• Đăng Nhập
 

19/07/2010 05:43  |  1,470 lượt xem

Hiện tượng đầu thai - Bí ẩn của khoa học hiện đại

Chết lâm sàng là một trong những bí ẩn lớn nhất mà khoa học hiện đại hiện chưa có lời giải đáp. Sau khi chết lâm sàng, một số người cho rằng họ có thể nhớ được cuộc sống đã từng có trước kia và có thể mô tả được họ đã nhìn thấy gì và làm gì khi họ tồn tại trong một thân xác khác từ hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm trước.

Irina Lakoba, một trong những bệnh nhân của bác sĩ Vladimir Zatovka, trưởng khoa hồi sinh Bệnh viện Kaliningrad (Nga) đã bị hôn mê sâu trong vòng 1 tháng sau một tai nạn giao thông. Trước khi gặp tai nạn, người phụ nữ này là một kỹ sư làm việc tại công ty đánh bắt cá lớn trong suốt 20 năm. Nhưng khi hồi tỉnh, người phụ nữ này trở thành một người hoàn toàn khác. Bà nói rằng bà thấy mình là một cô bé con đứng trên bờ sông và thậm chí bà còn nói bằng một thứ tiếng lạ. Các chuyên gia trường ĐH Kaliningrad cho biết đó là một trong những thổ ngữ Swahili. Sau đó, bà còn đọc một vài đoạn thơ bằng thứ ngôn ngữ này và dịch chúng sang tiếng Nga, tiếng Anh và tiếng Pháp, những ngôn ngữ mà trước tai nạn bà chưa bao giờ biết đến.

Điều kỳ lạ hơn nữa là chỉ ngay trước khi Irina hồi tỉnh từ cơn hôn mê sâu, bác sĩ đã nói chuyện với chồng bà. Họ ngồi trong một căn phòng cách nơi bà Irina nằm là 2 tầng. Thế nhưng khi tỉnh lại, bà đã kể lại chính xác hai người đã nói những gì. Ngoài ra, bà còn miêu tả những sự việc đã xảy ra khi bà còn hôn mê. Bà nói đã nhìn thấy và nghe thấy mọi thứ vì bà vẫn có thể đi lại trong bệnh viện. Thậm chí bà nói đã nhìn thấy mình đang nằm trên giường bệnh và đã "sốc" khi thấy mình... già và xấu xí. Bà cũng cho biết, khi đi dạo quanh bệnh viên, bà là một cô gái nhỏ và hoàn toàn khỏe mạnh.

Bà Annel Besier, người Pháp nói rằng bà có thể hồi tưởng lại cuộc sống trong quá khứ và đã viết một cuốn sách về nó. Olga Kuleshova 37 tuổi biết rõ rằng 37 năm trước khi cô ra đời, cô đã từng là một nghệ sĩ violon sống tại Anh (hiện cô vẫn nắm được kỹ năng chơi violon dù chưa qua trường lớp nào). Olga còn nói rằng, 200 năm trước, cô là tỳ thiếp của vua Thổ Nhĩ Kỳ và Mechelangelo ở Italy thời Trung cổ là giám hộ của cô về môn họa...  Tất nhiên, những lời cô nói có đúng hay không thì không có một bằng chứng nào xác thực để chứng minh.

Nhận xét về những trường hợp này, các bác sĩ cho rằng đó là một trong những trường hợp đầu thai vẫn lưu truyền trong dân gian. Những người theo chủ nghĩa bí truyền, đạo Hindu và Phật giáo luôn cho rằng cái chết không phải là sự kết thúc mà là điểm bắt đầu của con đường đến với thế giới cực lạc cho linh hồn vĩnh cửu. Trong nhiều thập kỷ, niềm tin này bị coi là mê tín, hoang đường nhưng giờ đây đang hình thành một quan niệm khoa học dần từng bước thu hút được nhiều người ủng hộ.

Chuyên gia nghiên cứu về hiện tượng tái sinh học người Mỹ Raymond Moody đã mất 30 năm để viết những cuốn sách về "cuộc sống sau khi chết" trước khi ông thuyết phục được phần lớn độc giả tin rằng việc tim và não ngừng hoạt động không có nghĩa là người đó đã chết. Những bệnh nhân hồi tỉnh sau trạng thái chết lâm sàng kể lại những câu chuyện giống nhau: họ nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm, những người thân đã chết kể cho họ về cuộc sống mới và một thế giới tốt đẹp hơn. Moody và những người ủng hộ đã thu thập hàng trăm chứng cứ loại này; mọi câu chuyện do các bệnh nhân kể đều trùng hợp tới từng chi tiết nhỏ - điều đó chứng tỏ những câu chuyện này không thể là giả mạo.

Kết luận do Moody đưa ra làm mọi người hy vọng sự bất tử là có thực, nhưng ý niệm này gặp không ít phản đối. Giáo sư tâm thần học nổi tiếng Stanislav Grof là người chỉ trích gay gắt kết luận của Moody. Ông thực hiện hàng loạt thí nghiệm với những bệnh nhân sau trạng thái chết lâm sàng và kết luận: đường hầm mà nhiều người nhìn thấy trong lúc chết lâm sàng chính là hình ảnh khi đứa trẻ đi qua một kênh sinh nở dài và hẹp, vì vậy ánh sáng mà bệnh nhân nhìn thấy cuối đường hầm chính là phòng sản nơi chúng ra đời. Và kết quả thật bất ngờ khi một người chưa bao giờ rơi vào trạng thái chết lâm sàng cũng nhìn thấy đường hầm tương tự khi được Giáo sư Grof làm thí nghiệm thôi miên...

Nhà vật lý Paul Kurtz, nhà sinh lý học Jack Kowan và nhà thần kinh sinh học Elizabeth Clark cho rằng hình ảnh đường hầm được tạo ra tại những phần vỏ não đang hấp hối có chức năng điều khiển thị giác. Điều này xảy ra khi có hiện tượng thiếu hụt oxy tại các tế bào đang chết và kết quả là các đợt sóng kích thích tạo thành các vòng tròn đồng tâm. Chúng ta có thể nhìn thấy những vòng tròn này khi lặn dưới nước quá lâu hoặc khi lộn đầu xuống đất. Phần ý thức đang bị chết ở con người nhìn thấy nhiều vòng tròn kéo dài thành một đường hầm. Các nhà nghiên cứu theo chủ nghĩa duy vật khẳng định tất cả chỉ là sự tưởng tượng và đó là giấc mơ của người bệnh trong lúc hôn mê.

Tuy nhiên, chính các chuyên gia này cũng không thể lý giải tại sao ở những bệnh nhân não không hoạt động mà họ vẫn nhìn thấy hình ảnh đường hầm, ánh sáng chói lòa và người thân đã chết. Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Nga Clail Kaznacheyev cho rằng hiện tượng đầu thai không còn là điều đáng nghi ngờ bởi có rất nhiều thông tin xác nhận. Đáng tiếc là chưa có giả thuyết nào có thể giải thích một cách thỏa đáng, cũng như chưa có bất kỳ giả thuyết khoa học nào về hiện tượng kỳ bí này.

Theo QT, Prevada, vdcmedia

Việt Báo // (Theo_Thanh_Nien)

Bình luận (20)  

Viết bình luận
  • Hocvien

    Đầu thai

    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

    Đầu thai (luân hồi chuyển kiếp) là một niềm tin được tìm thấy trong các triết lý tôn giáo lớn của Ấn Độ, bao gồm Yoga, Phật giáo, đạo Jain và một số tôn giáo khác.

    Trong khái niệm đầu thai, một tính cách mới được phát triển trong mỗi kiếp sống mới trong thế giới loài người, dựa vào các kinh nghiệm tích lũy từ các kiếp sống trước và những kinh nghiệm mới đạt được trong kiếp sống hiện tại, nhưng cá tính của người đó vẫn là không đổi trong suốt các kiếp sống kế tiếp nhau. Người ta tin rằng có sự tương tác của những sự sắp đặt trước của một số kinh nghiệm sống nào đó, hay là những bài học được dự định là sẽ xảy ra trong kiếp sống đó, và những hành động tự chọn bởi chính bản thân người đó trong khi họ đang sống kiếp đó.

    Mục lục

    [ẩn]

    [sửa] Khái niệm chung

    Niềm tin vào sự đầu thai là một hiện tượng có từ thời cổ đại; trong nhiều hình thức khác nhau, từ thời Ai Cập cổ đại, hay có lẽ là trước đó, con người đã tin vào một cuộc sống tương lai sau khi chết. Các ngôi mộ cổ chứa đựng cả người và của cải có thể là bằng chứng cho niềm tin rằng người đó có thể lại cần đến những thứ của cải đó mặc dù đã chết một cách vật lý.

    Nói vắn tắt, có một số quan niệm phổ biến về một dạng sống trong tương lai. Trong mỗi quan niệm đó, hoặc là người đó hoặc là một thành phần cốt yếu định rõ người đó (linh hồn hay tinh thần) vẫn tiếp tục tồn tại:

    • Đầu thai dưới dạng con người.
    Nhiều kiếp sống kế tiếp nhau trên mặt đất, thông thường bao gồm cả một niềm tin về việc đi vào thế giới tâm linh hoặc là các tầng tồn tại giữa sự chết và tái sinh. Đây là dạng thông thường của đầu thai (cũng được gọi là "tái sinh"). Trong nhiều phiên bản, cuối cùng có một tiềm năng thoát khỏi vòng luân hồi, chẳng hạn như bằng cách hợp nhất vào với Chúa trời, hoặc là đạt được sự khai sáng, một dạng của việc tự nhận thức, một sự tái sinh tâm linh, đi vào cõi tâm linh v.v..
    Người ta chết đi, và trở lại dạng tồn tại này dạng tồn tại khác một cách liên tục, dạng của họ khi trở lại có thể ở loại 'cao hơn' hay 'thấp hơn' phụ thuộc vào hạnh kiểm (đạo đức) của họ trong kiếp sống hiện tại. Niềm tin này có giả thiết sự chuyển đổi giữa linh hồn người và động vật, ở tầng thấp nhất có thể bao gồm cây cỏ và đất đá.
    • Ngày cuối cùng
    Người ta chỉ sống một đời. Sau khi chết, họ có thể quay lại trần gian hoặc là được làm sống dậy trong Ngày phán xét cuối cùng nào đó, hoặc là tại một trận chiến cuối cùng nào đó (ví dụ trận Ragnarök trong thần thoại Bắc Âu). Sau đó, họ có thể lên thiên đàng hoặc địa ngục, hoặc tái tinh trở lại trên mặt đất. Niềm tin này là một viễn ảnh khải huyền của tương lai.
    • Các niềm tin vào Cuộc sống sau khi chết (Afterlife) cũng liên quan đến các niềm tin trên, nhưng không bao gồm việc quay trở lại với một dạng thể xác.
    Người ta sống trên mặt đất này, và sau đó sống trong một dạng cuộc sống sau khi chết nào đó trong suốt phần còn lại của vĩnh cửu tại một nơi được gọi bằng nhiều cách khác nhau là thiên đàng (hoặc địa ngục), âm phủ hoặc trời, hay những thứ tương tự. Họ không quay trở lại trần gian.

    Những niềm tin về sự đầu thai hay luân hồi được phổ biến rộng rãi trong các tôn giáo và đức tin. Một số người xem đó là một phần của tôn giáo, và những người khác thấy đó chỉ là một câu trả lời cho các câu hỏi thường gặp về đạo đứcsinh tồn, như là "ý nghĩa của cuộc sống", "tại sao chúng ta lại ở đây", hay là "tại sao những điều xấu đôi khi dường như là xảy đến với người tốt". Quan niệm về sự đầu thai cho rằng một người đã ở hay là sẽ trở lại thế gian này trong một thể xác khác. Điều này gợi đến một sự kết nối giữa những cuộc đời có vẻ không liên quan đến nhau, và (trong đa số các trường hợp) có thể có bằng chứng ẩn giấu về sự nối tiếp giữa cuộc đời của những người khác nhau, nếu được tìm kiếm. Những người ủng hộ thuyết này cho rằng thực tế là như vậy, trong khi những người chỉ trích có xu hướng bác bỏ điều này do những ẩn ý về mặt siêu hình của nó hay do việc nó chưa được khoa học chấp nhận với lý do là các cách giải thích khác của hiện tượng chưa được loại trừ một cách hoàn toàn. Các bằng chứng cho việc đầu thai thiên về ba loại:

    • Truyền thống chung tin rằng một số người (như là Đạt-lại Lạt-ma hay Ban-thiền Lạt-ma của Phật giáo) có thể được xác định bằng cách đi tìm một đứa bé ra đời vào thời điểm những nhân vật đó qua đời, và bằng một số dấu hiệu và kiến thức đặc biệt mà đứa trẻ đó có được về người tiền nhiệm. Trong trường hợp của Phật giáo, có những thử nghiệm được định nghĩa rõ ràng cho việc xác định một đứa bé như vậy.
    • Trong văn hóa phương Tây, hồi tưởng tiền kiếp (past life regression) hoặc kinh nghiệm cận tử (near-death experience) đã có lần cung cấp những thứ được cho là ký ức của những kiếp sống trước, một số trong đó về lý thuyết là có thể kiểm chứng được, và một số khác có thể kiểm nghiệm rằng chỉ là bịa đặt. Một số khía cạnh của những trải nghiệm này có xu hướng thống nhất theo một cách nào đó (những thực thể ánh sáng beings of light, những thông điệp bình an và đầy tình yêu, v.v.), với một số người thì một yếu tố đã đem lại sự tin tưởng, còn với một số người khác thì đây là yếu tố hỗ trợ cho tư tưởng rằng có "một thứ gì đó" xảy ra nhưng không chắc chắn được đó là điều gì.
    • Cuối cùng, đối với nhiều người, bằng chứng là nội tại và mang tính thực nghiệm, niềm tin hay kinh nghiệm cá nhân. Điều này có không thể không phải là một chứng minh, nhưng đối với họ, như vậy là đủ để tin vào điều đó.

    Mặc dù một số người cho là một số sự kiện nhớ lại kiếp sống trước đã được ghi chép lại và thử nghiệm một cách khoa học, khoa học chưa chính thức chấp nhận đầu thai như là một hiện tượng chứng minh được.

    [sửa] Khái niệm đầu thai trong tôn giáo phương Đông

    [sửa] Ấn Độ giáo

    Bài chi tiết: luân hồi

    Ấn Độ ý tưởng về sự đầu thai được giới thiệu lần đầu tiên trong Áo nghĩa thư (Upanishad) (c. 800 TCN - ), là những bản kinh về triết lý và tôn giáo được viết bằng tiếng Phạn. Học thuyết về sự đầu thai là không có trong bộ kinh Vệ Đà, nhìn chung được xem là bộ kinh cổ xưa nhất của Ấn Độ.

    Ấn Độ giáo quan niệm rằng linh hồn (của bất kì thể sống nào - bao gồm muôn thú, con người và cây cỏ) đầu thai có liên hệ một cách phức tạp với nghiệp(karma), một khái niệm khác lần đầu được giới thiệu trong bộ Áo Nghĩa thư. Nghiệp (nghĩa đen là hành động) là tổng của các hành động của một người, và là lực sẽ quyết định sự đầu thai kế tiếp của người đó.

    Vòng xoay của việc chết và tái sinh, được điều khiển bởi nghiệp, được gọi là luân hồi (samsara). Những ý tưởng về đầu thai, nghiệp, và luân hồi đều được tìm thấy trong Ấn Độ giáo, Phật giáo, đạo Jainđạo Sikh. Trong tất cả các truyền thống tôn giáo này, sự cứu rỗi cuối cùng là sự giải thoát (moksha hay là mukti) khỏi vòng luân hồi của việc chết đi và tái sinh. Trong Phật giáo, sự giải thoát này thường được nhắc đến như là niết bàn (nirvana). Các truyền thống Bhakti (sùng kính) khác xem việc giải thoát khỏi luân hồi như là sự bắt đầu của một đời sống tâm linh thật sự, tiếp tục vượt lên trên cả niết bàn và tự do khỏi cõi trần tục.

    Khái niệm niết bàn được phổ biến rộng hơn (xem Phái Bất Nhị (Advaita Vedanta)]]) theo sau sự hiện diện của nhà hiền triết Ấn Độ giáo vĩ đại Adi Shankaracharya. Đối với một số trường phái Ấn Độ giáo, quan niệm rằng việc làm lắng đọng các nghiệp của một người và trở nên hài hòa cuối cùng sẽ giải thoát người đó khỏi sự đầu thai là một giáo lý trung tâm.

    Theo quan điểm của Ấn Độ giáo, đầu thai không thể giống như sự xuất hiện trở lại của linh hồn hay một người ở trong một cơ thể vật chất, mà đúng hơn là cảm nhận về thế giới chỉ tồn tại như một biểu thị xung quanh nhận thức, và điều này chỉ được duy trì như là một hành động của tâm thức. Theo Adi Shankaracharya, thế giới như chúng ta thường nhận biết nó chỉ là một giấc mơ: phù du và viển vông. Bị kẹt lại trong Luân hồi là kết quả của sự thiếu hiểu biết về bản chất thực sự của sự sinh tồn.

    [sửa] Phật giáo

    Phật giáo chấp nhận thuyết luân hồi (samsara), quá trình của việc tái sinh; tuy nhiên, vẫn còn có những tranh luận về thứ gì được tái sinh.

    Thêm vào khái niệm vô ngã, Phật giáo Tây Tạng tin rằng một đứa trẻ mới ra đời có thể là tái sinh của một vị Lạt-ma quan trọng nào đó vừa mới qua đời. Trong Phật giáo Tây Tạng, những chất liệu làm nên bản ngã nhất thời (ngũ uẩn - skandha) của một Lạt-ma quan trọng (như vị Đạt-lại Lạt-ma) được cho là tái sinh vào một trẻ sơ sinh sinh ra chín tháng sau khi vị Lạt-ma đó qua đời. Quá trình này được cho là xảy ra sau nhiều năm kết tinh ngũ uẩn qua tu tập. Và người ta nói rằng, sau khi thể xác chết, một phần của ngũ uẩn đã kết tinh (cái mà thông thường sẽ tan rã khi chết) sẽ tự gắn vào với ý thức. Nhờ đó, khi tái sinh, con người mới sẽ có một phần tính cách cũ. Tuy nhiên, niềm tin này không mâu thuẫn với những lời dạy của Phật về bản chất nhất thời của bản ngã.

    Phật đã nói như sau về việc tái sinh.

    Kutadanta, (một vị Bà La Môn thông bác kinh điển Phệ Đà là đệ tử của Phật) nói: "Ngài tin rằng, thưa Thế tôn, chúng sinh được tái sinh; rằng họ sẽ di chuyển trong sự tiến hóa của cuộc đời; và họ phải theo quy luật của nghiệp chúng ta phải thu kết quả mà chúng ta đã gieo. Thế nhưng ngài dạy rằng linh hồn không tồn tại! Những đệ tử của ngài ca tụng sự dập tắt ham muốn là hạnh phúc cao nhất của cõi Niết bàn. Nếu như tôi chỉ đơn thuần là tổ hợp của các luân hồi, sự tồn tại của tôi sẽ chấm dứt khi tôi chết. Nếu tôi chỉ là một hỗn hợp của các cảm giác ý nghĩ và ham muốn, tôi sẽ đi về đâu khi thân thể đã tan biến?"

    Đức Phật trả lời:

    "Ô Brahman, ông là người ngoan đạo và nhiệt tình. Ông lo lắng một cách nghiêm túc về linh hồn của mình. Thế nhưng công sức của ông là vô ích bởi vì ông thiếu một thứ mà ông cần."

    "Có sự tái sinh của tính cách, nhưng không có sự luân hồi của bản thân. Những dạng ý nghĩ của ông sẽ tái xuất hiện, nhưng không có sự luân chuyển của bản ngã. Bài thơ được thốt lên bởi người thầy sẽ được tái sinh trong một học giả lặp lại những lời đó.

    Khái niệm đầu thai trong tôn giáo phương Tây

    [sửa] Xem thêm

    [sửa] Tham khảo

    [sửa] Sách báo khoa học

    • Dr. Ian Stevenson, Reincarnation and Biology: A Contribution to the Etiology of Birthmarks and Birth Defects ISBN 0-275-95283-5
    • Dr. Ian Stevenson, Children Who Remember Previous Lives: A Question of Reincarnation, revised edition (This is a text aimed mainly at an undergraduate audience.) ISBN 0-7864-0913-4

    Related publications:

    • Jim B. Tucker, Dr., Life Before Life: A Scientific Investigation of Children's Memories of Previous Lives ISBN 0-312-32137-6
    • Paul Edwards, Reincarnation: A Critical Examination ISBN 1-57392-921-2
    • Titus Rivas, published at the Journal of Scientific Exploration, U.S.A. 2003:
    • Three Cases of the Reincarnation Type in the Netherlands abstract

    Emily Williams Cook, Bruce Greyson, and Ian Stevenson, published at the Journal of Scientific Exploration, U.S.A. 1998:

    • Do Any Near-Death Experiences Provide Evidence for the Survival of Human Personality after Death? Relevant Features and Illustrative Case Reports pdf

    Pim Van Lommel, Dr., Dutchman, Cardiologist, Division of Cardiology - Hospital Rijnstate. Published 13-year study, at the world leading medical science journal "The Lancet" in 2001 (358: 2039-45), of NDEs observed in 10 different Dutch hospitals with survivors of cardiac arrest:

    • Near-death experience in survivors of cardiac arrest: a prospective study in the Netherlands www pdf
    • A Reply to Shermer: Medical Evidence for NDEs, 2003, www

    David Fontana, Prof., Cardiff University and Liverpool John Moores University, UK, published at magazine "ParaDocs", Finland 2003:

    • Does Mind Survive Physical Death? pdf

    Anabela Cardoso, Dr., University of Minho, Portugal, published at magazine "ParaDocs", Finland 2003:

    • ITC Voices: Contact with Another Reality? pdf

    Neal Grossman, Prof., Ph.D. in The History and Philosophy of Science from Indiana University, and associate professor at the University of Illinois, Chicago, published at the Institute of Noetic Sciences (IONS) in 2002:

    • Who's Afraid of Life After Death? Why NDE Evidence is Ignored www.

    Journal of Conscientiology:

    • Special Thematic Issue: Intermissive Period and Intermissive Courses, Journal of Conscientiology No. 26, London, UK.

    [sửa] Sách vở

    [sửa] Liên kết ngoài

    (tiếng Việt)

    (tiếng Anh)

    05:45 19-07-10
  • Hocvien

    Vấn đề đầu thai hay tiền kiếp, hậu kiếp cho đến nay thật sự chưa hoàn toàn là vấn đề mà các nhà nghiên cứu, nhất là các nhà khoa học chấp nhận là có thật, tuy nhiên, trên thế giới từ xưa đến nay vẫn không ngừng xảy ra những hiện tượng có liên hệ đến vấn đề này. Những hiện tượng mà ngay các nhà khoa học "khó tính" nhất cũng khó lòng bỏ qua hay giải thích một chiều theo luận cứ của khoa học thực nghiệm được.
    Thật ra trên thế giới đã có vô số trường hợp liên hệ đến vấn đề đầu thai, những trường hợp bàn bạc trong dân gian, hay được lưu giữ lại qua những tài liệu trong các tu viện, các đền thờ, các thư viện và gần đây nhất là trong các viện nghiên cứu về đầu thai ở Hoa Kỳ, Ấn Ðộ, Anh Quốc, Pháp , Ý và cả Nga Sô...

    Sau đây chúng tôi xin trích dẫn lại một số trường hợp điển hình nhất và đáng lưu tâm nhất, một số trường hợp mà trong các tài liệu lưu giữ tại trung tâm nghiên cứu về vấn đề tiền kiếp tại Virginia (Hoa Kỳ) đã sếp riêng và đánh dấu hiệu lưu ý vào đó.

    Trường Hợp Của Danh Tướng GEORGE S. PATTON

    George S. Patton là một danh tướng Hoa Kỳ, một nhà chiến lược kỳ tài mà cả thế giới đều biết. Tánh tình nghiêm khắc và luôn luôn chỉ biết có "kỷ luật sắt, kỷ luật là sức mạnh của quân đội". Con người hùng ấy lại có một bộ óc lạ lùng là luôn luôn tin vào thuyết luân hồi. Ông thường bảo: "Cuộc đời và cuộc sống là cái vòng tuần hoàn chuyển tiếp nhau. Ðời tôi cũng nằm trong cái vòng tuần hoàn chuyển tiếp nào đó."

    Một sĩ quan cao cấp đã kể lại câu chuyện có thật về tướng Patton như sau: "Hôm đó tướng Patton đến thăm một vùng đất lịch sử tại Ý. Ðó là vùng đất nằm cạnh sông Métaure, nơi mà xưa kia, trong trận chiến hãi hùng giữa Carthage và Rome với những đoàn quân dũng mãnh của hai phe đã để lại trên chiến trường hàng ngàn tử thi đẩm máu, mặc dầu hai bên đều đã được chiến lược gia, những danh tướng điều khiển. Hình ảnh hùng tráng rùng rợn ấy đã đi vào quá khứ, và cách thời đại của tướng Patton đến hơn 1800 năm, nhưng khi tướng Patton cùng các tướng lãnh và một số quan chuyên về sử học tháp tùng đến thăm vùng đất này, và thử ôn lại những chiến thuật và chiến lược của trận đánh ấy thì điều kỳ dị mới sẩy ra. Nhân lúc một Ðại Tá trình bày những nơi đóng quân của hai phe Carthage và Rome cho tướng Patton nghe thì ông này nhiều lần tỏ ý không hài lòng. Sau cùng tướng Patton cắt ngang lời viên Ðại Tá và nói như sau:

    "Tôi xin lỗi Ðại Tá, mặc dầu Ðại Tá là chuyên gia nghiên cứu về các trận chiến trong cuộc chiến tranh La Mã nhưng tôi khẳng định rằng đoàn kỵ binh của tướng Hasdrubul lúc bấy giờ (trong trận này) không phải đóng tại địa điểm mà Ðại tá đã trình bày ở vị trí đầu kia. Tôi quả quyết điều này vì một điều rất dễ hiểu là vào thời đó, chính tôi đã có mặt tại đó..."

    Và tăng cường cho sự tin tưởng của mọi người có mặt chung quanh ông, tướng Patton nghiêm nét mặt, đưa cao chiếc can cầm ở tay lên chỉ về một địa điểm trước mặt và lập lại câu nói thật chậm rãi, rõ ràng:

    "Ðó là đia điểm mà đoàn kỵ binh của Hasdrubul là ở đó và tôi nhắc lại lúc ấy tôi đã ở đó!..."

    Trong những lần dừng chân nơi chiến trận hay những lúc nghỉ ngơi, tướng Patto thường nói đến những địa danh và những mặc trận cổ xưa mà ông đã từng có mặt tuy rằng những nơi đó đã đi vào quá khứ xa xăm hay chỉ còn lại trong các bộ sử nơi các thư viện.

    Trong nhật ký của mình, tướng Patton thường ghi lại các cảm nghĩ lạ lùng của mình về những gì mà ông gọi là kiếp trước. Có đoạn ông viết:

    "Tôi tin là có tiền kiếp và hậu kiếp. Tôi tin, thật sự tôi biết rằng tôi đã có ít nhất là một quãng đời trước đây trong binh nghiệp và hiện nay tôi lại đầu thai lần nữa vào đời binh nghiệp."

    Về sau, một hội nghị quốc tế với chủ đề là "ứng dụng của khoa tâm lý học" tổ chức lần thứ 14 vào năm 1961, một nhân vật có tên tuổi là Aldons Huxley đã trình bày trường hợp của tướng Patton cùng câu chuyện lạ kùng xẩy ra trong lần đi thăm chiến trường cổ xưa La Mã ấy. Trường hợp này đã được báo Paris Match đăng tải và bình luận vào ngày 23 tháng 3 năm 1989. Trong lần diễn đàn này, Aldons Huxley đã phát biểu như sau: "Không riêng gì tướng Patton mà ngay cả chúng ta đây, đôi lúc ở những thời điểm nào đó trong đời bỗng ta có cái cảm giác, cái suy nghĩ, cái nhìn kỳ lạ mà ý thức của chúng ta như bỗng nhiên hé mở, có khi ta bắt gặp một hình ảnh, một sinh hoạt, một tiếng nói, một cảnh tượng, một con người mà hình như ta có lần đã thấy, đã nghe, đã ở, đã đi qua, mặc dầu trong cuộc đời chưa bao giờ gặp. Ðó là quá khứ, quá khứ ấy không phải trong một cuộc đời hay nói khác đi là trong "một kiếp" mà là trước đó nữa. Cảm nhận ấy đôi khi vượt ra khỏi cái cảm nhận của giác quan thông thường ở mỗi con người chúng ta để đi về quá khứ xa xăm hay có thể gọi là tiền kiếp.

    (Sưu tầm)

    05:46 19-07-10
  • Hocvien

    Người có hiện tượng lạ: Khoa học, không phải huyễn hoặc!

    Cập nhật lúc 12:17, Thứ Hai, 06/11/2006 (GMT+7)
    ,

    (VietNamNet)-Bịt mắt nhưng vẫn đọc được...người có hiện tượng lạ như trên là chuyện có thật mà khoa học đang lý giải, chứ không phải huyễn hoặc! Nhà khoa học Nguyễn Phúc Giác Hải thuộc Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người giải thích về một số hiện tượng lạ ở người nhưng có thật tại Việt Nam.

    - Gần đây, báo chí đưa tin về những con người có khả năng kỳ lạ, như bịt mắt mà vẫn nhìn thấy và đọc được... Là nhà khoa học, ông có tin vào những chuyện như thế không? Liệu đó có phải là trò ảo thuật?

    Nhà khoa học NGuyễn Phúc Giác Hải. (Ảnh: N.Huyền)

    Nguyễn Phúc Giác Hải: Những người có khả năng kỳ lạ thì có nhiều như nhận biết ý nghĩ của người khác, định vị địa điểm khác để tìm những người mất tích, xác định vật bị thất lạc hay tìm mộ từ xa.

    Những trường hợp này Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng con người đã giới thiệu rất nhiều. Thế nhưng, gần đây có hiện tượng một người phụ nữ là chị Hoàng Thị Thiêm, 40 tuổi ở Lương Sơn, Hòa Bình.

    Chị Thiêm có khả năng bịt mắt mà vẫn đọc được.

    Tuy nhiên, người được thực nghiệm luôn đòi hỏi không được bịt ở giữa trán, hai nhân trung và một chút xuống khoang mũi giữa hai khóe mắt.

    Vì vậy, chúng tôi đã bịt khăn trễ xuống một chút ở trán và chị phải đọc ngang trục mắt.

    Sau đó, chúng tôi còn tự chế ra một cái kính bằng cách dùng kính đeo mắt thông thường có lót bên trong một tấm xốp dày. Đồng thời, lót hai lần mút đen có độ khoét hở một chút trán (ấn đường) và buộc dây thật chắt ở phía sau.

    Trước khi đưa vào thực nghiệm, chúng tôi đã đưa cho những người khác để thử.

    Hơn nữa, chúng tôi thử chị bằng cách đưa các tài liệu chỉ riêng tôi có và bằng các góc độ khác nhau thì chị vẫn đọc được. Chiếc kính do chúng tôi tự chế buộc trục mắt của chị Thiêm luôn đi theo tầm ngang, chứ không phải trên hoặc dưới để chị có thể nhìn qua khe được.

    Chị Hoàng Thị Thiêm đang đọc báo. (Ảnh: Nguyễn Phúc Giác Hải)

    Chúng tôi đã thử nghiệm nhiều lần khả năng đọc của chị Thiêm khi được bịt mắt.

    Mới đầu, chị Thiêm chỉ "nhìn" được bằng "ấn đường", tức phần trên trán. Sau đó, để tờ giấy bên cạnh thái dương, chị cũng nhìn được. Bịt kín cả mặt, nhưng không che vùng trán và chỉ để hở tý mũi, chị cũng đọc được. Cũng nên lưu ý, mắt của chị Thiêm cũng như mắt của mọi người bình thường khác, nghĩa là không nhìn thấy trong bóng tối. Khi tắt đèn đi thì chị Thiêm không đọc được, dù bịt mắt hay không bịt mắt!

    Có thể đó là những vùng trên đầu của chị Thiêm có chức năng tiếp nhận thông tin. Thế nhưng thông tin ấy được truyền hình ảnh trong não như thế nào thì đó là vấn đề đặt ra. Cần phải có nhiều nghiên cứu thêm nữa để đưa ra được cách lý giải phù hợp về mặt khoa học.

    Tuy nhiên, tôi khẳng định đây là một hiện tượng phi thường, chứ không phải là một trò ảo thuật!.

    - Như trường hợp của chị Thiêm, một số tờ báo cho là hiện tượng "lạ" nhưng cũng có báo như tờ An Ninh thủ đô số 1870 (2705) ngày 3/11 cho biết "thực tế người phụ nữ "ba mắt" này có dấu hiệu của một trò lừa bịp hơn là một khả năng phi thường của con người"... Ý kiến của ông như thế nào?

    - Tôi cho rằng đó là ý kiến cá nhân của họ.

    Điều thứ nhất, khả năng kỳ lạ của chị Hoàng Thị Thiêm đã được kiểm chứng qua nhiều nghiên cứu của Liên hiệp Tin học Ứng dụng UIA, Trung tâm nghiên cứu Tiềm năng con người trong hai năm nay.

    Trong một số cuộc kiểm chứng, còn có sự chứng kiến của  nhiều người và kể cả các nhà báo. Thậm chí, một số phóng viên báo chí đã trực tiếp làm thí nghiệm với chị Thiêm, nhưng chị vẫn vượt qua các cuộc kiểm tra và vẫn đọc được khi bị bịt mắt lại.

    Vậy thì đó không phải là dấu hiệu lừa bịp!

    Trong khi đó, có một bác sỹ đến từ Hưng Yên đã phản đối khả năng của chị Thiêm. Ông cho rằng, chị Thiêm làm được thì ông cũng làm được. Thế nhưng khi chúng tôi yêu cầu được thử nghiệm với ông thì ông đã từ chối. Nếu ông có khả năng thực sự như vậy thì đó là một điều may mắn cho chúng tôi vì đã phát hiện thêm một người nữa có khả năng kỳ lạ!

    Đeo kính có lớp xốp dày và hai miếng mút màu đen lót bên trong nhưng vẫn... đọc được.  (Ảnh: Nguyễn Phúc Giác Hải)

    Thứ hai, nếu ai đó không tin, họ có thể đề nghị được thực nghiệm lại khả năng của chị Thiêm nhưng không cần lời đề nghị này, chúng tôi cũng vẫn tiếp tục khảo sát hiện tượng kỳ lạ này.

    Thứ ba, nhiều phóng viên đã thử bằng những cách khác nhau như dùng tay bịt hai mắt chị vẫn đọc được...

    - Thế nhưng, khoa học lý giải như thế nào về những hiện tượng kỳ lạ đó?

    - Đối với khả năng đặc biệt của chị Thiêm có thể đọc được bằng ấn đường, để bên cạnh thái dương. Tức là chị có cảm giác đó là những vùng có thể tiếp nhận thông tin. Nhưng những thông tin đó được truyền hình ảnh trong não như thế nào đó là vấn đề chúng tôi cần phải tiếp tục có thêm nhiều nghiên cứu nữa để đưa ra những giả thuyết thích hợp.

     

    Nhà khoa học Nguyễn Phúc Giác Hải sinh năm 1934 tại Hải Phòng. Năm 1957, ông theo bố mẹ lên Hà Nội học tập và công tác. Năm 1954, sinh viên Khoa sinh Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc Gia Hà Nội) sau đó chuyển sang Khoa sinh Trường Đại học Sư Phạm I Hà Nội. Từ 1956-1958: Giáo viên Trường Sư phạm Trung cấp Trung Ương. Từ 1958-1964: Giáo viên Trường Bổ túc Văn hóa Công nông Trung Ương. 1964-1999: Nghiên cứu viên chính Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Sau 1999: Nghỉ hưu.

    Nhà khoa học Nguyễn Phúc Giác Hải đã từng đảm nhiệm chức vụ Tổng thư ký đầu tiên Hội Di truyền học Việt Nam; Ủy viên BCH TW Hội các ngành Sinh học Việt Nam; Ủy viên BCH Hội Thiên văn Vũ trụ - Hội Vật lý Việt Nam; Hội viên phong tặng "Hội Thiên văn Quốc tế Thái Bình Dương" . Ông cũng là tác giả công trình nghiên cứu "Nguồn gốc tên nước Việt Nam" và các quyển sách như  "Những kỳ lạ trong thế giới sinh vật" NXB giáo dục 1964; "Từ nguyên tử đến con người" (NXB Từ điển Bác khoa- 2006) và quyển "Lý thuyết mã số vũ trụ" sắp xuất bản.

    Khả năng bịt mắt đọc sách của chị Thiêm không những đặc biệt mà còn gọi là phi thường. Sở dĩ như vậy là do hiện nay,  trên thế giới, chưa phát hiện trường hợp tương tự.

    Chúng ta không nên bỏ qua, không nghiên cứu hiện tượng này!

    Thử giải thích về mặt khoa học. Chúng ta có hai cây đàn dựng đứng cạnh nhau.Khi đánh dây son ở một cây đàn và bịt dây đàn lại thì cây đàn bên cạnh cũng rung lên nốt "son". Người ta gọi đó là hiện tượng "cộng hưởng".

    Tôi đã từng được biết những hiện tượng kỳ lạ như trường hợp một cặp song sinh.

    Người anh là Đ.T.Q, hiện đang là Trưởng phòng biên tập của một tờ báo báo ở Hà Nội. Còn người em là Đ.T.M, hiện đang là bác sỹ thú y. Anh có nhọt trên đầu em cũng có nhọt trên đầu. Anh đí đánh nhau người ngoài đường bị đau tay thì tay của em ở nhà cũng bị đau!

    Tôi cho rằng đây là hiện tượng cộng hưởng như đã nêu trên.

    Chúng ta thử nêu giả thuyết, giữa con người có cùng tần số bước sóng suy nghĩ thì họ có thể đưa ý nghĩ của họ sang cho người kia nhận.

    Đối với người có khả năng ngoại cảm, họ có thể điều khiển tần số trong não của họ như một máy nhận - phát sóng của họ để bắt vào sóng của người kia.

    Đó là cách giải thích và là giả thuyết để nghiên cứu.

    - Ở Việt Nam, những người có khả năng kỳ lạ có nhiều không? Các nhà khoa học có khảo sát và nghiên cứu đến nơi, đến chốn tất cả những trường hợp đó không?

    - Đã gọi là khả năng kỳ lạ thì không có nhiều. Mỗi một khả năng khác nhau, chúng tôi có cách khảo sát khác nhau.

    Trường hợp người đọc được ý nghĩ của người khác, chúng tôi đã thực nghiệm bằng cách viết ý nghĩ của mình ra giấy ở một phòng khác và gấp lại. Chỉ có chúng tôi biết nội dung đã ghi trong tờ giấy nhưng người này vẫn đọc ra được những chữ đó. Rõ ràng, họ đã đọc được những ý nghĩ mà chúng tôi gửi vào trong tờ giấy đó.

    Cũng có một số người có khả năng "lạ" như khi họ đến một ngôi nhà, họ có thể cảm thấy trường khí của ngôi nhà này hợp hay không hợp với chủ nhân của ngôi nhà. Người ta gọi những người này là "cảm xạ phong thủy". Rồi có người có khả năng phát ra năng lượng để điều chỉnh rối loạn sinh học của người khác (người dùng năng lượng để chữa bệnh). Cũng có người có khả năng nhận biết suy nghĩ người khác, gọi là người có thần giao cách cảm. Lại cũng có người có khả năng điều khiển ý nghĩ của người khác gọi là tâm lý điều khiển.

    Bây giờ tôi quay lại vấn đề nghiên cứu hiện tượng lạ... chúng ta không thể đòi hỏi một lúc mà xuyên suốt các công việc.

    Chúng tôi mới chỉ đi những bước đầu tiên. Việc nghiên cứu các hiện tượng "lạ" này thường gặp khó khăn do nhận thức của mọi người, vì thế, phải dũng cảm chịu những búa rìu dư luận... Có trường hợp cấp trên đã "mở", đã cho phép nghiên cứu nhưng do người ta không truyền đạt cho cấp dưới tạo điều kiện nghiên cứu nên một số trường hợp nhà nghiên cứu đành phải bỏ dỡ...

    Bịt mắt bằng khẩu trang dày nhưng vẫn có thể nhìn thấy để đọc (Ảnh: N.P.G.Hải)

    Điển hình, có một trường hợp "đầu thai" ở Thanh Hóa. Một đứa bé đẻ ra nói rằng trước đây là con của một gia đình ở cách nơi nó sinh ra mấy chục cây số. Trung tâm tiềm năng lập tức cử người đến nghiên cứu. Thế nhưng khi đến nơi, địa phương đã không cho tiếp xúc.

    Hay như trường hợp ở huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, xảy ra hiện tượng một nữ sinh bị ngất thì hàng chục nữ sinh bị ngất theo gây rối loạn tập thể.

    Tôi giải thích đó là sự cộng hưởng. Trong khi đó, ngành y tế giải thích là rối loạn của tuổi dậy thì. Nếu giải thích như thế, rối loạn chỉ có thể xảy ra ở một người chứ tại sao lại xảy ra hiện tượng ngất dây chuyền, hàng loạt như thế? Đây là cách nhìn của nhà khoa học nghiên cứu ngoại cảm, nhưng một vài người trong ngành y tế bó hẹp và giải thích, công chúng không nghe.

    - Theo chúng tôi được biết ở nước ngoài khi nghiên cứu những khả năng kỳ lạ của con người họ được trang bị phòng cách ly, hệ thống đo điện não hiện đại... Vậy ở Việt Nam, có đủ điều kiện nghiên cứu những người có khả năng kỳ lạ chưa?

    - Ở nước ngoài, họ có phòng nghiên cứu và đầy đủ thiết bị nghiên cứu. Còn ở Việt Nam có rất nhiều hạn chế do tổ chức nghiên cứu chưa chính quy. Trang thiết bị nghiên cứu của chúng tôi chỉ có máy ghi âm, máy ảnh, máy ghi hình.

    Ngoài ra, trong một vài trường hợp có thể sử dụng thêm điện kế, người đặc biệt thì đưa đi đo điện não, một số trường hợp phân tích biến chuyển về tác động của năng lượng sinh học đối với các hoạt động cơ thể thì chúng tôi đưa đi phân tích chỉ số sinh hóa có gì biến đổi không.... Và kết quả xét nghiệm cho thấy, khi thực hiện các hiện tượng "lạ", năng lượng sinh học ở những người này có biến đổi.

     

    Trung tâm Nghiên cứu Tiềm Năng con người - Được thành lập tháng 11/1996, Giám đốc Trung tâm là GS.TS Đào Vọng Đức. Nhiệm vụ: - Điều tra, phát hiện những con người Việt Nam có khả năng kỳ lạ. Xác minh đưa vào thừ tiễn. - Xây dựng những giả thuyết lý luận để giải thích các hiện tượng kỳ lạ mà Khoa học chưa giải thích được. - Kinh phí hoạt động của Trung tâm được trích từ kinh phí hoạt động khoa học của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. - Những đề tài đặc biệt được Chính phủ cấp kinh phí riêng thông qua Bộ Khoa học và Công nghệ và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Năm 2006, Trung tâm được Nhà nước cấp kinh phí 400 triệu đồng.

    Hơn nữa, Trung tâm thiếu cơ sở để đưa những người có khả năng kỳ lạ về Trung tâm để thực nghiệm. Ví dụ như người có khả năng chữa bệnh không dùng thuốc muốn theo dõi họ phải có những hội trường lớn để bệnh nhân đến chữa bệnh và theo dõi...

    Ngoài ra, có sự hạn hẹp về kinh phí nghiên cứu và sự nhận thức của xã hội về các hiện tượng người có khả năng kỳ lạ.

    - Cho đến nay Việt nam có ghi chép và thống kê những người có khả năng kỳ lạ này không? Số lượng khoảng bao nhiêu?

    - Có vì đây là nhiệm vụ chính của Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người điều tra và phát hiện những con người Việt Nam có khả năng kỳ lạ.

    Trong 10 năm hoạt động, Trung tâm đã phát hiện được khoảng 20 người có khả năng kỳ lạ thực sự. Còn lại, chỉ là hoang tưởng vì không đạt tiêu chuẩn.

    - Thế nhưng, những nghiên cứu nói trên chỉ dừng lại ở góc độ nghiên cứu khoa học thôi sao... Liệu chúng có khả năng ứng dụng được gì trong thực tế cuộc sống không?

    - Chúng tôi vừa có nghiên cứu vừa đưa vào ứng dụng...

    Ví dụ người có khả năng dùng năng lượng để chữa bệnh thì chúng tôi khai thác chắc chắn để xác nhận khả năng của họ. Tuy nhiên, việc đưa vào thực tiễn chữa bệnh thì nhiều khi lại vướng thủ tục hành nghề. Do vậy, những người này cũng không phát huy được khả năng của họ. Hơn nữa, có khi họ còn bị làm phiền, rắc rối và lây sang cả những người xung quanh.

    Riêng vấn đề "tìm mộ bằng ngoại cảm" lúc đầu có nhiều ý kiến khác nhau. Nhưng trước những bằng chứng hết sức thuyết phục và nhất là do yêu cầu bức xúc của gia đình thân nhân liệt sỹ như vậy vấn đề này cần được thực hiện để phát huy.

    Còn việc một số nhà ngoại cảm có khả năng định vị sinh học, tìm người mất tích và giúp các cơ quan điều tra tìm hung thủ thì đã có thật trong thực tế. Tuy nhiên, việc này vẫn còn được các cơ quan chức năng giữ kín!

    Trờ lại vấn đề người có hiện tượng "lạ" như bịt mắt mà vẫn đọc được, chẳng hạn,  trên thế giới hiện nay chưa có ai bịt mắt mà đọc sách được. Nhân đây, tôi đề nghị các cơ quan khoa học tiếp tục nghiên cứu và có thể mời một số nhà khoa học trên thế giới cùng tham gia kiểm chứng, khảo nghiệm.

    - Xin cảm ơn ông!

    • Ngọc Huyền thực hiện
    05:47 19-07-10
  • Hocvien

    Gần sáu thập kỷ trước, một phi công 21 tuổi người Mỹ lái máy bay chiến đấu trong trận chiến trên biển Thái Bình Dương đã bị pháo cao xạ Nhật bắn rơi. Tên tuổi viên phi công này chắc hẳn sẽ rơi vào quên lãng nếu như mới đây không xuất hiện câu chuyện kỳ lạ về một cậu bé 6 tuổi có tên James Leininger.

    Ngay từ khi còn rất nhỏ, James đã không chơi bất kỳ loại đồ chơi nào ngoài các mô hình máy bay. Khi lên 2 tuổi, cậu bé thường xuyên gặp ác mộng với chính những chiếc máy bay mà cậu yêu thích. Mẹ cậu bé kể "Khi ngủ, James thường ú ớ vật vã. Tôi gặng hỏi James mơ thấy gì thì câu trả lời luôn là - Máy bay bốc cháy rồi, con không thể thoát ra được".



    Lúc đầu cha mẹ James không cho rằng con trai mình nằm trong số những trường hợp vẫn được mọi người nói đến như một hiện tượng đầu thai sang kiếp khác. Từ khi được sinh ra, James chỉ được xem các băng hình dành cho trẻ em. Trong gia đình chưa một lần bàn đến các đề tài lịch sử quân đội hay xem các phim tư liệu về Chiến tranh thế giới thứ II.



    Nhưng rồi dần dần cha mẹ James buộc phải tin vào giả định James đang nhớ lại cuộc sống trong quá khứ của cậu qua những điều được kiểm chứng sau đó. Một lần mẹ cậu mua một chiếc máy bay đồ chơi khác và chỉ cho cậu một bộ phận giống như quả bom ở dưới thân máy bay, cậu đã nói rằng đó chính là bình chứa nhiên liệu.



    Những cơn ác mộng của James ngày càng trở lên thường xuyên hơn, buộc bố mẹ cậu phải nhờ đến sự giúp đỡ của chuyên gia tư vấn và trị liệu Carol Bowman - người tin rằng đôi khi người chết có thể đầu thai.



    Bowman cho rằng ở độ tuổi của James, cuộc sống trước kia thường hay được hồi tưởng bởi đầu óc non nớt của trẻ chưa có nhiều trải nghiệm, những gì chúng biết chưa đủ để phủ lấp đi quá khứ trước kia và vì vậy ký ức thường dễ thâm nhập trí óc của chúng hơn.



    Với sự hướng dẫn của Bowman, cha mẹ James khuyến khích cậu chia sẻ ký ức của mình với bố mẹ. Kỳ diệu thay, bằng cách đó những cơn ác mộng của James bắt đầu giảm dần, thậm chí James còn có thể nói rõ ràng cho bố mẹ nghe về cuộc sống trong quá khứ của cậu. Cha mẹ James đã khám phá ra được nhiều chi tiết kỳ lạ về cuộc sống trước kia vốn là của một phi công lái máy bay chiến đấu.



    Phần lớn những chi tiết này được kể ra vào lúc James còn lơ mơ chưa ngủ sâu hẳn. Theo lời kể của James, chiếc máy bay của cậu bị một người Nhật bắn hạ và bốc cháy, đó là chiếc máy bay Corsair và đặc biệt là những chiếc máy bay chiến đấu của đội bay lúc nào cũng bị xẹp lốp.



    Trên thực tế, theo các nhà sử học và các phi công, lốp máy bay phải chịu nhiều sức va đập khi hạ cánh và tiếp đất. Nhưng hiếm khi có thể tìm thấy những thông tin này trong sách báo hay trên phương tiện thông tin đại chúng. Vậy thì bằng cách nào mà một cậu bé 6 tuổi lại có thể biết được những chi tiết ít người biết đến như vậy?



    James còn kể cho cha mẹ rằng tên chiến thuyền nơi cậu cất cánh là Natoma và tên người bay cùng với cậu là Jack Larson.



    Sau một thời gian kiếm tìm, Bruce (cha cậu bé) vô cùng kinh ngạc khi phát hiện ra hai cái tên Natoma và Jack Larson đều có thật. Natoma là tên tàu sân bay tại Thái Bình Dương và Larson hiện đang sống tại Arkansas.



    “James 2” chính là “James M. Huston Jr.”?



    Trên các bức họa vẽ bằng sáp màu của mình, cậu bé thường ký với tên "James 2". Bị ám ảnh về câu chuyện của cậu con trai, Bruce liên tục tìm kiếm trên Internet các kho tư liệu của quân đội.



    Theo chi tiết trong câu chuyện của con trai rằng máy bay của cậu bị bắn vào giữa động cơ tại Iwo Jima, Bruce đã tìm ra được viên phi công duy nhất của phi đội bay bị bắn hạ tại Iwo Jima là James M. Huston Jr. pháo thủ hộ vệ trên máy bay Hoa Kỳ cùng cất cánh từ Natoma Ralph Clarbour, cho biết máy bay của anh bay gần chiếc máy bay do James M. Huston Jr. điều khiển khi phi đội bay bị tấn công gần Iwo Jima vào ngày 3.3.1945.



    Clarbour còn cho biết anh nhìn thấy máy bay của Huston bị súng phòng không bắn, "tôi chắc chắn rằng máy bay của anh ấy bị bắn ngay chính giữa động cơ".



    Sau những thông tin đã được kiểm chứng, Bruice hoàn toàn tin chắc con trai mình đã từng có một cuộc sống trước kia với tên gọi James M. Huston Jr. Bố mẹ James quyết định viết thư cho chị gái của Huston là Anne Barron.



    Anne cũng tin vào những gì được nghe bởi những chi tiết "nếu không phải là James Huston thì không ai trên thế giới này có thể biết được". Cho dù những hồi ức đầy sống động và bí ẩn của James phai nhạt dần khi cậu lớn lên nhưng có hai đồ vật hằn sâu trong ký ức khiến cậu nhận ra ngay khi Anne Barron gửi tới đó là bức tượng bán thân của Tổng thống George Washington và mô hình chiếc máy bay Corsair - là những kỷ vật của James Huston.

    05:49 19-07-10
  • Hocvien

    Những hiện tượng khoa học bí ẩn

    GiadinhNet - Khoa học hiện đại đã tiến những bước dài trong lịch sử loài người, tạo nên muôn vàn tiện ích cho cuộc sống và giải mã hàng ngàn bí ẩn.

    Tuy nhiên, vẫn tồn tại những câu chuyện tưởng như chỉ có trong cổ tích mà khi được chứng kiến, người ta chỉ biết thốt lên, "sao có thể như vậy được nhỉ?". Xin gửi tới bạn đọc một vài trong rất nhiều hiện tượng khoa học rất thú vị mà con người biết đến.

    1. Vũ trụ màu... cà phê nâu
    Nếu bất chợt một lúc nào đó bạn ngồi nhâm nhi cà phê mà lại lan man đến vũ trụ bao la huyền bí và tự đặt ra câu hỏi "nó màu gì?", thì câu trả lời đang nằm trên tay bạn hoặc trên bàn một vị khách nào đó cùng quán. Vũ trụ có màu sắc, tựa như màu cà phê đen pha sữa rồi khoắng đều lên vậy.
    Năm 2001, một nhóm các nhà thiên văn học thuộc đại học Johns Hopkins (Mỹ) do Karl Glazebrook đứng đầu đã tiến hành phân tích quang phổ để tìm ra một màu sắc tổng thể của vũ trụ bao la. Họ nghiên cứu trên 200.000 thiên hà và tìm ra một màu sắc của cả vũ trụ, tuy nhiên, không biết gọi tên thế nào.
    Trong một bài báo, tờ Washington Post đã đăng hình ảnh này và nhận được nhiều ý kiến đóng góp từ độc giả cho tên gọi màu vũ trụ. Cuối cùng “Cosmic Latte” là cái tên được chọn, nó khá giống với màu cà phê pha sữa.
    2. Bí ẩn "người ngoài hành tinh"
    Vật thể bay không xác định (UFO), hay "đĩa bay" là bí ẩn luôn gây được sự chú ý của cả thế giới, dù chưa có bằng chứng khoa học nào về sự tồn tại của sinh vật ngoài Trái đất. Mỗi năm, báo chí ghi nhận hàng trăm vụ - trong đó các nhân chứng kể lại đã nhìn thấy đĩa bay, thậm chí cả người từ hành tinh khác.
    Cũng đã xuất hiện không ít bức ảnh, thước phim được cho là bằng chứng về sự "viếng thăm" của đĩa bay. Tuy nhiên, khi khoa học chưa chứng minh được thì vẫn tồn tại những niềm tin mãnh liệt lẫn những tiếng cười chế giễu về một vật thể bay không xác định. Theo một thống kê, 99% số các vụ đồn thổi về đĩa bay sau đó đều được giải thích bằng phương pháp khoa học, 1% còn lại vẫn là bí ẩn.
    3. "Hằng Nga" ngày càng xa Trái đất
    Một thực tế mà giới khoa học ít đề cập đến là quỹ đạo Mặt trăng - hành tinh quay xung quanh Trái đất - đang ngày một lớn hơn, có thể vì người ta cho rằng điều đó không nghiêm trọng. Có nghiên cứu đã chỉ ra rằng, quỹ đạo quay của Mặt trăng (bán kính 384.000km) mỗi năm đang "nở" thêm 3,8cm. Điều này được giải thích bằng nguyên lý hoạt động của thủy triều.
    Một phần của Trái đất ít "nhìn" Mặt trăng hơn nên cảm nhận sức kéo trọng lực mạnh hơn phần trung tâm Trái đất. Ngược lại, phần "ngoảnh mặt" với "Hằng Nga" thì ít hơn, hiệu ứng này làm cho Trái đất ngày càng dẹt hơn. Theo ước tính, khoảng 15 tỷ năm nữa,  quỹ đạo Mặt trăng sẽ lớn gấp 1,6 lần hiện tại. Và dĩ nhiên, chị "Hằng Nga" sẽ ở xa hơn một chút!
    4. Cơn mưa động vật
    Đây là một hiện tượng khí tượng học đã được ghi nhận tại một số nước. Các loài vật có thể rớt xuống cùng cơn mưa chủ yếu là cá, ếch, thậm chí là chim. Trong nhiều trường hợp, chúng vẫn sống sót sau khi từ trên trời lao xuống, đặc biệt là cá, còn đa số là đã lạnh cóng đến chết hoặc bị "giam" trong những viên đá buốt giá.
    Những cơn mưa ếch, cóc gần đây nhất được ghi nhận tại Serbia (2005), London (1998), mưa cá ở Ấn Độ (2006) và xứ Wales (2004). Nhưng độc đáo nhất phải kể đến những cơn mưa cá, ếch ở Honduras, xảy ra mỗi năm một lần trong hơn một thế kỷ qua. Dân chúng địa phương gọi hiện tượng thường xảy ra giữa tháng 5 và 6 này là Lluvia de Peces (tạm dịch: mưa cá).
    Theo mô tả của người dân, cơn mưa cá mới nhất tại thành phố Departamento de Yoro: Bầu trời xuất hiện những đám mây đen lớn phủ khắp một vùng, tiếp sau đó là sấm chớp rền rĩ, gió thổi mạnh trước khi cơn mưa rào kéo dài 2-3 giờ ập đến. Ngay khi trời tạnh, hàng trăm con cá còn sống rơi ào ào xuống đường phố. Người ta cũng không ngần ngại nhặt về nấu ăn, coi như "lộc trời".
    Dù một số nhà khoa học đã cố gắng giải thích rằng đó là sự kiện khí tượng học rất tự nhiên, nhưng vẫn không đủ sức thuyết phục số đông. Bởi, trong những cơn mưa ấy, không hề có cá biển mà chỉ có cá nước ngọt, không lớn mà rất nhỏ, là loại cá không có ở trong vùng.
    5. Ấu trùng ruồi chữa vết thương
    Đã từ rất lâu rồi, các bác sĩ để ý thấy rằng, binh lính có giòi trên vết thương thì thường bình phục nhanh hơn. Họ lý giải rằng, các con giòi đã ăn những tế bào da chết và vi khuẩn trên vết thương, qua đó làm "chủ nhân" mau hồi phục. Từ đó, liệu pháp mang tên Maggot Debridement đã ra đời và được sử dụng tại nhiều nơi.
    Các bác sĩ chủ động đưa những ấu trùng ruồi đáng sợ kia đến vùng vết thương hở của bệnh nhân để chúng tha hồ... gặm nhấm. Khi khoa học tìm ra thuốc kháng sinh, phương pháp này mới dần bị quên lãng. Dù vậy, cho đến nay cũng chưa từng có một nghiên cứu nào thực sự kỹ càng về "liệu pháp ruồi" kia để chính thức công nhận "công lao" của loài côn trùng chẳng mấy ai ưa này.
    6. Động vật tự phát nổ
    Hiện tượng một số loài động vật có khả năng "tự sát" bằng cách làm nổ tung cơ thể mình có thể vẫn còn là điều mới mẻ với nhiều người. Năm 2004, tại Đài Loan, một chú cá nhà táng  dài 17m, nặng 50 tấn bỗng dưng nổ tung, làm "kinh hồn bạt vía" khách du lịch và tất cả các chủ cửa hàng ven viển. Về sau, nguyên nhân "vụ nổ" được giải thích là do bọc khí trong cơ thể con cá ngày càng phình to, áp suất lớn đủ phá tung cả khối thịt 50 tấn này.

    Loài cóc ở Đức và Đan Mạch tuy nhỏ bé những cũng "biết cách" khiến thiên hạ phải "nể" vì sự dũng cảm của mình. Theo ghi nhận, vào tháng 4/2005, có nhiều con cóc đã tự phát nổ bằng cách tự thổi mình căng phồng hết cỡ khi bị tấn công. Đây được ví như một đòn tự sát khi cơ chế phòng vệ thất bại, hoặc trước khi chết cũng phải dọa cho đám đông một phen khiếp vía.

    7. Cảm giác bí ẩn nơi cánh cửa địa ngục
    Ở cách sự chết chóc trong gang tấc, chúng ta đều có những cảm giác vô cùng kỳ lạ, đa dạng và khó diễn tả bằng bất kỳ hình thức nào. Tất cả đều mô tả lại chung chung kiểu như: đang đi trên đường hầm tối om thì nhìn thấy ánh sáng, đoàn tụ với người thương yêu, cảm giác an lạc... Chính điều đó đã khiến không ít người tin vào một "thế giới bên kia". Tuy nhiên, họ không thể chứng minh cho niềm tin của mình. Giới khoa học cho rằng, đó là một ảo giác của não người, nhưng cũng chẳng thể chứng minh được ảo giác thực sự là gì, tại sao lại xuất hiện những cảm xúc rất kỳ lạ đến thế.
    8. Giác quan thứ 6 +...
    Ngày nay, nhiều người không dám coi sức mạnh tâm linh là trò mê tín, lừa gạt nữa, bởi nó chính là một trong 10 hiện tượng mà giới khoa học chưa thể giải mã nổi. Sức mạnh tâm linh và năng lực tri giác ngoài (giác quan thứ 6, 7... gọi tắt là ESP) dù không được lý giải một cách đầy đủ nhưng nó vẫn tồn tại rộng rãi và được không ít người tin tưởng bằng thái độ nghiêm túc nhất.
    Khả năng trực giác của con người cũng là một dạng sức mạnh tâm linh, cho phép chủ thể vượt qua những giới hạn tâm lý, giới hạn kiến thức thông thường, cảm nhận được những điều sẽ xảy đến trong tương lai.
    Các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm trên một số người tự nhận là có sức mạnh tâm linh. Kết quả cho thấy họ không hề chứng minh được khả năng của mình. Thế nhưng, đa số đều cho rằng, đã là sức mạnh tâm linh thì không thể bị đem ra thử nghiệm. Hơn nữa, nó còn nằm ngoài tầm kiến thức của các chuyên gia thì sao họ có thể hiểu được. Vì lẽ đó, những khái niệm "cảm tính, giác quan thứ sáu, sức mạnh tâm linh"... sẽ mãi mãi là bí ẩn đối với chúng ta.
    Việt Nguyễn (Tổng hợp)
    05:52 19-07-10
  • Hocvien

    10 điều bí ẩn về loài người

    Cập nhật lúc 15h16' ngày 03/11/2009

    Các câu hỏi cơ bản về nhân chủng học luôn đặt các nhà khoa học vào những cuộc tranh cãi bất tận, mà ở đó, nhiều giả thuyết được đưa ra còn câu trả lời xác đáng luôn để ngỏ. Dưới đây là 10 câu hỏi lớn của ngành nhân chủng học.

    Người hiện đại đến từ đâu?

    Câu hỏi từng gây tranh cãi nhiều nhất trong quá trình tiến hóa của con người xung quanh vấn đề: loài người hiện đại đã tiến hóa ở đâu.

    Giả thuyết về Châu Phi cho rằng, người hiện đại đã tiến hóa tại đây, rồi sau đó di cư rộng khắp trên thế giới, thay thế quần thể hiện tại của người tối cổ.

    Giả thuyết đa vùng miền lại cho rằng, con người hiện đại phát triển trên một khu vực rộng lớn từ người tối cổ, các quần thể này chia sẻ những đặc điểm về gene qua quá trình giao phối giữa các thành viên của các quần thể khác nhau, kết quả cuối cùng là con người hiện đại.

    Hiện nay, thuyết về Châu Phi vẫn đứng đầu nhưng thuyết đa vùng miền vẫn chiếm sự tin tưởng của một lượng người đông đảo.

    Vượn người bắt đầu xuất hiện từ đâu?

    Các nhà khoa học ngày khám phá nhiều mẫu vật của loại vượn người cổ, tổ tiên trực tiếp của loài người và các giống loài gần với con người hiện đại nhất. Họ cố gắng tìm ra một mẫu cổ nhất, để giúp trả lời câu hỏi cơ bản trong sự tiến hóa của con người, như tiến trình tiến hóa và khoảng thời thời gian.

    Người hiện đại từng giao phối với người Neanderthals?

    Người Neanderthal sống ở khắp châu Âu vào khoảng cách đây 300.000 năm. Họ đã cố gắng thích nghi và sống sót được một thời gian sau thời kỳ băng hà trước khi bị tuyệt chủng vào khoảng 30.000 năm trước đây.

    Đến nay, ngành nhân chủng học vẫn băn khoăn: Liệu chúng ta có phải con lai giữa người Neanderthals và người hiện đại? Liệu chúng ta còn lại bất kỳ gene nào từ người anh em họ đã tuyệt chủng?

    Các nhà khoa học cho rằng, người Neanderthal đã tuyệt chủng, nhưng đó là vì họ đã hòa nhập với người hiện đại. Bên cạnh giả thuyết này, còn có ý kiến cho rằng, chính loài người đã ăn thịt người Neanderthal trong quá trình cạnh tranh sinh tồn thưở hồng hoang.

    Tại sao người hiện đại di cư khỏi Châu Phi?

    Khoảng 50.000 năm trước, người hiện đại đã di cư ra khỏi Châu Phi, lan tỏa nhanh chóng trên hầu hết các vùng đất của thế giới, rồi định cư ở tất cả các châu lục, ngay cả những hòn đảo xa xôi nhất Thái Bình Dương, ngoại trừ Nam Cực. Nhưng điều gì đã dẫn dắt họ rời xa cái nôi này?

    Một số nhà khoa học lý giải rằng, sự di cư này liên quan tới việc bộ não và cơ thể phát triển, con người đủ sức đề kháng với những biến đổi của khí hậu, tự nhiên... là tiền đề quan trọng giúp chúng ta vươn tới các miền đất xa lạ.

    Quan điểm phổ biến hơn lại cho rằng, việc di cư đơn giản là nhân loại đã vượt qua ngưỡng về dân số ở Châu Phi và lý do đơn giản này thúc đẩy sự thay đổi về chỗ ở của con người. Ở một số truyền thuyết cổ xưa lẫn các tác phẩm tôn giáo đều có nhắc tới những giới hạn, gò bó về điều kiện sống và giải pháp của vấn đề này là các thảm họa (đại hồng thủy, chiến tranh), hoặc sự phân ly để giảm sự bùng nổ dân số.

    Người Hobbit từng tồn tại?

    Việc tìm thấy bộ xương “Hobbit” có vóc dáng nhỏ bé trên hòn đảo Flores, Indonesia năm 2003, có thể là cơ sở xác định một giống người đã tuyệt chủng, (Homon floresiensis) hay bộ xương này chỉ là ví dụ về biến dạng của loài Homon Sapien?

    Đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa có câu trả lời chính xác rằng, bộ xương đó là một trong những mắt xích tiến hóa của loài người hay chỉ là hiện tượng biến dạng cá biệt của Homon Sapien. Số lượng mẫu tìm được quá ít để giúp các nhà khoa học khẳng định điều này.

    Sự tiến hóa của loài người đang tăng tốc?

    Gần đây, một số nhà khoa học khẳng định nhân loại không những còn tiến hóa, mà sự tiến hóa này đang thực sự tăng tốc lên đến 100 lần mức lịch sử. Tuy nhiên, sự tiến hóa đang diễn ra theo chiều hướng tiêu cực vì con người dựa dẫm quá nhiều vào sự tiện nghi. Nhóm ủng hộ giả thuyết này phác thảo hình ảnh con người trong tương lai: cơ bắp teo lại, đầu to ra.

    Tuy nhiên, bên cạnh giả thuyết này là ý kiến cho rằng, con người đã chạm giới hạn tiến hóa. Điều thú vị là những người ủng hộ giả thuyết này đưa ra nguyên nhân sự ngừng tiến hóa của con người giống với nhóm trên, đó là do những tiện nghi bao bọc. Theo họ, thay vì rèn luyện chịu rét tốt hơn con người mặc áo ấm, thay vì luyện tập để lặn sâu thở lâu thì con người đeo bình khí nén... Tất cả sự lười biếng trên làm con người không thay đổi gì.

    Tại sao họ hàng gần nhất của chúng ta lại tuyệt chủng?

    Khoảng 24.000 năm trước, loài Homosapiens, không phải là loài linh trưởng thông minh duy nhất trên thế giới, mà còn những người Neanderthal. Người Homon floresiensis từng nêu ở phần trên cũng được đề nghị có vai trò tương tự. Tuy nhiên, tại sao người tinh khôn sống sót cho đến trong khi các giống người trên chỉ đánh dấu sự tồn tại của họ bằng những bộ xương được các nhà khảo cổ tìm thấy.

    Đến nay, các nhà khoa học vẫn không ngừng tranh cãi về lý do, gồm: sự nhiễm trùng hay sự thay đổi đột ngột điều kiện sống hoặc cả hai đã làm họ tuyệt chủng?

    Điều gì đã xảy ra với lông của chúng ta?

    Con người thật nổi bật khi so sánh với các "anh em" trong họ linh trưởng đầy lông lá. Vậy lông lại biến mất?

    Một gợi ý cho rằng, tổ tiên của chúng ta cần lông để giữ mát khi di chuyển trên cỏ savan nóng bỏng của Châu Phi. Ý kiến khác cho rằng, mất lông đã giúp chúng ta tránh khỏi ký sinh trùng và các bệnh có thể lây lan.

    Một ý tưởng không chính thống, thậm chí gợi ý con người ít lông phát triển từ tổ tiên của chúng ta trong một thời gian ngắn thích nghi cho một cuộc sống gắn bó nhiều với nước. Tuy nhiên, giả thuyết này bị thực tế phản bác mạnh mẽ. Hầu hết các động vật có vú sống dưới nước thuỷ lại có lông dày đặc.

    Tại sao con người đi bộ trên hai chân?

    Tại sao loài người đứng và đi bộ trên hai chân khi người anh em linh trưởng lại đi bộ bằng bốn chân? Các nhà khoa học vẫn chưa có lời lý giải xác đáng. Tuy nhiên, họ đưa ra nhiều lợi ích từ việc đứng thẳng trên hai chân. Đó là: đi bộ thực sự có thể sử dụng năng lượng ít hơn tất cả các hình thức đi bằng bốn chân; đôi bàn tay được nhấc lên khỏi mặt đất giúp kiếm nhiều thức ăn hơn; đứng thẳng còn giúp kiểm soát nhiệt độ vì giảm diện tích da tiếp xúc với ánh mặt trời.

    Tại sao chúng ta phát triển não lớn?

    Não chỉ chiếm khoảng 2% khối lượng của cơ thể, nhưng lại tạo ra sự khác biệt tuyệt đối giữa con người với động vật. Điều đáng ngạc nhiên là não chỉ hoạt động với một năng suất rất khiêm tốn. Ngay cả trường hợp "bộ não vĩ đại" của nhà khoa học Albert Einstein, cũng được phát hiện là mới chỉ hoạt động nhiều hơn bình thường vài chục phần trăm, trong khi đó, lại nhẹ và mỏng hơn não người bình thường. Một câu hỏi lớn đặt ra, nếu biết cách đánh thức phần còn lại của bộ não hoạt động, con người có thể tạo ra những thành tựu to lớn nào hơn nữa? Hy vọng này càng được nhen nhóm khi các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu vào những năng lực siêu nhiên xuất hiện ở một số trường hợp cá biệt.

    Theo Báo Đất Việt (Live Science)
    05:56 19-07-10
  • 06:29 19-07-10
  • longthan911 hay wa...
    07:04 19-07-10
  • Hocvien

    "Từ bao lâu nay chết vẫn là một điều mơ hồ, đáng sợ ám ảnh mọi người. Dù ai có giàu hay nghèo, sang hay hèn, trước sau gì cũng phải chết, nhưng hầu như tất cả đều cố gắng không nghĩ đến nó, ngay cả những người già yếu, liệt giường, liệt chiếu, đầy bệnh hoạn đớn đau cũng hãi hùng khi giáp mặt với tử thần. Tất cả tựu chung vì họ không hiểu sự chết, không biết chuẩn bị, không biết đối đầu hay chấp nhận nó. Trong cuộc đời đầy dẫy vô thường, sự chết có thể đến bất cứ lúc nào, thế mà con người cứ lẫn tránh nó như là khất nợ vậy.

    Sự hiểu biết về cõi vô hình giúp chúng ta chấp nhận sự thật hiển nhiên này. Hãy đặt câu hỏi nếu chết là hết thì cuộc đời có ý nghĩa gì? Tại sao ta lại sinh ra đời, trên trái đất này? Tại sao lại có sự khác biệt giữa con người cho dù có cùng huyết thống, có người khôn kẻ dại, có người thân thể lành lặng lại có người bị tật quyền v.v... Từ chối sự chết là từ chối sự thật. Tại sao ta không tìm hiểu và chuẩn bị khi nó đến có hơn không?"

    Đây là lời nói của vị pháp sư người Ấn tên là Hamoud, trích từ: "Hành Trình Về Phương Đông" do Nguyên Phong dịch.)

    10:41 19-07-10
  • chuotcon2008

    {#emotions_dlg.14}hay lam thanks thay  vi bai viet nay

    19:54 19-07-10
  • online

    khoa hoc du co tien bo den dau ma dem ly luan vao giai thich cho tam linh thi ko chinh xac dau .

    22:30 19-07-10
  • online

    song tren the gian chi co nguoi lam dieu ac moi so chet

    22:31 19-07-10
  • online

    muon hieu co the gioi ben kia hay ko ? co coi an lac hay ko thi chi co tu minh tu luyen roi giac ngo tu tu ma thoi ?

    22:33 19-07-10
  • online

    the gian la noi ma con nguoi di qua trong vong luan hoi ma thoi

    22:47 19-07-10
  • Hocvien
    Thuyết Nghiệp báo Tái sanh
    Minh Chi

    Xem hình
    Thuyết Nghiệp báo Tái sanh của đạo Phật đề cao trách nhiệm của con người đối với cuộc sống của mình ở đời này và cả đời sau. Do đấy cũng kêu gọi con người phải có ý thức trách nhiệm đầy đủ về mọi hành vi, lời nói và ý nghĩ của mình hàng ngày, hàng giờ, thậm chí trong từng giây phút của cuộc sống, khuyến khích con người luôn luôn nghĩ thiện, làm thiện, tránh mọi ý nghĩ, lời nói và việc làm bất thiện. Có thể nói, thuyết Nghiệp báo và Tái sanh động viên mọi người luôn nỗ lực để sống thiện, đạo đức. Nguồn: http://phatgiaovnn.com (Phật Giáo Việt Nam Net)

     

    Thuyết Tái sanh và thuyết nghiệp có một tầm quan trọng rất lớn đối với đời sống cá nhân và xã hội. Nó cho biết, con người hiện tại từ đâu đến, và sau khi chết thì con người sẽ đi về đâu? Nó cũng cho biết, ý nghĩa của nhân sinh là gì. Vì sao con người lại có mặt ở đời này? Vì sao tuy cùng là một loài người cả, mà thân phận giữa các con người lại khác biệt nhau đến thế?


    I/ Nội dung của thuyết Tái sanh, và bốn quan niệm về Sống và Chết


    Thuyết Tái sanh khẳng định rằng, con người cũng như mọi loài hữu tình, không phải chỉ sống một đời, mà đã từng sống nhiều đời, và sau đời sống này, sẽ tiếp tục sống nhiều đời nữa. Và sức mạnh, dẫn con người sống đi sống lại nhiều đời như vậy là nghiệp lực, tức là sức mạnh của nghiệp. Thành quả của mọi việc làm của chúng ta trong đời này, tạo thành một sức mạnh, gọi là sức mạnh của nghiệp Tái sanh, đẩy chúng ta tới một cuộc sống mới, một cuộc đời khác, trong đó thân phận và hoàn cảnh sống của chúng ta là do thành quả các nghiệp của đời này quyết định.


    Thuyết Tái sanh và thuyết nghiệp có liên quan mật thiết với nhau, nương tựa vào nhau. Đời người, nói chung quá ngắn ngủi, khoảng trên dưới 100 năm, cho nên có nhiều nghiệp tuy tạo ra trong đời này, nhưng phải chờ tới đời sau, hay thậm chí tới đời sau nữa mới chín muồi, và đem lại quả báo. Không có Tái sanh, thì thuyết nghiệp sẽ không thành tựu.


    Có những triết thuyết và Tôn giáo không chấp nhận thuyết Tái sanh. Thí dụ:


    1) Chủ nghĩa duy vật cổ đại ở Ấn Độ


    Chủ nghĩa duy vật thời Ấn Độ cổ đại có tên Sanskrit là Carvaka. Những người theo thuyết này cho rằng, người ta chỉ sống và chết một lần. Chết là hết, không còn gì nữa. Mục đích của đời người, theo họ là hưởng thụ càng nhiều càng hay, là sống cho thật sung sướng. Carvaka có gốc từ Sanskrit là car nghĩa là ăn. Phái này tuyên bố họ chỉ biết ăn mà thôi, còn thì họ chối bỏ mọi trách nhiệm về hành động của mình.


    2) Chủ nghĩa hoài nghi và bất khả tri luận


    Khổng Tử nói: "Sống còn chưa biết thì biết chết làm gì?” Lời nói trên phản ánh thái độ của Khổng Tử, cho rằng con người không thể biết và cũng không cần biết chết là gì.


    Epicuya, nhà triết học Hy Lạp cổ đại (341 - 270 B.C) thì cho rằng: "Khi sống thì không thể biết chết là gì, còn khi đã chết rồi thì lại càng không thể biết chết là gì.” Câu nói này cho thấy nhà triết học Hy Lạp này tin rằng, sự chết là chuyện không thể biết được đối với con người, cho nên, tìm hiểu sự chết là chuyện vô ích. Đó là một loại "chủ nghĩa hoài nghi và bất khả tri luận" khá triệt để.


    3) Con người chỉ sống và chết một lần


    Theo quan điểm này sau khi chết sẽ lên thiên đàng sống với Thượng đế hay là xuống địa ngục sống vĩnh viễn với quỷ.


    Đây là quan niệm về sống và chết của một số Tôn giáo thần quyền. Quan niệm này thường tạo ra một tâm lý bức xúc, lo âu, vì con người không biết mình có được Thượng đế ban ơn hay không. Nếu không được ban ơn thì có nỗ lực sống đạo đức cũng vô ích. Theo quan niệm của một số Tôn giáo thần quyền, đời sống con người đầy tội lỗi, dù là trẻ sơ sinh cũng đã phạm nguyên tội, cho nên để được cứu rỗi, thì chỉ có sự ban ơn của Thượng đế mà thôi.


    4) Quan niệm Phật giáo về sống và chết


    Thuyết Nghiệp báo Tái sanh của đạo Phật đề cao trách nhiệm của con người đối với cuộc sống của mình ở đời này và cả đời sau. Do đấy cũng kêu gọi con người phải có ý thức trách nhiệm đầy đủ về mọi hành vi, lời nói và ý nghĩ của mình hàng ngày, hàng giờ, thậm chí trong từng giây phút của cuộc sống, khuyến khích con người luôn luôn nghĩ thiện, làm thiện, tránh mọi ý nghĩ, lời nói và việc làm bất thiện. Có thể nói, thuyết Nghiệp báo và Tái sanh động viên mọi người luôn nỗ lực để sống thiện, đạo đức.


    II/ Các chứng cứ của thuyết Tái sanh


    * Kinh Phật ghi lại những lời Phật khẳng định có Tái sanh:


    "Với thiên nhãn thanh tịnh, hoàn toàn vượt xa con mắt của loài người, Bồ tát nhìn thấy chúng sanh chết rồi Tái sanh, ở các đẳng cấp cao quý hay bần tiện, thân phận giàu sang hay nghèo hèn, cao hay thấp,..." (Trích quyển Lalistavatara).


    Theo sách Lalistavatara, vào canh đầu đêm, Đức Phật ngồi Thiền định dưới gốc cây Bồ đề, Ngài đã đạt tới cái nhìn sáng suốt, thấy được các đời sống trước của chúng sanh. Cần chú ý là Thế Tôn không phải nhớ lại, mà là nhìn thấy với con mắt Phật của Ngài, chứ không phải là nhớ lại như với trí nhớ bình thường của chúng ta.


    "Rồi vào canh giữa của đêm thành đạo, vị Bồ tát hướng tâm của Ngài nhớ lại các kiếp sống trước của chúng sanh cũng như của bản thân Ngài, nhớ lại một đời, hai, ba, bốn, năm, hai mươi đời, vô lượng đời trước đây,..." (Sách Lalistavatara đã dẫn).


    Không những chỉ có Đức Phật, mà các vị đệ tử lớn của Ngài, sau khi chứng quả A La Hán, cũng đạt được Túc mạng thông, tức là quyền năng nhớ lại các kiếp trước của mình. Không phải chỉ có tu sĩ Phật giáo, mà cả những tu sĩ ngoại đạo, tu luyện Thiền định có kết quả cũng có Túc mạng thông.


    Những hiện tượng và lý lẽ khác chứng minh thuyết Tái sanh:


    1) Hiện tượng những trẻ con nhớ lại đời sống trước


    Ở châu Á cũng như châu Âu, đã thu thập được nhiều tài liệu về hiện tượng này. Thông thường, đó là những trường hợp đột tử, chết một cách không bình thường, như bị tai nạn xe cộ, hay bị giết, v.v... Người chết Tái sanh vào một gia đình, ở không xa lắm nơi mình chết. Đến tuổi nói và đi lại được, cậu hay cô bé yêu cầu được dẫn về thăm nơi ở trước đây, trong đời sống trước, thăm lại cha mẹ, thậm chí cả người vợ góa của mình. Có những trường hợp thân hình cậu hay cô bé Tái sanh mang dấu vết của sự cố hay tai nạn đã khiến các em bị chết trong đời sống trước.


    Giáo sư Ian Stevenson, thuộc trường Đại học Mỹ Virginia đã nghiên cứu cẩn thận 1.600 trường hợp "nhớ lại đời sống trước một cách tự nhiên" (Xem Ian Stevenson, Twenty cases suggestive of reincarnation Hai mươi trường hợp gợi ý có Tái sanh Nxb trường Đại học Virginia, 1974).


    2) Hiện tượng người lớn nhớ lại các đời sống trước


    Khác với sự nhớ lại tự nhiên của trẻ con ngay về đời sống trước của chúng, trường hợp những người lớn tuổi nhớ lại những đời sống, có thể cách rất xa đời sống hiện tại. Trước hết, đó là trường hợp của những đạo sĩ Du già Ấn Độ hay là những tu sĩ Phật giáo tu tập lâu năm về Thiền định. Sau khi tu tập bốn cấp Thiền của Sắc giới và chứng cấp Thiền thứ năm, họ chứng được Túc mạng thông, nhớ lại các đời sống trước của họ, cùng với một số quyền năng khác.


    Ở nước Anh, có hiện tượng lạ lùng của bà Joan Grant, bà này kể rằng bà đã từng tu tập định tâm phát triển trí nhớ trong 10 năm, khi bà là công chúa Sekeeta, dưới triều đại đầu tiên của Ai Cập cổ đại. Và trong đời sống hiện nay, bà vẫn giữ lại được quyền năng siêu nhiên "Túc mạng thông" đó cùng với một số quyền năng khác. Trong một loạt sách xuất bản dưới dạng truyện ngắn, bà đã kể lại khá chi tiết các kiếp sống tiếp tục của bà, đặc biệt là kiếp sống đầu tiên bà nhớ lại được, khi bà là công chúa Ai Cập Sekeeta. Một số nhà Ai Cập học thừa nhận tính chính xác lịch sử của nhiều chi tiết bà kể về đời sống của công chúa Sekeeta.


    Ở Mỹ, có trường hợp bác sĩ John Lilly tuyên bố đã nhớ lại được những kiếp sống trước của mình, trong khi bác sĩ nghiên cứu các tầng lớp sâu của tâm thức. Để có thể tập trung tư tưởng, ông thiết kế một hầm kín đặc biệt (an isolation tank), trong đó ông có thể ngồi yên, không bị quấy rối bởi các kích thích của ngoại cảnh.


    3) Hiện tượng một số người thấy và kể lại kiếp sống trước của những người khác


    Hiện tượng này rất hiếm có. Ngay trong đạo Phật, chỉ có Đức Phật và một số đệ tử hàng đầu như Ngài Xá Lợi Phất mới có được quyền năng này, được gọi là Chúng sanh trí, chứ không gọi là Túc mạng thông.


    Tuy nhiên, ở ngoài đời cũng có một vài người hiếm hoi có được năng khiếu lạ lùng đó, mà một ví dụ là Edgar Cayce, một người Mỹ sanh ở Kentucky năm 1877. Cuộc đời và sự nghiệp của Cayce được Germinara kể lại trong các cuốn sách, mang tựa đề "Thế giới nội tâm" (The world within), và cuốn "Nhiều lâu đài" (Many mansions), đều xuất bản tại Luân Đôn trong các năm 1967 và 1973. Cayce có năng khiếu lạ lùng là, khi được thôi miên, anh ta bỗng nhiên trở thành một bác sĩ chẩn đoán bệnh chính xác, kê đơn thuốc trị bệnh và dùng những ngôn từ y khoa, mà khi tỉnh dậy, ông ta không bao giờ biết và nói tới. Ông ta có thể chữa bệnh cho những người ở cách ông ta hàng trăm dặm, mà ông ta chỉ được cho biết tên họ và địa chỉ mà thôi. Đối với một số bệnh nhân, ông chẩn đoán là không phải do nguyên nhân vật chất và sinh lý, mà do những nghiệp đã tạo ra trong một kiếp trước. Vì vậy, đối với số bệnh nhân này, ông tuyên bố không cần thuốc mà chỉ cần giải nghiệp bằng những hoạt động tâm linh thích hợp. Nên nhớ rằng, Cayce là một tín đồ đạo Thiên Chúa, và khi tỉnh dậy, ông rất ngạc nhiên và hoảng hốt khi biết là mình đã dùng những từ trái với Kinh Thánh như là nghiệp (karma) và đời sống kiếp trước. Nhưng sau đó, ông cũng yên tâm vì được giải thích là trong Kinh Thánh, không có đoạn nào chống đối cụ thể thuyết Nghiệp và Tái sanh.


    Từ năm 1923 cho tới năm 1945 là năm ông qua đời, Cayce được yêu cầu mô tả lại đời sống kiếp trước của 2.500 trường hợp là bệnh nhân hay những người đến yêu cầu. Có trường hợp, cha mẹ một đứa bé sơ sinh bế con đến và yêu cầu Cayce nói rõ kiếp trước của đứa bé, và nhờ đoán xem tương lai, vận mệnh của đứa bé sẽ ra sao. Được hỏi về các kiếp trước của mình, Cayce cho biết, ông ta trong một đời sống trước, từng là một giáo sĩ cao cấp ở xứ Ai Cập cổ đại, chứng được nhiều quyền năng siêu nhiên, nhưng sau bị sa ngã vì tánh ích kỷ và quan hệ tình dục bất chính. Cayce xem Tái sanh ở đời này là một cơ hội để ông ta chuộc lại những lỗi lầm xưa bằng một đời sống hoàn toàn phục vụ lợi ích cho quần chúng.


    4) Hiện tượng mộng


    Có ba loại mộng. Hai loại mộng thứ nhất và thứ hai có liên quan tới những sự việc ở đời này, có thể là chuyện quá khứ hay là chuyện tương lai, nhưng đều hạn chế trong phạm vi thời gian của đời này. Loại mộng thứ ba có liên quan tới những sự việc xảy ra ở một đời sống trước hay là tới đời sống tương lai. Thí dụ, một người nằm mơ thấy mình đang bay trên không. Một người bay như chim là chuyện không thể có trong đời này, ít nhất là với trình độ khoa học hiện tại. Có thể giải thích con người này trong một đời sống trước, đã từng là một loài trời có thân hình nhẹ nhàng, có thể di chuyển trên không được. Một trường hợp khác là người gần chết có thể nằm mơ thấy trước thân phận mình ở kiếp sau. Nếu phải đọa vào các cảnh sống ác như địa ngục, súc sanh, quỷ đói thì nằm mơ thấy các cảnh rùng rợn, ghê sợ. Nếu có nhiều phước đức, sẽ được Tái sanh lên các cõi trời, thì nằm mơ thấy những cảnh giới vô cùng đẹp đẽ ở các cõi trời: phong cảnh xinh tươi, nhà cửa tráng lệ. Loại mộng thứ ba này chứng minh là có đời sống trước, cũng như có đời sống kiếp sau.


    5) Hiện tượng liên tục của tâm thức


    Tâm thức của con người là một dòng chảy liên tục của các niệm. Niệm trước diệt thì niệm sau sanh khởi. Tác động của ngoại cảnh có thể làm cho niệm sau thay đổi, nhưng đó là một tác dụng phụ, hỗ trợ. Còn nguyên nhân chính bao giờ cũng là một niệm trước diệt, dọn đường cho niệm sau sanh khởi, và cứ như vậy, dòng chảy liên tục, không đứt quãng của tâm thức từ đời này sang đời khác cho đến khi con người được giải thoát ra khỏi vòng sanh tử luân hồi mới thôi. Vậy thì, nguyên nhân khiến cho niệm đầu tiên trong bào thai sanh khởi là gì? Theo Phật giáo, đó chính là niệm cuối cùng của người sắp chết, ở đời trước.


    6) Hiện tượng "người bị ám"


    Các bác sĩ tâm thần nói tới hiện tượng lạ lùng có người bị lưỡng phân, hình như có hai người cùng sống những đời sống khác nhau cùng trong một người. Hai con người đó có lối sống hoàn toàn khác nhau, một người chẳng hạn, ban ngày thì ứng xử như một người rất đạo đức, rất mô phạm, nhưng đêm tới lại sống như một con quỷ tình dục, tìm cách cưỡng hiếp bất cứ phụ nữ nào anh ta gặp trong đêm. Các bác sĩ nói, con người thật của anh ta là con người ban ngày, còn ban đêm thì anh ta bị ám (to be possessed). Nhưng đó chỉ là một cách giải thích, mà lý trí bình thường khó chấp nhận. Một cách giải thích khác, có thể dùng để chứng minh thuyết Tái sanh, là con người đó, trong một đời sống trước đã từng ăn chơi trác táng, quan hệ tình dục bừa bãi. Sự hồi tưởng đó mãnh liệt tới mức, anh ta như bị hôn mê, và một cách vô thức, sống như một người trác táng thật sự,... cho đến khi anh ta tỉnh lại, và sống như con người bình thường.


    Cũng xếp vào loại trường hợp này là câu chuyện của một bác sĩ tâm thần, phải chữa bệnh sợ nước cho một người sợ nước tới mức không chịu tắm rửa. Bác sĩ tâm thần thôi miên người bệnh, và động viên anh ta, trong lúc ngủ mê, nhớ lại đời sống trước của mình. Và anh ta kể lại là trong đời sống trước, anh ta đi một chuyến tàu biển, tàu đắm trong một cơn bão và anh ta bị chết đuối. Khi chết đuối, tinh thần anh ta bị căng thẳng cực độ, tạo ra một tâm lý sợ nước, vẫn tồn tại mãi cho tới cuộc sống hiện tại. Tìm hiểu được nguyên nhân của bệnh sợ nước của bệnh nhân rồi, bác sĩ chỉ cần đánh thức anh ta dậy, ôn tồn giải thích cho anh ta rõ, "sợ nước" là chuyện đắm tàu của đời sống trước đây, và thế là bệnh nhân dần dần khỏi bệnh mà không cần phải thuốc thang gì.


    7) Hiện tượng tiếng sét ái tình


    Có những mối tình nảy nở ngay lần gặp gỡ đầu tiên, nhưng rất sâu sắc đậm đà, tuy chưa từng trải qua một thời gian tìm hiểu nào. Sách Phật kể truyện Matanga, một thiếu nữ thuộc đẳng cấp hạ tiện Thủ Đà La, đang kéo nước ở giếng, thì gặp Ngài A Nan, thị giả Phật, đi qua xin nước uống. "Ngài không biết em là thuộc đẳng cấp Thủ Đà La hay sao mà lại xin nước?”


    Ông A Nan trả lời: "Tôi xin nước chứ có xin đẳng cấp đâu!”


    Thế là từ đó, nàng Matanga đem lòng yêu thương Ngài A Nan. Tình yêu mãnh liệt đến nỗi, Ngài A Nan đi đâu, Matanga cũng theo sau bén gót, khiến cho trong thành phố có tiếng đồn không hay đối với tu sĩ. Phật biết chuyện, cho gọi Matanga đến, cho phép xuống tóc đi tu làm Ni. Matanga sau khi xuất gia, học tu tinh tiến, không bao lâu nổi tiếng khắp kinh thành là một Ni sư có trình độ Phật học uyên bác.


    Vua Ba Tư Nặc và các đại thần nghe chuyện lạ, bèn đến thăm và hỏi Phật về lai lịch Matanga. Phật giải thích là Ngài A Nan và Matanga đã từng là vợ chồng trong một đời trước, nàng Matanga lại có duyên với Phật pháp, cho nên đã xảy ra câu chuyện tình yêu trái thường như trên, không có gì đáng làm lạ.


    Trên đây là một câu chuyện điển hình trong sách Phật. Ngoài đời, trên sách báo xưa và nay, những chuyện như vậy không hiếm.


    8) Hiện tượng hai người gặp nhau lần đầu mà như đã từng quen biết từ lâu.


    Hiện tượng này khá nhiều người đã từng gặp phải, nhưng không tự mình giải thích được vì sao. Thuyết Tái sanh có thể giải thích dễ dàng là hai người trong một đời sống trước đã từng quen biết nhau, từng là bạn bè đi lại thân thiết với nhau.


    9) Hiện tượng một người lần đầu tiên đến một xứ xa lạ, nhưng lại có cảm giác mình rất quen thuộc xứ này từ lâu rồi.


    Thuyết Tái sanh giải thích là trong một hay nhiều đời sống trước, người này đã từng sống tại xứ này rồi. Ở Anh, có một người ở thành phố Norfolk, chưa từng đi Trung Đông bao giờ, nhưng lại tuyên bố trong một đời sống trước, vào đầu Công nguyên, anh ta từng làm một lính gác tại một trạm gác trong thành phố, và anh ta bị một kẻ thù đâm chết ngay trước trạm gác. Thành phố Petra là một thành phố cổ nổi tiếng ở Jordanie (vùng Trung Đông), được bảo tồn như một di tích lịch sử quốc gia, và được nhiều nhà khảo cổ phương Tây nghiên cứu chu đáo. Người Anh đặc biệt này vốn tên là Flowerdew, được một trong các nhà khảo cổ nói trên tiếp xúc, phỏng vấn và nhà khảo cổ vô cùng ngạc nhiên về sự hiểu biết tường tận của anh ta đối với thành phố cổ Petra. Chính phủ Jordanie biết chuyện này và mời Flowerdew cùng với một đoàn làm phim của Hãng BBC đến thăm Petra. Đoàn nhận thấy, khi Flowerdew tiến gần Petra, đường hẻm dẫn tới cửa thành, khi vào trong thành, anh ta lập tức nhận ra ngay cái trạm gác nơi anh đã từng phục vụ, kể cả nơi anh bị đâm chết v.v...


    Câu chuyện này không thể là một hoang tưởng, vì có sự hiện diện của các nhà khảo cổ học đi kèm cùng với đoàn làm phim của Hãng BBC nước Anh. Chỉ có thuyết Tái sanh mới giải thích nổi câu chuyện kỳ lạ nhưng rất thực nói trên mà thôi.


    10) Hiện tượng thần đồng


    Thuyết Tái sanh còn giúp giải thích những hiện tượng thần đồng âm nhạc, như Mozart hay Beethoven, mới 3 hay 4 tuổi đã soạn được những bản nhạc phức tạp; hay những hiện tượng thần đồng như Stuart Mill và Bentham mới 6, 7 tuổi đã thông thạo nhiều ngoại ngữ. Những thần đồng này trong một đời sống trước đã từng sành âm nhạc và giỏi ngoại ngữ rồi. Đời này, họ không phải học cái gì mới mẻ, mà chỉ là học lại mà thôi.


    11) Hiện tượng những anh em sinh đôi khác tính nết


    Chỉ có thuyết Tái sanh mới giải thích được hiện tượng này, còn thuyết di truyền và bối cảnh giáo dục gia đình không thể giải thích nổi. Sao hai anh em sinh đôi, từ cùng một cha một mẹ, được hưởng một chế độ nuôi dưỡng và giáo dục gia đình hoàn toàn giống nhau, mà một người có bản tính hiền lành, thương người, còn người kia lại trở thành một quỷ dữ, rất hung ác.


    12) Thực nghiệm của những người chết sống lại


    Đó là trường hợp những người chết rồi, nhưng sau một thời gian, có thể là nhờ sự can thiệp kịp thời của y tế, mà họ sống trở lại và kể những chuyện họ thấy sau khi chết. Ở phương Tây, tại các nước công nghiệp phát triển, có nhiều tiến bộ trong ngành y tế, người ta ghi nhận có khá nhiều những trường hợp người chết lâm sàng sống lại. you


    Tuyệt đại đa số những người đó đều cho rằng, chết không phải là cái gì đáng sợ, và sau khi chết, sự sống vẫn tiếp diễn. "Chuyện xảy ra với tôi lúc bấy giờ là một kinh nghiệm rất là không bình thường, mà tôi chưa từng bao giờ có. Nó làm cho tôi tin rằng, có một cuộc sống sau khi chết" (It has made me realize that there is life after death) (Margot Grey Return from death. An explanation of the meaning of near death experience Từ cõi chết trở về. Một giải thích về Kinh nghiệm gần chết Boston and London Arkana. p.205).


    Sau đây là một ghi nhận khác:


    "Tôi biết là có một cuộc sống sau khi chết! Không ai có thể lay chuyển được niềm tin đó của tôi. Tôi không còn nghi ngờ gì nữa. Đấy là một cái gì êm dịu, tôi không còn sợ gì chết. Tôi không biết gì thêm bên ngoài thực nghiệm đó. Nhưng nó cũng quá đầy đủ đối với tôi rồi" (Kenneth Ring In search of the meaning of near death experience Tìm ý nghĩa của thực nghiệm gần chết New York. Quill 1985, p.156).


    Có thể chép thêm nhiều ghi nhận của những người từng trải qua cuộc thực nghiệm gần chết. Nhưng, tôi thấy hai đoạn chép lại trên đây cũng đủ. Những người kinh qua thực nghiệm gần chết đều tin rằng, chết không phải là hết, sự sống vẫn tiếp tục sau khi con người chết.


    III/ Cơ chế Tái sanh và thân trung ấm


    Cơ chế Tái sanh được Phật giải thích trong bài "Đại ái tận Kinh" thuộc Trung Bộ Kinh, như là lệ thuộc vào sự hiện hữu của ba điều kiện: 1. Cha mẹ có giao hợp; 2. Mẹ ở đúng trong thời kỳ sanh nở, nghĩa là có thể thụ thai; 3. Sự có mặt của hương ấm (gandhaba).


    Hương ấm là gì? Hương ấm là tâm thức mang theo nghiệp của người sẽ Tái sanh (ở đây, để đơn giản hóa vấn đề cho dễ hiểu, chỉ bàn trường hợp con người Tái sanh lại làm người). Tâm thức mang theo nghiệp đó được sách Phật gọi là nghiệp thức. Nghiệp thức đó cũng được gọi là kết sanh thức, vì rằng nghiệp thức sẽ kết hợp với tinh trùng của cha và trứng của mẹ để sanh ra bào thai. Nhưng vì sao trong Kinh "Đại ái tận", Phật lại dùng từ hương ấm?


    Đó là vì, trong phần lớn trường hợp, người chết, trước khi Tái sanh, thường trải qua một giai đoạn trung gian; trong đó, người chết mang một cái thân đặc biệt gọi là thân trung ấm được cấu tạo bằng loại vật chất tế nhị, và được nuôi dưỡng không phải bằng thức ăn thô, mà bằng mùi, bằng hương, cho nên gọi là hương ấm.


    Vấn đề trung hữu hay trung ấm tức là vấn đề tồn tại của con người (trong bài này, chỉ bàn loài người; đối với các loài khác, thì cũng tương tự, tuy không phải giống hẳn) sau khi chết. Con người đó sau khi chết, thì Tái sanh ngay, hay là kinh qua một thời kỳ nhất định, mà sự tồn tại gọi là trung hữu, mang một cái thân đặc biệt gọi là thân trung ấm.


    Nếu có một thời kỳ như vậy, thì trong thời kỳ đó, thân trung ấm có hình dạng như thế nào, hoạt động ra sao, vì sao mắt người không thấy được? Kinh sách Phật Bắc và Nam tông nói về vấn đề này như thế nào, các bộ phái Phật giáo bàn về vấn đề này như thế nào?


    Sau đây là những bộ phái không chấp nhận có thân trung hữu: Đại chúng bộ, Hóa địa bộ, Phân biệt thuyết bộ, cuốn Thành thực luận (quyển 3), Xá Lợi Phất A tỳ đàm luận, Thượng tọa bộ Nam truyền.


    Còn chấp nhận có thân trung hữu là Đông sơn bộ, Chánh lượng bộ, và đặc biệt là Hữu bộ (Nhất thiết hữu bộ Câu Xá luận) (xem bài "Sanh hữu chi nghiên cứu" của Dương Bá Y trong tập Phật giáo căn bổn vấn đề nghiên cứu, quyển II, tr. 375, bản Hán).


    Như vậy thì ai đúng, ai sai? Bên khẳng định đúng hay bên phủ định là đúng?


    Kinh Niết Bàn của Bắc tông đã trả lời như sau: "Không nhất định có cũng không nhất định không có thân trung hữu. Nếu là nghiệp cực ác (thí dụ đọa địa ngục) hay là nghiệp cực thiện, như sanh thiên (các cõi trời) thì không có thân trung hữu (nghĩa là hóa sanh). Còn đối với các loại nghiệp khác, thì có thân trung hữu.”


    Như vậy là theo Kinh Niết Bàn của Đại thừa, thì trong đa số trường hợp, nghiệp ác thiện xen lẫn, không phải cực ác hay cực thiện thì có thân trung hữu, tức là một giai đoạn ngắn hoặc dài, chúng sanh chết rồi nhưng chưa Tái sanh. Và, trong giai đoạn trung gian, chết rồi mà chưa Tái sanh đó, chúng sanh mang một cái thân đặc biệt gọi là thân trung hữu hay thân trung ấm.


    * Thân trung ấm tồn tại trong thời gian bao lâu?


    Luận Tỳ Bà Sa khẳng định thời gian tồn tại của thân trung ấm phải rất ngắn. Nhưng bao lâu? Thế Hữu nói tối đa là 7 ngày. Thiết Ma Đạt Đa nói tối đa 49 ngày. Còn Pháp Cứu thì nói bao nhiêu ngày là tùy có đủ nhân duyên hay không, nếu chưa đầy đủ nhân duyên thì thân trung ấm vẫn tồn tại, không hạn chế thời gian. Thí dụ, nhân duyên cho một Chuyển Luân Vương Tái sanh không phải là dễ. Thời gian chờ đợi có thể lâu.


    * Đặc điểm của thân trung ấm


    Luận Câu Xá mô tả khá cụ thể. Thân trung ấm cùng một dạng với thân bổn hữu. Thân bổn hữu là thân sẽ Tái sanh. Nếu do nghiệp mà sẽ Tái sanh làm người thì thân trung ấm là thân của con người bé khoảng 5 tuổi, có năm giác quan đầy đủ, nhưng những cảm quan đó được cấu tạo bằng sắc pháp vi tế, nhỏ nhiệm cho nên mắt người không trông thấy được.


    Nếu thân trung ấm là thân người thì nó có năm giác quan đầy đủ, làm bằng chất liệu vi tế, cho nên công năng thấy, nghe v.v... của nó nhạy bén hơn là công năng thấy, nghe của thân người sống, có giác quan được cấu tạo bằng những chất liệu thô nặng hơn. Nói cách khác, họ (tức là thân trung ấm) thấy chúng ta được, nhưng chúng ta không thấy họ được. Thân trung ấm không đi đứng như chúng ta bình thường, mà có thể đi ngang qua vật cản, bay liệng trên không để chờ cơ hội Tái sanh. Khi đã có chỗ thích đáng cho họ Tái sanh, thì không có gì ngăn cản họ được. Nhưng năng lực thần thông này không phải do rèn luyện Thiền định mà có, cho nên sách Câu Xá gọi là nghiệp thông, ý nói thần thông không phải do rèn luyện hay Thiền định, mà là do nghiệp của thân trung ấm là như vậy.


    Thân trung ấm được nuôi dưỡng bằng mùi (sách Trung Quốc gọi là hương). Nghĩa là không phải ăn thức ăn như chúng ta, mà là ăn cái mùi vị mà thôi. Thí dụ dĩa thịt. Thân trung ấm chỉ ngửi mùi thịt, chứ không phải ăn thịt thật sự. Vì vậy mà sách Phật cũng gọi thân trung ấm là hương ấm (gandhaba).


    Thực ra, hướng Tái sanh đã được quyết định, khi người mới chết, vừa tắt thở; cho nên nếu hướng Tái sanh là cõi người, thì lập tức thân trung ấm là thân người, như một cậu bé độ 5, 6 tuổi, với năm giác quan nhạy bén hơn là giác quan của người sống, và di chuyển không có vật gì cản được.


    Như đã nói trên, thời gian tồìn tại của thân trung ấm là vấn đề còn bàn cãi, nhưng người Tây Tạng cho rằng, thời gian tồn tại tối đa của thân trung ấm là bảy tuần, và cứ sau mỗi tuần thì trung ấm có biến đổi.


    Con người có thể nhớ lại trung ấm thân trước đây của mình hay không? Học giả Francis Story, qua thu thập và nghiên cứu nhiều tài liệu liên quan, đã tổng kết Kinh nghiệm đó thành những điểm sau:


    1) Khi người mới chết, trung ấm thân tách khỏi cái thân chết bất động, nhưng lại không có cảm giác là mình vừa chết, mà là mình vẫn sống. Cảm giác này rất giống cảm giác của những người nhờ thôi miên hay bị uống thuốc mê mà xuất thần.


    2) Trung ấm thân thấy xuất hiện một người khác hướng dẫn mình.


    3) Trung ấm thân di chuyển không bị trở ngại bởi bất cứ vật cản gì, có thể thấy những trung ấm thân khác. Giác quan của trung ấm thân bén nhạy.


    4) Cõi sống của các trung ấm thân là cõi sống riêng biệt, khác với các cõi sống khác như cõi người, cõi súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục và cõi trời là những cõi sống thường được mô tả trong các sách Phật.


    5) Francis Story kể lại chuyện một người Thái Lan tên là Kawn, chết vì bệnh thương hàn, thấy các sư cầu nguyện bên cạnh giường nằm của mình, sau đó thấy các sư đi ra, và mình cũng theo ra, và khi đó anh ta mới biết là mình đã chết. Anh thấy mọi sự vật xung quanh anh không có gì thay đổi, không khác gì lúc anh còn sống. Anh thấy mình đi ngang qua nhiều người khác như là đi vào chỗ không người. Và khi anh nghĩ tới bất cứ một nơi nào thì lập tức anh thấy mình xuất hiện ngay tại nơi đó. Anh ta không có cảm giác đói, cũng không thấy sợ hãi khi thấy một gã say rượu và một cậu bé chạy thẳng vào phía anh ta. Anh có cảm giác mình trở nên bé nhỏ. Anh ta không cảm thấy giận dữ khi gặp những người sống ném đá vào mình, nhưng anh thấy các trung ấm thân khác tỏ ra giận dữ trong cảnh ngộ tương tự, nhưng anh cũng sợ là mình bị thương nếu bị ném phải.


    6) Đại sư Tsong Khapa (Tây Tạng) dẫn chứng cuốn "Di Già sư địa luận" (Yogacara Bhumi), khẳng định là trung ấm thân không có hối tiếc lại thân phận mình, khi còn sống.


    7) Trung ấm thân có giống như một đứa bé 5, 6 tuổi ở trần hay không thì còn là vấn đề bàn cãi. Có tư liệu nói trung ấm thân mặc quần áo giống như khi lâm chung.


    8) Trung ấm thân thường theo dự tang lễ của mình, và quan sát bà con thân thích mà mình vốn yêu mến.


    9) Trung ấm thân không cảm thấy đói và mệt, nhưng phạm vi hoạt động và giao tiếp bị hạn chế. Trung ấm thân không còn chịu cái khổ của cuộc sống thế gian, với cái thân vật chất thô nặng, thường phải chịu những đau đớn vật chất.


    10) Trung ấm thân mất ý thức về thời gian. Vài chục năm đối với trung ấm thân như trôi qua trong nháy mắt.


    IV/ Kết luận


    Thuyết Tái sanh và thuyết nghiệp có một tầm quan trọng rất lớn đối với đời sống cá nhân và xã hội. Nó cho biết, con người hiện tại từ đâu đến, và sau khi chết thì con người sẽ đi về đâu? Nó cũng cho biết, ý nghĩa của nhân sinh là gì. Vì sao con người lại có mặt ở đời này? Vì sao tuy cùng là một loài người cả, mà thân phận giữa các con người lại khác biệt nhau đến thế?


    Đó là những vấn đề rất căn bản, rất hệ trọng; thế nhưng con người hiện đại, sống một cuộc sống thác loạn, vùi đầu vào cuộc săn đuổi quyền lực, đồng tiền và sắc đẹp,... hầu như không bao giờ nghĩ tới, còn nói gì đặt thành vấn đề để suy tư, giải quyết.


    Chỉ khi cái chết đã gần kề, hay là khi gặp phải một bất hạnh lớn, con người hiện đại mới tỉnh ngộ, chợt thấy mình đã phung phí gần trọn cả một đời để đeo đuổi những giá trị không thật, chỉ là những bọt nước, những bèo trôi v.v... theo đúng như hai câu thơ của vua Trần Nhân Tông, một ông vua ngộ đạo:


    Thị phi niệm trục triêu hoa lạc


    Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn..."


    Nghĩa: Niệm chạy theo chuyện thị phi như hoa rụng ban sớm, Tâm chạy theo danh lợi như mưa lạnh chiều hôm.


    Trên bình diện lý luận, chứ không phải trên bình diện thơ ca, thuyết Tái sanh và nghiệp của đạo Phật là một liều thuốc cảnh tỉnh tốt cho con người hiện đại.
    Nguồn: http://phatgiaovnn.com (Phật Giáo Việt Nam Net)

    Minh Chi

    09:52 20-07-10
  • Hocvien
    10 hiện tượng bí ẩn không thể giải thích

    Xem hình
    Bóng ma hay cảm giác cận kề cái chết là những hiện tượng bí ẩn mà khoa học chưa thể giải thích thỏa đáng. Ngoài ra còn nhiều hiện tượng khác nữa vẫn tồn tại trong đời sống của con người, mà không ai biết rõ nguyên nhân. Livescience liệt kê 10 hiện tượng tiêu biểu nhất. Nguồn: http://phatgiaovnn.com (Phật Giáo Việt Nam Net)

    Mối liên hệ giữa não và cơ thể

    Y khoa mới chỉ bắt đầu hiểu những cách mà não tác động tới cơ thể. Chẳng hạn, giả dược chứng tỏ rằng con người có thể làm giảm những triệu chứng của bệnh tật hoặc nỗi đau đớn bằng cách tin rằng các liệu pháp điều trị phát huy hiệu quả, mặc dù thực tế không phải vậy. Khả năng tự làm lành vết thương của cơ thể còn đáng ngạc nhiên hơn mọi thứ mà nền y học hiện đại có thể tạo nên.

    Cảm giác cận kề cái chết và cuộc sống sau khi chết


    Trong lúc cận kề cái chết, nhiều người thấy họ đi qua một đường hầm và nhìn thấy ánh sáng ở phía cuối. Ảnh: encefalus.com.

    Những người từng cận kề cái chết kể rằng họ trải qua nhiều cảm giác bí ẩn - chẳng hạn như đi qua một đường hầm để tới một chỗ có ánh sáng, gặp những người thân yêu, cảm thấy bình yên. Mặc dù những trải nghiệm đó khá rõ nét, song chẳng có ai đưa ra được bằng chứng hay thông tin có thể kiểm chứng về việc linh hồn tạm thoát khỏi cơ thể. Những người hoài nghi cho rằng những trải nghiệm cận kề cái chết chỉ là ảo giác được sinh ra bởi những bộ não bị tổn thương. Cho đến nay giới khoa học chưa giải thích được nguyên nhân gây nên cảm giác cận kề cái chết, hay xác định liệu chúng có phải là hình ảnh của một thế giới khác hay không.

    Năng lực tâm linh và ngoại cảm

    Năng lực tâm linh và khả năng ngoại cảm là hai trong số 10 hiện tượng không thể giải thích. Nhiều người tin rằng giác quan thứ sáu là một dạng của năng lực tâm linh. Các nhà khoa học đã kiểm tra những người khẳng định họ có những năng lực tâm linh và kết quả cho thấy chúng không hề tồn tại hoặc tồn tại khá mơ hồ trong những người này.

    Một số chuyên gia cho rằng năng lực tâm linh là thứ không thể kiểm tra được, hoặc vì những lý do nào đó mà nó suy yếu khi có sự hiện diện của các nhà khoa học hoặc những người hoài nghi. Nếu điều đó đúng, khoa học sẽ không bao giờ có thể chứng minh sự tồn tại hoặc không tồn tại của chúng.

    Vật thể bay không xác định (UFO)



    Ảnh minh họa đĩa bay của peoplemagazinedaily.com.

    Sự tồn tại của UFO không phải hiện tượng quá lạ lẫm, bởi nhiều người nhìn thấy những thứ mà họ không thể xác định trên bầu trời. Chúng có thể là nhiều vật thể, từ máy bay tới sao chổi. Nhưng vấn đề là liệu có bất kỳ vật thể nào trong số các UFO là phi thuyền của sinh vật lạ ngoài vũ trụ hay không? Do khoảng cách từ trái đất tới các hành tinh khác quá lớn, nhiều nhà khoa học cho rằng khả năng sinh vật ngoài vũ trụ viếng thăm nền văn minh của chúng ta không thể xảy ra. Mặc dù vậy, người ta vẫn không thể giải thích được sự hiện diện của một số UFO, dù trong phần lớn trường hợp nguyên nhân của chúng được tìm ra.

    Ký ức ảo giác

    Trong tiếng Pháp, "déjà vu" có nghĩa là “đã nhìn thấy từ trước”. Cụm từ này được sử dụng khi con người có cảm giác họ đã thấy những tình huống, cảnh tượng, sự việc nào đó trong quá khứ và bây giờ chúng đang xảy ra trước mắt họ. Chẳng hạn, một phụ nữ bước vào một toà nhà tại một đất nước mà cô trước đây cô chưa từng tới, nhưng lại cảm thấy khung cảnh bên trong tòa nhà rất quen thuộc, cứ như thể cô từng sống trong đó vậy. Một số người cho rằng déjà vu là những trải nghiệm tâm linh hoặc ký ức về kiếp trước. Giống như trực giác, trong tương lai các nhà khoa học có thể tìm ra những lời giải thích hợp lý về déjà vu bằng cách nghiên cứu tâm lý con người. Tuy nhiên, cho tới nay nguyên nhân và bản chất của déjà vu vẫn là một bí ẩn.

    Bóng ma

    Linh hồn của những người chết xuất hiện trong văn hóa và các giai thoại của loài người từ lâu. Nhiều người nói rằng họ nhìn thấy bóng ma của những người thân hoặc cả người lạ. Mặc dù chưa có bất kỳ bằng chứng nào về mà được tìm thấy, nhiều người vẫn tiếp tục nói rằng họ nhìn thấy ma, chụp ảnh ma và thậm chí giao tiếp với linh hồn người chết. Những người chuyên nghiên cứu ma hy vọng rằng một ngày nào đó họ có thể chứng minh người chết có thể liên lạc với người sống. Đó sẽ là câu trả lời cuối cùng để giải đáp câu hỏi: Ma tồn tại hay không?

    Những người mất tích bí ẩn

    Con người biến mất bởi vô số lý do. Một số người cố tình trốn, vài người bị bắt cóc hay sát hại. Đa số người mất tích được tìm thấy, song một số người không để lại bất kỳ manh mối nào và biến mất vĩnh viễn. Một số nhân vật mất tích đã trở nên nổi tiếng như Jimmy Hoffa (chủ tịch Nghiệp đoàn Lái xe tải quốc tế), Amelia Earhart (người phụ nữ đầu tiên lái máy bay xuyên qua nước Mỹ).

    Giác quan thứ sáu

    Tất cả chúng ta đều từng có giác quan thứ sáu vào một hoặc nhiều thời điểm trong đời. Tất nhiên, linh tính của chúng ta có thể không đúng trong nhiều trường hợp. Các nhà tâm lý khẳng định con người luôn thu thập thông tin về thế giới xung quanh một cách vô thức. Điều đó khiến chúng ta cảm thấy dường như chúng ta biết rõ thông tin hoặc hiểu tình huống từ trước. Nhưng các trường hợp về giác quan thứ sáu rất khó nghiên cứu hoặc chứng minh, và tâm lý người có thể chỉ là một phần của câu trả lời.

    Bàn chân lớn

    Trong vài thập kỷ, nhiều người khẳng định họ nhìn thấy những dấu chân động vật có hình dạng giống bàn chân người mà người ta gọi là “Bigfoot” (bàn chân lớn). Mặc dù vậy, chưa có bất kỳ người khổng lồ nào được tìm thấy. Chẳng có người khổng lồ nào mất mạng bởi súng của thợ săn, tai nạn xe hơi hay bệnh tật. Do không có những bằng chứng cụ thể như răng hay xương, người ta dùng lời kể của nhân chứng, những bức ảnh hoặc đoạn phim mơ hồ để chứng minh sự tồn tại của người khổng lồ. Về mặt lý thuyết, các nhà khoa học không thể chứng minh rằng người khổng lồ hay quái vật hồ Loch Ness tồn tại, song chứng minh điều ngược lại cũng là việc bất khả thi. Theo Livescience, có thể những sinh vật to lớn đó tồn tại, song chúng luôn né tránh con người.

    Những tiếng vo ve tại Mexico

    Một số người dân và khách du lịch tại thành phố Taos, bang New Mexico, Mỹ cảm thấy khó chịu và hoang mang bởi những tiếng vo ve có tần số thấp từ sa mạc. Kỳ lạ thay, chỉ có khoảng 2% dân số trong thành phố nói họ nghe thấy riếng vo ve. Một số người nghĩ các hiện tượng âm học bất thường gây nên tiếng vo ve. Nhiều người khác cho rằng đó chỉ là hiện tượng hoang tưởng tập thể. Đến nay người ta vẫn chưa xác định được nguồn gốc của những âm thanh kỳ lạ đó

    (Theo VnExpress)

    09:57 20-07-10
  • Hocvien
    Những chuyện ly kỳ về thế giới tâm linh

    Xem hình
    Đây là trường hợp khá phổ biến trên thế giới từ xưa đến nay và được các nhà nghiên cứu chụp hình cẩn thận, rõ ràng để làm tài liệu . Nguồn: http://phatgiaovnn.com (Phật Giáo Việt Nam Net)

     

    Phần lớn hài nhi thuộc trường hợp này khi chào đời thân mình có đầy lông, sau đó càng ngày lông càng mọc dài và dày như loài thú. Vào thế kỷ thứ 16, một tài liệu của Aldrovandus đã ghi nhận ở đảo Canary có một gia đình bốn người, tất cả đều giống loài **** lông xù vì từ mặt đến thân mình đều có lông dài bao phủ. Tuy nhiên, họ vẫn ăn uống, sinh hoạt và nói chuyện bình thường.
    Năm 1883, người ta đã đem một cô bé người Trung Hoa tên là Krao (lúc đó lên 7 tuổi) đến biểu diễn ở Anh, Pháp, Hoa Kỳ, cô bé chẳng có gì đặc biệt ngoài bộ lông dài và dày màu đen bao phủ toàn bộ cơ thể trông xa chẳng khác nào một con thú.
    Ngày 30 tháng 9 năm 1977, ở Trung Hoa có một cháu bé chào đời , cháu bé này được đặc tên là Yu Zhenhuan mà nét độc đáo là cơ thể cháu bé đều phủ bởi lớp lông măng mọc dài, màu đen trông giống một con mèo.
    Theo Yule và Crawford, hai nhà sưu tập các dấu vết luân hồi thì ở Miến Điện có một gia đình mà từ cha, mẹ đến con cái và cháu gái đều có lông bao phủ cơ thể. Đặc biệt là ở mặt, có lông măng còn mọc dài bao phủ rất dầy trông giống như loài khỉ.

    Một nhà báo ở Hồng Kông kể lại rằng: có một gia đình Trong Hoa sống ở Ma Cao có đứa con gái giống khỉ (từ mặt mày tay chân đều có lông mọ dầy dáng dấp cử chỉ cũng rất giống khỉ). Cô gái này chỉ cất tiếng nói lí nhí như khỉ vượn chớ không nói được tiếng người và chết năm 1954. Theo người trong vùng cho biết thì cha mẹ cô này chuyên nấu và sản xuất cao khỉ. Người mẹ cô gái hàng ngày phải rạch da và lột da khỉ với từng mảnh lông lớn.


    Phải chăng hình ảnh ấy cứ ăn sâu và chồng chất mãi trong ký ức khiến lúc mang thai bà vẫn bị ám ảnh và khiến đứa con khi sinh ra mang hình ảnh của loài khỉ, vượn? Câu chuyện có thật này đã được tăng tải trong báo hàng ngày của Thượng Hải năm 1955.


    NGƯỜI CÓ NHIỀU VÚ


    Một trong những trường hợp đặc biệt khác mà từ lâu được các nhà nghiên cứu về sinh lý học cũng như về hiện tượng siêu hình lưu tâm là người có nhiều vú. Charles Darwin đã gọi trường hợp này là một trong những trường hợp của hiện tượng trở lại giống cũ “hiện tượng lại giống”. Theo đó thì qua sự tiến hoá của toàn bộ cơ thể một cơ quan nào không còn cần thiết sẽ thoái hóa dần để rồi mất hẳn. Trong thời gian thoái hoá sẽ còn một giai đoạn chuyển tiếp dài và cơ quan ấy vẫn còn lưu lại trên cơ thể mà cấp độ hiện hữu giảm dần để chỉ còn lại dấu vết ví dụ Ở bào thai người có giai đoạn phôi có khe mang như cá… Từ cổ đại, người có nhiều vú được tượng trưng bởi tượng thần Artemisia hay Diana (ở Đông Phương cổ đại). Nhiều nhà nghiên cứu đã sưu tập các trường hợp này khá nhiều.


    Năm 1876, Peuch đã thu thập được 77 trường hợp về người có nhiều vú, Engstrom cũng tham gia nghiên cứu. Bartholinus (Thomas) đã quan sát một cá thể dị hình, đó là một người đàn bà có ba vú. Gardneer đã mô tả một người đàn bà có bốn vú. Trong khi đó có người đã nhận báo cáo là họ đã gặp một người đàn ông có đến 6 nuốm vú. Khi người này ở trần nằm ngủ trông phần ngực và bụng anh ta giống như một con heo nái với hai dẫy vú. Ngay ở Hoa Kỳ người ta cũng biết nhiều người có nhiều vú trong đó có hai người Việt Nam hiện sống tại California (một người có bốn vú và một người có sáu vú).


    NGƯỜI THANH NIÊN TÊN MICHAEL WRIGHT


    Walter Miller là một thanh niên bảnh trai có nhiều nhân tình. Tuy nhiên trong số các người tình, anh ta yêu nhất là cô gái bạn học cũ. Hai người yêu thương nhau rất mực. Không may, vào năm 1967, Walter Miller bị tai nạn xe hơi và qua đời. Cô gái nghe tin bất tỉnh mấy lần. Cô quên ăn bỏ ngủ, khóc lóc suốt ngày đêm. Thế rồi liên tiếp mấy đên liền cô ta nằm mơ thấy Walter Miller trở về đứng trước mặt cô nét mặt hớn hở và nói: “Em à! Anh sẽ trở lại với em!” Cô gái mỗi lần tỉnh giấc đều buồn chán vì nghĩ rằng đó chỉ là giấc mơ mà thôi vì không bao giờ người yêu của cô lại có thể trở về với cô một lần nữa. Walter Miller đã chết và nấm mồ anh đã bị phủ biết bao lần lá rụng mùa thu rồi.


    Bốn năm sau cô gái lấy chồng và sinh hạ một bé trai kháu khỉnh đặt tên là Micheal Wright. Khi đứa bé đúng ba tuổi nó trở nên khôn lanh lạ lùng và nói chuyện như người lớn. Một hôm Micheal nói: “Con chính là Walter Miller. Cách đây khoảng ba bốn năm đã bị tai nạn xe hơi, chiếc xe lăn xuống dốc, cửa kính vỡ tan…” Sau đó, Michael kể hết tất cả những gì về mình, về cô nhân tình (giờ đây chính là mẹ của Micheal) và còn nói rõ tên người em gái của Micheal Miller nữa, đã mô tả rõ ràng thành phố mà Micheal Miller đã cùng người bạn dừng lại nghỉ ngơi trước khi tiếp tục lái xe lên đường rồi tai nạn chết người xảy ra… Câu chuyện này đã được tác giả Quỳnh Châu lược thuật lại trong Tiền Phong (1991-Hoa Kỳ).


    NGƯỜI VOI


    Ở Leicester có một trường hợp rất lạ về người Voi (elephant man). Đây là một người đúng nghĩa về hình dạng, cách ăn uống sinh hoạt và đi đứng nhưng gương mặt và thân hình phần lớn cấu tạo bởi lớp da sần sùi giống da voi . Điều đáng lưu ý là trước khi người này được sinh ra đời không lâu thì bà mẹ anh ta bị một con voi ở gánh xiếc tấn công nhưng may mắn thoát chết. Người voi đi đứng và nằm ngồi có vẻ khó nhọc vì cái đầu quá nặng. Rồi ngày 11 tháng 4 năm 1890, trong khi đang nằm ngủ trên giường, người voi bất thần trở mình, cái đầu nặng nề đã không chuyển đổi kịp vị thế mới nên đã làm lệch khớp xương cổ.


    Trong cuốn Autour du monde có thuật lại chuyện một người đàn bà tên là Mu Mu (người Sudan- Phi châu) sinh hạ một lần hai bé trai.


    Cặp sinh đôi này có dạng thể rất kỳ dị, thoạt nhìn vào trông gương mặt giống voi con và hai đứa bé này chỉ sống được một năm thì tự nhiên cả hai đều bị bệnh viêm màng não mà qua đời. Điều đáng chú ý là gia đình dòng họ người đàn bà này chuyên sinh sống bằng nghề săn bắn voi để lấy ngà. Câu chuyện có thật này đã được các nhà nghiên cứu về hiện tượng luân hồi quả báo ghi nhận để giải thích phần nào về vấn đề nghiệp quả. Phải chăng gia đình người đàn bà này đã tàn hại không biết bao nhiêu loài voi mà quả báo tượng trưng là sinh hạ 2 đứa con sinh đôi có dạng thể của loài voi và bị chết yểu? Phải chăng đó là giai đoạn đầu của lời cảnh cáo, nhắc nhở về những hành động mà gia đình dòng họ này đang gieo rắc?


    NHÀ BÁO RAY BRYANT (ANH QUỐC)


    Trong tạp chí Yêu (phát hành vào hạ tuần tháng 8 năm 1992 tại Hoa Kỳ) có đăng tải một câu chuyện có thật về những bằng chứng về tiền kiếp. Theo đó thì Ray Bryant là nhà báo người Anh, 44 tuổi tự nhiên nhớ lại tiền kiếp của mình rất rõ. Theo Ray Bryant thì khoảng năm 1855, anh ta là một trung sĩ tên là Reuben Stafford và đã tham dự nhiều trận đánh kinh hồn trong đó có trận Crimeé vô cùng khủng khiếp. Đó là trận chiến dữ dội nhất giữa quân Nga và quân Anh, Pháp, Thổ. Trong trận này quân Anh bị quân Nga tiêu diệt 700 người. Trường hợp nhà báo Anh Ray Bryant nhớ lại tiền kiếp đã một thời làm xôn xao dư luận nước Anh.


    Lúc bấy giờ chính Bộ Quốc Phòng Anh phải nhờ đến Đại Tá John Bird đích thân tìm hiểu sự thật. Đại Tá này đã cùng với một số sử gia lục lọi các tư liệu trong nha Văn Khố, Quốc Phòng Bảo Tàng Viện Chiến Tranh, các thư Viện Quốc Gia, các tài liệu xưa và đã đi đến kết luận là câu chuyện không phải bịa đặt vì họ đã tìm thấy tên của một trung sĩ tên là Reuben Stafford. Điều chính xác là qua giấc ngủ thôi miên, nhà báo Anh này còn cho biết tiền kiếp của mình là trung sĩ Stanfford, đã chết ở Sebastopol thì trong tài liệu tìm được tại Bảo Tàng Viện Chiến Tranh Anh Quốc cũng có sự kiện này. Đó là chưa kể những trường hợp lạ lùng ăn khớp với nhau về những gì mà nhà báo Anh này đã mô tả vào thời đó: Nào là chuyện gia đình, đời sống trong quân đội, tên người chỉ huy, các loại súng, lương tiền và cả huy chương nữa.


    NHÀ NGHIÊN CỨU HIỆN TƯỢNG TÁI SANH RUTH SIMMONS


    Lịch sử về nguồn gốc của thuyết tái sanh thật quá lâu đời, có thể nói thuyết này xuất hiện từ khở thủy của nền văn minh nhân loại như Đại Đức Dhammananda đã phát biểu, tuy nhiên trước đây thuyết này vẫn bị nhiều người cho rằng đó chỉ là một thuyết hoàn toàn có tính cách tôn giáo mà thôi. Mãi đến sau này, các nhà nghiên cứu, nhất là các nhà khoa học đã bắt đầu đi sâu vào lãnh vực tìm hiểu vấn đề tái sanh. Không ai tưởng tượng được một vấn đề lúc đầu được xem là có tính cách tôn giáo, siêu linh và có khi còn gọi là mơ hồ nữa lại đã và đang được vô số các nhà khoa học ở thế kỷ 20 đổ xô vào nghiên cứu, phần lớn họ là những nhà vật lý, những giáo sư, những bác sĩ, những nhà báo… Họ làm việc hết sức vô tư mà chủ đích là mong tìm được lời giải đáp cho vấn đề vì khắp nơi trên thế giới (chớ không riêng gì một nơi nào) hiện tượng luân hồi tái sinh mãi mãi diễn ra như luôn luôn thách thức và khêu gợi trí tò mò của họ.


    Paris Match là tạp chí có tiếng không những ở nước Pháp mà còn khắp thế giới đã đăng tải câu chuyện lạ kỳ có thật của cô Ruth Simmons là nhà nghiên cứu về hiện tượng luân hồi tái sinh. Cô đã nhờ nhà thôi miên lỗi lạc là Morey Benstein giúp tìm lại tiền kiếp của mình. Sau những lần được đưa vào giấc ngủ thôi miên, cô Ruth Simmons đã thấy rõ từng giai đoạn thời gian mà cô đã trải qua nhất là từ năm một tuổi đến năm mười tuổi.


    Cô mô tả tiền kiếp của mình một cách chi tiết. Cô cho biết, kiếp trước mình là một cô gái trẻ bình thường thuộc dòng họ Murphy người Ái Nhĩ Lan. Năm 1921 cô qua đời, nhưng năm 1923 cô mới lại tái sinh vào làm người con gái thuộc dòng họ Simmons với tên là Ruth tại Hoa Kỳ. Khi được hỏi tại sao cô qua đời năm 1921 nhưng tái sinh vào năm 1923 thì cô Ruth cho biết như sau: “Một người chết đi không chắc là được tái sinh liền mà đôi khi còn trải qua nhiều năm chờ đợi điều kiện thuận hợp cho sự đầu thai của mỗi linh hồn vì thế mà đôi khi có sự mất liên tục. Cô còn cho biết: “Sau khi được an táng, tôi chưa thể đầu thai trở lại nên phải ở tình trạng dật dờ vô định, trạng thái mà con người thường gọi là ma.”


    Ruth Simmons về sau rất nổi tiếng, các nước Âu Châu, Mỹ Châu rất thích đọc chuyện người đàn bà này vì chính cô ta là người nghiên cứu hiện tượng tâm linh siêu hình, vừa là người có kinh nghiện về những gì liên quan với lãnh vực ấy.


    NHỮNG NGƯỜI CÓ DỊ TẬT


    Chuyện có thật về bé Sanjay ở Ấn Độ


    Bác sĩ Stevenson đã thu thập vô số chuyện lạ liên quan đến tiền thân của con người. Sau đây là một số chuyện có thật do bác sĩ Stevenson đã đưa ra với đầy đủ bằng chứng.


    Câu chuyện xảy ra tại hai ngôi làng ở miền Nam Ấn Độ. Một gia đình nọ có đứa bé mơi sinh đặt tên là Sanjay đứa bé này mới lọt lòng mẹ đã có đứa dị tật đó là các ngón ở bàn tay mặt bị cụt. Theo sự chẩn đoán của các y sĩ tại nhà hộ sanh thì đó là dấu tích bẩm sinh. Nhưng đối với bác sĩ Stevenson thì đây là trường hợp trẻ mới sinh ra có các ngón tay ngắn hoặc có khi không có ngón tay và thường thì cả hai tay. Riêng trường hợp đứa bé này, các ngón ở bàn tay mặt không phải ngắn mà có dạng thể như bị cắt ngang nên đầu các ngón cụt rút lại như thành sẹo. Sự nghi ngờ của bác sĩ Stevenson trùng hợp với hiện tượng lạ kỳ về đứa bé ấy. Đứa bé đã nói với người mẹ một câu làm mọi người ngạc nhiên: “Bàn tay mặt của con ngày trước đã bị các máy quay nghiền nát các ngón. Lúc đó con ở làng cách xa làng này khoảng 8 cây số. Cha mẹ và nah con lúc đó hiện nay vẫn còn sống…” Thế rồi, đứa bé đòi mẹ dẫn mình đến căn nhà ở ngôi làng đó. Tại đó có một gia đình có đứa con trai chết vì bị máy cắt đứt các ngón tay.


    Về sau Sanjay đã kể lại như sau: “Lúc tôi đến thì đang có đám cưới trong làng, anh tôi cũng tới dự. Tôi biết ba má và anh tôi (những người thân kiếp trước của cậu bé) nhưng họ không biết tôi , họ chỉ nghe chuyện tôi bảo rằng tôi là con em trong gia đình họ. Nhiều người vừa cười vừa nói như đùa: “Này, cháu bé hãy nói đi, tại sao mấy ngón tay của cháu lại bị đứt vậy? Còn mẹ tôi (người mẹ kiếp trước) thì bảo: “Nếu là con của mẹ thì hãy chỉ cho mọi người cái máy ở đâu, cái máy đã cắt đứt mấy ngón tay con đó?” Sau đó tôi dẫn mọi người đi chỉ chỗ cái máy và lúc đó trong khi mọi người còn đang ngạc nhiên thì tôi quả quyết rằng tôi chính là con của người mẹ kiếp trước đây”.


    Bác sĩ Pasricha đã hỏi Sanjay thật kỹ ông nói: cháu có còn nhớ lần bị cái máy cắt mấy ngón tay như thế nào không ? Thì đứa bé cho biết như sau : Người cha của cháu (tiền kiếp) thường uống rượu. Buổi chiều ông về nhà và quay máy, lúc ấy cháu loay hoay bên cái máy và rồi bàn tay bị cuốn vào bánh xe, cháu thét lên, ba cháu cố gắng kéo tay cháu ra. Thế rồi các ngón tay đứt lìa. Mọi người chạy lại. Họ mang cháu đến bệnh viện… Mẹ cháu vừa khóc, vừa bế cháu lên chiếc xe bò… ” Và sau đó cháu thiếp đi… vì đường đến bệnh viện quá xa nên cháu đã chết… ”


    Sau cuộc thử thách thực hư về những gì chứng minh đứa bé trước đây (tiền kiếp) là con của gia đình này, đứa bé được người mẹ ruột (hậu kiếp) dẫn đến nhà của gia đình cha mẹ có người con trước đây chết vì bị cái máy cắt đứt năm ngón taỵ Cuộc hội ngộ thật lạ lùng. Đứa bé đã thốt lên một câu như người lớn: “Tôi đã chết một lần và tôi lại sinh ra một lần nữa và ở đây”. Bác sĩ Pasricha hỏi người đàn bà mà đứa bé nhận là mẹ mình rằng: “Nếu quả thật cháu bé này là con của bà, cho dù là ở kiếp trước thì bà tính sao?” Người đàn bà trả lời: “Dĩ nhiên là tôi vui vẽ chấp nhận cháu là con tôi. Cháu đã muốn tôi làm mẹ thì tôi quyết định rằng cháu là con tôi…”


    Riêng đối với mẹ mới sinh ra cháu bé thì tình cảnh thật vô cùng nan giải. Bà khóc thút thít nắm tay đứa bé vừa mếu máo vừa nói: “Con là con của mẹ, Sanjay à!” Thế rồi chung cuộc, các bô lão trong làng đã đứng ra dàn xếp ổn thỏa. Đứa bé là con chung của hai gia đình.


    Giờ đây đứa bé đã là một thanh niên mạnh khoẻ và vui vẻ hoà đồng giữa hai nhà. Anh ta thường nói: Khi tôi đến ở nhà này, tôi lại nóng lòng mong về lại nhà kia; rồi khi tôi đến ở nhà kia thì tôi lại nóng lòng muốn về nhà này… Hiếm ai có được nhiều cha mẹ anh em ruột như tôi.”


    Hiện người con trai tái sanh này có đến bảy người anh. Và cứ đều đặn, anh ở nhà này một tháng rồi lại đến nhà kia ở một tháng. Hai gia đình ở hai làng cách xa nhau tám cây số tự nhiên có một mối liên lạc thân tình, đó là đứa con chung của hai kiếp.


    Chuyện có thật về cô gái ở Miến Điện


    Một trường hợp khác nữa là trường hợp của một cô gái Miến điện (nay đã có gia đình) cô gái này có dấu vết bẩm sinh, lúc sinh ra bàn tay mặt các ngón bị cụt gần sát bàn tay. Cô thường nhớ lại dĩ vãng và dĩ vãng của cô thật lạ lùng, đó là tiền kiếp của cô, một dĩ vãng thật quá xa xăm. Điều đặc biệt lúc ấy cô là một người đàn ông, và người đàn ông này đã tạo nhiều điều đau khổ cho người vợ khiến người vợ phải tự vận. Bà mẹ vợ căm hận, quyết tìm cách trả thù cho con gái nên đã thuê một tay giết mướn, tên này đã dùng một thanh kiếm chém người đàn ông này khi anh ta đang đi xe đạp. Lúc đó vì sợ quá, anh ta vừa đưa tay ra đỡ vừa kêu lên: Trời ơi! Đừng giết tôi!”… Nhưng tên giết mướn đã đưa một đường kiếm cắt đứt các ngón tay người đàn ông và rồi đâm chết. Và bức ảnh mà bác sĩ Stevenson đã đưa ra trong một buổi thuyết trình tại đại học Virginia Hoa Kỳ cho thấy rõ bàn tay cô gái với các ngón bị cụt, đó chính là dấu tích còn lại của kiếp trước của cô và lúc đó cô là một người đàn ông…


    NHỮNG NGƯỜI ĐI VÀO QUÁ KHỨ

    Song song với hiện tượng nhớ về tiền kiếp xa xăm, hiện nay các nhà nghiên cứu còn quan tâm hơn nữa về một số hiện tượng khác tương tự đó là hiện tượng thấy được sự việc trong quá khứ và cả trong tương lai nữa.

    Mùa hè năm 1901 có hai người phụ nữ tên là Eleanor Hourdain và Anne Moberly. đi thăm các lâu đài nổi tiếng của Pháp. Nơi họ say mê nhất qua sách vở báo chí và nhất là qua tài liệu lịch sử là Điện Versailles. Ngôi biệt điện nguy nga vĩ đại nổi danh trên thế giới qua các triều đại vua chúa vàng son của nước Pháp được xây dựng bởi vua Louis thứ XIII và sau đó được các vua Louis kế tiếp phát triển thêm. Ngay bước xây cất đầu tiên, ngôi biệt điện này đã tiêu hoang phí hết 100 triệu đô la chớ không phải tính theo tiền phật lăng. Hằng năm du khách đến thăm điện Versaille rất đông nhưng hai phụ nữ này chỉ thích tự mình đi thăm không qua một tổ chức hay một phái đoàn du lịch nào. Họ không muốn bị lệ thuộc vào nhiều hoàn cảnh và thời gian đi lại vì họ rất thích nghiên cứu lịch sử. Với một cuốn chỉ nam du lịch Pháp bỏ túi, hai người đàn bà này đã lần mò để đến những nơi mà họ ưa thích tìm hiểu.


    Đầu tiên, cả hai lên ô tô và khi ô tô tới bến xuống xe họ đã đến nơi nếu họ quẹo tay mặt nhưng họ lại xuống xe và đi tiếp một đoạn đường khá xạ Sau đó họ thấy một con đường nhỏ, một con đường vắng tanh, đó là con đường đất dẫn vào một đám cây xanh ngát. Sẵn óc tò mò và thích du lịch thám hiểm, hai người đàn bà với túi xách trên tay đi lần theo con đường. Không gian êm lắng lạ thường, xa xa là khu rừng thông ngút ngàn. Họ phân vân và có cảm giác mình bị lạc đường. Nhưng họ thấy có nhiều ngôi nhà nông dân đằng xa rồi thấy bên đường cái cào sắt và cái xẻng đặt gần chiếc xe cút kít. Họ gặp nhiều người trên đường lúc đầu là hai người đàn ông mặc áo choàng màu xám xanh, rôi nơi thềm một túp lều, cô Jourdain thấy một người đàn bà lớn tuổi đang đứng với một cô gái trẻ. Sau vài phút, họ lại gặp một người đàn ông cũng mặc áo choàng và đầu đội mũ rộng vành. Người đàn ông này có gương mặt lầm lì, xam xám và điểm chấn rỗ hoa. Bà Ann Moberly định hỏi thăm đường nhưng thấy dáng dấp và vẻ nghiêm khắc của người đàn ông này nên không hỏi nữa thì vừa lúc đó có một người đàn ông từ xa chạy lại đứng trước mặt họ và nói có vẻ sốt sắng:


    - Tôi có thể dẫn các bà đi nếu các bà cho phép?


    Bà Anne và cô Jourdain cảm thấy vui vui và họ cảm ơn người đàn ông đã ngỏ ý muốn dẫn đường cho họ. Họ qua một cây cầu nhỏ bắc ngang qua một con suối mà tiếng nước suối đổ sao nghe xa xăm nhẹ nhàng như xem qua màn ảnh chỉ có hình mà không có tiếng động. Người đàn ông dẫn họ qua cầu rồi từ biệt. Trước mặt hai người là một khoảng yên tĩnh khác. Một người đàn bà đang trầm ngâm ngắm nghía bức tranh bà đang vẽ. Họ lại gặp hai người đàn ông đi tới, yên lặng và nhẹ nhàng như hòa vào cái tĩnh mịch của vùng đất mà họ đã đi quạ Đâu đâu cũng đều nhuốm vẻ thâm trầm, lặng lẽ. Khi vừa đến một căn nhà gần cuối đường họ mới nghe thấy quang cảnh ồn ào vui vẻ phát ra, họ nhìn vào và biết đó là một cuộc đám cưới linh đình. Một người đàn ông bước ra đưa cao ly rượu chào đón họ…


    Hai phụ nữ cảm thấy mỏi chân và họ ngồi lên một tảng đá lớn bên hàng cây râm mát để nghỉ mệt. Gần chiều họ quay trở về. Điều kỳ dị là con đường họ đi qua còn đó nhưng tất cả những gì họ đã thấy đều như tan biến cả, không còn ngôi nhà ồn ào náo nhiệt, không còn người đi lại, chẳng thấy túp lều ở đâu và cả xe cút kít và cào xẻng… Hai phụ nữ trở về Balê (Paris) mỗi người đều mang tâm trạng hoang mang kỳ lạ về những gì mình đã thấy. Họ thì thào hỏi nhau như sợ nói to ra sẽ động tới những gì linh thiêng huyền diệu nhất. Họ xem các tập ghi chép của nhau và xác nhận rằng mỗi người đều thấy rõ ràng những hình ảnh xảy ra trước mắt mình không có gì sai lệch.


    Điều kỳ dị là họ nhớ lại những căn nhà xưa, những túp lều và cách trang phục của những người mà họ gặp. Xem lại bản đồ và sách chỉ dẫn, họ thấy không thể có vùng đất nào như họ đã đi qua có trong tài liệu cả. Hơn nữa những gì họ thấy không thể nào có được vào thời đại họ đang sống nhất là những kiểu mũ, nón, áo quần mà họ đã thấy ở những người mà họ đã gặp. Tài liệu lịch sử cho biết những gì mà họ đã thấy chỉ có ở thời đại cách xa thời đại họ đến gần 200 năm.


    Khi đọc kỹ lại nhật ký của nhau, hai phụ nữ thấy có một điều lạ là trong khi bà Anne Moberly thấy người phụ nữ vẽ tranh bên kia cầu thì cô Jourdain lại không thấy. Còn khi Jourdain thấy người đàn bà lớn tuổi và cô gái ở túp lều thì bà Anne Moberly lại không thấy. Nơi mà hai phụ nữ trước đó quyết định viếng thăm là khu nghỉ mát nổi tiếng Petit Trianon, đó là khu nghỉ hè của Hoàng Hậu Marie Antoinette.


    Bà Anne Moberly và Jordain cảm thấy như họ đã gặp phải một trường hợp dị thường. Nếu chỉ một người đơn độc gặp phải hoàn cảnh ấy thì có thể họ sẽ cho là một giấc mơ qua hay là một ảo giác (hallucination) mà họ đã trải qua. Nhưng ở đây chính cả hai người đều đã cùng đi và cùng thấy những cảnh tượng như nhau (chỉ ngoại trừ hai sự kiện vừa kể trên). Vậy có cái gì đó lạ lùng đã xảy ra và đã, đang hiện diện kề cận bên những gì gọi là cõi thế gian. Phải chăng cái quá khứ vẫn nằm mãi bên cái hiện tại?


    Vốn là người thích mạo hiểm, tìm tòi, nghiên cứu, hai phụ nữa ấy quyết định thử lại một chuyến đu hành đế nkhu nghỉ mát Pettit Trianon lần nữa. Họ lại đi vào con đường nhỏ yên lặng. Khi gần đến công viên đầy hoa lá, họ bỗng nghe tiếng nhạc thoang thoảng và từ xa có hai người công nhân đội mũ màu xanh đỏ đang mang củi lên chiếc xe nằm gần một mô đất cao.


    Sau đó, cả hai phụ nữ đến gặp người trông coi khu nghỉ mát Petit Trianon. Người này sau khi nghe hai cô gái kể lại mọi sự họ đã trông thấy (cũng như những gì họ đã ghi chép trong cuống nhật ký) thì chỉ lắc đầu và nói: “Tôi xin phát biểu là tất cả những gì hai cô đã trình bày đều là của quá khứ vì tôi là người trực tiếp coi sóc khu này đã lâu năm, tôi chưa bao giờ trông thấy những người như đã kể, hơn nữa, với những áo quần nhà cửa, vật dụng ấy chỉ có thể thấy được cách đây hơn một thế kỷ mà thôi”.


    Nhận thấy những gì mình kể lại đều khó được ai chấp nhận hay giải thích. Cả hai phụ nữ lại đến khu Versailles lần nữa. Nhưng lần này, tất cả những gì họ thấy đều không còn nữa. Họ chỉ còn một quyết định là đến thư viện lớn nhất là viện chuyên về lịch sử để tìm lời chứng nhận và giải đáp qua tư liệu mà thôi. Tại đây, qua các tài liệu lịch sử, phong tục học và xã hội học của nước Pháp, họ ghi nhận lại rằng những trang phục mà họ đã thấy qua những người xuất hiện ở Pettit Trianon là trang phục của thời đại vua Louis. Nơi họ đến khi qua cầu là nơi Hoàng Hậu Marie Antoinette đến nghỉ ngơi vào mùa hè. Người phụ nữ ngồi bên giá vẽ mà bà Anne Moberly thấy chính là hoàng hậu Marie Antoinette.


    Câu chuyện lạ lùng mà Eleanor Jourdain và Anne Moberly đã trải qua chẳng bao lâu lôi cuốn một số nhà nghiên cứu về các hiện tượng siêu hình. Các nhà sưu tập sử liệu cũng đã góp Phần tìm hiểu về những gì mà tập bút ký của hai phụ nữ này có ghi lại. Trong một bản tài liệu lịch sử người ta thấy có nhắc đến túp lều ở Trianon, nơi đây có hai người sinh sống là một cô bé 14 tuổi và người mẹ của cô.


    Còn người đàn ông có gương mặt nghiêm khắc với những chấm rõ là người quen thân của Hoàng Hậu thường đến chơi mỗi khi Hoàng Hậu đến nghỉ mát vào mỗi dịp hè ở khu này. Riêng về cây cầu mà hai phụ nữ đi qua với dòng suối êm dịu như mơ nay không còn thấy thì lại có một tài liệu được phát hiện vào năm 1913 qua một bản đồ vẽ chi tiết địa điểm, địa danh của vùng Petite Trianon do chính người làm vườn của Hoàng Hậu Marie Antoinette vẽ, trên bản đồ này có vẽ hình cây cầu bắc ngang qua một con suối.


    Như thế, mọi thứ mà hai phụ nữ Moberly và Jourdan thấy lần lần đều đã được xác nhận và như thế, rõ ràng họ đã một đôi lần đi vào quá khứ mà họ không ngờ. Điều cần biết thêm là hai phụ nữ này đều là những nhà trí thức, bà Anne Moberly là hiệu trưởng của trường College St. Hugh thuộc đại học Oxford, cô Eleanor Jordan là nhà nghiên cứu sử và là giảng viên về ngôn ngữ Pháp. Hai người này không phải là dân Pháp. Họ đến tham quan nước Pháp vào mùa hè năm 1901. Tư liệu về câu chuyện của họ hiện nay vẫn còn lưu trữ tại thư viện Bodleian của đại học Oxford.


    NHỮNG NGƯỜI TRỞ VỀ TỪ CỎI CHẾT


    Sau đây là tài liệu đã thu thập được từ những người đã gần gũi với cái chết hay đã có lần sống lại, đã trải qua một đoạn đường vượt xa ranh giới cõi sống và cõi chết, nghĩa là đã bước đi một khoảng đường qua bên kia cửa tử để rồi vì một lý do nào đó lại quay về… và đã sống lại. Sau đây là ba trường hợp của những người chết đi sống lại đã mô tả… và đã đăng tải trong báo Tiền Phong 1992…


    1. Một người tên là Iva Brawn, sinh sống ở Lamirada (Cali) đã bị tai nạn xe hơi khi băng ngang qua đường lộ. Người này bị xe hất tung đi rất xa và ngất xỉu. Trong thời gian mê man như chết đó, người này đã thấy nhiều hình ảnh lạ lùng: nguồn sáng từ đâu chói lòa bao phủ và có tiếng nói phát ra từ ánh sáng đó “đừng sợ, con sẽ không sao cả” sau sáu ngày hôn mê, người ta cứ ngỡ rằng bà chết nhưng rồi bà sống lại và bà kể chuyện nầy cho người chồng nghe. Mấy năm sau, chồng bà Iva Brawn mất và một năm sau, bà Iva đang nằm ngủ bỗng nhiên thấy chồng mình xuất hiện nói với bà rằng: “Cách đây mấy năm, mình có kể cho tôi nghe những gì mà mình đã thấy trong vụ tai nạn xe hơi, nhưng tôi không hiểu giờ đây, tôi đã hiểu nơi đây thật đẹp, nhất là nước. Mình không thể tưởng tượng được là nước ở đây đẹp đến cỡ nào… ”


    2. Một phụ nữ tên là Sttooksbury kể lại rằng, bà bị chính người chồng dùng dao quyết đâm chết nhưng nhờ bề trên che chở, bà đã được sống lại trước sự kinh ngạc của các y tá, bác sĩ ở bệnh viện. Stooksbury kể rằng: “Lúc bị ngất đi và được mang vào bệnh viện ai cũng tưởng tôi chết vì máu ra quá nhiều, riêng tôi, tôi cảm thấy như trôi vào một đường hầm tối đen… Ở ngưỡng cửa sinh tử, tôi đã trông thấy mẹ tôi đứng đó thật rõ ràng, bà đưa tay vẩy vẩy ra dấu bảo tôi hãy trở về: “Hãy trở lại đi, chưa tới lượt con đâu!”


    3. Bà Connie Zickefoose ở Cloverdale (tiểu bang Ohio) kể rằng: Lúc đó tôi đang ở trên bàn sanh, đầu óc tôi quay cuồng rồi một màn đen phủ ập lên… tôi thấy mình đi trên con đường đầy ánh sáng, hoa nở, hồ nước với cá bơi lội muôn màu… Tôi vào một căn phòng, trong đó có chúa Jesus. Chúa ân cần đặt bàn tay lên vai tôi và nói: “Con không vào được đâu! Vì một khi con đã vào thì không thể ra được - phải nhanh lên vì ở đây không có thì giờ, và trên cõi thế giờ của con sắp hết rồi! Thế rồi tôi trở lại, tôi thấy thân thể tôi rõ ràng ở trên bàn sanh, mặt tái nhợt. Các bác sĩ đang yên lặng, có lẽ họ nghĩ rằng tôi đã chết. Rồi tự nhiên họ reo lên vì biểu hiệu sự sống của tôi đã thể hiện qua cái máy gắn vào cơ thể tôi…


    Kể từ khi cuốn sách “Life after Life” xuất bản năm 1975, hàng ngàn trường hợp liên quan đến vấn đề tiếp cận với những hình ảnh thấy được sau khi chết được báo cáo, phân tích và nghiên cứu.


    Bác sĩ Melvin Morse đã kể lại một trường hợp có thật đã xẩy ra như sau:


    Vào năm 1982, một bé gái bảy tuổi bị rơi vào một hồ bơi, khi vớt lên, thì bé này đã ngưng thở gần hai mươi tiếng đồng hồ. Các bác sĩ cho rằng cháu bé này đã chết. Nhưng như có một phép lạ, nhờ hô hấp nhân tạo, cháu bé đã tỉnh lại và sau đó đã kể những gì cháu đã trải qua trong thời gian coi như đã chết ấy. Cháu cho biết đã gặp một người mà cháu nghĩ rằng đó là Chúa Trời. Người hỏi: “Cháu có muốn ở lại đây không thì cháu trả lời muốn nhưng người lắc đầu: con còn mẹ, con có trách nhiệm với người mẹ đang còn sống, vì thế con nên trở về…”


    Ngoài ra cháu còn kể rằng cháu đã gặp nhiều trẻ con và người lớn, những người này đi lại tự nhiên nhưng nét mặt không vui và không rõ nét lắm. Ở đây có nhiều người tập trung như chuẩn bị đi đâu, có lẽ đang chờ tái sanh. Khi bác sĩ Melvin Morse hỏi cháu bé rằng: cháu đã tỉnh lại lúc nào cháu có biết không, thì cháu bé trả lời là khi nghe Chúa bảo con có trách nhiệm với mẹ đang còn sống hãy trở về thì vừa lúc cháu tỉnh lại…


    QUẢ BÁO THỂ HIỆN QUA CÁC BỆNH TẬT: NHƯ ĐUI MÙ, CÂM ĐIẾC, CỤT TAY CHÂN, BẠI LIỆT, MẤT MÁU V.V…


    Từ ngàn xưa, Ấn Độ giáo và Phật giáo đã đi sâu vào vấn đền này và phát triển thành một triết lý tôn giáo thâm sau vi diệu xoay quanh vấn đề Luân Hồi quả báo… Một tội lỗi do mình đã gây ra ở kiếp này thì ở kiếp hiện tại hay kiếp kế tiếp sẽ đến với chính mình chớ không phải ai khác. Đau khổ, tai ách, bệnh tật có nguồn gốc cũng từ đó. Sự tàn nhẫn, ác độc là nguyên nhân sẽ gây nên quả báo thể hiện qua các bệnh tật, bệnh nan y và cụt tay cụt chân hay câm điếc v.v…


    Trong tài liệu lưu trữ tại viện nghiên cứu về hiện tượng luân hồi tái sanh tại Virginia có ghi lại những trường hợp quả báo thể hiện qua tai nạn và bệnh tật như sau :


    A) Một người từ lúc sinh ra đã bị mù lòa, mỗi lần đi phải bò, lết, quờ quạng khổ sở. Khi được ông Edgar Cayce dùng thuật thôi miên để tìm về nguyên nhân từ tiền kiếp cho người này thì được biết kiếp trước ông ta là một người Ba Tư rất hung dữ, thường hành hạ những tù nhân bắt được bằng cách dùng dùi sắt nung đỏ đâm vào mắt cho họ mù.


    Theo thuyết luân hồi quả báo của đạo Phật thì sự mù loà của một người có từ lúc sinh ra đời là một nghiệp quả báo ứng…


    B) Qua cuộc tìm về nguồn cội của chứng bệnh máu loãng ở một thanh niên, ông Cayce đã biết được rằng trong tiền kiếp anh này từng gây nên không biết bao nhiêu cuộc tàn sát đẫm máu ở xứ Perou và giờ đây phải nhận cái hậu quả ghê gớm ấy và được thể hiện qua chứng bệnh nguy hiểm gây lo lắng khủng hoảng đến anh ta là bệnh máu loãng.


    SỰ TRỞ LẠI CỦA NGƯỜI CHỒNG TIỀN KIẾP


    Năm 1974 gia đình chị Lê Thị Khanh H. tổ chức lễ cưới cho chị rất linh đình tại một khách sạn lớn ở Sài Gòn. Hai vợ chồng chị đi Đà Lạt để hưởng tuần trăng mật. Trên đường xe chạy đến Đà Lạt chồng chị là anh L., một sĩ quan không quân, cứ nhắc đi nhắc lại một câu chuyện thật lạ lùng: “Đây là lần cuối cùng tụi mình đến Đà Lạt chơi”. Chị Khanh H. bảo chồng đừng nói câu kỳ quặc đó nhưng anh ta cứ nói và còn bảo: “Em à! Lần đầu và lần cuối em à!”


    Ngày trở về trong khi xe đang chạy thì tự nhiên một chiếc xe chở củi lớn ở bên đường chạy ra khiến chiếc xe chở hai vợ chồng chị Khanh H. phải quặt tay lái và lăn xuống cái dốc gần đó. Lạ lùng thay, chiếc xe chỉ nằm vắt ngang một thân cây to lớn ở sườn đồi. Chị Khanh H. không hề gì, chỉ xây xát mình mẩy nhưng người chồng chị lại bị thanh sắt ở phía trước đập mạnh vào phía lá gan nên bất tỉnh. Xe cứu thương cấp tốc chở hai vợ chồng về bệnh viện Sài Gòn. Bác sĩ cho biết anh L. khó sống, chỉ hy vọng còn chống chọi với tử thần độ một tuần lễ là nhiều. Chị Khanh H. khóc đến gần hết nước mắt. Chị không ngờ câu nói lạ lùng của người chồng mới cưới lại là một sự thật. Phải chăng đó là oan nghiệt, khổ đau, nghiệp chướng hay ma quỷ nhập?


    Trong khi đó, anh L. khi tỉnh khi mê. Trước khi anh qua đời độ ba ngày, tự nhiên anh L. tươi tỉnh hẳn lên, ngồi dậy ăn được và anh đòi ăn cháo cá. Trông anh có vẻ sảng khoái, vui vẻ, anh nắm tay chị Khanh H. và nói say sưa:


    - Anh không chết đâu, em đừng lo. Mà nếu anh có chết thì chỉ có thể xác anh chết mà thôi vì anh sẽ quay về với em, sống với em mãi mãi. Tại sao chúng mình mới sống với nhau đã vội chia tay, tại sao lại có điều vô lý đắng cay đó?


    Nói xong một hơi dài thì anh L. lại có vẻ mệt mỏi trở lại.


    Ngày 10 tháng 12 năm 1974 lúc 1 giờ sáng, anh L. đang nằm thiêm thiếp bỗng ngồi nhỏm dậy nhìn quanh. Chị Khanh H. hốt hoảng chạy lại đỡ anh và hỏi:

    - Sao anh trở dậy làm gì: Anh đi tiểu phải không?
    Anh L. lắc đầu nói:
    - Anh sắp xa em rồi. Nhưng em cứ tin tưởng rằng anh sẽ trở lại với em trong một thời gian không lâu. Lúc đó tuy em không thấy anh nhưng chính anh là người đó, anh quyết tâm thực hiện điều anh mong ước… ”
    Nói xong câu đó, anh L. từ từ nằm xuống có vẻ mệt lả và khoảng 4 giờ sáng thì anh trút hơi thở cuối cùng.
    Chị Khanh H. khóc ngất và bất tỉnh nhiều lần tại bệnh viện. Người nhà và chính các y tá, bác sĩ ở bệnh viện đều biết về câu chuyện lạ lùng này, và ai cũng khuyên chị tin tưởng vào lời trăn trối của anh L..
    Cha của chị Khanh H. là một người có đạo không tin chuyện đầu thai Luân Hồi nhưng mẹ của chị lại tin rằng người con rể của bà sẽ đầu thai trở lại.
    Thời gian thấm thoát đã một năm quạ Năm 1975 người em gái của chị Kh. lên xe hoa về nhà chồng, và đến năm 1976 thì hạ sinh một cháu gái. Điều kỳ lạ là cháu bé này rất khôn ngoan. Mới ba tuổi mà cháu đã nói được những câu như người lớn với lý luận rất rõ ràng. Chị Khanh H. cho biết tháng 3 năm 1980 chị quyết định vượt biên cùng với hai vợ chồng người em gái của chị.
    Hôm chuẩn bị đồ đạc để đi, bỗng nhiên cháu bé nói cho cả nhà nghe:
    - Nhớ đừng quên đem nước theo, tháng này đi biển êm nhưng thiếu nước cũng chết.
    Nói xong cháu chạy vào phòng chị Khanh H. lấy cái bi đông nước của quân đội ra đưa cho chị Khanh H. và nói:
    - Đây là cái biđdông nước mà ngày xưa mình thường dùng khi về quê chơi chắc không ai còn nhớ. Vật kỷ niệm của mình mà. (Cái bi đông nước này là của anh L. mang về nhà)
    Mọi người trong nhà đều ngạc nhiên. Riêng chị Khanh H. thì cảm thấy như có một luồng điện lạnh chạy từ chân tới đầu chị. Chị tự hỏi: Phải chăng anh L. đã đầu thai vào làm cháu gái của chị?
    Mấy ngày sau có tin công an đi điều tra về vụ tổ chức vượt biên trong phường khiến mọi người lo sợ. Do đó, vợ chồng người em gái không dám vượt biên nữa. Trong khi chị Khanh H. vẫn giữ lập trường cương quyết. Một hôm, gần ngày lên đường, cháu bé chạy lại nói:
    - Đừng có lo, công an đi kiểm soát là mưu mô đó thôi, như vậy càng dễ đi, nếu không ai đi, cháu đi.
    Vừa nói cháu vừa chuẩn bị đồ đạc cùng với chị Khanh H., cử chỉ chững chạc như người lớn.
    Hôm xuống ghe hai vợ chồng của người em gái chị Khanh H., cứ ngập ngừng lo sợ, cuối cùng khi bước xuống ghe chỉ có chị và cháu bé đi thôi.
    Khi ghe được kéo vào đảo Bi Đông nằm trên cát tự nhiên cháu bé nói với chị Khanh H. giọng như người lớn:
    - Nằm đây mà nhớ lại ngày xưa mình cùng nằm ngắm trời mây ở Vũng Tàu.
    Tự nhiên chị Khanh kinh ngạc, tại sao cháu bé lại nói điều kỳ lạ, chưa bao giờ bé đến Vũng Tàu. Vậy đó là lời nói của ai? Có phải là của chồng chị không? Vì kỷ niệm ấy không bao giờ phai trong trí chị, những ngày chưa cưới, chị và L. thường về Vũng Tàu nằm trên bãi cát ngắm biển và trời mây.
    Khi qua Hoa Kỳ, càng ngày bé càng có những lời nói, cử chỉ hoàn toàn giống như chồng của chị Khanh H. ngày nào. Cho đến nay chị vẫn còn sống độc thân. Chị coi cháu gái ấy là nguồn sống độc nhất của chị, là niềm hy vọng của chị và cũng là toàn bộ những kỷ niệm của người chồng đáng thương của đời chị.
    Chị Khanh H. hiện giờ đang ở tại Florida với đứa cháu gái của chị.

    SỰ TRỞ LẠI CỦA NGƯỜI CON GÁI ÚT


    Vợ chồng anh chị T. Nh. (chồng người Mỹ, vợ người Việt) có một người con gái rất dễ thương nhưng không may cháu lại qua đời (ngày 2 tháng 2 năm 1992). Điều kỳ lạ là trước khi mất độ ba ngày, cô con gái này đã gọi điện thoại nói với mẹ là: “Mẹ đừng lo cho con, con lớn rồi, con sẽ trở lại sớm.” Rồi cô con gái lại gọi tiếp:


    - Ba mẹ à! Con sẽ là một người mới lạ mà chính ba mẹ sẽ không ngờ tới. Rất đặc biệt!

    Hai vợ chồng anh chị T. Nh. không hiểu con gái nói gì lạ quá. Khi cô gái qua đời một tháng thì người cha là anh R. K. nằm mơ thấy cô con gái đứng trước mặt anh ta và nhắc lại một câu thật lạ lùng:
    - Từ nay ba đừng ra thăm mộ con nữa vì con sắp đi rồi, con sẽ đầu thai lại vào tháng 11 tới đây.
    Điều kỳ dị là đúng vào thá g 11 năm đó người con gái lớn thứ hai của anh chị T. Nh. bấy lâu có vẻ đăm chiêu tư lự bỗng nhiên trong bữa ăn tối đã nói với gia đình như sau:
    - Ba mẹ Ơi! Con đã có thai.
    Đối với bậc cha mẹ khi nghe con gái mình chưa tổ chức cưới hỏi mà thốt ra câu đó thì đều hốt hoảng, lo buồn nhưng đối với hai vợ chồng anh chị T. Nh. lại như bàng hoàng rung động theo một nỗi vui mừng khó tả. Người chồng (anh R. K.) đã nói với chị T. Nh:
    - Anh biết cháu ngoại mình không ai khác hơn là con gái mình đã đầu thai lại.
    Thế rồi hai vợ chồng anh chị T. Nh. lo chuẩn bị đám cưới gấp cho con gái. Hôn lễ cử hành ngày 27 tháng 12 năm 1992.
    Khi cháu bé ra đời, càng ngày gương mặt cháu càng giốgn cô con gái của anh chị T. Nh. như đúc. Hàng ngày hai vợ chồng chị T. Nh. đi làm về là không còn muốn ngủ nữa, cứ lo bế ẵm bé vì đây không những là cháu ngoại họ mà còn là con gái muôn vàn mến yêu của họ nữa…

    VẾT SẸO TỪ TIỀN KIẾP


    Dấu tích luân hồi là những gì khả dĩ giúp chứng minh Luân Hồi là có thật, hay ít ra cũng là hình ảnh của dấu ấn một thời quá vãng nào đó ở con người. Để dễ hiểu hơn chúng ta thử đọc câu chuyện có thật sau đây đã xảy ra ở Ấn Độ, mà báo Inda Today đã đăng tải như sau:


    Titu là một cậu bé con mới 5 tuổi có cha mẹ là Samti và Makhavia Pratxa ở làng Varkhe… Lúc cậu bé vừa lên năm thì người mẹ rất ngạc nhiên khi nghe cậu lập đi lập lại câu nói lạ lùng:


    - “Tôi chính là người đàn ông chủ cửa hàng bán máy phát thanh ở Agra. Vợ tôi là Uma, tôi phải đến đó. Tôi chính là Suresh Verma”.

    Cha cậu bé cũng rất ngạc nhiên khi nghe con nhắc lại câu nói này, người cha kéo con lại phía bên mình và hỏi:

    - “Con có thể nói rõ thêm cho ba nghe về điều con nói không?”

    Cậu bé chậm rãi ngước mắt nhìn vào cõi xa xăm rồi nói:
    - “Câu chuyện xảy ra từ thuở xa xưa, nhưng tôi nhớ rõ như mới ngày hôm qua… Hôm ấy tôi lái xe hơi về nhà. Vừa bước xuống xe, tôi đã cất tiếng gọi vợ tôi Uma đâu! Uma đâu ra xem quà này… Bỗng nhiên tôi thấy có hai người lao về phía tôi và bắn hai phát súng vào đầu tôi. Tôi ngã nhào ngay giữa sân… Trời ơi!…”
    Vừa kể đến đây, cậu bé Titu ôm đầu kêu thét lên:
    - “Quân giết người ! Quân khốn kiếp!”
    Rồi liệng đồ đạc vào người cha với vẻ mặt hằn học lạ lùng. Sợ quá, cha mẹ cậu bé vội vã cùng với cậu tìm đến vùng Agra và dò hỏi xem nhà của người bán máy phát thanh ở đâu. Dân chúng vùng đó đã chỉ cho họ một căn nhà ở dưới chân một ngọn đồi. Hai vợ chồng liền đến ngay căn nhà ấy và gặp một người đàn bà ra mở cửa. Vừa trông thấy người đàn bà, Titu chạy lại kêu lên vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ:
    - Trời ơi! Uma!
    Người đàn bà ấy chính là Uma. Cha mẹ cậu bé sợ quá đến nổi gai ốc đầy mình. Ngạc nhiên và kinh hãi hơn nữa là khi họ hỏi về người chồng của bà ta (bà Uma) thì bà này cho biết như sau:
    - Chồng tôi đã qua đời từ lâu rồi. Lúc ấy chồng tôi lái xe về nhà thì bị hai người đàn ông nấp sẵn đâu đó bắn chết. Tôi sống với hai con từ đó đến nay.
    Điều kỳ lạ hơn nữa là cậu bé Titu đã bất thần hỏi bà Uma một câu khi thấy chiếc xe hơi đậu cạnh nhà:
    - Chiếc xe này của ai? Còn chiếc xe của tôi đâu?
    Bà Uma vô cùng kinh ngạc và sợ sệt, bà nhìn hai con và trả lời cậu bé với đôi mắt ngơ ngác:
    - Chiếc xe cũ bán rồi… nhưng sao cậu bé này lại có cử chỉ và lời nói lạ lùng quá vậy?
    Sau khi cha mẹ cậu bé Titu kể hết mọi chuyện cho người đàn bà có tên là Uma nghe thì người đàn bà này lại càng kinh ngạc hơn nữa…

    Câu chuyện có thật này mà báo chí Ấn đã đăng tải làm xôn xao mọi người và đã gây kinh ngạc cho giới khoa học không ít. Tại Ấn Độ, tiến sĩ Narender Chadha (đại học Delhi) là giáo sư chuyên nghiên cứu về các vấn đề khoa học và siêu hình đã lưu ý đến câu chuyện này. Đặc biệt giáo sư Eminde ở Đại Học Virginia Hoa Kỳ cũng đã tìm gặp gia đình cậu bé Titu. Điều kỳ lạ được phát hiện sau đó là vết đạn ở gần thái dương nơi đầu cậu bé. Hỏi cha mẹ cậu thì từ ngày sanh ra cho đến lúc năm tuổi, cậu bé Titu không có một vết thương nào trên người do té ngã hay bị đâm, bắn gì cả. Vết sẹo tìm thấy trên, theo lời kể của cha mẹ cậu bé, có ngay từ khi cậu bé Titu chào đời. Để chắc chắn hơn, các nhà nghiên cứu đã đến ngay nhà hộ sinh ở làng Varkhe để yêu cầu được xem lại hồ sơ sinh sản của cậu bé. Trong hồ sơ có ghi một câu “Cháu bé có vết sẹo lạ ở thái dương khi mới lọt lòng mẹ”


    Lạ lùng hơn nữa là khi được thân nhân đồng ý để cơ quan điều tra khai quật mộ chí của người chủ tiệm Sresh Verma để khảo nghiệm tử thi thì thấy dấu vết viên đạn xuyên qua đầu ở ngay vị trí tương ứng với vết sẹo xuất hiện nơi đầu cậu bé Titu…
    Nguồn: http://phatgiaovnn.com (Phật Giáo Việt Nam Net)

    HMLS Tổng Hợp

    09:59 20-07-10
  • Mẹ của Bi Khánh Pro

    Rất  dễ cuốn hút với đề tài này!applause

     

    15:52 22-07-10
  • Hocvien

    Đúng rùi đó bạn Lan Anh. Một đề đầy thú vị, hấp dẫn đó. batting eyelashes

    06:49 23-07-10
  • Hocvien

    Đang khâm liệm, người chết bỗng nhiên ngồi dậy

    July 23, 2010
    Nửa đêm, cả gia đình ngồi bàn việc khâm liệm và lo hỏa táng bỗng thấy anh Hùng ho mạnh, nải chuối trên bụng rơi xuống rồi tỉnh dậy xin em trai thuốc lá.


    Trung tuần tháng 4-2010, trong một lần đi làm về khi anh em tụ hợp đầy đủ tại khu nhà trọ ở Q12, TPHCM mua rượu về lai rai, vừa uống được một ly, anh Nguyễn Thanh Hùng, 37 tuổi (ở phường 2, TP. Tân An, Long An) than đau ở vùng bụng và có hiện tượng nôn ói.
    Vợ anh Hùng bên di ảnh chồng
    Hôm sau, khi đến bệnh viện khám, siêu âm xong, bác sĩ cho biết anh Hùng bị ung thư túi mật giai đoạn cuối, có dấu hiệu di căn sang một số bộ phận khác trong cơ thể!

     

    Bà Nguyễn Thị Kim, 56 tuổi, mẹ ruột anh Hùng hàng ngày thức khuya dậy sớm quảy gánh đi mua ve chai ở cách nhà hàng chục cây số kiếm tiền thuốc thang cho con. Chị Nam, vợ anh Hùng, hàng ngày với xấp vé số qua các ngả đường của Vũng Tàu bán gởi tiền về phụ chồng vượt qua cơn hoạn nạn.
    17 giờ ngày 14-6-2010, sau bữa cơm chiều, bà Kim thấy con nằm im không cử động, tưởng con ngủ nên kéo mền định đắp thì phát hiện anh Hùng đã tắt thở từ lúc nào.

    Nghe tiếng mẹ khóc, chị Nga - em anh Hùng chạy vào sờ lên miệng, mũi thì thấy anh không còn thở, da bắt đầu tái nhợt.

    Anh Hùng được đưa lên bộ ván và che lại bằng một chiếc mền, trên bụng để một nải chuối, trên đầu cúng hột vịt, chờ người thân chị Nam ở Vũng Tàu về nhìn mặt lần cuối.

     


    Hơn 23 giờ, cả gia đình ngồi bàn việc tổ chức và lo hỏa táng, do nhà quá chật mọi người ngồi xung quanh thi thể của anh để nói chuyện. Riêng anh Trí, em trai anh Hùng, ngồi cạnh bên, tay để lên tấm chăn đắp thi thể anh.

     

    Chợt thấy động đậy, bàn tay anh Hùng chạm vào tay anh lay nhẹ. Dù mất bình tĩnh nhưng anh Trí vẫn không dám kêu và tiếp tục quan sát. Bất chợt anh Hùng ho mạnh, nải chuối trên bụng rơi xuống, rồi anh từ từ ngồi dậy mở mắt nhìn xung quanh.

     

    Thấy nhang đèn cháy đỏ trên bàn thờ, quan tài kề bên, hiên nhà dựng trại, anh rất ngạc nhiên. Sau khi xin em trai thuốc hút, nghe mọi người kể lại mọi việc, anh Hùng mới biết là mình vừa chết và sống lại.
    Anh Hùng trở lại cuộc sống thường ngày, ăn uống ít nhưng mọi sinh hoạt diễn ra bình thường. Cứ như thế, anh Hùng sống được đến ngày 15-7 vừa qua mới qua đời.
    Ngày 20-7, qua trao đổi, thạc sĩ, bác sĩ Lê Thanh Liêm - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Long An cho biết: “Chết lâm sàng là một trong những trạng thái kỳ lạ hiếm gặp ở con người, song lại là một trong những vấn đề ẩn chứa nhiều điều bí mật, các nhà khoa học luôn muốn khám phá, tìm hiểu”.

     

    Đó là hiện tượng tim bệnh nhân đã ngừng đập, não không có tín hiệu hoạt động, song không có nghĩa là người đó đã bị chết, mà đó chính là một trạng thái thứ ba của con người ngoài trạng thái sống và chết. Ở trạng thái chết lâm sàng này, các tế bào trong cơ thể con người vẫn còn sống.

    Việc đưa người chết lâm sàng “sống lại” bằng kích thích rung tim và sưởi ấm cơ thể được xem là cách tốt nhất. Song không ít trường hợp, những người sống sót được sau khi tim ngừng đập đã mắc phải một số chấn thương não bộ. Tất nhiên là những ca chấn thương não bộ nghiêm trọng hầu như không thể sống sót lâu.

    Trường hợp anh Hùng, nếu đúng như lời gia đình kể lại thì có nhiều khả năng là do gia đình đốt nhang đèn và phủ chăn kín, làm cơ thể ấm lại các mạch máu lưu thông bình thường, não bộ hoạt động trở lại.


    (Theo CATPHCM)
    http://www.chuyenhot.com

    08:55 24-07-10

Mời Kết Bạn

Gởi lời mời kết bạn đến

Gửi
6504 ORA-06504: PL/SQL: Return types of Result Set variables or query do not match ORA-06512: at "VONBLOG.TN_BUZZ_RPKG", line 473 ORA-06512: at line 1 *BEGIN TN_BUZZ_RPKG.P_get_RandOnBuzzArticles(:P_CATE_ID, :p_intHasPicture, :p_ARTICLE_ID, :p_intLimit, :p_curResult); END;6504 ORA-06504: PL/SQL: Return types of Result Set variables or query do not match ORA-06512: at "VONBLOG.TN_BUZZ_RPKG", line 473 ORA-06512: at line 1 *BEGIN TN_BUZZ_RPKG.P_get_RandOnBuzzArticles(:P_CATE_ID, :p_intHasPicture, :p_ARTICLE_ID, :p_intLimit, :p_curResult); END;