trang Blog

RTham gia: 29/01/2012
  • Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XI)
    Xã Hội
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XI)

    HƯỚNG DẪN

    tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI)

    Căn cứ Hướng dẫn số 52-HD/BTGTW, ngày 22/5/2012 của Ban Tuyên giáo Trung ương và Kế hoạch số 21-KH/TU, ngày 15/6/2012 của Thành ủy về việc tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), Ban Tuyên giáo Thành ủy Cần Thơ hướng dẫn việc tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) như sau:

    I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU:

    1. Mục đích:

    - Giúp các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên nắm vững nội dung cơ bản của các kết luận, nghị quyết được Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) thông qua, trên cơ sở đó, tuyên truyền sâu rộng trong Đảng bộ và nhân dân thành phố để tổ chức thực hiện.

    - Động viên các cấp, các ngành, mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch, các biểu hiện lệch lạc về nhận thức và hành động trong quá trình triển khai, thực hiện các nghị quyết.

    - Vận dụng một cách sáng tạo các mục tiêu, quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp vào quá trình công tác, lao động, học tập; tham gia giám sát việc thực hiện các mục tiêu, quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp đó của các cơ quan chức năng của Nhà nước, các tổ chức đảng, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn thành phố, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và phát triển chung của đất nước.

    2. Yêu cầu:

    - Mỗi cán bộ, đảng viên cần nắm vững những nội dung cơ bản của các kết luận, nghị quyết, đặc biệt những nội dung liên quan đến lĩnh vực mình công tác, đến bản thân, từ đó, tham gia tích cực vào công tác tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trong nhân dân.

    - Việc tổ chức học tập, quán triệt phải thiết thực, hiệu quả, không phô trương, hình thức; thực hiện nhanh gọn; kết hợp nghe giới thiệu, thảo luận trên hội trường với tự nghiên cứu và tự đọc, tự học là chính.

    - Việc học tập, quán triệt là trách nhiệm chung của các cấp, các ngành, đặc biệt là người đứng đầu các cấp ủy.

    - Cần thực hiện công tác kiểm tra, giám sát một cách thường xuyên, kịp thời và có hiệu quả các kết luận, nghị quyết.

    II. NỘI DUNG VÀ TÀI LỆU HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT:

    1-Nội dung phổ biến, quán triệt:

    Ngoài việc làm rõ mục đích, ý nghĩa, sự cần thiết, phạm vi việc ban hành các Kết luận, thì cần quán triệt các nội dung cơ bản sau:

    Thứ nhất, đối với Kết luận về tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 và một số nội dung cơ bản cần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992.

    - Vị trí, vai trò của Hiến pháp năm 1992:

    Hiến pháp năm 1992 là Hiến pháp của thời kỳ đầu đổi mới; là đạo luật cơ bản của Nhà nước ta, văn kiện chính trị - pháp lý quan trọng thể hiện bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước ta, chế độ ta. Hiến pháp năm 1992 đã thể chế hoá đường lối đổi mới của Đảng thể hiện tập trung ở Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội VII của Đảng thông qua (tháng 6/1991), tạo cơ sở hiến định cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    - Tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992:

    Hơn 20 năm thi hành Hiến pháp năm 1992, đất nước ta, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta đã thực hiện thành công bước đầu công cuộc đổi mới, ra khỏi tình trạng kém phát triển; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và vẹn toàn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của đất nước đã tăng lên rất nhiều, tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn nữa theo con đường xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

    Tuy nhiên, sau 20 năm thi hành Hiến pháp năm 1992 (có bổ sung, sửa đổi năm 2001), Đại hội XI của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), có nhiều vấn đề mới được đặt ra, một số quy định của Hiến pháp năm 1992 đã bị thực tiễn vượt qua, không còn phù hợp. Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 là yêu cầu khách quan, cần thiết để thể chế hóa Cương lĩnh của Đảng và là công việc đặc biệt quan trọng, nhạy cảm phải có quan điểm toàn diện, biện chứng, lịch sử cụ thể và thực tiễn.

    - Về những vấn đề cơ bản định hướng việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992:

    Việc nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp phải căn cứ vào Cương lĩnh, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, tình hình của đất nước; trên cơ sở tổng kết thực tiễn 20 năm thi hành Hiến pháp năm 1992 và kế thừa những quy định còn phù hợp của các bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992). Quán triệt đầy đủ mục đích, yêu cầu, quan điểm, định hướng đã nêu trong Nghị quyết Trung ương 2 (khóa XI), Nghị quyết của Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 và trên cơ sở tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992; chỉnh sửa đối với những vấn đề đã rõ, được thực tế chứng minh là đúng, đã đủ cơ sở và tạo được sự thống nhất cao.

    Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 cần tập trung vào các nội dung, định hướng quan trọng là tiếp tục thể chế hóa đầy đủ và sâu sắc hơn chủ trương phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tất cả quyền lợi nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động sức mạnh các lực lượng xã hội, phát triển đất nước; khẳng định và làm rõ hơn vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; tiếp tục phát huy nhân tố con người, thể hiện sâu sắc hơn quan điểm bảo vệ, tôn trọng quyền con người, bảo đảm thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ; bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tích cực, chủ động hội nhập quốc tế; bảo đảm hiệu lực, tính ổn định lâu dài của Hiến pháp.

    Thứ hai, Kết luận về tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    - Vị trí, vai trò của đất đai, Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước:

    Các quan điểm chỉ đạo, định hướng chính sách của Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã được thể chế hóa và qua thực tế triển khai thi hành đã chứng minh cơ bản là đúng đắn, phù hợp với đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nghị quyết đã có tác động tích cực, tạo chuyển biến trong lĩnh vực đất đai; tăng cường một bước hiệu quả quản lý Nhà nước về đất đai; khai thác có hiệu quả nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, ổn định xã hội, an ninh lương thực quốc gia, cân bằng hệ sinh thái, bảo vệ môi trường; đóng góp nguồn thu quan trọng cho ngân sách Nhà nước…

    -Những hạn chế, bất cập trong thực hiện đường lối, chính sách đất đai:

    Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện Nghị quyết này vẫn còn một số hạn chế, yếu kém: Công tác quản lý Nhà nước về đất đai còn nhiều hạn chế, bất cập, nhất là quy hoạch đất và các thủ tục hành chính về đất đai; quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai còn chưa đáp ứng được yêu cầu, tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai còn nhiều diễn biến phức tạp; nguồn lực về đất đai chưa được phát huy đầy đủ để trở thành nội lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, việc sử dụng đất nhiều nơi còn lãng phí, hiệu quả thấp; thị trường bất động sản còn bộc lộ nhiều yếu kém, không ổn định, phát triển thiếu lành mạnh, giao dịch “ngầm” khá phổ biến; tổ chức bộ máy, năng lực đội ngũ cán bộ về quản lý đất đai còn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

    - Định hướng đường lối, chính sách đất đai trong thời gian tới:

    Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai; tiếp tục kế thừa những quan điểm chỉ đạo về chính sách, pháp luật đất đai của Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX), đồng thời có bổ sung và phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu mới đã được chỉ rõ trong Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.

    Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng ổn định lâu dài hoặc có thời hạn. Không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai; không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân.

    Đất đai được phân bố hợp lý, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả cao; đảm bảo lợi ích trước mắt và lâu dài, bảo vệ môi trường sinh thái, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước, nâng cao chất lượng bảo vệ đất canh tác nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Chính sách, pháp luật về đất đai phải bảo đảm sự quản lý nhà nước chặt chẽ, thống nhất của Trung ương; đồng thời phân cấp phù hợp cho địa phương, có chế tài xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm; chính sách, pháp luật về đất đai phải góp phần bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, củng cố quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.

     Thứ ba, Nghị quyết “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020”.

    -Thành tựu, hạn chế trong thực hiện chính sách xã hội:

    Những năm qua, mặc dù nguồn lực của đất nước còn hạn hẹp, nhưng Đảng, Nhà nước ta luôn luôn quan tâm xây dựng, thực hiện các chính sách xã hội. Các chính sách không ngừng được bổ sung, hoàn thiện; đối tượng được hưởng chính sách được mở rộng, mức hỗ trợ được nâng lên; đầu tư của Nhà nước ngày càng tăng. Nhờ vậy, các lĩnh vực xã hội đã đạt được những thành tựu quan trọng, nhất là tạo việc làm, giảm nghèo, ưu đãi người có công, giáo dục đào đạo, y tế, trợ giúp người có hoàn cảnh khó khăn được cải thiện rõ rệt, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân và sự ổn định chính trị - xã hội.

    Nước ta được Liên hợp quốc đánh giá là một trong những quốc gia đi đầu trong việc thực hiện mục tiêu Thiên niên kỷ. Tuy nhiên, kết quả thực hiện chính sách xã hội có mặt còn thấp, chưa bền vững, một số mặt yếu kém kéo dài, chậm được khắc phục. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn lớn và giảm chậm. Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế ở một số đối tượng còn thấp; chênh lệch các chỉ số về an sinh xã hội giữa miền núi, vùng đồng bào dân tộc với mức trung bình của cả nước còn lớn; nguồn lực thực hiện chính sách xã hội còn hạn hẹp, chủ yếu dựa vào ngân sách Nhà nước. Đời sống của một bộ phận người có công, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số còn rất khó khăn, chưa bảo đảm được mức tối thiểu các dịch vụ xã hội cơ bản.

    - Định hướng chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020:

    Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương chỉ ra nguyên nhân cơ bản những hạn chế, yếu kém, bất cập nêu trên và bài học kinh nghiệm; dự báo các thuận lợi, khó khăn, thách thức trong thời gian tới; đồng thời, căn cứ tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, xác định những định hướng chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020 với mục tiêu tổng quát là: Tiếp tục cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người có công và gia đình, phấn đấu đến năm 2015 cơ bản hoàn thành mục tiêu bảo đảm các gia đình người có công có mức sống tối thiểu bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn. Đến năm 2020, cơ bản đảm bảo an sinh xã hội cho toàn dân, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin.

    Nghị quyết cũng xác định nhiệm vụ và giải pháp thực hiện chính sách xã hội gồm ba cụm vấn đề: Chính sách ưu đãi người có công; bảo đảm an sinh xã hội; giải pháp chung và nguồn lực thực hiện.

    Thứ tư, Kết luận về một số vấn đề về tiền lương và định hướng cải cách tiền lương đến năm 2020.

    -Kết quả đạt được và hạn chế, bất cập:

    Qua gần 10 năm thực hiện Kết luận Hội nghị Trung ương 8 (khóa IX) (tháng 8/2003) và Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) (tháng 1/2008) về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công, tuy có đạt được một số kết quả bước đầu nhưng nhìn chung chưa đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra.

    Bên cạnh đó, việc thực hiện chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công còn những hạn chế, bất cập về mức lương tối thiểu; quan hệ lương tối thiểu - trung bình - tối đa; hệ thống thang, bảng lương; chế độ nâng ngạch, nâng bậc; cơ chế quản lý tiền lương và thu nhập; nguồn trả lương; mức đóng bảo hiểm xã hội; trợ cấp ưu đãi các đối tượng…

    - Một số nội dung thực hiện trong năm 2012 và 2013:

    Trong các năm 2012 và 2013, phải khẩn trương bổ sung, sửa đổi một số chính sách cần và có thể điều chỉnh ngay nhằm sớm khắc phục những bất hợp lý nổi cộm hiện nay. Ưu tiên điều chỉnh tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang gắn với việc khắc phục tình trạng quá nhiều loại phụ cấp; soát xét lại chế độ tiền lương trong các doanh nghiệp Nhà nước, khắc phục tình trạng bất hợp lý, chênh lệch quá lớn giữa cán bộ quản lý và người lao động; tiền lương, thu nhập không gắn với kết quả sản xuất kinh doanh. Điều chỉnh trợ cấp ưu đãi người có công, lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội cùng với mức tăng và thời điểm điều chỉnh mức tiền lương tối thiểu của cán bộ công chức…

    - Định hướng cải cách chính sách tiền lương đến năm 2020:

    Khẩn trương nghiên cứu xây dựng Đề án cải cách chế độ tiền lương giai đoạn 2013 - 2020 cùng với các đề án có liên quan, tạo bước đột phá trong việc tạo nguồn, bảo đảm cho cải cách tiền lương thu được kết quả.

    Tiến hành đồng bộ cải cách tiền lương với cải cách hành chính, tinh giảm bộ máy tổ chức, biên chế, tái cấu trúc nền tài chính công và các lĩnh vực có liên quan khác; gắn điều chỉnh tiền lương với điều chỉnh chính sách bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công.

    Thứ năm, Kết luận về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”.

    - Về đánh giá tình hình:

    Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Từ nhiều năm nay, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt coi trọng nhiệm vụ này, đã sớm ban hành Nghị quyết của Trung ương, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng cùng nhiều quyết sách, biện pháp khác.

    Sau 5 năm thực hiện, với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đã tạo được những chuyển biến tích cực cả về nhận thức và hành động trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã đạt được những kết quả bước đầu. Trên một số lĩnh vực, tham nhũng, lãng phí từng bước được kiềm chế. Những kết quả đạt được có ý nghĩa quan trọng để tiếp tục thực hiện có hiệu quả cao hơn trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Kết quả đó cũng khẳng định những chủ trương, giải pháp phòng chống tham nhũng, lãng phí của Đảng, Nhà nước ta trong Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) và các luật có liên quan là cơ bản đúng đắn.

    Tuy nhiên, công tác phòng, chống tham nhũng nói chung, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) nói riêng trong những năm qua vẫn chưa đạt yêu cầu và mục tiêu đề ra là ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí. Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, diễn ra ở nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành, gây bức xúc, bất bình trong xã hội; là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

    - Mục tiêu, quan điểm chỉ đạo và nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới:

    Phải kiên trì và đẩy mạnh nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; tiếp tục thực hiện nghiêm túc, đồng bộ các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và các nhiệm vụ, giải pháp trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, người đứng đầu trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường công tác tổ chức, cán bộ; tiếp tục hoàn thiện thể chế về quản lý kinh tế - xã hội để phòng, chống tham nhũng, lãng phí; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí; mở rộng dân chủ, công khai, minh bạch; phát huy vai trò giám sát của Quốc hội; Hội đồng Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, nhân dân và công luận.

    Thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban. Không thành lập ban chỉ đạo tỉnh, thành phố về phòng chống, tham nhũng. Tỉnh ủy, thành ủy trực tiếp lãnh đạo công tác phòng chống tham nhũng. Lập lại Ban Nội chính Trung ương, thực hiện chức năng một ban đảng và là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng; lập ban nội chính ở các tỉnh ủy, thành ủy, giao Bộ Chính trị quyết định cụ thể.

    2-Tài liệu phục vụ học tập, quán triệt nghị quyết:

    - Các văn kiện Hội nghị Trung ương 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) thông qua;

    - Tài liệu do Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn, gồm:

    + “Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên)”;

    + “Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (dùng cho cán bộ đảng viên ở cơ sở)”;

    + “Tài liệu Hỏi – đáp Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (dùng cho cán bộ, hội viên các đoàn thể chính trị - xã hội và tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân)”.

    III-TỔ CHỨC CÁC LỚP PHỔ BIẾN, QUÁN TRIỆT.

    Ngoài các cuộc Hội nghị do Thành ủy tổ chức học tập, quán triệt trong tháng 7/2012, các quận ủy, huyện ủy và đảng ủy trực thuộc Thành ủy tổ chức các lớp học tập, quán triệt như sau:

    1-Cấp quận, huyện và tương đương:

    - Thành phần: các đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ, trưởng, phó ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội quận, huyện và tương đương; giám đốc, phó giám đốc Trung tâm bồi dưỡng chính trị; bí thư các chi bộ, đảng bộ trực thuộc; bí thư, phó bí thư đảng ủy, chủ tịch, phó chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; hiệu trưởng các trường phổ thông trung học; các đồng chí là báo cáo viên cấp quận, huyện và tương đương; các đồng chí cán bộ chủ chốt cấp quận, huyện và tương đương, nghỉ hưu trên địa bàn.

    - Thời gian:tổ chức trong 01 ngày (02 buổi x 5 tiết/buổi = 10 tiết).Hoàn thànhtrong tháng 8/2012.

    -Nội dung: nghe báo cáo các chuyên đề:

    + Chuyên đề 1: Tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 và một số nội dung cơ bản cần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (03 tiết).

    + Chuyên đề 2: Tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (02 tiết).

    + Chuyên đề 3: Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” (02 tiết).

    + Chuyên đề 4: Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020 (1,5 tiết).

    + Chuyên đề 5:  Một số vấn đề về tiền lương và định hướng cải cách tiền lương đến năm 2020 (1,5 tiết).

    - Kinh phí mở lớp: lấy từ nguồn kinh phí phục vụ việc học tập, quán triệt các Hội nghị Trung ương, nghị quyết của quận, huyện và đảng ủy trong kế hoạch.

    2-Cấp cơ sở:

    Đảng ủy, chi ủy xã, phường, thị trấn và đảng bộ, chi bộ cơ sở tổ chức các lớp học tập quán triệt các Kết luận, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) cho toàn thể cán bộ, đảng viên của đảng bộ, chi bộ.

    - Thời gian:tổ chức trong 01 ngày (02 buổi x 5 tiết/buổi = 10 tiết).Hoàn thànhtrong tháng 9/2012.

    -Nội dung: nghe báo cáo các chuyên đề như các cuộc hội nghị cấp quận, huyện và tương đương.

    - Kinh phí mở lớp: lấy từ nguồn kinh phí phục vụ việc học tập, quán triệt các Hội nghị Trung ương, nghị quyết của các cơ sở trong kế hoạch.

    3-Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị -xã hội thành phố:

    Chủ động phối hợp với Ban Tuyên giáo cùng cấp làm nòng cốt đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi ra đoàn viên, hội viên theo tài liệu hỏi đáp do Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn; những nội dung cơ bản của Kế hoạch và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của cấp ủy, Ủy ban nhân dân cùng cấp.

    4-Báo Cần Thơ, Đài Phát thanh -Truyền hình thành phố Cần Thơ: tăng thời lượng, mở các chuyên trang, chuyên mục về triển khai, thực hiện các Kết luận, Nghị quyết được Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) thông qua trên địa bàn thành phố.

    III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

    1- Ban Tuyên giáo Thành ủy phối hợp cùng Văn phòng Thành ủy tham mưu cho Ban Thường vụ Thành ủy tổ chức các cuộc hội nghị học tập, quán triệt cho cán bộ chủ chốt cấp thành phố; chỉ đạo, hướng dẫn các quận ủy, huyện ủy, Đảng ủy trực thuộc Thành ủy tổ chức việc học tập, quán triệt và thực hiện các Kết luận, Nghị quyết được Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) thông qua.

    2- Ban Tuyên giáo Thành ủy theo dõi kết quả triển khai, tổ chức giám sát, kiểm tra ở một số địa phương, đơn vị để tổng hợp báo cáo Ban Tuyên giáo Trung ương và Ban Thường vụ Thành ủy.

    3- Căn cứ Hướng dẫn này, các cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị chỉ đạo xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể của địa phương, cơ quan đơn vị; hướng dẫn kiểm tra, đôn đốc cấp dưới triển khai thực hiện.

    4- Các cơ quan Báo Cần Thơ, Đài Phát thanh - Truyền hình Cần Thơ đẩy mạnh công tác tuyên truyền tình hình triển khai và kết quả thực hiện các Kết luận, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) trên địa bàn thành phố.