trang Blog

RTham gia: 29/01/2012
  • CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ PHƯƠNG HƯỚNG
    Xã Hội
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ PHƯƠNG HƯỚNG

    Bài 2

    CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ PHƯƠNG HƯỚNG

    ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

              I. ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI – MỘT SỰ LỰA CHỌN HỢP QUY LUẬT, HỢP LÒNG DÂN

              Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là bài học lớn xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam, là con đường duy nhất đúng mà Đảng ta và dân tộc Việt Nam đã lựa chọn.

              Thực tiễn cách mạng Việt Nam gần một thế kỷ qua cho chúng ta nhận thức sâu sắc hơn bài học độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sự gắn kết giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cũng chính là con đường tất yếu khách quan, hợp với quy luật phát triển của đất nước, hợp lòng người. Đó là sự lựa chọn của lịch sử, của nhân dân ta đi theo Đảng, Bác Hồ, làm nên những thắng lợi vĩ đại, đưa dân tộc lên tầm cao mới của thời đại.

              1. Sự lựa chọn khách quan của lịch sử

              Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên đấu tranh chống lại kẻ xâm lược. Từ năm 1858 đến năm 1930, đã có hàng trăm cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu, các nhân sĩ, trí thức, nông dân, binh lính yêu nước diễn ra theo nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau. Đó là cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp của nông dân Nam Bộ dưới sự lãnh đạo của Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung Trực; các cuộc chiến quyết tử bảo vệ thành Gia Định, thành Hà Nội của Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu; phong trào Cần Vương; phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân; cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám. Dù tràn đầy lòng yêu nước, đức hy sinh, nhưng các cuộc khởi nghĩa, các phong trào đó đều bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo và thất bại. Vấn đề độc lập dân tộc không được giải quyết, trước hết là do không có đường lối cách mạng đúng đắn dưới sự chỉ đạo của một hệ tư tưởng tiên tiến, khoa học và cách mạng. Đó là sự khủng hoảng đường lối cứu nước.

              Tháng 6-1911 người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) ra đi tìm đường cứu nước. Người đã đi qua nhiều nước, nhiều châu lục, vừa lao động kiếm sống, vừa quan sát, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm của các nước, rút ra nhiều bài học quý báu và bổ ích, là cơ sở cho sự lựa chọn cách mạng của mình.

              Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra và thắng lợi đã ảnh hưởng sâu sắc đến Nguyễn Ái Quốc. Nhưng bước ngoặt lớn trong tư tưởng của Người là khi được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin (1920), tác phẩm lý luận bàn về cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong thời đại cách mạng vô sản. Người đã tìm thấy con đường duy nhất đúng đắn để cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp. Đó là con đường cách mạng vô sản, giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp; độc lập dân tộc gắn với CNXH; cách mạng giải phóng dân tộc từng nước gắn với phong trào cách mạng thế giới…Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Từ niềm tin đó, Người tổ chức truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào nước ta, sáng lập và rèn luyện Đảng ta, lãnh đạo Đảng và nhân dân ta giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Toàn dân ta đi theo Đảng. Vì vậy, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự lựa chọn của lịch sử Việt Nam, của toàn dân tộc Việt Nam.

              Căn cứ chủ yếu của sự lựa chọn đó thể hiện ở các điểm sau:

              Một là, cách mạng XHCN Tháng Mười Nga năm 1917 thành công đã mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Chính tính chất của thời đại mới đã tạo ra khả năng hiện thực cho những dân tộc lạc hậu tiến lên CNXH. Những khả năng hiện thực này giúp giải quyết vấn đề giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa đang bế tắc về hướng đi.

              Hai là, chỉ có CNXH mới giải phóng triệt để giai cấp vô sản và nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột, bất công, mới đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân và đưa nhân dân lao động trở thành những người làm chủ xã hội. Độc lập dân tộc chỉ có gắn với CNXH thì mới vững chắc. “Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc” như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã chỉ rõ.

              CNXH bảo đảm quyền tự quyết dân tộc, quyền lựa chọn chế độ chính trị, lựa chọn con đường và mô hình phát triển, độc lập cả về chính trị, kinh tế, văn hóa.

              CNXH bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; con người được phát triển toàn diện, có năng lực và điều kiện làm chủ, xóa bỏ tình trạng áp bức, bóc lột, nô dịch của dân tộc này với dân tộc khác về chính trị, kinh tế và tinh thần.

              CNXH tạo ra sự trao đổi, hợp tác kinh tế, văn hóa giữa các nước dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của nhau, bình đẳng và cùng có lợi, vì một thế giới không có chiến tranh, không có sự hoành hành của cái ác, của những sự tàn bạo và bất công, bảo đảm cho con người sống trong an ninh và hạnh phúc.

              2. Thực tiễn cách mạng nước ta từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo đã khẳng định: độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn

              Trong hơn 80 năm qua, Đảng và nhân dân ta luôn kiên trì và thực hiện mục tiêu này. Nhờ vậy mà cách mạng nước ta đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại:

              Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là kết quả tổng hợp của các phong trào cách mạng liên tục diễn ra 15 năm sau ngày thành lập Đảng, từ cao trào Xôviết Nghệ - Tĩnh, cuộc vận động dân chủ 1936-1939 đến cao trào giải phóng dân tộc 1939-1945. Cách mạng Tháng Tám đã xóa bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở nước ta, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

              Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

              Ba là, thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, đưa đất nước từng bước qua độ lên CNXH với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; củng cố vững chắc hơn độc lập dân tộc, từng bước đưa nước ta lên CNXH.

              Bài học lớn, được đặt ở vị trí hàng đầu qua các nhiệm kỳ Đại hội của Đảng là bài học phải “kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

    Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là bài học lớn xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam

    3. Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta

    Về đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 (sau đây gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991) xác định:

    - Nước ta quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ CNXH.

    - Từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, đi lên CNXH, lực lượng sản xuất rất thấp.

    - Đất nước trải qua chiến tranh ác liệt kéo dài nhiều chục năm, hậu quả xã hội do chiến tranh để lại rất nặng nề.

    - Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế độ XHCN và nền độc lập dân tộc của nhân dân ta.

     Đó là những khó khăn khách quan trên con đường quá độ lên CNXH ở nước ta, cho thấy thời kỳ quá độ ở Việt Nam là một thời kỳ lịch sử lâu dài, phải giải quyết hàng loạt nhiệm vụ mới mẻ, phức tạp chưa có tiền lệ.

    Bên cạnh đó, Việt Nam quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN cũng có nhiều thuận lợi:

    - Đất nước hòa bình và thống nhất.

    - Dân tộc Việt Nam có truyền thống anh hùng, bất khuất, nhân dân ta có lòng yêu nước và cần cù lao động.

    - Chúng ta có một số cơ sở vật chất ban đầu.

    - Thời cơ phát triển do cách mạng khoa học và công nghệ và xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới tạo ra.

     Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định:

    - Quá trình xây dựng xã hội XHCN là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen (Cương lĩnh 1991 chỉ nêu yêu cầu về sự cần thiết phải có bước đi, hình thức, biện pháp thích hợp).

    - Chỉ rõ những thuận lợi cơ bản:

    + Có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, có bản lĩnh chính trị vững vàng và dày dạn kinh nghiệm lãnh đạo (bổ sung so với Cương lĩnh 1991)

    + Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, có ý chí vươn lên mãnh liệt; nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, có truyền thống đoàn kết và nhân ái, cần cù lao động và sáng tạo, luôn ủng hộ và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng (kế thừa, trình bày rõ hơn Cương lĩnh 1991).

    + Chúng ta đã từng bước xây dựng được những cơ sở vật chất - kỹ thuật rất quan trọng (kế thừa Cương lĩnh 1991)

    + Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự hình thành và phát triển kinh tế tri thức cùng với quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế là một thời cơ để phát triển.

    II. VỀ MÔ HÌNH XÃ HỘI XHCN MÀ NHÂN DÂN TA XÂY DỰNG

    Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng ta đã nhận thức này càng rõ hơn những đặc trưng cơ bản của CNXH. Bắt đầu từ Đại hội VII (tháng 6/1991), Đảng ta đã khái quát các đặc trưng cơ bản của CNXH. Đại hội X và XI của Đảng đã bổ sung, phát triển các đặc trưng trên.

    1. Những đặc trưng cơ bản của CNXH mà nhân dân ta xây dựng trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991

    Cương lĩnh năm 1991 đã khái quát 6 đặc trưng của xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là:

    - Do nhân dân lao động làm chủ.

    - Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.

     - Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

     - Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân.

     - Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.

     - Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.

    2. Sự bổ sung, phát triển tại Đại hội X

    Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 20 năm đổi mới, trên nền Cương lĩnh năm 1991, Đại hội X đã bổ sung và phát triển, nêu lên 8 đặc trưng của xã hội XHCN ở nước ta:

    Một là, xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. (Đây là đặc trưng mới mà Cương lĩnh năm 1991 chưa đề cập. Sự bổ sung phản ánh yêu cầu diễn đạt CNXH một cách khái quát, ngắn gọn, dễ hiểu nhất).

    Hai là,do nhân dân làm chủ. (So với Cương lĩnh năm 1991 đã bỏ cụm từ “lao động” cho đúng với thực tế khi đã xây dựng về cơ bản CNXH).

    Ba là,có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. (So với Cương lĩnh năm 1991 đã bỏ cụm từ: “dựa trên chế độ công hữu về các tư liệu sảnxuất chủ yếu”  và thay bằng cụm từ mới “quan hệ sản uất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” nhằm tránh sự hiểu lầm, xuyên tạc về đường lối kinh tế của Đảng ta. Cách diễn đạt này không trái với Cương lĩnh năm 1991 vì quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất hiện đại trong điều kiện nền kinh tế phát triển cao chính là quan hệ sản xuất XHCN).

    Bốn là, có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    Năm là,con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện. (So với Cương lĩnh năm 1991 đã bỏ cụm từ “bóc lột” xuất phát từ thực tế khi kết thúc thời kỳ quá độ và do khái niệm “bóc lột” còn có ý kiến khác nhau).

    Sáu là, các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. (So với Cương lĩnh năm 1991 đã bổ sung cụm từ tương trợ).

    Bảy là,có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. (Đặc trưng này chưa được đề cập trong Cương lĩnh năm 1991. Sự bổ sung thể hiện nhận thức rất mới của Đảng về Nhà nước XHCN).

    Tám là, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.

    Như vậy, so với Cương lĩnh năm 1991, về số lượng, Đại hội X đã bổ sung hai đặc trưng mới của xã hội XHCN và sửa đổi một số ý trong sáu đặc trưng nêu trong Cương lĩnh năm 1991. Đó là bước phát triển mới của Đảng trong nhận thức lý luận và tổng kết thực tiễn về xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng.

    3. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục hoàn thiện mô hình CNXH ở nước ta

    Tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Đại hội XI tiếp tục bổ sung, hoàn thiện thêm nội dung các đặc trưng của xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng, gồm:

    - Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. (So với Đại hội X, đưa cụm từ “dân chủ” lên trước “công bằng” cho phù hợp về lý luận và thực tiễn mối quan hệ dân chủ và công bằng).

    - Do nhân dân làm chủ;

    - Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp. (Thay đổi so với Đại hội X trong cách diễn đạt về quan hệ sản xuất nhằm khẳng định quả quyết hơn về quan hệ sản xuất XHCN khi kết thúc thời kỳ quá độ và để khắc phục tư tưởng chủ quan, nóng vội muốn nhanh chóng có quan hệ sản xuất XHCN khi chưa có đủ điều kiện...).

    - Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

    - Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. (So với Đại hội X, bỏ cụm từ “con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công” cho phù hợp với thực tế khi kết thúc thời kỳ quá độ);

    - Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển. (So với Đại hội X, bổ sung các cụm từ “tôn trọng” và “phát triển” vì đây là những vấn đề rất quan trọng trong quan hệ dân tộc hiện nay);

    - Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo;

    - Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới. (So với Đại hội X có thay đổi cho phù hợp với xu thế trong thực tiễn quan hệ đối ngoại của nước ta với các nước trên thế giới).

    Đại hội XI cũng khẳng định: để xây dựng được xã hội với các đặc trưng trên phải tiến hành một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau.

    III. PHƯƠNG HƯỚNG ĐI LÊN CNXH Ở NƯỚC TA

    Phương hướng đi lên CNXH ở nước ta là không qua giai đoạn phát triển TBCN. Đó là đặc điểm cơ bản nhất của quá trình xây dựng CNXH ở nước ta. Bỏ qua chế độ TBCN tức là bỏ qua việc xác lập địa vị thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN. Nhận thức của Đảng về các quá trình này ngày càng hoàn chỉnh hơn.

    1. Phương hướng đi lên CNXH trong Văn kiện Đại hội VII của Đảng

    Đại hội VII nêu bảy phương hướng cơ bản:

    Một là,xây dựng Nhà nước XHCN, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân.

    Hai là,phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân.

    Ba là,phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất XHCN từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu. Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu.

    Bốn là,tiến hành cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá làm cho thế giới quan Mác-Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao. Chống tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ, trái với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị cao quý của loài người, trái với phương hướng đi lên CNXH.

    Năm là,thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh. Thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước; trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết với các nước XHCN, với tất cả các lực lượng đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

    Sáu là,xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng.

    Bảy là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng XHCN ở nước ta.

    2. Sự bổ sung, phát triển của Đại hội X

    Trên cơ sở phương huớng cơ bản của quá trình xây dựng CNXH nêu trong Cương lĩnh năm 1991, Đại hội X đã sắp xếp lại, điều chỉnh và bổ sung thành tám quá trình tất yếu phải thực hiện ở nước ta.

    Một là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

    Hai là,đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

    Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội.

    Bốn là,xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc.

    Năm là, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

    Sáu là,xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

    Bảy là,bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia.

    Tám là,chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.

    3. Phương hướng cơ bản đi lên CNXH trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011)

    Tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, Đại hội XI đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011). So với Cương lĩnh năm 1991 và Đại hội X, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã hoàn chỉnh và sắp xếp lại thứ tự các phương hướng cơ bản như sau:

    Một là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.

    Từ một nền nông nghiệp sản xuất nhỏ lạc hậu đi lên CNXH, tất yếu phải tiến hành công nghiệp hoá. Trong thời đại cách mạng khoa học – công nghệ, công nghiệp hoá phải kết hợp ngay từ đầu với hiện đại hoá, gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.

    Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

    Đây là bước phát triển mới về lý luận của Đảng ta trong quá trình đổi mới. Kinh tế thị trường định hướng XHCN được xác định là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH. Mô hình đó đòi hỏi phải:

    - Phát triển các thành phần kinh tế; các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.

    - Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục..., giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội.

    - Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh của Đảng.

    Ba là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

    Văn hoá là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội. Để xây dựng xã hội côn bằng, dân chủ, văn minh phải lấy văn hoá làm nền tảng tinh thần. Cần tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

    Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

    Xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN là hai nhiệm vụ chiến lược có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong điều kiện mới, tình hình mới, cần nhận thức sâu sắc hơn, cụ thể hơn về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm an ninh quốc gia ngày nay bao gồm: an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hoá, an ninh tư tưởng, an ninh xã hội. Bảo vệ Tổ quốc ngày nay không chỉ là bảo vệ lãnh thổ, biên giới, hải đảo, vùng trời, vùng biển mà còn là  bảo vệ chế dộ XHCN, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân; bảo vệ kinh tế, văn hóa dân tộc, sự nghiệp đổi mới...

    Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

    Toàn cầu là xu thế tất yếu khách quan đang lôi cuốn nhiều nước tham gia. Kết hợp với sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chúng ta phải chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Chủ động về đường lối, chính sách, bước đi trong hội nhập. Tích cực chuẩn bị vươn lên tham gia mạnh mẽ hơn, đầy đủ hơn vào quá trình toàn cầu hoá kinh tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Đại hội XI bô sung cam kết nước ta là “thành viên có trách nhiệm” của các tổ chức quốc tế mà chúng ta tham gia.

    Sáu là, xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.

    Phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu và bản chất của chế độ ta. Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Phát huy dân chủ gắn liền với phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đại hội X, Đại hội XI đều xác định đại đoàn kết toàn dân tộc vừa là nguồn lực chủ yếu để xây dựng xã hội mới, vừa là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta.

    Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

    Nhà nước pháp quyền là sự tiến bộ của nhân loại, trong đó có đặc điểm nổi bật là bảo đảm quyền tối cao của pháp luật. Nhà nước pháp quyền ở nước ta là nhà nướccủa nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình chủ yếu bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhà nước là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Văn kiện Đại hội XI xác định: xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay là xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước; xây dựng hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát các cơ quan công quyền; tiếp tục đổi mới hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp; tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí.

    Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

    Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nước ta. Trong điều kiện hiện nay, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là “nhiệm vụ then chốt”, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn phải được coi là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng.

    CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ PHƯƠNG HƯỚNG