng cảm nhận được.

Theo người dân địa phương, đèn trời được thả để mang theo hết những rủi ro, đau khổ, vận hạn lên trời. Họ thả đèn trời để tống tiễn hết những điều không may trong cuộc sống, để thêm hy vọng về một tương lai may mắn và hạnh phúc hơn. Do vậy, những ngày xuân cũng là những ngày người ta thích thả đèn trời hơn cả, để mong về một năm mới đầy tốt đẹp.Tục làm và thả đèn trời ở xã Đồng Minh đã có từ nhiều đời, nhưng chính xác là từ năm nào thì hiện chưa có tài liệu nào khẳng định. Chúng tôi tìm về Đồng Minh thì được biết, từ thời Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã xuất hiện tục thả đèn trời.

Ông Phạm Văn Khôi, đội 6, xã Đồng Minh là một nghệ nhân nổi tiếng bởi bàn tay làm đèn khéo léo. Người đàn ông 61 tuổi, nước da nâu khoẻ mạnh, đôi mắt sáng tinh tường, vừa thoăn thoắt làm đèn vừa kể chuyện. Một năm ông Khôi làm trên dưới 200 chiếc đèn trời. Người dân ở các nơi khác về hỏi mua đèn rất đông, nhưng cũng như mọi người ở xã mình, ông Khôi làm đèn không vì mục đích kinh tế mà vì vấn đề tâm linh. Các lễ hội lớn như Hội Đền Hùng (Phú Thọ), Hội Đền Côn Sơn (Hải Dương)… ông Khôi đều mang đèn đi thả. Được hỏi về cảm giác lúc chứng kiến đèn do chính mình làm bay lên trời, ông Khôi trả lời ngắn gọn: “Khoái lắm!”
 Đèn trời hình trụ, giống một cái chuông lớn, làm từ giấy bản, tre, sợi thép mảnh và vải để làm bấc đèn. Giấy bản mỏng, loại để viết sớ, kích cỡ 120 x 80 cm, thường là màu trắng. Các tấm giấy được dán vào với nhau bằng hồ bột gạo hoặc bột dong. Tre làm khung đèn là tre già vì tre già cứng nên dễ vót bé mà lại nhẹ. Bấc đèn làm bằng những búi vải thô tẩm mỡ lợn hoặc dầu ăn chứ không dùng dầu hoả để tránh muội bám làm bẩn và nặng đèn. Bấc được buộc vào chính tâm vòng tròn khung đèn. Lúc thả đèn, một người giữ, một người châm bấc. Sau khi đốt bấc, cần đợi cho tới khi đèn căng đầy và trọng lượng bằng không mới nhẹ nhàng thả tay và xoay nhẹ đèn lên.

Đèn trời to nhỏ tuỳ thuộc vào kích thước đường kính khung đèn, thường dao động từ 70 tới 90 cm. Thời gian làm một chiếc đèn thì lâu, khoảng gần một tiếng đồng hồ nhưng lúc thả lại rất nhanh, gặp hôm trời quang đãng đèn sẽ lao lên vun vút. Ngày tết thả đèn trời thì người ta thường buộc thêm dưới bấc đèn một cây pháo sáng, trông cũng lung linh như đốt pháo hoa vậy.

Người dân Đồng Minh, cứ từ đời này qua đời khác, truyền nhau làm đèn trời như truyền một thứ di sản quý báu nhưng rất mực dân dã. Những người con vùng quê nhiều am khám, đền chùa cổ kính với những nhà thờ khang trang, cao đẹp này lớn lên trong lòng thành kính đất trời và có đi muôn phương thì những ấn tượng về chiếc đèn trời cũng không thể nào phai nhạt trong tâm hồn.

141. Mở hàng đầu năm: Phong tục hay mê tín?

Là chủ một cửa hàng bán đồ mỹ nghệ trên đường La Thành (Hà Nội), anh Hùng, chị Hồng đã cẩn thận nhờ thầy ở tận Mê Linh (Vĩnh Phúc) xem ngày mở hàng đầu năm mới từ trước ngày ông Công ông Táo.

Nhiều người tin rằng, ngày đẹp đầu năm Mậu Tý rơi vào các ngày chẵn như mùng 2, mùng 4, mùng 6. Đặc biệt, nhiều người cho rằng mùng 10 Tết là ngày cực tốt. Nhưng riêng gia đình anh Hùng chị Hồng, để cho hợp tuổi, hai vợ chồng quyết định làm theo lời thầy: Mở hàng đầu năm vào ngày mùng 7 Tết.

Theo lời thầy phán, năm nay là năm con chuột, con vật nhỏ bé nhưng hết sức khôn ngoan, lanh nhẹn, khéo luồn lách. Nếu anh chị mở hàng vào đúng ngày hợp với tuổi, chuyện làm ăn sẽ cực kỳ phát đạt.

Đúng giờ "hoàng đạo", anh chị bày một mâm cúng trước bàn thờ thần tài. Anh chị cũng kịp nhờ một người bạn sinh năm Bính Thìn vốn là người xởi lởi, đến cửa hàng vào đúng đầu giờ Tỵ để mua mở hàng giúp, mong cho 1 năm làm ăn thuận lợi, mọi sự suôn sẻ.

“Công việc buôn bán của chỉ thật sự bắt đầu từ khoảng đầu tháng 2 Âm lịch. Thế nên, việc xem ngày giờ mở hàng chỉ là để cho được ngày, lấy may thôi. Sau khi mở hàng xong, cả gia đình lại đóng cửa hàng, đi chơi xuân tiếp”, anh cười hoan hỉ.

Tuy nhiên với gia đình chị Mậu (Đào Tấn – Hà Nội), chuyên bỏ mối thịt gà làm sẵn cho các cửa hàng ăn trên phố, thì mở hàng ngay từ chiều mùng 1 Tết, vì nếu đợi ngày tốt thì chỉ có mất khách.

Chị cho biết: “Cả gia đình chỉ được nghỉ chiều tối ngày 30 và buổi sáng mùng 1 để ăn Tết gọi là thôi. Chiều tối mùng 1, mọi người lại phải làm để chuẩn bị mang hàng đi giao sáng sớm mùng 2.”

Tuy gấp gáp nhưng chị cũng nhờ được một người bạn hàng vốn là người "nhẹ vía", mua bán nhanh chóng đến mở hàng giúp, để chị lấy lộc đầu năm.

“Chỉ cần đừng có dịch cúm gà như mấy năm trước thì kiểu gì chị cũng không thua lỗ được. Mở hàng đầu năm đúng là có quan trọng thật, nhưng nếu cứ nhất quyết đến mùng 10 mới mở hàng thì mất hết mối làm ăn”, chị thật thà.

Phong tục trở thành mê tín?

Giới tiểu thương vẫn truyền miệng câu: “Anh em chẳng giống, giống người sớm mai”, là để chỉ sự quan trọng của người mở hàng đầu năm. Đối với một ngày buôn bán đã vậy, với cả năm kinh doanh, việc xem ngày chọn giờ, mời người xông đất, mở hàng còn được tiến hành cẩn trọng hơn rất nhiều.

Ngày đi làm đầu năm, các CBNV công ty chứng khoán S. được yêu cầu đến sớm hơn thường lệ 45 phút để Ban giám đốc làm lễ khai trương năm mới.  Đúng giờ, các nhân viên tề tựu đông đủ thì cũng là lúc bàn thờ thần tài trong phòng của giám đốc đã nghi ngút khói hương với đủ loại vật phẩm, nào là tiền vàng, lợn quay, gà luộc, xôi nếp, bia rượu… chẳng thiếu thứ gì.

Sau một tuần hương, các nhân viên mang vàng mã đi hóa, dọn dẹp văn phòng, để đón vị khách đến xông đất đầu năm. Đây là đại diện cho công ty đối tác, đồng thời là bạn thân của giám đốc.

Chị Hoài An, phòng hành chính của Công ty cho biết: “Đây là cái Tết đầu tiên của công ty, nên giám đốc rất cẩn thận trong từng nước bước. Thậm chí việc tuyển nhân viên vào làm việc tại đây cũng rất khắt khe. Giám đốc đặc biệt thích những người tuổi Giáp Tý, bởi cho rằng, tuổi này hợp với tuổi Bính Thân của ông”.

Sau khi khách đã xông đất, Công ty đã khai trương đầu năm, giám đốc đi phát tận tay cho mỗi nhân viên 1 tờ mệnh giá 2 đôla, vốn được coi là đồng tiền may mắn như một lời chúc "đỏ" cả năm.

Chị Vinh có một kios bán vải ở chợ Thành Công. Chị được các bạn hàng rỉ tai ngày mùng 7 Tết là ngày Hoàng đạo, mở hàng, khai trương, xuất hành,… đều tốt cả. Suy đi tính lại, hỏi thêm một vài nơi, chị cũng quyết định mở hàng vào ngày mùng 7.

Chuẩn bị hương hoa để xin thần Tài cho cả năm được mua may, bán đắt, chị cũng không quên nhờ một người một người bà con đứng tuổi đến mở hàng. Nhưng vì cô này đang làm trong công ty Nhà nước, nên cô đã phải xin nghỉ một buổi sáng để đến mở hàng giúp.

“Cũng có làm gì nhiều nhặn đâu, chỉ là đến đúng giờ và sờ một lượt vào mấy kiện vải. Nhưng chẳng lẽ cháu mình nhờ thì lại không giúp. Năm nay hợp tuổi, nhiều người nhờ đến mở hàng quá”, cô nhún vai.

Xong đâu đấy, cô lại tất bật đến một cửa hàng khác để mở hàng, kèm theo lời phân trần: “Phải nhanh để còn đến cơ quan đúng giờ, không khéo bị trừ lương thì lại “dông” cả năm !”

Không biết có cơ sở khoa học nào chứng minh mở hàng "ngày tốt, người tốt" thì sẽ may mắn cả năm không?!

142. Những truyền thuyết về Tết

Vào dịp tết, mọi người trong nhà thường quây quần bên bếp luộc bánh chưng và kể cho nhau nghe những truyền thuyết về Tết Nguyên đán. Hương vị dân gian của các câu chuyện dường như đậm đà hơn trong không gian thơm tỏa ra từ nồi bánh chưng đang sôi lục bục trên bếp lửa đỏ hồng... Thói quen cắm hoa trong nhà.
Giáp Tết, mỗi gia đình ở Việt Nam đều mua cánh đào để cắm trong nhà, thậm chí ngoài Bắc còn gửi theo đường máy bay cành đào cho người thân ở trong Nam. Hoa đào có loại cánh đơn hay cánh kép, còn màu sắc từ đỏ thắm như hồng đào, bích đào đến phơn phớt hồng như đào phai hoặc trắng tinh như đào bạch.
Nếu tính đúng thời gian, cành đào được đốt gốc và cắm trong nước sẽ nở đúng vào ngày mùng một Tết. Đào được ưa chuộng vì nhiều lý do, tùy theo tuổi tác và thẩm mỹ của mỗi người, tuy nhiên ai cũng thích hoa đào vì vẻ đẹp mảnh mai của cánh hoa, của những thế đào uốn lượn trên cành...
Một số người cho rằng sắc đỏ rực rỡ của hoa đào mang lại sự giàu sang và may mắn, có nhiều người cho rằng nó tượng trưng cho hạnh phúc như truyền thuyết về hai chàng Lưu, Nguyễn vào năm 62 sau công nguyên đời vua Hán Minh Đế vào rừng hái thuốc và lạc trong cói tiên. Có người thấy ở hoa đào biểu tượng của tình bạn trung thành như chuyện Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi kết nghĩa anh em ở vườn đào và giữ trọn lời thề...
Cành đào cắm trong nhà ngày Tết quả là đẹp. Có truyền thuyết kể rằng: Cành đào được dùng làm bùa đuổi yêu ma chuyên rình mò vào ban đêm. Ngày xưa ở Trung Quốc có một cây đào rất lớn mọc trên một sườn núi. Cây cao to khổng lồ, tán lá tỏa rộng mấy trăm dặm. Có hai vị thần cây đầy quyền uy là Thần Đồ và Uất Lũy ngự ở đó, chuyên chấn trị các loài quỷ và yêu quái. Nhờ vậy, người dân ở đây có thể sống yên bình, ngủ ngon lành, không sợ bị quấy nhiều trong giấc mơ.
Nhưng cứ đến cuối năm, hai vị thần phải lên thiên đình để tâu trình việc dân gian với thượng đế. Lo sợ lũ ma quỷ sẽ đến làm hại, người dân ở đấy cắt một cành đào thần để đặt lên bàn thờ tổ tiên. Một số nhà cẩn thận còn viết tên hai vị thần hoặc vẽ phác hình hai vị thần lên tấm giấy đỏ để treo lên cành đào, vì vậy không có ma quỷ nào dám lẩn quất vào nhà. Cách dùng đào để trừ ma quỷ dần lan rộng ra rồi sang cả Việt Nam.
Từ bao đời này, người dân Việt Nam đã ăn tết trong sự che chở của những cành đào xuân đầy sức mạnh này.
Người Việt Nam cũng như người Trung Quốc luôn coi hoa cúc là loài hoa thanh cao vì nó có thể chịu đựng được giá rét và lá của nó không rời khỏi cành sau khi cây đã chết. Hoa cúc có nhiều loại với nhiều màu sắc khác nhau như vàng, trắng, đỏ tía, có loại cánh dài và trắng như cúc Bạch trung châm, có loài cánh ong và vàng như cúc Hoàng long trảo, nhưng cúc đại đóa cánh trắng hoặc màu vàng yến với bông to như cái bát được nhiều người yêu thích hơn cả. Vào dịp Tết nhiều gia đình cắm hoa cúc hoặc trồng trong những chậu lớn để đón năm mới.
Phong tục đi hái lộc đêm giao thừa
Ngày xưa, các nàng tiên ở trái đất hay đến một vùng đất lành để vui chơi mỗi khi cảm thấy nhớ nhà. Các nàng vui đùa nhảy múa, mỗi bước chân hay nhịp tay của họ chạm đến đâu thì cây cối hoa lá mọc lên xanh tốt ở đó. Những cây này đều rụng lá vào đêm giao thừa nhưng đến sáng mồng một Tết lại mọc chồi lá mới, xanh non nẩy lộc...Để có năm mới nhiều hạnh phúc, may mắn, người dân ở vùg đất này đã hái những cây lá xanh tươi để trước cửa nhà mình vào lúc giao thừa cho đến sáng ngày mùng một Tết nhưng tốt nhất là hái đúng vào lúc nửa đêm khi năm cũ qua đi, năm mới đến và chồi lá non bắt đầu mọc. Hái được một cành lộc đang đâm chồi nảy lộc vào lúc giao thừa, mọi người hy vọng sẽ có một năm mới tràn đầy hạnh phúc.
Kiêng quét nhà trong mấy ngày Tết

Bắt đầu từ giao thừa, không nhà nào dùng chổi quét nhà cửa, bởi mọi người tin rằng quét nhà trong mấy ngày Tết là sẽ quét hết tài lộc trong năm mới. Tục kiêng cữ này bắt nguồn từ một truyền thuyết bên Trung Quốc.
Chuyện kể rằng ngày xưa có một ông lái buôn khi đi ngang qua hồ Động Đình gặp một bé gái ăn mặc rách rưới, gầy gò xanh xao. Động lòng trắc ẩn, ông lái buôn đưa cô bé về nhà làm con nuôi. Từ ngày ấy ông làm ăn vô cùng phát đạt và trở nên rất giàu có nhưng cũng trở nên ác độc, keo kiệt.
Có một dịp vào Tết, chẳng may làm vỡ một chiếc bình quý, sợ hãi cô bé trốn vào đống rác sau nhà. Tay lái buôn dùng một chiếc chổi to chọc vào đống rác tìm, lão hất tung cả đống rác ra sát mép hồ nhưng vẫn không tìm thấy cô bé. Từ đó tay lái buôn chẳng mấy chốc làm ăn thua lỗ, nghèo khó bởi hắn đã quét thần Tài ra khỏi.Vì vậy, nhiều nhà đã kiêng không quét rác trong ba ngày Tết và trở thành một phong tục dân gian vào dịp Tết Nguyên đán.

143. Nếp xưa, Tết Việt

Những phong tục, tập quán tốt đẹp của ngày Tết Nguyên Đán từ lâu đã trở thành một nhu cầu tâm linh, nhu cầu văn hoá trong đời sống người Việt. Nét truyền thống từ ngàn xưa đã làm nên một bản sắc văn hoá Tết Việt Nam.

  1. Thờ cúng tổ tiên vốn là tín ngưỡng sâu thẳm nhất trong tâm thức Việt. Tết cổ truyền Việt Nam trước hết là tết của gia đình, họ hàng, thân tộc. Đã thành tập quán,"tháng Giêng ăn tết ở nhà", dù ai ở bất cứ đâu, làm bất cứ nghề gì, hàng năm mỗi dịp năm hết tết đến đều tha thiết được trở về sum họp gia đình. Theo quan niệm dân gian thì ba ngày tết có ba cuộc gặp gỡ hết sức quan trọng ngay trong một nhà. Trước hết là cuôc gặp gỡ với các vị thần linh. Thần linh ở đây không cao xa, huyền bí như ở các đền, miếu mà là 3 vị gia thần: Tổ sư(tổ nghề), Thổ Công(ông Địa) và Táo Quân(hay thần Bếp). Cuộc gặp gỡ thứ hai là ông bà, cha mẹ hoặc những người thân đã quá cố về chung vui với con cháu. Cuộc gặp thứ ba là cuộc họp mặt gia đình. Như vậy, đối với mọi người dân Việt, Tết là ngày hội đoàn tụ, đoàn viên thiêng liêng, ấm cúng.
  2. Trong mỗi gia đình, bàn thờ tổ tiên có vai trò, vị trí rất quan trọng. “Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn“- đạo lý ấy của nhân dân ta hầu như đã kết đọng lại trong hình thức tưởng niệm trên chiếc bàn thờ.

Hoa quả trên bàn thờ là hương sắc và vẻ đẹp tinh khiết của cảnh vật ngày xuân. Ở Nam bộ có mâm ngũ quả gồm năm loại trái cây là mãng cầu, dừa, đu đủ, xoàisung, ngụ ý mong năm mới được sung túc hoặc chỉ cầu vừa đủ xài. Người ta thường chưng cúng những loại trái cây có ý nghĩa, như:

Mận, điều, táo: gạo nếp đầy bồ.

: làm việc gì cũng trơn tru, suông sẻ như ý.

Lựu: con đàn cháu đống, sung túc.

Đào: học đâu đỗ đó, thăng quan tiến chức.

Bưởi: người già khoẻ mạnh, sống lâu.

Thơm: gia đình quyền quí, cao sang, tiếng thơm muôn đời.

Quýt, tắc: tài lộc phát hưng.

Thêm vào đó là quả dưa hấu, một phát hiện của An Tiêm - nhà khai hoang thời Hùng Vương và cũng là ông tổ của nghề trồng dưa đỏ. Cúng dưa hấu hàm ý xanh vỏ đỏ lòng, con người lao động tự lực cánh sinh. Trái dưa chưng trên bàn thờ thường dán mảnh giấy đỏ viết chữ Phúc (có phước) hoặc chữ Cát (tốt lành) bằng Hán tự trông rất đẹp mắt. Ngoài ra còn có đĩa trầu, quả caubình vôi, tượng trưng cho tình nghĩa mặn nồng, keo sơn gắn bó.

Thức ăn truyền thống được dâng cúng trên bàn thờ tổ tiên ngày Tết là bánh chưng, bánh giày, ở miền Trung có đòn bánh tét. Tục rằng Tiết Liêu - con thứ 18 của vua Hùng Vương- nằm mộng thấy thần nhân (biểu tượng của trí tuệ siêu việt) dạy cho cách lấy gạo nếp gói thành bánh; cái hình vuông tượng trưng cho đất, trong ruột có trân cam mỹ vị, bọc ngoài bằng xanh rồi nấu chín, gọi là bánh chưng; lại lấy nếp nấu chín giã thành bột dẻo trắng tinh, nặn thành hình tròn, tượng trưng cho trời, gọi là bánh dàycả hai ngụ ý công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ. Món bánh của Tiết Liêu được vua chấm đầu bảng trong cuộc thi chọn hiền tài. Nhờ đó, chàng được vua cha truyền ngôi cho.Và cũng từ đó, bánh chưng bánh dày trở thành biểu tượng đón xuân không thể thiếu của người dân Việt. Bánh tét cũng là món ăn truyền thống trong dịp lễ tết hay khi giỗ kị của người dân Trung và Nam bộ. Cũng được làm từ nếp, đậu xanh, thịt heo như bánh chưng của miền Bắc nhưng bánh chưng được gói bằng lá dong còn bánh tét được gói bằng lá chuối, bánh chưng được gói vuông vức còn bánh tét được gói thành những đòn dài - hai đòn bánh được cột thành một cặp, với mong muốn một năm mới toàn vẹn đủ đầy, gia đình được sum họp, hạnh phúc.

  1. Ngày Tết, dân ta có thú chơi hoa đào, hoa mai. Đào có một cành chủ, xoè nhiều nhánh như đuôi công hoặc bó đuốc, búp hoa nhỏ, cánh hồng khoe sắc thắm, là đặc sản của xứ Bắc. Đào mang cốt cách người quân tử bất khuât. Thời kháng chiến chống Pháp, tại nhà tù Sơn La, nhà cách mạng Tô Hiệu đã trồng đào ngay trong nhà giam để nhắc mình luôn giữ khí tiết kiên cường và vững tin vào tương lai tươi đẹp. Cây mai ở miền Nam có thân cứng, nhánh toả mảnh khảnh, gân guốc, hoa màu vàng nở rộ vào tháng Chạp và đầu tháng Giêng âm lịch. Mai mang nét tổng hợp giữa cương và nhu, ngoại diện khắc khổ nhưng nội tâm sâu sắc, lãng mạn. Hoa mai được xem là biểu tượng của mùa xuân tươi trẻ, rạo rực sức sống.

Điểm xuyết trên những cành đào, cành mai chưng bày trong nhà ngày tết là những cánh thiệp mừng xuân (xuân thiếp) với nội dung là những lời ước nguyện cho năm mới như vạn sự như ý, ngũ phúc lâm môn (năm điều phúc đến nhà), phong đăng hoà cốc (chúc nhà nông) hoặc nhất bản vạn lợi (chúc nhà buôn); hoặc trên tường, trên cột treo, dán những liễn đối bằng giấy hồng điều đỏ thắm, viết chữ Nho bằng mực tàu đen hay kim nhũ vàng óng ánh. Câu đối đã một thời là nét đẹp trong đời sống văn hoá của người Việt, là một phần hữu cơ của Tết Việt khái quát trong bộ sáu: "Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ; Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh".

  1. Tết Nguyên Đán tuy bắt đầu từ mồng một tháng Giêng nhưng thực ra người Việt, nhất là ở nông thôn, đã sửa soạn Tết ngay từ đầu tháng Chạp. Người xưa lấy 7 ngày trước và 7 ngày sau (từ 23 tháng Chạp đến mùng 7 tháng Giêng) làm thời gian ăn Tết. Trong không khí tất bật của những ngày cuối năm, ngưòi ta vẫn không quên phong tục cổ truyền: ngày 23 tháng Chạp âm lịch đưa ông Táo về Trời. Trong tín ngưỡng dân gian, ông Táo (còn gọi là Táo Quân hay vua Bếp) là sứ giả nhà Trời chuyên coi việc bếp núc, củi lửa của trần gian đồng thời xem nhân tình tốt xấu thế nào trong từng gia đình để hàng năm về Trời báo cáo. Dân ta làm lễ cúng tiễn ông Táo (còn gọi là tết ông Táo) với niềm hy vọng Ngài sẽ báo cáo cho Ngọc Hoàng biết những điều tốt đẹp, nhờ đó gia chủ được hưởng thêm nhiều phúc thọ.

Các cụ xưa có câu: "Đói ngày giỗ cha, no ba ngày tết", quanh năm làm ăn vất vả, mỗi dịp xuân về tết đến dù có khó khăn đến mấy, gia đình nào cũng cố lo tết chu đáo hơn ngày thường. Chí ít cũng phải có vài cặp bánh chưng, nồi thịt nấu đông, ít cây giò chả, thẩu dưa hành, củ kiệu. Sau khi sắm sửa tết xong, người ta có tục đi tảo mộ, thắp hương khấn mời gia tiên về hưởng tết. Có nơi thay vì đi thăm mộ trước tết, người ta đợi đầu xuân, sau khi hoá vàng tiễn các cụ mới cùng nhau đi viếng mộ.

Chiều ba mươi Tết người ta sửa lễ cúng gia tiên, truy niệm về nguồn cội, tổ tông, rước ông bà về cùng chung vui với gia đình. Ông bà đây là những người đã khuất, được mời về dùng cơm dâng cúng với tấm lòng thành kính của con cháu.

  1. Tết Nguyên Đánlà lễ hội mở đầu cho một năm mới, là tết cả (lễ hội to nhất) trong các lễ hội cổ truyền của Việt Nam. Tết do chữ tiết (là thời tiết) nói trại ra; Nguyên là chỗ khởi đầu, là đầu tiên; Đánbuổi sớm mai, lúc mặt trời mới mọc.

Theo sử Trung Quốc, âm lịch có từ đời nhà Hạ và lấy tên 12 chi đặt cho 12 tháng. Tháng Dần (tháng đã hết tuyết ở trung du Hoàng Hà) được chọn làm tháng đầu năm. Ở Việt Nam, vì thời tiết cũng gần giống như ở Trung Quốc (hai nước chỉ cách nhau có một múi giờ) nên xưa kia tổ tiên ta cũng lấy kiến Dần làm tháng đầu năm tức tháng Giêng.

Ăn Tết vào đầu tháng Dần là rất hợp lý vì lúc đó mùa đông vừa qua, tiết lạnh vừa hết, ngày xuân ấm áp tới, hoa cỏ đua tươi, muôn vật hồi sinh nẩy nở. TếtXuân đã hoà quyện vào nhau. Trong Hán tự, Xuân có nguồn gốc ở từ Xuẩn, nghĩa cựa quậy, do đó Xuân có nghĩa là sự sinh sôi, là sức sống. Con người, cỏ cây, bầu trời, mặt đất đều có chung một sức sống mới trước thềm xuân.

Tết Nguyên Đán bắt đầu từ lúc giao thừa. Giao thừa là thời khắc thiêng liêng, giao tiếp giữa hai năm cũ mới. Theo từ nguyên, giao thừa là “giao lại cái cũ, tiếp lấy cái mới”. Dân gian tin rằng có 12 ông hành khiển điều hành mọi công việc trần gian, mỗi năm một ông. Hết nhiệm kỳ, ông cũ bàn giao công việc cho ông mới. Cũng vì ý nghĩa này nên có lễ trừ tịch. Trừ tịch là giờ phút cuối cùng của năm cũ sắp bắt qua năm mới, giữa giờ Hợi ngày 30 (hoặc nếu tháng thiếu thì ngày 29 tháng Chạp) năm trước và giờ Tí ngày mồng một tháng Giêng năm sau. Ý nghĩa của lễ này là đem bỏ đi hết những điều xấu dở cũ kỹ của năm sắp qua để đón những cái mới mẻ tốt đẹp của năm mới sắp tới. Lễ trừ tịch thực chất là nghi thức tống cựu nghinh tân, được cử hành rất trang trọng từ tư gia đến các đình, chùa. Những năm về trước, trong giờ phút thiêng liêng ấy, chuông trống đánh vang, pháo nổ râm ran không ngớt. Nhà nhà cỗ bày trước sân gồm hoa quả, đèn nến, bánh mứt, nước dừa xiêm… Gia chủ khấn vái cầu mong sang năm mới gia quyến được an khang, phát tài sai lộc.

Cúng giao thừa ở nhà xong, người ta kéo nhau đi lễ các đình, chùa, đền, miếu... để cầu phúc, cầu may. Trước cửa đình, cửa chùa thường có những cây đa, cây đề, cây si cổ thụ, cành lá xùm xoà, khách đi lễ có tục mỗi người bẻ một nhánh gọi là hái lộc, với hy vọng cành lộc sẽ đem lại mọi điều tốt đẹp, may mắn trong năm mới.

Ba ngày Tếtngười ta đi thăm bà con xóm làng, bạn bè thân thuộc: "Mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy". Đến thăm mỗi nhà, trước lễ bàn thờ gia tiên, sau rồi chúc tết gia chủ, nói chuyện, ăn trầu, hút thuốc. Ai cũng vui vẻ, chứa chan hy vọng trước mùa Xuân. Gặp nhau, người ta đều cầu chúc cho nhau những điều tốt đẹp nhất, gói gọn trong năm chữ “Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh”.

144. Nhạc cụ thiêng của đồng bào Tây Nguyên

Theo phong tục tập quán từ ngàn xưa, đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên thường tổ chức các lễ hội vào sau vụ thu hoạch. Đó là lễ mừng lúa mới, lễ lên nhà mới…

Vào đầu vụ gieo trồng, họ cũng làm lễ tìm rẫy mới, lễ cúng bến nước, lễ cầu mưa. Ngoài ra còn những sự kiện bất thường như lễ tang, lễ cưới...

Ngoài việc cầu xin sự trợ giúp của thần linh, lễ hội cũng là nơi thể hiện nghệ thuật âm nhạc dân gian dưới hình thức diễn xướng. Trong các lễ hội, âm nhạc dân gian đảm nhiệm hai chức năng: tạo không khí thiêng liêng, trang trọng khác thường của ngày lễ, đồng thời là phương tiện giúp người thầy cúng chuyển tải được những lời cầu khấn đến các thần linh, nhờ vào các nhạc cụ đặc biệt là dàn cồng chiêng. Vì thế, cồng chiêng đã trở thành loại nhạc cụ có vị trí quan trọng hàng đầu trong sinh hoạt nghi lễ và lễ hội truyền thống.

Chiêng là một đặc trưng văn hóa cổ của đồng bào Tây Nguyên, có mặt ở hầu hết các sinh hoạt văn hóa quan trọng trong đời người, trong tất cả các nghi lễ lớn và nhỏ của gia đình, của buôn làng. Chiêng tham gia vào mọi sinh hoạt, nghi lễ với các ý nghĩa khác nhau, nhằm ứng xử với thế giới bên ngoài con người ở các góc độ khác nhau. Vì thế, chiêng là nhạc cụ trung tâm của sinh hoạt nghi lễ và lễ hội, là loại nhạc cụ “thiêng” có vị trí rất quan trọng trong đời sống tinh thần, tâm linh của các dân tộc ở Tây Nguyên.

Chiêng là loại nhạc cụ thuộc bộ gõ có định âm, nhóm tự thân vang, tức là âm thanh được tạo lên bằng cách tác động trực tiếp lên nhạc cụ. Chiêng có hình vành khăn, được làm bằng chất liệu hợp kim mà thành phần chủ yếu là đồng trộn với vài loại kim loại khác như thiếc, bạc, vàng…

Chiêng ở Tây Nguyên không được sử dụng từng chiếc đơn lẻ, mà kết nối nhau thành dàn, mỗi dàn từ ba chiếc trở lên, có hình dáng và kích thước khác nhau, chiếc nhỏ nhất có đường kính khoảng 10-15cm và đường kính chiếc lớn nhất có thể trên 90cm. Trong một dàn chiêng thì chiêng mẹ là quan trọng nhất.

Có hai loại chiêng thường được sử dụng ở Tây Nguyên là chiêng có núm, còn gọi là cồng, và chiêng dẹt. Việc sử dụng chiêng có núm hay chiêng dẹt không chỉ đơn giản do hình thức của chiêng, mà còn bao hàm nhiều ý nghĩa văn hóa, thẩm mỹ khác nhau.

Tất cả các dân tộc ở Tây Nguyên không dùng riêng một loại chiêng dẹt hay chiêng có núm, mà luôn kết hợp chúng nhau, trong đó chiêng có núm - tức là cồng - đánh bè trầm, còn chiêng dẹt thể hiện giai điệu.

Trong các dịp nghi lễ, các dàn cồng chiêng không chỉ làm nhiệm vụ điểm nhịp, đi tiết tấu, hoặc giai điệu một bè, mà còn hòa tấu đa âm. Cồng, chiêng có thể được gõ bằng dùi hoặc đấm bằng tay. Có người còn áp dụng các kỹ thuật khác như chặn tiếng bằng tay trái, hoặc tạo giai điệu riêng trên một chiếc chiêng…

Mỗi bài chiêng có nhiều bè, trong đó, mỗi cá nhân sử dụng một cái chiêng. Bài chiêng quy định bao nhiêu chiêng thì có bấy nhiêu người sử dụng chiêng. Những người đánh chiêng phải nhớ rất rõ các tiết tấu của bài chiêng để khi trình diễn thì phối hợp với nhau một cách hài hòa, tạo nên những âm thanh trầm bổng, hào hùng.

Đồng bào Tây Nguyên có nhiều cách đánh cồng chiêng rất phong phú: Người Ba Na và người Gia Rai có phương pháp đánh chỉ điệu (một bài trầm đánh trên vài giai điệu), người Êđê đánh theo cách thức từng chùm, người M’Nông, người Chu ru, người K’Ho... đều có những cách đánh khác nhau. Cồng chiêng Tây Nguyên đã được tổ chức UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại vào ngày 25/11/2005.

Trong những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, sự xuất hiện ngày càng nhiều nền văn hóa hiện đại Tây phương cùng với những thay đổi trong nếp sinh hoạt thường ngày đã làm cho sự quan tâm đến cồng chiêng dần bị phai nhạt. Những nghệ nhân đánh cồng chiêng tuổi ngày càng lớn mà lực lượng kế thừa thì gần như không đáng kể, do đó số lượng dàn cồng chiêng đã suy giảm đến mức nghiêm trọng.

Để chống lại nạn chảy máu cồng chiêng, các tỉnh Tây Nguyên đã có nhiều chính sách cho những gia đình, những người gìn giữ dàn cồng chiêng, những nghệ nhân đánh chiêng, chỉnh chiêng. Đã có nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng cho lớp trẻ học tập kỹ thuật đánh chiêng và chỉnh chiêng, với sự hướng dẫn của những nghệ nhân có trình độ cao, nhằm góp phần gìn giữ và phát triển văn hóa cồng chiêng.

Việc Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắc Lắc tổ chức Festival Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên 2007 - ngày hội của các dân tộc Tây Nguyên (từ 21 đến 24/11) - một cách bài bản để tôn vinh văn hóa cồng chiêng là một điều rất đáng mừng. Hình ảnh trên bài báo này phản ánh phần nào không khí lễ hội ở Buôn Ma Thuột những ngày festival.

 

 

 

145. Những phong tục hay của lễ hội Đền Hùng

Hằng năm, nhằm ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba, nhân dân từ nhiều nơi tới đây để tưởng niệm các Vua Hùng đã có công dựng nước. Nhưng không phải ai cũng biết rõ những phong tục xung quanh việc thờ cúng các Vua Hùng - những hoạt động văn hóa dân gian mà người xưa đã tạo dựng để minh họa thêm cho tín ngưỡng dân tộc thuộc thời đại các vua Hùng.

Đền Lạn và cỗ thịt gà

Các Vua Hùng hay đi săn ở vùng chân núi. Sau mỗi lần săn về, Vua Hùng ngồi nghỉ ở đồi Lạn (nay thuộc thôn Thọ Khảo, xã Phù Ninh). Tùy tòng đem chim ra mổ, lấy lòng quấn với củ kiệu rồi nướng cho mọi người ăn, còn chim thì để cả con mang về. Đời sau, dân Thọ Khảo lập đền thờ Vua Hùng trên đồi Lạn, hằng năm tổ chức cúng tế. Lễ vật là gà để cả con (tượng trưng cho chim săn được) và bộ lòng gà quấn củ kiệu nướng chín. Lễ xong, người ta chia đều cho dân đinh.

Phong tục này có thể nhằm nhắc lại chuyện săn bắt của các Vua Hùng, mà cũng có thể là ánh hồi quang của lối săn bắn tập thể thời công xã nguyên thủy, khi đó muông thú săn được đem chia đều cho mọi thành viên của bộ lạc.

Làng Cổ Tích với cỗ xôi nhiều màu

Hằng năm, đến ngày Giỗ Tổ, dân làng Cổ Tích thường đem cúng bánh dày và xôi. Bánh dày liên quan đến câu chuyện về Lang Liêu mà nhiều người đã biết. Còn xôi thì thật là đặc biệt, ngoài xôi trắng ra còn có xôi được nhuộm đỏ và màu tím. Việc nhuộm màu xôi nhằm nhắc lại những giống lúa khác nhau đã được trồng từ thời Hùng Vương. Đó chính là tín ngưỡng hiến tế bằng những sản phẩm lao động, thể hiện sáng tạo của tổ tiên, cũng là tín ngưỡng phồn thực cầu sinh sôi nảy nở, phát triển khôn cùng.
Làng Trẹo và tục rước chúa ông, chúa bà

Làng Trẹo (tên chữ là Triệu Phú) có tục rước rất vui, bắt nguồn từ sự tích Tản Viên đón Ngọc Hoa. Số là sau khi thắng Thủy Tinh trong việc dẫn nạp đồ lễ cưới, Sơn Tinh- Tản Viên được đón mị nương Ngọc Hoa về núi Tản (thời đó, con trai vua gọi là quan lang, con gái vua gọi là mị nương). Nhưng vì Ngọc Hoa nhớ cha mẹ nên chỉ mới đi đến làng Trẹo đã không chịu đi nữa, nàng ngồi xuống một phiến đá. Sơn Tinh phải vào làng nhờ dân giúp đỡ. Thế là mọi người kéo ra đón chào Ngọc Hoa. Họ bày các trò vui để Ngọc Hoa nguôi nỗi nhớ nhà. Người thì múa nhảy, người thì hát hò. Cuối cùng, Ngọc Hoa bằng lòng lên kiệu và đám rước lại lên đường.
Cho đến năm 1945, đám rước chúa ông, chúa bà diễn ra như sau: đi đầu là những người giơ cao các bó lúa, rồi tới những người cầm cày, bừa, dao, cuốc. Vừa đi, họ vừa lúc lắc nông cụ, vừa nói bông lơn. Cuối đám rước là những người đi săn, đánh cá trên vai lỉnh kỉnh cung tên, lưới, đòng... Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa nhận ra rằng bên cạnh câu chuyện về một đám cưới giữa hai gia đình tù trưởng thuộc hai bộ lạc khác nhau, tục rước này còn có thể là ngày hội “trình nghề” của cư dân nông nghiệp thời cổ sơ vốn chưa có sự tách biệt giữa các nghề trồng trọt, săn bắt, chài lưới.

Tóm lại, điểm qua một số phong tục quanh lễ hội khu vực Đền Hùng, ta thấy khu vực này đúng là dải đất cổ còn bảo lưu nhiều lớp tín ngưỡng nguyên thủy, xứng đáng được coi là cái nôi của toàn dân tộc Việt.

146. Tết Việt 500 năm trước

Tết đến xuân về là thời khắc đặc biệt của dân ta. Ngày nay chúng ta đón Tết cơ bản theo những tục lệ cổ truyền, có bổ sung những tục lệ mới phù hợp lối sống mới, hoàn cảnh sống mới. Vậy chuyện đón xuân "cổ truyền" 500 năm trước của dân ta như thế nào?

Văn học thành văn nước ta 500 năm trước có rất ít tác phẩm mô tả phong tục tập quán. Tuy nhiên, chỉ dựa vào "Tứ thời khúc vịnh" của Thượng thư Hoàng Sĩ Khải và "Phong thành xuân sắc" của Trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh, những tác giả vùng Kinh Bắc, ta có thể hình dung ra cảnh đón xuân thời đó khá rõ nét.

Tiết lập xuân, Nhà nước tổ chức nghi thức đón xuân ở ngoại ô phía đông kinh thành. Dân gian làm tấm thiếp bằng vải thêu, hoặc giấy vẽ ngũ sắc để treo, dán ở trên cửa sổ. Trên thiếp viết chữ "Nghi xuân" nghĩa là "hợp với mùa xuân". Ở các làng quê người ta cưỡi trâu, đánh cho trâu tế lồng lên, hàm ý đuổi khí âm, rước khí dương trở về.

Trong bữa cỗ ngày Tết và ngày lập xuân, nhà nào cũng có món nộm, gồm năm thứ cay là: hành, tỏi, hẹ, răm, cải trộn lẫn nhau, gọi là "Ngũ tân" để ngụ ý đến năm mới, vì tiếng Hán "tân" là cay đồng âm với "tân" là mới. Rượu thì có loại rượu tô, rượu bách để trừ khí độc, tăng tuổi thọ.

Sáng ngày mồng một Tết, các nhà còn đốt cây trúc cho phát ra tiếng nổ ở ngoài sân để xua đuổi tà ma. Về sau người ta đốt pháo trộn hương liệu thơm để thay cho đốt trúc. Nghề làm pháo ra đời từ đó.

Ngoài việc treo thiếp "Nghi xuân" ở cửa sổ, người ta còn trang trí "Bùa đào" ở cửa nhà. Ðó là hai miếng gỗ đào vẽ tượng hai vị thần Thân Thư, Uất Luật để trấn áp ma quỷ. Lại có tranh Chung Quỳ, một nhân vật có thật đời Ðường, sau khi chết thường hiển linh bắt ma quỷ, và tranh gà cũng nhằm mục đích trừ ma quỷ. Chưa yên tâm, bên trong cửa ra vào người ta còn treo thiếp yểm không cho ma quỷ vào nhà quấy nhiễu.

Trong những ngày Tết người ta thường tắm bằng nước đun với hoa và lá đào, sau thay bằng nước đun với thân cây mùi già, mùi thơm dịu và bền. Với con gái lớn thì vẽ hoa mai năm cánh ở trán để trang điểm, vừa đài các, vừa là dấu hiệu "phòng không". Việc tắm nước lá và hoa đào, vẽ hoa mai ở trán cũng còn là biện pháp phòng trừ ma quỷ cho riêng từng người.

Tục treo tranh Chung Quỳ và tranh gà ngày Tết kéo theo những làng nghề, làm tranh dân gian, trong đó còn tồn tại làng tranh Ðông Hồ nổi tiếng. Từ vẽ tranh Tết, các nghệ nhân đã mở rộng đề tài, tạo nên hàng trăm mẫu tranh mới. Riêng tranh gà cũng có đến hàng chục mẫu khác nhau. Làng tranh Ðông Hồ lại tìm ra những nguyên liệu đặc biệt để vẽ tranh tạo nên một dòng tranh dân gian độc đáo, có sức thu hút với cả người nước ngoài, đó là điều để tranh Ðông Hồ vươn ra thế giới.

Ngày Tết ở kinh thành, triều đình làm núi đèn bằng lụa ngũ sắc làm nơi vui chơi cho dân. Thời Lý, vua Lý Thái Tổ thấy việc này tốn kém nên đã từng xuống chiếu bãi bỏ. Người ta cũng trang trí đường đi bằng các thứ cây hoa tươi để ngắm cảnh ngày Tết. Trò vui phổ biến ở kinh thành là trò đá cầu. Trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh viết: "Trai lanh lẹn đá cầu vén áo. Gái éo le rủ yếm dôi quần".

Trong cung vua, các bà phi dâng thơ chúc thọ vua, các quan cũng dâng biểu chúc thọ vua, còn các quan hầu cận nổi nhạc, thúc trống cho hoa nở và dâng vua rượu quý mừng xuân.

Soi vào lệ cổ, ngày nay ta thấy thú chơi tranh và cây hoa ngày Tết là còn thịnh hành nhất. Tục đốt pháo cũng đã rất thịnh hành, tuy nhiên quá trình sản xuất và sử dụng pháo có chiều hướng gây thương vong cho người ngày một tăng nên nước ta đã cấm sử dụng. Các tỉnh chuyển sang bắn pháo hoa nơi công cộng.

147. Tết của người thiểu số ở Việt Nam

Việt Nam có 54 dân tộc anh em, trong đó đa phần là các dân tộc thiểu số sinh sống ở các tỉnh trung du, miền núi. Mỗi dân tộc lại có những phong tục Tết mang đặc trưng riêng...

Tết của Người MôngDân tc Mông gồm nhiều nhóm: Mông Đơ (Mông Trắng), Mông Lềnh (Mông Hoa), Mông Sí (Mông Đỏ), Mông Đú (Mông Đen), Mông Súa (Mông Mán). Hiện số dân của họ khoảng 558.000 người, cư trú tập trung ở miền núi vùng cao thuộc các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Nghệ An.

Người Mông có một hệ lịch riêng, theo nhận định của các nhà nghiên cứu, có lẽ họ tiếp thu cách tính lịch của dân tộc Di (Trung Quốc). Theo đó, Tết của họ vào khoảng cuối tháng 11, đầu tháng 12 âm lịch của Âm Dương hợp lịch mà ngày nay chúng ta sử dụng. Tuy nhiên, ngày nay đa số các vùng người Mông đã ăn Tết Nguyên Đán như người Kinh, chỉ trừ một bộ phận nhỏ, chẳng hạn người Mông ở Mộc Châu vẫn duy trì song song Tết theo hệ lịch riêng của họ.

Ngày 25, 26 tháng Chạp, người Mông bắt đầu nghỉ ngơi chuẩn bị đón Tết. Khi đó, họ phong tất cả các công cụ sản xuất lại, ví dụ như các lò rèn phải làm lễ đóng lò, cối xay ngô tháo ra, dán một tờ giấy bản lên rồi làm lễ với gà, bánh ngô, rượu.

Trước đây người Mông không gói bánh chưng. Bây giờ thì có gói, nhưng bánh chưng không nhất thiết có trong bữa cỗ Tết của họ. Với họ, ba món không thể thiếu là thịt và rượu và bánh ngô.

Người Mông không đón giao thừa. Đối với họ, tiếng gà gáy đầu tiên của sáng sớm mùng Một mới là cái mốc đánh dấu một năm mới bắt đầu. Tối hoặc nửa đêm 30, người ta cúng ma nhà (tổ tiên) bằng một con lợn sống, một con gà còn sống (và phải là gà trống, mà tốt nhất là gà trống tơ). Sau đó mới mang lợn và gà ấy đi giết thịt (nhà nào giàu có thì thịt một con lợn từ 28, 29 để ăn trước). Thịt xong đem cúng một mâm thịt chín, rồi ăn cơm uống rượu đến khi nghe thấy tiếng gà gáy đầu tiên.

Các nhóm Mông có phong tục hơi khác nhau nhưng về đại thể đều rất quan trọng lúc cúng ma nhà bằng lợn và gà sống vào tối 30. Từ mùng 1 trở đi họ mặc quần áo mới, đi hài đi chơi. Ném papao là một trong những trò chơi ngày Tết mà người Mông rất thích; ngoài ra còn múa khèn, múa ô, chơi cầu lông gà, hát ống, hát dân ca, đua ngựa, bắn nỏ...

Đặc biệt, nói đến Tết của người Mông không thể không nói đến một lễ hội gọi là hội Sải Sán hay Gầu tào (hội cầu phúc). Một gia đình trong làng, nếu hay đau ốm hay chậm có con thì mùng 2