trang Blog

TrungTham gia: 06/05/2012
  • TIẾP CẬN BÀI THƠ DAFFODILS TRONG CHƯƠNG TRÌNH  VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI NGÀNH NGỮ VĂN TỪ NGUYÊN BẢN
    Sáng Tác
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    TIẾP CẬN BÀI THƠ DAFFODILS TRONG CHƯƠNG TRÌNH VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI NGÀNH NGỮ VĂN TỪ NGUYÊN BẢN

    TIẾP CẬN BÀI THƠ DAFFODILS TRONG CHƯƠNG TRÌNH

    VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI NGÀNH NGỮ VĂN TỪ NGUYÊN BẢN

    ThS. Nguyễn Thành Trung

    Khoa Ngữ văn, Đại học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh

    Nguồn: Nguyễn Thành Trung, "Tiếp cận bài thơ Daffodils từ ngôn ngữ nguyên bản trong chương trình Văn học nước ngoài ngành Ngữ Văn", Tạp chí giáo dục 291 (1-8/2012), Hà Nội: Bộ GD và ĐT, trang 36-38.

    Tóm tắt:Bài viết hướng đến giới thiệu một tác phẩm thơ cần được phân tích trong khuôn khổ chương trình đại học ngành Ngữ văn trong hoàn cảnh mới và theo phương pháp mới. Theo đó, bài thơ Daffodils của Wordsworth được phân tích cụ thể dưới góc độ ngôn ngữ trên nguyên bản tiếng Anh từ phương diện bối cảnh, nội dung đến biện pháp nghệ thuật. Trên cơ sở này, chúng tôi trình bày một số suy nghĩ về chương trình, phương pháp và mục tiêu giảng dạy môn Văn học Nước ngoài ở ngành Ngữ Văn bậc đại học.

    Abstract:This report tends to introduce a poem that needs to be mentioned to in the Literature program of Universities in a new way which is fit to the new state of modern education. So the poem ofDaffodils is analyzed in detail under linguistic viewpoint from its setting, content to its figures of speech in English version. This poem has been taught as an experimental unit and the responded result is realizable. On this foundation, some thoughts including program, method and purpose of teaching foreign literature in Universities are presented.

    1. Trước hết, William Wordsworth không có mặt trong giáo trình Văn học Phương Tây[2] và Daffodils (Hoa Thủy Tiên) thường chỉ được biết đến như một bài thơ chuyền tay. Điều này có thể bắt nguồn từ hai nguyên nhân sau: Tuy minh chứng tài năng và phong cách của một nghệ sĩ hàng đầu chủ nghĩa lãng mạn Anh thế kỉ XIX, bản thân tác phẩm khi ra đời lại không được đánh giá cao. Sinh viên Văn học không có thế mạnh ở ngoại ngữ, phân tích tác phẩm thơ trên bản dịch lại không thể hiện hết được giá trị nghệ thuật.

    Giới thiệu bài thơ Daffodils trong chương trình giáo dục đại học, chúng tôi căn cứ trên ba điểm sau: Tính phổ biến của bài thơ này là không thể phủ nhận; chương trình cử nhân Anh ngữ, học phần Văn học Anh từ nhiều năm nay chưa bao giờ quên Daffodils vì tính tinh tế ở ngôn ngữ và cảm xúc của nó. Thêm vào đó, đã đến lúc tận dụng thành quả nhiều năm giảng dạy Anh ngữ như một môn bắt buộc trong chương trình phổ thông và đại học. Sau hết, giới thiệu Daffodils trong chương trình giáo dục đại học đồng nghĩa với việc đổi mới phương pháp giảng dạy đại học nói chung và đổi mới phương pháp giảng dạy Văn học nói riêng - vận dụng ngôn ngữ trong cảm thụ thơ.

    2. Giới thiệu tác phẩm

    Từ góc độ lịch đại, bài thơ Daffodils ra đời trong hoàn cảnh chính trị xã hội lạc hậu phản động Anh quốc thế kỉ XIX - hình thành khuynh hướng lãng mạn Anh (1798-1832) với trường phái Cấp tiến (The Cockney school) và Bảo thủ (The Lake school) do William Wordsworth khởi xướng với tập thơ Lyrical Ballads. Từtác phẩm này, người đọc có thể phần nào hiểu được quan điểm thơ ca của tác giả: “Thơ ca là một dòng chảy tự thân mang cảm xúc mãnh liệt bắt nguồn từ xúc cảm góp nhặt trong tĩnh lặng.” (Poetry is the spontaneous overflow of powerful feelings: it takes its origin from emotion recollected in tranquility). Mang tên I Wandered Lonely as a Cloud, tác phẩm sáng tác năm 1804, xuất bản lần đầu năm 1807 trong tập Poems in Two Volumes, nổi tiếng khi được in lại năm 1815; được xem là một điển thể cho mảng thơ chủ nghĩa lãng mạn Anh và là tuyệt phẩm của William Wordsworth. Daffodilslấy cảm hứng từ lần nhà thơ cùng người chị là Dorothy đi dạo qua một vườn hoa thủy tiên bên bờ vịnh.

    “Khi dạo trong rừng cạnh công viên Gowbarrow, chúng tôi đã thoáng thấy vài đóa thủy tiên cạnh bờ nước. Điều đặc biệt là trảng hoa như nối dài mặt hồ và không ngừng lay động nhấp nhô. Khi chúng tôi đi dọc theo thì ngày càng xuất hiện nhiều hoa, đến dưới những rặng cây thì một vạt hoa rộng chừng bằng bề ngang đường quốc lộ hiện ra, chạy dài theo bờ hồ.

    Tôi chưa từng thấy những đoá hoa Thuỷ tiên nào đẹp đến vậy. Chúng mọc xen kẽ nhau giữa những tảng đá phủ đầy rêu, một vài bông hoa ngả cánh lên những phiến đá ấy như thể đang tựa đầu vào gối để xua đi sự mệt mỏi, những đóa khác thì tung mình uốn lượn, nhảy múa như thể chúng cười đùa với những cơn gió thoảng trên mặt hồ, những bông hoa trông thật vui vẻ, cứ mãi nhảy múa, cứ mãi rập rờn…

    Gió trên mặt hồ ùa thoảng vào những đóa hoa. Đây đó có vài chấm nhỏ, vài cụm hoa mọc cao hơn, xa hơn một tí nhưng không quá nhiều để có thể phá đi vẻ đơn sơ thuần nhất của vạt hoa. Chúng tôi thơ thẩn. Mặt vịnh xao động và nghe rõ tiếng sóng ở nhiều nơi, giữa mặt hồ thì sóng nhấp nhô như đại dương. [1]

    Từ góc độ đồng đại, Daffodils có thể được khảo sát với bố cục 4 đoạn như sau:

    I WANDERED LONELY AS A CLOUD

    I wandered lonely as a cloud
    That floats on high o'er vales and hills,
    When all at once I saw a crowd,
    A host, of golden daffodils;
    Beside the lake, beneath the trees,   5
    Fluttering and dancing in the breeze.

    Continuous as the stars that shine
    And twinkle on the milky way,
    They stretched in never-ending line
    Along the margin of a bay:           10

    Ten thousand saw I at a glance,
    Tossing their heads in sprightly dance.

    The waves beside them danced; but they
    Out-did the sparkling waves in glee:
    A poet could not but be gay,         15
    In such a jocund company:
    I gazed - and gazed - but little thought
    What wealth the show to me had brought:


    For oft, when on my couch I lie
    In vacant or in pensive mood, 20
    They flash upon that inward eye
    Which is the bliss of solitude;
    And then my heart with pleasure fills,
    And dances with the daffodils.

            - William Wordsworth, 1804 [5,383]

    LANG THANG NHƯ MÂY TRỜI

    Lang thang như một vạt mây

    Phiêu du qua những lũng cây núi đồi,

    Bỗng thấy trải rộng ngập ngời,

    Thủy tiên vàng rực một trời sắc hương;

    Cạnh hồ, dưới cây bên đường,

    Hoa như trỗi khúc gió sương quây quần.

    Và lấp lánh tựa sao trời

    Ngàn tia ánh sáng lả lơi Ngân hà,

    Hoa vàng trải đến xa xa

    Dọc theo bờ vịnh kéo ra vô vàn:

    Bên hồ hoa đến mười ngàn,

    Hòa điệu luân vũ thênh thang rập rờn.

    Sóng vẫy xinh đến lạ thường;

    Trong niềm hoan lạc, hoa hơn bội phần:

    Thơ ca miêu tả chẳng ngần,

    Niềm vui bè bạn là gần gũi thôi:

    Chợt nhìn bỗng thấy trong tôi

    Điều tuyệt diệu nhất sinh sôi ngập lòng:

    Rồi khi đêm đến trên giường

    Khi lơ đãng, lúc vấn vương thâm trầm,

    Bóng hoa về giữa xa xăm

    Như hạnh phúc nở trong mầm cô liêu;

    Niềm vui ngập đến trăm chiều,

    Tim ta hòa với mĩ miều thủy tiên.

    [Bản dịch của Nguyễn Thành Trung, 2011]

    Đoạn thứ nhất mở ra bức tranh khái quát: Ullswater - vùng hồ tây bắc nước Anh hiện lên mĩ lệ; trong bối cảnh ấy, người thơ như lang thang qua cuộc đời, nhìn tháng ngày, không - thời gian, những gương mặt quen lạ trôi qua không thể níu giữ. Không có gì gắn kết, con người cô đơn tìm về với vẻ đẹp thiên nhiên nuôi dưỡng tâm hồn. Đó là vẻ đẹp trong yên tĩnh, là ngắm nhìn và chiêm ngưỡng ánh sáng trong thinh lặng bên dưới mặt đất của làn mây. Biện pháp điệp âm (alliteration) làm cảnh vật có chiều sâu: high-hills, beside- beneath và tô đậm thêm thế lang thang mà biện pháp nhân hóa (personification) đã thể hiện. Thêm vào đó, biện pháp so sánh (simile) I wandered lonely as a cloud…vừa thể hiệnđược tôn chỉ của chủ nghĩa lãng mạn, vừa nâng con người lên tầm bất tử, miên viễn với tự nhiên. Đó là cầu nối giữa cái phù du sớm tàn của con người và cái vĩnh hằng của thiên nhiên - vẻ đẹp tinh tế mà chỉ có bản Anh ngữ mới hé lộ.

    Đoạn hai, so sánh được tiếp tục, kết hợp với đảo ngữ (reversal of usual syntax) Continuous as the stars that shine And twinkle on the milky way, trong đó vẻ đẹp hoa thủy tiên được nhân lên gấp bội bằng biện pháp thậm xưng (hyperbola) - Ten thousand saw I at a glance. Tầm mắt quan sát của nhà thơ từ trên cao tỏa rộng xuống bên dưới, đó chính là tâm thế của người thơ, thưởng thức vẻ đẹp trần thế kiểu lãng mạn – từng thấy ở thơ Lí Bạch, Tản Đà… Điều cần lưu ý là Wordsworth vẫn hướng đến niềm vui và vẻ đẹp trần thế chứ không mộng tưởng cõi thiên thai nào khác.

    Đoạn thứ ba ghi nhận sự vượt ranh giới thơ ca - lãng mạn. Hiện tượng vắt dòng mở rộng thành vắt đoạn, tứ thơ vượt khỏi ranh giới ngữ pháp: The waves beside them danced; but they/ Out-did the sparkling waves in glee:…Đến đây, “company” xuất hiện như sự tiếp nối, âm hưởng từ “lonely” ngay câu đầu tiên- phản ánh nỗi cô đơn thường trực của nhà thơ lãng mạn - luôn khao khát tri âm, luôn say mê giao cảm với đời.

    Đoạn cuối, thủy tiên thể hiện vẻ đẹp bản nguyên của mình. Hoa mang tính biểu tượng: cái đẹp giao hòa hay cái đẹp cứu rỗi, hiển lộ trên hành trình nhà thơ lắng lòng chiêm nghiệm - không còn hoa thực mà là hoa kỷ niệm. Phép nghịch hợp (oxymoron): “bliss” và “solitude” nhấn mạnh nỗi đơn côi - lời nguyền mà văn nhân thi sĩ mang lấy và nhà thơ lãng mạn càng thấm thía hơn ai hết; họ thay nhân loại gặm nhấm niềm đau. 

    Đến đây, có thể kết luận bài thơ đi theo cấu trúc vòng tròn. Nếu thần thoại Ấn vẫn tin rằng có một nhịp điệu thần thánh và Shiva là người giữ vũ trụ đại hòa điệu thì dường như với Wordsworth nhịp điệu của vũ trụ được gìn giữ bởi những bông hoa. Khi tâm giao hòa với thiên nhiên thì con người hòa nhập vào điệu vũ; đó là lí do mà đoạn nào từ “dance” cũng xuất hiện dù dáng vẻ và hình thái khác nhau - đó là cái hóa sinh, thể nhập giữa tiểu ngã và đại ngã, giữa cái nhất thời và hằng hữu. Nhà thơ như nhà hiền triết suy ngẫm lẽ tạo hóa và bừng ngộ khi hòa hợp với đóa hoa - hình ảnh của thiên nhiên vĩ đại - đó là hành trình vận động dạng vòng xoắn - từ bị động vô tâm sang chủ động hòa nhập. Nhờ vậy mà có thể nhận thấy, cấu trúc thơ Wordsworth nói chung đi theo hành trình Quan sát - Suy ngẫm và Khai ngộ (Observation, Deliberation, Illumination). Tác phẩm này cũng vậy. Hai khổ thơ đầu là quan sát - từ xa đến gần, cụ thể đến trừu tượng; khổ thứ ba là suy ngẫm về bản chất cảm xúc hoa mang lại - đó là truy tầm bản chất và đoạn cuối là khai ngộ, tỏa sáng về ý nghĩa loài hoa, là bản lai diện mục.

    Nhìn hoa thủy tiên, không khỏi nhớ đến bi kịch Narcissus: Một con người yêu bóng của chính mình để chết đi hóa thành một đóa hoa xinh đẹp, vị nữ thần đau đớn vì cái chết của người yêu và sự câm lặng của bản thân màthét vào động đá những lời cuối cùng để tiếng còn vang mãi đến ngàn sau (Echo). Bài thơ Daffodils tựa như mầm non nẩy nở trên cảm hứng từ cái chết và nỗi buồn - đó chẳng phải là nguồn gốc thơ ca mà Worsworth đã từng nhắc đến? Thế giới nghệ thuật mở ra để soi chiếu chính mình và cả cuộc đời.

    Bài thơ bao gồm bốn đoạn sáu dòng; nhịp thơ iambic tetrameter - 03 feet mỗi dòng; feet thơ theo kiểu 01 - một âm không dấu nhấn đi với một âm có dấu nhấn - kéo dài vô tận như cái mênh mông của bầu trời, trảng hoa, bờ hồ và lòng người. Bài thơ gieo vần ABABCC với ngôn từ đơn giản, dễ hiểu, dễ tiếp nhận từ giới trí thức tinh hoa đến một người dân Anh bình thường. Sự phổ biến này thể hiện ở cách tri nhận bài thơ: Vốn là I wandered lonely as a cloud nhưng người ta vẫn nhớ nó một cách trực tiếp và cụ thể là The Daffodils hoặc thậm chí là Daffodils. Đó là hoa thủy tiên của bất kỳ ai - có thể không cần phải là thi sĩ để lang thang mây trời nhưng vẫn có thể yêu hoa và yêu đời.

    Thông qua những khảo sát trên có thể khái quát một số chủ đề chính của tác phẩm. Trước hết, thiên nhiên có vai trò đặc biệt trong sáng tác của Wordsworth và trào lưu lãng mạn. Ngay cả khi thiên nhiên tươi đẹp, an bình vẫn tạo nên cảm giác cô đơn và buồn ở Wordsworth nhưng tác giả chưa bao giờ bi quan mà vẫn tìm ở thiên nhiên niềm hi vọng về tương lai. Từ mối liên đới này, nhà thơ khám phá ra hoài niệm có một sức mạnh vĩ đại là khám phá vũ trụ và bất tử hóa nhân sinh. Trong thơ Wordsworth, sự biến chuyển nội tâm nhân vật rất quan trọng, thi nhân đi từ trạng thái tiêu cực hướng dần đến tích cực thông qua quá trình hoài niệm hóa hoa thủy tiên; Wordsworth luôn nghĩ đến những hoài niệm và cố gắng để có thể sống mãi trong lòng người thân như đóa hoa, như thiên nhiên. Cuối cùng, là một nhà thơ lãng mạn, tác giả tự thấy mình có trách nhiệm gánh vác tính nhân văn cho cuộc đời. Tác giả luôn lo ngại về sự suy tàn của tính nhân văn nhân bản khi con người ngày càng bị trói buộc trong cuộc sống ngột ngạt của thành thị; giải pháp cho quan ngại này là mối liên kết siêu nghiệm mà Wordsworth tìm thấy trong thiên nhiên và đưa đến cho mọi người thông qua thơ ca.

    Mở rộng ra, có thể so sánh tứ thơ này với bộ ba tranh thu của Nguyễn Khuyến (1835-1909) để nhận ra điểm tương đồng và dị biệt. Trước hết đây đều là những nhà thơ gắn bó với thiên nhiên, khám phá ra sự giao hòa giữa thiên nhiên với lòng người. Bốn bài thơ đều bắt đầu bằng miêu tả cảnh vật, kết thúc là hình ảnh ngoại vật trong tâm tưởng. Đây là hành trình xâm nhập của ngoại cảnh vào hồn người và rung lên cảm xúc. Cả hai nhà thơ đều có chút ngậm ngùi, suy ngẫm. Tuy nhiên, ở đây vẫn có sự khác biệt, người suy nghĩ về cách sống ở đời, người lại suy ngẫm về tình thân. Sự liên hệ này có thể đi đến phong trào thơ Mới vốn chỉ được trực tiếp liên hệ đến thơ Pháp nên vẫn hứa hẹn nhiều song chiếu thú vị với thơ lãng mạn Anh.

    3. Vài suy nghĩ về quá trình dạy học tác phẩm ở bậc đại học

    Việc bổ sung giới thiệu tác phẩm Daffodils ở bậc đại học ngành Văn học về lí luận lẫn thực tiễn vốn có hạt nhân hợp lí. Về lí luận, cần từng bước rút ngắn khoảng cách ngôn ngữ trong việc giảng dạy môn Văn học Nước ngoài mà trước hết là ở các tác phẩm có dung lượng vừa phải như thơ, truyện ngắn và kịch… Đây là định hướng mà ngành giáo dục đã đầu tư từ nhiều năm trước, vấn đề là có đủ điều kiện và can đảm để bước qua trở lực tâm lí từ phía người dạy lẫn người học. Chúng tôi chỉ đề cập đến trở lực tâm lí vì khả năng của giảng viên và sinh viên đại học hiện nay hoàn toàn đáp ứng được điều kiện để tiếp cận một tác phẩm nguyên bản (dung lượng phù hợp) tuy nhiên vì suy nghĩ phổ biến là sinh viên khối không chuyên ngữ không thể làm việc trên nguyên bản nên thực tế đại đa số sinh viên đều xem đây là nhiệm vụ bất khả thi. Đây là trở ngại chính, nếu vượt qua thì sẽ mở ra cho người học một cái nhìn mới, một thế giới nghệ thuật mà từ lâu họ phải tiếp cận qua cảm nhận của người khác với những bản dịch tiếng Việt dù hay đến mấy cũng không thể bảo toàn giá trị nội dung lẫn nghệ thuật của tác giả.

    Vấn đề giới thiệu tác phẩm trong xu thế kết hợp công nghệ có lẽ cũng cần lưu ý. Việc vận dụng công nghệ thông tin, ở cấp độ cụ thể nhất là hình ảnh, âm thanh, trình chiếu được vào bài giảng từ lâu đã trở thành một khuyến khích, thậm chí là tiêu chí đánh giá giảng viên, tuy nhiên thực tế vận dụng công nghệ vào dạy học, đặc biệt là môn Văn- vốn mang một đặc trưng tư duy hình tượng khác biệt- còn rất hạn chế. Vấn đề đặt ra là người giáo viên cần cân nhắc đối tượng trình bày. Với tác phẩm Daffodils, chúng tôi nhận thấy công cụ trình chiếu, hình ảnh và âm thanh phục vụ khá hiệu quả cho tiếp nhận của sinh viên. Đi từ ngôn ngữ nghệ thuật đến ý nghĩa, những luận điểm chính và minh họa có thể được thể hiện rõ, những đoạn nhạc phổ từ bài thơ Daffodils và những khoảng bình luận của giáo viên… kết hợp lại có thể tạo được xúc cảm thẩm mĩ ở sinh viên.

    Thứ ba, giới hạn và mục đích lâu dài của việc nghiên cứu từ một bài thơ đến chương trình Văn học nước ngoài cần được quán xuyến và thể hiện rõ. Chúng tôi thiết nghĩ nghiên cứu Văn học Nước ngoài, cụ thể là phân tích Daffodils không chỉ dừng lại ở việc tầm chương trích cú, tán dương thơ đẹp hay chiết tự định danh… mà là bao quát bức tranh văn học thế giới nhằm phục vụ cho nền văn học nước nhà, mục tiêu tối hậu là ở đó. Nếu làm rõ được điều này ở sinh viên cũng có nghĩa là tránh được những băn khoăn đại loại như: tính khả dụng của kiến thức này trong giảng dạy phổ thông, tính cần thiết của việc nghiên cứu các nội dung mang tính học thuật… Đây là lí do chúng tôi giới thiệu bản dịch tiếng Việt theo thể lục bát và liên hệ với nền thơ ca Việt Nam vào cuối bài giảng với hy vọng những nỗ lực rất nhỏ, có thể chưa mang đến tác dụng nhất thời nhưng khi được quan tâm đồng thuận thì chắc chắn sẽ mở ra một quang tượng mới đầy hứa hẹn.

    Tài liệu tham khảo

    1. Dorothy Wordsworth, The Grasmere Journal , Thursday, 15 April 1802

    2. Đặng Anh Đào, Hoàng Nhân (2001), Văn học Phương Tây, Hà Nội: Giáo Dục.

    3. Minh Chính (2002), Văn học phương Tây giản yếu, TPHCM: ĐHQG TP.HCM

    4. Nguyễn Văn Dân (2000), Từ điển thần thoại Hy Lạp, La Mã, HN: Văn hóa thông tin

    5. W.Wordsworth, “Daffodils, An Anthology and the revolutionary Romanticism, Duncan Wu (ed.), Blackwell, USA.

    TIẾP CẬN BÀI THƠ DAFFODILS TRONG CHƯƠNG TRÌNH VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI NGÀNH NGỮ VĂN TỪ NGUYÊN BẢN