trang Blog

Law Students_CTUTham gia: 17/12/2010
  • Ý kiến về lỗi trong Luật Hình sự Việt Nam
    Xã Hội
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Ý kiến về lỗi trong Luật Hình sự Việt Nam

    I. MỞ ĐẦU

    Mặt chủ quan của tội phạm là dấu hiệu quan trọng của cấu thành tội phạm. Mặt chủ quan của tội phạm được biểu hiện thông qua ba yếu tố: lỗi, động cơ phạm tội và mục đích phạm tội. Trong đó, lỗi là dấu hiệu quan trọng nhất, là nội dung cơ bản thể hiện mặt chủ quan của cấu thành tội phạm, không xác định được lỗi thì không thể cấu thành tội phạm. Vì vậy, nghiên cứu về tính có lỗi giúp ta dễ dàng phân biệt sự giống và khác nhau giữa các hình lỗi, hạn chế sự nhầm lẫn khi phân biệt lỗi này với lỗi khác, đồng thời giúp ta hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa của tính có lỗi trong đời sống thực tiễn.

    II. KHÁI NIỆM LỖI

    1. Khái niệm lỗi

    Lỗi là thái độ tâm lý bên trong của người phạm đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra.

    Một hành vi bị xem là tính có lỗi khi có đủ hai điều kiện:

    - Hành vi trái pháp luật hình sự.

    - Hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của người thực hiện hành vi khi có khả năng và điều kiện để lựa chọn và quyết định xử sự khác không trái pháp luật hình sự.

    2. Điều kiện để xác định tính có lỗi

    Để xác định được người thực hiện hành vi nguy hiểm, gây thiệt hại cho xã hội  có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó hay không, ta cần xác đinh tính có lỗi của tội phạm.

    Khi thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội khi hội đủ hai điều kiện:

    - Không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.

    - Đạt độ tuổi theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự hiện hành.

    Ví dụ: A (20 tuổi) là người bị mộng du, thường xuyên đi trên lang cang vào lúc giữa khuya, làm B (chồng của A) rất lo lắng. Một hôm B học được mẹo hay là để con dao trên đầu nằm của A. Trong đêm, B để con dao to, sắc và nhọn trên đầu nằm của A thật, nhưng không may, A lại mộng du, A vớ con dao trên đầu nằm múa võ trong lúc B còn đang ngủ say (vì tự tin vợ mình không mộng du nữa). Bất ngờ, A đâm vào bụng B một phát, may nhờ cứu chữa kịp thời nên B còn sống và bị chấn thương 31%. Trong tình huống này, do A thực hiện hành vi của mình một cách vô thức (đang mộng du) thì không thể cho rằng hành vi của A phạm lỗi cố ý hoặc vô ý được.

    III. CÁC HÌNH THỨC LỖI

    Nội dung cơ bản cùa lỗi được hợp thành bởi hai yếu tố cơ bản là lý trí và ý chí. Sự kết hợp khác nhau giữa lý trí và ý chí tạo nên các hình thức lỗi khác nhau.

    1. Lỗi cố ý trực tiếp (khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự 1999)

    Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là có tính nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.

    - Về lý trí:Người thực hiện hành vi nhận thức rõ tính chất nguy hiểm trong hành vi của mình, thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó.

    - Về ý chí: Tuy nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi của mình nhưng người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra.

    Ví dụ: Vì muốn giết B nên A đã bắt cóc B và trói B lại, A cầm súng ngắn đã lên đạn dí vào ngực B và bóp cò dẫn đến B chết. Trong trường hợp này, A nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật hình sự ngăn cấm, thấy được hậu quả nổ súng sẽ gây ra cái chết cho B, và mong muốn hậu quả đó xảy ra.

    2. Lỗi cố ý gián tiếp (khoản 2 Điều 9 Bộ Luật hình sự 1999)

    Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ tính nguy hiểm co xã hội của hành vi của mình, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

    - Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hành vi đó có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội.

    - Về ý chí: Người phạm tội không mong muốn cho hậu quả xảy ra, nhưng có ý thức bỏ mặc cho hậu quả nguy hiểm xảy ra do chính hành vi của mình.

    Ví dụ: Nhà ông A kinh doanh hoa cảnh, để phòng ăn trộm lấy mất những cây quý sắp đem bán tết, ông đã câu dây điện trần xung quanh hàng rào và đóng cầu dao điện từ giữa đêm đến sáng. B tiệc về khuya, trong người đã có hơi men nên ngã vào hàng rào nhà ông A và bị điện giật chết. Như vậy, ông A mặc dù không muốn B chết nhưng ông  hoàn toàn có thể nhận thức được hành vi rào điện chống trộm của mình là có thể gây ra hậu quả chết người, nhưng ông A vẫn chấp nhận hậu quả chết người nếu có người nào vào trộm cây nhà ông.

    3. Lỗi vô ý vì quá tự tin (khoản 1 Điều 10 Bộ Luật hình sự 1999)

    Lỗi vô ý vì quả tự tin là lỗi trong trường hợp người phạm tội tuy thấy hành vi của mình có thể gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên vẫn thực hiện và đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội.

    - Về lý trí: Người phạm tội thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội.

    - Về ý chí: Người phạm tội không chấp nhận hậu quả tác hại cho xã hội: “nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được”. Người phạm tội thấy trước được hành vi của mình có thể gây ra nguy hại cho xã hội nhưng tin rằng với khả năng, kinh nghiệm, với các biện pháp mình áp dụng, cách thức, phương tiện thực hiện, các điều kiện chủ quan, khách quan khác mà hậu quả tác hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được...nhưng hậu quả nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra.

    Ví dụ: Trong lúc đi săn, A nhìn thấy con thú đứng cạnh một người đi nhặt củi, A tự tin vào tài thiện xạ của mình có thể bắn trúng con thú nhưng không ngờ, khi A nổ súng con thú chạy và viên đạn bắn trúng người đi nhặt củi làm người đó chết tại chỗ. Trong tình huống này, A nhận thức được việc ngắm bắn con thú nếu lạc đạn có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng của người đang nhặt củi, nhưng A vẫn thực hiện vì tin vào tài thiện xạ của mình, vì vậy, hành vi của A phạm lỗi vô ý vì quá tự tin.

    Cũng trong ví dụ trên, nếu A diện cớ phạm lỗi vô ý vì quá tự tin nhưng nhằm mục đích chính là giết người nhặt củi với ý đồ trả thù thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người (Điều 93) với lỗi cố ý trực tiếp.

    4. Lỗi vô ý do cẩu thả (khoản 2 Điều 10 Bộ Luật hình sự 1999)

    Lỗi vô ý do cẩu thả là trong trường hợp người phạm tội đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng do cẩu thả nên không thấy trước được khả năng gây ra hậu quả đó mặc dù được điều kiện khách quan buộc họ phải thấy trước hoặc có thể thấy trước hậu quả đó.

    - Về lý trí: người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nguy hại cho xã hội.

    - Về ý chí: người phạm tội khi thực hiện hành vi đáng ra “phải thấy trước và có thể thấy trước” hậu quả nguy hiểm cho xã hội sẽ xảy ra.

    Ở hình thức lỗi này, người phạm tội không nhận thức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra. Có thể có hai trường hợp người phạm tội không thấy trước được hậu quả của hành vi:

    - Trường hợp thứ nhất, người phạm tội không nhận thức được khả năng gây ra hậu quả từ hành vi của mình và cũng không nhận thức được hậu quả xảy ra. Ví dụ: bảo vệ ngủ quên dẫn đến tài sản của công ty bị mất trộm.

    - Trường hợp thứ hai, người phạm tội có thể nhận thức khả năng gây ra hậu quả từ hành vi của mình nhưng không nhận thức được hậu quả xảy ra. Ví dụ: Một người băng ngang đường một cách vô thức (không nhìn trước nhìn sau) làm cho hai xe chạy ngược chiều nhau vì tránh người này mà xảy ra tai nạn làm hai người lái xe tử vong.

    Lỗi vô ý do cẩu thả còn được xác định với điều kiện là người phạm tội “phải thấy trước”“có thể thấy trước” hậu quả nguy hiểm cho xã hội sẽ xảy ra. “Phải thấy trước” ở đây là quy định của pháp luật buộc họ khi ở vào hoàn cảnh, điều kiện đó bắt buộc phải thấy hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội. “Có thể thấy trước” có thể hiều là với độ tuổi, năng lực trách nhiệm pháp lý,  trình độ văn hoá, khả năng chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, kiến thức xã hội,... của một người bình thường thì người thực hiện hành vi có thể thấy trước hậu quả của hành vi đó.

    5. Một số trường hợp đặc biệt về lỗi

    a) Trường hợp hỗn hợp lỗi

    Trường hợp hỗn hợp lỗi là trường hợp trong cùng một cấu thành tội phạm có hai loại lỗi (cố ý và vô ý) đối với những tình tiết khách quan khác nhau.

    Hỗn hợp lỗi chỉ xảy ra trong trường hợp có cấu thành tội phạm tăng nặng của các tội phạm cố ý với tình tiết định khung tăng nặng là hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Ví dụ, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của người khác (Điều 104) có lỗi cố ý là làm tổn hại đến sức khoẻ con người, nhưng trường hợp gây hậu quả chết người (khoản 3 Điều 104) thì còn có thêm lỗi vô ý làm chết người.

    “Hỗn hợp lỗi” khác với “lỗi hỗn hợp” ở chỗ:

    Hỗn hợp lỗi

    Lỗi hỗn hợp

    Trong cùng một cấu thành tội phạm có hai loại lỗi (cố ý và vô ý) đối với những tình tiết khách quan khác nhau.

    Trường hợp có hành vi gây thiệt hại cho xã hội nhưng đó là kết quả của nhiều bên có lỗi: có lỗi của người phạm tội, người bị hại hoặc lỗi của người thứ ba.

    Ví dụ: Tội huỷ hoại hoặc cố ý kàm hư hỏng tài sản (Điều 143) có lỗi cố ý làm hư hỏng tài sản, nếu phá hoại tài sản gây chết người (tình tiết định khung tăng nặng) thì có thêm lỗi vô ý làm chết người.

    Ví dụ: Trong một vụ tai nạn giao thông có thề có lỗi bất cẩn của người người gây thiệt hại và người bị hại, hoặc có một người nào đó gây chướng ngại.

     

    b) Sự kiện bất ngờ (Điều 11 Bộ luật hình sự)

    Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ, tức là trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Là một sự kiện xảy ra trên thực tế gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng người thực hiện hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự vì hành vi đó không có mối liên hệ về lý trí, ý chí của người thực hiện hành vi. Họ không nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, cũng như hậy quả nguy hiểm cho xã hội có thể xảy ra và họ cũng “không bị buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó”.Ví dụ: Một người say rượu băng ra giữa đường và lao vào xe tải dẫn đến người say rượu tử vong.

    IV. PHÂN BIỆT CÁC HÌNH THỨC LỖI

    Mặc dù giữa các hình thức lỗi có dấu hiệu nhiều riêng để phân biệt, nhưng trong thực tiễn, chúng ta thường dễ nhầm lẫn các hình thức lỗi với nhau, đặc biệt là các cặp lỗi: cố ý gián tiếp và vô ý vì quá tự tin, vô ý vì quá tự tin và vô ý do cẩu thả, vô ý do cẩu thả và sự kiện bất ngờ.

    1. Phân biệt giữa lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp

    Giữa lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp, ta dễ dàng phân biệt chúng vì chúng có những điểm khác nhau khá rõ ràng. Dưới đây là bảng phân biệt lỗi hai hình thức lỗi trên.

    Phân biệt lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp

     

    Cố ý trực tiếp

    Cố ý gián tiếp

    Giống nhau

    Về lý trí: đều nhận thức rõ hành vi của mình có tính chất nguy hiểm cho xã hội.

    Khác nhau

    Người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra.

    Người phạm tội tuy không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng bỏ mặc cho hậu quả xảy ra, họ thể hiện thái độ thờ ơ với lợi ích bị xâm hại, thái độ chấp nhận hậu quả nguy hiểm cho xã hội nếu hậu quả xảy ra mặc dù không mong muốn.

    Người phạm tội ý thức hành vi của mình chắc chắn sẽ gây ra hậu quả làm thiệt hại cho các lợi ích hợp pháp, hành vi đó là vi phạm pháp luật, là bị pháp luật ngăn cấm.

    Người phạm tội tuy ý thức được hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội nhưng ở mức độ thấp hơn: “hành vi đó có thể xảy ra” (thể hiện niềm tin nội tâm không chắc chắn với hậu quả từ hành vi của mình, có thể xảy ra tức là xảy ra hoặc không xảy ra).

    2. Phân biệt lỗi cố ý gián tiếp và vô ý vì quá tự tin

    Phân biệt lỗi cố ý gián tiếp và lỗi vô ý vì quá tự tin

     

    Cố ý gián tiếp

    Vô ý vì quá tự tin

    Giống nhau

    Về lý trí: đều nhận thức được hành vi của mình có tính chất nguy hiềm cho xã hội.

    Về ý chí: không mong muốn hậu quả xảy ra.

    Khác nhau

    Người phạm tội bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.

    Người phạm tội không bỏ mặc cho hậu quả.

     Người phạm tội ý thức được hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội “có thể xảy ra” (thể hiện tâm lý không chắc chắn với hậu quả từ hành vi của mình, có thể xảy ra tức là xảy ra hoặc không xảy ra).

    Người phạm tội ý thức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội từ hành vi của mình có thể xảy ra nhưng tự tin hậu quả không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

    Tuy những dấu hiệu phân biệt hai dạng lỗi cố y gián tiếp và lỗi vô ý vì quá tự tin khá rõ ràng, nhưng trong thực tế vẫn nảy sinh một số vấn đề làm ta dễ nhầm lẫn với hai dạng lỗi trên. Trở lại ví dụ phần hình thức lỗi cố ý gián tiếp (mục 2 phần III), nếu lúc ông A câu dây điện trần vào hàng rào và đặt bảng báo nguy hiểm có sơn chữ dạ quang ở bốn phía khu vườn nhà mình là: “Cẩn thận! Coi chừng điện giật”. Nhưng vì B say không thấy bảng báo nên đã ngã vào hàng rào nhà ông A và bị điện giật chết. Vậy trong tình huống vừa đặt ra hành vi của ông A phạm lỗi gì? Có nhiều người đáp rằng hành vi đó phạm lỗi vô ý vì quá tự tin, vì ông A đã ý thức được câu dây điện vào hàng rào sẽ có thể gây nguy hại đến tính mạng người ăn trộm và cả người đi đường, nhưng ông lại tự tin rằng đặt bảng báo nguy hiểm có sơn dạ quang ở bốn phía khu vườn thì ai cũng thấy được và tránh xa hàng rào của ông, nào ngờ hậu quả xảy ra ngoài mong muốn là B say rượu không thấy bảng nguy hiểm nên ngã vào hàng rào. Thật ra đáp án chính xác vẫn là lỗi cố ý gián tiếp vì ông A ý thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện, ông đặt bảng báo nguy hiểm nhưng lại bỏ mặc, thờ ơ với hậu quả xảy ra:  nếu ai không thấy bảng báo nguy hiểm va vào hàng rào nhà ông thì bị điện giật.

    3. Phân biệt lỗi vô ý vì quá tự tin và vô ý do cẩu thả

    Phân biệt lỗi vô ý vì quá tự tin và vô ý do cẩu thả

     

    Vô ý vì quá tự tin

    Vô ý do cẩu thả

    Giống nhau

    Về ý chí: không mong muốn hậu quả xảy ra và không để mặc hậu quả xảy ra.

    Khác nhau

    Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có thể gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội.

    Người phạm tội không nhận thức được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, cũng như hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thể xảy ra.

    Giữa lỗi vô ý do cẩu thả và vô ý vì quá tự tin dễ bị nhầm lẫn trong các trường hợp tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Ví dụ: A đang lái xe trên đường trường, trời đã gần tối nhưng vào đêm trăng tròn nên đường đi vẫn còn sáng, A cũng không chú ý việc bật đèn xe. Đến một quãng đường hẹp, mặt trăng bỗng bị mây che, xe A đâm sầm vào một bà lão mắt yếu đang băng qua đường trên vạch cho người đi bộ, làm bà lão chết tại chỗ. Ở đây hành vi của A phạm lỗi vô ý do cẩu thả vì A có điều kiện để nhận thức được việc không bật đèn xe vào buổi tối có thể gây tại nạn giao thông, nhưng A không nhận thức được hành vi của mình có thể gây nguy hiểm cho người đi đường. Nếu như trong tình huống trên có thêm dữ kiện là A ỷ mình thuộc đường như trong lòng bàn tay và thấy trăng sáng nên không bật đèn xe thì lỗi từ hành vi của A là vô ý vì quá tự tin.

    Ngoài ra, trong một số trường hợp, người phạm tội còn lợi dụng lỗi vô ý do cẩu thả  từ việc gây tai nạn giao thông để phục vụ cho những mục đích xấu xa như trả thù, giết thuê,… Những hành vi trên sẽ quy vào lỗi cố ý trực tiếp.

    4. Phân biệt lỗi vô ý do cẩu thả và sự kiện bất ngờ

    Phân biệt lỗi vô ý do cẩu thả và sự kiện bất ngờ

     

    Vô ý do cẩu thả

    Sự kiện bất ngờ

    Giống nhau

    Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nguy hại cho xã hội.

    Khác nhau

    Người thực hiện hành vi phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả nguy hiểm xảy ra.

    Người thực hiện hành vi khôngthể thấy trước và không buộc phải thấy trước hậu quả nguy hiểm xảy ra.

    Giữa lỗi vô ý do cẩu thả và sự kiện bất ngờ cũng có những tình huống khiến ta nhầm lẫn. Ví dụ: B (đủ 18 tuổi) được mẹ nhờ đi chợ mua con dao gọt trái cây, trên đường từ chợ về nhà, B gặp A (người đã từng đánh B bị thương nằm bệnh viện ba tháng vì nghi ngờ B tố cáo hắn hút thuốc trong trường) và A nhớ lại thù xưa nên tiếp tục doạ đánh B. Vì ốm yếu hơn nên B bỏ chạy, A đuổi theo, đến một quãng vắng thì B đuối sức không thể chạy nỗi nữa. A xông lại định đánh B thì B rút con dao mới mua ra chỉ vào mặt A và nói: “đừng bước tới đây”, nhưng A không nghe, hắn vẫn tiếp tục xông tới định đánh B. Hễ B cầm con dao cànglùi thìA càngtiến lại, không may A vấp phải hòn đá dưới chân và ngực A đâm thẳng vào con dao của B. B gọi người đến cấp cứu, vì vết thương thấu tim nên A đã chết. Trong tình huống này, có người cho rằng hành vi của B gây ra cái chết của A chỉ là sự kiện bất ngờ vì B chỉ muốn tự vệ nên mới rút con dao ra với mục đích là muốn A đừng đánh mình, A vấp phải hòn đá nên ngã vào con dao B đang cầm mà chết (sự kiện bất ngờ), B không thể biết trước hậu quả là làm cho A chết, nên B không có lỗi. Nhưng tình huống này lại có một phần lỗi của B, vì lúc B rút con dao ra là B có đủ điều kiện để biết việc rút con dao có thể làm tổn thương đến A nếu A liều lĩnh quá, vậy theo quan điểm của người thực hiện bài báo cáo thì hành vi của B phạm lỗi vô ý do cẩu thả.

    V. Ý NGHĨA CỦA LỖI TRONG LUẬT HÌNH SỰ

    - Lỗi là một trong những nguyên tắc cơ bản và rất quan trọng của luật hình sự, không có lỗi thì không thể cấu thành tội phạm.

    - Lỗi là một nội dung cơ bản thể hiện mặt chủ quan của cấu thành tội phạm, là căn cứ để phân loại các cấu thành tội phạm.

    - Lỗi là một trong những yếu tố xác định tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, lỗi là một trong những căn cứ để quy định hình phạt đối với từng loại tội phạm.

    - Lỗi là cơ sở trực tiếp để Toà án quyết định hình phạt trong từng trường hợp cụ thể.

    VI. KẾT LUẬN

    Lỗi là một dấu hiệu rất quan trọng trong cấu thành tội phạm nhưng ta phải chú ý  không xác định lỗi độc lập với hành vi nguy hiểm cho xã hội, vì lỗi luôn đi kèm với hành vi phạm tội. Ngoài ra, trong lúc xác định hình thức lỗi không nên nhìn một cách phiến diện mà nên chú ý tới hoàn cảnh, điều kiện khách quan; năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể, tính trái pháp luật của hành vi phạm tội, động cơ, mục đích phạm tội,... không ngừng nghiên cứu, thực tập xác định hình thức lỗi để hoàn thiện hơn khả năng nhận thức về cấu thành tội phạm.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Bộ Luật Hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung 2009).

    2. Lô Văn Lý, Về loại tội phạm có hai hình thức lỗi, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 6/2002.  

    3. Phạm Văn Beo, Luật hình sự Việt Nam Quyển 1(phần chung), Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.

    4. Trần Minh Hưởng,Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự (đã được sửa đổi, bổ sung), Nxb.Hồng Đức, Hà Nội, 2011.

    Ý kiến về lỗi trong Luật Hình sự Việt Nam