trang Blog

silver_zonzonTham gia: 27/10/2007
  • Phân tích bài thơ vội vàng của Xuân Diệu
    Sáng Tác
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Phân tích bài thơ vội vàng của Xuân Diệu

    Tôi muốn tắt nắng đi
    Cho màu đừng nhạt mất;
    Tôi muốn buộc gió lại
    Cho hương đừng bay đi.
    Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
    Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
    Này đây lá của cành tơ phơ phất
    Của yến anh này đây khúc tình si
    Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
    Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa
    Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
    Tôi sung sướng. Nhưng
    vội vàng một nửa
    Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
    Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
    Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
    Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
    Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
    Không cho dài thời trẻ của nhân gian
    Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
    Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
    Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
    Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
    Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,
    Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt.
    Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
    Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
    Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
    Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
    Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…
    Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,
    Ta muốn ôm
    Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
    Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
    Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
    Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
    Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
    Cho chuếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng,
    Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
    Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

    Xuất xứ,
    chủ đề

    1. Rút trong tập “Thơ thơ”, tập thơ đầu của
    Xuân Diệu, xuất bản năm 1938.

    2. Tuổi trẻ rất đẹp, rất đáng yêu. Một đời người chỉ có một lần
    tuổi trẻ. Phải biết quý trọng và sống hết mình với tuổi trẻ và thời
    gian.


    Phân tích

    1. Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân

    - Thiên nhiên rất đẹp đầy hương sắc của hoa “đồng nội xanh rì”, của
    lá “cành tơ phơ phất”; “Tuần tháng mật” của ong bướm. “Khúc tình si”
    của yến anh. “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”. Chữ “này đây” được 5
    lần nhắc lại diễn tả sự sống ngồn ngộn phơi bày, thiên nhiên hữu tình
    xinh đẹp thật đáng yêu. Vì lẽ đó nên phải
    vội vàng “tắt nắng đi” và “buộc gió lại”. Trong cái phi lí có sự đáng yêu của một tâm hồn lãng mạn.

    - Tuổi trẻ rất đẹp rất đáng yêu. Bình minh là khoảnh khắc tươi đẹp
    nhất của một ngày, đó là lúc “Thần Vui hằng gõ cửa”. Tháng giêng là
    tháng khởi đầu của mùa xuân, “ngon như một cặp môi gần”. Một chữ “ngon”
    chuyển đổi cảm giác thần tình, một cách so sánh vừa lạ vừa táo bạo.
    Chiếc môi ấy chắc là của giai nhân, của trinh nữ. Đây là câu thơ hay
    nhất mới nhất cho thấy màu sắc cảm giác và tâm hồn yêu đời, yêu cuộc
    sống đến cuồng nhiệt của thi sĩ
    Xuân Diệu.

    Chắc là
    Xuân Diệu viết bài thơ này trước năm 1938, lúc ông trên dưới 20 tuổi - cái tuổi thanh xuân bừng sáng, nhưng thi sĩ đã “vội vàng
    một nửa” - cách nói rất thơ - chẳng cần đến tuổi trung niên (nắng hạ)
    mới luyến tiếc tuổi hoa niên. Dấu chấm giữa dòng thơ, rất mới, thơ cổ
    không hề có. Như một tuyên ngôn về “
    vội vàng”:

    “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần,
    Tôi sung sướng. Nhưng
    vội vàng một nửa.
    Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”.


    Vội vàng vì thiên nhiên quá đẹp, vì cuộc sống quá yêu, vì tuổi trẻ quá thơ mộng. Đang tuổi hoa niên mà đã “vội vàng một nửa”… Cảm thức của thi sĩ về thời gian, về mùa xuân, về tuổi trẻ rất hồn nhiên, mới mẻ.

    2. Mua đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm.

    - Quan niệm về thời gian có nhiều cách nói. Thời gian là vàng ngọc.
    Bóng ngả lưng ta. Thời gian vun vút thoi đưa, như bóng câu (tuấn mã)
    vút qua cửa sổ, như nước chảy qua cầu. Thời gian một đi không trở lại.
    Xuân Diệu
    cũng có một cách nói rất riêng của nhà thơ: tương phản đối lập để chỉ
    ra một đời người chỉ có một tuổi xuân; tuổi trẻ một đi không trở lại.

    “Xuân đang tới, nghĩa là xuân đương qua,
    Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già.
    Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất
    Lòng tôi rộng, nhưng lượng đời cứ chật
    Không cho dài thời trẻ của nhân gian
    Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
    Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại…”


    Giọng thơ sôi nổi như nước tự mạch nguồn tuôn ra. Một hệ thống
    tương phản đối lập: tới-qua, non-già, hết-mất, rộng-chật, tuần hoàn-bất
    phục hoàn, vô hạn-hữu hạn - để khẳng định một chân lý - triết lý: tuổi
    xuân một đi không trở lại. Phải quý tuổi xuân.

    - Cách nhìn nhận về thời gian cũng rất tinh tế, độc đáo, nhạy cảm.
    Trong hiện tại đã bắt đầu có quá khứ và tương lai; cái đang có lại đang
    mất dần đi…

    Và mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật, của tạo vật hình như mang
    theo nỗi buồn “chia phôi” hoặc “tiễn biệt”, “hờn” vì xa cách, “sợ” vì
    phai tàn sắp sửa. Cảm xúc lãng mạn dào dạt trong cái vị đời. Nói cảnh
    vật thiên nhiên mà là để nói về con người, nói về nhịp sống khẩn
    trương, “
    vội vàng” của tạo vật. Với Xuân Diệu, hầu như cuộc sống nơi “vườn trần” đều ít nhiều mang “bi kịch” về thời gian.

    “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
    Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt”


    Cũng là “gió”, là “chim”… nhưng gió “thì thào” vì “hớn”, “chim”
    bỗng ngừng hót, ngừng rao vì “sợ”! Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để
    làm nổi bật nghịch lí giữa mùa xuân - tuổi trẻ và thời gian:

    “Con gió xinh thì thào trong lá biếc
    Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
    Chim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi
    Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?”


    Thi sĩ bỗng thốt lên lời than. Tiếc nuối. Lo lắng. Chợt tỉnh “mùa
    chưa ngả chiều hôm”, nghĩa là vẫn còn trẻ trung, chưa già. Lên đường!
    Phải
    vội vàng,
    phải hối hả. Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hóa làm nổi bật nỗi
    lòng vừa lo lắng băn khoăn, vừa luống cuống tiếc rẻ, bâng khuâng:

    “Chẳng bao giờ/ôi/chẳng bao giờ nữa…
    Mau đi thôi/mùa chưa ngả chiều hôm”.


    Xưa kia,
    Nguyễn Trãi viết trong chùm “thơ tiếc cảnh”:

    - “Xuân xanh chưa dễ hai phen lại
    Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên”

    (Bài số 3)


    - “Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm”

    (Bài số 7)


    Những vần thơ của
    Nguyễn Trãi giúp ta cảm nhận sắc điệu trữ tình trong “Vội vàng” về màu thời gian, về sắc thời gian và tuổi trẻ. Thật yêu đời. Thật ham sống.

    3. Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!


    - Mở đầu bài thơ là cái Tôi hăm hở: “Tôi muốn tắt nắng đi”. Kết
    thúc bài thơ là “TA”, là mọi tuổi trẻ. Một sự hòa nhập và đồng điệu
    trong dòng chảy thời gian: Sống mãnh liệt, sống hết mình. Sống nồng nàn
    say mê. Nghệ thuật trùng điệp trong diễn tả.
    Ngôn từ đậm màu sắc cảm giác, xúc giác, rạo rực: “Ta muốn ôm”, “Ta muốn riết… Ta muốn say… Ta muốn thâu…”.

    “Ta muốn ôm
    Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
    Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
    Ta muốn say cách bướm với tình yêu
    Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
    Và non nước, và cây và cỏ rạng”


    Sống cũng là để yêu, yêu hết mình. Thơ hay vì màu sắc lãng mạn. Vì
    giọng thơ sôi nổi. Nghệ thuật “vắt dòng” với ba từ “và” xuất hiện trong
    một dòng thơ làm nổi bật cảm xúc: say mê vồ vập cảnh đẹp, tình đẹp nơi
    vườn trần. Tất cả mùi thơ, ánh sáng, thanh sắc, xuân hồng… đều là khao
    khát của thi nhân:

    “Cho chếnh choáng mùi thơ, cho đã đầy ánh sáng
    Cho no nê thanh sắc của thời tươi
    Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”


    Kết luận

    Sống
    vội vàng không có nghĩa là sống gấp, ích kỷ trong hưởng thụ. “Vội vàng
    thể hiện một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt. Biết quý trọng
    thời gian, biết quý trọng tuổi trẻ, biết sống cũng là để yêu; tình yêu
    lứa đôi, tình yêu tạo vật. Tình cảm ấy đã thể hiện một quan niệm nhân
    sinh mới mẻ, cấp tiến. Bảy thập kỷ sau còn làm cho không ít người ngỡ
    ngàng!
    Xuân Diệu đã sống “vội vàng” như vậy. 50 tác phẩm, hơn 400 bài thơ tình, ông đã làm giàu đẹp cho nền thi ca Việt Nam hiện đại.

    Bài thơ “
    Vội vàng
    cho thấy một cảm quan nghệ thuật “rất đẹp, rất nhân văn, một giọng thơ
    sôi nổi, dâng trào và lôi cuốn, hấp dẫn. Có chất xúc giác trong thơ.
    Cách dùng từ rất bạo, cách cấu trúc câu thơ, đoạn thơ rất tài hoa. “
    Vội vàng” tiêu biểu nhất cho Thơ mới, thơ lãng mạn 1932-1941.

     
    Phân tích bài thơ vội vàng của Xuân Diệu