trang Blog

Thu CucTham gia: 30/05/2011
  •               THỦY TÁNG
    Sáng Tác
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    THỦY TÁNG

      TRUYỆN NGẮN:                                

                                                          THỦY TÁNG                                                                                                       

                                                                                                              THU CÚC

                     Thỉnh thoảng tôi cùng cha đi ra nghĩa địa thăm mộ của bà, nhìn ông già mặc bộ đồ bà ba trắng, đầu đội cái nón lá cũ mèm lửng thửng đi tìm mộ trông thật là thương, mộ của bà tôi nằm dưới tàn cây bằng lăng quanh năm tỏa bóng mát, di ảnh được khắc trên bia mộ, nhìn hai cha con tôi như đang mĩm cười trong khói nhang nghi ngút.

                       Cách đó một khoảng không xa, có vài ngôi nhà cấp tám được mọc lên tạm bợ chen chút trong nghĩa địa, mỗi năm một dày thêm, nhìn cách bày biện đơn sơ trong những ngôi nhà đó, đủ biết chủ nhân của nó làm những công việc lao động vất vả, lao lực chứ không phải lao tâm. Tôi cầm cây chổi tàu cau quét rác tươi ai đó vất bừa bãi quanh hố đổ rác, có cả những gói phân của trẻ nhỏ vất vội trên thành mộ, điều lạ là nghĩa địa cũng có sự sống ư, người chết thức dậy hay sao? Có lẽ họ sắp sửa trở lại đời thường để tập tểnh đi chợ, nấu cơm sau bao nhiêu năm dài nằm chết cứng.  

                   Đêm đã khuya, tôi vẫn ngồi bên trang giáo án, lặng lẽ viết câu chuyện này, viết rồi khóc và khóc rồi lại viết để mọi người thông cảm cho cha tôi, và để cho tôi được nhẹ lòng.

                 ♣ ♣ ♣ ♣

                   Gia đình tôi có bốn anh chị em, anh Lộc là con trai độc nhất, sau đó mới đến ba cô con gái, Nghĩa là tôi và hai em là Đức với Hạnh. Cha của tôi là con trưởng trong dòng tộc Lê Minh lại sinh nhiều con gái, vì một sự cố oan gia nên bà tôi có ý định cưới vợ lẽ cho cha tôi để tìm thêm mụn con trai nối dõi tông đường, dạo ấy mẹ tôi ghen đêm nào cũng khóc thầm, lâu dần  đôi mắt của bà hằn lên một nét buồn xa vắng.

                  Cha tôi làm nghề buôn muối trên miền ngược, hàng đối lưu ông đem về khi thì mật gấu, cao trăng, ngà voi hoặc những tấm da cọp bán cho nhà giàu ở thành phố làm thú nhồi bông, nét tiêu khiển của giới thượng lưu trong chốn thương trường. Cuộc đời của cha tôi trôi nổi rày đây mai đó, cũng may là ông rất chung thủy với mẹ tôi, nếu không giờ đây ông cũng có thêm vài con vịt giời nơi cuối phố.

                Anh Lộc lớn lên học hành rất giỏi, khéo tay lại vẽ đẹp, mùa hè năm học lớp mười một không hiểu vì sao mỗi lần đau đầu là anh bỏ học, xé sách vở, miệng thì thầm nói nhảm suốt đêm, ban ngày anh bỏ nhà đi lang thang, đôi mắt dần dần đờ dại vô hồn, cả nhà ai cũng buồn lắm, bà tôi động viên mãi cuối cùng cha tôi phải đưa anh đi bệnh viện tâm thần để nhập viện.

               Một hôm trong lúc mẹ tôi đang sàng gạo, bà ngồi kề bên thủ thỉ: “ Thôi con à, phúc đức nhà mình đến đây là được lắm,  mẹ không động viên con sinh đẻ nữa, ba đứa con gái của con tụi nó hiền lành, chăm ngoan, mẹ chỉ mong sao các cháu học hành tấn tới, biết sống sao cho thuận hòa, kính trên nhường dưới, lớn lên làm việc có ích cho đời là được rồi, con ráng giữ gìn sức khỏe, không khéo về già sinh ra bệnh vặt khổ lắm con ơi…!”.

              Ba năm sau bà tôi qua đời, xác bà nằm xẹp lép trên chiếc giường tre đã cũ, toàn thân cứng đơ xanh xao, vàng vọt, mặt đắp giấy hồng đơn màu đỏ. Mùi nhang đèn, tử khí bao quanh lạnh lẽo khắp cả nhà. Thương mẹ, các cô chú của tôi mặc cho bà bộ áo tràng già lam mới may, đầu đội chiếc mũ len màu nâu có chóp nhọn, kiểu trang phục bà vẫn thường mặc khi đi lễ chùa. Mẹ tôi sụt sùi quấn cho bà cái bím tóc, len lén đeo vào tay bà chiếc vòng cẩm thạch màu xanh, thương bà tôi gửi vào quan tài của bà mấy bài thơ tôi yêu thích nhất, bé Hạnh mếu máo khóc:  Bà ơi bà, bà cho con gửi theo bà mấy cái mụt cóc để tay của con nó hết xù xì…

                ♣ ♣ ♣ ♣

              Mấy hôm nay cha tôi buồn, cái buồn của người già không giống người trẻ, cứ lo âu day dứt buồn như sầu vạn cổ, nhiều đêm tôi thức giấc thấy ông ngồi trong mùng, một chân cong, một chân duổi, tay tì trên đều gối chân cong mà hút thuốc, tôi hỏi: sao cha không đi ngủ, cứ hút thuốc lá hoài vậy, cha tôi không nói gì nhiều, chỉ chậm rãi nói ờ sau khi thở dài thườn thượt. Đôi khi tôi nghĩ dại, có bao giờ thần kinh của ông có vấn đề như của anh Lộc hay không.

     Đêm nay ông thức trắng, có lẽ sự suy nghĩ của ông đã chín để tìm ra một phương án hay cho hậu sự của bà, số là tháng trước Ủy ban xã có một cuộc họp toàn dân, kế hoạch đưa ra là nhà nước sẽ qui hoạch khu nghĩa địa Gò me để làm trường học và khu tạm định cư cho những người không nhà, yêu cầu thân nhân người quá cố phải di dời phần mộ của người thân mình đi nơi khác, gia hạn một năm sẽ tiến hành làm công trình.

    Cha tôi về nhà hút hết nửa kí thuốc rê vẫn không sao ngủ được, biết tính sao bây giờ, hốt cốt bà rồi đem cải táng nơi đâu, ông cố chọn một phương án tối ưu để bàn chuyện cùng với các em của mình.

    Môt hôm cha tôi mời họp mặt đại gia đình các cô chú bên nội, đề xuất kế hoạch khả thi là sau khi cải táng, hài cốt của bà không đem chôn mà đem đi hỏa thiêu, đem tro đi thủy táng ngoài biển cho linh hồn mau siêu thoát vì bà tôi theo đạo Phật. Có đến hai phần ba số người trong gia đình không đồng ý, cô Thanh vừa bắt chấy cho em Đức vừa đề nghị với cha tôi:

                    - Thủy táng mẹ em thấy ghê quá, hay là ta tìm mua đất, xây cho bà một cái lăng thật đẹp anh Mẫn nhỉ, con cháu có nhớ bà thì về thăm lăng, coi bộ chí lý lắm anh à.

    Ý kiến này bị mọi người bác bỏ vì không thực tế, lãng phí đất và tiền của, tìm đâu ra nhiều kinh phí để mua đất xây lăng, anh em đóng góp ư, chú Hài chân tình nói:

       - Thời buổi gạo châu củi quế, các con cháu của bà có đứa giàu, đứa nghèo, đứa nghèo chưa có tiền mua đất cất nhà, làm sao có tiền để đóng góp xây lăng, con cháu nghèo có bị tư ti, mặc cảm với vong linh của bà, với anh em trong dòng tộc hay không, các em nghĩ lại xem, không khéo sẽ chia rẻ anh em, họ hàng mình là ở chỗ đó.

    Cô Hiên căng thẳng:

     - Ai làm gì thì làm, chứ tôi nhất định không chịu đem tro của mẹ ra biển, dã man lắm, xưa rày anh em của mẹ hễ có ai chết thì chôn, hỏa táng cũng không hề, nay thủy táng mẹ là đảo lộn với đạo lý, với truyền thống của gia đình bên ngoại, ý kiến của mấy anh vậy có trái với lẽ đời hay không chứ?.    

    Cô Thanh phụ họa thêm vô:

               - Em tính vầy, cứ việc cho hỏa táng mẹ rồi ta đem tro cốt của mẹ vô chùa để thờ anh Hài nhỉ ?

    Cha tôi phân tích:

              Cũng được thôi các em à, nhưng mười năm rồi hai mươi năm trôi qua, có quá nhiều lọ tro cốt đem gửi, nhà chùa biết để ở đâu cho hết, rồi đến lúc nhà chùa cũng phải đem đi thủy táng tập thể số tro cốt đó, liệu rằng lúc đó anh em chúng ta có còn sống để chứng kiến lễ thủy táng cho mẹ hay không?

    Cô Hiên ngậm ngùi:

               -   Đưa mẹ đi ra biển anh Mẫn có biết buồn không?

               -   Buồn thì buồn chứ biết làm sao em, cha tôi tiếp tục thuyết phục:

              -   Mẹ của chúng ta đã chịu nắng, chịu mưa ngoài nghĩa địa suốt hai mươi năm rồi, thịt da không còn nữa, giờ chỉ còn lại những mảnh xương tàn cốt rụi nhỏ nhoi đang bị kiến  đục, mối ăn, các em không biết đau sót cho mẹ của mình hay sao?. Mẹ đã nuôi nấng, dưỡng dục khi ta còn là hạt cát, chúng ta là sinh linh, huyết nhục, là một phần thân thể của mẹ còn lại trên cỏi đời này, đến lúc anh em chúng ta trả hiếu được thì mẹ không còn nữa… mẹ đã đi xa.

    Hớp thêm ngụm trà nóng, ông tiếp:

             -  Thủy táng cho mẹ còn có ý nghĩa lớn là giúp cho những người nghèo có đất cất nhà để ở, học sinh có trường để học hành, các em đừng có ý kiến chi nữa, hãy để mẹ ra đi trong thanh thản và bình yên.

    Cha tôi chưa nói hết câu làm cho ai cũng lặng lẽ ngồi khóc, cô Hiên bực bội đứng dậy vừa khóc vừa phán cho cha tôi một câu: Anh nói vậy thì thôi, tôi xin đầu hàng.

    Trưa hôm ấy chú Hài ở lại dùng cơm với cha tôi, các cô, thím ra về mỗi người đều có một nỗi buồn chung với nhiều suy nghĩ khác nhau.

    Tôi đứng lặng bên chiếc võng may bằng bao bố, nơi ngày xưa bà thường nằm ầu ơ ru cho tôi giấc ngủ tuổi thơ, thoáng nghe mùi nồng ấm của thân thể, mùi trầu và thuốc xỉa của bà vương vấn đâu đây, bà ơi bà, sao bà phải khổ thân thế hở bà ơi…..

                                                                           ♣ ♣ ♣ ♣

                                                     

                                                    Chiếc du thuyền thủy táng đêm sáng trăng

               Tiết thanh minh năm ấy ở nghĩa địa làng tôi không có cảnh người ta sửa sang mộ phần của người thân, người nhà đến để làm công việc là hủy mộ và hốt cốt, suy cho cùng, mỗi gia đình đều có sự phát triển theo một qui luật cộng đồng, hình thành, phát triển và suy vong, tre tàn măng mọc, thế hệ sau nối tiếp sự hưng thịnh hoặc suy tàn của thế hệ trước, như đi theo vòng quỉ đạo của trái đất hết ba trăm sáu mươi lăm ngày sáu giờ, con cháu sẽ sum họp nếu biết đoàn kết, chia ly nếu bất hòa, chẳng lẽ lúc này gia đình bên nội của tôi suy tàn thật sự hay sao?

                  Sau một hồi kinh cầu siêu của sư cụ chùa Huệ Phước, nhát búa hủy mộ của bà được khởi công, hơn hai tiếng đồng hồ đào bới cật lực, dưới chiều sâu ba thước đất, trong sự hồi họp và lo sợ của con cháu, nắp quan tài hiện ra trước mặt mọi người.

                 Thi hài của bà tôi nằm đó cứng đơ như khúc củi, phần mềm của thịt da ngấm sâu vào trong đất, hòa cùng với hơi ẩm của mạch nước ngầm, tạo thành một chất sìn đen sền sệt, cái bím tóc của bà teo tóp nhìn giống như một con rắn con, được gói kĩ trong nhiều lớp nilon ủ toàn thân, đặc biệt nơi cổ tay trái bà vẫn còn đeo chiếc vòng cẩm thạch của mẹ tôi, chiếc vòng lên nước xanh bóng, có những vân đỏ nhỏ li ti như mạch máu sắp vở ra, điều lạ là rễ cây cũng bò len lỏi vô quan tài, gương mặt đẹp và hiền hậu của bà tôi không còn nữa, thay thế vào đó là chiếc hộp sọ vô hồn, bên phải bám đầy những chùm rễ bằng lăng màu đỏ xám, cha tôi và chú Hài phải làm vệ sinh hộp sọ cho bà, trước khi ông Bảy Cốt gom tất cả những xương ống lớn, nhỏ cho vào thao, rửa lại nhiều lần bằng rượu đế.

                  Tôi nhìn xuống huyệt mộ của bà, tối đen và sâu thẳm như đường xuống âm ti, đâu là thiên đàng, đâu là địa ngục, nơi chín suối của bà chỉ là một lớp vật chất đồng tâm, bà đi rồi biết có còn thương nhớ đất, người bạn láng giềng đã bảo bọc, chở che cho bà suốt hơn hai mươi năm qua.

    Cha tôi kí họp đồng thiêu cốt với đại diện Đài hỏa táng đã xong. Trưa nay chúng tôi sẽ chứng kiến sự hủy diệt con người bằng gas một cách hợp pháp.                                                      

                                                                           ♣ ♣ ♣ ♣

                  Lò thiêu hài cốt của lão Tư Quởn nằm sâu trong khu dân cư đông đúc có xe cộ qua lại tấp nập, đến đây chúng tôi mới biết đó là lò thiêu cốt tư nhân, không phải Đài hỏa táng như trong họp đồng, đang hoạt động chui không có giấy phép của chính quyền, vậy là chúng tôi đã bị lừa.

                Người ra tay sát thủ hủy cốt bà tôi trưa nay là vợ chồng lão Tư Quởn, người lão ốm nhom như que củi, tuổi ngoài sáu mươi, trên đầu đội chiếc nón tai bèo đỏ đang ngồi ở góc bàn uống chén rượu nếp thang,  bà vợ béo núc có bước đi lặt lè, người tròn lẳn như hột mít tố nam, tốt mái là hại trống, nhưng không sao, thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn, ông bà ta thường nói thế.

                Tầng trệt mụ vợ bán hủ tiếu, nước mía cho khách vãng lai, trên lầu là nơi thiêu cốt cũng là nơi gia đình lão nấu ăn, ngủ nghỉ, ghê gớm thật.

                 Lão Tư vội trút bao xương chưa đầy hai kí của bà tôi vào cái máng thiếc, tay cầm ống dẫn gas liên tục khè lửa vào thau xương, lão nhanh tay lấy đôi đũa vừa trộn vừa tẩm thêm vô cồn, dầu lửa làm cho đống xương bùng lên cháy dữ dội, cảnh tượng này làm cho tôi đau xót vô cùng,

    tôi đứng trên ban công lò hỏa cốt thầm khấn: Bà ơi, ráng chịu đau nha bà, bà có đau một, còn cũng đau mười, lúc còn sống bà có nghĩ đến cảnh tượng này đến với mình hay không, khi chết chưa chắc mình đã yên phận bà nhỉ?.

                 Bên tai tôi đang nghe có tiếng gì như là cối với chày lộp cộp gõ vào nhau, nhịp nhàng đều tay, tôi ngoái đầu nhìn lại phía sau, một cảnh tượng quá kinh hoàng, lão Tư và mụ vợ đang cầm đũa gắp những cục xương to của bà tôi cho vào cối giã, tán thành bột, vừa giã xương người lão vừa bắt chuyện:

               -  Cô biết không sống trên đời này mình phải biết thương người, như tôi đây cả đời làm việc thiện, việc phước nhiều lắm cô à.

    Tôi góp ý:

              -   Sao chú Tư không làm hệ thống điện để hủy cốt trong lò sẽ nhanh hơn, làm thủ công chậm, ô nhiễm môi trường nữa đó chú.

    Lão nhíu mày trợn mắt:

              -   Ối, Có phức tạp vất vả gì đâu cô, tôi làm việc này có thâm niên hẳn hoi, khỏe re như bò kéo xe.

    Nói đến đây lão chợt tằng hắng cắc cớ hỏi tôi :

             -   Cô ghê à?, cô thử nghĩ đi, gió lúc nào cũng thổi lên cao, chứ có bao giờ gió thổi xuống đất đâu mà cô sợ ô nhiễm môi trường chứ, lão nói chưa dứt câu, mụ vợ the thé xen vào:

            -   Coi vậy chứ phần âm phù hộ cho chúng tôi nhiều lắm, có muốn nghe không tôi kể cho cô nghe cả ngày cũng không hết chuyện.

    Tôi im lặng.

    Mùi đặc trưng của khói lò thiêu, mùi ám khí bay lên cao, hòa lẫn vào không khí trong lành của khu dân cư xóm nhà lão Tư Quởn, tiếng gió vi vu gọi hồn từ ngoài đồng vọng thổi vào như ma hú, làm tôi nổi cả gai ốc.

     Mặt trời đã ngã sang hướng tây.                                       

                ♣ ♣ ♣ ♣                                              

    Tiết thanh minh, trăng sáng vằng vặc

    Đêm nay là đêm thủy táng của bà, cha tôi bảo ban đêm là lúc giao hòa của khí âm với khí dương của vũ trụ, chọn ngày có trăng rằm sẽ sớm đưa bà tôi lên chốn thiên đàng. Bà tôi đang chuẩn bị một chuyến đi xa không hành lý.

                 Chiếc du thuyền có mã số H4- 2253 chở con cháu và những người thân của bà tôi đang lênh đênh trên biển cả, Mẹ tôi, cô Thanh và thím Hài cẩn thận mặc thêm áo phao cứu hộ, tất cả mọi người trên tàu đều đội khăn tang trắng, trừ người tài công , tay đang ôm chặt vô lăng đưa chiếc du thuyền lướt về phía trước.

    Đêm trên biển thật là thú vị, trăng rằm tháng ba làm cho biển đêm sáng trắng như ban ngày, những gợn sóng to nhỏ theo gió thì thầm vỗ những cái lưỡi nhọn hoắt vào mạn thuyền, như muốn an ủi người thân của bà tôi ở lại chớ buồn, tôi nghĩ loài cá coi vậy mà sướng, chẳng có tôn giáo và lời nguyền, chỉ biết tung tăng bơi lội ăn mồi, rong rêu nơi tận cùng của cõi chết. Thủy táng bà tôi rồi ai buồn, ai vui, ai ray rức, niềm khắc khoải đó chỉ có trong tâm linh của mỗi người mà thôi.

              Lúc bấy giờ đã quá nữa đêm. Thuyền ra khơi xa khoảng một tiếng đồng hồ, chúng tôi không nhìn thấy đâu là bến bờ, đột nhiên người tài công tắt máy tàu, cha tôi đứng dậy châm lửa đốt bó nhang trầm tỏa ra một mùi hương dễ chịu, chú Hài phát cho mỗi người vài cây nhang bung khói, đầu đỏ lập lòe như con đom đóm, cả tàu ai cũng im phăng phắc, chờ đợi giây phút trọng đại đã đến.

              Cha tôi ôm cái hủ sành có phủ tấm vải sa tanh đỏ huyền bí, trong có chứa tro của bà, giờ chỉ còn lại chưa đầy một chén, đi về phía cửa sổ của chiếc du thuyền, mọi người trên tàu đồng loạt đứng dậy chắp tay cầu nguyện, cha tôi mắt ngấn lệ, ông ôm hủ cốt vào người cúi đầu xuống khấn đủ cho bà tôi nghe, ông nói trong tiếng nấc:

             -  Mẹ ơi, mẹ sống khôn thác thiêng. Phải hiểu cõi trần là cõi tạm, giờ mẹ đã thành tro, bụi mây và khói nơi cõi vô thường, đừng tiếc chi nắm xương tàn, cốt rụi của mình nơi chốn dương trần….ông khấn đến đây thì chú Hài giở nắp hủ cốt, chậm rãi nắm từng nắm nhỏ tro cốt của bà nhẹ nhàng rải xuống biển…..

    chú Hài tiếp tục khấn chuyện với bà:

             -  Đời người chỉ có một lần sống và một lần chết, sinh thời mẹ đã nuôi dưỡng chúng con nên người, khi ra đi trở về với cát bụi, mẹ đã làm một nghĩa cử đẹp với đời là nhường chỗ mình nằm cho các thế hệ hậu sinh có đất cất nhà, có trường để học, cao quí lắm thay, thôi tất cả anh chị em con, và các cháu kính chúc mẹ lên đường bình an.

    Có tiếng sụt sùi khóc sướt mướt, tiếng than hời phía sau gọi mẹ ơi của cô Thanh, cha tôi cầm cái búa nhỏ, giơ lên xuống mấy lần để lấy đà, bất thình lình ông dừng lại, bậm môi, gõ búa thật mạnh vào hủ cốt nghe một cái choảng đến rợn người, chiếc hủ cốt vở tan tành, những mảnh sành, to nhỏ nổi bềnh bồng, lặn hụp rồi chìm hẳn xuống biển.

     Trên gương mặt mọi người ai cũng đỏ như say rượu, cô Thanh làm dấu thánh giá rồi khoanh tay đứng im tưởng niệm, mẹ tôi chắp tay niệm A di đà cho bà mau về với Phật, cha tôi mặt tái xanh như không còn hột máu, ông lảo đảo ôm ngực ho sù sụ, hòa theo tiếng reo của sóng đuổi và gió hờn.             

               Dưới ánh trăng, một con sóng to vươn tới, thè ra chiếc lưỡi dài trắng xóa liếm láp tới tấp vào mạn thuyền, kéo ra khơi xa tấm vải sa tanh màu đỏ, nhang, đèn, và trái cây dâng cúng cho thủy thần.

             Tiếng còi của chiếc du thuyền rú lên ba hồi còi vĩnh biệt rồi chạy thẳng về phía trước, bà tôi có nghe thấy gì không? Bà tôi đi rồi, bà đã về trời, mọi người ôm nhau khóc ngất, tôi úp mặt vào hai bàn tay, biện bạch trong tiếng vở òa: Bà ơi, con không chịu thủy táng vì lạnh lẽo lắm, con cũng không chịu hỏa cốt vì nóng như than nung, mai sau có chết con phải làm sao đây hở bà, con còn yêu đời, yêu người, con mang tội bất hiếu, con không đi, không về với bà nữa rồi bà ơi…tôi rũ người đập tay xuống sàn tàu, khẩn thiết gào to lên khản cả giọng, bà ơi…đừng bỏ con đi nữa bà ơi….                                                            

                                       

                                                        

                                                        Hoa bằng lăng nở tím trong khóm lá xanh  

                                                                                ♣ ♣ ♣ ♣         

                  Mùa hè năm sau anh Lộc tôi xuất viện, nhờ áp dụng phương pháp hội họa trị liệu, bệnh viện tâm thần đã giúp cho người điên phục hồi lại trí nhớ, quà anh đem về cho gia đình là một bức tranh biết nói, những cánh hoa bằng lăng nở tím trong khóm lá xanh, ẩn hiện phía sau là đôi mắt buồn của một người phụ nữ, không hiểu anh vẽ đôi mắt của mẹ tôi hay là đôi mắt của chị Thơm, người anh yêu đã đi lấy chồng.

                  Trong niềm vui mừng đoàn tụ, thím Hài bảo anh tôi hết điên là nhờ chú Hài gở những chùm rễ bằng lăng ra khỏi hộp sọ của bà, riêng tôi chỉ biết rằng cuộc sống của anh Lộc từ nay đã được phục sinh. Từ ngày bà được thủy táng cô Hiên còn giận cha tôi nên ít khi về thăm nhà, chỉ về một lần ngày anh Lộc ra viện.

                 Những lúc rảnh việc tôi đi cùng với anh Lộc ra thăm nơi ở cũ của bà. Nghĩa địa Gò Me giờ đây không còn nữa, thay thế vào đó là khu nhà tái định cư cho người thu nhập thấp vừa được xây dựng xong, có trường học thân thiện thoáng mát, sân bóng chuyền cho trẻ nhỏ vui chơi.

                Bà tôi ra đi thật rồi ư?, đó là điều không tưởng, nhưng tôi tin rằng bà thường xuyên về thăm con cháu qua những giấc chiêm bao.

                Nhiều năm sau đôi lúc nằm mơ, tôi thấy đi cùng với anh Lộc ôm hủ cốt còn ấm hơi trầu của bà đi ra biển thủy táng, hình ảnh đó cứ ám ảnh mãi trong lòng, làm cho tôi nhớ hoài, nhớ mãi như nhớ những kỉ niệm đẹp của mối tình đầu khó quên../.

                                                                                                         Tháng sáu trời mưa 2011

                                                                                                                       THU CÚC

              

    THỦY TÁNG