trang Blog

dongphuongTham gia: 20/05/2011
  • Bài Thuyết Minh Bà Rịa Vũng Tàu
    Du Lịch
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Bài Thuyết Minh Bà Rịa Vũng Tàu

    Thuyết Minh Theo tuyến TP.HCM -> Bà Rịa - Vũng Tàu

    Dzoãn Tiến Đạt


    Địa Phận TP.HCM:
    Trên mảnh đất mà ngày nay có Tp.HCM ,từ đầu TK XVII đã có những người nông dân Việt Nam đến và khai phá rừng mở mang đồng ruộng .Họ là những người nông dân lao động không chịu đựng nổi sự áp bức ,bóc lột của bọn phong kiến Trịnh- Nguyễn vì thế mà họ lần theo bờ biển Đông hoặc bằng những chiếc ghe bầu cưỡi đầu ngọn sông đi tìm đất sống tự do.
    Cái tên Đồng Nai –Bến Nghé phản ánh rất đúng hiện thực rất chân chất và thơ mộng cũng ra đời từ đấy .
    Mảnh đất Bến Nghé này trải qua gần 400 năm lịch sử đã mang rất nhiều tên khác nhau để rồi ngày nay được mang tên Hồ Chí Minh –người anh hùng đẹp nhất trong lịch sử Việt Nam.
    Năm 1976 sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng ,Quốc Hội chính thức lấy tên là TP.HCM
    Thành phố Hồ Chí Minh trong địa giới hôm nay rộng hơn 2093,7 km2 ; dân số 5.554.850 người (năm 2003) .Là Thành phố lớn và đông nhất của đất nước ,có năng lực về sản xuất kinh doanh và là một trong những thành phố đang phát triển khá sầm uất của khu vực Đông Nam Á .Gồm 23 quận ,huyện
    +Quận :1 ,2 ,3 ,4 ,5 ,6 ,7 ,8 ,9 ,10 ,11 ,12 ,Phú Nhuận ,Gò Vấp ,Bình Thạnh ,Tân Bình ,Tân Phú ,Bình Tân.
    +Huyện :Nhà Bè ,Hóc Môn ,Củ Chi ,Bình Chánh ,Cần Giờ.
    Toạ lạc trên vùng đất Đông Nam Bộ ,Sài Gòn ở vị trí có ưu thế lớn :
    _Phía tây là bình nguyên bát ngát –vựa lúa cả nước ,với những kênh rạch đủ sâu cho mọi thuyền .
    _ Phía đông là cảng biển lý tưởng cho sự giao lưu thế giới .Khí hậu nóng ẩm ,song lại ít thiên tai ,sản vật phong phú :lúa gạo ,trái cây bốn mùa ,sản phẩm vùng biển cùng với sức lao động dồi dào và con người dũng cảm ,cần cù ,nhân hậu… Sài Gòn đã sớm trở thành nơi giao lưu kinh tế và thương mại có sức cuốn hút lớn .
    Khi bị ngoại xâm ,không cam chịu mất nước ,nhân dân Sài Gòn –Gia Định đã nhất tề đứng lên .Lịch sử đã ghi nhận tinh thần yêu nước nồng nàn và ý thức trách nhiệm cao cả của nhân dân Nam Bộ nói chung và Sài Gòn –Gia Định nói riêng trước vận mệnh dân tộc
    Sau thời gian dài trường kì kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ,cuộc tổng tiến công nổi dậy Mùa Xuân 1975 đã đánh dấu bước ngoặt mới cho sự hòa bình và ấm no của dân tộc Việt Nam.
    Tên thành phố Sài Gòn được đổi thành tên thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1976
    Sau hơn 10 năm cùng với cả nước thực hiện đường lối đổi mới kinh tế trên địa bàn thành phố tăng trưởng khá cao và ổn định đóng góp 37,8% GDP cả nước.
    Hiện nay ,Tp.HCM là trung tâm du lịch lớn nhất cả nước ,thu hút hàng năm 70% lượng khách quốc tế đến Việt Nam.
    Ngã Tư Hàng Xanh
    Theo tài liệu của ông Vương Hồng Sển: Địa danh này có được là do xưa kia nơi đây trồng rất nhiều loại cây Sanh ,đây là loại cây có lá màu xanh mọc um tùm cùng họ với cây Si .Sau này người dân đọc trại ra là cây Xanh và ngã tư này gọi là ngã tư Hàng Xanh.
    Toàn bộ bùng binh Hàng Xanh được qui hoạch và xây dựng vào ngày 17.09.1994 và hoàn thành ngày 30.04.1995 nhằm chào mừng kỷ niệm 20 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng .Toàn bộ kinh phí giải toả đền bù là 63 tỉ đồng ,trong đó 15,6 tỉ đồng dành cho xây dựng .Với mức kinh phí quá lớn này Chính Phủ đã quyết định do công ty may mặc Huy Hoàng bỏ vốn ra xây dựng .Bù lại ,nhà nước phải chấp nhận cắt đất ở quận 11 cho công ty Huy Hoàng khi công trình hoàn tất .Nó đã giải quyết được tình trạng kẹt xe do lưu lượng xe qua lại nơi đây quá lớn thêm vào đó là gần cảng biển cho nên nếu giải quyết được tình trạng kẹt xe thì sẽ là một động lực giúp cho hàng hoá lưu thông tốt và kinh tế phát triển.
    Hiện nay ,đoạn đường từ Hàng Xanh đến ngã tư Thủ Đức có 12 làn xe với tổng chiều rộng là 120mCầu Văn Thánh
    Chạy dọc theo đường Điện Biên phủ chúng ta sẽ gặp kế tiếp là cầu
    Văn Thánh .Cầu này bắt qua con rạch Văn Thánh ,đổ ra rạch Thị Nghè và sau đó là đổ ra sông Sài Gòn .Đứng trên cầu Văn Thánh nhìn về phía bên tay phải ta sẽ thấy có một cù lao 7 mẫu .Nơi đây còn gọi là khu du lịch Văn Thánh được xây dựng vào năm 1988 trên cù lao 7 ha. Theo sáng kiến của các nhà hoạt động văn hoá quận Bình Thạnh ,cù lao 7 mẫu đã được đầu tư xây dựng thành khu du lịch Văn Thánh .Hành năm vào ngày 5-1 âm lịch nơi đây thường tổ chức lễ hội mừng chiến thắng của vua Quang Trung. và cuộc thi tuyển chọn diễn viên điện ảnh, người mẫu.
    Tương truyền xưa kia :vào thời vua Minh Mạng thứ 5 (1824) ,nơi đây có một ngôi miếu thờ đức Khổng Tử nên người ta gọi là Văn Thánh .Tuy nhiên ngôi miếu này hiện nay không còn nữa do trong quá trình xâm lược ,Pháp đã cho phá bỏ toàn bộ ngôi miếu này.
    Bến Xe Văn Thánh
    Là một trong những bến xe lớn có từ lâu đời ở khu vực này .Từ đây có thể đi Biên Hoà –Vũng Tàu và một số tỉnh miền Trung .Khoảng cuối năm 1996 bến xe được dời sang bến xe Miền Đông vì ở đây xây dựng hệ thống đường lớn và cao tốc ,nếu để bến xe ở khu vực này dễ gây ách tắt giao thông.
    Khu Tân Cảng
    Khu Tân Cảng nằm ngay dưới chân cầu Sài Gòn phía hạ lưu quận Bình Thạnh. Cảng này được Mỹ xây dựng vào năm 1965 ,được xem là hải cảng quân sự lớn của Mỹ –Ngụy nhằm cung cấp vũ khí và đạn dược cho chiến trường miền Nam Việt Nam .Sau giải phóng thì đây là khu vực do hải quân Việt Nam kiểm soát .Trong thời kinh tế thị trường (1990) khu Tân Cảng được chia thành 2 khu vực :khu vực kinh tế (cho tàu xuất nhập hàng hoá và kho để các Container) .Từ cầu Sài Gòn nhìn xuống chúng ta có thể thấy rất nhiều Container xếp chồng lên nhau trong một khu vực lớn .Hiện cảng là trung tâm sửa chữa và tiếp tế hàng hoá chính của nền quân sự Việt Nam.
    Cảng Sài Gòn trực thuộc Cục hải quan Việt Nam ,là cảng lớn nhất của Việt Nam hiện nay, đã trải qua trên 100 năm phát triển và là thành viên của Hiệp hội cảng quốc tế từ năm 1992 .Hiện nay cảng còn tiếp tục thu hút đầu tư để phát triển và mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế .Điều kiện tự nhiên của cảng Sài Gòn khá thuận lợi cho một cảng biển với tốc độ dốc luồng 85km từ Vũng Tàu với mức nước bình quân 11m ,thấp nhất là 9,7m và cao nhất là 12,1m .Cảng có thể tiếp nhận tàu có tổng trọng tải 30.000 DWT ,dài 230 m trong khoảng thời gian 6->15 giờ/ngày

     Khu Thanh Đa
    Cư xá Thanh Đa gồm 29 lô chiếm diện tích36ha được xây dựng 1973 làm khu nhà ở cho công nhân viên chức .
    Đặc sản của khu vực này là: bánh tráng phơi sương cuốn thịt luộc ,cháo vịt… ngoài ra ở đây còn nổi tiếng với khu du lịch Bình Quới: gọi là khu du lịch dước nước với nhiều hoạt động trên đoạn sông Sài Gòn .Đến đây chúng ta có thể tổ chức các hoạt động dã ngoại như: lướt ván trên sông ,câu cá giải trí ,du thuyền trên sông … hàng năm ở đây thường tổ chức trại hè cho thiếu nhi toàn thành phố.Cầu Sài Gòn
    Được xây dựng vào năm 1960 và hoàn thành vào năm 1964 ,cầu dài 987,2m ,rộng 16m ,dài 32 nhịp ,trọng tải 25 tấn .Đây là chiếc cầu quan trọng của cửa ngõ dẫn vào thành phố .Cầu do hãng C.E.C (Capital Engineering Cooperetion) thiết kế và hãng RMR (Mỹ) thi công xây dựng bắt qua sông Sài Gòn ,kinh phí do chính quyền Mỹ tài trợ ,sông Sài Gòn bắt nguồn từ Sông Bé (sông Mê Kông) chảy qua Củ Chi ,Thanh Đa ,Nhà Bè rồi đổ ra cửa biển Cần Giờ qua sông Soài Rạp.
    Năm 1998 ,ta liên minh với Pháp xây dựng ,sửa chữa và nâng cấp lại phần chịu lực thời mở rộng từ 16m thành 25m với tải trọng 45 tấn .Trong tương lai sẽ có thêm một cây cầu nữa bắc song hành với cây cầu cũ nhằm giảm bớt áp lực cho cầu Sài Gòn. Cầu Sài Gòn là ranh giới giữa đường Điện Biên Phủ và xa lộ Hà Nội .
    Sông Sài Gòn dài 220km ,bắt nguồn từ cao nguyên Hớn Quảng .Một đoạn của con sông này là ranh giới tự nhiên của tỉnh Tây Ninh và Bình Phước .Một phần đổ vào Hồ Dầu Tiếng ,sau khi chảy qua Bến Cát sông lại nhập chung với sông Đồng Nai và đổ ra cửa biển Gành Rái.
    Xa Lộ Biên Hoà
    Xa lộ Biên Hoà dài 31km ,rộng 21m được xây dựng từ năm 1956->1961 do Mỹ viện trợ .Xa lộ Biên Hòa nối liền từ cầu Điện Biên Phủ (trước đây là cầu Phan Thanh Giản ) đến ngã ba Tam Hiệp (Hố Nai) theo dự định ban đầu xa lộ có 4 làn xe nhưng do thất bại trong “chiến tranh đặc biệt” Hoa kỳ đã cắt giảm kinh phí nên năm 1964 xa lộ được khánh thành chỉ với hai làn xe .Mỹ và chính quyền Sài Gòn sử dụng con đường này như một đường bằng quân sự dã chiến phòng khi sân bay Tân Sơn Nhất gặp sự cố . Đến năm 1971 chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cho rằng xa lộ sẽ là một đường băng tuyệt vời cho quân giải phóng tấn công Sài Gòn nên đã cho xây dựng một con lương chạy dọc theo xa lộ .Tuy vậy, xét về mặt giao thông vận tải thì đây là một điều kiện tốt nhằm giúp cho giao thông trên xa lộ được an toàn hơn.
    Ngày 10-10-1984 nhân kỷ niệm 30 năm giải phóng Hà Nội ,xa lộ Biên Hòa đổi tên thành xa lộ Hà Nội .Năm 1998 ,cùng với dự án khôi phục lại QL 1A ,xa lộ Hà Nội cũng khôi phục và mở rộng ,bàn giao lại cho chính phủ Việt Nam vào ngày 20-1-1998. Đây là con đường quan trọng về kinh tế ,quân sự nối liền miền Bắc và Sài Gòn.Parkland
    Đây là khu nhà ở dành cho người nước ngoài thuê ,được xây dựng khoảng 1995 …
    Là biệt thự đẹp được xây dựng trong vườn rộng ,thoáng ,nằm cạnh xa lộ quan trọng Sài Gòn- Biên Hoà tạo thêm cảnh quan cho thành phố phía trên là khu nhà ở ,văn phòng cho người nước ngoài thuê và tầng trệt là một siêu thị Mini bán hàng phục vụ cho những người ở quanh khu vực.
    Ngã Ba Cát Lái
    Từ ngã ba Cát Lái đi khoảng 7,5km đến nhà máy lọc dầu đầu tiên tại Việt Nam đặt tại TP.HCM là nhà máy lọc dầu Sài Gòn Petro .
    Công suất thiết kế ban đầu của nhà máy 40.000 tấn dầu/năm .Năm 1993 Saigon Petro đã nắm thời cơ cải tiến bằng công nghiệp lọc Condensate( lọc bằng Condensate là công nghệ nhẹ tận dụng nước hoá chất thuộc dạng giữa dầu và khí) và dầu thô ít Paraffin. Tổng số đầu tư là 8 triệu USD ,dựa vào hoạt động tháng 5-1995 .Đáp ứng được một phần nhiên liệu cho các tỉnh phía Nam .Tổng sản lượng từ khi cải tiến tăng lên 350.000 tấn/năm .Bên cạnh đó nhà máy triển khai xây dựng 2 cầu cảng có thể tiếp nhận tàu dàu có tải trọng 25.000 tấn ,28 bồn chứa dầu khoảng 204.000 m3.
    Nhà Máy Ciment Sao Mai
    Đây là một nhà máy liên doanh giữa nhà máy Ciment Hà Tiên và tập đoàn Holder Bank của Thụy Sĩ với vốn đầu tư 346 triệu USD (35% vốn Việt Nam) .Thời gian sử dụng 50 năm.
    Công suất thiết kế của nhà máy 1,8 triệu tấn/năm. Được xây dựng tháng 10-1994 và hoàn thành vào đầu năm 1997 .Tháng 1-1997 ,nhà máy Ciment Sao Mai đã cho ra những mẻ ciment đầu tiên.
    Giống như nhà máy ciment Hà Tiên ,nhà máy ciment Sao Mai cũng có nhà máy ciment ở Hòn Chông ,Hà Tiên để cung cấp nguyên liệu Linke cho sản xuất.Cầu Rạch Chiếc
    Đoạn đường từ cầu Sài gòn đến cầu Rạch Chiếc là địa bàn thuộc quận 2 ,cầu Rạch Chiếc đến cầu Đồng Nai thuộc quận 9 và quận Thủ Đức .Cầu Rạch Chiếc được xây dựng từ năm 1960 .Đây là cửa ngõ quan trọng về quân sự của chính quyền Sài Gòn ,cầu dài 184m ,rộng 8,5m .Vào 27-04-1975 tại chân cầu đã xảy ra 5 cuộc giao tranh ác liệt giữa quân giải phóng và quân Việt Nam Cộng Hòa ,sở dĩ cầu có tên Rạch Chiếc là do khi làm cầu này ở sông có loại rau chiếc nên được gọi là cầu Rạch Chiếc.
    Quận Thủ Đức –Lâm Viên Thủ Đức
    Trước kia Thủ Đức là một huyện ngoại thành có diện tích 20.000ha .Vào ngày 4-4-1997 để mở rộng trung tâm nội thành ra ,UBND thành phố quyết định thành lập 5 quận mới .Trong đó Thủ Đức được tách ra thành 3 quận ngoại thành :quận 2 ,quận 9 và quận Thủ Đức .Xét về tiềm năng kinh tế tại khu vực Thủ Đức này phát triển cơ sở đầu tư của nước ngoài ;món ăn đặc sản ở đây là nem Thủ Đức.
    Lâm viên Thủ Đức :vào ngày 22-4-1992 được phép của Uy Ban Hợp Tác Đầu Tư Nhà Nước bởi 4 công ty :Lâm Viên Thủ Đức ,Du Lịch Thành Phố ,Liksin và công ty Đài Loan liên doanh xây dựng tại đây sân Golf 36 lỗ đạt tiêu chuẩn quốc tế và một khách sạn 120 phòng đạt tiêu chuẩn 3 sao và những công trình phụ như :sân quần vợt ,hồ bơi ,sân chơi trẻ em… với tổng kinh phí 7 triệu USD hoàn thành năm 1996 .Khi bắt đầu xây dựng thì có nhiều nguồn dư luận nhưng sau đó có kết luận của Thủ Tướng Chính Phủ sân Golf mới đi vào xây dựng yên ổn. Hiện nay sân tập đánh Golf đã hình thành và thẻ hội viên thường trực của Golf là 5.000 USD/người.Nhà Máy Xi Măng Hà Tiên
    Nhà máy xi măng Hà Tiên được người Pháp xây dựng từ năm 1959 đến 1964 nhằm cung cấp xi măng cho các tỉnh thành phố .Vị trí nhà máy rất thuận lợi cho việc chuyển nguyên liệu từ nhà máy xi măng Kiên Lương ở Hà Tiên về đây bằng đường bộ lẫn đường thủy. Do nguồn nguyên liệu chủ yếu được khai thác từ Hà Tiên nên gọi là xi măng Hà Tiên .Đến cuối năm 1994 nhà máy Hà Tiên đổi thành công ty xi măng Hà Tiên 1 .Sản lượng hiện nay hơn 2 triệu tấn/năm.

    Nhà Máy Nhiệt Điện Thủ Đức (hai ống khói đỏ trắng phía bên trái)
    Nhà máy nhiệt điện Thủ Đức được xây dựng năm 1964 ,công suất 165 MW .Sau đó nâng lên 242 MW (do nhận thêm 2 turbin khí từ Hải Phòng công suất 77 MW)
    Công Ty Truyền Tải Điện 4 Trạm Thủ Đức
    Để có thể nhận điện từ thủy điện Đa Nhim (1961-1964) và phân phối điện cho thành phố ,nên ở đây xây dựng thêm một trạm biến điện (các năm 1964) do các công ty của Nhật xây dựng bằng bêtông cốt thép và mang dáng dấp nhà máy hiện đại .
    Năm 1964 : gọi là nhà truyền tải và phân phối điện ,đến năm 1976 đổi tên thành sở truyền tải điện Thủ Đức .Hiện nay gọi là công ty truyền tải điện 4 Trạm Thủ Đức.
    Hiện nay ở đây tập trung 2 nguồn điện : nhiệt điện Thủ Đức và Thủy điện Đanhim (còn thủy điện Trị An hạ thế ở trạm Hóc Môn) hạ thế cung cấp điện cho thành phố và khu vực xung quanh.
    Ngã Tư Bình Thái
    Rẽ phải đi vào có một số nhà máy lớn :Vietronics ,thép Posvina ,dệt Phước Long.
    Rẽ trái vào chùa một cột ,trường Đoàn Lý Tự Trọng và chợ Thủ Đức
    Làng Đại Học
    Được xây dựng từ năm 1961 hơn 200 ngôi biệt thự dành cho 200 giáo sư ở và làm việc .Đây là một dự án lớn cây làng đại học ở cây số 12 ,cạnh xa lộ Biên Hòa cũ do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đưa ra phương án qui hoạch tổng thể khu làng Đại Học này .
    Công trình xây dựng khu biệt thự này với sự tham gia thiết kế của hầu hết các kiến trúc sư tiếng tăm thời bấy giờ :Huỳnh Kim Mảng ,Nguyễn Gia Đức ,Tô Công Văn ,Lê Công Lắm ,Trần Văn Tải ,Nguyễn Quang Nhạc ,Phạm Văn Thông .Biệt thự được thiết kế đa dạng đầy đủ tiện nghi nằm trên các lô đất thoáng mát .
    Ngã Tư Thủ Đức
    Đi phía phải :vào chợ nhỏ ,bệnh viện ,quân đội 7A ,trường công an Phước Sơn Học Viện chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh –phân viện TP.HCM ,Đại học giao thông
    Đi phía trái :Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thủ Đức và vào 2km đến chợ Thủ Đức ,nếu đi thẳng sẽ qua Water Park và về đường cầu Bình Triệu .
    Tìm Hiểu Về Thủ Đức
    Vừa qua viện khoa học xã hội thành phố ,cùng với nhà truyền thống Huyện tìm hiểu thực tế :tại tổ 3 ấp 10 thị trấn Thủ Đức còn ngôi mộ cổ kiến trúc theo hình voi phục có tấm bia đá Granit khắc chữ Hán nội dung như sau: Mộ ông Tạ Huy ,hiệu Thủ Đức tiền hiền thôn Linh Chiểu Đông nước Đại Nam .Ông chết ngày 19-6 .Hương chức lập mộ bia vào tháng 2-1890.
    Như vậy đã rõ tên hiệu của ông Tạ Huy .Tìm hiểu thêm ông Tạ Huy hay Tạ Dương Minh là thủ lãnh của người Hoa bài Thanh phục Minh sang cư ngụ tại vùng Linh Chiểu ,có công trong việc khai khẩn đất hoang ,lập ấp nên người ta gọi địa danh này là Thủ Đức.

    Nhà Máy Nước Thủ Đức
    Được xây dựng năm 1959 ,với công suất 4500m3 nước/ngày .Hiện nay :công suất: 650.000m3 nước/ngày.
    Đây là nhà máy nước quan trọng cung cấp nước cho toàn thành phố .Nước ở đây được bơm từ trạm bơm Hoá An ,lấy nước sông Đồng Nai về đây .
    Nhu cầu tiêu dùng nước ở thành phố Hồ Chí Minh hiện tại là : 1.000.000m3 nước/ngày .(Nhà máy nước Thủ Đức cung cấp m3 nước/ngày +nhà máy nước Hóc Môn 200.000m3 nước/ngày ,thiếu khoảng 150.000m3 nước/ngày.)
    Ngân hàng Á Châu cho vay khoảng 62,3 tỉ USD để nâng công suất nhà máy nước Thủ Đức đủ cho nhu cầu tiêu dùng ,thay hệ thống ống chính lên 2,4m (ống cũ 1,8m)
    Bên trái chúng ta có 2 ống cao nhô lên là:
    Cột thủy áp lực (giống cầu Điện Biên Phủ) nhằm điều hòa các lực trong các đường ống nước .Ví dụ,vào ban đêm tất cả các van nước của các gia đình đều đóng lại thì áp lực nước trong ống rất lớn ,nên 2 trụ này có nhiệm vụ giảm áp suất tránh các đường ống bị phá vỡ.
    Công Ty Nước Giải Khát Coca-cola
    Nhà máy nước ngọt Coca-cola :trước đây là công ty liên doanh giữa công ty nước giải khát Chương Dương và công ty Indochina chi nhánh PCB ( Paciffic Beverga Company) đặt tại Singapore. Chính thức ký hợp đồng vào tháng 7-1993 với tổng vốn đầu tư là 24 triệu USD. Nhà máy PCB nằm trên một lô đất khoảng 2ha tại Thủ Đức. Nhà máy có 3 dây chuyền sản xuất 3.5000 két/ngày và công suất tối đa là 40 triệu lít/năm .Hiện nay là doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài.
    Trước đây thị trường nước ngọt giải khát ở TP.HCM là Tribêcô –tiếp Pepsi –hiện nay Coca-cola chiếm lĩnh thị trường nước ngọt ở TP.HCM và cả nước.
    Hiện nay Coca-cola là một trong những đơn vị tài trợ cho nhiều hoạt động thể thao thành phố và cả nước.
    Xa Lộ Đại Hàn
    Đến ngã ba trạm 2 hía trái là xa lộ Đại Hàn.
    Sau tổng tấn công vào tết nổi dậy năm Mậu Thân 1968 ,Mỹ hoảng sợ và cho xây dựng hệ thống đường vành đai để bảo vệ sân bay Tân Sơn Nhất và Sài Gòn ,để ngănm cách giữa Sài Gòn và quân cách mạng ở Hóc Môn –Củ Chi.
    Xa lộ Đại Hàn được xây dựng 1960-1970 ,do công ty Mỹ thiết kế và do công binh Đại Hàn xây dựng (nên có tên gọi là xa lộ Đại Hàn)
    Xa lộ Đại Hàn dài 40km, rộng 16m bắt đầu từ ngã 3 trạm 2 đến ngã 3 An Lạc. Hiện nay đoạn đường này là quốc lộ 1A (trên đoạn này từ Trạm 2 đến ngã 2 Bình Phước gọi là đường Trường Sơn).
    Xa lộ Đại Hàn là một hệ thống đường giao thông hết sức quan trọng là cầu nối 2 khu vực kinh tế :vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long và vùng Đồng Bằng Nam Bộ. Đa số những xe đi từ các tỉnh miền Tây lên miền Đông không phải vào TP.HCM mà đi qua xa lộ Đại Hàn.
    Đường Xuyên Á
    Khoảng năm 1996 chính phủ đã có quyết định xây dựng đường Xuyên Á từ (Bangkok) Thái Lan qua Campuchia (Nông Pênh) qua cửa khẩu Mộc Bài (Bến Cầu –Tây Ninh) qua thị trấn Gò Dầu đến quốc lộ 22A đến Ngã 4 An Sương quẹo trái qua xa lộ Đại Hàn đến ngã 3 trạm 2 và đi Vũng Tàu.
    Đoạn đường từ Bangkok –Nông Pênh –TP.HCM –Vũng Tàu là côn trình đầu tiên Liên Á được “hội nghị kỹ thuật vùng” của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đầu năm 1996 ưu tiên chọn lựa. Theo tính toán các chuyên gia, cảng Bến Đình –Sao Mai –Thị Vải nối thông mạng ôtô Xuyên Á ,sẽ làm cho các sức sản xuất khu vực tăng gấp 2 đến 2,5 lần (Có các tỉnh như: Tây Ninh ,Bình Dương ,TP.HCM ,Đồng Nai ,Vũng Tàu).
    Đường Xuyên Á trên địa phận Việt Nam từ cửa khẩu Mộc Bài đến Vũng Tàu dài 173km.
    Kinh phí toàn tuyến Bangkok –Nông Pênh –Vũng Tàu là 306 tr USD .Trên địa phận Việt Nam là 120 tr USD.
    Từ trạm 2 vào phía trái khoảng 2km (rẽ phải) vào trường Đại Học Đại Cương –Đại Học Dược, TDTT, … Nếu đi tới khoảng 500m (phía trái) là khu điện tử Nam Triều Tiên VINASAMSUNG ,tiếp tục đi tới phía trái là khu chế xuất Linh Trung.Suối Tiên Thủ Đức
    Lâm trại Suối Tiên cách trung tâm TP. Hồ Chí Minh 19km thuc xã Tân Phú huyện Thủ Đức cách xa lộ Hà Nội 100m ,nơi đây có một dòng suối thiên nhi6n lâu đời uốn lượn qua những cụm rừng nguyên sinh và đổ dòng qua 6 ngọn đồi ,tạo thành 6 ngọn thác nhỏ. Suối chảy qua các tỉnh Đồng Nai ,Sông Bé và hạ nguồn chảy qua Lâm Trại dài 1.200m ,như một dải lụa trắng .Mùa xuân hoa mai vàng nở rộ dọc theo triền suối .Trước vẻ đẹp thơ mộng và quyến rũ ấy người dân ở đây không ngầnngại đặt tên là Suối Tiên. Tháng 6-1993 đồ án quy hoạch được văn phòng kiến trúc sư trưởng phê duyệt và UBND thành phố cho phép thực hiện theo quy hoạch Lâm Trại Suối Tiên trên diện tích 120ha với vốn đầu tư bước đầu là 50 tỉ đồng cho các công trình vui chơi tham quan trên diện tích 20ha.
    Đến với Suối Tiên quý khách sẽ tận hưởng những giây phút thoải mái không khí trong lành cùng với thiên nhiên và đặ biệt được chiêm ngưỡng hình ảnh một con rồng được xây dựng theo truyền thuyết “con rồng cháu tiên” lớn nhất Việt Nam ,dài 400m được đúc bằng bêtông .Trong tương lai một phần của sở thú sẽ được chuyển ra đây.
    Dự An Thảo Cầm Viên Mới
    UBND TP chấp nhận cho địa điểm xây dựng Thảo Cầm Viên mới tại khu vực đồi Lâm Viên gần sân golf quận 9 .Thảo Cầm Viên mới có diện tích 200ha với các khu vui chơi ,giải trí ,mô hình tiến hoá các loại động vật và thực vật .Dự kiến kinh phí xây dựng khoảng 50tr USD
    Khu Lâm Viên Thủ Đức được quyết định thành lập ngày 6-8-1984 cách xa lộ Hà Nội 2km phía phải với diện tích là 1200ha (trong đó phủ 350ha cây điều và 200ha cây xanh) .
    Nghĩa Trang Liệt Sĩ TP
    Nằm trên ngọn đồi không tên :nơi yên nghỉ của các chiến sĩ hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp ,Mỹ và Campuchia .Diện tích 3ha –được xây dựng 1984 -4.1987 ,ở giữa là tượng đài Bà Mẹ Việt Nam với hơn 12.000 ngôi mộ anh hùng liệt sĩ ôm lấy tượng đài Bà Mẹ Việt Nam anh hùng.
    Tượng đài Bà Mẹ Việt Nam anh hùng được nhà điêu khắc Nguyễn Hải tạc nên.

    Núi Châu Thới
    Còn gọi là núi Châu Thái ,cao 73m ,trên núi có chùa Hội Sơn .Trụ trì Khánh hưng Thiền Sư .Vào thế kỷ 18 ở đây từng là nơi đóng quân của Nguyễn Anh .
    Trước đây ở núi Châu Thới là nơi khai thác đá để cung cấp cho ngành xây dựng và cầu đường.
    Phía trái :khu du lịch Bình An
    Nằm cách xa lộ Hà nội 500m phía trái là khu du lịch hồ Bình An ,khu nghỉ ngơi vào cuối tuần cho dân thành phố ,với khung cảnh thoáng mát hữu tình có hồ nước, nhiều khu vui chơi .
    Đường vào Tân Vạn ,(ngã 3 Tân Vạn) :vào núi Châu Thới du lịch suối Lồ Ô.
    Cầu Đồng Nai
    Cầu Đồng Nai được xây dựng vào năm 1959-1961 do hãng C.E.C thiết kế và hãng Joushin Deake thi công ,cầu dài 454m ,rộng 16m ,trọng tải 25 tấn ,gồm 27 nhịp được bắt qua con sông Đồng Nai ,con sông quan trọng của tỉnh Đa Nhim-Đa dung có nguồn gốc từ cao nguyên Lâm Viên (Lang Bian) ở độ cao 1776m đổ về ,chảy qua địa phận tỉng Đồng Nai sau đó kết hợp với sông Sài Gòn đổ ra vịnh Gành Rái.
    Sông Đồng Nai :hệ thống sông Đồng Nai –Vàm Cỏ là hệ thống sông kép vì hai con sông này chỉ gặp nhau ở ngoài cửa Soài Rạp và được kết nối với nhau bằng những con kênh nhân tạo .Đây là hệ thống sông lớn thư` ba trong nước sau hệ thống sông Hồng và sông Cửu Long .Chiều dài sông chính là 635km ,diện tích toàn khu vực là 44100km2 phát triển chủ yếu ở Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ ,một phần ở Tây Nam Bộ và Campuchia. Hệ thống sông Đồng Nai và Vàm Cỏ có tổng lượng nước vào khoảng 32,8 tỉ m3/ năm .Thủy chế tương đối đơn giản vì chỉ có một mùa mưa và một mùa cạn .Sông Đồng Nai có giá trị cả về giao thông ,sinh hoạt ,nông nghiệp và thủy điện.
    Từ trên cầu ,ở ngã ba sông về phía thượng lưu là Cù Lao Phố .Ngược dòng lịch sử ,năm 1679 ,khi triều Minh Mạng ở Trung Hoa bị nhà Thanh lật đổ có khoảng 3000 binh sĩ và gia đình trong nhóm bài Thanh phục Minh đã đến nước ta và xin Chúa Nguyễn cho làm dân Việt .Trong đó có một nhóm do Trần Thượng Xuyên làm thủ lĩnh đến cư trú tại đây và lập nên một cảng có hoạt động thương mại sầm uất gọi là Nông Nại Đại Phố .Năm 1698 ,thừa lệnh của Chúa Nguyễn ,Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lý ,ông thấy vùng đất này trù phú và yên bình nên đã dừng chân tại đây .Ông đã chia đặt các đơn vị hành chính và thành lập chính quyền Nam Bộ ,hai huyện đầu tiên là Phước Long và Tân Bình .Sông Đồng Nai là ranh giới tự nhiên giữa thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai.
    Tỉnh Đồng Nai
    Đồng Nai là tỉnh thuộc Miền Đông Nam Bộ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ,có diện tích 5,862,73km2 ,chi61m 17,6% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ .Dân số toàn tỉnh theo số liệu thống kê năm 2003 là 2.149.030 người ,mật độ dân số :365 người /km2 .Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của toàn tỉnh năm 2004 là 1,22% .Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm :thành phố Biên Hoà –là trung tâm chính trị kinh tế văn hoá của tỉnh :thị xã Long Khánh và 9 huyện :Long Thành ;Nhơn Trach; Trảng Bom ;Thống Nhất ;Cẩm Mỹ ;Vĩnh Cửu ,Xuân Lộc ;Định Quán ;Tân Phú.
    Là một tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam Đồng Nai tiếp giáp với các vùng sau:
    + Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận.
    + Phía Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng.
    + Phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước
    + Phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu
    + Phía Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh
    Là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều đường huyết mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20 ,quốc lộ 51 ;tuyến đường sắt Bắc –Nam ;gần cảng Sài Gòn ,sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên.
    Lịch Sử Hình Thành
    Cuối thế kỷ XVI ,vùng đất Đồng Nai vẫn còn hoang dã chưa được khai phá ,người dân bản địa gồm các dân tộc ,Stiêng ,Mạ ,Kơ ho, Mnông ,Chơ ro và một vài sóc người Khơme sing sống. Dân ít ,sống thưa thớt ,kỹ thuật sản xuất thô sơ ,trình độ xã hội còn thấp .Cuộc chiến trang của họ Trịnh và họ Nguyễn ở miền Trang và Bắc Việt Nam làm cho dan chúng khổ sở ,điêu đứng và tạo ra một làn sóng di cư của người dân miền Thuận Quảng vào Đồng Nai tìm đất sống .Bản tính cần cù ,chịu khó ,lưu dân người việt đã cùng với người bản địa chung sức khai phá đất đai để sản xuất nông nghiệp. Dần dà ,rừng rậm hoang vu đã trở thành những cánh đồng lúa và hoa màu tươi tốt.
    Năm 1679 ,nhà Minh ở Trung Quốc sụp đổ ,Tổng binh Trần Thượng Xuyên trấn thủ các châu Cao ,Lôi ,Liêm không khuất phục nhà Thanh đã đem 50 chiền thuyền ,3.000 binh lính than tín và gia quyến đến xin thuần phục Chúa Nguyễn ở Thuận Hoá. Chúa Nguyễn Phúc Chu đã thu nhận họ và cho vào khai khẩn ,mở mang vùng đất Đông Phố (Cù lao phố ngày nay).
    Năm Mậu Dần 1698 ,chúa Nguyễn sai Thống Suất Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảng vào kinh lược vùng đất Đồng Nai (là cả Nam Bộ bây giờ), đặt vùng đất mới thành phủ Gia Định ,chia làm 2 huyện :huyện Phước Long (Đồng Nai) dựng dinh Trấn Biên ,huyện Tân Bình (Sài Gòn) dựng dinh Phiên Trấn. Ngoài ra ,Nguyễn Hữu Cảnh còn cho lập bộ đinh ,bộ điền ,chiêu mộ những người có vật lực từ các vùng khác vào lập nghiệp và phát triển kinh tế .Người Hoa theo Trần Thượng Xuyên đầu tiên định cư ở Bến Gỗ ,nhưng thấy Cù lao phố có vị trí thuận lợi cho việc kinh doanh buôn bán ,họ đã quyết định di chuyển đến đây sinh sống .Từ đây ,Cù lao phố phát triển ngày càng phồn thịnh và nhanh chóng trở thành trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế của cả vùng Gia Định (Nam Bộ ngày nay).
    Theo ông Vương Hồng Sển ,thời chúa Nguyễn một số người Trung Quốc không theo nhà Thanh mà di dân sang Việt Nam ,xuống đây khai khẩn đất hoang để sinh sống .Họ lập ra Nông Nại Đại Phố ,về sau đọc trại thành Đồng Nai.
    Đồng Nai là vùng đất con người cư trú rất sớm, nhưng di chỉ khảo cỏ ở Hang Gòn, Cầu Sắc có các công cụ bằng đá của người tiền sử, ở dốc chuà có những khuôn đúc đồng cách dây 3000 năm. Vùng Bà Riạ của tỉnh Đồng Nai cũng là nơi người Việt vào khai phá đất hoang sớm nhất trong cả Nam Bộ.
    Năm 1679, một nhóm người Hoa đã đến cư trú cùng người Việt tại vùng Biên Hoà và lập nên khu vực chợ búa quan trọng nhất Nam Bộ trong thế klhỉ 18-Cù Lao phố. Sử sách ghi lại, nơi đây là một khu chơ sầm uất với phố xá mái ngói tường vôi, lầu cao, qoán rộng dọc theo suốt bờ sông. Thuyền buôn của các nước đến đây buôn bán tấp nập. Dến khoảng1776-1777 trong cuộc chiến giữa Tây Sơn và họ Nguyễn, Cù Lao phố bị tàn phá suy sụp hẳn. Thương gia ở đây về vùng Sài Gòn lập nên Chợ Lớn ngày nay. Cù Lao Phố nay thuộc điạ phận của xã Hiệp Hòa trong thành phố Biên Hòa.
    Tỉnh lỵ là thành phố Biên Hòa, Người Kinh chiếm vị thế ưu thế, bên cạnh đó còn các dân tộc khác như Mạ, Khơ-Mú,Tày, Nùng, Thái… Ưu thế là cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn qủa, mía, đậu phộng,đậu tương, thuốc lá, Dặc sản nơi đây là bưởi: bưởi Tân Triều, bưởi Đường Núm, bươi thanh, bưởi Xiêm…nhưng thường gọi chung là bưởi Biên Hòa. Diện tích cây cao su đứng thứ hai cả nước sau Bình Phước. Tiểu thủ công ngiệp cnổi tiếng với nghề làm gốm, tạc tượng. Sau hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, nhân dân Đồng Nai đã cố gắng tập trung khôi phục laị nhưng gì chiến tranh đã lấy đi, đồng thời xây dựng và phát triển nhưng cái mới mẻ sánh vai kịp cùng với thành phố Hồ Chí Minh.
    Khu Căn Cứ Long Bình
    Khu căn cứ Long Bình nằm phía phải( góc đông bắc ngã 3 xa lộ), được xây dựng 1964 với diện tích ban đầu là 6km2 ,dùng làm kho chứa đạn và dụng cụ chiến tranh đầu tiên gọi là kho Long Bình .
    Tháng 4-1965 sau khi kiểm tra tình hình miền Nam Việt Nam ,phái đoàn quân sự do Mac Namara và Taylor cầm đầu đã quyết định xây dựng lại kho Long Bình năm 1986 ,ở rộng gấp 4 lần so với trước là 24km2 và gọi là tổng kho Long Bình .Tổng kho Long Bình lấy hàng từ cảng Sài Gòn ,cảng Vũng Tàu ,sân bay Biên Hoà và trở thành trung tâm cung cấp vũ khí cho quân đội Mỹ và chư hầu .Tổng kho Long Bình có 6 hầm ngầm đủ chứa 150.000 tấn bom ,đạn. Có 7 lớp rào bao bọc 72 tháp canh.

    Quá Trình Hình Thành và Phát triễn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
    Năm 1867, sau khi chiếm luôn 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ, người Pháp chia 6 tỉnh thành 24 hạt Thanh tra. Đến năm 1869 đổi hạt Thanh tra thành khu Tham biện. Theo thống kê năm 1876, khu Tham biện Bà Rịa có 7 tổng và 64 làng như năm 1862. Đến thập niên 1900, các khu Tham biện đều đổi gọi là tỉnh. Do đó khu Tham biện Bà Rịa gọi là tỉnh Bà Rịa
    Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu cử Thống suất Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý vùng Đồng Nai - Gia Định, lập ra phủ Gia Định gồm hai huyện Phước Long và Tân Bình...
    Huyện Phước Long được chia làm 4 tổng trong đó có Phước An là phần đất ngày nay của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và hai huyện Xuân Lộc và Long Khánh của tỉnh Đồng Nai.
    Năm Gia Long thứ 7 (1808) một cuộc sắp xếp lớn các đơn vị hành chánh được thực hiện tại miền Nam, theo đó dinh Trấn Biên được đổi thành trấn Biên Hòa, huyện Phước Long nâng lên thành phủ Phước Long, các tổng được nâng lên thành huyện, trong đó tổng Phước An được nâng lên thành huyện Phước An gồm hai tổng là Phước Hưng và An Phú.
    Năm Minh Mạng thứ 2 (1821) do dân số và diện tích khai phá tăng lên, nên số tổng của huyện Phước An được tăng lên 4 tổng. Tên các tổng mới do tên 2 tổng cũ, thêm vào sau 2 chữ Thượng và Hạ. Đó là các tổng Phước Hưng Thượng, Phước Hưng Hạ, An Phú Thượng, An Phú Hạ.
    Năm Minh Mạng thứ 18 (1837) tách hai huyện Long Thành và Phước An của phủ Phục Long đặt thuộc phủ Phước Tuy mới lập trực thuộc tỉnh Biên Hòa, đồng thời tách phần đất phía bắc hai huyện này lập thành huyện mới Long Khánh với 6 tổng là Long Xương, Long Cơ, An Trạch, An Viễn, Tập Phước và Khánh Nhơn. Năm Tự Đức thứ 4 (1851) bỏ huyện nha huyện Long Khánh, giao về cho phủ Phước Tuy kiêm lý. Đến năm Tự Đức thứ 8 (1855) nghĩa là trước khi người Pháp xâm chiếm 4 năm, địa bàn phủ Phước Tuy gồm có: huyện Phước An có 4 tổng; huyện Long Thành có 4 tổng; huyện Long Khánh có 6 tổng (1).
    Hòa ước Nhâm Tuất 1862 nhường tỉnh Biên Hòa cho người Pháp làm thuộc địa. Về mặt hành chánh, người Pháp dùng chính sách trực trị, bỏ hết cấp phủ, huyện và tỉnh cũ, chia ba tỉnh miền Đông Nam kỳ thành 13 hạt thanh tra, trong đó chúng tách phần đất của huyện Phước An lập thành hạt Thanh tra Bà Rịa, ly sở đặt tại thị trấn Bà Rịa thuộc làng Phước Lễ. Đối với cấp tổng và xã thôn vẫn được giữ nguyên. Bấy giờ hạt Thanh tra Bà Rịa gồm có 7 tổng 64 thôn
    Năm 1867, sau khi chiếm luôn 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ, người Pháp chia 6 tỉnh thành 24 hạt Thanh tra. Đến năm 1869 đổi hạt Thanh tra thành khu Tham biện. Theo thống kê năm 1876, khu Tham biện Bà Rịa có 7 tổng và 64 làng như năm 1862. Đến thập niên 1900, các khu Tham biện đều đổi gọi là tỉnh. Do đó khu Tham biện Bà Rịa gọi là tỉnh Bà Rịa, tách một số làng của tổng An Phú Hạ để thành lập tổng mới An Phú Tân. Ngày 7-11-1905 Toàn quyền Đông Dương ra nghị định sáp nhập phần đất gọi là Khánh Sơn và 3 làng của người thiểu số là Hưng Nhơn, Nhu Lâm và Thừa Tích nguyên của tỉnh Bình Thuận vào tỉnh Bà Rịa. Sau khi nhập các làng trên đây, ba tổng cũ của người thiểu số được điều chỉnh lại còn hai tổng là Cơ Trạch (An Trạch và Tân Cơ) và Nhơn Xương.

    Sau một thời gian thi hành chính sách trực trị không thành công, người Pháp cho thành lập lại cấp hành chánh trung gian giữa tỉnh và tổng, làng gọi chung là "quận". Trên địa bàn tỉnh Bà Rịa, ngày 7-5-1919 Thống đốc Nam kỳ ra nghị định thành lập quận Xuyên Mộc, nhưng đến ngày 16-12-1921 lại xóa bỏ. Đến ngày 11-12-1927 cho lập lại, nhưng đến ngày 22-1-1934 lại xóa bỏ, đổi thành Đại lý hành chính. Ngày 5-7-1838 Thống đốc Nam kỳ cho thành lập quận Phước Lễ, nhưng lại xóa bỏ cùng ngày với quận Xuyên Mộc, để thành lập một quận chung cho toàn địa hạt lấy tên là quận Long Điền, đồng thời tách một số làng của tổng Phước Hưng Hạ để thành lập tổng mới Phước Hưng Trung. Năm 1939, tỉnh Bà Rịa có các quận, tổng như sau: Quận Long Điền có 8 tổng như sau: Tổng An Phú Hạ; Tổng An Phú Tân; Tổng An Phú Thượng; Tổng Phước Hưng Hạ; Tổng Phước Hưng Trung; Tổng Phước Hưng Thượng; Tổng Cơ Trạch, Tổng Nhơn Xương(2).
    Như trên ta đã thấy, dưới thời các vua nhà Nguyễn, phần đất Vũng Tàu mà tên chữ là Thuyền Úc thuộc tổng An Phú Thượng với 3 thuyền Thắng Nhứt, Thắng Nhì, Thắng Tam sau thành ba thôn. Sau khi người Pháp lập hạt Thanh tra, rồi khu Tham biện Bà Rịa, phần đất này lại đổi thuộc tổng An Phú Thượng. Đến ngày 1-5-1895, Thống đốc Nam kỳ ra nghị định tách phần đất Vũng Tàu mà người Pháp gọi là Cap Saint Jacques khỏi địa bàn khu tham biện Bà Rịa để thành lập thành phố tự trị. Đến ngày 20-1-1898 lại nhập về Bà Rịa như cũ và gọi là khu Cap Saint Jacques. Ngày 14-1-1899 khu Cap Saint Jacques được thành lập tổng gọi là tổng Vũng Tàu có 7 làng. Đến ngày 11-11-1899 lại tách Bà Rịa và Cap Saint Jacques thành hai đơn vị hành chánh độc lập
    Ngày 1-4-1905 Toàn quyền Đông Dương ra nghị định bãi bỏ thành phố Cap Saint Jacques, nhập địa bàn vào tỉnh Bà Rịa, đổi thành đại lý hành chánh. Ngày 30-4-1929, Thống đốc Nam kỳ ra nghị định tách phần đất tổng Vũng Tàu gồm 3 làng Thắng Nhứt, Thắng Nhì, Thắng Tam của Đại lý Cap Saint Jacques, làng Sơn Long(sau đổi thành Long Sơn) và quận Cần Giờ của tỉnh Gia Định gồm các làng Cần Thạnh, Long Thạnh, Đồng Hòa, Thạnh An, Tân Thạnh để thành lập tỉnh Cap Saint Jacques. Đến năm 1934 lại bỏ tỉnh, hạ xuống thành phố cho đến năm 1945.
    Về Côn Đảo thì theo Phủ biên Tạp lục của Lê Quý Đôn đã thuộc chủ quyền nước Đại Việt xứ Đàng Trong từ thời chúa Nguyễn, đặt thuộc quyền dinh Trấn Biên. Vì vậy năm 1702 người Anh chiếm đóng đảo Côn Lôn đã bị Trấn thủ Trương Phước Phan lập mưu đánh đuổi. Từ triều Gia Long thuộc tỉnh Hà Tiên gọi là Coóc Tầm Lai, đến triều Minh Mạng gọi là đảo Côn Lôn thuộc đạo Cần Giờ tỉnh Gia Định. Từ năm Minh Mạng thứ 20 (1839) lại đổi thuộc huyện Trà Vinh tỉnh Vĩnh Long. Năm 1861 thực dân Pháp chiếm đóng, biến thành nhà tù giam giữ các nhà yêu nước Việt Nam. Khi đó Côn Đảo thuộc tỉnh Hà Tiên. Ngày 16-5-1882, Thống đốc Nam kỳ ra nghị định đặt Côn Đảo một quận trực thuộc Nam kỳ, đứng đầu là Giám đốc quần đảo và nhà tù Côn Đảo.
    Từ sau Cách mạng tháng 8 cho đến hiệp định Genève, trên đia bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có một số thay đổi. Ngày 14-11-1946 "Chính phủ lâm thời Cộng hòa Nam kỳ" ban hành chỉ thị số 153-C/Cir-Sài Gòn thành lập các quận hành chánh quân sự (Délégation administrative et militaire) Xuyên Mộc và Phú Mỹ. Đến ngày 28-7-1947 thì giải thể quận Xuyên Mộc và ngày 23-9-1947 giải thể quận Phú Mỹ đều do quyết định của Tỉnh trưởng Bà Rịa.
    Ngày 10-3-1947 do nghị định của "Chính phủ lâm thời Cộng hòa Nam kỳ" tỉnh Cap Saint Jacques (Vũng Tàu) được thành lập. Đến ngày 3-5-1947 quận Cần Giờ được thành lập đặt thuộc tỉnh Vũng Tàu gồm các làng thuộc tổng Cần Giờ và tổng An Thịt. Trụ sở đặt tại làng Cần Thạnh. Nghị định số 807-Cab/MI của Chính phủ Lâm thời Quốc gia Việt Nam ngày 29-12-1952, cải biến thị trấn Vũng Tàu thành thị xã hỗn hợp (Commune mixte).
    Nghị định số 2235-Cab/DAA ngày 16-6-1954 của Thủ hiến Nam Việt tạm sáp nhập vào làng Phước Hải hai làng Hội Mỹ và Long Mỹ và tạm sáp nhập làng Phước Lợi vào làng Phước Thọ. Nhưng đến ngày 2-11-1954 nghị định này bị thu hồi. Nghị định số 3517-HCSV ngày 29-11-1954 của Đại biểu chính phủ tại Nam Việt thành lập quận Xuyên Mộc, trụ sở đặt tại Xuyên Mộc.
    Thời gian này, về phía cách mạng hoạt động chủ yếu về quân sự, có một số sắp xếp cho phù hợp với tình hình và nhu cầu tác chiến. Các xã vùng cao hợp lại thành quận Cơ Trạch, các quận miền Trung thành lập quận Long Điền, và quận Đất Đỏ, các xã dọc theo lộ 15 thành quận Vũng Tàu. Tỉnh Bà Rịa thuộc quân khu 7. Từ tháng 5-1951 thuộc Phân liên khu miền Đông Nam Bộ. Sau đó tỉnh Bà Rịa hợp với tỉnh Chợ Lớn thành tỉnh Bà Chợ. Danh xưng này tồn tại cho đến năm 1954.
    Từ năm 1956 chính quyền Sài Gòn thục hiện cuộc cải cách hành chánh khắp toàn miền Nam. Tỉnh Bà Rịa và tỉnh Vũng Tàu hợp nhất thành tỉnh Phước Tuy. Nghị định ngày 3-1-1957 sắp xếp lại các đơn vị hành chánh tỉnh Phước Tuy, tỉnh lỵ tại Phước Lễ, gồm quận Châu Thành, quận lỵ tại Phước Lễ với tổng An Phú Hạ có 3 xã, tổng An Phú Tân có 4 xã, tổng Cơ Trạch có 4 xã; quận Xuyên Mộc với tổng Nhơn Xương có 5 xã; quận Long Điền với tổng An Phú Thượng có 6 xã; quận Đất Đỗ với tổng Phước Hưng Thượng có 3 xã, tổng Phước Hưng Hạ có 3 xã, tổng Phước Hưng Trung có 2 xã; quận Vũng Tàu với 5 xã, không có tổng; quận Cần Giờ với 6 xã, không có tổng.

    Nghị định ngày 20-3-1958 bãi bỏ quận Đất Đỏ, nhập phần đất vào quận Long Điền. Nghị định ngày 16-4-1958 xóa bỏ xã Thới Bình của quận Cần Giờ. Sắc lệnh ngày 29-1-1959 cắt phần đất phía bắc quận Cần Giờ đề thành lập quận Quảng Xuyên thuộc tỉnh Phước Tuy, quận lỵ tại xã Bình Khánh. Sắc lệnh ngày 9-9-1960 tách hai quận Cần Giờ và Quảng Xuyên khỏi tỉnh Phước Tuy để sáp nhập vào tỉnh Biên Hòa. Nghị định ngày 14-10-1960 tái lập quận Đất Đỏ gồm 3 tổng a8 xã. Nghị định ngày 24-12-1961 trích 4 xã Ngãi Giao, Bình Giã, Bình Ba, Hắc Dịch từ quận Châu Thành để thành lập quận mới Đức Thạnh. Nghị định ngày 10-10-1962 đổi tên quận hâu Thành thành quận Long Lễ. Nghị định ngày 13-8-1964 sáp nhập xã Hội Bài quận Long Lễ vào xã Phước Hòa cùng quận. Sắc lệnh ngày 8-9-1964 cải biến quận Vũng Tàu thành thị xã Vũng Tàu. Sắc lệnh ngày 30-3-1965 và nghị định ngày 13-4-1965 chia các xã thuộc thị xã Vũng Tàu thành 5 khu phố. Nghị định ngày 21-6-1965 nhập xã Nhu Lâm quận Xuyên Mộc vào xã Xuyên Mộc.
    Nghị định ngày 3-8-1972 trích một phần đất xã Bình Ba và xã Hắc Dịch để thành lập xã mới Quảng Phước, thuộc quận Đức Thạnh. Nghị định ngày 6-9-1973 sáp nhập một số đảo vào xã Phước Hải quận Đất Đỏ gồm có đảo Trường Sa, An Bang, Thái Bình, Song Tử Đông, Song Tử Tây, Loại Ta, Thị Tứ, Nam Ai, Sinh Tồn và các đảo phụ cận. Nghị định ngày 22-8-1974 trích các khóm Bình Lợi, Bình Hải, Sao Mai của phường Thắng Nhì để lập phường mới Phước Hải thuộc thị xã Vũng Tàu.
    Về phía Côn Đảo, sắc lệnh ngày 22-10-1956 của chính quyền Sài Gòn thành lập tỉnh Côn Sơn, nhưng đến ngày 21-4-1965 thì bãi bỏ và thiết lập trên quần đảo này một cơ sở hành chánh trực thuộc chính quyền trung ương, đặt dưới quyền một đặc phái viên hành chánh kiêm quản đốc trung tâm cải huấn Côn Sơn.
    Về phía chính quyền cách mạng, năm 1963 hai tỉnh Biên Hòa và Bà Rịa hợp nhất gọi là tỉnh Bà Biên, nhưng cuối năm lại tách ra như cũ. Sau đó tỉnh Bà Rịa hợp với tỉnh Long Khánh thành tỉnh Bà Rịa - Long Khánh. Tháng 5-1971 tỉnh này bị giải thể và thành lập phân khu Bà Rịa gồm 3 thị xã Long Khánh, Bà Rịa, Vũng Tàu và 9 huyện. Tháng 8-1972 phân khu giải thể, tỉnh Bà Rịa - Long Khánh được tái lập cho đến ngày 30-4-1975.
    Sau 1975, tỉnh Bà Rịa hợp với tỉnh Biên Hòa, tỉnh Long Khánh và một phần đất tỉnh Bình Tuy thành tỉnh Đồng Nai. Tỉnh lỵ tại Biên Hòa. Ngày 30-5-1979 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thành lập đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo gồm thị xã Vũng Tàu, xã Long Sơn thuộc tỉnh Đồng Nai và huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Hậu Giang. Quyết định ngày 13-1980 của Hội đồng Bộ trưởng nhập xã Tân Lập của huyện Xuyên Mộc vào huyện Châu Thành tỉnh Đồng Nai. Quyết định ngày 8-12-1982 chia xã Phú Mỹ huyện Châu Thành làm 2 xã Phú Mỹ và Mỹ Xuân, chia xã Phước Hòa làm xã Phước Hòa và Hội Bài, lập thị trấn Bà Rịa trên cơ sở xã Phước Lễ, lập xã kinh tế mới Châu Pha, nhập hai xã Kim Hải và Phước Hòa vào xã Long Hương, nhập xã Tân Lập của quận Châu Thành vào huyện Xuân Lộc.
    Quyết định ngày 9-12-1982 chia xã Phước Bử¬u thành hai xã Phước Bửu và Phước Tân thuộc huyện Xuyên Mộc, giải thể xã Long Điền huyện Long Đất để lập thị trấn Long Điền, giải thể xã Long Hải để thành lập thị trấn.
    Quốc hội khóa VII kỳ họp thứ 9 ngày 12-8-1991 quyết định thành lập tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trên cơ sở đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo và ba huyện Long Đất, Châu Thành, Xuyên Mộc tách từ tỉnh Đồng Nai, gồm có thành phố Vũng Tàu với 11 phường và 1 xã, huyện Châu Thành với 1 thị trấn và 18 xã, huyện Xuyên Mộc với 11 xã, huyện Long Đất với 2 thị trấn và 11 xã, huyện Côn Đảo không có xã.
    Nghị định ngày 2-6-1994 của Chính phủ thành lập thị xã Bà Rịa gồm có các phường Phước Hưng, Phước Hiệp, Phước Nguyên, Long Toàn, Phước Trung và các xã Long Phước, Hòa Long, Long Hương; tách một số xã và phần đất của huyện Châu Thành để thành lập huyện Tân Thành gồm có thị trấn Phú Mỹ và các xã Sông Xoài, Hắc Dịch, Châu Pha, Tóc Tiên, Hội Bài, Phước Hòa, Mỹ Xuân; thành lập huyện Châu Đức trên cơ sở một số xã tách từ huyện Châu Thành, gôm có thị trấn Ngãi Giao và các xã Bình Ba, Suối Nghệ, Xuân Sơn, Bình Giã, Xà Bang, Láng Lớn, Quảng Thành, Kim Long, Suối Rao, Đá Bạc, Nghĩa Thành. Sau khi thành lập thị xã Bà Rịa và hai huyện Tân Thành, Châu Đức, huyện Châu Thành bị giải thể.
    Nghị định ngày 30-10-1995 của Chính phủ thành lập thị trấn Phước Bửu trên cơ sở một phần đất tách từ xã Phước Bửu huyện Xuyên Mộc, đổi phần còn lại của xã Phước Bửu thành xã Phước Thuận, thành lập xã mới Lộc An trên cơ sở một phần đất trích từ xã Phước Hải xã Phước Long Hội và xã Láng Dài, đặt thuộc huyện Long Đất. Nghị định ngày 16-9-1999 của Chính phủ xếp thành phố Vũng Tàu vào đô thị loại 2.
    Năm 2000, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có một diện tích 2.006,70 km2 với một dân số khoảng 74 vạn người phân bố trên địa bàn thành phố: Vũng Tàu có 11 phường và 1 xã, thị xã Bà Rịa có 5 phường và 3 xã, huyện Xuyên Mộc có 1 thị trấn và 11 xã, huyện Long Đất có 2 thị trấn và 10 xã, huyện Châu Đức có 1 thị trấn và 11 xã, huyện Tân Thành có 1 thị trấn và 7 xã, huyện Côn Đảo. Tổng cộng 1 thành phố, 1 thị xã, 5 huyện, 16 phường, 5 thị trấn, 5 xã.

    VỀ TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO
    Bà Rịa - Vũng Tàu không những là một địa bàn du lịch được thiên nhiên ưu đãi với nhiều tài nguyên đa dạng, phong phú, nhiều bãi biển đẹp và những khu rừng nguyên sinh mà còn là nơi hội tụ giữa các nền văn hoá: phi vật thể bản địa (lễ hội, phong tục, tập quán, tín ngưỡng) mang đậm màu sắc văn hóa biển với văn hoá của các tôn giáo tạo nên nhiều công trình văn hoá, khu di tích nổi tiếng với những vẻ đẹp cổ kính, thanh thoát…TÍN NGƯỡNG
    Cũng như các địa phương khác trong cả nước, Bà Rịa – Vũng Tàu vẫn mang đậm màu sắc dân gian với các nền “văn hoá sinh tồn” (nghề nông, nghề cá, thủ công…), “văn hoá ứng xử” (sự giao tiếp, tổ chức phường nghề, nghi lễ, hội hè…), “Văn hoá đạo đức” (các mối quan hệ ông bà, cha mẹ, xóm giềng…), “văn hoá tín ngưỡng” (tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng nguyên thuỷ…) “Văn hoá nghệ thuật” (ngôn ngữ, nghệ thuật dân gian, ca dao, cổ tích hội hoạ, kiến trúc…). Đặc biệt, nền “Văn hoá tín ngưỡng” được thể hiện đậm nét với các lễ hội “Nghinh ông” của cư dân vùng ven biển như xã Phước Hải, Phước Tỉnh, Long Hải (huyện Long Ðất), Ðình Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam (TP.Vũng Tàu)... Trong đó tiêu biểu nhất là lễ hội Nghinh Ông - đình Thắng Tam được tổ chức vào ngày 16, 17, 18 tháng 8 âm lịch hàng năm tôn thờ linh vật đã phù hộ giúp đỡ ngư dân trong những tháng ngày lênh đênh trên biển.
    Lễ hội Dinh cô (Long Hải) thể hiện lòng tin, sự tín ngưỡng vốn có lâu đời trong nhân dân với người con gái giàu lòng nhân ái, bị tử nạn trong một trận bão được ngư dân Long Hải chôn cất, tôn xưng là “Long Hải Thần Nữ”. Hàng năm, lễ hội thường mở trong 3 ngày (10 - 11 - 12 tháng 2 âm lịch), suốt cả ngày cả đêm.
    Lễ hội Trùng Cửu 9/9 âm lịch hàng năm, diễn ra tại Nhà Lớn Long Sơn đây là lễ cầu an, là lễ hội cầu cho vạn dân bá tánh được mạnh khoẻ an lành, lễ hội diễn ra vào đêm mồng 8 và ngày 9/9 âm lịch. Đêm 8/9 gọi là lễ Tiên Thường kỉnh mặn (cúng mặn) chủ yếu là các sản vật do các bá tánh mang vào kỉnh (cúng), và ngày 9/9 gọi là Chánh Giỗ kỉnh chay(cúng chay), lễ hội không tổ chức linh đình như nhiều lễ hội khác chủ yếu là đi dâng hương, nguyện cầu khấn vái, và tưởng nhớ đến công đức của ông Trần. Đạo Ông Trần mang đậm màu sắc dân gian, đạo thờ cúng ông bà tổ tiên, đề cao hiếu nghĩa mà không có kết nạp tín đồ, không có kinh kệ, không có tổ chức lãnh đạo đứng đầu tôn giáo.
    Ngoài ra cư dân Bà Rịa – Vũng Tàu còn có những phong tục thờ cúng những người có công dựng nước và giữ nước vị anh hùng cứu nước như Trần Hưng Đạo, Hùng Vương, thờ cúng Thành Hoàng… Tất cả nền văn hoá trên đã tạo nên một quần thể kiến trúc đầy màu sắc mang tính dân tộc của Dinh Cô, Đình Thần Thắng Tam, Nhà Lớn Long Sơn.

    Tôn giáo
    Bà Rịa – Vũng Tàu là nơi hội tụ nhiều tôn giáo lớn trên thế giới với số lượng tín đồ chiếm trên 50% dân số toàn tỉnh. Trong đó Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài, Tin Lành được nhà nước cho phép hoạt động hợp pháp với tư cách là tổ chức xã hội cùng với một số tôn giáo và hệ phái khác như Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Độ Việt Nam, Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tin Lành Baptic, Cơ Đốc Phục lâm, Cơ Đốc Truyền Giáo.
    Phật giáo
    Theo tài liệu nghiên cứu được, Phật Giáo được truyền vào Bà Rịa – Vũng Tàu sớm nhất cùng với lớp cư dân người Việt miền Bắc, miền Trung từ đầu thế kỷ 17. Khi đến họ mang theo tôn giáo gốc của mình và xây dựng chùa chiền.
    Phật Giáo Bà Rịa – Vũng Tàu vẫn mang đậm màu sắc nguyên thuỷ với các trung tâm phật giáo lớn như chùa Đại Tùng Lâm (thị trấn Phú Mỹ - huyện Tân Thành), Khu vực chùa ven núi Thị Vải (xã Hội Bài - huyện Tân Thành), Niết Bàn Tịnh Xá, Thiền Viện Chơn không, Thích ca Phật Đài (Tp.Vũng Tàu), Các khu vực chùa núi Thiên Thai (xã Tam An - huyện Long Đất), Chùa Hòn Một (xã Phước Hải - huyện Long Đất)… Một số cơ sở là di tích lịch sừ - danh thắng: Thích Ca Phật Đài, Niết Bàn Tịnh Xá, Linh Sơn Cổ Tự.
    +Công giáo
    Là tôn giáo lớn thứ 2 của tỉnh, được truyền vào Bà Rịa – Vũng Tàu từ giữa thế kỷ 18 (theo sách Dư địa chí – 1947), nhưng chỉ thực sự phát triển nhanh và nhiều từ năm 1950 đến 1960.
    Hiện nay có 14 nhà thờ lớn tập trung nhiều nhất ven quốc lộ 51 từ Tân Thành đến Vũng Tàu. Ngoài ra còn các khu vực khác như: Khu vực Phước Tỉnh (huyện Long Đất, khu vực Bình Giã (huyện Châu Đức). Một số nhà thờ xây dựng khá sớm trên 100 năm ở các khu vực Đất Đỏ (huyện Long Đất), thị xã Bà Rịa, Tp.Vũng Tàu. Các nơi danh thắng: Nhà thờ Đức Mẹ, giáo họ Bãi dâu, tượng cúa Kitô.
    + Cao Đài
    Có 3 hệ phái: Cao Đài tây Ninh, Cao Đài Ban chỉnh đạo Bến tre, Cao đài truyền giáo miền Trung.
    Cao Đài Tây Ninh được truyền vào Bà Rịa – Vũng Tàu năm 1940, chủ yếu tập trung ở Đất Đỏ, Suối Nghệ, Vũng Tàu, Bà Rịa.+Tin lành
    Được truyền vào Việt Nam từ 1911, đến những năm 1930 – 1940 được truyền vào Vũng Tàu, phát triển mạnh vào những năm 1950 – 1960, chủ yếu là hệ phái Tin lành Việt Nam. Hiện nay khoảng 4.000 tín đồ.
    Tín ngưỡng – tôn giáo Bà Rịa – Vũng Tàu vẫn luôn song hành với sự phát triển đa dạng của tỉnh, hành đạo trong khuôn khổ của pháp luật và tuân thủ sự quản lý của nhà nước. Đến với Bà Rịa – Vũng Tàu du khách không những chiêm ngưỡng những vẽ đẹp thơ mộng của thiên nhiên sơn thuỷ hữu tình mà còn được dịp tiềm hiểu thêm một vùng đất có nền văn hoá tâm linh lâu đời với quần thể kiến trúc đa dạng đặc trưng của sự thanh bình

    Giới thiệu Khái quát về Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
    Bà Rịa-Vũng Tàu có diện tích 1.975,15 km2, tương đương với thành phố Hồ Chí Minh, chiếm 0,6% diện tích cả nước. Bà Rịa-Vũng Tàu quản lý trên 100.000 km2 thềm lục địa Nam biển Đông. Dân số 862.081 người, mật độ 463 người/km2 (năm 2002).
    Cũng như các tỉnh Nam Bộ khác, Bà Rịa-Vũng Tàu là vùng đất mới được khai phá và xây dựng hơn 300 năm nay.
    Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu được thành lập theo Nghị quyết kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa VIII, ngày 12-8-1991, hiện nay gồm thành phố Vũng Tàu, thị xã Bà Rịa và 6 huyện Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc, Côn Đảo, Châu Đức và Tân Thành.
    Bà Rịa-Vũng Tàu là cửa ngõ phía Đông về cả đường thủy và đường bộ của thành phố Hồ Chí Minh và của miền Đông Nam Bộ. Phần đất liền, Bà Rịa-Vũng Tàu được xác định trên tọa độ địa lý từ 10020’ đến 10045’ vĩ Bắc và từ 1070 đến 107035’ kinh Đông; phía Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía Nam là biển Đông, phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận và phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh. Quần đảo Côn Lôn, với tên thường gọi là Côn Đảo bao gồm 16 hòn đảo, cách Vũng Tàu 97 hải lý về phía Nam.
    Ngày nay, trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Bà Rịa-Vũng Tàu cùng với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông Nam bộ là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của Tổ quốc. Bà Rịa-Vũng Tàu là trung tâm khai thác, chế biến dầu khí đầu tiên và lớn nhất của cả nước.
    Là vùng đất mới, nhưng Bà Rịa-Vũng Tàu bảo tồn trên 200 di tích lịch sử văn hóa và nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Nói đến Bà Rịa-Vũng Tàu là nói đến biển với những đặc sản nổi tiếng của đại dương. Không những thế, Bà Rịa-Vũng Tàu còn có những ngọn núi hùng vĩ, những khu bảo tồn thiên nhiên nguyên sinh, vườn quốc gia ven biển là nơi tham quan và nghỉ dưỡng lý tưởng. Rừng và biển Bà Rịa-Vũng Tàu là sự phong phú và đa dạng mà thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất hứa…
    Địa hình Bà Rịa-Vũng Tàu là sự chuyển tiếp giữa cao nguyên và đồng bằng cực Nam Trung Bộ với đồng bằng sông Cửu Long nên địa hình không cao lắm và có xu hướng thấp dần theo quá trình chuyển tiếp từ Bắc xuống Nam, phân biệt qua ba dạng: vùng đồi núi thấp, bậc thềm phù sa cổ và đồng bằng ven biển. Bà Rịa-Vũng Tàu có các ngọn núi tương đối cao, như Mây Tào (700m), núi An Hải (Côn Đảo, cao 577m), núi Dinh-Bà Rịa (504m), núi Thị Vải-Tân Thành (470m) và hai khu vườn quốc gia Côn Đảo và Bình Châu thuộc hệ sinh thái rừng nguyên sinh ven biển và hải đảo, vốn rất hiếm ở Việt Nam.
    Bà Rịa-Vũng Tàu là cửa ngõ của những con sông lớn như sông Đồng Nai và sông Sài Gòn; có bờ biển dài trên 100 km, với nhiều vũng, vịnh và bãi cát đẹp, lý tưởng với nhiều cơ sở dịch vụ phục vụ tắm biển và nghỉ mát. Khí hậu Bà Rịa-Vũng Tàu ổn định và thấp so với khu vực, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26-290C.
    Tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản của Bà Rịa-Vũng Tàu không phong phú về chủng loại nhưng tập trung và có giá trị kinh tế cao, như dầu mỏ và khí đốt ở thềm lục địa có trữ lượng lớn; nước khoáng Bình Châu, suối Nghệ; cát trắng sản xuất pha lê (Bình Châu); đá hoa cương khu vực núi Dinh, Thị Vải, Minh Đạm
    Mục tiêu trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là tích cực khai thác lợi thế và tiềm năng, xây dựng Bà Rịa-Vũng Tàu thành một trung tâm công nghiệp; du lịch và khai thác hải sản lớn, một thương cảng quốc gia và quốc tế.
    Về cơ cấu kinh tế, Bà Rịa-Vũng Tàu có lợi thế về phát triển công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp. Do đó, cơ cấu kinh tế của tỉnh được xác định là Công nghiệp-Dịch vụ-Nông nghiệp. Từ ngày thành lập tỉnh đến nay cơ cấu kinh tế đó tiếp tục được giữ vững và ngày càng khẳng định sự đúng hướng, tính hiệu quả và tích cực. Cơ cấu kinh tế Bà Rịa-Vũng Tàu đã và đang tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng tiên tiến-công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ không ngừng tăng lên, tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm.
    So với nhiều địa phương trong toàn quốc, Bà Rịa-Vũng Tàu là tỉnh có tổng sản phẩm xã hội GDP khá cao và tăng trưởng liên tục trong suốt 10 năm qua. GDP bình quân hàng năm tăng 15,4%-sau 5 năm tăng gần 2 lần. Thu nhập bình quân đầu người cao và ổn định: năm 1993 là 2.611,8 USD; năm 1995 là 1.482 USD; năm 2000 là 3.522 USD; 2001 là 3.185 USD; năm 2002 tiếp tục duy trì sự tăng trưởng, đạt 57,68 triệu đồng (tương đương 3700USD). GDP bình quân đầu người năm 2000 so với năm 1992 tăng 2,6 lần (không tính dầu khí tăng 4,2 lần); so với cả nước tăng gần 7,4 lần. Bà Rịa-Vũng Tàu là tỉnh đóng góp ngân sách lớn trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam.

    Trong quá khứ, Bà Rịa-Vũng Tàu giữ vị thế quan trọng đối với miền Đông Nam Bộ về kinh tế, lịch sử và văn hóa. Trong hiện tại và tương lai, Bà Rịa-Vũng Tàu có tiềm năng lớn về phát triển kinh tế, về du lịch sinh thái và du lịch nhân văn. Bà Rịa-Vũng Tàu là địa chỉ hấp dẫn, tin cậy đối với khách du lịch trong và ngoài nước. Bà Rịa-Vũng Tàu là vùng đất giàu tiềm năng và nhiều hứa hẹn đối với các nhà đầu tư. Nhân dân Bà Rịa-Vũng Tàu hiếu khách, rộng mở chào đón doanh nhân và du khách đến với Bà Rịa-Vũng Tàu.
    Các lễ hội của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu chủ yếu liên quan đến các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng như: Lễ hội Dinh Cô (Long Hải) diễn ra từ ngày 10 đến 12/2 Âm lịch hàng năm, lễ Trùng Cửu 9/9 Âm lịch (Long Sơn), lễ cầu Ngư (rước cá Ông) được tổ chức ở Lăng Cá Ông, đình Thắng Tam (Vũng Tàu) vào ngày 16/8 âm lịch hàng năm lễ hội Miếu Bà diễn ra các ngày 16,17,18 tháng 10 âm lịch. Ðây là những ngày hội thu hút rất nhiều du khách từ các tỉnh Miền Ðông Nam Bộ và các tỉnh lân cận như Tp.Hồ Chí Minh, Tâaây Ninh, Bình Thuận, Bình Dương, Bình Phước về dự hội lễ và kết hợp du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng.
    Hệ thống dịch vụ ăn, nghỉ phù hợp nhất từ dịch vụ cao cấp cho đến các dịch vụ bình dân với 72 khách sạn, 40 biệt thự với gần 3000 phòng nghỉ, trong đó có gần 1.300 phòng đạt tiêu chuẩn đón khách quốc tế. Đặc biệt vào các tối thứ 7 hàng tuần du khách sẽ được xem đua chó tại sân vận động Lam Sơn (Vũng Tàu)
    Một số công trình du lịch đã và sắp đầu tư: Cải tạo một số đoạn bãi tắm Thùy Vân, dự án cáo treo du lịch Núi Lớn – Núi Nhỏ, dự án tháp truyền hình trên Núi Lớn, dự án câu cá – du thuyền tham quan – thuê xe du lịch, khu xem biểu diễn cá heo, đua thuyền bãi trước.
    Các dự án kêu gọi đầu tư: Phát triển khu vui chơi giải trí ở trên bờ, dưới nước, trên núi, dưới biển, các khu du lịch sinh thái; đầu tư, nâng cấp môi trường các bãi tắm biển, các khu di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh. Trước mắt tỉnh kêu gọi đầu tư vào một số dự án sau đây:
    - Góp vốn cùng đầu tư dự án cáp treo Núi Lớn – Núi Nhỏ
    - Đầu tư khu du lịch sinh thái Hồ Cốc (Xuyên Mộc)
    - Đầu tư một số khu vui chơi, giải trí trên Núi Lớn, Núi Nhỏ, Núi Dinh, Núi Minh Đạm
    - Đầu tư khu du lịch và biệt thự vườn Bến Cát – Hồ Tràm (Xuyên Mộc)
    - Đầu tư khu du lịch sinh thái tại Côn Đảo.

    TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
    Bà Rịa – Vũng Tàu có một vị trí thuận lợi cho việc phát triển du lịch, là nơi có nguồn tài nguyên du lịch và khả năng đáp ứng du lịch cao, được đánh giá là một trong những điểm du lịch trọng tâm của đất nước. Đến nơi đây, du khách được tắm biển thoải mái với nhiều bãi tắm khác nhau, bãi nào cũng đẹp, cũng phẳng, nắng ấm, nước trong xanh quanh năm, có những bãi tắm uốn lượn theo những ngọn núi với những rừng cây xanh, cây cảnh và hoa, có những bãi tắm chạy dọc theo các khu rừng nguyên sinh thiên nhiên hầu như còn nguyên vẹn rất phù hợp cho loại hình du lịch sinh thái. Tại thành phố Vũng Tàu có bãi tắm Thùy Vân, Chí Linh, Bãi Dứa, Bãi Dâu, Bãi Trước. Tại Long Hải có bãi tắm Thùy Dương; tại Xuyên Mộc có bãi tắm Hồ Tràm, Hồ Cốc; ra Côn Đảo có bãi tắm Đất Dốc, Bãi Cạnh, Bãi Đầm Trầu, Bãi Hòn Cau, Bãi Hòn Tre...
    Đến tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, không chỉ có tắm biển, du khách có thể du lịch leo núi như: Núi Lớn, Núi Nhỏ, tham quan Hải Đăng có bề dày lịch sử hàng trăm năm nay, tượng Chúa giang tay, khu di tích Bạch Dinh. Nếu cần tăng cường sức khỏe, nghỉ ngơi, chữa bệnh, thư giãn sau khi tắm biển xong, du khách có thể đến Suối nước nóng Bình Châu (Xuyên Mộc) và thăm khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu rộng gần 12.000ha. Chưa có nơi nào ở Việt Nam như nơi đây, suối nước nóng bắt nguồn và chảy uốn lượn giữa khu rừng nguyên sinh, chỗ nóng nhất đến 820C, chỗ bình thường từ 40 – 500C, dòng nước bốc hơi tạo thành vùng sương khói quyện lẫn với cây cỏ mở ảo của khu rừng nguyên sinh gợi lên cho du khách cảm giác đang đi dạo trong cõi tiên. Đến đây bạn có thể ngâm chân, tắm trong các bồn nước nóng, luộc trừng gà hoặc đi dạo trong rừng để tìm cảm giác thư thái,... thật là một loại hình du lịch an dưỡng, chữa bệnh, sinh thái không thể thiếu được.
    Bà Rịa - Vũng Tàu còn có rất nhiều danh lam thắng cảnh và các di lích lịch sử, là nơi hấp dẫn các du khách đến tham quan, chiêm ngưỡng Thành phố Vũng Tàu có ngọn Hải Đăng, tượng Chúa Kitô, Niết Bàn Tịnh Xá trên núi Tao Phùng cao 170 thước (còn gọi là núi Nhỏ), Thích Ca Phật Đài trên núi Tương Kỳ cao 249 thước (còn gọi là núi Lớn), Nhà Lớn Long Sơn, Đình Thắng Tam... Thị xã Bà Rịa có Địa đạo Long Phước, Nhà tròn lịch sử. Huyện Long Đất có khu căn cứ cách mạng Minh Đạm, đình cổ Long Phượng, chùa Long Bàn có từ đầu thế kỷ 19. Huyện Tân Thành có thắng cảnh Suối Tiên. Huyện Châu Đức có khu du lịch Bàu Sen. Huyện Xuyên Mộc có thắng cảnh Hồ Tràm, Hồ Cốc, có khu rừng nguyên sinh Bình Châu – Phước Bửu. Đặc biệt huyện Côn Đảo với 14 hòn đảo lớn nhỏ vừa là khu du lịch sinh thái biển, với Vườn quốc gia Côn Đảo rộng gần 6.000ha chưa kể vùng đệm dưới nước với nhiều loại cây và thú quý hiếm hấp dẫn du khách, đồng thời là nơi có di tích lịch sử lớn nhất cả nước với hệ thống nhà tù, trại giam do Pháp, Mỹ để lại.

    Giao Thông Vận Tải
    a. Đường bộ
    Tổng chiều dài hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn Tỉnh khoảng 1660 km, trong đó quốc lộ 131,6 km, tỉnh lộ 146,4 km, đường huyện thị 1382 km. Nếu phân loại theo kết cấu mặt đường có : 494 km đường nhựa (chiếm 29,8%), 663 đường đá (chiếm 33,9%), 503,4 km đường đất (chiếm 30,3%); mật độ giao thông của Tỉnh đạt khoảng 0,82 km đường/1 km2.
    b. Đường thủy
    Giao thông đường thủy của Tỉnh rất thuận lợi, có nhiều tiềm năng lớn để phát triển. Trên địa bànTỉnh có hơn 20 sông rạch với chiều dài khoảng 200 km, trong đó có 17 sông rạch với chiều dài 167 km có thể khai thác vận tải thủy, có một số sông và một số vùng bờ biển của Tỉnh rất thích hợp cho việc phát triển cảng sông, cảng biển như ; sông Thị Vải, sông Dinh, vùng biển Sao Mai - Bến Đình, Phước Tỉnh, Lộc An, Bến Đầm Côn Đảo, Long Sơn.
    c. Đường hàng không
    Có 2 sân bay dùng cho máy bay trực thăng lên xuống phục vụ cho việc thăm dò, khai thác dầu khí,vận chuyển hành khách từ Vũng Tàu đi Côn Đảo, thành phố Hồ Chí Minh ngược lại.
    Sân bay Vũng Tàu với đường băng dài 1.800m
    Sân bay Cỏ Ống (Côn Đảo) với đường băng dài 1.200 m


    Những Định hướng Phát triển Ngành Du Lịch 2008 -2010
    1. Hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng cơ bản cho ngành du lịch bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, phấn đấu đạt tốc độ tăng doanh thu bình quân 10,9 - 12%/năm.
    2. Từ bước xây dựng 10 khu du lịch trọng điểm trong đó có 2 khu du lịch quốc gia: Khu du lịch Hoa Anh Đào, Khu Du lịch sinh thái và di tích lịch sử Côn Đảo.
    3. Hoàn chỉnh qui hoạch du lịch trên toàn tỉnh theo 5 cụm du lịch trọng điểm: Thành phố Vũng Tàu và vùng lân cận; Long Hải - Phước Hải; Núi Dinh; Bình Châu - Hồ Tràm - Hồ Cốc và Côn Đảo.
    4. Phát triển các loại hình du lịch, tập trung vào ba loại chủ: Du lịch sinh thái - cảnh quan; Du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần; Du lịch văn hoá kết hợp thể thao.
    5. Nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về du lịch trong các công trình đầu tư, qui hoạch.
    6. Xây dựng đội ngũ đội ngũ cán bộ và nhân viên làm du lịch có trình độ và kỹ năng nghiệp vụ.
    7. Duy trì môi trường tự nhiên và xã hội, chú trọng tôn tạo, bảo vệ, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên.
    8. Đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá du lịch, kế hoạch hoá các hoạt động xúc tiến đầu tư du lịch.

    Truyền Thuyết Về Bà Rịa
    Theo Trịnh Hoài Đức ,một học giả hàng đầu nghiên cứu về lục tỉnh Nam Kì thì địa danh Bà Rịa bắt nguồn từ tên của vương quốc Bà Lỵ ,Bà Lịa ,Bà Lợi xưa .Ông cho rằng Bà Rịa tức là nước Bà Lợi thuở xưa tồn tại khoảng trước thế kỷ thứ 7 ,sau khi quân Chân Lạp thôn tính tên nước này đã được thư tịch cũ của đời đường ghi lại.
    Truyền thuyết thứ nhất: có một truyền thuyết khác của nhân dân trong vùng giải thích nguồn gốc địa danh Bà Rịa là để tưởng nhớ công đức của bà Nguyễn Thị Rịa. Bà Rịa người gốc Phú Yên theo gia đình vào Nam tìm đất sinh sống từ năm 1680 tại làng Mỹ Khê huyện Long Đất .Bà Rịa cùng nhân dân khai phá rừng lập ruộng vườn, xây dựng xóm làng. Năm 1698 ,Trưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý đất phía Nam ,khi quân đổ bộ lên nơi đây bị một trận lũ lớn các cấu đều bị trôi ,đường đi lại bị hư hỏng . Bà Rịa đã vận động nhân dân trong vùng tu sửa đường xá ,bắt lại các cây cầu để đưa quân Chúa Nguyễn qua sông . Cảm kích về công trạng này ,Chúa Nguyễn đã ra sắc phong cho Bà Rịa “Hàm Nghè” danh dự và cho Bà được mang họ Chúa Nguyễn . Năm 1759 Bà Rịa qua đời vì không có con cái nên tất cả của Bà đều chia cho dân nghèo .Dân làng đã nhớ ơn đã góp công sức lập miếu Bà bên đường nay thuộc địa phận Tam Phước huyện Long Đất.
    Truyền thuyết thứ hai: theo tác giảa người Pháp trong “Monographie de Baria” viết năm 1902 cho rằng địa danh Bà Rịa xuất phát từ tên người đàn bà là Nguyễn Thị Rịa ,đã khai phá đất hoang lập làng Phước Liêu vào năm 1789 tức là khoảng thế kỷ 18 .Nhưng có lẽ cách giải thích địa danh Bà Rịa xuất phát từ tên người đàn bà Nguyễn Thị Rịa được nhiều người đồng tình nhất .
    Theo phó tiến sĩ sử học Đinh Văn Hạnh đã dẫn tài liệu của nhà khảo cổ người Pháp (Ông Mallaret ) cho rằng địa danh Bà Rịa bắt nguồn từ tên gọi Khơme của một cái bàu ở Long Điền là Bà Rày hay Bà Ray ,chuyển sang âm Việt đọc chệch đi thành Bà Rịa.
    Tóm lại Bà Rịa vốn là tên đất (Bà Rày ,Bà Ray) tên một vương quốc (Bà Lỵ ,Bà Lịa ,Bà Lợi) ,và rất có thể trùng tên với một người có công xuất hiện sau này là Bà Nguyễn Thị Rịa .Tuy những truyền thuyết này có thể đúng cũng có thể sai nhưng vẫn là những truyền thuyết đẹp được nhân dân Bà Rịa Vũng Tàu nói chung và thị xã Bà Rịa nói riêng lưu truyền cho các thế hệ sau này.

    BÀI THUYẾT MINH  VỀ ĐIỂM

    Di Tích Danh Thắng Niết Bàn Tịnh Xá
    Niết Bàn Tịnh Xá nằm ở trung điểm Bãi Dứa, tọa lạc trên triền núi, hướng mặt ra biển. Ở vào vị trí nên thơ đó, Niết Bàn Tịnh Xá có sức hấp dẫn lớn đối với du khách.
    Niết Bàn Tịnh Xá được khởi công xây dựng năm 1969, năm năm sau (1974) mới hoàn thành. Đây là một công trình đồ sộ gồm nhiều phần, nhiều cấp, toạ lạc trên diện tích gần 10.000cm2.
    Lối lên Niết Bàn Tịnh Xá rộng rãi, dọc theo triền dốc. Cổng chính nổi bật với bốn chữ Hán : Niết Bàn Tịnh Xá. Hai trụ cổng được khắc đôi câu đối đầy ý nghĩa :
    Niết Bàn Thị Hiện, độ chúng niệm phật tâm thông, chân giải thoát.
    Tịnh Xá quang minh, vô lậu giác ngộ chánh pháp, hiến như lai.
    Phía trong là hai pho tượng ông Thiện và ông Ác cao lớn đứng trông cửa. Bên phải cổng có một bức phù điêu, rộng 2m, cao 4m chạm hình long mã, đầu rồng, chân ngựa bước trên sóng nước, phía trên hạc bay múa trong mây. Phù điêu thực hiện bằng kỹ thuật ốp mãnh sứ men trắng vẽ lam, một kỹ thuật khá thịnh hành ở các chùa miếu, lăng tẩm Việt Nam cuối thế XIX đầu thế kỷ XX. Sắc hoa văn mảnh sứ tạo nên sự rực rỡ, trang nhã và sống động cho bức phù điêu. Đối diện với bức phù điêu và phía trước chính điện Niết Bàn Tịnh Xá là trụ phướn thanh thoát, cao vút 21m, gồm 42 não. Trụ phướn được đúc bê tông, dưới to, trên nhỏ dần, xung quanh ốp gạch men màu vàng đỏ, trên có ba nhánh búp sen toả đều ra ba hướng là một nét độc đáo của Niết Bàn Tịnh Xá…
    Đường lên chính diện Niết Bàn Tịnh Xá là hệ thống 37 bậc tam cấp có lối rộng chừng 2m. Bên phải chính diện, ngay lối lên là hòn non bộ và lầu trống có Phật Di Lặc ngồi trên cao. Chính giữa là tượng hộ pháp Di Đà. Chiếc lư đồng Tứ Linh (Long, Lân, Quy, Phụng) của Niết Bàn Tịnh Xá có kích thước lớn, được trang trí khéo léo, công phu là báu vật của Chùa. Chính điện Niết Bàn thể hiện một bức tường Phật nhập Niết Bàn rất lớn – có lẽ vì vậy mà ngôi chùa có danh xưng Niết Bàn Tịnh Xá ? Tượng Phật nhập Niết Bàn, màu nâu hồng tạo khắc đánh bóng công phu, khéo léo nằm nghiêng nhìn về hướng Tây, đầu gối lên tay phải, dài 12m nổi bật giữa chính diện. Vị thế của bức tượng, đầu quay về hướng bắc, chân duỗi thẳng hướng nam, theo truyền thuyết là tư thế của Đức Phật khi nhập Niết Bàn trên tảng đá tại Kusinara, lòng bàn chân Phật được khắc 52 điểm ấn.
    Bức tượng Phật nhập Niết Bàn càng trở nên sinh động, cuốn hút vì được đặt trong không gian có nhiều công trình Phật giáo mang tính nghệ thuật cao : Phía trên đầu và sau lưng Đức Phật Nhập Niết Bàn là quang cảnh thiên nhiên xanh tươi nổi bật với hai cây Long Thọ đắp nổi nhiều lớp. Những con sông, con hạc danh rộng cánh ẩn hiện trong mây. Những con sư tử, con hổ, con khỉ phủ phục chầu Đức Phật viên tịnh nhập Niết Bàn… Tất cả đều được đắp nổi, chạm khắc công phu với màu sắc hài hoà, thanh khiết tạo nên khung cảnh vừa trang nghiêm vừa sâu lắng chốn cửa Phật…
    Trên bức tường bên phải chính điện treo một bức tranh sơm mài lớn thể hiện cảnh Phật ngồi thiên. Bên cạnh là một bức tranh khác thể hiện vườn Lộc dã, nơi Phật Thích Ca thuyết pháp lần đầu tiên…
    Nhìn chung, chính diện Niết Bàn Tịnh Xá không lớn, ngoài những pháp khí nhà chùa, chính diện bài trí nhiều tích Phật, trong đó nổi bật là tượng Đức Phật nhập Niết Bàn, một tác phẩm điêu khắc lớn, niềm tự hào của tăng ni, tu sĩ Phật giáo Vũng Tàu.
    Phía sau chính điện là “Trai Đường” của Chư Tăng. Trong phòng có treo 34 bức ảnh diễn tả lại cuộc đời Đức Phật, từ khi sinh ra đến khi các đệ tử chia nhau Xá lợi. Trong phòng còn bài trí nhiều tranh tượng khác, như tranh Di Lặc Lục Trần … kết thúc bằng lối đi tam cấp dẫn lên tầng trên. Dựa vào thế núi, Niết Bàn Tịnh Xá toạ lạc trên nhiều độ cao khác nhau. Phía trên và sau chính điện thờ Phật Tổ. Điện thời Phật Tổ bài trí ba bức tượng Phật Thích Ca ngồi thiền rất lớn, theo thế đối xứng. Ba bức tượng được sơn sơn thếp vàng, hoà trong ánh nắng tự nhiên sáng lên màu sắc rực rỡ toàn khu diện. Trên đường bên phải điện là tranh Đức Phật ngồi dưới tán cây Bồ Đề với các nữ thí chủ tới cúng dường vào giờ Ngọ. Gần đó là hai tượng Quan Thế Am Bồ Tát và tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát. Bên trái điện là tranh thuyền chở ba vị thánh với dòng chữ Hán : “Tây Phương tiếp dân Tam Thánh hoá hải thoàn” gần đó và đối xứng với tượng Quan Thế Am bên phải là tượng Tổ sư Đạt Ma và tranh của Ngài. Tại phía này có lối dẫn lên tầng trên. Gọi là tầng trên nhưng kỳ thực đây là độ cao lùi vào phía sau của núi được tận dụng làm mặt bằng chứ không phải là lầu nhà.
    Do đó, đây là một mặt bằng rộng, thoáng đạt, gió mát, du khách có thể dõi tầm mắt ra xa phía biển khơi, hoặc dễ dàng quan sát ngắm cảnh bờ biển Bãi Dứa.
    Khoảng sân thật sự là nơi văn cảnh của du khách. Ở đây người ta bày trí rất nhiều bon sai, hoa cảnh. Thấp thoáng phía sau những chậu cảnh mỹ thuật là thuyền Bát Nhã, một con đường rồng lớn cách điệu dày công trang trí và rất đẹp. Xung quan thuyền được ốp mảnh sứ men lam, men màu. Trong thuyền chứa nước nuôi cá chép. Với ý nghĩa “thuyền Phật độ chúng sinh qua giác nạn” (giúp chúng sinh tới bến bờ hiểu biết). Thuyền Bát Nhã tượng trưng cho trí tuệ Phật Giáo.
    Phía sau Bát Nhã là diện thờ Phật, mặt quay ra biển, chính diện rộng rãi dùng để dựng lại cánh rừng phổ đà, nơi Hoàng Tử siddharta bắt đầu khoác chiếc áo vàng của tu sĩ, bước vào cuộc đời tu hành khổ hạnh khi mới 29 tuổi. Cảnh cánh rừng phổ đà được thể hiện công phu đến từng chi tiết, là một bức tranh nghệ thuật giàu tính hiện thực. Hai bên phía ngoài có nhiều tượng voi, ngựa rất sống động. Chính giữa là tượng Quan Thế Âm Bồ Tát cao 3m, Gần đó có tượng Quan Thế Âm Bồ Tát thứ hai được thể hiện ở tư thế ngồi, bên cạnh có tượng Hồng Hài Nhi đứng trên toà sen. Bên trái có Long Nữ đứng hầu, phía trên là cảnh hạc ngân tràng đang bay tới, bên phải có tượng thần Dạ Lan với hai đệ tử đứng hầu hai bên. Cạnh đó là tượng Địa Tạng Vương cưỡi kỳ lân. Cách bài trí điện thờ nổi bật với sự đối xứng mà ở đó không ràng buộc sự tương đồng trong các điển tích Phật Giáo. Chính vì vậy, đối với du khách thưởng ngoạn thuần tuý sẽ luôn luôn được hấp dẫn vì sự đa dạng, phong phú, không đơn điệu như một số chùa chiền khác.
    Nổi bật trên mặt bằng trang trí nhiều hoa cảnh của sân thuyền Bát Nhã là gác chuông lớn nối liền với dãy nhà tĩnh nghỉ các tu sĩ. Gác chuông được xây theo hình vuông. 4 mái uốn cong, đầu các đao đều đắp nổi tượng đồng, trong tháp có một cái chuông lớn gọi là Đại Hồng Chung. Đại Hồng Chung được đúc bằng đồng, cao 2,8m, chu vi 3,8m, nặng tới 3500 kg. Đại Hồng Chung không những là chiếc chuông lớn nhất và nặng nhất mà còn có âm vang hay nhất trong các chuông chùa hiện có ở Vũng Tàu. Muốn thỉnh chuông phải lao một thanh gỗ dài treo lơ lửng vào vú chuông, âm thanh ngân dài và vang xa gieo một cảm giác lâng lâng khó tả khơi gợi sự đầm ấm và niềm tin về những điều tốt đẹp của cuộc sống.
    Từ gác chuông, tòan cảnh Niết Bàn như hiện ra trước mặt du khách. Đó là một công trình kiến trúc hài hòa giữa thiên nhiên và biển trời, câyxanh và tiếng chuông ngân tha thiết.
    Hằng năm, vào dịp các lễ tết, chủ nhật hay ngày rằm, ngày đầu tháng, có hàng vạn lượt khách đến Niết Bàn Tịnh Xá chiêm bái, văn cảnh. Với một phong cách kiến trúc đặc biệt tọa lạc ở một vị trí tươi đẹp của Bãi Dứa, Niết Bàn Tịnh Xá được rất nhiều người ở mọi miền đất nước mến mộ và ước mong được một lần văn cảnh, chiêm bái.

    Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật Bạch Dinh
    Bạch Dinh – một phác thảo của kiến trúc “Rô – măng cận đại”, một bức tranh hoành tráng tọa lạc bên bờ biển, một di tích lịch sử và danh thắng nổi tiếng của Vũng Tàu.
    Bạch Dinh nằm phía nam núi lớn, trên pháo đài Phước Thắng cổ xưa của triều Nguyễn, cao 27,7m so với mục nước biển, cách bờ chỉ hơn 50m, Từ thế đứng trên tiền sảnh nhìn xuống, ta cảm giác như ở tầng lầu của một cao ốc xây dựng trên mặt nước biển, có thể dõi tầm mắt ra bao quatt cả trung tâm Vũng Tàu. Và biển vào những ngày nắng đẹp, nhìn đến mút mắt vẫn không phân biệt được ranh giới trời và nước. Trời – nước hoà trong một màu xanh ngát.
    Đường Trần Phú, ranh giới của Núi Lớn và bờ biển phía Tây, nối liền Bãi trước với Bãi Dâu. Đến mũi Hòn Ngưu có hai lối lên Bạch Dinh. Một đường chạy uốn quanh dưới rừng tếch cao niên, dành cho xe hơi lên đến tiền sảnh. Một đường tam cấp cổ xưa, xây dựng cùng thời với ngôi nhà, một trăm bốn mươi sáu bậc, kín đáo dưới vườn sứ ngũ sắc thơm ngát – Vườn sứ Bạch Dinh vào loại lớn nhất và cao niên nhất trong làng bông sứ Vũng Tàu.
    Bạch Dinh cao 19 mét, có ba tầng. Tầng hầm dùng cho việc nấu nướng và hệ thống khí chứa. Tầng trệt dùng làm khánh tiết. Tại đây còn bài trí những hiện vật cổ xưa thuộc trang trí nội thất ngôi nhà, như song bình “Bách điểu châu phụng” (Sứ men trắng vẽ lam, thể hiện 100 con chim các loại với nhiều tu thế), bình cao 135cm, được làm vào cuối đời nhà Thanh, Trung Quốc, Bộ tràng kỷ Hoàng Gia ghi niên đại “Khải Định Tân Dậu” (1921) : cặp ngà ngoi Châu Phi dài 170cm, nặng 43 kg, Bộ “Tam Đa” ngũ thái “Phước – Lộc – Thọ” thanh thoát, sắc sảo đặt trên án thư …
    Tầng lầu khoáng đạt dành cho việc nghỉ ngơi…
    Dạo quanh Bạch Dinh, du khách không khỏi ngạc nhiên về tám bức tượng đá bán thân gắn trên một đường thẳng bao quanh ba mặt tường chính của ngôi nhà. Có lẽ đây là các bức tượng của ngôi nhà. Có lẽ đây là các bức tượng chân dung về những danh nhân trong lịch sử. Hầu hết tượng đều mang phong cách của nghệ thuật Hy – La cổ đại. Buổi sáng lúc mặt trời lên, hoặc khi trời chiều xế bóng, những đường viên trang trí ốp phản quang sắc vàng sáng lên lấp lánh sau những bức tượng là ký họa chân dung đối xứng trên nền chim công và sóng nước tráng lệ thật hấp dẫn và kỳ diệu …
    Trong một bài báo của người Pháp năm 1902 đã viết về Bạch Dinh ở Vũng Tàu như sau : “Ở Chân ngọn núi phía bắc. Biệt thự của toàn quyền Đông Dương được xây dựng trên độ cao hơn 20 mét mà xưa kia là một lực lượng An Nam bảo vệ, toạ lạc giữa ghềnh biển và nổi bật trắng toát lên nền tối sẫm của khu rừng. Trên sườn núi toàn là cây cối bao quanh, người ta chia cắt thành những lối đi từ khu vườn mà nhánh đường cuối cùng mắt hút vào trong núi, trong khi mặt bằng ban đầu đã biến thành những thảm cỏ xanh. Một dãy cầu thang mỹ thuật, từ trên vườn vịn xuống nối liền dinh thự với ngôi nhà có dáng dấp nhí nhảnh là nơi đặt phòng làm việc của Toàn quyền”. Được nói tới ấy có lẽ là văn phòng Bảo tàng Bà Rịa – Vũng Tàu hiện nay ? – Đ.V.H).
    Cho đến nay, người Vũng Tàu vẫn còn lưu giữ trong ký ức các tên gọi của Bạch Dinh là Dinh ông Thượng, Biệt Thự Trắng, hoặc theo gốc Tây là Villa Blanche (ghi trên đá cẩm thạch gắn ở cổng). Ngoài ra nó còn có tên Villa du Gouverneur (Dinh Toàn quyền). Theo nhiều nguồn tài liệu, Bạch Dinh được khởi công xây dựng vào năm 1898 (cùng thời, với những kiến trúc tầm cỡ như Nhà hát lớn Hà Nội, Nhà thời Đức Bà và Nhà hát lớn Sài Gòn). Như đoạn trích trên đã nói, Bạch Dinh được xây dựng dùng làm nơi nghỉ ngơi cho Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer. Tên của biệt thự Blanche – “Trắng”, là tên con gái yêu của ngài Toàn quyền. Để chuẩn bị cho một Bạch Dinh – Vũng Tàu trở thành “đất cẩm”, trước đó Paul Doumer đã nhấn mạnh : “Sự cần thiết nắm giữ Sài Gòn an toàn trong tầm tay buộc phải nâng cao việc phòng thủ sơ yếu tại Vũng Tàu như một đôn canh hùng vĩ chắn trên cửa sông Sài Gòn, chỉ huy từ xa biển và đồng bằng Nam Bộ. Bốn khẩu pháo lớn đã được thành lập… Chính vì tổ chức sơ lược này mà Toàn quyền truyền lệnh bổ sung theo kế hoạch phải làm cho Vũng Tàu trở thành một phòng luỹ vững mạnh nhất. Tất cả những chương trình thực hiện ở Vũng Tàu đều vào năm 1897”. Rõ ràng, ngoài cái chung, Paul Doumer đã lo riêng cho Bạch Dinh trước một bước.
    Bạch Dinh không chỉ thoả mãn cho Paul Doumer mà các đời Toàn quyền Đông Dương sau đó vẫn thích dùng Bạch Dinh sau đó vẫn thích dùng Bạch Dinh làm nơi nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng. Dưới thời Mỹ – Ngụy, Bạch Dinh cũng là nơi an nghỉ và hội họp của Tổng thống và các tướng lĩnh Sài Gòn … Bạch Dinh còn là nơi an trí của Thái Thượng hoàng Thành Thái, một nhà vua có tư tưởng yêu nước, chống lại ách đô hộ, bị thực hiện dân Pháp phế truất vào tháng 9 – 1907. Sau khi đưa Nguyễn vĩnh San, con trai thứ 5 của Vua Thành Thái lên ngôi (hiệu Duy Tân), thực dân Pháp đã đưa ông vào giam lỏng ở Bạch Dinh một thời gian – cũng là một kiểu mị dân của thực dân Pháp. Có lẽ vì vậy mà Bạch Dinh được nhân dân Vũng Tàu gọi là Dinh ông Thượng – dù Thái Thượng Hoàng an trí ở đây không lâu.
    Bạch Dinh – một thắng tích gắn liền với mảnh đất du lịch Vũng Tàu từ chối thế kỷ XIX đến nay, đã chứng kiến biết bao thăng trầm của lịch sử quê hương. Với nét đẹp kiểu diễm trước biển, nét đẹp của bàn tay khéo léo được làm ra từ mồ hôi, nước mắt và cả máu của tù lao động khổ sai, Bạch Dinh xứng đáng với sự ngưỡng mộ và thừa nhận của du khách – thắng tích nổi tiếng của đất du lịch Vũng Tàu.
    Từ năm 1991, nhằm nâng cao hiệu quả, phát huy tác dụng di tích Bạch Dinh và giới thiệu với đông đảo du khách đến Vũng Tàu, Bảo tàng tỉnh đã trưng bày các chuyên đề cổ vật Hòn Ca ở tầng trệt, cổ vật Bà Rịa - Vũng Tàu ở tầng lầu và sưu tập súng cổ tại sân vườn ngoài trời. Đây là những sưu tập cổ rất quý giá, có giá trị nhiều mặt, được đông đảo du khách trong và ngoài nước quan tâm.
    Hiện nay, mỗi năm Bạch Dinh đón hàng trăm ngàn lượt khách tham quan du lịch, gần 1/5 trong số đó là khách nước ngoài. Đến Bạch Dinh, du khách được thực sự thoải mái vì vẻ đẹp kiều diễm hoà lẫn trong thiên nhiên cây cỏ trong lành, tươi mát và được tận mắt thưởng ngoại những cổ vật tiêu biểu, quý hiếm …

    Di Tích Danh Thắng Thích Ca Phật Đài
    Danh thắng Thích Ca Phật Đài nằm trên đường Trần Phú ,con đường vòng quanh ôm nuí lớn ,khu Bến Đá và Bến Đình. Danh thắng Thích Ca Phật Đài gắn liền với vẽ đep5 của Bến Đá và cảnh quan thiên nhiên hướng Đông Bắc Núi Lớn .Nếu Bến Đá là bến cá sần uất ,nhộn nhịp thì Thích Ca Phật Đài trái lại ,lại là nơi tịch liêu ,đượm vẻ huyền dịu của chốn thiên thai.
    Thích Ca Phật Đài là thắng tích nổi tiếng nhất trong những thắng tích nổi tiếng của đất thắng cảnh Vũng Tàu .Hằng năm ,Thích Ca Phật Đài đón chào hàng vạn người từ khắp nơi hành hương vãn cảnh ,thả mình trong không gian bồng lai tiên cảnh nơi trấn thế.
    Vùng núi Thích Ca Phật Đài trước đây cây cối tươi tốt ,không có người sinh sống. Khoảng năm 1957 ,ông Quang Vinh ,một công chức thời Pháp tu hành gọi là Thiền Lâm Tự .Năm 1962, Giáo Hội Phật giáo nhận thấy Thiền Lâm Tự tọa lạc ở một vị trí có khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ ,là vùng đất địa tụ khí thiêng ,lại thuận tiện giao thông đi lại cho chư tăng ,Phật tử hành hương nên đã lập đồ án xây dựng qui mô Thiền Lâm Tự thành Thích Ca Phật Đài .Sau hơn 19 tháng xây dựng , ngày 15-02 năm Quí Mão (1963) ,Thích Ca Phật Đài được khánh thành với những công trình kiến trúc như ngày nay .
    Thích Ca Phật Đài là một quần thể kiến trúc điêu khắc tạo dựng theo sự tích của cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni gắn với cảnh quan thiên nhiên hài hòa ,sống động thành khu danh thắng đẹp ,mang nhiều giá trị về văn hóa ,lịch sử ,tôn giáo là một trong những danh thắng thu hút nhiều khách du lịch nhất của Vũng Tàu .
    Vào Thích Ca Phật Đài ,du khách đi qua tam quan trên có bánh xe luân chuyển đạo lý nhà Phật gọi là Pháp Luân với tám căm biểu tượng Trung Đạo .Vòng ngoài có bốn núm biểu tượng cho tứ Diệu Đế .Trên 4 cột của tam quan là 4 búp sen biểu tượng cho sự trong sạch ,tinh khiết ,thanh cao của nhà Phật .Toàn bộ khuôn viên Thích Ca Phật Đài được thể hiện trên triền núi như nửa vầng trăng ,được chia thành 3 cấp theo một hình tháp cao dần từ dưới lên ,từ 3m đến 29m so với mực nước biển .
    Bảo tháp mà du khách bắt gặp đầu tiên ,sau khi bước lên hết cấp thứ nhất ,là nơi ghi nhớ và tưởng niệm người đã có công xây dựng Thiền Lâm Tự :nhà sư Giác Pháp tức quan phủ Lê Quang Vinh .Lối lên bậc thứ hai theo hình vòng cung nhỏ nhắn ,bên trái là vách đá kỳ vĩ .bên phải dõi tầm mắt đến tận núi Nứa- Long Sơn và xa xa là cảng dầu khí với những cần cẩu vương cao nối liền với phố xá ,nhà cửa và làng cá Bến Đình ,Bến Đá ngay dưới chân núi .Thích Ca Phật Đài được bao phủ bởi một màu xanh của nhiều loại cây cao vút .Gió biển thổi rì rào .
    Đi hết đường vòng cung du khách tới độ cao 25m .Không gian trải rộng ra trước mặt .Đây là khu vực của những công trình điêu khắc được xây dựng dựa theo những sự tích cuộc đời Đức Phật Thích Ca ,từ khi ngài ra đời cho đền khi nhập cõi Niết Bàn
    Truyện kể lại rằng ,Đức Phật là con trai của quốc vương Kapilavastu, thuộc xứ Lumbini, dưới chân núi Hymalaya, phía bắc đất nước An Độ rộng lớn và tươi đẹp .Quốc vương đặt tên cho thái tử là siddharta. Sau khi chào đời ,thái tử vùng dậy bước đi bảy bước ,mỗi bước có một bông sen hiện ra đỡ lấy bàn chân .Đến bước thứ bảy ,thái tử chỉ một tay lên trời ,một tay xuống đất noí rằng :”Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn “tức là trên thì trời ,dưới thì đất ,duy có ta là quí hơn cả .Để thể hiện Đức Phật đản sinh ,ở Thích Ca Phật Đài ,người ta đã dựng bức tượng diễn tả một hài nhi đứng trên bông sen ,một tay chỉ lên trời ,một tay chỉ xuống đất ,gọi là tượng Bồ Tát đản sinh (The Statue of buddaha’Sholy Birth) tượng cao 1,2m đứng trên một bệ cao 1m.
    Thái tử lớn lên trong cuộc sống vương giả và hấp thụ nền giáo dục nhân tính vững chãi ,lão thông binh pháp ,võ nghệ cao cường và chí khí hơn người .Nhưng ngài không yên hưởng phú quí ,vui thú một mình .Ngài xin phụ vương cho đi dạo ngoài Hoàng thành .Bốn lần ra khỏi Hoàng thành ở bốn cửa khác nhau ,Ngài gặp bốn cảnh tượng :Lần đầu Ngài thấy một hài nhi chào đời .Lần thứ hai gặp một cụ gia đi ăn xin .Lần thứ ba Ngài thấy một người bệnh ,và lần thứ tư Ngài thấy một đám ma .Bốn cảnh đó ghép lại thành một bức tranh về cuộc đời con người :sinh ra ,trưởng thành ,bệnh tật và kết thúc bằng cái chết .Bên ngoài Hoàng thành là cuộc sống trầm luân ,vất vả của chúng sinh .Ngài quyết chí ra đi tìm cách giải thoát chúng sinh khỏi vòng khổ ải .Từ giã vợ và con thơ ,Ngài lên ngựa Kanthale ra khỏi hoàng cung đi đến bớ sông Niliên . Ở đây ,Ngài đã dùng kiếm cách tóc của mình để biểu thị quyết tâm sắt đá .Trao ngựa và trang phục quí giá cho người hầu ,chỉ giữ lại một tấm y vàng vắt trên người ,Thái tử bắt đầu cuộc sống tu hành .Để thể hiện lại sự kiện trên ,người ta đã dựng lên ở Thích Ca Phật Đài nhóm tượng :Thái tử cắt tóc xuất gia (tượng cao 3,3m) ,người hầu Chana (cao 1,6m) ,bạch mã (ngựa Kanthale) cao 2,3m.
    Thái tử Shiddharta xuất gia tu hành nhằm tìm phương cách cứu nhân loại khỏi bể khổ trầm luân .Người tham thiền dưới gốc Bồ Đề ,nghiền ngẫm các chân lý và cuối cùng Ngài được thấu lý đắc đạo năm 35 tuồi .Để tưởng nhớ quá trình tu luyện khổ hạnh của Đức Phật ,tín đồ Phật giáo đã tôn thờ cây Bồ Đề ,nơi Đức Phật tham thiền ,tu luyện và tìm ra nguyên lý đạo Phật .Cây Bồ Đề trong khuôn viên Thích Ca Phật Đài được Đại Đức Marada Maha The’ra chiết một nhánh từ cây Bồ Đề ở Srilanca có xuất xứ như sau: Vào thế kỷ III trước Công nguyên ,một công chúa của Hoàng Đế A Dục chiết môt cành cây mà vốn trước đây Đức Phật ngồi tu luyện ,đem về trồng tại một ngôi chùa ở Srilanca .Như vậy ,sau hai lần chiết cây từ gốc ngày xưa Thích Ca Phật Đài của chúng ta đã có một cây Bồ Đề liên quan đến cuộc đời thời trẻ của Đức Phật.
    Hình ảnh của Thái tử khi tu luyện và đắc đạo được diễn tả qua bức tượng Phật Thích Ca hay Kim Thân Phật Tổ ngồi tham thiền trên tòa sen .Đức Phật ngự trên đài hành lễ cao 4,5m .Đài được đúc bằng ci-ment hình Bát giác .Phía trên là bông sen cao 2m .Phật Thích Ca ngự trên tòa sen cao 5,1m (như vậy bức tượng có chiều cao đến 11,6m nếu tính cả đài ) .Tượng Kim Phật được thi công tại chỗ ,riêng phần đầu được đặt đúc tại Sài Gòn .Ngày 20.07.1962 khi đem gắn đầu tượng vào ,tương truyền lúc ấy bầu trời xanh ửng lên một vầng hào quang quanh mặt Phật .Được biết trong phong tượng Kim Thân có tôn tri ba viên Xá Lợi của Đức Phật .
    Sau khi đã tìm được chân lý và trở thành Phật Thích Ca ,Ngài đã truyền bá đạo Phật cho nhân loại .Ngài đến vườn Lộc Giả ( Isipatanr) và giảng đạo Phật cho các đạo sĩ và đệ tử . Để ghi nhận quá trình này người ta đã dựng ở Thích Ca Phật Đài nhà Bát giác ,tượng trưng cho Đức Phật chuyển pháp luân .Nhà Bát giác có các nhóm tượng : Phật Thích Ca ngồi trên toà sen cao 1,2m ;năm tượng đạo sĩ ngồi vây quanh nghe thuyết pháp ,mỗi tượng cao 0,6m .Những mặt khác củea toà Bát giác viết những lời răn của Đức Phật .
    Trong số các đệ tử của Đức Phật ,có hai đạo sĩ xích mích và hiềm khích với nhau ,gây chia rẽ .Đức Phật khuyên giải mãi không được ,Ngài bèn bỏ vào rừng sâu và nhập hạ luôn trong đó .Cảm phục trước giáo pháp của Ngài ,hàng ngày có một con voi và một con khỉ đi tìm kiếm hoa quả dâng lên cho Người .Sự tích này được thể hiện qua quần thể tượng cảnh voi ,khỉ dâng hoa quả cho Đức Phật .Tượng Thích Ca ngồi tham thiền trên toà sen cao 2,7m ,bệ ci-ment cao 1m .Tượng voi cao 1,6m dài 5,3m ,tượng khỉ cao 0,7m.
    Dựng nên cảnh này ,những bậc chân tu mong muốn và khuyên răn mọi người phải đoàn kết sống hoà thuận với nhau.
    Sau khi truyền xong đạo Phật cho chúng sinh ,đức Phật nhập cõi Niết Bàn . Tương truyền năm đó Ngài 80 tuổi .Khi biết mình bệnh nặng ,Đức Phật đã truyền cho đệ tử trải y cho Ngài nằm trên Thạch bàn giữa hai hàng cây Long thọ .Ngài chậm rãi giảng giải những trang kinh Phật cuối cùng cho các vị Tỳ khưu rồi từ từ viên tịch ,nhập cõi Niết Bàn .
    Tượng Phật nhập Niết Bàn ở Thích Ca Phât Đài là một tượng lớn .Đức Phật nằm quay mặt về hướng tây trên một bệ ci-ment cao 4,2m (Phật thân cao 2,4m kể từ vai xuống ),dài 12,2m .Trước tượng Đức Phật nhập Niết Bàn là bốn tượng Tỳ khưu chắp tay cung kính ,mỗi tượng cao 1,8m .Phía sau là năm tượng Tỳ khưu ngồi chắp tay hướng về Đức Phật ,mỗi tượng cao 0,7m .Tất cả chín Tỳ khưu ,tượng trưng cho số nhiều .
    Khi Đức Phật nhập Niết Bàn ,thi hài của Ngài được đưa về hoả táng tại Cauthina. Sau khi hỏa táng thi thể Ngài chỉ còn lại vài mảng xương gọi là Xá Lợi .Vua Malla để tất cả Xá Lợi vào một cái hộp bằng vàng và cung nghinh về Hoàng cung để chia cho các nước đem về thờ .Về sau vua thâu lại tất cả các Xá Lợi ,trộn thêm một ít chất kết dính rồi viên lại thành 84.000 viên để phân phát cho các vương quốc đem về thờ trong Bảo tháp .Bảo tháp Thích Ca Mâu Ni ở đây có tôn trí 13 viên Xá Lợi Đức Phật ,được dựng trong một hộp bằng vàng .Đây là niềm đại hạnh cho các phật tử Việt Nam và phật tử Vũng Tàu nói riêng .
    Tương truyền các viên ngọc Xá Lợi này do các Phật tử Mianma ,Srilanca hiến cúng .Bảo tháp ngọc Xá Lợi ở Thích Ca Phật Đài cao 17m vươn lên giữa sân hành lễ rộng khoảng 300m2 ,trên có búp sen .Lối lên Bảo tháp có đắp hình rồng ,hai bên có đôi sư tử chầu tượng trưng cho Đại Hùng –Đại Lực .Dưới chân tháp có một thạch án để thờ ,trên khắc chữ :”Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật “ (Hết lòng tôn kính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ) .Dưới bốn cạnh chân Bảo tháp bát giác đặt bốn cái đỉnh lớn trong đặt bốn nắm đất thiêng được thỉng từ Lumbini (nơi Ngài Đản sanh ) ,Buddha Caya Uruvfla (nơi Ngài thành đạo ), Isipatana (nơi Ngài truyền đạo ) và Kusinara (nơi Ngài nhập Niết Bàn ) về đây.
    Sau khi chiêm bái và văn cảnh ở vườn Lộc Giả ,Bảo tháp ,từ độ cao gần 29m có thể quan sát miền sông biền ,đầm lầy rộng lớn phía Bắc Vũng Tàu ,từ núi Nứa ,Long Sơn đến cảng dầu khí … du khách theo lối nhỏ bên phải xuống Tịnh thất Giác Pháp ,nơi ông phủ Vinh ở ,tu hành trước đây .Trong Tịnh thất bây giờ có bức tượng ,bình tro hài cốt của nhà sư Giác Pháp .
    Như trên đã nói ,Thiên Lâm Tự là ngôi chùa có trước tiên ở đây ,nhưng ngôi hiện tại được xây dựng lại cùng thời kỳ với các pho tượng điêu khắc trên .So với chùa cũ nó rộng hơn .Trong chùa thực hiện lễ nghi và bài trí tương tự một số chùa khác .tượng Phât Thích Ca ngồi kiết già cao 1,2m ,hai bên là tượng ANan và Ca Diếp đứng đầu ,mỗi tượng cao 1,2m…
    Thích Ca Phật Đài là môt quần thể kiến trúc ,điêu khắc với ý đồ diễn tả lại sự kiện chính trong cuộc đời Đức Phật ,từ khi sinh ra cho đến khi nhập cõi Niết Bàn và di cốt –những viên ngọc Xá Lợi còn lại của Ngài .Chỉ riêng điều này thôi ,Thích Ca Phật Đài đã là một công trình Phật giáo đặc trưng của Vũng Tàu nói riêng và Việt Nam nói chung.
    Sau khi chiêm bái và vãn cảnh Thích Ca Phật Đài ,du khách tham quan phòng trưng bày di tích lịch sử nhà tù Côn Đảo do Bảo tàng Bà Riạ – Vũng Tàu thực hiện .Di tích lịch sử nhà tù Côn Đảo là một di tích nổi tiếng của Việt Nam ,được nhân loại biết đến do sự đàn áp người tù dã man và sự đấu tranh anh hùng quả cảm của nhiều thế hệ tù nhân Việt Nam yêu nước đứng lên chống ngoại xâm từ 1862 đến 1975 .Phòng trưng bày là hình ảnh thu nhỏ dành cho du khách chưa có điều kiện ra Côn Đảo được khi đã một lần tới Bà Riạ – Vũng Tàu.

    Thiền Viện Thường Chiếu

    Thiền Viên mang tên một danh nhân thời Lý Thiền Sư Thường Chiếu không rõ năm sinh ,chỉ biết ông mất năm 1203 ,họ Phạm ,quê ở làng Phù Ninh .Ngài làm quan đời triều vua Lý Cao Tông ,sau từ quan ,xuất gia ,ờ chùa Tịnh Quả ,thuộc đời thứ 12 dòng đời Võ Ngôn Thông.
    Trên một khu đất rộng 52ha do mẹ con bà Huỳnh Thị Nhơn cúng dường để xây dựng các tu viện ở Long Thành .Thiền Viện Thường Chiếu có diện tích 13ha do hoà thượng Thích Thanh tứ sáng lập vào năm 1974 .Hòa thượng tên Trần Thanh Tứ,sinh năm 1924 ở Trà On ,Cần Thơ (nay là Vĩnh Long) .Ngài xuất gia năm 1949 tại chùa Phật Quang ở Bang Chang ,Thiện Mỹ ,Trà On .Bổn sư của Ngài là thượng Thích Thiện Hoa, nguyên viện trưởng viện hóa đạo GHPGVNTN .Hiện nay Ngài là thành viên hội đồng chứng minh GHPGVNTH .
    Điện phật Thiền Viện kiền lập năm 1986 ,tháp chuông dựng năm 1988. Thiền Viện đã tổ chức trùng tu ngôi thánh điện năm 1995 mở rộng tổ đường năm 1998 . Từ ngoài vào ,các công trình chính của Thiền Viện được bố trí theo trục dọc như sau: qua cổng Tam Quan là đến khu nhà khách bên phải ,giảng đường ở bên trái .Tiếp đến là một ngôi chánh điện tổ đường ,trai đường ,thiền đường ,các thiên thất .Hai bên ngôi chánh điện là bốn tăng đường phía trước có tháp chuông.
    Bên trong ngôi chánh điện có Thượng Thức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni tôn trí ở án giữa phật điện được nghệ nhân Minh Dung thực hiện vào năm 1995 .Thiền chỉ thờ một tượng Phật Thích Ca duy nhất .Thiền phái thiền tông là đường lối tu tập do tổ sư trúc lâm Thiền Nhân Tông sáng lập nhấn mạnh ở sự tu tập nội tâm,đưa đến thanh tịnh hóa bản thân khiến lòng không còn vướng bận ngoại cảnh thì tự tánh hiểu lộ. Hòa thượng Thích Thanh Từ đã khởi xướng khôi phục duy trì những đặc điểm của thiền tông Việt Nam trong việc tu tập của Tăng Ni tại ThiềnViện Thường Chiếu và Thiền Viện Trúc Lâm ở Đà Lạt Lâm Đồng.
    Hiện nay ,Thiền Viện có 128 vị tăng ni đang tu hoặc theo tinh thần thiền tông thời Trần.

    Hải đăng Vũng Tàu

    Hải đăng Vũng Tàu lần đầu tiên được xây dựng vào năm 1862, tức sau khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Bộ. Đây là ngọn hải đăng được xây dựng sớm nhất ở nước ta. Ban đầu hải đăng được xây dựng ở mm cực Nam của ni Nhỏ, ở độ cao khoảng 149m. Năm 1913, hải đăng Vũng Tàu được chuyển lên vị trí hiện tại, cao chừng 170 so với mực nước biển. Đường ô tô dẫn lên hải đăng ngoạn mục uốn quanh triền ni.
    Tháp hải đăng hình trụ, cao 18m, đường kính 3m, bên trong có cầu thang xoắn ốc lên gần tới đỉnh và có lối dẫn ra ban công bên ngoài để quan sát toàn cảnh non nước Vũng Tàu. Suốt một thời gian dài hải đăng Vũng Tàu hoạt động nhờ hệ thống dây thiều, các máy móc thiết bị được sản xuất tại Pháp. Hiện nay, hải đăng cịn lưu giữ gần như nguyên vẹn hệ thống máy móc này.
    Hải đăng Vũng Tàu ngày nay được thắp sáng nhờ bóng đèn có công suất 1.500w, chiếu xa 35 hải lý (gần 65km) nhờ hệ thống lăng kính đồ sộ, gồm những tấm kính ba cạnh hình tam gic bao quanh. Đèn chuyển động bằng môtơ điện. Hải đăng Vũng Tàu có hai tia, mỗi phút quay 2,4 vòng.
    Hải đăng nối liền với khu nhà ở của nhân viên bằng một đường hầm kiên cố. Xung quanh l khuơn vin với những cy sứ cổ thụ.
    Hải đăng quanh năm lộng gió, là vị trí tham quan, d ngoại lý tưởng của Vũng Tàu. Những năm gần đây, hầu như ngày nào hải đăng Vũng Tàu cũng có nhiều du khách thưởng ngoạn.

    Vườn Quốc Gia Côn Đảo

    Vườn quốc gia Côn Đảo là vườn quốc gia duy nhất tại Việt Nam có đầy đủ các dạng sinh thái rừng, núi, đồng bằng, biển khơi và thềm lục địa.
    Vườn quốc gia Côn Đảo rộng 15.043ha, trong đó vườn rộng 6.043ha, hệ sinh thái biển rộng 9.000ha. Rừng cây chiếm 86,4% diện tích tự nhiên của quần đảo. Vườn quốc gia Côn Đảo có 650 loài thực vật, 76 loài dược thảo, 95 loài rong biển. Động vật quý hiếm gồm 62 lồi chim, 19 lồi bị st, 18 lồi cĩ vi, 159 lồi ốc hai mảnh vỏ, 34 lồi một vỏ, 8 dạng san hơ, 84 loại rong biển...
    Thảm thực vật dày và đa dạng, tập trung nhiều loại cây gỗ của cả nước như sao miền Đông, lát hoa Sơn La, hoành đàn Lạng Sơn…
    Động vật biển Côn Đảo được các nhà khoa học đánh giá là phong phú nhất Việt Nam, với 160 loại cá biển, trong đó đặc biệt có loài cá ông sư, cá heo.
    Vườn quốc gia Côn Đảo có khoảng 30 loài động thực vật quý hiếm được ghi vào "Sách đỏ Việt Nam". Đặc biệt, vườn quốc gia Côn Đảo là khu vực sinh thái duy nhất ở nước ta có chương trình nghin cứu v bảo tồn lồi bị biển (dugon) quý hiếm.
    Từ năm 1984, Chính phủ đ quy hoạch rừng cấm Cơn Đảo trên khắp 14 hịn đảo của quần đảo Côn Lôn (1990, Côn Đảo quản lý thm hịn Anh v hịn Em, cch thị trấn Cơn Đảo chừng 27 hải lý về phía Tây) và từ ngày 31-3-1993, Thủ tướng Chính phủ đ quyết định thành lập Vườn quốc gia Côn Đảo.
    Tham di tích lịch sử cách mạng Nhà tù Côn Đảo và thưởng ngoạn sự kỳ thú của thiên nhiên Côn Đảo là niềm hạnh phúc lớn của nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.

    Côn Đảo

    Côn Đảo - huyện Côn Đảo, thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cách Tp. Vũng Tàu 180km, cách Tp. Hồ Chí Minh 230km.
    Côn Ðảo là một quần đảo gồm 14 đảo lớn, nhỏ, có địa thế hùng vĩ, có tài nguyên thiên nhiên phong phú, có nhiều phong cảnh và bãi biển đẹp cùng với di tích nhà tù nổi tiếng.
    Du khách có thể đi bằng máy bay trực thăng hoặc bằng tàu biển để ra Côn Ðảo.
    Từ giữa thế kỷ 19 đến năm 1975, Côn Ðảo bị biến thành một nhà tù khổng lồ, giam giữ hàng trăm nghìn người yêu nước Việt Nam. Tại đây, hơn 22.000 người con ưu tú của đất nước đã ngã xuống vì nền độc lập tự do của Tổ quốc. Các khu lao, chuồng cọp, chuồng bò, hầm xay lúa, bến Ðầm, Cầu Tầu, nghĩa trang Hàng Dương... mãi mãi còn đó, thể hiện tinh thần anh dũng, ý chí kiên cường của con người Việt Nam. Côn Ðảo là một chứng tích hùng hồn, tố cáo chế độ độc ác, tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc, thực dân đối với phong trào yêu nước của dân tộc ta.
    Chúng ta đến thăm Côn Ðảo, không chỉ đến thăm chứng tích "địa ngục trần gian" của thực dân đế quốc mà còn là đến với những hòn đảo đẹp luôn rực rỡ sắc biển, màu trời, những hòn đảo xanh tươi của rừng núi, của lúa, của tiêu, của dừa và của các loài thú quý hiếm...
    Những địa danh trên Côn Ðảo gắn liền với tài nguyên thiên nhiên phong phú của nơi đây. Ðảo lớn nhất là Côn Sơn với trung tâm đảo là Côn Lôn. Hòn Cau cách Côn Lôn 8km, rộng 1,8 km² là nơi có nhiều cau rừng quả to gần như quả trứng gà, hạt đỏ như son. Hòn Tre Lớn, Hòn Tre Nhỏ có rừng tre dầy, thân trắng và lớn như thân cây vầu, cây bương. Hòn Trai có nhiều trai ngọc quý. Hòn Trứng là nơi cư ngụ của nhiều loài chim biển. Hòn Bà cách Côn Lôn vài trăm mét có đỉnh núi cao 321m, trên có tảng đá to hình một người phụ nữ. Hòn Bảy Cạnh cách Côn Lôn 7km có ngọn Hải Đăng xây năm 1884, tầu thuyền trên biển ở xa trên 70km còn nhìn thấy.
    Nằm trong vùng khí hậu á xích đạo - hải dương nóng ẩm, nhiều nắng gió, Côn Ðảo có hệ sinh thái hết sức phong phú và đa dạng. Rừng Côn Ðảo xanh tốt um tùm với nhiều loại cây gỗ quý như bời lời, lát hoa, sao đen, cẩm thi, thiên niên kiện, săng đào, dầu lá bóng... Ðộng vật ở Côn Ðảo cũng có nhiều loài như chồn, sóc, kỳ đà, khỉ, hươu, nai, gà rừng..., đặc biệt có sóc mun toàn thân đen tuyền không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta. Ở đây có các loài chim quý hiếm như: chim điêu mặt xanh, én biển...
    Vùng biển Côn Ðảo có nhiều loài hải sản quý, có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, cá hàng, cá gióng, cá mập, cá heo, cá nhám, hải sâm, đồi mồi, vích…
    Cùng với việc khai thác thế mạnh về tài nguyên rừng, biển của Côn Ðảo, người dân nơi đây đang phát triển việc trồng và chế biến những nông sản có giá trị hàng hoá cao như hồ tiêu, dừa, cây thuốc... Và cũng chính những mặt hàng có giá trị cao về nông, lâm, ngư nghiệp của Côn Ðảo đã góp phần làm nên sự nổi tiếng của vùng đảo giầu đẹp này.
    Côn Ðảo cũng đang phát huy thế mạnh du lịch của mình. Trên đảo Côn Sơn có sân bay Cỏ Ống là cầu nối quần đảo với đất liền, rất thích hợp cho sự đưa đón khách du lịch. Thị trấn có rất nhiều cây bàng nên vào những ngày nắng nóng vẫn rợp bóng xanh mát. Các bãi tắm ở Côn Ðảo còn nhiều nét hoang sơ với môi trường trong lành, trong đó có những bãi rất đẹp như Hàng Dương, Phi Yến, Ðầm Trầu... bằng phẳng, sạch sẽ, nước trong xanh, có thể nhìn rõ đáy cát
    Không thể không nhắc đến một sự kiện lịch sử thú vị là năm 1284 nhà thám hiểm Marco Polo đã ghé qua Côn Ðảo.
    Côn Ðảo là địa danh du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.

    Thủ Công Mỹ Nghệ
    Từ khi Vũng Tàu trở thành thành phố du lịch vào đầu thế kỷ XX, nghề thủ công mỹ nghệ có điều kiện phát triển, đó là các nghề: Mỹ nghệ sò ốc (tạo hình, cẩn ghép tranh, phù điều, đồ gia dụng...), sơn mài, thêu đan, làm hoa, điêu khắc gỗ, đá; đắp tượng, hội họa. Đồ mỹ nghệ Bà Rịa – Vũng Tàu có giá trị ở trong và ngoài nước, đã từng xuất sang Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, Indonesia, Triều Tiên, Nhật Bản, Azerbazan, Nga,...
    Hội nghệ nhân tỉnh thành lập năm 1985, lúc đầu chỉ có 5 người. Năm 1992 đã có 40 nhóm nghề, 4 hộ tập thể, 800 lao động. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ Bà Rịa – Vũng Tàu đã giành được nhiều huy chương, bằng khen của tỉnh cũng như tại các hội chợ trong và ngoài nước. Hiện có nhiều quầy hàng thủ công mỹ nghệ được bày bán hàng ngày nằm trên đường Lê Lợi – Quang Trung.
    Để bảo vệ và phát huy truyền thống làng nghề dân tộc, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ, các cơ sở sản xuất, dạy nghề đang được phục hồi và phát triển. Những thế hệ nghệ nhân có tên tuổi như Phan Trọng Hiền, Xuân Mai, Lê Hai, Nguyễn Quang Hải, Trần Quang Hòa, Huỳnh Vĩnh Hùng, Trần Công Phận đang được những người thợ trẻ tuổi tiếp bước như Nguyễn Anh Đào, Nguyễn Đức Quang, Trần Thanh Phương, Phan Huỳnh Mai,...
    Nghề thủ công mỹ nghệ ngày càng có giá trị trong xã hội, có thu nhập khá cao nên đang có sức thu hút đối với thanh niên địa phương.

    Các Món Ăn Hải Sản
    Bà Rịa – Vũng Tàu là vùng đất vừa có núi rừng vừa có biển, nên đặc sản ở đây rất đa dạng. Thuỷ sản có những loại đặc trưng được nhiều người yêu thích. Du khách đến BRVT sẽ được thưởng thức nhiều món ăn trên khắp địa phương thuộc tỉnh :
    Đầu tiên khi vào đến Bà Rịa du khách có thể điểm tâm bằng một món ăn đã nổi tiếng xưa nay của người dân địa phương chế biến từ những sản phẩm chất liệu quê nhà, đó là món “Bánh canh Long Hương”. Món ăn này được chế biến từ hạt gạo, ngũ cốc và thịt heo được sản xuất tại đây và do được bày bán chủ yếu tại ngã ba Long Hương nên món bánh canh này được mang thêm danh từ địa phương của mình. Từ một quán ban đầu cách đây hơn 30 năm đến nay đã có nhiều quán tại khu vực này và lúc nào cũng đầy ắp khách du lịch cũng như khách địa phương. Xa hơn tí nữa khi qua cầu Cỏ May, du khách có dịp di ngang qua một quán ăn dân dã nhưng đã nối tiếng xưa nay mang tên “ Quán Nghĩa”. Trước đây, quán chuyên bán một món đặc sản : cháo hào, nhờ món này đã biến quán Nghĩa từ một quán ven đường nay trở thành một nhà hàng với đủ loại đặc sản biển rất được người dân, du khách ưa chuộng.
    Dọc quanh bờ biển thành phố Vũng tàu, quý khách sẽ gặp nhiểu quán ăn khác nữa như : quán Cây Bàng , số 69 Trần Phú, với các loại đặc sản biển tươi sống, quán như điểm hẹn cho du khách đến Vũng Tàu. Đi qua Bãi Dứa, du khách sẽ co thêm một địa chỉ tin cậy nữa là : Quán Tre. Với lối kiến trúc dân dã Việt Nam , cận kề bãi biển du khách sẽ được thưởng thức nhiều món ăn đặc sản biển như : cá chình, cá mú, tôm hùm, cua ghẹ, hào…được nuôi sống và sẵn sàng phục vụ theo yêu cầu du khách. Đi qua Bãi Trước, đối diện với Bến tàu cánh ngầm du khách sẽ dễ dàng tìm thấy quán ăn nổi tiếng nữa là : Oma Ngọc Anh . Quán do một chủ nhân trẻ tuổi với hàng chục năm chế biến hải sản sẵn sàng làm vừa lòng quý khách với các món ăn của mình.
    Lướt qua Bãi Trước đến khu vực Bãi Dứa, quý khách có dịp thưởng thức các món ăn của nhà hàng Hương Phong ngay tại bãi tắm. Đi đến mũi Nghinh Phong, du khách sẽ được chào đón bởi một khu du lịch khang trang, hiện đại với phong cảnh biển và núi rất hữu tình. Tại đây, nhà hàng Hải Phương với lối kiến trúc đẹp, lạ mắt bốn bề là biển và núi, du khách sẽ có những giờ phút thư thái với trời biển lộng gió vá các món ngon của biển.
    Dọc theo tuyến bờ biển Bãi Sau có nhiều nhà hàng, quán ăn nhưng nổi bật trong khu vực này có nhà hàng Con Sò Vàng, nhà hàng Sao Biển thuộc khu du lịch Biển Đông, các nhà hàng khác như : Vũng Tàu 1 và 2 thuộc Khu du lịch Biển Vũng Tàu…. tại đây quý khách an tâm với chất lượng món ăn, cung cách phục vụ phù hợp với lượng du khách đông, đoàn tham quan….
    Ngoài các địa chỉ trên, đến Vũng Tàu du khách có thể bắt gặp được nhiều quán ăn, nhà hàng nằm rải rác trong nội thành như: quán Thuỷ trên đường Hoàng Hoa Thám nổi tiếng với món cua rang muối xưa nay. Cũng trên đoạn đường này các quán Phố Biển, Mưa Biển, Tuyết Vân cũng là những địa chỉ với những món ăn đặc sản biển tươi sống được du khách ưa chuộng. Từ đầu đường Trần Hưng Đạo, du khách dễ dàng tìm thấy quán ăn Lan Rừng với lối kiến trúc hoang dã, thơ mộng, lịch sự và cung cách phục vụ tận tình, quán luôn được đầy ắp nhiều người đến thưởng thức. Gần đó, quán Lệ Dung là một tên tuổi mà bất cứ du khách nào đến Vũng Tàu đều muốn ghé đến, nhất là du khách nước ngoài, do quán luôn phục vụ các món đặc sản biển tươi sống và phong phú. Các quán 95, Thuyền Chài cũng là những quán với những món ăn đa dạng được biết đến lâu nay.
    * Các món ăn Âu – Á :
    Dịch vụ ăn uống trong các khách sạn cũng đa dạng, phong phú. Lưu trú tại trong Grand hotel, Palace hotel, Rex hotel, Sông Hồng hotel, du khách sẽ được phục vụ nhiều thực đơn phong phú Âu Á của các đầu bếp nổi tiếng của công ty OSC. Đặc biệt có những chương trình ẩm thực Buffet được du khách trong và ngoài nước ưa chuộng. Các nhà hàng khác như : Huê Anh, Hữu Nghị, Nam Phát, Hải Phương, Vườn Bàng, khu ăn uống tại Trung tâm thương mại phường 7 với các món ăn Hoa, Nga đã đem lại cho dịch vụ ăn uống Vũng Tàu thêm phần đa dạng.
    * Các món ăn dân dã, bình dân :
    Có mặt từ lâu tại thành phố Vũng Tàu là những món ăn dân dã nổi tiếng từ xưa nay mà du khách không thể bỏ qua đó là quán Bánh Khọt ở 14 Nguyễn Trường Tộ, F.1 là một địa chỉ nổi tiếng cùng với các quán ăn ở góc đường Hoàng Hoa Thám. Món ăn dân dã nhưng rất ngon này đã theo chân du khách về Sài Gòn và đến nay đã thấy xuất hiện những quán bánh khọt như Cô Ba, Cô Tư kèm theo thương hiệu “Vũng Tàu”. Một quán ăn khác cũng là nơi du khách đã từng biết đến hơn 50 năm nay là bánh bèo Tuyết Mai, thực khách đến đây sẽ được thưởng thức các món : bánh bèo, chạo tôm, thịt nướng….với đầy ắp các loại rau thơm đặc trưng hương vị quê hương miền Nam. Các quán ăn khác bình dân nhưng vẫn phục vụ du khách các món ăn miền biển đặc sắc như : Quán Vườn Xoài, hẻm 36 Hoàng Hoa Thám với các món đặc sản như gỏi cá mai, mục nướng luôn được du khách đến thưởng thức. Các món ăn bình dân khác như lẩu đầu cá được tập trung trên đoạn đường Nguyễn Trường Tộ gồm các quán : Quán 7 Giai, Quán 7 Chuyến, Quán 6D…đã nổi tiếng lâu nay.
    * Phố ẩm thực ban đêm :Đêm đến, sinh hoạt Vũng Tàu cũng không mất đi phần nhộn nhịp của các khu ẩm thực phục vụ quý khách đến tận khuya : khu ăn đêm Đồ Chiểu với đầy đủ các món ăn như phở, cháo, hủ tiếu, bún, bánh cuốn, mì, cơm….với giá cả phải chăng phục vụ niềm nở tạo nên một nét sinh hoạt phong phú của thành phố biển du lịch Vũng Tàu.
    * Các quán ăn trong tỉnh :
    Du khách du lịch đến Long Điền, Long Hải có dịp thưởng thức món ăn truyền thống quê hương bánh hỏi thịt nướng tại An Nhứt. Qua đến Lộc An, quán ăn Bảy Diện cũng là một địa chỉ được tín nhiệm với các món ăn hải sản địa phương. Quán đông khách nhờ các loại nguyên liệu như sò, cua, cá, tôm được nuôi ngay tại bãi biển của quán. Ghé đến khu du lịch Hồ Cốc, du khách được phục vụ các món ăn trong các dãy nhà sàn tranh che mái lá rất thơ mộng bên vùng biển hoang sơ. trước khi rời Vũng Tàu kết thúc chuyến du lịch, du khách ghé đến đảo Long Sơn có dịp thưởng thức món ăn đặc sắc của xã đảo này : các món hào và ốc móng tay, đây là hai món ăn khai thác tại chổ, được chế biến đơn giản như các món nướng, xào… là những món ăn mà du khách dùng thử một lần sẽ nhớ mãi.

    Các Bãi Biển Đẹp Tại Vũng Tàu
    Hồ Tràm
    Hồ Tràm hay còn gọi là Thuận Biên, thuộc xã Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc.
    Bãi này nối liền Nước Ngọt với Long Hải, là một bãi cát rộng, dài khoảng 20 km, có rừng phi lao rộng khoảng 2 Ha.
    Du khách có thể nghỉ ngơi trong cảnh đẹp của rừng phi lao, thưởng thức các món ăn hải sản của vùng này.Mũi Nghinh Phong
    Mũi Nghinh Phong nằm ở hướng cực nam Thành Phố Vũng Tàu. Bãi tắm này hẹp, Nước rất sạch, sóng gió dồn dập, ba bề vách đá cheo leo vô cùng hùng vĩ.
    Mũi Nghinh Phong nhô ra biển Đông trông như một chiếc đầu cá sấu khổng lồ. Quanh mũi có nhiều tảng đá lớn hình thù kỳ dị vô cùng lạ mắt, đây là nơi hẹn hò tuyệt vời cho những người thích câu cá và ưa mạo hiểm.Bãi Trước
    Bãi Trước hay còn gọi là Bãi Tầm dương,nằm giữa hai ngọn Núi Lớn và Núi Nhỏ, đột khởi từ mặt biển, theo một đường vòng cung khá đều.
    Dọc theo bãi biển có trồng nhiều dừa, dương liễu và bàng. Những hàng cây này che mát bãi cát gần biển, dưới tán cây có nhiều hàng quán xinh xắn. Các khách sạn lớn đều tập trung trên bãi biển này.
    Bãi Sau
    Bãu Sau nằm ở Đông Nam Thành phố Vũng Tầu, dài khoảng trên 8 km từ chân Núi Nhỏ đến Cửa Lấp, sạch, đẹp và rộng rãi. Đi lên phía Bắc, phi lao được trồng san sát che mát bãi tắm, phong cảnh quyến rũ, lên thơ.
    Bãi Sau tựa lưng vào những đồi cát và rừng cây, trước mặt là biển Đông. Kề ngay Bãi Sau là núi Hải Đăng, những vách đá hang Dơi và Hòn Bà.
    Phía xa ngoài biển, phía trái chân trời là dãy núi Long Hải chạy dài đến núi Kỳ Vân. Mặt biển phẳng lặng vào mùa gió nam nhưng lại sóng to, gió lạnh vào mùa gió bắc.Bãi Sau tuy xa nhưng rất đông du khách vẫn thường xuyên đến tắm.
    Sóng to, biển sạch đẹp, Bãi Sau là bãi biển đông vui, nào nhiệt nhất trong các bãi biển ở Vũng Tàu.
    Bãi Dứa
    Bãi Dứa cách bãi trước chừng hơn một cây số.
    Đây là một bài biển đẹp nằm dưới chân Núi Nhỏ, ở đây có những mỏm đá lởm chởm màu đen láy và những bụi dứa dại mọc rải rác trên bờ tạo cho cảnh biển thêm vẻ hoang sơ, tự nhiên.
    Bãi Dâu
    Bãi Dâu nằm ven Núi Lớn và cách bãi trước khoảng 3 km. Bãi biển này hẹp, nông nhưng rất sạch sẽ.
    Hai đầu bãi biển có nhiều mỏm đá nhô ra biển, sau lưng bãi địa hình lòng chảo, cây cối um tùm bao bọc, tựa lưng vào triền Núi Lớn. Nhiều người thích tắm ở Bãi Dâu do không có những luồng xoáy nguy hiểm.
    Nhìn lên triền Núi Lớn, du khách thấy tượng Đức Mẹ lộ thiên giữa cảnh núi rừng hùng vĩ.

    VĂN HOÁ TIỀN SƠ SỬ BÀ RịA - VŨNG TÀU
    TRONG KHÔNG GIAN TIỀN SỬ ĐÔNG NAM BỘ
    PHẠM QUANG MINH

    Bà Rịa - Vũng Tàu một tỉnh miền biển vùng Đông Nam Bộ có nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên. Những tài liệu địa chất cho biết sau thời kỳ kiến tạo lâu dài, phức tạp hằng triệu năm, đến thời biển thoái cách nay hơn 3000 năm, cảnh quan địa hình cơ bản đã ổn định như ngày nay. Đó là điều kiện thuận lợi để diển ra quá trình chuyển dịch của các nhóm cư dân tù vùng cao xuống vùng thấp.
    Văn hoá tiền sơ sử Bà Rịa - Vũng Tàu có nguồn gốc và phát triển trong mối quan hệ gắn bó với truyền thống văn hoá lưu vực sông Đồng Nai. Vào thời kỳ này, cư dân cổ Đông Nam Bộ, mở rộng địa bàn c ư trú trên nhiều vùng địa hình, sinh thái khác nhau. Họ chuyển dịch từ vùng đất cao xuống khai phá sinh sống trên vùng đất đầm lầy ven biển.
    Riêng đối với Côn Đảo tuy cách đất liền tới 97 hải lý, nhưng khoảng 2000 đến 3000 năm cách ngày nay đã là một khu vực cư trú quan trọng của nhóm cư dân thuộc văn hoá Sa Huỳnh.
    Mặc dù đến nay trên địa bàn Bà Rịa Vũng Tàu chưa phát hiện dấu tích của con người và di vật thời đại đá cũ đến hậu kỳ đá mới. Nhưng những phát hiện khảo cổ học liên tục về giai đoạn sơ kỳ thời đại sắt (sắt sớm) trong những năm gần đây, mang lại nhận thức mới thời kỳ tiền sơ sử và những giá trị văn hoá độc đáo của thời kỳ này trên đất Bà Rịa - Vũng Tàu.
    Trong đó:
    - Nhóm di chỉ khảo cổ Gò Cá Sỏi và các gò ven sông Thị Vải, đảo Long Sơn phân bố trên vùng ngập mặn triền sông, cửa biển.
    - Nhóm di chỉ Bư ng Bạc, B ưng Thơm, phân bố trên vùng đầm lầy cận biển.
    - Nhóm di tích phân bố trên triền cát hải đảo Côn Đảo, được xem là những nhóm di tích tiêu biểu, do tính chất quy mô khu di tích và những đặc trưng độc đáo về loại hình di tích, di vật. Đây là cơ sở khoa học quan trọng giới thiệu, trưng bày về văn hoá tiền sơ sử Bà Rịa - Vũng Tàu.
    Những sưu tập hiện vật quan trọng từ những di tích được khai quật đa dạng về loại hình, chất liệu: kim loại, đồ đá, đồ gốm, đồ gỗ, dấu tích động thực vật. Trong đó đặc trưng nổi bật là các công cụ đá, những khuôn đúc, vòng trang sức, gốm tô vẽ màu, công cụ là đồ gỗ và di tích nhà sàn, mộ vò và đồ tuỳ táng… nhiều di vật có giá trị về loại hình, chất liệu lần đầu tiên đư ợc tìm thấy ở khu vực. Những di vật đó vừa mang những nét chung với truyền thống văn hoá lưu vực sông Đồng Nai, Sa Huỳnh và quá trình giao lưu tiếp xúc văn hoá trong vùng, trong khu vực Đông Nam Á.
    Gò cá Sỏi, Bưng Bạc, Bưng Thơm, Hòn Cau, Côn Đảo là những minh chứng hiển nhiên về những “làng” cổ cư trú trên địa bàn cận biển. Từ những làng cổ này, có thể nghiên cứu để giới thiệu về các loại hình hoạt động kinh tế sản xuất, đời sống vật chất, tinh thần thần. Trong đó, khác với những làng nông nghiệp thuần tuý ở các tiểu vùng văn hoá khác, Bưng Bạc - Bưng Thơm được xem là những “làng nghề” cổ truyền thống trên cơ sở kết hợp sản xuất nông nghiệp và hoạt động thủ công.
    Thông qua con đường giao lưu tiếp xúc kinh tế - văn hoá, họ thay đổi tập quán tự cung tự cấp để tồn tại và phát triển. Những sản phẩm của họ có thể đã được dùng làm hàng hoá trao đổi với khu vực xung quanh. Đời sống vật chất và tinh thần của họ đã phát triển ở một trình độ nhất định..
    1. Cộng đồng cư dân thời sơ kỳ kim khí.
    Hoạt động khảo cổ học được biết đến gần một thế kỷ nay, các nhà nghiên cứu khảo cổ, địa chất người Pháp đã có những thành tựu bước đầu nghiên cứu tiền sơ sử Bà Rịa – Vũng Tàu và miền Đông Nam Bộ. từ sau 1975, hoạt động nghiên cứu khảo cổ tiến hành trên quy mô lớn, nhịp điệu mạnh hơn và đạt được những thành tựu quan trọng, bước đầu làm rõ được một số giai đoạn trong thời tiền sơ sử.
    Vào hậu kỳ đồng, sơ kỳ sắt,. cách nay khoảng 3000 năm, tại Bà Rịa – Vũng Tàu đã xuất hiện những lớp cư dân mới từ vùng cao, theo dòng sông Đồng Nai về hạ lưu, Họ đã khởi dựng những làng trên các gò đất cao ven sông Thị Vải, Những làng nông nghiệp trù phú trên vùng đồng bằng ven biển ở Bưng Bạc, Bưng Thơm và cả ở Côn Đảo xa khơi.
    Đất Bà Rịa – Vũng Tàu từ thiên nhiên hoang sơ, nguyên thủy đã dần dần trở thành địa bàn kinh tế dân cư trù phú, góp phần tạo dựng một truyền thống văn hoá lưu vực sông Đồng Nai phát triển trong sơ kỳ thời đại sắt. nhiều di vật khảo cổ học tìm thất ở Bà Rịa – Vũng Tàu đã khẳng định đỉnh cao của tiến trình phát triển văn hoá, kỹ thuật vào khoảng thời gian giữa thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên.
    Từ một vùng đất tưởng chừng qúa hiếm di tích khảo cổ. Những phát hiện liên tục bởi các cuộc điều tra, khảo sát, khai quật khảo cổ trong những năm gần đây, mang lại nhận thức mới về nghiên cứu thời tiền sơ sử trên đất Bà Rịa – Vũng Tàu. trong đó: Nhóm di tích khảo cổ Bưng Bạc, Bưng Thơm; Nhóm di tích Gò Cá Sỏi và các gò ven sông Thị Vải, Long Sơn; Nhóm các di tích Côn Đảo được xem là những nhóm di tích tiêu biểu, do tính chất quy mô khu di tích và những đặc trưng độc đáo về loại hình di tích, di vật. Do vậy việc trưng bày ở chủ đề này sẽ tập trung giới thiệu những đặc trưng cơ bản về những làng cổ sơ khai với những di vật và tài liệu diễn tả sinh hoạt kinh tế, đời sống vật chất, tinh thần của các cộng đồng cư dân cổ.
    2. Làng cổ Bưng Bạc, Bưng Thơm
    Hai làng di tích khảo cổ học Bưng Bạc, Bưng Thơm nằm kề gần nhau về cơ bản đều có những đặc trưng di tích, di vật giống nhau, có thể sắp xếp chung cùng trong một loại hình di tích và văn hoá. Chúng được biết đến như một loại hình di tích tiêu biểu, phân bố trên vùng đầm lầy cận biển của vùng Đông Nam Bộ thuộc giai đoạn sơ kỳ thời đại sắt.
    Với diện tích khai quật, đào thám sát 907m2, có thể nói Bưng Bạc, Bưng Thơm là những di tích được nghiên cứu trên quy mô lớn nhất ở Bà Rịa -Vũng Tàu và Đông Nam Bộ cho đến nay. Những sưu tập hiện vật quan trọng gồm nhiều chất liệu: Kim loại, Đồ đá, Đồ gốm, Đồ gỗ…Trong đó đặc trưng nổi bật là những khuôn đúc vòng trang sức, gốm tô, vẽ màu.. vừa mang nét chung với truyền thống văn hoá lưu vực sông Đồng Nai và quá trình giao lưu tiếp xúc văn hoá trong vùng.

    Sự phân bố rộng của dấu tích nhà sàn và di vật cho thấy tính chất quy mô, phạm vi cư trú của những làng cổ thời tiền sơ sử ở vùng cận biển Đông Nam Bộ.
    Đặc điểm cư trú: Làng bố trí khá rộng, ở nhà sàn trên đầm lầy di chuyển bằng thuyền (độc mộc). Đời sống kinh tế: sản xuất nông nghiệp: Biết trồng lúa, kết hợp khai thác tự nhiên hái lượm, săn bắt. Sản xuất thủ công: Là “xưởng” chế tác khuôn đúc, vòng tay đá, biết đúc đồng, chế tác đồ gốm mà tiêu biểu là kiểu gốm bát bồng, đồ có chân đế cao, nghề mộc ở trình độ phát triển nhất định. Quan hệ: Có những nét tương đồng với cư dân Dốc Chùa về kỹ thuật đúc đồng, tương đồng cư dân Cái Vạn, Cái Lăng về cách sống trên nhà sàn. Kỹ thuật vẽ màu trên gốm, sản xuất bát bồng là chính, sản xuất vòng tay đá, việc có quặng nguyên liệu để đúc đồng chứng tỏ người Bưng Bạc, Bưng Thơm biết giao lưu, trao đổi rất sớm có thể tận Thái Lan, Cămpuchia.
    Niên đại: 2500 đến 2700 năm cách ngày nay.
    3. Làng cổ ven sông Thị Vải (Gò Cá Sỏi, Gò Cây Me)
    Cư dân Gò Cá Sỏi, là những nhóm người đầu tiên khai phá vùng đất ngập mặn ven biển ở Bà Rịa-Vũng Tàu. Nguời Gò Cá Sỏi sinh sống trên gò cao trong sinh thái rừng ngập mặn giống với nhóm di tích Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh).
    Do nằm trên một bình địa thấp, địa bàn cư trú của cư dân Gò Cá Sỏi vẫn bị ảnh hưởng của chế độ thủy triều. Họ sinh sống chủ yếu bằng phương thức kinh tế khai thác sản vật từ biển. Cùng khối lượng lớn vỏ nhuyễn thể sò, ốc biển tìm thấy trong di tích đã minh chứng điều đó.
    Đặc điểm cư trú: Vùng gò nổi ven sông Thị Vải, nơi chịu tác động của chế độ thủy triều. Đời sống kinh tế: Kinh tế khai thác tự nhiên là chính: săn bắt, khai thác sản vật biển, đánh cá, tàn tích các vỏ ốc, sò điệp dày đặc bên cạnh bếp lửa cùng những công cụ chày đập đơn giản chứng tỏ điều đó. Sản xuất thủ công: Biết chế tác đồ gốm, nhưng còn ở trình độ thấp, gốm chỉ nặn bằng tay, chưa biết kỹ thuật bàn xoay, hoa văn đơn giản, chủ yếu là khắc vạch. Đồ đá là công cụ chủ yếu, sử dụng: Ghè đập, chày, bàn nghiền. Niên đại: Khoảng 3000 năm cách ngày nay.

    4. Khu mộ táng Giồng Lớn (Long Sơn)
    Táng thức là những tư liệu quan trọng để nghiên cứu đời sống tinh thần của người xưa. Ngoài khu mộ vò tại Côn Đảo. Di chỉ Giồng Lớn, xã Long Sơn (được đánh giá như loại hình Giồng Phệt, Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh). Cuộc khai quật Giồng Lớn, xã Long Sơn vào tháng 4 năm 2003 và tháng 6 năm 2005 cho thấy trên một địa điểm khu mộ táng, có cả mộ nồi, mộ đất cùng nhiều di vật được chôn theo. Có thể nhận xét một số đặc điểm:
    - Khu mộ táng khá biệt lập nơi cư trú: Trong khi vào thời buổi này, việc chôn người chết bằng vò, chum lớn khá phổ biến ở những địa bàn ảnh hưởng văn hoá Sa Huỳnh gần kề, thì tại Bà Rịa -Vũng Tàu chưa phát hiện loại hình mộ chum.
    - Những di vật chôn theo khá phong phú, đa dạng, cho thấy đời sống vật chất tinh thần của cư dân Long Sơn bấy giờ đã đạt một trình độ phát triển khá cao, nhờ sự phát triển tự thân, nội tại và giao lưu tiếp xúc kinh tế văn hoá trong khu vực…
    - Có thể khẳng định tính chất của di tích Giồng Lớn là một khu mộ táng, bao gồm hai loại hình: mộ nồi và mộ đất, trong đó mộ đất chiếm ưu thế. Quy mô khu mộ táng được định vị trên sườn phía Nam của Giồng Lớn, diện tích trong khoảng 1000m2 (chiều dài khoảng 50m, chiều rộng khoảng 20m).
    - Vấn đề chủ nhân khu mộ táng Giồng Lớn: chủ nhân của khu mộ rất có thể chính là chủ nhân của các di tích Giồng Ông Trượng, Bãi Cá Xỉu, Bãi Cá Sóng trên đảo Long Sơn.
    - Với 2.310 hiện vật thu được trong các đợt khai quật (lần 1: 672 hv, lần 2: 1.638 hv) di tích Giồng Lớn đã có một sưu tập lớn rất phong phú về chất liệu và loại hình. Đây là một sưu tập quý giá có giá trị nhiều mặt trong nghiên cứu và trưng bày. Đồ trang sức ở Giồng Lớn được làm từ nhiều chất liệu khác nhau như: thuỷ tinh, đá quý và vàng... có được chắc chắn thông qua con đường giao thương buôn bán.
    - Về văn hóa, qua di tích và di vật có thể xếp di tích Giồng Lớn thuộc văn hoá Óc Eo. Về niên đại, đồng tiền Ngũ Thù thời Tây Hán (206 TCN đến năm 25 SCN) cho phép khẳng định niên đại của di tích này vào khoảng trên dưới 2.000 năm cách ngày nay.
    5. Làng cổ Hòn Cau
    Đặc điểm cư trú: Sống trên cồn cồn ven biển. Là đảo có nguồn nước ngọt, thung lũng hẹp nhưng có điều kiện sản xuất trồng trọt. Làng cổ Hòn Cau có mối liên hệ với các làng cổ trên đảo Côn Đảo, thuộc văn hoá Sa Huỳnh. Đời sống, kinh tế: Kinh tế khai thác tự nhiên là chính: Săn bắt, khai thác sản vật biển, biết đánh cá bằng lưới, chì lưới được làm bằng đá, san hô đục lỗ để buộc dây lưới (có thể dây rừng) tàn tích các vỏ ốc núi, xương vích dày đặc bên cạnh bếp lửa cùng những công cụ chày đập đơn giản chứng tỏ điều đó.
    Sản xuất thủ công: biết chế tác đồ gốm, trang trí nhiều kiểu hoa văn khắc vạch, chạm, nhiều gốm tô thổ hoàng. Đồ đá là công cụ chủ yếu, nhiều công cụ ghè đẽo thô sơ cùng tồn tại với những công cụ mài tinh xảo. Đặc biệt nhiều công cụ, vũ khí được làm từ xương vích. Niên đại khoảng 2500 năm cách ngày nay.
    6. Làng cổ Côn Đảo và khu mộ vò cồn Hải Đăng, Miếu Bà
    Là một quần đảo cách xa đất liền, những di vật đa dạng, phong phú, mức độ dày đặc các di tích khảo cổ học tại đây cho thấy vào sơ kỳ thời đại kim khí, con người đã khai phá, lập nên những làng nông nghiệp trù phú. Các làng cổ Côn Đảo phân bố trên những cồn cát quanh hồ nước ngọt (hồ Sen) ở vùng trung tâm đảo. Đến nay tuy chưa khai quật một di chỉ cư trú nhưng đã phát hiện nhiều dấu tích, di vật đồ đá, gốm cổ thuộc thời đại kim khí. Các di tích tiền sơ sử Côn Đảo ảnh hưởng văn hoá Sa Huỳnh.
    Khu mộ vò cồn Hải Đăng, Miếu Bà có quy mô khá rộng và mật độ dày đặc. Hiện vật chôn theo bên trong hoặc bên ngoài vò là những công cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt của họ như: Nồi, bình, bát, đồ trang sức.. mộ vò, mộ chum là một táng thức độc đáo của văn hoá Sa Huỳnh.
    Việc phác dựng lại thời tiền sơ sử Bà Rịa – Vũng Tàu là rất khó khăn vì hạn chế về tư liệu, tuy nhiên với những phát hiện khảo cổ học có được, việc phục dựng, cung cấp thông tin về những giá trị lịch sử, văn hoá thời kỳ này, cần huớng tới một cái nhìn tổng thể, tìm thấy những đặc trưng, đặc thù của Bà Rịa – Vũng Tàu thời kỳ tiền sơ sử.


    Vườn quốc gia Côn Đảo - Bà Rịa, Vũng Tàu

    Vườn quốc gia Côn Đảo - Bà Rịa, Vũng Tàu Vườn Quốc gia Côn Đảo bao gồm 14 đảo lớn nhỏ được rừng nhiệt đới che phủ và các rạn san hô bao bọc với những sắc màu rực rỡ của sự sống.Vườn nằm ngoài khơi phía Đông Nam Việt Nam, được thành lập là rừng cấm năm 1984 và trở thành vườn quốc gia năm 1993. Vườn có diện tích bảo vệ gần 20.000ha cả đất liền và biển và 20.500 ha vùng đệm, và là một trong hai vườn quốc gia duy nhất tại Việt Nam bảo tồn cả rừng lẫn biển.Tại đây có hơn 882 loài thực vật, 144 loài động vật trong đó có 18 loài quý hiếm. Hòn Trứng và Hòn Tre Nhỏ thật sự là hai sân chim lớn trên biển. Ở Việt Nam, Bồ câu Nicoba, Gầm Ghì trắng, Chim Điên mặt xanh, Chim Nhiệt Đới là những loài chim chỉ tìm thấy ở Côn Đảo. Có ba loài động vật đặc hữu của Côn Đảo đó là Sóc đen Côn Đảo, Sóc Mun, và Thạch Sùng Côn Đảo.Sự cô lập của Côn Đảo cũng đã tạo nên sự đa dạng vô cùng phong phú của một số loài cá và san hô, thêm vào đó là các hệ sinh thái rừng ngập mặn và cỏ biển.Côn Đảo có mật độ ốc đá lớn nhất thế giới. Tiềm năng của Vườn rất phong phú và đa dạng với hơn 1.300 loài sinh vật biển. Một trong những nỗ lực quan trọng nhất của Vườn là sự phát triển của Chương trình bảo tồn rùa biển bắt đầu từ năm 1995. Vích và Đồi mồi (Chelonia mydas và Eretmochelys imbricata) thường lên đẻ ở các bãi biển đã được liệt kê là các loài bị đe dọa tuyệt chủng ở Việt Nam. Côn Đảo cũng bảo vệ một quần thể nhỏ loài Dugong (Cá Cúi) hay Bò Biển (Dugong dugon). Loài này bị đe dọa tuyệt chủng nghiêm trọng và quần thể ở đây có thể là quần thể cuối cùng ở Việt Nam. Với tiềm năng đa dạng sinh học rừng và biển, Vườn Quốc gia Côn Đảo đã được Ngân hàng Thế giới đưa vào danh sách “các vùng có ưu tiên khu vực cao nhất “ trong hệ thống các khu bảo tồn biển toàn cầu.

    Ý nghĩa tên gọi thành phố Vũng Tàu

    Thành phố Vũng Tàu được xem là trung tâm du lịch biển đầu tiên của nước Việt Nam, được thành lập vào ngày 1/5/1895. Trước khi được thành lập, thành phố Vũng Tàu có tên gọi là Tam Thắng để ghi lại sự kiện thành lập ba ngôi làng đầu tiên ở đây: Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam. Tam Thắng là biến âm của hai chữ Tam Thoàn - tức Tam Thuyền là ba chiếc thuyền do ba viên đội chỉ huy có nhiệm vụ bảo vệ dân và con đường thủy vào Gia Định chống lại bọn cướp biển. Năm 1882, Vua Minh Mạng ban thưởng phẩm hàm và cấp đất cho họ khai thác, lập nên ba làng Thắng như trên để làm ăn, sinh sống.
    Về ý nghĩa tên gọi Vũng Tàu, có ý kiến cho rằng vùng đất này có ba mặt giáp biển, rất thuận lợi cho tàu bè đậu tránh gió trước khi vào Gia Định, nên được gọi là Vũng Tàu. Khi người Bồ Đào Nha đến đây, họ lại đặt tên cho nơi đây là Oporeto CIN CHAGAS VERDAREIRAS (có nghĩa là " Năm vết thương của Chúa Cứu Thế"). Sở dĩ gọi như vậy bởi vì Vũng Tàu, nhìn từ ngoài khơi vào, người đi biển thấy có năm ngọn núi, biểu tượng của niềm vui, của sự cứu giúp đối với họ. Đó là năm ngọn núi có tên là Kỳ Vân, Núi Dinh, Núi Nứa, Núi Lớn, Núi Nhỏ. Còn trong cuốn hải trình nổi tiếng Biển Phương Đông của một nhà hàng hải Pháp thì Vũng Tàu lại có tên là Cap Saint Jacques. Từ thời Việt Nam thuộc Pháp, Vũng Tàu còn được gọi là Ô Cấp hoặc Cấp - phiên âm của chữ Pháp Au Cap trong câu "Aller au cap"(đi ra đất mũi).
    Ngày nay, thành phố Vũng Tàu là một trung tâm du lịch tuyệt đẹp, đầy quyến rũ bởi sự kết hợp hài hòa giữa quần thể thiên nhiên như biển, núi cùng các công trình kiến trúc đô thị và tôn giáo khác.

    Tên gọi Bà Rịa:

     núi cao 84m ở cách huyện Phước An 8 dặm về phía Đông Nam, thuộc tỉnh Biên Hòa, trông xuống chợ Long Thịnh, thuộc huyện Châu Thành , tỉnh Đồng Nai, nay thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
    + Tỉnh ở Nam Kỳ do Pháp lấy đất phường Phước Tuy, tỉnh Biên Hòa lập ra năm 1899 gồm 8 tổng. 64, sau thành 10 tg: Long Xương , Khánh Nhân, Phước Hưng Hạ, Phước Hưng Thượng, Long Cơ, An Trạch, An Phú Hạ, An Phú Tân, An Phú Thượng, Vũng Tàu, tỉnh lị Bà Rịa, cách Vũng Tàu 20km về phía Đông Bắc trên quốc lộ 15. Nguyên là đất của nước Bà Lị. Nay tỉnh Bà Rịa cùng với tỉnh Biên Hòa, tỉnh Long Thành và tỉnh Phước Long của chính quyền Sài Gòn hợp nhất lại thành tỉnh Đồng Nai. Quê Huỳnh Tịnh Của và Vũ Thị Sáu. Xí nghiệp đông lạnh Bà Rịa, Nại Muối. Năm 1991 thành lập tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu gồm đặc khu Vũng Tàu, Côn Đảo và 3 huyện Long Đất, Châu Thành và huyện Côn Đảo.
    + Thị xã của Bà Rịa Vũng Tàu. Nhà máy điện chạy bằng dầu khí lớn nhất nước ta.

    Theo Trịnh Hoài Đức ,một học giả hàng đầu nghiên cứu về lục tỉnh Nam Kì thì địa danh Bà Rịa bắt nguồn từ tên của vương quốc Bà Lỵ ,Bà Lịa ,Bà Lợi xưa .Ông cho rằng Bà Rịa tức là nước Bà Lợi thuở xưa tồn tại khoảng trước thế kỷ thứ 7 ,sau khi quân Chân Lạp thôn tính tên nước này đã được thư tịch cũ của đời đường ghi lại.
    Truyền thuyết thứ nhất:có một truyền thuyết khác của nhân dân trong vùng giải thích nguồn gốc địa danh Bà Rịa là để tưởng nhớ công đức của bà Nguyễn Thị Rịa. Bà Rịa người gốc Phú Yên theo gia đình vào Nam tìm đất sinh sống từ năm 1680 tại làng Mỹ Khê huyện Long Đất .Bà Rịa cùng nhân dân khai phá rừng lập ruộng vườn, xây dựng xóm làng. Năm 1698 ,Trưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý đất phía Nam ,khi quân đổ bộ lên nơi đây bị một trận lũ lớn các cấu đều bị trôi ,đường đi lại bị hư hỏng . Bà Rịa đã vận động nhân dân trong vùng tu sửa đường xá ,bắt lại các cây cầu để đưa quân Chúa Nguyễn qua sông . Cảm kích về công trạng này ,Chúa Nguyễn đã ra sắc phong cho Bà Rịa “Hàm Nghè” danh dự và cho Bà được mang họ Chúa Nguyễn . Năm 1759 Bà Rịa qua đời vì không có con cái nên tất cả của Bà đều chia cho dân nghèo .Dân làng đã nhớ ơn đã góp công sức lập miếu Bà bên đường nay thuộc địa phận Tam Phước huyện Long Đất.
    Truyền thuyết thứ hai:theo tác giảa người Pháp trong “Monographie de Baria” viết năm 1902 cho rằng địa danh Bà Rịa xuất phát từ tên người đàn bà là Nguyễn Thị Rịa ,đã khai phá đất hoang lập làng Phước Liêu vào năm 1789 tức là khoảng thế kỷ 18 .Nhưng có lẽ cách giải thích địa danh Bà Rịa xuất phát từ tên người đàn bà Nguyễn Thị Rịa được nhiều người đồng tình nhất .
    Theo phó tiến sĩ sử học Đinh Văn Hạnh đã dẫn tài liệu của nhà khảo cổ người Pháp (Ông Mallaret ) cho rằng địa danh Bà Rịa bắt nguồn từ tên gọi Khơme của một cái bàu ở Long Điền là Bà Rày hay Bà Ray ,chuyển sang âm Việt đọc chệch đi thành Bà Rịa.
    Tóm lại Bà Rịa vốn là tên đất (Bà Rày ,Bà Ray) tên một vương quốc (Bà Lỵ ,Bà Lịa ,Bà Lợi) ,và rất có thể trùng tên với một người có công xuất hiện sau này là Bà Nguyễn Thị Rịa .Tuy những truyền thuyết này có thể đúng cũng có thể sai nhưng vẫn là những truyền thuyết đẹp được nhân dân Bà Rịa Vũng Tàu nói chung và thị xã Bà Rịa nói riêng lưu truyền cho các thế hệ sau này.

    Tên Gọi Côn Đảo

    Côn Lôn hay (Côn Đảo):thuộc Đông Nam Bộ; người địa phương xưa kia gọi là Côn Nôn, như người nói ngọng, sau này đọc là Côn Lôn. Trước đây thuộc tỉnh Gia Định, năm 1893 Minh mạng đổi thuộc tỉnh Vĩnh Long; sau thuộc tỉnh Trà Vinh, hồi thuộc Pháp. Chính phủ VNDCCH đổi lại là huyện Côn Sơn thuộc tình Hậu Giang, sau đổi thuộc Thành phố HCM; rồi sát Nhập với Vũng Tàu thành đặc khu VŨNG TÀU - CÔN ĐẢO trực thuộc Trung Ương.

    Giả Thuyết Khác:
    Tên Côn Đảo có nguồn gốc Mã Lai từ chữ "Pulau Kundur" nghĩa là "Hòn Bí". Người Âu Châu phiên âm là "Poulo Condor". Sử Việt thì gọi là "Đảo Côn Lôn" có thể cũng từ "Kundur" mà ra.
    Riêng tên tiếng Miên của đảo là "Koh Tralach".

    CÔN ĐẢO, Được các thủy thủ phương Tây gọi là Poulo Condore, trải qua 1 thời gian dài ít người biết đến cũng như không là điểm đến của du khách quốc tế. Từ năm 1862 đến 1975, quần đảo trở thành những ngôi nhà rộng lớn và nhà tù tàn bạo dành cho những kẻ chống lại chủ nghĩa thực dân Pháp và chế độ Sài Gòn cũ.
    Ngày nay, Côn Đảo là thiên đường cho du lịch tự nhiên, những kẻ đi tìm hòa bình và cái đẹp, chẳng khác gì tuần trăng mật. Nơi đây, bạn có thể lang thang để cảm nhận sâu sắc về quá khứ như thám hiểm những khu rừng yên tĩnh, những bãi biển cát trắng, những dải san hô đầy màu sắc và thế giới chói lọi dưới mặt nước. Không khí nơi đây yên bình và thanh thản, tránh xa khỏi cuộc sống hối hả và bon chen nơi thành phố.
    Lịch sử :
    1284 : Marco Polo, người yêu thích phiêu lưu đã đỗ lại Côn Đảo để tránh một cơn bão.
    Đầu những năm 1500 : thủy chiến Bồ Đào Nha đến Côn Đảo đầu tiên.
    1783 : chúa Nguyễn Ánh đến ẩn náu tại Côn Đảo.
    28-11-1787 : hiệp ước Versailles được ký giữa vua Louis 16 và Pigneau De Béhaine, người nhân danh tướng Nguyễn Anh, công nhận quyền lợi của Pháp ở Côn Đảo.
    28-11-1861 : Pháp chiếm giữ và sử dụng Côn Đảo.
    20-3 đến 19-4-1895 : Tại Côn Đảo, Camille Saint Saens, nhà soạn nhạc nổi tiếng, hoàn tất 3 chương cuối bản opera nổi tiếng Brunenhilda.
    1862 đến 1975 : Côn Đảo là nhà tù dành cho những ai chống lại thực dân Pháp và chế độ Sài Gòn cũ.
    1975 đến nay : Côn Đảo vẫn là 1 hòn đảo êm ả cho những ai yêu thiên nhiên và là nơi gặp gỡ cho những tù nhân trước kia.
    Vị trí địa lý
    Nằm ở hải lý 117 phía Nam thành phố Hồ Chí Minh, và cách Singapore 600 hải lý, Côn Đảo là quần đảo quyến rũ trong 16 hòn đảo kín đáo dày đặc thực vật và được bao quanh bởi những vùng biển cạn (blue-green). Côn Sơn là hòn đảo rộng nhất với diện tích 51.5km2. Với chiều dài khoảng 15km và 1 tới 3km chiều rộng, và ấn tượng nhất là những đỉnh đá granite với tầm với trên 577m. Côn Đảo nằm ở 106036’ kinh độ Đông và 8046’ vĩ độ Bắc.
    Nằm gần xích đạo, Côn Đảo có khí hậu nhiệt đới. Có 2 mùa trong năm : mùa khô (từ tháng 12 tới tháng 4 có gió mùa đông bắc) và mùa mưa (từ tháng 5 tới tháng 11 có gió Tây Nam). Lượng mưa hàng năm là 2.100mm (cao nhất tháng 10) và nhiệt độ trung bình là 270C. Đến Côn Đảo bằng máy bay là thích hợp nhất trong năm, nhưng thời gian thích hợp nhất để đi bằng tàu là từ tháng 3 tới tháng 7, khi gió nhẹ nhàng và biển êm ả.
    Điểm tham quan

    Lặn ngắm san hô tại Hòn Tre:Đảo Hòn Tre nằm cách đảo chính khoảng 1 giờ đi thuyền. Bạn có thể thấy được tại đây rất nhiều loại san hô cũng như các loại cá rất ấn tượng
    Rừng Ông Đụng: Tham quan vườn quốc gia Côn Đảo bằng hình thức đi bộ một khoảng ngắn xuyên qua rừng mưa nhiệt đới, đến bãi biển Ông Đụng của bờ bên kia của đảo. Nếu sức khỏe cho phép, bạn có thể tắm biển và ngắm san hô bằng ống thở tại đây.
    Bình Minh tại Mũi Cá Mập: Hãy thức dậy thật sớm và ngắm nhìn mặt trời mọc qua hòn Bảy Cạnh. Các đám mây trên bầu trời cùng với tia nắng ban mai sẽ tạo nên một màn trình diễn ánh sáng kỳ ảo
    Hoàng hôn tại bãi Nhát: Sau một ngày khám phá Côn Đảo, du khách có thể thả mình với thiên nhiên tại bãi biển, ngắm nhìn hoàng hôn diệu đẹp từ từ lặn qua Đỉnh Tình Yêu
    Bãi biển Đất Dốc: một bãi biển hoang sơ dài và thoai thoải, du khách có thể tự mình khám phá bãi biển nơi đây với những hẻm núi ăn tận bờ biển, tạo nên những bãi tắm nhỏ riêng tư và lãng mạn
    Bãi biển Lò Vôi:đây là một bãi tắm thích hợp cho gia đình và nằm gần khách sạn
    Bãi biển Đầm Trầu:được xem như bãi tắm đẹp nhất, du khách có thể vừa tắm biển vừa lặn ngắm biển tại đây
    Xem Vích tại hòn Bảy Cạnh: trải qua một đêm lặng lẽ nhưng vô cùng quyến rũ trên hòn Bảy Cạnh, tận mắt chứng kiến những con rùa biển làm ổ và đẻ trứng bên bờ biển. Rùa biển đẻ trứng quanh năm, nhưng từ tháng 6 đến tháng 9 là thời gian tập trung nhiều nhất

    Thông tin du lịch Côn Đảo

    Cách TP HCM không đầy một giờ bay, Côn Đảo là một trong những điểm đến lý tưởng mà những người yêu thích du lịch biển, du lịch sinh thái.
    Côn Đảo là một quần đảo bao gồm 16 hòn lớn nhỏ thuộc địa phận tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, trong đó Côn Sơn là đảo lớn nhất, tập trung hầu như toàn bộ dân cư khoảng 6.000 người và được chia làm ba khu vực chính: Cỏ Ống, thị trấn Côn Sơn và Bến Đầm. Nếu đi đường hàng không, bạn sẽ đến sân bay Cỏ Ống ở phía Bắc, còn đường thủy sẽ đưa bạn ghé cảng Bến Đầm phía Nam.
    Mỗi ngày chỉ có hai chuyến bay tới đảo, mỗi chuyến chở 60 người nên lượng khách đến đây không nhiều. Đường Tôn Đức Thắng nằm dọc bờ biển là nơi của các khách sạn, khu resort, với mức giá trên dưới 300.000 đồng/ngày đêm (nhà nghỉ Phi Yến) cho đến 50 USD một ngày đêm (Sài Gòn - Côn Đảo resort). Côn Đảo không có nhiều nhà nghỉ tư nhân, chỉ có khoảng một, hai nhà nghỉ trong thị trấn với giá “mềm” hơn, khoảng 250.000 (nhà nghỉ Hai Nga). Thị trấn Côn Sơn rất nhỏ nên dù không ở trên đường bờ biển, bạn vẫn có thể đi bộ ra biển chỉ trong 10 phút.
    Vào buổi tối, quán cà phê Côn Sơn là điểm thư giãn lý tưởng với nhạc nhẹ và gió biển. Ngoài ra, bạn cũng có thể hát karaoke (45.000 đến 60.000 đồng một giờ) hoặc sắm một bộ cần câu rồi ra cầu tàu 914 để câu mực.
    Du khách đến Côn Đảo thường mang về hải sản tươi, khô, những vật dụng được chế từ vỏ ốc và đặc biệt là hạt bàng. Chỉ ở Côn Đảo mới có nhiều hạt bàng đến vậy. Bàng được tách lấy nhân, đem rang lên với muối hoặc đường, vị vừa bùi vừa thơm, giá vào khoảng 150.000 đến 200.000 đồng một kg. Nhưng cũng có khi, giá hạt bàng lên đến 400.000 đồng do công tách lấy nhân rất vất vả.
    Đi Côn Đảo cần tránh mùa gió chướng, biển động từ tháng 5 đến tháng 10, đặc biệt là các tháng 6, 7, 8, để tận hưởng sự bình yên của biển.

    Nhà Lớn: Quần thể kiến trúc dân gian quý hiếm

    Khu di tích Nhà Lớn được xây dựng từ năm 1910 và trùng tu vào năm 1991 đến nay quần thể di tích này vẫn còn nguyên vẹn và lưu giữ toàn bộ phong tục, tập quán của đạo ông Trần - người đã có công lập ấp Bà Trao, nay là xã Long Sơn...
    Theo tài liệu của Bảo tàng Bà Rịa — Vũng Tàu, Nhà Lớn Long Sơn do ông Lê Văn Mưu, một tín đồ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, vốn xuất phát từ vùng Bảy Núi, An Giang xây dựng nên.
    Ông Lê Văn Mưu từng tham gia cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp do quản cơ Trần Văn Thành làm thủ lĩnh. Sau khi khởi nghĩa thất bại, ông đưa gia quyến về lánh nạn tại vùng núi Nứa. Năm 1910, ông khởi công xây dựng quần thể kiến trúc Nhà Lớn để thờ Trời, Phật, Tiên, Thánh... Sau đó còn xây dựng thêm hai ngôi nhà dành tiếp khách thập phương đến thăm viếng và 5 dãy nhà dài làm nơi cư ngụ cho những người dân trong buổi đầu tới Long Sơn lập nghiệp nhưng chưa có nhà ở.
    Hiện nay khu di tích Nhà Lớn có diện tích khoảng 2 ha, chia thành nhiều khu gồm đền thờ; nhà hội, trường học, chợ, nhà bảo tồn Ghe Sấm và khu lăng mộ ông Trần. Nhà Lớn là một trong những di tích bằng gỗ đồ sộ, được làm bằng các loại gỗ quý gồm lim, sến, trắc, bá gụ... Khu nhà trưng bày nhiều đồ vật được chạm trổ tinh xảo như bàn ghế, tủ thờ, câu đối, hoành phi đại tự... Đặc biệt, tại đây còn lưu lại bộ bàn ghế bát tiên (khắc hình 8 vị tiên ông, được cẩn hoa cương và xà cừ) .
    Người dân xã đảo Long Sơn vẫn gọi ông Lê Văn Mưu là ông Trần hay ông Nhà Lớn bởi sinh thời ông thường cởi trần, tóc búi tó, đi chân đất lao động.
    Khi ông mất, trong dân gian hình thành tín ngưỡng đạo ông Trần. Không có kinh kệ, chuông mõ cũng như tệ mê tín dị đoan, đạo ông Trần chỉ có những lời dạy truyền khẩu giữ gìn truyền thống tốt đẹp của tổ tiên với 5 chữ: Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín. Hàng năm, vào ngày vía ông Trần (20 tháng 2 âm lịch) và ngày trùng cửu (9 tháng 9 âm lịch), tại Nhà Lớn tổ chức lễ hội rất lớn, thu hút cả hàng chục ngàn người tới dự.
    Đến nay, những phong tục, tập quán của đạo ông Trần vẫn còn được lưu giữ nguyên vẹn. Người dân theo đạo ông Trần ở Long Sơn vẫn mặc quần áo màu đen, đi chân đất, tóc búi tó.
    Với những giá trị về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật đặc biệt, ngày 3/8/1991, Nhà Lớn Long Sơn đã được Bộ Văn hóa — Thông tin (cũ) công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia. Hiện nay, khu di tích Nhà Lớn trở thành điểm đến không thể bỏ qua của du khách mỗi lần đến Bà Rịa — Vũng Tàu.
    Nằm bên vịnh Gành Rái và phía nam rừng Sác, khu di tích Nhà Lớn ở xã đảo Long Sơn, Thành phố Vũng Tàu được biết đến là một quần thể kiến trúc cổ dân gian quý hiếm. Được xây dựng từ năm 1910 và trùng tu vào năm 1991 đến nay quần thể di tích này vẫn còn nguyên vẹn và lưu giữ toàn bộ phong tục, tập quán của đạo ông Trần - người đã có công lập ấp Bà Trao, nay là xã Long Sơn...

    Suối Bang


    Suối Bang (thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) - cái tên nghe khá lạ với nhiều người, bởi dòng suối này hãy còn nguyên sơ, cách xa khu dân cư, nằm trong rừng nguyên sinh.
    Chỉ những học sinh, sinh viên với những tour du lịch mang tính dã ngoại hoặc các chuyến picnic mới tìm đến, còn khách du lịch thông thường ít được đến nơi này. Nhưng khi đã một lần đến đây, chắc rằng bạn sẽ rất thích thú và khó có thể quên cảm giác được đắm mình trong dòng suối trong vắt, mát lạnh với một khung cảnh thiên nhiên thật đẹp, thanh bình, tĩnh mịch.
    Từ TPHCM, xe đến khu du lịch suối nước nóng Bình Châu, tại đây đã có sẵn các phương tiện cho thuê chở bạn vào Suối Bang rất dễ dàng như: xe gắn máy, máy cày... Nhưng có lẽ dùng phương tiện xe bò để đến Suối Bang là thú vị nhất.
    Khoảng cách từ khu du lịch Bình Châu đến Suối Bang chỉ 5 km, nhưng nếu đi bằng xe bò, bạn phải trải qua gần một giờ đồng hồ xuyên qua cánh rừng bằng con đường cát trắng mịn mới đến nơi. Ðường rừng thật đẹp. Hai bên có đoạn rừng thưa, có đoạn rậm rạp. Bạn có thể nghe được tiếng khỉ kêu, tiếng hươu gọi bầy, tiếng chim rừng kêu ríu rít... Có những đoạn dốc, chú bò phải ráng sức kéo xe lên chậm chạp, đôi khi bạn phải nhảy xuống cùng đẩy, cùng hô vang: "Cố lên, cố lên!". Thật vui!
    Ðến nơi, ấn tượng đầu tiên là dòng suối chạy vắt qua các lùm cây và những tảng đá khổng lồ nhưng khá bằng phẳng, có thể để đồ, cắm trại trên những tảng đá này. Thi thoảng giữa dòng suối còn có vài tảng đá nhô lên để bạn vừa tắm, vừa leo lên nghỉ, vui đùa. Ðiều độc đáo là dòng suối có hai khu, ngăn cách bởi một rặng tre rừng mà các hướng dẫn viên du lịch thường nói vui là "khu cho quý ông" và "khu cho quý bà". Khu nào cũng đẹp, nước cũng trong vắt, mát lạnh...
    Nếu bạn đã từng tắm biển, tắm sông hay ao hồ, thì tắm suối có cái thú riêng của nó, bởi hầu như dòng suối nào cũng được thiên nhiên ban tặng cho cái cảnh "sơn kỳ thủy tú", nào hoa, nào bướm, nào đá, nào cây cối xinh tươi, nào tiếng suối chảy róc rách,... và khi tắm suối, bạn được đắm mình vào thiên nhiên nguyên sơ, hoang dã.
    Thấy được tiềm năng của điểm du lịch này, trong thời gian qua, ngành du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu đã có sự chú ý đầu tư tuy chưa đúng mức, nhưng hy vọng rằng trong tương lai gần, nơi đây sẽ trở thành "điểm hẹn của du lịch sinh thái" độc đáo.

    Thắng cảnh Suối Tiên

    Đã từ lâu, du khách trong và ngoài nước đều gọi khu du lịch Suối Đá, Suối Tiên là Đà Lạt thứ hai của Việt Nam bởi phong cảnh thiên nhiên đẹp tuyệt vời mà tạo hoá đã ban tặng cho nơi này.
    Suối Đá, Suối Tiên đều bắt nguồn từ đỉnh núi Dinh cao 491m do những dòng suối nhỏ chảy men theo các vách núi, sườn đồi hợp thành chảy êm đềm uốn lượn quanh những rừng cây tạo nên những cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ, kỳ thú.
    Núi Dinh với rất nhiều vách núi đẹp tự nhiên khi nhìn từ xa có hình chú voi khổng lồ nằm chầu về phía biển. Những chùm hoa cương trần trụi, bám đầy địa y xen lẫn rêu phong, có lẽ hàng ngàn năm rồi đá nằm ngủ trong rừng sâu nay bỗng thức giấc, có rất nhiều những tảng đá cao với hình khối sống động: Đây là hai tảng đá đứng gần nhau như hai mẹ con lâu ngày gặp nhau đang ngồi trò truyện, còn kia là cảnh một hòn đá giống chú bé con đang hờn dỗi mẹ, kế đó là cảnh một cụ già đang ngồi trầm tư với con mắt đang thả vào cõi mông lung, xa thẳm...
    Dọc theo suối còn có những thạch bàn phẳng lỳ nằm nghiêng nghiêng khá rộng, bạn có thể ngồi hay nằm nghỉ khi dừng chân, ở đây bạn có thể nghe tiếng suối ào ạt tuôn chảy từ đỉnh thác của suối Tiên đổ xuống tạo thành những giếng trời khá sâu nước trong xanh có thể nhìn thấy những hòn sỏi trắng muốt dưới đáy. Nước chảy xối xả, tung toé, hơi nước hoà vào không gian những hạt bụi li ti tạo nên cảm giác thật dễ chịu. Từ tháng 7 - 8, suối cuộn mình tung bọt trắng xoá để tới tháng 10 khi bắt đầu vào mùa khô dòng suối hiền hoà trở lại. Du lịch suối Đá, bạn nên chuẩn bị giày thể thao và một chiếc gậy nhỏ để đi dọc các bờ và vượt thác, qua đoạn đường gập ghềnh và dốc trơn, bạn có thể dừng chân nghỉ hoặc tắm ở những giêng nước nhân tạo trong mát.
    Từ Suối Đá đến Suối Tiên phải vượt qua 600m đường rừng quanh co. Tương truyền ở nơi đây cây cối rậm rạp, núi rừng hoang vắng và những đêm trăng sáng các nàng tiên trên trời thường xuống hạ giới để du ngoạn. Qua dòng suối này các nàng tiên rủ nhau tắm mát rồi mới về trời. Hiện nay ở phía mỏm đá của núi Dinh có dấu chân thật xinh xắn in thành ngấn trên đá gọi là dấu chân tiên. Có lẽ người xưa qúa yêu cảnh sắc nơi đây nên đã đặt cho nó một cái tên thật huyến ảo: Suối Tiên.
    Khu thắng cảnh Suối Tiên xứng đáng là địa điểm lý tưởng cho những cuộc tham quan, dã ngoại, tìm về thiên nhiên khiến du khách quên đi những giờ phút làm việc căng thẳng.

    Suối Tiên Bà Rịa - BRVT

    Mặc dù đây là một thắng cảnh độc đáo nằm trên tuyến quốc lộ du lịch TPHCM - Vũng Tàu, nhưng phần lớn số người đến chơi thác chưa phải là khách du lịch mà chỉ là những Phật tử hành hương, bởi nằm dọc theo suối có rất nhiều chùa.
    Trên đường từ TPHCM đi Vũng Tàu, gần tới ngã ba rẽ vào Long Hải, các bạn để ý bên trái tìm Nhà thờ giáo xứ Chu Hải. Một trong những đường vào suối cách không xa nhà thờ này.
    Các bạn cũng có thể lên suối bằng nhiều con đường khác theo sự chỉ dẫn của dân địa phương, một trong những con đường đó qua Thiền viện Minh Đức. Suối nằm trên núi Dinh, một số người giải thích: Sở dĩ có tên gọi như vậy là vì trên núi khí hậu rất mát mẻ, trước đây có dinh thự nghỉ mát của toàn quyền Pháp (nên gọi núi Dinh). Từ Nhà thờ Chu Hải, có thể nhìn thấy đường dẫn lên đỉnh núi. Xe gắn máy theo đường này lên núi rất dễ dàng. Đường đủ rộng cho xe hơi, nhưng hơi dốc.
    Nếu đi chơi suối, có lẽ bạn nên dành cả ngày vì phải leo núi dốc và hơn nữa nếu ít thời gian sẽ không đủ để dạo chơi hết suối, sẽ bỏ qua nhiều cảnh đẹp.
    Suối Tiên là một tập hợp của nhiều suối, thác và sông con đổ xuống từ độ cao vài trăm mét. Chảy qua những dốc, dòng nước tạo thành những con thác nhỏ, chảy xiết. Khi qua những khe đá ít dốc hơn, dòng nước là những con suối róc rách. Qua những lũng, dòng nước như một con sông thu nhỏ lại. Đi ngược dòng, cảnh càng lúc càng đẹp. Lên càng cao, cảnh lạ mắt theo mỗi bước chân, không đoạn nào giống đoạn nào. Có một vài hồ nhỏ như cái ao trên đường chảy của suối. Bờ suối có khi là thảm cỏ, có khi là gốc cổ thụ, có khi là những tảng đá hình thù kỳ dị, cũng có khi là những vạt hoa vàng lấp lánh soi mình.
    Ở những đoạn suối đẹp nhất, đều có chùa, am, cốc, miếu... Ngồi dưới những bóng mát ven suối, bạn sẽ nghe đủ tiếng kinh, tiếng chuông mõ văng vẳng vọng lại. Cũng có thể ngồi uống trà và đàm đạo với nhà sư trong những am, chùa này. Càng lên đỉnh núi, nhà chùa càng hiếu khách vì... ít ai lên tới. Bạn sẽ không quên những bữa cơm chay với các đặc sản như: thơm chiên, mít kho, rau xào chao..., tuy đơn sơ nhưng không thua gì cao lương mỹ vị vì được nấu bởi những bàn tay khéo léo.
    Bên dòng suối cũng có nhiều hang động không lớn nhưng đẹp vì nằm giữa muôn hoa. Nó gợi lên ở chúng ta không gian của thơ Phạm Thiên Thư:
    “Rằng xưa có gã từ quan
    Lên non tìm động hoa vàng ngủ say”.
    Suối Đá, Suối Tiên thực sự là điểm du lịch hấp dẫn và kỳ thú. Nhiều người đã nhận xét: Nơi đây đúng là một Đà Lạt thứ hai. Đến khu thắng cảnh thuận lợi, dể dàng.
    Suối Đá, Suối Tiên đều bắt nguồn từ đỉnh núi Dinh cao 491m do những dòng suối nhỏ ở men theo các dốc núi, sườn đồi hợp thành, chảy êm đềm uốn lượn ven rừng cây thơm ngát hương của núi rừng, đồng nội. Suối Đá, Suối Tiên chứa vẻ đẹp tự nhiên hoang sơ mà kỳ thú.

    Núi Dinh tới hướng đông bỗng thấp dần tạo thành hình chú voi khổng lồ nằm phủ phục chầu về phía biển. Dọc đôi bờ của những dòng suối chảy đêm ngày là muôn vàn những mỏm đá mang nhiều hình thù độc đáo.

    Vị trí:Suối Tiên thuộc huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cách thị xã Bà Rịa 7km về phía tây bắc.
    Đặc điểm: Khởi nguồn từ đỉnh núi Dinh có độ cao gần 500m, Suối Tiên được du khách trong và ngoài nước gọi là Đà Lạt thứ hai của Việt Nam bởi phong cảnh thiên nhiên đẹp tuyệt vời mà tạo hoá đã ban tặng cho nơi này.
    Để lên thượng nguồn Suối Tiên du khách phải vượt qua 600m đường rừng quanh co, phong cảnh hữu tình và rất yên tĩnh. Tương truyền xưa kia nơi đây cây cối rậm rạp, núi rừng hoang vắng và vào những đêm trăng sáng các nàng tiên trên trời xuống hạ giới để du ngoạn. Qua dòng suối trong xanh này các nàng tiên rủ nhau tắm mát rồi mới trở về trời. Hiện nay ở phía mỏm đá của núi Dinh có dấu chân thật xinh xắn in thành ngấn trên đá gọi là dấu chân tiên. Có lẽ người xưa yêu cảnh trí nơi đây, một vùng non nước kỳ vĩ, sơn thủy hữu tình nên đã đặt cho nó một cái tên thật huyền ảo: Suối Tiên.
    Từ độ cao hàng trăm mét, theo dốc thoải dần về phía đông, Suối Tiên ào ạt đổ xuống hai bờ núi đá, chảy quanh co, tưới mát cho những cánh đồng trù phú trước khi hoà vào dòng sông Thị Vải. Suối Tiên còn lưu giữ vẻ đẹp tự nhiên, hoang sơ mà kỳ thú, ấn tượng với bất kỳ ai lần đầu đặt chân tới đây. Dọc hai bên bờ suối có những thạch bàn phẳng lì nằm nghiêng nghiêng khá rộng, du khách có thể ngồi hoặc ngả lưng khi dừng chân ngắm cảnh. Những mỏm đá mang nhiều hình thù độc đáo: mỏm thì giống hình hai mẹ con ngồi trò chuyện, mỏm thì giống chú voi con, mỏm thì giống một cụ già suy tư, mỏm thì giống hình đôi gà chọi, cá sấu, chim muông…đang dùa giỡn với ban mai. Bên cạnh đó là những chùm hoa cương bám đầy địa y xen lẫn rêu phong có lẽ đã ngủ vùi ở chốn này từ ngàn năm nay.
    Đặc biệt, đứng ở bất kỳ vị trí nào du khách cũng nghe được tiếng suối ì ầm tuôn chảy từ đỉnh núi đổ xuống, tạo thành những giếng trời khá sâu, nước trong xanh có thể nhìn rõ từng viên sỏi trắng muốt dưới đáy. Nước chảy xối xả, tung bọt trắng ngần, hơi nước bay vào không gian những hạt bụi li ti tạo nên cảm giác thật dễ chịu. Mùa mưa suối cuộn mình tung bọt trắng xoá, nhưng mùa khô dòng suối hiền hoà trở lại cho các bạn trẻ bơi lội tung tăng.
    Du lịch Suối Tiên, nếu còn thời gian du khách nên theo con đường mòn đến những ngôi chùa nhỏ gần đấy để nghe tiếng chuông chùa thong thả ngân nga thật bình yên, để thưởng thức khói hương trầm quyện với hương của hoa huệ, hoa ngọc lan thơm ngát…gợi lên vẻ u tịnh của chốn thiền viên giữa vùng sơn cước. Đó cũng là một trong những ấn tượng rất riêng của thắng cảnh Suối Tiên.
    Khu thắng cảnh Suối Tiên xứng đáng là địa điểm lý tư¬ởng cho những cuộc tham quan, dã ngoại, tìm về thiên nhiên khiến du khách quên đi những giờ phút làm việc căng thẳng.

    Làng thúng Long Hải

    Long Hải được nhiều người biết đến không chỉ là bãi tắm đẹp của huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, mà nơi đây từ bao đời nay nổi tiếng nghề thủ công làm thúng đi biển. Thúng đi biển Long Hải có mặt hầu như dọc từ Phan Thiết vào đến Cà Mau. Những hộ gia đình làm thúng mua tre già ở địa phương và Đồng Nai với giá 12-16 ngàn đồng/cây. Tre mua về được chẻ đều, vót lại và đan thành miếng rồi lận tròn. Sau khi đã nên hình thành dạng, thúng được quết phân bò và dầu chai, phơi hai nắng thì có thể sử dụng được. Thúng đường kính 1,6m phải dùng hết 5 cây tre và 5 ngày công, được bán với giá 300.000 đồng.
    Anh Đoàn Văn Vựng, chủ cơ sở làm thúng thị trấn Long Hải, cho biết: Với 50 lao động, ở đây mỗi ngày cung cấp 5-10 thúng cho khách xa gần. Một cái thúng khi hoàn thành yêu cầu phải đúng kích thước, nước không vào và có thể xài được 1 năm. Mức thu nhập bình quân 30-40 ngàn đồng/ngày của người làm thúng đã giúp hàng chục hộ gia đình ven biển thoát khỏi đói nghèo...”.
    Bãi biển Lộc An - Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
    Ngắm Lộc An nơi dòng nước chảy từ biển vào sông, rồi lại từ sông ra biển vào những thời khắc giao hoà của trời đất, lúc ngày chuyển sang đêm trong bóng chiều tà và lúc đêm chuyển sang ngày trong ánh rạng đông, bạn sẽ có những cảm xúc, suy tư mà chỉ ở nơi đây và trong những thời khắc như vậy bạn mới có được.

    Nằm gần khu du lịch Long Hải (Bà Rịa - Vũng Tàu), Lộc An ngoài vai trò là một di tích lịch sử cách mạng, còn là một thắng cảnh luôn làm hài lòng các bạn yêu du lịch.
    Bờ Nam của Lộc An có một khách sạn và quán hải sản nằm bên đầm nuôi tôm ven biển. Khách sạn được xây dựng trên một bán đảo nhỏ, ba bề là đầm nước. Từ trong phòng nghỉ của khách sạn, bạn có thể ngắm nhìn bình minh và hoàng hôn trên bãi biển Lộc An. Đó là một bãi cát nổi giữa đầm và mặt biển như một hòn đảo, nối với đất liền bằng một lối đi nhỏ, một cụm dừa nghiêng về phía biển, thân dừa cao gầy, duyên dáng, mảnh mai.
    Quán hải sản cách đó chừng 100 m là điểm dừng chân của du khách. Từ quán ăn, bạn có thể thưởng thức những hải sản ngon nhất, tươi nhất do những ghe đánh cá ở Lộc An đưa đến hoặc được đánh bắt ở chính trên đầm nước gần kề. Trong đó, hào là một đặc sản biển ở địa phương này.
    Bạn cũng có thể ngồi thuyền thúng dạo chơi trên mặt đầm phẳng lặng, êm đềm khác hẳn với mặt biển ầm ầm sóng vỗ chỉ cách đó vài trăm mét. Thuyền thúng sẽ đưa bạn qua những "đảo nhỏ", là những lùm cây nổi lên đây đó trên mặt nước.
    Bờ phía bên kia cửa biển Lộc An có một bãi tắm rất đẹp, gần đó cũng có hàng quán, khu du lịch nằm trong vườn dương rợp bóng mát. Bãi tắm ở đây sạch, cát mịn và trắng không kém những bãi biển láng giềng như Long Hải, Hồ Tràm, Hồ Cốc... Điều thú vị là bạn có thể men theo con đường dài vài km với một bên là bãi biển mênh mông sóng vỗ, một bên là dòng sông xanh mướt hàng cây ven bờ để tới cửa biển Lộc An. Sông màu xanh lá, còn biển màu xanh trời, ở giữa là những bãi cát trắng. Mặt nước ở cửa biển phân ra thành những dòng chảy khác màu rất ngoạn mục, trên đó là những cánh chim biển bay lượn. Thỉnh thoảng, một chiếc tàu đánh cá lại ra khơi hay trở về từ biển cả chầm chậm tiến qua cửa biển. Tất cả là một bức tranh kỳ vĩ mà chỉ Lộc An mới có.
    Khu du lịch sinh thái Ngọc Xương
    Cách đây không lâu, trong dịp về thăm trang trại của anh Năm Ngọc ở thị trấn Long Hải (huyện Long Điền), chúng tôi được chủ nhân dẫn đi tham quan và cho biết ý định biến nơi đây thành địa chỉ giải trí cuối tuần với loại hình đặc sản "cây nhà lá vườn"... Tưởng anh Năm Ngọc nói vui, nào ngờ trang trại ấy giờ đã là Khu du lịch sinh thái Ngọc Xương được nhiều người biết đến...
    Cách trung tâm thị trấn Long Hải khoảng 2km, Khu du lịch sinh thái Ngọc Xương nằm dưới chân Hòn Dung, thuộc dãy núi Minh Đạm. Điều làm cho nhiều người bất ngờ khi lần đầu đặt chân tới đây không phải là quy mô rộng lớn, mà là "khoảng trời xanh" tưởng chừng ở vùng biển như Long Hải không thể có, hơn nữa chủ nhân là một nông dân "chưa từng làm du lịch". Nói như anh Năm Ngọc, thì đây quả là khu du lịch sinh thái "cây nhà lá vườn" tự biên tự diễn, từ hình thức bài trí cho đến nội dung hoạt động đều mang đậm nét thôn quê.
    Nằm ở vùng biển nhưng không mang dáng dấp và hơi thở ồn ào của biển, Khu du lịch sinh thái Ngọc Xương vốn là trang trại trồng cây ăn trái nên chủ nhân đã khéo léo dựa vào đó tạo ra sản phẩm đặc trưng để thu hút khách, mọi thứ đều gần gũi với thiên nhiên hoang sơ. Ngay khi bước chân qua lối vào được cách điệu kiểu cổng làng Nam bộ với chiếc xe thổ mộ dựng bên, hay ngồi nhâm nhi trong nhà chòi mái lá soi bóng xuống dòng suối róc rách chảy phía dưới, bạn sẽ cảm nhận rõ nét điều này. Hình ảnh chiếc cầu cong cong bắc qua hồ nước, lối nhỏ dẫn vào vườn cây ăn trái, chiếc đò nan lững lờ trôi theo dòng nước… đều là ý đồ của chủ nhân với mong muốn mang lại cho khách "một chút gì để nhớ…".
    Cảnh yên bình ở đây còn được thấy khi đàn bò bụng căng tròn đủng đỉnh về chuồng, đàn nai ngây ngô giương đôi mắt rõ to nhìn khách, đàn chim bồ câu và cả những cánh cò trắng phau hoà vào nhau tìm mồi trên thảm cỏ mướt xanh… Như nhiều khu du lịch khác, Khu du lịch sinh thái Ngọc Xương cũng có nhà hàng bán các món ăn đặc sản địa phương, phòng ngủ đầy đủ tiện nghi và karaoke kỹ thuật số… Nhưng những dịch vụ này lại không thu hút khách bằng thú leo núi, câu cá giải trí, cắm trại bên suối, mắc võng ngủ dưới bóng cây và thưởng thức các món ăn được chế biến từ những sản vật có sẵn trong vườn…
    Lợi thế của Khu du lịch sinh thái Ngọc Xương là nằm gần Suối Tiên và Huỳnh Hổ Động, hai trong những thắng cảnh nổi tiếng của núi rừng Châu Long - Châu Viên. Lên trên nữa là khu căn cứ Minh Đạm với các hang đá vốn là nơi bám trụ của lực lượng cách mạng trong hai thời kỳ kháng chiến. Xuống phía dưới là Bạch Vân Điện, Chùa khỉ, Rừng anh đào, Đèo nước ngọt và bãi biển Long Hải. Nhằm khai thác những lợi thế này, Khu du lịch sinh thái Ngọc Xương đang thiết kế tour "cưỡi ngựa bắn cung", chính thức đưa vào hoạt động dịp 30 - 4 tới.
    Còn quá sớm để nói rằng Khu du lịch sinh thái Ngọc Xương đã khẳng định được vị trí của mình trên bản đồ du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu, nhưng nhìn lượng khách đến khu du lịch ngày một gia tăng cũng đủ cho chủ nhân an tâm tiếp tục đầu tư nâng cao hơn nữa chất lượng phục vụ và phong phú loại hình

    Thắng cảnh Bàu Sen

    Khu nghỉ mát Bàu Sen nằm cách thị xã Bà Rịa 30km về phía Bắc nằm trong một trong những khu rừng lịch sử phía Nam.
    Rừng Bàu Sen mọc trên vùng sình lầy quanh năm ngập nước, với diện tích 120ha (dài 3000m rộng 400m) độ sâu trung bình 3,5m, được cung cấp nước bởi con suối Tầm Bó bắt nguồn từ Cẩm Mỹ rừng Bàu Sen có hệ sinh thái hết sức đa dạng với nhiều loài động thực vật quý hiếm như: bời lời, dầu nước, sao mây, các cây họ tre; các loài thuỷ đặc sản: cá, cua, ốc, lươn...
    Ngoài giá trị du lịch sinh thái, nơi đây còn được coi là di tích lịch sử với khu căn cứ Bàu Sen nổi tiếng.

    Làng Bình An Resort - Vũng Tàu
    Làng Bình An
    Từ trung tâm thành phố Vũng Tàu đi hơn 1 cây số dọc theo đường Trần Phú, du khách sẽ đến khu Resort làng Bình An toạ lạc tại số 01 đường Trần Phú, thành phố Vũng Tàu. Điện thoại: 064. 510016 – 510732 – 510733.
    Đây là khu nghỉ ngơi đẹp, thơ mộng và yên tĩnh, nằm sát bãi biển, thích hợp cho những du khách nghỉ ngơi sau những ngày làm việc căng thẳng, đồng thời đây là khu nghỉ ngơi an toàn tại thành phố Vũng Tàu.
    Không giống như các khu nghỉ dưỡng khác, làng Bình An được thiết kế theo phong cách kiến trúc cổ xưa. Hình ảnh những ngôi nhà gỗ hai gian ba chái với những cây cột được chạm trổ của miền Bắc được tìm thấy ở đây.
    Làng Bình An có 5 phòng được thiết kế theo phong cách dân gian với gạch thô, tường gỗ ngói vẩy cá cổ xưa, trong đó có 3 phòng See view giá 250 USD/đêm và 2 phòng Garden view giá từ 150 USD đến 180 USD/ đêm, có ưu đãi giảm 30% giá cho khách vào cuối tuần (bao gồm tắm hồ bơi và ăn sáng miễn phí cho khách ở lại). Điểm độc đáo của các phòng là mỗi phòng có một lối đi riêng biệt. Không những thế, du khách có thể một mình ngồi ngắm cảnh đẹp trên biển hoặc tranh thủ làm việc tại khu dành riêng cho khách đơn. Du khách cũng có thể thư giãn với dịch vụ body massage với giá 10 USD/ suất tại phòng mình.
    Nhà hàng có sức chứa khoảng 300 khách sẽ làm hài lòng du khách với các món ăn Âu, Á do những đầu bếp danh tiếng đảm nhận, đồng thời có thể tổ chức nhiều loại tiệc khác nhau như tiệc buffet, cưới hỏi, liên hoan…
    Đến với làng Bình An, du khách sẽ thật sự thoải mái bởi không gian yên tĩnh, phong cảnh hữu tình và thái độ phục vụ lịch sự, chu đáo, ân cần của đội ngũ nhân viên ở đây.

    Tổ đình Thiên Thai & thắng cảnh Dinh Cố

    Tổ đình Thiên Thai - nằm ở phía Bắc chân núi Dinh Cố (ấp 3 xã Tam An, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ) - được khởi công xây dựng năm 1925 bởi Hoà Thượng Thích Huệ Đăng. Nhưng mảnh đất này trước đó đã là nơi trì niệm của sư tổ Huệ Đăng. Phía sau Tổ Đình có Thạch Động. Thạch Động được tạo dựng công phu trong hang đá, là nơi Hoà Thượng Huệ Đăng sông tu hành trong điều kiện lúc đầu chưa dựng được ngôi chùa như hiện nay.
    Tổ đình Thiên Thai toạ lạc trên diện tích tương đối rộng (6ha), được chia làm 4 khu vực chủ yếu đó là : điện chính (Thiên Thai), Thạch Động, Thiên Khánh và Thiên Bửu Tháp (được xây dựng năm 1936). hai câu đối bằng chữ Hán trước cửa Thạch Động: "Tá thạch vi tường thục lão tăng cùng đáo đế, Vĩ phong tác chiến thuỳ chi đại đạo lạc vô cương"(tạm dịch: Đá mượn làm tường, ai có biết lão tăng nghèo đến thế; Gió dùng thay quạt, người đâu hay đạo lạc vô cương.)
    Cụ tổ Thiên Thai đạo hiệu Huệ Đăng (ngọn đèn Huệ soi sáng mãi tương lai ), tên thật là Lê Quang Hoá, sanh năm 1873 tại xã An Đông, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định. Lê Quang Hoá tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp từ năm 17 tuổi. Năm 1895 phong trào chống Pháp của Phan Đình Phùng thất bại. Nhiều cơ sở, tổ chức ở Bình Định bị phá vỡ, anh em chiến sỹ bị bắt, bị tù đày. Ông tìm đường vào Nam và đi tu. Nhưng hoài niệm cứu nước vẫn canh cánh trong lòng bậc chân tu, thể hiện trong cuộc sống, trong giảng dạy đạo pháp Phật giáo cho đệ tử, đã đào tạo được nhiều tăng ni yêu nước. Những người trụ trì Thiên Thai đều thực hiện theo tinh thần đạo pháp gắn với dân tộc.
    Sư tổ Huệ Đăng vốn quen biết cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồi đầu mới dựng chùa, cụ phó bảng có ghé thăm và ở lại Thiên Thai một đêm để đàm đạo với Huệ Đăng.
    Rời tổ đình Thiên Thai, du khách rẽ trái theo con đường tam cấp uốn lượn quanh núi Dinh Cố lên cao 82m để chiêm ngưỡng toàn cảnh đồng bằng trù phú Long Đất,Tân Thành vàn xa xa là Xuyên Mộc mờ ảo...
    Trên đỉnh núi Dinh Cố có một ngôi miếu được xây dựng công phu trên những khối đá lớn, tương truyền đó là miếu thờ một hiền nữ, còn gọi là Dinh Cố. Không biết trước khi có danh sơn trên, núi Dinh Cố còn có tên gọi nào khác ?
    Một số người say mê tìm hiểu lịch sử địa phương cho rằng núi Dinh Cố xưa được gọi là núi Bà Rịa. Nếu quả thật như vậy thì giữa ngôi miếu thờ một hiền nữ không tên không tuổi được sử tịch ghi chép và lưu truyền kia với Bà Rịa, một nhân vật lịch sử có thật có mối quan hệ gì chăng?
    Núi Dinh Cố không cao lớn, hình dáng như một chiếc nón khổng lồ úp trên cánh đồng Tam An. Lên Dinh Cố, du khách không quên vào miếu Hiền Nữ thắp hương. Theo nhân dân Tam An, từ khi Bà Cố qua đời ngọn núi này trở nên linh thiêng. Người ta truyền rằng đến đây dâng hương, cầu mong cuộc sống gặp nhiều may mắn, hạnh phúc sẽ được toại nguyện. Những huyền thoại thần bí về Bà Cố có thể đã được nhân dân thêu dệt thêm rất nhiều, âu đó cũng là mơ ước về con người tư đức, công hạnh để nhân dân tôn kính ngưỡng mộ.
    Quần thể di tích đình thần Thắng Tam
    Nằm bên đường Hoàng Hoa Thám, phường 2, thành phố Vũng Tàu. Quần thể gồm ba di tích được Bộ Văn hóa-Thông tin công nhận xếp hạng: đình thần Thắng Tam, miếu Ngũ Hành và lăng Ông Nam Hải.
    Theo truyền thuyết, vào thời Gia Long (1802-1820), để kiểm soát và bảo vệ vịnh Ghềnh Rái, cửa biển Cần Giờ, triều đình đã cử 3 thuyền (đơn vị nhỏ nhất của quân đội nhà Nguyễn) đến vùng đất Vũng Tàu trấn giữ. Khoảng năm Minh Mạng thứ 3 (1822), tình trạng giặc cướp không còn nữa. Nhà vua cho giải ngũ số quân này với phần thưởng là vùng đất họ đã có công trấn giữ. Triều đình miễn mọi thứ thuế cho họ. Ba ông đội chỉ huy ba thuyền đã tổ chức khai phá và lập ra ba làng lấy tên Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam (từ đó người ta cũng gọi Vũng Tàu là Tam Thắng nhằm chỉ ba làng có từ "Thắng" đứng đầu). Phạm Văn Đinh cai quản làng Thắng Nhất. Lê Văn Lộc cai quản làng Thắng Nhì. Ngô Văn Huyền cai quản làng Thắng Tam. Sau này, ba ông trở thành Tiền hiền được thờ tại ba ngôi đình của ba làng nói trên…
    Đình Thắng Tam được xây dựng vào khoảng năm Minh Mạng thứ 21 (1840). Ngôi đình mà du khách thưởng ngoạn hiện tại đã qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo. Đình được kiến trúc theo lối nối kết, gồm nhà Tiền hiền, hội trường, đình trung, võ ca. Ngôi Tiền hiền có 4 bàn thờ: Thổ công, Tiền hiền, Hậu hiền và Tiền vãng-Hậu vãng. Ngôi đình Trung có 10 bàn thờ: Thần Nông, Thiên Y A Na, Ngũ Đức, Cao Các, Tiên Sư…
    Hàng năm, từ ngày 16 đến 18 tháng 2 âm lịch đình Thắng Tam tổ chức lễ Cầu an.
    Đình thần Thắng Tam còn lưu giữ 12 sắc phong của vua Thiệu Trị và vua Tự Đức; trong đó 6 sắc phong cho Đại Càng Quốc Gia Nam Hải (tức cá Ông), 3 sắc phong cho Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi và 3 sắc phong cho Thủy Long Thần Nữ.
    Bên trái đình Thắng Tam là Lăng Ông Nam Hải-thờ một phần của bộ xương cá voi do ngư dân phát hiện trong thế kỷ 19 (những phần khác được thờ tại Lăng Ông Phước Tỉnh và Lăng Ông Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh). Hàng năm, từ ngày 16 đến 18 tháng 8 âm lịch, Lăng Ông Nam Hải tổ chức lễ hội Nghinh Ông rất sôi động, thu hút nhiều du khách tham dự.
    Bên phải đình Thắng Tam là miếu Ngũ Hành, ngư dân Vũng Tàu gọi là Miễu Bà. Chánh điện thờ năm bà Ngũ Hành, Thiên Y A Na và Thủy Long Thần Nữ. Hai bên có bàn thờ năm cô và năm cậu, Quan Công, Quan Bình, Châu Xương, Ông Địa, Thổ Công… Hàng năm, từ ngày 16 đến 18 tháng 10 âm lịch, miếu bà tổ chức lễ cúng ngày vía. Nghi thức lễ hội có Nghinh Bà, cúng Tiền hiền, Hậu hiền, thu hút đông đảo du khách tham dự.

    Khu du lịch Biển Đông ở Bà Rịa - Vũng Tàu

    Với chiều dài 750m bờ biển, khuôn viên sạch đẹp, thoáng mát, gồm một khu liên hoàn dịch vụ biển, bao gồm: nhà hàng, quầy lưu niệm, bãi đỗ xe, công viên, hồ bơi, các trò chơi thể thao biển… kết hợp với chiến lược quảng bá, giới thiệu hình ảnh nên Khu du lịch Biển Đông đã tạo được sự chú ý đối với du khách.
    Nhằm phục vụ nhu cầu ăn uống của du khách và nhân dân địa phương, Khu du lịch Biển Đông xây dựng 4 cụm nhà hàng là Sao Biển, Con Sò Vàng, Con Cua Xanh và Hương Biển. Nhà hàng Con Sò Vàng có cấu trúc rất đặc biệt, phát huy thế mạnh ở vị trí trung tâm, là tâm điểm thu hút khách trong và ngoài nước khi đến du lịch Vũng Tàu. Các nhà hàng Sao Biển, Hương Biển có mặt bằng rộng, sức chứa 500 đến 800 khách lượt, nên bên cạnh việc phục vụ khách đoàn còn phục vụ tiệc đám cưới, phục vụ khách địa phương, có các chương trình ca nhạc.
    Cụm nhà hàng Con Cua Xanh với sức chứa hơn 400 thực khách được cấu trúc nhô ra biển, có hội trường, câu lạc bộ thể thao biển… Thực đơn tại các nhà hàng luôn được đổi mới, đa dạng, giá cả hợp lý, phù hợp với nhu cầu thực khách. Ngoài ra, Khu du lịch Biển Đông còn triển khai các quầy bán hải sản hấp, nướng, đồ uống, trái cây… dưới bãi tắm, cho thuê lều bạt ngủ đêm trên bãi biển cho những học sinh, sinh viên khi đi cắm trại… tổ chức kinh doanh các quầy bán hàng mỹ nghệ, hàng lưu niệm…

    Chùa Khỉ - điểm du lịch sinh thái lý thú

    Gần đây, trong hành trình đến Long Hải, nhiều du khách không ngần ngại chọn Chùa Khỉ làm nơi dừng chân. Bên cạnh cảnh đẹp thiên nhiên, điều hấp dẫn họ chính là những chú khỉ ngộ nghĩnh, được nuôi trong môi trường tự nhiên trên ngọn núi Kỳ Vân phía sau chùa.
    Một vị sư ở đây cho biết: “Tên gọi đúng của chùa là Thiền viện Chơn Nguyên nhưng vì nuôi rất nhiều khỉ nên người ta quen gọi là Chùa Khỉ”. Loài vật tinh khôn này vốn sống hoang dã trên núi, sau đó được các sư cho ăn, đến khi quen hơi, chúng tìm xuống chân núi mỗi ngày. Lúc đầu chỉ vài ba chục, giờ số khỉ đã lên đến gần 200 con.
    Du khách đến đây thường mang theo chuối và các loại trái cây, cho khỉ ăn rồi mới tham quan cảnh đẹp. Nổi bật giữa muôn ngàn cây lá xanh tốt, những tuyệt tác từ đá do thiên nhiên kiến tạo sẽ làm cho du khách ngạc nhiên đến thú vị. Một “rắn ngậm ngọc” biểu tượng cho sự phồn thịnh; một tảng đá lớn hình dáng như tượng đầu Phật gợi sự an lành; một tảng khác giống như một con voi khổng lồ quỳ phục; một cây bồ đề trăm tuổi, gốc và rễ len lỏi trong từng hốc đá gợi nhớ dáng cây Kơnia Tây Nguyên..., tất cả làm nên nét độc đáo của ngôi chùa mà không nơi nào có được.
    Vào mùa xuân, con đường từ thị trấn Long Hải đến chùa Khỉ (cách khu căn cứ Minh Đạm, Bà Rịa - Vũng Tàu khoảng 2,5 km) tràn ngập hoa anh đào trắng hồng rực rỡ. Đây là một điểm sinh thái khá lý thú dù chưa được sự đầu tư và phát triển của ngành du lịch.

    Hòn bảy cạnh - Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

    Bảy cạnh có diện tích 5,5 km2, là 1 một trong 16 đảo thuộc quần đảo Côn Ðảo, cách đảo Côn Sơn 7km về phía đông nam. Với ngọn hải đăng được xây dựng cạnh từ lâu được xem như là người hoa tiêu cho các tàu qua lại ở vùng biển này. Ðến đây bạn có thể thư giãn trên bãi biển thơ mộng, khám phá những rặng san hô chỉ cách bờ vài chục mét, băng qua khu rừng đước mọc tự nhiên trên những bãi cát hoặc cùng người gác rừng, chia sẻ cảm giác hồi hộp khi chờ xem đàn vích đẻ trứng trên bãi biển vào những đêm tháng 5-6... Nếu đi theo đoàn bạn cũng có thể tổ chức cắm trại trên đảo.
    Ðến Bảy Cạnh, bạn có thể đi theo đường hàng không hoặc đường thuỷ. Hiện mỗi tuần có 3 chuyến bay bằng trực thăng từ TP.Hồ Chí Minh hay Vũng Tàu đến bảy Cạnh, Côn Ðảo do Công ty Bay dịch vụ Miền Nam tổ chức (có địa chỉ bán vé tại số 1 Nguyễn Chí Thanh, Q5). Thời gian bay là một tiếng. Nếu đi bằng đường biển, tuy phải mất đến 12 giờ đồng hồ nhưng bạn lại được ngắm cảnh biển cả mênh mông. Thời gian lý tưởng nhất cho chuyến hải hành ra đảo là từ tháng 3 đến tháng 7. Tiện nghi nhất là đi tàu 09, khởi hành từ TP.Hồ Chí Minh do Công ty Dịch vụ Lữ hành Saigontourist (49 Lê Thánh Tôn) làm tổng đại lý.
    Nếu đi từ Cần Thơ bạn có thể liên hệ tại Khách sạn Sài Gòn-Cần Thơ (55 Phan Ðình Phùng), hoặc nếu đi từ Vũng Tàu bạn có thể đến với Ban quản lý cảng Bến Ðầm (354 Trương Công Ðịnh, F8). Ði theo tour trọn gói, bạn có thể gọi điện cho Công ty Dịch vụ Lữ hành Saigontourist với tour 4 ngày 3 đêm bằng tàu 09 giá 928.000đ/người. Theo tour này, ngoài Bảy Cạnh, bạn còn được đi thăm Bảo tàng Côn Ðảo xây dựng cách đây 125 năm, rừng quốc gia Côn Ðảo, bãi biển nguyên sơ An Hải, Ðầm Trâu... và di tích lịch sử "Ðịa ngục trần gian" nhà tù Côn Ðảo.
    Hấp dẫn Kỳ Vân - Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

    Với lợi thế về vị trí giữa rừng và biển ở Long Hải (Bà Rịa-Vũng Tàu), Khu du lịch Kỳ Vân có nhiều điểm hấp dẫn du khách. Ba tháng cuối năm 1997 và cả năm 1998, doanh thu của Khu du lịch Kỳ Vân chỉ đạt 364 nghìn USD, vậy mà chỉ trong 5 tháng đầu năm nay, con số này đã lên đến 250 nghìn USD.
    Mảnh đất Bà Rịa - Vũng Tàu vốn mang trong lòng nhiều huyền thoại, trong đó có huyền thoại về những khu rừng anh đào và ngọn đồi phát ra âm thanh bên bờ biển xanh Long Hải. Chuyện kể rằng trong bốn vùng đất thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu mà vua Bảo Ðại đã từng chọn làm nơi nghỉ dưỡng, Long Hải là khu vực được ông thích nhất vì những âm thanh lạ thường phát ra khi đêm về trên vùng rừng hoang vu nhiều voi lắm cọp. Theo ý kiến của nhiều nhà khoa học thì đó là sự cộng hưởng nhiều loại sóng từ trường tại một vùng địa lý đặc biệt gần Ðèo Nước Ngọt, dưới chân mũi Kỳ Vân - Long Hải. Ngày nay âm thanh kỳ lạ ấy không những không mất đi mà còn có phần tăng thêm trong những ngày trời quang mây tạnh...
    Khu du lịch Kỳ Vân nằm gọn trong 13 ha rừng và đất rừng, kề trục lộ 44 thị trấn Long Hải, Bà Rịa - Vũng Tàu, cách thành phố Hồ Chí Minh 110 km đường chim bay. Năm 1997, Công ty Du lịch Long Hải được UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho phép liên doanh với Công ty TNHH Hoàng Cung - TP Hồ Chí Minh cải tạo khu căn cứ mà một thời vua Bảo Ðại làm nơi nghỉ dưỡng thành khu du lịch sinh thái với tên gọi Kỳ Vân. Ba tháng cuối năm 1997 và năm 1998, mặc dù vừa xây dựng vừa kinh doanh nhưng khu du lịch này vẫn thu hút được khách và mang lại nhiều lợi nhuận.
    Cuối năm 1998, khu du lịch này chuyển thành Công ty cổ phần với sự liên doanh tay ba: Công ty Du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu, Công ty TNHH Hoàng Dung, bà Anoa Dussol Perran (Việt kiều Pháp) và được gắn thêm tên giao dịch quốc tế "Anoasis Beach Resort". Bà Anoa Dussol Perran sang định cư bên Pháp từ năm lên 4 tuổi, năm 1992 bà về nước, bỏ vốn liên doanh với Công ty bay dịch vụ hàng không VASCO và cho ra đời một phi đội trực thăng bốn chiếc phục vụ khách du lịch từ Pháp đến Việt Nam.
    Theo chỉ đạo của Anoa, tuyến đường hàng không dài 1.400 km đi qua nhiều nước được chia ra 42 điểm dừng chân để đón trả khách và tiếp thêm nhiên liệu, lương thực thực phẩm. Nhưng rồi do nhiều nguyên nhân khách quan, lượng khách du lịch đến với phi đội trực thăng này giảm dần. Sau ba năm liên doanh đã giải thể. Nhưng Anoa không nản, bà tiếp tục bỏ vốn đầu tư sang lĩnh vực du lịch. Cùng với Công ty Du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu, Công ty TNHH Hoàng Dung, Anoa đã bỏ 50 tỷ đồng đầu tư cho Khu du lịch Kỳ Vân... và đã thành công. Thắng lợi này đã mở ra luồng sinh khí mới cho việc xã hội hóa hoạt động du lịch và triển vọng về du lịch sinh thái ở Bà Rịa - Vũng Tàu trong giai đoạn mới.
    Nếu như ba tháng cuối năm 1997 và cả năm 1998, tổng doanh thu của Khu du lịch Kỳ Vân đạt 364.000 USD thì đến năm 2000 tổng doanh thu của Khu du lịch Kỳ Vân đã lên đến 500.000 USD. Trong 5 tháng đầu năm 2001 doanh thu của khu du lịch này cũng đã đạt 250.000 USD. Giám đốc Khu du lịch Hoàng Thị Phương Dung quả quyết: "Chúng tôi biết rõ lợi thế địa lý của khu du lịch nhưng không vì thế mà ỷ lại "

    10 điểm đến thú vị của Vũng Tàu

    Hầu như người Sài Gòn ai cũng từng có dịp đi Vũng Tàu — một địa danh du lịch rất quen thuộc. Nhưng có một Vũng Tàu khác, với những điểm đến ít có trong tour của các công ty du lịch…
    1.Ngắm Vũng Tàu từ tàu cánh ngầm
    Vũng Tàu chỉ cách TP.HCM 110km với 2h30 phút xe tốc hành máy lạnh. Thế nhưng bạn hãy thử một lần lướt sóng cùng tàu cánh ngầm để có một cảm giác mới lạ hơn. Xuất phát từ bến Bạch Đằng, tàu chạy êm ru trên dòng sông êm đềm, len lỏi giữa những rừng cây xanh ngát. Chỉ sau 1h15phút cửa biển mênh mông hiện ra trước mắt. Từ khoang tàu, bạn thỏa thích ngắm nhìn thành phố Vũng Tàu, với Núi Lớn, Núi Nhỏ ẩn hiện xa xa. Giá vé tàu 160.000đ/người, mỗi ngày có 4 đến 6 chuyến đi về, khá tiện lợi .
    2- Êm đềm bãi Chí Linh
    Bãi Trước, Bãi Sau đông nghẹt người tắm biển là quang cảnh thường thấy ở Vũng Tàu. Nếu không muốn chen nhau thuê dù, ghế... với giá cắt cổ, tắm biển xong lại chen nhau tắm nước ngọt, mời bạn đến với bãi biển Chí Linh. Nằm ngay ngã tư đường 3/2 và Nguyễn Hữu Cảnh, chỉ cách khu trung tâm 3km, Chí Linh đã được quy hoạch thành làng du lịch khá đẹp. Bãi biển vắng vẻ thơ mộng, bạn tha hồ tắm biển và nằm thư giãn, phơi nắng cả ngày mà không bị hàng rong quấy rầy.

    3- Chùa Quan Âm bãi Dâu
    Niết Bàn Tịnh Xá, Linh Sơn Cổ Tự... là những ngôi chùa quen thuộc nằm trong các tour du lịch. Mời bạn đến thăm một ngôi chùa khác nằm trên đường Trần Phú - chùa Quan Âm Bồ Tát. Chùa tĩnh lặng nhìn xuống Bãi Dâu sóng vỗ rì rào. Nổi bật giữa khung cảnh chùa là tượng Phật Bà Quan Âm cao 16m đứng trên tòa sen trắng.
    4- Tượng Đức mẹ bồng con trên núi
    Tượng Chúa Kitô giang tay nằm trên núi Nhỏ là một thử thách cho các bạn trẻ khi phải vượt qua cả ngàn bậc thang để lên đến đỉnh. Nếu đã có tuổi hoặc thể lực không cho phép, bạn hãy lên thăm tượng Đức Mẹ bồng con trên đường Trần Phú, gần quán ăn Cây Bàng. Độ cao ở đây thấp hơn, nhưng cũng vừa đủ đẹp để ngắm nhìn biển và chụp ảnh. Tượng Đức Mẹ cao 27,5m nằm ở độ cao 60m cách mặt biển, dưới chân tượng, ở độ cao 25m, là Đền Thánh. Ngày xưa khu này là rừng rậm hoang vắng, đến đầu thế kỷ 20 giáo dân mới khai phá trồng dâu nuôi tằm. Tên gọi Bãi Dâu bắt nguồn từ đấy.
    5- Chinh phục hải đăng Vũng Tàu
    Hải đăng Vũng Tàu là ngọn đèn biển có hình tháp tròn đường kính 3m, cao 18m nằm trên đỉnh núi Nhỏ ở độ cao 170m so với mặt biển. Chinh phục Hải Đăng khá dễ dàng, chỉ cần 10 phút xe gắn máy là bạn đã ở trên đỉnh Núi Nhỏ lộng gió. Từ đây bạn có thể nhìn thấy toàn cảnh thành phố Vũng Tàu với 3 mặt là biển xanh ôm ấp. Lần theo đường cầu thang xoáy ốc lên đỉnh tháp , chạm tay vào bóng đèn biển khổng lồ chiếu xa 35 hải lý là một cảm giác thật khó tả.
    6- Vượt biển thăm hòn Bà
    Hòn Bà là một hòn đảo nhỏ nằm trên biển, cách mũi Nghinh Phong 200m, giữa bốn bề nước biển. Tuy nhiên bạn vẫn có thể vượt biển ra thăm Hòn Bà mà không cần tàu thuyền gì cả. Hãy đợi buổi chiều, khi thủy triều xuống, con đường đá sỏi dẫn từ bờ cát ra đảo dần dần lộ ra. Lúc này bạn ung dung dạo bước trên biển, nước xâm xấp dưới chân mát lạnh. Trên đảo có miếu thờ Bà và một hầm bí mật, nơi hội họp của chiến sĩ cách mạng hồi xưa. Nhưng bạn hãy nhớ quay trở về đất liền trước khi trời tối, lúc thủy triều bắt đầu lên từ từ ngập hết con đường!
    7- Câu cá với dân làng chài Làng chài Bến Đá nằm cách thắng cảnh náo nhiệt Thích Ca Phật Đài chỉ vài trăm mét, nhưng khung cảnh khác hẳn. Để vào làng bạn sẽ đi qua những con đường cá khô thơm nắng vàng hiền hòa tĩnh lặng. Thời tiết đẹp, bạn có thể theo dân chài làm một buổi câu cá gần bờ hết sức thú vị. Chỉ sau nửa giờ rời bến tàu là đến điểm buông câu.
    Bạn sẽ được hướng dẫn sử dụng cần câu, mắc mồi câu, thả câu và chờ đợi những chú cá mú, cá hồng, cá ngát... cắn câu. Cảm giác tự tay giật cần câu với chú cá gần cả ký lô nặng trĩu thật khó quên. Thành quả lao động lập tức được chế biến đơn giản ngay trên tàu thành bữa tiệc hải sản dã chiến. Cá hồng nướng muối ớt, cá mú nấu cháo, cá ngát thì nấu lẩu... Thêm vài ly đế trong mắt mèo, tâm hồn như chếnh choáng cùng sóng biển !
    8- Nhà thờ Bến Đá
    Đến thăm làng chài mà không ghé nhà thờ Bến Đá thì thật thiếu sót. Đây là nơi hội họp, sinh hoạt, tiệc tùng, cưới hỏi.. của dân làng chài. Nằm trong khuôn viên thoáng mát, nhà thờ có kiến trúc hết sức đặc sắc, với thiết kế như một con thuyền trắng khổng lồ đang giương buồm hướng ra biển.
    9- Đài liệt sĩ Vùng Tàu
    Nằm ở vòng xoay giao lộ 3/2 và Lê Hồng Phong - cũng có tên là vòng xoay Đài Liệt Sĩ - ngay Bãi Sau, điểm tham quan này bao gồm một Đài liệt sĩ nằm giữa vòng xoay và một đền thờ nằm trên đỉnh đồi bên cạnh. Đây là địa điểm vui chơi và hóng mát mỗi chiều của dân địa phương. Vào những buổi chiều rảnh rang, bạn hãy thuê một chiếc xe đạp dạo vòng vòng Đài Liệt Sĩ rồi lên đỉnh đồi ngồi trên bãi cỏ ngắm cảnh thành phố biển chiều tà rất thú vị. Có rất nhiều điểm cho thuê xe đạp đôi dọc Bãi Sau, giá thuê là 15.000đ/chiếc.
    10- Vũng Tàu ẩm thực
    Bánh khọt là đặc sản danh tiếng Vũng Tàu. Nhưng ngoài bánh khọt, bánh bèo Tuyết Mai đường PhanChu Trinh cũng là món quen. Quán nằm trong vườn cây rộng mát. Nước chấm ở đây thuộc hàng số dzách. Ngoài bánh bèo ra bạn còn có thể gọi nem nướng, gỏi cuốn…
    Nếu thích ăn hải sản, đừng nghĩ Vũng Tàu chỉ có quán Cây Bàng. Đến thăm làng chài Bến Đá trên đường Trần Phú, bạn hãy ghé qua chợ hải sản. Nơi đây có một loạt vựa như: Thành Phát, Hồng… bán hải sản tươi ngon vừa được đánh bắt mà giá cả rất mềm. Vũng Tàu còn có quán lẩu cá đuối 40 Trương Công Định ngon quên trời đất, ngồi lề đường, ngắm thành phố, ăn miếng cá ngon ngọt, bạn cảm thấy mình không khác gì dân nhậu Vũng Tàu "chính hiệu con nai vàng".
    Còn nếu đã quá quen với đồ biển và muốn đổi món? Đến Bảy Chuyển II ăn thịt rừng hay Vườn Bàng đường Nguyễn Thái Học ăn thịt nướng xiên cũng là ý hay. Gia vị ướp thịt nướng đúng kiểu Nga ở Vườn Bàng đã làm nên tên tuổi của quán. Khách tây, các chuyên gia Nga mỗi chiều đến đây đông kín, ai cũng thích thú hít hà khói tỏa lên từ các xiên thịt nướng!
    Phố ăn đêm đường Đồ Chiểu cũng là nét đặc trưng của Vũng Tàu. Sau một ngày tắm biển, tham quan, leo núi…, hãy làm một tô cháo bồ câu nóng hổi, lặng lẽ nhìn thành phố về khuya, để thấy, vùng đất này tuy thân thương, quen thuộc mà vẫn còn nhiều điều mới lạ cần khám phá…

    Núi Tương Kỳ

    Vị trí
    Núi Tương Kỳ thường được gọi là núi Lớn, tọa lạc ở phía Bắc thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Núi có diện tích khoảng 400ha, gồm 3 đỉnh: Vũng Mây cao 220m, Núi Lớn cao 170m, Hòn Sụp cao 215m. Núi Lớn, núi Nhỏ như hai anh em làm bình phong che chắn cho thành phố Vũng Tàu, cùng với biển cả bao quanh đã tạo nên nét đẹp độc đáo cho thành phố xinh đẹp này.
    Cảnh quan
    Để lên núi, du khách có thể đi theo đường Trần Phú uốn quanh sườn núi từ Bến Đình sẽ đến chùa Thích Ca Phật Đài, Bãi Dâu, đến Bãi Trước dài 10 km. Đường dốc quanh co, trên là núi, dưới là biển, phong cảnh hữu tình, hùng vĩ lên thơ. Trên núi có nhiều di tích nổi tiếng như: tượng Đức mẹ, tượng Phật Bà Quan Âm, Thích Ca Phật Đài, Bạch Dinh ...
    Nguồn gốc tên gọi
    Vào đầu thế kỷ XIX, sách Gia Định thành thông chí gọi là Thác Cơ Sơn, có dáng như rồng xanh tắm biển, đứng uy nghi giữa biển trời che sóng gió, chỉ rõ bờ bến cho tàu thuyền Nam Bắc qua lại. Đầu ghềnh Thác Cơ Sơn thường có những con rái cá nên dân gian thường gọi là núi Ghềnh Rái. Giữa thế kỷ XIX, sách Đại Nam nhất thống chí đặc biệt nhấn mạnh sự quan yếu của núi như là một bức bình phong che chắn cho cửa Cần Giờ
    Về tên gọi “Tương Kỳ” , truyền thuyết kể rằng: Khi xưa nơi đây còn hoang dã, nhiều hổ dữ sinh sống. Hai ông ông cháu cụ giáo Hiếu là những người đầu tiên đặt chân lên núi. Cụ giáo Hiếu là thầy dạy văn và võ cho ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Chính cụ là người khuyến khích ba anh em Tây Sơn khởi nghĩa.
    Cụ có cô cháu gái tên Mai. Một hôm, cô vào rừng hái nấm, không may gặp hổ dữ. Hổ nhảy vào định ăn thịt Mai. Đang lúc lâm nguy bỗng đâu xuất hiện tráng sĩ. Bằng võ nghệ điêu luyện tráng sĩ đã hạ sát hổ dữ cứu nguy cho cô gái. Cảm kích ơn cứu mạng, thiếu nữ đã đưa tráng sĩ về ra mắt ông nội.
    Chàng trai tài ba đó có tên là Lê Tuấn một võ tướng của Nguyễn Huệ. Biết được điều này, cụ giáo Hiếu rất vui mừng và gả cháu mình cho Lê Tuấn. Cụ Giáo trỏ tay vào ngọn núi và nói: “Nơi đây đã chứng kiến mối lương duyên của tráng sĩ và cháu gái lão, lão xin đặt tên núi là Tương Kỳ”. Từ đó, núi có tên như vậy.

    Đảo Hòn Trác-Hòn Tài

    Vị trí
    Hòn Trác-Hòn Tài, là một cụm đảo nhỏ bao gồm hòn Trác Lớn, hòn Trác Nhỏ, hòn Tài Lớn và hòn Tài Nhỏ, nằm phía trước thị trấn Côn Đảo, từ mũi Cá Mập hướng ra biển Đông, thuộc địa bàn huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Người ta gọi là nhóm đảo Huynh Đệ.
    Truyền thuyết
    Về tên gọi của đảo, chuyện kể rằng ngày xưa, có 2 anh em sinh đôi, tên là Đặng Phong Tài và Đặng Trác Vân, giống nhau như đúc. Đặng Phong Tài, bị đày ra đảo từ thời Minh Mạng. Thấy Phong Tài đẹp trai, lại siêng năng chăm chỉ, vị hương cả làng An Hải mến mộ và gả cho chàng cô con gái yêu là Đào Minh Nguyệt. Hai vợ chồng sống rất hạnh phúc trong ấp An Hội. Nàng Minh Nguyệt, có nhan sắc nết na, trai làng thường gọi là nàng tiên An Hội.
    Ít lâu sau, Đặng Trác Vân, người em sinh đôi với Phong Tài cũng bị đày ra đảo, được người anh và chị dâu đón về ở cùng nhà. Vốn dĩ, hai anh em giống nhau như hai giọt nước, nên người chị dâu đã nhiều lần nhầm lẫn. Một hôm, Trác Vân đi đốn củi về sớm, Minh Nguyệt ngỡ là chồng bèn chạy đến ân cần ôm ấp và tặng một nụ hôn nồng ấm. Bất ngờ không kịp phản ứng, Trác Vân đứng lặng một hồi rồi xin chị thứ lỗi. Nàng tiên An Hội ngẩn người bối rối và xin người em giữ kín cho sự nhầm lẫn này.

    Một hôm khác, Phong Tài có việc đi qua làng Cỏ Ống, không hiểu vô tình hay hữu ý mà ở nhà Minh Nguyệt lại hôn nhầm người em. Trác Vân quỳ xuống lạy chi, xin giữ cho trọn đạo đệ huynh. E ngại ẩn tình của chị dâu, Trác Vân đã bỏ nhà, kết bè qua một hòn đảo nhỏ, cốt ngăn ngừa phút giây sa ngã, trái đạo luân thường. Khi Phong Tài trở về, biết chuyện bèn lặn lội đi tìm em. Hai anh em không gặp được nhau và mỗi người đã bỏ mình trên một hòn đảo giữa biển khơi. Dân trong làng, lấy tên hai anh em mà đặt tên cho hai hòn đảo.
    Chuyện kể tương tự như chuyện Trầu Cau thời các vua Hùng, có lẽ do nhân dân thiêu dệt nên để giải thích cho tên đảo. Ngày nay, ngoài sự tích này, người dân Côn Đảo còn truyền nhau câu hát về mối tình éo le giữa Minh Nguyệt - Phong Tài và Trác Vân :

    Ai qua hòn Trác hòn Tài
    Cho em xin gửi một vài câu thơ
    Đêm khuya gió lạnh sao mờ
    Trăng khuya chênh chếch bóng chờ đợi mây
    Bao giờ núi Chúa hết cây
    Sông Mê hết nước dạ này hết thương.

    Khu du lịch Bình Châu


    Vị trí: Khu du lịch suối nước nóng Bình Châu thuộc xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Suối được bác sĩ Salle, người Pháp phát hiện từ năm 1928. Theo các chuyên gia, nguồn gốc hình thành các điểm suối nước nóng ở Bình Châu là do lòng đất có chứa nhiều phốtpho bay lên làm nóng nước đến nhiệt độ cao và do dấu tích còn lại của núi lửa.
    Suối có lưu lượng 8m3/s, có 70 điểm phun khác nhau trong phạm vi rộng khoảng 1km2 gồm nhiều hồ vũng lớn, nhỏ liên kết với nhau bởi các mạch thông. Vùng hồ rộng nhất là khoảng 100m2 với độ sâu hơn 1m. Ðây là điểm nóng nhất, nước lúc nào cũng sủi tăm, bốc hơi tạo thành một nồi xông hơi thiên nhiên khổng lồ. Nhiệt độ tầng mặt nước khoảng 64oC, đáy nước là 84oC. Những chỗ nông, nước chỉ nóng khoảng trên 40oC. Ðiều hấp dẫn, thú vị là tại khu vực nước nóng này rừng tràm vẫn xanh tươi, một loại cỏ rễ chùm, lá cứng vẫn sống cùng năm tháng tạo thêm vẻ đẹp kỳ thú của thiên nhiên.
    Truyền thuyết
    Chuyện kể rằng, ngày xưa nơi này là vùng núi hoang vu, có hai vợ chồng đến sinh sống bằng nghề săn bắn. Hàng ngày chồng vào rừng tìm kiếm thú săn, vợ ở nhà lo bếp núc. Một hôm chồng mải săn theo mồi đi lạc vào rừng sâu khi trời tối mịt mù nên phải nghỉ lại bên bờ suối Bang. Vợ ở nhà nấu một nồi nước sôi chờ chồng mang thịt về làm thức ăn. Chờ mãi, chờ mãi không thấy chồng về, vợ hờn dỗi đổ nước sôi xuống đất. Kỳ lạ thay, dòng nước loang đến đâu ngùn ngụt bốc khói đến đấy và biến thành dòng nước nóng. Người vợ bỏ nhà ra hòn đảo nhỏ cạnh cửa biển Lagi (Hàm Tân-Bình Thuận) sinh sống. Người ta gọi bà là Bà chúa nước sôi. Hòn đảo ấy có tên là Hòn Bà. Còn dòng suối đó bây giờ gọi là suối nước nóng Bình Châu.
    Dịch vụ:Ngay từ những năm 1989, ngành du lịch đã bắt đầu khai thác tìm năng của suối. Tại điểm phun dưới 400C, người ta dẫn nước vào các hồ chứa hình thành các bể tắm, hồ ngâm chân, là phương pháp hiệu quả trong chữa trị các bệnh về da, thần kinh, thấp khớp. Điểm phun có nhiệt độ cao nhất được xây dựng thành khu giếng trời để du khách để luộc trứng. Bạn chỉ cần cho trứng vào giỏ rồi thả xuống ngâm chừng 10 phút vớt lên là có thể dùng được. Ngoài ra còn có khu vực tắm khoáng bùn cùng với những cụm công trình khép kín trong dịch vụ giải trí thể thao dành cho du khách nghỉ cuối tuần như sân tập golf, bóng chuyền, hồ bơi. Trong khuôn viên khu du lịch còn có các nhà hàng, nhà nghỉ và sân khấu Vườn Trăng với khoảng 1.000 chỗ ngồi…
    Đến với Bình Châu, du khách có thể đi dạo trên những chiếc cầu bắc qua các con suối nhỏ sôi sục tuôn ra từ lòng đất. Thỉnh thoảng có những chòi lá bày bán đồ ăn thức uống và các món quà lưu niệm. Để thưởng thức hết những hương vị của thiên nhiên Bình Châu, du khách đi dạo hoặc đi bằng xe bò đến thăm Suối Bang cách đó 2 km về phía đông hay tới thăm vườn thú có khá nhiều loại: gấu, khỉ, chồn, trăn, tắc kè, nhím, đại bàng...

    Suối nước khoáng Bình Châu

    Cách rừng cấm Bình Châu – Phước Bửu khoảng 10 km về phía đông bắc, du khách sẽ đến suối nước nóng Bình Châu, một trung tâm du lịch của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Khung cảnh nới đây đã tạo cho khu du lịch vẻ đẹp thật hấp dẫn. Năm 1928, bác sĩ người Pháp tên là Salle trong chuyến khảo sát vùng Đông Nam Bộ, đã phát hiện ra khu suối khoáng này với 70 điểm phun nước lộ thiên hình thành hệ thống suối, các hồ lớn nhỏ luôn tỏa nhiệt độ bốc hơi từ 370C đến 820C theo từng khu vực. Cạnh bên khu rừng nguyên sinh Bình Châu là biển Hồ Cốc với dốc cát thoải dài đón từng đợt sóng biển… Được thiên nhiên ưu đãi và để phát triển loại hình nghỉ dưỡng, chữa bệnh đặc trưng theo kiểu du lịch sinh thái nên từ năm 1989, ngành du lịch đã bắt đầu khai thác tiềm năng khoáng sản nước nóng Bình Châu.
    Các khu vực dành cho việc nghỉ dưỡng chữa bệnh bằng suối khoáng nóng đã hình thành như khu hồ ngâm Suối Mơ, Hà Nội- Huế-Sài Gòn, khu giếng trời dành luộc trứng bằng nước khoáng nóng, cụm tắm bùn khoáng… Tất cả đều nằm ẩn mình, yên tĩnh trong rừng cây xanh. Ngoài ra còn những cụm công trình khép kín trong dịch vụ giải trí thể thao dành cho du khách nghỉ cuối tuần như sân tập golf, bóng chuyền, hồ bơi và cả khu vườn Trăng với sân khấu 1.000 chỗ ngồi…
    Du khách đến với suối nước nóng Bình Châu, đi trên những dãy hành lang bằng gỗ bắc qua những điểm suối chảy, cách chừng 30m là nhữmg chiếc chòi gỗ lợp cỏ tranh, nhiệt độ cao nhất trên mặt suối lên tới 80oC với 70 điềm xuất lộ, trải dài quanh co chừng 1km, thật thú vị khi nhìn thấy nước từ trong lòng đất tuôn ra, sôi sủi thành bọt, xung quanh những lùm cây đước cây tràm vẫn xanh tươi và có thể ngâm chân ở những con suối có nhiệt độ 400C. Muốn thưởng thức trứng gà luộc hồng đào đi tới giếng nước ở nhiệt độ 800C, bạn cho trứng vào giỏ rồi thả xuống ngâm chừng 10 phút sau vớt lên là dùng được
    Vào những buổi bình minh, nơi đây thật kỳ ảo. Cảnh sắc xung quanh như được phủ làn sương mỏng từ hơi nước bốc lên. Du khách có thể thả bộ để hít thở bầu không khí tinh khiết, trong lành phảng phất mùi hương thơm cỏ cây. Từ phía xa vẳng tiếng gà, chim rừng râm ran làm sự yên ả của vùng hoang sơ thức dậy đón một ngày mới bắt đầu. Trong nắng ban mai, những đàn bướm đây màu sắc bay lượn lờ trên những thảm cỏ tạo nên một khung cảnh rất yên bình. Để thưởng thức hết những hương vị của thiên nhiên Bình Châu, du khách đi dạo hoặc đi bằng xe bò đến thăm suối Bang cách đó 2 km về phía đông hay tới thăm vườn thú có khá nhiều loại: gấu, khỉ, chồn, trăn, tắc kè, nhím, đại bàng...
    Cạnh khu rừng có một số gia đình người Châu Ro sinh sống, du khách có thể đi thăm và nghe các cụ già kể lại truyền thuyết sự tích đầm nước sôi. Câu chuyện kể mối tình bi thương của cặp vợ chồng trẻ, vì một chút nông nổi mà phải chịu cô đơn mãi mãi.
    Suối nước nóng Bình Châu đúng như nhiều du khách đã nhận xét khi đến đây: một huyền thoại có thật trong khu rừng hoang sơ.
    Khu du lịch nghỉ dưỡng Suối khoáng nóng Bình Châu vừa được tổ chức Du lịch thế giới (WTO) bình chọn là một trong hai khu du lịch sinh thái bền vững nhất của Việt Nam.
    Vào những ngày cuối tuần khách muốn đến nghỉ tại đây phải đăng ký đặt chỗ trước 2 tuần. Trong tương lai, dự án Bình Châu còn phát triển ra hướng Đông, khu đất 55 hec-ta tại bãi biển Hồ Cốc sẽ được đầu tư thành khu nghỉ mát cao cấp phục vụ du khách trong và ngoài nước

    Khu bảo tồn
    Bình Châu - Phước Bửu

    Khu bảo tồn Bình Châu - Phước Bửu được thành lập vào năm 1984, thuộc địa bàn huyện Xuyên Mộc. Đây là khu rừng tự nhiên ven biển duy nhất còn lại ở Nam Bộ có giá trị về nhiều mặt. trong khu bảo tồn có nhiều loài động vật hoang dã quí hiếm đã được liệt kê vào sách đỏ của thế giới.
    Từ thành phố vũng Tàu qua thị xã Bà Ria, theo tỉnh lộ 23 đến ngã ba thị trấn Xuyên Mộc rồi rẽ phải chừng 15km nữa, du khách sẽ tới khu rừng cấm quốc gia Bình Châu - Phước Bửu. Nằm dọc ven biển, thuộc phía nam huyện Xuyên Mộc, khu rừng trải dài trên địa phận của 5 xã : Bình Châu, Bưng Riềng, Bưng Trang. Xuyên Mộc và Phước Bửu, với tổng diện tích 11.293ha.
    Địa hình của rừng cấm tương đối bằng phẳng, duy nhất ở phía tây nam có một vài ngọn núi: Hồng Nhung cao 118m, Hồ Linh 162m... Những quả đồi thoải dần xem lẫn những vạt rừng tươi tốt chạy ngút tầm mắt và một hệ thống hồ và bàu nước ngọt tự nhiên như những tấm gương khổng lồ, đã tạo nên cảnh quan tuyệt đẹp : Hồ Linh, Hồ Cốc, Hồ Tràm, Hồ Núi Lo, Bàu Nhám, Bàu Bàng...
    Giữa rừng già, du khách gặp dòng sông Hỏa là hợp lưu của suối Đá, suối Sóc, suối Cát chảy êm đềm về biển, tạo nên vẽ đẹp thơ mộng thật hiếm có.
    Rừng Bình Châu - Phước Bửu là một trong những khu rừng nổi tiếng ở phía Nam nước ta. Ngày 9 tháng 8 năm 1986 Hội đồng Bộ trưởng ký quyết định số 194, đưa vào danh mục rừng cấm quốc gia.
    Các nhà khoa học đã khảo sát phát hiện ở đây có 3 kiểu rừng gồm : Rừng thưa hơi khô, rừng dày ẩm thường rụng lá (trên đát đỏ bazan), rừng chuyển tiếp giữa rừng thưa và rừng dày. Ngoài ra còn có rừng tràm mọc ven biển. Hệ thực vật ở đây rất phong phú và đa dạng, thuộc 113 họ, 408 chi, 661 loài, trong đó có nhiều loại gỗ qúy hiếm : gõ đỏ, cẩm lai, giáng hương, trai, xây, vên vên, lim, sến...Đặc biệt có tới 16 loài cây thuốc họ dầu : Dầu cát, dầu mít, dầuu lông, dầu trà ban...
    Dưới tán rừng sum xuê là các loài cây kiểng sinh sống : Thiên tuế, vạn tuế, huỳnh mai, mai chiếu thủy, thiết mộc lan... Đặc biệt phong lan có hàng chục loại quý : hoàng yến, ngọc điểm, kim điệp, đoản kiếm, đuôi cái, vệ lan móng, hổ bì...

    Động vật ở rừng Bình Châu - Phước Bửu có 178 loài thuộc 70 họ, 29 bộ. Thú gồm có loài : voi, báo hoa mai, khỉ, vọc, heo rừng, trâu rừng, hoẳng, cheo... Chim gồm 96 loài: cu xanh, gầm ghì, trĩ, công, hồng hoàng, gà lôi... Bò sát có 33 loài : trăn, gấm, kỳ đà, rùa vàng, ba ba...
    Rừng Bình Châu - Phước Bửu là một quần thể cảnh quan đa dạng, có sức thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước tới tham quan.

    Núi Tao Phùng

    Vị trí
    Núi Nhỏ là một ngọn núi đẹp ở thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Núi còn có tên gọi là Thuỳ Vân hay Tao Phùng. Núi cao 170m, diện tích khoảng 120ha.
    Hành trình chinh phục
    Để lên đỉnh núi, du khách có thể đi theo hai đường. Đường ô tô ở phía Bắc, nối liền với đường Hạ Long uốn quanh sườn núi. Đường bộ ở phía Nam, du khách có thể men theo những bậc đá trập trùng dẫn lên Tượng đài Chúa Kitô. Dọc đường đi có thể nghỉ chân trên những chiếc băng đá được kê ở những khoảng rộng, vừa ngắm cảnh núi rừng, biển cả, vừa hít thở không khí trong lành. Cuối chân núi về phía Nam là mũi Nghinh Phong vươn mình ra đón gió biển, xa xa là đảo Hòn Bà im lìm nằm nghe sóng vỗ. Trên đỉnh núi có ngọn Hải đăng, Tượng Chúa, pháo đài...
    Truyền thuyết tên gọi
    Sở dĩ núi có tên gọi là Thuỳ Vân vì đỉnh núi đâm thẳng lên trời, thường xuyên có mây rũ xuống bao quanh. Về tên gọi Tao Phùng, truyền thuyết kể lại như sau:
    Vào thời xa xưa, có một chàng trai làng chài siêng năng, tốt bụng. Một hôm kéo lưới, anh bắt được một con cá vàng xinh xắn. Thấy cá đẹp, người con trai bàn mang lên núi, khoét đá thành một vũng nước rồi cho cá vào nuôi.
    Có một lần, đi biển trở về anh ra thăm cá, thì thật lạ thai không thấy cá đâu. Chung quanh là cả một rừng cây hoa trái xum xuê. Bỗng từ trong núi, một nàng thiếu nữ xinh đẹp bước ra xưng mình là công chúa Thuỷ Tề, trong viu chơi chẳng mai bị sa lưới. Hai người đem lòng cảm mến và kết thành phu phụ.
    Cuộc sống đang đầm ấm yên vui thì một ngày mùa thu, trời trong mây nhẹ, hai vợ chồng đang ngồi ăn cơm thì thấy có người đi ở ngoài vào tay cầm hộp ngọc sáng chói. Người vợ hoảng hốt chưa kịp đứng dậy thì người khách đã đưa hộp ngọc ra, sấm chớp nổi lên và lập tức người vợ bị thu vào trong hộp ngọc. Người chồng đau đớn van xin cho vợ được tha, nhưng không được. Trong hộp người vợ đã biến thành con cá vàng hai mắt đẩm lệ nhìn ra. Long Vương cảm thương tình cảm của chàng trai bèn cho họ cứ 5 năm thì được gặp một lần trên đỉnh núi này. Từ đó, dân làng gọi tên là núi Tao Phùng.

    Núi Chân Tiên

    Từ Bà Rịa theo hướng về Long Hải đi khoảng 3 km sẽ gặp đường Dinh Cố, rẽ trái là đến danh thắng Núi Chân Tiên. Danh thắng Núi Chân Tiên thuộc ấp An Lộc, xã An Ngãi, huyện Long Điền. Đường vào thuận lợi, dễ đi, phong cảnh rừng núi khá đẹp, dưới tán cây rừng có nhiều tảng đá lớn với hình thù khác nhau. Từ trong những tảng đá này có những dấu chân người in trên đá. Ở vách đá phía tay trái của lối vào, trên một quần thể khá đẹp, người ta thấy dấu vết đôi bàn chân giống như chân của một thiếu nữ nhỏ bé xinh xắn để lại, đến nay vẫn còn hằn sâu trên đá tạo nên truyền thuyết về dấu chân này.
    Đi theo một dốc bậc thang đá lên phía trên. Qua nhiều tảng đá khác và leo lên đỉnh cao nơi có miếu thờ bà “Cửu Thiên Huyền Nữ "(người địa phương gọi là miếu Mẫu) sẽ thấy có một bàn chân nhỏ bé xinh xắn rõ nét hơn in đậm và sâu trên vách đá của miếu thờ. Bên dưới bàn chân đó, người dân đã lập một bàn thờ nho nhỏ đề thờ cúng các vị thần tiên đã có dịp về đây du ngoạn.
    Xuống phía sau miếu Mẫu là một bàn cờ trên một phiến đá bằng phẳng gọi là bàn cờ tiên. Cạnh bàn cờ tiên là dấu chân trên vách đá. Bàn chân này lớn hơn, nên được gọi là bàn chân của các Tiên ông.
    Theo người dân sống ở đây và những người trông coi ở miếu “Cửu Thiên Huyền Nữ” thì những vết chân đã được phát hiện từ lâu - Họ kể lại rằng. Thuở xa xưa khi đất trời còn giao lưu với nhau nơi đây núi non đẹp, cây xanh bóng mát, cảnh hạ giới mà chẳng khác gì chốn Bồng Lai. Từ trên trời cao các Tiên ông thường dắt các Tiên đồng, Tiên cô xuống núi này vui đùa. Các Tiên ông ngồi bên tảng đá đàm đạo và đánh cờ. Các cô Tiên thi chạy nhảy tung tăng vui đùa từ tảng đá này sang tảng đá khác và đề lại các dấu chân trên đá cho đến bây giờ.

    Hướng dẫn du lịch Vũng Tàu
    Sơ lược: Vũng Tàu nằm trên bán đảo cùng tên, là tỉnh lỵ của tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu. Nằm nhô hẳn ra khỏi đất liền như một dải đất có chiều dài khoảng 14km và chiều rộng khoảng 6km. Từ nơi đây, người ta có thể nhìn biển Đông cả khi trời mọc lẫn lúc hoàng hôn.
    Là một thành phố ven biển, có bờ biển trải dài 20km Vũng Tàu trở thành nơi du lịch nổi tiếng với du khách trong và ngoài nước.
    Bên cạnh đó Vũng Tàu còn là miền đất có truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời với những di tích mang đậm dấu ấn của những thời kỳ lịch sử.Hiện toàn tỉnh có 29 khu di tích được xếp hạng cấp quốc gia.

    Đi đâu, chơi gì?
    Vũng Tàu là một thành phố ven biển nên nơi đây có những bãi biển lý tưởng để du khách nghỉ mát và tắm biển. Bãi Sau là một trong nhứng bãi biển đẹp của Việt Nam còn có tên gọi là Thùy Vân(Thùy Dương). Nằm phía Nam Vũng Tàu kéo dài từ chân Núi Nhỏ chạy dài gần 10km đến Cửa Lấp, bãi cát dài phẳng, nước biển sạch, trong xanh, sóng lớn. Mặt trước là biển Đông, phía sau là những đồi cát trắng và rừng phi lao ngút ngàn. Du khách sẽ có được những cảm giác thoải mái khi đắm mình trong dòng nước mát rượi của bãi Sau, tận hưởng không khí trong lành, thoáng mát. Ở bãi Sau còn có khu rừng dương một cánh rừng rộng lớn với những cây phi lao cổ thụ phía dưới rừng thấp thoáng những những nhà nghỉ bằng gỗ theo kiểu nhà rông Tây Nguyên với đầy đủ tiện nghi hiện đại mà dân dã.
    Gần đó là bãi Trước còn gọi là bãi Tầm Dương, nước biển không sạch bằng bãi Sau vì thế mà hầu như du khách thường tập trung ở bãi Sau để tắm. Nhưng ở bãi Trước này du khách sẽ tìm được cái cảm giác khó quên và lãng mạng đó là được ngắn hoàng hôn vào lúc xế chiều và bình minh vào buổi sớm mai. Dọc theo bờ biển là những hàng dừa (chính vì vậy mà trước đây nơi này còn có tên gọi là vịnh Hàng Dừa) bên dưới là khu công viên đầy hoa dành cho du khách bộ hành bên cạnh tiếng sóng vỗ dào dạt. Đêm đến, dọc bên đường Trần Phú, Quang Trung rực sáng với hệ thống đèn cao áp, những quán café tỏa sáng muôn ánh đèn đủ màu sắc.
    Một bãi Sau với nét đẹp dịu dàng và rực rỡ, một bãi Trước lộng lẫy, và Vũng Tàu còn có bãi Dâu yên bình. Bãi này nhiều ghềnh đá thơ mộng và kín gió, hai đầu bãi có nhiều mỏm đá lớn nhô ra biển, sau lưng bãi là địa hình lòng chảo được cây cối um tùm bao bọc tựa triền núi lớn, chân núi dốc đứng và ăn sát ra biển. Đến bãi Dâu không khí ồn ào, náo nhiệt tách rời hẳn và mang lại cho du khách cái cảm giác thanh bình.
    Núi lớn là một trong hai ngọn núi đẹp, tọa lạc về phía Bắc của thành phố Vũng Tàu, nằm sát biển còn có tên gọi là Tương Kỳ.Dọc đường đi trên núi có nhiều thắng cảnh đẹp như Bạch Dinh, Thích Ca Phật Đài, tượng Đức Mẹ, tượng Phật Bà Quan Âm,…Du khách có thể leo lên đến tận đỉnh Núi Lớn để tận hưởng không khí trong lành, mát lạnh, và ngắm toàn cảnh thành phố Vũng Tàu theo con đường uốn lượn quanh thành phố phía nam. Ngoài ra, còn có mũi Đá trước tòa Bạch Dinh, mũi đá Cao Trang ở đầu đường vòng Núi Lớn buổi chiều du khách đến đây dạo chơi thì còn gì bằng!
    Núi lớn.
    Trái ngược với Núi Lớn, Núi Nhỏ tọa lạc về phía Nam của thành phố và có tên gọi khác là Tao Phùng. Phía dưới chân núi là con đường ven biển với nhiều khách sạn, nhà hàng, quán café,…Lên đỉnh Núi Nhỏ, du khách có dịp chiêm ngưỡng tượng Đức Chúa giang tay cao 32m là tượng Chúa cao nhất thế giới. Thú vị hơn nữa, khi leo lên đỉnh núi, du khách còn được thưởng ngoạn một công trình kiến trúc đặc sắc đó là ngọn Hải Đăng. Bên trong có cầu thang xoắn ốc lên gần tới đỉnh và có lối dẫn ra ban công bên ngoài quan sát toàn cảnh Vũng Tàu.
    Cuối Núi Nhỏ về phía Nam là ngọn núi Nghinh Phong ôm lấy bãi Vọng Nguyệt phía Đông và bãi Dứa hướng Tây, gió thổi quanh năm. Tiếp tục đi một khoảng không xa lắm từ Nghinh Phong, du khách bắt gặp Hòn Bà- một bãi đá lởm chởm làm cầu. Khi nước ròng ha thấp du khách có thể đi bộ ra đây chơi. Trên đường vòng Núi Nhỏ chạy từ bãi Trước qua bãi Ô Quắn, bãi Dứa, đến Nghinh Phong và ra bãi Sau dài 6km. Hai bên đường có nhiều điểm hấp dẫn thu hút nhiều du khách như Niết Bàn Tịnh Xá, tượng Chúa Kitô,…

    Ngoài hai ngọn Núi Lớn và Núi Nhỏ, ở Vũng Tàu còn có ngọn núi nữa cũng thu hút nhiều du khách đến đây đó là Núi Dinh nằm ngay trên địa bàn huyện Tân Thành. Nơi đây là một quần thể cây xanh, am,chùa, miếu, cốc và núi non. Ẩn hiện theo sườn núi là những ngôi chùa Hang, chùa Đại Tùng Lâm, chùa Tây Phương,..mang nhiều giá trị về mặt tôn giáo. Và bắt nguồn từ ngọn núi này là con sông Dinh lớn nhất Vũng Tàu, chảy qua Phước Lễ xuôi theo hướng Tây Bắc dài 11km, chỗ rộng nhất 1000km, chỗ hẹp cũng 300m, nơi sâu nhất là 25m.
    Nằm song song với bãi biển chạy từ chân Núi Nhỏ đến Cửa Lấp dài khoảng 10km là dãy đồi cát cao từ 4m đến 12m. Cũng nhờ vào đòi cát này mà những luồng gió lớn từ biển Đông thổi vào không gây nhiều thiệt hại cho nơi đây.
    Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu-Phước Bửu là khu rừng nguyên sinh ven biển duy nhất còn nguyên vẹn của Việt Nam tọa lạc tại Xuyên Mộc-Bà Rịa-Vũng Tàu. Địa hình nơi đây tương đối bằng phẳng cho nên cũng rất thuận lợi với khách tham quan. Ở phía tây có một ngọn núi cao từ 100 đến 150m và những ngọn đồi thoai thoải xen lẫn với những bàu nước ngọt tư nhiên. Vào đây, du khách còn khám phá được thảm thực vật đa dạng, thế giới động vật phong phú nhiều loài động vật quý hiếm. Giữa rừng xanh ngút ngàn là một bàu nước nóng với hơn 70 điểm phun nước ngọt tự nhiên và nhiều hồ nước ngọt hoang sơ như hồ Tràm, hồ Cốc, hồ Linh, bàu Nhám,…
    Khi đến đây, du khách cũng sẽ được tham gia lễ hội Nghinh Cô diễn ra hằng năm vào ngày 12 tháng 2 âm lịch tại thị trấn Long Hải. Lễ cầu an diễn ra trong chính điện vào đêm hôm trước và lễ rước vào sáng 12 trên hàng chục chiếc ghe thuyền trang hoàng lộng lẫy để cầu trời yên bể lặn, tôm cá đầy khoang. Trong lễ hội có nhiều đội múa lân, dàn nhạc đến góp vui và có rất đông người tham gia.
    Không những có Lễ hội Nghinh Cô mà còn có lễ hội Nghinh Ông diễn ra tại Lăng Cá Ông trên đường Hoàng Hoa Thám vào ngày 16-18 âm lịch. Sau nghi lễ du khách sẽ được thưởng thức hát bội, hát bá chạo, xem biểu diễn võ thuật rất vui.
    Ðình Thần Thắng Tam là một quần thể kiến trúc gồm có 3 di tích: Ðình Thần Thắng Tam, miếu Bà Ngũ Hành, lăng ông Nam Hải.
    Theo truyền thuyết Ðình Thần Thắng Tam thờ chung cả ba người đã có công xây dựng nên ba làng Thắng ở Vũng Tàu, đó là: Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn Huyền. Hàng năm lễ hội Ðình Thần Thắng Tam được tổ chức trong 4 ngày từ 17 đến 20 tháng 2 âm lịch. Ðây là lễ hội cầu an, là thời điểm kết thúc và mở đầu cho một mùa thu hoạch tôm cá.
    Phần lễ diễn ra rất cầu kỳ: cúng tế, lễ vật tế thần, dâng hương quỳ lạy, chiêng trống, kèn nhạc... và có rất nhiều điều kiêng kỵ như heo dùng để tế lễ phải có bộ lông cùng màu, người có tang không được tham gia vào việc nghi thức tế lễ. Phần hội có nhiều trò vui chơi giải trí như múa lân, hát bội...
    Lễ hội Ðình Thắng Tam là một hoạt động văn hoá đặc sắc của ngư dân miền biển Vũng Tàu. Lễ hội mang đậm nét văn hoá dân gian và bản sắc dân tộc.

    Bánh khọt Gốc Vú Sữa (Vũng Tàu)

    Không biết từ khi nào, bánh khọt trở thành món khoái khẩu gần như đặc sản ở Vũng Tàu. Thế giới bánh khọt không quy mô. Quán xá thường lúp xúp, vậy mà nhiều người bảo, khách đến Vũng Tàu mà không đi ăn bánh khọt thì phí nửa chuyến đi.
    Ở đường Nguyễn Trường Tộ được xem là cái nôi của bánh khọt, nhưng với những người bạn sành ăn ở Vũng Tàu thì nên bắt đầu bằng quán Gốc Vú Sữa. Có lẽ khỏi phải bắt đầu bằng việc giới thiệu tên quán làm gì. Tên quán miêu tả thật thà vị trí của nó.
    Sai lầm nếu bạn hình dung đó là một quán nhà cao cửa rộng, tiện nghi. Không, một chái quán xệch ra mặt đường theo kiểu quán nửa mặt tiền nủa vỉa hè. Vậy mà sáng nào cũng đông ních khách, người đứng đợi người khác đứng dậy là ghé ngay vào ghế. Mấy cô "xẹc-via" mặc áo tay cánh kiểu "cây nhà lá vườn" bưng bê chạy ngược chạy xuôi vẫn không kịp đặt hàng của khách, người ngồi nhẩn nha, kẻ gói mang về...
    Những khuôn bánh khọt cháy lèo xèo, mùi dầu mỡ hấp dẫn dịch vị nếu buổi sáng bao tử bạn đang...nổi giận, những khuôn bánh khọt tôm, trứng và nước chấm là mắm đường hay mắm nêm ngon với đu đủ bào ngâm chua và rau thơm... Một buổi sáng không quá hoành tráng nhưng đủ để nhớ lâu vì cái không khí quán, mùi khói, những câu chuyện bàn nọ sát bàn kia, những câu hỏi han làm quen của khách, của chủ...
    Quán bánh khọt Gốc Vú Sữa có thể được liệt vào quán dân gian và lâu đời ở thành phố Vũng Tàu. Thành phố du lịch đang có một danh sách dằng dặc những quán xá sang lên đời.
    Nguyễn Vinh
    Địa chỉ: Quán Gốc Vú Sữa, 14 Nguyễn Trường Tộ, P2, Tp. Vũng Tàu

    địa danh bà rịa

    1. Địa danh Bà Rịa lần đầu tiên được sử nhà Nguyễn nói đến qua một sự kiện xẩy ra năm 1690 trong sách Đại Nam thực lục tiền biên. Năm 1776, Lê Quý Đôn cũng nói tới địa danh này trong Phủ biên tạp lục. Gần 190 năm qua, kể từ khi Trịnh Hoài Đức là người đầu tiên giải thích nguồn gốc địa danh Bà Rịa đến nay đã có hàng chục cuốn sách, bài viết của các tác giả người Pháp, người Việt tìm cách giải thích nguồn gốc địa danh này nhưng dường như vấn đề vẫn còn để ngõ. Tựu trung có hai giả thiết về nguồn gốc địa danh Bà Rịa:
    - Địa danh Bà Rịa bắt nguồn từ một nhân vật truyền thuyết ở địa phương: Nguyễn Thị Rịa (thường gọi là bà Rịa), người đã có công khai phá đất đai ở làng Phước Liễu (nay thuộc xã Tam Phước, huyện Long Điền). Dấu tích còn lại là mộ bà Rịa ở Tam Phước.
    - Tên gọi Bà Rịa có nguồn gốc từ địa danh của các tộc người từng cư trú trên địa bàn này trước khi người Việt đến…
    Giả thiết thứ nhất chưa thuyết phục vì tên gọi Bà Rịa đã có trước thời điểm xẩy ra sự kiện theo truyền thuyết về nhân vật bà Rịa. Giả thiết thứ hai cũng chưa thuyết phục vì có nhà nghiên cứu đã chỉ ra sự nhầm lẫn của Trịnh Hoài Đức khi căn cứ vào Tân Đường Thư để xác định Bà Rịa là nước Bà Lị xưa, trong khi Bà Lị hay Mã Lễ là đất của người Mã Lai, một bộ phận của đảo Bornéo mà nửa bên đông là Bà Lị, nửa bên tây là La Sát, nằm rất xa vùng đất Bà Rịa của chúng ta…
    2. Thờ thần biển là tín ngưỡng của nhiều dân tộc trên thế giới. Từ năm 334 TCN, trước khi xua quân Đông chinh, Hoàng đế xứ Macedon-Hy Lạp Alexander đã giết bò để hiến tế thần biển Poseidon cầu mong đại thắng. Tương truyền ông là người châu Âu đầu tiên bước lên đại lục châu Á, mở cửa bình minh giao lưu Đông-Tây.
    Trên dãi đất Việt, trong khi cộng đồng cư dân phía Bắc phát triển rực rỡ với văn minh trồng lúa nước, gắn bó chặt chẽ với đồng bằng châu thổ và vùng trung du thì ở phía Nam, cộng đồng người Chăm đã đặt nền móng và xây dựng cho mình một truyền thống đi biển. Kinh tế biển, văn hóa biển đã để lại dấu ấn sâu sắc trong quá trình phát triển của vùng đất nằm ở ngã tư đường giao lưu văn hóa-văn minh. Người Chăm thờ rất nhiều thần, trong đó có thần Sóng Biển Po Riyak. Hiện nay, tại làng Mỹ Nghiệp (thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận) vẫn còn ngôi đền thờ Po Riyak và hàng năm đều tổ chức lễ hội, cầu mưa thuận gió hòa, biển yên sóng lặng…
    Trong quá trình di cư xuống phương Nam, người Việt thường sử dụng tên gọi đã có sẵn và Việt hóa theo cách đọc của mình, hoặc đặt tên mới để gửi gắm ước mong của mình vào tên gọi đó. Theo nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường thì địa danh Bà Rịa có lẽ lấy từ danh xưng thần Po Riyak của người Chăm. Sự Việt hóa từ Po Riyak thành Bà Rịa nằm trong quy luật biến âm của ngôn ngữ Việt. Tương tự như Sài Gòn vốn được Việt hóa từ Prei Nokor, Sa Đéc từ Phsa Đek, Cà Mau từ Tưk Khmau, Long Hồ từ Lon Hor… Từ Po Riyak người ta đọc trại thành Pa Ria và cuối cùng là Bà Rịa.
    3. Nhưng Po Riyak là thần Sóng Biển của người Chăm mà vùng đất Bà Rịa xưa lại thuộc về Chân Lạp, hay nói đúng hơn là nằm trên lằn ranh giữa Champa và Chân Lạp. Vậy thì nếu đúng địa danh Bà Rịa được Việt hóa từ Po Riyak thì đó chính là sự phản ánh hồi ức của những đợt di dân từ đất miền Trung vào trong thế kỷ XVII-XVIII mà trước đó họ đã chịu ảnh hưởng tín ngưỡng-văn hóa biển truyền thống trên dãi đất này, cũng giống như tục thờ cúng cá ông, vốn không có nguồn gốc từ Nam Bộ, nhưng đã theo bước chân lưu dân từ miền Trung vào. Cái hồi ức tín ngưỡng-thần biển che chở trên đường vào Nam đã thành tên gọi cho vùng đất đầu tiên đặt chân đến-để mở cửa vạch một chân trời mới. Và điều này dễ dàng được chấp nhận khi mà ở vùng đất này đã có lớp “trầm tích” tín ngưỡng văn hóa biển phát triển lâu dài trước đó hàng chục thế kỷ.
    Theo quan niệm của người Chăm thì cá voi (cá ông) chính là hóa thân của Po Riyak. Từ sự kế thừa quan niệm của người Chăm, người Việt phương Nam đã lập đền thờ và Việt hóa nghi thức thờ cúng cá ông suốt dọc bờ biển từ miền Trung vào tới Nam Bộ, cho dù phía Bắc vẫn xem cá ông cũng như những loại cá khác (bởi vậy có câu Nam vi thần, Bắc vi ngư-Nam là thần, Bắc là cá).
    Không phải ngẫu nhiên mà Bà Rịa-Vũng Tàu lại là địa phương có nhiều đền, miếu, lăng, dinh thờ cá ông nhất ở Nam Bộ (trong khoảng hơn 50km ven biển vùng đất lằn ranh giao thoa văn hóa suốt nhiều thế kỷ này có đến 10 ngôi đền thờ cá ông, cao nhất về mật độ cũng như về số lượng). Từ hồi ức tiềm thức suốt hành trình di cư về phương Nam, đến việc đặt gọi tên đất và quan niệm tôn thờ cá ông là đền ơn đáp nghĩa theo luật nhân quả một lần nữa đánh thức “trầm tích” văn hóa biển của vùng đất trước đó đã chịu nhiều biến động của lịch sử. Với sự xuất hiện của hệ thống tín ngưỡng liên quan đến biển và là yếu tố chính cấu thành nên văn hóa biển, địa danh Bà Rịa một lần nữa xác nhận không gian văn hóa biển của vùng đất mang tên Thần Biển.

    Trở lại Đất Đỏ quê hương chị Võ Thị Sáu, lớp lớp thế hệ hôm nay vẫn nhắc tên người nữ anh hùng kiên cường, bất khuất, hy sinh ở tuổi 17. Kỷ niệm 56 năm ngày nữ anh hùng Võ Thị Sáu hy sinh (23-1-1952 – 23-1-2008), viếng thăm tượng đài Võ Thị Sáu ở trung tâm thị trấn Đất Đỏ và chúng tôi lắng nghe những câu chuyện kể từ những người thân trong gia đình chị Sáu.
    TRỞ THÀNH ANH HÙNG Ở TUỔI 17
    Chị Võ Thị Sáu sinh năm 1935 trong một gia đình nghèo ở Đất Đỏ, cha làm nghề đánh xe ngựa, mẹ bán bún tại chợ Đất Đỏ. Đầu năm 1946, thực dân Pháp đang đánh chiếm TX. Bà Rịa lần thứ hai. Vừa tròn 11 tuổi, chị Sáu xin vào đội Công an xung phong huyện Đất Đỏ. Đội có nhiệm vụ luồn sâu vào vùng tạm chiếm, trừ gian, phá rã bộ máy tề Ngụy, phát động đồng bào tham gia ủng hộ kháng chiến. Gan dạ và mưu trí, chị Võ Thị Sáu thường đi trước trinh sát địa bàn, khi thì trong vai người đi chợ; khi lẫn vào tốp thợ cấy, thợ gặt...
    Chị luôn hoàn thành nhiệm vụ của người chiến sĩ công an xung phong tham gia nhiều cuộc chiến đấu. Trong đó nổi bật nhất là trận đánh diệt tên cai tổng Tòng vào năm 1949 và dùng lựu đạn phá cuộc mít tinh tuyên truyền do thực dân Pháp tổ chức tại Đất Đỏ. Kẻ thù vô cùng lo sợ và căm tức đối với hoạt động của đội công an xung phong mà tiên phong đó là người đội viên Võ Thị Sáu, nên bọn chúng ra sức truy lùng chị. Tháng 12-1949, trong một lần hoạt động tại Đất Đỏ, chị Võ Thị Sáu đã bị sa vào tay giặc. Hơn một tháng bị giam giữ tại khám đường Bà Rịa, địch dùng nhiều thủ đoạn tra tấn dã man nhưng chúng vẫn không thể lấy được một lời khai nào của chị. Sau đó, bọn chúng đưa chị về giam giữ ở khám Chí Hoà. Tại đây chị vẫn tiếp tục làm liên lạc cho các đồng chí trong khám và đấu tranh đòi cải thiện đời sống trong nhà tù. Tháng 4-1951, thực dân Pháp đưa chị Võ Thị Sáu ra toà án binh kết án tử hình. Bản án tử hình người con gái chưa đủ tuổi thành niên đã làm xôn xao dư luận quốc tế. Từ đó phong trào chống chiến tranh ở Pháp nổi lên mạnh mẽ. Thực dân Pháp không dám xử chị tại Sài Gòn mà phải lén lút đưa chị ra Côn Đảo hành hình vào ngày 23-1-1952. Trước khi bắn, chị từ chối rửa tội, từ chối bịt mắt, nhìn thắng vào họng súng của kẻ thù, hát vang bài quốc ca và hô to khẩu hiệu “Hồ Chí Minh muôn năm”, “Việt Nam độc lập muôn năm”. Ngày 2-8-1993, Chủ tịch nước đã ký quyết định truy tặng danh hiệu Anh Hùng lực lượng vũ trang Nhân dân cho liệt sĩ Võ Thị Sáu.
    “Anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu là dì của tôi”. Tôi nhận thấy trên gương mặt của anh như thể hiện niềm tự hào qua câu nói đầu tiên khi chúng tôi ghé thăm nhà. Anh là Nguyễn Văn Phước, 47 tuổi, một trong những người cháu của nữ anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu hiện đang sống tại 425, khu phố Tường Thành, thị trấn Đất Đỏ. Anh Phước kể lại, trước năm 1975, mặc dù sống trong một gia đình có truyền thống cách mạng nhưng anh không hề được biết về sự hy sinh anh dũng của dì Sáu. “Mọi người trong gia đình, kể cả mẹ tôi (bà Võ Thị Bảy), cũng không dám kể về người chị của mình. Tôi chỉ biết rằng, dì Sáu đã hy sinh ở Côn Đảo”, anh Phước ngậm ngùi. Sau ngày miền Nam hoàn toàn thống nhất, sự hy sinh anh dũng của Võ Thị Sáu mới được tiết lộ. Anh Phước tâm sự rằng, mặc dù không được gặp mặt nữ anh hùng Võ Thị Sáu nhưng qua lời kể của những người đi trước, qua tư liệu, anh rất tự hào là cháu của nữ anh hùng liệt sĩ được cả dân tộc Việt Nam tôn vinh. Những hiện vật còn lại của Võ Thị Sáu đã được cất giữ và đem đến trưng bày ở Nhà lưu niệm Võ Thị Sáu. Hằng năm, đến ngày 23-1, anh Phước vẫn thắp lên bàn thờ người dì của mình những nén nhang để bày tỏ lòng thành với anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu.
    Không chỉ có những người thân trong gia đình của chị Võ Thị Sáu, những người dân Đất Đỏ cũng tự hào vì được sống và làm việc trên quê hương của nữ anh hùng. Ông Phan Văn Thứ, Trưởng phòng Văn hoá – Thông tin – Thể thao huyện Đất Đỏ, nói: “Hình ảnh của chị Võ Thị Sáu mãi luôn là biểu tượng cho sức mạnh, là ý chí kiên cường, bất khuất của tuổi trẻ. Chị Võ Thị Sáu đã trở thành niềm tự hào của tuổi trẻ Việt Nam, đặc biệt là người dân huyện Đất Đỏ”. Dù đã hy sinh nhưng nữ anh hùng Võ Thị Sáu vẫn luôn sống mãi trong lòng mỗi người dân Việt Nam, và được mọi người nhắc tới bằng cái tên gần gũi, thân thương và đầy tự hào: chị Sáu.
    BIẾT ƠN CHỊ VÕ THỊ SÁU
    Để ghi nhớ công ơn của chị Võ Thị Sáu, năm 1984, công viên tượng đài anh hùng Võ Thị Sáu được khởi công xây dựng trên vị trí từng là nơi giam cầm, tra tấn dã man cán bộ, chiến sĩ cách mạng và nhân dân Đất Đỏ trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược. Công trình hoàn thành và đưa vào sử dụng vào năm 1985 đúng vào dịp kỷ niệm 10 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Trên khuôn viên rộng 0,4ha được bao quanh bởi hàng rào thấp, chính giữa khuôn viên là tượng đài anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu. Tượng được đúc bằng đồng, do điêu khắc gia Trần Thanh Thanh tạo dáng, và được một nghệ nhân chuyên đúc đồng ở Bình Dương đúc nên bằng khuôn thạch cao. Năm 2001, Bộ Công an tiếp tục hỗ trợ huyện Đất Đỏ (huyện Long Đất cũ) xây dựng Nhà lưu niệm với tổng diện tích xây dựng là 1240m2, gồm một tầng dùng cho hoạt động chính là trưng bày hiện vật và giới thiệu hình ảnh về cuộc đời hoạt động của anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu cùng một số hình ảnh về quê hương Đất Đỏ. Chị Huỳnh Thị Thu Châu, thuyết minh viên Khu nhà lưu niệm Võ Thị Sáu, cho biết: “Quần thể công viên tượng đài, nhà lưu niệm, đền thờ Võ Thị Sáu mở cửa đón khách hàng ngày. Vào những dịp lễ- Tết hay những ngày nghỉ cuối tuần, không chỉ có người dân địa phương mà du khách từ khắp các tỉnh thành trong cả nước và du khách nước ngoài đã về đây tham quan, tìm hiểu về quê hương, cuộc đời của chị Sáu từ thuở thiếu thời đến lúc chị anh dũng hy sinh”. Trong những năm qua, khuôn viên tượng đài anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu vì thế đã trở thành một nơi giáo dục truyền thống và thu hút du khách đến tham quan. Nhiều đơn vị đã chọn nơi đây để tổ chức nhiều sự kiện quan trọng như lễ kết nạp Đoàn, kết nạp Đảng và tổ chức các buổi sinh hoạt, nói chuyện truyền thống.
    Ngày 23-1, ngay tại công viên tượng đài - nhà lưu niệm Võ Thị Sáu, UBND Thị trấn Đất Đỏ đã tổ chức buổi lễ tưởng niệm 56 năm ngày chị Sáu hy sinh. “Hàng trăm khách mời và nhân dân Đất Đỏ đã có mặt để cùng ôn lại những kỷ niệm về anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu”, ông Nguyễn Văn Ngàn, Phó Chủ tịch UBND thị trấn Đất Đỏ cho biết.


    Mùa hoa lê - ki - ma nở
    Ở quê ta miền đất đỏ
    Thôn xóm vẫn nhắc tên người anh hùng
    Đã chết cho mùa .. hoa lê - ki - ma nở
    Đời sau vẫn
    còn nhắc nhở
    Sông núi đất nước ơn người anh hùng
    Đã chết cho đời sau
    Người thiếu nữ ấy như mùa xuân
    Chị đã dâng trọn cuộc đời
    Để chiến đấu với bao
    niềm tin
    Dù chết vẫn không lùi bước
    Chị Sáu đã hy sinh rồi
    Giọng hát vẫn như còn vang dội
    Vào trái tim những người đang sống
    Giục đi lên không
    bao giờ lui
    Kìa hoa lê - ki - ma nở
    Đẹp thêm quê miền đất đỏ
    Nơi đó sáng mãi tên người anh hùng
    Bình minh đang rực sáng cho hoa kia nở
    Mùa xuân
    lan tràn xứ sở
    Tôi đến hát trước nấm mồ chôn sâu
    Người nữ anh hùng


    Nhà lưu niệm Võ Thị Sáu

    Nằm ở ngã tư Đất Đỏ, thuộc xã Phước Long Thọ - Huyện Long Đất. Đây vốn là dãy nhà 8 gian do dân làng xây cất từ dầu thế kỷ XX tại trung tâm Đất Dỏ để các gia đình thuê ở. Ngôi nhà là nơi ghi dấu nhiều kỷ niệm tuổi thơ (từ lúc lên 4 tuổi) cho đến khi chị bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Ngôi nhà có lối kiến trúc dân dã đặc trưng của làng quê Việt Nam.
    Xung quanh được che bằng các tấm ván gỗ, mái nhà lợp ngói âm dương, nền đất. Căn nhà dài 10m, rộng 3m gồm 2 phòng nhỏ. Phòng ngoài dài 5m, ở giữa bài trí tủ thờ gia tiên, kê sát bên vách phía phải là bộ đồ ván gỗ nơi chị em Sáu thường nằm ngủ.
    Từ năm 1980, Uỷ ban nhân dân huyện Long Đất đã tu bổ lại căn nhà lưu niệm nữ liệt sĩ anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân Võ Thị sáu.
    Cách nhà lưu niệm chừng 100m là công viên tượng đài và nhà trưng bày Võ Thị Sáu. Tượng đài nằm trong công viên bốn mùa ngát hương hoa sứ, ngọc lan, lêkima. Tượng được đúc bằng đồng, cao 7m, do nghệ sĩ Thanh Thanh sáng tác diễn tả tư thế Chị sáu đang ung dung ra pháp trường với tà áo tung bay trong gió ban mai. Võ Thị Sáu làm liên lạc viên cho đội Công an xung phong Đất Đỏ.
    Năm 1950, Võ Thị Sáu dùng lựu đạn tiêu diệt tên Cai tổng Tòng, tay sai của Pháp, nhưng lựu đạn không nổ. Chị bị bắt giam tại nhà lao Bà Rịa, sau đó chuyển lên khám Chí Hòa (Sài Gòn), rồi đày ra Côn Đảo. Chị bị kết án tử hình khi chưa đến tuổi thành niên. Ngày 23-1-1952, thực dân Pháp đã xử bắn chị. Võ Thị Sáu được xếp vào danh sách một trong 1.000 phụ nữ nổi tiếng...

    Vườn quốc gia Côn Đảo

    Vườn quốc gia Côn Đảo được công nhận là khu bảo tồn thiên nhiên từ năm 1984 và được công nhận là vườn quốc gia từ năm 1993; có môi trường, tài nguyên rừng, biển còn tương đối nguyên vẹn, tiềm năng đa dạng sinh học cao, cảnh quan thiên nhiên ít bị tác động. Tổng diện tích được bảo vệ của vườn là 20.000ha, trong đó 14.000ha là biển và 6.000ha là rừng trên 14 hòn đảo. Rừng Côn Đảo xanh tốt um tùm với nhiều loại cây gỗ quý như bời lời, lát hoa, sao đen, cẩm thi, thiên niên kiện, săng đào, dầu lá bóng...
    Động vật ở Vườn quốc gia cũng có nhiều loài như chồn, sóc, kỳ đà, khỉ, hươu, nai, gà rừng..., đặc biệt có sóc mun toàn thân đen tuyền không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta. Ở đây có các loài chim quý hiếm như: chim điêu mặt xanh, én biển... Thêm vào đó còn có một vùng đệm biển rộng 20.500ha, bao gồm cả các hệ sinh thái biển và ven bờ như rừng ngập mặn, các rạn san hô và thảm cỏ biển. Trên 1.300 loài sinh vật biển đã được xác định ở đây. Vùng biển Côn Đảo có nhiều loài hải sản quý, có giá trị cao như tôm hùm, cá hàng, cá gióng, cá mập, cá heo, cá nhám, hải sâm, đồi mồi, vích… Côn Đảo còn là một trong số rất ít những nơi còn lại ở VN có những loài động thực vật quí hiếm nhất sinh sống, như dugong (còn gọi là bò biển).
    Đặc biệt ở Côn Đảo có quần thể rùa biển rất lớn, hàng năm vào mùa sinh sản, có hàng ngàn lượt rùa biển lên các bãi cát để đẻ trứng. Từ năm 1995 đến nay, hơn 300.000 rùa con đã được thả về biển và gần 1.000 con rùa trưởng thành đã được gắn thẻ. Với tính đa dạng sinh học biển cao, vườn quốc gia Côn Đảo đã được liệt kê vào danh sách “Những khu vực được ưu tiên cao nhất” trong hệ thống khu bảo tồn biển toàn cầu. Ngòai ra, Côn Đào còn có những rạn san hô lớn và đa dạng, có thể sánh với những khu du lịch sinh thái nổi tiếng nhất trong khu vực.
    Đến với Côn Đảo, có lẽ sẽ không gì thích thú hơn đối với du khách nếu được thực hiện một chuyến lặn xem những rạn san hô trải dài hàng cây số, gồm hàng chục loại san hô đủ màu sắc, đủ hình dáng, với những đàn cá lớn sặc sỡ bơi lội tung tăng trong làn nước biển xanh trong vắt. Có lẽ trên phạm vi cả nước, Vườn Quốc gia côn Đảo đã hội tụ đầy đủ nhất các điều kiện để trở thành một địa điểm du lịch sinh thái đúng nghĩa. Chắc chắn sẽ ngày càng có nhiều du khách đến thăm đảo xinh đẹp này để được thật sự sống trong môi trường nhiên còn nguyên vẹn, và chia sẻ niềm vui với những chú dugong, rùa biển, cá heo đang đùa giỡn tự do trong thiên đường an toàn của chúng.

    Bãi biển Hồ Cốc

    Từ thị trấn Xuyên Mộc, thẳng tới một ngã ba, theo đường nhựa có bảng chỉ dẫn về khu du lịch Hồ Cốc. Trước khi vào bãi biển, du khách có dịp băng qua một khu rừng nguyên sinh, có điều kiện chiêm ngưỡng cảnh đẹp núi rừng tự nhiên với quần thể cây xanh, đá xanh đủ loại.
    Biển Hồ Cốc khá đẹp, là một vùng hoang sơ mới được khai thác, nước biển trong xanh, khu bãi tắm rộng, độ dốc thoai thoải và đặc biệt đẹp thơ mộng nhờ các tảng đá nằm ngay trong bãi tắm tạo nên những đợt sóng biển tung bọt trắng xoá. Với vẻ nên thơ của một vùng biển hoang vắng nên du khách ví bãi biển Hồ Cốc đẹp như một thiếu nữ trinh nguyên.
    Tắm biển ở đây thật thú vị, như lạc lõng giữa thiên nhiên, thả mình trong làn nước xanh thẳm để thưởng thức những gì còn hoang sơ của núi rừng và biển cả.

    Núi Chúa

    Núi Chúa cao 515m, nằm ở khu vực trung tâm đảo lớn sừng sững như bức tường che chắn phía tây bắc cho thị trấn Côn Sơn. Chưa phải là ngọn núi cao nhất, (núi An Hải cao 575m), nhưng núi chúa gắn với truyền thuyết thời chúa Nguyễn Ánh bôn tẩu ra Côn Đảo. Sợ vía quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh leo tuốt lên núi ở, buộc quân sĩ phục dịch rất cực khổ. Chẳng bao lâu, chiến thuyền quân Tây Sơn đuổi đến, Nguyễn Ánh tháo chạy ra đảo Thổ Chu, bỏ lại hàng trăm thân quyến, trong đó có vị cận thần và bà thứ phi đã dám khuyên can Ánh đừng nên cõng rắn cắn gà nhà. Ngọn núi được mang tên núi Chúa như một địa danh chúa ngự, vừa hàm ý chê cười chúa Nguyễn Ánh tham vọng lớn mà khí phách can trường chẳng có được là bao.
    Trên núi còn dấu tích một bàn cờ khắc trên đá, vừa tầm hai người ngồi chơi, tục truyền do quân sĩ tạo dựng làm nơi vui chơi cho chúa. Năm 1962 chúa đảo Lê Văn Thể cho quân truy tìm, sửa sang lại bàn cờ, chuẩn bị rước tổng thống nguỵ Ngô Đình Diệm ra thăm vào dịp lễ noen năm ấy, nhưng cuộc đón tiếp không thành, Ngô Đình Diệm bãi bỏ chuyến đi vì phong trào cách mạng miền nam lúc đó đang tiến công mạnh mẽ.

    Nghĩa trang Hàng Dương

    Nghĩa trang Hàng Dương rộng 190.000m2, gồm 3 khu : khu A, khua B và khu C. Theo số liệu ước định có khoảng: 20.000 tù nhân đã chết ở Côn Đảo. Tuy nhiên không phải tất cả đều nằm ở Hàng Dương. Nghĩa địa tù được lập ở khu vực Chuồng Bò, sau dời lên Hàng Keo. Từ năm 1944, chế độ khủng bố trắng sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã giết hại hàng ngàn tù nhân.
    Nghĩa địa Hàng Keo hầu như hết chỗ, thực dân Pháp mở nghĩa địa Hàng Dương để chôn tù. Tính đến ngày Côn Đảo hoàn toàn giải phóng (1975), nghĩa trang lịch sử này tròn 35 tuổi. Trong vòng 35 năm ấy, ước tính khoảng 6.000 tù nhân bị giết hại.
    Khu A nghĩa trang, nơi có phần mộ cụ Nguyễn An Ninh và đồng chí Lê Hồng Phong là nơi chôn những ngôi mộ đầu tiên. Mỗi người tù xấu số được liệm bằng 2 chiếc bao bàng (đan bằng loại cỏ ống), cột 7 nút lại, rồi đưa ra vùi qua loa xuống cát. Có thời gian, mỗi ngày từ 15 đến 20 người tù chết, tất cả được chất lên xe bò chở ra hàng Dương vùi chung một hố.
    Năm 1944, khu A đã chôn chật mộ, nhà tù đã mở rộng nghĩa trang về phía nam, tức khu B hiện nay. Hài cốt lớp tù nhân kháng chiến chống Pháp (1945-1954) được chôn kế tiếp từ đồi cát chạy dài xuống phía đông nam, nơi có phần mộ người thiếu nữ anh hùng Võ Thị Sáu.
    Hài cốt lớp tù nhân chống Mỹ được chôn tiếp vào phần còn lại của khu B và chôn tiếp qua khu C. Gần 500 tù chính trị câu lưu chống ly khai Đảng cộng sản trong những năm 1957-1963 được chôn trong khu B.
    Mỗi ngôi mộ ở nghĩa trang này không chỉ là một số phận bi hùng, một chứng tích tội ác của thực dân đế quốc mà còn âm vang những trang sử hào hùng của cuộc đấu trang trong tù, tỏa sáng chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
    Sân hành lễ nằm ở trung tâm nghĩa trang với một tượng đài mang một hình tượng Trao Aùo. Tượng đài cao 9m, nặng 25 tấn được khởi dựng ngày 16/7/1980. Dưới chân bức tượng có ghi hàng chữ “Vĩnh biệt các đồng chí”. Tượng đài được tái tạo từ câu chuyện “ Chết còn cởi áo cho nhau”. Người trao áo là ông Vũ Văn Hiếu, nguyên là bí thư đầu tiên của đặc khu mỏ Hòn Gai (tháng 10/1930). Người nhận áo nguyên là cố Tổng Bí thư Lê Duẩn.

    Nghĩa trang Hàng Dương được bảo tồn như một di tích lịch sử đặc biệt. Nghĩa trang hàng Dương với hàng ngàn nấm mộ có tên và không tên là bằng chứng hùng hồn về tội ác của đế quốc, thực dân đối với dân tộc ta. Đó là nơi yên nghỉ của hàng ngàn người con ưu tú của dân tộc ta, đã đối mặt với kẻ thù giữa lao tù, xiềng xích, trong cuộc đấu trang vì độc lập, tự do và chủ nghãi xã hội.

    Miếu Bà và đền An Hải

    Ở gần họng Đầm, đối diện với hòn bà, có ngôi miếu bà dựng lên để ghi công người phụ nữ can đảm dám can chúa Nguyễn Ánh đừng “cõng rắn cắn gà nhà”. Sau khi bà Phi Yến chết, ngôi đền thờ bà được dựng nên tại làng An Hải gần thị trấn Côn Đảo. Việc xây ngôi đền thờ bà tại An Hải từ một lý do lịch sử.
    Rằm tháng bảy năm ất Hợi (1785) ban hương chức làng An Hải cử đại diện qua làng Cỏ ống thỉnh bà về dự lễ xá tội vong nhân. Buổi lễ kéo dài đến khuya, sau đó Bà nghỉ đêm trong nhà việc tại làng An Hải để ngày hôm sau về Cỏ ống. Năm ấy bà 24 tuổi, dung nhan còn lộng lẫy, trong làng có tên đồ tể tên Biện Thi đem lòng tà dục, mò vào cấm phòng nắm lấy tay Bà. Nghe tiếng bà tri hô, dân làng kéo đến đóng gông tên Biện Thi chờ ngày xử tội. Tủi phận mình, bà đã chặt đứt cánh tay bị xâm phạm rồi quyên sinh giữ vẹn danh tiết.
    Tên Biện Thi được giải về làng xử tội chết, dân làng An Hải lập đền thờ, ta tội với bà, hàng năm cúng kiếng, có đủ mặt giới chức và dân làng Cỏ Ống. từ khi người Pháp chiếm Côn Đảo lập nhà tù, thường dân bị đưa về đất liền, ngôi đền cổ uy nghi đã hoang tàn, xiêu vẹo. Năm 1958, người dân đã xin phép nhà cầm quyền, quyên góp tiền bạc và huy động sức tù xây lại ngôi đền trên vị trí của tòa miếu cổ. Bài vị thờ bà đặt tại ngôi chính điện, với đôi câu đối.

    “Mẫu nghi xưng hậu ấm công bang,
    Thánh đắc phối thiên an hải quốc.”

    Hai bên tả - hữu Hoàng tử Cải và quan đốc Ngọc Lân, người đã can gián xin bà khỏi tội chết khi Nguyễn Ánh khép bà vào tội thông đồng với Tây Sơn. Trên hàng cột trước cửa chùa, được khắc nổi hai câu đối.

    “Trung nghĩa gián quân thiên cổ chiếu,
    Tiết hạnh quyên sinh.”

    Ngoài Côn Đảo, gần đường lên di tích Cầu Ma Thiên Lãnh, còn có Miếu Bà Phi Yến, còn có tên gọi An Sơn Miếu, cũng được giải thích theo câu chuyện trên.

    Hòn Trác - Hòn Tài

    Từ mũi Cá Mập hướng ra biển Đông, một chuỗi đảo nhỏ nằm gần nhau, mang tên hòn Trác lớn, hòn Trác nhỏ, hòn Tài lớn, hòn Tài nhỏ. Người xưa gọi nhóm đảo này là hòn huynh đệ. Chuyện kể rằng có 2 anh em sinh đôi là Đặng Phong Tài và Đặng Trác Vân, giống nhau như đúc. Đặng Phong Tài bị biệt xứ ra đảo từ thời Minh Mạng, được vị hương cả làng An Hải mến mộ tài đức, gả cho người con gái yêu là Đào Minh Nguyệt.
    Hai vợ chồng sống rất hạnh phúc trong ấp An Hội. Nàng Minh Nguyệt có nhan sắc nết na, trai làng thường gọi là nàng tiên An Hội.
    Ít lâu sau, Đặng Trác Vân, người em sinh đôi với Phong Tài cũng bị biệt xứ ra đảo, được người anh và chị dâu đón về ở cùng nhà. Lạ thay, hai anh em giống nhau như hai giọt nước.Tình cờ, một lần Trác Vân đi đốn củi về sớm, người chị dâu nghĩ là chồng về, săn sóc ân cần và tặng một nụ hôn nồng ấm. Trác Vân đứng nghiêm như pho tượng một hồi rồi xin chị thứ lỗi. Nàng tiên An Hội ngẩn người bối rối và xin người em giữ kín cho sự nhầm lẫn này. Oái ăm thay, một lần khác, Phong Tài có việc đi qua làng Cỏ ống, không hiểu vô tình hay hữu ý mà nàng Tiên An Hội lại đặt nhầm nụ hôn tình tứ cho người em. Nhưng giống như lần trước, Trác Vân sụp lạy chi, xin giữ chọn đạo đệ huynh.
    E ngại ẩn tình của chị dâu, Trác Vân đã bỏ nhà, kết bè qua một hòn đảo nhỏ, cốt ngăn ngừa phút giây sa ngã, trái đạo luân thờng. Khi Phong Tài trở về, biết chuyện bèn lặn lội đi tìm em. Hai anh em không gặp được nhau và mỗi người đã bỏ mình trên một hòn đảo. Hai hòn đảo ấy sau được mang tên hòn Trác - hòn Tài, còn gọi là hòn Huynh Đệ. Dân gian còn lưu truyền câu ca về mối tình éo le và tấm lòng kết nghĩa giữa Minh Nguyệt - Phong Tài và Trác Vân :

    "Ai qua hòn Trác hòn Tài
    Cho em xin gửi một vài câu thơ:
    Đêm khuya GIÓ lạnh sao mờ
    TRĂNG khuya chênh chếch bóng vẫn chờ đợi MÂY
    Bao giờ núi Chúa hết cây
    Sông Mê hết nước dạ này hết thương."

    Hòn Bà Côn Đảo

    Từ trung tâm huyện đi theo hướng về vịnh Bến Đầm khoảng 15 km, dọc đường du khách sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên kỳ bí của Côn Đảo với các hòn Tài Lớn, Tài Nhỏ,... thoắt ẩn, thoắt hiện trong chặng đường quanh co của biển.
    Trong nhiều hòn đảo lớn, nhỏ đó du khách sẽ dễ dàng nhận ra một hòn đảo có dáng khá dẹp, trông xa giống như một chú chim biền khổng đang đắm mình dưới nước với đỉnh núi nhỏ, trông giống mỏ chim, chân núi rộng lớn, chìm sâu dưới biển mà thành đảo, đó chính là Hòn Bà.
    Hòn Bà với Hòn Lớn tạo thành một vịnh lớn gọi là Bến Đầm và hiện nay cảng Bến Đầm đã hoàn thiện đón tàu ra vào Côn Đảo thuận tiện. Trên đỉnh Hòn Bà có một tảng đá lớn, trông giống như hòn “Vọng phu”, người dân Côn Đao nói đó là Hòn Bà. Bà chính là thứ phi của Nguyễn Ánh. Bà có tên là Nguyễn Thị Răm, một phụ nữ Việt Nam có lòng yêu nước, khi được biết Nguyễn Ánh muốn sang cầu cứu quân xâm lược Pháp, và nhất là ý muốn gửi Hoàng tử Cải sang làm con tin cho việc cầu viện bên Pháp, bà Phi Yến đã lựa lời khuyên can nhưng chẳng những Nguyễn Ánh không nghe mà còn khép cho bà tội thông đồng với quân Tây Sơn nên đã đem giam bà vào một hang đá trên hòn đảo này. Khi quân Tây Sơn tới, Nguyễn Ánh cùng đám cận thần hò nhau lên thuyền bỏ chạy. Hoàng Tử Cải không thấy mẹ đã khóc thảm thiết. Sợ lộ, Nguyễn Ánh đã quăng Hoàn tử xuống biển. Hoàng tử chết, xác trôi dạt vào Cỏ Ống được dân vớt đem an táng và lập miếu thờ. Dân làng Cỏ Ống cho người sang đảo đón Bà Phi Yến về phụng dưỡng. Trong dân dan có câu hát:

    "Gió đưa rau Cải về trời,
    Rau Răm ở lại chịu đời đắng cay."

    Đó chính là những lời ai oán, khóc cho số phận của bà Nguyễn Thị Răm, tức bà Phi Yến, một con người đẹp người, đẹp nết mà số phận thật hẩm hiu.
    Đến thăm Hòn Bà, một thắng cảnh thiên nhiên thật đẹp của Côn Đảo lại cũng là dịp biết thêm một câu chuyện tình lịch sử bi ai.

    Cầu tàu Côn Đảo

    Được khởi công xây dựng năm 1873, với phác thảo dài 107m, từ mép lộ trước cổng dinh chúa đảo ra vịnh Côn Sơn. Có người từng gọi cấu tàu bằng danh số 871; 914; 915 để tưởng nhớ số người đã chết trong lúc xây dựng Cầu Tàu. Những con số đó ít nhiều mang tính ước lệ.
    Dấu ấn sâu lắng nhất đọng lại di tích lịch sử này trong hơn một thế kỷ qua chính là những phiến đá ngổn ngang, sắp lớp. Những tảng đá lớn hàng thước khối, nặng nhiều tấn kia đã làm kiệt quệ và đè nát bao nhiêu thân tù khi họ xeo chúng từ Núi Chúa vê đây. Không xeo được sẽ chết vì đòn, xeo được thì chết vì kiệt sức.
    Cầu Tàu là nơi ghi dấu bước chân lưu đày đầu tiên của hàng chục vạn người tù lên hòn đảo tù này, với tất cả nỗi tủi nhục của trận đòn phủ đầu từ Cầu Tàu về trại giam. Hàng vạn người chỉ một lần đặt chân lên đây rồi vĩnh viễn nằm lại Hàng Keo, Hàng Dương, Cỏ Ống, Hòn Cau...
    Cầu Tàu từng rợp bóng cờ đỏ sao vàng những ngày Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công ở Côn Đảo. Trên 2.000 tù chính trị đã từ đây trở về đất liền tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ và anh dũng. Một số người đã trở thành những đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta trong nhiều năm qua. Cuối năm 1954, thực dân Pháp cũng phải đưa gần 600 tù binh và trên 1.000 tù án qua Cầu Tàu về trao trả cho Chính phủ Hồ Chí Minh. Ngày 1/5/1975 tù chính trị đã chớp thời cơ, nổi dậy làm chủ hoàn toàn Côn Đảo chấm dứt vĩnh viễn hơn một thế kỷ “Địa ngục trần gian” nơi đây.

    Cầu Ma Thiên Lãnh

    Từ trung tâm thị trấn Côn Đảo nếu đi bằng xe về phía tây, qua khu vườn quốc gia khoảng 3km tới một con đường nhỏ, cây cối hai bên mọc um tùm, leo hết con dốc thì tới di tích cầu Ma Thiên Lãnh, một cây cầu do người Pháp bắt các tù nhân xây dựng trên núi cao để vượt sang phía bên kia núi ( hiện nay di tích chỉ còn lại hai bên móng cầu). Cầu chưa làm xong nhưng đã có tới 356 tù nhân bỏ mạng vì đói, vì rét, và vì tai nạn. Thăm di tích này để thấy sự cùng cực của tù nhân trên “ địa ngục trần gian” Côn Đảo.
    Từ di tích cầu Ma Thiên Lãnh, du khách làm một cuộc đi bộ vượt núi, sau 45 phút sẽ tới bãi tắm Ông Đụng, nơi nổi tiếng với câu hò:

    “Ai qua Đất Thắm, Bãi Bàng,
    Hỏi thăm ông Đụng vú nàng lớn chưa”

    Vú nàng ở đây là muốn nói đến một loài ốc biển, một món ăn đặc sản của vùng này, nếu đến bãi Ông Đụng mà không thưởng thức món ốc Vú nàng thì quả là một thiếu sót. Vì thế khi được hỏi thì được đây trả lời:

    “Anh hỏi thì em xin thưa
    Vú nàng đã lớn nhưng chưa ai sờ”

    Một cách tiếp thị khá hấp dẫn, mời chào du khách ghé qua nếm thử món ốc vú nàng đặc sản Côn Đảo.
    Bãi ông Đụng rộng, nước sạch và trong xanh, cát mịn không một bóng người ở làm say lòng du khách về đây cùng vui với thiên nhiên hoang vắng.

    Bãi biển Đầm Trầu

    Bãi Đầm Trầu là nơi phong cảnh tuyệt đẹp. Bờ cát mịn trải dài dưới chân vách đá dựng muôn hình. Trên một triền đá vươn ra tận biển nổi lên hai tảng đá lớn, chụm đầu vào nhau như đôi bạn đang trò chuyện mải mê, quên hết thời gian, năm tháng. Đặc biệt là nước biển ở đây trong và xanh hơn bất cứ nơi nào. Sắc xanh một khoảng trời, một cánh rừng đổ bóng, hòa màu xanh trong của biển trời nơi ấy.
    Thuở xa, ở làng Cỏ Ống có chàng Trúc Văn Cau thông minh, tháo vát, con ông Câu và bà Tranh, cùng lứa với cô Mai Thị Trầu, con ông Đinh, bà Bèo, một thiếu nữ duyên dáng, thạo nghiệp bút nghiên. Trai tài , gái sắc, đôi bên đem lòng cảm mến. Một lần tình cờ gặp gỡ bên dòng suối vắng, chàng trai đã mượn câu ca dao ướm thử lòng người xuân nữ :

    "Tiện đây anh môi hỏi nàng
    Cau tư*ơi ăn với trầu vàng xứng không?"

    Người con gái vốn thông mình đã đáp lại bằng một câu ca hợp tình, hợp cảnh:

    “Mai vàng chen với trúc xanh
    Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời”

    Chàng Cau ngỏ lời xin cha cưới nàng làm vợ. Ông Câu bèn bộc lộ cho con biết, nàng Trầu chính là kết quả mối tình vụng trộm giữa ông Câu với bà Bèo thời trai trẻ. Chàng Cau bàng hoàng như sét đánh ngang tai vì trong lúc quá yêu, chàng đã trót hái "trái cấm" nơi đứa em cùng cha khác mẹ. Trúc Văn Cau ôm hận thả bè qua một thung lũng hoang vắng trên hòn đảo cách xa làng hơn 10 dặm, ẩn dật ở đấy cho đến chết. Người đời đặt tên đảo là Hòn Cau. Nơi chàng nằm xuống sau mọc lên một rừng cau xanh tốt quanh năm, mùa trái chín đỏ rực.
    Nàng Trầu đau đớn, ngày ngày ra ngóng nơi vách đá khi xưa thường hò hẹn. Khi thay nhi đã lớn, cũng là lúc nàng biết chuyện tình buồn của cha mẹ, và hiểu ràng chàng Cau không bao giờ về nữa. Hoàn toàn tuyệt vọng, nàng gieo mình xuống nước. Nơi nàng tự vận, nay mang tên là Bãi Đầm Trầu. Cảm thương đôi bạn trẻ chết vì mối tình oan nghiệt, dân làng Cỏ ống đã đặt câu ca :

    “Ai về nhắn gửi ông Câu
    Hòn Cau cách bãi Đầm Trầu bao xa?”

    Bãi tắm Long Hải

    Bãi tắm Long Hải thuộc thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, cách thị xã Bà Rịa chừng 12km. Chạy dài, uốn lượn phía Nam chân núi Thùy Vân, hay Kỳ Vân (ngày nay có tên Minh Đạm), bãi tắm Long Hải là một bãi biển sạch, đẹp, nước xanh trong. Từ đầu thế kỷ 20, các triệu phú của đất Sài Gòn như chú Hỏa, các chủ đồn điền cao su, chủ ngân hàng đã về Long Hải mua đất xây lâu đài,
    biệt thự làm nơi tắm biển và nghỉ đường cuối tuần. Vua BảoĐại cũng xây nhà nghỉ mát ở Long Hải.
    Nối liền với bãi Long Hải là đèo Nước Ngọt. Nơi đây núi đá vươn ra biển thách thức cùng với sóng tạo nên phong cảnh vừa nên thơ vừa hùng vĩ. Phía bên kia đèo Nước Ngọt là rừng hoa anh đào. Có lẽ đây là rừng hoa anh đào có một không hai ở các tỉnh phía Nam. Mỗi khi xuân về, từ trên đèo Nước Ngọt nhìn xuống, du khách không khỏi ngỡ ngàng trước màu tím trắng của anh đào, màu xanh của rừng và biển Long Hải.

    Tổ đình Thiên Thai

    Tổ đình Thiên Thai tọa lạc dưới châu núi Dinh Cố (ngọn núi mà ngày nay chúng ta có thể suy đoán lànúi Bà Rịa trong sách của các sử gia nhà Nguyễn), thuộc xã Tam An - huyện Long Điền. Sở dĩ chùa Thiên Thai được gọi là Tổ đình vì đây là nơi ra đời của Thiên Thai Thiền Giáo Tông (1935) với tờ ngôn luận Bác Nhã âm tuyên truyền chấn hưng Phật giáo. Chùa Thiên Thai do sư tổ Huệ Đăng tạo dựng từ năm 1922. Toàn bộ khuôn viên chùa rộng 6ha, gồm tam quan, chánh điện, giảng đường, nhà hậu, bát quái đài, thạch động và vườn tháp. Tổ đình Thiên Thai nổi tiếng không chỉ bởi cảnh quan, kiến trúc mà còn từ những câu chuyện gắn với ngời lập chùa.
    Sư tổ Huệ Đăng tên thật là Lê Quang Hóa, sinh năm 1873 trong một gia đình nhà Nho ở huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định. ông tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ 19. Sau cuộc khởi nghĩa ở Sông Cầu, Phú Yên bị thất bại, Võ Trứ lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa bị chém, nhiều người bị bắt bớ, tù đày, Lê Quang Hóa tìm đường vào Nam. Ông đến Gò Công trú ngụ và dạy học. Sau đó ông xuất gia, quy y với hòa thượng Hải Lộ ở chùa Long Hòa, Bà Rịa, được pháp tự là Thiện Thức, pháp danh Huệ Đăng, sau đó được cử trụ trì chùa Kiên linh và Phước Linh Bà Rịa.
    Sau khi hòa thượng Hải Lộ viên tịch, năm 1918, ông về khai phá Thạch Động, ẩn tu dưới chân núi Dinh Cố...
    Năm 1934, để đáp lại tấm lòng của sư tổ, các môn đệ trong vùng quyết tâm xây dựng tòa thiên bảo tháp cho Huệ Đăng. Tâm niệm của ông là duy trì Phật pháp không chỉ dừng lại ở chỗ tạo Phật, đúc chuông, kiến trúc tam bảo mà chính là mở rộng việc hoằng hoá lợi sinh, giáo dục thiên tính, gieo trồng duyên lành cội phước.
    Rời Tổ Đình Thiên Thai, du khách rẽ trái theo con đường tam cấp uốn quanh núi Dinh Cố lên cao 82m để chiêm ngưỡng toàn cảnh đồng bằng trù phú Long Đất, Tân Thành và xa xa phía Xuyên Mộc mờ ảo... Đỉnh núi Dinh Cố tọa lạc một ngôi miếu được xây dựng công phu trên những khối đá lớn, chơi vơi.
    Tương truyền đó là miếu thờ một hiền nữ, còn gọi Dinh Cố. Không biết trước khi có danh sơn trên, núi Dinh Cố có tên gọi nào khác? Một số người say mê tìm hiểu lịch sử địa phương cho rằng núi Dinh Cố xưa được gọi là núi Bà Rịa.
    Núi Dinh Cố Không cao lớn, hình dáng như một chiếc nón khổng lồ úp giữa cánh đông Tam An. Thay cho sự tươi xanh của cây cối đã bị đạn bom hủy diệt 20 năm trước là khối đá hoa cương đủ mọi hình thù chơi vơi trên sườn dốc. Du khách vẫn thích tìm cảm giác từ những kiểu ảnh được chụp bên những vách đã cheo leo...
    Lên Dinh Cố, du khách không quên vào miếu hiền nữ dâng hương. Theo nhân dân Tam An, từ khi Bà Cố qua đời ngọn núi này trở nên linh thiêng. Người ta truyền rằng: đến đây dâng hương cầu mong cuộc sống gặp nhiều may mắn, hạnh phúc sẽ được toại nguyện.
    Những huyền thoại thần bí về Bà Cố có thể đã được nhân dân thêu dệt rất nhiều. Đó cung là ước mơ về những con người tư đức, công hạnh hiện thực ngày càng nhiều để nhân dân tôn kính, ngưỡng mộ...

    Dinh Bà Cố

    Từ thị xã Bà Rịa, theo hướng đi về phía Long Hải khoảng 3km nhìn sang phía trái sẽ thấy một ngọn núi nhỏ nằm giữa cánh đồng xã Tam An. Trên đỉnh núi có một ngôi nhà, nhìn từ xa lại giống như một chiếc nón khổng lồ úp xuống thảm cỏ xanh; đó chính là Dinh Bà Cố trên dỉnh núi dinh cố, còn có tên là đỉnh Cô Sơn.
    Dinh bà cố được xây cất trên đỉnh cao nhất của núi dinh cố thuộc địa phận xã Tam An, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
    Dinh Bà Cố không lớn, được xây dựng vào năm Kỷ dậu (1789), lúc đầu chỉ là những căn nhà lá. Qua nhiều lần trùng tu rồi lại bị chiến tranh tàn phá mãi cho đến năm 1989 dinh Bà Cố mới được tu sửa hoàn chỉnh như ngày nay.
    Từ chân núi Dinh Cố du khách leo một dốc bậc thang đá 220 bậc với chiều dài 80m sẽ tới dinh. Từ đây du khách có dịp ngắm toàn cảnh cánh đồng lúa quê hương Đất Đỏ anh hùng, và toàn cảnh thị xã Bà Rịa, hít thở bầu không khí trong lành trong cảnh sơn thủy hữu tình và nghe kể chuyện về một người phụ nữ Việt Nam hiển linh luôn cứu giúp dân lành nhất là đồng bào ngư dân miền biển.
    Thăm Dinh Bà Cố, thăm một thắng cảnh đẹp ở vùng Long Điền.

    Chùa Thiên Bửu Tháp

    Theo đường về Bà Rịa rồi đi tiếp về hướng Long Hải, qua ngã ba chợ Bến thì rẽ theo bảng chỉ dẫn về Dinh Bà Cố. Đi tiếp khoảng gần một cây số sẽ gặp một khu chùa với kiểu dáng kiến trúc khá độc đáo, đó là chùa Thiên Bửu Tháp.
    Chùa Thiên Bửu Tháp thuộc xã Tam An, huyện Long Điền, được xây dựng khoảng năm 1930, lúc đầu có qui mô nhỏ. Trong thời Pháp thuộc, khi chùa bị chiếm đóng, các tăng ni, sư sãi ở chùa đã phải chất nhiều xe củi và tự tiêu hủy ngôi chùa vì sợ Pháp dùng chùa làm căn cứ để đàn áp nhân dân và cách mạng. Sau ngày giải phóng, năm 1989-1990 chùa được xây lại và có hình dáng như ngày nay.
    Chùa nằm trong khuôn viên rộng 3ha, bằng phẳng thoáng mát và đẹp. Từ phía ngoài cổng chùa đi vào có một cụm các pho tượng miêu tả Quan Thế Âm Bồ Tát tay cầm bình cam lộ, tay bắt quyết, đứng trên tòa sen cứu sinh độ thế.
    Đi vào phía trong,toàn cảnh chùa được kiến trúc theo lối chữ Hán hình chữ “Sơn” với hai nhà hai bên, ở giữa là ngôi chùa lớn, nóc chùa không lợp mái ngói cong như các chùa khác mà lại tạo thành các lọ lục bình lớn, giống như bình nước cam lồ của đức phật.
    Đến thăm chùa Thiên Bửu Tháp, du khách có dịp tìm hiểu thêm sự phong phú, đa dạng của nền văn hóa tôn giáo Việt Nam.

    Thác Sông Ray

    Thác Sông Ray Còn Có tên gọi là thác Xuân Sơn và nay còn có tên là thác Hoà Bình nằm trên địa phận huyện Châu Đức nhưng tiếp giáp với huyện Xuyên Mộc, do đó có thể đi từ hai lối để đến với thác Xuân Sơn.
    Thác Xuân Sơn là một điểm du lịch còn chưa được khai thác của huyện Châu Đức, trong tương lai đây sẽ là nơi nghỉ ngơi, du lịch sinh thái của du khách, nhất là với lứa tuổi thanh niên, học sinh, sinh viên.
    Người Châu Ro ở huyện Châu Đức có câu chuyện kể về sự tích Thác sông Ray:
    "Ngày xa có một ông già người Châu Ro tên là Kiêu có sức khoẻ hơn người. Một hôm Klêu dắt chó vào rừng đi săn. Đi từ sáng cho đến trưa mà chẳng gặp một con thú nào. Bụng đói, chân chồn, mắt hoa, Klêu định tìm bóng mát cây rừng ngả lưng thì bỗng đâu ở phía trước đàn chó săn sủa lên dữ dội. Theo thói quen, Klêu rút tên, giương ná lom khom tiến về phía bầy chó săn đang sủa, nhưng thật lạ Klêu chẳng thấy có con thú nào cả, bầy chó săn càng lúc càng sủa mạnh, bực mình Klêu bèn xua bầy chó ra, có một chiếc lá to bằng bàn tay lật lên, lật xuống đều đặn như có người đang thở vậy. Để ý nhìn kỹ vào vật lạ, rồi tò mò, Klêu lấy mũi tên khều thử vào chiếc lá thì tự nhiên nước ớ đâu phun lên, dựng thành tháp nước khổng lồ, trắng xoá, chảy lênh láng vây quanh Klêu. Còn chưa hết bàng hoàng thì Klêu đã nghe từ trong dòng nước tiếng nói rất to:
    - Mẹ Biển! Mẹ Biển! Đưa ta về với Mẹ Biển.
    Klêu lặng lẽ bước đi. Lạ thay Klêu đi đến đâu nước cũng theo đến đó, Klêu phải đi vòng vèo, trèo lên, lội xuống qua những tảng đá cao nước cũng vòng vèo uốn lượn chạy theo.Thật lạ là đi như thế mà Klêu không hề thấy mỏi chân. Khi đến rừng T'Dao thì trời tối, Klêu và bầy chó săn cung tìm chỗ nghỉ đêm. Klêu leo lên tảng đá to nằm ngủ. Đàn chó vây xung quanh. Để bảo vệ Kiêu, nước chia thành bảy dòng chảy vây quanh Klêu.
    Sợ Klêu đói, bệnh không ai đưa đi gặp Mẹ Biển, nước liền biến sức khoẻ của mình thành không khí để Klêu hít thở nuôi cái bụng.
    Sánh sớm hôm sau Klêu và dòng nước tiếp tục đi về với Mẹ Biển. Đang đi quen địa hình rừng núi cao khi xuống đồng bằng phẳng phiu, nhiều đoạn Klêu phải đu dây rừng mới xuống được. Nếu không đu được dây rừng đành nhẩy vực. Vực thẳm nơi nước nhảy nay là thác Sông Ray."

    Hồ Sông Ray nay là một nơi giữ nước phục vụ cho việc tưới tiêu ở khu vực hạ lưu. Hiện tại khu vực này đang được quy hoạch thành một khu du lịch sinh thái với lợi thế địa hình tự nhiên nư: đối, núi, hồ, suối, thác, rừng cây xanh…

    Suối Tiên

    Suối Đá, suối Tiên thực sự là điểm du lịch hấp dẫn và kỳ thú, nhiều người đã nhận xét: nơi này như là một Đà Lạt thứ hai. Đường đến khu thắng cảnh thật thuận lợi, dễ dàng. Du khách từ thành phố Vũng Tàu theo quốc lộ 51 đến nhà thờ Chu Hải (xã Hội Bài - huyện Tân Thành) cách thị xã Bà Rịa 5km về phía bắc, rồi rẽ phải chừng 2km về phía tây là tới.
    Suối Đá - Suối Tiên đều bắt nguồn từ đỉnh Núi Dinh cao 491m do những dòng suối nhỏ ở men theo các dốc núi, sườn đồi hợp thành, chảy êm đềm uốn lượn ven rừng cây thơm ngát hương của núi rừng, đồng nội... Từ độ cao 150m theo dốc thoải dần về phía đông, suối ồ ạt đổ xuống hai bờ núi đá, chảy quanh co tưới mát quanh năm cho cánh đồng lúa màu mỡ của xã Hội bài rồi chảy ra biển.
    Suối Đá, Suối Tiên chứa vẻ đẹp tự nhiên, hoang sơ mà kỳ thú. Ở đây có sự cuốn hút kỳ lạ làm say đắm lòng du khách mỗi khi đặt chân đến. Dọc đôi bờ của những dòng suối chảy đêm ngày là muôn vàn những mỏm đá mang nhiều hình thù độc đáo. Những tảng đá hoa cương trần trụi, bám đầy địa y xen lẫn rêu phong, có lẽ hàng ngàn năm rồi đá nằm ngủ trong rừng sâu tới nay. Có những hòn đá cao từ 3m đến 5m tạo nên nhiều hình khối sống động. Dọc hai hờ suối bạn tưởng chừng như lạc giữa thế giới của đá với những hình dạng kỳ vĩ lạ lùng.

    Dọc suối còn có những thạch bàn phẳng lì nằm nghiêng nghiêng khá rộng, bạn có thể ngồi hay nằm nghỉ khi dừng chân. Ở đây bạn nghe tiếng suối ào ạt tuôn chảy từ đỉnh thác của Suối Tiên đổ xuống, tạo thành những giếng trời khá sâu, nước trong xanh có thể nhìn rõ những hòn sỏi trắng muốt dưới đáy. Nước chảy xối xả tung toé hơi nước hoà vào không gian những hạt bụi li ti tạo nên cảm giác thật dễ chịu. Từ tháng 7 - 8, suối cuộn mình tung bọt trắng xóa để tới tháng 10 khi bắt đầu vào mùa khô dòng suối hiền hòa trở lại. Du lịch suối Đá, bạn nên chuẩn bị giày thể thao và một chiếc gậy nhỏ để đi dọc các bờ và vượt thác. Qua đoạn đường gập ghềnh và dốc trơn, sau khi đã thấm mệt bạn có thể dừng chân nghỉ hoặc tắm ở bên những giếng nước nhân tạo trong mát.
    Theo con đường ngoằn ngoèo và khá dốc, xung quanh có cây rừng mọc xanh mướt, bạn vượt dốc núi để tới Suối Tiên, dòng suối ở đây êm đềm lừng lững chảy rồi uốn khúc thật thơ mộng. Từ Suối Đá đến suối Tiên phải vượt qua 600m đường rừng quanh co. Người xưa đặt tên cho suối có nhiều lý do. Tương truyền ở nơi đây cây cối rậm rạp, núi rừng hoang vắng vào những đêm trăng sáng các nàng tiên trên trời xuống hạ gian đề du ngoạn. Qua dòng suối trong mát này các nàng tiên rủ nhau tắm mát rồi mới về trời. Hiện nay ở phía mỏm đá của Núi Dinh có dấu chân thật xinh xắn in thành ngấn trên đá người ta gọi là dấu chân tiên. Có lẽ người xa yêu cảnh trí ở nơi đây - một vùng non nước kỳ vĩ, sơn thủy hữu tình đã nghĩ ra và đặt cho suối cái tên thật huyền ảo: Suối Tiên.
    Nếu còn thời gian du khách sẽ theo con đường mòn đề tới những ngôi chùa nhỏ gần đấy. Từ xa bạn có thể nghe tiếng chuông chùa thong thả ngân nga thật bình yên, rồi tiếng mõ của sư gia đọc kinh, khói hương trầm quyện với hương của huệ, ngọc lan thơm ngát... gợi lên vẻ u tịch của chốn thiền viên ở vùng sơn cước.

    Chùa Đại Tòng Lâm

    Nằm trên quốc lộ số 51, chùa thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, trong một khu đất rộng 100ha. Từ năm 1958 đến 1960 là thời kỳ xây dựng và hoàn thành vào năm 1962.
    Qua cổng chùa, phía bên trái là khu chính để thờ phật, tiếp sau là nơi thờ di ảnh của hoà thượng Thích Thiện Hoà (1907-1978), người có công khai sơn Đại Tòng Lâm.
    Tiếp theo là khu vườn Lâm Tỳ Ni, diễn tả nơi đức Phật sinh ra, rồi đến vườn lộc uyển, nơi phật đắc đạo, thuyết pháp. tiếp phía trong là nơi phật viên tịch gồm hai tượng giống như ở chùa Thích Ca Phật Đài, đó là pho tượng kim thân phật tổ và pho tượng miêu tả lúc đức Phật viên tịch.
    Nằm trên quốc lộ số 51, chùa thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, trong một khu đất rộng 100ha. Từ năm 1958 đến 1960 là thời kỳ xây dựng và hoàn thành vào năm 1962.
    Qua cổng chùa, phía bên trái là khu chính để thờ phật, tiếp sau là nơi thờ di ảnh của hoà thượng Thích Thiện Hoà (1907-1978), người có công khai sơn Đại Tòng Lâm.
    Tiếp theo là khu vườn Lâm Tỳ Ni, diễn tả nơi đức Phật sinh ra, rồi đến vườn lộc uyển, nơi phật đắc đạo, thuyết pháp. tiếp phía trong là nơi phật viên tịch gồm hai tượng giống như ở chùa Thích Ca Phật Đài, đó là pho tượng kim thân phật tổ và pho tượng miêu tả lúc đức Phật viên tịch.
    Tiếp tục đi sâu vào bên trong khu Đại Tòng Lâm theo một con đường cây cao bóng mát, không khí thật trong lành sảng khoái, du khách tới miếu Phật Di Lặc. Qua một hồ nước, có cây cầu gọi là đoạn trần kiếu sẽ đến nơi đức Phật Thích Ca tĩnh toạ dưới gốc cây bồ đề. Rẽ sang phía bên trái khoảng 200m là tượng đài Quan Âm Bồ tát đứng trên đầu rồng cao 12m.
    Tiếp tục tản bộ vào bên trong du khách sẽ có dịp thăm một ngôi chùa và cũng là một trường phật học có hai khu rõ rệt; khu cho nam sinh riêng và khu nữ sinh riêng theo học khoá phật học căn bản trong thời gian từ 3-4 năm.
    Điều hấp dẫn du khách có lẽ là khu rừng cây với phong cảnh hữu tình, với các kiến trúc phong phú của đạo phật và hồ nước thả sen với bầu không khí thật trong lành.
    Đại tòng lâm là điểm dừng chân của du khách trong chuyến du lịch về Bà Rịa – Vũng Tàu.

    Rừng Sác

    Danh từ Sác tương đương với từ Palétuvier của Pháp để chỉ một nhóm loại cây chỉ mọc được ở những bờ biển đầt mới bồi còn quá thấp, nước mặn, nên rừng bị ngập nước quanh năm, gọi là rừng Trầm Thủy. Loài Sác tuy công dụng ít, cũng như loại cây Mắm không dùng được vào việc gì, nhưng lại quan trọng vô cùng trong việc lấn biển, bồi đất.
    Từ những dòng sông lớn hàng năm đổ ra biển hàng triệu tấn phù sa màu mỡ, đất bồi ấy, bị sóng xô ngưọc vào bờ, nếu nó bám lại được thì bờ biển sẽ lấn ra biển hàng năm nhiều cây số và nó chỉ lấn được nhờ cây sác mà thôi.
    Giống như rừng Mắm, rừng Đưóc ở miền đồng bằng sông Cửu Long rừng Sác hình thành theo hành trình như sau: đất bồi bị sóng biển đánh bật vào bờ nhưng còn ở dưới mặt biển lắm nơi nằm sâu hai, ba mét và nhất là không được cầm chân, nghĩa là dễ tan rã. May sao có một loài cây là cây Mắm, mọc được dễ dàng trong điều kiện đó, chen chân nhau mà mọc nhiều như cây lúa trong ruộng. Rễ cây Mắm ăn sâu vào bùn, củng cố cái nền đất ngập nước đó và gốc cây Mắm được đắp bồi dùng làm điểm tựa để mà bám níu tại chỗ.
    Như vậy, nhiều năm sau, trên một dải đất mới bồi dài vô tận, và sâu từ bờ biển vào tới đất thịt chắc khoảng 30km thì mặt đất ở đó đầy dần lên và nhô lên khỏi mặt biển. Bấy giờ thì những loài cây khác, cũng chịu được nước mặn, tuy có kém hơn cây Mắm như cây Tràm, cây Dẹt, cây Đưóc mới lấn Mắm mà mọc lên. Trong dân có câu : “Mắm trước, Đước sau” là nói lên sự kiên cưòng lấn biển, bám đất, như hỉnh ảnh người dân Đông Nam Bộ trong kháng chiến đã kiên cường bám đất giữ làng, một tấc không đi, một ly không dời.

    Nghinh Phong

    Từ Niết Bàn Tịnh Xá, theo đại lộ Hạ Long qua hết Bãi Dứa là tới Nghinh Phong có nghĩa là "đón gió" thổi suốt bốn mùa. Như một cánh tay vươn dài ra biển, Nghinh Phong tạo thành hai bãi biển ở hướng tây và hướng đông. Đó là bãi Vọng Nguyệt (hay Ô Quắn) và bãi Hương Phong, xa xa là Hòn Bà - Bồng đảo nơi du khách có thể ghé đến vào những khi thuỷ triều hạ thấp.
    Những đêm vào mùa trăng mọc, hay lúc hoàng hôn, biển ở đây sáng rực như được dát một lớp bạc óng ánh. Bên tiếng sóng rì rào, trước mặt biển sáng bạc mênh mông bao la của trời mây sóng nước làm người ta dễ lâng lâng bay bổng tâm hồn.
    Ba mặt tiếp giáp với biển của Nghinh Phong là vách núi dựng đứng khá cao, đứng trên đường nhìn xuống ta cảm thấy biển ở đây như xanh hơn nơi khác, lộng gió và mát mẻ lạ thường. Bãi tắm ở đây trong và sâu là nơi dành cho người hiếu động, thích cảm giác mạnh từ những ngọn sóng dập dồn và rất thích hợp cho những người ưa thích bộ môn câu cá

    Bãi Dâu

    Nằm ở phía tây Núi Lớn, dọc theo đường Trần Phú, từ Bạch Dinh (Bãi Trước) đến Bãi Dâu xa chừng 3km. Bãi này trước đây gọi là bãi Vũng Mây, vì trên triền hòn Núi Lớn đoạn này có nhiều cây mây mọc. Vào khoảng những năm đầu thế kỷ XX, một thương nhân người Pháp đến đây lập cơ sở nuôi tằm và trồng rất nhiều dâu trên triền núi và dọc theo bờ biển nên dần theo thời gian tên Vũng Mây được thay thế bằng Bãi Dâu.
    Ngày nay Bãi Dâu được mở rộng hơn, bao gồm những vịnh nhỏ khoảng giữa Núi Lớn. Do nằm bên triền núi ăn sát ra biển, Bãi Dâu được kiến tạo bởi nhiều vịnh nhỏ xinh xắn, những gộp đá nhỏ xen giữa triền cát vàng cát trắng mịn màng. Các bãi tắm ở đây kín gió, nhiều đoạn biển sát chân núi với những vách đá dựng đứng hoặc thoai thoải đón từng đợt sóng biển vỗ về bọt tung trắng xóa, tạo nên cảnh sắc sơn hải hữu tình. Đường Trần Phú uốn lượn cheo leo trên vách núi, một bên là biển cả mênh mông, một bên là núi rừng, cỏ cây xanh thẳm. Giữa khung cảnh núi rừng xanh ngắt nổi bật lên tượng Đức Mẹ Maria, Phật Bà Quan Âm hoà quyện bên tiếng sóng biển dạt dào, tiếng gió ngàn vi vút tạo nên một âm thanh vừa huyên náo, vừa tịch liêu làm thư thái tâm hồn du khách thập phương dù lần đầu ghé đến.
    Dọc đường Trần Phú với cảnh sơn thuỷ hữu tình, bãi tắm nên thơ, những quán ăn với món ngon miền biển… thu hút được nhiều người tới du lịch thưởng ngoạn.

    Bãi Dứa

    Từ Bãi Trước, dọc theo đường Hạ Long là một trong những con đường đẹp nhất Việt Nam uốn lượn trên một đoạn triền núi lấn ra bờ biển sẽ đưa ta tới Bãi Dứa. Người xưa kể lại rằng sở dĩ có tên bãi Dứa, vì trước đây triền núi nhô ra biển rất nhiều những cây dứa dại (một loại cây có hương thơm như gạo nếp hoặc nàng hương) tỏa thơm ngát một vùng nên bãi này còn có tên gọi là Bãi Lãng Du là một bãi biển đẹp của Vũng Tàu.
    Cái đẹp ở đây không ồn ào tấp nập mà là một vẽ đẹp mộng mơ, tĩnh lặng. Biển len lỏi trong các hẽm núi, ghềnh đá, tạo nên các vũng nhỏ ôm ấp những mạch nước ngầm trong suốt đang rí rách. Khung cảnh này rất hợp với những đôi tình nhân hay tuần trăng mật của những lứa đôi còn đang nồng nàn hương hoa ngày cưới. Phía trên triền núi dọc theo đại lộ Hạ Long là các nhà nghỉ, khách sạn theo kiểu biệt thự đầy đủ tiện nghi. Xen kẽ những ngôi chùa miếu khá nổi tiếng ở Vũng Tàu như Niết Bàn Tịnh Xá, miếu Ông Nam Hải... là những nơi dành cho khách mộ điệu hành hương về dâng hoa cầu phước, cầu lộc…
    Ai đó đã đến Vũng Tàu cách đây dăm bảy năm bây giờ mới có dịp trở lại Bãi Dứa sẽ không khỏi ngạc nhiên trước sự đổi thay kỳ diệu. Đó là thành quả lao động sáng tạo, hòa quyện cùng thiên nhiên để tạo ra những cảnh quan tuyệt vời của Bãi Dứa.

    Bãi sau

    Nằm ở phía đông nam và còn có tên gọi “Bãi Thùy Vân". Bãi Sau dài 8 km, là bãi biển dài và thơ mộng nhất của Vũng Tàu. Nếu như biển ở Bãi Trước có nét đẹp lộng lẫy và rực rỡ thì Bãi Sau có nét đẹp dịu dàng của một vùng biển quanh năm đầy nắng ấm. Đại lộ Thùy Vân con đường đầy hoa chạy dọc theo Bãi Sau, một bên là những dãy phố sầm uất, nhà cao tầng,
    khách sạn dáng vóc hiện đại, đầy đủ tiện nghi, một bên là bãi cát vàng và nhiều khu du lịch đủ các loại hình dịch vụ giải trí vui chơi trên biển… dành cho mọi lứa tuổi. Đặc biệt có một sân golf rộng hơn 100ha đạt tiêu chuẩn quốc tế.
    Bãi Sau còn có khu rừng dương - một cánh rừng rộng với những cây phi lao cổ thụ xanh rợp trên nền cát trắng. Dưới rừng dương thấp thoáng những căn nhà nghỉ bằng gỗ, thiết kế theo kiểu nhà rông vừa tao nhã, vừa thanh lịch, đậm nét văn hóa của núi rừng Tây Nguyên, nhà được trang bị đủ tiện nghi, vừa hiện đại, vừa dân dã là chỗ dừng chân lý tưởng cho mọi du khách.

    Bãi sau là nơi thu hút nhiều du khách lui tới vui chơi tắm biển nghỉ mát ở Bà Rịa – Vũng Tàu. Vào những các ngày tết, lễ, đón mừng năm mới… Bãi Sau tràn ngập người ghé đến, trên bờ cũng như dưới nước như không còn chỗ trống tạo nên một sức sống của một trung tâm du lịch nổi tiếng khắp nơi.

    Bãi Trước

    Là mặt tiền của Vũng Tàu, nằm về hướng tây-nam, còn gọi là bãi “Tầm Dương” - Tìm ánh mặt trời. Vào buổi bình minh và hoàng hôn, mặt trời đỏ rực như tan vào nước biển mênh mông. Bãi Trước như một nửa vành trăng tựa lưng vào đất liền, hai đầu là hai ngọn núi Tương Kỳ và Tao Phùng. Thiên nhiên sơn thuỷ hửu tình đã tạo cho Bãi Trước cảnh thơ mộng là bến đậu của những con tàu trở về sau những chuyến hải trình
    Dọc Bãi Trước trồng nhiều dừa vì vậy trước đây còn có tên là vịnh Hàng Dừa. Giờ đây vẫn rợp bóng dừa và được điểm tô thêm màu xanh của những cây bàng, cây sứ. Bên dưới những bóng cây xanh rợp mát là một khu công viên đầy hoa dành cho khách bộ hành hóng mát... bên tiếng sóng biển du dương.
    Trung tâm thành phố Vũng Tàu tọa lạc ở khu vực Bãi Trước với nhiều toà nhà, khách sạn mới, hiện đại được mọc lên càng tô điểm cho Bãi Trước một nét đẹp vừa xa xưa vừa hiện đại. Đêm về, dọc đại lộ Trần Phú, Quang Trung rực sáng với hệ thống đèn cao áp, trên các tòa nhà cao lộng gió, những quán cà phê rực rỡ muôn ánh đèn đủ sắc màu tỏa sáng lung linh cùng xa xa những chiếc tàu neo đậu với những vầng ánh sáng xanh đỏ tỏa lan trên mặt biển tạo cho bãi trước một vẻ đẹp thật quyến rũ về đêm.

    Đền Hùng

    Từ trung tâm thành phố Vũng Tàu theo đường Lê Lợi đến Bến Đình rẽ trái về hướng Thích Ca Phật Đài, đi tiếp vai trăm mét sẽ đến Đền Hùng.
    Đền này nguyên trước kia là đền thờ mẫu, nhân dân vẫn gọi là mẹ “Cửu Thiên Huyền Nữ”, còn đền thờ 18 đời vua Hùng vương trước kia đặt ở Bãi Trước Vũng Tàu, từ sau ngày giải phóng nhân dân địa phương rước bài vị các vua Hùng về thờ tại đền. Từ sân đền nhìn vào một bức đại tự với bốn chữ nho “Thập Bát Hùng Vương” và phía trong là bàn thờ Quốc Tổ, với đôi câu đối viết bằng chữ quốc ngữ:

    “Trên ba mươi triệu đồng bào cùng chung gốc,
    Hơn bốn ngàn năm văn hiến cùng xây nền.”

    Phía bên trái thờ Hai Bà Trưng, phía bên phải thờ Thánh Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Đi sâu vào bên trong đền là nơi thờ Đức Phật tổ. Tại đền Quốc Tổ Hùng vương còn lưu được hai bộ trống cái, chiêng, thanh la, và mõ đều là những đồ vật quý. Trong đó có một bộ được mang từ Đền cũ ờ Bãi Trước về cất giữ.
    Thăm Đền Hùng, du khách có dịp bày tỏ lòng tôn kính tổ tiên, đạo lý uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây của dân tộc ta.

    Núi Nhỏ

    Nếu như núi Lớn tựa dáng con rồng xanh tắm biển thì núi Nhỏ chính là "cái đuôi" của con rồng xanh ấy. Núi Nhỏ, còn gọi là Tao Phùng, diện tích khoảng 120ha, cao 170m. Có hai đường lên một đường ở phía Bắc, nối với đường Hạ Long, gần cầu Đá; một đường ở phía Nam, theo 793 bậc tam cấp dẫn lên Tượng Chúa Kitô và trận địa pháo cổ cuối thế kỷ 19.
    Năm 1862, tức 3 năm sau khi đánh chiếm Nam Bộ, thực dân Pháp đã cho xây dựng ngọn hải đăng đầu tiên ở Việt Nam trên núi Nhỏ (tại độ cao 149m). Cuối Núi Nhỏ về phía Nam là mũi Nghinh Phong. Trước đây, dân Vũng Tàu gọi mũi Nghinh Phong là Ô Quắn. Như cánh tay dài vươn ra biển, ôm bãi Vọng Nguyệt phía Đông và Hương Phong (bãi Dứa) phía Tây, quanh năm Nghinh Phong đón gió. Cách mũi Nghinh Phong không xa về phía Đông là Hòn Bà - tên gọi gắn với điện thờ trên đảo. Cũng như nhiều địa danh khác ở Vũng Tàu dù trước đó đã có tên Việt, Hòn Bà đã từng được người Pháp đặt cho cái tên Ile d' Archinard, vốn là tên một viên tướng trong quân đội viễn chinh. Mũi Nghinh Phong, Hòn Bà tạo cho cảnh quan núi Nhỏ thêm kỳ thú. Núi Lớn, núi Nhỏ còn bảo tồn nhiều di tích lịch sử văn hóa như phòng tuyến trận địa pháo của Pháp, Hải đăng Vũng Tàu, Hầm thủy lôi của quân đội Nhật trong chiến tranh thế giới thứ 2, đài ăngten parabol của quân đội Mỹ, Tượng chúa Kitô, một trong những công trình điêu khắc về Đức chúa trời cao nhất thế giới và rất nhiều đền, chùa . . .
    Về truyền thuyết Núi Nhỏ mang tên gọi là Tao Phùng có câu chuyện: Vào thời xa xưa, công chúa con vua Thuỷ Tề hoá thành con cá vàng đi chơi không may sa vào lưới của người trai làng chài. Thấy cá đẹp, người con trai mang cá lên núi, khoét đá thành một vũng nước cho cá vào nuôi. Một hôm ở biển về, anh không thấy cá mà chỉ thấy núi đầy hoa trái, chim cá, đang còn bỡ ngỡ, bỗng từ trong núi thiếu nữ đi ra nói rõ sự tình. Từ đó họ thành vợ chồng. Cuộc sống đang đầm ấm yên vui thì một ngày kia đang tiết thu, trời trong mây nhẹ, hai vợ chồng đang ngồi ăn cơm thì thấy có người đi ở ngoài vào tay cầm hộp ngọc sáng chói. Thấy vậy người vợ bỗng hoảng hốt chưa kịp đứng dậy thì người khách đã đưa hộp ngọc ra, sấm chớp nổi lên và lập tức người vợ bị thu vào trong hộp ngọc. Người chồng đau đớn van xin cho vợ được tha, nhưng không được. Trong hộp người vợ đã biến thành con cá vàng hai mắt đẩm lệ nhìn ra.
    Từ đó, cứ năm năm một lần cá vàng được ra gặp chồng. Núi Nhỏ là nơi gặp gỡ của cặp vợ chồng nên người đời gọi là núi Tao Phùng.
    Theo đường vòng Núi Nhỏ (đường Hạ Long) chạy từ Bãi Trước qua Bãi Ô Quắn, Bãi Dứa, đến Mũi Nghinh Phong và ra Bãi Sau dài 6km. Đường mới, rộng, đẹp. Hai bên đường có nhiều điểm du lịch hấp dẫn như Bãi Trước, chùa Niết Bàn Tịnh Xá, Tượng Chúa Kitô, Hòn Bà.

    Núi Lớn

    Núi Lớn ở phía Bắc, núi Nhỏ ở phía Nam trung tâm thành phố Vũng Tàu. Núi Lớn, núi Nhỏ như hai anh em làm bình phong che chắn cho thành phố Vũng Tàu, cùng với biển cả bao quanh đã tạo nên nét đẹp độc đáo cho thành phố Vũng Tàu.
    Núi Lớn có diện tích khoảng 400ha; có 3 đỉnh lớn đó là Vũng Mây cao 220m, Núi Lớn cao 170m, Hòn Sụp cao 215m.
    Sách Gia Định thành thông chí (viết đầu thế kỷ 19) gọi núi Lớn là Thác Cơ Sơn, dáng như rồng xanh tắm biển, đứng nghiễm nhiên dựng làm ngọn nêu để chỉ rõ bờ bến cho tàu thuyền Nam Bắc qua lại, chặn đè sóng gió. Đầu ghềnh Thác Cơ Sơn thường có những con rái cá nên dân gian thường gọi là núi Ghềnh Rái. Sách Đại Nam nhất thống chí (viết giữa thế kỷ 19) nhấn mạnh sự quan yếu của núi làm bình phong ngoài cửa Cần Giờ".
    Về tên gọi “Tương Kỳ” chuyện kể rằng: Khi xưa nơi đây còn hoang dã, chưa mấy ai đặt chân đến, núi còn hổ dữ sinh sống. Trên núi này có hai ông cháu cụ giáo Hiếu (Thầy dạy văn và võ cho ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Chính cụ là người khuyến khích ba anh em Tây Sơn khởi nghĩa) sinh sống. Một hôm cô Mai, cháu nội cụ giáo Hiếu vào rừng hái nấm, không may gặp hổ dữ. Hổ nhảy vào định ăn thịt Mai. Đang lúc lâm nguy bỗng đâu xuất hiện tráng sĩ. Tráng sĩ đã dùng thanh kiếm và bằng võ nghệ điêu luyện đã hạ sát hổ dữ cứu nguy cho thiếu nữ thoát nạn. Cảm kích trước tấm lòng hào hiệp của tráng sĩ, thiếu nữ đã đưa tráng sĩ về ra mắt ông nội.
    Tại đây cụ Giáo Hiếu đã nhận ra tráng sĩ đó chính là Lê Tuấn một võ tướng của Nguyễn Huệ. Để đền ơn cho tráng sĩ đã cứu sống cháu mình cụ giáo Hiếu đã gả Mai cho Lê Tuấn. Cụ Giáo đã trỏ tay vào ngọn núi và nói: “Nơi đây đã chứng kiến mối lương duyên của tráng sĩ và cháu gái lão, lão xin đặt tên núi là Tương Kỳ”. Và từ đó Núi Lớn có tên gọi “Tương Kỳ”.
    Theo đường Núi Lớn (đường Trần Phú) quanh sườn núi từ Bến Đình sẽ đến chùa Thích Ca Phật Đài, Bãi Dâu, đến Bãi Trước dài 10km, đường dốc quanh co, trên núi, dưới biển phong cảnh thật hữu tình. Có nhiều thắng cảnh dọc đường đi như Tượng Đức Mẹ, Tượng Phật Bà Quan âm, Bạch Dinh... Du khách có thể lên đỉnh núi Lớn tận hưởng không khí trong lành, mát lạnh và thu vào tầm mắt toàn cảnh thành phố Vũng Tàu theo con đường uốn lượn vòng quanh triền núi phía Nam, từ ngã ba đường Lê Lợi và đường Vi Ba.

    Miếu Bà Ngũ Bang

    Miếu Bà Ngũ Bang được cộng đồng người Hoa xây dựng năm 1968 trên đường Bình giã, phường 8, thành phố Vũng Tàu trong một khu đất rất đẹp, rộng gần 1ha.
    Ngũ bang là 5 tộc người Hoa gồm người Tiều Châu, người Quảng Châu, người Phúc Kiến, người Hải Nam và người Hẹ cùng xây miếu thờ Bà Thiên Hậu, một phụ nữ người Hoa có quan điểm “Cứu khổ, cứu nạn, nhất là phép cứu giúp người đi biển ở ngoài khơi”
    Chánh điện của miếu thờ Bà Thiên hậu, hai vị hộ pháp thuận phong nhĩ và thiên lý nhãn.
    Tả hữu thờ Quan Công, Đông Mão Nương Nương, Thần Tài.
    Hàng năm ngày giỗ Bà là ngày 23/3 âm lịch.
    Miếu Bà Ngũ Bang là một điểm du lịch gắn liền với tôn giáo, hàng ngày đón nhọn nhiều đoàn khách trong và ngoài nước nhất là người Hoa từ thành phố Hồ Chí Minh, Đài Loan, Hồng Kông viếng thăm

    Hải Đăng Vũng Tàu

    Hải Đăng Vũng Tàu nằm ở trung độ Núi Nhỏ ở độ cao 170m so với mực nước biển, báo hiệu, chỉ dẫn cho tàu thuyền qua lại và vào ra cửa Cần Giờ. Ngoài giá trị tự nó về chức năng của nghành hàng hải, Hải Đăng Vũng Tàu được xây dựng ở vị trí có thiên nhiên tươi đẹp, đưa lại sự hấp dẫn khác là tham quan và du lịch.
    Hải Đăng Vũng Tàu được xây dựng lần đầu tiên vào năm 1870, tức là tám năm sau khi miền Đông Nam Bộ trên danh nghĩa đã trở thành thuộc địa của Pháp. Lúc đầu quy mô xây cất đơn giản ít kiên cố, độ cao sáng kém và được xây mới từ vị trí cũ vào năm 1913.
    Do được xây dựng khá sớm lại tồn tại lâu dài nên Hải Đăng vẫn giữ nguyên kiểu dáng, kỹ thuật cổ điển. Đó là một tháp tròn, sơn trắng, cao 18m (như vậy so với mực biển, ánh sáng Hải Đăng Vũng Tàu đạt độ cao 188m). Đèn ở đỉnh tháp chiếu xa 30 hải lý (tức gần 55km). Công suất của bóng đèn chỉ 500W, nhưng Hải Đăng chiếu xa nhờ cấu tạo của hệ thống lăng kính đồ sộ gồm những tấm kính ba cạnh (kiểu tam giác) bao quanh. Tán đèn có hai lỗ thủng lớn gần nhau. Hệ thống quay nhờ môtơ với tốc độ 5 vòng/phút. Do đó, đêm đêm chúng ta thấy hai luồng ánh sáng như hai đường thẳng quét tròn kế tiếp nhau trên nền trời tối sẩm.
    Những người trông coi đèn biển vũng tàu cao niên cho biết, trước đây Hải Đăng Vũng Tàu quay nhờ hệ thống dây thiều, cứ ba giờ lên cót một lần.

    Tháp Hải Đăng được nối liền với khu nhà ở của những người vận hành bằng một con đường hầm cong kiên cố nhưng thật đẹp. Khu nhà của những người vận hành là một kiến trúc kiểu Pháp, hai tầng, xây dựng cùng thời. Vì ở cao không đào giếng nước được, ngươi ta xây dựng hệ thống hệ thống bể chứa lớn trong mùa mưa, dự trữ đủ nước dùng trong cả năm.
    Từ vị trí Hải Đăng chúng ta có thể dõi tầm mắt quan sát mọi nơi của thành phố Vũng Tàu: biển và bờ biển, trung tâm thành phố và miền duyên hải xa xa phía Kỳ Vân – Minh Đạm…
    Bao quanh khu nhà vận hành và đoạn cuối đường lên Hải Đăng là vườn sứ nhiều chục năm tuổi, mát rượi, thơm ngát. Vào dịp lễ hay chủ nhật đây là điểm vui chơi dã ngoại của nhiều người.
    Hải Đăng Vũng Tàu là một công trình kiến trúc kiên cố nhưng không thô. Riêng giá trị lịch sử – văn hóa lâu đời, lại tọa lạc ở một vị trí có phong cảnh thiên nhiên hữu tình, đây là một trong những điểm tham quan kì thú trên Núi Nhỏ của thành phố du lịch Vũng Tàu. Hải Đăng là người bạn tin cậy và trung thành của những người đi biển, là biểu tượng của thành phố biển Vũng Tàu.

    Chùa Hải Vân

    Chùa Hải Vân nằm trên sườn Núi Nhỏ trên đường Hạ Long gần Bãi Dứa Từ đường Hạ Long nhìn về sườn Núi Nhỏ thấy một dốc bậc thang khá cao và cổng chùa lớn với dòng chữ “Chùa Hải Vân” . Du khách lên chùa qua lối đi bộ, hoặc bằng xe theo lối đường cho xe chạy, đều được. Điều đặc biệt khác với các chùa mà chúng ta đã thường gặp là ở đây ngay từ bậc cổng đầu tiên đã thấy các hàng chữ, các bài thơ được đắp nổi rất công phu, cầu kì tỷ mỉ trên các vách tường.
    Lần lượt leo qua các bậc thang vừa đi vừa nhẩm đọc các bài thơ: Bát nhã Tam Đức (nói về thiền), Tịnh độ tam hạnh (nói về tông tịnh độ, một pháp môn của phật giáo), các bài thơ do chính nữ sư trưởng ở đây sáng tác và cho chạm khắc trên tường như: Minh nguyệt cô huyền; Cao trung độc chiếu Ngũ thập tam tham (53 lần cầu đạo) của thiện tài đồng tử.
    Bên phải lối lên còn có bức tranh tường lớn, miêu tả Đức quan âm bồ tát thu phục núi Phổ Đà. Bên trái là bài thơ: Sóng nước đàm bàn và Trời biển nghị luận. Có thể nói tất cả các bài thơ đều là nhận lời khuyên mọi người làm điều lành, lánh điều dữ, khuyên con người làm việc thiện...
    Đài Quan âm bảo điện được xây dựng trên sườn núi, nhìn ra biến Đông tượng Đức Phật Bà cao 6 mét đứng trên bệ đài sen cao 1,2 mét tay phải bắt quyết, tay trái cầm bình nước cam lồ, với khuôn viên xung quanh thật tao nhã, thanh thoát.
    Đây là một ngôi chùa, một điểm du lịch khá độc đáo ở Vũng Tàu.

    Căn cứ Hắc Dịch

    Năm 1945, Hắc Dịch chỉ có khoảng hơn 30 hộ, chưa đến 200 nhân khẩu, trong đó gần 90% là đồng bào dân tộc Chơro. Diện tích lúc đó rộng gấp 4 lần hiện tại, bao gồm toàn bộ phần đất các xã Tóc Tiên, Châu Pha, Sông Xoài, được bao bọc bởi cánh rừng già che phủ. Là địa bàn nằm giữa quốc lộ 15 (51) mà Liên tỉnh lộ 2, nối Chiến khu Rừng Sác với vùng giải phóng thuộc chiến khu Đ nổi tiếng của Miền Đông Nam Bộ. Đồng bào dân tộc Chơro nghèo khổ và thất học nhưng trung thành với sự nghiệp cách mạng, đã đóng góp những thành tích đặc biệt lớn lao trong hai cuộc kháng chiến.
    Hắc Dịch là biểu tưọng đẹp của một vùng kháng chiến.Thanh niên tham gia bộ đội, dân công; thiếu niên tham gia các đội văn nghệ, giao liên, canh gác, phụ nấu cơm, dệt vải; người già vót chông, bàn đinh... Mọi người đều sản xuất nuôi quân và tham gia kháng chiến.
    Hắc Dịch là xã đầu tiên rào làng chiến đấu, đánh địch bằng chông tre, tên ná, bàn đinh, nhiều tên xâm lược Pháp đã phải đền tội bởi những vũ khí tự tạo. Địch đến là đánh, địch đi lại sản xuất, nuôi quân. Hắc Dịch tiêu biểu cho cuộc kháng chiến toàn dân – toàn diện - trường kỳ - tự lực của quân và dân Bà Rịa – Vũng Tàu. Đó là xã không có người dân nào theo giặc, không người nào trong đội ngũ kháng chiến lại nản chí, bỏ ngũ, ngay cả trong thời kỳ khó khăn, ác liệt nhất.

    Năm 1952 Pháp chiếm Long Sơn. Tháng 2-1953 pháp giải tỏa lộ 15, chiếm đóng Phú Mỹ, cả khu tây chỉ còn Hắc Dịch là vùng giải phóng. Các cơ quan tỉnh uỷ, huyện uỷ tỉnh đội, huyện đội tập trung hết về đây, đồng bào ra sức sản xuất nuôi quân và củng cố làng chiến đấu. Quân và dân Hắc Dịch kiên cường giữ vững ngọn cờ đầu của cuộc kháng chiến. Lúc đó 96% số dân trong tỉnh đã nằm trong vùng kiểm soát của địch, toàn tỉnh chỉ có 4/104 xã giữ được chi bộ và chính quyền. Hắc Dịch là một trong bốn xã vững vàng nhất, chi bộ xã có 25 đảng viên (5 chi ủy ). Toàn xã có 229 người dân, trong khi đó lực lượng quân – dân – chính Đảng của tỉnh và của huyện đóng tại căn cứ lên đến 2000 ngưòi. Lương thực thực phẩm do cán bộ, bộ đội tự túc và huy động từ các nguồn khác chiếm 60%, còn 40% do dân Hắc Dịch đóng góp, trung bình mỗi người dân nuôi 3 chiến sĩ.
    Phát huy truyền thống kiên cường trong 9 năm chống Pháp, quân và dân Hắc Dịch đã đóng góp đặc biệt quan trọng trong cuộc kháng chíến chống Mỹ. Tháng 4/1958, đơn vị võ trang tập trung đầu tiên của vùng Bà Rịa – Long Khánh ( phiên hiệu C40) đã được thanh lập tại Hắc Dịch quân số 30 người, vũ khí hơn chục khẩu, hoạt động dưới danh nghĩa “ Bộ độ Bình Xuyên”. Từ đây, lực lượng võ trang đã mở rộng các căn cứ về Phước Thái, Cẩm Mỹ, Xuân Sơn, Bàu Lâm, Xuyên Mộc, nối căn cứ Hắc Dịch với căn cứ Rừng Lá, Minh Đạm, Mây Tàu và Chiến khu Đ.
    Trong thời gian cơ quan Tỉnh ủy, ban quân sự Tỉnh cũng đóng ở địa bàn xã. Đồng bào Hắc Dịch hết lòng ủng hộ cách mạng, nhưòng cả rẫy mì cho bộ đội ăn, nhưòng đất cho bộ đội sản xuất. Thanh niên trong xã giúp bộ đội dựng lán trại, đào hầm, đào địa đạo, bảo vệ căn cứ. Để góp phần xây dựng lực lương võ trang, chi bộ đã vận động anh Mười Chiêu và một số thanh niên cốt cán tham gia dân vệ, sau đó làm nội ứng cho bộ đội lấy cả đồn địch, đem súng về trang bị cho bộ đội. Nhiều thanh niên Hắc Dịch đã trở thành những chiến sĩ đầu tiên của lực lương vũ trang tỉnh.
    Hắc Dịch còn là trung tâm chỉ đạo phong trào cách mạng lúc đó, là trung tâm đào tạo, bồi dưõng cán bộ quân – dân – chính - Đảng trong toàn tỉnh. Tỉnh uỷ, Trường Đảng tỉnh, Phụ nữ Tỉnh, Đoàn thanh niên Tỉnh, khu đoàn miền Đông đã mở nhiều lớp huấn luyện tại đây.
    Từ một căn cứ của tỉnh, Hắc Dịch đã thật sự trở thành căn cứ của các chiến dịch. Không chỉ là giao liên, tiếp vận, nuôi quân, mỗi người dân Hắc Dịch còn là một chiến sĩ an ninh, bảo vệ an toàn và bí mật cho các chiến dịch. Hàng vạn lượt quân vào, quân ra, tiếp nhận và cấp phát 800 tấn vũ khí, 500 tấn lương thực qua những ngả đường kín đáo mà người dân Chơro dẫn lối khiến kẻ địch không thể nào phát hiện được.
    Trong giai đoạn chiến tranh cục bộ (1965-1972), căn cứ Hắc dịch bị đánh phá ác liệt. Trên bản đồ của địch, Mật khu Hắc Dịch là trọng điểm đánh phá mà Mỹ ngụy đã khoanh vào vùng tự do oanh kích và phi pháo. Địch tuyên bố rằng, tất cả dân Hắc Dịch là việt cộng, gặp là bắn chết, bất kỳ đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ. 100% nhà cửa, ruộng rẫy của đồng bào bị hủy diệt. Chúng dùng B52 rải thảm hàng ngày với đủ loại bom napan, bom phát quang, bom bi, chất độc. 2 đại đội biện kích Úc trường kỳ phục kích tại các khe suốitrong rừng, kết hợp với lực lượng Mỹ-ngụy mở nhiều cuộc hành quân cà quét, nhằm tiêu diệt bằng được vùng căn cứ. Bộ đội và đồng bào hàng ngày phải chiến đấu, phải đi phụ kích. Gạo hết, muối hết, lá rừng nhiễm chất độc, không còn thứ gì ăn được, tình thế vô cùng hiểm nghèo.
    Trước tình hình đó, cuối năm 1968 Huyện ủy Châu Đức phải quyết định đưa đồng bào Hắc Dịch về Cầu Vạt (Phước Thái) để tạo thế hợp pháp, bảovệ dân, đồng thời tạo cơ sở hợp pháp để cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm nuôi huyện ủy. Người dân Hắc Dịch, dù ở chỗ nào cũng tuyệt đối trung thành với cách mạng. Chi bộ Hắc Dịch vẫn tổ chức , lãnh đạo đồng bào ở Cầu Vạt, xây dựng đội du kích mật, thường xuyên đánh địch phá thế kiềm kẹp của chúng.
    Trong 2 năm 1969-1970, Mỹ, Úc hành quân càn quét hàng trăm trận, từ cấp tiểu đoàn đến cấp trung đoàn vẫn không đánh bật được du kích ra khỏi căn cứ. Mùa hè 1972, thực hiện chủ trương “mở mảng, mở vùng”, du kích Hắc Dịch đã mở nhiều cuộc tấn công, giải phóng hoàn toàn địa phận Hắc Dịch. Khi ấy, trung đội du kích chỉ còn lại 6 người, hơn 2/3 đã ngả xuống trên mảnh đất quê hương trong những năm tháng, ác liệt nhất. Không một ai bỏ cuộc, đầu hàng.
    Với một lòng trung thành đi theo cách mạng trải qua bao hy sinh gian khổ góp phần đánh đuổi giặc ngoại xâm giải phóng quê hương, Hắc Dịch xứng danh với danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nhà nước ta vừa phong tặng.

    Nhà tù Côn Đảo

    Nằm trên trục giao lưu Đông – Tây, tàu buôn các nước Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp… đã viếng thăm Côn Đảo từ thế kỷ XIII. Hai công ty Đông Ấn của Anh và của Pháp đã nhiều lần cho người lên đảo nghiên cứu địa thế, vẽ bản đồ. Năm 1702, Allen Catchpote, giám đốc công ty Đông Ấn của Anh đích thân chỉ huy cuộc đổ quân chiếm Côn Đảo. Hắn mộ lính người Macasca xây pháo đài và canh giữ. Chúa Nguyễn đã đưa người ra đảo, làm kế trá hàng rồi cùng đội lính Macasca làm binh biến, đánh đuổi thực dân Anh thu lại chủ quyền, lãnh thổ xứ Đàng Trong (1705).
    Tiếp tục nuôi dưỡng cho ý đồ của thực dân Pháp, ngày 28/11/1861, trung úy Lespès đã được lệnh của đô đốc Bonard, đưa chiến hạm Nogagaray tới đánh chiếm Côn Đảo. Nhà tù Côn Đảo được thiết lập theo nghị định 1/2/1862 của đô đốc Bonard để giam những tội nhân mang án từ 1 đến 10 năm. Phó hạm trưởng Félix Roussel được chỉ định làm chỉ huy trưởng quần đao kiêm quản đốc đầu tiên của nhà tù Côn Đảo.
    Ngày 31/01/1873 thống đốc Nam kỳ Dupré ra nghị định ban hành quy chế riêng cho đề lao Côn Đảo. Sau nhiều năm thi hành bồ sung và sửa đổi, bản quy chế hoàn chỉnh, gồm 20 chương, 109 điều ban hành vào ngày 17/5/1961, được áp dụng cho đến ngày cáo chung của thực dân Pháp trên bán đảo Đông Dương.
    Trong hơn nửa thế kỷ, nhà tù Côn Đảo chỉ có một trại giam banh I với nguồn tài chính bổ sung từ ngân sách Liên Bang (Đông Dương). Banh II được khởi công từ năm 1917 và đưa vào sử dụng năm 1928. Banh III tiếp tục được xây dựng và sử dụng năm 1939. Banh phụ của banh III cùng hai dãy chuồng cọp sử dụng từ 1944.
    Năm 1955, thiếu tá Aloise Blank bàn giao lại cho ngụy quyền Sài Gòn, chấm dứt gần một thế kỷ tội ác của thực dân Pháp trên quần đảo. Trong 20 năm (1954-1975), Mỹ Ngụy đã tăng quy mô từ 4 trại lên 8 trại. trại V xây dựng năm 1962. trại VI, VII, VIII xây dựng gẩn như cùng một lúc vào năm 1968, hoàn thành cơ bản cuối năm 1970. Ba trại này được ngân sách MACCORD (chương trình viện trợ quân sự và kinh tế của mỹ) chi tiền, chuyên gia xây cất nhà tù của mỹ thiết kế và hãng thầu Mỹ RMK-BRJ xây cất, trại IX và X cũng đã được đổ móng, đúc cột rồi bỏ dở khi hãng RMK-BRJ rút khỏi việt nam (1972).
    Nhà tù Côn Đảo là địa ngục trần gian, nơi giam giữ và đày đoạ những chiến sĩ cách mạng Việt Nam, nhưng những người tù cộng sản đã biến nơi đây thành trường học nung đúc tinh thần vô sản đưa cách mạng Việt Nam đến ngày thắng lợi cuối cùng giải phóng quê hương.

    Trận địa pháo cổ vịnh Hàng Dừa

    Nhận thấy ý nghĩa quân sự của cửa ngõ Vũng Taù. Vì thế, ngay sau khi chiếm xong Nam Bộ, Pháp đã nhanh chóng lắp đặt ở đây nhiều ụ pháo và sau đó phát triển thành phòng tuyến quân sự quy mô kiên cố. Tuyến phòng thủ Vũng Tàu là một hệ thống các phòng địa pháo liên tiếp, được bố trí trên một đường thẳng ở các độ cao khác nhau từ Tây Bắc sang Đông Nam của Núi lớn và Núi nhỏ.
    Theo các nguồn tài liệu do Pháp để lại, phòng tuyến Vũng Tàu được chia làm ba cụm lớn, tức ba trận địa pháo với tất cả 23 khẩu, cỡ đạn 140-300mm. Ba trận địa pháo liên hoàn này được khởi công xây dựng từ năm 1895.
    Trận địa pháo cổ ở phía Bắc Núi nhỏ (trận địa Cầu Đá) là một bộ phận trong phòng tuyến Vũng Tàu của thực dân Pháp, được htực hiện cuối thế kỷ XIX, cùng thời điểm với trận địa pháo Núi lớn và trận địa pháo nam Núi nhỏ. Từ Cầu Đá, phía trong bãi, du khách có thể lân trận địa pháo núi nhỏ theo hai đường. Một đường theo lối lên Hải Đăng rẽ phải trước khi gặp đoạn đường cua (vòng) đầu tiên. Một đường theo lối vào Tịch Xá Ngọc Bích hay Chùa Bửu Sơn hoặc Hải Âu Hotel trên đường Hạ Long. Trận địa pháo Vịnh Hàng Dừa - Cầu Đá nhằm bảo vệ Cầu cảng, khu điện báo, vịnh hàng Dưà, Bãi Trước và vùng biển tây nam Vũng Tàu.
    Trận địa pháo Cầu Đá gồm bốn khẩu, được bố trí theo hình cánh cung, nòng hướng ra biển Bãi Trước - Cần Giờ. Sở dĩ chúng được bố trí theo hình cánh cung vì dựa vào thế núi ở đây, đồng thời chính ưu thế đó đã tạo ra tầm quan sát và tầm bắn rộng. Các khẩu pháo đều được bố trí cách đều nhau 18m. Chúng được đặt lân mâm pháo, có thể quay tròn 360O, có thể nâng cao hay hạ thấp tầm bắn nhờ hệ thống chuyển động tầm hướng bằng bánh răng cưa. bệ pháo rộng 6m, nòng dài 5,5m. Tất cả các khẩu pháo ở đây đều sử dụng đạn cỡ 240mm. Trên các thân pháo còn ghi các ký hiệu như sau: Khẩu thừ nhất ở đền mẫu thoải, ghi: 24C/mM’1870, R.1873, N20;15704K ; khẩu thứ hai ở chùa Bửu Sơn, chỉ còn thấy các chữ: 24c/mM’1870 ; khẩu thứ ba ở văn phòng cảng vụ Thành phố Hồ Chí Minh
    Những cổ pháo của trận địa Bắc Núi Nhỏ này được bố trí trên một khu vực cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, nhưng do sự phát triển của đô thị nên nhà cửa xây dựng sau này đã che khuất. Hệ thống hầm hào liên quan đến di tích đã bị phá vỡ.

    Di tích Cầu Đá

    Vào năm 1890, các quan cai trị người Pháp ở Nam kỳ nói chung và ở Vũng Tàu nói riêng đã đề xuất xây một tiền cảng nhằm phục vụ cho mục đích quân sự, làm nơi neo đậu tránh gió cho tàu chiến hoạt động trên biển, đồng thời phục vụ cho việc bốc xếp khí tài, hàng hóa phục vụ cho thành phố nghỉ mát và căn cứ quân sự Vũng Tàu. Theo tài liệu của người pháp thời bấy giờ còn lưu trữ đến ngày nay cho biết:

    Tiền cảng Vũng Tàu là một con đê dài hơn 400m, chân đê rộng 15m, mặt đê rộng 4m, được kè bằng đá, đổ bê tông chạy dài từ mũi phía bắc Núi nhỏ ra giữa biển, song song với Bãi Trước ( hay vịnh hàng dừa theo cách gọi lúc ấy). Để làm được con đường ra giữa biển này người Pháp đã chi hết 45.000 quan, ngân sách có được từ việc khai thác thuộc địa. nhân công thực hiện những công việc này là những người tù khổ sai. Để làm được đê cảng, Pháp đã huy động hơn một ngàn tù nhân khuân đá, kè tảng dưới đáy biển trong một thời gian dài. Sau khi làm xong đê cảng, người Pháp mới nhận ra sai lầm: Đê cảng chạy dài theo hướng đối diện và ngược lại với các dòng sông đổ vào vịnh Ghềnh Rái. Mặt khác, do tác động của dòng hải lưu (còn gọi là giáp nước) nên biển cảng đã trở thành con đập chắn, trở thành nơi hội tụ và lắng đọng của phù sa. Cầu Tàu tiền cảng hay Cầu Đá của người Pháp bị vô hiệu hóa trước khi cơn bão Giáp Thìn 1904 ập đến phá hoại hoàn toàn. Sau đó người Pháp không tu sửa lại nữa vì nhận thấy khuyết điểm của một bến cảng ở đây.
    Ngày nay, du khách chỉ còn thấy một đê đá – bê tông chạy dài dọc Bãi Trước, ngư dân Vũng Tàu gọi là cầu đá xưa chính là đê tiền cảng của người Pháp. Sự hiện hữu của con đê ngày nay đã không còn làm cảnh quan của bờ biển Bãi Trước đẹp thêm, trái lại có tác động tụ đọng phù sa, nhưng nó là bằng chứng về sự tàn bạo của người Pháp mà 100 năm qua sóng biển, thủy triều vẫn chưa gội rửa, bào mòn và phủ lấp đi được. Cùng với trận địa pháo trên Núi Nhỏ, Cầu Đá Bãi Trước hợp thành một quần thể di tích lịch sử, đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng quốc gia.

    Cửa biển Lộc An

    Đường đi đến Lộc An rất đẹp, theo quốc lộ 51B đến Bà Rịa, rẽ vào lối đi đến thị trấn Long Hải qua khu núi Minh Đạm, nếu đúng dịp lễ Giáng Sinh và năm mới du khách sẽ được chứng kiến cảnh đẹp của rừng cây Anh Đào bạt ngàn thi nhau đua sắc đủ màu; trắng tinh, trắng xanh, hơi tím và hơi vàng tràn ra hai bên đường như vẫy gọi; như chào mời làm cho du khách quên đi nỗi mệt mỏi đường xa, qua rừng Anh Đào hai bên đường là rừng cây chạy dài tới cửa biển. Tại đây du khách có dịp đến thăm chợ cá của xã, chứng kiến từng đoàn ghe thuyền của ngư dân ra vào, neo đậu ở cửa biển, ghi lại những hình ảnh lao động cần cù của ngư dân.
    Lộc An vừa có biển, có sông, có rừng nên rất phù hợp với loại hình du lịch sinh thái và về nguồn của giới trẻ. Tại đây bạn có thể đi thuyền trên vàm sông Ray, leo núi tham quan núi Minh Đạm cách đó chừng vài cây số. Khác với biển ở những nơi khác, muốn ra bãi biển Lộc An bạn phải dùng xuồng hoặc thúng câu băng qua một hồ nước rộng, người địa phương gọi là đùng. Điều này lại làm cho bạn thích thú vì được lắc lư trong chiếc thúng câu rong chơi trên mặt hồ phẳng lặng. Những phương tiện chuyên chở “đặc chủng” cùng với ghế bố, dù, võng, lò nướng... thường được các khách sạn ở đây miễn phí nếu khách nghỉ qua đêm. Biển Lộc An trong xanh và kín gió, bãi cát phẳng lì nằm dưới những cánh rừng dương trải dài vô tận, sẽ cuốn hút bạn ngay lần đầu đặt chân đến. Nếu bạn không muốn ăn theo thực đơn của nhà hàng thì có thể vừa tắm biển vừa thưởng thức hải sản mùa nào thứ nấy được mua trực tiếp của ngư dân...
    Mỗi khi thủy triều xuống ở những bãi đước ven biển Lộc An có rất nhiều cá thòi lách lên tìm mồi. Đó là cơ hội để những người có máu săn bắt trổ tài chụp nơm hoặc bắn tỉa bằng chạc thung. Rượu đế do chính người Lộc An chưng cất nhắm với cá thòi lòi nấu me là một đặc sản chỉ Lộc An mới có, lỡ thử vào rồi bạn khó lòng dứt được. Ấn tượng nhất khi đến Lộc An còn là những cồn cát có tên là Bún Bịch - Động Đền hay còn gọi là Trảng Vua nơi có vẻ đẹp kỳ diệu không thua gì đồi cát Mũi Né - Hòn Rơm. Ở đây khá còn hoang sơ, bãi tắm chưa bị chia năm sẽ bảy như các nơi khác, hiếm hoi lắm bạn mới gặp một chiếc xe đạp chở quà bánh bán cho dân vạn chài lặng lẽ ngang qua.
    Cửa biển Lộc An chính là điểm hẹn của đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc, cửa biển Lộc An đã trở thành tuyến giao thông nối liền giữa miền Bắc và miền Đông Nam Bộ. Nơi đây đã bao lần chứng kiến nghệ thuật tài tình, khéo léo của các chiến sĩ cách mạng chuyển vũ khí cho mặt trận miền Đông Nam Bộ.
    Ngày nay, trở lại cửa biển Lộc An thăm lại di tích lịch sử - nơi đã từng ghi dấu ấn bao chiến công oanh liệt của quân và dân miền Đông Nam Bộ trong những năm kháng chiến để nhớ lại một thời đầy oanh liệt của dân tộc Việt Nam.

    Địa đạo Kim Long

    Ở ấp 3, xã Kim Long. Khoảng những năm đầu 60 (thế kỷ 20), thực hiện chính sách “Tát nước bắt cá” (“tát” dân bắt Việt cộng), chính quyền Ngô Đình Diệm chủ trương di dời Chi khu Đức Thạnh từ Bình Ba về Ngãi Giao, tiến hành dồn dân, lập ấp chiến lược Đây là thời kỳ hết sức khó khăn cho cách mạng. Trước tình hình đó, Đảng bộ địa phương đã chủ trương đào địa đạo tại xã Kim Long, nơi có vị trí thuận lợi cho các hoạt động quân sự và bám được địa bàn dân cư. Từ năm 1962 đến năm 1964, địa đạo Kim Long được hình thành với chiều dài 2km, xuyên qua nhà ở, vườn cây ăn trái, có 12 cửa lên xuống. Trong địa đạo có đầy đủ công sự chiến đấu, phòng họp, trạm y tế, kho lương thực, vũ khí, sức chứa khoảng 100 người. Nhờ có địa đạo này, bộ đội và du kích đã bám được trong dân để hoạt động, tiếp tục duy trì, xây dựng và phát triển phong trào cách mạng, tổ chức chống trả các đợt càn quét và gom dân của Mỹ- Diệm. Năm 1994, địa đạo Kim Long được Bộ Văn hóa- Thông tin xếp hạng công nhận di tích lịch sử văn hóa.

    Tượng đài chiến thắng Bình Giã

    Nằm sát bên quốc lộ 56, thị trấn Ngãi Giao. Khuôn viên Tượng đài rộng 20.000m2, gồm vườn hoa, khu Tượng đài, Đền thờ và các công trình phụ... Thân tượng cao 26m, màu ghi sáng, đặt trên bệ đá hoa cương đen cao 3m, tạo cảm giác mạnh mẽ. Với ba bàn tay nắm chặt đốc lê, phía trên là ba lưỡi lê vươn lên nền trời xanh tượng trưng cho ba thứ quân và ba mũi giáp công trong chiến thắng Bình Giã. Hai bên tượng đài là hai bức phù điêu (dài 7m, cao 3m) được ghép từ hàng ngàn mảnh gốm màu Bát Tràng (Hà Nội) thể hiện sự phối hợp chiến đấu và chiến thắng trong chiến dịch Bình Giã.
    Đức Thạnh-Bình Giã là căn cứ quân sự quan trọng của Mỹ-ngụy trong chiến tranh đặc biệt. Cuối năm 1964, bộ đội chủ lực miền phối hợp với bộ đội và du kích địa phương tổ chức chiến dịch Bình Giã và giành được thắng lợi vang dội, góp phần quan trọng phá sản chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ- Nguỵ. Chiến dịch Bình Giã, lực lượng quân giải phóng đã tiêu diệt 1.700 tên địch, trong đó có 60 cố vấn Mỹ, 50 sĩ quan ngụy; bắt sống 293 tên, trong đó có 3 cố vấn Mỹ; phá hủy 45 xe các loại, loại khỏi vòng chiến đấu 56 máy bay; thu trên 1.000 súng các loại; 100 máy thông tin và nhiều quân trang quân dụng.
    Tượng đài chiến thắng Bình Giã ghi dấu chiến công vang dội trong kháng chiến chống Mỹ trên vùng đất Bà Rịa - Vũng Tàu và là điểm tham quan không thể bỏ qua trên đường du khách về thăm địa đạo Kim Long.

    Bia hình Thánh Giá

    Chiếc bia làm bằng xi măng, cát và sắt thép có hình thánh giá đặt tại một khu vườn thuộc xã Long Tân, do những người lính quân đội Hoàng gia Úc lập nên vào ngày 18-8-1969 để tưởng niệm những người Úc đã chết trên chiến trường Đông Nam Bộ, trong thời gian chiến tranh ở Việt nam. Chiếc bia rất đơn sơ, nhưng đằng sau nó là cả một sự kiện lịch sử mà những năm qua đã thu hút hàng ngàn lượt cựu chiến binh quân đội Hoàng gia Úc tìm đến...
    Bia được hình thành sau ngày 18-8-1966 lúc quân đội Úc-Tân Tây Lan tổ chức trận càn mở màn cho đợt bình định vùng Bà Rịa - Long Khánh đã bị lực lượng quân giải phóng chặn đánh và tiêu diệt gọn. Đây là một thất bại của một đội quân tự hào có sở trường về chống chiến tranh du kích được trang bị hiện đại, huấn luyện tốt. Những người lính Úc đã nằm xuống tại đây để lại nỗi đau và niềm tiếc thương cho những người mẹ, người vợ và cho đất nước họ.
    Cây thánh giá sừng sững để lại dấu ấn của lịch sử chiến tranh Việt Nam. Hội cựu chiến binh Úc đã viết nhiều bài báo và xuất bản một cuốn sách dày viết về chiếc bia hình Thánh Giá này. Ngày 16-11-1988, Bộ Văn hoá Thông tin đã ban hành quyết định số 1288 VH/QĐ công nhận Bia Hình Thánh Giá Long Tân là di tích lịch sử.

    Căn cứ Minh Đạm

    Núi Châu Long – Châu Viên ở Đông Nam huyện Long Đất. Từ Đông sang Tây - Bắc dài 8km, điểm cao nhất là 355m. Ba mặt giáp biển, có nhiều hang động hiểm trở. Dãy núi này là căn cứ kháng chiến chông Pháp, Mỹ.
    Năm 1948 đổi tên là căn cứ Minh Đạm, đó là ghép tên của 2 ông Bùi Công Minh và Mạc Thanh Đạm là bí thư và phó bí thư huyện uỷ huyện Long Điền hy sinh tại đây.
    Sườn núi phủ đầy cây rừng rậm rạp và nhiều hang động tự nhiên, có suối nước ngọt quanh năm thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài. Do vi trí chiến lược quan trọng, địa hình hiểm trở nên từ năm 1948 đến đầu năm 1975 Tỉnh ủy Bà Rịa - Long Khánh đã xây dựng tại đây căn cứ kháng chiến. Giữa vòng vây quân địch, Minh Đạm vẫn đứng vững trước sự tàn phá hủy diệt bằng đủ loại vũ khí tối tân, nuôi dưỡng lực lượng cách mạng trưởng thành, thắp sáng niêm tin thắng lợi trong nhân dân. Toàn bộ căn cứ bao gồm bốn khu vực chính:
    Khu Đá chẻ:
    Địa danh này được đặt ra vì đỉnh núi có tảng đá bị nứt dọc tựa như vết chẻ. Đây là nơi bám trụ của các cơ quan, đơn vị trọng yếu của huyện Long Đất. Các hang đá và địa điểm được gọi theo tên của đơn vị đóng quân tại đó như: hang Huyện ủy, hang B2, hang Huyện đội, hang Quân y, hang Quân giới và hang Tuyên huấn.
    Khu chùa Giếng Gạch:
    Ở độ cao 150m phía bắc núi Minh Đạm. Địa danh này mang tên một ngôi chùa cổ đã. Bị phá hủy hoàn toàn. Đây là nơi trú quân của huyện Long Đất bao gồm các hang Quận ủy, hang Quân nhu, hang Quân đội và hang Quân báo trung ương.
    Khu Châu Viên:
    Ở phía tây núi Minh Đạm, nơi trú chân của các Ban An ninh, anh tài, Quân y, và căn cứ bám trụ của xã Phước Hải, núi Ngãi trong một giai đoạn ngắn từ 1963 - 1964.
    Khu Đá Giăng:
    Nằm ở chân núi Minh Đạm. Lực lượng cách mạng các xã Phước Tỉnh, Long Điền, An Ngãi và Tam An đã xây dựng căn cứ bám trụ tại đây. Nay di tích này hâu như không còn.
    Khu căn cứ Minh Đạm đã được Bộ văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử theo quyết định số 57/VHQĐ ngày 18 tháng 1 năm 1993.
    Cùng với các di tích cách mạng, khu căn cứ Minh Đạm còn có tiềm năng phát triển du lịch rất thuận lợi. Địa thế tự nhiên có núi cao tới 327m, rừng cây xanh mát bốn mùa. Dọc theo chân núi là bãi biển chạy dài từ đông sang tây qua núi Thùy Vân với rừng dương reo vui trong gió tạo nên một thắng cảnh đẹp nên thơ. Đến với căn cứ Minh Đạm, du khách có thể leo núi, len lỏi giữa rừng cây
    gộp đá, tham quan các di tích lịch sử, đùa giỡn với sóng biển tại bãi tắm Hàng Dương hoặc thả bộ theo con đường trải nhựa chạy dọc ven biển. Hai bên đường hoa anh đào, hoa mai tỏa hương thơm dịu ngọt. Thật là một chuyến tham quan du lịch bổ ích và lý thú.

    Hang Dơi

    Ở độ cao 50m là nơi hoạt động của Thị uỷ, Thị đội Bà Rịa trong hai thời kỳ kháng chiến gian khổ. Gần địa bàn dân cư nhất so với các căn cứ khác. Hang Dơi có hai ngách lớn, nhiều đường đi rất thuận lợi, ở miệng hang rộng và thoáng.
    Bộ Văn hoá thông tin đã ra quyết định số2015/QĐ.BT ngày 16 tháng 12 năm 1993 công nhận khu di tích lịch sử khu căn cứ Núi Dinh.
    Hiện nay đường đến căn cứ cách mạng Núi Dinh được tu sửa bước đầu. Một con đường mới tu bổ từ nhà thờ Kim Hải lên tới cầu Sập. Khách du lịch có thể đến bằng xe ô tô. Trong tương lai, khu di tích Núi Dinh sẽ trở thành điểm du lịch lý thú và hấp dẫn đốí với khách tham quan trong và ngoài nước

    Bưng Lùng

    Nằm ẩn mình giữa hai đỉnh núi ông Trịnh và đỉnh Núi Dinh. Trong căn cứ, Bưng lùng là nơi xa nhất. Từ năm 1961 đến năm 1967, địch ráo riết tìm diệt căn cứ của ta nên cán bộ chiến sĩ phải chọn căn cứ Bưng Lùng để bảo toàn lực lượng. Là một thung lũng khá bằng phẳng, xung quanh có rất nhiều cây lùng (cây dong riềng) nên có tên gọi là Bưng Lùng. Bên các sườn dốc là bạt ngàn các cây cổ thụ, tán lá rộng sum xuê ; sao, dầu, bằng lăng... để tránh pháo và bom, cán hộ chiến sĩ phải đào hầm chữ T, mắc võng ngủ trong hầm. Nơi đây đã đào tạo rèn luyện các chiến sĩ của Thị uỷ, thị đội Bà Rịa và Thành Đoàn Sài gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) trước lúc về nội thành hoạt động.

    Hang Mai

    Nằm trên độ cao 234m vê phía tây bắt, là một thung lũng lòng chảo khá rộng thoải dần về phía bắc, có hai con suối nhỏ chảy qua. Thiên nhiên tạo cho Hang Mai vẻ đẹp thơ mộng. Xung quanh khá nhiều cây cối, những thảm cỏ xanh tươi thoang thoảng hương thơm của thảo mộc đang ríu rít tiếng chim rừng. Năm 1968, sau khi phát hiện đây là nơi tập kết của lực lượng ta, địch đã dùng bom huỷ diệt toàn hộ căn cứ. Chúng còn đưa quân lên đây phá sập miệng Hang Mai. Những ngôi chùa lớn ở gần đó cũng bị phá hoại hoàn toàn.

    Hang Tổ

    Nằm ở độ cao 200m, có nhiều hang đá rộng và sâu, đủ chỗ chứa hàng trăm người. Nơi đây là điểm dừng chân của cán bộ chiến sĩ, là nơi cung cấp lương thực chực phẩm của Thị uỷ, Thị đội Bà Rịa. Mùa xuân năm 1968 Hang Tổ là nơi tập kết lực lượng của bộ đội tỉnh Bà Rịa - Long Khánh trước lúc xuống đường.

    Hang Dây Bí

    Nằm trên độ cao 481m, về phía đông - nam là căn cứ của Huyện uỷ, Huyện đội Châu Đức. Địa hình ở đây nhiều vòm đá, phía trong là các hang động, có nguồn nước dồi dào chảy quanh năm, bên ngoài nhiều dây leo che kín. Hang nằm trên dốc đá khá cao, đường lên rất khó. Vào những năm 1965-1966 địch dội xuống đây hàng trăm tấn bom đạn. Chúng dùng trực thăng thả biệt kích, dùng mìn cay, bơm hơi độc vào hang hòng tiêu diệt bằng được lực lượng cách mạng. Chiến sĩ ta cố thủ bám trụ dưới hang sâu, chờ thời cơ tấn công tiêu diệt địch. Ngày 30 tháng 10 năm 1967 lực lượng đại đội 34 huyện Châu Đức đã tiêu diệt tại đây 100 tên địch, bẻ gãy nhiều đợt tấn công của chúng

    Căn cứ Núi Dinh

    Nằm kề quốc lộ 51 thuộc địa phận thị xã Bà Rịa và huyện Tân Thành, tỉnh, Núi Dinh chạy hình vòng cánh cung theo hướng đông nam - tây bắc. Đỉnh cao nhất là núi ông Trịnh 504m, phần còn lại thoải dần về hai phía.
    Đầu thế kỷ XX ở đây là rừng nguyên sinh, với thảm thực vật nhiệt đới đa dạng, gồm nhiều loại gỗ hiếm: dâu, sao, bằng lăng, cẩm lai, sơn trà, chiêu liên, châm sừng, săng trắng, sến, gõ đỏ... Dưới tán rừng giá là nơi cư trú của các loài động vật : hổ, khỉ, nai, dọc, gấu, heo, hoẵng, sóc, chồn, cây hương, kỳ đà. Lợi dụng địa hình hiểm trở ở đây, cuối năm 1952 Thị uỷ Bà Rịa đã bí mật chuyển căn cứ hoạt động từ rừng Sác, xã Long Sơn vê Núi Dinh. Trong hai cuộc kháng chiến, Núi Dinh là cơ sở an toàn che chở cho các đơn vị thuộc chiến trường Đông Nam bộ.
    Căn cứ núi Dinh trải dài trên một diện tích rộng có địa hình phức tạp, địch biết nhưng chúng không thể nào tìm được nơi hoạt động cụ thể của lực lượng cách mạng. Có thể nói mỗi hốc đá, mỗi lùm cây, một bờ suối đều tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ chiến sĩ lập nên những kỳ tích anh hùng. Năm tháng qua đi, những địa danh Hang Dây Bí, Hang Tổ, Hang Mai, Chùa Diệu Linh, Bưng Lùng, Hang Dơi... mỗi lần nhắc đến đều làm nhiều thế hệ bồi hồi xúc động.

    Địa đạo Long Phước

    Nằm ở xã Long Phước, cách trung tâm thị xã bà Rịa 7km về phía Đông Bắc. Do có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự nên Long Phước luôn là địa bàn tranh chấp quyết liệt giữa ta với địch suốt hai cuộc kháng chiến. Chính nơi đây đã hình thành hệ thống địa đạo nổi tiếng.
    Khởi đầu phong trào đào hầm bí mật tại nhà ông Năm Hồi năm 1948, nhân dân Long Phước đã phát triển thành hệ thống địa đạo ở cả năm ấp trong xã: Ấp Đông, ấp Tây, ấp Nam, ấp Bắc và ấp Phước Hữu. Các cụm địa đạo được nối liền nhau bởi đường xương sống, có hầm bí mật chứa lương thực dự trữ với các công sự chiến đấu. Đường địa đạo xương sống cách mặt đất 2-3m, lòng địa đạo cao 1,5-1,6m rộng 0,60-0,70m đảm bảo đi lại vận động dễ dàng. Tuyến địa đạo ấp Đông dài trên 360m có nhiều công sự chiến đấu, trạm cứu thương, kho vũ khí và lương thực.
    Hệ thốngđịa đạo Long Phước được khôi phục từ tháng 4 năm 1963 và phát triển thành thế liên hoàn vững chắc. Địa đạo được đào sâu xuống 6m, đường xương sống mở rộng 0,70-0,80m, cao1,6-1,8m, có nhiều cửa ngăn và lỗ thông hơi nhiều ụ chiến đấu.
    Qua 27 năm (1948-1975) hình thành và phát triển, địa đạo Long Phước là nơi bám trụ đánh địch kiên cường của lực lượng cách mạng. Điển hình là trận chiến đấu 44 ngày đêm (từ ngày 5/3 đến ngày 11/4/1963) chống địch càn quét vào Long Phước, du kích xã và bộ đội địa phương đã gây cho địch nhiều thiệt hại.
    Trải qua bao mưa bom, bão đạn, địa đạo và quân dân Long Phước vẫn đứng vững kiên cường, xứng danh vùng đất một thời đạn bom vẫn được xem như “núm sữa” quan trọng nuôi dưỡng phong trào cánh mạng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Tại quyết định số 34/VHQĐ ngày 09 tháng 1 năm 1990 Bộ Văn Hóa Thông Tin đã công nhận di tích lịch sử địa đạo Long Phước.

    Khu rừng Bàu Sen

    Khu rừng Bàu Sen thuộc ấp Xà Bang, xã Ngãi Giao, huyện Châu Đức. Từ thị xã Bà Rịa theo tỉnh lộ 2 đi khỏang 30km về phía Bắc, tới Xà Bang quẹo phải theo con đường nhỏ trải nhựa là đến khu nghỉ mát Bàu Sen, cũng là đã tới phía nam khu rừng. Rừng Bàu Sen mọc trên vùng sình lầy quanh năm ngập nước, với diện tích
    120ha độ sâu trung bình 3.5m. Trong rừng có nhiều loại gỗ quý chịu nước: bời lời, dâu nước, sao và bụi rậm dây leo: mây, song, tre… Bao quanh khu rừng là mảnh đất sình lầy rộng khoảng 10ha. Suối Tần Bó bắt nguồn từ Cẩm Mỹ chảy ngang qua khu rừng cung cấp nước ngọt và các loại thuỷ sản: cá cua, ốc, lươn… sinh sôi nảy nở tạo nên kho thực phẩm thiên nhiên dồi dào.
    Cùng với giá trị lịch sử, cảnh quan và môi trường thiên nhiên tươi đẹp, trong lành đã làm cho khu rừng Bàu Sen trở thành một thắng cảnh thơ mộng và kì vĩ. Rừng cây gỗ quí xanh tươi vươn cao cách mặt đất 20m, nền rừng là sình lầy thích hợp với kiểu du lịch bằng ghe thuyền thật thú vị kết hợp với săn bắn thú rừng và thủy sản. Từ cuối năm 1981 khu vực phía nam rừng Bàu Sen được khai phá, xây dựng thành khu nghỉ mát với những vườn hoa cây cảnh, nhà thủy tạ, hồ sen… nằm giữa vùng rừng thiên nhiên và các vạt rừng cao su xanh ngát đang hàng ngày không ngừng tuôn chảy dòng nhựa trắng, là mặt hàng chiến lược quí của đất nước.
    Hiện nay rừng Bàu Sen còn lại 70ha và khu đầm lầy bao quanh rộng 42ha, song vẫn thể hiện dáng dấp của một khu căn cứ thới kháng chiến với những nét độc đáo hấp dẫn sự quan tâm của khách tham quan du lịch.

    Nhà Tròn Bà Rịa

    Di tích Nhà Tròn Bà Rịa nằm ngay trung tâm của thị xã Bà Rịa có hình dáng khá đặc biệt. Được xây dựng từ thời Pháp, kiến trúc chính là một tháp chứa nước hình tròn có mái che, có chân đỡ tháp nước, phía dưới là nhà làm việc tạo thành một chân đế. Tháp cao 20m, có 8 trụ đỡ. Tại đây ngày 25/8/1945 cờ cách mạng đã được treo trên đỉnh tháp, hàng vạn nhân dân khắp nơi trong tỉnh Bà Rịa do Đoàn thanh niên tiền phong dẫn đầu đã tổ chức mí tinh, tuần hành, khởi nghĩa giành chính quyền từ tay thực dân Pháp và phong kiến tay sai.
    Ngày 1/5/1975 miền Nam được giải phóng, Thị uỷ Bà Rịa tổ chức mít tinh tại Nhà Tròn mừng chiến thắng có hàng vạn người tham dự.
    Hiện nay Nhà Tròn được chính quyền và nhân dân địa phương tôn tạo tu bổ, gìn giữ và bảo vệ. Nhà Tròn được dùng làm tụ điểm văn hoá, đọc sách báo. Đặc biệt, dưới mái Nhà Tròn được kiến trúc bởi hàng trăm tổ chim én đủ hình, mỗi sáng và chiều du khách có thể ngắm hàng nhìn chim én bay lượn tạo một khoảng trời đầy sinh động.

    Đồn nhà máy nước

    Để bảo vệ sân bay, nhà máy nước và ngăn chặn quân ta tấn công, quân Pháp xây dựng công sự phòng thủ ở ngã tư Giếng nước (lúc đó là ngã 3). Đồn được xây dựng theo lối công sự phòng thủ bằng gạch, đá, xi măng cốt thép; cao 2 tầng, trên là tháp canh; tổng diện tích 11,2m2. Phần di tích hiện có là do được tu sửa gần đây theo sơ đồ cũ, có xây thêm phần mái để bảo vệ.
    Năm 1948, quân đội cách mạng đã tấn công vào đồn nhà máy nước (Đại đội 7 Vũng Tàu, bộ đội 5 Long Điền và một tổ quân báo). Sau 15 phút chiến đấu, trận tập kết đã thắng lợi, thu 20 súng và nhiều vũ khí đạn dược. Ngoài ra tháng 5/1949 và ngày 20/12/1949 quân đội cách mạng đã hai lần tấn công thắng lợi phá vỡ thế kiềm kẹp của Pháp.
    Di tích này là bằng chứng thể hiện truyền thống chiến đấu anh hùng của quân dân Vũng Tàu trong kháng chiến chống Pháp.
    Địa phương hiện đã có kế hoạch trùng tu và tôn tạo lại di tích này để phục vụ cho đông đảo nhân dân muốn đến tham quan, nghiên cứu.

    Trận địa pháo cổ

    Ngay phía dưới chân tượng Chúa Kitô, du khách bắt gặp hai cỗ pháo khổng lồ. Đó là một trong số 11 đại pháo của trận địa pháo cổ Núi Nhỏ. Trận địa pháo này là một trong ba trận địa, tạo thành tuyến phòng thủ Vũng Tàu của người Pháp xây dựng cuối thế kỷ XIX và được bổ sung thay thế một số vào đầu thế kỷ XX. Về mục đích, thời gian và chiến lược xây dựng các trận địa pháo phòng tuyến Vũng Tàu, du khách đã được biết khi xem phần giới thiệu trận địa pháo Cầu Đá – vịnh Hàng Dừa. Trận địa pháo phía nam Núi Nhỏ này có chức năng là chốt tiền tiêu, là mặt trước của cửa ngõ và được cấu trúc bố phòng các trận địa pháo.
    Trận địa pháo Núi nhỏ được bố trí thành ba cụm theo thế vòng cung bao quát cả vùng Biển Đông và Nam Vũng Tàu. Cụm thứ nhất, ngay dưới chân tượng Chúa Kitô, gồm 3 khẩu ở độ cao trung bình 136m so với mực nước biển. Ba cỗ pháo ở cụm thứ nhất có cùng kiểu dáng, cấu tạo và cỡ đạn là 240mm, nòng dài 12,33mm. Trên thân các các cỗ pháo đều có ghi kí hiệu, kích cỡ nòng súng, kiểu dáng và năm sản xuất, trọng lượng của pháo và phân hiệu của đội. Mỗi cỗ đều được đặt trong một công sự đào sâu dưới mặt đất tròn, có đường kính 10,5m. Nhờ hệ thống bánh răng cưa gắn với bệ cố định, các cỗ pháo này có thể quay tròn mọi hướng và có thể nâng cao hay hạ thấp. Các cỗ pháo liên hệ với nhau bằng hệ thống giao thông hào và hầm trú ẩn – chứng tỏ đây là một trận địa pháo thường trực.
    Cụm thứ hai, gồm năm khẩu, độ cao trung bình 91m so với mực nước biển. Năm cỗ pháo này đều có cùng kiểu dáng, cấu tạo và cỡ đạn là 300mm. Trên thân các pháo đều có ghi các kí hiệu về cỡ đạn, kiểu dáng, năm sản xuất, trọng lượng và phân hiệu khẩu đội. Cụm pháo thứ hai nằm cách cụm pháo thứ nhất chừng 300m về phía Bắc. Năm cỗ pháo này được bố trí thành hai ụ cách nhau chừng 20m. Hai ụ pháo này được đặt trong công sự hình chữ nhật sâu dưới mặt đất. Ụ thứ nhất gồm 3 khẩu, ụ thứ hai gồm 2 khẩu ( trên thực tế du khách chỉ thấy còn 4 khẩu ở cả hai ụ, một khẩu chỉ còn lại mâm pháo do súng được chuyển về trưng bày trong bộ sưu tập súng cổ ở sân Bạch Dinh).
    Năm cỗ pháo ở cụm thứ hai có tính năng chiến đấu như cụm thứ nhất,chủ động tầm hướng nhờ hệ thống răng cưa. Phìa sau các công trình hình chữ nhật làm nơi đặt pháo là các hầm trú ẩn và giao thông hào. Ở mỗi ụ, hầm trú ẩn mở rộng tới 100m, được chia thành nhiều phòng, vừa dùng làm nơi chứa đạn, vừa là chỗ sinh hoạt của pháo thủ.
    Cụm thứ ba, gồm 3 khẩu, ở độ cao trung bình khoảng 90m so với mực nước biển. Ba cỗ pháo của cụm này có cỡ đạn bằng nhau là 140mm. Trên thân pháo đều ghi các thông số cần thiết. Tuy nhiên, nếu hai cụm pháo thứ nhất và thứ hai gồm những cỗ pháo được thay thế mới đầu thế kỉ 20 thì ba cỗ pháo này vẫn là những cỗ pháo của giữa nửa cuối thế kỉ XIX. Vì vậy, chúng bị hoen rỉ hư hại nặng. Các thông số bị mài mòn, chỉ có thể đọc đầy đủ nhờ ghép các chi tiết khẩu này với khẩu kia.
    Cụm thứ ba nằm cách cụm thứ hai 300m, cách cụm thứ nhất chừng 650m. Ba cỗ pháo được đặt riêng biệt trong ba công sự hình tròn, cách đều nhau 27. Và được nối thông với nhau bằng hệ thống giao thông hào và hầm trú ẩn.

    Rời tượng Chúa Kitô và trận địa pháo cổ núi nhỏ của người Pháp được xây dựng cách ngày nay vừa tròn 100 năm, du khách có thể đến với biển Bãi Sau thả mình trong nước, sau đó tiếp tục tham quan những di tích lịch sử – văn hóa có tính đặc trưng và cổ xưa của cư dân bản địa Vũng Tàu.

    Trận địa pháo cổ

    Ngay phía dưới chân tượng Chúa Kitô, du khách bắt gặp hai cỗ pháo khổng lồ. Đó là một trong số 11 đại pháo của trận địa pháo cổ Núi Nhỏ. Trận địa pháo này là một trong ba trận địa, tạo thành tuyến phòng thủ Vũng Tàu của người Pháp xây dựng cuối thế kỷ XIX và được bổ sung thay thế một số vào đầu thế kỷ XX. Về mục đích, thời gian và chiến lược xây dựng các trận địa pháo phòng tuyến Vũng Tàu, du khách đã được biết khi xem phần giới thiệu trận địa pháo Cầu Đá – vịnh Hàng Dừa. Trận địa pháo phía nam Núi Nhỏ này có chức năng là chốt tiền tiêu, là mặt trước của cửa ngõ và được cấu trúc bố phòng các trận địa pháo.
    Trận địa pháo Núi nhỏ được bố trí thành ba cụm theo thế vòng cung bao quát cả vùng Biển Đông và Nam Vũng Tàu. Cụm thứ nhất, ngay dưới chân tượng Chúa Kitô, gồm 3 khẩu ở độ cao trung bình 136m so với mực nước biển. Ba cỗ pháo ở cụm thứ nhất có cùng kiểu dáng, cấu tạo và cỡ đạn là 240mm, nòng dài 12,33mm. Trên thân các các cỗ pháo đều có ghi kí hiệu, kích cỡ nòng súng, kiểu dáng và năm sản xuất, trọng lượng của pháo và phân hiệu của đội. Mỗi cỗ đều được đặt trong một công sự đào sâu dưới mặt đất tròn, có đường kính 10,5m. Nhờ hệ thống bánh răng cưa gắn với bệ cố định, các cỗ pháo này có thể quay tròn mọi hướng và có thể nâng cao hay hạ thấp. Các cỗ pháo liên hệ với nhau bằng hệ thống giao thông hào và hầm trú ẩn – chứng tỏ đây là một trận địa pháo thường trực.
    Cụm thứ hai, gồm năm khẩu, độ cao trung bình 91m so với mực nước biển. Năm cỗ pháo này đều có cùng kiểu dáng, cấu tạo và cỡ đạn là 300mm. Trên thân các pháo đều có ghi các kí hiệu về cỡ đạn, kiểu dáng, năm sản xuất, trọng lượng và phân hiệu khẩu đội. Cụm pháo thứ hai nằm cách cụm pháo thứ nhất chừng 300m về phía Bắc. Năm cỗ pháo này được bố trí thành hai ụ cách nhau chừng 20m. Hai ụ pháo này được đặt trong công sự hình chữ nhật sâu dưới mặt đất. Ụ thứ nhất gồm 3 khẩu, ụ thứ hai gồm 2 khẩu ( trên thực tế du khách chỉ thấy còn 4 khẩu ở cả hai ụ, một khẩu chỉ còn lại mâm pháo do súng được chuyển về trưng bày trong bộ sưu tập súng cổ ở sân Bạch Dinh).
    Năm cỗ pháo ở cụm thứ hai có tính năng chiến đấu như cụm thứ nhất,chủ động tầm hướng nhờ hệ thống răng cưa. Phìa sau các công trình hình chữ nhật làm nơi đặt pháo là các hầm trú ẩn và giao thông hào. Ở mỗi ụ, hầm trú ẩn mở rộng tới 100m, được chia thành nhiều phòng, vừa dùng làm nơi chứa đạn, vừa là chỗ sinh hoạt của pháo thủ.
    Cụm thứ ba, gồm 3 khẩu, ở độ cao trung bình khoảng 90m so với mực nước biển. Ba cỗ pháo của cụm này có cỡ đạn bằng nhau là 140mm. Trên thân pháo đều ghi các thông số cần thiết. Tuy nhiên, nếu hai cụm pháo thứ nhất và thứ hai gồm những cỗ pháo được thay thế mới đầu thế kỉ 20 thì ba cỗ pháo này vẫn là những cỗ pháo của giữa nửa cuối thế kỉ XIX. Vì vậy, chúng bị hoen rỉ hư hại nặng. Các thông số bị mài mòn, chỉ có thể đọc đầy đủ nhờ ghép các chi tiết khẩu này với khẩu kia.
    Cụm thứ ba nằm cách cụm thứ hai 300m, cách cụm thứ nhất chừng 650m. Ba cỗ pháo được đặt riêng biệt trong ba công sự hình tròn, cách đều nhau 27. Và được nối thông với nhau bằng hệ thống giao thông hào và hầm trú ẩn.
    Rời tượng Chúa Kitô và trận địa pháo cổ núi nhỏ của người Pháp được xây dựng cách ngày nay vừa tròn 100 năm, du khách có thể đến với biển Bãi Sau thả mình trong nước, sau đó tiếp tục tham quan những di tích lịch sử – văn hóa có tính đặc trưng và cổ xưa của cư dân bản địa Vũng Tàu.

    Tượng Chúa Kitô


    Nét đẹp thiên nhiên ở Nghinh Phong – Vọng Nguyệt dường như được nhân lên nhờ bàn tay con người – cải tạo mạn cực nam Núi Nhỏ và xây dựng nơi đây một công trình kiến trúc điêu khắc đồ sộ. Tượng chúa kitô cao 32m là một sự nổi bật hài hòa trong không gian khoáng đạt của vùng núi non và biển cả nơi đây.
    Bức tượng được xây dựng 1974 sau một quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng về ý đồ thiết kế và chọn mẫu. Tất cả các công việc đều do hội Thiên Chúa Giáo Vũng Tàu chủ trì và thực hiện.Các họa sĩ điêu khắc như Cao Uy, Văn Nhân và các vị có chức sắc trong giáo hội, được giao nhiệm vụ tham khảo hàng nghìn bức ảnh Chúa Kitô và thiết kế mẫu phác thảo, sau đó phác thảo được gửi tới cuộc triển lãm văn hóa – nghệ thuật tôn giáo để tranh thủ thêm nhiều ý kiến đóng góp của các nhà nghệ thuật.
    Việc thi công bức tượng được giao cho nhóm kỹ sư tài hoa Nguyễn Văn Đức, và những người thợ tài giỏi như ông Tám Luận, Nan, Quý, Hòa, Hoàng … Hằng ngày có 50 người lao động để thực hiện công trình này. Do điều kiện xây dựng khó khăn (núi cao, nền đá, hệ thống dàn giáo khó thực hiện)…công trình kéo dài. Đầu năm 1975 cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam đi vào giai đoạn kết. Vì vậy công trình tượng chúa kitô phải dừng lại trong dở dang từ 30/4/1975. Mãi đến 1993 một số công trình phụ khác như hệ thống tam cấp đường lên, những mảng chưa được tô láng ciment trước đây mới được giáo hội thiên chúa thực hiện tiếp. Và trong tương lai công trình sẽ được hoàn thiện như phác thảo ban đầu.
    Kiến trúc – điêu khắc tượng chúa kitô là một tác phẩm nghệ thuật lớn, là sản phẩm của sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ với kiến trúc nghệ thuật Việt Nam hiện đại mang đậm tính dân tộc và tôn giáo. Về kích thước với chiều cao 32m, sải tay dài 18,4m đặt trên đỉnh Tao Phùng cao hơn mặt nước biển 170m, được giới chuyên môn xem đây là bức tượng Kitô cao thứ nhì thế giới, sau bức tượng Kitô ở Brasil vốn do hai quốc gia Argentina và Brasil xây dựng (cao 38m) đặt trên ngọn núi cao 760m .
    Tượng chúa Kitô núi nhỏ quay mặt về hướng nam nhìn ra biển Đông, nét mặt nhân từ bao dung, đôi tay dang rộng như đang che chở, bao bọc chúng sinh. Dẫu là một bức tượng được xây bằng bê tông cốt thép, bên ngoài tô đá rửa nhưng những chi tiết thuộc về nghệ thuật và thẩm mỹ như tư thế bức tượng, nét mặt, trang phục … đều được thễ hiện hết sức mềm mại, sinh động giàu sức sáng tạo.
    Bên trong tượng có cầu thang xoắn ốc đi từ chân tượng lên tới đỉnh tượng. Ánh sáng bên ngoài chiếu rõ trong lòng tượng nhờ hệ thống “cửa sổ” hình chữ “Thọ” trang trí trên áo. Lên hết 133 bậc tam cấp trong lòng tượng du khách du khách có thể đi ra 2 bên vai và tay áo tượng – như hai chiếc ban công an toàn, chắc chắn để ngắm bờ biển Vũng Tàu và đón gió biển thổi vù vù, mát rượi. Hai bàn tay tượng chúa kitô dài tới 2,2m, ngón giữa dài 1,1m có 9 tia hào quang làm bằng kim loại vừa trang trí vừa có tác dụng thu lôi.
    Tượng chúa Kitô đặt trên một bệ bê tông có bốn góc tạo hìng cánh cung cao 10m, phía trước bệ được trang trí bức phù điêu phỏng theo tác phẩm nổi tiếng của danh họa Ý Leona de Vinci “bữa tiệc biệt ly”. Mặt sau là một bức tranh lớn “ Đức chúa trao chìa khóa cho Phêrô”.
    Ở vào vị trí phía nam của núi nhỏ, tọa lạc ở một không gian dễ thu hút vào tầm mắt của du khách đến tắm biển vũng tàu, và là một tác phẩm lớn về nghệ thuật kiến trúc tôn giáo mang dấu ấn bản sắc dân tộc, tượng Chúa Kitô núi nhỏ là điểm thu hút khách tham quan du lịch trong và ngoài nước

    Tượng Chúa Kitô

    Bức tượng được xây dựng 1974 sau một quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng về ý đồ thiết kế và chọn mẫu. Tất cả các công việc đều do hội Thiên Chúa Giáo Vũng Tàu chủ trì và thực hiện.Các họa sĩ điêu khắc như Cao Uy, Văn Nhân và các vị có chức sắc trong giáo hội, được giao nhiệm vụ tham khảo hàng nghìn bức ảnh Chúa Kitô và thiết kế mẫu phác thảo, sau đó phác thảo được gửi tới cuộc triển lãm văn hóa – nghệ thuật tôn giáo để tranh thủ thêm nhiều ý kiến đóng góp của các nhà nghệ thuật.
    Việc thi công bức tượng được giao cho nhóm kỹ sư tài hoa Nguyễn Văn Đức, và những người thợ tài giỏi như ông Tám Luận, Nan, Quý, Hòa, Hoàng … Hằng ngày có 50 người lao động để thực hiện công trình này. Do điều kiện xây dựng khó khăn (núi cao, nền đá, hệ thống dàn giáo khó thực hiện)…công trình kéo dài. Đầu năm 1975 cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam đi vào giai đoạn kết. Vì vậy công trình tượng chúa kitô phải dừng lại trong dở dang từ 30/4/1975. Mãi đến 1993 một số công trình phụ khác như hệ thống tam cấp đường lên, những mảng chưa được tô láng ciment trước đây mới được giáo hội thiên chúa thực hiện tiếp. Và trong tương lai công trình sẽ được hoàn thiện như phác thảo ban đầu.
    Kiến trúc – điêu khắc tượng chúa kitô là một tác phẩm nghệ thuật lớn, là sản phẩm của sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ với kiến trúc nghệ thuật Việt Nam hiện đại mang đậm tính dân tộc và tôn giáo. Về kích thước với chiều cao 32m, sải tay dài 18,4m đặt trên đỉnh Tao Phùng cao hơn mặt nước biển 170m, được giới chuyên môn xem đây là bức tượng Kitô cao thứ nhì thế giới, sau bức tượng Kitô ở Brasil vốn do hai quốc gia Argentina và Brasil xây dựng (cao 38m) đặt trên ngọn núi cao 760m .
    Tượng chúa Kitô núi nhỏ quay mặt về hướng nam nhìn ra biển Đông, nét mặt nhân từ bao dung, đôi tay dang rộng như đang che chở, bao bọc chúng sinh. Dẫu là một bức tượng được xây bằng bê tông cốt thép, bên ngoài tô đá rửa nhưng những chi tiết thuộc về nghệ thuật và thẩm mỹ như tư thế bức tượng, nét mặt, trang phục … đều được thễ hiện hết sức mềm mại, sinh động giàu sức sáng tạo.
    Bên trong tượng có cầu thang xoắn ốc đi từ chân tượng lên tới đỉnh tượng. Ánh sáng bên ngoài chiếu rõ trong lòng tượng nhờ hệ thống “cửa sổ” hình chữ “Thọ” trang trí trên áo. Lên hết 133 bậc tam cấp trong lòng tượng du khách du khách có thể đi ra 2 bên vai và tay áo tượng – như hai chiếc ban công an toàn, chắc chắn để ngắm bờ biển Vũng Tàu và đón gió biển thổi vù vù, mát rượi. Hai bàn tay tượng chúa kitô dài tới 2,2m, ngón giữa dài 1,1m có 9 tia hào quang làm bằng kim loại vừa trang trí vừa có tác dụng thu lôi.
    Tượng chúa Kitô đặt trên một bệ bê tông có bốn góc tạo hìng cánh cung cao 10m, phía trước bệ được trang trí bức phù điêu phỏng theo tác phẩm nổi tiếng của danh họa Ý Leona de Vinci “bữa tiệc biệt ly”. Mặt sau là một bức tranh lớn “ Đức chúa trao chìa khóa cho Phêrô”.
    Ở vào vị trí phía nam của núi nhỏ, tọa lạc ở một không gian dễ thu hút vào tầm mắt của du khách đến tắm biển vũng tàu, và là một tác phẩm lớn về nghệ thuật kiến trúc tôn giáo mang dấu ấn bản sắc dân tộc, tượng Chúa Kitô núi nhỏ là điểm thu hút khách tham quan du lịch trong và ngoài nước.

    Nhà má Tám Nhung

    Đó là tên gọi thân quen của ngôi nhà bình dị đã trở thành một di tích lịch sử cách mạng-nhà số 42/11 đường Trần Phú, phường 6, thành phố Vũng Tàu. Di tích gồm một căn nhà, một hầm bí mật và một tượng đài kỷ niệm trên đó có khắc hoạ hình Má Tám mới xây dựng sau này.
    Má Tám Nhung là tên gọi theo tên chồng, còn tên thật của má là Hồ Thị Khuyên, có 2 con là liệt sĩ, quê ở Gò Công. Chồng má, Ông Huỳnh Văn Nhung, tham gia hoạt động cách mạng, bị thực dân Pháp bắt và thủ tiêu sau Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940.
    Trong suốt thời gian dài, từ năm 1967 cho đến ngày giải phóng, với hình thức bên ngoài là một bể nước, nhưng bên dưới là một hầm bí mật, má Tám đã nuôi giấu nhiều cán bộ cách mạng chủ chốt ra vào hoạt động ở nội thành an toàn.
    Năm 1987, để tưởng nhớ công ơn của má Tám, Đảng và chính quyền địa phương đã dựng tượng đá chân dung Má trong khuôn viên vườn nhà

    Trụ sở Ủy ban Việt Minh

    Tọa lạc tại số 1 đường Ba Cu và đường Trần Phú. Di tích vốn là dinh của một viên quan năm Pháp xây năm 1908 đến 1913. Đây là một biệt thự đồ sộ nhìn ra bãi trước, kiến trúc theo kiểu Pháp, xung quanh có vườn hoa cây cảnh rộng và thoáng.
    Năm 1945 Uỷ ban khởi nghĩa địa phương (Uỷ ban Việt Minh) thành lập “Đoàn vô sản Vũng Tàu” gồm 10 người đóng tại đây, dần dần phát triển thành “Trung đội cảm tử” 40 người. Trong những ngày sôi động của cách mạng tháng 8 ở Vũng tàu, biệt thự thành trụ sở của uỷ ban Việt Minh điều hành công việc của chính quyền mới.
    Từ năm 1955-1975 nơi đây biến thành chỗ làm việc, giải trí của sỹ quan, công chức nguỵ quyền. Hiện nay biệt thự này được công nhận là di tích lịch sử cách mạng, là cơ sở của Trung tâm văn hoá thành phố Vũng Tàu. Hiện đã có kế hoạch gìn giữ tu bổ, tôn tạo di tích để đón tiếp du khách tới tham quan và tổ chức các sinh hoạt văn hoá xã hội.

    Cơ sở cách mạng 18/5 Lê Lợi

    Ông Tư Vinh và gia đình tham gia cách mạng từ 1945. rải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ ông và gia đình đều có những đóng góp với cách mạng.
    Ông đã dùng nhà mình và đặc biệt là căn hầm bí mật trong nhà làm nơi che giấu, nuôi dưỡng, săn sóc các cán bộ hoạt động bí mật ở Vũng Tàu, có lúc nhà ông trở thành trụ sở hoạt động của cơ sở Đảng thị uỷ Vũng Tàu.
    Thời chống Mỹ bị lộ, ông Tư Vinh ra chiến khu công tác tại Ban tuyên huấn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Các con ông cũng tham gia cách mạng trong đó có con gái là Trương Minh Thuỷ hiện là Chủ tịch UBNT thành phố Vũng Tàu.
    Di tích hiện còn gồm nhà ở số 18/5 Lê Lợi. Đặc biệt trong căn phòng ở nhà dưới có một hầm bí mật ở sâu dưới mặt đất để che dấu cán bộ.
    Di tích là một chứng tích thể hiện lòng yêu nước và tinh thần cách mạng của nhân dân Vũng Tàu.

    Nhà số 86 Phan Chu Trinh

    Đây là nhà của viên quan tư người Pháp (Pièrrc Chappus) chủ sở Hải Đăng Vũng Tàu nằm trên đường Phan Chu Trinh (dưới chân Núi Nhỏ). Trên một khuôn viên rộng 4.000m2, ngôi nhà được xây dựng theo lối kiến trúc cũ đầu thế kỷ 20, xung quanh là vườn cay bao bọc.
    Ông Pièrrc Chappus sinh năm 1878, mẹ là người Việt. Tuy là viên chức của Pháp nhưng ông lại có cảm tình với cách mạng Việt Nam, đặc biệt rất kính trọng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Ông giúp đỡ cách mạng Việt Nam bằng nhiều cách (nuôi giấu cán bộ, giúp đỡ vật chất, phương tiện làm việc...)
    Hết hạn làm việc ở Việt Nam, ông không về nước mà ở lại Vũng Tàu, vẫn tiếp tục giúp đỡ cách mạng. Ông có vợ là người Việt Nam. Ông mất tại Vũng Tàu thọ 84 tuổi. Hiện ông còn một người con gái sống tại Tp.Hồ Chí Minh.
    Nhà số 86 Phan Chu Trinh là một chứng tích thể hiện mối tình đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân tiến bộ Pháp, tấm lòng của một kiều dân Pháp đối với cách mạng Việt Nam, trực tiếp là với Đảng bộ và nhân dân Vũng Tàu.

    Long Bàn cổ tự

    Long Bàn Cổ Tự hay còn gọi là chùa làng ở thôn Long Phượng, thị trấn Long Điền, huyện Long Điền. Theo niên đại ghi lại thì có thể chùa được làng Long Điền xây dựng vào năm Thiệu Trị thứ 5 (ất Tỵ, 1845) do Hòa thượng Hải Chánh - Bảo Thanh ( 175 2- 1859) trụ trì đầu tiên, được tôn làm tổ sư Kiến trúc chùa Long Bàn với những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc mang đậm nét truyền thống dân tộc.
    Chùa xây cất theo kiểu chữ tam, nhưng mặt tiền có lầu chuông và lầu trống đăng đối vượt cao trên mái hiên. Khuôn viên chùa vừa cao lại bằng phẳng, rộng trên 3.000m2 với nhiều cây cao bóng mát. Cổng chùa xây năm 1963 bằng đá xanh bắc ngang phía trên hai trụ cổng là tấm bảng có hàng chữ Hán “Long Bàn Cổ Tự” Trước chánh điện có ngôi nhà bàn bằng gỗ trong đặt tượng "Tiễu Diêu Đạo Sĩ". Đây là nơi hàng năm nhà chùa tổ chức tế lễ Vu Lan bố thí cô hồn. Cửa hai bên cuốn vòm, phía trên là lầu chuông và lầu trống. Mái chùa lợp ngói ống, đầu ngói có gờ viến bằng gốm phủ men xanh. Trên đỉnh nóc gắn tượng “Lưỡng Long Chầu Nguyệt" và các tấm phù điêu cảnh vật sơn thủy, hoa lá bằng đất nung men màu. Bên trong chùa kiến trúc cột, kèo, rui, mè hoàn toàn bằng gỗ tốt.
    Giảng đường rộng 233m2. Mặt trước có ba câu đối khắc chìm sơn đcn. Phía trên ba cửa ra vào gần sát mái là những ô trang trí miêu tả cành mai, sơn thủy, nhà sàn, người chèo thuyền... Đây là nơi thuyết pháp về Đạo phật và làm đàn chay cúng thí.
    Chánh điện nối với giảng đường, rộng 227m2, có nhiều bức hoành bằng gỗ chạm nổi rất công phu mỹ thuật hình chim thú, thể hiện phong cảnh sinh hoạt ở nông thôn. Các kiến trúc gỗ đầu dư, đòn bảy, xà nhà... đều chạm khắc tinh xảo hình rồng, mây, hoa thiêng cỏ quý.Trên các hàng cột tròn đường kính 0,40m có nhiều câu đối như:

    "Bát nhã nở hoa, vạn pháp là tâm là phật,
    Bồ đề quả nhất chân không sắc không không."

    Chánh điện thờ phật thích ca Mâu Ni, A Di Đà, Quan Âm Thế Trí... Hai bên là hai khánh thờ Tổ Bồ Đê Đạt Ma và Quan thánh. Các tượng phật đều cao lớn, điêu khắc mỹ thuật sinh động. Khánh thờ và các hoành phi, câu đối chạm trổ công phu, sơn son thếp vàng lộng lẫy.
    Phía sau chánh điện là bàn thờ Tổ, trên có hình Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma và hai long vị Hòa thượng Giác Linh Bảo thánh và Bảo Tạng. Nối tiếp với chánh điện là Nhà Giảng gồm năm gian để trống. Hai hành lang nổi liền Nhà Giảng và Nhà Ông Giám. Ở giữa có khoảng sân (giếng trời).
    Nhà ông Giám (Quả Đường) là nơi ăn chay của các vị sư. Gian chính giữa thờ ông Giám, hai bên tả hữu thờ những vị sư tín đồ trong đạo đã qua đời. Từ Nhà Giảng có cửa hông nối với Nhà Khách qua hành lang rộng khoảng 3,0m trên có mái che.
    Chùa Long Bàn là một kiến trúc cổ, trang trí mỹ thuật độc đáo, đặc biệt là các bao lam chạm hình chim phụng hoa lá và các khám thờ chạm rồng phượng, các hoành phi câu đối sơn son thiếp vàng lộng lẫy, chạm khắc tinh xảo. Trong chùa có nhiều tượng phật, Ngọc Hoàng, Quan Thánh, 18 vi La Hán, Long thần hộ pháp. .. bằng đồng hoặc bằng gỗ mít và 8 khuôn in kinh khắc chữ nổi trên gỗ, một Đại Hồng Chung đường kính 0,80m cao 1,20m được đúc bằng đồng. Với những giá trị đặc sắc về lịch sử, văn hóa, chùa Long Bàn đã được Bộ Văn hóa thông tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật theo quyết định số 680 VH/QĐ ngày 19/4/1991 .

    Phước Lâm Tự

    Phước Lâm Tự nằm phía trong của đường Nguyễn An Ninh, Thắng Nhì, thuộc phường 6 Vũng Tàu.
    Phước lâm tự có lịch sử 200 năm. Năm 1944 được trùng tu, Phước Lâm Tự là một di tích có cảnh quan và kiến trúc rất đẹp. Hệ thống tượng trong chùa rất phong phú. Cạnh hồ sen là pho tượng Quan Âm Nam Hải cao 3,5m. Chính diện có các pho tượng Di Đà Tam Tôn, Thích Ca A Nan, Ca Diếp, Phật Nhập Niết Bàn, tượng Chuẩn Đề bằng gỗ, tượng ông Giám bằng đất nung… Đặc biệt chùa còn lưu giữ tượng thần Vish Nu bằng đá có niên đại cuối thời Phù Nam-Chân Lạp (khoảng thế kỷ thứ 7) rất quý và hiếm (thần Vish Nu là thần bảo tồn vũ trụ thường có ở các tháp chàm miền trung) .
    Phước Lâm Tự cũng là một trung tâm phật giáo ở địa phương, thường xuyên có du khách đến thưởng ngoạn và hành lễ. chính quyền và nhân dân địa phương đã có kế hoạch gìn giữ, tu bổ, tôn tạo di tích này.

    Linh Sơn cổ tự

    Linh Sơn cổ tự nằm trên đường Hoàng Hoa Thám, tuy không đồ sộ, rộng lớn nhưng là ngôi chùa lâu đời nhất ở Vũng Tàu.
    Lúc đầu chùa được xây dựng trên triền núi nhỏ nhưng năm 1919 khu vực này bị người dân Pháp chiến dụng để xây cất biệt thự cho hoa tiêu họ ở. Ngay sau đó một ngôi chùa khác đã được xây dựng và tồn tại cho tới ngày nay.
    Trong chánh điện có một thờ một tượng Phật cao 1,2m bằng đá có phết vàng được điêu khắc rất khéo léo tạo nên vẻ từ và sống động trên nét mặt của đức Phật.
    Về nguồn gốc của pho tượng phật, có truyền thuyết kể lại rằng cách đây hơn một năm có đoàn ghe chài lưới từ miền trung vào đánh cá ở Bãi Trước. Trong khi đi kiếm củi ở núi lớn tình cờ phát hiện hai pho tượng phật bằng đá vùi dưới đất trên sườn núi gần bãi Dâu. Họ cùng nhau đào lên rồi chờ đến hôm sau làm lễ xin đem về. Dân địa phương biết tin vội kéo đến xem và cho rằng đó là di tích lịch sử của địa phương nên cương quyết đòi giữ lại. Nhóm dân chài miền trung năn nỉ mãi mới lấy được pho tượng nhỏ đem đi. Pho tượng lớn còn lại được dân làng rước về thờ chính là pho tượng hiện nay ở chùa Linh Sơn Cổ Tự.

    Lăng Cá Ông

    Nằm trong khu Đình Thần Thắng Tam phía bên phải. Lăng Cá Ông được xây dựng cùng thờ kỳ với Miếu Bà, nghĩa là khoảng cuối thế kỷ XIX. Hiện nay trong lăng còn bảo tồn xương Cá Ông khổng lồ do ngư dân Vũng Tàu vớt được từ hơn 100 năm trước đây.
    Truyền thuyết về Cá Ông hiện còn lưu truyền ở Vũng Tàu và từ rất sớm đã được chép trong thư tịch cổ, rằng: Cách đây hơn 100 năm (giữa thế kỷ 19) có một đầu cá to lớn trôi dạt vào bãi Tầm Dương. Đầu cá lớn đến nỗi ngư dân không thể đưa vào bờ được. Họ phải xóc cờ rào lại chờ cho thịt rữa sạch rồi tháo từng khúc xương đưa vào miếu thờ.
    Lăng Cá ông Thắng Tam có tới ba sắc phong do vua ban tặng. Vua Thiệu Trị ban hai đạo sắc vào năm thứ năm (1846), Vua Tự Đức ban cho đạo sắc vào năm thứ ba (1850). Hiện nay vào ngày 16/8 âm lịch, cứ ba năm một lần những người quản lý Lăng được gọi là hội “Lương hữu Vạn Lạch” lấy một xương trong Lăng đem thờ trong ba tủ kính. Vào ngày Vía Cá ông, ngư dân và khách thập phương tụ hội vê đông vui nhộn nhịp. Ngời ta đến đây cầu mong sự bình yên may mắn trong chuyến đi biển, xin xăm báo trước điều tốt lành, rủi ro và xem hát, vui chơi giải trí...
    Lăng Cá ông có kiến trúc theo lối cổ xưa. Bên trong bày ba tủ kính lớn đựng xương tương xứng với nó là ba bàn thờ. Hai bên tả, hữu có thêm hai bàn thờ của Bà Sáu (Thần Rùa) và tổ nhạc. Ngư dân Vũng Tàu quan niệm rằng mỗi khi có Cá ông chết tấp vào bờ, người nào trông thấy đầu tiên thì được xem như con trưởng của Cá ông. Khi làm lễ an táng, người đó phải chịu tang và thực hiện các nghi lễ tang ma như là đám cho cha đẻ mình vậy.
    Lễ hội “Nam Hải Đại tướng quân” - Danh hiệu Cá ông do vua Thiệu Trị ban tặng được tổ chức trùng với ngày Vía (ngày mất) của cá. Lễ hội kéo dài trong ba ngày từ 16 đến 18/8 âm lịch hàng năm, gồm có : Lễ cúng ông, lễ nghinh ông (đón cá) gồm nhiều ghe thuyền trang trí lộng lẫy, thắp đèn sáng trưng chạy vòng biểu diễn ngoài biển. Những hình thức tế lễ Cá ông mang đậm màu sắc riêng của cư dân miền biển, nhưng trong lễ hội người ta cũng dành một buổi cúng Tiền Hiền, một buổi tế lễ thần linh - như việc tổ chức cúng tế trong đình làng ...
    Khu di tích Đình Thần Thắng Tam, bao gồm cả Miếu Bà và Lăng Cá ông ẩn chứa những giá trị văn hóa quý báu của cư dân miền biển Vũng Tàu. Những nét đẹp về phong tục tập quán dường như được “hóa thân” trong từng chi tiết kiến trúc của di tích, của phong cách sinh hoạt tổ chức lễ hội. Khu di tích Đình Thần Thắng Tam và những lễ hội liên quan của nó đã bảo lưu được những di sản qúy giá. Hiện nay, không kể các ngày lễ hội là những ngày có rất đông du khách hành hương mà những ngày thường khu Đình Thần Thắng Tam cũng chào đón rất nhiêu khách du lịch trong và ngoài nước đến thăm viếng.

    Miếu Bà

    Miếu Bà nằm bên trái khu Đình Thần Thắng Tam, còn có tên Miếu Ngũ Hành. Tên gọi ấy phản ánh các đối tượng được thờ cúng trong miếu.
    Tương truyền miếu bà được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX. Lúc đầu nó chỉ là ngôi nhà tranh vách do ngư dân Thắng Tam xây dựng để thờ Ngũ Hành, tức năm yếu tố vật chất: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ (theo tư tưởng triết học Trung Quốc mà Việt nam ảnh hưởng). Ngoài Ngũ Hành, Miếu Bà còn thờ hai vị hộ quốc được vua phong Thượng Đẳng Thần là bà Thiên Y-A-Na và Thuỷ Long Thần Nữ. Điều này chứng tỏ tính riêng của ngôi miếu khi chủ nhân của nó là những người sống bằng nghệ chài lưới trên biển.
    Miếu Bà được kiến trúc theo lối một gian hai chái. Trên mái có hình Lưỡng Long Vhầu Nguyệt. Bên trong có 8 bàn thờ. Bàn giữa chính điện thờ 5 bà Ngũ Hành và hai vị Thượng Đẳng Thần. Trên có bày tượng 5 Bà và bộ ngũ sự, hai bên có thờ 5 Cô, 5 Cậu, hai vị Thượng Đẳng thần không có tượng. Tiếp theo bên trái là bàn thờ Quan Công, Quan Bình và Châu Xương là những bậc trung nghĩa và sẵn sàng cứu hộ những người đi biển khi họ gặp chuyện không may. Bên phải là bàn thờ Ông Địa – Thổ Công. Phía sau là bàn thờ Tiền Hiền và bàn thờ những người giàu lòng nhân ái, độ lượng trong làng.
    Hàng năm, Miếu Bà lễ hội vào ba ngày từ 16 đến 18 tháng 10 âm lịch. Quản lý miếu và tổ chức điều hành lễ hội là những người trong ban điều hành. Hội viên của Miếu bà chỉ giành cho nữ giới. Ban điều hành cũng chỉ do các bà phụ trách (ba bà cố vấn, sáu bà trong ban điều hành với 160 hội viên).
    Lễ hội Miếu Bà là ngày sôi động và linh đình. Ngoài việc cúng tế thần linh người ta còn tổ chức múa lân, các trò vui, ban đêm tổ chức hát tuồng. Vốn có tiếng hiển linh, vào các ngày hội người từ thập phương về hành hương, phụng cúng rất đông. Miếu bà và lễ hội Miếu Bà là nét đặc sắc của văn hoá dân cư ven biển Bà Rịa – Vũng Tàu.

    Đình Thắng Tam

    Trên khắp đất nước Việt Nam, ở các làng xã ngày xưa đều có Đình thần. Đình thần là nơi thờ phụng Thành Hoàng – người có công khai phá dựng làng, dựng nước tại địa bàn sở tại, tiền hiền và hậu hiền – những người tiếp nối đến mở đất dựng làng, dựng nước.
    Đình làng còn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, văn hoá và tinh thần của cư dân trong một cộng đồng được xác định bởi một đơn vị hành chính cơ sở. Trải qua thời gian tồn tại lâu dài, do những biến động của lịch sử, một số làng, xã đã không còn đình làng. Tại ba ngôi làng tiền thân của Vũng Tàu còn ba ngôi đình. Có thể nói đình làng Thắng Tam là biểu hiện đặc sắc của đặc trưng văn hoá độc đáo của ngư dân miền biển – Vừa có những đặc điểm chung của đình làng Việt Nam, vừa có những nét riêng trong thờ cúng và sinh hoạt văn hoá – tín ngưỡng.
    Theo truyền ngôn, Đình Thần Thắng Tam được xây dựng từ đời vua Minh Mạng (1820 – 1840). Hiện nay, đình thần còn lưu giữ 2 đạo sắc của nhà Nguyễn phong cho các vị thần được thờ tại đình là Thiên Y A Na, Đại Càn Quốc Gia Nam Hải, Thượng Đẳng Thần, Cá Ông, Thuỷ Long Thần Nữ… Theo truyền thuyết Đình Thần Thắng Tam thờ chung cả ba người đã có công xây dựng nên ba làng thắng ở Vũng Tàu, đó là Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn Huyền. Chuyện kể rằng: thuở ấy hải tặc Mã Lai và Tàu Ô thường hay đột nhập cửa sông Bến Nghé đón đường cướp bóc tiền bạc, hàng hoá, bắt cóc người trên các thuyền buôn. Để bảo vệ thương thuyền của người Việt, vua Gia Long liền phái ba đội quân đi trên ba chiếc thuyền. Mỗi đội quân do một viên xuất đội thống lĩnh. Đổ bộ lên bán đảo Vũng tàu, họ đã lập trại và đặt tên cho doanh trại, đồn binh của mình là Phước Thắng. Ba đội quân vừa làm việc nước – bảo vệ sự thanh bình của bờ biển cửa ngõ, vừa khai hoang lập làng, làm ăn sinh sống. Trong vòng mấy năm, phần lớn hải tặc Mã Lai và Tàu Ô bị diệt trừ. Số ít còn lại chẳng dám sách nhiễu thương thuyền nữa. Năm 1822, Minh Mạng ban chiếu khen thưởng chức tước, phẩm hàm cho đội quân cho giải ngũ và ban thưởng phần đất mà họ có công khai phá.
    Từ ba vị trí của ba đội quân dần dần hình thành nên ba làng thắng. Làng thứ nhất gọi là làng Thắng Nhất do Ông cai đội Phạm Văn Dinh chỉ huy. Làng Thắng Nhì do Ông cai đội Lê Văn Lộc chỉ huy. Làng Thắng Tam do Ông cai đội Ngô Văn Huyền chỉ huy. Dân các làng Thắng vừa làm ăn sinh sống vừa bảo vệ an ninh bờ biển. Sau khi ba đội Ông chết, Triều đình ban sắc phong cho ba ông.
    Đình thần Thắng Tam lúc đầu xây dựng chỉ là nhà tranh vách lá. Năm 1835 mái được lợp ngói, năm 1965 được trùng tu mới như hiện nay. Kiến trúc Đình Thần Thắng Tam có Cổng Tam Quan, Nhà Tiền Hiền, Hội Trường, Ngôi Đình Trung, sân khấu võ ca. Trong đình bài trí nhiều đồ lễ, chạm trổ tinh xảo, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Đình thần thắng tam kiến trúc theo lối nối tiếp. Đó là một nhà gồm bốn ngôi nhà nối liền nhau bằng một lối đi bên hông: Tiền Hiền – Hội Trường – Đình Trung – sân khấu võ ca. Ngôi tiền hiền được lợp bằng ngói âm dương, trên mái có hình “Lưỡng long chầu nguyệt” đắp nổi. Đầu các đòn tay, xà gồ, cột đều chạm khắc hình rồng. Nội thất nhà Tiền Hiền bày bốn bàn thờ: bàn thờ thổ công, Tiền Hiền và Hậu Hiền, Tiền Vãng và Hậu Vãng ( tức thờ thổ công, tiền hiền và hậu hiền, dân làng đến trước đến sau)
    Hội trường là nơi sinh hoạt của Hội viên thuộc hội đình ( hội đình thắng tam hiện nay có hơn 500 hội viên, có ban hương chức thôn hội chia làm 10 bậc từ thấp đến cao).
    Tiếp sau phần hội trường là ngôi đình trung có cấu trúc tương tự ngôi tiền hiền. Ngôi đình trung bài trí 10 bàn thờ theo lối 3-4-3: thờ Thần Nông, Thiên Y A Na, Ngũ Đức, Thánh Phi, Hậu Hiền – Thần, Hội Đồng, Phụ Án Và Tiền Án – Cao Các, Thiên Sư, Ngũ Thơ, Ngũ Tự và Tiền Hiền ( bốn bàn thờ phía giữa nằm vượt lên phía trước). Khác với nhiều nơi, thần nông được thờ ngoài trời, ở đình thần thắng tam, thần nông được thờ bên trong.
    Sân khấu võ ca là nơi diễn tuồng, hát bội khi đình thần có lễ.
    Ngoài những giá trị mang ý nghĩa lịch sử, văn hoá, đình thần thắng tam còn lưu giữ những lễ hội in đậm văn hoá dân gian và bản sắc dân tộc. Hàng năm Đình Thần Thắng Tam đều có tổ chức lễ hội cầu an trong 4 ngày, từ 17 đến 20 tháng 2 âm lịch. Đây là thời điểm kết thúc và mở đầu cho một mùa thu hoạch tôm cá. Việc tổ chức cúng tế lễ vật tế thần, cách dâng hương quỳ lạy, chiêng trống kèn nhạc … của lễ hội cầu kỳ và nhiều vẻ. Lại có những tục kiêng kỵ trong tế lễ được lưu truyền, gìn giữ và chấp hành đầy đủ từ xưa đến nay. Chẳng hạn, người có tang không được trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ trong nghi lễ, heo dùng để tế lễ phải có bộ lông thuần màu…

    Trong quá trình lễ hội của đình, người ta thường tổ chức nhiều trò vui giải trí như múa lân, hát bội … đình thần thức suốt đêm, tiếng trống, tiếng nhạc tiếng hát làm huyên náo, rộn ràng cả một vùng suốt mấy ngày đêm.
    Lễ hội đình Thần Thắng Tam là một hoạt động văn hoá đặc sắc của ngư dân miền biển Vũng Tàu. Du khách viếng thăm đình Thần Thắng Tam vào dịp có lễ hội, hẳn đó là chuyến tham quan thú vị và sinh động nhất trong chuyến du lịch Vũng Tàu.

    Long Sơn

    Xuôi quốc lộ 51, ngay địa phận Phước Hoà nhìn về tay phải ta sẽ thấy một dãy núi thấp nằm xoải dài trên sông nước, cỏ cây xanh rờn... Đó là Núi Nứa hay còn gọi là đảo Long Sơn.
    Long Sơn ngày nay là một xã (xã đảo) thuộc TP vũng tàu. Đây là vùng đất đã có ích sử lâu đời với những di tích, thắng cảnh, truyền thuyết tôn giáo rất lạ. Tại sao gọi là Núi Nứa? Nếu trước kia (hiện nay vẫn còn số ít) trên khắp đảo có nhiều cây nứa (một họ với tre) mọc thành rừng. Hòn đảo lại không lớn lắm (dài 6km, ngay chỗ rộng nhất không lớn hơn 2km) nên các rừng nứa nói trên đã phủ đầy mặt đảo, trở thành cây đặc trưng để rồi "thành danh là núi Nứa.
    Còn tại sao gọi là núi Long Sơn. chính do hình dáng của đảo, mới thoạt trông từ xa giống như* một con rồng xanh khổng lồ đang giỡn mình trên sóng biến. Núi rồng (Long Sơn) là thế... Nhưng núi Nứa hay Long Sơn sẽ không được nhiều người nhắc tới nếu nó không gắn liền với những truyền thuyết về Đạo ông Trần. ông Trần là tên dân gian để gọi một người tên là Lê Văn Hưu người gốc Hà Tiên (Kiên Giang), từng tu hành theo phái Tứ ân Hiếu Nghĩa ở Núi Thất Sơn (An Giang). Năm 1900, ông dẫn 20 đệ tử tìm đến đảo Long Sơn và định cư hẳn ở đây khai hoang và truyền đạo. Tôn giáo của ông Trần rất lạ: không có chùa, không có kinh kệ, không ăn chay, không kiêng kỵ như* nhiều tôn giáo khác. Tín đồ chỉ truyền khẩu những lời dạy của ông Trần. Sau một thời gian ngắn, nhờ siêng năng, cần mẫn, ông Trần và các đệ tử đã biến một vùng rừng của Núi Nứa thành đất trồng trọt. Nhiều người ở nơi khác tìm đến xin cùng định cư* và trở thành đệ tử ông Trần. Khi ông Trần qua đời, ngoài "Đạo ông Trần" truyền lại, ông còn lưu dấu trên đảo một số công trình kiến trúc đợm tính dân gian nhưng khá độc đáo: các ngôi nhà ở bằng tre nứa nhưng kiến trúc theo cách riêng thể hiện tính quần cư, đoàn kết giữa người dân trên đảo. Các ngôi nhà xây dựng tập trung gần nhau để khi hữu sự để cứu giúp nhau, một phần nữa có lẽ để dễ đối phó với cướp bóc, thú dữ. Đặc biệt là sau khi ông Trần mất, các tín đồ đã có một ngôi nhà lớn, hay còn gọi Đền ông Trần. Ngôi nhà này rất bề thế, ngày xưa xây bằng gỗ ván, tre nứa nhưng qua thời gian, các đệ tử đã trùng tu lại bằng mái ngói, cột vách bằng gỗ quí.
    "Nhà lớn" được dựng ngay trung tâm khu quần cư, tổng diện tích toàn khu trên 2ha, gồm ba phần riêng biệt: Khu đền thờ (nhà lớn), nhà chợ, nhà mát, nhà nghe sấm, khu trường học, khu nhà Long Sơn Hội (hội trường), các dãy phố quanh chợ và ngôi mộ ông Trần.
    Ngày nay du khách đến viếng Đạo ông Trần vẫn còn nhìn thấy nguyên vẹn những kiến trúc cổ xưa. Ngoài ra khi vào tận nơi tham quan, chúng ta còn được chiêm ngưỡng một số cổ vật quý hiếm bằng gỗ, như bộ tủ thờ trạm trổ của các nghệ nhân Hà Đông (Bắc Bộ) gồm 33 món cực kỳ tinh xảo; bộ bàn ghế Bát Tiên tương truyền là của Vua Thành Thái triều Nguyễn; chiếc long sàng và các ghế theo kiểu dành cho vua, chạm khắc tinh vi, đẹp mắt.
    Tóm lại, những gì còn lưu dấu lại ở đảo Long Sơn, cho thấy một khía cạnh trong bức tranh đa dạng về tín ngưỡng tôn giáo, về nghệ thuật dân gian rất phong phú của dân tộc ta. Đảo Long Sơn càng ngày có sức thu hút cao du khách thập phư*ơng...

    Dinh Cô

    Dinh Cô thuộc thị trấn Long hải (huyện Long Điền) nằm bên sườn ngọn đồi nhỏ, trước mặt là bãi cát dài và biển khơi mênh mang sóng nước.
    Sách Đại Nam nhất thống chí viết giữa thế kỷ 19, mục Núi, Sông cho biết:
    “Ngoài mõm núi có ngọn Thần Nữ, tục gọi là mõm Dinh Cô, có một đống vừa cát, vừa đá, trước kia có người con gái chứng 17, 18 tuổi, tử nạn, bị bão đánh giạt tới đây được người địa phương chôn cất sau đó mộng thấy người con gái tự xưng là Thị Cách đến đây giúp đỡ; người ta cho là thần, lập đền thờ”.
    Từ đó cô luôn hiển linh mộng báo điềm lành, diệt trừ dịch bệnh, độ trì bá tánh nên dân trong vùng tôn xưng là “Long Hải Thần Nữ Bảo An Chánh Trực Nương Nương Chi Thần”.
    Lúc đầu Dinh Cô chỉ là ngôi miếu nhỏ được làm đơn sơ, nhưng theo thời gian, cùng với sự “linh thiêng” của Cô được chứng nghiệm. Năm 1930, Dinh Cô được xây dựng khá khang trang. Năm 1987, Dinh Cô bị hoả hoạn, sau đó được xây dựng lại như hiện nay.
    Hiện Dinh Cô như một toà lâu đài tráng lệ nhưng cũng thật trang nghiêm bề thế có diện tích trên 1.000m2. Cổng Tam quan vào Dinh Cô nằm dưới chân mũi Thuỳ Vân, đắp nổi "Long hổ hội", phía trên có “Lưỡng long chầu nguyệt” và song phụng chầu, lối lên điện Cô là 37 bậc tam cấp.
    Chính điện Dinh Cô bài trí 7 bàn thờ. Ngay trung tâm chánh điện là bàn thờ nổi bật với bức tượng Bà Cô cao hơn 0,5 mét, mặc áo choàng đỏ, viền kim tuyến lấp lánh đội mũ gắn ngọc. Phía sau cạnh bàn thờ Bà Cô là bàn thờ Diêu Trì Phật Mẫu, Chúa Cậu (Nhị vị Công tử, tức là Cậu Tài, Cậu Quý), Ngũ Hành Nương Nương, Tứ Pháp Nương Nương (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện), ông Địa, Thần Tài.
    Ngoài chính điện, ngư dân còn lập bàn thờ Cửu Thiên Huyền Nữ, Chúa Ngọc Nương Nương, chúa Tiên Nương Nương, Chư vị, Bà Mẹ Sanh, Chủ tịch Hồ Chí Minh và miếu thờ Hoả Tinh Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, Quan Thế âm Bồ Tát.
    Chúng ta thấy, vì sự phối tự với Bà Cô - một nhân thần địa phương, ngư dân Long Hải đã đưa vào Dinh Cô một hệ thống thần thánh đông đảo đại diện cho rất nhiều dòng văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo của các dân tộc khác nhau, sống trên những địa bàn khác nhau.
    Liên quan đến Dinh Cô và là một bộ phận quan trọng của di tích là Mộ Cô, nằm trên đồi “Cô Sơn", cách Dinh Cô chừng l km. Mộ Cô là một nơi khang trang đẹp đẽ, thu hút nhiều người đến thăm viếng, chiêm bái, đặc biệt là trong dịp lễ hội Nghinh Cô.
    Hàng năm, vào các ngày 10, 11, 12 tháng 2 âm lịch ngư dân Long Hải mở lễ hội Dinh Cô (còn gọi là vía Cô). Lễ hội Nghinh Cô là một trong những lễ hội quốc gia lớn nhất ở Nam Bộ. Đây là dịp Dinh Cô thu hút hàng chục ngàn du khách khắp mọi miền đến viếng lễ và tắm biển. Trên đồi núi dọc ven biển là rừng cây xanh tốt, những gộp đá đủ mọi hình thù, phía dưới là bãi cát vàng hình bán nguyệt với những khu tắm biển lúc nào cũng đông người, trước mặt là đại dương nghìn trùng sóng vỗ, nhộn nhịp tàu ghe qua lại. Xa xa phía tây là thành phố Vũng Tàu tươi trẻ cùng bãi tắm Thuỳ Vân (Bãi Sau) bốn mùa nhộn nhịp du khách. Phía tây bắc sừng sững một dãy núi cao có rừng cây bao phủ là khu di tích lịch sử căn cứ Minh Đạm...
    Cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và kiến trức Dinh Cô, Mộ Cô cùng bãi biển thơ mộng hoà nhập thành một danh lam thắng cảnh nổi tiếng một vùng.

    Bạch Dinh

    Dọc theo bãi trước về phía núi lớn, chúng ta luôn trông thấy hình ảnh một dinh thự màu trắng, mái ngói đỏ sừng sững trên sườn núi nổi bật trên nền xanh tươi của cây cỏ. Đấy chính là Bạch Dinh.
    Bạch Dinh được người Pháp xây dựng từ năm 1898 đến năm 1916 dùng làm nơi nghỉ mát cho Toàn Quyền Pháp Paul Doumer và được gọi là Villa Blanche theo tên cô con gái yêu của ông ta. Nghĩa tiếng việt của từ “Villa Blanche” lại trùng với dáng sắc bên ngoài của nó nên dân địa phương quen gọi là “Bạch Dinh” tức là biệt thự trắng.
    Bạch Dinh nằm ở độ cao 27,7m mặt hướng ra biển, lưng tựa vào núi, dưới chân là biển. Khách du lịch có thể tắm ở Bãi Trước, Bãi Dâu, thả bộ trên đường Trần Phú vừa ngắm Bạch Dinh. Sau lưng là Núi Lớn, bao quanh một màu xanh của rừng Sứ và rừng Gia Tỵ giữa thiên nhiên tươi đẹp.
    Bạch Dinh mang phong cách kiến trúc Châu Âu cuối thế kỷ 19. Mặt ngoài được trang trí những đường hoa văn cổ xưa vùng với những hình vẽ và những bức tượng thể hiện chân dung của các thánh thời Cổ Hi Lạp. Toà cao 19m, dài 25m, rộng 8m, gồm 3 tầng (tầng hầm, tầng trệt, tầng lầu). Toàn bộ ngôi nhà được quét vôi trắng, phía trên lợp ngói đỏ tươi, phía dưới là mảng viền trang trí tinh tế và mỹ thuật. Sứ men màu là nguyên liệu chính để trang trí, tạo hình ảnh. Đôi chim công với màu xanh ngọc, điểm xuyết những chấm bạc lấp lánh đang xoè cánh múa làm cho ngôi nhà mang một dáng dấp thanh thoát. Những gương mặt phụ nữ Châu âu xinh đẹp, như các vị thần trong thần thoại Hy Lạp. Đôi cá chép uốn lượn như muốn hoá rồng. Hoa cúc, hoa Hướng Dương viền từng mảng quanh ngôi nhà, lấp lánh dưới ánh ban mai, vàng lên rực rỡ trong nắng chiếu càng làm cho Bạch Dinh thêm lộng lẫy. Gây ấn tượng đặc biệt là 8 bức tượng bán thân mang phong cách nghệ thuật Hy Lạp cổ đại bao quanh 3 mặt tường chính của ngôi nhà. Các bức tượng đều làm bằng sứ men màu, nét mặt thể hiện tinh tế, sinh động. Có lẽ đây là những bức tượng chân dung về một số vị danh nhân trong lịch sử Châu âu, hơn 100 năm thử thách không bị khuất phục bởi thời gian, kiến trúc Bạch Dinh vẫn giữ nguyên tính sang trọng, hài hoà và uy nghiêm.
    Rừng Giá Tỵ bao quanh có một thế quan trọng trong việc tôn vinh vẻ đẹp của Bạch Dinh. Chính rừng cây đã tạo nên vẻ đẹp cho khu di tích này. Khuôn viên Bạch Dinh rộng chừng 6 ha, một nửa là rừng giá tỵ (còn gọi là cây Báng súng). Thân cây cao, thẳng lá to như nửa tán dù. Nửa kia trồng bông sứ. Một loại cây ưa khí hậu nóng khô hạn và rất nhiều hoa. Rừng Bạch Dinh là một góc thanh bình và nên thơ của một thành phố du lịch ồn ào, xao động.
    Cứ mỗi lần đặt chân đến đây, trong ta lại thấy trào lên những cảm xúc mới lạ. Mùa mưa rừng Bạch Dinh xanh thẳm Những cành lá giá tỵ như ô dù che kín cả cây rừng. Mùa lá rụng Bạch Dinh tràn ngập hoa sứ. Hoa trải trên lối đi, hoa từng chùm trắng trên cây, trắng cả khu rừng. Hoa thơm ngát làm dịu lòng người. Rừng sứ Bạch Dinh là rừng có chủng loại sứ phong phú. Có thứ màu đỏ (hoa sứ Thái Lan), có loại màu hồng, màu trắng, vàng nhạt (giống như hoa Cham pa), có loại trắng pha vàng ở giữa, sứ ngũ sắc... Đi giữa mùa lá rụng, ta thấy lòng lâng lâng bay bổng mọi ưu phiền trong cuộc sống đời thường như tan biến. Bạch Dinh còn hấp dẫn bởi lịch sử của nó.
    Trước khi có Bạch Dinh, nơi đây làm pháo đài thành Phước Thắng (năm Minh Mạng thứ 20 nhà Nguyễn). Pháo đài này là nơi đã nổ phát súng đầu tiên (10.2.1859) vào hạm đội Pháp khi chúng tấn công Sài Gòn - Gia Định (bằng đường biển) và đã cản trở được bước tiến của quân Pháp trong 1 ngày đêm. Đó là một chiến tích oanh liệt của quân và dân Vũng Tàu trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp. Sau khi bình định xong xứ Nam Kỳ, viên toàn quyền Đông Dương người Pháp Paul Doumer đã lệnh san bằng pháo đài thành Phước Thắng (1898) để xây biệt thự cho mình và đặt tên là Villa Blanche (nghĩa chữ Hán Việt của từ này là Bạch Dinh). Để xây dựng Bạch Dinh, 800/người tù lao động khổ sai trong suốt gần 10 năm trời. Từng tấc đất, viên đá, ngọn cây ở đây đều thấm bao mồ hôi, nước mắt và máu của những người tù. Sau này Bạch Dinh thuộc sự cai quản của Công sứ Nam Kỳ người Pháp. Đặc biệt từ ngày 12.9.1907 tới năm 1916, Bạch Dinh là nơi người Pháp dùng để giam lỏng vua Thành Thái, một vị vua yêu nước có tư tưởng chống Pháp. Từ năm 1926 Bạch Dinh là nơi vua Bảo Đại thường ghé nghỉ mát cùng với gia quyến của mình. Thời trước 1975 Bạch Dinh là nơi nghỉ mát của tổng thống của chế độ củ.
    Phía trước Bạch Dinh là một bao lơn hướng ra biển. từ đây có thể nhìn bao quát cảnh bãi trước lượn vòng từ núi nhỏ đến núi lớn. Nếu nhìn thẳng xuống sẽ thấy Hòn Hải Ngưu. Đó là một mũi đá nhô ra biển có hình dáng như một con trâu đang đắm mình dưới nước là nơi câu cá của các chủ nhân Bạch Dinh trước kia và khách du lịch ngày nay.
    Ngày nay đến tham quan Bạch Dinh, bạn không chỉ được thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên, của kiến trúc "Roma cận đại”, biết thêm về lịch sử Bạch Dinh, lịch sử dân tộc mà bạn còn có cơ hội ngắm nhìn bộ sưu tập gốm sứ thời nhà Thanh được vớt lên từ Hòn Cau rất có giá trị và nổi tiếng đang được bảo tàng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trưng bày và giới thiệu tại đây.
    Bạch Dinh là một di tích lịch sử, một danh lam thắng cảnh nổi tiếng của thành phố Vũng Tàu. Khách du lịch trong và ngoài nước đều rất thích đến đây để tham quan và hít thở bầu không khí trong lành của biển và chiêm ngưỡng nơi lịch sử đã đi qua...

    Niết Bàn Tịnh Xá

    Niết Bàn Tịnh Xá nằm ở trung tâm Bãi Dứa, toạ lạc trên triền núi, hướng mặt ra biển. Ở vào vị trí nên thơ đó, Niết Bàn Tịnh Xá có sức hấp dẫn lớn đối với du khách. Di tích này được khởi công xây dựng năm 1969, đến năm 1974 mới hoàn thành. Đây là một công trình đồ sộ gồm nhiều phân, nhiều cấp, toạ lạc trên diện tích gần 10.000m2. Lối lên rộng rãi, dọc theo triền dốc.
    Cổng chính nổi bật với bốn chữ Hán: Niết Bàn Tịnh Xá. Hai trụ cổng được khắc đôi câu đối đầy ý nghĩa :

    "Niết Bàn thị hiện, độ chúng niệm phật tâm thôn, chân giải thoát.
    Tịnh xá quang minh, vô lậu giác ngộ chánh pháp, hiển như lai."

    Phía trong là hai pho tượng ông Thiện và ông Ác cao lớn đứng trông cửa. Bên phải cổng có một bức phù điêu, rộng 2m, cao 4m chạm hình long mã, đầu rồng, chân ngựa bước trên sóng nước, phía trên hạc bay múa trong mây. Phù điêu thực hiện bằng kỹ thuật ốp mảnh sứ men trắng vẽ lam, một kỹ thuật khá thịnh hành ở các chùa miếu, lăng tẩm Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Sắc hoa văn mảnh sứ tạo nên sự rực rỡ, trang nhã và sống động cho bức phù điêu. Đối diện với bức phù điêu và phía trước chính điện là trụ phướn thanh thoát, cao vút 21m, gồm 42 não. Trụ phướn được đúc bê tông, dưới to, trên nhỏ dần, xung quanh ốp gạch men màu vàng đỏ, trên có ba nhánh búp sen toả đều ra ba hướng là một nét độc đáo của Niết Bàn Tịnh Xá.
    Đường lên chính điện là hệ thống 37 bậc tam cấp có lối rộng chừng 2m. Bên phải ngay lối lên là hòn non bộ và lầu trống có Phật Di Lặc ngồi trên cao. Chính giữa là tượng hộ pháp Di Đà. Chiếc lư đồng Tứ Linh (Long, Ly, Quy, Phụng) có kích thước lớn, được trang trí khéo léo, công phu là báu vật của chùa. Chính điện Niết Bàn thể hiện một bức tượng Phật nhập Niết Bàn rất lớn - có lẽ vì vậy mà ngôi chùa có danh xưng Niết Bàn Tịnh Xá? Tượng Phật nhập Niết Bàn, màu nâu hồng tạo khắc đánh bóng công phu, khéo léo nằm nghiêng nhìn về hướng Tây, đầu gối lên tay phải, dài 12m nổi bật giữa chính điện. Vị thế của bức tượng, đầu quay về hướng bắc, chân duỗi thẳng hướng nam, theo truyền thuyết là tư thế của Đức Phật khi nhập Niết Bàn trên tảng đá tại Kusinara, gan bàn chân Phật được khắc 52 điểm ấn.
    Bức tượng Phật nhập Niết Bàn càng trở nên sinh động, cuốn hút vì được đặt trong không gian có nhiều công trình Phật giáo mang tính nghệ thuật cao: Phía trên đầu và sau lưng Đức Phật Nhập Niết Bàn là quang cảnh thiên nhiên xanh tươi nổi bật với hai cây Long Thọ đắp nổi nhiều lớp. Những con công, con hạc dang rộng cánh ẩn hiện trong mây, những con sư tử, con hổ, con khỉ phủ phục chầu Đức Phật viên tịch nhập Niết Bàn... Tất cả đều được đắp nổi, chạm khắc công phu với màu sắc hài hoà, thanh khiết tạo nên khung cảnh vừa trang nghiêm vừa sâu lắng chốn cửa Thiền...
    Trên bức tường bên phải chính điện treo một bức tranh sơn mài lớn thể hiện cảnh Phật ngồi thiền. Bên cạnh là một bức tranh khác thể hiện vườn Lộc dã, nơi Phật Thích Ca thuyết pháp lần đầu tiên...
    Nhìn chung, chính điện Niết Bàn Tịnh Xá không lớn, ngoài những pháp khí nhà chùa, chính điện bài trí nhiều tích Phật, trong đó nổi bật là tượng Đức Phật nhập Niết Bàn, một tác phẩm điêu khắc lớn là niềm tự hào của tăng ni, tu sĩ Phật Giáo Vũng Tàu.
    Phía sau chính điện là “Trai đường” của Chư Tăng. Trong phòng có treo 34 bức ảnh diễn tả lại cuộc đời Đức Phật từ khi sinh ra đến khi các đệ tử chia nhau Xá lợi. Trong phòng còn bài trí nhiều tranh tượng khác như tranh Di Lặc Lục Trần...
    Dựa vào thế núi, Niết Bàn Tịnh Xá toạ lạc trên nhiều độ cao khác nhau. Phía trên và sau chính điện thờ Phật Tổ. Điện thờ Phật Tổ bài trí ba bức tượng Phật Thích Ca ngồi thiền rất lớn, theo thế đối xứng. Tầng trên là một mặt bằng rộng, thoáng đạt, gió mát, du khách có thể dõi tầm mắt ra xa phía biển khơi, hoặc dễ dàng quan sát ngắm cảnh bờ biển Bãi Dứa. Khoảng sân thực sự là nơi vãn cảnh của du khách. Ở đây người ta bài trí rất nhiều bon sai, hoa cảnh. Thấp thoáng phía sau những chậu cảnh mỹ thuật là thuyền Bát Nhã, một con rồng lớn cách điệu dày công trang trí và rất đẹp. Xung quanh thuyền được ốp mảnh sứ men lam, men màu.
    Nổi bật trên mặt bằng trang trí nhiều hoa cảnh của sân thuyền Bát Nhã là gác chuông lớn nối liền với dãy nhà tĩnh nghỉ của các tu sĩ. Gác chuông được xây theo hình vuông, 4 mái uốn cong, trong tháp có một cái chuông lớn gọi là Đại Hồng Chung. Đại Hồng Chung cao 2,8m, chu vi 3,8m, nặng tới 3500kg. Đại Hồng Chung không những là chiếc chuông lớn nhất và nặng nhất mà còn có âm vang hay nhất trong các chuông chùa hiện có ở Vũng Tàu.
    Từ gác chuông, toàn cảnh Niết Bàn hiện ra trước mặt du khách. Đó là một công trình kiến trúc hài hòa giữa thiên nhiên và biển trời, cây xanh và tiếng chuông ngân tha thiết.
    Hằng năm, vào dịp các lễ tết, chủ nhật hay ngày rằm, ngày đầu tháng, có hàng vạn lượt khách đến Niết Bàn Tịnh Xá chiêm bái, vãn cảnh. Với một phong cách kiến trúc đặc biệt toạ lạc ở một vị trí tươi đẹp của Bãi Dứa, Niết Bàn Tịnh Xá là một thắng cảnh nổi tiếng của Vũng Tàu được rất nhiều người ở mọi miền đất nước mến mộ và ước mong được một lần vãn cảnh, chiêm bái.

    Thích Ca phật Đài

    Danh thắng Thích Ca phật Đài nằm trên đường Trần Phú, con đường vòng quanh ôm Núi Lớn, lên Bến Đá và Bến Đình. Danh thắng Thích Ca Phật Đài gắn liền với vẻ đẹp của Bến Đá và cảnh quan thiên nhiên hướng Đông Bắc Núi Lớn. Nếu Bến Đá là cảng cá sầm uất, nhộn nhịp thì Thích Ca Phật Đài, là nơi tịch liêu, đượm vẻ huyền diệu của chốn thiên thai.
    Thích Ca Phật Đài là thắng tích nổi tiếng nhất trong những thắng tích nổi tiếng của thắng cảnh Vũng Tàu. Hàng năm, Thích Ca Phật Đài đón chào hàng vạn người từ khắp nơi hành hương vãn cảnh.
    Vùng núi Thích Ca Phật Đài trước đây cây cối tươi tốt không có người sinh sống. Khoảng năm 1957, Ông Lê Quang Vinh, một công chức thời Pháp thuộc, bất đắc chí lên đây dựng chùa để tu hành, gọi là Thiền Lâm Tự. Năm 1962 Giáo hội Phật giáo nhận thấy Thiền Lâm Tự toạ lạc ở một vị trí có khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, là vùng đắc địa tụ kết khí thiêng, lại thuận tiện giao thông đi lại cho chư tăng, phật tử thập phương hành hương nên đã lập đồ án xây dựng quy mô Thiền Lâm Tự thành Thích Ca Phật Đài. Sau hơn 19 tháng xây dựng, ngày 15 tháng 02 năm Quý Mão (1963), Thích Ca phật Đài được khánh thành với nhữmg công trình kiến trúc như ngày nay.
    Thích Ca phật Đài là một quần thể kiến trúc điêu khắc tạo dựng theo sự tích cuộc đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni gắn với cảnh quan thiên nhiên hài hòa, sống động thành khu danh thắng đẹp mang nhiều giá trị về văn hóa, lịch sử tôn giáo, là một trong những danh thắng thu hút nhiều khách du lịch nhất của Vũng Tàu.
    Vào Thích Ca Phật Đài,s du khách đi qua Tam quan, trên có bánh xe luân chuyển đạo lý nhà Phật gọi là Pháp luân với tám căm biểu tựợng Trung đạo. Vòng ngoài có bốn núm biếu tựợng cho tứ Diệu Đế. Trên bốn cột của tam quan là bốn búp sen biểu tựợng cho sự trong sạch, tinh khiết, thanh cao của Nhà Phật. Toàn bộ khuôn viên Thích Ca Phật Đài được thể hiện trên triền núi như nửa vầng trăng, được chia thành ba cấp theo một hình tháp cao dần từ dưới lên.
    Bảo Tháp mà du khách bắt gặp đầu tiên, sau khi bước lên hết cấp thứ nhất, là nơi ghi nhớ và tưởng niệm người đã có công dựng Thiền Lâm Tự: Nhà sư Giác Pháp tức quan phủ Lê Quang Vinh. Lối lên bậc thứ hai theo đường vòng cung nhỏ nhắn, bên trái là vách đá kỳ vĩ Bên phải dõi tầm mắt đến tận Núi Nứa - Long Sơn và xa xa là cảng Dầu khí với những cần cẩu vươn cao nối liên với phố xá, nhà cửa và làng cá Bến Đình, Bến Đá ngay dưới chân núi. Thích Ca Phật Đài được bao phủ bởi màu xanh của nhiều loài cây cao vút. Gió biển thổi rì rào.
    Đi hết đường vòng cung, du khách tới độ cao 25m, không gian trải rộng ra trước mặt. Đây là khu vực của những công trình điêu khắc được xây dựng dựa theo những sự tích cuộc đời Đức Phật Thích Ca, từ khi Người ra đời đến khi nhập cõi Niết Bàn.
    Hình ảnh của Đức Phật khi tu luyện và đắc đạo được diễn tả qua bức tượng Phật Thích Ca hay Kim Thân Phật Tổ ngồi tham thiền trên tòa sen. Đức Phật ngự trên Đài hành lễ cao 4,5m. Đài được đúc bằng ciment hình bát giác. Phía trên là bông sen cao 2m. Phật Thích Ca ngự trên tòa sen cao 5,lm. Tượng Kim Thân được thi công tại chỗ, riêng phân đầu được đặt đúc tại Sài Gòn. Ngày 20-07-1962 khi đem gắn đầu vào tượng, tương truyền lúc ấy nền trời xanh ửng lên một vầng hào quang quanh mặt Phật. Được biết trong pho tượng Kim Thân có tôn trí ba viên ngọc Xá Lợi của Đức Phật. thành Phật Thích Ca, Ngài đa truyền bá đạo Phật cho nhân loại. Ngài đến vườn Lộc Giã (lsipatanr) và giảng đạo Phật cho các vi đạo sĩ và đệ tử. Để ghi nhận quá trình này người ta đã dựng ở Thích Ca Phật Đài nhà Bát giác, tượng trưng cho Đức Phật chuyển Pháp luân. Nhà Bát giác có các nhóm tượng: Phật Thích Ca ngồi trên tòa sen cao l,2m; năm tượng đạo sĩ ngồi vây quanh nghe thuyết pháp, mỗi tượng cao 0,6m. Những mặt khác của tòa Bát Giác viết những lời răn của Đức Phật. Tượng Phật nhập Niết Bàn ở Thích Ca Phật Đài là một tràng lớn. Đức Phật nằm quay mặt về hướng tây trên một bệ ciment cao 4,2m (Phật thân cao 2,4m kề từ vai xuống), dài 12,2m. Trước tượng Đức Phật nhập Niết Bàn là bốn tượng Tỳ kheo chấp tay cung kính. Phía sau là năm tượng Tỳ kheo ngồi chắp tay hướng về Đức Phật.
    Bảo tháp Thích Ca Mâu Ni ở đây có tôn trí 13 viên Xá Lợi Đức Phật, được đựng trong một hộp bằng vàng. Đây là niềm đại hạnh cho các phật tử Việt Nam nói chung và phật tử Vũng Tàu nói riêng. Bảo tháp ngọc Xá Lợi ở Thích Ca Phật Đài cao 17m vươn lên giữa sân hành lễ rộng khoảng 300m2, trên có búp sen. Lối lên Bảo tháp có đắp hình rồng, hai bên có đôi sư tử chầu tượng trưng cho Đại Hùng - Đại Lực. Dưới chân tháp có một thích án để thờ, trên khắc chữ : “Nam mô Bồn sư Thích Ca Mâu Ni Phật” (Hết lòng tôn kính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni). Dưới bốn cạnh chân Bảo tháp bát giác đặt bốn cái đỉnh lớn trong đặt bốn nắm đất thiêng được thỉnh từ Lumbini (nơi Ngài Đản sanh), Buddha Caya Uruvfla (nơi Ngài thành đạo), Isipatana (nơi Ngài truyền đạo) và Kusinara (nơi Ngài nhập Niết Bàn) về đây.
    Sau khi chiêm bái và vãn cảnh ở vườn Lộc Giả, Bảo tháp, từ độ cao gần 29m có thể quan sát miền sông biển, đầm lầy rộng lớn phía bắc Vũng Tàu, từ Núi Nứa, Long Sơn đến cảng Dầu khí, du khách theo lối nhỏ bên phải xuống Tinh thất Giác Pháp, nơi ông phủ Vinh ở, tu hành trước đây. Trong Tịnh thất bây giờ có bức tượng, bình tro hài cốt của nhà sư Giác Pháp.
    Thích Ca Phật Đài là một quần thề kiến trúc, điêu khắc với ý đồ diễn tả lại sự kiện chính trong cuộc đời Đức Phật. Chỉ riêng điều này thôi, Thích Ca Phật Đài đã là một công trình Phật giáo đặc trưng của Vũng Tàu nói riêng và Việt Nam nói chung.

    Cẩm nang đi du lịch Vũng Tàu

    Phố biển Vũng Tàu cũng khá nhỏ và dễ đi lại. Là địa điểm du lịch nên bạn có thể dễ dàng tìm quán cà phê, chỗ ăn uống và khách sạn cũng như một số các địa điểm để dạo chơi rất lãng mạn. Chúng tôi tư vấn cho bạn một số lựa chọn sau:
    Về khách sạn: tùy theo ý bạn muốn chọn một chỗ ở như thế nào. Tuy nhiên, để có thể dễ ngắm biển và đi bộ dọc bờ biển, bạn có thể chọn các khách sạn trên đường Hạ Long, đường Thùy Vân, Trần Phú... Giá cả dao động tùy theo phòng ốc và chất lượng dịch vụ, phòng đôi có thể ở mức từ 200.000/đêm trở lên. Các nhà nghỉ ở gần bãi biển hoặc một số khách sạn bên trong thành phố thì có mức giá rẻ hơn...
    Về tắm biển: Ngoài bãi Trước, bãi Sau, những khách du lịch " bụi" tại Vũng Tàu khuyên bạn nên chọn Bãi Dứa. Từ Bãi Trước, dọc theo đường Hạ Long, bạn sẽ tới Bãi Dứa. Với giá thuê 10.000 đ/ghế, bạn có được một nơi chốn an bình để ngắm biển. Một bãi tắm không rộng, vừa đủ cho 20 - 30 người, có sóng biển rì rào vỗ vào ghềnh đá, có không gian thoáng đãng để nhìn ngắm những con tàu qua lại, đặc biệt với những hàng cây rợp bóng mát, bạn đi biển mà không phải sợ bị... ăn nắng. Đối diện bãi Dứa có nhiều khách sạn, biệt thự cho thuê với giá khá mềm. Điểm đặc biệt của những khách sạn, biệt thự nơi đây là chúng nằm trên những ngọn đồi cao.

    Bạn cũng có thể chọn Bãi Dâu, một bãi tắm nằm ở phía tây Núi Lớn, dọc theo đường Trần Phú, từ Bạch Dinh (Bãi Trước) đến Bãi Dâu xa chừng 3km. Bãi này trước đây gọi là bãi Vũng Mây, vì trên triền hòn Núi Lớn đoạn này có nhiều cây mây mọc. Nếu thích câu cá và ưa mạo hiểm, bạn nên chọn Bãi Nghinh Phong, nằm gần Bãi Dứa.

    Phương tiện đi lại: bạn có thể thuê xe đạp đôi để dạo biển và tham quan một vài địa điểm ở Vũng Tàu. Tối, nếu có thời gian bạn nên lên ngọn Hải Đăng, từ đây nhìn xuống thành phố biển Vũng Tàu rất đẹp.
    Về quán cà phê và quán ăn uống: bạn có thể ngồi ở cà phê Ô cấp (90 Hạ Long) - quán nằm ở lưng chừng đồi nhìn ra biển, quán cà phê Phố Đông, Nathi art trên đường Hạ Long, Lối về trên đường Lê Hồng Phong, khá yên tĩnh, quán Thí dụ trên đường Trần Nguyên Hãn... Quán kem Alibaba (quán kem Thổ Nhĩ Kỳ) trên đường Đồ Chiểu...
    Về ăn uống, bạn có thể chọn các phố ăn đêm trên đường Lê Lai, Đồ Chiểu.

    Lễ Hội Dinh Cô

    Hàng năm vào ngày 10, 11, 12 tháng 2 âm lịch người dân Long Hải Vũng Tàu lại tấp nập trẩy hội Dinh Cô.
    Dinh Cô nguyên là ngôi miếu nhỏ thờ một người con gái chết nước, nằm trên mỏm đồi lộng gió trên bãi tắm Long Hải. Theo tương truyền thì khoảng 186 năm trước, trong một đêm mưa giông bão tố xác một người con gái dạt vào và nằm lại trên bãi cát trắng xoá. Cát đùn lên che chở, sóng vỗ muôn nghìn lời ru cho Cô yên giấc. Dân làng từ đó xem Cô như nữ thần thiêng liêng nên lập mộ trên đồi, dựng miếu thờ bên cạnh. Đầu tiên chỉ là một nấm mộ đất, miếu tre lá. Miếu và mộ thay đổi dần theo sự linh ứng ngày càng lan rộng. Đầu năm 1990, Dinh Cô lại được trùng tu bằng kinh phí quyên góp của khách thập phương, trở thành một dinh thự kiên cố như hiện nay.
    Lễ hội hàng năm có đến hàng chục vạn khách thập phương từ miền Tây, thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Bình Thuận... lũ lượt kéo về Long Hải dự "Giỗ Cô", chen chúc nhau trong rừng dương, trên bãi cát, ở những hành lang, khoảng trống để nghỉ qua đêm, dự trọn 3 ngày hội. Từ rạng sáng ngày 10 tháng 02 âm lịch, người ta đã bắt đầu viếng Cô. Mỗi người thường cầm trong tay một nhành huệ trắng tượng trưng cho sự thanh khiết. Giới trẻ ham vui, các cụ già sùng tín đều chen nhau vượt 187 bậc thang để dâng hương xin lộc nơi chính điện. Đêm 10 và 11 là đêm hội hoa đăng. ánh đèn sáng rực hoà cùng ánh trăng. Hàng vạn ghe thuyền quay mũi về Dinh chầu Cô, tiếng chiêng, tiếng trống rộn ràng thâu đêm.
    Dinh Cô
    Ngày 12 chính hội, từ chính điện đoàn người chỉnh tề cờ quạt ra bãi, lên thuyền, ra khơi làm lễ "Nghinh Cô". Lễ "Nghinh Cô" được cử hành long trọng. Vị Chánh bái dẫn đầu, đoàn người tiếp bước với cờ xí, lọng che, hoa đăng rực rỡ. Một chiếc ghe to đặt bày hướng án được xem là ghe dành "Nghinh Cô". Ghe được hộ tống bởi vài chục chiếc ghe khác. Đoàn ghe nối nhau ra khơi trong tiếng chiêng trống vang trời. Đến Mũi Nhỏ, nơi có ngôi mộ Cô, đoàn người xuống ghe lên viếng mộ, nghênh đón Cô về Dinh. Đặc biệt, trong lễ "Nghinh Cô", còn duy trì được hình thức diễn xướng "Hát bả trạo". Một thể loại hát nắm mái chèo, mô phỏng thao tác của người đi biển vượt ngàn trùng sóng gió với nguyện ước mỗi năm tôm cá được mùa, người dân làm ăn phát đạt.

    Ý nghĩa địa danh Bà Rịa
    Theo quyển "Monographie de Baria" của một tác giả người Pháp viết năm 1902 cho biết địa danh Bà Rịa xuất phát từ tên của một người phụ nữ là Nguyễn Thị Rịa. Đây là người đã có công khai phá đất hoang, lập làng Phước Liêu vào năm 1789.
    Tuy nhiên, theo tài liệu "Gia Định thành thông chí" của Trịnh Hoài Đức, địa danh Bà Rịa là do đọc trại từ tên của một tiểu vương quốc là Bà Ly hay Bà Lợi. Tiểu vương quốc này tồn tại khoảng thế kỷ thứ VII, sau đó đã bị quân Chân Lạp thôn tính.
    Vùng Bà Rịa xưa còn được gọi là vùng Mô Xoài hay Muỗi Xụy, là nơi tiếp nhận những người Việt đầu tiên từ miền Trung vào khai phá vùng đất Nam Bộ. Truyền thuyết dân gian kể rằng: "Vào khoảng thế kỷ XVIII, bà Nguyễn Thị Rịa từ Phú Yên - Bình Định vào khai phá vùng đất này. Bà đã bỏ tiền thuê dân vào khai hoang, lập làng mạc, mở nhiều nông trại. Bà đối xử rất tốt với những người mới đến định cư và khai hoang nên được mọi người rất yêu mến. Năm 1803 Bà Rịa mất. Vì không có con nên tài sản của bà được để lại cho người dân vùng Tam Phước. Người dân nhớ ơn bà nên đã lập miếu thờ bà và đặt tên cho vùng đất này là Bà Rịa". Hiện nay, ngôi mộ của bà vẫn còn ở ngọn núi Tam Phước (hay còn gọi là núi Cố).

    Một ngày trên sông nước Long Sơn

    Đến thành phố biển Vũng Tàu xinh đẹp ngoài những chuyến tham quan các bãi biển, đình, chùa nổi tiếng, bạn hãy thử thực hiện một hành trình khám phá sông nước đến xã Long Sơn để có những khám phá thật thú vị.
    Nhà lớn Long Sơn
    Khởi hành ở bến Cầu Đá, thuyền sẽ đưa bạn đi qua bãi Trước, bãi Dâu, ngang qua cảng cá Sao Mai, cảng dầu khí Vietsovpetro... Bạn có thể vừa ngồi trên mũi thuyền vừa ngắm cảnh sông nước, phố xá, nhìn cận cảnh đời sống của ngư phủ. Vượt qua những khúc sông êm trên sóng nước hiền hoà của biển Vũng Tàu, thuyền sẽ đưa du khách đi qua vùng cù lao Bến Đình với những dải cát mịn màng được biển bồi đắp, những cây mắm xanh rì đứng nghiêng mình bên bãi cát. Bạn sẽ được ngắm đảo Gò Găng tất bật với những chuyến đò chở nặng cá tôm.
    Bánh qui - Đặc sản ở nhà Lớn
    Thuyền rẽ sang sông Chà Và và neo ở bến Kênh để đưa bạn đến một xã đảo nhỏ với hình ảnh của các cụ già vận áo bà ba đen, tóc búi củ hành, đi chân không đang rảo bước về phía Nhà Lớn. Đến đây, du khách được tham quan những cảnh đẹp với lối kiến trúc xưa độc đáo như khu điện thờ nhà gỗ liên hoàn, khu nhà dài tập thể... và thưởng thức món bánh quy thơm, ngon đặc trưng. Đặc biệt, nếu đến Long Sơn vào dịp lễ hội, bạn còn có thể được chiêm ngưỡng nét đẹp văn hoá từ những sinh hoạt đời thường đến những tập tục, tín ngưỡng đạo ông Trần đã tồn tại hàng trăm năm trên miền đất này.
    Làm muối - Nghề chính ở đảo Long Sơn
    Buổi chiều, sau khi đã dùng cơm trưa tại nhà hàng nổi trên sông với các món ăn đặc sản như hàu sống mù tạt, hàu nướng, móng tay xào mỡ hành, ghẹ rang me ...bạn sẽ tiếp tục cuộc hành trình băng qua một khu rừng đước bằng con đường đất nho nhỏ ven ao, tham quan những ruộng muối, ngắm đùng nuôi tôm ở thôn 8. Đến đây, bạn có thể được xem tận mắt những người nông dân làm muối, hay câu cá thư giãn bên hồ...
    Hành trình trên sông nước Long Sơn chắc chắn sẽ mang đến những bất ngờ thú vị cho bạn.

    TÀI NGUYÊN VÀ DU LỊCH

    Bà Rịa - Vũng Tàu là một trong những tỉnh có cửa ngõ giao lưu giữa Việt Nam và thế giới, có hệ thống đường biển, đường sông và đường hàng không rất thuận tiện.
    Bên cạnh những tiềm năng to lớn về dầu khí. Bà Rịa - Vũng Tàu đang từng bước khẳng định thế mạnh du lịch của mình, nhờ lợi thế về tiềm năng thiên nhiên và nhân văn phong phú. Bà Rịa - Vũng Tàu là một quần thể thiên nhiên hài hoà, sơn thuỷ hữu tình, có những dãy Núi Lớn - Núi Nhỏ - Minh Đạm, Núi Dinh che chắn, xa xa biển Đông có Côn Đảo bao bọc, ở gần có Long Sơn quy tụ...
    Ngoài những bãi tắm tuyệt đẹp với bờ cát mịn thoai thoải, nói đến Bà Rịa - Vũng Tàu không thể không nhắc đến hai khu rừng nguyên sinh nổi tiếng: rừng cấm Bình Châu - Phước Bửu và rừng quốc gia Côn Đảo với những loài động thực vật quý hiếm, môi trường đa dạng tập hợp nhiều kiểu rừng của các vùng sinh thái.
    Đến với khu du lịch suối khoáng nóng Bình Châu, du khách thực sự được thư giãn để tận hưởng bầu không khí ấm áp, làn sương khói la đà len lỏi giữa rừng cây xanh rải rác như giữa chốn thần tiên, đây đó là những khu nhà nghỉ dưỡng, trị bệnh bằng nguồn nước khoáng nóng bổ ích.
    Bà Rịa - Vũng Tàu cũng là miền đất có truyền thống văn hoá lịch sử lâu đời với những khu di tích mang đậm dấu ấn của những thời kỳ lịch sử, toàn tỉnh hiện có 29 khu di tích được xếp hạng cấp quốc gia.
    Với những lợi thế và tiềm năng to lớn nói trên, thời gian qua du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu đã có những bước phát triển mạnh mẽ, hàng loạt dự án đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực khách sạn, khu vui chơi giải trí, các tuyến, điểm du lịch với tổng số vốn đầu tư lên đến hàng trăm triệu đôla đang hoạt động hết sức nhộn nhịp. Bà Rịa - Vũng Tàu hiện có 65 khách sạn với trên 2300 phòng trong đó có 1100 phòng được công nhận đạt tiêu chuẩn quốc tế.
    Theo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu (1995 - 2010) với 5 trung tâm kinh tế - du lịch, trong tương lai không xa, Bà Rịa - Vũng Tàu sẽ phát triển mạnh mẽ, tương xứng với vị thế và tiềm năng của một trung tâm du lịch quan trọng của cả nước.
    Thành phố Vũng Tàu
    Thành phố Vũng Tàu cách thành phố Hồ Chí Minh 125km và cách thành phố Biên Hoà 90 km. Vũng Tàu giống như một hòn đảo bởi nó được bao bọc ba mặt là biển và sông án ngữ mặt thứ tư.
    Bờ biển
    Thành phố có bờ biển trải dài 20km, hầu hết là ghềnh đá nhấp nhô từ chân Núi Lớn và Núi Nhỏ chạy ra biển.Từ rặng Bồng Đào đến mũi Nghinh Phong, bờ biển được tạo bởi những vách đá dựng đứng. có một cửa sông và bờ vịnh kín gió thuận lợi cho tàu bè thả neo.
    Đất và đồi cát
    Ngoài hai ngọn núi đá Núi Lớn và Núi Nhỏ, phần đất còn lại vủa Vũng Tàu được cấu tạo bởi những lớp đất cát. Loại đất này thích hợp với các loại cây: xoài, mãng cầu, nhãn được trồng nhiều trong thành phố.

    Thành phố Vũng Tàu có dãy đồi cát nằm song song với bãi biển chạy từ chân Núi Nhỏ đến Cửa Lấp dài khoảng 10km, cao từ 4m đến 12m. Nhờ dãy đồi cát này mà các luồng gió mạnh từ biển thổi vào theo hướng Đông Nam không làm thiệt hại hao màu, cây cối.
    Núi non
    Thành phố Vũng Tàu có hai trái núi nằm ở phía Tây Nam thành phố:
    · Núi Lớn (còn gọi là tương kỳ) diện tích khoảng 400ha gồm các đỉnh Núi Lớn (245m), Vũng Mây (220m), Hòn Sụp (215m).
    · Núi Nhỏ (còn gọi là Tao Phùng) cao 138m, diện tích khoảng 180ha.
    Ao hồ
    Sau dãy đồi cát chạy song song với bãi biển là một hồ sen trải dài từ chân Núi Nhỏ đến khu Thắng Nhất, sau hồ sen là cánh rừng chạy đến rạch Cây Khế hết địa phận thành phố Vũng Tàu.
    Hồ sen rộng 400ha là một thắng cảnh và là nguồn cung cấp thực phẩm dồi dào. Người ta đánh bắt cá cua, lươn, ếch... và thu hoạch hột sen, ngó sen trong hồ để chế biến các đặc sản cho du khách.
    Sông rạch
    Thành phố Vũng Tàu chỉ có một con sông lớn nhất là sông Dinh. Sông bắt nguồn từ núi Dinh, chảy qua Phước Lễ, xuôi theo hướng Tây Bắc Vũng Tàu dài 11 km, chỗ rộng nhất 1000m chỗ hẹp nhất 300m, hơi sâu nhất 25m.
    Phía Đông Bắc thành phố có rạch Cây Khế dài 6 km. Rạch Bà dài 7,9km nằm chắn ngang, làm ranh giới giữa khu Thắng Nhất và Thắng Nhì.
    Tại khu Thắng Nhì, phía sau cù lao Bến Đình có rạch Bến Đình dài 5,5km, phía Đông Phước Thắng nơi Cửa Lấp có 3 rạch dẫn nước biển vào thành phố là rạch Ông Nam, rạch Suối Nước và rạch Sông Cái. Sông rạch ở Vũng Tàu cũng là những cảnh quan đẹp.
    Đường sá
    Đường vòng Núi Nhỏ (đường Hạ Long) chạy từ Bãi Trước đến mũi Nghinh Phong ra đường Thuỳ Vân (Bãi Sau) dài 6km ôm sát chân núi, chạy lên dốc cao, có đoạn chạy sát biển, có chặng luồn giữa những khu vực cây cối xanh tươi. Đi dạo theo con đường này, du khách được hít thở không khí trong lành, hưởng gió biển, ngắm cảnh biển bao la và những cảnh sắc luôn thay đổi dọc theo bên đường.
    Đường vòng Núi Lớn (đường Trần Phú) chạy quanh sườn Núi Lớn, từ Bến Đình - Thích Ca - Phật Đài - Bãi Dâu đến Bãi Trước dài 10km, cách mặt biển 40 - 50m một bên là núi, phía dưới là biển, hùng vĩ hơn đường vòng Núi Nhỏ, có nhiều thắng cảnh dọc đường như tượng Đức Mẹ, núi Ghềnh Rái, Bến Đá Điện Bà...
    Các mũi đá
    Nơi có nhiều gió mà du khách thích đến là mũi Nghinh Phong, ở đây gió thổi quanh năm. Ngoài ra còn có mũi Đá trước toà Bạch Dinh, mũi đá Cao Trang ở đầu đường vòng Núi Lớn, cũng là những nơi buổi chiều du khách thường đến dạo chơi.
    Trên đường vòng quanh Núi Nhỏ sau khi qua khỏi bãi Vọng Nguyệt, nếu để ý du khách sẽ thấy một hòn đảo nhỏ như một tría núi nhô lên mặt nước. Khi nước ròng hạ thấp người ta có thể đi bộ ra đây, qua một bãi đá lởm chởm làm cầu, đó là hòn Bà.
    Thời tiết - Khí tượng
    Bán đảo Vũng Tàu có nhiệt độ trung bình thấp hơn so với các tỉnh phía nam bởi ba mặt giáp biển Đông, quanh năm lộng gió, nhiệt độ trung bình khoảng 28 độ C, lượng mưa trung bình 1.500mm/năm.
    Vũng Tàu có hai mùa rõ rệt tuỳ thuộc vào gió, gió thổi theo hai chiều gần như ngược nhau, trừ những ngày chuyển tiếp. Gió mùa Tây Nam thổi vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10), gió mùa Đông Bắc thổi vào mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4). Gió thổi mạnh, tốc độ khoảng 35km/giờ. Tháng 4 và tháng 10 là những tháng chuyển mùa, gió thổi nhẹ, ngoài khơi sóng nhỏ. Biển Vũng Tàu ít bão tố hoặc ảnh hưởng của bão không đáng kể vì thế trở thành nơi trú ngụ tốt cho thuyền bè.
    Thuỷ triều thuộc loại bán nhật triều, mỗi ngày đều có hai lần thuỷ triều lên xuống. Biên độ triều lớn nhất là 4 - 5 m.
    Nhiệt độ nước biển ít thay đổi, quanh năm nhiệt độ tầng mặt nước khoảng 24 - 29 độ C, nhiệt độ tầng đáy khoảng 26,5 - 27 độ C.
    Với đặc điểm khí hậu, thời tiết và thiên nhiên ưu đãi, Vũng Tàu đã và sẽ luôn là một trong những trung tâm du lịch hàng đầu của cả nước.

    Khí hậu_thời tíêt tinh bà rịa_vũng tàu
    Đất nước Việt Nam trải dài từ Bắc xuống Nam, có đèo Hải Vân cao vút chắn ngang ở miền trung khiến cho khí hậu hai miền khác nhau.
    Nếu như ở Hà Nội thời tiết còn rất lạnh, mọi người còn phải mặc áo ấm thì ở Vũng Tàu khí hậu vẫn nóng bức, biển Vũng Tàu được gọi là biển nóng, tắm được quanh năm.
    Bán đảo Vũng Tàu có nhiệt độ trung bình thấp hơn so với các tỉnh phía nam bởi ba mặt giáp biển Đông, quanh năm lộng gió, nhiệt độ trung bình khoảng 28 độ C, lượng mưa trung bình 1.500mm/năm.
    Vũng Tàu có hai mùa rõ rệt tuỳ thuộc vào gió, gió thổi theo hai chiều gần như ngược nhau, trừ những ngày chuyển tiếp. Gió mùa Tây Nam thổi vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10), gió mùa Đông Bắc thổi vào mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4).
    Gió thổi mạnh, tốc độ khoảng 35km/giờ. Tháng 4 và tháng 10 là những tháng chuyển mùa, gió thổi nhẹ, ngoài khơi sóng nhỏ. Biển Vũng Tàu ít bão tố hoặc ảnh hưởng của bão không đáng kể vì thế trở thành nơi trú ngụ tốt cho thuyền bè.
    Thuỷ triều thuộc loại bán nhật triều, mỗi ngày đều có hai lần thuỷ triều lên xuống. Biên độ triều lớn nhất là 4 - 5 m.
    Nhiệt độ nước biển ít thay đổi, quanh năm nhiệt độ tầng mặt nước khoảng 24 - 29 độ C, nhiệt độ tầng đáy khoảng 26,5 - 27 độ C.
    Với đặc điểm khí hậu, thời tiết và thiên nhiên ưu đãi, Vũng Tàu đã và sẽ luôn là một trong những trung tâm du lịch hàng đầu của cả nước.

    Vị trí địa lý-tự nhiên-dân cư tỉnh bà rịa_vũng tàu

    VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
    Bà Rịa - Vũng Tàu là một tỉnh miền Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía Đông Bắc giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh, mặt còn lại giáp biển Đông với hơn 200 km bờ biển trong đó có 40 km là bãi tắm.
    Bà Rịa - Vũng Tàu có 7 đơn vị hành chính: Thành phố Vũng Tàu, thị xã Bà Rịa và 4 huyện trên đất liền : Châu Đức. Tân Thành, Xuyên Mộc và Long Đất nằm ở kinh độ 107'05" Đông, vĩ độ 10'50" Bắc. Huyện Côn Đảo nằm ở kinh độ 106'35" Đông, vĩ độ 8'42" Bắc có 66 km bờ biển. Thềm lục địa rộng trên 100.000 km2


    Thành phố Vũng Tàu
    Diện tích : 175,62 Km2
    Dân số : 167.529 người
    Thị xã Bà Rịa
    Diện tích : 89,09 Km2
    Dân số : 76.820 người
    Huyện Châu Đức
    Diện tích : 436,65 Km2
    Dân số : 143.301 người
    Huyện Tân Thành
    Diện tích : 304,86 Km2
    Dân số : 80.846 người
    Huyện Xuyên Mộc
    Diện tích : 631,54 Km2
    Dân số : 116.327 người
    Huyện Long Đất
    Diện tích : 292,95 Km2
    Dân số : 132.384 người
    Huyện Côn Đảo
    Diện tích : 76,00 Km2
    Dân số : 1.796 người



    TỰ NHIÊN_DÂN CƯ
    Tổng diện tích tự nhiên: 2006,7 km2.
    Diện tích đất tự nhiên: 195,659 ha.

    Khí hậu nhiệt đới ôn hoà do chịu ảnh hưởng cảu biển. Hàng năm có hai mùa: khô (từ tháng 11 đến tháng 4), mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10), nhiệt độ trung bình từ 25 đến 27 độ C, ít gió bão lớn, lượng mưa trung bình 1300mm - 1750mm. Độ ẩm bình quân cả năm là 80%.
    Dân cư­ có tổng số là 719.000 người, trong đó dân ở thành phố, thị trấn là 271.549 người.

    • Dân tộc: Chủ yếu là người Việt, ngoài ra có các dân tộc khác như Hoa, Châu Ro, Mường, Tày.
    • Lực lượng lao động: Chiếm 51,56% số dân.

    KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
    Bà Rịa - Vũng Tàu: Lịch sử hình thành và phát triển
    Cách Thành phố Hồ Chí Minh 125 km về hướng Đông, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nằm ở vị trí rất đặc biệt, đây chính là cửa ngõ của các tỉnh miền Đông Nam Bộ hướng ra biển Đông, hội tụ nhiều tiềm năng để phát triển nhanh và toàn diện các ngành kinh tế biển như: Công nghiệp khai thác dầu khí ngoài khơi, cảng biển và vận tải biển, khai thác chế biến hải sản, du lịch nghỉ ngơi tắm biển. Bên cạnh đó, Bà Rịa - Vũng Tàu còn có điều kiện phát triển đồng bộ giao thông đường bộ, đường biển, đường không, đường sắt và đường ống, có thể là nơi trung chuyển hàng hóa đi các nơi trong nước và quốc tế.
    Khoảng đầu thế kỷ XVI bán đảo Vũng Tàu có tên ghi trong nhật ký hàng hải của người bồ Đào Nha là Oporeto CIN CHAGAS VERDAREIRAS (có nghĩa là “ Năm vết thương của Chúa Cứu Thế”). Gọi như vậy bởi vì Vũng Tàu, nhìn từ ngoài khơi vào, người đi biển thấy có năm ngọn núi, biểu tượng của niềm vui, của sự cứu giúp đối với họ. Đó là năm ngọn núi có tên là Kỳ Vân, Núi Dinh, Núi Nứa, Núi Lớn, Núi Nhỏ. Khi cuốn hải trình nổi tiếng Biển Phương Đông của một nhà hàng hải Pháp ra đời thì Vũng Tàu lại có tên là Cap Saint Jacques. Từ thời Việt Nam thuộc Pháp, Vũng Tàu còn được gọi là Ô Cấp hoặc Cấp - phiên âm của chữ Pháp Au Cap trong câu “Aller au cap”(đi ra đất mũi)...
    Thành phố Vũng Tàu hôm nay từng có tên gọi là Tam Thắng để ghi lại sự kiện thành lập ba ngôi làng đầu tiên ở đây: Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam. Tam Thắng là biến âm của hai chữ Tam Thoàn - tức Tam Thuyền là ba chiếc thuyền do ba viên đội chỉ huy có nhiệm vụ bảo vệ dân và con đường thủy vào Gia Định chống lại bọn cướp biển. Năm 1882, Vua Minh Mạng ban thưởng phẩm hàm và cấp đất cho họ khai thác, lập nên ba làng Thắng như trên để làm ăn, sinh sống. Vùng đất Bà Rịa được người Việt Nam khai phá khoảng đầu thế kỷ 17, lúc đầu Bà Rịa thuộc dinh Trấn Biên, tỉnh Gia Định. Năm 1808, Vua Gia Long đổi Trấn Biên thành Biên Hòa. Về hành chính, vùng đất Vũng Tàu ngày nay đã trải qua nhiều thay đổi. Thời nhà Nguyễn thuộc tỉnh Biên Hoà, từ năm 1890 thuộc tỉnh Bà Rịa (sau đổi thành Phước Tuy). Từ năm 1895 tách ra thành một tỉnh riêng. Sau năm 1954 lại sáp nhập vào tỉnh Bà Rịa như cũ. Ngày 30-5-1979 thuộc Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo.
    Tỉnh Bà Rịa - VũngTàu trải qua các thời kỳ lịch sử với nhiều địa danh nổi tiếng và tên gọi khác nhau từ Tam Thắng, VũngTàu đến Bà Rịa, Phước Tuy, Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo và ngày 12-8-1991 chính thức được mang tên Bà Rịa - Vũng Tàu.
    Hiện nay, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có 7 đơn vị hành chính: Thành phố Vũng Tàu, Thị xã Bà Rịa và các huyện: Long Đất, Xuyên Mộc, Châu Đức, Tân Thành, Côn Đảo.
    Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và do chịu ảnh hưởng của biển, khí hậu Bà Rịa - Vũng Tàu rất ôn hòa, ít gió bão, nhiệt độ trung bình từ 25oC đến 27oC, lượng mưa trung bình 1.300mm đến 1.700mm; có từ 2300 - 2800 giờ nắng trong năm. Thiên nhiên Bà Rịa - Vũng Tàu tươi đẹp và kỳ thú, giàu tiềm năng về du lịch, hải sản, dầu khí, phát triển cảng, nông lâm nghiệp, ...
    Khi mới thành lập tỉnh năm 1991, dân số của tỉnh là 611.000 người, đến năm 1995, dân số lên đến 714.000 người, tăng 14,71% so với năm 1991. Theo số liệu thống kê năm 2002, dân số Bà Rịa - Vũng Tàu là 862.081 người, tăng 41,0% so với thời kỳ đầu thành lập (năm 1991). Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm 2002 so với năm 2001 là 2,4%.

    MỤC LỤC


    -         Di Tích Danh Thắng Niết Bàn Tịnh Xá

    -         Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật Bạch Dinh

    -         Di Tích Danh Thắng Thích Ca Phật Đài

    -         Thiền Viện Thường Chiếu

    -         Hải đăng Vũng Tàu

    -         Vườn Quốc Gia Côn Đảo

    -         Côn Đảo

    -         Thủ Công Mỹ Nghệ

    -         Các Món Ăn Hải Sản

    -         Các Bãi Biển Đẹp Tại Vũng Tàu

    o       Hồ Tràm

    o       Mũi Nghinh Phong

    o       Bãi Trước

    o       Bãi Sau

    o       Bãi Dứa

    o       Bãi Dâu

    VĂN HOÁ TIỀN SƠ SỬ BÀ RịA - VŨNG TÀU

    TRONG KHÔNG GIAN TIỀN SỬ ĐÔNG NAM BỘ

    PHẠM QUANG MINH

    Vườn quốc gia Côn Đảo - Bà Rịa, Vũng Tàu

    1.     thông tin Côn Đảo

    2.     Nhà Lớn: Quần thể kiến trúc dân gian quý hiếm

    3.     Suối Bang

    4.     Thắng cảnh Suối Tiên

    5.     Làng thúng Long Hải

    6.     Bãi biển Lộc An

    7.     Khu du lịch"Cây nhà lá vườn"

    8.     Làng Bình An Resort - Vũng Tàu

    9.     Tổ đình Thiên Thai & thắng cảnh Dinh Cố

    10.            Quần thể di tích đình thần Thắng Tam

    11.            Khu du lịch Biển Đông ở Bà Rịa - Vũng Tàu

    12.            Chùa Khỉ - điểm du lịch sinh thái lý thú - Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

    13.            Hòn bảy cạnh

    14.            Hấp dẫn Kỳ Vân

    15.            10 điểm đến thú vịcủa Vũng Tàu

    16.            Núi Tương Kỳ

    17.            Đảo Hòn Trác-Hòn Tài

    18.            Khu du lịch Bình Châu

    19.            Núi Tao Phùng

    20.            Núi Chân Tiên

    21.            Hướng dẫn du lịch Vũng Tàu

    22.            Lễhội đình Thần Thắng Tam

    23.            Bánh khọt Gốc Vú Sữa (Vũng Tàu)

    24.            địa danh bà rịa

    25.            Võ thị sáu - người con gái anh hùng

    26.            Suối nước khoáng Bình Châu

    27.            Vườn quốc gia Côn Đảo

    28.            Bãi biển HồCốc

    29.            Núi Chúa

    30.            Nghĩa trang Hàng Dương

    31.            Miếu Bà và đền An Hải

    32.            Hòn Trác - Hòn Tài

    33.            Hòn Bà Côn Đảo

    34.            Cầu tàu Côn Đảo

    35.            Cầu Ma Thiên Lãnh

    36.            Bãi biểnĐầm Trầu

    37.            Bãi tắm Long Hải

    38.            Tổ đình Thiên Thai

    39.            Dinh Bà Cố

    40.            Chùa Thiên Bửu Tháp

    41.            Thác Sông Ray

    42.            Suối Tiên

    43.            Chùa Đại Tòng Lâm

    44.            Rừng Sác

    45.            Nghinh Phong

    46.            Bãi Dâu

    47.            Bãi Dứa

    48.            Bãi sau

    49.            Bãi Trước

    50.            Đền Hùng

    51.            Núi Nhỏ

    52.            Núi Lớn

    53.            Miếu Bà Ngũ Bang

    54.            Hải Đăng Vũng Tàu

    55.            Chùa Hải Vân

    56.            Căn cứHắc Dịch

    57.            Nhà tù Côn Đảo

    58.            Trậnđịa pháo cổvịnh Hàng Dừa

    59.            Di tích Cầu Đá

    60.            Cửa biển Lộc An

    61.            Địa đạo Kim Long

    62.            Tượng đài chiến thắng Bình Giã

    63.            Bia hình Thánh Giá

    64.            Căn cứMinh Đạm

    65.            Hang Dơi

    66.            Bưng Lùng

    67.            Hang Mai

    68.            Hang Tổ

    69.            Hang Dây Bí

    70.            Căn cứ Núi Dinh

    71.            Địa đạo Long Phước

    72.            Khu rừng Bàu Sen

    73.            Nhà Tròn Bà Rịa

    74.            Đồn nhà máy nước

    75.            Trận địa pháo cổ

    76.            Trận địa pháo cổ

    77.            Tượng Chúa Kitô

    78.            Nhà má Tám Nhung

    79.            Trụ sở Ủy ban Việt Minh

    80.            Cơ sở cách mạng 18/5 Lê Lợi

    81.            Nhà số 86 Phan Chu Trinh

    82.            Long Bàn cổ tự

    83.            Phước Lâm Tự

    84.            Linh Sơn cổ tự

    85.            Lăng Cá Ông

    86.            Miếu Bà

    87.            Đình Thắng Tam

    88.            Long Sơn

    89.            Dinh Cô

    90.            Bạch Dinh

    91.            Niết Bàn Tịnh Xá

    92.            Thích Ca phật Đài

    93.            Cẩm nang đi du lịch Vũng Tàu

    94.            Lễ Hội Dinh Cô

    95.            Ý nghĩa địa danh Bà Rịa

    96.            Một ngày trên sông nước Long Sơn

    97.            Nguồn tài nguyên du lịch

    98.            Khí hậu_thời tíêt tinh bà rịa_vũng tàu

    99.            Vị trí địa lý-tự nhiên-dân cư tỉnh bà rịa_vũng tàu

    100.           Lich su tinh vung tau