trang Blog

dongphuongTham gia: 20/05/2011
  • Bài thuyết minh city tour Thành Phố Hồ Chí Minh
    Du Lịch
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Bài thuyết minh city tour Thành Phố Hồ Chí Minh

    CITY TOUR

    Dzoãn Tiến Đạt

    LỊCH SỮ HÌNH THÀNH TP.HCM

    Năm 1698, Nguyễn Phước Chu - tức chúa Minh - sai Thống suất Nguyễn Hữu Kính (thường đọc là Cảnh) vào Nam kinh lý và lập phủ Gia Định. Nhưng trước đó, có lẽ hàng thế kỷ, nhiều sử liệu cho thấy người Việt Nam đã tới buôn bán và khẩn hoang lập ấp rải rác trong đồng bằng sông Mê Kông ở châu thổ miền Nam và sông Mê Nam bên Xiêm rồi. Biên niên sử Khơ Me chép: Năm 1618, vua Chey Chettha II lên ngôi. Ngài liền cho xây cung điện nguy nga tại U Đông, rồi cử hành lễ cưới trọng thể với một công chúa Việt Nam rất xinh đẹp con chúa Nguyễn (người ta phỏng đoán đó là công nữ Ngọc Vạn con chúa Sãi, Nguyễn Phước Nguyên). Hoàng hậu Sam Đát Việt Nam cho đem nhiều người đồng hương tới Campuchia, có người được làm quan lớn trong triều, có người làm các nghề thu công và có người buôn bán hay vận chuyển hàng hóa.

    Năm 1623, chúa Nguyễn sai một phái bộ tới yêu cầu vua Chey Chettha II cho lập đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Đây là vùng rừng rậm hoang vắng nhưng cũng là địa điểm qua lại và nghỉ ngơi của thương nhân Việt Nam đi Campuchia và Xiêm La. Chẳng bao lâu, hai đồn thu thuế trở thành thị tứ trên bến dưới thuyền, công nghiệp và thương nghiệp sầm uất.
    Giáo sĩ Ý tên Christoforo Boni sống tại thị trấn Nước Mặn gần Qui Nhơn từ năm 1681 đến năm 1622, viết hồi ký "Chúa Nguyễn phải chuyên lo việc tập trận và gởi quân sang giúp vua Campuchia - cũng là chàng rể lấy con gái hoang của chúa! Chúa viện trợ cho vua cả tàu thuyền lẫn binh lính để chống lại vua Xiêm". Borri cũng tả khá tỉ mỉ về sứ bộ của chúa Nguyễn đi Campuchia hồi 1620: "Sứ thần là người sinh trưởng tại Nước Mặn, một nhân vật quan trọng đứng sau chức tổng trấn. Trước khi lên đường, ông đã để nhiều ngày giờ bàn bạc và nhận lệnh của chúa. Sứ bộ gồm khá đông người, cả quan lẫn lính, vừa nam vừa nữ, chuyên chở trên những chiếc thuyền lớn có trang bị vũ khí và bài trí lộng lẫy. Khi sứ bộ tới kinh U Đông, thì dân chúng Khơ Me, thương nhân Bồ Đào Nha, Nhật Bản và Trung Hoa đã tụ hội đông đảo để đón tiếp và hoan nghênh. Vì sứ thần đây là người quan thuộc, đã lui tới nhiều lần, từng làm đại diện thường trú từ lâu, chứ không phải sứ giả mới tới lần đầu. Borri còn cho biết tòa sứ bộ khá quan trọng và đông đúc, nào là thê thiếp, người hầu kẻ hạ của sứ thần, nào binh sĩ giữ an ninh và phục dịch sứ bộ.
    Một giáo sĩ khác người Pháp tên là Chevreuil tới thăm Colompé (tức Pnom Penh, Nam Vang) hồi 1665 đã thấy "hai làng An Nam nằm bên kia sông, cộng số người được độ 500 mà kẻ theo đạo Công giáo chỉ có 4 hay 5 chục người". Ngoài Nam Vang, tại các nơi khác cũng có nhiều người Việt Nam sinh sống, ở thôn quê thì làm ruộng, gần phố thì buôn bán, làm thủ công hay chuyên chở ghe thuyền, kể hàng mấy ngàn người. Như ở Đất Đỏ, Bà Rịa, Bến Cá, Cù lao Phố, Mỹ Tho, Hà Tiên, v.v...
    Ngoài đồng bằng sông Mê Kông, người Việt Nam còn đến làm ăn và định cư rải rác trong đồng bằng sông Mê Nam. Lịch sử cho biết: dân tộc Thái mới lập quốc từ thế kỷ VII sau công nguyên ở giữa bán đảo Đông Dương và chủ yếu trên lưu vực sông Mê Nam. Nước này gọi là Xiêm hay Xiêm La (Siam), đến năm 1939 mới đổi tên là Thái Lan. Kinh đô Xiêm xưa ở Ayuthia, xây dựng thừ năm 150 trên một khúc quanh của sông Mê Nam cách biển gần 100 km. Theo bản đồ Loubère vẽ năm 1687, thì kinh đô Ayuthia nằm trong một hòn đảo lớn, giữa hai nhánh sông Mê Nam. Đường sá, cầu cống, phố chợ, lâu đài... được ghi khá rõ ràng. lại có thêm chú chích minh bạch như: A=Thành phố, B=cung điện, C=bến cảng, D=xưởng thủy hải quân, E=xưởng thủy ghe thuyền, F=phố thị, G=chủng viện... Chung quanh hòn đảo chính có những khu vực dành riêng cho dân Xiêm hay người nước ngoài cư trú: người Xiêm ở phía Bắc và Tây Bắc, người Hoa ở phía Đông, người Việt Nam, Mã Lai, Nhật Bản, Hòa Lan, Bồ Đào Nha ở phía Nam. Nơi người Việt ở cũng là một cù lao khá rộng, qua sông là tới phố thị kinh đô, việc đi lại giao dịch rất thuận lợi. Nhìn cách bố trí thôn trại chung quanh Ayuthia, ta có thể phỏng đoán cộng đồng người Việt ở đây khá đông và là một trong mấy nhóm ngoại quốc tới lập nghiệp sớm nhất. Trên bản đồ có ghi rõ chữ Cochinchinois nơi thôn trại Việt. Đương thời, địa danh này chỉ người Đàng Trong và cũng có thể chỉ chung người VIệt Nam, vì trước đó - trong thời gian chưa có phân ranh Trịnh Nguyễn, Tây phương dùng địa danh ấy, biến dạng bởi Giao Chỉ - Cauchi - Cauchinchina - Cochinchine để gọi chung Việt Nam. Đa số người Việt ở đây là người Đàng Trong, song cũng có người Đàng Ngoài. Họ tới định cư và lập nghiệp có lẽ từ thế kỷ XVI hay đầu thế kỷ XVII tồi, nghĩa là từ thời nhà Mạc khi trong nước rất xáo trộn là loại ly. Theo ký sự của Vachet thì cả nam nữ già trẻ. Ngoài Ayuthia, người Việt còn tới làm ăn định cư tại Chân Bôn (Chantaburi) và Bangkok là những thương điếm trung chuyển từ Hà Tiên tới kinh đô Xiêm.

    Sử Việt Nam và sử Khơ Me cùng nhất trí ghi sự kiện: Năm 1674, Nặc Ong Đài đánh đuổi vua Nặc Ong Nộn. Nộn chạy sang cầu cứu chúa Nguyễn. Chúa liền sai thống suất Nguyễn Dương Lâm đem bính đi tiến thảo, thâu phục luôn 3 lũy Sài Gòn, Gò Bích và Nam Vang (trong sử ta, địa danh Sài Gòn xuất hiện từ 1674 vậy). Đài thua chạy rồi tử trận. Chúa Nguyễn phong cho Nặc Ong Thu làm Cao Miên quốc vương đóng đô ở U Đông, cho Nặc Ong Nộn làm phó vương.
    Sử ta còn ghi rõ: năm 1679, chúa Nguyễn Phước Tần tức Hiền Vương cho "nhóm người Hoa" muốn "phục Minh chống Thanh" là Dương Ngạn Địch tới Mỹ Tho, Trần Thượng Xuyên tới Biên Hòa và Sài Gòn để lánh nạn và làm ăn sinh sống. Những nơi đó đã có người Việt tới sinh cơ lập nghiệp từ lâu. Như Trịnh Hoài Đức đã chép: các chúa Nguyễn "chưa rảnh mưu tính việc ở xa nên phải tạm để đất ấy cho cư dân bản địa ở, nối đời làm phiên thuộc ở miền Nam, cống hiến luôn luôn". Nhưng năm 1658, "Nặc Ong Chân phạm biên cảnh", Hiền Vương liền sai "phó tướng Tôn Thất Yên đem ngàn binh đi 2 tuần đến thành Mô Xoài (Bà Rịa), đánh phá kinh thành và bắt được vua nước ấy". Sau được tha tội và được phong làm Cao Miên quốc vương "giữ đạo phiên thần, lo bề cống hiến, không xâm nhiễu dân sự ở ngoài biên cương. Khi ấy địa đầu Gia Định là Mô Xoài và Đồng Nai đã có lưu dân của nước ta đên ở chung lộn với người Cao Miên khai lhẩn ruộng đất". Như vậy là từ trước 1658, Mô Xoài và Đồng Nai đã thuộc "biên cảnh" của Việt Nam.
    Bốn mươi năm sau (tức 1698), chúa Nguyễn mới sai Nguyễn Hữu Kính vào "kinh lý" miền Nam. Đó là cuộc kinh lý miền biên cảnh - khi ấy "đất đai đã mở rộng khắp miền đông Nam Bộ nay. Trên cơ sở lưu dân Việt Nam tự phát tới "khẩn hoang lập ấp", Nguyễn Hữu Kính đã lập phủ Gia Định và 2 huyện Phước Long, Tân Bình (một phần nay là TPHCM). Đúng là dân làng đi trước, nhà nước đến sau. Và miền biên cảnh Nam Bộ sáp nhập vào cương vực Việt Nam một cách thật êm thắm và hòa hợp dân tộc vậy.

    Lịch sử phát triển saigon

    Hình ảnh đầu tiên tạo nên địa thế Sài Gòn chính là vùng Bến Nghé – Sài Gòn. Vùng này xưa kia là rừng rậm đầm lầy, hoang vắng, "mênh mông rừng tràm, bạt ngàn rừng dừa", song cũng nổi tiếng là vùng đất màu mỡ phì nhiêu có đường giao thông thuận tiện.
    Năm 1698 Chúa Nguyễn sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý miền biên cảnh phía Nam, lập phủ Gia Định và thời điểm này được ghi vào lịch sử như cột mốc thời gian để tính tuổi cho thành phố
    Năm 1896, thành phố đổi tên từ "Gia Định Tỉnh" thành Sài Gòn và từ đây tên tuổi này ngày càng rực sáng trên trường quốc tế qua những hình ảnh và trang sử rất gợi nhớ: "Là trung tâm thương mại sầm uất, có thương cảng thuận tiện cho giao lưu kinh tế với nước ngoài"; "Sài Gòn hòn ngọc của Viễn Đông", "Sài Gòn có cảng Nhà Rồng, nơi Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước"; Sài Gòn còn là điểm khởi đầu của Nam Bộ kháng chiến oanh liệt. Trong kháng chiến chống Mỹ, Sài Gòn luôn đi đầu trên mọi trận tuyến, lịch sử Sài Gòn gắn liền với những trang sử đấu tranh hào hùng của công nhân, lao động, trí thức, học sinh, sinh viên và đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã tô thắm thêm cho bản anh hùng ca dựng nước và giữ nước của người Sài Gòn, của dân tộc Việt Nam kiên cường. Từ đây lịch sử đã sang trang mới, "Sài Gòn" được Quốc Hội đổi tên thành "Thành phố Hồ Chí Minh" (tháng 07/1976), và một thời kỳ mới đã bắt đầu - Thời kỳ xây dựng xã hội mới vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

    Địa danh: Gia Định – Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh
    - 1698 – 1802: Phủ Gia Ðịnh
    - 1790 – 1802: Gia Ðịnh Kinh
    - 1802 – 1808: Gia Ðịnh Trấn
    - 1808 – 1832: Gia Ðịnh Thành
    - 1836 – 1867: Tỉnh Gia Ðịnh
    - 1889 – 1975: Tỉnh Gia Ðịnh (Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Ðịnh)
    - 1976 đến nay: Thành phố Hồ Chí Minh

    300 năm địa danh gia định

    Địa danh Gia Định đã xuất hiện từ 300 năm qua, nhưng khi là phủ, là tỉnh, là toàn xứ Nam bộ, lại chỉ định những địa bàn hành chính to nhỏ rất khác nhau. Thật là phức tạp, chúng ta cần xem xét cho thấu đáo.
    1- Phủ Gia Định từ 1698 đến 1802.
    Năm 1698, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý miền Nam, thấy nơi đây đất đã mở mang "hàng ngàn dặm và có dân trên 4 vạn hộ". Để chấm dứt tình trạng lưu dân tự khẩn hoang lập ấp đó, Cảnh bèn lập phủ Gia Định để coi hai huyện: Phước Long (Biên Hòa) và Tân Bình (Sài Gòn, từ sông Sài Gòn đến sông Vàm Cỏ Đông). Diện tích rộng khoảng 30.000 km2.
    Năm 1708, Mạc Cửu xin cho trấn Hà Tiên thuộc quyền Chúa Nguyễn. Năm 1732, chúa Nguyễn cho lập châu Định Viễn và dựng dinh Long Hồ (sau là Vĩnh Long). Năm 1756, tổ chức cai trị đạo Trường Đồn (sau là Định Tường).
    Năm 1757, chúa Nguyễn cho lập các đạo Đông Khẩu, Tân Châu, Châu Đốc. Từ đó toàn miền Nam thuộc về lãnh thổ và chính quyền Việt Nam.
    Từ 1779, phủ Gia Định bao gồm cả:
    Dinh Phiên trấn (Sài Gòn)
    Dinh trấn Biên (Biên Hòa)
    Dinh Trường Đồn (Định Tường)
    Dinh Long Hồ (Vĩnh Long, An Giang).
    Trấn Hà Tiên.
    Như vậy, diện tích phủ Gia Định là diện tích toàn Nam bộ rộng khoảng 64.743 km2.
    Gia Định kinh từ 1790 đến 1802
    Sau khi thâu hồi đất Gia Định, Nguyễn Ánh cho xây thành Bát Quái rộng lớn theo cách bố phòng Vauban, theo định hướng phong thổ Aá Đông, theo mỹ thuật dân tộc Việt Nam và mệnh danh là Gia Định kinh.
    2- Gia Định trấn từ 1802 đến 1808.
    Năm 1802, Nguyễn Ánh thâu phục kinh thành Phú Xuân rồi lên ngôi và lấy đế hiệu Gia Long. Gia Long bèn hạ cấp Gia Định kinh xuống làm Gia Định trấn thành. Cải tên phủ Gia Định làm trấn Gia Định và đặt "trấn quan" để cai quản cả ngũ trấn là: trấn Phiên An, trấn Biên Hòa, trấn Định Tường, trấn Vĩnh Long, trấn Hà Tiên.
    3- Gia Định thành từ 1808 đến 1832
    Gia Định thành thay cho Gia Định trấn. Gia Định thành là đơn vị hành chính lớn cũng như Bắc thành cai quản cả xứ Bắc gồm nhiều trấn. Có lẽ phải đổi tên Gia Định trấn ra Gia Định thành để khỏi lẫn với 5 trấn dưới quyền cai quản. Từ đó, thành cai quản trấn. Để dễ phân biệt. Khi Trịnh Hoài Đức viết Gia Định thành thông chí là có ý nghiên cứu toàn hạt 5 trấn đã kể trên.
    4- Tỉnh Gia Định từ 1836 đến 1867.
    Năm 1832, sau khi Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất, Minh Mạng liền cải ngũ trấn thành lục tỉnh là Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Đổi thành Gia Định - nơi trú đóng của Tổng trấn - làm tỉnh thành Phiên An - nơi trị sở của Tổng đốc coi riêng Phiên An thôi.
    Năm 1835, sau vụ Lê Văn Khôi, Minh Mạng cho phá thành Bát Quái và xây dựng Phụng thờ nhỏ, gọi là tỉnh thành Phiên An.
    Năm 1936, cải tỉnh Phiên An ra tỉnh Gia Định. Tỉnh thành Phiên An cũng đổi ra tỉnh thành Gia Định. Tỉnh Gia Định đương thời rộng khoảng 11.560 km2.
    Năm 1859, Pháp tới chiếm Sài Gòn và phá bình địa thành Gia Định (Pháp gọi là thành Sài Gòn).
    Sau Hòa ước 1862 mất đi ba tỉnh miền Đông, Pháp vẫn chia tỉnh Gia Định làm 3 phủ như cũ: Tân Bình, Tân An, Tây Ninh.
    5- Hạt Gia Định từ 1885 đến 1889.
    Từ năm 1867, Pháp bỏ tên tỉnh Gia Định mà gọi là tỉnh Sài Gòn. Tỉnh Sài Gòn cũng là địa bàn tỉnh Gia Định trước, song không chia ra phủ huyện, mà chia ra 7 hạt tham biện (inspection), trong đó có hạt Sài Gòn (không kể thành phố Sài Gòn). Hạt Sài Gòn gồm 2 huyện Bình Dương và Bình Long. Nhưng từ năm 1872, hạt Sài Gòn gồm thêm huyện Ngãi An (Thủ Đức) nguyên thuộc tỉnh Biên Hòa.
    Năm 1885, đổi tên hạt Sài Gòn thành hạt Gia Định (có lẽ để phân biệt rõ với thành phố Sài Gòn).
    6- Tỉnh Gia Định từ 1889 đến 1975.
    Năm 1889, bỏ danh xưng hạt (arrondissement), lấy tên tỉnh cho thống nhất với toàn quốc Việt Nam. Tỉnh Gia Định là 1 trong 20 tỉnh của cả Nam Kỳ lục tỉnh cũ. Tỉnh Gia Định (thu hẹp) này chia ra 18 tổng với 200 xã thôn, rộng khoảng 1.840 km2.
    Năm 1944, thiết lập tỉnh Tân Bình trên một phần đất của tỉnh Gia Định (bắc Sài Gòn như Phú Nhuận, Phú Thọ, Hạnh Thông, Tân Sơn Nhì..., vùng Thủ Thiêm và một phần Nhà Bè). Tỉnh này chỉ tồn tại đến cuộc Cách mạng 5-1945 rồi giải thể. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, một phần không nhỏ của địa phận tỉnh Gia Định đã là căn cứ Cách mạng kháng chiến.
    Năm 1956, vùng Củ Chi được trích ra để lập thêm 2 tỉnh Hậu Nghĩa và Bình Dương, Hậu Nghĩa lấy phần đất phía tây vẫn gọi là quận Củ Chi. Bình Dương lấy phần đất phía đông gọi là quận Phú Hòa.
    Sau vụ chia cắt, Củ Chi cho 2 tỉnh Hậu Nghĩa và Bình Dương, tỉnh Gia Định (1970) còn chia ra 8 quận với 74 xã, rộng 1.499 km2. Tình hình đó tồn tại đến ngày Giải phóng 1975.
    Từ năm 1975 đến nay, địa danh Gia Định không còn dùng để chỉ bất cứ một đơn vị hành chính nào. Song nhân dân miền Nam vẫn nhớ tên đó với nhiều ấn tượng sâu sắc và tốt đẹp, Sử sách Thành phố và toàn Nam Bộ luôn nói đến Gia Định từ suốt 300 năm qua để ghi dấu bao chiến công và thành tích phát triển vượt bậc của phần đất phía Nam của Tổ quốc.

    Niên biểu 300 năm sài gòn

    1623: Chúa Nguyễn mở các trạm thu thuế ở Bến Nghé và Sài Gòn (ở quận 1 và quận 5 ngày nay).
    1679: Chúa Nguyễn lập đồn dinh ở Tân Mỹ gần ngã tư Cống Quỳnh - Nguyễn Trãi ngày nay.
    1698: Chúa Nguyễn cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, cho lập phủ Gia Định, gồm hai huyện Phước Long và Tân Bình. (Sài Gòn thuộc huyện Tân Bình)

    1731: Chúa Nguyễn cử Trương Phước Vĩnh giữ chức Điều khiển để điều hành tất cả các dinh trấn, cho xây dinh Điều Khiển tại Sài Gòn. Thống binh Trần Đại Định xây lũy Hoa Phong để bảo vệ Sài Gòn.
    1748: Lập chợ Tân Kiểng.
    1772: Điều khiển Nguyễn Cửu Đàm đào kinh Ruột Ngựa nối Sài Gòn với miền Tây. Nguyễn Cửu Đàm xây lũy Bán Bích (dài 15 dặm) để bảo vệ Sài Gòn.
    1774: Xây chùa Giác Lâm.
    1776 - 1801: Nhà Tây Sơn 5 lần vào Sài Gòn. Đáng kể nhất là tháng 6-1784, Nguyễn Huệ đem binh vào và lập nên chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút lưu truyền sử xanh, đánh tan 300 chiến thuyền và 20.000 thủy quân xâm lược Xiêm và quân Nguyễn Ánh.
    1778: Lập làng Minh Hương. Mở Chợ Lớn.
    1788: Nguyễn Ánh tái chiếm Sài Gòn.
    1790: Xây thành Bát Quái làm trụ sở chính quyền. Đổi Gia Định thành thành Gia Định kinh.

    1802: Nguyễn Ánh lên ngôi ở Huế, niên hiệu là Gia Long, chia đất phía Nam làm 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên.
    1808: Đổi Gia Định trấn thành Gia Định thành.
    1832: Lê Văn Duyệt chết; đổi Gia Định thành và 5 trấn phía Nam thành 6 tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.
    1833 - 1835: Lê Văn Khôi khởi binh.
    1835: Vua Minh Mạng phá thành Bát Quái xây thành Phụng.
    1859:
    15-2: Pháp tấn công thành Gia Định.
    17-2: Thành Gia Định thất thủ.
    1860:
    Thành lập thương cảng Sài Gòn và Sở Thương chính.
    2-2: Le Page tuyên bố mở cửa Sài Gòn cho nước ngoài vào buôn bán.
    Thống đốc Nguyễn Tri Phương cùng Phạm Thế Hiển trông coi việc quân sự ở phía Nam. Xây đại đồn Chí Hòa (Kỳ Hòa) chống Pháp.
    1861:
    24-2: Pháp đánh đồn Chí Hòa - 2 ngày sau đồn thất thủ.
    28-2: Pháp hoàn toàn chiếm Sài Gòn.
    11-4: Thống đốc Charner ban hành Nghị định quy định giới hạn Sài Gòn.
    1862: 5-6 Hòa ước Nhâm Tuất. Ký giữa Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp với Bonard. Triều đình Huế nhường cho Pháp 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường.
    1864:
    Xây xong Dinh Thống đốc Nam Kỳ (nay là Bảo tàng Cách mạng).
    Tách Sài Gòn và Chợ Lớn.
    1865: Gia Định Báo - tờ báo tiếng Việt đầu tiên ra đời.
    1867:
    4-4: Tổ chức thành phố Sài Gòn.
    8-7: Sửa nghị định 4-4-1867 và tổ chức thành phố Sài Gòn.
    1868: 23-2 Khởi công xây dinh Toàn quyền.
    1869: 27-9 Bổ nhiệm ủy viên Hội đồng thành phố Sài Gòn (có Pétrus Trương Vĩnh Ký).
    1874:
    15-3: Tổng thống Cộng hòa Pháp ký sắc lệnh thành lập thành phố Sài Gòn.
    Hòa ước Giáp Tuất: nhượng cho Pháp 6 tỉnh Nam Kỳ. Ký tại Sài Gòn giữa Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường và Thống đốc Nam Kỳ Dupré.
    1877: 7-10 Xây Nhà thờ Đức Bà (11-4-1880 khánh thành)
    1885:
    21-1: Khởi nghĩa Nguyễn Văn Bường.
    4-2: Khởi nghĩa 18 Thôn Vườn Trầu do Phan Văn Hớn và Nguyễn Văn Quá lãnh đạo. Khởi nghĩa thất bại, hai ông bị Pháp hành hình tại chợ Hóc Môn.
    1886: 11-4 Xây dựng tòa Bưu chính.

    1902: Xây cầu Bình Lợi.
    1903: Mở đường tàu điện Sài Gòn - Gò Vấp, Sài Gòn - Chợ Lớn, Gò Vấp - Hóc Môn.
    1909: Khánh thành dinh Xã Tây (Uủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ngày nay)
    1911: Nguyễn Tất Thành (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) rời Sài Gòn sang Pháp đi tìm đường cứu nước.
    1913: 24-3 Nghĩa quân Phan Xích Long ném bom và tạc đạn vào Sài Gòn Chợ Lớn.
    1916:
    16-2: Vụ phá Khám lớn Sài Gòn cứu Phan Xích Long và các đồng chí không thành.
    22-2: Phan Xích Long cùng 37 đồng chí của ông bị xử tử tại đồng Tập trận.
    1920: Tôn Đức Thắng thành lập Công hội đỏ đầu tiên của Sài Gòn.
    1925:
    Tháng 6 Phan Châu Trinh từ Pháp về Sài Gòn.
    Tháng 8 Bãi công của hơn 1.000 công nhân Ba Son. Thành lập Đảng Thanh niên - Hội kín Nguyễn An Ninh.
    1926:
    24-3: Phan Châu Trinh đột ngột tạ thế.
    4-4: Đám tang Phan Châu Trinh.
    1940:
    23-11: Khởi nghĩa Nam Kỳ.
    Các lãnh tụ của Đảng: Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập bị giặc Pháp bắt và xử bắn ở Hóc Môn.
    1945:
    15-8: Thành lập Uủy ban khởi nghĩa.
    Đêm 24 rạng 25 Sài Gòn khởi nghĩa thắng lợi.
    2-9: Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình Hà Nội. Cùng ngày ở Sài Gòn, đoàn biểu tình hoan nghênh bản Tuyên ngôn Độc lập, bị lính Pháp bắn lén.
    6-9: Quân đội Anh, Ấn đến Sài Gòn để tước vũ khí quân đội Nhật.
    23-9: Pháp chiếm Ủy ban nhân dân Nam Bộ, Quốc gia tự vệ cuộc, Đài phát thanh Sài Gòn... gây hấn ở Nam Bộ. Nhân dân Sài Gòn, nhân dân miền Nam lại bước vào cuộc kháng chiến.

    1948:
    29-3: Phá nổ 300 quả mìn ở kho đạn Bảy Hiền.
    13-9: Kho xăng Tân Sơn Nhất bị đốt cháy (18.000 lít xăng).
    1949:
    13-6: Bảo Đại về đến Sài Gòn sau 3 năm lưu vong.
    24-12: Học sinh nhiều trường bãi khóa chống ngụy quyền Bảo Đại.
    1950:
    9-1: Hàng nghìn học sinh biểu tình đòi mở cửa trường, đòi tự do cho những người bị bắt.
    12-1: Đám tang Trần Văn Ơn.
    7-2: Chính phủ Truman công nhận ngụy quyền Bảo Đại.
    19-2: Tổng lãnh sự quán Mỹ ở Sài Gòn nâng lên cấp Công sứ quán.
    16-3: Tàu chở máy bay Bốc-xa và 2 tuần dương hạm đội thuộc hạm đội 7 Mỹ cập bến Sài Gòn.
    19-3: Nhân dân Sài Gòn biểu tình phản đối chiến hạm Mỹ vào cảng dưới sự lãnh đạo của luật sư Nguyễn Hữu Thọ - "Ngày toàn quốc chống Mỹ".
    24-5: Đại diện công sứ Mỹ - Ghờ ri on thông báo bắt đầu viện trợ kinh tế cho Việt Nam, Lào, Campuchia. Đặt phái đoàn kinh tế đặc biệt ở Sài Gòn.
    29-6: Tám máy bay vận tải, viện trợ quân sự đầu tiên của Mỹ cho quân đội Pháp đến Sài Gòn.
    15-7: Phái đoàn Mỹ - Men phi (Bộ trưởng Ngoại giao) và tướng A kin, Tư lệnh Sư đoàn 1 lính thủy đánh bộ Mỹ đến Sài Gòn.
    2-8: Mỹ thiết lập phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự ở Sài Gòn (MAAG).
    17-9: Tát xi nhi, Cao ủy mới, kiêm Tư lệnh quân viễn chinh Pháp, đến Sài Gòn.
    1951: 18-11 Ngô Đình Diệm sang Mỹ được chính phủ Mỹ nuôi dưỡng trong trường thần học tiểu bang Niu Da Di.
    1952: Tháng 7 Công sứ quán Mỹ ở Sài Gòn nâng lên thành Đại sứ quán.
    1953:
    24-2: Hội đàm Pháp và chính quyền Sài Gòn ở Đà Lạt, quyết định thành lập Việt Nam quốc quân.
    20-6: Phái đoàn quân sự Mỹ đến Sài Gòn.
    1954:
    Nhân sĩ, trí thức Sài Gòn công bố Tuyên ngôn Hòa Bình.
    31-5: Đội biệt động 205 tiến công kho bom Phú Thọ Hòa. 1 triệu lít xăng và 9.345 tấn bom đạn cháy nổ suốt hai ngày đêm.
    11-6: Phái đoàn quân sự Mỹ ở Sài Gòn bắt đầu hoạt động triển khai những âm mưu chi?n tranh tâm lý chính trị.
    25-6: Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về Việt Nam.
    6-7: Thành lập chính phủ Ngô Đình Diệm ở Sài Gòn.
    1-8: Luật sư Nguyễn Hữu Thọ thành lập Uủy ban hòa bình khu Sài Gòn - Chợ Lớn, kêu gọi đấu tranh để thống nhất Việt Nam bằng tổng tuyển c? tự do.
    1955:
    12-2: Đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ bắt đầu huấn luyện quân đội của chính quyền Sài Gòn.
    8-5: Chính quyền Diệm cự tuyệt đề án tổ chức hội nghị hiệp thương bàn về tổng tuyển cử toàn quốc của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
    26-10: Bảo Đại thoái vị, Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập nước "Việt Nam Cộng hòa" và lên làm Tổng thống.
    1956:
    28-4: Tư lệnh quân viễn chinh Pháp rút khỏi Sài Gòn.
    4-6: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố "sẵn sàng dự hội nghị hiệp thương vào ngày mà nhà đương cục miền Nam Việt Nam đã lựa chọn nửa đầu tháng 6". Mỹ thiết lập "cơ quan huấn luyện tác chiến" (CATO) cho quân đội của chính quyền Diệm.
    6-7: Phó Tổng thống Mỹ Ních xơn đến Sài Gòn.
    1957:

    5-5: Ngô Đình Diệm sang thăm Mỹ và tuyên bố: "Biên giới của Mỹ kéo dài tới vĩ tuyến 17".
    1-8: Chính quyền Sài Gòn thi hành chế độ bắt lính.
    22-10: Diệm đổi "Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn" thành "Đô thành Sài Gòn".
    1958: 7-3 Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại đề nghị tổ chức hội nghị hiệp thương để bàn về tổng tuyển cử thống nhất đất nước.
    1959: 29-5 Bằng việc công bố luật "ngăn chặn hoạt động phá hoại" (luật 10/59), Ngô Đình Diệm thẳng tay đàn áp nhân dân.
    1960:
    11-11: Đại tá lục quân của quân đội Sài Gòn Nguyễn Chánh Thi làm đảo chính chống Diệm bị thất bại.
    20-12: Thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
    1961:
    9-3: Thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng khu Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định.
    19-5: Kế hoạch Xtalây Taylo "lập 17.000 ấp chiến lược" dùng chiến lược trực thăng vận, thiết xa vận hòng bình định miền Nam Việt Nam trong vòng 18 tháng.
    11-8: Mỹ quyết định cho thêm tiền để tăng quân đội của chính quyền Sài Gòn từ 17 vạn lên 20 vạn.
    11-8: Mỹ đưa sang Sài Gòn một trung đội máy bay trực thăng.
    14-8: Trong bức thư gửi Diệm, Tổng thống Kennơđi hứa sẽ tăng thêm viện trợ.
    1962:
    27-2: Hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc ném bom dinh Độc Lập.
    Năm 1962, viện trợ của Mỹ lên tới 600 triệu đôla, gấp hai lần năm 1961, bốn lần năm 1960.
    1963:
    11-6: Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu ở Sài Gòn phản đối chính sách đàn áp tín đồ Phật giáo của chính quyền Diệm.
    15-8: Chính quyền Diệm tấn công vào chùa, sinh viên biểu tình ở Sài Gòn chống lệnh giới nghiêm, hơn 2.000 học sinh và 6.000 dân thường bị bắt.
    20-8: Diệm tuyên bố thiết quân luật toàn miền Nam.
    22-8: Đại sứ Mỹ - Henry Cabot Lodge đến Sài Gòn.
    29-8: Bộ Ngoại giao Mỹ trao quyền cho Tư lệnh Ha-kin hứa hẹn với những người chỉ huy quân đội Sài Gòn là sẽ ủng hộ cuộc đảo chính lật Diệm, với điều kiện không đưa quân đội Mỹ vào.
    14-9: Mỹ thông báo kéo dài thời gian quyết định cấp viện trợ của kế hoạch nhập hàng hóa cho Nam Việt Nam (18 triệu 50 vạn đôla).
    24-9: Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ - Mác Namara đến Sài Gòn.
    1-10: Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ Tay-lo đến Sài Gòn.
    5-10: Đại đức Thích Quảng Hương tự thiêu.
    8-10: Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc quyết định cử đoàn điều tra về việc đàn áp Phật giáo (ngày 24 đến Sài Gòn).
    27-10: Đại đức Thích Thiện Mỹ tự thiêu.
    1-11: Đảo chính quân sự lật Diệm.
    2-11: Anh em Diệm, Nhu bị giết. Thành lập chính phủ lâm thời do cựu Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ cầm đầu.
    1964:
    8-2: Thành lập chính phủ mới ở miền Nam Việt Nam do Nguyễn Khánh làm Thủ tướng (tướng Dương Văn Minh làm Quốc trưởng).
    2-5: Đặc công đánh chìm chiến hạm Card cùng 24 máy bay các loại.
    18-5: Tổng thống Mỹ Giôn-xơn gửi thông điệp đặc biệt cho Quốc hội, yêu cầu cấp thêm 125 triệu đôla viện trợ cho Nam Việt Nam.
    16-8: Hội đồng quân lực của chính quyền Sài Gòn bầu tướng Nguyễn Khánh làm Tổng thống, soạn thảo hiến pháp mới.
    25-8: Đặc công đánh khách sạn Caravelle.
    3-9: Đảo chính chống Nguyễn Khánh thất bại.
    20.000 công nhân đình công ở Sài Gòn.
    15-10: Chính quyền Nguyễn Khánh xử tử người thanh niên yêu nước Nguyễn Văn Trỗi.
    31-10: Trần Văn Hương lên thay Nguyễn Khánh.
    19-12: Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên bố đã giải phóng 8 triệu người, kiểm soát 3/4 lãnh thổ.
    20-12: Phái quân sự giải tán Hội đồng quốc gia miền Nam Việt Nam. Nguyễn Cao Kỳ nhẩy lên nắm quyền hành.
    1965:
    22-1: Tín đồ Phật giáo Sài Gòn biểu tình tấn công cơ quan USIS Mỹ.
    28-1: Phan Huy Quát lên làm Thủ tướng.
    21-2: Nguyễn Khánh bị cách chức Tổng tư lệnh ba quân chủng. Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch Hội đồng quân lực.
    30-3: Tòa Đại sứ Mỹ (39 Hàm Nghi) bị hai chiến sĩ biệt động đánh bom làm hư hỏng nặng.
    10-6: Phan Huy Quát từ chức Thủ tướng. Sài Gòn chuyển sang quân quản.
    11-6: Đảo chính của Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ.
    29-7: 30 máy bay B52 cất cánh từ Ô-ki-na-oa sang ném bom phía Nam Sài Gòn.
    2-8: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên bố phản đối Liên Hợp Quốc can thiệp vào vấn đề Việt Nam.
    31-10: 650 giáo sư thuộc 21 trường đại học đăng bức thư công khai phản đối chiến tranh Việt Nam trên tờ: Thời báo New York. Lần đầu tiên bộ đội cơ giới của quân đội nhân dân theo đường Hồ Chí Minh tiến quân vào Nam.
    1966:
    17-7: Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lời kêu gọi gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước, nêu rõ: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, nhưng nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày chiến thắng, nhân dân sẽ xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn".
    3-7: Quân Mỹ ở Nam Việt Nam tăng lên 325.000 người.
    1967:
    9-1967: Khánh thành Tòa Đại sứ mới của Mỹ ở Sài Gòn.
    21-9: Thủ tướng Nhật Bản - Sa tô sang thăm Sài Gòn.
    31-9: Khánh thành Dinh Độc Lập mới.
    1968:
    29-1: Tổng thống Mỹ Giôn xơn công bố bản thông điệp về dự toán ngân sách (dự chi về Việt Nam 25 tỷ 800 triệu USD).
    30-1: Mở đầu cuộc tấn công Tết Mậu Thân (đến ngày 15-4).
    31-1: Quân Giải phóng đánh chiếm một phần Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn và đồng loạt tấn công Dinh Độc Lập, Bộ Tham mưu, Bộ Tư lệnh Hải quân, sân bay Tân Sơn Nhất, Đài phát thanh Sài Gòn...
    5-5: Nhiều nơi ở Sài Gòn thành lập Uủy ban Nhân dân Cách mạng.
    19-6: Nguyễn Văn Thiệu công bố lệnh tổng động viên.
    17-8: Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bắt đầu cuộc tổng công kích cùng với quần chúng nổi dậy.
    31-10: Mỹ buộc phải chấp thuận sự có mặt của đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Hội nghị Paris.
    12-11: Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ - Cờ líp phớt tuyên bố sẵn sàng tham gia hội đàm mở rộng Paris, dù chính quần Sài Gòn không tham dự.
    27-11: Chính quyền Sài Gòn tuyên bố tham gia vào hội đàm mở rộng Paris.
    1969:
    6-6: Thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Đại hội đại biểu nhân dân miền Nam Việt Nam bầu ra.
    21-8: Vụ thảm sát tù chính trị ở nhà lao Thủ Đức của chính quyền Sài Gòn.
    2-9: Chủ tịch Hồ Chí Minh mất (79 tuổi). Trong di chúc đề ngày 10-5, Người viết: "Còn non, còn nước, còn người, thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay. Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà".
    23-9: Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bầu cụ Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch nước.
    1970: 17-7 Đoàn Sinh viên quốc tế đến Sài Gòn tham dự "Năm Châu đấu tranh cho hòa bình ở Việt Nam".
    1971: 22-6 Thượng nghị viện Mỹ thông qua nghị án rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam trong vòng 9 tháng.
    1972: Sinh viên yêu nước Nguyễn Thái Bình từ Mỹ về, bị hạ sát trên máy bay ở sân bay Tân Sơn Nhất.
    1973:
    27-1: Sau 4 năm 9 tháng trên bàn hội nghị, Mỹ đã phải ký kết Hiệp định Paris, cam kết "tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam...".
    2-2: Uủy ban hỗn hợp 4 bên Mỹ, Việt Nam, Chính phủ Cách mạng Lâm thời, chính quyền Sài Gòn bắt đầu hoạt động.
    29-3: Bộ Tư lệnh quân Mỹ viễn chinh ở miền Nam Việt Nam làm lễ cuốn cờ về nước.
    1974:
    18-6: 301 linh mục của Giáo hội Sài Gòn ra tuyên bố lên án nạn tham nhũng trong chính quyền Sài Gòn.
    22-9: Thành lập Mặt trận nhân dân cứu đói ở Sài Gòn.
    1975:
    14-1: Cảnh sát Sài Gòn bắn chết Pôn Lê-ăng-đờ-ri, phóng viên Thông tấn xã Pháp AFP tại trụ sở cảnh sát ở Sài Gòn.
    25-1: Hội nghị Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam quyết định phát triển hơn nữa kế hoạch hai năm, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa.
    Quyết định thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn.
    1-4: Máy bay vận tải khổng lồ C5A - Ghờ-rắc-xi tăng cường chở gấp vũ khí, đạn dược từ Mỹ sang Sài Gòn. Chính phủ Cách mạng Lâm thời công bố chính sách 10 điểm về vùng mới giải phóng.
    7-4: Phi công Nguyễn Thành Trung ném bom "Dinh Độc lập".
    14-4: Chiến dịch giải phóng Sài Gòn được mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh.
    21-4: Tại Quốc hội Mỹ, Kít-sinh-giơ, Uây-ăng tuyên bố "không còn khả năng bảo vệ được Sài Gòn", Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Trần Văn Hương lên thay.
    26-4: Trần Văn Hương từ chức Tổng thống, Tướng Dương Văn Minh lên thay. Nguyễn Văn Thiệu trốn sang Đài Loan. Chính phủ Cách mạng Lâm thời đòi hỏi Mỹ ngừng can thiệp, giải tán chính quyền Sài Gòn. Cùng ngày, 17 giờ, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu.
    30-4: Quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn. Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Đến ngày 1-5, miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng.
    15-5: Lễ mừng chiến thắng.
    Tháng 9: Đổi tiền.

    1976:
    Tháng 1: Đại hội Đảng toàn quốc lần IV xác định đường lối tiến lên chủ nghĩa xã hội.
    Đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần I.
    21-1: Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu hoạt động.
    28-3: Thành lập lực lượng Thanh niên xung phong thành phố Hồ Chí Minh.
    Tháng 4: Bầu Quốc hội thống nhất toàn quốc đầu tiên và Hội đồng nhân dân các cấp.
    2-7: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời. Sài Gòn chính thức mang tên thành phố Hồ Chí Minh.
    1978: Tháng 3, cải tạo tư sản thương nghiệp toàn miền Nam.
    1979: Tháng 8, Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh ra Nghị quyết 9.
    1980:
    Nghị quyết 10 của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh.
    Nghị quyết 17 và 19 của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh về tăng cường quản lý thị trường.
    1986:
    Tháng 10: Đại hội Đảng bộ thành phố lần IV: Xác định mục tiêu chủ yếu trong 5 năm (1986-1990).
    Tháng 12 : Đại hội Đảng toàn quốc lần VI xác định đường lối đổi mới, "Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật".
    1991:
    Tháng 6: Đại hội Đảng toàn quốc lần VII thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000.
    Đại hội Đảng bộ thành phố lần V. Cương quyết vận dụng Cương lĩnh và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII.
    1996:
    Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII.
    Tháng 5 : Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VI, tổng kết 10 năm đổi mới của thành phố.
    1998: Kỷ niệm 300 Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh.
    2000: Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ VII.
    2001: Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX.

    Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam
    I/ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN:
    Đến khu vực Thảo Cầm Viên Sài Gòn, có một tòa nhà đồ sộ, uy nghi nằm bên trái, kiến trúc theo lối Á Đông đó là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Thành Phố Hồ Chí Minh. Đây là một trong những bảo tàng lâu đời nhất ở Việt Nam, đã thu hút nhiều tầng lớp nhân dân cũng như hàng vạn khách tham quan Quốc tế .
    Theo các tài liệu chúng ta được biết vào ngày 24-11-1927, thống đốc Nam Kì B.de la Brosse đã kí quyết định xây dựng 1 bảo tàng lấy tên là “Bảo tàng Nam Kì” có tính chất như là Bảo tàng mỹ thuật, lịch sử, khảo cổ và dân tộc đều chịu sự kiểm soát của thống đốc Nam Kì. Ngày 1-1-1929, bảo tàng được khánh thành mang tên Museé Blauchard de la Brosse.
    Năm 1945, khi cách mạng tháng tám thành công tại Sài Gòn, chính quyền Cách mạng đổi tên thành Bảo tàng Gia Định. Bảo tàng lại thay đổi và có tên làViện bảo tàng quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn” từ năm 1956 – 1975. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, theo quyết định số 235 – QĐUB của Uy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh kí ngày 23-9-1979, bảo tàng được chính thúc mang tên “Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – thành phố Hồ Chí Minh” cho đến ngày nay.
    Căn cứ nhiệm vụ, chức năng đã được ghi trong quyết định của UBND thành phố, bảo tàng Lịch sử Việt Nam–thành phố Hồ Chí Minh đã từng bước vừa cải tạo, xây dựng và phát triển, vừa tiếp thu, kế thừa có chọn lọc thành quả của các thời kì trước, để đáp ứng nhu cầu phục vụ trước mắt và đầu tư nghiên cứu lâu dài, xây dựng nên Bảo tàng Lịch sử Việt Nam–thành phố Hồ Chí Minh quy mô và tầm cỡ của một bảo tàng quốc gia.
    Hiện nay, Bảo tàng trưng bày giới thiệu các phần chính như sau: Lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam, các chuyên đề về lịch sử, văn hoá của khu vực phía Nam đất nước và một số nước châu Á … trải qua 16 phòng:


    + Phòng 1: Thời đại nguyên thủy
    + Phòng 2: Thời đại Hùng Vương
    + Phòng 3: Thời kì đấu tranh giành độc lập dân tộc (thế kỉ I – thế kỉ X)
    + Phòng 4: Mộ xác ướp xóm cải (TP.HCM)
    + Phòng 5: Thời Lý (thế kỉ XI – thế kỉ XIII)
    + Phòng 6: Thời Trần (thế kỉ XIII – thế kỉ XIV)
    + Phòng 7: Thời Lê (thế kỉ XV – thế kỉ XVII)
    + Phòng 8: Thời Tây Sơn (thế kỉ XVIII)
    + Phòng 9: Thời Nguyễn và phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp (thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX)
    + Phòng 10: Gốm cổ Việt Nam và các nước châu Á
    + Phòng 11: Văn hóa Oc Eo (thế kỉ I – thế kỉ VI)
    + Phòng 12: Nghệ thuật DBSCL (thế ki VII – thế kỉ XIII)
    + Phòng 13: Bến Nghé – Sài Gòn
    + Phòng 14: Nghệ thuật Chămpa
    + Phòng 15: Thành phần dân tộc Việt Nam
    + Phòng 16: Tượng Phật Việt Nam và các nước châu Á


    II/ KIẾNTRÚC BẢO TÀNG:

    *** PHÒNG 1: THỜI ĐẠI NGUYÊN THỦY***
    Nước Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Á, là một trong những nơi loài người xuất hiệt rất sớm. Những chiếc răng vượn người tìm thấy ở hang Thẩm Khuyên, Hang Hùm (Yên Bái), Thẩm Hai (Lạng Sơn) cùng vời những công cụ đá ghè đẻo thô sơ ở núi Đọ, núi Nuông (Thanh Hóa), ở Hàng Gòn, Dầu Giây (Đông Nai), núi Đất … đã chứng thực con người đã có mặt tại Việt Nam giai đoạn tối cổ cách đây 30 vạn năm. Di cốt người hiện đại (homo Sapiens) ở hang Kéo Lèng (Lạng Sơn), hang Soi Nhụ (Quảng Bình) với nền văn hoá hậu kì đá cũ Sơn Vi, cách ngày nay từ 10.000 – 40.000 năm
    Bước vào thời đại đá mới cách nay 10.000 năm, chủ nhân văn hóa miền núi, văn hóa ven biển, bên cạnh việc săn bắt và hái lượm đã biết trồng trọt câu ăn trai, rau củ …. Bước phát triển kinh tế hái lượm sang kinh tế trồng trọt kéo theo một loạt những thành quả văn hóa, kỹ thuật khác như công cụ đã được mài thành những mảnh gốm thô tìm được từ các nền văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn, Quỳnh Văn …
    Người Việt cổ bắt đầu sống định cư ổn định với xu thế tiến dần xuống miền trung du và đồng bằng ven biển, khi đến tham quan ở phòng 1 thì ta thấy bản đồ di tích xưa nhất của người Nguyên Thủy. Cho đến nay các di tích đó được tìm thấy nhiều trên thế giới nhưng tập trung nhiều nhất ở 3 khu vực: Đông Nam Phi, Đông Nam Á và Tây Nam Á.
    Ở châu Phi tìm thấy hóa thạch của người vượn và công cụ đá có niên đại sớm nhất, cách nay vài triệu năm. Vùng Đông Nam Á có các di tích răng người và di cốt dạng người đi thẳng, niên đại khoảng 500.000 – 400.000 năm cách ngày nay. Khu vực Tây Nam Á có những di tích có niên đại muộn hơn vào khoảng 100.000 năm, với các hóa thạch dạng người cổ Nêanđectan. Và khắp nơi trên thế giới, cách nay khoảng 50.000 – 40.000 năm, người hiện đại được hình thành.
    + Mô hình đầu người vượn Bắc Kinh Trung Quốc (Sianthope) cách nay khoảng 400.000 năm, hiện vật được làm lại, được tìm thấy vào năm 1927 tại Chu Khẩu Điếm. Đây là dạng người đi thẳng, sử dụng tay phải thuần thục hơn tay trái, có thể tích não gần với người hiện đại. Ngoài ra, ta còn tìm thấy được bếp lửa và công cụ đá.
    + Mô hình đầu người cồ Nêanđectan cách nay khoảng 100.000 – 40.000 năm, được phát hiện vào năm 1856 tại Neandectan – Đức. Họ biết làm ra lửa, cư trú ở những thời tiết khắc nghiệt, sẽ phát triển tiếp thành người hiện đại
    + Tranh người Nguyên Thủy dùng lửa săn thú và chế tạo công cụ: khoảng năm 150.000 – 100.000 năm cách nay, con nguời đã biết làm ra lửa bằng cách cọ xát. Lửa là 1 thành tựu văn hóa quan trọng của loài người, vì vậy con người được tách hẳn ra khỏi thế giới động vật
    + Tủ công cụ đá thuộc văn hóa Sơn Vi, được tìm thấy năm 1968, cho đến nay đã được phân bố rộng rãi ở vùng trung du, thềm phù sa cổ … di tích người vượn ở Lạng Sơn hay công cụ đá ở núi Đọ (Thanh Hóa), Đồng Nai, Sông Bé phát hiện năm 1960, đó là núi Badan. Trên núi có hàng vạn công cụ đá, kỹ thuật ghè đẻo rất vụng về thô sơ .
    + Ở Việt Nam, số lượng di tích thuộc thời đồ đá tập trung dày đặc ở các khu vục miền núi phía Bắc ( Hòa Bình), ven biển Đông Bắc (Quảng Ninh), ven biển miền Trung (Quỳnh Văn), lưu vực sông Đồng Nai … đã biết trồng lúa nước ở nhiều địa bàn khác nhau. Cùng với khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là một trong những nơi có nền văn minh nông nghiệp sớm nhất thế giới
    + Răng của người Nguyên Thủy tìm thấy ở Hang Hùm(Yên Bái) cách nay 140.000 năm
    + Hộp hình núi Đất (Long Khánh – Đồng Nai) như rìu tay công cụ chặt nạo.
    + Tủ hiện vật văn hóa Hòa Bình ở Hang Đồng Đội, Hang Phúc Lương, cách nay khoảng 10.000 năm, được phát hiện từ những năm 1924–1926. Các loại ốc là thức ăn chủ yếu của người Hoà Bình vì vỏ ốc đóng thành từng lớp dày trong hang. Họ hay dùng thổ hoàng để vẽ hay bôi lên thân mình. Nền văn hoá này được tìm thấy khắp vùng Đông Nam Á.
    + Tủ hiện vật Bắc Sơn, cách nay khoảng 8000 năm được nảy sinh trong lòng văn hóa Hoà Bình. Trong một số hang nơi đây có những hình vẽ mặt người, đầu thú … có lẽ phản ánh tín ngưỡng vật tổ của người nguyên thủy
    + Tủ hiện vật cầu sắt, phát hiện năm 1976 tại Xuân Lộc – Đồng Nai, phổ biến với rìu đá mài tam giác, cách nay 5000 năm
    + Anh di tích Khe Tong (Quảng Bình) và mộ Cồn Sò Điệp Đa Bút (Thanh Hoá), cách nay từ 5000 – 4000 năm được khai quật năm 1963 cho thấy những cồn này vừa là nơi cư trú, vừa là khu mộ táng có mộ huyệt tròn chôn người chết bó ngồi
    + Hình vẽ minh hoạ cách buộc rìu đá, được buộc vào một cán tre hay gỗ, để sử dụng dễ dàng hơn trong đời sống hàng ngày
    + Hang Con Moong (thời đại đá mới)
    + Mô hình hang phố Bình Gia (Lạng Sơn), là nơi tìm thấy di tích đầu tiên của người vượn Việt Nam. Vào giai đoạn cuối cùng của thời đại đồ đá, mật độ phân bố di tích cao hơn, các di tích có diện tích rộng hơn; chứng tỏ xóm làng đông đúc, dân số phát triển nhanh .
    Như vậy, nhìn chung vào thời nguyên thủy, bằng lao động sáng tạo của mình, con người đã từng bước cải tạo thiên nhiên và cải tạo chính mình, đã tạo nên tiền đề cho một thời đại rực rỡ trong lịch sử loài người thế giới trong đó có dân tộc Việt Nam

    *** Phòng 2: THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG***
    Là thời kì dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Xã hội nguyên thủy đã chuyển sang sự phân hóa giai cấp. Đây cũng là thời kì xây dựng nền văn minh nông nghiệp, xây dựng lối sống, tính cách và truyền thống Việt Nam. Thời đại kim khí cách nay khoảng 4000 – 2000 năm hình thành nền văn hóa sông Hồng ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.

    + Tủ hiện vật văn hóa Phùng Nguyên (Vĩnh Phú) gồm bộ sưu tập rìu đá tứ giác từ nhỏ đến lớn, một số vòng đeo tay bằng đá, bi gốm, bàn mài, và những cục rỉ đồng
    + Tủ hiện vật các thời kim khí các tỉnh phía Bắc: trưng bày sưu tập các mũi gíao, lao, kiếm, mũi tên, dao găm, tấm che ngực, khuôn đúc dao găm, tượng người cõng nhau thổi kèn …
    + Anh mũi tên đồng, lưỡi cày đồng tìm thấy ở Cổ Loa (Hà Nội): mũi tên đồng là loại mũi tên có đầu 3 cạnh và chuôi dài để cắm vào tên. Lưỡi cày đồng thời kì này có hình dáng hình cánh bướm, tam giác, trái tim … được sử dụng cùng với sức kéo của súc vật.
    + Trưng bày những hiện vật đồng đặc trưng cho văn hoá Đông Sơn: rìu lưỡi xéo, rìu lưỡi xòe cân, dao găm, lưỡi cày đồng, một số khuôn đúc … cho ta thấy được ở giai đoạn này nghề đúc đồng và luyện kim đã phát triển mạnh mẽ
    + Trống đống Hoàng Hạ – Đông Sơn: là loại trống đẹp nhất, cổ xưa nhất cũng là nguồn gốc của những loại trống khác đồng thời nó cũng tượng trưng cho thời đại vua Hùng, được tìm thấy vào năm 1937, là một trong bốn loại trống có niên đại sớm nhất ( trống Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Cổ Loa, Sông Đà). Trống có chiếu cao 61,5cm đường kính mặt trống 79cm, giữa mặt trống có ngô sao nổ 16 cánh, từ trong ra ngoài có 15 vành hoa văn, có nhiều loại hoa văn nhưng đặc trưng nhất là vành hoa văn 14 con chim mỏ dài, chân dài bay ngược chiều kim đồng hồ, đó là chim Lạc. Thân trống chia làm 3 phần: tang trống phình ra, thân thắt lại hình trụ, chân choải ra hình chóp nón cụt. Miền Bắc Việt Nam được xem là trung tâm xã hội và truyền bá sớm nhất của trống đồng Đông Sơn
    + Mô hình quan tài hình thuyền Việt Khê (Hải Phòng): được làm bằng thân cây lớn, khoét rỗng. Khi các nhà khảo cổ học tìm thấy thì bên trong nó chứa 107 hiện vật tùy táng trong đó có 97 hiện vật đồng thau như: vũ khí, đồ dùng sinh hoạt, trang sức , tượng người, nhạc khí …
    + Thạp đồng Đạo Thịnh Yên Bái, đây chỉ là hiện vật được làm lại, nhưng cũng thể hiện được sự tự hào về đúc đồng của người Việt Nam Thạp cao 81cm, đường kính thân lớn nhất 70cm, nắp thạp cao 15,5cm, đường kính 64cm đã được sử dụng làm quan tài
    + Ta thấy thêm ảnh của tượng thú nhung Đồng Đậu: đã tìm thấy khá nhiều xương các loại gia súc, gia cầm … nói lên được nghề chăn nuôi phát triển và gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp trồng trọt
    + Hiện vật dốc Chùa (Sông Bé): gồm các loại khuôn đúc, rìu, gíao đồng, rìu và đục bằng đá, vòng tay đá, dọi se chỉ bằng gốm … đã tìm thấy một số lượng khuôn đúc đồng nhiều nhất Đông Nam Á
    + Hiện vật rạch Núi (Long An) và cù lao Rùa (Sông Bé): gồm các mảnh gốm của đồ đựng, rìu, cuốc đá, dao đá … một số công cụ như lưỡi mai bằng yếm rùa, công cụ mũi nhọn bằng xương thú
    + Chum giồng cá Vồ (Cần Giờ): có diện tích lớn và mật độ phân bố dày đặc. Chiếc chum trưng bày ở đây có kích thước khá lớn, cao 65cm, đường kính miệng chum là 40cm không có nắp đậy, còn chứa nhiều đồ trang sức bằng đá và thủy tinh
    Hiện vật Phú Hòa (Đồng Nai) và văn hóa Sa Huỳnh (Quãng Ngãi): tìm thấy ở những ngôi mộ ven biển miền Trung và Đông Nam Bộ, bên trong gồm có các công cụ bằng sắt, đồ trang sức nhưng không thấy dấu vết của cốt người

    ***Phòng 3: THỜI KỲ ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC
    (THẾ KỈ I – THẾ KỈ X)***

    Sau thất bại của An dương Vương trong kháng chiến chống Triệu Đà (179 trước Công Nguyên) đất nước Việt Nam bị các thế lực phong kiến phương Bắc kế tiếp nhau cai trị và thực hiện âm mưu đồng hóa dân Việt.
    Chúng ra sức vơ vét tất cả các báu vật lạ ở phương Nam (ngà voi, ngọc trai …), tô thuế nặng nề, chiếm đất lập trang trại, nắm độc quyền sản xuất và mua bán muối, sắt, đồng thời hàng trăm cuộc khởi nghĩa chống xâm lược của nhân dân ta, khởi đầu bằng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (năm 40) đến chiến thắng Bạch Đằng (năm 938)
    Đến với phòng trưng bày này ta thấy bản đồ tái hiện các phong trào chống xâm lược của phương Bắc :
    + Năm 40: Hai Bà Trưng đánh đuổi quân Đông Hán
    + Năm 248: Triệu Thi Trinh khởi nghĩa chống quân Ngô
    + Năm 542 – 548: Lý Bí đã đánh tan bọn đô hộ nhà Lương, giảnh độc lập được 65 năm, lập nên nước Vạn Xuân, xưng Lý Nam Đế
    + Năm 550 – 602: Triệu Quang Phục kế nghiệp vua Lý Nam Đế chống Lương, xưng là Triệu Việt Vương, giữ chủ quyền trong 52 năm
    + Năm 687: Khở nghĩa Lý Tự Tiên và Đinh Kiến chống lại sự cai trị của nhà Đường
    + Năm 722: Sự đô hộ của nhà Đường sụp đổ do cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan, đóng đô ở Vạn An, xưng Mai Hắc Đế
    + Năm 766 – 791: Bố Cái Đại Vương (Phùng Hưng) lãnh đạo nhân dân chống quân nhà Đường
    + Năm 906 – 930: Khúc Thừa Dụ xưng là Tiết Độ Sứ đã khởi nghĩa chống nhà Đường, giành độc lập được 24 năm
    + Bức tranh “khởi nghĩa Hai Bà Trưng”: do 2 chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị lãnh đạo. Tháng 3 năm 40, Hai Bà Trưng đã triệu tập tướng sĩ, phát lệnh khởi nghĩa ở cửa sông Hát Giang với 4 câu thề :

    “ Một xin rửa sạch nước thù,
    Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng
    Ba kẻo oan ức lòng chồng,
    Bốn xin vẻn vẹn sở công lệnh này.”


    Trước sự tiến công mạnh mẽ của dân chúng, bọn quan lại Đông Hán đã bỏ chạy, chính quyền đô hộ sụp đổ nhanh chóng. Bà Trưng được tôn làm vua, xưng hiệu Trưng Vương, đóng đô ở Mê Linh, trị vì được 3 năm.
    + Anh đền thờ Hai Bà Trưng (Vĩnh Phú): Năm 43 sau khi thất trận bởi đạo quân xâm lược của Mã Viện, Hai bà Trưng đã gieo mình xuống Hát Giang tự vẫn. Nhân dân nhớ ơn bà, lập dền thờ hại bà tại làng Hạ Lôi – Yên Lãng. Đền thờ hai Bà vẫn còn lưu giữ đến ngày nay.
    + Một số đền thờ các anh hùng dân tộc:
     Hai Bà Trưng (Vĩnh Phú)
     Lăng Bà Triệu (Thanh Hóa)
     Đền thờ Lý Bôn (Hà Tây)
     Lăng Phùng Hưng (Hà Nội)
     Đền thờ Mai Hắc Đế (Nghệ An)
    + Hộp hình chiến thắng Bạch Đằng (năm 938): chiến thắng này đã chấm dứt thời kỳ mất nước hơn 1000 năm và đã mở ra khỉ nguyên mới, thời kì quốc gia phong kiến trên đất nước Việt Nam, chiến thắng Bạch Đằng Giang do Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân chống lại quân Nam Hán
    + Trống đồng: Mặc dù bị cấm đoán, nhân dân vẫn chế tạo sản xuất trống đồng vì nó là một vật tiêu biểu cho truyền thống dân tộc. Trống đồng thời kì Bắc thuộc có kích thước nhỏ hơn trống đồng Đông Sơn, hoa văn cũng đơn giả hơn .
    + Trống chậu bằng Đồng: Chống lại lệnh cấm dùng trống của Thái Thú nhà Hán ban hành, hàng ngày nhân dân sử dụng nó như dụng cụ sinh hoạt ngày thường nhưng khi có lễ lớn nó được chuển xuống thành trống.Điều đó đã nói lên sức sống của nền văn hóa Đông Sơn từ thời vua Hùng dựng nước.
    + Ngôi mộ cổ phía Bắc: nhiều di vật được tìm thấy ở các ngôi mộ cổ ở các tỉnh phía Bắc. Thanh Hoá Bắc Ninhcòn lưu giữ lại các viết tích của sự giao lưu văn hóa Việt – Hán, vết tích đa số bằng đồng: dao, kiếm, mũi giáo, đỉa, tô đều bằng đồng …. Vòng trang sức, bát dựng trên cổ bằng đồng
    Điều này chứng tỏ người Việt chúng ta đã tiếp nhận, sử dụng và tìm cách Việt hóa các vật dụng ngoại nhập
    Đến với bảo tàng ta còn thấy được “mộ xác uớp Xóm Cải”

    *** Phòng 4: MỘ XÁC ƯỚP XÓM CẢI***
    Tháng 11-1994 trong lúc giải tỏa mặt bằng chung cư Xóm Cải phường 8 quận 5, các nhà khảo cổ đã phát hiện mộ xác ướp. Đây là ngôi mộ song táng có 2 huyệt mộ (nam tả, nữ hữu), thi hài đặt xong trong quan tài gỗ dày phủ sơn đen, ngoài có quách gỗ. Thi hài nam còn lại 1 ít xương và một số đồ tùy táng: 7 nhẫn vàng, 1 cây quạt, 1 cây lược, 1 ống ngoáy trầu, 1 bình vôi
    Thi hài nữ cao 152cm, đã teo đét, sụn mủi và nhãn cầu mắt bị hủy hoại, tóc và móng tay chân còn chắt, các khớp chi và cỗ vẫn còn mềm mại, cổ đeo chuỗi hột bồ đề, hai cổ tay mỗi bên đeo 1 vòng vàng, thi hài được mặc nhiều lớp quần áo lụa và gấm. Trong túi nhỏ có 4 tờ giấy gồm: lòng phái qui y, bài chú vãng sanh tịnh độ, bản hồng danh 5 vị phật, bài chú mật tông, trên có phủ triện còn đọc được chữ “ Hòang Gia … “. Dưới đáy quan tài có lớp nhựa thông và Tâm Thất Tinh – tấm ván có dục thủng hình sao Bắc Đẩu. Theo nghiên cứu bước đầu, thì đây là thi hài của bà Trần Thị Hiệu mất năm 1869, thọ 60 tuổi.

    *** Phòng 5: THỜI LÝ (thế kỉ XI – thế kỉ XIII)***
    Sau chiến thắng Bạch Đằng 938, Việt Nam chấm dứt hoàn toàn thời kì mất nước kéo dài hơn 1000 năm
    Năm 981, bằng sức mạnh của quốc gia thống nhất, Lê Hoàn lãnh đạo nhân dân Đại Việt đánh tan cuộc xâm lược thứ nhất của quân Tống
    Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi vua lập ra triềi Lý. Công cuộc xây dựng đất nước được xúc tiến mạnh mẽ, quân đội được tổ chức chính quy
    Năm 1077, dân tộc Đại Việt đã đánh tan cuộc xâm lược của quân Tống lần thứ hai. Quyền bất khả xâm phạm, ý thức độc lập và chủ quyền dân tộc thể hiện qua bài thơ bất hủ của Lý Thừơng Kiệt – bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam

    “Nam quốc sơn hà nam đế cư
    Tiệt nhiên định phân tại thiên thư
    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
    Nhữ đẵng hành khang thủ bại hư “


    Sau thắng lợi, nhà Lý khẩn trương xây dựng lại đất nước, khôi phục lại kinh tế, phát triển văn hoá nghệ thuật. Có thể nói triều Lý là nhà nước phong kiến đầu tiên ở Việt Nam được thành lập và phát triển về mọt mặt
    + Bảng thống kê loạn 12 sứ quân: sau khi Ngô Quyền mất (năm 944), triều đình nảy sinh biến loạn các thế lực phong kiến nổi dậy, tranh chấp lẫn nhau dẫn đến loạn 12 sứ quân
    ° Kiều Phong Hãn chiếm giữ Phong Châu (Bạch Hạc – Vĩnh Phú)
    ° Kiều Thuận chiếm giữ Hồi Hồ (Cấm Khê – Vĩnh Phú)
    ° Nguyễn Khoan chiếm giữ Tam Đèn (Yên Khê – Vình Phú)
    ° Ngô Nhật Khánh chiếm giữ Đường Lâm (Ba Vì – Hà Tây)
    ° Đô Cảnh Thạc chiếm giữ Đỗ Đông (Thanh Oai – Hà Tây)
    ° Nguyễn Hưu Tiệp chiếm giữ Tiên Du (Tiên Sơn – Hà Bắc)
    ° Lã Đường Lâm chiếm giữ Tế Giang ( Văn Lâm – Hải Hưng)
    ° Nguyễn Siêu chiếm giữ Tây Phú Liệt (Thanh Trì - Hà Nội)
    ° Phạm Bạch Hổ chiếm giữ Đằng Châu (Kim Đồng – Hải Hưng)
    ° Trần Lãm chiếm giữ Bố Hà Khẫu Vũ Tiên - Thái Bình)
    ° Vua Ngô là Ngô Xương Xí cũng rút về chiếm giữ vùng Binh Kiều (Triệu Sơn – Thanh Hoá)
    + Đinh Tiên Hoàng đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt (năm 968): diều này nói lên tinh thần độc lập dân tộc tự chủ phủ nhận quyền bá chủ phương Bắc đã áp đặt lên dân tộc Việt Nam từ ngàn năm trước
    + Vua Đinh Tiên Hoàng đã chọn kinh thành Hoa Lư làm kinh đô mới. Vùng Hoa Lư bốn phía núi non hiểm trở, chỉ cần xây luỹ kiên cố nối liền, có thể chống lại những cuộc tấn công bất ngờ. Do thành Hoa Lư được dựng trên đất lầy, dễ lún, nên móng phải được gia cố, xử lý tốt bằng cách trải lót cành cây lẫn đất, đắp thành nhiều lớp, đá tảng đóng sâu xuống giữa móng, chân tường thành được chắc chắn
    + Chân dung Lê Đại Hành: năm 979, Đinh Tiên Hoàng bị ám hại, vua nối ngôi còn nhỏ, nội bộ triều đình xung đột. Lê Hoàn là người có uy tín nhất nên được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Lê Đại Hành, lập nên nhà tiền Lê. Ong đã lãnh đạo nhân dân chống quân Tống xâm lược lấn thứ nhất
    Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi, dặt tên nước là Đại Việt, lập ra triều Lý
    + Chế độ quan chế thời Lý:
    ° Đứng đầu là Vua rồi đến các quan chức cao cấp văn võ. Năm 1042 bộ luât Hình thư được ban hành cũng là bộ luật đầu tiên của Việt Nam. Năm 1075 mở khoa thi đầu tiên tuyển lựa nhân tài. Chứng tỏ nhà nước trung ương đã tương đối ổn định.
    + Anh lập thương cảng Vân Đồn: thương cảng này được lập ra nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hóa với nước ngoài. Thương cảng quan trọng và sầm uất nhất của Đại Việt
    + Anh phong cấp ruộng thác đao tiền và thực ấp: Vua có quyền đem một số hộ nông dân hoặc ruộng đất của công xã phong cấp cho quý tộc, quan lại cao cấp. Những người nông dân phải nộp đủ tô, thuế , lao dịch, đi lính cho người được phong. Ruộng đất do ban thưởng, phong cấp thường được gọi là “ruộng ném đất”. Tương truyền rằng người được thưởng đứng trên núi ném đao đi xa đến đâu thì chiếm đất đến đấy.
    + Tủ đựng những đồng tiền thời Lý:
    ° Thuận Thiên thông bảo (1042 – 1028)
    ° Minh Đạo thông bảo (1042 – 1162)
    ° Đại Minh thông bảo (1140 – 1162)
    Đồng tiền hình tròn, có lỗ hình vuông ở giữa, tượng trưng cho trời và đất. Bề mặt có niên hiệu vua. Bề trái thường để trơn, có khi đề chữ chỉ năm đúc, nơi đúc, giá trị tiền
    + Bản đồ chiến thắng quân Tống (1070 – 1077): Dưới triều vua Lý Nhân Tông, nhằm đối phó với tham vọng xâm lược của nhà Tống, Phụ Quốc Thái úy (tể tướng) Lý Thường Kiệt đã trực tiếp, chủ động tổ chức tiến công thẳng sang đất Tống để tự vệ. Năm 1076, thành Ung Châu bị chiếm giữ. Lý Thừơng Kiệt cho phá hủy kho trữ lương thực, dùng đá lấp sông, chặn đường tiếp viện của địch rồi nhanh chóng rút về nước, chuẩn bị cuộc kháng chiến quy mô lớn “phòng tuyến sông Cầu”. Nơi đây đã quyết định sự thảm bại của quân Tống
    + Hộp hình phòng tuyến sông Cầu ở Hà Bắc: tất cả đường bộ từ phía Đông Bắc tiến vào Thăng Long đều phải đi qua ngã sông Cầu. Lợi dụng địa thế lòng sông như một chiến hào thiên nhiên lợi hại, suốt từ chân núi Tam Đảo đến Lục Đầu, Lý Thường Kiệt đã cho đắp đất cao mấy thước, đóng tre làm dậu dày mấy tầng “sông sâu, thành cao, dậu dày” tạo thành chứơng ngại vật kiên cố làm tuyến phóng ngự lón của quân ta. Cuối năm 1076 đầu năm 1077 địch đưa muời vạn quân tác chiến và 20 vạn dân binh đánh Đại Việt theo hai đường thủy và bộ. Thủ binh Tống bị quân ta đánh bật ra khỏi vùng biển Đông Bắc, còn bộ binh chia làm hai cụm đóng bên bờ bắc sông Cầu, do những tướng giỏi của nhà Tống là Quách Qùy, Triệu Tiết chỉ huy chia làm 2 lần đột phá trận tuyến ở bến đò Như Nguyệt nhưng đều bị Lý Thường Kiệt phản kích kịp thời. Địch phải chuyển từ thế tiến công sang thế phòng ngự. Lý Thường Kiệt vượt sông bất ngờ đánh úp doanh trại chính của quân địch ở quảng sông Tháo Túc. Lực lượng địch bị chia cắt và bị tiêu diệt hơn một số quân. Tháng 3 năm 1077 quân Tống rút chạy về nước trong càng hoản loạn
    + Bia Linh Xứng: Dựng năm 1126 ghi lại thân thế sự nghiệp công lao to lớn của Lý Thường Kiệt qua các chiến công: Khâm, Liêm, Ung Châu, phòng tuyến sông Cầu, đồng thời nói lên sự ra đời và phát triển của Phật giáo thời Lý
    + Chùa Một Cột (còn gọi là chùa Diện Hựu): xây dựng năm 1049 thời vua Lý Thái Tông, xây dựng với nguy6en nhân vua nằm mơ thấy thấy Quan Am dẫn mình lên toà sen, chùa được xây để thờ Quan Thế Am Bồ Tát mang ý niệm cao cả: lòng nhân ái soi tỏ thế gian. Chùa được khôi phục năm 1954, vì chùa gốc đã bị thực dân Pháp phá huỷ trước khi chúng rút lui. Chùa Một Cột hiện nay nằm trong quần thể kiến trúc Lăng và bảo tàng Hồ Chí Minh – Hà Nội
    + Tượng A Di Đà (1057 – Hà Bắc): Đây là pho tượng quý có từ thời Lý, làm bằng đá, cao 1,87m, bệ tượng hình bát giác, có nhiếu bậc cao 0,9m, bố trí hoa văn. Tượng Phật trưng bày ở Bảo tàng được làm bằng thạch cao từ nguyên bản bằng đá, đặt ở chùa Phật Tích (Hà Tây)
    + Tủ gốm kiến trúc:
    ° Gạch thời Lý : được tìm thấy ở chùa Phật Tích với bề mặt được khắc nổi hai hàng chữ Hán theo chiều dọc:

    “Lý Gia đệ tam Đế Chương
    Thánh gia Khánh thất niên tạo”


    Có ý nghĩa được làm năm thứ 7 (1065), đời vua Lý Thánh Tông
    ° Hai khối hoa sen: Trong lòng khối hoa sen co “lõi” hình ống, rỗng, lòng nhô cao hơi loe ra, khối sen nhỏ, đường kín 0,3m, đặt trong lòng khối sen lớn đường kín 0,5m, bằng đất nung, màu đỏ gạch, chạm nổi thành 3 lớp cánh sen
    ° Khối vòm tháp: Chạm nổi cầu kì, trai chuốt hoa cúc dây uốn lượn hình sin, treong mỗi khúc uốn có hình bông cúc tròn, lá rải dều từ đầu đến cuối
    ° Mãnh kết tầng tháp: mặt ngoài chạm nổi hoa chanh 4 cánh và diềm cánh sen
    ° Hai mô hình nhà: trên thường cham hoa chanh, mái ngói hình ống, đầu ngói trang trí những cánh hoa, cửa chính có vòm cong
    ° Một pho tượng phỗng: tượng bị mất đầu, quỳ gối, hai tay buông so le.
    + Khối bề sen bằng đá Sa Thạch: đường kín 45cm, có lẽ là Phật, mặt bệ phẳng, chung quanh chạp nổi hai lớp hoa sen, mỗi lớp 16 cánh.
    + Tủ gốm gia dụng: tiêu biểu là loại gốm men ngọc, phủ ngoài cốt gồm 1 lớp men trong, dày, màu xanh lục hay màu trắng ngà. Cốt gốm cứng, rắn và nặng, được tạo dánh thanh mãnh
    + Chiếu dời đô: Vào thời Lý, công cuộc xây dựng đất nước được đẩy mạnh về mọi mặt. Nền văn hóa dân tộc được mở mang và phát triển xây dựng nên một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc – nền văn hoá Thăng Long hay nền văn hóa Lý-Trần

    ***Phòng 6: THỜI TRẦN (Thế kỉ XIII - thế kỉ XIV)***
    Năm 1266, triều Lý suy vong, triều Trần được thành lập, đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và quy luật phát triển của lịch sử
    + Bản đồ cuộc xâm lược của đế quốc Mông Cổ từ Á sang Au (thế kỉ XIII - XV): lãnh thổ đế quốc Mông Cổ Mông Cổ đã được mở rộng đến sát biên giới Đại Việt. Chính trên bước đuờng xâm lược, chúng đã vấp phải một bức lũy thép, đó là dức kháng chiến vô cùng anh dũng của nhân dân Đại Việt
    + Bàn đồ 3 lần chiên thắng quân Nguyên Mông:
    ° Lần thứ nhất (1258): với 3 vạn kị binh, bị đánh thảm bại, phải rút lui về Vân Nam
    ° Lần thứ hai (1285): với lực luợng viễn chinh lớn. Cuộc kháng chiến lần thứ hai này gay go và ác liệt, quân thù càng thất bại nhục nhã và thắng lợi của Đại Việt càng thắng lợi vang dội
    ° Lần thứ ba (1288): hủy bỏ kế hoạch xâm lược Nhật Bản để dồn lực lượng vào xâm lược Đại Việt. Lần này ngoài bộ binh, kị binh, còn tăng cường thêm thủy binh và một đoàn thuyền tải lương. Nhưng cuộc xâm lược lần thứ ba của quân thù lại bị đập tan
    + Bản liệt kê: danh nhân danh tướng thời Trần


    ° Trần Thủ Độ
    ° Trần Quốc Tuấn
    ° Trần Quang Khải
    ° Trần Nhật Duật
    ° Trần Khánh Dư



    + Ba cọc gỗ Bạch Đằng: theo kế hoạch của Trần Quốc Tuấn, quân dân ta xẻ gỗ lim, gỗ táo đẽo nhọn, cắm xuống sông tạo bãi chướng ngại vật lớn ngăn cản các chiến thuyền địch khi thủy triều xuống. Chiến thắng này đã làm thất bại âm mưu biến nước ta thành bàn đạp của đế quốc Mông Cổ để mở rộng xâm lược xuống các nước Đông Nam Á
    + Gốm trang trí "thời Trần" rât đa dạnh thường được nung, một số có phủ men, những hình tượng rồng, phượng với những nét cong tròn mềm mại tinh tế, những viên ngói Mũi Hài phủ men dày đầy đặn, gạch lát nền lớn ở phủ Thiên Trường, trên mặt gạch in nổi những hình hoa sen, cúc, chanh cách điệu
    + Thạp gốm hoa màu nâu: tìm thấy ở Thanh Hóa, cao khoảng 70cm đường kính khoảng 63cm, phản ánh tinh thần thượng võ của dân tộc Việt Nam dưới thòi Trần
    +Mô hình tháp Bình Sơn (Vĩnh Phú), tháp Phổ Minh (Biên Hòa): Ở thời Trần, Phật giáo giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần
    ° Bình Sơn (còn gọi là tháp Then hay chùa Vĩnh Khánh): Ở Tam Sơn tình Vĩnh Phúc, có 12 tầng cả bệ, cao 16m, có hoa văn trang trí
    ° Tháp Phổ Minh: ở xã Tức Mặc có 14 tầng cao trên 22m, tường dưới xây bằng đá, 13 tầng trên đều xây bằng gạch, được trang trí bằng những tượ đá bằng rồng và sóc
    + Cánh cửa chạm khắc gỗm Phổ Minh: Đây là 1 trong 4 cánh cửa bộ của chùa được làm bằng gỗ lim, lắp ngay lối đi vào chính giữa chùa. Đề tài trang trí là những hình rồng uốn khúc quen thuộc, những hoa văn són nước gợi cho chúng ta có cảm gíc uy nghi trang nghiêmtrước lúc buớc vào chiêm ngưỡng phật tổ
    + Hổ đá lăng Trần Thủ Độ (Thái Bình):biểu tượng của uy quyền nhà vua, vừa được tôn thờ như người bảo vệ đền chùa, lăng tẩm

    Sau 30 năm kháng chiến chống quân Nguyên - Mông thắng lợi (1258 - 1288), nhà Trần lúc đầu ra sức phục hồi kinh tế và phát triển văn hoá, nhưng về sau lại lo củng cố địa vị thống trị, thâu tóm những thành quả đấu tranh , xây dựng của nhân dân. Trong ti`nh trạng rối ren đó Hồ Quý Ly, một quý tộc có thế lực thời Trần , lâp ra vương triều mới, đó là triều Hồ

    ***Phòng 7: THỜI LÊ (thế kỉ XV - thế kỉ XVII)***
    Sau khi Hồ Quý Ly lật đổ triều Trần và thất bại trong kháng chiến chống quân Minh (1407). Nước Đại Việt rơi vào ách thống tri phong kiến của các nước, do các cuộc khởi nghĩa mang tính tự phát nên cuối cùng đều thất bại. Cuộc kháng chiến chống quân Minh kéo dài 10 năm trải qua bao nhiêu gian khổ, mất mát hy sinh. Năm 1427 Lê Lợi lâp đánh đuổi quân Minh lập ra triều Lê
    + Tủ vũ khí thời Lê: còn thô sơ gồm dao, kiếm, mũi lao, ngoài ra còn có khẩu súng bằng đồng, đạn bằng gang hay đá, súng ở đây có 2 khoang, 1 chứa chất nổ gắn ngòi, khoang trên chứa đạntròn bằng gang hay đá
    + Hộp hình Ai Chi Lăng (Lạng Sơn): Địa hình hiểm trở, hướng hành quân của 10 vạn quân Minh, vì vậy nơi đây rất thích hợp làm trận đại mai phục. Tháng 10-1427 giặc đã lọt vào trận địa này. Liễu Thăng bị chém đầu, quân ta đã tiêu diệt 1 vạn quân. Chiến thắng này góp phần quan trọng vào việc giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của nhà Minh
    + Chân dung Nguyễn Trãi (bản photo dệt lụa): Ong là vị anh hùng dân tộc niềm tự hào của nhân dân ta, ông là linh hồn của cuộc kháng chiến chống quân Minh
    + Một số đền thờ: Để tỏ lòng những người có công với đất nước, nhân dân Việt Nam ở mọi nơi đều dựng đền thờ tưởng niệm họ
    + Anh đền thờ Lê Lợi (Lam Sơn - Thanh Hóa), (1385-1433): Đau lòng trước cảnh nuớc mất nhà tan, ông nuôi chí diệt thù cứu nước, đem cả tài sản và tâm huyết của mình để thực hiện lý tưởng đó. Dẹp xong giặc Minh, Ông lên ngôi lập ra nhà Lê
    + Anh đền thờ Nguyễn Xí ( Nghi Hợp - Nghi Lộc - Nghệ An)
    ° 1396 - 1465: Ở làng Thượng Xà huện Chân Phúc, gia đình bản thân ông sống bằng nghề buôn muối, Ong gia nhập quân Lam Sơn, lập được nhiều chiến công oanh Liệt
    + Tiền thời Lê: Nền kinh tế phục hồi và phát triển công thương nghiệp nên nhà nước mở xưởng đúc tiền và vũ khí. Tiền thời Lê sơ không thấy có những gang, sắt, thiếc chủ yếu là bằng đồng. Có nhiều loại:
    ° Thiệu Binh Thông Bảo - đời vua Lê Thánh Tông (1434 - 1449)
    ° Đại Hoà Thông Bảo - đời vua Lê Nhân Tông (1443 - 1453)
    ° Thái Hoà Thông Bảo - đời vua Lê Nhân Tông (1443 - 1453)
    ° Diên Ninh Thông Bảo - đời vua Lê Nhân Tông (1443 - 1453)
    ° Quang Thuận Thông Bảo - đời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497)
    ° Hồng Đức Thông Bảo - đời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497)
    + Tủ con dấu thời Lê: Lam bằng, kim loại được khắc bằng chữ Hán, hình dáng kích thước được quy định bởi các cấp, tổ chức khác nhau. Ở đây có một con dấu bằng đồng tìm thấy ở Quãng Ngãi năm 1988, dấu làm vào năm 1471, lưng ghi chữ Hán: "An của Ty Thừa Tuyên Sứ cai trị xứ Quảng Nam - Ty Thượng Bảo chế tạo. Hồng Đức thứ hai (1471)".
    + Tổ chức chính quyền thời Lê
    + Sơ đồ tổ chức quân đội
    + Chế độ ruộng đất: Thời Lê chia theo hai chế độ: quân điền, Lộc Điền. Tât cả dân trong xã đều chia được ruộng, không đều nhau mà theo chức tước, bậc cấp xã hội, 6 năm được cấp 1 lần. Quan được 11 phần, dân được 2 phần rưỡi
    + Tượng Quan Am nghìn mắt, nghìn tay: được làm vào năm 1656, ý nghĩa và gía trị của bức tượng ở chổ gợi lên hình ảnh tượng trưng cho bàn tay, khối óc, lao động và trí tuệ, biểu hiện sức sống và sự vươn lên của người
    + Gốm thời Lê: làm từ loại men trắng hoa lam, có nhiều loại tô, chén, dĩa, chân đèn …
    Thời gian này có nhiều trung tâm sản xuất: gốm Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà (Bắc Hà), Chu Đậu, Hợp Lê (Hải Hưng), tới thời Mạc gốm thường ghi niên hiệu nơi làm và người sản xuất
    + Ngoài ra còn có những bản sao hiện vật như: các loại vũ khí, đầu rồng (Lam Sơn - Thanh Hoá), lân, bia tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội)

    ***Phòng 8: THỜI TÂY SƠN (Thế Kỉ XVIII)***
    Vào giai đoạn này phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn khủng
    hoảng tòan diện do sự tranh chấp giữa các tập đoàn Phong kiến
    + Xung đột Bắc - Nam(1527 - 1592)
    + Trịnh Nguyễn (1627 - 1672)
    + Bản đồ khởi nghĩa nông dân thế kỉ XVIII
    Là thời kì của phong trào nông dân chống phong kiến nổ ra ở khắp nơi cả đàng trong lẫn đàng ngoài
    Đặc biệt vào mùa xuân 1771, khởi nghĩa Tây Sơn của 3 anh em nhà Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ đã lật đổ nền thống trị của chúa Trịnh
    Đồng thời phong trào Tây Sơn còn chống lại cuộc kháng chiến chống xâm lược của quân Xiêm (Thái Lan) phía Nam và quân Thanh (Trung Quốc) phía Bắc
    + Tủ đồ gốm thời Tây Sơn: Kế thừa truyền thống và tiếp tục phát triển truyền thống "gốm Hoa Lam" thời Lê, gốm thời kì này mang tính dân tộc như bình vôi, âu dựng nước
    + Trống đồng Cảnh Thịnh: Tuy không có những hoa văn đặc sắc nhưng đã thể hiện tinh thần dân tộc, được đúc vào năm 1801
    + Chuông đồng đúc năm 1779
    + Ngoài ra còn có trên 68 hiện vật của thời kì này được trưng bày gồm: tiền, vũ khí Trung Quốc, lục lạc, bình bằng đồng, lư hương, bình, nậm rượu, tô, chén bằng gốm, tượng phật, la hán bằng gỗ
    +Bản đồ chiến thắng quân Xiêm xâm lược (1784 - 1785)
    + Hộp hình Trận Gạch Rầm - Xoài Mút (Mỹ Tho - Tiền Giang)
    ª Hộp hình đã tái hiện trận đánh oanh liệt này do Nguyễn Huệ lãnh đạo, Ong đã cho bố trí một trận địa mai phục tại đây. Thuỷ binh dấu sâu trong các nhánh sông nhỏ giữa cù lao. Bộ binh, pháo binh mai phục trên bờ. Trên cù lao giữa sông ngày 19-01-1785 địch đã kéo toàn bộ lực lượng tiến đánh Tây Sơn ở Mỹ Tho. Ong cho pháo binhbất ngờ nhả đạn làm cho địch rối loạn đội hình. Kết quả toàn bộ địch bị đánh bại, hơn 4 vạn quân xiêm bị tử trận.
    Với chiến thắng lẫy lừng đó quân dân ta đã đ165p tan âm mưu xâm lược và hành động bán nứơc của Nguyễn Anh
    + Bản đồ: Quang Trung đại phá quân Thanh
    Được tin báo cấp ngày 21-12-1788 Nguyễn Huệ lên ngôi lấy hiệu là Quang Trung, lâp tức lãnh đạo tiến qu6an ra Bắc đánh quân xâm lược
    ª Ngày 25-01-1789:Đạo quân chủ lực vượt sông Đáy mở cuộc tiến công đại phá quân Thanh
    ª Ngày 28-01-1789: bao vây và hạ Đồn Hạ Hồi
    Ngày 30-01-1789: Dùng thương binh và cảm tử quân triệt phá đồn Ngọc Hồi trong vòng 5 ngày đêm - đêm, đầu xuân Kỉ Dậu, nghĩa quân Tây Sơn đã đánh tan 30 vạn quân Thanh xâm lược
    + Hộp hình chiến thắng Ngọc Hồi : Mờ sáng ngày 30-01-1789 quân ta bước vào trận quyến chiến với địch ở đồn Ngọc Hồi. Vua Quang Trung trực tiếp chỉ huy trận công đồn ác liệt, đội tượng binh gồm 100 con voi chiến của Tây Sơn xông vào tấn công, với kị binh của quân Thanh đã xông ra nhưng nhanh chóng tan vỡ
    Bọn chúng đã bắn đại pháo, cung tên để cản đường quân ta, đội xung kích của Tây Sơn với nhiều chiến sĩ cảm tử, dùng lá chắn lớn, che mình xông vào chiến luỹ địch và gía chiến. Đạo quân Tây Sơn ào ạt xung phong trận địa trước sức mạnh của quân đồn Ngọc Hồi bị san phẳng
    + Tranh gò đồng, Xuân chiến thắng Đống Đa: Mô tả cảnh đoàn quân Tây Sơn chiến thắng do vua Quang Trung lãnh đạo, trong chiên bào nhuộm đen. Quân Tây Sơn đã tiến vào Thăng Long giữa mùa xuân rực rỡ hoa đào này mùng 5tết Kỷ Dậu - Xuân 1789
    + Tủ vũ khí thời Tây Sơn: Kỷ thuật quân sự thời Tây Sơn có nhiều bước phát triển hơn so với trước
    ª Vũ khí mang nét hơn so với trước
    ª Pa - Nô, Các lệnh chỉ về chính sách Khuyến Nông: Năm 1789, Vua Quang Trung ban bố phục hồi quân phiêu tán, khai khẩn đất bị bỏ hoang đồng thời đề ra nhiều chính sách kinh tế, chú ý phát triển nông nghiệp động viên nông dân sản xuất
    ª Quang Trung ra lệnh bãi bỏ một số thuế công thương nặng nề, mở rộng buôn bán vời nước ngoài, mở mang công cuộc phát triển. Những điều này mở ra hướng phát triển mới cho xã hội Việt Nam lúc đó

    + Chiếu dịch sách Hán ra chữ Nôm của Quang Trung: việc học được mở rộng và chế độ thi cử được chấn chỉnh. Đặc biệt Vua Quang Trung rất coi trọng chữ Nôm, muốn đưa địa vị chữ Nôm lên đại vị chữ viết chính thức của quốc gia. Ong cho lập viện Sùng Chính, để dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm nhằm dạy cho dân. Từ đó chữ Hán không còn chiếm địa vị độc tôn nữa. Đó là bước phát triển với nền văn hoá dân tộc

    ***Phòng 9: Thời Nguyễn Và Phong Trào Chống Thực Dân Pháp
    (Thế Kỉ XIX - Đầu Thế Kỉ XX)***

    + Bảng chế độ ruộng đấ thời Nguyễn:
    ª Quảng điền: Ruộng đất 3 năm chia lại 1 lần, quan Nhất Phẩm 15 phần Cửu Phẩm 8 phần, lính Cấm Binh 9 phần, Tinh binh 8 phần, dân đinh 5 phần rưỡi, mồ côi phụ nữ góa 3 phần
    ª Chính sách khẩn hoang:
    - Đồn điền
    - Doanh điền
    - Khẩn hoang ruộng đất bỏ hoang ở địa phương
    + Hình ảnh dân số xã hội Việt Nam (thế kỉ XIX - thế kỉ XX): Anh được chụp lại và phóng to, song chúng ta vẫn còn thấy được sự đón tiếp long trọng của triều Nguyễn tiếp phái đoàn nước ngoài ở kinh đô Huế
    + Hiệp ước bán nước
    + Bảng thống kê một số cuộc khởi nghĩa
    ª Khởi nghĩa Phan Bá Vành ở Thái Bình - Hải Dương (1821 - 1827)
    ª Khởi nghĩa Nùng Vằn Vân ở Tuyên Quang - Thái Nguyên.
    ª Năm 1859 - 1861, khởi nghĩa Trần Thiệu Chính, Lê Huy, Dương Đình Tân ở Gia Định giết quan ba Barbe đánh tàu Primoget.
    ª Khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá (1861 - 1868) đốt tàu Espérance ở vàm sông Nhật Tảo (Long An)
    + Tủ vũ khí của Pháp: Trong thời kì xâm lược Việt Nam, Pháp đã sử dụng nhiều phương tiện, vũ khí hiện đại như tàu, xe, đại bác … những khẩu súng trưng bày ở đây phần nào nói lên sự quy mô ác liệt của cuộc chiến tranh.
    + Tủ vũ khí quân Việt Nam: có nhiều loại dao, kiếm, mã tấu súng trường …..
    + Mô hình trận đánh tàu Espérance: Nguyễn Trung Trực đã chiêu mộ nghĩa quân và lập 1 chiến công vang dội trên vàm sông Nhật Tảo ngày 10-12-1861. Trận đánh này đã đốt cháy và đánh chìm pháo hạm Espérance, diệt 37 quân địch.
    Ông đã có câu nói nổi tiếng: "Khi nào người Tây nhổ hết cỏ nuớc Nam thì mới hết nguời Nam đánh Tây"
    + Tranh tấn phong Trưong Định là Bình Tây Đại Nguyên Soái (do hoạ sĩ Phi Hoành thực hiện năm 1986 bằng bột màu): Trương Định quê ở Bình Sơn - Quãng Ngãi, đã chiêu mộ nghĩa quân chống Pháp khi chúng đến Gia Định (1859). Sau trận đánh quyết liệt ở Sài Gòn, các tỉnh xung quanh và sau trận đánh quyết liệt trên sông Soài Rạp ngày 20-08-1864 ông đã bị thương nặng và tự xác để không bị quân địch bắt
    + Tủ một số tác phẩm của Nguyễn Ai Quốc và đảng Cộng Sản Đông Dương: tiêu biểu như "Le Paria", "Đuờng Cách Mệnh", đặc biệt là "Luận cương chính trị của đảng Cộng Sản Đông Dương", năm 1930 vạch ra đường lối đúng đắn của cách mạng Việt Nam, lãnh đạo nhân dân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
    + Tủ tiền thời Nguyễn: các vua thời này chú ý đến việc đúc tiền, mỗi vua có cách đúc tiền khác nhau
    ª Thời vua Tự Đức cho phép địa phương đúc tiền: Hà Nội, Bắc Ninh … nhưng mang lên từng địa phương
    ª Ở Bảo táng có một số loại tiền thời Nguyễn:
    Tự Đức Thông Bảo
    Đồng Khánh Thông Bảo
    Thành Thái Thông Bảo
    Duy Tân Thông Bảo
    Khải Định Thông Bảo
    Gia Long Thông Bảo
    Minh Mạng Thông Bảo
    Bảo Đại Thông Bảo
    +Tủ áo thời vua Nguyễn: Ở đây trưng bày áo vua, quan văn, quan võ. Ao vua có thêu rồng 5 móng, nền vàng, mắt rồng, có con ngươi khác biệt áo quan rồng chỉ được thêu 4 móng
    + Ngoài ra còn trưng bày đồ gỗ, khám thờ, gương gia dụng, sập gỗ cẩn ngà voi, bình phong. Đáng lưu ý là bức bình phong tại đây cho thấy đ1o là một bức tranh đệiu khắc hoàn hảo của Việt Nam ở thế kỉ XX
    + Bên cạnh đó đến phòng này chúng ta còn thấy tủ tr7ng bày đồ thủ công mỹ nghệ với những chiếc khay, hộp được cẩn xà cừ rất đẹp
    + Song song với trình độ cao về thủ công mỹ nghệ, thì nhạc cụ cổ truyền của Việt Nam thời Nguyễn đã góp phần đem lại niềm vui tinh thần lạc quan cho con người thưởng thức nó. Nhạc cụ thời này nhiều loại khác nhau: đàn bầu, đàn tranh, đàn tỳ bà, sáo tiêu, bộ gõ…
    + Tủ gốm men Lam Huế: trưng bày đa dạng: bình trà, tô, chén, dĩa … đặc trưng loại gốm này thường ở vùng Giang Tây (Trung Quốc) Nhưng đối vời những sản phẩm này do người Việt vẽ mẫu***Phòng 10: GỐM CỔ MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á***
    Tại đây giới thiệu các hiện vật gốm từ đất nung tới sành sứ, thuôc các nước châu Á như:
    + Gốm Nhật: Trưng bày 2 chiếc bình lớn men xanh trắng mỗi chiếc cao 1,67m, có niên đại từ đầu thế kỉ XVII - đầu thế kỉ XX, vớ cổ rời, vẽ hoa lá, chim, bướm, và co phủ nhũ vàngở các cánh hoa, lá ngay giữa thân bình, men ngũ sắc thuộc các dòng gốm Hizen, Satsuma …
    + Gốm Thái: tưong đối phong phú với các loại gốm Sawamkhalok và Bencharông hiện có tại bảo tàng từ trước năm 1975 và nhận về từ bảo tàng Kiên Giang - do tìm thấy trong 1 chiếc tàu đắm ở Hòn Dầm
    + Gốm Campuchia: các loại gốm đặc trưng Campuchia phát triê%n vào thế kỉ XII - XII với kĩ thuật nằn gốm bằng tay và nugn nhẹ lửa, chủ yếu là đồ dùng trong sinh hoạt, thờ cúng
    +Gốm Việt Nam: chiếm số lượng khá lớn có niên đại từ thế kỉ XVII - XIX đa phần là các đồ dùng trong sinh hoạt, thờ cúng (lư hương,bát nhang) từ lò Chu Đậu (Hải Dương), Bát Tràng (Hà Nôi), và một số loại men xanh trắng được các vua quan nhà Nguyễn đặt Trung Quốc sản xuất
    + Gốm Trung Quốc: Gốm Trung Quốc rất tinh xảo và phát triển, nó không chỉ phục vụ cho nhu cầu trong nước mà để xuất khẩu ra nước ngoài, có niên đại từ thế kỉ thứ VII - XIX (thời nhà Đường đến đời nhà Thanh). Các loại gốm từ các tỉnh Giang Tây, Phúc Kiến, Quảng Đông (Trung Quốc), một số được vớt lên từ con tàu đắm ở Hòn Dầm (Kiên Giang)
    ***PHÒNG 11: VĂN HOÁ ÓC EO (Thế Kỉ I - Thế Kỉ VI)***
    Đầu tiên khi bước vào phòng này chúng ta sẽ thấy một gian phòng trưng bày những công trình nghiên cứu của ông Vương Hồng Sển.
    Văn hoá Oc Eo :
    - Là nên văn hóa được phát triển từ thế kỉ I - VI (trước công nguyên) ở lãnh thổ đồng băng Nam Bộ.
    - Hiện nay ở Bảo tàng đã lưu giữ và sưu tập hiện vật Oc Eo phong phú , đa dạng:
    ª Tủ đồ đá: có các công cụ rìu tứ giác, rìu có vai, khuôn đúc trang sức, bàn nghiền và chày nghiền dùng để nghiền các loại hương liệu hoặc nghiền bột màu để vẽ tượng
    ª Tủ đồ đồng: Bao gồm các loại vật dụng như nhạc cụ, tượng Phật. Những dụng cụ bằng đồng có nguồn gốc bản đại đã góp phần khẳng định trình độ kĩ thuật luyện đồng đúc đồng của dân cư Óc Eo
    ª Trong nghề thủ công thì đồ gốm của dân cư Oc Eo là phát triển mạnh và chia làm 3 nhóm:
    Dụng cụ làm gồm: Chày nhào đất, bàn dập hoa văn, đồ chà láng. Chúng cũng tạo điều kiện cho việc tìm hiểu và đánh giá kĩ thuật tạo gốm thời bấy giờ
    Gốm gia dụng: Chai, tô, dĩa … . Ngoài việc sử dụng chúng trong sinh hoạt hằng ngày, cư dân Oc Eo còn dùng sản phẩm gốm trong nghề đánh cá và nghề dệt
    Gốm kiến trúc: Gạch ngói, động vật hình đỉng tháp, vật trang trí hình người
    ª Tủ đồ đá quý: Với kĩ thuật mài cưa dũa chạm … nguời dân Oc Eo đã tạo ra bông tai, con dấu chuỗi hạt mã não ngọc tím .… Qua đó ta thấy được sự hiểu biết của họ về các loại đá quý rất cao
    ª Tranh di tích Oc Eo
    ª Tủ khim loại: Thợ thủ công Oc Eo đã sử dụng kim loại để chế tạo ra đồ trang sức. Đặc biệt có sự xuất hiện của đồng tiền kim loại vàng có khắc hình hoàng đế La Mã, phù điêu Ba Tư, đồng tiền mặt trời … có nguồn gốc từ Thái Lan, hình con ốc trên đồng tiền có nguồn gốc từ Miến Điện, chứng tỏ lúc bấy giờ cư dân Oc Eo đã giao lưu Quốc tế rất rộng, đó cũng là một thời kì thịnh vượng.
    ª Sự hiện diện tượng Phật trong di tích Oc Eo chứng tỏ phật goái cũng chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc sống của họ
    ª Hình thức cư trú của cư dân Oc Eo thời bấy giờ là nhà sàn, di tích còn lại mà ta thấy ở bảo tàng đó là cột nhà sàn cách 1400 năm***Phòng 12: NGHỆ THUẬT ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
    (Thế Kỉ VII - Thế Kỉ XIII) ***

    Nơi đây trưng bày các tác phẩm bằng đá được điêu khắc bởi chính những cư dân bản địa của vùng ĐBSCL:
    - Tượng Quan Am: Đây là pho tượng Phật quý hiếm của Bảo tàng, cao 0.9m, được tìm thấy ở Ngai Hoà Thượng, tỉnh Trà Vinh, niên đại từ thế kỉ VII - VIII
    - Tượng Visnu: có niên đại từ thế kỉ VII - VIII, được tìm thấy ở Bến Tre, An Giang, Long An. Mình tượng trần, không đeo trang sức, tay cầm 4 vật: vỏ ốc đĩa tròn bông sen và gây
    - Tượng Linga và Yoni: Linga là vị thần tương trưng cho tinh thần tuyệt đối dưới hính ảnh Linga - Yoni đồng thời cũng là hình ảnh sáng tạo
    - Thần Surya: còn gọi là thần mặt trời tượng này được lảm từ TKVII tìm thấy ở An Giang và Đồng Tháp
    - Tượng Nam thần: Ở TkVII - VIII tìm thấy bắng nguyên liệu sa thạch màu xám
    - Tượng Nữ thần: tìm thấy ở Hà Tiên có niên đại sớm hơn các tượng khác, tượng không đeo trang sức, dáng người thô, mang dấu ấn điêu khắc của An Độ
    - Tượng thần Ganesa: là thần của tri thức trí tuệ, tượng mình người đầu voi, tượng là 1 vị phúc thần, người dân buôn bán luôn cầu xin để buôn bán phát đạt
    - Tượng nữ thần Uma: là vợ của Siva, có 4 tay, 2 tay giơ ngang lên đầu, tay phải cầm ốc, tay trái cầm đĩa tròn. Bên tương tạc đầu trâu dưới chân nữ thần. Tương tìm thấy ở Tây Ninh TkVIII, cao 0.9m
    - Tượng đầu thần Visnu
    - Tượng bò Nandin
    ***Phòng 13: BẾN NGHÉ - SÀI GÒN***
    + Tủ hiện vật bến đò: Di tích tìm thấy gồm rìu đá có vai, rìu đá tứ giác, đục đá, cuốc đá … . Di tích bến đò xuất hiện cách nay khảong 4000 năm
    + Hiện vật Gò Cát: Di tích Gò Cát thuộc ấp chùa Ong, xã Thạnh Mỹ Lợi, TPHCM, phát hiện năm 1985, di tích Gò Cát cách nay 3000 năm
    Mộ đất Giồng Phiệt theo giám định đó là xương của 1 người nam khoảng 50-60 tuổi , xương còn gần đầy đủduy chỉ không tìm được xương bàn chân
    Các tên gọi trước của Sài Gòn là:


    Bến Nghé - Sài Gòn
    Huyện Tân Bình
    Phủ Tân Bình
    Tỉnh Phiên An
    Tỉnh Sài Gòn
    Sài Gòn - Chợ Lớn
    Tỉnh Chợ Lớn - Tỉnh Gia Định
    Sài Gòn - Gia Định - Tân Bình
    Sài Gòn - Gia Định
    Nay gọi là Thành Phố Hồ Chí Minh


    + Mô hình: thành Gia Định xưa
    + Theo bản đồ TPHCM thì Gia Định xưa nằm ở các đường Nguyễn Đình Chiểu, Nam Kì Khởi Nghĩa, Lý Tự Trọng và Đinh Tiên Hoàng .

    ***Phòng 14: NGHỆ THUẬT CHĂMPA***
    Vương quốc Chămpa có quá trình hình thành và phát triển cuối TK II sau Công Nguyên, Nhưng tên gọi Chămpa là do 1 quốc gia thống nhất cuối TK VI, đây là nước tiếp thu ảnh hương tôn giáo Ấn Độ từ sớm, tuy nhiên Chămpa vẫn tạo những net tôn giáo văn hoá riêng của mình. Chămpa là là sự kết hợp giữa vương quyền và thần quyền đã làm chi phối mạnh ở lãnh vực văn hóa. Khi đến dây ta thấy rõ nghệ thuật điệu khắc của Chămpa sinh động nói về cuốc sống xã hội mang nét văn minh phương Đông. Những hiện vật tiêu biểu mà Bảo tàng còn lưu giữ:
    + Đầu tược quỷ Asura: Tìm thấy ở Khương Mỹ - Quãng Nam Đà Nẵng TK X.
    + Tượng nữ thần Laskmi: Theo thần thoại An Độ được coi là vợ thần Visnu và được xuất hiện trong cuộc "Quấy biển sữa" của các thần và loại quỷ để tìm thuốc trường sinh bất tử. Nữ thần còn được gọi với tên là nữ thần sắc đẹp hay nữ thần thịnh vương
    + Bệ thờ 9 vị thần: Bệ này còn được gọi là "Trụ Ngạch Cửu Tú" thường phổ biến ở Campuchia nhưng hiếm ở Chămpa. Đây cũng là bệ thờ 9 vị thần duy nhất còn được thấy ở Chămpa hiện nay .
    + Tương thần Genesa: Tượng này vào TK VIII - X, là con của thần Siva được xem là thần hộ mệnh hay phúc thần, được nhiều nơi ở châu Á tôn thờ như Chăpa Tây Tạng CampuchiaNepan Nhật Bản đến thế kỉ thứ X tôn thờ Ganesa như 1 vị thần tối cao. Không chỉ những người theo An Độ mà cả người theo Phật giáo cũng tôn thờ vị thần này vì cho rằng thần này có tài gây ra và dập tắt mọi khó khăn trở ngại, có quyên ban hay không ban mọi sự tốt lành, có quyền đồng ý hay không bất cứ việc gì.
    + Thần Indra: Tìm thấy ở TK X ở Quãng Nam - Đà Nẵng, được xem là vị thần tối cao đứng đầu các vị thần, được gọi là thần sấm sét hay thần mưa.
    + Nhóm tượng múa khăn: Với bốn hiện vật được trưng bày. Hai tượng có nguồn gốc Khương Mỹ, tượng có nguồn gốc từ Trà Kiệu Quãng Nam - Đà Nẵng. Các tượng múa hát thể hiện những động tác nhịp nhàng uyển chuyển, khoáng đạt, có thể là điệu múa "Bà bóng" trong sinh hoạt tôn giáo
    + Tu sĩ Bàlamôn: Tư thế ngồi thiền tay cầm chuỗi hạt. Nhưng quan sát kĩ có thể đây là vị Phật. Ta có thể thấy được tư thế ngồn thiền và đặc biệt là đông tác bắt ấn hiện pháp luân của Phật
    + Thần Visnu: Được coi là thần bảo vệ đền tháp và tôn giáo, tìm thấy ở Tk IX - Tk X
    + Tượng sư tử: Hình tượng sư tử tập trung ở điêu khắc Trà Kiệu. Kinh đô đầu tiên của Chămpa mang tên TP sư tử. Bốn trong năm tượng sư tử trưng bày ở đây thuộc Trà Kiệu. Hầu hết hình tượng sư tử là sư tử đực. Biểu tượng sức mạnh và quyền uy của dân tộc Chămpa
    + Tượng Maraka và Kala: tượng Maraka (thủy quái), phổ biến trong điệu khắc Trà Kiệu thừong thể hiện ở phần đầu bao giờ cũng lộ rõ vòi và hành răng. Maraka là đối tượng thờ có liên quan với lễ hiến tế của người và vật. Hiện tượng này co thể thấy qua hai vật: một là Makara đang nuốt chân người, còn hiện vật kia thể hiện Kala ( được coi là thần Hắc hay hung thần) mỗi bên hàm ngâm 1 con nai, nai được biểu hiên ở tư thế cố nhảy ra khỏi miệng của Maraka và Kala
    + Tượng chim thần Garuda: Trong số 3 hiện vật trưng bày ở đây về loại hình chim thần Garuda, hai hiện vật thuốc điêu khắc Trà Kiệu ở Tk X - XI. Và một điêu khắc tháp Mẫm - niên đại Tk XII - XIV. Chim thần Garuda bắt rắn Naga ở Chămpa mang ý nghĩa phản ánh hiện thực xã hội hơn là ý nghĩa tôn thờ của thần Visnu. Tương truyền mẹ của rắn Naga đã hạ nhục me của chim thần Garuda nên giữa chúng có mối luôn thù. Đó là chim thần Garuda bắt và giết rằn Naga.
    + Vật hình ngon lửa: một có nguồn gốc từ Phong Lệ ( Quãng Nam - Đà Nẵng). Một có nguồn gốc từ Trà Kiệu Tk X. Ngọn lửa khá phổ biến ở điêu khắc Chămpa liên quan đến truyền thống thờ thần lửa (Agni). Lửa cần cho cuộc sống hàng ngày cũng như trong các lễ tế cúng, cũng là dây liên kết giữa thần và người trần tục. Những người An giáo với tục hoả táng thì coi chết là giải thoát, vì thế thần lửa coi là đấng tu sĩ cao ban phúc lanh cho con người. Theo tương truyền thần lửa Agni được coi là anh em sinh đôi với Indra. Đôi khi Agni nhập thân với Surya (thần mặt trời).
    + Bệ thờ vú phụ nữ: Đây là loại h2inh thờ khá phổ biến ở Chămpa, đặc biệt là những điêu khắc ở Bình Định và nó trở thành đặc thù ở Chămpa từ sau Tk X. Bệ thờ hình vu có nguồn gốc từ tháp Mẫm (tháp Mắm). Mô thức này có liên quan đến tục thờ thần Uroja (vú phụ nữ)hay còn gọi là nữ thần dựng nước, gắn chặt với tục thờ quốc mẫu và chế độ mẫu hệ ở Chămpa
    Tóm lại những hiện vật về nghệ thuật ờ Chămpa được trưng bày ở phòng này tuy không nhiều nhưng phần nào cho ta thấy được sự đa dạng về hình thức thể hiện của nền nghệ thuật Chămpa nói chung và, lĩnh vực điêu khắc nó riêng đặc biệt là nội dung phản ánh về những nổi niềm và khát vọng của người dân Chămpa trong mối quan hệ giữa con người và xã hội, sự ưu tư giữa quá khứ, hiện tại và tương lai

    ***Phòng 15: THÀNH PHẦN DÂN TỘC Ở CÁC TỈNH PHÍA NAM***
    Việt Nam chúng ta gồm 54 thành phần dân tộc trải dài từ Bắc tới Nam trong đó người Kinh chiếm đông nhất, chiếm hơn 90% tổnng số dân cả nước Trong quá trình cộng cư lâu dài ỏ bên nhau, ngoài nhữ nét văn hóa mang tính chung của cả nước, mỗi dân tộc đều có đặc điểm sinh hoạt văn hóa, tính cách tâm lý thích hợp với điều kiện sống và cảnh quan địa lý của từng địa phương .
    Hiện nay ở phía Nam có hơn 20 dân tộc, trong đó ngoài dân tốc Kinh (Việt) thuộc ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á) và dân tộc Hoa gồm ngôn ngữ Hán ( ngữ hệ Hán - Tạng), còn các dân tộc khác chủ yếu 2 hệ ngôn ngữ Môn - Khơme (ngữ hệ Nam Á) và Malayô - Pôlinêdi (ngữ hệ Nam Đảo). Về chế độ xã hội, nhiều dân tốc vẫn bảo lưu đậm nét những tàn tích của chế độ mẫu hệ trong mọi mặt của đời sống, nhiều dân tộc đang trong thời kì quá độ từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ và một số dân tộc khác đã khá phát triển.
    + Phòng trưng bày chuyên đề: "thành phần dân tộc ở các tỉnh phía Nam" được xếp theo từng bộ sưu tập
    Công cụ sản xuất của các dân tốc rất phonh phú mang tính đặ trưng riêng cho từng vùng. Đối với những dân tộc sống ở vùng đồng bằng như nguời Việt, người Chăm, người Khơme thường sử dụng các công cụ như nọc cấy, phảng, vòng hái, cù nèo, lưỡi hái, là nhưng công cụ thích hợp cho việc canh tác ruộng lúa nước. Đố với những dân tộc vùng núi và cao nguyên như người Mơnông, người Mạ, người Eđê thì sử dụng các công cụ chà gạc cuốc gậy chọc lỗ thích hợp cho việc trồng lúa, hoa màu trên ruộng, nuơng rẫy. Nhưng cỹng có những loại công cụ sản xuất có chức năng giống nhau nhưng tên gọi khác nhau ở mỗi dân tộc
    " Nọc cấy ngừơi Khơme được làm nằng tre già có một đầu vót nhọn dùng để soi đất cấy lúa nước
    " Nọc cấy người Việt có hình thức khá đẹp,c án nọc cong vuốt, đều nọc thể hiện khá cầu kì, sử dụng ở ruộng thấp đất mềm
    " Phảng ngươi Việt góp phần trong việc khai phá ĐBSCL như là để chặt, chém hay phát cỏ, phát rạ
    " Đối với các dân tộc vùng tây nguyên như người Mơnông, Eđê, Mạ thì gạc của họ được sử dụng tương d0ối phổ biến cho việc phát nương trồng rẫy
    " Đối vớicác dân tộc vùng Tây Nguyên, trong sản xuất Nông nghiệp thì cuốc có vai trò quan trọng. Do ở Tây Nguyên có nhiều loại đất phức tạp nên người ta phải chế tạo nhiều loại cuốc khác nhau. Lạoi được dùng phổ biến là chông, nó được dùng để xới cỏ cuốc sơ đất không cần độ sâu
    Công cụ săn bắt và đánh cá
    " Do ở gần các sông suối nên các dụng cụ đánh bắt khá phổ biến và đa dạng ở các dân tộc. Đối với các dân tốc ở vùng đồng bằng như người Việt, Chăm, Khơme thì các công cụ tưong đối giống nhau (nọ, lờ, nơm, giỏ đựng cá … nhưng riêng chi61c "xa neng" của Khơme dùng để xúc tép - hình dáng giống ky xúc đất của ngươi Việt. Đối với các dân tộc Tây Nguyên như Eđê, Xơđăng, Cơho, Stieng cũng có nơm rọ bắt cá gàu tát nước,và đặc biệt là chĩa răng - công cụ làm bắng sắt có cán dài 2m dùng để đâm cá. Tât cả các công cụ của các dân tộc tương đối giống nhau. Nghề đ1anh bằt cá ngoài việc phục vu cho nhu cầu thực phẩm còn để trao đổ hàng hóa khi dư thừa
    Dụng cụ sinh hoạt: với 54 dân tộc thì dụng cụ sinh hoạt gia đình rất phong phú về chất liệu và loại hình
    " Đối với đồng có thau, mâm, nồi của người Việt và ngươi Khơme. Chi61c mâm của người Khơme trang trí rất đẹpdùng trong phục vụ lễ nghi tộn giáo
    " Đối với đồ dùng bằng gốm có bình đựng rược cần và bàn xoay đó là dụng cụ của dân tộc Tây Nguyên
    " Đối với đồ gỗ có khay hình vuông trang trí hoa văn hình học, khay hình tròn được dùng trong các dẹp cưới hỏi của ĐBSCL
    Đối với trang phục:
    " Đối với dân tộc phía Nam y phục cũng rất đa dạng về màu sắc va kểiu dáng và phong phú về trang trí hoa văn đã nói lên tính độc đáo của từng dân tộc, y phục dân tộc Tây Nguyên với màu sắc truyền thống (nữ mạc váy ống, áo chui đầu bó chặt lấy thân; nam mặc khố chủ yếu là màu chàm sọc). Đối với áo của ngưới Nam thì Eđê áo tay dài hẹp giữa ngực mở một đoạn và có hàng phuy, khuyết được bẹn bằng chỉ đỏ hoa văn dệ trên nền vải ở vòng nách, gấu áo, vai và cổ tay còn áo của nam Giarai cộc tay hở nách, hoa văn ở hai bên sườn áo
    " Đối ngươi Khơme ở ĐBSCL thì mặc áo dài "pàmpông" , đối vời nữ có áo chui đầu có cổ, cành tay bó chặt, bít tà 4 mãnh. Nữ Khơme mặc váy quấn "xàm pôt xôl", còn nam mắc áo bà ba. Màu chính của trang phục họ là màu đen đi kèm với nó là khăn rằn "Krama" đó là yếu tố cổ truền trong trang phục của họ
    Y phục của người chăm, đối với nữ áo dài "Ao may" may bítta dài quá gối tay và tà ôm sát người được may bằng tơ lụa có màu sắt không không là màu đen của người Khơme mà là màu tím hoặc màu xanh lá cây. Váy quần dài tới gót và nữ phải đội khăn khi đi ra ngoài (khăn đội đầu "Kaw")
    Y phục của người hồi bà Ni gồm áo váy, khăn đội đầu, khăn vắt vai dây thắt lưng.
    Đối với trang sức: Đồ trang sức thừơng làm bắng ngà voi, bạc đông thường thì trang sức ở 4 bộ phận tay, cổ tay, tai và cổ chân. Đối với tai là vòng và khuyên tai. Đồ trang sức ở cổ là là vòng và chuỗi. Đồ trang sức ở tay là vòng và nhẫn. Đồ trang sức ở chân là vòng. Đồ trang sức ngoài chức năng làm đẹp cho cơ thể còn mang ý nghĩa là 1 lời giao duyên thầm kín, một biểu hiện của tình yêu đôi lứa, một tập quán ri6eng của dân tộc …
    Nhạc cụ: khá đa dạng như người Eđê sử dụng khèn bè, người Mông gọi là "M'boăt" đó là nhạc cụ gồm 6 ống tiêu dài ngắn khác nhau được sắp xếp thành hai bè, bè hai ống, bè bốn ống được cắm vào bầu khô để khuếch đại âm thanh Trên lưng mỗi ống trúc đềy được khoét lỗ ở những vi trí khác nhau để tạo thành âm thanh, loại khèn này thích hợp với thanh niên, họ co thể tấu nhac trong những buổi lễ hoặ những nơi đông vui có nhiều trai gái hoặc thổi những điệu nhac trữ tình trên nương rẫy trong những buổi chiều tà …. Một loại nhạc cụ màkhác bằng tre nứa mà đồng bào Tây Nguyên thường sử dụng đó là đàn "Koh" của người Eđê hay "đinggơ" của người Mơnông. Hình d1ng chiếc đàn này giống như hình dáng của chiếc đàn T'rưng nhưng chỉ có 5 hoặc 6 thanh tạo nhạc và chỉ đánh trên nương rẫy, kiêng gõ trong buôn làng. Ngoài ra còn có tù và "Kipal", đàn gong của người Giarai, kèn môi của người Eđê
    nhạc cụ của người Chăm gồm Nhị mu rùa, kèn Xaranai, trồng baranưng, trống ghinăng … được sử dụng trong các lễ nghi cúng tế lễ "Chàpong", "chà rây" (lễ cầu phước) và đời sống sinh hoạt của đống bào Chăm
    Tìn ngưỡng và tôn giáo: Sưu tập hiện vật liên quan đến tín ngưỡng và tôn giáo của các dân tốc: những tượng gía mồ của các dân tộc Giarai, bộ dồ cúng của dân tộc Chăm và những tượng phật cảu các dân tộc Khơme***Phòng 16: TƯỢNG PHẬT VIỆT NAM VÀ MỘT CÁC NƯỚC CHÂU Á***
    Cho thấy tượng Phật Việt Nam và môt số nước Châu Á được giới thiệu bằng những nhóm tượng sau: Việt Nam Trung Quốc Nhật Bản Thái Lan Khơme. Nhóm tượng của những nước này với nhiều chất liệu và kích thước khác nhau :
    Tượng Việt Nam: tượng phật Adiđà, phật Thích ca sơ sinh, phật Di Lặc, tượng Quan Am với nhiều loại hình Quan Am Chuẩn Đề và Quan Am tống tử. Các tượng Phật Việt Nam có niên đại từ Tk XVII - XIX.
    Tượng Phật Thích Ca sơ sinh: đứng trên toà sen, có hai lớp cánh sen ngửa lên, dưới bệ sen là là 1 bệ 3 tần hình lục giác khắc ở giữa. Một tay chỉ đất và một tay chỉ trời, quanh tượng là vành Cưu Long, thuộc niên đại TkXIX
    Tượng Quan Am Chuẩn Đề: đây là tượng được tạc theo phong cách Bắc có niên đại từ Tk XIX, trong tư thế ngồi thiền định
    Tượng Phật Di Lặc: Tượng trong tư thế hơi ngả về phía sau có niên đại Tk XIX, tạc theo phong cách Bắc. Trên thân có 5 cậu bé ngồi trên đùi, trên tay, trên vai
    Tượng Quan Am: được làm bằng gỗ, sơn son, thiếp vàng. Tượng được tạc với đường nét đơn giản, co tính mềm mại, nêin đại vào khoảng Tk XVII - XIX, torng tư thế ngồi thiền định giống các tượng khác
    Tượng Phật chùa Khải Định: Tượng được tạc khá đẹp, thân thể cân đối, khuôn mặt tròn, đầy đặn, niên đại vào khoảng Tk XIX. Vào năm Canh Hợi, Thuận Thiên Cao hoàng Hậu đã từng ở chùa này trốn tránh sự truy bắt của quân Tây Sơn và bà đã sanh hoàng tử Đảm tại chùa, sau lên ngôi thành vua Minh Mạng. Ong đã cho trùng tu chùa nhiều lần và đã cho gởi từ Huế vào cúng chùa một pho tượng gỗ mít, sơn son thếp vàng để nhớ đức Phật và phù hộ cho mẹ ông. Năm 1859 - 1861 nơi đây đã bị Pháp chiếm làm đồn do đại úy Barbé chỉ huy va còn được gọi là đồn Barbé. Hiện nay chùa còn tấm hoanh phi do vua Minh Mạng sắc phong. Nhưng ngày nay đã được đưa vào Bảo tang Lịch sử Việt Nam
    Tủ tượng Quan Am: Nhóm tượng đều được làm bằng đồng trong tư thế giống nhau , đầu choàng khăn choàng mỏng. Đó là đặc trưng của 1 số nước châu Á nói chung và của Việt Nam nói riêng, co niên đại khoảng Tk XVIII - XIX
    Tủ tượng Phật Khơme: nhóm tương Khơme được làm bằng chất liệu bậc, đá mang đậm phong cách tạc tượng của người Khơme
    Tượng Phật Khơme: dược làm bằng gỗ, trong tư thế ngồi thiền bán kiết già, khuôn mặt mang rõ đặc trưng của người Khơme. Giữa ngực các tượng đều chạm nổi hình thoi có hoa lá cách điệu đó là nét rất độc đáo của Phật Khơme, niên đại Tk XVII - XIX
    Tượng Phật Tích Lan: có tư thế ngồi giống như Phật Khơme, rất đẹp và rõ nét đặc biệt là đỉnh Unisaphần ngọn lửa đó là phong cách đúc tượng của người Thái Lan. Ngoài tương nhỏ là hình phù điêu có hình tượng Phật rất độc đáo làm với nhiều chất liệu khác nhau như đất nung, thiếc đồng. Các phù điêu có hình phật ngồi dưới gốc bồ đề nhập Niết Bàn, Phật ngồi đựoc sự che chở của rắn Naga, có hình phù điêu Phật dưới dốc cây Sala được làm bằng chất liệu riêng của Thái Lan và Campuchia, đó là hợp chất đồng, thiếc chì kẽm sắt bạc và vàng. Nghệ thuật đúc Phật giáo của Thái Lan rất đa dạng và phong phú . Tác phẩm nghệ thuật khá độc đáo đó là tượng Phật Thích Ca
    Tượng Phật Trung Quốc: Tượng Phật ở TQ biểu tượng cho lòng bát ái vời khuôn mặt tròn đầy và búi tóc cao, phía trước tóc là vành vương miện trang trí cầu kì
    Tượng Phật Nhật Bản: Nhềiu tay nhiều mắt, Phật Adiđà ngồi trên toà sen cao 1.27m làm bằng gỗ. Khuôn mặt hình trái xoan, tóc là những loạn nhỏ dạng nụ bèo hoa mắt nhìn xuống, mũi miệng đươc tạc nhỏ. Ao choáng co nhiều nếp hài hoà, choàng qua tay trái thả tới bụng, một mãnh vắt qua vai phải thả tới nửa cánh tay, để hở bộ ngực đầy đặn của Phật
    Khi tham quan phòng này ta sẽ biết đựoc khái quát về các vị Phật của Việt Nam cũng như các nước Châu Á

    Thành phố hồ chí minh và những điểm cần thuyết minh

    THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
    Diện tích: 2.098,7m2
    Dân số (2006): 6.105.800 người
    Các quận: 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,Tân Bình, Tân Phú, Bình Thạnh
    Phú Nhuận, Thủ Đức, Gò Vấp, Bình Tân .
    Các huyện: Nhà bè, cần Giờ, Hóc Môn, Củ Chi và Huyện Bình Chánh.
    Dân tộc :Việt (Kinh), Hoa, Chăm, Khmer…
    Thành Phố Hồ Chí Minh có tọa độ địa lý 10o2213 – 11o2217 vĩ độ Bắc và 106o0125 – 107o0110 kinh độ Đông. Trung tâm Thành Phố cách Thủ Đô Hà Nội 1.730km (đường bộ) về phía Bắc và cách bờ biển Đông 50km đường chim bay. Thành Phố có 15km bờ biển.
    Thổ nhưỡng: đất của Thành Phố chủ yếu là phù sa cũ và phù sa mới tạo lập nên.
    Sông ngòi: trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh có hàng trăm sông ngòi, kênh rạch nhưng sông lớn không nhiều, lớn nhất là sông Sài Gòn mà đoạn chảy qua Thành Phố dài 106 km. Hệ thống đường sông từ Thành Phố Hồ Chí Minh lên miền Đông và xuống các tỉnh miền Tây, sang Cam-pu-chia đều thuận lợi.
    Thành Phố Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông của cả miền Nam bao gồm đường sắt, đường bộ, đường thủy và đường không. Từ Thành Phố đi hà Nội có quốc lộ 1, đường sắt thống nhất và quốc lộ 13 xuyên Đông dương, Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất cách trung tâm Thành Phố 7km, là sân bay lớn nhất ở Việt Nam với hàng chục đường bay quốc tế.
    Kí hậu hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa bình quân năm 1.979mm. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm 27,55oC, không có mùa đông. Hoạt động du lịch thuận lợi suốt 12 tháng.
    Khu vực hành chính toàn Thành Phố có 24 quận, huyện. Nội thành có các quận 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,Tân Bình, Tân Phú, Bình Thạnh,Phú Nhuận, Thủ Đức, Gò Vấp, Bình Tân .Ngoại thành có các huyện Nhà bè, cần Giờ, Hóc Môn, Củ Chi và Bình Chánh. Toàn Thành Phố có 259 phường, 58 xã, và 5 trị trấn.Dinh Thống Nhất
    I. Lịch sử hình thành Dinh Thống Nhất
    Dinh Thống Nhất (tên gọi trước đây dinh Độc Lập hay dinh Norodom) là một địa danh lịch sử quan trọng của thành phố Hồ Chí Minh.
    Năm 1858, Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Năm 1867, Pháp chiếm xong lục tỉnh Nam kỳ (Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên). Để củng cố bộ máy cai trị mới được thành lập ở Nam Kỳ, 23 tháng 2 năm 1868, Thống đốc Nam Kỳ Lagrandière đã làm lễ đặt viên đá đầu tiên khởi công xây dựng Dinh Thống đốc Nam Kỳ mới tại Sài Gòn thay cho dinh cũ được dựng bằng gỗ vào năm 1863. Dinh mới được xây dựng theo đồ án do kiến trúc sư trẻ tuổi Hermite phác thảo (người phác thảo đồ án Tòa thị sảnh Hongkong). Viên đá lịch sử này là khối đá lấy ở Biên Hòa, hình vuông rộng mỗi góc 50 cm, có lỗ bên trong chứa những đồng tiền hiện hành thuở ấy bằng vàng, bạc, đồng có chạm hình Napoleon đệ tam.
    Công trình này được xây cất trên một diện tích rộng 12 ha, bao gồm một dinh thự lớn với mặt tiền rộng 80 m2, bên trong có phòng khách chứa 800 người, và một khuôn viên rộng với nhiều cây xanh và thảm cỏ. Phần lớn vật tư xây dựng dinh được chở từ Pháp sang. Do chiến tranh Pháp - Đức 1870 nên công trình này kéo dài đến 1873 mới xong. Sau khi xây dựng xong, dinh được đặt tên là dinh Norodom và đại lộ trước dinh cũng đượt gọi là đại lộ Norodom, lấy theo tên của Quốc vương Campuchia lúc bấy giờ là Norodom (1834-1904). Từ 1871 đến 1887, dinh được dành cho Thống đốc Nam kỳ (Gouverneur de la Cochinchine) nên gọi là dinh Thống đốc. Từ 1887 đến 1945, các Toàn quyền Đông Dương (Gouverneur-général de l'Indochine Française) đã sử dụng dinh thự này làm nơi ở và làm việc nên dinh gọi là dinh Toàn quyền. Nơi ở và làm việc của các Thống đốc chuyển sang một dinh thự gần đó.
    Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương, Dinh Norodom trở thành nơi làm việc của chính quyền Nhật ở Việt Nam. Nhưng đến tháng 9 năm 1945, Nhật thất bại trong chiến tranh thế giới thứ II, Pháp trở lại chiếm Nam bộ, Dinh Norodom trở lại thành trụ sở làm việc của bộ máy chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam.
    Ngày 7 tháng 5 năm 1954, Pháp thất bại nặng nề trong chiến dịch Điện Biên Phủ, phải ký Hiệp định Genève và rút khỏi Việt Nam. Việt Nam bị chia cắt thành 2 miền, miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, còn miền Nam là Quốc Gia Việt Nam (sau thành Việt Nam Cộng Hòa). Ngày 7 tháng 9 năm 1954 Dinh Norodom được bàn giao giữa đại diện chính phủ Pháp, tướng 5 sao Paul Ely, và đại diện Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng Ngô Đình Diệm.
    Năm 1956, Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại, lên làm Tổng thống (xem thêm Cuộc trưng cầu dân ý miền Nam Việt Nam, 1955) và quyết định đổi tên dinh này thành Dinh Độc Lập. Từ đó Dinh Độc Lập trở thành nơi đại diện cho chính quyền cũng như nơi ở của tổng thống và là nơi chứng kiến nhiều biến cố chính trị. Thời kỳ này, Dinh Độc Lập còn được gọi là Dinh Tổng Thống. Theo thuật phong thủy của Dinh được đặt ở vị trí đầu rồng, nên Dinh cũng còn được gọi là Phủ đầu rồng.
    Ngày 27 tháng 2 năm 1962, hai viên phi công thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc, lái 2 máy bay AD6 ném bom làm sập toàn bộ phần chính cánh trái của dinh. (xem thêm: Vụ đánh bom Dinh tổng thống Việt Nam Cộng Hòa năm 1962. Do không thể khôi phục lại, Ngô Đình Diệm đã cho san bằng và xây một dinh thự mới ngay trên nền đất cũ theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người Việt Nam đầu tiên đạt giải Khôi nguyên La Mã.
    Dinh Độc Lập mới được khởi công xây dựng ngày 1 tháng 7 năm 1962. Trong thời gian xây dựng, gia đình Ngô Đình Diệm tạm thời chuyển sang sống tại Dinh Gia Long (nay là Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh). Công trình đang xây dựng dở dang thì Ngô Đình Diệm bị phe đảo chính ám sát ngày 2 tháng 11 năm 1963. Do vậy, ngày khánh thành dinh, 31 tháng 10 năm 1966, người chủ tọa buổi lễ là Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia. Từ ngày này, Dinh Độc Lập mới xây trở thành cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn. Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu sống ở dinh này từ tháng 10 năm 1967 đến ngày 21 tháng 4 năm 1975.
    Ngày 8 tháng 4 năm 1975, chiếc máy bay F5E do Nguyễn Thành Trung lái, xuất phát từ Biên Hòa, đã ném bom Dinh, gây hư hại không đáng kể.
    Lúc 10 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, xe tăng mang số hiệu 843 của Quân giải phóng miền Nam đã húc nghiêng cổng phụ của Dinh Độc Lập, tiếp đó xe tăng mang số hiệu 390 đã húc tung cổng chính tiến thẳng vào dinh. Lúc 11 giờ 30 phút cùng ngày, Trung úy Quân Bắc Việt Bùi Quang Thận, đại đội trưởng, chỉ huy xe 843, đã hạ lá cờ Việt Nam Cộng Hòa trên nóc dinh xuống, kéo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên, kết thúc 30 năm cuộc chiến tranh Việt Nam.
    Sau hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất hai miền Nam Bắc thành một đất nước Việt thống nhất diễn ra tại dinh Độc Lập vào tháng 11 năm 1975, để kỷ niệm, chính phủ lâm thời nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã quyết định đổi tên “Dinh Độc Lập” thành Hội trường Thống Nhất. Nơi này được đặc cách xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 77A/VHQĐ ngày 25/6/1976 của Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch).
    Ngày nay, Dinh Thống Nhất là một di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng được đông đảo du khách trong nước và nước ngoài đến tham quan và là nơi hội họp, tiếp khách của các cấp lãnh đạo trung ương cũng như thành phố.
    II. Kiến trúc độc đáo
    Dinh được xây dựng trên diện tích 4.500 m², diện tích sử dụng 20.000 m², gồm 3 tầng chính, 1 sân tượng, 2 gác lửng, tầng nền, 2 tầng hầm và một sân thượng cho máy bay trực thăng đáp xuống. Hơn 100 căn phòng của Dinh được trang trí theo phong cách khác nhau tùy theo mục đích sử dụng bao gồm các phòng khánh tiết, phòng họp hội đồng nội các, phòng làm việc của Tổng Thống và của Phó Tổng Thống, phòng trình ủy nhiệm thư, phòng đại yến, v.v... chưa kể các phần khác như hồ sen bán nguyệt hai bên thềm đi vào chánh điện, bao lơn, hành lan...
    Dinh cao 26 m, tọa lạc trong khuôn viên rộng 12 ha rợp bóng cây. Bên ngoài hàng rào phía trước và phía sau Dinh là 2 công viên cây xanh. Giữa những năm 1960, đây là công trình có quy mô lớn nhất miền Nam và có chi phí xây dựng cao nhất (150.000 lượng vàng). Các hệ thống phụ trợ bên trong Dinh hiện đại: điều hòa không khí, phòng chống cháy, thông tin liên lạc, nhà kho. Tầng hầm chịu được oanh kích của bom lớn và pháo. Mặt tiền của Dinh được trang trí cách điệu các đốt mành trúc phỏng theo phong cách các bức mành tại các ngôi nhà Việt và họa tiết các ngôi chùa cổ tại Việt Nam. Các phòng của Dinh được trang trí nhiều tác phẩm non sông cẩm tú, tranh sơn mài, tranh sơn dầu.
    Cơ quan hiện quản lý di tích văn hoá Dinh Thống Nhất có tên là Hội trường Thống Nhất thuộc Cục Hành chính Quản trị II - Văn phòng Chính Phủ. Đây là di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng được đông đảo du khách trong nước và nước ngoài đến tham quan.
    Dinh Ðộc lập là một công trình kiến trúc độc đáo của Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ. Dinh được khởi công xây dựng ngày 1 /7 / 1962 và khánh thành vào ngày 31/10/1966.
    Khi thiết kế Dinh Ðộc lập, Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ muốn tìm một ý nghĩa văn hóa cho công trình, nên mọi sự xếp đặt từ bên trong nội thất cho đến tiền diện bên ngoài, tất cả đều tượng trưng cho triết lý cổ truyền, nghi lễ Phương đông và cá tính của dân tộc. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã kết hợp hài hoà giữa nghệ thuật kiến trúc hiện đại với kiến trúc truyền thống Phương Ðông. Toàn thể bình diện của Dinh làm thành hình chữ CÁT, có nghĩa là tốt lành, may mắn; Tâm của Dinh là vị trí phòng Trình quốc thư; Lầu thượng là Tứ phương vô sự lầu hình chữ KHẨU để đề cao giáo dục và tự do ngôn luận. Hình chữ KHẨU có cột cờ chính giữa sổ dọc tạo thành hình chữ TRUNG như nhắc nhở muốn có dân chủ thì phải trung kiên. Nét gạch ngang được tạo bởi mái hiên lầu tứ phương, bao lơn danh dự và mái hiên lối vào tiền sảnh tạo thành hình chữ TAM. Theo quan niệm dân chủ hữu tam Viết nhân, viết minh, viết võ, ý mong muốn một đất nước hưng thịnh thì phải có những con ngườ i hội đủ 3 yếu tố Nhân, Minh, Võ. Ba nét gạch ngang này được nối liền nét sổ dọc tạo thành hình chữ VƯƠNG, trên có kỳ đài làm thành nét chấm tạo thành hình chữ CHỦ tượng trưng cho chủ quyền đất nước. Mặt trước của dinh thự toàn bộ bao lơn lầu 2 và lầu 3 kết hợp với mái hiên lối vào chính cùng 2 cột bọc gỗ phía dưới mái hiên tạo thành hình chữ HƯNG ý cầu chúc cho nước nhà được hưng thịnh mãi.
    Vẻ đẹp kiến trúc của Dinh còn được thể hiện bởi bức rèm hoa đá mang hình dáng những đốt trúc thanh tao bao xung quanh lầu 2. Rèm hoa đá được biến cách từ bức cửa bàn khoa của các cung điện Cố đô Huế không chỉ làm tăng vẻ đẹp của Dinh mà còn có tác dụng lấy ánh sáng mặt trời.
    Ði vào bên trong Dinh, tất cả các đuờng nét kiến trúc đều dùng đường ngay sổ thẳng, các hành lang, đại sảnh, các phòng ốc đều lấy câu chính đại quang minh làm gốc.
    Sân trước của Dinh là một thảm cỏ hình oval có đường kính 102m. Màu xanh rì của thảm cỏ tạo ra một cảm giác êm dịu, sảng khoái cho khách ngay khi bước qua cổng.
    Chạy dài theo suốt chiều ngang của đại sảnh là hồ nước hình bán nguyệt. Trong hồ thả hoa sen và hoa súng gợi nên hình ảnh những hồ nước yên ả ở các ngôi đình, ngôi chùa cổ kính của Việt Nam.
    Dinh có diện tích 120.000m2 (300m x 400m), được giới hạn bởi 4 trục đường chính đó là:
    - Ðường Nam Kỳ Khởi Nghĩa ở phía Ðông Bắc (mặt chính của Dinh)
    - Ðường Huyền Trân Công Chúa ở phía Tây Nam (mặt sau của Dinh)
    - Ðường Nguyễn Thị Minh Khai ở phía Tây Bắc (phía bên trái Dinh)
    - Ðường Nguyễn Du ở phía Ðông Nam (phía bên phải Dinh)
    Dinh có 04 khu oh
    - Khu nhà chính hình chữ T diện tích mặt bằng là 4.500m2, cao 26m, nằm ở vị trí trung tâm của khu đất. Ðây từng là nơi ở và làm việc Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn. Khu này có 03 tầng lầu, 2 gác lửng, 1 sân thượng, 1 tầng nền và 1 tầng hầm. Tổng diện tích sử dụng là 20.000m2 chia làm 95 phòng. Mỗi phòng có 1 chức năng riêng, kiến trúc và các trang trí phù hợp với mục đích sử dụng của mỗi phòng. Sau 1975, khu nhà chính này tiếp tục được sử dụng một số phòng, còn lại để phục vụ du khách tham quan.
    - Khu nhà 2 tầng diện tích 8m x 20m phía đường Nguyễn Du trước 1975 là trụ sở làm việc của Ðảng Dân chủ. Sau năm 1975 là nơi làm việc của Ban giám đốc Hội trường Thống Nhất.
    - Khu 04 nhà 2 tầng phía góc đường Nguyễn Du - Huyền Trân Công Chúa trước 1975 là khu nhà ở của tiểu đoàn bảo vệ Dinh Ðộc lập. Sau 1975 là nơi ở của Ðại đội 1 trung đoàn cảnh vệ 180. Hiện nay khu này đã được cải tạo thành khu nhà khách của Văn phòng Chính phủ.
    - Khu nhà trệt phía góc đường Huyền Trân Công Chúa - Nguyễn Thị Minh Khai, trước 1975 là khu sinh hoạt của đội cận vệ phi hành đoàn lái máy bay cho Nguyễn Văn Thiệu, của bộ phận chăm sóc vườn cây. Hiện đã được cải tạo thành khu nhà nghỉ trưa và bếp ăn tập thể của cán bộ công nhân viên Hội trường Thống Nhất.

    Tên gọi dinh Thống Nhất qua các thời kì

    Năm 1868, sau khi chiếm xong Lục tỉnh Nam kỳ, thực dân Pháp đã cho xây dựng tại đây một dinh thự. Lúc đầu Dinh là nơi ở của Thống đốc Nam kỳ. Từ năm 1887 (17/10/1887), khi Tổng thống Pháp ký sắc lệnh thành lập Liên bang Ðông dương thì Dinh trở thành Phủ toàn quyền Pháp tại Ðông Dương với tên gọi là Dinh Norodom.
    Năm 1954, sau thất bại ở Ðiên Biên Phủ, theo hiệp định Genève quân viễn chinh Pháp phải rút khỏi Việt nam. Ngày 7/9/1954 Ðại tướng Paul Ely, Cao ủy Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Ðông dương thay mặt cho nước Pháp đã trao Dinh Norodom cho đại diện nhà cầm quyền Sài gòn là Thủ tướng Ngô Ðình Diệm. Buổi lễ chuyển giao này được coi như một biểu tượng của nền độc lập quốc gia, vì thế ngày 8/9/1954 Ngô Ðình Diệm đã chính thức đổi tên dinh Norodom thành Dinh Ðộc lập.
    Ngày 30/4/1975, giờ phút chiếm Dinh Ðộc lập cũng là giờ phút kết thúc thắng lợi chiến dịch Hồ Chí Minh và chiến dịch giải phóng hoàn toàn miền Nam. Dinh Ðộc lập trở thành điểm hội tụ của chiến thắng. Tháng 11/1975, Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất hai miền Nam Bắc đã diễn ra tại đây. Với những ý nghĩa lịch sử trọng đại đó, năm 1976 Dinh đã được Nhà nước đặc cách công nhận là Di tích lịch sử văn hóa Dinh Ðộc lập (Quyết định số 77A/VHQÐ ngày 25/6/1976).
    Ngoài những tên gọi pháp lý như trên, trong nhân dân dinh thự này còn có những tên gọi khác tùy theo từng thời kỳ như:
    Thời Pháp thuộc còn gọi là Dinh toàn quyền.
    Thời Việt nam Cộng hòa còn gọi là Dinh Tổng Thống. Và theo thuật phong thủy Dinh được đặt ở vị trí đầu rồng nên còn gọi là Phủ đầu rồng.
    Sau Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất hai miền Nam Bắc còn gọi là Hội trường Thống Nhất hay Dinh Thống Nhất.
    Cơ quan hiện được giao quản lý di tích văn hoá Dinh Ðộc lập có tên là Hội trường Thống Nhất thuộc Cục Hành chính Quản trị II - Văn phòng Chính Phủ.
    III. Hoạt động
    Hoạt động ngày nay:
    Di tích lịch sử văn hoá Dinh Độc Lập nằm tại trung tâm thành phố Hồ Chí Minh.Dinh vừa là điểm tham quan du lịch lý tưởng, vừa là nơi tổ chức các cuộc hội nghị, hội thảo, tiếp khách của các cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài nước; với các phòng họp sang trọng sức chứa từ 100 đến 500 người được trang bị đầy đủ tiện nghi như:hệ thống điều hoà nhiệt độ, hệ thống âm thanh và ánh sáng chuẩn, hệ thống phiên dịch điện tử, máy slide, máy overhead, máy projector...
    Nằm trong khuôn viên Dinh còn có khu nhà khách 108 Nguyễn Du Q1 với 45 phòng nghỉ tiện nghi, thoáng mát, phòng họp có sức chứa 150 người; nhà hàng phục vụ liên hoan, sinh nhật, đám cưới từ 35 bàn trở xuống với các thực đơn đa dạng, đội ngũ bếp và nhân viên phục vụ lịch sự, chu đáo, tận tình.
    Hoạt động phục vụ du khách tham quan:
    Giờ bán vé:
    - Sáng từ 7h30 đến 11h00
    - Chiều từ 13h00 đến 16h00
    Mở cửa phục vụ tham quan hàng ngày (kể cả thứ bảy, chủ nhật và Lễ Tết).
    Giá vé:
    - 15.000đ/người lớn
    - 2.000đ/trẻ em
    Nếu là khách Việt nam đi theo đoàn trên 20 người lớn được giảm 30%.
    Chương trình tham quan:
    Du khách sẽ được đội ngũ hướng dẫn viên Hội trường Thống Nhất hướng dẫn tham quan, thuyết minh về kiến trúc, trang trí và nội dung lịch sử liên quan đến 15 phòng của 3 tầng lầu, lầu tứ phương, tầng hầm và nhà bếp bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh, Pháp, Hoa, Nhật ( thời gian tham quan khoảng 45 phút ). Sau chương trình tham quan, du khách được xem bộ phim tư liệu chứng nhân lịch sử tại phòng chiếu phim máy lạnh thời gian khoảng 35 phút.


    BẢO TÀNG CHIẾN TÍCH CHIẾN TRANH
    LỜI MỞ ĐẦU
    Bảo tàng chứng tích chiến tranh nằm trong hệ thống các bảo tàng tại thành phố Hồ Chí Minh và hệ thống Bảo tàng vì hòa bình thế giới. Đây là bảo tàng chuyên nghiên cứu, sưu tầm, lưu trữ, bảo quản, trưng bày những tư liệu, hình ảnh, hiện vật...về những chứng tích tội ác và hậu quả chiến tranh mà các thế hệ xâm lược đã gây ra đối với Việt Nam. Bảo tàng có 8 chuyên đề trưng bày thường xuyên cùng nhiều bộ sưu tập chuyên đề khác. Trong nhiều năm qua, Bảo tàng chứng tích chiến tranh luôn dẫn đầu về số lượng khách du lịch đến tham quan so với các bảo tàng tại thành phố Hồ Chí Minh.
    Tuy nhiên, bên cạnh những mặt mạnh đó, bảo tàng vẫn còn tồn tại những mặt yếu kém cần khắc phục để có thể phục vụ du khách ngày càng tốt hơn. Qua đề tài nghiên cứu này em muốn góp phần phân tích những mặt mạnh và mặt yếu trong việc phục vụ du khách của bảo tàng để từ đó đưa ra những ý kiến đóng góp nhằm giúp bảo tang ngày càng hoàn thiện hơn trong việc phục vụ khách du lịch.
    LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
    Bảo tàng chứng tích chiến tranh nằm tại khu vực xưa là phần đất của chùa Khải Tường, nơi sinh ra vua Minh Mạng năm 1791 và được ông cho sửa sang lại năm 1832. Khi đánh chiếm Sài Gòn vào năm 1859, quân Pháp đã biến chùa thành cứ điểm phòng thủ chống lại quân triều Nguyễn. Khi đã đánh chiếm toàn bộ Nam kỳ, Pháp dùng chùa Khải Tường làm nơi đào tạo giáo viên cho học sinh người Việt, tiếp đến là làm dinh thự cho quan chức Pháp.
    Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, khu vực này là nơi bảo trì điện tử của Mỹ cho bốn cơ quan: Đại sứ quán Mỹ, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ, Phủ Tổng thống và Phủ thủ tướng chính quyền Sài Gòn.
    Ngày 18 tháng 10 năm 1978, Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ký quyết định thành lập Nhà trưng bày tội ác Mỹ - Ngụy. Ngày 10 tháng 11 năm 1990, đổi tên thành Nhà trưng bày tội ác chiến tranh xâm lược. Đến ngày 4 tháng 7 năm 1995, lại đổi tên là Bảo tàng chứng tích chiến tranh.
    Bảo tàng chứng tích chiến tranh khởi công xây dựng tòa nhà trưng bày mới vào ngày 27 tháng 7 năm 2002. Bảo tàng mới gồm một tầng hầm, một tầng trệt và hai tầng lầu với diện tích sàn xây dựng khoảng 5,400 m2, tổng kinh phí xây dựng cơ bản là 12 tỷ đồng. Khối trưng bày (rộng 4.500 m2) được xây dựng gồm các phòng trưng bày chuyên đề, phòng hội thảo, phòng chiếu phim, phòng tiếp khách, giao lưu, hệ thống thang máy phục vụ cho người tàn tật đi lại tham quan... Công trình mới này giúp giải phóng mặt bằng trưng bày ngoài trời của bảo tàng, thay vào đó xây dựng các công trình phụ khác như: tượng đài, khu tưởng niệm...
    Sáng ngày 26 tháng 10 năm 2007, Bảo tàng chứng tích chiến tranhkhánh thành trung tâm tư liệu ảnh kỹthuật số.Trung tâm nàyđược xây dựng, đầu tư trang thiết bị, vàđào tạo chuyên môn nhân sự tronggần 12 thángvới tổng kinh phí trên 1,5 tỉ đồng bằng nguồn tài trợ từ dựán “Pháthuy di sản bảo tàng Việt Nam” do chính phủ Pháp hỗ trợ.Trang bị phòng ốc theo tiêu chuẩnvà các thiết bị tin họchiệnđại, cùng việc xây dựng thành công phần mềm đặc biệt chuyên ngành lưu trữ bảo tàng. Trung tâm dữ liệuảnh kỹ thuật số này sẽ số hoá và phục chế, lưu trữ hơn 14.000ảnh tư liệu quý về chiến tranh Việt Namđangđược lưu trữở các dạng tư liệu gốc, như ảnh đã in tráng trên giấy, âm và dương bản phim. Theo ban quản lý bảo tàng,trung tâm dữ liệu ảnh số hóa vừa khánh thành sẽ giúpsố hoá việc lưu trữ và quản lý các hiện vật hiện có tại bảo tàng.Đây cũng là bước cơsở cho việc chuẩnbị thực hiệnphòng phục vụ khách tham quan trong ngoài nước, đến tra cứu tưliệutại bảo tàng quahệ thống mạng máy tính nội bộ và cảquainternet trong tương lai gần.
    Ngày 4 tháng 11 năm 2007, cựu thủ tướng Nhật đã đến thăm Bảo tàng chứng tích chiến tranh thành phố Hồ Chí Minh. Phó giám đốc bảo tàng - bà Huỳnh Ngọc Vân đã hướng dẫn ngài cựu thủ tướng lần lượt đi thăm những chuyên đề trưng bày của bảo tàng như những sự thật lịch sử, khu chứng tích chiến tranh, khu chuồng cọp... Trong 40 phút ngắn ngủi của chuyến thăm, ông nói, hỏi nhiều nhất là khi gặp gỡ, nói chuyện với những khách tham quan ở đây. Ngay khi nhận ra ngài cựu thủ tướng, khách tham quan đã đổ xô tới chụp hình và chào ông. Khi các cận vệ định ngăn cản, ngài Koizumi đề nghị để mọi người được tự nhiên và ông vui vẻ chụp hình với từng vị khách một.
    Trong khuôn viên rộng 0,73 hecta, bảo tàng trưng bày các hiện vật và chứng tích chiến tranh gồm các vũ khí, phương tiện chiến tranh của Mỹ đã sử dụng ở Việt Nam như máy bay, xe tăng, đại bác, bom đạn... Có cả cỗ máy chém do Pháp sản xuất đã được sử dụng trong khi áp dụng luật 10/59 dưới thời Ngô Đình Diệm. Bảo tàng chứng tích chiến tranh có tám chuyên đề trưng bày chính:
    - Những sự thật lịch sử.
    - Bộ sưu tập ảnh phóng sự “Hồi niệm”.
    - Chứng tích tội ác và những hậu quả của chiến tranh xâm lược.
    - Chế độ lao tù trong chiến tranh xâm lược.
    - Bộ sưu tập ảnh phóng sự “Việt Nam - Chiến tranh và Hòa bình”.
    - Nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam kháng chiến.
    - Phòng triển lăm tranh thiếu nhi “Chiến tranh và Hòa bình”.
    - Các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh xâm lược Việt Nam.
    Chỉ còn một chiếc lá ... cuối thu ... mỏng manh,
    Chí còn một mình anh ... xót xa ... chờ em ...

    HOẠT ĐỘNG THAM QUAN CỦA DU KHÁCH
    TẠI BẢO TÀNG CHỨNG TÍCH CHIẾN TRANH

    I. Thời gian hoạt động của Bảo tàng chứng tích chiến tranh
    Sáng: từ 7 giờ 30 đến 12 giờ.
    Chiều: từ 13 giờ 30 đến 17 giờ.
    Bảo tàng chứng tích chiến tranh mở cửa cho du khách tham quan cả tuần từ thứ hai đến chủ nhật.
    Nam.
    Khi bắt đầu thời gian tham quan hoặc kết thúc thời gian tham quan tại bảo tàng, du khách sẽ được báo hiệu bằng một hồi chuông reng.
    II. Giá vé tham quan Bảo tàng chứng tích chiến tranh
    Khách du lịch Việt Nam: 2.000 đồng/vé.
    Khách du lịch quốc tế: 15.000 đồng/vé.
    Sau khi mua vé vào tham quan bảo tàng, mỗi du khách sẽ được tặng một tờ giấy giới thiệu chung về bảo tàng và các chuyên đề trưng bày chính trong bảo tàng.
    III. Các chuyên đề trưng bày chính trong Bảo tàng chứng tích chiến tranh
    1. Những sự thật lịch sử
    Đây là phòng trưng bày về âm mưu và quá trình các thế lực thù địch tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam.
    Phòng trưng bày bao gồm những chủ đề trưng bày nhỏ:
    - Bảng thống kê số lượng vũ khí, trang bị chính phủ Mỹ viện trợ cho chính quyền Sài Gòn (1954 - 1975).
    - Bảng so sánh chi phí quân sự của Mỹ trong ba cuộc chiến tranh: chiến tranh thế giới thứ hai, chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Việt Nam.
    - Bảng so sánh hoạt động của không quân Mỹ trong những năm đánh phá miền Bắc Việt Nam.
    - Bảng thống kê số lượng những lần đánh phá của không quân Mỹ vào các loại mục tiêu khác nhau ở miền Bắc Việt Nam.
    - Bảng thống kê khối lượng bom không quân Mỹ đã rải xuống Việt Nam (1965 - 1972).
    - Bảng thống kê các đơn vị quân đội Mỹ đã tham chiến tại Việt Nam.
    - Tủ trưng bày phù hiệu của các đơn vị quân đội Mỹ đã tham chiến tại Việt Nam.
    - Bảng thống kê số lượng quân của các nước chư hầu Mỹ gửi đến tham chiến tại Việt Nam.
    - Sơ đồ bố trí lực lượng quân đội Mỹ và quân đội các nước chư hầu Mỹ tại Việt Nam trước khi Mỹ rút quân vào tháng 4 năm 1969.
    - Một số hình ảnh tư liệu về Bác Hồ và bản sao Tuyên ngôn Độc lập.
    - Bảng thống kê số lượng vũ khí, tài chính Mỹ viện trợ cho Pháp từ năm 1945 đến năm 1954.
    2. Bộ sưu tập ảnh phóng sự “Hồi niệm”
    Đây là bộ sưu tập ảnh về cuộc chiến tranh của Mỹ gạy ra cho Việt Nam do 134 phóng viên thuộc 11 quốc tịch đã chết trong khi làm nhiệm vụ trên chiến trường Đông Dương thực hiện.
    Bộ sưu tập ảnh này bao gồm bốn chủ đề nhỏ:
    - Một cuộc chiến xa xôi.
    - Leo thang.
    - Sa lầy.
    - Những này cuối cùng.
    3. Chứng tích tội ác và những hậu quả của chiến tranh xâm lược
    Đây là phòng trưng bày về những tội ác mà quân đội Mỹ đã gây ra trong chiến tranh tại Việt Nam. Bên cạnh đó là những hậu quả về kinh tế, văn hóa, xã hội; hậu quả về con người; hậu quả về thiên nhiên và môi trường do chiến tranh gây ra.
    Phòng trưng bày bao gồm những chủ đề nhỏ:
    - Bảng thống kê về số lượng người thương vong trong chiến tranh Việt Nam.
    - Hình ảnh những nạn nhân của bom mìn Mỹ.
    - Sơ đồ những mục tiêu đánh phá miền Bắc Việt Nam của không quân Mỹ từ năm 1965 đến năm 1973.
    - Bảng thống kê các chất độc hóa học được quân đội Mỹ sử dụng ở Việt Nam từ năm 1961 đến năm 1971.
    - Bảng thống kê diện tích và dân số những vùng bị quân độc Mỹ rải chất phát quang.
    - Bản đồ những vùng bị quân đội Mỹ rải chất độc hóa học trong chiến tranh Đông Dương II.
    - Hai bình thai nhi bị nhiễm chất độc màu da cam.
    - Những hình ảnh và hiện vật về vụ thảm sát ở Sơn Mỹ (Mỹ Lai - Quảng Ngãi) vào ngày 16 tháng 3 năm 1968 do binh lính Mỹ gây ra.
    - Những hình ảnh về vụ thảm sát ở Thạch Phong - Bến Tre vào đêm 25 tháng 12 năm 1969 do binh lính Mỹ gây ra.
    - Tủ trưng bày những loại vũ khí cá nhân được binh lính Mỹ sử dụng trong chiến tranh tại Việt Nam.
    - Tượng “Bà Mẹ” bằng mảnh bom ghép của tác giả Nguyễn Hoàng Huy (tỉnh Tây Ninh).
    4. Chế độ lao tù trong chiến tranh xâm lược
    Đây là khu trưng bày tái hiện lại hệ thống các nhà tù, trại tập trung tiêu biểu; các phương thức tra tấn, hành hạ, hủy diệt tù chính trị về thể xác và tinh thần.
    Khu trưng bày bao gồm những chủ đề nhỏ:
    - Sơ đồ mạng lưới nhà tù của chế độ Mỹ - Ngụy tại miền Nam Việt Nam.
    - Sơ đồ hệ thống nhà tù của chế độ Mỹ - Ngụy tại Sài Gòn.
    - Bảng thống kê số lượng nạn nhân cửa chế đô lao tù từ thời Ngô Đình Diệm đến thời Nguyễn Văn Thiệu.
    - Bảng so sánh về tỉ lệ viện trợ cho cảnh sát, khám đường so với tỉ lệ viện trợ cho giáo dục của Mỹ tại miền Nam Việt Nam từ năm 1967 đến năm 1973.
    - Mô hình trại giam tù nhân ở Phú Quốc.
    - Danh sách các chúa ngục ở Côn Đảo.
    - Mô hình “Chuồng cọp” ở Côn Đảo.
    - Tượng các tù nhân bị giam giữ trong “Chuồng cọp”.
    - Máy chém.
    5. Bộ sưu tập ảnh phóng sự “Việt Nam - Chiến tranh và Hòa bình”
    Đây là phòng trưng bày bộ sưu tập ảnh về những năm tháng chiến tranh cũng như những năm tháng xây dựng đất nước sau chiến tranh do hai nhiếp ảnh gia người Nhật là Ishikawa Bunyo và Nakamura Goro thực hiện.
    Phòng trưng bày bao gồm những chủ đề nhỏ:
    - Hình ảnh và tiểu sử của nhiếp ảnh gia Ishikawa Bunyo.
    - Hình ảnh và tiểu sử của nhiếp ảnh gia Nakamura Goro.
    - Tủ trưng bày những dụng cụ tác nghiệp của hai nhiếp ảnh gia tặng cho Bảo tàng chứng tích chiến tranh.
    - Bộ sưu tập ảnh của hai nhà nhiếp ảnh gia, bao gồm bốn chủ đề nhỏ:
    + Những người lính Mỹ ở Việt Nam.
    + Nhân dân trong khói lửa chiến tranh.
    + Chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam.
    + Vết tích chiến tranh.
    + Việt Nam ngày nay.
    6. Nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam kháng chiến
    Đây là phòng trưng bày những hình ảnh và tư liệu về sự ủng hộ của nhân dân khắp thế giới đối với nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
    Phòng trưng bày bao gồm những chủ đề nhỏ:
    - Hình ảnh những cuộc biểu tình phản đối chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam do nhân dân khắp nơi trên thê giới thực hiện.
    - Những mẫu băng-rôn, áp-phích được sử dụng trong các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.
    - Danh sách các nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
    7. Phòng triển lam tranh thiếu nhi “Chiến tranh và Hòa bình”
    Đây là phòng trưng bày tranh vẽ của các em thiếu nhi, bao gồm 150 bức tranh có chủ đề “Chiến tranh và Hòa bình”, rút ra từ cuộc thi “Nét vẽ xanh” lần thứ 10 năm 2007, do Bảo tàng chứng tích chiến tranh phối hợp cùng Thư viện khoa học tổng hợp tổ chức.
    Phòng trưng bày bao gồm hai chủ đề nhỏ:
    - Chiến tranh trong đôi mắt trẻ thơ.
    - Ước mơ về một thế giới hòa bình, hữu nghị.
    8. Các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh xâm lược Việt Nam
    Đây là khu vực trưng bày ngoài trời duy nhất của Bảo tàng chứng tích chiến tranh. Khu vực trưng bày bao gồm những loại xe tăng, pháo, máy bay và bom được quân đội Mỹ - Ngụy sử dụng trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam.
    Khu vực trưng bày bao gồm:
    - Xe tăng M.48 A.3: được quân đội Mỹ sử dụng ở Việt Nam vào tháng 7 năm 1969.
    - Xe tăng M.41: được quân đội Mỹ sử dụng ở Việt Nam từ năm 1965.
    - Xe ủi đất D.7E: được quân đội Mỹ sử dụng ở Việt Nam vào tháng 7 năm 1969.
    - Pháo 105 mm.
    - Pháo 155 mm: được quân đội Mỹ sử dụng ở Việt Nam vào tháng 1 năm 1968.
    - Súng không giật M40 106 mm.
    - Bộ bàn ghế: được bộ đội Việt Nam làm từ nhôm lót đường băng của căn cứ quân sự Mỹ ở Pleiku.
    - Máy bay U.17B.
    - Máy bay A - 1 Skyraider.
    - Pháo tự hành M107 - 175 mm: được mệnh danh là “Vua chiến trường”.
    - Bom địa chấn (phát quang) BLU - 82B: được quân đội Mỹ sử dụng ở Việt Nam từ năm 1970.
    - Bom CBU - 55B: được quân đội Mỹ sử dụng ở Việt Nam đầu tiên vào năm 1972 tại tỉnh Quảng Trị.
    - Xe tăng phun lửa M.132 A1.
    - Máy bay A.37B.
    - Máy bay F.5A.
    - Máy bay UH - 1H.
    IV. Đối tượng khách du lịch đến tham quan Bảo tàng chứng tích chiến tranh
    Khách du lịch đến tham quan Bảo tàng chứng tích chiến tranh thuộc rất nhiều thành phần, độ tuổi nhưng thông thường là những du khách lớn tuổi đến từ Mỹ và các em học sinh nhỏ tuổi.
    Các du khách lớn tuổi đến từ Mỹ thường là những cưu binh đã từng tham chiến trong chiến tranh Việt Nam, họ tìm đến đây để ôn lại ký ức về một thời đã qua, để nghiền ngẫm lại những sai lầm của mình thời trai trẻ.
    Các em học sinh Việt Nam nhỏ tuổi thường đến đây với mục đích tìm hiểu, học hỏi những gì mà thế hệ cha ông đã trải qua để từ đó biết yêu quý nền hòa bình mà các em đang được hưởng.
    Bên cạnh đó, hiện nay nhiều trường học cũng đã tổ chức những giờ học tại bảo tàng cho học sinh để các em vừa học lý thuyết, vừa được thực tế.
    V. Các quầy hàng lưu niệm bên trong Bảo tàng chứng tích chiến tranh
    Bảo tàng chứng tích chiến tranh có 3 cửa hàng chuyên bán hàng lưu niệm cho du khách đến tham quan tại đây. Đó là các cửa hàng:
    - War Remnants Souvernir Shop.
    - Saigon Childrens Charity Gift Shop.
    - Museum Souvernir Shop.
    Giá cả một số mặt hàng lưu niệm:
    - Mô hình xe tăng: 6 USD/mô hình.
    - Mô hình lính Mỹ: 17 USD/mô hình.
    - Mô hình máy bay làm từ vỏ lon bia, nước ngọt: 3 USD/cái.
    - Mô hình xe tăng làm từ vỏ lon bia, nước ngọt: 4 USD/cái.
    - Bút bi làm từ vỏ đạn: 4 USD/cây nhỏ hoặc 6 USD/cây lớn.
    - Móc khóa vỏ đạn đôi: 4 USD/cái.
    - Móc khóa hình thiếu nữ Việt Nam mặc áo dài: 20.000 VND/cái.
    - Hộp quẹt của các cựu lính Mỹ và Sài Gòn: 15 USD/cái.
    - Mảnh thiếc khắc thông tin cá nhân của các cựu lính Mỹ và Sài Gòn: 5 USD/mảnh.
    - Mảnh huy hiệu của các đơn vị quân đội Mỹ đã tham chiến tại Việt Nam: 8 USD/mảnh.
    - Mảnh thạch cao treo tường hình phong cảnh Việt Nam: 2 USD/mảnh.
    - Huân chương, huy chương cũ: 4 USD/cái.
    - Huy hiệu các loại: 1 USD/cái.
    - Bưu ảnh: 1 USD/4 tấm.
    - Tranh treo tường do trẻ em khuyết tật vẽ: 4 USD/bức.
    - Tượng thiếu nữ Việt Nam mặc áo dài: 12 USD/cái.
    - Áo thun in hình cờ Việt Nam: 2 USD/áo.
    - Nón tai bèo: 3 USD/nón.

    VI. Các dịch vụ hỗ trợ khách du lịch khi đến tham quan Bảo tàng chứng tích chiến tranh
    1. Chỗ đậu xe
    Bảo tàng chứng tích chiến tranh có một nhà để xe hơi đủ chỗ để 6 xe hơi 16 chỗ ngồi, xe máy và xe đạp để ngoài sân đằng sau nhà để xe hơi, xe du lịch 45 chỗ để ngoài lề đường Võ Văn Tần (phía trước bảo tàng) hoặc lề đường Lê Quý Đôn (bên hông bảo tàng).
    Giá giữ xe:
    - Xe đạp: 1.000 đồng/xe/lần gửi.
    - Xe gắn máy: 2.000 đồng/xe/lần gửi.
    - Xe hơi, xe du lịch: miễn phí nhưng tài xế phải tự trông coi xe, bảo tàng chỉ cho mượn chỗ để chứ không có trách nhiệm trông coi và bảo vệ.
    2. Hướng dẫn viên
    Nếu khách du lịch đi lẻ hoặc đi theo đoàn có nhu cầu nghe hướng dẫn viên của bảo tàng thuyết minh về bảo tàng thì có thể đăng ký miễn phí ở phòng tiếp tân ngoài cổng bảo tàng. Hướng dẫn viên của bảo tàng rất nhiệt tình, kiến thức được trang bị kỹ lưỡng có thể trả lời bất kỳ câu hỏi nào của du khách về bảo tàng, trình độ ngoại ngữ thuộc loại khá.
    3. Quầy bán nước uống
    Có một quầy bán nước uống cho du khách bên trong bảo tàng, bên cạnh cửa hàng lưu niệm Saigon Childrens Charity Gift Shop. Giá cả của một số loại nước uống:
    - Sting dâu: 8.000 đồng/lon.
    - Pepsi: 8.000 đồng/lon.
    - Seven up: 8.000 đồng/lon.
    - Lipton Ice Tea: 8.000 đồng/lon.
    - Soda: 8.000 đồng/lon.
    - Nước yến: 8.000 đồng/lon.
    - Cà phê: 8.000 đồng/lon.
    - Nước suối: 6.000 đồng/chai (nhỏ), 12.000 đồng/chai (lớn).
    - Bia 333: 10.000/lon.
    4. Chỗ ngồi nghỉ chân
    Trong khuôn viên bảo tàng có tất cả 24 cái ghế đá xếp rải rác quanh các gốc cây hoặc các nơi khuất nắng để du khách có thể ngồi nghỉ chân trong khi tham quan. Bên trái cửa vào phòng trưng bày số 3 là hơn 100 ghế nhựa dành cho du khách ngồi nghỉ chân và xem phim tài liệu về chiến tranh Việt Nam. Đây là nơi mà các du khách có tuổi đặc biệt thích vì họ vừa có thể ngồi nghỉ mệt, vừa có thể xem phim về chiến tranh Việt Nam.
    5. Nhà vệ sinh
    Bảo tàng chứng tích chiến tranh có một nhà vệ sinh cho khách du lịch chia làm hai bên nam và nữ. Bên phía dành cho nữ có 3 phòng vệ sinh, bên phía dành cho nam có 2 phòng vệ sinh. Nhìn chung, nhà vệ sinh chưa sạch lắm, chưa khử hết mùi khó chịu, chưa thực sự làm hài lòng du khách.
    6. Quầy thông tin du lịch
    Bên trong phòng trưng bày số 3 của Bảo tàng chứng tích chiến tranh có đặt một quầy thông tin du lịch phục vụ cho du khách. Đây là quầy thông tin du lịch điện tử do Sở Du lịch thành phố Hồ Chí Minh đặt ở đây; quầy thông tin du lịch có thể sử dụng bằng hai thứ ngôn ngữ: Việt và Anh; quầy thông tin du lịch cung cấp thông tin về các điểm du lịch, các địa điểm vui chơi - giải trí, các nhà hàng - khách sạn tại thành phố Hồ Chí Minh. Quầy thông tin du lịch tỏ ra rất hữu dụng đối với du khách quốc tế, đặc biệt là những du khách đi lẻ.
    TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN, HẠN CHẾ CẦN KHẮC PHỤC VÀ Ý KIẾN ĐÓNG GÓP
    I. Tiềm năng phát triển
    Bảo tàng chứng tích chiến tranh có một vị trí thuận lợi, nằm ngay trong tâm thành phố, thuận lợi cho du khách đến tham quan.
    Bảo tàng chứng tích chiến tranh trưng bày một chủ đề rất hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước, bảo tàng là nơi cung cấp cho du khách những thông tin đầy đủ và chân thực nhất về cuộc chiến Mỹ đã gây ra ở Việt Nam.
    Bảo tàng chứng tích chiến tranh là bảo tàng thu hút nhiều khách du lịch nhất trong số các bảo tàng ở thành phố Hồ Chí Minh, đó là một lợi thế lớn lao mà bảo tàng cần triệt để khai thác.
    II. Những hạn chế cần khắc phục
    Bảo tàng còn giới thiệu nặng về các cuộc chiến tranh trong quá khứ, mà không chú ý tái hiện sức vươn lên của người dân Việt Nam sau này.
    Bên ngoài bảo tàng không có bảng hướng dẫn chỗ để xe máy bên trong, làm nhiều du khách đến lần đầu do không biết phải chạy vòng kiếm chỗ gửi bên ngoài. Nhà giữ xe quá nhỏ chỉ đủ để 6 chiếc loại 16 chỗ, xe 45 chỗ phải đậu ở lề đường Võ Văn Tần và Lê Quý Đôn nên thường gây kẹt xe vào giờ cao điểm.
    Giá cả giữa loại vé dành cho khách du lịch Việt Nam là 2.000 đồng/vé trong khi dành cho du khách nước ngoài là 15.000 đồng/vé, chênh lệch nhau tới 7,5 lần, tạo ra sự phân biệt đối xử và gây cho du khách nước ngoài những bất bình và khó chịu.
    III. Ý kiến đóng góp
    Bảo tàng nên gắn nội dung lịch sử với hơi thở cuộc sống hiện tại, vừa trưng bày cái quá khự đồng thời trưng bày cả những cái mới tránh trường hợp lún sâu quá nhiều vào quá khứ.
    Bảo tàng nên nhanh chóng di dời những phòng trưng bày nhỏ vào bên trong tòa nhà mới xây để mở rộng khuôn viên bên trong bảo tàng và tăng cường chỗ để xe cho du khách, tránh tình trạng xe đậu lấn chiếm lòng lề đường.
    Bảo tàng nên áp dụng chính sách một giá vé nhằm tránh những bất bình và khó chịu của du khách nước ngoài đến bảo tàng tham quan.

    1/Sự ra đời của Bảo tàng chứng tích chiến tranh
    Bảo tàng chứng tích chiến tranh toạ lạc tại số 28 đường Võ Văn Tần quận 3 TPHCM Bảo tànng được xây dựng tại vị trí của một ngôi chùa rất nổi tiếng thời trước : chùa KHẢI TƯỜNG. Theo sử cũ của triều Nguyễn thì đây là nơi chào đời của hoàng tử Đảm (sau này là vua Minh Mệnh), con củ a vua Gia Long. Tháng 5-1959, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định và san bằng thành quách.Chúng cho lập một chiến lũy phòng thủ gồm nhiều đồn nhỏ để có thể hỗ trợ cho nhau từ Sài Gòn đến Cây Mai(Chợ Lớn).Để khỏi tốn công xây dựng đồn bót, chúng chiếm ngay những đền chùa để đóng quân ,trong đó có chùa Khải Tường.Chùa bị biến thành trại lính, tượng Phật và đồ thờ cúng bị ném ra ngoài sân. Chỉ huy của nhóm lính Pháp ở đây là viên đại úy trẻ Barbe.Tên này bị nghĩa quân Trương Định phục kích giết chết khi đang đi tuần tra.Cái chết này lính Pháp hư cấu thành giai thoại để dựng nên 1 vở tuồng cải lương “Nàng hai Bến Nghé” rất nổi tiếng.Cuối năm 1860,lực lượng Pháp ở Sg dược tăng cường, chúng chiếm đóng toàn bộ ba tỉnh miền Đông Nam Bộ.Lúc này chùa Khải Tường được thực dân Pháp dùng làm trường đào tạo sư phạm cấp tốc cho học sinh người Việt để đưa đi dạy ở các tỉnh chúng chiếm đóng. Đến khoảng năm 1870 chùa bị bỏ hoang. Sau đó nền chùa được dùng để xây cất 1 dinh thự cho quan chức trong bộ máy cai trị củ a thực dân Pháp ở và làm việc. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước 30/4/1975 thì Đảng bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam và Nhà nước chúng ta có ý tưởng thành lập “nhà trưng bày tội ác của bọn Mỹ-Ngụy” nhằm lưu lại những chứng tích anh hùng của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh chống quân xâm lược, đồng thời cũng tố cáo tội ác, sự tàn nhẫn của bọn đế quốc xâm chiếm đất nước,đàn áp nhân dân ta rất dã man trong chiến tranh. Để chuẩn bị chi việc ra đời của nhà trưng bày, công tác sưu tầm hiện vật, tư liệu hình ảnh được tiến hành 1 cách gấp sút khẩn trương trong vòng 2tháng (tháng 6 đến tháng 8-1975). Ngày 13/08/1975 “nhà trưng bày tội ác Mỹ – Ngụy” được chính thức thành lập theo thông tri số 6/TT-75 của Ban thường vụ thành ủy. Và vào ngày 04/09/1975 Nhà trưng bày chính thức mở cửa cho nhân dân vào xem.Ngay từ những ngày đầu thành lập nhà trưng bày như một cái gai trong mắt của các thê lực phản cách mạng, song nhà trưng bày vẫn tồn tại, phát tirển va luôn hoàn thành mọi nhiệm vụ chính trị đã được cấp trên giao phó. Lúc mới thành lập thì nhà trưng bày có 6 phòngvớ nội dung chưa đạ yêu cầu tuyên truyền. Tuy nhiên, do cả nước chỉ có duy nhất 1 nhà trưng bày về những tội ác của bọn xâm lược Mỹ-Ngụy cộng với sự hiếu kì của du khách trong lẫn ngoài nước nên nhà trưng bày đã thu hút được khá đông khách tham quan (khoảng 300.000 dến 400.000 người/năm) nhưng kết quả thu lại về mặt giáo dục chính trị chưa sâu sắc lắm. Năm 1990 do tình hình chính sự có nhiều thay đổi, để tạo mối quan hệ đối ngoại, Nhà trưng bày đã được dổ tên thành “nhà trưng bày tội ác chiến tranh xâm lược” cho phù hợp với tình hình lúc bấy giờ. Đến những năm 1992-1993, dù rằng quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Hoa Kì chưa chính thức bình thường hóa nhưng trên cơ sở những chuyển biến tích cực trong lĩnh vực ngoại giao , các cấp lanh đạo của nước ta đã quan tâm nhiều đến những công tác chỉnh lý nội dung trưng bày. Việc tố cáo tội ác và hậu quả của cuộc chiến tranh xâm lược do bọn thực dân, đế quốc gây ra trên dất nước Việt Nam hết sức cần thiết và quan trọng nhưng vấn đề đặt ra là tố cáo như thế nào, sử dụng hình thức và phương thức gì để dảm bảo tính khách quan khoa học và chính xác mà vẫn phù hợp với tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong và ngoài nước nhằm thu hút sự đồng tình, ủng hộ của khách trong nước cũng như khách quốc tế . Do vậy, công tác chỉnh lý nộ dung trưng bày đã được nghiên cứu một cách tỷ mỹ.Công tác sưu tầm những hiện vật, hình ảnh, tư liệu vẫn được tiếp tục thực hiện. Để khẳng định rõ chức năng ,nhiệm vụ chính trị lâu dài, ngày 4-7-1995 nhà trưng bày tộ ác chiến tranh xâm lược đã được Uy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định chuyển thành “Bảo tàng chứng tích chiến tranh “. Hiện nay nhiệm vụ của bảo tàng lànghiên cứu, sưu tầm, trưng bày những chứng tích về các cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam để giới thiệu cho khách tham quan những thông tin đầy đủ, chính xác nhất.
    2/Bố cục & nội dung trưng bày tại bảo tàng
    a/ Sân lớn :
    Từ cổng bước vàobên trong, trên sân lớn là những hiện vật mà quân Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, hiện nay được trưng bày tại đây gồm có các xe tăng M48, M41, tăng phun lửa, chiến đấu cơ U17A, oanh tặc co kiểu A37B, trực thăng VH14, máy bay chiến đấu phản lực, xe ủi, đại pháo.
    Máy bay phản lực là loại máy bay được Mỹ chế tạo đặc biệt để sử dụng trong chiến trường Việt Nam, mặc dù máy bay được chế tạo nhỏ gọn nhưng có khả năng vận chuyển, hay phóng xuống mặt đất tất cả các loại bom đạn, và bay lượn với tốc độ nhanh hơn các loại máy bay thông thường khác , khả năng này giúp nâng cao mức độ nem bom nhanh va trúng đích hơn các loại máy bay khác.
    Máy bay UH-1H: là loại máy bay lên thăng có hai cánh quạt, có nhiều tác dụng của lục quân Mỹ, thực hiện các nhiệm vụ :
    - Vận tải, tải thương
    - Vũ trang hộ tống, trực thăng vận tải
    - Trinh sát vũ trang
    - Chi viện hoả lực cho quân đổ bộ hàng không
    Trực thăng được trang bị
    - Hai đại liên sáu nòng
    - Hai giàn roc –két
    - Hệ thống tên lửa SA-7
    - Một giàn 3 trái đạn chiếu sáng
    Máy bay F-5A: Đây là loại máy bay tiêm kích phản lực của Mỹ do hãng Northop Norain’s sản xuất. Máy bay có tính cơ động tốt, kết cấu gọn nhẹ, có thiết bị tiếp dầu trên không. Máy bay có trang bị :
    - Hai súng 20MM và 560 viên đạn
    - Bốn giá bom dưới cánh
    - Một gía bơm dưới chân
    - Hai giá phóng tên lửa ở hai đầu
    Máy bay A37B: là loại máy bay chiến đấu phản lực hạng nhẹ, có hỏa lực tương đối mạnh, vận tốc chậm, cơ động khi dùng để oanh tặc ở các mục tiêu trên mặt đất, mặt biển và dùng để hộ tống các máy bay vận tải, các đoàn xe tiếp tế
    Xe tăng phun lửa M132A: là loại xe tăng hạng nhẹ, sử dụng dây kích có thể chạy trên nhiều địa hình như đồng ruộng, đất gồ ghề, lội nướ, chạy nhanh trên đường nhựa, được máy bay thả dù xuống mặt đất. Xe tăng được trang bị
    - Một súng phun lửa tự động M.10-8
    - Gía lắp tiềm vọng kính M.104A2
    - Tiềm vọng kính
    - Súng đại liên M737-62 ly được gắn trên tháp pháo co thể quay ngang 360
    b/ Sân nhỏ: Phía trái sân lớn là khuôn viên sân nhỏ có hàng rào bao bọc, bên trong có 2 tủi kiếng trưng bày các loại mìn, đạn như
    Lựu đạn banh, lựu đạn dơi, lưu đạn ném, trái sáng …
    Bênh cạnh tủ là các loại bom lớn nhỏ mà quân đội Mỹ đã sử dụng tại Việt Nam như bom địa chấn, địa lôim tên lửa, bom Napan,đạn hơi cai, đạn súng cối…. Ngoài ra, nơi đây còn có trưng bày viên đá hoà bình mà người dân thành phố Hiroshima – Nhật Bản gửi tặng
    c/ Sân bên trong: Nơi đây có tyrưng bày mốt trái bom dặc biết được Mỹ gọi là bom CBU-55B chế tao vào năm 1960 –1970
    CBU-55B là tgrái bom được Mỹ sử dụng tại huyện Xuân Lộc – Đồng Nai. Vì có hình đang trái bom mẹ ở giữa vây quanh là 3 trái bom con (còn gọi là bom mẹ con). Đây là trái bom tối tân nhất thời bấy giờ, khi thả xuống ba trái bom con từ bom mẹ bung dù bay ra và nổ triong không trung, nó dốt cháy tất cả Oxy trong bán kính 500m.Tất cả con người, cây cỏ không thể sống trong pham vi này
    Bom địa chấn (phát quang) :năng 7tấn. Bom địa chấn do Mỹ chế tao và sử dung thí nghiệm tại miền Nam Việt Nam vào những năm 1967. Ký hiệu là BLU82B, trong lượng chất nổ 5700 kg, đường kính bom là 1.37m, chiều dài là 3.35m do máy bay vận tải C.130 chuyên chở. Một quả bom có sức phá hủy một vùng rộng đường kính 199m. Ngoài ra khi nổ bom con gây chấn động mạnh trong phạm vi đường kính 3.3m
    Đại bác 175mm:”Vua chiến trường”nặng 28tấn. Mỹ đưa loại súng này vào miền Nam Việ t Nam năm 1965. Đại bác 175mm còn có tên gọi khác nữa là pháo cực nhanh, được đặt trên xe kích cơ động … đầu đạn có tầm bắn xa từ 28km đến 30km. Khẩu đại bác này đã được quân đội Mỹ sử dụng trong chiến trường miền Nam Việt Nam
    Đạ bác không giật 106MM có ký hiệu DKZ 106MM nặng 406 cân Anh. Súng được đặt trên một giá súng M79, sùng để gắn vào xe hay sử dụng trên mặt đất. Trên hòng đại bác có gắn một súng chuẩn định cỡ 50 dùng để bắn xác định tầm và khoảng cách nhắm bắn tới mục tiêu. Tầm bắn hữu hiệu là 1097m
    Đại bác 105MM nặng 1200kg dến 1400kg là loại mới nhất của Mỹ trong thời kỳ chiến tranh, đã trang bĩ cho một số sư đoàn chủ lực của quân đội Sài Gòn cũ. Súng co thể đặt bắn trên đầm lầy, triển khai nhanh, được bắn ở gốc độ 360 (xoay tròn trên bàn đế). Súng có thể vận chuyển trên máy bay lên thẳng như CH47, CH53, 4N, 1M mỗi máy bay chở được mộ khẩu và 30 dến 40 viên đạn. Tầm bắn xa nhất là 15km và tầm băn thực tế là 12km. Sau đây chúng ta sẽ đi chi tiết vào các phòng trưng bày trong bảo tàng :
    Phòng 1: SỰ THẬT LỊCH SỬ
    Lịch sử 4000 năm dựng nứơc và giữ nước của dân tộc ta là một quá trình đấu tranh kiên cường bảo vệ độc lập tư do của đất nước. Trong bản tuyên ngôn độc lập của do chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 02–09–1945 tại quảng trường Ba Đình khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã khẳng định rằng “ Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do, độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Tòan thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tư do và dộc lập ấy.”
    Nhưng sau đó, thực dân Pháp quay lại, họ xâm chiếm nước ta một lần nữa, nhằm tiêu diệt nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa còn non trẻ . trước tình hình đó Bác Hồ đã kêu gọi toàn dân kháng chiến, để hưởng ứng lời kêu gọi của Người các chiến sĩ từ miền Bắc đến miền Nam đã tham gia cuộc kháng chiến này. Sau 9 năm trường kì kháng chiến với nhiều cuôc khởi nghĩa lớn, nhỏ thì chúng ta đã thành công. Cuộc đấu tranh khởi nghĩa Điện Biên Phủ thần kì (07-05-1954) đã đánh dấu sự sụp đỗ hoàn toàn của thực dân Pháp.
    Ngay những ngày độc lập nước ta đã được một số nước trên thế giới công nhận và đến nay đã co hơn 160 nước trên thế giới đã thiết lập quan hệ ngoại giao với nứơc ta.
    Trong quá trình Pháp xâm lựơc nước ta, sự viện trợ của Mỹ cho Pháp về mặt tài chính và quân sự đã giúp Pháp tiến hành cuộc chiến tranh Đông Dương. Mỹ cho rằng nếu thất bại và một nước chủ nghĩa xã hội chiến thắng như Việ Nam thì các nước lân cận sẽ nổi dậy đấu tranh, sự thống trị cũng như nền an ninh của Mỹ cũng sẽ bị đe doạ nghiêm trọng. Vì vậy phái đoàn quân sự của Mỹ dẫn đầu là phó tổng thống lúc bấy giờ là Nickson đã đến nước ta để kiểm tra tình hình. Một số loại phương tiện và vũ khí đã được tăng cường cho Pháp như xe tăng, đại liên 4 nòng, máy bay và những chuyên viên cơ khí.
    Khi Pháp thất bại, ngày 20-7 các bên đã ngồi vào bàn đàm phán và kí kết hiệp định Genève với nhiều nội dung quan trong như: các bên tham gia hội nghị thừa nhận về nguên tắc sự độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, việc hiệp thương giữa hai miền sẽ bắt đầu vào ngày 20/07/1955 và tổng tuyển cử vào 7/1956. Nhưng sau đó, chính quyền Mỹ đã âm mưu phá hoại hiệp định Genève chia cắt đất nước ra làm hai miền, tiêu diệt các phong trào kháng chiến ở Việt Nam và thành lập chính quyền tay sai Ngô Đình Diêm, thực hiện các biện pháp tố cộng , diệt cộng … và chúng(chính quyền Mỹ-Diệm) lập ra những ấp chiến lược, các trai tập trung theo quy mô lớn với chiến lược “tát nước bắt cá”,chúng đẩy 10 triệu dân vào 16.000 ấp chiến lược, đây được hiểu là kiểu cách ly Cộng sản ra khỏi nhân dân…Một thiếu sót nữa nếu không nói tới luật 10/59 đây là một kiểu đàn áp dã man những chiến sĩ cách mạng, những người yêu nước và dân vô tội vì những ai mà chúng nghi ngờ là Cộng sản thì bị bắt giữ đánh đập và giết hại không thương tiếc với nhiều hình thức khác nhau nhưng man rợ nhất là chúng chém đầu bằng máy chém được lê trên khắp các đường phố ,khắp các tỉnh thành theo khẩu hiệu “thà giết lầm còn hơn bỏ sót”. Từ đây cách mạng miền Nam bị dìm trong biển máu với hơn hàng trăm chiến sĩ đã hy sinh, hàng ngàn người dân vô tội đã chết.
    Khi quốc sách ấp chiến lược bị thất bại thì Mỹ và đồng minh của chúng (như Uc, Philippin, Thái Lan, Nam Triều Tiên, Tân Tây Lan…) quay qua đàn áp vũ trang, ngày 8/3/1965 đơn vị viễn chinh Mỹ đầu tiên đã đổ bộ lên bờ biển Đà Nẵng, chúng đóng quân ở nhiều nơi mà vào đỉnh điểm (năm 1969) của cuộc chiến thì có hơn 500.000 lính Mỹ đã có mặt tại các chiến trường miền Nam Việt Nam. Do vậy mà tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Dickson, bộ trưởng bộ quốc phòng Mc Namara 1 lần nữa đã trở lại miền Nam Việt Nam để đông viên tinh thần lính của chúng, và kiểm tra mặt trận.
    Ở phòng này ta còn được thấy một số bức ảnh nói lên những trang thiết bị vũ khí hiện đại thời bấy giờ, các cuộc hành quân lớn nhỏ, các căn cứ , đơn vị của chúng. Ngoài ra ta còn được biết các bảng tên, phù hiệu và biệt danh các sư đoàn, lữ đoàn nổi tiếng của lính Mỹ (sư đoàn bộ binh 25 còn được gọi là”tia chóp nhiệt đới”, sư đoàn 1 bộ binh còn được gọi”anh cả đỏ”, hoặc sư đoàn kị binh bay số 1 được gọi “máy bay lên thẳng” ….)
    Bên cạnh phá vỡ hiệp định Genève chiếm miền Nam Việt Nam (1964 – 1972)chính quyền Mỹ còn huy động lực lượng không quân hải quân cũng như bom đạn đại bác để tiến hành các cuộc chiên tranh phá hoại miền Bắc với quy mô lớn, chúng dùng máy bay B52 thả bom như rải thảm trên bầu trời và dùng các đại bác bắn vào bờ biển miền Bắc.
    Theo số liêu được được công bố trước quốc hội Mỹ(lúc bấy giờ) thì tổng chi phí cho cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam là 325 tỉ USD. Nhưng trên thực tế con số này lên đến khoảng 925 tỉ USD. Nhìn bảng thống kê được đặt tại phòng này ta sẽ thấy một khối lượng bom khổng lồ đã được sử dụng của Mỹ mà Việt Nam phải hứng chịu trong thời kì chiến tranh (khoảng 7.850.000 tấn chưa kể đạn và khoảng 6,5 triệu lính Mỹ) thì đã gấp nhiều lần trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, cuộc Thế chiến thứ 2 .
    Nhưng bất chấp sức người, sức của vô cùng to lớn đó của chính quyền Mỹ, nhân dân Việt Nam đã kiên cường, anh dũng đấu tranh để giành lại độc lập toàn vẹn lãnh thổ, đ đánh dấu thắng lợi bằng chiến dịch Hồ Chí Minh và kết thúc vào 11h30’ngày 30 –4 –1975 khi xe tăng của quân giải phóng đã tiến thẳng vào dinh Độc Lập sào nguyệt cuối cùng của chính quyền Sài Gòn khiến cho quân Mỹ – Ngụy thảm bại tệ hại và cuối cùng là phải rút quân ra khỏi Sài Gòn về nước, mở ra 1 kỉ nguyên mới cho cách mạng nước ta
    *Một số hình ảnh ta và bảng thống kê sẽ được tham quan ở phòng 1:
    - Hình ảnh người dân cả nước ủng hộ lời kêu gọi của Bác, tại kì họp quốc hội đầu tiên năm 1946, đáp ứng lời kêu gọi của Bác và chính phủ, người dân cả nước đã đồng tình ủng hộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và cuộc kháng chiến này kết thúc với thăng lợ vẻ vang Điện Biên Phủ vào ngày 07 – 05 – 1954
    - Bảng thống kê cho thấy các nước trên thế giới đã dồng tình ủng hộ ta ngay từ những ngày đầu tiên mới thành lập với sự thiết lập ngoại gian họn 60 nuớc trên thế giới
    - Hình ảnh My viện trợ cho Pháp: Mỹ viện trợ cho Pháp về quân sự, tài chính để tiến hành cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Những vật viện trợ của Mỹ gồm có :
    + Xe tăng, xe jeep, xe tăng lội nước
    + Đại liên 4 nòng 12 ly 7
    + Máy bay C47
    - Một phần nội dung của hiệp định Genève
    + “Thừa nhậ sự độc lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Việc hợp thương hai miền Nam Bắc bắt đầu từ ngày 20/07/1955 và tổng tuyển cử sẽ tiến hành một năm sau đó. Quyết định lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sư tạm thời “.
    + Trong điều khoản 14c ghi rõ “Mỗi bên cam kết không tìm cách trả thù hay phân biệt đối xử nào với cá nhân hoặc tổ chức tham chiến và cam kết đảm bảo quyền tự do dân chủ của họ.” Nhưng sau đó, chính quyền Mỹ đã phá huỷ hiệp dịnh này nên đưa chính quyền Ngô Đình Diệm làm bù nhìn.
    - Hình ảnh lễ tuyên thề sát cộng: chính quền Mỹ – Diệm tiến hành biện pháp tố cộng để trả thù những người Cộng Sản cũ. Chúng tổ chức buổi lễ huết thề sát cộng. Tay sai Diệm giết 38 người và dìmxuống đậ Vĩnh Trinh ở Quãng Nam – Đà Nẵng
    - Hình ảnh luật 10/59 nhằm trả thù những người kháng chiến cũ. Đây là hình ảnh những kháng chiến cũ bị tàn sát rất dã man.
    - Hình ảnh anh Võ Đăng Nhân: anh bi đưa lên máy chém theo luật 10/59
    - Dồn dân lập ấp: Mỹ-Diệm còn xây dựng hơn 16.000 ấp chiến lược để dốn hơn 10 triệu người dân miền Nam vào đây sinh sống nhằm tách khỏi nhân dân ra khỏi cách mạng .
    - Hình ảnh quân đội Mỹ đổ quân tại Đà Nẵng: sau khi chính sách dồn dân lập ấp bị thất bại thì chính quyền Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam Việt Nam, trực tiếp tham chiến trên quy mô lớn. Đây là đơn vị đầu tiên đổ bộ vào miền Nam Việt Nam ngày 8/3/1965 tại Đà Nẵng .
    - Bảng thống kê chi phí: đây là bảng thống kê chi phí mà Mỹ đã dùng ở chiến tranh Việt Nam theo báo cáo của Quốc hội Mỹ là 352 tỉ USD,theo như con số thực tế thì lên đến 952 tỉ USD
    - Bảng so sánh số lượng bom: đây là bảng so sánh số lượng bom mà Mỹ sử dụng trong 3 cuộc chiến tranh: chiến tranh thế giới thứ hai, chiến tranh Việt Nam và chiến tranh Triều Tiên. Vũ khí Mỹ sử dụng ở Việt Nam gấp 12 lần so với chiến tranh Triều Tiên và gấp 4 lần so với chiến tranh thế giới thứ hai
    - Hình ảnh tù binh Mỹ được trao trả: để thực hiện âm mưu xâm lược Việt Nam, chính quyền Mỹ đã huy động hơn 5,5 triệu lính Mỹ tham chiến, nhưng với sự chiến đấu kiên cường cùa nhân dân ta, chúng đã thất bại thảm hại và đã rút khỏi nước ta sau ngày 30/4/1975, tiêu biểu là hình ảnh đoàn phi công Mỹ được trao trả ở sân bay Gia Lâm
    - Hình ảnh rút quân: hình ảnh đơn vị quân đội cuối cùng của Mỹ rút khỏi Sài Gòn
    - Xe tăng cách mạng: hình ảnh xe tăng đầu tiên của quân đội giải phóng tiến vào dinh Độc Lập vàolúc 11h30’ ngày 30/4/1975,mở ra một kỉ nguyên mới cho nước Việt Nam độc lập
    - Trích phát biểu của cựu bộ trưởng quốc phòng Mỹ: trong quyể hồi kí của mình, ông Mc Namara đã phải thú nhận” chúng tôi sai lầm, sai lầm khủng khiếp, chúng tôi mắc nợ thế hệ tương lai trong việc giải thích tại sao lại sai lầm như vậy, và chính sự sai lầm đó đã gây ra hậu quả nặng nế mà mà đất nước, người dân Việt Nam đã và đang gánh chịu”
    *Có thể nói qua những hình ảnh được trưng bày tại phòng 1, khách tham quan có được một cái nhìn tổng thể về cuộc chiến tại Việt Nam, những số liệu thống kê đã cung cấp một thông tin khá chính xác về toàn bộ chính sách xâm lược của Mỹ với âm mưu ”toàn cầu hoá chiên tranh”
    Phòng 2: PHÒNG HỒI NIỆM
    Đây là phòng trưng bày về bộ sưu tập ảnh về chiến tranh tại Việt Nam, với các phần trưng bày như “một cuộc chiến xa xôi”,”leo thang”,”những ngay cuối cùng”và “sa lầy”.Bộ sưu tập này được tổ chức bởi các công ty Indochano PhotoRequiem Projec.Ltd,công ty Staring Committee, hội nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam,Thông tấn xã Việt Nam và Bảo tàng chứng tích chiến tranh
    Triển lãm ảnh hối niệm-bộ sưu tập về chiến tranh Việt Nam khởi nguồn từ một dự án cùa hai phóng viên ảnh Tim Page và Horst Faas- những người đã từng bị thương trong khi thi hành nghĩa vụ tại Việt Nam. Dự án của hai ông nhằm thu thập các bức ảnh về chiến tranh Đông Dương với mục đích tưởng niệm các phóng viên ảnh đã chết trong chiến tranh, bất kể quốc tích và chính kiến của họ. Dự án này được thực hiện khi Thông Tấn Xã Việt Nam cho hai người tiếp cận hồ sơ ảnh về chiến tranh Việt Nam thu thập hơn 72 tài liệu phóng viên nhiếp ảnh Việt Nam hy sinh trong cuộc chiến. Sau 4 năm tìm kiếm và tập hợp được hàng ngàn ảnh của 135 nhà nhiếp ảnh ở hai chiến tuyến: 72 phóng viên Việt Nam ở hai miền Nam Bắc, 16 phóng viên Mỹ,12 Pháp, 4 Nhật, 11 Nam Việt Nam, Ao, Uc, Anh…Các nhiếp ảnh gia đã chia sẽ những gì mà họ biết được về cuộc chiến tại Việt Nam, để thế giói có mộ cái nhìn khách quan về cuộc chiến này. Và chính nhờ bộ sưu tập này mà tính thuyết phục của bảo tàng càng cao. Những hình ảnh về sự thật cuộc chiến được trưng bày trước dông đảo quần chúng vừa góp phần làm phong phú thêm cho Bảo tàng về số lượng hiện vật, hình ảnh vừa thu hút sư quan tâm của khách thamquan vừa muốn tìm hiểu chiến tranh tại Việt Nam
    Phòng 3: PHÒNGTRƯNG BÀY TỘI ÁC CHIẾN TRANH
    Đầu tiên chúng ta cùng trở lại với bản tuyên ngôn của Mỹ, trong đo có 1 đoạn rằng “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẵng, tạo hóa cho họ những quyền không ai xâm phạm được. Trong những quyền ấy có quyền được sống quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc”. Thế nhưng khi tiến hành cuộc xâm lược ở miền Nam, quân đội Mỹ đã bất chấp toàn bộ những quyền này. Một người lính viết trong hồi kí của anh ta rằng: “hình như mốt mới nhất lúc bấy giờ là xây dựng kỷ lục giết người. Trung đội mình giết được 45 Việt cộng thế là các trung đội khác sinh ghen, thế là họ giết bất cứ ai để vượt qua kỷ lục”. Đó là điều các tướng lĩnh Mỹ muốn binh lính của họ thi thố ở Việt Nam, điều đó được chứng minh qua các bức ảnh khi bắn chết những người dân vô tội, lính Mỹ đứng đếm xác chết Việt cộng. Khi tận mắt chứng kiến một lính Mỹ đang xách mảnh xác cuả 1 chiến sĩ giải phóng vừa bị trúng đạn súng lưu M79-loại đạn này có tác dụng khi đi vào cơ thể con người sẽ nổ làm 2 lần và sẽ xé xác nạn nhân thành nhiều mảnh- phóng viên người nhật lúc đó có mặt tại chiến trường đã thốt lên rằng: “Tôi không biết tên lính Mỹ này là người hay là quỷ” Các bức ảnh ở đây đều là do các phóng viên phương Tây chụp lại, họ chụp được quân Mỹ đang dồn những người dân miền núi vào các trai tập trung ở Plâyku,có hình ảnh của người nông dân, ông ta vô cùng khiếp sợ khi bị lính Mỹ bắt được. Những cảnh tra tấn này diễn ra hàng ngày ở miền Nam, lúc bấy giờ lính Mỹ bắt được một người đàn ông, ông ta bị kéo lê vào 1 khu rừng và câu hỏi đầu tiên cho ông là những gót giầy liên tiếp nện vào đầu, còn báng súng thì luôn ở tư thế sẵn sàng. Ngoài ra còn có cảnh tra tấn nước, trong khi tên lính này trùm giẻ lên mặt một người bị chúng bắt được và đổ nước lên thì một tên lính Mỹ khác đè mạnh lên ngực nạn nhân để ông ta không thể thở được. Theo lời một nhà báo nước ngoài, quân viễn chinh Mỹ đã đi đến chỗ coi người Việt Nam như một sinh vật hạ đẳng, coi việc giết họ không phải là một tội ác cũng giống như diệt trừ sâu bọ. Sau khi đặt chân lên Đồng bằng sông Cửu Long, Mỹ tổ chức bao vây ngay những ngườ dân mà họ tình nghi là Việt cộng, sau đó tất cả bị dồn lên trực thănh tiếp tục bị tra hỏi nếu như một người nào đó từ chối trả lời thì ngay lập tức ông ta sẽ bị chúng ném xuống từ trưc thăng và với độ cao như thế nếu không chết mới là lạ. Ngoài ra lính Mỹ còn cột người sau xe tăng rồi kéo lê ở trên đường cho đến khi họ chết – một trong những phát minh giết người hết sức dã man của quân đội Mỹ. Có đôi lúc chúng chặt đầu các chiến sĩ cách mạng, sau đó chúng cấm chiếc đầu lên chụp hình lưu niệm
    Ở đây còn trưng bày những loại vũ khí của quân đội Mỹ đã được sử dụng trong chiến trường miền Nam
    Từ những vụ bắt bớ, bắn giết lẻ tẻ, quân độ Mỹ đã đi đến thảm sát hàng loạt người dân vô tội Việt Nam. Tham quan phóng này ta có thể biết được một vài vụ thảm sát của lính Mỹ với nhân dân ta như một vụ thảm sát được công bố vào tháng 4/2001 do cựu thượng nghị sĩ Bob Kerry thú nhận trước dư luận quốc tế. Đó là vào khoảng 8-9 giờ tối ngày 25/02/1969 thì một toán biệt kích Mỹ gồm 7 người do trung uý Bob Kerry chỉ huy đã tấn công vào làng Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Và trong đợt tấn công chúng đã giết 21 người bằng nhiều hình thức dã man như cắt cổ, mổ bụng và dùng súng bắn chết họ. Tiêu biểu cho sự giết người man rợ và không chút tình người, và nạn nhân là ông Bùi Văn Vác bị chúng cắt cổ. Tàn nhẫn hơn khi 3 đứa cháu của ông Vác đã trốn trong 1 ống cống nhưng chúng tìm được không tha mà còn mổ bụng 2 đứa và cắt cổ 1 đứa. Trong vụ thảm sát trên chỉ còn một nạn nhân may mắn sống sót được đó là chị Bùi Thị Lượm, lúc đó mới 12 tuổi và chị đã bị thương ở chân. Nếu không kể đến vụ thảm sát rất man rợ ngày 16/03/1968 ở Sơn Mỹ tại tỉnh Quãng Ngãi thì là một thiếu sót lớn vụ thảm sát này đã làm chấn động dư luận trong và ngoài nước lúc bấy giờ và được báo “Đời Sống” đăng tin vào tháng 1/1970. Cuộc hành quân của lính Mỹ vào Sơn Mỹ được chuẩn bị khá chu đáo, ba đại đội thuộc lữ đoàn 1 bộ binh là đơn vị trực tiếp tiêu diệt mọi mục tiêu di động của trong khu vực hành quân . Nhiệm vụ trực tiếp bắn giết người được giao cho trung úy William Cally. Trước khi đến Sơn Mỹ đã thực hiện sắc lệnh tiêu diệt mỗi mục tiêu di động trong khu vục hành quân. Chỉ trong 4 tiếng đồng hồ mà quân Mỹ đã tìm và tiêu diệt 504 người, có 182 phụ nữ trong đó 17 nguời mang thai, có 173 trẻ em trong đó có 56 trẻ sơ sinh đến 5 tháng tuổi, 60 cụ già trên 60 tuổi. Cuộc thảm sát tàn nhẫn và dã man này đã làm chấn động dư luận trong và ngoài nước lúc bấy giờ và đã được báo “Đời Sống” ở Mỹ đăng tin vào tháng 1/1970
    Trong phòng này chúng ta sẽ được thấy các bức tranh của dân làng Sơn Mỹ sau vụ thảm này, hình ảnh mâm cơm đang ăn dang dở của gia đình bà Đốc với 7 người đã bị bắn chết. Hình ảnh hai cha con bị trúng đạn và chết thảm ngay ở bệ đường. Và hình ảnh thương xót nhất và cũng là hình ảnh căm hận sự vô nhân tính của bọn lính Mỹ, hai em bé trai bị trúng đạn nhưng đứa lớn lập tức nằm đè lên đứa nhỏ như muốn che chở cho
    em mình,thật vô lương tâm thay bọn chúng cuối cùng cũng đã giết chết cả hai đứa bé này. Đây là 1 trong các búc ảnh mà làm xúc động nhất trong dư luận Mỹ lúc bấy giờ
    Trong chiến tranh những người mẹ bao giờ cũng chịu nhiều đau thương mất mát nhất. Từ ý tưởng đó nên anh Nguyễn Hoàng Huy đã làm nên bức tượng bà mẹ Việt Nam anh hùng từ những mãnh bom còn sót lại. Bức tượng độc đáo có một không hai này cao 1,55m nặng 220kg và đã được giải khuyến khích trong cuộc triển lãm tại Hàn Quốc, sau đó anh đã tặng bức tượng này cho bảo tàng.
    Bênh cạnh tội ác gây ra cho nhân dân chúng ta, từ năm 1962 đến năm 1970 quân đội Mỹ còn rải nhiều loại chất độc hóa học ở nước ta, chỉ tính ở miền Nam thì đã hơn 72 triệu lít chất khai quang nhằm mục đích phá huỷ rừng, trong đó có chất độc màu da cam đã được sử dụng nhiều nhất (hơn 44 triệu lít trong đó chứa khoảng 170kg chất Dioxin là chất rất độc). Để phun rải các chất khai quang này quân đội Mỹ đã sử dụng nhiều loại phương tiện khác nhau như máy bay C123, máy phun Buffalo được đặt trên xe bọc thép M113…. Khi phun rải chất khai quang như thế thì thiên nhiên sẽ bị tàn phá rất nặng nề vídụ như rừng dừa ở Bình Định đã bị trụi lá vào năm 1965, rừng đước ở Cần Giờ chỉ còn lại gốc cây trơ trụi và còn nhiều nơi khác nữa. Chúng phun các chất độc rải chất khai quang ở nhiều vị trí với từng loại mức độ khác nhau, có những nơi chúng phun từ 1-28lít 1 ha, những nơi chúng phun 2-3 lần từ 28-84lít 1 ha và có những nơi chúng phun tới trên 4 lần với số lượng là trên 84lít 1 ha. Hậu quả của những chất khai quang cụ thể là chất Dioxin đối với cơ thể con người mới thật sự tàn khốc.
    Các nhà khoa học trên thế giới đã công bố rằng chất độc màu da cam có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của những người tiếp xúc, tác động đến hệ thống gien gây ung thư và con cháu của họ sẽ bi tai biến thai sản như sẽ bị sẩy thai, tai chứng hay di tật bẩm sinh. Trong phòng này chúng ta sẽ thấy được nạn nhân của chất độc chết người này đó là đứa bé dị dạng ở vùng mặt, một song thai dính ở ngực và bụng được trưng bày trong 2 tủ kính.
    Toàn bộ các công trình ở nước ta như các khu dân cư, trừơng học, bệnh viện, nhà máy, ga xe lửa, nhà thờ…. đã thành mục tiêu phá hủy hoàn toàn của không quân và hải quân Mỹ với những trận trải thảm bom B52 bằng máy bay Phố Khâm Thiên ở Hà Nội là 1 ví dụ điển hình và còn gọi đây là chiến dịch Điên Biên Phủ trên không – đây là 1 khu phố có mật độ đông dân nhất tại Hà Nội – đã bị máy bay B52 rải thảm với chiều dài hàng km. Nhưng do sự thao lược, tài năng của lính giải phóng nên chúng ta đã bắn rơi các máy bay B52 rất hiện đại và tối tân thời bấy giờ ( Việt Nam là nước đầu tiên bắn rơi máy bay B52)vào năm 1972 và buộc chúng kí hiệp định Paris rút quân về nước, mở ra 1 kỉ nguyên mới cho nước ta kỉ nguyên độc lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổ vào ngày 30/04/1975
    Ở phòng trưng bày này ta còn biết được nhiều loại bom như bom cam có tác dụng khi nổ sẽ văng ra nhiều mãnh nhỏ và sắc nhọn. Bom bi cũng được sử dụng rộng rãi trong chiến tranh
    Sau khi chiến tranh kết thúc đã có 3 triệu người dân chết trong đó có 1triệu liệt sĩ, gần 4 triệu ngườu bị thương, 2 triệu người bị nhiễm chất khai quang, hơn 50.000 trẻ em bị dị dạng, 300.000 người mất tích chưa tìm được hài cốt. Những con số này không thể nói lên hết nỗi mất mát đau thương mà toàn dân tộc chúng ta phải gánh chịu.
    Phòng: Triễn lãm tranh thiếu nhi Việt Nam
    Đây là phòng trưng bày những bức tranh do thiếu nhi Việt Nam vẽ về các chú bộ đội theo sự tưởng tượng của các em
    Phòng 4: NẠN NHÂN CỦA CHẾ ĐỘ LAO TÙ THỜI NGÔ ĐÌNH DIỆM ĐẾN NGUYỄN VĂN THIỆU
    *Chứng tích chiến tranh : Những nạn nhân trong chế độ lao tù từ thời Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu. Dưới thời Sài Gòn cũ họ đã thiết lập ở miền Nam Việt Nam một mạng lưới nhà tù thuộc cấp quận trở lên, trong đó có năm nhà tù khét tiếng tàn bạo nhất: nhà tù Tân Hiệp, nhà tù Thủ Đức, nhà tù Chí Hòa ở Sài Gòn, Nhà tù Côn Đảo, nhà tù Phú Quốc. Chỉ tính riêng ở Sài Gòn đã gần 200 nhà tù và trại giam cùng với 150 trạm kiểm soát bắt bớ khám xét để đưa những người dân vô tội vào tù. Một hình ảnh điển hình những nhà tù ở miền Nam Việt Nam như nhà tù Chí Hòa xây theo mô hình bát quái đ85t ngay trung tâm Sài gòn, có bót Lê Văn Ken tại chợ Sài Gòn –nơi thường xuyên bắt giữ sinh viên học sinh và các cán bộ hoạt động nội thành. Nhà tù Tân Hiệp ở Biên Hòa trương tấm bảng hiệu “mị dân” là “Trung tâm cải huấn”. Nhà tù Thủ Đức-nơi giam giữ những người phụ nữ yêu nước. Khung cửa phòng giam biệt lập ở Thủ Đức, các nữ tù phải thay phiên nhau ra phía trước để hít thở không khí vì trong phòng giam rất chật chội và ngột ngạt.
    *Chuồng cọp: Phòng này được phục chế lại 2 trong 20 ngăn theo tỉ lệ 1:1 ngoài Côn Đảo Chuồng cọp là một kiểu xà lim đăc biệt dùng để giam giữ những người Việt Nam yêu nước-chính quyền Sài Gòn xem những phần tử ngoan cố nhất Kích thước chuồng cọp rất nhỏ bé ngang 1,5m; dài 2,7m; cao 3m. Với kích thước nhỏ bé như vậy, vào mùa nóng, người tù sẽ bị nhốt chặt từ 5-14 người, ngược lại vào mùa lạnh họ bị tách riêng biệt chỉ còn 1-2 người mà thôi. Người tù luôn ở trong tư thế bị cùm chân, ăn uống, tắm giặt, tiêu biểu cũng như nằm ngủ đều trong phạm vi nhỏ hẹp này. Phía trên nóc chuồng cọp là những song sắt và lối đi dể bọn cai ngục kiểm soát mọi hành động của tù nhân. Từ những song sắt này, nếu người tù có một cử động nào như một tiếng cười, một tiếng ho, thậm chí với một tiếng thở dài của họ cũng là nguyên cớ cho bọn cai ngục sẽ trút vôi bột xuống qua các song sắt, và người tù ở dưới này sẽ bị phồng rộp da, lỡ loét và ngộp thở; đôi khi họ còn ói ra máu. Ngược lại vào mùa lạnh, chúng đổ nước lạnh xuống làm cho họ rét run lên, Thỉnh thoảng bọn chúng sẽ dùng gây nhọn thọc xuống khi chuống cọp đông người, và những tù nhân không thể cựa quậy được vì bị cùm xích sẽ bị thương tích đầy người. Chế độ ăn uống của họ rất khổ sở. Hàng ngày, mỗi người tù sẽ nhận được một năm cơm đầy cát sạn với vài muỗng nước mắm đầy dòi và 1 con khô mực đắng như thuốc kí ninh, và một nửa lon sữa bò nước uống. Hoàn toàn những người tù này không được ăn rau thịt hay cá tươi. Với chế độ ăn uống như vậy sức khỏe của tù nhân sẽ nhanh chóng suy giảm, có thể nói không một ngăn chuồng cọp nào ở Côn Đảo là không có chiến sĩ hy sinh do ăn uống thiếu thốn và thường xuyên bị tra tấn đánh đập dã man như vậy. Hình tượng trong ngăn cọp đầu tiên là hình tuợng một nam tù nhân chính trị, ông là một trong những lá cờ đầu trong phong trào chống lại chế độ lao tù khắc nghiệt đòi hỏi dân sinh, dân chủ ở nhà tù côn đảo. Trong ngăn chuồn cọp kế bên là hình tượng nữ cựu chính trị tên là Nguyễn Thị Chỉ-còn gọi là má sáu mù. Trong ngăn chuồng cọp này còn có tấm ảnh của má Sáu thời còn trẻ lúc má còn sáng mắt, nhưng do hậu quả của bọn cai ngục rải các loại vôi bột hóa học đã làm cho má Sáu hỏng cả hai mắt. Hiện tại má Sáu mù vẫn còn sống.
    Trong Thảo cầm Viên vốn là nơi vui chơi giải trí của dân Sài Gón vậy mà chính quyền Sài Gòn cũ cũng cho xây dựng 1 nhà tù bí mật còn gọi là T42. bề ngoài trông như một biệt thự nhưng thục chất bên trong là ột phòng tra tấn với những hình thức tra tấn rất dã man như đặt bóng đèn 500w trên đầu người tù hoặc đổ xăng vào các lỗ đốt sống xương sống rồi châm lửa đốt
    - Nhà tù Phú Quốc: Phú Quốc là hòn đảo lớn nhất Việt Nam với diện tích là 600km2 về hướng Tây Nam cách thị xã Rạch Giá 150km. Chính thức hoạt động từ ngày 06/07/1967, nơi thường xuyên giam giữ từ 30.000 đến 40.000 tù binh là các chiến sĩ thuộc các lực lượng vũ trang. Với bộ máy này chúng đã hành hạ người tù băng những hình thức như giam người tù vào trong các chuồng chó, rọ heo hoặc trai biệt giam. Và dùng hình thức tra tấn hết sức dã man và tàn ác như là tra điện, tra nước, đóng đinh vào người, bên cạnh đó bọn chúng còn dùng các hình thức tra tấn thời trung cổ như nướng người trên lửa đỏ, chúng bỏ họ vào bao bố sau đó bỏ họ vào nước sôi. Và dưới chế độ lao tù tại nhà tù Phú Quốc đã có khoảng 4000 chiến sĩ đã nằm xuống, và cho đến nay đã thu lượm được 1000 hài cốt đem về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ . Khi khai quật xác của các chiến sĩ Cách mạng lên thì người ta thấy rằng nơi cổ họ có những sợi dây thép gai hoặc trên sọ họ có những cây đinh dài từ 8cm-10cm. Từ đó có thể kết luận rằng bọn cai ngục ở Phú Quốc đã dùng nhiều hình thức siết cổ người tù bằng dây kẽm gai cho đến chết hoặc đóng những cây đinh dài vào những nơi hiểm yếu trên cơ thể người tù như màng tang, khớp tay, khớp chân …. Từ những năm 1953 đến tháng 7-1954 thự dân Pháp đã cho xây dựng ở đây trại “Cây Dừa” để giam giữ 14.000 tù binh, sau đó đổ tên trại là trại “huấn chính Cây Dừa”. Năm 1955-1957 đã giam giữ 1000 tù chính trị và trại giam “huấn chính Cây Dừa” đã chính thức đi vào hoạt động. Quản lý trại là một bộ máy cố vấn Mỹ: chỉ huy trưởng, phó, các tiểu đoàn quân trưởng, và ban giám thị.
    - Nhà tù Côn Đảo: Côn Đảo là mộ quần thể gồm 14 đảo lớn nhỏ cách Sài Gòn 225km về hướng Đông Nam. Đầu thế kỉ XVIII thực dân Pháp đã đặt chân lên đảo này. Đến thế kỉ XIX, sau khi chiếm xong các tỉnh ở Nam Kì , thực dân Pháp đã cho xây dựng trại giam để giam giữ những người Việt Nam yêu nước. Dưới chế độ chính quyền Sài Gòn cũ, sau khi đã tận dụng chuồng cọp do thực dân Pháp để lại và đã bị dư luận trong và ngoài nước lên án mạnh mẽ, họ đã cho phá bỏ và xây dựng lại nhiều chuồng cọp theo kiểu Mỹ. Ngoài rai giam sẵn có, chính quyền Sài Gòn còn cho xây dựng thêm 6 trại giam khác trong đó có chuồng nuôi bò, gia súc, gia cầm, cung cấp thịt sữ cho bọn cai ngục. Đồng thời cho xây dựng hầm phân bò để chứa phân và nước tiểu bò. Sau khi tra tấn người tù vẫn không chịu khai báo, bọn cai ngục tiếp tục ngâm những người tù này vào trong hầm phân suốt ngày đêm làm cho vết thương của người tù bị nhiễm trùng đi đến chỗ chết. Ngay khi hiệp định Paris được kí kết vào năm 1973 cá nữ tù chính trị ở Côn Đảo đã bị tra tấn, bị đánh đập rất dã man vì họ từ chối việc lăn tay và chụp hình tráo án thành tù thường phạm. Có thể nói Côn Đảo là một địa ngục trân gian, là nơi mỗi một viên đá là một mạng người. Sau đây là các hình thức trấn tấn rất dã man của bọn cai ngục :
    + Đòn đâm kim vào tay (còn gọi là châm cứu): Bọn cai ngục đã dùng những cây thước sắt đóng mạnh vào những cây kim gút có gắn thêm những cọng lông gà vào đầu các ngón tay của người tù, sau đó được đặt dưới quạt máy. Khi quạt quay thì những cọng lông gà sẽ quay theo làm cho cây đinh càng xoáy sâu vào mười đầu ngón tay người tù tạo ra luồng đau đớn xoáy thẳng vào tận tim làm cho người tù đau tim và đau thần kinh. Tiêu biểu là anh Lê Thanh Cảnh, sau khi bị tra tấn đến ngất xỉu, bọn cai ngục đã khớp miệng anh lại và còng tay của anh
    + Đoàn đi tàu bay: Nạn nhân bị treo lơ lửng trên không dưới sức nặng của cơ thể các khớp xương giản ra rất đau đớn đôi khi cỏn bị đánh đập đến ngất xỉu. Sau đó bọ cai ngục sẽ thả dây ra cho mặt và ngực tù nhân đập xuống đất đến hộc máu. Khi thực hiện đòn tra tấn bằng cách này thì bọn cai ngục đùa với nhau gọi là “tàu đã hạ cánh”.
    + Đòn tra nước (còn gọi là “đi tàu ngầm”): Người tù bị cột chặt trên băng gỗ đầu thấp hơn chân, miệng thì bị bịt bằng 1 miếng dẻ. Bọn cai ngục nối 1 ống cao su dẫn nước đưa vào mũi người tù, đôi khi bọn chúng còn pha xà phòng và vôi. Khi bụng của tù nhân đã căng chướng đầy nước thì bọn cai ngục dùng chân có mang giày đinh đạp mạnh vào bụng của tù nhân làm cho người tù phải nôn ra cả nước lẫn máu. Đòn tra tấn này làm cho người tù bị bệnh về đường ruột.
    + Đòn nước nhỏ giọt: Người tù bị cột chặt và đặt dưới vòi nước nhỏ giọt lên 1 chỗ cố định mà bọn chúng đã cạo bớt một mảng tóc trên đầu, ban đầu những người tù này chưa có cảm giác gì nhưng sau 2 giờ thì họ có cảm giác mỗi giọt nước như 1 thanh sắt giáng xuống đầu họ làm cho họ bị nhức nhối khủng khiếp. Hậu quả của đòn này làm cho người tù bị rối loạn thần kinh
    + Đòn đi tàu điện ngầm (tra điện): Bọn cai ngục dùng máy phát điện nối dây vào cơ thể của tù nhân, nhất là ở những chỗ nhạy cảm. Đòn tra tấn này không để lại dấu vết gì nhưng gây ra một hậu quả nghiêm trọng là sẽ bị đau thần kinh hay đau tim
    + Đòn tra rắn (đùa với rắn): Bọ cai ngục lợi dụng vào tâm lý sợ rắn của chị em phụ nữ nên chúng dùng phương pháp này để tra tấn các nữ tù binh chính trị.
    Sau khi đã tra tấn người tù bằng nhiều hình thức nhưng vẫn không khuất phục được thì họ đem ra pháp trường xử bắn, đã có rất nhiều các chiến sĩ Cách mạng của ta đã bị bắn trong đó có anh Nguyễn Văn Trỗi bị bắn tại trại giam Chí Hoà và anh Trần Văn Đang bị bắn tại pháp trường được dựng lên ở chợ Sài Gòn.
    Ngoài ra còn có một số tù nhân bị đàn áp bằng các loại lưu đạn như chất lân tinh, chất gây ói mửa và những hình thức tra tấn khác gây ra những hậu quả không thể xoá nhoà được trên cơ thể cũng như tinh thần của họ. Anh Hồ Minh Chánh sinh năm 1952 ở Bình Dương-Sông Bé, khi bị bắt chỉ bị thương nhẹ lại không được chữa trị thường xuyên, bị tra tấn đánh đập dã man nên anh đã ngất xỉu. Anh được chuyển đến bệnh viện Bình Dương ở Sông Bé. Tại đây các y vụ Philippin đã dùng các biện pháp cưa chân anh làm 5 lần buộc anh phải khai báo. Lần đầu tiên bọn chúng cưa cả hai bàn chân của anh, lần thứ 2 và 3 bọn chúng cưa một đoạn ống quyển chân trái và phải, lần thứ 4 và 5 bọn chúng cưa thêm 1 đoạn đùi trái và phải của anh. Anh Lê Văn Tiến khi ở Côn Đảo trở về chỉ còn là da bọc xương. Anh Đào Văn Trung bị tra tấn bằng điện đến mù cả 2 mắt. Anh Lâm Văn Vững bị giam 19 năm chỉ tính riêng ở Côn Đảo đã có 16 năm ở chuồng cọp, trong 1 lần tra tấn bọn cai ngục đã bẻ lọi cả 2 tay của anh. Do ăn uống thiếu thốn lại thường xuyên không được vận động nên các chiến sĩ Việt Nam yêu nước khi thoát khỏi ngục tù và trở về không thể nào đi lại bằng đôi chân của mình được nữa và cơ thể của họ chỉ còn da bọc xương. Lợi dụng vị trí xa đất liền của Côn Đảo thực dân Pháp và chế độ chính quyền Mỹ-Ngụy đã đối xử rất tàn bạo dối với những người tù ở đây, mỗi năm có hàng ngàn người chết ở Côn Đảo và các công trình xây dựng ở đây được đặt tên theo số người chết như cầu tàu 914-khi càu tàu xây dựng xong thì có 914 người chết; cầu tàu Ma Thiên Tĩnh còn gọi cầu tàu 315 – mặc dù mới hoàn thành 1 tháng đã có 315 người thiệt mạng
    Máy chém : Do thực dân Pháp mang sang Việt Nam vào đầu thế kỉ XX để đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân Việt Nam. Lúc bấy giờ máy chém này được đặt ở Khám Lớn- đường Lý Tự Trọng ngày nay. Đến khi Mỹ xâm lược chính quyền Sài Gòn cũ đã áp dụng luật 10/59 lê máy chém này đi khắp các tỉnh miền Nam Việt Nam để chém đầu những người Việt Nam yêu nước với khẩu hiệu ”thà giết nhầm hơn bỏ sót”. Năm 1960, người cuối cùng bị xử tử bởi máy chém này là ông Hoàng Lê Kha – Đảng viên Đảng lao động Việt Nam, nay là Đảng Cộng Sản Việt Nam, ông nguyên là Uy viên tỉnh Tây Ninh. Máy chém cao 4.5m tính riêng lưỡ dao đã nặng tới 50kg. Thông thường tù nhân sẽ bị cột chặt cà đặt nằm sấp trên băng gỗ, đầu dựa vào nửa vòng tròn bán nguyệt. Bên dưới có 1 cái hộp đựng mạt cưa để khi đầu của tù nhân rơi xuống thì máu không thấm ra ngoài. Cái hộp dài kế bên dùng để chứa xác người. Hiện nay máy chém này đã bị vô hiệu hóa
    Phòng 5: VIỆT NAM CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH
    Phòng này chủ yếu trưng bày những hình ảnh về nhân dân Việt Nam trong chiến tranh cũng như hình ảnh về những người lính Mỹ ở Việt Nam và một số hình ảnh về các cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc của Mỹ. Ngoài ra còn có các hình ảnh ghi nhận về các vết tích chiến tranh trong đó có cả hình ảnh của những em bé chịu hậu quả gián của chất độc màu da cam. Thật ra, các em bé này không chịu ảnh hưởng của chiến tranh nhưng cha mẹ của các em là nạn nhân trực tiếp bị nhiễm chất độc màu da cam trong chiến tranh nên đã ảnh hưởng một phần tới các em nhỏ. Những hình ảnh người Việt Nam kiên cường anh dũng trong chiến đấu và hăng say trong lao động, họ phải đổ mồ hôi, nuớc mắt và hi sinh cả bản thân của mình nhằm xây dựng lại đất nước trong thời bình cũng được trưng bày tại đây.
    Phòng 6: THẾ GIỚI ỦNG HỘ VIỆT NAM KHÁNG CHIẾN
    Từ trước CMT8-1945 chủ tịch Hồ Chí Minh và Cộng sản Đông Dương đã cho rằng cần phải thiết lập một mối quan hệ tốt đẹp đối với các nước đồng minh, trong đó có Mỹ, do đó Người đã có cuộc tiếp xúc và vận động một số quân sĩ Mỹ đối với lực lượng Việt Minh. Ngày 29/03/1945 lãnh tụ Hồ Chí Minh gặp tướng Mỹ Claire Channel chỉ huy đoàn không quân số 14. Vào ngày 27/04/1945 lãnh tụ Hồ Chí Minh gặp thiếu tá Mỹ trưởng nhóm OSS ở Việt Nam trong WW11 – cơ quan chiến lược hòa bình, tiền thân của CIA đã từng huấn luyện cho Việt Minh ở khu rừng phía Bắc Việt Nam.Ở đây còn có lá thư của lãnh tụ Hồ Chí Minh gởi cho người Mỹ có liên quan đến Việt Nam.Một số áp phích kêu gọi nhân dân cứu phi công Mỹ do máy bay bị đánh rơi, một số hình ảnh về mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Mỹ. Hàng ngàn người xuống đường biểu tình phản đối cuộc chiến tranh xâm lược này. Bốn sinh viên đại học ở bang Ohio đã bị bắn chết trong khi biểu tình, hình ảnh cô gái biểu tình cắm bông lên họng súng như một mong muốn hòa bình cho Việt Nam, thanh niên Mỹ đốt thẻ quân dịch từ chối tham chiến ở Việt Nam, hình ảnh 2 người dân My đã tự thiêu nhằm phản đối cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam. Một số hình ảnh củ tổ chức phi Chính phủ và các tổ chức Quốc tế ủng hộ Việt Na; cờ, huy hiệu của đảng Cộng Sản Nhật Bản trao tặng Việt Nam
    * Bảo tàng chứng tích chiến tranh là một điểm du lich văn hoá quan trọng của TPHCM chúng ta nói riêng và cả nước nói chung, nơi đây thông qua các hình ảnh hiện vật đã phần nào cho ta thấy chi tiết về tội ác của Đế quốc Mỹ và sự chiến đấu kiên cường, anh dũng của dân tộc, của nhân dân Việt Nam trong chiến tranh. Và nơi đây còn thể hiện mong muốn hoà bình của toàn thể nhân dân, dân tộc Việt Nam. Nhân dân Việt Nam muốn nói với cả thế giới rằng “Việt Nam của chúng tôi mong muốn hợp tác, hoà bình, hữu nghị, với các nước trên thế giới” ./.
    Xây dựng Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh
    Công trình được khởi công xây dựng sáng 27/7, tại số 28 Võ Văn Tần, quận 3, TP HCM. Bảo tàng gồm 1 tầng hầm, 1 trệt và 2 lầu với diện tích sàn xây dựng khoảng 5.400 m2, tổng kinh phí xây dựng cơ bản là 12 tỷ đồng. Dự kiến công trình hoàn thành sau một năm.
    Khối trưng bày (4.500 m2) được xây dựng gồm các phòng trưng bày chuyên đề, phòng hội thảo, phòng chiếu phim, phòng tiếp khách, giao lưu, hệ thống thang máy phục vụ cho người tàn tật đi lại tham quan...
    Công trình mới này sẽ giải phóng mặt bằng trưng bày ngoài trời của bảo tàng, thay vào đó xây dựng các công trình phụ khác như: tượng đài, khu tưởng niệm...


    BẾN CẢNG NHÀ RỒNG
    Bến Nhà Rồng khởi đầu là một thương cảng lớn của Sài Gòn. Thương cảng này nằm trên sông Sài Gòn và được xây dựng từ 1864, trên khu vực gần cầu Khánh Hội, nay thuộc quận 4. Tại nơi đây, vào ngày 5 tháng 6 năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành (sau này lây tên là Hồ Chí Minh) đã xuống con tàu Amiral Latouche Tréville làm phụ bếp để có điều kiện sang châu Âu. Do đó, từ 1975 toà trụ sở xưa của thương cảng Nhà Rồng đã được chính quyền Việt Nam xây dựng lại thành khu lưu niệm Hồ Chí Minh.
    Kiến trúc của Nhà Rồng
    Nhà Rồng được khởi công xây dựng ngày 4 tháng 3 năm 1863, do “Công ty vận tải đường biển” Pháp Messageries Maritimes xây cất để làm nơi ở cho viên Tổng quản lý và nơi bán vé tàu. Nóc nhà gắn hình rồng, ở giữa thay vì trái châu thì là chiếc phù hiệu mang hình “Đầu ngựa và chiếc mỏ neo”. Phù hiệu “Đầu ngựa” hàm chỉ thời trước bên Pháp, công ty này chuyên lãnh chở đường bộ với ngựa kéo xe, còn “Mỏ neo” tượng trưng cho tàu thuyền. Trụ sở công ty được giới bình dân gọi là nhà Rồng, có nhiều thuyết về cái tên này: có thuyết nói rằng vì có gắn đôi rồng lớn bằng đất nung tráng men xanh trên nóc nhà một thuyết khác cho rằng khác là Nhà Rồng có nghĩa là Gia Long với Nhà là Gia, Rồng là Long, bến Nhà Rồng được người Pháp đặt để nhớ tới quan hệ của vua Gia Long với nước Pháp. Người lớn tuổi gọi tên là Sở Ông Năm, vì hãng tàu biển này do quan năm Pháp Domergue đứng ra sáng lập.
    Vào tháng 10 năm 1865, người Pháp cho dựng cột cờ Thủ Ngữ. Từ "Thủ ngữ" có nghĩa là sở canh tuần tàu biển. Cột cờ treo cờ hiệu để cho tàu thuyền ra vào Cảng nên biết vào ngay hay chờ đợi.
    Năm 1893, trụ sở công ty Nhà Rồng dùng đèn điện, dùng bóng đèn 16 nến, sáng leo lét, kém xa mấy ngọn đèn lồng thắp dầu lửa mà tòa đô chính cho thắp thử ở đường Catina (Đồng Khởi).
    Gần cuối năm 1899, công ty được phép xây cất bến cho tàu cặp vào. Bến lót ván dày, đặt trên trụ sắt dọc theo mé sông 42 mét (phía tàu cặp vào). Bến này cách bến kia 18 mét. Bề ngang của moai bến vào phía trong bờ là 8 mét. Từ bờ ra bến có cầu rộng 10 mét. Ban đầu xây hai bến rồi xây thêm bến thứ ba.
    Năm 1919, công ty được phép xây bến bằng xi măng cốt sắt, nhưng không thực hiện được, phải đến tháng 3 năm 1930 mới hoàn thành bến mới, chỉ một bến nhưng dài 430 mét.
    Toàn bộ kiến trúc xưa của tòa trụ sở thương cảng Nhà Rồng hầu như còn nguyên vẹn cho đến ngày nay.

    Lý lịch Bến cảng Nhà Rồng


    Lý lịch Bến cảng Nhà Rồng gắn liền với lịch sử đế quốc Pháp xâm lược và khai thác Việt Nam. Pháp xâm chiếm nước ta bằng hải quân, thương thuyền của họ cũng theo chân yểm trợ và khai thác. Cuối năm 1859, Pháp bắn phá thành Gia Ðịnh (nằm ở góc sông Sài Gòn với rạch Thị Nghè, trên nền trường Ðại học Khoa học Xã hội Nhân văn ngày nay), tuy vẫn bị kháng cự từ phía Chí Hòa ép xuống, nhưng đô đốc Page đã tuyên bố mở cảng Sài Gòn cho xuất nhập buôn bán ngay từ ngày 22-2-1860. Cuối năm đó, đã có 251 tàu xuất khẩu hơn 81.500 tấn hàng, mà gần 60.000 tấn là thóc gạo. Song đại đa số thương thuyền ra vô còn mang cờ Hồng Mao, và ngay việc bưu chính lúc đó, chính quyền thuộc địa Pháp vẫn phải nhờ tàu thư Anh. Muốn cạnh tranh với Anh mà lại trông cậy, lệ thuộc vào Anh thì không được, nên Pháp đã hết mình ủng hộ cho một hãng vận chuyển đường biển những chuyến liên lạc thường kỳ. Bến cảng Nhà Rồng ra đời từ yêu cầu đó.
    Hãng chuyên chở đường biển lúc ấy còn mang tên Vận tải Ðế Quốc (Messagerie Impériales) được chỉ định làm việc này. Hãng dự tính đem 12 tàu chạy bằng hơi nước với sức tổng cộng 4.000 mã lực và dung khối 27.700 tôn-nô (mỗi tôn-nô là 1,44 m3). Ðây là một quy mô đáng kể, nên cần có bến đậu, văn phòng quản lý, cơ xưởng sửa chữa, kho hàng, vựa than... ngay ở Sài Gòn. Một phương án được gửi từ Pháp sang ngày 14-10-1861 cho biết vài chi tiết:
    Phải cần có một xưởng nguội với 16 máy tiện, mà một cỗ máy lớn phải dài 8 m với pla-tô rộng 2,2 m đường kính, khoảng 20 máy công cụ khác, 50 vồ cặp, và một động cơ chung mạnh 20 mã lực. Một nhà máy gò. Một xưởng rèn có nhiều lò, với hai búa máy và một cần cẩu kéo nặng sáu tấn. Một nhà máy đúc, có thể nung cả đồng, sắt, thép, thau, với một nồi nấu được 5 tấn kim khí. Một xưởng mộc. Một xưởng trét thuyền. Một xưởng sơn phết. Một xưởng làm buồm, trải thảm, đóng nệm, may quần áo, việc này để dành cho vợ con thợ hãng. Một kho chứa vật liệu, linh kiện thay thế, thừng chão, gỗ quý, dầu mỡ, lương thực... Một giàn than phòng cho 6 tháng tức khoảng 6.000 tấn. Một cần cẩu chuyển nặng 40 tấn có tay dài 8 m. Tất cả đòi hỏi một công trình xây dựng hơn 8.000 m2 có mái lợp với hai nhà lầu, địa điểm phải ở cạnh bờ sông dài khoảng 300 m, rộng độ 100 m. Phí tổn phỏng định là 1 triệu F.F (gần 200 nghìn lạng bạc ta) tức là một số tiền rất lớn thời đó.
    Tổng đại lý của hãng tại Sài Gòn là Domergue, một trung tá công binh của quân đội viễn chinh Pháp, phụ tá là Brossard de Corbigny, cũng nguyên là thiếu tá hải quân. Cả hai đều không xa lạ với chính quyền, điều đó nói lên sự cấu kết chặt chẽ giữa tư bản đế quốc với chính quyền thực dân. Ngoài ra, hãng còn gửi sang ngay hai kỹ sư trẻ là Laborde và Palicot để lo việc điều tra cơ bản và thực hiện phương án. Vấn đề đầu tiên của nhóm là tìm ra địa điểm thuận lợi, thích hợp nhất đồng thời chuẩn bị khẩn trương để đón những chuyến tàu khai trương sắp cập bến. Ngày 31-12-1861, Domergue đệ đơn xin mảnh đất khá rộng (nay là góc Lê Thánh Tôn với Nguyễn Thị Minh Khai) làm trụ sở, văn phòng và nơi tạm trú cho công nhân viên. Ngày 5-2-1862 lại xin thêm ba địa điểm quan trọng khác nữa:
    a) Một bến cảng cùng với xưởng máy nằm trên bờ sông Sài Gòn về phía bắc, gần cửa rạch Thị Nghè. Ðịa điểm này rộng gần 13 mẫu tây và bao trùm trên nền móng cũ của một "ngôi chùa vua". (Pháp gọi Temple hoặc Pagode Royale).
    b) Một miếng đất trên bờ rạch Thị Nghè (ngay Sở Thú, lúc đó chưa lập) để xây cơ sở hành chính
    c) Và một khoảnh đất nữa làm văn phòng và nơi giao dịch tại bờ, gần ngã ba sông Sài Gòn với vàm Bến Nghé, tức khoảng Thủ Ngữ. Những yêu cầu này đều được chấp thuận trên nguyên tắc, tuy chưa cho hãng được hoàn toàn và vĩnh viễn sở hữu những đất đai đó nhưá hãng muốn, vì lúc ấy hiệp định "nhượng địa" Pháp - Nam chưa ký kết (5-6-1862 mới ký).
    Trong khi đại diện hãng tại Paris cũng như Sài Gòn làm reo đòi điều kiện tối đa với chính phủ Pháp và soái phủ Sài Gòn, thì kỹ sư hãng vẫn gấp rút chuẩn bị việc xây cất. Hãng xin lấy đá và mở lò vôi ở Vũng Tàu ngay chân núi đang xây tháp đèn hải đăng. Palicot phụ trách việc đó, đồng thời thăm dò các vùng lân cận để tìm nguyên vật liệu cần thiết cho công tác. Còn Laborde thì đo đạc, vẽ họa đồ vùng đất Chùa Vua, mà người Pháp không biết hay không muốn biết thực sự là chùa hay miếu gì. Hãng lại gửi thêm sang một thư ký và một họa viên trong số 83 thầy thợ người Âu dự tính cần thiết cho công cuộc xây dựng lớn lao này... Số thông ngôn, thợ chuyên môn và phu phen khác sẽ mượn ngay tại chỗ hoặc tuyển từ Hương Cảng tới. Dụng cụ và vật liệu khác được chở từ Pháp qua bằng tàu Anh nếu nhẹ, bằng thuyền nếu quá cồng kềnh.

    Vì là việc trọng đại, nên hãng phái viên tổng thanh tra Firette sang điều đình và quyết định tại chỗ. Sau khi nghiên cứu kỹ, viên này viết thư cho đô đốc Bonard ngày 28-3-1862, xin thay đổi một địa điểm chính yếu: Trả lại khoảnh đất Chùa Vua để lấy một địa điểm khác ở ngã ba sông Sài Gòn với vàm Bến Nghé (tức vị trí hiện nay).
    Ðịa điểm mới chỉ rộng bằng nửa Chùa Vua tức chưa quá 6 ha rưỡi, nhưng sát trung tâm thành phố, thuận lợi hơn. Tuy nhiên, vẫn in được sử dụng gạch đá và các vật liệu khác của Chùa Vua vì hãng đã bỏ tiền của ra để khai hoang di tích đó (!). Chùa Vua đây chính là Văn Thánh miếu của đất Gia Ðịnh xưa.
    Quá nửa năm 1862, hãng đã bắt đầu xây cất, trước hết là cưá xá cho công nhân viên, các văn phòng và chủ yếu là ngôi Nhà Rồng (Pháp mệnh danh: Biệt thự hãng, Hotel des M.I.). Cho đến nay, chưa biết ai đã vẽ họa đồ kiến trúc Nhà Rồng và có sáng kiến đặt hai con rồng tráng men xanh uốn khúc trên nóc cao (lưỡng long chầu nguyệt, không hiểu sao khi sửa mái nhà, người ta cho quay đầu rồng ra hai ngả, chẳng thành kiểu cách gì nữa). Do đấy, người mình đặt tên cho hãng và cả bến cảng là Nhà Rồng dù hãng đã thay chủ đổi ngôi và cải tên từ Vận tải đế quốc sang Vận tải hải dương (Messageries Impériales, Messageries Maritimes).
    Ngày 15-8-1862, khánh thành ngọn hải đăng ở Vũng Tàu, lần đầu tiên ánh đèn đã từ trên cao chỉ lối cho tàu bể từ xa thấy đường vào cửa biển Cần Giờ. Hoàn thành một dây điện tín liên lạc từ Vũng Tàu với Sài Gòn để thông báo việc ra vô của tàu thuyền. Thủ Ngữ được dựng cao, từ ngã ba Nhà Bè đã thấy dấu hiệu. Hai tàu kéo đã mua từ Xiêm phụ trách việc sắp xếp bến đậu và quay mũi các thuyền tàu lớn (sông Sài Gòn chỉ rộng từ 200 đến 300 m) ngày 25-8-1862, luật cảng Sài Gòn ban hành với đầy đủ chi tiết.
    Con tàu hơi nước đầu tiên của hãng khai trương đường biển từ Pháp tới bến cảng Nhà Rồng ngày 23-11-1862, rồi tiếp tục đi Hương Cảng, sau đó lại trở về Sài Gòn để bắt đầu chuyến đi Pháp ngày 11-12-1862.
    Hiện nay không còn văn kiện để biết rõ lịch trình xây dựng Nhà Rồng ra sao, nhưng báo Courrier de Saigon ngày 5-11-1865 đã tả cảnh nhộn nhịp của bến cảng với đủ mọi loại tàu bè lớn nhỏ cạnh "ngôi biệt thự huy hoàng của hãng Vận tải đế quốc", bên bờ sông Sài Gòn. Toàn bộ kiến trúc gồm ngôi Biệt thự Nhà Rồng, văn phòng, cư xá, tổng khố, nhà máy, kho than, giếng nước, bến đậu... chiếm một diện tích khá lớn. Riêng các xưởng thợ và kho đã phải lợp trên 18.000 mét vuông mái ngói. Cầu tàu bến đậu dài tới 350 m. Tổn phí mất gần 3 triệu France, trong khi dự tính có 1 triệu. Công tác tiến hành liên miên suốt từ 1862 tới 1867 mới tạm xong. Nếu căn cứ vào chỉ thị của hãng từ Pháp, phải ưu tiên xây dựng biệt thự Nhà Rồng để tiêu biểu cho Ðại lý ở Aá Ðông, thì có thể phỏng đoán Nhà Rồng đã thành hình từ 1863 rồi. Ðây là ngôi nhà lớn nhất, xây sớm nhất của Sài Gòn do Pháp thống trị còn tồn tại vững vàng đến nay. Nó đã gần 140 tuổi. Nó còn ra đời trước xa đối với dinh soái phủ, tòa án, nhà thờ, chợ Bến Thành, Nhà hát lớn, ga xe lửa, tòa Xã Tây... Ðấy là chưa kể tới tuổi thọ của gạch, ngói, gỗ, đã lấy từ một di tích lịch sử quý báu của dân tộc Việt Nam mà hãng đã dùng để xây dựng biệt thự đó.
    Ngày 1-1-1937, 20.000 đồng bào đã biểu tình khi lao công đại sứ Pháp Godart sang điều tra tình hình Ðông Dương trong thời kỳ Mặt trận bình dân.
    Trong những ngày đầu tiên của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1945, quân và dân Việt Nam đã nhiều lần tiến công quân địch ở vùng Khánh Hội, bến Nhà Rồng. Ðặc biệt, đêm 15-10-1945 quân khởi nghĩa đã đốt cháy chiếc tàu A-Léc của Pháp vừa cặp bến Nhà Rồng.
    NHÀ THỜ ĐỨC BÀ
    • Nhà thờ Đức Bà TP HCM (còn gọi là nhà thờ lớn) đồ sộ, đẹp, luôn thu hút nhiều người lui tới trong 124 năm qua. Nhìn từ bên ngoài, toàn bộ nhà thờ từ mái đến tường là một màu đỏ gạch nung. Gạch và ngói giữ nguyên màu đến nay không hề đóng rêu mốc.
    Một số ngói vỡ trong nhà thờ có in hàng chữ Guichard Carvin, Marseille St André France (có lẽ là nơi sản xuất loại ngói này), mảnh ngói khác lại có hàng chữ Wang - Tai Saigon. Có thể đây là mảnh ngói được sản xuất sau tại Sài Gòn dùng để thay thế những mảnh ngói vỡ trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai, thời gian mà theo linh mục Vương Sĩ Tuấn, có nhiều cửa kính của nhà thờ bị vỡ.
    Dài 91 m, rộng 35,5 m và vòm mái chính cao 21 m, hai tháp chuông cao 57 m, tường nhà thờ Đức Bà được xây bằng gạch và cột bằng đá tảng theo đồ án của kiến trúc sư J.Bourard, một chuyên gia về các công trình kiến trúc tôn giáo.
    Khởi công từ 7/10/1877 đến 11/4/1880 thì hoàn thành, nhà thờ còn là một nơi yên nghỉ của nhiều giám mục và linh mục của giáo phận, trong đó có giám mục Isidore Colombert - người đặt viên đá đầu tiên và làm lễ khánh thành nhà thờ, mất năm 1894.
    Nhà thờ Đức Bà hoàn toàn không có chỗ cho nến (đèn cầy). Toàn bộ đèn - có mặt ngay từ khi xây dựng xong - đều dùng điện.
    Bên trong nhà thờ khá rộng, có sức chứa 1.200 người, với hai hàng cột chính hình chữ nhật mỗi bên sáu chiếc tượng trưng cho 12 vị thánh tông đồ. Ngay sau hàng cột chính là một hành lang với khá nhiều khoang có những bàn thờ nhỏ (hơn 20 bàn thờ) cùng các bệ thờ và tượng thánh nhỏ làm bằng đá trắng khá tinh xảo.
    Trên tường được trang trí nổi bật 56 cửa kính mô tả các nhân vật hoặc sự kiện trong Thánh kinh, 31 hình bông hồng tròn, 25 cửa sổ mắt bò bằng kính nhiều màu ghép lại với những hình ảnh rất đẹp. Rất tiếc trong số cửa kính này hiện chỉ còn hai cửa là nguyên vẹn như xưa.
    Đứng từ bàn thờ chính của nhà thờ nhìn về phần trên cao phía cửa chính, sẽ thấy một bức tường gỗ lớn. Đó là nơi được gọi là “gác đàn” và bức tường gỗ ấy chính là cây đàn organ ống, một trong hai cây đàn cổ nhất nước hiện nay, theo linh mục Vương Sĩ Tuấn. Đàn này được các chuyên gia nước ngoài làm bằng tay, thiết kế riêng, để khi đàn âm thanh đủ cho cả nhà thờ nghe, không nhỏ mà cũng không ồn.
    Ước lượng phần thân đàn cao 3 m, ngang chừng 4 m, dài khoảng 2 m, chứa những ống hơi bằng nhôm đường kính khoảng một tấc. Phần điều khiển đàn nằm riêng nối với thân đàn bằng những trục, có những phím đàn như đàn organ bình thường hiện nay dùng tay gõ và những phím to đặt dưới sàn nhà (dài chừng 3m, ngang khoảng 1m) để người điều khiển đàn đạp lên khi dùng nốt trầm.
    Bên trong đàn được thiết kế tương tự đàn piano nhưng phức tạp hơn nhiều. Đàn còn có những thanh gõ lớn để đập vào phần dưới các ống hơi phát ra âm thanh, tương tự kiểu đánh đàn k’lông pút của Tây nguyên. Theo ông Nam Hải, người phụ trách phần nhạc của nhà thờ, để đánh được cây đàn này người đánh phải học riêng vì không có trường lớp nào dạy.
    Điều đáng tiếc là cây đàn này đã hoàn toàn hỏng do thiếu bảo quản (bị mối ăn phần gỗ bàn phím điều khiển bằng tay). Hiện nhà thờ còn có một cây đàn tương tự nhưng nhỏ hơn rất nhiều, trị giá khoảng 70.000 USD, còn khá mới, do một cựu lãnh sự Pháp tại TP HCM “gửi”.
    Hai bên hông gác đàn là một khoảng trống, đó là gác chuông. Từ khoảng trống này nhìn thẳng lên mái tháp chuông cao hun hút hơn 26m và chỉ có độc một chiếc cầu thang hẹp chừng 4 tấc bề ngang.
    Khoảng giữa cầu thang nhỏ ấy ở độ cao chừng 15m, có một khung cửa tò vò nhỏ bằng lưới. Chui vào cánh cửa ấy với khá nhiều bụi bặm và phân dơi, phần chủ yếu của chiếc đồng hồ nhà thờ Đức Bà hiện ra. Bộ máy đồng hồ to như một chiếc tủ chứa quần áo loại lớn, cao khoảng 2,5m, dài khoảng 3m và ngang độ hơn 1m.
    Để điều chỉnh đồng hồ, phía sau máy có một chiếc đồng hồ to cỡ đồng hồ reo trong gia đình. Chỉ cần theo dõi chiếc đồng hồ con này, có thể biết đồng hồ lớn chạy chậm, nhanh, đúng hay sai giờ. Theo anh Phan Vĩnh Du, người chịu trách nhiệm đánh chuông và bảo trì đồng hồ, mỗi tuần phải lên giây đồng hồ một lần và chiếc cần để lên giây đồng hồ giống như tay quay máy xe.
    Trên gác chuông cao 36,6m kể từ mặt đất, rất tối và sàn được lót sơ sài bằng những miếng gỗ nhỏ cách khoảng, nhìn xuống thấy sâu hút. Gác chuông bên phải (phía bên Trường Hòa Bình) có hai chuông mang tên nốt nhạc la và do. Gác chuông bên trái có bốn quả chuông sol, si, mi và re.
    Ba quả chuông to nhất là sol nặng 8.745 kg, si nặng 3.150 kg và re nặng 2.194 kg. Tổng cộng sức nặng của các quả chuông, theo linh mục Vương Sĩ Tuấn, là gần 30 tấn, tất cả đều được đúc ở Pháp vào năm 1879. Đặc điểm của chuông nhà thờ là có âm sắc riêng không thể lẫn vào đâu, vì vậy theo anh Nam Hải, không có nốt fa.
    Khi xây nhà thờ, gác chuông không có mái. Năm 1885, kiến trúc sư Gardes đã thêm mái chóp vào để che gác chuông với tổng chiều cao tính từ đất là 57 m. Những chiếc chuông của nhà thờ được điều khiển bằng điện từ bên dưới. Song riêng ba chiếc chuông lớn trước khi đánh đều được khởi động bằng cách đạp (vì quá nặng) cho lắc trước khi bật rơ-le điện. Khi đổ cùng lúc sáu chuông, tiếng chuông vang xa trong phạm vi chừng 10km.


    ĐIỂM CẦN THUYẾT MINH-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
    Học viện hàng không Việt Nam
    Ngày 17 tháng 7 năm 2006, thừa lệnh Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã ký Quyết định số 168/2006/QĐ-TTg về việc thành lập học viện Hàng không Việt Nam trên cơ sở trường Hàng không Việt Nam.
    Đây là cơ sở đào tạo đại học trực thuộc Bộ Giao thông - Vận tải, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng. Trụ sở của học viện Hàng không Việt Nam đặt tại thành phố Hồ Chí Minh. Học viện Hàng không hoạt động theo điều lệ trường đại học do Thủ tướng Chính phủ ban hành.
    Phó Thủ tướng giao Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Giám đốc học viện Hàng không Việt Nam chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

    Đường Nguyễn Văn Trỗi
    Tiểu sử Nguyễn Văn Trỗi
    Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 1 tháng 2 năm 1940 là con thứ năm (do đó ông còn có tên là Tư Trỗi) trong một gia đình nghèo tại làng Thanh Quít, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Sau hiệp định Genève, gia đình ông vào Sài Gòn sinh sống. Lớn lên ông làm thợ điện ở nhà máy điện Chợ Quán và tham gia tổ chức Biệt động thành thuộc Đại đội quyết tử 65 cánh Tây Nam Sài Gòn.
    Năm 1964, ông được tập huấn cách đánh Biệt động nội thành ở căn cứ Rừng Thơm (Đức Hòa - Long An). Ngày 2 tháng 5 năm 1964, ông nhận nhiệm vụ đặt mìn ở cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi) để ám sát phái đoàn quân sự chính trị cao cấp của Chính phủ Mỹ do Bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu. Công việc bại lộ, ông bị bắt lúc 22 giờ ngày 9 tháng 5 năm 1964.
    Trong nhà lao ông bị nhiều cực hình và cám dỗ nhưng ông không khai báo gì. Chính quyền Nguyễn Khánh đưa ông ra tòa án quân sự nhằm uy hiếp tinh thần chống Mỹ trong nhân dân lúc bấy giờ. Để cứu ông, một tổ chức du kích Venezuela tuyên bố trao đổi ông với một con tin là trung tá không quân Mỹ là Michael Smolen mà họ vừa bắt giữ. Tuy nhiên, sau khi viên sĩ quan Mỹ vừa được trả tự do thì ông bị đem đi xử bắn. Ông bị xử bắn tại sân sau nhà lao Chí Hòa lúc 9 giờ 45 phút ngày 15 tháng 10 năm 1964 (hưởng dương 24 tuổi) trước sự chứng kiến của rất nhiều phóng viên nước ngoài. Những phút cuối cùng, ông tỏ ra rất can đảm, không đồng ý bịt mắt và xưng tội. Các phóng viên đã ghi lại những lời cuối cùng của ông:
    “Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!”
    “Đả đảo Nguyễn Khánh
    Việt Nam muôn năm.”
    Sau khi ông bị xử bắn, gia đình đã đưa ông về chôn cất ở nghĩa trang Văn Giáp ở Giồng Ông Tố (nay thuộc phường Bình Trưng Đông quận 2 thành phố Hồ Chí Minh).
    Sau khi hi sinh, ông được truy nhận Đảng viên Nhân dân Cách mạng miền Nam và được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương thành đồng hạng nhất.
    Về phần gia đình, ông lập gia đình với bà Phan Thị Quyên vào năm 1964. Bà cũng bị bắt sau ông vài ngày nhưng sau đó được thả ra vì không có bằng chứng kết tội. Hai người chưa có với nhau người con nào. Sau khi ông bị xử bắn, bà được các đồng chí của ông đưa ra Bắc học và gặp chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1973, bà tái giá với một người bạn học ngoài Bắc là Lê Tâm Dũng (Ba Dũng). Hai người có với nhau một người con trai là Lê Tâm Việt (sinh năm 1979) và một người con gái là Lê Phan Hồng Nga (sinh năm 1987).
    Đường Hoàng Văn Thụ
    Tiểu sử Hoàng Văn Thụ

    Hoàng Văn Thụ sinh năm1909 và mất năm 1944, ông là nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông là người dân tộc Tày, quê ở xã Nhân Lý, châu Điềm He, tỉnh Lạng Sơn (nay là xã Hoàng Văn Thụ, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn) và hi sinh tại Hà Nội.
    Ông học Trường Tiểu học Lạng Sơn. Năm 1926, ông tham gia phong trào truy điệu cụ Phan Châu Trinh và thành lập nhóm thanh niên yêu nước ở Lạng Sơn. Năm 1927, ông sang Trung Quốc hoạt động và làm công nhân ở xưởng cơ khí Nam Hưng (do những người cách mạng Việt Nam lập ở Quảng Tây). Năm 1929, ông gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng. Được Ban liên tỉnh ủy lâm thời Cao Bằng - Lạng Sơn (tiền thân là Chi bộ Xưởng cơ khí Nam Hưng) phân công phụ trách Lạng Sơn.
    Từ năm 1930 đến năm 1933, ông xây dựng được một số tổ chức quần chúng cách mạng ở Lạng Sơn. Đầu năm 1937, ông trở về Cao Bằng và tham gia chỉ đạo phong trào Mặt trận dân chủ. Ông làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ từ tháng 3 năm 1939. Tháng 11 năm 1940, ông tham gia Hội nghị Trung ương VII - hội nghị quyết định tiếp tục thực hiện chủ trương nêu cao mục tiêu giải phóng dân tộc do Hội nghị Trung ương VI (1939) đề ra và được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Lâm thời của Đảng, chỉ đạo lực lượng vũ trang và căn cứ địa Bắc Sơn - Vũ Nhai. Tháng 5 năm 1941, ông được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng (Hội nghị VIII của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ở Cao Bằng) rồ sau đó được cử vào Tổng bộ Việt Minh. Năm 1943, ông được ủy nhiệm cùng Xứ ủy Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội củng cố các cơ sở Đảng, giữ vững và phát triển phong trào cách mạng ở Hà Nội.
    Tháng 8 năm 1943, ông bị thực dân Pháp bắt (tại phường Tân Mai, Hà Nội ngày nay), bị kết án tử hình (tháng 1 năm 1944) và bị xử bắn tại Hà Nội (ngày 24 tháng 5 năm 1944). Hoàng Văn Thụ là một chiến sĩ cộng sản kiên cường, bất khuất, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân Việt Nam.
    Đường Phan Đăng Lưu
    Tiểu sử Phan Đăng Lưu

    Phan Đăng Lưu sinh năm 1902 mất năm 1941, ông là nhà hoạt động nổi tiếng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quê ông ở xã Tràng Thành (nay là xã Hoa Thành), huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
    Ông tốt nghiệp Trường Canh nông (Tuyên Quang) rồi tham gia Hội Phục Việt (sau đổi thành Tân Việt Cách mạng Đảng) và là ủy viên Tổng bộ. Năm 1928, ông tham gia xuất bản “Quan hải tùng thư” tại Huế và là ủy viên thường vụ của Tổng bộ Đảng Tân Việt. Ông đại diện Đảng Tân Việt sang Quảng Châu để bàn việc hợp nhất với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
    Ông bị bắt tại Hải Phòng tháng 9 năm 1929 và bị kết án tù khổ sai và đày đi Buôn Ma Thuột. Ra tù năm 1936, ông tham gia lãnh đạo phong trào Mặt trận Dân chủ ở Huế. Ông là tác giả của nhiều bài báo, tác phẩm với bút danh Tân Cương, Phi Bằng. Năm 1938 ông là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Đến năm 1940 ông là ủy viên thường vụ, được phân công chỉ đạo phong trào ở Nam Kỳ. Ông được tham dự Hội nghị VI (tháng 11 năm 1939) và Hội nghị VII (tháng 11 năm 1940) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và bị bắt vào ngày 22 tháng 11 năm 1940 khi vừa về đến Sài Gòn.
    Ông bị thực dân Pháp kết án tử hình và bị xử bắn ở Hóc Môn (ngày 28 tháng 8 năm 1941). Phan Đăng Lưu là một chiến sĩ cộng sản kiên cường, bất khuất, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân Việt Nam.
    Lăng Ông Bà Chiểu
    Lăng Tả quân Lê Văn Duyệt, còn gọi là “Lăng Ông Bà Chiểu”, là một di tích lịch sử - văn hóa ởthành phố Hồ Chí Minh đã được nhà nước công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa Quốc gia. Đây không chỉ là nơi thờ cúng một nhân vật lịch sử cách nay hơn thế kỷ mà còn là công trình kiến trúc có giá trị văn hóa, nghệ thuật đặc sắc mang đậm nét văn hóa truyền thống Việt Nam nói chung và vùng đất Nam Bộ nói riêng. Nằm kế bên chợ Bà Chiểu nên “Lăng Ông Bà Chiểu” là tên gọi phổ biến trong dân gian để chỉ lăng Tả quân Lê Văn Duyệt. Lăng tọa lạc số 126 Đinh Tiên Hoàng, phường 1, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh trên một khu đất rộng 18.500 m2. Thật ra, theo đúng như hàng đại tự phù điêu trên cổng tam quan thì tên gọi chính xác phải là “Thượng Công Miếu”.
    Vốn nằm trên vùng đất hoang ở thượng du Nghi giang nên dọc lối đi vào khuôn viên lăng ngày nay vẫn còn nhiều cây gỗ quý cao to, bóng mát như: si, dầu, bằng lăng... Theo lời của một số người am hiểu thì ngày xưa, Lăng Ông nằm trên một gò đất hình lưng qui. Đối với khoa “địa lý” thì đây là vị thế nằm vào “long mạch” hợp với “địa linh nhân kiệt”, tài lộc đời đời vĩnh tế và sẽ có ảnh hưởng tốt cho sự an lạc của đồng bào cư trú trong khu vực.
    Khuôn viên Lăng Ông hiện còn khá rộng, được giới hạn bởi bức tường vây quanh với chu vi 500 mét, cao 1,2 mét. Bốn cổng lăng mở ra bốn hướng:
    - Cổng Đông:mở ra đường Trịnh Hoài Đức.
    - Cổng Tây: mở ra đường Đinh Tiên Hoàng.
    - Cổng Bắc:mở ra đường Phan Đăng Lưu.
    - Cổng Nam (cổng tam quan):mở ra đường Vũ Tùng.
    Trước kia, khi những con đường trên chưa được mở thì diện tích Lăng Ông lớn gấp hai lần hiện nay. Phía trước và hai bên lăng miếu là phần đất hương hỏa mà triều đình Tự Đức năm thứ 13 (1860) ban cho xã Bình Hòa thu hoa lợi để phụng sự và trùng tu lăng miếu.
    Tuy gọi là Lăng Ông nhưng tại khu lăng mộ lại có hai ngôi mộ của Tả quân Lê Văn Duyệt và của Chánh thất Tả quân Phu nhân Đỗ Thị Phận, được song táng theo cổ lệ “càn khôn hiệp đức” của Nho giáo. Trước mộ phần là một ngôi điện nhỏ, tường gạch, mái lợp âm dương, phía trên vòm cửa hình vòng cung phù điêu hàng chữ “Lê Công Bí Đình”.
    Cùng nằm trên một trục và cách khu lăng một khoảng sân rộng 26 mét x 15 mét là khu vực trung tâm diễn ra các sinh hoạt tín ngưỡng được gọi là “Thượng công linh miếu”. Bố cục của “Thượng công linh miếu” bao gồm: Tiền điện, Trung điện và Chánh điện, mỗi gian điện thờ cách nhau bằng một sân Thiên Tĩnh. Đối xứng hai bên trục nhà chính là Đông Lang , Tây Lang (lễ khách đường). Nhìn bề ngoài, toàn bộ mái nhà “Thượng công linh miếu” như đan vào nhau xếp thành lớp, thành tầng. Nóc sau cao hơn nóc trước với các cổ lầu rất nguy nga, bề thế. Vật liệu cũng như kỹ thuật kết cấu của “Thượng công linh miếu” có những đặc điểm đáng chú ý: kế thừa kiến trúc cổ truyền Việt Nam, đồng thời có sự cách tân , nên hình khôí kiến trúc có những thay đổi, tạo sự vững vàng, bền chắc. Tường gạch giữ vai trò quan trọng trong kết cấu chịu lực, cột gạch thay thế cột gỗ ở hàng hiên để chịu đựng lâu dài trước mưa dầm và nắng gắt của vùng nhiệt đới phương Nam. Nhìn chung Tiền điện, Trung điện và Chánh điện có một vài sự khác nhau về vật liệu và kỹ thuật kết nối bên trong. Tuy nhiên bộ mái nhà hai tầng là một nét đặc sắc chung trong tổng thể kiến trúc “Thượng công linh miếu”, thể hiện đặc điểm kiến trúc Việt Nam. Các bờ nóc được xây cao với hai đầu cong, trang trí “Lưỡng Long chầu nguyệt” trông giống như những chiếc thuyền rồng đang neo lại. Trên bề mặt bờ nóc được chia thành từng ô hình vuông và chữ nhật để đắp những đề tài trang trí khác. Cảm giác cong nhẹ của mái là điểm xoáy hất lên của đuôi rồng chầu vào bờ nóc hoặc nơi oằn xuống của lưng kỳ lân.
    Sau nhiều đợt trùng tu, di tích Lăng Ông đã phần nào phục hồi được nét uy nghiêm, cổ kính vốn có của một cơ sở tín ngưỡng và đã trở thành di sản quí giá trong kho tàng văn hóa dân tộc Việt Nam.
    Đường Bạch Đằng
    Ý nghĩa tên gọi Bạch Đằng
    Bắt nguồn từ hai hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, sông Bạch Đằng hiểm yếu mà hùng vĩ chảy giữa hai huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng) và Yên Hưng (Quảng Ninh). Khi thuỷ triều lên, mặt sông ở vùng Tràng Kênh trải rộng hơn 1.200 mét. Theo sông Đá Bạc chảy xuống đến đầu bắc dãy núi Tràng Kênh, sông Bạch Đằng phình to hẳn ra. Đó là nơi tập trung của 5 con sông: sông Khoai, sông Xinh bên tả ngạn và sông Giá, sông Thái, sông Gia Đước bên hữu ngạn đổ ra cửa Nam Triệu. Trong cuốn “Dư Địa Chí” của Nguyễn Trãi lại chép tên sông là Vân Cừ: “Sông Vân Cừ sâu, sông rộng 2 dặm linh 69 trượng, sâu 5 thước, núi non cao vót, nước suối giao lưu, sóng tung lên tận trời, cây cối lấp bờ, thực là nơi hiểm yếu. Nước ta khống chế người Bắc, sông này là cổ họng”. Đặc điểm địa hình nổi bật của thượng lưu sông Bạch Đằng là sông núi tiếp liền nhau. Từng ngọn núi nhấp nhô của vùng núi đá Tràng Kênh ở phía đông huyện Thủy Nguyên kéo nhau chạy sát tới bờ sông. Ở đây có nhiều thung lũng nhỏ nằm gọn giữa những núi đá vôi nối liền với lạch nước ra tận bờ sông. Các con sông bên tả và hữu ngạn chạy theo các thung lũng, len qua các dãy núi là đường giao thông thuận lợi. Áng núi và lạch sông là nơi có thể tập trung quân thủy bộ với khối lượng lớn, giấu quân kín đáo, xuất kích bí mật và dễ dàng, nhanh chóng.
    “Đại Nam Nhất Thống Chí” - Quốc sử quán nhà Nguyễn, dẫn sử cũ chép: “Đời Ngũ Đại, năm Thiên Phúc thứ 3 nhà Hậu Tấn, Lưu Hoằng Thao nước Nam Hán xâm lấn. Ngô Vương Quyền trồng cọc gỗ ở sông, đem quân khiêu chiến bắt được Hoằng Thao. Năm Thiên Phúc thứ 2, đời Lê Đại Hành, tướng Tống là bọn Hầu Nhân Bảo, Lưu Trừng xâm lấn đến đây, Lê Đế (tức Lê Hoàn) sai sĩ tốt trồng cọc gỗ ở sông để ngăn cản, bắt giết được Hầu Nhân Bảo. Năm Trùng Hưng thứ 4 đời Trần Nhân Tông, quân Nguyên xâm lấn, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cự chiến, trồng cọc gỗ ở sông, phá tan quân Nguyên...”. Trong 3 chiến công trên, chiến công đại phá quân Nguyên năm 1288 được coi là vang dội nhất, được nhiều sử gia ghi nhận là đã tạo bước ngoặt quan trọng đối với cục diện thế giới, làm đảo lộn kế hoạch bành trướng của đế quốc Nguyên Mông hung hãn lúc bấy giờ.
    Kể từ cuối thập kỷ 50 của thế kỷ trước, việc phát hiện ra các bãi cọc gỗ ở Yên Giang, Nam Hoà, Điền Công (Yên Hưng) đã làm sáng tỏ những ghi chép có phần sơ lược trong các tư liệu lịch sử cũ để lại. Các nhà nghiên cứu đã đi sâu phân tích và nhận định đó là những cọc gỗ của trận địa mà Trần Hưng Đạo đánh quân Nguyên năm 1288. Cũng từ phát hiện bãi cọc, bằng thực tiễn và cơ sở lý luận nhà sử học Đào Duy Anh đã phân tích và cho rằng do có sự thay đổi của sông Hồng phía trên mà dẫn tới sự đổi dòng của sông Bạch Đằng. Sông Bạch Đằng cũ chính là dòng sông Chanh bây giờ. Nơi đào được bãi cọc Yên Giang ngày nay chính là nằm trong lòng sông Bạch Đằng xưa.
    Chiến công vĩ đại của quân dân nhà Trần lập trên sông Bạch Đằng năm 1288, đã khiến cho con sông đi vào lịch sử trên nhiều góc cạnh khác nhau. Bao thế kỷ qua, Bạch Đằng luôn là nguồn cảm hứng cho nhiều bậc hoàng đế, danh nhân, thi sĩ tụng ca khi có dịp đi qua đây. Nhiều tác phẩm trong đó đã nổi tiếng như Bạch Đằng Giang phú của Trương Hán Siêu, Bạch Đằng hải khẩu của Nguyễn Trãi, Bạch Đằng Giang của vua Trần Minh Tông... Nhiều tỉnh thành trong cả nước đã lấy tên Bạch Đằng để đặt cho tên đường, trường, phường, cảng biển... Sông Bạch Đằng cũng là địa danh duy nhất của Quảng Ninh được triều đình nhà Nguyễn chọn khắc vào Nghị đỉnh (là 1 trong 9 “cửu đỉnh”) bằng đồng, đặt tại kinh đô Huế. Hiện ở hai bên bờ sông có 8 di tích liên quan mật thiết tới Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia như: đền Trần Hưng Đạo - miếu Vua Bà, đình Yên Giang, hai cây lim Giếng Rừng, đền Trung Cốc... Khu di tích Chiến thắng Bạch Đằng đã và đang được Đảng, Nhà nước và Chính phủ dành nhiều quan tâm trong việc đầu tư tôn tạo cho tương xứng với vị thế của nó, nhằm biến nơi đây không chỉ trở thành quần thể di tích lưu niệm chiến công vĩ đại trong lịch sử dân tộc mà còn thành điểm tham quan du lịch hấp dẫn trong nước và quốc tế.

    Đường Xô Viết Nghệ Tĩnh
    Phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh

    Xô viết Nghệ Tĩnh là đỉnh cao của phong trào Cách mạng những năm 1930 - 1931, mở đầu bằng cuộc biểu tình ngày 1 tháng 5 năm 1930 của công nhân khu công nghiệp Bến Thủy và nông dân 5 xã ven thành phố Vinh, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Trung Kỳ. Từ đó đến tháng 8 năm 1930, ở Nghệ Tĩnh có đến 97 cuộc bãi công và biểu tình của công nông, nổi bật là cuộc bãi công của công nhân Nhà máy Diêm kéo dài đã dẫn đến cuộc tổng bãi công của toàn thể công nhân khu công nghiệp Bến Thủy.
    Từ tháng 9, các cuộc biểu tình vũ trang tự vệ quy mô lớn kết hợp với các yêu sách chính trị liên tiếp nổ ra của nông dân các huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Can Lộc, Hưng Nguyên...làm cho bộ máy chính quyền đế quốc và tay sai ở cơ sở tê liệt, tan rã. Dưới sự lãnh đạo của các chi bộ đảng, tổ chức nông hội (xã bộ nông) ở những nơi đó đã nắm chính quyền với hình thức Xô viết. Ở nhiều xã thuộc huyện Thanh Chương, Nam Đàn, Anh Sơn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Diễn Châu, Can Lộc, Thạch Hà, Đức Tho...
    Các Xô viết đã thực hiện chức năng chuyên chính công nông trấn áp bọn phản cách mạng; thực hiện quyền tự do dân chủ cho nhân dân trên một số mặt; tổ chức tự vệ đỏ để bảo vệ chính quyền; giữ gìn trật tự trị an; tịch thu ruộng công điền, lúa công chia cho dân cày nghèo; xoá bỏ các thứ thuế vô lí, giảm tô; tổ chức học chữ Quốc ngữ, đọc sách báo cách mạng, vv., Dưới chính quyền Xô viết, những tệ nạn xã hội được xoá bỏ, tinh thần đoàn kết tương trợ trong sản xuất và đấu tranh, lòng tin của quần chúng đối với Đảng và cách mạng thể hiện rõ rệt trong thực tế.
    Chính quyền Xô viết được thiết lập ở Nghệ Tĩnh khi cả nước chưa có tình thế cách mạng, lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch, trong hàng ngũ lãnh đạo Xứ uỷ và các đảng bộ địa phương đều có biểu hiện của sự ấu trĩ “tả” khuynh, vì vậy mặc dù được Trung ương Đảng và đồng chí Nguyễn Ái Quốc kịp thời chỉ đạo uốn nắn nhưng cuối cùng Xô viết Nghệ Tĩnh vẫn bị kẻ thù dìm trong biển máu. Tuy nhiên, sức sống của nó, như Nguyễn Ái Quốc khẳng định “Bom đạn, súng máy, đốt phá, đồn binh...đều bất lực, không dập tắt nổi phong trào cách mạng của nhân dân Nghệ Tĩnh”.
    Xô viết Nghệ Tĩnh khẳng định sức mạnh của khối liên minh công - nông, sức sáng tạo của quần chúng nhân dân, vai trò lãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân và Đảng tiên phong. Tuy thất bại nhưng nó đã rèn luyện lực lượng cho cuộc Cách mạng tháng Tám sau này.
    Vòng xoay Hàng Xanh
    Được xây dựng vào ngày 17 tháng 9 năm 1994 và hoàn thành vào ngày 30 tháng 4 năm 1995 do công ty Huy Hoàng làm chủ xây dựng, với kinh phí lên đến 15,6 tỷ đồng. Nếu tính cả tiền đền bù giả tỏa thì kinh phí lên tới 63 tỷ đồng. Mục đích xây dựng nút giao thông Hàng Xanh là để giải quyết tình trạng kẹt xe thường xuyên trong thời gian trước. Cưả giao thông Hàng Xanh là cửa ngõ quan trọng của phía Bắc thành phố.
    Đường Điện Biên Phủ
    Chiến dịch Điện Biên Phủ

    Điện Biên Phủ là tên của một địa danh nằm ở Tây Bắc nước ta, nơi diễn ra chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 làm chấn động địa cầu. Trận Điện Biên Phủ là trận đánh lớn nhất trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất diễn ra tại lòng chảo Mường Thanh, châu Điện Biên Phủ (nay là thành phố Điện Biên Phủ), tỉnh Lai Châu (nay tách thành tỉnh Điện Biên) giữa quân Pháp và quân ta. Đây là chiến thắng quân sự lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945- 1954) của Việt Nam.
    Trên phương diện quốc tế trận này có một ý nghĩa rất lớn: lần đầu tiên quân đội của một nước thuộc địa châu Á đánh thắng bằng quân sự một quân đội của một cường quốc châu Âu. Trận Điện Biên Phủ đã đánh bại ý chí duy trì thuộc địa Đông Dương của Pháp và buộc nước này ra khỏi Đông Dương.
    Diễn biến
    Trận đánh diễn ra trong 55 ngày đêm vì quân ta có khó khăn trong hậu cần nên không thể tiến công liên tục mà chia thành các đợt tiến công. Sau mỗi đợt lại tổ chức lại quân số, bổ sung hậu cần.
    Đợt 1: từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 17 tháng 3.
    Quân Việt Minh tiêu diệt phân khu Bắc của tập đoàn cứ điểm. Chiều ngày 13 tháng 3 năm 1954 trận đánh bắt đầu. Quân ta sau đợt bắn pháo dữ dội, tiến công một trong các cứ điểm kiên cố nhất là cụm cứ điểm Him Lam (Béatrice) và sau một đêm đã chiếm xong cụm cứ điểm này và sau đó đến ngày 17 tháng 3 ta lần lượt mỗi ngày diệt một cứ điểm đã tiêu diệt lần lượt đồi Độc Lập (Gabrielle), Bản Kéo (Anne Marie 1, 2) và toàn bộ phân khu Bắc.
    Ngay từ những ngày đầu (từ ngày 23 tháng 3) pháo binh ta đã loại bỏ khả năng cất, hạ cánh của sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm từ đó trở đi các máy bay Pháp chỉ còn tiếp tế được cho tập đoàn cứ điểm bằng cách thả dù điều này cho thấy cầu hàng không mà bộ chỉ huy Pháp đặt nhiều kỳ vọng thực tế là rất yếu kém trước cách đánh áp sát của đối phương.
    Ngay từ những ngày đầu của đợt 1 quân Pháp đã nhận thức rõ được những điểm yếu chết người của mình và tương lai thất bại rõ ràng nhưng họ vẫn tăng cường cầm cự Điện Biên Phủ đến mức tối đa vì hy vọng khi mùa mưa đến quân ta không thể giải quyết vấn đề hậu cần và sẽ bỏ cuộc, Điện Biên Phủ sẽ tránh được đầu hàng. Sau đó khi mùa mưa không giúp được, bộ chỉ huy Pháp hy vọng cầm cự càng lâu càng tốt để Hội nghị Genève sẽ nhóm họp vào đầu tháng 7, sẽ có ngừng bắn trước khi tập đoàn sụp đổ. Nhưng hy vọng này cũng không có được, Điện Biên Phủ đầu hàng một ngày trước khi nhóm họp Hội nghị Genève về vấn đề Đông Dương.
    Đợt 2: từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 26 tháng 4.
    Quân ta đánh phân khu trung tâm đặc biệt là dãy điểm cao quan trọng phía Đông, vây lấn bóp nghẹt tập đoàn cứ điểm. Đây là đợt tiến công vào phân khu trung tâm chủ yếu nhằm chiếm dẫy đồi phía đông khống chế cánh đồng Mường Thanh (các cụm Dominique và Eliane). Tại đây hai bên đánh nhau giành đi giật lại các mỏm đồi có tính sống còn đối với tập đoàn cứ điểm, đặc biệt là các đồi A1 (Eliane 2), C1 (Eliane 1), D1 (Dominique 2), thương vong của hai bên rất lớn. Phía Pháp dựa vào hầm ngầm, lô cốt để cố thủ và đưa quân từ các điểm khác dùng xe tăng và lính dù, lính lê dương (légionnaire) để phản kích, các cứ điểm này vì có tính sống còn với quân Pháp đã được quân phòng ngự chiến đấu ngoan cường, quyết liệt phản kích liên tục để giữ vững và đã chống cự đến ngày cuối cùng của tập đoàn cứ điểm.
    Để chống lại các cứ điểm phòng ngự kiên cố của quân Pháp, quân ta đã áp dụng chiến thuật “vây lấn” rất có hiệu quả bằng hệ thống chiến hào họ đào các giao thông hào dần dần bao vây và siết chặt, tiếp cận dần vào các vị trí của Pháp. Các chiến hào này tránh cho quân tiến công thương vong vì pháo binh và không quân địch và vào sát được vị trí của quân địch, làm vị trí bàn đạp tấn công rất thuận lợi. Quân Pháp ngay từ ngày đầu tiên của trận đánh đã nhận thức rất rõ sự nguy hiểm của cách đánh này mà không có phương sách nào để khắc chế. Quân ta vây lấn đào hào cắt ngang cả sân bay, đào hào đến tận chân lô cốt cố thủ, khu vực kiểm soát của quân Pháp bị thu hẹp đến mức không thể hẹp hơn.
    Cuộc chiến đấu tại Điện Biên Phủ càng ngày càng yếu thế cho phía Pháp. Quân Pháp chỉ còn trông đợi vào dù tiếp tế nhưng phạm vi chiếm đóng bị thu hẹp và máy bay bị hệ thống phòng không của ta đánh mạnh nên dù tiếp tế và cả lính nhảy dù phần nhiều rơi sang phía đối phương, mùa mưa lại tới hầm hố của quân phòng thủ trở nên lầy lội thương binh không di tản đi được, lính chết không có chỗ chôn, bệnh tật, đường ruột phát sinh, đối phương lại áp sát bắn tỉa, tiếp tế thiếu mà việc lấy được dù cũng vô cùng khó khăn đi kèm với thương vong: quân Pháp thường phải đói khát đến đêm mới dám ra lấy dù. Tình cảnh của quân Pháp ngày càng bi đát và đi đến cùng cực. Điện Biên Phủ cho thấy khi bị bao vây cô lập thì một tiền đồn dù mạnh đến đâu rồi cũng sẽ bị tiêu diệt.
    Đợt 3: từ ngày 1 tháng 5 đến ngày 7 tháng 5.
    Việt Minh đánh dứt điểm dãy đồi phía Đông và tổng tiến công tiêu diệt các vị trí còn lại. Sau khi lực lượng của Pháp đã trở nên tuyệt vọng, suy kiệt, bổ sung bằng dù không còn đủ để duy trì sức chiến đấu, và quân Pháp ở Bắc bộ cũng đã hết lính dù và lính lê dương (légionnaire) có thể ném tiếp xuống Điện Biên Phủ, quân ta tổ chức đợt đánh dứt điểm các quả đồi phía Đông. Để chống lại hệ thống hầm ngầm cố thủ không thể xung phong đánh chiếm được trên đồi A1 có vị trí quyết định, bộ đội công binh của ta đã đào một hầm ngầm phía dưới và cho nổ 1 tấn thuốc nổ hất tung hệ thống hầm ngầm cố thủ cuối cùng. Đến sáng ngày 7 tháng 5 các quả đồi phía Đông này đã thất thủ hoàn toàn mà phía Pháp không còn lực lượng có khả năng chiếm lại, quân ta tổng tiến công trên khắp các mặt trận quân Pháp đã sức tàn lực kiệt quyết định đầu hàng, ta bắt Thiếu tướng chỉ huy Christian de Castries và toàn bộ ban tham mưu tập đoàn cứ điểm.
    Cụm phân khu Nam Hồng Cúm mưu toan chạy sang Lào nhưng bị quân ta đuổi theo bắt tất cả. Gần 10.000 quân Pháp còn lại tại Điện Biên Phủ đã bị bắt làm tù binh.
    Kết quả trận đánh
    Toàn bộ quân Pháp ở Điện Biên Phủ bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh. Thiệt hại về phía Pháp là 1.747 người chết, 5.240 người bị thương, 1.729 người mất tích và 11.721 người bị bắt làm tù binh. Ngoài ra còn có 2 phi công Mỹ chết và 1 phi công bị thương.

    Thiệt hại về phía quân ta là 4.020 người chết, 9.118 người bị thương và 792 người mất tích.
    Một ngày sau khi Pháp để Điện Biên Phủ thất thủ, ngày 8 tháng 5 năm 1954, Hội nghị Genève bắt đầu bàn về vấn đề Đông Dương. Sau hội nghị này, Pháp công nhận quyền tự do, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các nước Đông Dương trong đó có Việt Nam, chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương
    Khu vực Văn Thánh
    Có nhiều tên gọi như cầu Văn Thánh, bến xe Văn Thánh, chợ Văn Thánh, khu du lịch Văn Thánh. Tên gọi Văn Thánh xuất phát từ năm 1824, khu vực này có xây dựng ngôi văn miếu thờ Đức Khổng Tử nên người ta gọi la khu Văn Thánh. Trong thời Pháp, miếu hổ đã bị phá vỡ hiện nay không còn nữa.
    Bến xe Văn Thánh là một bến xe lớn và lâu đời ở khu vực này. Từ đây có thể đi Vũng Tàu, Biên Hòa và một số tỉnh miền miền Trung. Cuối năm 1996, bến xe đuợc dời sang bến xe miền Đông vì ở đây xây dựng hệ thống đường lớn và cao tốc, nếu bến xe còn sẽ gây ra ách tắt giao thông.
    Chợ Văn Thánh được xây dựng từ khoảng những năm 1993 - 1994 dự kiến đây là chợ đầu mối cho các lọai hàng hóa từ miền Trung và khu vực Tân Cảng. Nhưng chợ Văn Thánh đi vào họat động chưa bao lâu thì bến xe Văn Thánh dời đi, làm chợ mất khách dẫn đến mất luôn vị trí chiến lược như dự tính. Hiện nay, chợ rất ế, nhà nước đang có dự kiến bán chợ cho doanh nghiệp Đài Loan sử dụng vào việc khác.
    Khu du lịch Văn Thánh nằm trên cù lao 7 hecta nên còn gọi là cù lao 7 mẫu. Khu du lịch này tuy nhỏ nhưng được khá nhiều người biết tới vì những năm 1993 - 1994 ở đây tổ chức thi tuyển diễn viên điện ảnh. Vào ngày 5 tháng giêng âm lịch hàng năm nơi này tưng bừng tổ chức lễ hội mừng chiến thắng Đống Đa (ngày 5 tháng 1 năm 1789).
    Sông Sài Gòn
    Sông Sài Gòn dài 230 km bắt nguồn từ cao nguyên Hớn Quảng - Bình Phước, đoạn sông là ranh giới tự nhiên giữa Tây Ninh và Bình Phước, một phần nước sông đổ vào khu vực khu vực Bến Cát đến Thủ Dầu Một vào thành phố Hồ Chí Minh và hợp với sông Đồng Nai đổ ra cửa Cần Giờ vịnh Gành Rái, đây là con sông có giá trị lớn vê mặt giao thông nơi tập trung nhều cảng lơn như: cảng Sài Gòn, cảng Cát Lái, Tân Cảng.
    Cầu Sài Gòn
    Cầu Sài Gòn được xây dựng từ năm 1959 đến năm 1961. Do công ty C.E.C (Capital Engeneering Corporation) và hai công ty khác của Mỹ thi công. Cầu dài 987,431 mét và rộng 19,3 mét với 32 nhịp, trọng tải 25 tấn. Hiện nay là cây cầu dài nhất Nam Bộ. Cầu đã được đầu tư nâng cấp năm 1998 với tổng kinh phí 54 triệu France và 7 tỉ đồng Việt Nam, từ 19,3 mét nay cầu rộng đến 24 mét.
    Cư xá Thanh Đa
    Cư xá Thanh Đa (cư xá màu xanh) gồm 29 lô chiếm diện tích 36 hecta, được xây dựng 1973 làmkhu nhà ở cho cán bộ công nhân viên, đây là khu cư xá lớn nhất cả nước nhưng giờ nó đang bị xuống cấp trầm trọng, nhà nước đang có kế hoạch đầu tư nâng cấp. Khu du lịch Bình Quới là khu du lịch dưới nước với nhiều hoạt động vui chơi, giải trí trên đoạn sông Sài Gòn, tới đây ta có thể lướt ván trên sông, tổ chức dã ngoại, đi tàu du lịch và câu cá thư giãn, hàng năm thường tổ chức trại hè cho thiếu nhi toàn thành. Khu biệt thự An Phú còn gọi là khu nhà cao cấp màu hồng được bố trí khá đẹp mắt ven sông Sài Gòn, giá thuê rất cao dành cho người nhiều tiền.
    Khu vực Tân Cảng
    Trước đây là một hải cảng quân sự lớn của Mỹ - Ngụy. Sau ngày giải phóng, đây là khu vực của Hải Quân Việt Nam. Giữa năm 1999, Tân Cảng được chia làm hai khu vực: khu vực quân sự và khu vực kinh tế cho tàu xuất nhập hàng hóa và kho để container. Từ cầu Sài Gòn nhìn xuống ta có thể thấy hệ thống container xếp chồng lên nhau trong một khu vực rộng lớn.
    Quận 2
    Diện tích 5.020 hecta gồm: An Phú, An Khánh, Thủ Thiêm, Thành Mỹ Lợi, Bình Trưng. Kế hoạch phát triển khu kinh tế của quận là trở thành một trung tâm thương mại và dịch vụ, ngân hàng, tài chính, chứng khoán. Với dân số 86.027 người gồm 11 phường và 2/3 diện tích dành cho các công trình lớn như:khu An Khánh, khu dân cư Bình Trưng - Thạnh Mỹ Lợi, khu liên hợp thể dục - thể thao Rạch Chiếc, khu công nghiệp Rách Lái... Ngoài ra con nhiều công trình giao thông như: cầu Thủ Thiêm, đường song hành Quốc lộ 22, xa lộ Vành Đai nối dài, đường cao tốc Bà Rịa - Vũng Tàu, xa lộ nối đường Bắc Nhà Bè - Nam Bình Chánh.
    Quốc lộ 52 (Xa lộ Biên Hoà)
    Xa lộ Biên Hòa được xây dựng từ năm 1959 đến năm 1961, do Mĩ đầu tư và giao cho công ty CEC thiết kế, thi công. Xa lộ Biên Hòa rộng 21 mét, dài 31 km, bắt đầu từ cầu Điện Biên Phủ và kết thúc tại ngã tư Tam Hiệp (Biên Hòa), nên có tên gọi là Xa lộ Biên Hòa. Trước năm 1975, Mĩ và chính quyền Sài Gòn sử dụng con đường này như một đường băng quân sự dã chiến khi sân bay Tân Sơn Nhất có sự cố. Đến năm 1971, họ cho rằng con đường này thuận lợi cho quân cách mạng đổ bộ tấn công Sài Gòn nên đã xây dựng vách ngăn giữa tim đường. Năm 1984, nhân dịp kỉ niệm 30 năm ngày giải phóng Hà Nội và xa lộ này được đổi tên thành Xa lộ Hà Nội. Năm 1998, cùng với dự án mở rộng Quốc lộ 1A, xa lộ cũng được khôi phục, mở rộng và bàn giao cho chính phủ Việt Nam vào ngày 20 tháng 1 năm 1998. Ngày nay, hai bên xa lộ đã mọc lên các khu dân cư sầm uất, khu vực vui chơi giải trí thể thao, làng đại học và đặc biệt là các khu công nghiệp cao.
    Quận 9
    Diện tích 113,75 km2, dân số 123.059 người gồm 13 phường và các xã: Long Bình, Long Thanh Mỹ, Tăng Nhơn Phú, Long Phú, Long Phước, Long Trường, Phú Hữu, Phước Bình. Một phần diện tích các xã: Tân Phú, Phước Long, Hiệp Phú, Bình Trưng. Theo quy hoạch, quận 9 là khu công nghiệp kỹ thuật cao, du lịch vườn, thảm xanh thực vật ven sông Đồng Nai nhằm bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp cho thành phố. Ở đây có một số công trình lón như: sân golf 350 hecta, khu lâm viên rộng từ 300 hecta đến 400 hecta, khu công nghiệp kỹ thuật cao 800 hecta, khu công nghiệp Phước Long - Tăng Nhơn Phú 100 hecta, khu dịch vụ thể dục - thể thao ven sông Đồng Nai 510 hecta, khu quần thể di tích lịch sử văn hóa dân tộc 325 hecta và các công trình giao thông trọng điểm khác.
    Quận Thủ Đức
    Diện tích 47,26 km2, dân số 16.387 người gồm 12 phường: Thủ Đức, Linh Trung, Linh Xuân, Hiệp Bình Chánh, Hiệp Bình Phước, Tam Phú và một phần của các xã: Hiệp Phú, Tam Phú, Phước Long. Quận gồm 8 khu quy hoạch trọng điểm: khu công nghiệp Bắc Thủ Đức 400 hecta, khu công nghiệp Tam Bình 50 hecta, khu công nghiệp Bình Chiểu 28 hecta, khu dân cư Hiệp Bình Chánh - Linh Đông từ 50 hecta đến 70 hecta, khu dân cưmới 46 ha, 1 phần trường đại học quốc gia 200 hecta.
    Cầu Rạch Chiếc
    Cầu được xây dựng cùng thời với cầu Sài Gòn và xa lộ Biên Hòa từ năm 1959 đến năm 1961, cầu dài 148,9 mét. Đây tuy là chiếc cầu nhỏ nhưng là nhân chứng cho nhiều sự kiện lịch sử lớn, dưới chân cầu đã xảy ra luên tục hàng trăm trận đánh giữa quân giải phóng và quân địch bảo vệ cầu (vì đây là điểm trọng yếu của xa lộ Biên Hòa). Cuối cùng, quân ta cũng chiếm được cầu Rạch Chiếc nhưng đáng tiếc là 59 chiến sĩ cách mạng đã hi sinh anh dũng ở đây để bảo vệ đường lưu thông được an toàn, cho quân giải phóng tiến vào Sài Gòn.
    Nghĩa trang liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh
    Được xây dựng với diện tích 3 hecta, là nơi yên nghỉ của hàng ngàn chiến sĩ đã hi sinh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ và cả cuộc chiến trên chiến trường Campuchia. Nghĩa trang được xây dựng vào năm 1984 đến tháng 4 năm 1987 thì hoàn thành với hình ảnh người mẹ Việt Nam cao sừng sững ôm lấy mười ngàn đứa con thân yêu đã ngã xuống vì Tố quốc (Điêu khắc gia Nguyễn Hải đã gửi tặng bức tượng này cho nhân dân thành phố Hồ Chí Minh năng động và anh hùng). Hiện nay, nhà nước đang có kế hoạch xây dựng tại đây một đài tưởng niệm các chiến sĩ đã ngã xuống nơi đây vào ngày 27 tháng 4 năm 1975.
    KHU DU LỊCH VĂN HÓA SUỐI TIÊN
    Vào năm 1987, Suối Tiên vẫn còn là đồng ruộng, đầm lầy, rừng rậm, và đã từng là căn cứ địa cách mạng thời kháng chiến chốngMỹ... Suối Tiên bắt nguồn nối tiếp Suối Lồ Ô (huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương ngày nay) chảy ngầm trong lòng đất hàng chục kilômét qua xa lộ Hà Nội và trồi lên mặt đất này , để rồi tiếp tục xuôi dòng đổ ra sông Đồng Nai. Lúc đó, Suối Tiên còn cả một khu rừng đặc hữu, một khung cảnh thiên nhiên hiếm hoi còn sót lại. Tại đây còn có một miếu thờ bảy cô gái ở ven suối có cùng tuổi rồng, tình cờ đến đây tắm và qui tiên ở đoạn suối sâu. Dân trong vùng kể lại: “Bảy cô gái rất linh thiêng nên bà con thường xuyên nhang khói, thờ phụng”. Phải chăng bảy cô gái đã qui tiên trở nên linh thiêng thành Tiên, độ cho đời, nên suối này có tên gọi là “Suối Tiên” và được lưu truyền đến ngày nay.
    “Lâm Trại Suối Tiên” được bắt tay xây dựng với mục đích lâu dài ẩn chứa bên trong: lâm trại là tiền đề cho một khu du lịch tầm cỡ trong tương lai. Quá trình sản xuất của lâm trại là quá trình tích lũy vốn liếng cũng như điều tra, nghiên cứu thăm dò để xây dựng khu du lịch.
    Diện tích ban đầu của lâm trại chỉ có 2 hecta đất hoang hóa, chỉ là một trại nuôi trăn nhỏ. Các năm tiếp theo, lâm trại tổ chức chăn nuôi theo lối công nghiệp xuất khẩu, đồng thời nuôi cả các loài thú quí hiếm và trồng các loại cây ăn trái. Từ năm 1989 đến năm 1991, sản xuất gỗ xẻ xuất khẩu và sau đó sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ cao cấp. Hàng của lâm trại Suối Tiên được khách hàng trong và ngoài nước tín nhiệm. Đặc biệt tổ chức CITES thế giới chấp thuận và bảo vệ cho lâm trại trăn nuôi và xuất khẩu các loại động vật bò sát. Có lúc chuồng trăn ở đây lên đến 10.000 con, trong đó có những con trăn vàng đặc biệt quí hiếm, nên có người gọi lâm trại Suối Tiên là “trại Trăn Vàng Suối Tiên”.
    Năm 1992, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và Thành Phố Hồ Chí Minh nói riêng, việc xây dựng một khu du lịch tầm cỡ để phục vụ đời sống văn hóa, tinh thần của người dân đã trở thành một nhu cầu thiết yếu, phù hợp với chủ trương của Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Dự án xây dựng khu Du Lịch Văn Hóa Suối Tiên được phôi thai và từng bước trở thành hiện thực.
    Tháng 2 năm 1993,Ông Đinh Văn Vui sáng lập công ty Trách nhiệm Hữu hạn Lâm sản Mỹ nghệ Suối Tiên. Ông được bầu làm Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng Giám Đốc và khởi công xây dựng khu Du Lịch Văn Hóa Suối Tiên.
    Ngày 2 tháng 9 năm 1995, nhân kỷ niệm Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Du Lịch Văn Hóa Suối Tiên chính thức mở cửa đón du khách từ mọi miền đất nước đến tham quan.
    Du Lịch Văn Hóa Suối Tiên với chủ đề chính là trở về cội nguồn văn hóa dân tộc, đã tạo dựng các công trình qui mô, độc đáo, giàu ý nghĩa lịch sử, khơi gợi trong mỗi du khách đến tham quan lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, tự hào là Con Rồng Cháu Tiên.
    Du Lịch Văn Hóa Suối Tiên với phương châm “luôn luôn đổi mới, luôn luôn phát triển”. Hằng năm, cho ra đời từ 2 đến 4 công trình mới để phục vụ du khách.
    * Thời điểm đưa vào hoạt động của các công trình vui chơi, giải trí:
    -Năm 1993, khởi côngxây dựng.
    -Ngày 2 tháng 9 năm 1995, mở cửa Tây Môn, Du lịch Văn hóaSuối Tiên chính thức ra đời.
    -Năm 1996, khánh thành Thủy Cung, Đu Quay Đứng, Máy Bay Boeing.
    -Năm 1997, mở cổng Thiên Tiên Môn, khánh thành công trình Kỳ Lân Cung, Xe Đạp Trên Không.
    -Năm 1998, khánh thành Phụng Hoàng Cung.
    -Năm 1999, khánh thành Tàu Lượn Siêu Tốc, Đu Quay Dây.
    -Năm 2000, mở cổng Thiên Tiên Môn và quần thể Long Hoa Nhật Nguyệt.
    -Năm 2001, khánh thành Thiên Đình Cung, Cung Vàng Điện Ngọc,Thiên Đăng Bảo Tháp.
    -Năm 2002, khánh thành Biển Tiên Đồng và Đền Thờ Vua Hùng.
    -Năm 2003, khánh thành Tứ Linh Hội Tụ, Siêu Thị Suối Tiên và Xe Đua Tốc Độ.
    -Năm 2004, Linh Cung Thập Nhị Giáp, Vương Quốc Cá Sấu vàGiang Sơn Bách Thú.
    -Năm 2005, khánh thành Phúc Cung Tam Phước, Long Hoa Thiên Bảo, Bí Mật Rừng Phù Thủy.
    -Năm 2006, khánh thành Bí Mật Kho Báu Cổ, Cối Xay Của Thần Gió, Ếch Thần Ngự Kim Sơn và Vòng Xoay Vũ Trụ.
    Tính đến nay, Du lịch Văn hóa Suối Tiên đã cho ra đời hơn150 điểm tham quan, vui chơi và giải trí để phục vụ du khách, trên diện tích rộng hơn 55 hecta, với tổng trị giá tài sản 1.200 tỷđồng. Hiện nay công ty đang mở rộng giai đoạn 2 với diện tích 50 hecta, vốn đầu tư 1.000 tỷ đồng, nâng tổng diện tích của Du lịch Văn hóa Suối Tiên lên 105 hecta, với tổng vốn đầu tư trên 2.200 tỷ đồng.
    Tháng 9 năm 2005, Du lịch văn hóa Suối Tiên tổ chức lễ kỷ niệm sinh nhật lần thứ 10, công tyđãtrao kỷ niệm chương và quà tặngcho hơn 50cán bộ, nhân viên công tác tại công ty trên 10 năm (từ thời kỳ đầu xây dựng Du lịch Văn hóa Suối Tiên). Việc trao kỷ niệm chương và quà tặng cho cán bộ, nhân viên được tổ chức hàng năm,đã trở thành một nét văn hóa tiêu biểu của doanh nghiệp.
    Du lịch Văn hóa Suối Tiên đang trên đà phát triển, luôn luôn đổi mới về mọi mặt để vươn lên ngang tầm khu vực Asean và thế giới. Tập thể cán bộ, nhân viên công tác tại Du lịch Văn hóa Suối Tiên đang nổ lực không ngừngđể xâydựng Suối Tiên thành mộtđiểmđến “xanh, sạch,đẹp và thân thiện”.
    NHÀ MÁY NƯỚC THỦ ĐỨC
    Nhà máy được xây dựng vào năm 1959, nhà máy có 8 bể lọc, lấy nước từ sông Đồng Nai tại khu vực Hóa An với công suất 670.00 m3/ngày, cung cấp nước sinh hoạt cho cả thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay, chúng ta đang vay vốn từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) khoảng 5 triệu USD để thay đổi toàn bộ các ống dẫn nước từ 1,8 mét lên 2,4 mét.
    Ngã tư Thủ Đức
    Được xây dưng từ năm 1961 và hơn 200 ngôi biệt thự dành cho 200 giáo sư ở và làm việc. Dự án lớn xây làng đại học ở cây số 12, cạnh xa lộ Biên Hòa cũ do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đưa ra phương án quy hoạch tổng thể. Công trình xây dựng khu biệt thự với sự tham gia hầu hết của các kiến trúc sư nổi tiếng vào lúc bấy giờ. Khu biệt thự được thiết kế đa dạng, đầy đủ tiện nghi nằm trên lô đất thoáng mát.

    Thảo Cầm Viên Sài Gòn
    Địa chỉ: số 2, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1.
    Thảo Cầm Viên được khởi công xây dựng trên một bãi đất hoang 12 hecta cạnh rạch Thị Nghè, vào tháng 3 năm 1864, đến năm 1865 thì xong. Cuối năm đó được mở rộng thêm 8 hecta nữa. Toàn bộ khuôn viên khá rộng, đẹp. Phía Bắc giáp đường Nguyễn Thị Minh Khai, phía Đông giáp rạch Thị Nghè. Cổng chính nhìn thẳng ra đại lộ Lê Duẩn, trông thẳng tới dinh Thống Nhất.
    J.B.Louis Pierre là người sáng lập và cũng là giám đốc đầu tiên của Thảo Cầm Viên. Ông là nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp, sinh năm 1833, mất năm 1905, và cũng là người xây dựng khu thực vật Tao Đàn.
    Lúc đầu Thảo Cầm Viên thuộc Viện Nghiên cứu Đông Dương của Pháp. Năm 1924, nó được nới rộng 13 hecta sang phía bên kia rạch Thị Nghè. Năm 1927 cầu được bắc qua sông để nối liền hai khu. Khoảng từ năm 1942 đến năm 1945, nơi đây bị quân Nhật chiếm làm đồn trú.
    Nay Thảo Cầm Viên có 590 cá thể động vật thuộc 125 loài, 1800 cây gỗ thuộc 260 loài, có 23 loại lan nội địa, 32 loài xương rồng, 34 loài bon sai. Các chuồng trại với 21.352 m2 được cải tạo để thích nghi với các loài thú. Có một số động vật quí như: hà mã, lạc đà, đà điểu, báo Nam Mỹ, cọp Amua...
    Ở Thảo Cầm Viên còn có tượng voi bằng đồng của vua Thái Lan Paramindr Mah Prajahhipok tặng khi ông đến thăm Sài Gòn, đặt tại đây ngày 14 tháng 4 năm 1930 và tượng bán thân của người sáng lập ra nó: ông J.B.Louis Pierre. Từ năm 1990, Thảo Cầm Viên là thành viên chính thức của Hội các vườn thú Đông Nam Á.
    Bưu điện Thành phố Hồ Chí Minh
    Địa chỉ: số 2, đường Công xã Paris, quận 1.
    Được xây dựng từ 1886 và hoàn thành vào năm 1891 theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Villedieu, tòa nhà đồ sộ này tọa lạc trên gò đất cao bên hông Vương cung Thánh đường, phía sau là đường Hai Bà Trưng.
    Mặt tiền nhà được trang trí theo từng ô hình chữ nhật, ghi danh những nhà phát minh ra ngành điện tín và ngành điện. Trên các ô có đắp hình các nam nữ đội vòng nguyệt quế. Trên vòng cung ngôi nhà có chiếc đồng hồ lớn.
    Bước chân vào phía trên trong, khách thấy hai bên tường cao là hai bản đồ lịch sử: Saigon et ses environs, 1892 và Lignes télégraphiques du Sud Vietnam et du Cambodge, 1936.
    Hiện bưu điện có 35 quầy phục vụ khách hàng với những thiết bị viễn thông tối tân, hiện đại có thể liên lạc với bất cứ nơi nào trong nước và thế giới. Ngoài ra, còn có nhiều dịch vụ như bưu phẩm ghi số hẹn giờ, phát chuyển nhanh, văn hóa phẩm lưu niệm, điện hoa, điện quà.
    Chợ Bến Thành
    Lúc đầu phố chợ Bến Thành ở phía Đông huyện Bình Dương, nằm dọc theo sông Sài Gòn, trước thành Phiên An (Gia Định) nên được gọi là chợ Bến Thành. Sau cuộc khởi binh của Lê Văn Khôi (1833 - 1835), phố xá bị tàn phá, chợ không còn sầm uất.
    Tháng 2 năm 1859, Pháp chiếm Gia Định, chợ bị thiêu hủy. Sau đó Pháp cho xây một nhà lồng chợ gọi là chợ Vải, gần Tổng ngân khố. Tháng 7 năm 1908 chợ bị cháy, được xây lại bằng cột gạch, sườn gỗ, lợp ngói, có 5 gian.
    Giữa năm 1911, ngôi chợ cũ bị phá bỏ, dời về địa điểm gần ga xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho. Năm 1912, lấp ao Boresse, xây chợ mới. Ngày 28 tháng 3 năm 1914 khánh thành chợ mới. Chợ trải qua nhiều lần trùng tu, lần mới nhất vào tháng 6 năm 1985, được sửa chữa lớn và nâng cấp nhà lồng chợ.
    Trước mặt chợ có bùng binh mang tên Cuniac, tên của một thị trưởng thời Pháp thuộc, sau 1963 đổi lại là công viên Quách Thị Trang. Cửa chính của chợ có một tháp đồng hồ 3 mặt. Hai bên tả hữu có 3 nóc nhà chợ lợp ngói.
    Chợ có 4 cửa: Đông, Tây, Nam, Bắc mở ra 4 đường Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lê Lợi, Lê Thánh Tôn (quận 1). Đây là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử của thành phố, được xem là biểu tượng của Sài Gòn.
    Chùa Vĩnh Nghiêm
    Địa chỉ: số 339, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3.
    Chùa mang tên Vĩnh Nghiêm để nhớ ngôi chùa cổ ở tỉnh Bắc Giang, tọa lạc tại Đức La (nay là xã Trí Yên, huyện Yên Dũng) có từ thời Trần trong Thiền phái Trúc Lâm tam tổ.
    Chùa được làm theo thiết kế của Nguyễn Bá Lăng, Lê Tấn Chuyên và Cổ Văn Hậu. Khởi công năm 1964, hoàn thành năm 1971. Chùa tọa lạc trên một khuôn viên rộng thoáng, sát đại lộ. Tổng thể kiến trúc hoàn chỉnh gồm có tam quan, chùa chính, tháp chuông, nhà phụ và ngọn bảo tháp 7 tầng cao 40 mét, sân rộng.
    Chánh điện được bài trí trang nghiêm với pho tượng Phật lớn có nhiều hoành phi, câu đối chữ Hán được khắc và trang trí đẹp. Các hương án, bao lam cũng vậy. Nhiều bức tranh được vẽ và chú thích rõ ở hai bên tường.
    Chùa là nơi đặt trường Cơ bản Phật học, giúp cho các tăng ni hiểu rõ giáo lý cơ bản để tu học cao hơn.
    Chùa Vĩnh Nghiêm mới có khoảng 30 năm, nhưng là ngôi chùa có vị trí thuận lợi cho việc hành lễ, nhất là dịp Phật Đản, Vu Lan thu hút rất đông tín đồ và du khách.
    Việt Nam QuốcTự
    Việt Nam Quốc Tự là một ngôi chùa tại Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Ngôi chùa có kiến trúc đậm bản sắc phong cách kiến trúc Việt Nam. Việt Nam Quốc tự toạ lạc trên vùng đất rộng 45 nghìn mét vuông nằm trên đuờng Trần Quốc Toản, nay là đuờng 3-2 giáp góc đuờng Lê Hồng Phong, thuộc Quận 10 thành phố Sài Gòn. Lễ đặt đá xây dựng Việt Nam Quốc tự cử hành vào lúc 8 giờ sáng ngày 26 tháng 4 năm 1964 dưới sự chứng minh của Chư tôn Giáo phẩm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất với sự chứng kiến của Quốc trưởng, đồng thời cũng là Thủ tướng Việt Nam Cộng hoà bấy giờ là tướng Nguyễn Khánh. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ là người vẽ đồ án xây dựng. Đồ án mới xây xong Tháp Việt Nam Quốc tự bảy tầng và một dãy Tăng xá nhưng chưa hoàn thành trọn vẹn.
    Nguyên thủy, sau cuộc đảo chính 1963 tại Nam Việt Nam, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất được thành lập và được chính phủ lâm thời Việt Nam Cộng hòa bấy giờ cho giáo hội một miếng đất rộng 4 mẫu với danh nghĩa là mướn thời hạn 99 năm chỉ với một đồng bạc tượng trưng và được tiếp tục khi hết hạn . Chùa là trụ sở của Viện Hóa Đạo thuộc GHPGVNTN đến năm 1975 với người trụ trì đầu tiên là hòa thượng Thích Thiện Hoa. Năm 1967, hòa thượng Thích Tâm Châu đã thành lập Viện Đại học Phương Nam trong khuôn viên chùa . Sau năm 1975, có lúc chùa bị bỏ hoang phế 10 năm và ngày 28 tháng 02 năm 1993 được cấp lại cho hòa thượng Thích Từ Nhơn theo đơn xin và đất của chùa bị thu hẹp còn 3.712 mét vuông
    Hiện nay, trong sân chùa vào ban đêm thường bị chiếm dụng làm nơi bán sách bói toán
    Gần đây, có tin Việt Nam Quốc Tự sẽ bị phá, sau khi UBND TP.HCM ngày 23 tháng 2 năm 2008, cấp giấy phép đầu tư dự án xây dựng Trung tâm Tài chính Việt Nam trong khu vực này (với tổng vốn đầu tư 930 triệu USD cho Công ty Berjaya Land Bhd thuộc Tập đoàn Berjaya, Mã Lai). Tuy nhiên, trong cuộc họp báo ngày 25 tháng 6 cùng năm đã được xác nhận chính thức là chùa không thuộc vùng quy hoạch Trung tâm tài chính Việt Nam
    Thiền viện vạn hạnh
    Thiền viện Vạn Hạnh, là một thiền viện và viện nghiên cứu Phật học ở thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Thiền viện nằm ở số 716 đường Nguyễn Kiệm, quận Phú Nhuận (gần quận Gò Vấp. Trước năm 1975, nơi đây là phân khoa Khoa học ứng dụng thuộc Viện Đại học Vạn Hạnh do Hòa thượng Thích Minh Châu làm Viện trưởng. Năm 1976, hòa viện trưởng đã đổi thiền viện này làm nơi tu trì và nghiên cứu Phật học.
    Cấu trúc
    Thiền viện xây trên một diện tích khoảng 1 hecta. Bao gồm một ngôi chánh điện, một nhà tổ, nhiều dãy nhà làm trụ sở trường Cao cấp Phật học Việt Nam, văn phòng Viện nghiên cứu Phật học, văn phòng Hội đồng phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam ; dãy nhà tăng và trai đường.
    Cổng thiền viện được xây năm 1990 theo kiểu kiến trúc cổ ở Huế do Đại đức Tâm Đoan và Đại đức Tịnh Quang đảm trách. Chánh điện gồm hai tầng. Tại tầng trệt, gian giữa thờ tượng đức Thích Ca màu trắng ngà ngồi trên tòa sen. Hai bên là phòng đọc sách của thư viện. Tầng lầu là phòng khách và phòng làm việc của Hòa thượng Viện chủ.
    Ngôi nhà Tổ có hai tầng. Tầng lầu thờ Phật và thờ Tổ. Trên bàn thờ Tổ có chân dung cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trước đây. Tầng trệt là giảng đường, nơi hay tổ chức các buổi giảng kinh, thuyết pháp, nói chuyện chuyên đề, biểu diễn văn nghệ…
    Cơ cấu của Viện
    Thiền viện Vạn Hạnh giữ một vị trí quan trọng trong việc nghiên cứu và hoằng dương Phật pháp. Đây là nơi làm việc của Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam do Hòa thượng Thích Minh Châu, Tiến sĩ Triết học và Phật học, làm Viện trưởng. Cơ cấu của Viện gồm: Ban Phật giáo Việt Nam, Ban Phật giáo quốc tế, Ban Phật giáo chuyên môn, Ban in ấn và xuất bản. Ngoài ra, ở đây còn đặt văn phòng Hội đồng phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam do Hòa thượng Thích Minh Châu làm Chủ tịch. Trong bốn năm qua, Viện đã xuất bản nhiều bộ kinh trong Tam Tạng kinh điển như : Kinh Trường Bộ (2 tập), Kinh Trung Bộ (3 tập), Kinh Tương Ưng (5 bộ) … được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ nguyên bản Pali ra tiếng Việt ; Kinh Trường A Hàm (2 tập), Trung A Hàm (3 tập), Tạp A Hàm (2 tập) … được các vị Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Thích Trị Siêu … dịch từ bản Hán tạng ra tiếng Việt. Đây là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam cũng như trong đời sống văn hóa dân tộc.
    Thiền viện Vạn Hạnh còn là một trung tâm đào tạo tăng tài cho các tỉnh phía Nam. Nơi đây đặt trường Cao cấp Phật học Việt Nam. Ban Giám hiệu của Trường hiện nay (khóa III, nhiệm kỳ III, 1993 - 1997) gồm có :
    Hiệu trưởng : Hòa thượng Thích Minh Châu Phó Hiệu trưởng : Hòa thượng Thích Thiện Siêu Phó Hiệu trưởng : Thượng tọa Thích Giác Toàn Phó Hiệu trưởng : Cư sĩ Tống Hồ Cầm Tổng Thư ký : Cư sĩ Trần Tuấn Mẫn Chánh văn phòng : Đại đức Thích Đạt Đạo
    Trường đào tạo theo phương thức tập trung thông qua một kỳ thi tuyển, mỗi khóa học kéo dài 4 năm, với văn bằng tương đương trình độ đại học. Từ năm 1984 đến nay, Trường đã mở được 3 khóa, đào tạo hơn 400 Tăng Ni sinh. Chương trình giảng dạy gồm phần nội điển do chư tôn túc giảng sư của Giáo hội phụ trách và phần ngoại điển do các giáo sư, giảng viên các trường Đại học đảm nhiệm.
    Ngoài các trách vụ lãnh đạo Viện nghiên cứu Phật học và trường Cao cấp Phật học, Hòa thượng Thích Minh Châu còn đảm đương nhiệm vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam kiêm Trưởng ban Phật giáo quốc tế, Phó Chủ tịch Hội Phật giáo Châu Á vì hòa bình (ABCP), Chủ tịch Trung tâm ABCP Việt Nam. Hòa thượng đã nhiều lần tham gia các diễn đàn, hội thảo, hội nghị về văn hóa Phật giáo ở nước ngoài.
    Thiền viện Vạn Hạnh thường xuyên được vinh dự đón tiếp các đoàn đại biểu các Giáo hội Phật giáo trên thế giới và nhiều đoàn khách quốc tế đến làm việc, thăm viếng, cùng đông đảo du khách, Phật tử đến lễ bái, sinh hoạt, nhất là vào ngày lễ Phật đản, Vu lan …
    Chùa Xá Lợi
    Địa chỉ: số 89, đường Bà Huyện Thanh Quan, quận 3.
    Chùa mang tên là Xá Lợi vì là nơi thờ xá lợi Phật. Chùa bắt đầu xây dựng tháng 8 năm 1956 và đến tháng 5 năm 1958 thì khánh thành, chủ yếu là bằng bêtông cốt thép. Bên trái, ngoài phía cổng tam quan có tháp chuông cao 7 tầng. Làm xong vào năm 1961. Chùa chính có 2 tầng. Chánh điện đặt ở tầng trên có bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni khá lớn bằng bột đá màu và sau đó được thếp vàng. Phía tầng dưới là hội trường lớn nơi thường có thuyết giảng
    Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, chùa là trụ sở của Hội Phật học Nam Việt, cũng là nơi diễn ra cuộc đấu tranh giữa các phật tử với quân đội và cảnh sát Ngô Đình Diệm năm 1963. Sau ngày giải phóng có một thời gian chùa là trụ sở Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Văn phòng II).
    Chùa Giác Lâm
    Địa chỉ: số 118, đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình.
    Năm 1744, Lý Thụy Long, một người Minh Hương, quyên tiền xây chùa. Nơi ấy xưa là đất vùng cao, có nhiều cây cổ thụ. Dân thường gọi là Sơn Can, chùa Cẩm Đệm.
    Năm 1744, Hòa thượng Viên Quang thuộc dòng Lâm Tế đến trụ trì chùa và chùa được đổi tên là chùa Giác Lâm.
    Chùa xây theo hình chữ Tam, gần chánh điện, giảng điện và nhà giám trai. Chùa qua nhiều lần trùng tu. Ngoài nét cơ bản của văn hóa Nam Bộ, kiến trúc, trang trí chùa còn pha lẫn dáng dấp văn hóa ấn Độ, Khơme, Tây phương.
    Ngôi chùa hiện nay có hình chữ nhật, dài 65 mét, rộng 22 mét. Chùa có cây bồ đề lá xanh tốt do đại đức Narada đưa từ Sri Lanka trồng ngày 18 tháng 3 năm 1953 nhân dịp ngài sang Việt Nam tặng Xá Lợi Phật.
    Chùa có 8 cột, 86 câu đối được khắc nổi chìm dính liền với cột. Các chữ câu đối này được thếp vàng, khuôn viên chạm trổ công phu. Chùa có 113 pho tượng cổ, phần lớn bằng gỗ mít nài. Có 7 pho tượng bằng đồng, đáng chú ý là tòa Cửu Long diễn tả sự tích đức Phật đản sanh. Các tượng không lớn lắm nhưng được tạo tác khá đẹp, tinh xảo, sinh động, đầy tính triết lý như Phật Thích Ca và 4 vị bồ tát ngồi trên mình thú hay ngoái tai. Khu tháp cổ với kiểu tháp hình vuông, lục giác biểu tượng cho tinh thần tứ vô lượng tâm và lục độ của nhà Phật. Phần trang trí và chữ khắc ở tháp khá đẹp. Chùa xứng đáng là một tổ đình ở Nam Bộ.
    Chùa được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa theo quyết định số 1288 - VH/QĐ ký ngày 16 tháng 11 năm 1988.
    Bát Bửu Phật đài
    (Chùa Phật cô đơn)
    Địa chỉ: xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh.
    Còn gọi là chùa Phật cô đơn vì trước năm 1975, nơi đây là vùng chiến sự “oanh kích tự do”, bom Mỹ phá nát chùa Thanh Tâm cạnh đó, dân chúng bị lùa đi tứ tán, riêng tượng Phật ngồi lại một mình. Đó là tượng Thích Ca Mâu Ni, cao 4,8 mét, ngang 4 mét, được đúc từ chùa Xá Lợi và đưa về an vị từ năm 1957. Nguyên đây là đất hiến của gia đình cư sĩ Ngô Chí Bình và một số phật tử Sài Gòn - Gia Định cũ.
    Trải qua mười mấy năm chiến tranh ác liệt, tượng Phật đầy những vết đạn lỗ chỗ, trong thế ngồi thiền định trang nghiêm giữa đầm lầy, lau sậy. Tượng Phật được đặt trên một đài cao 8 cạnh, mang 8 tên: công bình, bác ái, từ bi, đại đồng, an cư, lạc nghiệp, thái bình và hạnh phúc nên còn được gọi là Bát bửu Phật đài.
    Trước đây, chùa có một cây bồ đề do hòa thượng Thích Từ Quang chiết thỉnh từ thành Bénarès ở Ấn Độ về trồng trước tu viện Chơn Đức, sau đó lại chiết nhánh con trồng tại chùa từ năm 1957. Cây cao hơn 20 mét, đến năm 1991 thì tàn lụi. Ngày nay, khu vực rộng 34 hecta này được xây dựng thành “Khu Văn hóa Du lịch Bát bửu Phật đài” thu hút hàng ngàn du khách vào các ngày lễ, Tết..
    Chùa Ông
    (Nghĩa An Hội Quán)

    Địa chỉ: số 676 - 678, đường Nguyễn Trãi, quận 5.
    Chùa khởi dựng từ năm 1840. Khởi đầu là ngôi chùa nhỏ. Là nơi thờ Quan Vân Trường, nhân vật anh hùng trung nghĩa bậc nhất thời Tam Quốc, Trung Hoa, tượng trưng cho đức tính người quân tử (nhân nghĩa lễ trí tín, dũng chí bền gan đều có đủ). Đây không phải là chùa Phật mà là miếu thờ Quan Công, do người Hoa gốc Triều Châu lập ra, vừa làm trụ sở sinh hoạt cộng đồng.
    Mặt bằng bố trí theo hình chữ khẩu, với điêu khắc độc đáo, có 6 cột đá lớn, rồng cuốn công phu và tạc thêm liễn đối. Bình phong chạm nổi cả hai mặt sống động. Trang trí thiên về ghép mảnh sành sứ, cùng với đá khối lớn và gỗ quý. Kỳ lạ hơn là trong chính điện còn có phù điêu tả cảnh Hai Bà Trưng cưỡi voi ra trận, Lê Lợi chiến thắng ở ải Chi Lăng.


    ************************************************************

    Một số quán ăn ngon tại tp.HCM
    - Bún bò :
    + Bún bò chợ chiều, đường Ngô Tất Tố (gần nhà Loan Anh và Yến đấy nhé, 12.000/ tô
    + 115 Bùi Thị Xuân Q1 ( ngay góc ngã ba Bùi Thị Xuân - Cống Quỳnh ) 10 nghìn/tô chất lượng
    + 19bis Trần Cao Vân Q1 ( ngay gần ngã tư Hai Bà Trưng - Trần Cao Vân ) 8 nghìn/tô nhỏ , 9 nghìn/tô lớn chất lượng
    + 110a Nguyễn Du ( chính giữa báo công an và nhạc viện thành phố ) 10 nghìn/tô
    + 1241 Mùng 3 Tháng 2 Q10, 10 nghìn/tô chất lượng như vàng
    + Bùi Viện - Đỗ Quang Đẩu (cách đây 3 năm 11000) chổ này ngon hơn ở chỗ BTX
    + Bún bò đường Nguyễn Thị Minh Khai (gần quán món huế Hồng Hạnh), 13.000 và 15.000/ tô. Rất lạ, tô bằng inox, nhỏ xíu hà
    + Trên đường Bạch Đằng gần chợ Bà Chiểu có 2 quán cũng rất ngon, lề đường thui
    - Xôi gà 111 Bùi Thị Xuân Q1 ( gần bún bò ) giá dao động từ 6 nghìn - 12 nghìn
    - Bánh mì 122c Bùi Thị Xuân Q1 . Ngon cực . Giá chỉ 4 nghìn/ổ
    - Cơm tấm Ba Ghiền trên đường Đặng Văn Ngữ ( đối diện trường Phú Nhuận ), miếng sườn to như cái dĩa , ăn phê mún chít
    Thêm1 quán ở Lê Văn Sỹ, miếng sườn cũng to lắm, nhưng LA ko thích lắm vì cơm ít quá. Thích nhất là quán cơm tấm Mai ở Nơ Trang Long (Đinh Tiên Hoàng cũ), món kim chi ngon tuyệt.
    Trên đường XVNT (khúc đường 2 chiều) có khá nhiều quán cơm tấm, nhưng ngon nhất chỉ có quán gần ngã 4 Hàng Xanh là ngon nhất, cơm hơi ít nên bắt buộc phải kêu cơm thêm. Món canh củ ngon tuyệt có cả xương, 5000/ chén
    - Mì gõbên cạnh trường Đồng Khởi . Giá ( chưa cập nhật )
    Ở gần trường GTVT Tp. HCM cũng có 1 chỗ, ăn được lắm, giá 3000 đ. Đủ loại, hủ tiếu, hoành thánh, mì... Ngay gần quán cafe V.V phía đường Ung Văn Khiêm, gần ngã tư với đường D2.
    Đường Nguyễn Công Trứ ( Ngô Tất Tố quẹo vô, chạy đến ngã 4 nhìn bên trái, ngon cực kỳ. ĐẶC BIỆT: bỏ ớt rất nhìu, món hoành thánh thật tuyệt, chỉ 3000/ tô
    - Mì dzịt tiềm
    +Dìn chón mì gia trên đường Phan Đình Phùng ( gần chợ Phú Nhuận ) . 26 nghìn 1 tô chất lượng
    +1 tiệm trong hẻm ở đường Nguyễn Tri Phương gần ngay ngoài đường . Giá rất sinh viên 11 nghìn 1 tô ( hồi đầu chỉ 10 nghìn )
    - Bánh bèo
    Thanh Nga ( đúng gốc Huế ) nằm trong hẻm 45b Kỳ Đồng ( đối diện hồ bơi Kỳ Đồng ) ngon nhất trong những tiệm bánh bèo đã ăn . 8 nghìn/dĩa.
    Thêm 1 địa chỉ nữa, đường Rạch Bùng Binh (nằm giữa đường Nguyễn Thông và Trương Định đóa)
    Trên đường 3/2 cũng có 1 quán, ngay gần đối diện làng nướng (chưa đến Kỳ Hòa). Ngồi dạng quán cóc. Ngay đầu hẻm có treo biển bánh bèo, ngồi dọc theo con hẻm đó. Hẻm kế bên 1 tiệm bán giày Bata. 7000 / dĩa- Phá lấu
    + Bờ kè , chạy từ ngã tư Nguyễn Thị Minh Khai - Hai Bà Trưng tới cầu Thị Nghè thì rẽ trái vào bờ kè đi 1 xíu sẽ thấy ngã 3 . Rẽ trái vào sẽ thấy toàn bán phá lấu . Ăn ở tiệm trong cùng là ngon nhất . 5 nghìn/chén (hồi trước thì ngon, bi giờ dở òm)
    + Cô Oanh 200/20 Xóm chiếu, P.14, Q.4, TP. Hồ Chí Minh . Điện thoại 9000384 . Vào Q.4 hỏi đường xóm chiếu, chợ 200, tới chợ hỏi quán phèo hoặc phá lấu cô Oanh
    - Khu ăn uống tổng hợp nằm trong 1 cái hẻm trên đường Võ Văn Tần ( gần ngã tư Võ Văn Tần - CMT8 ) có rất nhiều món để lựa chọn
    - Hủ tíu Nam Vang (món khoái khẩu) :
    Hoàng nằm ở ngay ngã tư Vĩnh Viễn - Nguyễn Tri Phương . Giá 8 nghìn/tô , ăn ngon lém
    Ở đường Điện Biên Phủ (hướng về cầu Sài Gòn thì nó nằm bên trái, qua ngã 4 Hàng Xanh 1 tí
    Tuyệt nhất là ở Chú Há, Võ Văn Tần, nhưng đến 25000/ tô, hix
    Ở đường Võ Văn Tần, kế Bảo tàng chứng tích chiến tranh cũng rất ngon đó
    Một tiệm nữa trên đường Bạch Đằng - Bình Thạnh. Đi theo hướng từ đường Đinh Tiên Hoàng đến Vòng xoay, wa chợ Bà Chiểu một chút, bỏ 1 cái ngã ba, ngã ba tiếp theo, ngay đầu đường có 1 quán. 14.000/tô, ăn cực kỳ, đủ cả tôm, mực. hehe
    Phở
    -Phở gà hẻm 14 Kỳ Đồng , đi vào trong sẽ gặp 1 tiệm phở rất đông , ăn ngon vãi . 8 nghìn/tô. Hoặc là Phở 24, Phở Lệ...
    - Bún riêu cua ốc-Trong hẻm 14 Kỳ Đồng đi sâu vô hơn nữa là gặp . 8 nghìn 1 tô ăn phê lắm. Kế đó là quán kế sân vận động Hoa Lư, đường Đinh Tiên Hoàng đó
    - Bánh canh cua ngay góc Trần Đình Xu - Cao Bá Nhạ . Cách đây 1 năm mấy 8000/1 tô
    1 tiệm chỉ bán buổi sáng ngay khu Ngân hàng, đi đường Hàm Nghi, đến gần ngã tư có Như Lan thì quẹo về phía quận 4. Ngon cực. 12.000 / 1 tô, quá trời cua luôn.
    Tại quán Hồng Hạnh, đường NTMK cũng tuyệt lắm đó. Tại đó cũng có khá nhiều món ăn Huế, ngon nhất là món bánh cuốn nóng và bánh hỏi- Súp cua : đối diện chợ bà chiểu buổi chiều , 3000 1 tô, nếu thích mua thêm 2000 cua , ăn một chén thoải mái
    - Súp óc heo : đâu đó gần khu đại học ktế NG TRI PHUƠNG , 3000 chén súp , 7000 bộ óc heo - Gà nướng Dziệt Nam , nằm dọc theo đường Vĩnh Viễn từ Ngô Gia Tự - Vĩnh Viễn tới Nguyễn Tri Phương - Vĩnh Viễn có 3,4 tiệm bán gà nướng phết mật ong ăn rất phê . 40 nghìn/con (cái này anh em để nhậu thì hết ý ) . Còn thèm chân gà nướng thì mời đến đường Trường Sơn, gấn sân bay, 6000/chân, nhưng coi chừng chạy công an nha
    - Cháo mực Thanh Sơn 144 Nguyễn Đình Chiểu f6 q3 . 5 nghìn/tô
    - Bít tết
    +Hoả Diệm Sơn 41 Võ Văn Tần và 102 Cao Thắng 28 nghìn/phần
    +Nam Sơn ( 2 chi nhánh ) 200Bis Nguyễn Thị Minh Khai và 188 Nam Kỳ Khởi Nghĩa 24 nghìn/phần
    +1 tiệm đối diện hồ bơi Kỳ Đồng trên đường Kỳ Đồng , ngon mà rẻ lắm . Chỉ 13 ngàn 1 phần ( gần bánh bèo Thanh Nga )
    +1 tiệm mà họp lớp A4 được 3-4 lần đều ăn ở đó (thật nhiều kỉ niệm) . Nằm trên đường An Dương Vương thì phải . 15 ngàn 1 phần
    +1 tiệm ở Lý Chính Thắng, gần tới Hai Bà Trưng, quẹo vào hẻm bên trái. Quán nì có món mì ý là tuyệt nhất
    - Bánh khọt Cô Ba Vũng Tàu 59b Cao Thắng
    - Bánh xèo Đinh Công Tráng ( ngay ngã ba Hai Bà Trưng-Đinh Công Tráng quẹo vào ) . Giá mắc . Quán "Ăn là ghiền" nghe quảng cáo và khen quá trời mà LA chưa đc ăn, hix
    - Sủi cào , há cảo , cảo chạp nằm trên đường Hà Tôn Quyền, ngay góc ngã 3 Hà Tôn Quyền - mùng 3 tháng 2. Có 1 tiệm bán mì người Hoa ở đường Camette, Q.1, ăn thứ món há cảo ở đó 9ko ăn ko ghiền)
    - Đồ chay : cuối đường Trần Đình Xu . 5000 1 tô phở chay, mì chay , hủ tiếu chay . Đừng khinh thường nhá , hơi bị nổi tiếng đó . Có lúc ngày rằm , ca sĩ Thu Minh đi chiếc xe hơi lại đó ăn luôn đó , ngon lắm (theo bé P nói )
    - Đồ tàu cơm gà Đông Nguyên ở góc Nguyễn Trãi với Châu Văn Liêm , bán đủ từ mấy món bình thường tới mấy món đặc biệt . Trước khi đi có ăn óc heo tiềm thuốc bắc ở đó, ngon lắm. Giá thì tùy món , từ 8000->60000
    Sành điệu 1 tí
    - Nhà hàng Cổ Ngư nằm trên đường Pastuer ( gần ngã tư Pastuer - Điện Biên Phủ ) , không gian đẹp cực kì , riêng tư cho 2 người , đốt nến , vô cùng lãng mạn , bàn riêng , có người đánh Violon , có bồi bàn riêng , thích hợp cho các bro thích làm bạn gái choáng miss . Có thể lên đặt bàn trước và chọn món , chọn rượu trước . Nếu đặt 3 món : ví dụ 1 món hải sản khai vị , 1 món tôm lăn bột và 1 món lẩu cá hồi ALASKA , 2 ly rượu Bordeaux ( 45 ngàn 1 ly ) . Tất cả chỉ khoảng trên dưới 500 ngàn . Lưu ý : nên lên đặt bàn , chọn món , chọn rượu trước để kiểm soát được giá và khi đón nàng nhớ tặng nàng 1 bó hồng 5 trắng , 5 đỏ chỉ 30 nghìn để cầm tới cho sang và lãng mạn nhé
    - Nhà hàng Dìn Kí 48-50 Lê Thị Hồng Gấm Q1 . Chắc Dìn Kí đã quá nổi tiếng nên mình kô cần quảng cáo thêm . Nơi đây hội đủ 3 yếu tố : ngon , bổ , rẻ . Có đầy đủ loại hình phục vụ : ăn riêng gọi món , buffet , ... Ngoài cổng có cái bảng tổ bố ghi giá cả cho bà con đỡ sợ khi vào . Mình kô nhớ chính xác là bao nhiu nhưng nhớ là rất rẻ so với những nơi khác . Mọi người đi đảm bảo sẽ kô hối hận
    - Làng nướng Nam Bộnằm trên đường CMT8 ( gần ngã ba CMT8-Tô Hiến Thành ) không gian đẹp , phục vụ rất tốt , các món nướng ăn rất ngon , cũng là 1 chỗ ăn lí tưởng . Nếu đi 2 người thì khoảng 100 ngàn tất cả .
    - Gà nướng Pháp Letoire 354 Võ Văn Tần và Hai Ba Trưng (gần ngã tư Điện Biên Phủ), nằm giữa Kinh Đô và Đức Phát, thực đơn gồm 30 món đặc biệt là món Gà Nướng Pháp, Bò, Cừu, Bò nấu rượu vang, Cơm gà và Kem chuối
    . Lần đầu tiên ăn 1 chỗ có thuế GTGT 10% . Khoảng 25-35 nghìn/phần
    - Quán nướng Chiều nay kiểu Nga 30B Võ Văn Tần Quận 3 , rất nhiều món ngon và độc đáo như : kangaroo nướng , đà điểu nướng , cà ri dê , xúc xích nướng , heo nướng kiểu Nga , ... , giá rất hợp lí 30-55 ngàn/món hehe
    - Lẩu dê Điện Biên Phủ( gần đường CMT8) ăn ngon cực , 50 nghìn/vú nướng béo ngậy , 50 nghìn/lẩu ( lẩu dê Trương Định hả , vứt , tớ đã ăn 2 tiệm roài ). Còn muốn thưởng thức thịch dê "chính gốc", mời đến quán Mái Lá ở Hồ Xuân Hương, ở đây có món bò luộc Củ Chi rất tuyệt vời
    - Quán Tri Kỷ , ngay góc ngã tư Lê Văn Sỷ - Phạm Văn Hai , đầy đủ tất cả các món ăn 3 miền , từ heo , bò , gà , dê cho tới chuột , dơi ,nhím cho tới cá hồi , cá mập , cá Nhật , cá đuối cho tới nai , cheo , hoẵn , kangoroo ... Nếu các bạn thích các món lạ thì nên ghé wán này . Giá phải chăng : 30-60 ngàn/món hoặc lẩu
    - Lẩu bò Minh ngay gốc ngã tư Ngô Thời Nhiệm - Trương Định . Giá cả 40k/lẩu nhỏ , 60k/lẩu lớn , 3 người ăn cái lẩu lớn thôi là quá ngon và no muốn banh xác luôn , cái này đi họp mặt, nhậu nhẹt hoặc kiếm bữa ăn gia đình là ok lắm
    -Lẩu dê , bò , cá kèo , ... 1 loạt dọc theo đường Bạch Đằng gần sân bay Tân Sơn Nhất . Giá cả phải chăng
    - Vú dê nướng , lẩu cá : quán 77 ở DHQG Linh Trung Thủ Đức 15000 , ngon ( cái nì hồi đi học quân sự trốn ra nhậu hoài à
    Trái cây tươi , sinh tố , nước ép trái cây , ...
    - Nước cam , bưởi 122b Bùi Thị Xuân Q1 . 4 nghìn/ly ( bịch ) wá chời cam còn hơn vào cafe 8 nghìn - 18 nghìn/ly cam có tí tẹo
    -Trái cây tươi , sinh tố :
    +Cuối đường Nguyễn Cảnh Chân Q1 , ngay góc ngã 3 Nguyễn Cảnh Chân - Trần Hưng Đạo , ngay chỗ Công An TP quẹo vào đi đến gần cuối đường . 4 nghìn/dĩa trái cây ăn phê lòi
    +Ngay ngã tư Trần Quốc Thảo - Võ Thị Sáu có tiệm bán sinh tố trái cây ngon cực . Giá dao động 3-5 nghìn/ly
    + Sinh tố ở Võ Văn Tần hay Lê Văn Sỹ, An Dương Vương cũng tuyệt cả
    -Kem Pinky ( 3 chi nhánh )
    +20bis Trương Định Q3
    +55Bis Sương Nguyệt Ánh Q1
    +Bà Huyện Thanh Quan ( gần trường Minh Khai , ngay ngã tư Bà Huyện Thanh Quan - Tú Xuơng )
    -Chè
    +Yên Đỗ 79 Lý Chính Thắng F8 Q3 . 3-4 nghìn/ly
    +75 Trần Huy Liệu .3-8nghìn/ly
    +Thái 380 Nguyễn Tri Phương ( từ ngã tư 3/2 - Nguyễn Tri Phương tới ngã tư Nguyễn Tri Phương - Vĩnh Viễn ) có rất nhiều chè Thái ( sầu riêng ), giá 7k/ly ăn phê lòi
    +Chè nóng : ngay ngã 3 Ng Cư Trinh với Cống Quỳnh 1000 1 chén nhưng ngon

    Chùa Nam Thiên Nhất Trụ


    Chùa tọa lạc ở số 511 đường Nguyễn Du, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Hòa thượng Thích Trí Dũng dựng vào năm 1959. Kiến trúc sư Nguyễn Gia Đức vẽ thiết kế. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Các pho tượng Phật, hương án, bao lam ở điện Phật do nghệ nhân Bá Nhâm thực hiện trong những năm 1970. Trước ngôi chánh điện là đài Liên Hoa (thường gọi là chùa Một Cột), dạng kiến trúc như đài Liên Hoa chùa Diên Hựu (Hà Nội), bên trong thờ tượng Bồ Tát Quan Âm. Khuôn viên chùa rộng khoảng một hecta. Ở đây có nhiều pho tượng lớn lộ thiên như: tượng đức Phật Di Đà, đức Phật Thích Ca, đức Phật Di Lặc, tượng Bồ Tát Quan Âm, Bồ Tát Địa Tạng... Sau ngôi chánh điện là nhà lưu niệm và bảo tháp Nam Thiên.

    Chùa Phước Hải


    Tên thường gọi :Ngọc Hoàng Điện; còn gọi là Phước Hải Tự. Tên thường gọi chùa Ngọc Hoàng .
    Địa điểm:số 73 Mai Thị Lựu (tên cũ Phạm Đăng Hưng) phường Dakao, Q1
    Đường đi đến :đi theo đương Điện Biên Phủ Gặp ngã 4 Đinh Tiên Hoàng độ 150m gặp đường Mai Thị Lựu rẽ trái khoảng 100m thấy ngôi chùa nằm bên trái.
    DI TÍCH LỊCH SỬ :
    A-Sự Kiện : nguyên trước kia vùng đất Hộ (Dakao) có một ngôi chùa tên là Minh Sư được dựng lên gần 1 ga xe lửa, nằm ở gàn góc đường Mai Thị Lựu và Nguyễn Văn Giai bấy giờ. Đường Nguyễn Văn Giai trước kia là đường ray tàu hoả chạy từ Sài Gòn xuyên ngã tư Nguyễn Huy Tự và Phạm Đăng Hưng đi qua cầu sắt vào Bà Chiểu.
    Chùa Minh Sư lập vào cuối thế kỷ XIX hoặc đầu thế kỷ XX cho nên đọc trong "Nam kỳ Phong Tục diễn ca" của ông Nguyễn Liên Phong xuất bản vào năm 1906 thấy có mấy câu thơ:
    Chợ hộ phong cảnh tốt thay
    Chùa Minh Sư lập tại rày ga xe
    Trong chùa thanh khiết chỉnh tề
    A8n chay để tóc người mê phật đường………..
    Hai chư "Minh Sư" dùng để đặt tên cho chùa không phải ngẫu nhiên mà có, theo lời kể của các vị thâm nho hai chữ Minh Sư được phân tách trong thời điểm này thì Minh tức là nhà Minh và Sư tức là người có quyền hành như vậy "Minh Sư" có thể là vua nhà Minh bên Trung Quốc .
    Để chứng minh phần nào về hai chữ "Minh Sư" là tên của một ngôi chùa nhỏ thưở xưa mà lại có liên quan đế Ngọc Hoàng Điện bây giờ. Tạm trích ra một đoạn viết về chùa chiền của ông Vương Hồng Sển viết trong Sài Gòn năm xưa do nhà xuất bản Khai Trí xuất bản năm 1969 tại Sài Gòn :
    Kể về chùa Tàu tại Sài Gòn, đường Phạm Đăng Hưng có một ngôi chùa cũng lạ lắm chùa tạo lập năm 1905 trông có vẻ cổ kính vô cùng, hoa viên và cách xếp đặt phía trong đáng liệt kê vào hàng mỹ quan tại Sài Gòn này lắm. Ấy là chùa Ngọc Hoàng, chữ viết "Ngọc Hoàng Điện". Một người tàu tên Lưu Minh ăn chay ròng giữ đạo "Minh Sư" lập chí quyết lật đổ nhà Mãn Than, xuất tiền tạo lập chùa vừa để thờ phụng vừa để làm nơi hội kín . Chánh điện thờ đức Ngọc Đế, tiền điện thờ Đức Thích Ca phiá hưũ điện; trong xa có một miếu nhỏ thờ viên đá bản xứ thượng trưng cho "ông Tà" của người Cao Miên xưa. Đây có lẽ là nguồn gốc có miếu này, về sau người tàu có thâm ý mang từ bên xứ họ môt viên đá khác để gần đó, nhang đèn thờ phụng chữ đề "Thái Sơn" tức lấy từ hòn đá trên núi Thái Sơn bên tàu về đây thay thế cho "ông Tà" bản xứ . Gần đó nữa có bụi tre ngà dưới gốc cũng nhang đèn nghi ngút trên những nhánh tre nào quạt nào tóc rối nào chỉ, quần nùi quạt tượng trưng cho sự mát mẻ cõ lẽ hoạch của 2 người bạn , vừa hết giận nay làm thân, hoặc của đôi vợ chồng sum họp sau những ngày hờn dỗ, tóc rối chỉ nùi tượng trưng cho những rối rắm dời thường nay cởi bớt treo dây cho nhe. Trước miếu có căn phòng bày cảnh Thập Điện và cảnh thiên đàng trạm trên cây rất đẹp, bên phải điện có treo bức tranh "Đạt Ma Tổ Sư quá hải" tranh vẽ trên giấy nét vẽ thần tỉnh. Kế bên có thang đưa lên từng lầu, nơi đây thờ quan đế và bài vị lộ thiên, đứng đây dòm bao quát thấy đủ nóc bắt bông bắt chỉ bằng đồ gốm tinh xảo vô cùng, lại thấy sự hạn chế ánh sáng làm cho bức vẽ trở lên âm u huyền bí theo ý nhà kiến trúc sư tinh trong thuật tâm lý.
    Tóm lại chùa Ngọc Hoàng là một ngôi chùa của ngưòi hoa, do ông Lưu Minh đứng ra quyên tiền xây dựng vào năm Canh Tý (căn cứ vào miếu bia ghi trên 2 cột đá của cửa chùa truy ra là Canh Tý 1900) năm 1906 chùa làm lễ lạc thành và đặt tên là Ngọc Hoàng Điện.
    Trước kia người pháp gọi là La Pagpde De L'emperour De Jade A Dakao và người việt thì gọi là chùa Ngọc Hoàng. Năm 1981 chùa gia nhập vào hội phật giáo đổi tên là Phước Hải Tự tuy nhiên người ta vẫn quen gọi là chùa Ngọc Hoàng .
    Chùa có 3 đời trụ trì, vị khai sơ là thiền sư thích ca Huệ An, kế tiếp là thiền sư thích ca Tự Quảng và hiện nay là hòa thượng Thích Vĩnh Khương tục danh Trà Văng Siêu 90 tuổi
    Ngọc Hoàng Thượng Đế
    Ngọc Hoàng Thượng Đế là chúa tể của Thiên đình, có chức vị cao nhất ở trên đời, nơi đó ông là đấng trí tôn cũng như hoàng đế đối với loài người vậy. Nhưng ảnh hưởng của tư tưởng hiện đại đã làm cho ông mất đi phần nào uy danh chỉ còn được gọi đơn g iản là ông Trời. Nhưng không làm mất đi hẳn cái tính chất thần linh cả thế của ông. Giáo lý đạo Lão thừa nhận ông là đấng tối cao ngự trị trên thế giới của những ngưới bất tử . Trong tôn giáo Trung Hoa người ta nhận thấy sự dung độ giữa Ngọc Hoàng Thượng Đế và vị thần Indar của người Ấn Độ, điều này giải thích bằng sự giống nhau giữa chức năng của họ. Ông là ông trời trong đạo Nho, quảng đại bình dân xem ông như là vị thần tối thượng của tôn giáo bình dân hiện đại.
    Ông trời thấy hết nghe hết và quyết định tất cả, ông rất công bình, ông bảo hộ và giúp đỡ những người tốt và trừng phạt những kẻ xấu, thường là cuộc sống ở ngay thế gian này . Cái ân đức toàn trí của ông không bỏ sót một ai bởi vì ông cố giữ sao cho "mỗi người đều được hưởng một phân ân hụê từ ông"; ông là chúa tể của vòm trời thiên giới mà ông cai quản với sự phụ tá của các quan chức trên trời. Ông ủy quyền cho các hoàng đế dưới trần vâng mệnh của ông để cai quản cõi dương gian hay là thế giới của những ngưới sống và trao cho Địa Tạng hay Diêm Vương cai quản cõi âm giới hay địa phủ .
    Bất kể những điều giảng giải thông thái về lý thuyết dân chúng xem ông như là người đạt đến cái địa vị vô cùng đó, sau khi đã trai qua trăm kiếp đầu thai tu hành khổ hạnh. Mỗi lần đầu thai thoát kiếp thì đức hạnh của Ông càng thêm nhiều và cuối cùng ông đã đạt lên ngôi trời .
    Ông đã đặt ra một trật tự cố định cho sự vận hành của thế giới âm và dương là 2 yếu tố tạo thành sự tiếp nối của các mùa, đem lại sự lạnh và nóng, những gì cần thiết để nuôi sống con người. Dưới quyền ông là một bộ máy cai trị phức tạp với vô số những quan chức tuyển chọn trong vô số những oan hồn người chế, đó là vong hồn của người cố đức độ đang nắm giữ những chức vụ trên trời, trông coi trực tiếp các công việc ở thế gian tức là cuộc sống trên mặt đất này kể cả loài người kể cả loài vật. Tổ chức hành chính ở trên trời cũng không khác gì tổ chức hành chính của con người bởi vì bên cạnh những chức vụ giao cho các vị thần điều khiển những hiện tượng tự nhiên như thần gió, thần mưa, thần sét v.v.v cũng có những bàn giấy đăng kí sự khai sinh và khai tử, một phòng phân phát tiền của, một phòng phụ trách về tội trộm, một phòng coi về những kẻ đầu độc, một phòng về vịêc đọc các kinh sách v.v….Một cơ quan phụ trách về việc điều chỉnh số mệnh đã ban cho từng người khi mới sinh cho tương xứng với công tích và tội trạng trong mỗi cuộc đời của mọi người bằng cách thêm vào hay giảm bớt niên kỷ của anh ta trong số năm anh ta được sống ở đời ….
    Ông trời là đối tượng của một sự thờ cúng ít quan trọng. Quần chúng ưa cầu khẩn những ông thần gần gũi với con người hơn. Đền thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế tọa lạc ở Dakao 1 địa điểm lân cận trung tâm Sài Gòn đến nay là tài sản của tất cả những người nhập cư .
    Miêu Tả Di Tích
    Chùa tạo lạc trên một khu đất rộng 2300m2 quang cảnh nguy nga cổ kính của chùa hiện ra giữa một khoảng không gian khoáng đạt, đầu tiên là sân chùa hình chữ nhật rộng 40m dài 80m nối liền từ cổng chính đến chùa là một con đường xi măng hai bên có trong nhiều cây thuốc nam. Ở giữa dưới bóng cây cổ thụ có miếu thờ hộ pháp. Qua khỏi miếu đến 1 cái hồ nước hình chữ nhật có nuôi rùa, trước chùa bên phải có một hồ hình bán nguyệt nuôi cá và rùa, theo người ở chùa thì rùa tượng trưng cho sự trường thọ. Chùa bố cục theo lối "Nội tam ngoại quốc"(bề ngoài hình chữ quốc, bề trong hình chữ tam) ở giữa là hệ thống hạ điện, trung điện và thượng điện, chung quanh là hành lang tạo nên 1 bầu không khí thanh tịnh, vừa uy nghi, vừa kín đáo ..Chùa có 1 lối kiến trúc đặc biệt, toàn bộ khung cửa chính đều được lam bằng đá lửng, 2 trụ đứng có khắc 2 câu đối sơn son thiếp vàng :
    "Tích tụ huyền phương trấn phấp than thiên địa
    Thiện quả chân tâm chánh đạo chấn càn khôn".
    Phía trên của có bức bao lam cham khắc nhiều hình tượng mô tả cảnh thiên đình, ở giữa có ghi 3 chữ "Tử tiêu điên", trên bức bao lam là một mặt dựng cao ở đỉnh có gắn rồng chầu mặt trời và các tượng nhỏ gắn sứ tráng men trông rất ngoạn mục. Sau tấm mặt dựng có 3 tòa nhà gồm 12 mái lợp ngói rất công phu, trên là ngói có cỡ to, ở đầu mũi có trang trí hình lá đề, lớp dưới là ngói lót hình vuông.
    Nóc chùa được xây từ thấp đến cao, cuối cùng nối lên cao nhất là bình phong trên nóc nội điện, đánh dấu điểm chót của bố cục kiến trúc. Bước vào bên trong phải qua 2 cánh cửa bằng gỗ rất dày và được trạm khắc tỉ mỉ , cánh bên phải trạm cảnh "Sinh Long Bàn Thoại Khí" và cánh bên trái trậm cảnh "Hoạt Hổ Tráng Uy Thanh". Ở 2 bên cửa phía bên phải có bàn thờ Môn quan thần và bên trái có thờ thổ địa thần, cả 2 khám đều được trạm trổ rất công phu. Qua khỏi cửa chính vào cửa phụ ở bên trong cũng được trạm hình nổi, cánh bên phải chạm cảnh "Diệu Pháp" cánh bên trái chạm "thần nông". Ơ 2 bên cửa phụ có 2 căn phòng dài và hẹp căn bên phải trước kia có bày bửu bát, căn bên trái để các lá xăm. Nay 2 căn đều bỏ trống. Đứng ở đây nhìn vào thấy ngay bàn thờ Phật, trên có tượng Dược Sư Lưu Ly Quang Phật, hình Phật Thích Ca, tượng phật A Di Đà với tượng Chuẩn Đề Quan Âm và Thế Chí cũng có tượng nhỏ đức Địa Tạng. Phía trên có môt bức hoành phi lớn ghi bốn chữ "Trạch Cập Đông Quân" và ở hai bên bàn thờ có hai câu đối
    "Bình trung nhập tọa kién tiên cảnh
    Môn ngoại đang đường kết thiện tâm"
    Trong ánh sáng mờ ảo của gian thờ nhìn bên phải có bức Thanh Long đại tướng và bên trái là bức Phục Hổ Đại Tướng, hai pho tượng này cao gần 3 thước được tạc bằng giấy bồi thiếp vàng trông rất oai phong. Sâu bàn thờ phật có bốn cánh cửa: mỗi bên hai cánh đều được chạm trổ rất công phu nói chung những cánh cửa trong chùa đều là những công trình điêu khắc có giá trị nghệ thuật cao. Ở chánh điện : cung giữa thờ Ngọc Hoàng, cung bên phải thờ Đề Chuẩn Quan Am, cung bên trái thờ Bắc Đế Tức Huyền Võ hoặc Trấn Võ dọc hai bên tường . Phía trái thờ ba vị giữa là quan phu tử (chủ về việc võ) hai bên có thiên tướng và thiên thần , bên phải có ba vị:giữa là Văn Xương (chủ về việc văn) hai bên cũng có thiên tướng và thiên thần. Ngoài ra, sau pho tượng ấy có nhiều pho tượng khác ở hai bên bàn thờ Chuẩn Đề Quan Am và hai bên bàn thờ Bắc Đế. Trước bàn thờ Ngọc Hoàng có tấm đá quý che kín , phía tiền điện, trên mặt có khắc bốn chữ Hỏa Khai Phú Quý và có ghi năm cung phụng: Ất Tỵ 1905. Phía trên bàn thờ có hai cửa võng được chạm lộng rất tinh vi sắc sảo. Ở chính giữa có bức hoành phi lớn ghi 4 chữ "Tiên Phật Giáng Lâm". Hai bên bần thờ chuẩn quan âm có hai câu đối mang rõ triết lý phật giáo .
    Khán hoa thế giới tam song thân
    Xạ phá hồng trần nhập bát tỷ
    Hai bên bàn thờ bắc đế có hai câu đối mang rõ triét lý Lão Giáo :
    Thái cực chân vô cực
    Huyền thiên cảnh hữu thiên
    Từ chánh điện đi sang qua dãy phòng dài phía tay trái, ở gian ngoài cùng có bàn thờ Kim Hoa Thánh Mẫu. Còn gọi là Mẹ sanh, ở hai bên có bày mỗi bên sáu bức tượng các bà bằng sành, cỡ nhỏ những người hiếm hoi xưa kia thường đến đây xin có con.
    Gian thứ nhì có treo trên tường sáu bức tranh bằng gỗ chạm nổi :
    Bức thứ nhất là hình hoạt vô thường
    Bức thứ nhì là hình Đông Nhạc Điện
    Bức thứ ba là hình Quan Âm Dường
    Bức thứ tư là hình Địa Tạng Vương
    Bức thứ năm là hình Ti Minh Quân
    Bức thứ sáu là hình Doãn Hồn Tiên
    Gian thứ ba là thập diện Diêm Vương :ở bên tường mỗi bên có treo năm bức hình chạm nổi làm theo điều đã nối ở kinh Địa Tạng bản nguyện phô bày những hình phạt ở âm ti để trừng giới những kẻ gian ác
    Bức thứ nhất :cảnh diện của Tần Quang Vương
    Bức thứ hai :cảnh điện của Sở Giang Vương
    Bức thứ ba :cảnh điện của Tống Đế Vương
    Bức thứ tư :cảnh điện của Ngũ Quan Vương
    Bức thứ năm :cảnh điện của Diêm La Vương
    Bức thứ sáu :cảnh điện của Biên Thành Vương
    Bức thứ bảy :cảnh điện của Thái Sơn Vương
    Bức thứ tám :cảnh điện cửa Bình Đẳng Vương
    Bức thứ chín :cảnh điện của Đô Thị Vương
    Bức thứ mười:cảnh điện của Chuyển Luân Vương
    Gian này lúc nào cũng mờ ảo có vẻ âm u lạnh lẽo nên người xem cảm thấy thập điện có phần ghê rợn .Ở cuối gian phòng có ba khám thờ : khám ở giữa thờ thành hoàng, khám bên phải thờ thái thế thần và khám bên trái thờ bảo thọ thần. Rời điện thờ đi dần theo con hẻm nhỏ ra sân sau nơi đây có một bức tường mà khi qua cửa ngách đã nhìn thấy đó là di tích của miếu đất Hộ xưa, chỗ thờ "ông đá" ở giữa bức tường có bốn câu hán "Quang chiếu cận viễn" và câu đối :
    Dung thụ thần linh phu lợi tế
    Tướng quân oai dũng bảo khang ninh
    Đi vào sân trong có bày bàn thờ hai vị thần :thần Thạch Long bên phải và thần Bạch Hổ ở bên trái giữa hai vị thần ấy có một hòn đá lấy từ núi Thái Sơn bên Trung Quốc sang. Theo quan niệm mê tín xưa thì hai vị thần và hòn đá kia có phép màu chữa khỏi bệnh nên lúc trước có nhiều người vào đây cầu nguyện xin cho hết bệnh . Từ sân sau trở ra qua phía tay phải của chùa vào căn phòng bên đó có cầu thang rất chắc chấn dẫn lên lầu . Phía trước có sân thượng khá rộng đứng ở đó có thể nhìn thây toàn bộ mái chùa nhô góc từ thấp đến ca, có rồng kỳ lân hoa lá phủ theo các đầu mái, vào trong phòng là điện thờ phật, có tấm hoành phi đề bốn chữ "Đại Hùng Bảo Điện" . Bàn thờ giữa thờ phật bà ,hai bên có hai câu đối
    Nam Hải Phi Tiêu Phiến Diện Niệm Từ Hàng Tùy Tế Độ
    Tây Phương Bất Viễn Nhất Thành Cứu Khổ Tức Thông Linh
    Có ba cái khám thờ ở trước mỗi khám đều có hinh tượng di đà ,khám ở giưa thờ bài vị phật ,thánh, tiên ,khám bên phải thờ Quán Đế và khám bên trái thờ Tây Đông Thổ Lịch Đại Tổ Sư . Chính giữa phòng phía trên có tám hoành phi ghi Tiên Phật Nho Tông cho thấy có sự hòa hợp giữa Phật Nho Lão . Ở đây cũng có hai câu đối
    Lập phâm tầm hồn trung hiếu
    Dộc thư chí tại thánh hiền
    Bước xuống cầu thang nhìn lại thấy một bức hoành phi ghi "Tu thân vu đạt" đó là tấm hoành phi cuối cùng tiễn khách ra về, chấm dứt cuộc tham viếng chùa Ngọc Hoàng .
    Giá Trị Kiến Trúc Nghệ Thuật:
    Chùa Ngọc Hoàng đựoc bố cục khéo léo quy mô, mỗi bộ phận kiến trúc từ nhỏ đến to đều cứng cáp có sức chịu đựng bền lâu mà hình dáng kích thước lại thanh nhã phối hợp chặt chẽ tương xứng với nhau, thành thử toàn bộ ngôi chùa dưới nhiều tầng mái nặng nề đồ sộ dựa trên hàng chục chiếc cột vạm vỡ vẵn có vẻ nhẹ nhàng. Chùa lại được trang trí chạm trổ công phu họa tiết sử dụng ở nay nhiều nhất là điển tích Trung Quốc , hầu hết các họa tiết đều được cách điệu hóa bằng những đường nét tinh tế . Nét trang trí uyển chuỷên, nét chạm trổ công phu điêu luyện làm cho ta tưởng tượng rằng những kỳ công tinh xảo đó là những tấm thêu trên mặt gỗ, nói lên tính chất đồng nhất giữa kỹ thuật thủ công và nghệ thuật trang trí. Về mặt tạc tượng chùa Ngọc Hoàng còn giữa được đa số tượng tạc bằng giấy bồi, pho nào cũng được tạc rát công phu tinh xảo sinh động từ nếp quần áo đến dáng điệu, nét mặt hay tư thế ngồi đều phản ánh nhiều tình cảm khác nhau, có thể nói đây là cuộc họp mặt của tập đoàn "thần thánh"đang về chầu Ngọc Hoàng .Tuy là tượng giấy nhưng tuổi thọ của các pho tượng này cũgn xấp xỉ 100 năm ngang với tuổi chùa . Chùa Ngọc Hoàng đứng về mặt kiến trúc nghệ thuật với những phần trang trí nội thất thì phải nói tất cả các công trình đều thể hiện được cái tinh xảo của nghệ thuật điêu khắc trên gỗ .


    1: Những hiện vật động sản của chùa Ngọc Hoàng :
    1:Tượng Kim Hoa thánh mẫu bằng sành 1 tượng
    2:Tượng Bà mẹ sanh bằng sành 12 tượng
    3:Tượng nam bàng sành 7 tượng
    4:Bình cắm hoa hình rồng bằng sành 3 cái
    5:Cọp bằng sành 1 con
    6:Voi bằng sành 1 con
    7:Bình hoa lục bát bằng sành 1 cái
    8:Hạc-Quy ngậm sen bằng sành 2 con
    9:Độc bình bằnh sành 2 cái
    10:Bình hoa bằng sành 2 cái
    11:Lư hương lớn bằng sành 2 cái
    12:Sư tử đá 2 con
    13:Tượng hộ pháp bằng sành 1 tượng
    14:Cửa võng chạm rồng 22 bức
    15:Liễn gỗ 43 tấm
    16:Hoành phi gỗ 11 bức
    17:TRanh gỗ chạm thập điện (10 bức) 1 bức
    18:TRanh gỗ chạm 6 bức
    19:Chân đèn đồng 10 cái
    20:Lư hương đồng 6 cái
    21:Lục bình đồng 1 cái
    22:Chuuông đồng 3 cái
    23:Mâm đồng 1 cái
    24:Tượng quỷ thần (giấy bồi) 57 tượng
    25:Ngựa giấy bồi 1 con


    Chợ kim Biên
    Quy mô: chợ có diện tích 2.000m2 với hơn 500 sạp( mỗi sạp rộng không nay 2m2 ) nằm trong khu vực các đường Phan Văn Khỏe-Vạn Tường- Kim Biên-Hải Thượng Lãn Ong. Trong bề ngoài nhỏ bé, có vẻ lụp sụp, tạm bợ, có một tiềm lực kinh tế mạnh,, thu hút khách hàng từ nhiều nơi.
    Đặc điểm: nằm trong danh mục chợ đầu mối của thành phố, chợ Kim Biên chuyên kinh doanh các mặt hàng mỹ phẩm, hóa chất, công nghệ phẩm, bách hóa trong đó một phần là hàng nguyên đai, nguyên kiện của nhiều nước như Thái Lan, Trugn Quốc, Singapore…
    Ngoài hàng nhập chợ kim Biên cũng là nơi bán sĩ các hàng do các công ty, xí nghiệp trong nước sản xuất như kem đánh răng P/S. Dạ Lan, bột giặt Viso, dầu gọi đầu, xà bông hàng nhựa, giày dép, áo quần, đồ gia dụng khác.
    Nhập hàng từ gốc, từ nay các nhà buôn cung cấp cho các chợ khác, vừa bán sĩ lại vừa bán lẻ, hàng dồi dào lối kinh doanh linh động, cung cách phục vụ chu đáo, nên chợ kim biên đã đượcv một lợi thế riêng trong cơ chế thị trường sôi động hiện nay.

    Chợ Bình Tây – chợ Lớn
    Còn gọi là chợ Lớn mới vì chợ Lớn cũ hư nên thay bằng ngôi chợ này chắc chắn và rộng lớn hơn vào năm 1928.Mặt tiền chợ trông ra đường Tháp Mười nối liền với đường Hậu Giang ra bến xe miền Tây.
    Chủ chợ vốn là một người Hoa nghèo nàn, nhưng mưu tính góp vốn làm nghề bán lúa gạo ở lục tỉnh để bán ra nước ngoài. Với nghề này chẳng mấy chốc ông giàu. Thế là nảy ra ý định xây một ngôi chợ cho “ nhà nước Pháp ”với điều kiện ông được xây cất những dãy phố lầu chung quanh chợ để cho thuê, tạo thành khu vực cho người Hoa sinh sống và buôn bán.
    Bên trong chợ là pho tượng “ ông chủ chợ ”bằng đồng, mướn đúc tận Trung Quốc.Tượng dựng trên bệ cao, có rồng phun nước dưới chân và kỳ lân chầu; trên ngực đầy huy chương cỡ lớn.
    Có thể coi khu vực Chợ Lớn là một Chinatown ở Việt Nam, một trung tâm thương mại lớn như kiểu phố tàu, phố Ấn Độ – những trung tâm buôn bán của người Trung Quốc, người Ấn Độ ở Singapore hiện nay.

    Lịch sử Đức Phật ,Thích Ca Mâu Ni
    Đức Thích Ca Mâu Ni đã vì một đại nguyện lớn lao, một lòng từ vô lượng mà khước từ mọi hạnh phúc, quyền uy, tiện nghi vật chất để cầu đạo giài thoát. Và cũng với đại tâm đại nguyện ấy, sau khi chứng được đạo quả Vô thượng Bồ đề, Ngài đã dâng hiến thời gian cho công cuộc hằng hóa độ sanh. Đức Thế Tôn đã chu du khắp đất nước Ấn Độ thời xa xưa ấy, từ cực Bắc dưới chân núi Hymalaya, đến cực Nam bên ven sông Gange (sông Hằng).
    Đức Thế Tôn đã dành những tuần lễ đầu tiên để chiêm nghiệm đến giáo pháp thậm thâm vi diệu mà Ngài đã chứng đắc, và thọ hưởng pháp lạc mà quả phúc mang đến. Pháp Cú kinh, kệ số 153-154, đã ghi lại một trong những Phật ngôn đầu tiên Ngài đã thốt lên trong thời gian này:


    Lang thang bao kiếp sống
    Ta tìm nhưng không gặp
    Người xây dựng nhà này
    Khổ thay, phải tái sanh
    Ôi! Người làm nhà kia
    Nay ta đã thấy ngươi
    Ngươi không làm nhà nữa
    Đòn tay ngươi bị gẫy
    Kèo cột ngươi bị tan
    Tâm ta được tịch diệt
    Tham ái thảy tiêu phong(Bản dịch của HT Thích Minh Châu



    Câu kinh như một lời ca khải hoàn, mô tả sự chiến thắng vẻ vang rực rỡ sau cuộc chiến đấu nội tâm thầm lặng gian nan. Ông thợ tượng trưng cho ái dục, vô minh, phiền não luôn ẩn sâu kín trong mỗi con người, nay đã bị phát hiện.
    Đức Phật cũng đã để lại cho thế gian một bài học luân lý đẹp đẽ, đó là sự tỏ lòng tri ân sâu sa đối với cây bồ đề che nắng che mưa cho Ngài trong suốt thời gian tầm đạo. Đức Thế Tôn đã đứng cách một khoảng xa để chiêm bái đại thọ suốt trong một tuần. Sau này, nơi đây vua Asoka (A Dục) dựng lên một tháp kỷ niệm gọi là Animisalocana Cetiya, nay vẫn còn.
    Đức Thế Tôn đã suy nghĩ đến giáo lý giải thoát sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh cao thượng, siêu lý luận, ly dục, vô ngã mà Ngài đã chứng đắc; còn chúng sanh thì luôn chìm sâu vào ái dục, định kiến, chấp ngã với nhiều thủ trước... Làm thế nào để con người dễ dàng chấp nhận giáo lý ấy? Và rồi, với trí tuệ của bậc giác ngộ, Đức Thế Tôn đã quan sát thế gian và thấy rằng: "Có hạng chúng sinh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời; có hạng độn căn, lợi căn; có hạng thiện tánh, ác tánh; có hạng dễ giáo hóa, khó giáo hóa... Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước; có loại sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước thấm ướt..." (Trung Bộ I). Và như vậy, với hình ảnh những cành sen vươn ra khỏi mặt nước, những cành ở lưng chừng, những cành ở sâu trong lòng nước v.v... đã gợi lên trong Thế Tôn về căn cơ bất đồng của mọi người. Có những căn cơ thấp như cánh sen ở đáy hồ, có những căn cơ trung bình như những cánh sen ở lưng chừng nước, cũng có những căn cơ cao có thể tiếp thu trọn vẹn giáo pháp của Ngài như những cành sen đã nhô ra khỏi mặt nước. Dù sống trong nghiệp quả bất đồng, nmỗi chúng sanh đều có hạt giống giác ngộ, như hoa sen dù sống trong bùn tanh hôi, vẫn tỏa hương thơm ngát.
    Với ba lần thỉnh cầu và phát khởi thiện nguyện hộ trì giáo pháp của Phạm Thiên, Đức Thế Tôn quyết định gióng lên tiếng trống Pháp và bắt đầu thực hiện sứ mạng của mình. Ngài tuyên bố với thế gian, với loài người, với cõi trời và với tất cả, con đường đạo cứu khổ và diệt khổ, con đường dẫn đến cõi bất sanh bất diệt, cõi Niết bàn đã được khai mở: "Cửa bất tử rộng mở, cho những ai chịu nghe..." (Trung Bộ I). Và bánh xe Pháp bắt đầu chuyển vận.
    I. Bài pháp đầu tiên - Ngôi Tam Bảo được hình thành - Khởi đầu Giáo hội Phật giáo
    Sau khi quyết định truyền bá đạo lý cứu khổ cho muôn loài, Đức Phật dùng tuệ nhãn quan sát thế gian xem ai là người có cơ duyên để hóa độ trước, và Ngài nghĩ ngay đến hai vị thầy cũ của mình là Alara Kàlama và Uddaka Ramaputta, nhưng cả hai đã qua đời cách đó không lâu. Đức Thế Tôn nghĩ đến năm người bạn đồng tu khổ hạnh đã rời bỏ Ngài trước kia, đang ở tại vườn Nai (Lộc Uyển) - Benares (Baranàsi) và lên đường đi đến đó.
    Bài Pháp đầu tiên
    Tại đây, bài Pháp đầu tiên, bài giảng về Tứ diệu đế (Tứ Thánh đế) được Đức Thế Tôn chỉ bày rõ ràng. Nghe xong, tôn giả Kodanna (Kiều Trần Như) chứng quả Tu Đà Hoàn. Đức Thế Tôn thu nhận năm tôn giả làm các đệ tử xuất gia đầu tiên - và thế là ngôi Tam bảo đã được hình thành.
    Để đánh dấu sự kiện đáng ghi nhớ này, về sau người ta đã biểu trưng nó với hình ảnh bánh xe với hai con nai hai bên. Hai con nai biểu tượng cho địa điểm thuyết pháp (Lộc Uyển) và bánh xe Dhamma Cakka tức là bánh xe pháp - "pháp luân". Cả đầu đề bài khi được giảng là: Dhamma Cakkappavattana, có nghĩa là Chuyển Pháp Luân (chuyển bánh xe pháp).
    Nội dung kinh Chuyển Pháp Luân
    Đức Thế Tôn mở đầu bằng lời khuyên các tu sĩ không nên mắc vào hai cực đoan: một là đam mê thú vui dục lạc thế gian, vì nó giả tạm, nhất thời, tầm thường, ngăn cản mọi tiến bộ tâm linh; cực đoan thứ hai là khổ hạnh ép sát, nó làm mỏi mệt tinh thần, mê mờ trí tuệ. Và Ngài khuyến tấn họ nên theo con đường trung đạo dẫn tới một cuộc sống thanh tịnh, trí tuệ, sáng suốt, giải thoát tối hậu. Đó là con đuờng đạo 8 chánh - Bát chánh đạo: 1. Chánh tri kiến: thấy biết chân chánh, 2. Chánh tư duy: suy nghĩ chân chánh, 3. Chánh ngữ: nói năng chân chánh, 4. Chánh nghiệp: hành động chân chánh, 5. Chánh mạng: sinh sống chân chánh, 6. Chánh tinh tấn: siêng năng chân chánh, 7. Chánh niệm: nhớ nghĩ chân chánh, 8. Chánh định: tập trung tư tưởng chân chánh.
    Và bốn Thánh đế được Đức Phật giảng tiếp theo, dó là chân lý về sự Khổ (Khổ đế), chân lý về nguyên nhân của sự Khổ (Tập đế), chân lý về sự diệt Khổ (Diệt đế) và chân lý về con đường diệt Khổ (Đạo đế).
    Sau khi nghe Đức Thế Tôn giảng bài pháp thứ hai có đầu đề Anttalakkhana Sutta (kinh Vô ngã tướng), bàn về thuyết Vô ngã (không có cái ta), rằng năm uẩn là vô thường, nếu ai thoát khỏi tham ái thì ra khỏi tái sanh, được giải thoát, năm tôn giả Kodanna, Vappa, Bhaddhiya, Mahànàma và Assaji lần lượt chứng quả A La Hán. Bấy giờ là tháng Vesàkha (giữa tháng 4 và 5 dương lịch), đầu mùa kiết hạ. Giáo hội của Đức Thế Tôn an cư mùa mưa đầu tiên tại đây.
    Giáo hóa ôngYasa (Ya Xá)
    Gần Benarès, có con trai của một người triệu phú tên là Yasa. Chán cuộc đời xa hoa phú quí tầm thường vô vị của thế gian, chàng tìm đến đức Phật; sau khi nghe pháp đã xin xuất gia và chẳng bao lâu chứng quả vị A La Hán. Cha của Yasa trên đường đi tìm con cũng đến vườn Nai thính pháp và xin quy y. Ông trở thành đệ tử tại gia đầu tiên của Đức Phật. Tại nhà của Yasa, mẹ và vợ của chàng cũng quy y Tam bảo. Bốn người bạn thân của Yasa là Vimala, Subhàhu, Punnaji và Gavampati cũng như hơn 50 bạn khác từ các gia đình và địa phương gần xa nghe tin Yasa xuất gia, cũng lạy cha mẹ, từ giã gia đình xin theo chân Đức Phật, và sau một thời gian đều đắc Thánh quả.
    Đoàn tăng sĩ thuyết pháp đầu tiên
    Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn đã có 60 người đệ tử đều là A La Hán. Ngài quyết định đưa họ đi khắp nơi để truyền bá chánh pháp. Trước khi họ lên đường, Ngài đã động viên, kêu gọi các đệ tử rằng:
    "Này các Tỳ kheo! Như Lai đã được giải thoát hết mọi ràng buộc thế gian và xuất thế gian (các cõi trời). Các ông cũng vậy... Này các Tỳ kheo, hãy đi vì lợi lạc của nhiều người, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng lân mẫn đối với thế gian, vì lợi lạc, vì hạnh phúc của trời và người. các ông hãy đi, nhưng đừng đi hai người cùng một hướng, hãy đi mỗi người một ngã, hãy truyền bá chánh pháp. Này các Tỳ kheo, chánh pháp toàn thiện ở phần đầu, phần giữa cũng như phần cuối, cả trong ý tứ và lời văn. Hãy tuyên bố về cuộc sống toàn thiện và thanh tịnh... Chính Như Lai cũng đi, Như Lai sẽ đi về hướng Uruve là ở Sanànigàma để hoằng dương giáo pháp. Hãy phất lên ngọn cờ của bậc thiện trí, hãy truyền dạy giáo pháp cao siêu, hãy mang lại sự tốt đẹp cho người khác; được vậy, là các ông đã hoàn tất nhiệm vụ" (Mahavagga, 19-20).
    Đức Phật không khuyên tất cả mọi người nên rời bỏ đời sống gia đình để xuất gia, trở thành người sống không nhà cửa, không tài sản, sự nghiệp. Một người cư sĩ cũng có thể sống đời cao đẹp thích ứng với giáo pháp và đắc quả Thánh. Cha mẹ và vợ của Yasa là những người tu tại gia đầu tiên bước theo dấu chân của Đức Phật, tất cả đều tiến triển đầy đủ về tinh thần và thành tựu đạo quả Tu Đà Hoàn.
    Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, Đức Phật và 60 người học trò chứng quả A La Hán tổ chức thành một tăng đoàn những tu sĩ khất thực không có trú xứ nhất định, không có của cải vật chất nào khác ngoài tấm áo vàng che thân và một bình bát để khất thực nuôi thân. Trong mưa nắng, trong sương gió, làng mạc hay phố thị, rừng núi hay đồng hoang đều có dấu chân của những con người thuyết giảng về đạo lý cứu khổ và đời sống thanh hạnh và tự mình nêu gương sáng về cuộc sống thanh tịnh và giải thoát. Đó là sự nghiệp, là nội dung chủ yếu của Tăng đoàn đầu tiên do Đức thế Tôn đích thân thành lập và chỉ đạo.
    Có thể nói, đây là sự khởi đầu của Giáo hội Phật giáo.
    II. Hóa độ rộng lớn và cùng khắp
    Sứ mạng hóa độ - con đường giáo hóa của Đức Thế Tôn thật vô cùng nặng nề và khó khăn, nhưng với lòng bi mẫn rộng sâu, tinh thần bình đẳng triệt để và một ý chí dũng mãnh vô song, Đức Thế Tôn đã tùy theo căn cơ của mọi người mà dùng nhiều phương tiện thiện xảo giáo hóa, như một bậc y vương đã tùy bệnh mà cho thuốc, đã hoàn thành sứ mạng thiêng liêng một cách viên mãn và đã đề ra một con đường giáo dục thật mới lạ trong lịch sử nhân loại.
    Cảm hóa ba anh em ông Kassapa (Ca Diếp) - Giáo chủ thần lửa.
    Sau khi sáu mươi vị Tỳ kheo mỗi người đi về một hướng, Đức Thế Tôn cũng đi về hướng Uruvela. Dọc đường, trong một khu rừng nhỏ, Đức Phật đã hóa độ cho 30 thanh niên đang vui đùa cùng vợ của họ và một kỹ nữ ở trong rừng.
    Gần Uruvela (Ưu Lâu Tần Loa) có ba anh em Kassapa: Uruvela Kassapa, Nadi Kassapa và Gaya Kassapa. Ba anh em ông là những người có danh vọng lớn ở Magadha, đặc biệt là người anh cả Uruvela Kassapa; ông này thờ thần lửa và tự cho mình đã chứng quả A La Hán trọ qua đêm và bị cố ý thu xếp cho ở căn phòng thờ thần lửa có một con rắn chúa rất độc và dữ tợn, Đức Phật đã hàng phục con rắn thiêng này, ngoài suy nghĩ của ông Uruvela Kassapa. Tin rằng chính Đức Phật là người đã chứng quả Thánh, chứ không phải là mình, ba anh em ông Kassapa và 1.000 đệ tử đều xin xuất gia theo Phật.
    Sau đó, Đức Phật đã đến Gàya Sirà, cách Uruvela không xa lắm. Chính nơi đây Đức Thế Tôn đã thuyết giảng kinh Aditthapariyàya Sutta (bài kinh Lửa Cháy, với chủ đề: thế gian là tòa nhà cháy rực bằng ngọn lửa tham, sân, si, sanh, già, bệnh, chết, sầu bi, khổ não và thất vọng). Các Tỳ kheo có mặt đều đắc quả A La Hán.

    Khi vừa thoát ly gia đình đi tầm đạo, Đức Phật có lúc đã ngụ tại Pàndavapabbata. Vua Bimbisàra (Tần Bà Sa La - Bình Sa Vương) lấy làm cảm kích trước tướng mạo oai nghi và tư cách trang nghiêm, sang trọng, khiêm tốn, đã cho người dò hỏi lai lịch. Sau khi biết được chí nguyện của vị Thái tử đầy hùng tâm này, đức vua xin Ngài hãy trở lại viếng thăm vương quốc Magadha (Ma kiệt đà) do vua cai trị, khi chứng đạo quả.
    Nhớ lời hứa xưa, Đức Thế Tôn cùng trên 1.000 đệ tử A La Hán từ Gàya đến Ràiagaha (Vương xá), thủ phủ của vương quốc Magadha giàu mạnh. Và tại đây, vua Bimbisàra hiểu được giáo pháp cao diệu liền chứng Sơ quả và xin quy y Tâm bảo cùng dân chúng tinh xá rộng lớn có tên là Veluvanaràma (Trúc Lâm tinh xá) gần thành Ràjagaha. Có thể coi đây là tự viện đầu tiên ra đời, và vua Bimbisàra là vị thí chủ đầu tiên trong hàng vua chúa. tại tinh xá yên tĩnh những ày, Đức Phật và đại chúng đã nhập hạ một lần 3 năm liên tiếp và ba hạ khác, xa cách nhau.
    Thâu nhận Sàriputta (Xá Lợi Phất) và Moggallàna (Mục Kiền Liên)
    Gần Ràjagaha có một làng tên Upatissa, còn có tên là Nàlaka, Sàriputta - một chàng trai thông minh - là người ở làng này. Vì xuất thân ở một gia đình quyền quý nhất làng, nên chàng còn được gọi là Upatissa.
    Cùng với người bạn thân ở làng Kolita tên gọi Moggallàna, có chung một nhận thức rằng tất cả những thú vui vật chất đều tạm bợ, trống rỗng và vô vị. Hai chàng trai quyết định từ bỏ gia đình, lang thang đi tìm chân lý và thọ giáo với đạo sĩ Sànjaya, người có rất nhiều đồ đệ. Nhưng do không thỏa mãn với giáo lý của vị thầy hữu danh này và sau đó là nhiều đạo sĩ khác, cả hai chia tay nhau và thề hẹn rằng: Nếu ai tìm ra con đường đạo giải thoát trước, sẽ cho người kia hay.
    Trong một dịp bất ngờ, Ngài Sàriputta đã xúc động mạnh trước phong thái giải thoát, trầm tĩnh, siêu phàm đang đi trì bình một cách thong dong để giáo hóa mọi người ở thành Ràjagaha của Ngài Assaji (Mã Thắng, Thuyết Thị). Cho rằng đây hẳn là bậc A La Hán, hay cũng là người đang trên con đường dẫn đến đạo giác ngộ, Sàriputta đã - đợi cơ hội và liền đảnh lễ, thưa hỏi: "Kính bạch Tôn giả! Các căn của Ngài thật bình thản, an tịnh. màu da của Ngài thật trong sáng. Vì sao Ngài thoát ly thế tục? Ai là đạo sư của Ngài? Giáo lý của Ngài là gì?".
    Trước những câu hỏi chân thật, khiêm tốn và sự khẩn khoản yêu cầu của Sàriputta, ngài Assaji đã đọc tóm tắt giáo lý mà Ngài đã học ở Đức Thế Tôn bằng bài kệ:
    "Các pháp do nhân duyên sanh.
    Duyên ấy Như Lai đã chỉ rõ,
    và dạy phương pháp để chấm dứt,
    đó là giáo pháp của bậc Đại Sa môn".
    Là người thông tuệ và trí óc đã thuần thục để thấu triệt chân lý sâu xa, dù nó chỉ được gợi ra một cách vắn tắt, Sàriputta đã chứng Sơ quả (Sotàpatti, Tu đà hoàn, Dự Lưu) khi vừa nghe hai câu đầu.
    Theo lời giao hẹn, Sàriputta liền thông tin cho bạn thân. Moggallàna cũng đã chứng Sơ quả. Do lời tha thiết yêu cầu của cả hai, Đức Phật đã nhận hai ông vào Tăng đoàn tại tinh xá Veluvana với câu nói đơn giản: "Etha, Bhikkhave!" (Hãy đến đây, các Tỳ kheo!). Nửa tháng sau, Sàriputta chứng quả A La Hán, nhân nghe bài kinh Vedanà Pariggha mà Đức Phật giảng cho đạo sĩ Dighnakha. Ngài Moggalàna đã chứng quả ấy trước đó một tuần. Với cơ duyên lớn, Đức Phật đã triệu tập Tăng chúng và tuyên bố hai vị là Thượng thủ trong Tăng đoàn.
    Từ đấy, hai Ngài thường thay mặt Thế Tôn để hướng dẫn Tăng chúng. Đây là thời điểm đánh dấu sự phát triển lớn mạnh của Giáo hội Phật giáo, dưới sự lãnh đạo của Đức Thế Tôn.
    III. Đức Phật và thân quyến
    Hay tin người con yêu dấu trí tuệ đã thành đạo và đang thuyết pháp giáo hóa nổi danh tại Ràjagaha, đức vua Suddhodana nóng lòng gặp mặt, liền tức tốc sai nhiều sứ giả đến thỉnh Đức Phật về Kapilavatthu. Nhưng chín lần ra đi là chín lần sứ giả đều ở xin xuất gia với Đức Phật. Vị sứ giả thứ mười là Kàludàyi, vốn là bạn thân của Đức Phật khi còn là Thái tử, đến nơi nghe pháp cũng xin xuất gia và cũng chứng Thánh quả như những vị sứ giả trước, nhưng ông Kàludàyi đã chuyển đến Đức Phật lời yêu cầu được gặp mặt của vị vua già yếu.
    Sau 2 tháng, Đức Thế Tôn và đại chúng đã về đến Kapilavatthu. Trước đạo phong của Đức Phật, vua Suddhodana đã cúi đầu kính lễ lần thứ ba. Và sau khi Đức Thế Tôn thuyết pháp lần thứ nhất, đức vua đã chứng Sơ quả, và đạt quả thứ hai (Sakkadagami, Tư đà hàm, Nhất Lai) khi nghe bài pháp kế tiếp. Lần thứ ba khi nghe bài pháp có tên Dhammapala Jàtaka (Trì Pháp Túc Sanh truyện, số 447), đức vua đắc quả Anagami (A na hàm, Bất Lai). Với bài pháp này, di mẫu Pajapati Gotami đã chứng quả Sotapana (sơ quả).
    Sau này trên giường bệnh, vua Suddhodana lại được Đức Phật về thăm và giảng pháp cho nghe. Đức vua sau 7 ngày tận hưởng pháp lạc và đắc quả A La Hán, đã băng hà trong định tĩnh. Năm ấy, Đức Phật ở tuổi 40 và đang an cư lần thứ năm. Cũng trong hạ thứ năm này, Giáo hội Ni được thành lập. Và ở hạ thứ bảy, Đức Phật đã lên cung trời Tusita (Đao Lợi) thuyết pháp độ chư Thiên và hoàng hậu Maya.
    Công chúa Yasodhara (Da Giu Đà La)
    Sau khi Thái tử rời bỏ cung vàng, công chúa Yasodhara cũng bỏ hết đồ trang sức, mặc y vàng của người tu sĩ, và trong khoảng 6 năm trường đã thủy chung, tận tình nuôi dạy đứa con độc nhất Ràhula đến tuổi lớn khôn.
    Nghe vua cha tán dương đức hạnh của nàng dâu, Đức Thế Tôn đã giảng kinh Candakinnara Jàtaka và nói thêm rằng: "Không phải chỉ kiếp cuối cùng này, mà trong những tiền kiếp, công chúa cũng đã từng bảo vệ, kính mộ và thủy chung với Như Lai".
    Sau khi vua Suddhodana qua đời, di mẫu Pajàpati xuất gia làm Tỳ kheo ni, công chúa cũng được xuất gia và đắc quả A La Hán sau đó. Trong hàng Ni chúng, công chúa là người có thần thông bậc nhất. bà nhập Niết bàn năm 78 tuổi. Trong kinh Apadana còn ghi lại những câu kệ do bà giảng thuyết.
    Cậu bé Ràhula (La Hầu La)
    Ràhula sinh ra đúng ngày mà Thái tử quyết định thoát ly thế tục. Cậu bé trưởng thành trong cảnh không cha, được ông nội và bà mẹ nuôi dưỡng. Khi lên bảy tuổi, cũng đúng vào ngày thứ 7 Đức Thế Tôn lưu lại quê nhà, Ràhula luôn quấn quýt bên chân Đức Phật, nũng nịu đòi gia tài như lời mẹ dặn. Đức Phật quyết định giao "Thất thánh tài" [1] cho cậu bé bằng cách nhận cậu vào Tăng đoàn và trao cho ngài Sàriputta dạy dỗ.
    Thật khó tưởng tượng một cậu bé lên bảy có thể sống đời sống cao thượng của bậc xuất trần thượng sĩ. Nhưng Sa di Ràhula vừa thông minh đặc biệt, vừa biết vâng lời chuyên cần tu học. Kinh ghi rằng mỗi sáng vị Sa Di trẻ này dạy thật sớm, bóc một nắm cát tung lên và nguyện: "Mong rằng ngày hôm nay ta học được nhiều như bao nhiêu cát đây... ".
    Một trong những bài kinh nổi tiếng mà Đức Phật đích thân dạy cho Ràhula là bài Ambalatthika Rahulovada Sutta, nhấn mạnh về tầm quan trọng của sự chân thật, phương pháp phản tĩnh để diệt trừ mọi ý niệm, lời nói, hành động bất thiện.
    Năm lên 18 tuổi, một lần cùng Đức Phật đi khất thực, phong độ và oai nghi quí phái của hai vị tu sĩ xem tựa như thớt ngự tượng dõng dạc cùng đi với tượng con ngoan hiền, như thiên nga của vua dắt con lội trên mặt hồ trong ngự uyển, như hổ chúa oai phong cùng hùm con lẫm liệt. Cả hai Ngài đều có thân hình đẹp đẽ, cả hai đều thuộc dòng dõi quí tộc từ khước ngai vàng cất bước ra đi. Trong lúc chiêm ngưỡng Thế Tôn, Ràhula nảy lên ý niệm nghĩ về thân hình đẹp đẽ của mình và Đức Phật. Biết được ý tưởng đó, Đức Thế Tôn đã nói bài kệ bất hủ "N'etam mama (cái này không phải của ta); N'eso'ham'asmi (cái này không phải là ta); Na me so attatà (cái này không phải tự ngã của ta)" ( Xem Anattalakkhana Sutta, bài II.)
    Và sau khi nghe kinh Cùla Ràhulovàda Sutta, Ràhula chứng quả A La Hán. Ngài nhập diệt trước cả Đức Phật và Ngài Sàriputta. Ngài nổi tiếng là người tôn trọng kỹ luật. Bạn bè thân gọi Ngài "Ràhula may mắn", vì đời Ngài có được hai diễm phúc: là con của Đức Phật và chứng ngộ được chơn lý; như trong kệ Theragàthà (Trưởng Lão kệ), Ngài đã đề cập đến điều ấy.
    Ngài Ananda (A Nan)
    Con của hoàng thân Amitodana, em trai vua Suddhodana, Ananda là anh em chú bác với Đức Phật. Ông sanh ra mang lại niềm hoan hỉ cho hoàng tộc, nên được đặt tên là Ananda (Khánh Hỷ). Hai năm sau khi Phật thành đạo, ông xuất gia cùng với các thanh niên của dòng họ Sakya là Anurudha, Bhaddiya, Bhagu, Kimbala và Devadatta. Không bao lâu, ông chứng Sơ quả khi nghe bài pháp của Đại đức Puna Mantàniputta.
    Năm Đức Thế Tôn 55 tuổi, với 8 điều thỉnh cầu mà ông đưa ra là: 1. Đức Phật không ban cho Ngài những bộ y mà thiện tín dâng cho Đức Phật; 2. Không ban cho Ngài những vật thực mà thiện tín dâng cho Đức Phật; 3. Cho phép không ở chung tinh thất với Đức Phật; 4. Không cho phép Ngài đi theo đến nơi thí chủ chỉ thỉnh Đức Phật; 5. Đức Phật hoan hỷ đến nơi mà thí chủ chỉ thỉnh Ngài đến; 6. Hoan hỷ cho phép Ngài tiếp dẫn những người từ phương xa đến ra mắt Phật; 7. Hoan hỷ cho Ngài thưa hỏi mỗi khi có điều hoài nghi; 8. Hoan hỷ giảng lại bài pháp mà Đức Phật giảng khi Ngài không có mặt.
    Được Đức Phật chấp thuận vói ý nghĩa của nó, và giữa đại chúng, ông được cử làm thị giả Đức Thế Tôn suốt 25 năm trường sau đó. Ông làm công việc của mình thật tận tụy. Kinh ghi rằng, đêm đêm Đại đức Ananda tay cầm gậy, tay cầm đuốc đi chung quanh tịnh thất của Đức Phật 9 lần, để Ngài khỏi bị quấy rầy.

    Tôn giả Ananda có một trí nhớ tốt lạ lùng; ông ghi nhớ không bỏ sót tất cả các bài pháp của Đức Phật, cũng như của một số các đệ tử lớn của Ngài, mà ông được nghe qua. Khi có một Bà la môn hỏi Tôn giả nhớ được bao nhiêu bài kinh, Tôn giả trả lời là được 82.000 bài của Đức Phật và 2.000 của các Tôn giả khác thuyết.
    Đức Phật đã tán thán 5 đức hạnh của Tôn giả Ananda là học uyên bác, trí nhớ tuyệt hảo, kiên định, săn sóc chu đáo và ứng xử tốt.
    Mãi sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt, Tôn giả Ananda mới chứng quả A La Hán, trước một ngày Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất xảy ra, trong khi nghiêng mình nằm xuống. Kinh sách ghi rằng, Ngài là vị A La Hán độc nhất đắc quả ngoài lúc đi, đứng, nằm, ngồi. Tôn giả mất năm 120 tuổi.
    IV. Dì mẫu Maha Pajapati Gotami xuất gia – Giáo hội Ni giới ra đời
    Được gọi là Maha Pajàpati bởi vì các nhà tiên tri thời bấy giờ cho rằng về sau bà sẽ cầm đầu một đám đông người. Con trai bà là Nandà, em một cha khác mẹ với Thái tử Siddhattha, cũng được Đức Thế Tôn độ cho xuất gia khi chàng trai này đang tổ chức 3 đại lễ quan trọng: kết hôn, phong tước và khánh thành cung điện mới.
    Tuy công bố rằng nữ giới cũng có thể chứng 4 Thánh quả (bà Maha Pajàpati đã chứng Sơ quả, như đã nói ở trước), nhưng con đường tu hành sống không gia đình, khép mình vào khuôn khổ của giáo pháp và giới luật cũng như sứ mạng hoằng hóa độ sanh thật lắm gian nan, khó nhọc, với bản tánh mềm yếu và dễ cảm xúc, phụ nữ khó đảm đương nỗi trách nhiệm thiêng liêng, cao cả lẫn nặng nề của một sứ giả Như Lai. Vì thế mà sau khi vua Suddhodana băng hà, di mẫu dù 3 lần bạch xin xuất gia, Đức Thế Tôn vẫn từ chối không nêu lý do.
    Mãi đến khi bà cùng nhiều mệnh phụ phu nhân của dòng Sakya xuống tóc, đắp y vàng, đi bộ từ Kapilavatthu đến Vesàli, đoạn đường gian khổ dài khoảng 200 cây số, đôi chân sưng phồng, thân thế lấm lem cát bụi, đến bên tinh xá Đức Phật khóc than. Và chính nhờ Tôn giả Ananda thay mặt họ vào cầu thỉnh Đức Thế Tôn đến lần thứ tư, Ngài mới chấp thuận cho di mẫu cùng các bà được sống đời sống xuất gia, với điều kiện phải chấp hành 8 điều qui định cho một người nữ trong Tăng đoàn. Khi nghe Ananda thuật lại 8 điều ấy, bà Maha Pajàpati cùng các vị trong đoàn đều hoan hỷ đồng ý, và thế là Giáo hội Ni giới được thành lập.
    Khi ưng thuận cho Ni giới được gia nhập vào Giáo hội. Đức Phật cũng đã lưu ý đại chúng nhiều vấn đề. Ngài dạy rằng: "Này Ananda, trong ngôi nhà nào nhiều nữ giới và ít đàn ông thì ăn trộm dễ lọt vào. Cũng dường như thế, nếu hàng phụ nữ sống trong pháp và luật của Như Lai thì giáo pháp thiêng liêng khó duy trì lâu. Cũng như người đắp đê bên một hồ nước rộng lớn cho nước không tràn qua, ta cũng vậy, chế ra Bát kỉnh pháp cho các Tỳ kheo ni để họ tuân thủ trọn đời".
    Trong một tổ chức xã hội quy mô nào, ta cũng thấy vì tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của một giới, một đối tượng cá biệt nào đó mà ở trong những nguyên tắc sống, làm việc luôn có những khoản ưu tiên dành riêng cho họ. Đức Phật đã không làm giảm suy giá trị của hàng phụ nữ, mà còn là vị giáo chủ đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã thành lập một đoàn thể, một tổ chức, một giáo hội cho nữ giới với đầy đủ pháp và giới luật. Ấn Độ đương thời với nhiều tôn giáo, nhưng không có một đoàn thể nữ giới nào được sinh hoạt như vậy.
    Ít lâu sau, bà Tỳ kheo ni Maha Pajàpati đắc A La Hán. Kinh Therigàthà (Trưởng lão Ni kệ) còn ghi rất nhiều tên và các bài kệ do các Tỳ kheo ni chứng thánh quả sáng tác.
    V. Ông Devadatta (Đề bà đạt ta) và những người chống đối
    Mặc dầu gia công kiến tạo hạnh phúc giải thoát cho mọi người với một chủ ý tuyệt đối tinh khiết và hoàn toàn bất vụ lợi, cũng như không có một sự phân biệt nào giữa già ngheo, quyền quý, mạt hạng, trí thức hay u mê, Đức Phật luôn phải đương đầu với nhiều sự đối nghịch mãnh liệt trên con đường chu du hoằng hóa. Ngài bị chỉ trích nghiêm khắc, bị đối xử tàn tệ, chửi mắng và tấn công một cách tàn bạo. Kẻ đối nghịch là những người theo các hệ thống tôn giáo chủ trương những nghi thức dị đoan, tạo ra phong tục vô ích, có hại đến xã hội và ngăn chặn sự tiến bộ của tinh thần, hoặc là những kẻ có tham vọng thấp hèn, vị kỉ. Trong ấy, Devadatta là một điển hình lớn nhất.
    Ông là con vua Suppabuddha và hoàng hậu Pamità, một người cô của Đức Phật: công chúa Yasodharà là chị ông. Ông xuất gia cùng một lượt với Đại đức Ananda và các thanh niên hoàng tộc Sakya, tuy không chứng quả Thánh nào, nhưng lại giỏi thần thông và được vua Ajàtasattu (A Xà Thế) ủng hộ tối đa về mọi mặt. Thời gian đầu xuất gia, ông có nếp sống gương mẫu, cao thượng đến độ ngài Sàriputta đã ca ngợi tài đức của ông khắp Pajàgaha. Về sau, danh lợi trần thế đã làm ông thối chuyển, trở nên người sống đồi trụy, tà hạnh, tà kiến; dù vậy, ông có rất đông người ủng hộ. Khi niên thọ Đức Phật đã cao, ông yêu cầu Ngài giao quyền lãnh đạo tăng già, nhưng Đức Phật đã từ chối.

    Ông tìm cách xúi giục Thái tử Ajàtasattu (A xà thế) giết vua cha là Bimbisàra để nắm toàn quyền bính và cùng âm mưu hãm hại Đức Phật. Sau đó, các xạ thủ được thuê để giết Đức Phật đều được cảm hóa thành đệ tử. Devadatta tự thân ra tay, bằng cách đẩy một tảng đá lớn từ trên sườn núi Gijihakuta (Linh Thứu) xuống ngay Đức Phật khi Ngài đi ngang qua. May thay, tảng đá ấy va vào một tảng đá khác, vỡ ra nhiều mảnh và chỉ một mảnh vụn làm chân Ngài rỉ máu, và lương y Jìvaka (nhà giải phẫu đại tài của thành Rajàgaha, người chăm sóc sức khỏe cho Đức Phật và đại chúng) đã có mặt liền sau đó. Mưu đồ bất thành, Devadatta lại chuốc rượu mạnh cho voi dữ Nàlàgin và xua nó chạy thẳng đến ngay Đức Phật, nhưng voi cũng bị đức từ bi của Thế Tôn cảm hoá.
    Dần dần mất hết uy tín, dư luận lên tiếng mạnh mẽ, vua Ajàtasattu bỏ rơi, Devadatta chuyển qua một mưu toan có vẻ hòa bình hơn. Ông nêu ra 5 yêu cầu đối với sự sinh hoạt của Tăng đoàn, với nội dung rằng: Tỳ kheo phải sống trọn đời trong rừng, phải sống dưới gốc cây, mặc vải vụn lượm ở nghĩa địa, sống bằng khất thực và ăn chay trọn đời. Đức Phật đã đưa ra câu trả lời rất tự do dân chủ, không bắt buộc một cá nhân nào phải tuân theo điều ấy.
    Cuối đời không còn một ai ủng hộ, Devadatta rơi vào những ngày đen tối. Lâm bệnh trầm kha, với lòng ăn năn vô hạn, ông mong muốn được gặp Đức Thế Tôn lần cuối cùng, nhưng không còn kịp nữa, chỉ thốt ra câu quy y Phật và trút hơi thở sau cùng.
    VI. Những đại hộ pháp
    Ngài Anathapindika (Cấp cô độc)
    Vị thí chủ quan trọng nhất thời Đức Phật tại tiền phải kể đến là ông Sudatta, người Savatthi. Chuyên làm từ thiện xã hội, nuôi dưỡng chu cấp cho những người quan quả cô đơn, nên ông lại được mọi người tặng cho danh hiệu Trưởng giả Anathapindika (Cấp Cô Độc - giúp đỡ, trợ cấp cho những người cô đơn, hiu quạnh). Một lần có việc, ông đến thành Ràjagaha, nghe anh rể đang chuẩn bị hôm sau đón Đức Phật quang lâm. Danh từ Phật - Buddha (người tỉnh giác) khiến ông cảm thấy một sự thay đổi lạ lùng trong lòng. "Văn kỳ thinh" đã lâu, nay lại sắp được "kiến kỳ hình", nhưng không thể chờ đợi đến ngày mai; như có một chuyện gì thôi thúc, ngay đêm khuya, ông băng rừng đến nơi Sitavara ra mắt Đức Phật và được cảm độ từ ấy.
    Với lời thách thức nữa đùa nữa thiệt của Thái tử Jeta (Kỳ Đà), ông đã đem những đồng tiền vàng lót đầy mặt đất trong khu vườn của Jeta. Lòng tín thành của ông đã gây được lòng ngưỡng mộ của Thái tử Jeta đối với Đức Phật. Sau đó, hiệp với những tàng cây do Jeta cúng, ông xây dựng tinh xá Jetavana (Kỳ Viên) dâng lên Đức Phật. Chính nơi đây, Đức Thế Tôn trải qua 19 lần an cư kiết hạ. Phần lớn những bài pháp cũng được hình thành ở ngôi tinh xá nằm ở Savatthi này, và nó được nhận biết nhờ qua câu kinh "Xá Vệ, Kỳ Thọ, Cấp Cô Độc Viên..." (nước Savatthi, cây của Jeta và vườn ông Anathapindika). Các bài pháp liên quan đến hàng cư sĩ đều do công của ông thưa hỏi. Trong một bài pháp nói về hạnh bố thí, Đức Phật đã dạy rằng, cúng dường chỗ ăn, chỗ ở cho chư Tăng là tạo nhiều công đức; nhưng quy y Tam bảo có công đức hơn, và cao hơn là nghiêm trì ngũ giới. Công đức cao hơn giữ giới là thiền quán và từ bi tâm. Nhưng công đức tối thượng phải là phát triển tuệ giác, thể nhập chơn như, thấy được thật tướng của các pháp - Vipassanà (Minh sát tuệ) - (Tăng Chi IV).
    Cũng từ gia đình ông trưởng giả này, Đức Phật đã giảng dạy pháp phân chia 7 loại vợ trong cuộc sống kiến tạo hạnh phúc gia đình lứa đôi. Một bài pháp rất tinh tế, thiết thực; một bài học giáo dục đầy tâm lý cho cả xã hội ngày nay và mai sau.
    Bà Visàkhà
    Vị nữ thí chủ lớn nhất phải đề cập đến đầu tiên là bà Visàkhà, con gái triệu phú Dhananjaya và bà Summanà Devi; ông nội bà cũng là triệu phú tên Mendaka. Bà xây cúng tinh xá Pubbasama, cũng ở Sàvathi (6 mùa an cư đã diễn ra ở đây). Là người phụ nữ được 5 điều diễm phúc: tóc, da, xương, vóc dáng và sức khoẻ tuyệt hảo, bà còn là người công, dung, ngôn, hạnh vẹn toàn, sáng suốt trong công việc thế gian cũng như trong phạm vi tinh thần đạo đức. Bà Visàkhà đóng một phần quan trọng trong nhiều lĩnh vực khác nhau liên quan đến sinh hoạt Tăng đoàn. Có lần Phật dạy bà đi hòa giải những mối bất đồng giữa các Tỳ kheo ni. Đôi lúc bà thỉnh cầu Đức Phật khai chế một vài giới cấm cho Tăng Ni.
    Cha chồng bà là triệu phú Migàra, vốn là tín đồ thuần thành của Nigantha Nataputta, giáo chủ đạo Jain - đạo lõa thể. Bà đã khuyến dụ cả gia đình bên chồng quy y Tam bảo và nhiều người đã chứng quả. Bà qua đời khi đã thọ 120 tuổi.
    Vua Pasenadi (Ba Tư Nặc)
    Ngài đại vương Bimbisàra như đã nói đến ở phần trước, và người con kế vị là vua Ajàtasattu, sau khi cải ác tùng thiện đã trở nên một vị đại hộ pháp, một thiện tín lỗi lạc, có công hỗ trợ mọi mặt cho cuộc kết tập Tam tạng lần I. Một đại thí chủ nữa trong hàng vua chúa phải kể đến là vua Pasenadi, trị vì xứ Kosala, có thủ phủ là Savatthi (Xá Vệ). Tu viện Rajakamara là do vua cho xây cúng lên Đức Phật và đại tăng. Hoàng hậu Malika, vợ của vua, là người khéo hướng dẫn phu quân của mình trên con đường đạo đức, quy y Tam bảo. Bà đã khuyên vua nên tham vấn với Đức Phật để hiểu ý nghĩa 16 cơn mộng hơn là giết hại nhiều sinh mạng để tế lễ cầu an theo lời các đạo sĩ Bà La Môn.
    Samyutta Nikaya (kinh Tương Ưng) có trọn một chương mang tựa là Kosala Samyutta, là chương Đức Phật giảng cho vua nghe. Trong những bài pháp ấy có những ý được nhấn mạnh như: 1. Đánh giá một người không phải là chuyện đơn giản; 2. Nên coi trọng phụ nữ như coi trọng nam giới: "Itthì hi'pi ekacciyà seyyà" (Trong hàng phụ nữ có người còn tốt hơn nam giới). Với xã hội Ấn Độ thời ấy, phụ nữ không bao giờ được kính nể xứng đáng, lời nói cao quý của Đức Phật thật là một khích lệ lớn lao cho nữ giới; 3. Không nên coi thường giới trẻ (như Thái tử còn trẻ, con rắn còn bé, ngọn lửa nhỏ và Tỳ kheo trẻ); tất cả đều có thể trở thành quan trọng, ý nghĩa sau này; 4. Chiến thắng nuôi dưỡng hận thù:
    Thắng trận sanh thù oán
    Bại trận niệm khổ đau
    Ai bỏ thắng bỏ bại
    Tịch tĩnh hưởng an lạc
    (Tương Ưng VII)
    VII. Những người cùng đinh mạt hạng
    Đạo từ bi giải thoát mở rộng cho tất cả mọi người, không phân biệt giàu sang và đẳng cấp xã hội. Một sát nhân như Angulimàla, một dâm nữ như Ambapali, nếu quay về với con đường đạo cũng có thể chứng Than1h quả, như kinh đã ghi lại như sau.
    Ông Angulimàla
    Có tên là Ahimsaka (người vô tội), con của một quốc sư xứ Kosala, và là một đệ tử lỗi lạc, thân tín của một danh sư ở Trung tâm Giáo dục Taxila nổi tiếng, nhưng do vì lòng ganh tỵ của đồng môn khiến thầy dạy đã hiểu lầm ông và buộc ông phải dâng lên 1.000 ngón tay út để làm lễ cầu pháp.
    Ông trở nên là một hiểm họa, một bóng đen thần chết bao trùm lên đất nước Kosala. Sợ quạ ăn những ngón tay kiếm được, ông đành đeo vào cổ nên có hỗn danh là Angulimàla (vòng hoa bằng ngón tay). Đức Phật là người thứ 1.000 ông định sát hại để tròn đủ vòng hoa mà thầy ông yêu cầu. Ông như bừng cơn mơ sát nhân hãi hùng khi nghe người ông đang cố sức rượt đuổi mà không sao đến gần được, thốt lên rằng: "Này Angulimàla, chính ngươi mới phải dừng lại, còn Như Lai đã dừng lại lâu rồi". Ông quăng dao tội lỗi và được xuất gia bởi nhân duyên đó. Bởi tội ác gây ra, ông trở thành một Tỳ kheo luôn bị chửi bới, đánh đập, ném đá ở mọi nơi. Với ông, chuyện đầu cổ tay chân mang nhiều thương tích, máu chảy đầy mình là chuyện cơm bữa. Với tâm ăn năn sám hối cùng với sự nỗ lực tinh tấn thiền định, ông đắc quả A La Hán sau đó.
    Bà Ambapàli
    Trường hợp kỹ nữ Ambapàli nổi danh tài sắc của thành Vesali là một điển hình khác của sự hóa độ vô phân biệt mà Đức Thế Tôn đang làm.
    Trên đường đi Kusinara để nhập Niết Bàn, Đức Phật dừng chân ở vườn xoài của cô gái giang hồ này. Nghe tin, cô liền đến thỉnh Đức Phật và đại chúng về nhà để được cúng dường, dù các nhà quý tộc Licchavi đề nghị đền bù cho cô một số tiền rất lớn để họ có đặc ân làm điều này. Cô phát tâm cúng vườn xoài cho đại tăng, xin xuất gia, và sau sự gia công chuyên cần, cô đạt Thánh quả.
    "Như cơn gió lốc thổi dồn tất cả các thứ lá lại một chỗ, Đức Cù Đàm giáo hóa tất cả. Trí thức ngu si, vương giả - bần cùng, nghèo hèn - giàu sang, già cả - niên thiếu, đàn bà - đàn ông, kẻ ác - người thiện, tất cả và hết thảy, Đức Cù Đàm đều mang vào giáo pháp và xem như nhau. Đạo của Đức Cù Đàm là đạo bình đẳng, không phân biệt vậy" (Kinh Đại Báo Ân).
    Thật không có lời tán dương nào nói hết được sự vô biên của lòng từ bi, sự bình đẳng trong con đường giáo hóa của Đức Bổn sư.
    VIII. Đức Phật tuyên bố nhập Niết Bàn
    Đức Phật là một nhân vật phi thường, tuy nhiên còn mang thân ngũ uẩn là còn chịu sự hoại diệt của định luật vô thường. Khi 80 tuổi, thấy niên cao sức yếu, con đường giáo hóa đã viên mãn, Đức Thế Tôn quyết định nhập Niết Bàn tại một làng mạc xa xôi, hẻo lánh là Kusinàrà (cách Patna, thủ phủ tiểu bang Bihar ngày nay 180 dặm - khoảng 300 cây số - về hướng Bắc), mà không phải ở những đô thị lớn như Sàvatthi hay Ràjagaha.
    Trong thời gian cuối cùng còn lưu lại Magadha, Đức Phật đã giảng cho đại thần của Ajàtavattu nghe 7 điều kiện thịnh suy của một quóc gia, khi ông này tham vấn Thế Tôn về việc chinh phục nước Cộng hòa Vajjian. Nhân đó, Đức Phật cũng giảng 7 yếu tố thịnh suy của Giáo hội.
    Rời Ràjagaha, Đức Phật đi về Ambalatthika, và đến Nàlandà, rồi qua Pàtaligàma; nhân Đức Phật đến viếng nơi này, dân chúng đặt tên cổng thành là Gotama. Từ đó, Đức Phật vượt sông Hằng và hướng về Kotigàma đến làng Nàdika và sau đó đi về Vesàli, nhập Niết bàn cuối cùng tại đây. Mỗi nơi chốn Ngài đi qua đều có dấu ấn của sự tế độ mọi người.
    Trong năm này, Đức Phật đã tuyên bố giữa đại tăng: "Này Ananda, Giáo hội các đệ tử còn mong mỏi gì nữa ở Như Lai? Như Lai đã truyền dạy giáo pháp không có sự phân biệt nào giữa giáo lý bí truyền và giáo lý công truyền. Về chơn lý, Như Lai không bao giờ có bàn tay nắm lại của một ông thầy..." Và Ngài đã dạy rằng không nên nghĩ là có một ai phải lãnh đạo Giáo hội và Giáo hội phải tùy thuộc một ai, mà mỗi cá nhân phải là một giáo hội, một hiện thân của giáo pháp chân chánh.
    Ngài tiếp lời: ".... Như Lai đã già yếu, gần đến ngày lìa trần. Như Lan đã 80 tuổi, không khác nào cỗ xe quá cũ kỹ phải cần có những sợi dây để cột lại các bộ phận, giữ nó khỏi rời ra...". Và Ngài lại kêu gọi sự nỗ lực tinh tấn, giác tỉnh chánh niệm, khước từ mọi tham ái thế gian, quán niệm Bốn niệm xứ [2].... của các Tỳ kheo. Ngài nói thêm rằng: "Các ông hãy xem chính mình là hải đảo của mình, chính mình là nơi nương tựa của mình, không nên nương tựa bên ngoài. Hãy xem giáo pháp là hải đảo của các ông, giáo pháp như chỗ nương tựa, không nên nương tựa bên ngoài". Ngài lại đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của nỗ lực cá nhân.
    Mặc dầu tuổi cao sức yếu, Đức Phật luôn vận dụng mọi cơ hội để khuyên dạy các Tỳ kheo bằng nhiều phương thức khác nhau.
    Ở Càpalà, Đức Thế Tôn tuyên bố 3 tháng sau nhập Niết Bàn.
    Trước đây, Đức Thế Tôn đã tạo cơ hội cho Ananda thỉnh cầu sự trụ thế lâu dài hơn nữa của Ngài, nhưng Ananda đã vô tình bỏ qua; giờ nghe Đức Phật tuyên bố như vậy, Ngài liền khẩn cầu nhưng bị từ chối.
    Trước khi cùng Ananda đi về Mahàvana, Đức Phật đã giảng cho đại chúng nghe về tính cách vô thường của cuộc sống khi thấy họ quá u sầu não.
    Triệu tập Tăng chúng quanh thành Vesàli, Đức Phật nói lời cuối cùng và đưa mắt nhìn thành phố này lần chót và đi về Kusinara. Trên đường đi, Ngài dừng lại nhiều nơi để hóa độ kẻ hữu duyên. Ở Pava, người thợ rèn Cunda (Thuần Đà) cúng dường cho Đức Phật món sùkasamaddhara (nấm rừng). Ngài hoan hỷ nhận lãnh và dặn kỹ nên chôn phần còn lại. Sau bữa cơm này, Đức Phật bị kiết lỵ rất nặng. Với tinh thần bình thản, Ngài nói những lời chúc phúc để trấn an và thanh minh cho Cunda và từ giã đi về Kusinara cách Pava 6 dặm (khoảng 9 cây số), nơi có dòng tiểu vương của bộ tộc Malla ở.
    Đến nơi, giữa hai tàng cây sala, Ngài nằm tĩnh lặng, nghiêng mình về hông mặt, chân trái để trên chân phải duỗi thẳng, đầu quay về hướng Bắc. Cây sala trổ bông trái mùa như để cúng dường cho ngài đại tang. Mọi người mọi cách biểu hiện sự kính lễ. Đức Phật lại dạy cách tỏ lòng kính ngưỡng và tôn sùng Đức Thế Tôn là hãy tuân thủ giáo pháp, tinh tấn tu hành, phẩm hạnh trang nghiêm.
    Kế đó, Ngài đề cập đến 4 thánh tích (nơi Đản sanh, Thành đạo, Chuyển pháp luân lần đầu tiên và nơi Nhập diệt) liên quan đến đời sống của một Đức Phật, nếu với lòng thành kính chiêm bái sẽ được nhiều lợi lạc.
    Sau khi độ cho tu sĩ ngoại đạo Subhadda và đây là người đệ tử sau cùng, Đức Thế Tôn bảo Ananda báo cho dân chúng người Malla biết rằng Ngài sẽ nhập Niết bàn vào canh cuối đêm nay, cũng như căn dặn Ananda không nên bận tâm với việc phải làm vẻ vang long trọng đối với nhục thể của Như Lai, mà hãy tận lực tinh tấn để chu toàn hạnh phúc cho chính mình.
    Được tin qua hàng nước mắt ràn rụa của Tôn giả Ananda, dân chúng Malla thành Kusinara tấp nập kéo về quây quần quỳ bên Đức Phật, cùng rừng cây sala chứng kiến giây phút thiêng liêng duy nhất trong đời và nghe những lời dạy sau rốt của Đức Bổn sư: "Này Ananda, đừng nghĩ rằng chỉ còn lại giáo pháp cao cả mà không còn bậc Đạo sư nữa. Pháp và luật mà ta đã dạy bảo, đó là Đạo sư của các ông. Này Ananda, Tăng chúng nếu muốn có thể bỏ các giới luật phụ và nhỏ, sau khi Như Lai nhập diệt. Có một nghi ngờ, thắc mắc, phân vân gì liên quan đến Phật Pháp Tăng, đến đạo, đến phương pháp, hãy hỏi đi, đừng để sau này hối tiếc". Đức Thế Tôn nói như vậy ba lần, nhưng cả đại chúng đều im lặng.
    Và Đức Đạo Sư đã khuyến tấn các đệ tử câu cuối cùng:
    "Hỡi các đệ tử, Như Lai khuyên các con, các pháp hữu vi đều vô thường, hãy tận lực, liên tục chuyên cần".
    Đó là di huấn tối hậu của Đức Thế Tôn.
    Thế rồi Đức Bổn sư yên lặng nhập và xuất sơ thiền. Lần lượt nhị thiền v.v... đến nhập và xuất Diệt thọ tưởng định. Ngài lại nhập và xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ định và lần lượt ngược trở lại đến nhập và xuất sơ thiền. Và khi nhập và xuất lần thứ hai ra khỏi tứ thiền, Đức Thế Tôn nhập Vô dư Niết bàn.
    Kim thân của Đức Phật được đưa đến Makutabandhana để cho mọi người chiêm bái, và sau 7 ngày được cử hành lễ trà tỳ dưới sự tổ chức của ngài Maha Kassapa. Xá lợi được chia làm 8 phần theo thỏa thuận của cuộc họp do ngài Maha Kassapa, đại vương Ajàtasattu và ông Dona đứng chủ trì và phân phối cho 8 quốc gia lớn nhỏ cùng dân tộc Malla, xây tháp tôn thờ. Ông Dona xin được thờ phụng cái bình đựng xá lợi khi vừa thiêu xong. Những người Maurya ở Pipphalirana vì đến chậm, xin được lấy tro tàn của giàn hỏa để dựng tháp mà lễ bái.
    Hình dáng của Như Lai khuất dạng từ đây. Con đường hoằng pháp lợi sanh của Đức Phật kéo dài hơn 45 năm. Từ lúc thành đạo cho đến lúc nhập Niết Bàn, Ngài không ngừng phục vụ chúng sanh bằng hai lối đời sống của chính bản thân và những lời dạy. Suốt cả con đường, đôi lúc đi một mình, lắm khi cùng đại chúng, từ làng mạc, rừng núi đến thung lũng đồi cao, ở xã thôn nghèo khổ đến phố tứ phồn hoa. Ngài đều có mặt và đưa tất cả trở về với giáo pháp chơn như, giáo pháp của từ bi, tự do, dân chủ, bình đẳng, giải thoát.
    Với sự hy sinh cao cả, lòng từ bi rộng lớn và một ý chí độ sanh dũng mãnh của Đức Phật, ta có thể tán dương hay quan niệm Ngài là vĩ nhân trên tất cả những vĩ nhân, siêu nhân đứng trên mọi siêu nhân. Nhưng lời tán dương, việc làm tôn vinh, kính ngưỡng Đức Phật đúng đắn nhất, ý nghĩa nhất phải là như lời dặn dò của Bổn Sư trước lúc Ngài ly trần:
    "Này Ananda, không nên tôn trọng, đảnh lễ, tán thán, quý mến Như Lai theo cách như vậy. Bất cứ Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di nào sống đúng với chánh pháp, tự mình ứng xử hợp với đạo, có hành động chân chánh, thì chính người đó, tôn trọng, đảnh lễ, tán thán, quý mến Như Lai một cách tốt đẹp nhất".
    Y Nghĩa Phật Đản
    Hoà Thượng Thích Trí Quảng

    Cách đây 2600 năm, Đức Phật đã xuất hiện trên cuộc đời với tư cách một người hoàn hảo có đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, sức khoẻ phi thường, thông minh tuyệt đỉnh và tâm từ bi bao la. Mặc dù sống trong nhung lụa đầy đủ hạnh phúc của bậc đế vương, Ngài vẫn không màng đến nếp sống xa hoa vật chất . Ngài đã xuất gia, dấn thân đi tìm đời sống vĩnh hằng . Trải qua 5 năm tìm đạo, 6 năm khổ hạnh sau đó thiền định dưới cội cây Bồ đề, Ngài đã đạt đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng giác .
    Trên bước đường độ sanh , Đức Phật đã giáo hoá 5 anh em Kiều Trần Như, trưởng lão Xá Lợi Phất , 3 anh em Ca Diếp v.v…tạo thành một Tăng đoàn thánh thiện cùng tùy tùng với Ngài là 1250 vị Thánh . Ngoài ra còn có các vua chúa kính nể quy y với Đức Phật , các Thầy Ba la môn hay ngoại đạo dù người nghe danh theo Ngài hay chống báng cũng phải kính phục Đức Phật.
    Có thể khẳng định cuộc đời của Đức Phật toàn thiện, toàn mỹ và Ngài giáo hoá độ sanh, xây dựng nên một giáo đoàn thánh thiện nhất thời bấy giờ . Và mãi cho đến ngày nay, trải qua hàng ngàn năm, sức sống ấy vẫn còn phát triển mạnh . Thử nghĩ nguyên nhân nào giúp cho Đức Phật thành tựu và làm cho tư tưởng của Ngài vượt thời gian dài hơn 25 thế kỷ, phổ biến đến ngày nay, tỏa ra sức sống thật mãnh liệt.
    Theo tinh thần Đại thừa, sanh thân của Đức Phật là kết tinh của 3 thân mà người bình thường không thể có được : Ứng hoá thân, Báo thân và Pháp thân . Ứng hoá thân Phật là sanh thân bề ngoài của Ngài mà mọi người thấy được bằng mắt và cảm kích được .
    Tuy nhiên, mọi người cảm phục Đức Phật là cảm phục trí tuệ, tài năng và đức hạnh của Ngài, chính những tinh ba này nằm trọn vẹn trong Báo thân Phật . Và Đức Phật vượt trội hơn mọi người, trở thành bậc toàn giác cũng chính là vì Ngài đã thể hiện trí tuệ, tài năng và đức hạnh một cách hoàn hảo trong cuộc sống đời thường . Thật vậy, chúng sanh cấu tạo thân bằng tội lỗi, nghiệp ác nên họ không muốn mà vẫn phải mang thân xấu xí, bệnh hoạn, ngu dốt, tài hèn sức mọn, không đạo đức không được người kính phục v.v…Trong khi thân Phật kết hợp bằng phước đức và trí tuệ do công phu tu hành Bồ tát đạo trải qua nhiều đời, nên Ngài có thân tướng hảo, được mọi người kính quý, thành công những việc tốt lành nhất, giải quyết những vấn đề khó nhất, kết hợp mọi người cùng sống trong tình thân ái bao la.
    Thân phước đức trí tuệ hay Báo thân đã ảnh hưởng qua sanh thân Ngài, khiến cho chúng nhìn thấy sanh thân Phật, họ liền phát tâm Bồ đề và lập hạnh giống Phật, sống theo Phật , tạo thành Pháp thân.
    Sanh thân Phật là thân hữu hạn, tất nhiên có hoại diệt nhưng hai thân :Báo thân và Pháp thân của Ngài sẽ tồn tại mãi mãi . Quả thật, Báo thân hay những việc làm thánh thiện của Đức Phật vẫn là bài học ngànvàng cho chúng ta noi theo, trí tuệ siêu tuyệt của Đức Phật vẫn là kim chỉ nam soi đường dẫn bước cho nhân loại được giải thoát an vui, đức độ của Phật vẫn là nơi nương tựa an lành nhất cho những người đang nối gót theo Ngài.
    Pháp thân Phật vẫn hằng hữu qua sự hiện diện của những người đã tin Phật, đã thể nghiệm lời nói hành động, việc làm giống như Phật ; khiến cho người khác trông thấy phải liên tưởng đến Phật . Kinh Pháp Hoa gọi đó là thế gian tướng thường trụ .
    Nhận thức sâu sắc tinh thần này, muốn duy trì Phật Pháp dài lâu, Tăng Ni Phật tử phải suy nghĩ nói năng , hành động và làm giống Phật . Có như vậy, Pháp thân Phật chắc chắn tồn tại và tiếp tục hướng dẫn được cho người đi theo chánh pháp . Thực tế cho thấy nơi nào có người thực hiện được điều này trong cuộc sống, thì Phật Pháp hưng thạnh . Nếu chỉ giống về hình thức, nhưng việc làm và lời nói trái với Phật, rõ ràng làm cho Phật Pháp suy đồi .
    Trong niềm vui của ngày Khánh đản, Tăng Ni Phật tử cần nỗ lực tu học, thể hiện lời Phật dạy trong cuộc sống, mang lợi ích an vui cho mình và người . Đó là thành qủa mà chúng ta dâng lên cúng dường Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni trong muà Phật đản.

    Nhà hát Thành phố Hồ Chí Minh


    Nằm ở điểm cuối (kết thúc) đại lộ Lê Lợi, xem như một công trình văn hóa tiêu biểu và tốn kém nhất ở Sài Gòn thời Pháp thuộc. Xây cất từ năm 1898, kiến trúc sư Ferret thiết kế, theo phong cách Barốc thời Đệ tam Cộng hòa Pháp, đặc biệt với nhiều tác phẩm trang trí mặt tiền đặt làm từ bên Pháp chở sang. Khánh thành vào ngày 1 tháng 1 năm 1900, nhằm truyền bá văn hóa Pháp.
    Bố cục bắt chước theo kiểu nhà hát kịch Opéra ở Paris, vơi phòng khán giả, sân khấu lớn, không gian phần giải lao rộng rãi. Có thêm tầng hầm, mái gãy dạng Mansart, trước lợp tấm đồng.
    Lúc đầu nhà hát hoạt động sôi nổi với các đoàn hát từ chính quốc sang, sau bị ngành chiếu bóng, nhà hàng, vũ trường cạnh tranh nên chỉ sinh hoạt cầm chừng với các buổi ca hát, hòa nhạc và cải lương. Từ năm 1955 đến năm 1975, lấy làm Hạ nghị viện, nay khôi phục lại làm nhà hát thành phố, nhưng qui mô quá nhỏ so với yêu cầu một Sài Gòn quá lớn ngày nay.

    Năm 1998, nhân kỷ niệm 300 năm Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh, Nhà hát được trùng tu phục chế gần như cũ với kinh phí 25 tỉ đồng

    Nhà hát Thành phố Hồ Chí Minh


    Nằm ở điểm cuối (kết thúc) đại lộ Lê Lợi, xem như một công trình văn hóa tiêu biểu và tốn kém nhất ở Sài Gòn thời Pháp thuộc. Xây cất từ năm 1898, kiến trúc sư Ferret thiết kế, theo phong cách Barốc thời Đệ tam Cộng hòa Pháp, đặc biệt với nhiều tác phẩm trang trí mặt tiền đặt làm từ bên Pháp chở sang. Khánh thành vào ngày 1 tháng 1 năm 1900, nhằm truyền bá văn hóa Pháp.
    Bố cục bắt chước theo kiểu nhà hát kịch Opéra ở Paris, vơi phòng khán giả, sân khấu lớn, không gian phần giải lao rộng rãi. Có thêm tầng hầm, mái gãy dạng Mansart, trước lợp tấm đồng.
    Lúc đầu nhà hát hoạt động sôi nổi với các đoàn hát từ chính quốc sang, sau bị ngành chiếu bóng, nhà hàng, vũ trường cạnh tranh nên chỉ sinh hoạt cầm chừng với các buổi ca hát, hòa nhạc và cải lương. Từ năm 1955 đến năm 1975, lấy làm Hạ nghị viện, nay khôi phục lại làm nhà hát thành phố, nhưng qui mô quá nhỏ so với yêu cầu một Sài Gòn quá lớn ngày nay.
    Năm 1998, nhân kỷ niệm 300 năm Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh, Nhà hát được trùng tu phục chế gần như cũ với kinh phí 25 tỉ đồng

    CHÙA GIÁC LÂM


    Chùa tọa lạc ở số 118 đường Lạc Long Quân, phương 10, Quận Tân Bình, Thành Phố Hồ Chí Minh. Mặt chính chùa hướng về phía Nam.
    Chùa được ông Lý Thụy Long, người xã minh hương quyên tiền xây cất vào mùa xuân năm giáp tý (1744). Lúc đầu, chùa có tên là Sơn Cang, còn gọi là chùa Cẩm Đệm. Vào năm 1774, thiền sư Phật Y-Linh Nhạc, trụ trì chùa Tứ An, đã đổi tên chùa Sơn Cang thành chùa Giác Lâm và cử thiền sư Viên Quang về trụ trì.
    Chùa trải qua các đời trụ trì: thiền sư Tổ Tông-Viên Quang (Đời Thứ 36, Trụ Trì: 1774-1827), Tiên Giác-Hải Tịnh Đời Thứ 37, Trụ Trì ; (1827-1869)Minh Vi-Mật Hạnh (Đời 38, Trụ Trì :1869-1873), Minh Khiêm-Hoằng An(Đời Thứ 38; Trụ Trì 1873-1903), Như Lợi (Đời Thứ 39, Trụ Trì 1903-1910)Hồng Hưng-Thạnh Đạo(Đời 40,Trụ Trì 1910-1949); Nhựt Dần-Thiện Thuận(Đời Thứ 41, Trụ Trì 1949-1974), Lệ Sành-Huệ Sành(Đời Thứ 42, Trụ Trì 1974-1998). Quản trị chùa hiện nay là thượng tọa Thích Huệ Trung(đời thứ 42). Kể từ thiền sư tổ Tông-Viên Quang, Dòng Thiền Lâm Tế được truyền theo dòng kệ:
    “Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên
    Minh Như Hồng Nhựt Lệ Trung Thiên
    Linh Nguyên Quảng Nhuận Từ Phong Phổ
    Chiếu Thế Chon Đăng Vạn Cổ Huyền”.
    Chùa đã tổ chức trùng tu nhiều lần, nhưng mang tính quy mô đại trùng tu là vào các năm 1798-1804 dưới thời Thiền Sư Viên Quang trụ trì. Lần đại trùng tu thứ 2 vào các năm 1908-1909 do công của thiền sư như lợi. Thiền sư Như Phòng-Hoằng Nghĩa và thiền sư Hồng Hưng-Thạnh Đạo. Kiến trúc chùa hiện nay mang rõ dấu ấn của đợt trùng tu này. Về sau, chùa còn xây sửa thêm, như những năm 1939-1945, xây vòng tường rào; Năm 1955, xây tam quan; Sau năm 1975, lợp lại ngói, lót gạch ở sân trước chánh điện, xây cổng tam quan bên ngoài…
    Đặt biệt, Bảo Tháp Xá Lợi Phật được khởi công xây dựng từ năm 1970 nhưng bị ngưng trệ đến năm 1993 mới xây tiếp, hoàn thành năm 1994 với 7 tầng, hình lục giác, cao 32,7m, diện tích hơn 600 m2 , mặt hướng phía Bắc. Tầng dưới cùng đặt bàn thờ tượng Di Đà Tam Tôn, các tầng kế trên đặt thờ nhiều tượng phật, Bồ Tát như : Đức Phật Thích Ca, Đức Phật Dược Sư, Bồ Tát Quan Thế Am, Bồ Tát Chuẩn Đề, Bồ Tát Di Lặc…tầng 7 trang trí chùm neon Cửu Long, giữa là Tháp Xá Lợi Phật Thích Ca.
    Tháp Xá Lợi do ngày Narada (srilanka) tặng cho giáo hội phật giáo cổ truyền, trụ sở đặt ở chùa, vào ngày 24-6-1953. Một buổi lễ trọng thể được tổ chức tại chùa với sự chứng kiến của ngài Narada và đông đảo chư tăng ni, phật tử.… Các vị hoà thượng Phật An, Hồng Từ và Trường Thạnh đã cung thỉnh tháp Xá lợi phật tôn trí tại chánh điện chùa Giác Lâm.
    Chùa có 2 Tam Quan. Tam quan cũ được xây năm 1955. Tam Quan mới được xây dựng năm 1999, Sát đường Lạc Long Quân, cách tam quan cũ khoảng 80m. Hai cổng đều xoay mặt về hướng Nam. Hai bên cột trụ tam quan cũ có 2 câu đối bằng chữ hán:
    Giác ngộ quảng khai từ thiện đông lai quy hướng tổ
    Lâm truyền phổ nhuận ngô mê cộng hưởng tuệ vi đình
    Thầy thích lệ chương dịch:
    Giác giúp mở rộng lòng bi quay về hướng với tổ
    Lâm truyền nhuần khắp hiểu mê hưởng tuệ gọi là đình
    Sau tam quan cũ là miếu Linh Sơn Thánh Mẫu được xây dựng bằng xi măng, gạch ngói, sửa năm 1969.
    Có 3 khu tháp mộ ở chùa. Một khu tháp mộ trước chùa chính, gồm 3 tháp mộ. Khu tháp mộ nằm phải đường vào chùa, gồm 33 tháp tháp mộ, được xây dựng vào đầu thế kỷ XX. Khu tháp tổ nằm sau Miếu Linh Sơn Thánh Mẫu, gồm 8 tháp mộ các Thiền sư trụ trì chùa và 3 tháp mộ các hòa thượng ở các chùa khác, được xây dựng vào khoảng thế kỷ XIX và thế kỷ XX.
    Kết cầu kiến trúc của chùa là hai nếp nhà tứ trụ bố trí theo kiểu trùng thềm điệp ốc.
    Khu Tam Bảo bao gồm chánh điện, trai đường và giảng đường, bố cục trên một mặt bằng hình chữ nhật, chiều rộng 22m, chiều dài 65m, xây trên nền cao khoảng 1m so với vườn chùa. Trước chánh điện có sân tiền hình chữ nhật, ngang 20m, rộng 10m. Trước sân tiền là sân vườn, có miếu nhỏ đặt tượng Bồ Tát Quan Thế Am bằng đá màu.
    Đặc biệt ở sân vườn có cây bồ đề cao lớn do ngài Narada (Srilanka) tặng. Ngài Narada đã cùng hòa thượng Hồng Từ và Sư Bửu Chơn đích thân trồng cây bồ đề tại đây vào ngày 24-6-1953.
    Điện thờ phật được bài trí tôn nghiêm, gồm có 3 bàn: Bàn Di Đà, Bàn Hội Đồng, Bàn Tam Bảo, sắp xếp trong cao ngoài thấp dần. Bàn A Di Đà Tôn Trí Tượng Di Đà Tam Tôn (tính theo hàng ngang: Đức Phật Adiđà Lớn ở gian giữa, gian 2 bên là Bồ Tát Quan Thế Am Và Bồ Tát Đại Thế Chí), tượng thờ tam thế phật đặt theo hàng dọc: Phật Quá Khứ Adiđà, Phật Hiện Tại Thích Ca, Hai Bên Có Tượng Ca Diếp, A Nan; Phật Tương Lai Di Lặc. Hai bên tòa Cửu Long và tượng Thích Ca Đản Sanh có hai vị hộ pháp trên bàn thờ hội đồng có tượng Phạm Thiên (Ngọc Hoàng), Nam Tàu Bắc Đẩu. Bàn thờ tam bảo đặc 5 vị: Đức Phật Thích Ca/Phật Adiđà Và Bốn Vị Bồ Tát Là Quan Thế Am, Đại Thế Chí, Văn Thù Sư Lợi Và Phổ Hiền. Đây là sự kết hợp giữa ha bộ tượng di đà tam tôn (Adi Đà, Quan Thế Am, Đại Thế Chí). Và Thích Ca Tam Tôn (Thích Ca, Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hin). hai bên vách chánh điện đặt thờ tượng Thập Bát La Hán, Thập Điện Diêm Vương, Địa Tạng, Bồ Đề Đạt Ma, Long Vương, Quan Thánh.
    Phía trước điện phật thờ Hộ Pháp, Tiêu Diện. Ơ đây có treo cặp liễn chữ hán do thiền sư Bảo Hương, trụ trì chùa Sắc Tứ Cảnh Phước phụng cúng trong lễ lạc thành chùa Năm Kỷ Dậu (1909):
    Triêu triêu tiều, triêu triêu bái, triêu triêu triều bái
    Tề tề trai, tề tề giới, tề tề trai giới.
    Thầy thích lệ chương dịch là:
    Sáng sớm chầu, sáng sớm bái, sáng sớm chầu bái
    Nghiêm trang trai, nghiêm trang giới, nghiêm trang trai giới.
    Chùa có 119 pho tượng (trong đó có 113 pho tượng cổ) với nhiều chất liệu khác nhau (gỗ, đồng, xi măng, thạch cao). Các bộ tượng đặc biệt là pho tượng Thích Ca bằng gỗ, tượng cổ nhất của chùa, Toà Cửu Long và tượng Thích Ca Sơ Sinh bằng đồng; hai bộ Tượng Phậtbát La Hán, Bộ Tượng Phật Và Bốn Vị Bồ Tát.
    Ngoài ra, trong chùa còn lưu giữ nhiều công trình chạm khắc: 23 bao lam chạm lộng, 23 bức hoành phi, 86 vâu đối, 46 bàn thờ và nhiều pháp khí, đồ thờ cổ… tất cả đều là những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao.
    Chùa là ngôi tổ đình danh tiếng bậc nhất. Nhiều vị cao tăng ở chùa đã vân du truyền bá đạo pháp cả miền Nam.
    Chùa Đã Được Bộ Văn Hoá-Thông Tin Công Nhận Là Di Tích Lịch Sử Văn Hoá Quốc Gia
    LIỄU TRI TÂM
    Thông thường chúng ta thường tìm hạnh phúc bên ngoài. Chúng ta cố đạt được những điều kiện vật chất, công việc, vị trí xã hội… tốt hơn, nhưng dù cho chúng ta có thành công đến đâu về mặt bên ngoài, chúng ta vẫn gặp phải nhiều vấn đề rắc rối và không toại ý...
    Phật dạy rằng mọi pháp tuỳ thuộc vào tâm. Để hiểu rõ vấn đề này, trước hết chúng ta phải hiểu bản chất và chức năng của tâm. Mới nghe qua, vấn đề dường như hoàn toàn dễ hiểu vì tất cả chúng ta đều có tâm, và chúng ta đều biết trạng thái của tâm của chúng ta như thế nào, như vui hoặc buồn, sáng suốt hoặc xáo trộn…Tuy nhiên, nếu có ai hỏi chúng ta bản chất và hoạt động của của tâm như thế nào có lẽ chúng ta không thể trả lời một cách chính xác. Như vậy chúng ta không hiểu rõ được tâm.
    Một số người nghĩ rằng tâm là não hoặc một số bộ phận khác, hay chức năng của cơ thể, nhưng không đúng như thế. Não thuộc về vật chất, chúng ta có thể thấy bằng mắt, có thể chụp hình hay giải phẩu. Ngược lại, tâm không phải vật chất. Mắt không thể thấy được. Nó cũng không thể đem ra chụp hình hoặc giải phẩu để sửa đổi. Do vậy não không phải là tâm mà là một bộ phận của thân thể.
    Không có bộ phận nào trong cơ thể giống với tâm, vì cơ thể và tâm là hai thực thể hoàn toàn khác nhau. Ví dụ thỉnh thoảng khi thân chúng ta thư thả, không di động nhưng tâm của chúng ta có thể bận rộn, lao từ việc này đến việc kia. Như vậy thân vào tâm không phải hai thực thể giống nhau. Trong kinh Phật, thân chúng ta như ngôi nhà khách và tâm của chúng ta là một người khách trọ trong đó. Khi chúng ta chết tâm của chúng ta rời cơ thể vào đi vào cuộc sống tiếp theo, giống như người khách rời nhà và đi nơi khác.
    Nếu tâm không phải là não hay một phần khác của cơ thể, vậy nó là gì? Nó là một thể vô hình tương tục, hoạt động để nhận thức và hiểu sự vật. Vì tâm vô hình, không phải vật chất, nó không bị vật chất làm chướng ngại. Như vậy, thân của chúng không có phi thuyền thì không thể lên mặt trăng được, còn tâm thì có thể đến đó trong một suy nghĩ. Hiểu và nhận thức sự vật là một chức năng đơn giản của tâm. Mặc dù chúng ta nói “tôi biết như vậy, như vậy” thật sự đó là sự hiểu biết của tâm. Chúng ta hiểu sự vật do tâm.
    Tâm có 3 mức độ: thô, tế, và vi tế. Tâm thô bao gồm các giác quan của mắt, tai…và những quyết định mạnh như giận, ganh ghét, tham đắm, vô minh. Những tâm thô liên quan đến sự khơi động thô bên trong và tương đối dễ nhận ra. Khi chúng ta ngủ say hoặc chết tâm thô phân tán và tâm tế của chúng ta hiển bày. Những tâm tế liên quan đến đến hoạt động vi tế bên trong, rất khó nhận ra hơn tâm thô. Khi ngủ say, và sau khi chết, những chuyển động bên trong phân tán thành trọng tâm và tâm vi tế hiển hiện. Tâm vi tế liên quan đến chuyển động vi tế rất khó nhận ra. Tính tương tục của tâm vi tếvô thỉ vô chung. Nó là tâm chuyển từ đời này sang đời khác, và nếu như nó được thanh tịnh hoá hoàn toàn thông qua thực tập thiền định, tâm này cuối cùng sẽ chuyển thành toàn trí của Phật.
    Phân biệt rõ được trạng thái tâm bất an với trạng thái tâm an lạc là điều quan trọng. Trạng thái tâm quấy nhiễu sự an bình nội tại, như giận, ganh ghét, tham ái, gọi là si mê. Chúng là nguyên nhân chính gây ra tất cả khổ đau. Chúng ta có thể nghĩ rằng khổ đau của chúng ta do người khác, điều kiện vật chất nghèo, xã hội… gây nên, thế nhưng thật tế khổ đau bắt nguồn từ trạng thái tâm si mê. Điểm quan trọng trong tu tập là giảm thiểu và cuối cùng loại trừ tất cả si mê của chúng ta, và thay vào đó là trạng thái tâm an tịnh, chân chánh. Đây là điểm cốt lỗi trong tu tập thiền định.
    Thông thường chúng ta thường tìm hạnh phúc bên ngoài. Chúng ta cố đạt được những điều kiện vật chất, công việc, vị trí xã hội… tốt hơn, nhưng dù cho chúng ta có thành công đến đâu về mặt bên ngoài, chúng ta vẫn gặp phải nhiều vấn đề rắc rối và không toại ý. Chúng ta không bao giờ sự an lạc và hạnh phúc lâu dài. Phật khuyên chúng ta không nên tìm hạnh phúc bên ngoài, hạnh phúc chỉ được thiết lập trong chính ta. Làm sau chúng ta có thể đạt được điều này? Chúng ta thanh tịnh hoá và kiểm soát tâm thông qua việc tu tập Phật pháp. Nếu chúng ta luyện tập như thế chúng ta có thể bảo đảm rằng tâm của chúng ta an tịnh và hạnh phúc trong mọi thời. Và dù cho bên ngòi chúng ta gặp phải những khó khăn trở ngại gì, chúng ta luôn luôn an lạc và hạnh phúc
    Ngay cả chúng ta khó nhọc tìm kiếm hạnh phúc, hạnh phúc lẩn tránh chúng ta, ngược lại khổ đau và rắc rối đến một cách tự nhiên. Sao lại như vậy? Bởi vì nguyên nhân đưa đến hạnh phúc nằm trong tâm, chân chánh, rất mỏng manh và có thể có được chỉ khi chúng ta nỗ lực thật nhiều, ngược lại các nguyên nhân khổ đau bên ngoài rất mạnh và có thể ảnh hưởng một cách nhanh chóng. Đây là nguyên nhân thật sự tại sao trở ngại đến một cách tự nhiên, hạnh phúc lại khó tìm.
    Từ những điểm trên chúng ta thấy rằng những nguyên nhân chính của hạnh phúc và khổ đau đều nằm trong tâm, không phải bên ngoài. nếu chúng ta có thể giữ được tâm an bình suốt ngày, chúng ta không bao giờ bị khổ đau và, rắc rối về tinh thần. Ví dụ, nếu tâm chúng ta an bình trong mọi lúc, ngay cả chúng ta bị sỉ nhục, chỉ trích, cáo buộc, mất việc, mất bạn, chúng ta cũng không cảm thấy bất hạnh. Bất cứ chúng ta gặp hoàn cảnh khó khăn nào, tâm chúng ta giữ cho an tịnh, tình huống đó sẽ không gây rắc rối cho chúng ta. Do vậy, nếu chúng ta muốn thoát khỏi các vấn đề khó khăn, chỉ có làm một việc đó là học cách giữ cho trạng thái của tâm được an tịnh thông qua thực hành chánh pháp với tâm chí thành và thanh tịnh

    Chùa Vĩnh Nghiêm
    Chùa Vĩnh Nghiêm toạ lạc tại số 339 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 7, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa là một trong những trục đường giao thông chính của thành phố. Đi từ xa đến, người ta đã trông thấy ngọn tháp 7 tầng cao 40 mét.
    Chùa được khởi công năm 1964 và hoàn thành vào năm 1971 do kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng vẽ kiểu.
    Một cửa tam quan lớn dẫn vào sân chùa. Ngôi chùa có một tầng lầu và một tầng trệt. tầng trệt có hai phần: phần ngoài, dưới sân thượng, cao 3,20m; phần trong, dưới phật điện cao 4,20m. tầng trệt được chia là nhà thờ tổ, giảng đường, văn phòng, thư viện, lớp học, phòng học, phòng tăng v.v…
    Từ dưới sân có ba cầu thang rộng dẫn lên tầng trên. Ở đây có một sân thượng rộng khoảng 10 mét. Phía tay phải có một gác chuông.
    Từ sân thượng lên tiếp mấy bậc thềm nữa là tới Bái điện. Bái điện là một tòa nguy nga dài 35m, rộng 22m và cao 15m. Các cột, rui mè và mái ngói đều được đúc bằng bê-tông cốt sắt. Bàn thờ Phật được thiết lập ở Bửu điện: chính giữa thờ Phật Thích Ca, hai bên có Văn Thù Bồ Tát (bên trái Phật Thích Ca ) và Phổ Hiền Bồ Tát (bên phải), một vị chủ về đường trí tuệ, một vị chủ về đường hạnh nguyện. Những công trình chạm khắc gỗ ở đây có bao lam tứ linh, bao lam cửu long và đặc biệt là có các phù điêu trên các hương án chạm các ngôi chùa danh tiếng ở trong nước và một số nước Châu Á.
    Ở hàng hiên lối vào Chính điện, mỗi bên có một pho tượng Kim Cương khá lớn.
    Toàn thể Phật điện gồm ba lớp: Bái Điện, Bản Điện và Địa Tạng Đường kiến trúc theo kiểu chữ công.
    Các góc mái chùa đều uốn cong theo kiểu chùa miền Bắc: mái trước chồng diêm. Chính giữa đỉnh nóc có Bánh xe pháp luân và các góc có hình đầu phượng.
    Năm 1982, chùa xây thêm Bảo Tháp Xá Lợi Cộng Đồng.
    Chùa Vĩnh Nghiêm là một ngôi chùa mới được xây dựng gần đây nhưng đáng được kể là một công trình kiến trúc Phật giáo độc đáo của Thành phố
    Giới thiệu tổng quát về lịch sử,
    kiến trúc và nguồn gốc của Tổ Đình Vĩnh Nghiêm.
    Chùa có diện tích xây cất ước lượng hơn 7.000 m2, trước đây là khu sình lầy bên cạnh rạch sông Thị Nghè cũ, nên phải đổ 40.000m3 đất mới được như hiện nay.
    Chùa được khởi công xây dựng vào năm 1964, do kiến trúc sư Nguễn Bá Lăng vẽ kiểu, kỹ sư Nguyễn Văn Tố thiết kế và do ban kiến thiết miền Vĩnh Nghiêm điều hành thực hiện. Ðược sự đóng góp công đức của chư tôn Hòa Thượng, chư Thượng tọa, Đại Đức Tăng, Ni và quý Phật tử nhất là các vị nguyên quán Bắc Việt sống tại miền Nam, năm 1971, 3 công trình cơ bản đã được hoàn thành:
    1/ Phật điện; 2/ Bảo tháp; 3/ cơ sở văn hóa xã hội.
    Hiện nay Hòa Thượng trụ trì tổ đình Vĩnh Nghiêm đang xin phép để xây cất tiếp 2 công trình còn lại:
    - Phương trượng đường (Gồm Tổ đường và Tăng đường).
    - Khách đường (gồm Thanh trai đường và các nhà phụ thuộc).
    - Tổ đình Vĩnh Nghiêm hiện nay không những là nơi chiêm bái cho thiện nam tín nữ Phật tử mà còn là thắng cảnh tham quan của khách du lịch trong cũng như ngoài nước. Ðặc biệt, tổ đình Vĩnh Nghiêm còn là cơ sở của Trường Cơ bản Phật học, Thư viện Phật học Thành Phố Hồ Chí Minh, trú xú của 20 vị Tăng, Ni sinh miền Bắc đang theo học tại Trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở 2. Hằng tuần, nơi đây đều có những buổi giảng kinh cũng như thọ Bát quan trai giới để hướng dẫn Phật tử trên con đường tu tập Thánh đạo.
    Chùa lấy tên một tổ đình lớn ở miền Bắc - chùa Vĩnh Nghiêm ở xã Đức La, tổng Trí Yên, phủ Tạng Giang, tỉnh Bắc Giang (nay là Hà Bắc) - từng là trung tâm truyền bá Phật giáo của Thiền phái Trúc Lâm một Thiền phái mang đậm nét dân tộc Việt Nam, đã tổng hợp những dòng thiền trước đó, đã tổ chức Giáo hội đầu tiên trong lịch sử PGVN, là mô hình Giáo hội đầu tiên cho các tổ chức Giáo hội sau này.
    Chùa Vĩnh Nghiêm Đức La được kiến lập từ đời vua Lý Thái Tổ (1010- 1028), kiến trúc thuần túy Á Ðông, và đã được trùng tu nhiều lần. Cảnh trí tôn nghiêm, tráng lệ hiện nay là nhờ lần trùng tu cuối cùng, vào năm Thành Thái nguyên niên (1889), do Hòa Thượng Thích Thanh Hanh đảm trách.
    Hằng năm, vào ngày mùng 8-12 Âm Lịch, ngày đức Phật thành đạo, chùa Vĩnh Nghiêm đều tổ chức trọng thể lễ húy nhật Hòa Thượng Thích Thanh Hanh (1838-1936), cố Thiền gia pháp chủ Phật giáo Bắc Việt, được tôn xưng là tổ Vĩnh Nghiêm, vị có công rất lớn trong công cuộc chấn hưng Phật giáo vào những năm đầu thế kỷ 20.
    Di dời thành công cổng chùa Vĩnh Nghiêm
    Cổng tam quan đồ sộ, sừng sững nặng hơn 100 tấn từ từ dịch chuyển trong tiếng hò reo thích thú của người hiếu kỳ. Trên mái chùa, cặp bồ câu nhởn nhơ xây tổ như không biết đến sự chuyển động đang diễn ra phía dưới. Và như vậy, “thần đèn” Nguyễn Cẩm Lũy đã lập thêm một kỳ tích mới: “di dời thành công cổng chùa Vĩnh Nghiêm” là công trình thứ 201.
    Ngay từ tờ mờ sáng ngày 13/5, nhiều người dân hiếu kỳ đã chuẩn bị sẵn ô dù, nón, bạt che nắng, kéo đến tề tựu ở sân chùa Vĩnh Nghiêm để “mục sở thị” một “tiết mục đặc biệt” mà bấy lâu chỉ “nghe nói” nhưng chưa từng chứng thực. Càng giữa trưa, số người hiếu kỳ kéo đến càng đông, ước tính lên đến 500 người. Lực lượng công an, bảo vệ đã phải giăng dây xua người dân ra khỏi khu vực dễ xảy ra nguy hiểm. Đại đa số người dân đều vui vẻ chấp hành.
    Đến 10h, những người thợ tham gia vào công trình dịch chuyển cổng chùa Vĩnh Nghiêm ngưng tiếng búa, phủi đi những đám đất cát bám vương vãi trên hệ thống đường ray trượt. Ông Nguyễn Cẩm Lũy với vai trò của người chỉ huy phân công nhiệm vụ cho từng người thợ.
    Mặc dù đã chuẩn bị kỹ càng cho việc di dời cổng chùa nhưng “thần đèn” cũng “đứng ngồi không yên”, liên tục rít thuốc, lấy tay quệt mồ hôi đang chảy thành dòng trên khuôn mặt đen đúa dưới cái nắng gay gắt của thời khắc chính ngọ. “Tôi ý thức được đây là công trình có ý nghĩa quan trọng đối với chùa Vĩnh Nghiêm. Nhưng tôi tin tưởng vào khả năng của mình”- ông Nguyễn Cẩm Lũy nói với PV VietNamNet trước khi tiến hành di dời.
    Đúng 10h15, tất cả các công đoạn chuẩn bị hoàn thành, hai người thợ bắt đầu kéo dây ròng rọc, cổng tam quan chùa Vĩnh Nghiêm cao 7m, rộng 12m, nặng trên 100 tấn từ từ dịch chuyển êm ái, nhẹ nhàng đến nỗi không làm khuấy động cặp chim câu đang làm tổ. Mái chùa đụng nhẹ những nhánh lá cây bồ đề trồng bên cạnh, khẽ rung rinh, dấu hiệu của sự chuyển dịch. Phía dưới chân, hàng chục con quay từ từ lăn tròn. Mọi người may mắn chứng kiến cảnh tượng hiếm có há hốc miệng, mắt tròn xoe như không thể tin vào mắt mình. Ai đó buột miệng: “Ông này giỏi thiệt!”.
    Khoảng 10h45, nhóm công nhân phát hiện ra sự cố nhỏ ở phía cổng trái: con lăn ở phía này hoạt động không đồng bộ, công việc được ngưng lại giây lát. Một công nhân cưa trụ gỗ phía sau vừa đủ để chêm vào miếng gỗ dài khoảng 5cm. Đến 12h, công việc dịch chuyển cổng chùa Vĩnh Nghiêm vào sâu phía trong 4m so với vị trí cũ kết thúc gần như hoàn hảo, không xảy ra bất cứ sự cố đáng tiếc nào. Một tốp sinh viên trường Đại học Kiến trúc TP.HCM có mặt tại hiện trường xúc động không thể tin đây là kỳ tích của một người nông dân không bằng cấp, trình độ văn hoá chỉ mới hết lớp 4 trường làng. Những người thợ trước còn căng thẳng bây giờ nét mặt dãn ra, bắt tay nhau vui sướng.
    Sắp tới, công trình di dời lăng Võ Tánh (TP.HCM) đang chờ đón "thần đèn" và nhóm công nhân của ông tiếp tục chinh phục

    Chùa Giác Viên


    Địa chỉ: số 161/35/20, đường Lạc Long Quân, quận 11.
    Lúc nguyên sơ là cái am thờ Quan Âm do ngài Hương Đăng dựng năm 1805. Khi Hương Đăng qui tịnh, Hòa thượng Hải Tịnh đến trụ trì. Năm 1850 ngài đổi Quan Âm các thành chùa Giác Viên. Chùa được trùng tu lớn vào các năm 1889 và 1910.
    Chùa có 153 pho tượng, chủ yếu là tượng gỗ, có niên đại cuối thế kỷ XIX. Đáng chú ý là bộ sám bài mang thần thái người Nam Bộ qua nét khắc chạm.

    Nhưng giá trị đặc biệt quí giá ở chùa Giác Viên là nghệ thuật chạm lông qua gần 60 bao lam lớn nhỏ. Các đề tài chạm lông (có xen kẽ tượng) liên quan đến Phật giáo và đời sống dân dã. Tài hoa của các hiệp thợ Sài Gòn - Gia Định khá tinh vi và chuẩn xác như chạm khắc hai mặt giống hệt nhau. Các thế của vật khắc chạm dù đó là người, vật, chim muôn đều sinh động, vui tươi, giàu sức sống. Bao lam bá điểu là một công trình nghệ thuật độc đáo chạm khắc 94 con chim đủ loại trong các tư thế bay, đậu, ngủ, rỉa lông, mớm mồi, yêu nhau...
    Chùa Giác viên còn là một trung tâm đào tạo tăng sĩ và in khắc kinh sách. Nó có vị trí và ảnh hưởng đến sinh hoạt tín ngưỡng của bà con vùng Nam Bộ.
    Ngày 7 tháng 1 năm 1993, Bộ Văn hóa xếp hạng Chùa Giác Viên là một Di tích Kiến trúc - Nghệ thuật theo quyết định số 43-VH/QĐ.

    Chùa Ấn Quang


    Địa chỉ: số 243, đường Sư Vạn Hạnh, quận 10.
    Chùa được lập năm 1948, tên thường gọi lúc đầu là Ứng Quang, do Hòa thượng Thích Trí Hữu xây trên diện tích mặt bằng 500 m2. Năm 1950, chùa là trụ sở của Phật học đường Nam Việt. Ngôi chánh điện được trùng tu năm 1950. Chùa được trùng tu vào các năm 1955, 1957, 1959, 1966, 1967.
    Diện tích mặt bằng hiện nay là 1.000 m2. Chánh điện ở tầng lầu, có Đông lang, Tây lang, giảng đường, phòng phát hành kinh sách. Công lao trùng tu và phát triển hoạt động chùa do Hòa thượng Thích Thiện Hào.
    Từ năm 1960 đến năm 1963, chùa là trung tâm đầu não của phong trào Phật giáo chống chính sách kì thị tôn giáo của Ngô Đình Diệm. Chùa còn là trụ sở của Giáo hội tăng già Nam Việt (1951); trụ sở Viện Hóa đạo, Viện Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất (1964); Văn phòng ban trị sự Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh (1981).

    Bà Chiểu nét xưa Sài Thành

    Chợ Bà Chiểu là một trong những ngôi chợ bán lẻ lớn và lâu đời nhất TP.HCM. Địa danh có tiếng này còn lưu lại trong ký ức nhiều người đã gắn bó với khu vực quận Bình Thạnh từ xưa. Chợ nằm kề bên Lăng tả quân Lê Văn Duyệt nên người dân vẫn gọi chung khu vực này là Lăng Ông Bà Chiểu. Chợ Bà Chiểu hàng ngày thu hút khá đông lượng người đến mua sắm cũng như tham quan.
    Chợ nằm ở vị trí khá đẹp, ngay trung tâm quận Bình Thạnh, chỉ cần năm phút đi xe máy là đã có thể đến được quận nhất. Khuôn viên chợ được bao bọc bởi bốn con đường, mặt tiền chợ hướng ra đường Phan Đăng Lưu với hai làn xe luôn tấp nập, phía trước có khoảng không gian khá rộng, ban đêm người dân trong khu vực bày bán hàng ăn nên nơi đây thường khá đông đúc. Theo tư liệu cũ, chợ Bà Chiểu được xây dựng từ năm 1942, khi mới hình thành tỉnh Gia Định, nằm trên khu đất rộng lớn gần bờ rạch Thị Nghè nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong vùng. Đến năm 1989, chợ được nâng cấp và sửa chữa lại để theo kịp đà phát triển đô thị.
    Theo tư liệu cũ, chợ Bà Chiểu được xây dựng từ năm 1942, khi mới hình thành tỉnh Gia Định, nằm trên khu đất rộng lớn gần bờ rạch Thị Nghè nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong vùng. Đến năm 1989, chợ được nâng cấp và sửa chữa lại để theo kịp đà phát triển đô thị. Theo thời gian, khu chợ phát triển và trở thành một trong những nơi mua bán các mặt hàng sỉ và lẻ sầm uất nhất nhì thành phố. Với số đông người dân quanh khu vực, chợ Bà Chiểu là lựa chọn đầu tiên khi cần mua sắm.
    Đặc biệt, chợ Bà Chiểu có chợ đêm kinh doanh khá nhộn nhịp. Chợ đêm không mở trong nhà lồng mà tập trung ở mặt tiền chợ, chủ yếu bán quần áo, giày dép và các món ăn đêm. Về khuya, chợ đêm trở nên nhộn nhịp hơn hẳn bởi các mặt hàng như hoa, trái cây đổ về từng cần xé tập kết về trước chợ. Tiểu thương nhận hàng từ các xe tải nhỏ chất đầy khu vực. Trong ánh đèn đêm sáng chói, không khí mua bán nhộn nhịp tạo thành đặc trưng thú vị cho chợ Bà Chiểu. Nhiều người khi đã quen thuộc với khung cảnh này, đi xa mới thấy nhớ sự tíu tít bận rộn của chợ Bà Chiểu, nhớ khung cảnh tấp nập kẻ mua người bán. Chợ đêm Bà Chiểu nổi tiếng bán đắt vì vị trí trung tâm, mặt hàng khá đẹp và giá cả bình dân.


    Khám phá kiến trúc nhà thờ Tân Định

    Nhà thờ Tân Định tọa lạc trên đường Hai Bà Trưng thuộc phường 8, quận 3, TP HCM, là một trong những công trình đẹp nhất thành phố, được khởi công năm 1870 và hoàn thành vào ngày 16/12/1876.
    Tổng thể công trình mang phong cách Gothic kết hợp Roman, pha chút Baroque ở những nét trang trí. Đến năm 1929, khu nhà thờ được tôn tạo, mở rộng phần giáo đường và xây dựng thêm một tòa tháp cao 52,6 m. Vào tháng 12/1976, nhân dịp kỷ niệm 100 năm, nhà thờ lại được trùng tu, tôn cao hơn nền cung thánh, sơn sửa lại tháp chuông. Màu sơn hồng và những đường nét hoa văn trang trí màu trắng làm cho toàn bộ công trình nổi bật trên nền trời xanh, tạo một vẻ lộng lẫy và tươi mới.
    Nhìn từ phía mặt tiền, du khách có thể thấy tòa tháp chính và hai tháp phụ. Trên đỉnh tháp là chóp hình bát giác với cây thánh giá đồng cao 3 m. Trong tháp có 5 quả chuông, nặng tổng cộng 5,5 tấn. Hai bên tháp phụ có những tháp đèn, có nhiều lỗ thông gió và những hoa văn tạo vẻ vững chãi nhưng rất duyên dáng. Hai dãy hành lang có mái vòm, lợp ngói vảy cá, những ô cửa tròn với hoa lá trang trí, tượng thiên thần rất tinh xảo.
    Thánh đường bên trong khá bề thế với hai hàng cột gothic, dẫn tới bàn thờ chính. Cùng với mặt tiền, hai hàng cột này được đánh giá là những nét đẹp nhất trong cả công trình kiến trúc. Hàng cột biên bên trái là tượng các thánh nữ, bên phải là các tượng thánh nam. Các bàn thờ trong thánh đường được làm từ đá quý đưa từ Italy sang.
    Nhà thờ Tân Định không chỉ là một công trình kiến trúc có giá trị, được đưa vào danh mục những địa chỉ lịch sử, văn hóa, du lịch của thành phố, nơi thờ phụng của bà con giáo dân, mà còn là nơi tổ chức hoạt động từ thiện của những tấm lòng sống “tốt đời đẹp đạo”.

    Lễ hội chùa Ngọc Hoàng

    Chùa Ngọc Hoàng hay Ngọc Hoàng Điện, nay gọi là chùa Phước Hải, tọa lạc tại số 73, đường Mai Thị Lựu, gần chợ Đa Kao thuộc phường Đa Kao, quận I, thành phố Hồ Chí Minh.
    Chùa Ngọc Hoàng được thành lập từ năm 1892 do một người Hoa tên Lưu Minh chủ xướng. Năm 1900, công cuộc xây cất chùa hoàn thành, nhưng đến năm 1906 mới làm lễ khánh thành. Chùa khởi nguyên tên là Ngọc Hoàng Điện, người Pháp gọi là "chùa Đa Kao", năm 1982 chùa gia nhập Giáo hội Phật Giáo Việt Nam do hòa thượng Thích Vĩnh Khương chủ trì, mới đổi tên thành Phước
    Hải Tự, nhưng dân gian vẫn quen gọi là chùa Ngọc Hoàng.
    Trong sân chùa Ngọc Hoàng, ngoài hai hồ nuôi cá và rùa, có một miếu thờ Hộ Pháp và một nhà bát giác che chiếc đỉnh lớn đúc bằng xi măng giả đồng dành cho khách hành hương thắp nhang trước khi vào chùa cũng như ra khỏi chùa. Chùa Ngọc Hoàng có tổng cộng trên 300 tượng thờ, được phân bố trong ba gian thờ. Gian ở giữa liền với cổng vào, là gian thờ các bậc thiên tướng và Ngọc Hoàng, theo thứ tự từ ngoài vào trong gồm có:
    - Thổ địa (bên trái cửa vào), Môn Quan (bên phải cửa vào).
    - Phật Dược Sư, tượng phật duy nhất bằng gỗ trầm đặt trong lồng kính, ở giữa chánh điện.
    - Thanh Long đại tướng (bên phải) và Phục Hổ đại tướng (bên trái), tượng to bằng người thật.
    - Cung thờ Ngọc Hoàng ở giữa, cung thờ Chuẩn Đề Quan Âm bên phải và cung thờ Bắc Đế, tức Huyền Võ hay Trấn Võ bên trái.
    Ở gian thờ Ngọc Hoàng có sáu pho tượng chính: bên phải gồm ba vị, với giữa là Quan Phu Tử (chủ về việc võ) và hai bên là Thiên Tướng và Thiên Thần. Ngoài ra, còn có các tượng thờ khác như: Nam Tào, Bắc Đẩu, Hoa Đà tiên sư, Tề Thiên đại thánh, Quan Thánh đế quân, thần Nhật, thần Nguyệt, Long Mẫu nương nương, Tứ Đại kim quang, Thái ất chân nhân, Hòa thượng Đạo Minh, Khuyến thiện đại sư, hai quan văn, hai quan võ, hai đồng tử, Ông bà Thiên Lôi cùng bảy thiên tướng... Hầu hết các tượng thờ ở đây đều bằng gỗ, một số ít làm bằng giấy bồi. Riêng tượng của Ngọc Hoàng là pho tượng ngồi lớn nhất trong chùa. Đầu tượng Ngọc Hoàng đội mão lớn có mái che trước trán. Hai tay Ngọc Hoàng cầm lịnh tiễn. Mặt Ngọc Hoàng bình thản, không vui cũng không buồn, mắt trong tư thế mở nhưng không thấy rõ tròng mắt, mũi dời và to. Khuôn mặt tượng Ngọc Hoàng hình chữ điền, hai má cao và rộng, có bốn chòm râu tỏa dài xuống ngang vai. Ngọc Hoàng mặc áo choàng rộng, hai tay áo phủ tận đến các ngón tay. Áo được chạm nối dính vào tượng với kỹ thuật sơn son thếp vàng tinh xảo làm nổi bật đường nét trang trí trên thân áo với một con rồng uốn lượn.
    Gian bên trái từ ngoài vào, theo thứ tự từ trước ra sau có những hương án với các tượng thờ sau:
    - Gian đầu tiên thờ Kim Hoa thánh mẫu, mười hai bà mụ và các nhũ mẫu trong các tư thế nuôi dạy cho trẻ nhỏ. Đây là gian cầu tự cho những người hiếm muộn.
    - Gian tiếp theo là Thập Điện Diêm Vương, với mười bức chạm gỗ cảnh mười cửa ngục phân bổ đều mỗi bên vách năm bức. Nối liền gian Thập Điện với gian Kim Hoa thánh mẫu, có các tượng thờ: Quan Âm, Kim Đồng, Ngọc Nữ, Địa Tạng Vương bồ tát (biểu tượng cho sự cứu rỗi), Hoạt Vô Thường, Tư Mạng sứ quân và Dẫn Hồn Tiền (biểu tượng sự dẫn dắt, phân biệt linh bổ lành dữ).
    - Thần Tài: Trang phục đồ tạng, biểu tượng mang hết sự rủi ro vào mình và ban phát tài lộc cho nhân gian. Tượng đứng cuối gian Thập Điện, tay cầm một cái rổ đựng các gói giấy đỏ bọc mảnh giấy nhỏ ghi hai chữ Hán "Tài Thần" bên trong để khách hành hương xin lộc.
    - Gian nối liền với gian Thập Điện có các tượng thờ: Nhị Vị song án, Mã tướng quân, Thành Hoàng Lỗ Ban và Thái Tuế.
    - Gian cuối cùng (hiện không còn cho khách vào chiêm bái) gồm hai hương án thờ Thạch Cẩm Đương (tục thờ đá của người Hoa) và thờ Ông Tà (tục thờ đá của người Khmer).
    - Bên phải gian thờ Ngọc Hoàng là phòng khách của chùa, sau phòng này có cầu thang lên lầu. Nơi đây thờ phụng: Quan Âm bồ tát, Quan Thánh Đế Quân, Hộ pháp và Tổ Lưu Minh - người lập chùa.
    Từ lâu chùa Ngọc Hoàng là một trong những cơ sở tín ngưỡng dân gian thu hút đông đảo khách hành hương chiêm bái. Vào những ngày rằm, mùng một âm lịch, nhất là vào các ngày rằm lớn trong năm (15/1 âm lịch, 15/7 âm lịch, 15/10 âm lịch) khách đến lễ chùa đông đến hàng vạn người. Tuy nhiên, dịp lễ hội thu hút khách đông nhất là dịp lễ vía Ngọc Hoàng vào ngày mùng 9 tháng giêng âm lịch hàng năm. Vào dịp này, tối ngày mùng 8, vị hòa thượng trụ trì chùa tổ chức tụng kinh cầu an. Cả ngày mùng 9 dành cho hàng chục vạn khách đến chiêm bái, có cả người Hoa lẫn người Việt. Khói hương mù mịt khắp trong ngoài...
    Trong các cơ sở tín ngưỡng dân gian của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, chùa Ngọc Hoàng có thể xem là một trong những điểm có sức thu hút khách trong và ngoài nước đến tham quan, chiêm bái rất đông đảo.

    Vườn trái Lái Thiêu

    Vườn trái Lái Thiêu (Thủ Ðức, Sàigòn) là một cù lao tạo thành bởi hai nhánh sông nên đất đai phì nhiêu, cây trái tươi tốt. Lái Thiêu trở thành miệt vườn ngay từ thời khai hoang mở đất. Ðến đây, du khách sẽ được đi trong những khu vườn rợp bóng cây, ngộp thở trước hương của hàng chục loại cây trái hòa quyện, và được thưởng thức trái ngon trong khung cảnh đầy thơ mộng.
    Từ Sàigòn đi về phía đông chừng 20 km, du khách sẽ gặp một vùng sinh thái tuyệt diệu, đó là miệt vườn Lái Thiêu. Nơi rợp mát hoa trái này trở nên nổi tiếng và thu hút khách du lịch khoảng mười năm trở lại đây. Thành phố ồn ào, nóng nực, luôn luôn ngột ngạt, con người muốn trở về với thiên nhiên. Về với miệt vườn Lái Thiêu, ta sẽ được hít căng lồng ngực hơi thở của đồng quê. Chân ta sẽ được bước trong những miệt vườn mà lối đi chỉ vừa một người. Cái thú vị đặc biệt của miệt vườn Lái Thiêu là hương thơm hòa quyện của hàng chục loại cây trái. Mùi thơm của sầu riêng, măng cụt, mít tố nữ, sa-pô-chê, mãng cầu đua nhau tỏa hương, quyến rũ, níu bước chân du khách.
    Miệt vườn Lái Thiêu được hình thành từ xưa cùng với làng quê êm ả của Nam Bộ. Người đến khai khẩn dừng bước tại đây bởi đất màu mỡ, phong cảnh hữu tình. Miệt vườn Lái Thiêu được tạo thành bởi một dòng sông chảy từ Sàgòn về tới huyện Thuận An của tỉnh Bình Dương, tới đây sông rẽ thành hai nhánh, tạo thành một cù lao. Ðất đai và cây trái quanh năm được bồi đắp và tưới mát bởi hai nhánh sông không bao giờ vơi này.
    Ðến với Lái Thiêu, bạn có thể đi bằng xe du lịch hoặc tắc-xi, bình dân hơn thì đi xe lôi, chưa đầy một giờ sau bạn có thể đặt chân lên vùng đất hứa này. Ðể vào miệt vườn du lịch, bạn đi qua một cây cầu khá đẹp, soi bóng mình và để lắng lại phía sau những bụi bặm phố phường. Từ đây, bạn rảo bộ vào các lối nhỏ dẫn vào vườn. Nếu bạn muốn du ngoạn trên thuyền để cảm nhận cái chơi vơi sông nước, thì đã có sẵn những chiếc ghe dưới bến trong miệt vườn. Bạn sẽ gặp những vựa trái cây thơm lừng và những chàng trai, cô gái Lái Thiêu vẫn còn mang dáng dấp chân quê, mời bạn mua hàng. Bạn có thể mua một vài loại trái cây gì đó và trò chuyện vui vẻ. Họ sẽ thành hướng dẫn viên du lịch cho bạn. Ði trong vườn đầy bóng cây, bạn có cảm giác như đang sống trong môi trường của một chiếc máy điều hòa nhiệt độ khổng lồ với ánh nắng của ban mai và ngọn gió lành phương xa thổi qua các cánh đồng phì nhiêu và dòng sông mát lành của đồng bằng Nam Bộ. Bạn có thể khoan khoái thả hồn trong khung cảnh thơ mộng: tiếng lá thở lao xao và tiếng tí tách của nước sông xâm xấp mép vườn.
    Ði dọc theo các vườn cây, thỉnh thoảng ta bắt gặp các rãnh dẫn nước từ sông vào. Các nhà dân ở xen lẫn trong vườn. Cây cối xanh tốt vươn vào thềm và phủ bóng trên mái nhà. Miệt vườn ở khu du lịch có hàng trăm ha. Mỗi gia đình có khoảng vài ba vườn cây là yên tâm với cuộc sống của mình. Nếu bạn muốn ở lại thưởng thức hương vị đặc biệt của trái cây vùng này, thì xin cứ việc ngả lưng trên những chiếc ghế để sẵn dưới gốc cây. Nếu trời bất chợt mưa, thì đã có nhà rông trong vườn. Bây giờ bạn có thể ngắm nhìn những trái mít tố nữ vàng ươm, thơm ngọt đến nao lòng, những trái sầu riêng gai góc nặng hàng cân chứa trong lòng ngọt bùi thơm mát. Ngoài ra dừa Xiêm, măng cụt, chôm chôm và các loại hoa quả khác của miệt vườn này cũng có hương vị rất lạ. Ai đã từng nếm một lần, chắc khó mà quên.
    Hằng năm, miệt vườn Lái Thiêu có hàng nghìn du khách đến thăm. Những người yêu thiên nhiên và thích du lịch tìm hiểu miệt vườn Nam Bộ chắc không thể không một lần ghé về vùng quê đáng yêu này. Lễ hội Chùa Bà vào Rằm tháng Giêng và những mùa hoa trái hầu như quanh năm, đang chờ đón bạn.

    Phố đồ cổ tại Sài Gòn - Phố Lê Công Kiều

    Nằm sau đại lộ Hàm Nghi thuộc phường Nguyễn Thái Bình, Q.1. Một con phố nhỏ chỉ dài hơn 200m nhưng đã nổi tiếng nổi tiếng trong và ngoài nước với nhiều du khách và những người yêu thích sưu tầm đồ cổ - phố Lê Công Kiều.
    Phố đồ cổ trưng bày đủ thứ từ những bức tượng đồng, cái điện thoại cổ, cái máy chụp ảnh cổ, bộ bàn ghế, .... Tuy nhiên ít ai biết trong số các đồ "cổ" đó chỉ có chừng 10-15% là đồ cổ thật còn lại la các sản phẩm giả cổ được cung cấp bởi các lò gốm Bát Tràng, Giang Tây (Trung Quốc); các cơ sở đồ đá ở Bình Định, Đà Nẵng; các xưởng mộc ở đường Cộng Hòa (TP.HCM), Đức Huệ (Long An)... Cũng chính vì lý do đó mà trừ những đồ cổ chính hiệu thì giá cả tùy thuộc vào sự quý hiếm, niên đại, sự am hiểu và yêu thích của khách hàng, còn lại đồ giả cổ đều đã có mức giá nhất định, cho nên người đi mua không phải lo âu về tình trạng “thách” giá.
    Rất nhiều chủ các nhà hàng khách sạn đến phố này để tìm mua đồ trang trí cho khách sạn, nhà hàng của mình.
    Năm 2000 trong chuyến thăm Việt Nam, bà Hillary Clinton- phu nhân Tổng thống Mỹ đã đến phố đồ cổ này và say sưa ngắm những chiếc độc bình Trung Quốc. Đến khi chủ tiệm cho biết đây chỉ là ...đồ sứ Giang Tây giả cổ, bà mới “vỡ lẽ” và thích thú mua nó làm kỷ niệm.

    Hướng dẫn du lịch TP Hồ Chí Minh


    Sơ lược
    Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở giữa vùng Nam Bộ trù phú, tiếp giáp với phía Nam của miền Ðông Nam Bộ và rìa Bắc của miền Tây Nam Bộ. Là thành phố đông dân và lớn nhất Việt Nam. Nơi đây là đầu mối giao thông lớn, nối liền với các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế của khu vực.
    Ngay cái nhìn đầu tiên, Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh đã để lại ấn tượng sâu sắc của một đô thị lớn nhất, náo nhiệt nhất và năng động nhất trong cả nước.
    Những phố xá đèn sáng choang, sinh hoạt và vui chơi giải trí kéo dài đến tận khuya. Những dòng xe cộ hối hả trên khắp các ngả đường như không bao giờ dứt. Dãy dãy cửa hiệu với hàng hóa phong phú đủ màu, đủ loại góp phần làm nên danh tiếng "Sài Gòn - thiên đường mua sắm". Nhan nhãn những quán ăn, cửa tiệm, nhà hàng với thực đơn rất đa dạng khiến ẩm thực trở thành một cái thú không thể thiếu đối với du khách đến nơi đây.

    Click this bar to view the full image.

     

    Nhưng đàng sau sự sôi nổi ấy là một cuộc sống phóng khoáng mà hài hòa, với những phong tục tập quán lâu đời của một nền văn hóa truyền thống đã thích nghi với cuộc sống khai hoang mở đất ở một vùng đồng bằng sông nước, và sớm giao thoa với các nền văn hóa trong khu vực và phương Tây.
    Hàng trăm chùa chiền, hàng trăm ngôi đình thờ phụng các anh hùng đất nước và các tiền hiền có công mở cõi vẫn quanh năm nhang khói. Các chứng tích của sự nghiệp giải phóng thành phố và đất nước được trân trọng bảo tồn. Ngoài các lễ tết chính thức, người dân thành phố tổ chức rất trọng thể nhiều lễ hội theo truyền thống "uống nước nhớ nguồn" như Lễ hội Nghinh Ông, Ngày giỗ tổ nghề, Ngày Thầy thuốc, Ngày Nhà giáo, Ngày Báo hiếu, Ngày Phụ nữ…

    Click this bar to view the full image.

     

    Các kiến trúc của Sài Gòn - Hòn ngọc Viễn Đông xưa được giữ gìn và tôn tạo, trở thành những điểm tham quan lý thú. Bên cạnh đó là những công trình hiện đại phát huy từ cảm hứng trong kiến trúc truyền thống Việt Nam. Ở nơi đất hẹp người đông này, du khách sẽ bất ngờ với những đại lộ rợp bóng cổ thụ trăm năm, những công viên rộng rực rỡ hoa lá, những khu biệt thự thanh bình. Bên cạnh những tòa cao ốc mới ở trung tâm thành phố, khách sẽ có dịp ghé thăm Chợ Lớn của người Hoa với những khu phố cổ nhộn nhịp, hoạt động thương mại và sản xuất luôn nhộn nhịp ngày đêm.

    Là trung tâm du lịch và cửa ngõ du lịch lớn nhất trong cả nước, thành phố Hồ Chí Minh có hệ thống cơ sở vật chất và dịch vụ du lịch khá phát triển, từ những điểm vui chơi giải trí cho đến khách sạn, nhà hàng.
    Khí hậu thành phố dễ chịu, nắng không quá nóng và mưa không kéo dài nên mùa nào cũng có thể là mùa du lịch.
    Người dân thành phố, thân thiện và phóng khoáng, luôn mong được tiếp đón du khách từ mọi phương trời.
    Đi khi nào?
    TPHCM có hai mùa rõ rệt là mùa nắng và mùa mưa, mùa mưa bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 11. Nhưng nhìn chung bạn có thể đến TPHCM bất cứ tháng nào trong năm và đừng đi du lịch tại TPHCM vào những ngày tết nguyên đán. Khi tết nguyên đán mọi người thường về quê hương ăn tế với gia đình.

    Click this bar to view the full image.

     

    Vào các mùa lễ hội hoạt động mua sắm và vui chơi tại TPHCM diễn ra vô cùng sôi nỗi trên khắp các ngả đường. Vào mùa Noel các con đường tràn ngập ánh đèn, xe cộ tấp nập và các hoạt động vui chơi giải trí diển ra gần tàn đêm, bạn có thể đến TPHCM vào những ngày này để tận hưởng cái không khí se se lạnh nhưng ấm áp tại TPHCM.
    Đừng lo ngại sự ồn ào của TPHCM bạn đến đây bất cứ ngày nào trong năm củng có các khu du lịch sinh thái, khu nghĩ dưỡng… cho bạn thư giãn.
    Đi đâu, chơi gì?
    Để chuyến du lịch đến thành phố Hồ Chí Minh trọn vẹn, có những điểm tham quan tiêu biểu mà bạn không thể bỏ qua.
    Với hệ thống 11 bảo tàng, thành phố Hồ Chí Minh là nơi có số bảo tàng nhiều nhất so với các tỉnh, thành trong cả nước. Nội dung trưng bày của các bảo tàng khá phong phú, và không chỉ về lịch sử và văn hóa địa phương, mà của cả Nam bộ, quốc gia và khu vực Đông Nam Á, cung cấp nhiều kiến thức lý thú.
    Trên 1.000 ngôi chùa, đình, đền và miếu được xây dựng qua nhiều thời kỳ cũng là những tài sản quý về văn hóa, kiến trúc và nghệ thuật. Bạn sẽ tìm thấy những chùa Phật giáo Nam bộ tiêu biểu, những ngôi đình xưa gắn liền với lịch sử khẩn hoang mở đất. Bên cạnh đó là những chùa "cách tân" lớn nhất và đẹp nhất trong cả nước, kết hợp nhuần nhuyễn giữa phong cách hiện đại với kiến trúc chùa cổ truyền. Thành phố có đến nửa triệu người Hoa sống tập trung nên số chùa Hoa cũng nhiều nhất so trong nước, kiến trúc đa dạng và phong phú, nhiều chùa đã được công nhận di tích lịch sử - văn hóa của thành phố và quốc gia.
    Người Pháp đã để lại nhiều công trình đẹp và đa dạng. Có thể nói hiếm có đô thị nào ở Đông Nam Á lại có nhiều dạng kiến trúc, nhiều trường phái, phong cách nghệ thuật phương Tây như Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh. Điển hình như trụ sở Ủy ban Nhân dân Thành phố theo phong cách Đệ Tam Cộng hòa Pháp, Ngân hàng Nhà nước chịu ảnh hưởng trào lưu Tân Nghệ thuật, Nhà Thiếu nhi với phong cách Tân Cổ điển, Nhà Rồng phong cách Đông Dương, Bưu điện với trường phái Chiết Trung, nhà thờ Đức Bà với nghệ thuật Rôman, nhà thờ Huyện Sĩ theo Tân Gôtic…
    Mảng kiến trúc đương đại, đang bùng nổ, trăm màu trăm vẻ, tạo cho thành phố một diện mạo vui mắt, trong đó có một số tòa nhà đẹp, có giá trị thẩm mỹ cao.
    Nhưng điểm du lịch độc đáo nhất của thành phố vẫn là Địa đạo Củ Chi, một công trình độc đáo trong lịch sử quân sự thế giới, biểu tượng của ý chí sắt đá và thông minh mưu trí của quân dân thành phố trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Lẫy lừng không kém là rừng ngập mặn Cần Giờ với những trận chiến phá tàu giặc trên cửa sông Sài Gòn, nay là một điểm du lịch sinh thái tuyệt vời với những cánh rừng đước xanh vô tận.

    Bảo tàng
    Hệ thống bảo tàng của thành phố Hồ Chí Minh gồm 11 bảo tàng cùng nhiều nhà lưu niệm, nhà truyền thống, phòng truyền thống ở các quận, huyện.
    Bảo tàng Lịch sử Việt Nam là bảo tàng lớn nhất, và cũng là bảo tàng đầu tiên của thành phố, ra đời từ những năm đầu thế kỷ 20. Nhờ không ngừng sưu tầm và bảo quản được hiện vật qua các thời kỳ, nên Bảo tàng Lịch sử đã có một bộ sưu tập phong phú gần 30.000 hiện vật giá trị.
    Bảo tàng Hồ Chí Minh, nơi giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chủ tịch, thu hút nhiều khách nội địa nhất. Trong khi đó, Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh trưng bày về tội ác dã man của quân xâm lược Mỹ đối với nhân dân Việt Nam, là địa chỉ không thể thiếu trong chương trình tham quan của du khách nước ngoài.


    * Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – TP.HCM
    2 Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1
    * Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh
    65 Lý Tự Trọng, quận 1

    Click this bar to view the full image.

     

    * Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh
    28 Võ Văn Tần, quận 3
    * Bảo tàng Hồ Chí Minh – TP.HCM
    1 Nguyễn Tất Thành, quận 4
    * Bảo tàng Tôn Đức Thắng
    5 Tôn Đức Thắng, quận 1
    * Bảo tàng Chiến dịch Hồ Chí Minh
    2 Lê Duẩn, quận 1
    * Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ
    202 Võ Thị Sáu, quận 3

    Click this bar to view the full image.

     

    * Bảo tàng Lực lượng Vũ trang miền Đông Nam Bộ
    247 Hoàng Văn Thụ, quận Tân Bình
    * Bảo tàng Mỹ thuật – TP.HCM
    97A Phó Đức Chính, quận 1


    Chùa chiền
    Có những ngôi chùa tiêu biểu của phong cách kiến trúc chùa Phật giáo cổ truyền ở Nam bộ với khung cảnh thanh nhàn, nội thất u nhã, và hàng chục pho tượng thờ, cột, bao lam gỗ chạm trổ tinh vi. Lại có những chùa xây dựng theo phong cách hiện đại nhưng lấy cảm hứng từ kiến trúc truyền thống với nội thất cao rộng và sáng sủa, bài trí đơn giản, tôn nghiêm, kết cấu bêtông cốt thép nhưng vẫn giữ dáng dấp cổ truyền.
    Bên cạnh đó là hàng trăm ngôi đình thờ Thành Hoàng gắn liền với lịch sử khai hoang mở đất. Hàng năm các đình tổ chức lễ kỳ yên vào mùa xuân, với các nghi thức tế lễ và ca múa cúng thần long trọng. Đền thờ các vị anh hùng dân tộc như đền Hùng Vương, đền Trần Hưng Đạo, Lăng Ông… không chỉ là những công trình kiến trúc đẹp mà còn là nơi tấp nập bá tánh đi lễ cầu phước lộc an khang.
    Trên 30 chùa Hoa, thực chất là miếu, gắn liền với lịch sử định cư của Sài Gòn – Chợ Lớn xưa kia. Kiến trúc chùa Hoa với màu sắc rực rỡ, nhiều tác phẩm điêu khắc, hội họa sinh động, thư pháp rồng bay phượng múa, mỗi chùa một sắc thái riêng theo phong tục tập quán của năm nhóm ngôn ngữ Quảng Đông, Phước Kiến, Triều Châu, Hải Nam và Hẹ.


    Chùa Phật giáo xưa:
    * Chùa Giác Lâm
    118 Lạc Long Quân, quận Tân Bình
    * Chùa Giác Viên
    161/85/20 Lạc Long Quân, quận 11
    * Chùa Phụng Sơn
    1408 Ba Tháng Hai, quận 11
    Chùa Phật giáo mới:
    * Chùa Vĩnh Nghiêm
    339 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3

    Click this bar to view the full image.

     

    * Chùa Xá Lợi
    89 Bà Huyện Thanh Quan, quận 3
    * Nam Thiên Nhất Trụ
    511 Nguyễn Văn Bi, quận Thủ ĐứcĐình
    * Đình Phong Phú
    Ấp Phong Phú, phường Tăng Nhơn Phú, quận 9
    * Đình Phú Nhuận
    18 Mai Văn Ngọc, quận Phú Nhuận
    Đền:
    * Đền Hùng Vương
    2B Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1
    * Đền Trần Hưng Đạo
    36 Võ Thị Sáu, quận 1
    * Lăng Ông Lê Văn Duyệt
    1bis Phan Đăng Lưu, quận Bình ThạnhChùa Hoa:
    * Chùa Ngọc Hoàng
    73 Mai Thị Lựu, quận 1
    * Chùa Bà Thiên Hậu
    710 Nguyễn Trải, quận 5
    * Nhị Phủ Miếu
    264 Hải Thượng Lãn Ông, quận 5


    Nhà thờ
    Các nhà thờ ở Sài Gòn chủ yếu xây dựng vào nửa sau thế kỷ 19. Nhìn chung, kiểu cách kiến trúc theo lối Pháp của giai đoạn này vừa kết hợp phong cách Rôman, Gôtic quen thuộc thời Trung cổ châu Âu. Có công trình xây dựng nhằm mục đích làm chỗ dựa tinh thần cho chính quyền thực dân Pháp, có nơi là công trình tôn giáo đáp ứng nhu cầu tâm linh của tín đồ bản xứ.
    Nhà thờ có quy mô lớn nhất thành phố là nhà thờ Đức Bà xây dựng xong vào năm 1880, còn gọi là nhà thờ Nhà nước vì do chính quyền thuộc địa Pháp bỏ tiền ra xây dựng, là nơi diễn ra các cuộc lễ lạc chính thức, sau này mới chuyển về cho giáo phận Sài Gòn quản lý. Vào thời đó, nhà thờ Đức Bà được xem là lớn nhất trong các thuộc địa Pháp. Ngôi nhà thờ xây bằng gạch ngói Marseille, kính màu và khung sườn thép mang từ Pháp sang kết hợp với đá xanh Biên Hòa. Các ô cửa cuốn tròn kiểu Rôman cùng cung vòm gãy kiểu Gôtic gợi nhớ dạng thánh đường lớn ở Pari, Chartres, Reim.
    Nhà thờ Tân Định nhỏ hơn, dành cho họ đạo người Việt, tiêu biểu của sự pha trộn nhiều phong cách khác nhau của kiến trúc nhà thờ Pháp do được xây dựng và nới rộng trong nhiều đợt. Nhà thờ Huyện Sĩ theo nguyên mẫu nhà thờ nhỏ ở Pháp. Nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn cũng thế, nhưng bên trong lại trang trí hoành phi liễn đối như đền miếu người Hoa.
    Kiểu nhà thờ xây dựng vào thời kỳ sau này đã có nhiều nỗ lực đi tìm phong cách bản địa hơn. Điển hình là nhà thờ Vườn Xoài dung hòa được tính cách hiện đại và nét cổ Việt, với cửa tam quan, mái phủ lớn.


    * Nhà thờ Đức Bà
    Công xã Paris, Đồng Khởi, quận 1

    Click this bar to view the full image.

     

    Nhà thờ Tân Định
    289 Hai Bà Trưng, quận 3
    * Nhà thờ Huyện Sĩ
    1 Tôn Thất Tùng, quận 1
    * Nhà thờ Cha Tam
    25 Học Lạc, quận 5
    * Nhà thờ Chợ Quán
    120 Trần Bình Trọng, quận 5
    * Nhà thờ Vườn Xoài
    413 Lê Văn Sỹ, quận 3

    * Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – TP.HCM
    2 Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1


    Các kiến trúc khác
    Kiến trúc thời Pháp để lại nhiều công thự đẹp, hài hòa với cảnh quan, trở thành một nét thanh lịch riêng của thành phố.
    Các công thự này rất đa dạng, gồm từ trụ sở các cơ quan hành chính của thành phố cho đến các bảo tàng, nhà hát, trường học,… thuộc khá nhiều trường phái và phong cách nghệ thuật khác nhau. Không ít những chi tiết của nghệ thuật Việt, Chăm, Khmer đã được đưa vào trang trí. Đặc biệt có những công trình kết hợp hài hòa kiến trúc phương Tây với những yếu tố bản địa thành một phong cách riêng gọi là kiến trúc Đông Dương, điển hình như Nhà Rồng, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam hay trường Lê Hồng Phong.
    Kiến trúc Sài Gòn trước năm 1975 cũng để lại một số công trình giá trị, trong đó nổi bật trào lưu kiến trúc "nhiệt đới" nghĩa là chú ý đến yếu tố khí hậu nhiệt đới, cùng khuynh hướng nỗ lực thể hiện văn hóa nghệ thuật dân tộc trong kiến trúc đương đại. Những công trình nổi tiếng có Hội trường Thống Nhất, Thư viện Khoa học Tổng hợp, Ngân hàng Thương Tín, Viện Trao đổi Văn hóa Pháp IDECAF, một số chùa Phật giáo,…
    Thời mở cửa, kiến trúc Sài Gòn bùng nổ. Công trình mới đa dạng, từ những tòa nhà cao tầng đến biệt thự, nhà phố theo công nghệ mới và nhiều ý tưởng mới. Cao ốc hàng chục tầng được xây dựng khá nhiều, trong đó, cao nhất là tòa nhà Trung tâm Thương mại Sài Gòn, 33 tầng, cao 128m. Một số công trình đẹp, được đánh giá có tính nghệ thuật cao.


    Kiến trúc thời Pháp:
    * Trụ sở UBND Thành phố
    86 Lê Thánh Tôn, quận 1

    Click this bar to view the full image.

     

    * Nhà hát Thành phố
    7 Công Trường Lam Sơn, quận 1
    * Bưu điện Thành phố
    Công xã Paris, Đồng Khởi, quận 1
    Kiến trúc trước 1975:
    * Hội trường Thống Nhất
    106 Nguyễn Du, quận 1

    Click this bar to view the full image.

     

    Click this bar to view the full image.

     

    * Thư viện Khoa học Tổng hợp
    67 Lý Tự Trọng, quận 1
    Kiến trúc mới:
    * Cao ốc The Metropolitan
    61 Nguyễn Du, quận 1
    * Trung tâm Thương mại Sài Gòn
    37 Lê Duẩn, quận 1


    Điểm du ngoạn
    Một chuyến du ngoạn trên sông không chỉ để ngắm cảnh, đón gió mát mà còn để có cái nhìn bao quát về quá trình phát triển của vùng đất này: Từ những vạt dừa nước trên vùng đất bồi chuyển sang những cao ốc đẹp của thời kỳ đổi mới; từ những bến ghe chất đầy nông sản miền Tây đến cảng Sài Gòn lớn nhất Việt Nam đón tàu biển khắp thế giới; từ bến Nhà Rồng là nơi Bác ra đi tìm đường cứu nước sang bến Bạch Đằng cho tàu du lịch trên sông…
    Trên địa đầu tây bắc của thành phố là Địa đạo Củ Chi, căn cứ cách mạng với hệ thống đường hầm như mạng nhện trong lòng đất, nổi danh cả trên thế giới. Quần thể địa đạo và Đền Tưởng niệm Bến Dược bên sông Sài Gòn nay là một di tích lịch sử - văn hóa với phong cảnh hữu tình, dòng sông thanh bình, vườn cây sum suê và đồng lúa xanh bát ngát.
    Rừng ngập mặn Cần Giờ án ngữ cửa sông Sài Gòn, nguyên là căn cứ của lực lượng đặc công với những trận diệt tàu giặc lẫy lừng, đã trơ trụi vì bom đạn và chất độc màu da cam. Nay những cánh rừng đước mênh mông đã được hồi sinh, trở thành Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới, một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn.
    Bạn cũng sẽ ngạc nhiên về một điểm sinh thái khác cách không xa trung tâm thành phố là vườn cò Thủ Đức, trong một vùng quê sông nước êm ả, thanh bình, nơi "đất lành chim đậu".
    * Địa đạo Củ Chi
    Ấp Phú Hiệp, xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi
    * Rừng ngập mặn Cần Giờ
    Xã Lý Nhơn và Long Hòa, huyện Cần Giờ

    Click this bar to view the full image.

     
    • Du thuyền trên sông Sài Gòn
      Xuất phát từ bến Bạch Đằng
      * Vườn cò Thủ Đức
      124/31, khu phố Gò Công, phường Long Thạnh Mỹ, quận 9

    Đến, đi lại bằng gì?
    Sân bay Tân Sơn Nhất tọa lạc tại TPHCM là cảng hàng không quốc tế chính yếu của Việt Nam củng chính là ga đi trong nước (Từ TPHCM đi các tỉnh và ngược lại ). Từ sân bay Tân Sơn Nhất vào trung tâm TPHCM mất khoảng 20 phút đi xe taxi.
    Từ các tỉnh miền Bắc đổ vào Nam các bạn củng có thể đi bằng đường sắt. Các chuyến tàu liên tục trong năm phục vụ hành khách Bắc Nam, giá vé bạn có thể tham khảo và đặt vé tại
    http://vetau.com.vn Lựa chọn tiếp theo là đi xe khách từ các tuyến tỉnh đến TPHCM và ngược lại như dịch vụ vận tải hành khách Mai Linh Express có mặt trên khắp Việt Nam và các doanh nghiệp vận tải khác. Cuối cùng là đi bằng xe gắn máy.
    Để vào TPHCM có rất nhiều lựa chọn đi lại cho bạn như: Xe taxi, xe buýt, xe ôm… Giá vé xe búyt ở TPHCM rất rẽ, tuyến dài khoảng 5000 VNĐ và tuyến ngắn là 3000 – 4000 VNĐ. Vào các giờ cao điểm thì hơi chật vì khách đông còn giờ rỗi thì thoải mái, ngồi suốt lộ trình trong …. Máy lạnh.
    Xe taxi rong ruổi suốt ngày khắp các con đường mang bên hông là số điện thoại của hãng taxi mà xe đó hoạt động. Các xe taxi ở TPHCM thường có giá như sau 12.000 VNĐ cho 1km đầu tiên, 10.000 cho những km tiếp theo và 8000 VNĐ cho km thứ 10 trở lên, các hãng taxi lớn như Mai Linh Group, Taxi Future 8181818, Taxi Vinasun, Vinataxi…
    Xe ôm thì có mặt hầu như tất cả các con hẻm ở TPHCM và giá thì thỏa thuận giữa hành khách và láy xe, thường thì 1km thì 5.000 VNĐ và 10Km thì khoảng 30.000Đ.
    Mua sắm, giá cả
    Hàng hóa thật phong phú, đủ màu sắc, đủ chủng loại, từ những vật dụng thông thường hàng ngày cho đến những đặc sản nổi tiếng của mọi miền đất nước, từ hàng sản xuất trong nước đến những nhãn hiệu quốc tế có uy tín trên thế giới. Cửa hàng thường trang trí rất đẹp, nhất là các cửa hàng thủ công mỹ nghệ và thời trang, mỗi cửa hàng như một tác phẩm nghệ thuật nho nhỏ.
    Người Sài Gòn vẫn quan niệm "Buôn có bạn, bán có phường", nên tự phát thành nhiều khu phố kinh doanh cùng một mặt hàng, rất dễ dàng cho khách xem và lựa chọn. Cửa hàng kề nhau nên để giữ khách, người bán thường không nói thách nhiều. Có cửa hàng bán giá nhất định. Tuy nhiên bạn vẫn cứ phải cảnh giác với vấn đề giá cả và chất lượng, nhất là khi đi mua sắm trong chợ.
    Bản thân thành phố là một trung tâm công nghiệp và đầu mối giao thương trong và ngoài nước. Chợ Lớn đã nổi tiếng từ bao đời nay với tay nghề tiểu thủ công nghiệp. Vì thế, không lạ khi hàng hóa ở đây rất dồi dào. Nhưng có lẽ bạn cũng vẫn ngạc nhiên khi phát hiện việc tìm mua một đặc sản địa phương ở Sài Gòn có khi còn dễ dàng hơn là tại chính nơi xuất xứ; hoặc phát hiện khá nhiều các sản phẩm địa phương nay được sản xuất tại Sài Gòn với chất lượng cao hơn.
    Ngày nay, khó có thể nói cái gì là đặc sản của thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng chắc chắn hàng hóa phong phú và đa dạng ở đây sẽ làm hài lòng du khách gần xa.
    Tại các chợ của TPHCM hầu hết các sản phẩm không được niêm yết giá bán. Đến TPHCM bạn muốn mua sắm ở TPHCM bạn cần có ai đó rành về mua sắm đi cùng vì các tiểu thương ở các chợ đội giá sản phẩm lên rất cao. Bạn củng có thể chọn việc mua hàng tại các khu thương mại, siêu thị các hệ thống plaza trên khắp TPHCM vì nó có giá chính thức và chắc chắn là khỏi sợ lầm.
    Hệ thống chợ Tp.HCM
    * Chợ Bến Thành, một biểu tượng của Sài Gòn, được xem là chợ bán lẻ lớn nhất theo nghĩa bạn có thể tìm thấy tại đây đủ thứ mặt hàng, từ bình dân đến cao cấp, đặc biệt hàng thực phẩm thuộc loại chọn lọc nhất.
    * Chợ An Đông mới xây dựng, có sáu tầng, trang bị khá hiện đại, phong phú nhất là hàng vải và hàng giả da.
    * Bình Tây là chợ bán sỉ lớn nhất, không chỉ của thành phố mà cả phía Nam, là đầu mối phân phối sản phẩm tiểu thủ công nghiệp của Chợ Lớn, nông sản của đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên cùng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, Thái Lan… đi khắp mọi miền đất nước. Chữ bán sỉ và bán lẻ ở đây được hiểu theo nghĩa rất tương đối bởi vì thực tế các chợ lớn hay nhỏ đều có cả hai hình thức buôn bán này.

    Click this bar to view the full image.

     

    * Một đặc điểm nữa là thành phố có nhiều chợ chỉ chuyên bán một mặt hàng:
    1. Chợ vải Soái Kình Lâm
    2. Chợ hóa chất Kim Biên
    3. Chợ gạo Trần Chánh Chiếu
    4. Chợ thuốc lá Học Lạc, chợ gà Xóm Vôi
    5. Chợ hoa Hồ Thị KỷChợ vật liệu xây dựng Trịnh Hoài Đức…
    Bên cạnh chợ, Sài Gòn có phố chuyên doanh.
    * Muốn mua đồ gỗ thông dụng, mời bạn đến phố Ngô Gia Tự. Nhưng đồ gỗ cao cấp, thời trang hơn thì lại phải tìm đến các cửa hiệu trên đường Nguyễn Thị Minh Khai. Trong khi đó, phố đồ gỗ Cộng Hòa ở Tân Bình chủ yếu bán đồ nội thất chạm trỗ, các loại tượng bằng gỗ quý.
    * Trang trí nhà cửa thì có phố vật liệu trang trí đường Lý Thường Kiệt và Tô Hiến Thành; phố hoa giả đường Ba Tháng Hai; phố màn rèm chăn gối trên đường Lê Văn Sĩ và Lý Thái Tổ - Điện Biên Phủ; phố trang trí đám cưới ở cuối đường Nguyễn Đình Chiểu…
    * Phố thực phẩm Nguyễn Thông chuyên bán đồ hộp, nhưng rượu ngoại thì phải tìm đến phố Hải Triều. Phố Tạ Uyên chuyên bán thịt quay đủ loại. Còn trái cây thì nổi tiếng có Lê Thánh Tôn, Tân Định và Yết Kiêu.
    * Phố quần áo kéo dài trên đường Cao Thắng và Nguyễn Đình Chiểu, trong khi phố giày dép tập trung một đoạn đường Trần Huy Liệu cùng ở quận 3.
    * Đồ cổ tập trung trên đường Lê Công Kiều, hàng lưu niệm khu Đồng Khởi, Lê Lợi và Lê Thánh Tôn, thuốc Bắc khu Triệu Quang Phục, hàng mã đường Lương Nhữ Học, đồ thờ đường Nguyễn Chí Thanh và Cách Mạng Tháng Tám…Siêu thị và trung tâm thương mại
    Tuy chỉ mới xuất hiện trong vòng vài năm trở lại đây, siêu thị tỏ ra có sức thu hút lớn bởi mặt hàng thực phẩm và tiêu dùng hàng ngày phong phú, chủng loại đa dạng, mỗi mặt hàng có thể có đến hàng chục nhãn hiệu khác nhau giúp việc lựa chọn hàng dễ dàng, chất lượng đảm bảo và giá cả phải chăng, nhất là bán theo giá nhất định nên thuận lợi cho những người bận rộn, không có thời giờ đi khảo giá thị trường. Trong lúc thời tiết nóng bức, đi mua hàng trong siêu thị máy lạnh cũng đỡ phần mệt nhọc. Đa số các siêu thị đều có khu vực vui chơi dành riêng cho các cháu.
    Trung tâm thương mại không phổ biến bằng siêu thị, thường bán các loại hàng tiêu dùng cao cấp, nhất là hàng ngoại nhập thuộc các nhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới, đồ nữ trang đắt tiền hay quà lưu niệm tinh xảo. Trái với chợ và siêu thị là những nơi hàng hóa đầy ắp, các trung tâm thương mại thường chọn hàng tinh hơn là theo số lượng, cách trưng bày sang trọng và hấp dẫn.


    Siêu thị:
    1. Hệ thống Siêu thị COOP Mart
    2. Hệ thống Siêu thị Citimart
    3. Hệ thống Siêu thị Maximart
    4. Hệ thống Siêu thị Metro
    5. Hệ thống Siêu thị Sài Gòn
    6. Siêu thị Cora
    7. Siêu thị Hà Nội
    8. Siêu thị Super BowlTrung tâm Thương mại lớn:
    1. TTTM Diamond Plaza
    2. TTTM Saigontourist
    3. TTTM Savico – Kinh Đô
    4. TTTM Tax
    5. TTTM Hùng Vương Plaza
    6. TTTM Citi Plaza
    Bảng thông tin giá cả tham khảo
    * Nước Suối 5.000đ/ chai
    * Internet 4.000đ/ giờ
    * Cơm xuất 15000 – 40000vnđ/ đĩa
    * Taxi 12.000Đ/KM
    * Cafe 7000 – 60000 vnđ
    * Xe buýt 3000 - 5000 vnđ/ tuyến
    * Mì gói 7000 – 10000 vnđ/ tô
    * Trứng gà 3000vnd/ trứng
    Giá trên chỉ mang tính tham khảo có thể thay đổi.


    Ăn gì, ở đâu?
    Là trung tâm của vùng đất phương Nam trù phú, sản vật dồi dào, nên món ăn Sài Gòn rất đa dạng. Lại thêm là nơi hội tụ của cư dân từ mọi miền đất nước và cửa ngỏ tiếp xúc với thế giới bên ngoài, nên thành phố đã tiếp nhận thêm các dòng ẩm thực của cả nước và thế giới, chọn lọc tinh hoa thành một nền ẩm thực phong phú và hấp dẫn.

    Click this bar to view the full image.

     

    Ngày nay, người ta dễ dàng tìm thấy ở Sài Gòn vô số đặc sản Bắc, Trung, Nam hay quốc tế, theo đúng nguyên bản cũng có, nhưng phổ biến hơn vẫn là những món đã được "Sài Gòn hóa" để hương vị thêm phong phú, đậm đà. Chất Sài Gòn thường thể hiện ở vị ngọt, nhiều rau xanh và nhiều thủy hải sản tươi sống. Chẳng hạn như món canh chua Sài Gòn đã kết hợp cả cái chua- mặn của miền Bắc, cái cay nồng ớt tươi của miền Trung và cái ngọt xởi lởi của miền Nam. Món bún bò Huế được "cải biên" để bớt cay, thêm ngọt, thêm béo và thêm rau. Món bò bít tết của phương Tây thì mỏng hơn, chín hơn, nhiều gia vị hơn và kèm rau sống, đồ chua nhiều hơn…
    Khuynh hướng gần đây tìm về những món dân dã chốn đồng quê, món ăn của thời khẩn hoang mở cõi. Kể cả thực đơn của các nhà hàng sang trọng nay có cả món chuột đồng rô ti, châu chấu chiên giòn, lươn hấp trái bầu, ếch xào lăn, cá rô kho tộ, cá bống dừa kho tiêu… Món lẫu sành điệu phải đủ hai mươi mấy thứ rau đồng nội như cù nèo, tai tượng, càng cua, bông so đũa, bông điên điển… Món nướng thì nào là nướng than hồng, nướng trui, nướng mọi, nướng lu, nướng đất sét… Và người Sài Gòn vẫn không ngừng sưu tầm để bổ sung vào thực đơn của mình những món ăn đã một thời bị quên lãng cũng như những món mới từ khắp bốn phương trời.
    Ngoài ra ở Sài Gòn bạn cũng có thể tìm thấy đủ món ăn nhẹ của 3 miền, từ Hủ Tiếu Nam Vang, Bún Bò Huế, đến Phở Hà Nội.

    Click this bar to view the full image.

     

    Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 641 khách sạn với 17.646 phòng

    Hệ thống khách sạn bao gồm từ những khách sạn cao cấp do các tập đoàn quốc tế hàng đầu như Accor, Furama, Mariot hay Shareton quản lý, các khách sạn đã có quá trình hoạt động cả trăm năm mà dịch vụ được ngay cả các vị nguyên thủ quốc gia, các doanh nhân tầm cỡ khen ngợi, được các tổ chức quốc tế về du lịch trao tặng nhiều giải thưởng và danh hiệu về chất lượng cao cho đến các khách sạn bình dân đáp ứng nhiều nhu cầu linh động và đa dạng của khách.

    Click this bar to view the full image.

     

    Phần lớn các khách sạn đều chiếm những vị trí đẹp nhất trong trung tâm thành phố, gần các khu thương mại, cận kề sân bay, nhà ga, bến xe… Và đặc điểm chính là các khách sạn đều có tính chuyên nghiệp cao, từ cơ sở vật chất và trang thiết bị cho đến các dịch vụ và phong cách phục vụ. Mỗi khách sạn thường lựa chọn một ấn tượng riêng: Caravelle là khách sạn thương nhân tuyệt hảo, Rex là "Ngôi nhà Việt Nam", Majestic với vẻ thanh lịch cổ điển phương Tây, Bông Sen gây ấn tượng bằng ẩm thực "buffet gánh", Đệ Nhất nổi tiếng với dịch vụ tiệc cưới… Ngay những khách sạn nhỏ cũng tạo phong cách như sự phục vụ tận tâm, thân tình như trong gia đình, hay những dịch vụ đáp ứng mọi yêu cầu nho nhỏ của khách.
    Ngành khách sạn của thành phố Hồ Chí Minh có thể tự hào khi so sánh với các nước trong khu vực.
    Lưu ý khác
    Khi đi du lịch tại TPHCM du khách chú ý các điểm sau:
    * Không nên dạo phố quá khuya, vì bạn đi quá khuya có thể bị công an “rinh” về phường hoặc bị “giang hồ” cướp hoặc “hỏi thăm sức khỏe”
    * Không nên mua đồ ở các khu chợ “chồm hổm” và các vật dụng của các “đại ca” bán hàng rong.
    * Khi ra khỏi sân bay bạn nên chọn một chiếc taxi có uy tín như Taxi Airport chẳng hạn. Tránh chọn các xe taxi không có logo kiểm sóat hoặc không có bộ đếm cước. Tránh để bị lứa.
    * Ở TPHCM nên hạn chế đi xe ôm vào ban đêm nếu bạn không rõ nơi mình đến là đâu vì có thể bạn sẽ bị lừa hoặc hơn là bạn sẽ bị nguy hiểm.

    Nhà thờ Ba Chuông

    Nhà thờ Thánh Đa Minh là một trong những công trình kiến trúc tồn tại đã khá lâu đời, người dân nơi đây thường gọi nhà thờ bằng một tên khác là nhà thờ Ba Chuông bởi trên đỉnh của nhà thờ này gắn ba quả chuông. Đầu thế kỷ 21, công trình kiến trúc này được xây dựng lại một cách hoành tráng.
    Được kết hợp độc đáo giữa lối kiến trúc với những đường nét ngang thẳng, gãy gọn của phương Tây và sự thanh thoát của kiến trúc phương Đông, toàn thể nhà thờ Ba Chuông là những đường cong nhẹ nhàng, uyển chuyển vươn lên giữa bầu trời xanh ngắt. Cổng tam quan cao vút, điểm trên các góc mái là hình những chú rồng uốn cong tạo nên một quần thể điêu khắc lồng lộng giữa bầu trời trong xanh, phả vào hình khối kiến trúc một tinh thần Việt.
    Tọa lạc trên đường Lê Văn Sỹ, quận Phú Nhuận, Thánh đường Đa Minh - Ba Chuông được xây dựng lại từ nền cũ. Sau 22 tháng xây dựng miệt mài, nhà thờ Ba Chuông được mang một diện mạo mới với nét kiến trúc độc đáo có một không hai ở thành phố Hồ Chí Minh. Từ ngoài nhìn vào, toàn bộ quần thể kiến trúc của nhà thờ Ba Chuông mang một màu xanh hoành tráng được gắn kết bởi những tảng đá xanh láng bóng. Lòng thánh đường được mở rộng ra bốn phía, trung tâm thánh đường là hai tầng mái cách điệu với độ cao 30m tạo nên hai tầng không gian mở, vòm mái cao vút tạo độ thông thoáng. Giữa thánh đường là một gian cung thánh hình tròn rộng lớn với bàn thờ bằng gỗ quý trên mặt cẩn đá cẩm thạch. Những bức tranh kính màu với nhiều màu sắc gắn xung quanh thánh đường tạo độ sáng tối huyền ảo. Thánh đường Đa Minh - Ba Chuông có kiểu kiến trúc hình vuông tượng trưng cho đất; khung mái hình tròn tượng trưng cho trời; các góc mái có rồng bay diễn tả ý muốn vươn cao hơn giữa trời đất. Kiến trúc và mỹ thuật Việt Nam, đặc biệt ba bức tranh gốm hoành tráng đặt giữa lòng thánh đường đã được chọn như một ý tưởng chủ đạo của thánh đường.
    Ngay cửa ngõ Sài Gòn có thể nhìn thấy một quần thể kiến trúc với sắc màu men lam làm chủ lực và cấu trúc trang trí mỹ thuật dân tộc qua hình khối, kiểu dáng, đường nét, họa tiết, hoa văn, sắc màu, chất liệu gốm sứ, cây cảnh, non bộ... Toàn bộ công trình được xây cất bằng ximăng cốt sắt, gắn đá quý. Chuông và tháp chuông mang một ý nghĩa quan trọng trong kiến trúc tôn giáo, vì thế ba quả chuông tại nhà thờ Ba Chuông luôn giữ một vị thế trang trọng.
    Thánh đường Đa Minh trên nền tảng kiến trúc, mỹ thuật Việt Nam kết hợp với những đường nét hiện đại thực sự là một công trình nghệ thuật độc đáo giữa lòng thành phố .

    Danh xưng Giáo xứ Đa Minh - Ba Chuông

    “Nhà thờ Ba Chuông”, một tên gọi gần gũi, bình dị nơi cửa miệng dân gian, nhưng đã gợi lên thắc mắc cho nhiều người về nguồn gốc và ý nghĩa lịch sử.
    Giáo xứ Đaminh - Ba Chuông ngày nay tọa lạc tại số 190 Lê Văn Sỹ, P.10, Q. Phú Nhuận, do các Linh mục Dòng Đaminh sáng lập. Dòng Đaminh Việt Nam đã đến đây từ năm 1957. Các tu sĩ xây dựng tu viện thánh Albêtô năm 1959 và mở trường trung tiểu học Thánh Thomas.
    Sau dịp long trọng mừng “bách chu niên” bốn chân phước Tử Đạo Hải Dương (1861-1961), tu viện đã tiến hành xây dựng một Đền Thánh dâng kính các Ngài, được khánh thành vào ngày 5-10-1962.
    Ngày 24.06.1967, Đức Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đã ký quyết định chính thức thành lập giáo xứ mới với danh xưng Thánh Đaminh, Đấng sáng lập Dòng của các tu sĩ phục vụ tại đây. Bổn Mạng giáo xứ : Thánh Đaminh, Lễ kính 08.08.
    Nhà thờ đầu tiên của giáo xứ chính là “Đền Thánh” trên, có kiến trúc khá độc đáo, với nhiều nét cong uyển chuyển mềm mại. Nhà thờ hình thánh giá với hành lang rộng và hàng hiên gợn sóng. Nhà thờ dài 50 mét, rộng 18 mét, hai tay thánh giá 25 mét, theo thiết kế của kiến trúc sư Võ Văn Tần. Mặt tiền hình quả chuông úp, với cuốn sách mở trên có chữ Veritas, nghĩa là chân lý, thánh giá và các nhành thiên tuế tử đạo.
    Nhưng ấn tượng nhất với mọi người là tháp chuông ba khía mầu đỏ sẫm, cao 14 mét, được xây tách biệt về phía cổng nhà thờ. Dáng tháp chuông thon thả, phía trên nở ra như một bông huệ, khoe cho mọi người thấy ba quả chuông. Phía trên cùng có quả địa cầu cách điệu, gồm những đường kinh tuyến và vĩ tuyến, đôi khi được thắp điện sáng ngời. Có lẽ chính vì thế mà nhà thờ được dân gian đặt cho một tên gọi mới là “Nhà thờ Ba Chuông”.
    Cho đến hôm nay đã gần nửa thế kỷ, “Nhà thờ Ba Chuông” trở thành một danh xưng phổ biến và quen thuộc với nhiều người. Có những cuốn Agenda còn giới thiệu với khách du lịch về nhà thờ “Three Bells” như một địa chỉ để tham quan.
    Dần dà “Nhà thờ Ba Chuông” bỗng trở thành một tên riêng, dù nhiều nhà thờ khác cũng có đủ ba quả chuông. Ghép tên gọi của giáo xứ và danh xưng dân gian trên ta có Nhà thờ Đaminh - Ba Chuông.

    Các nhân tố văn hóa trong Thánh đường Đa Minh - Ba Chuông
    1. Ngoại thất
    Thánh đường Đa Minh - Ba Chuông được xây dựng theo phong cách Á Đông và mang đậm nét văn hóa Việt. Nó vừa mang dáng dấp của một ngôi đình của làng xã Việt Nam : hình vuông, mái cong; vừa xây theo lối kiến trúc hiện đại : bê tông cốt sắt, tường gạch ốp đá. Nhà Chúa vì thế trở nên nguy nga, tráng lệ, nhưng lại rất thanh thoát, nhẹ nhàng.
    Bình diện vuông, theo tư duy Việt cổ, họ quan niệm trái đất vuông, được bốn phương neo giữ. Đặc tính này được tác giả khai thác triệt để khi thiết kế Thánh đường. Do đó, Thánh đường hiện diện trong vị thế hòa điệu tự nhiên với khu biệt kính các Thánh và các quảng trường... tạo nên một cảnh quan tổng thể có cả chiều cao lẫn bề rộng vừa thiêng liêng vừa ấm cúng.

    Click this bar to view the full image.

     

    a. Cổng tam quan
    ổng Tam quan khiến chúng ta liên tưởng đến ngôi đình làng Việt Nam, một cấu trúc đặc biệt trong một quần thể kiến trúc Việt Nam nói riêng và Đông phương nói chung. Cổng Tam quan thường được xây dựng phía trước các đình, làng, làm cổng đình, cổng làng. Có ba lối đi, một cổng lớn ở chính giữa và hai cổng nhỏ hai bên.
    Nói tới cổng là nói tới một lối dẫn vào, một lối đi. Nhưng cổng Tam quan đã trở nên ý nghĩa đặc biệt cho người dân Việt, vì nó là lối dẫn về nguồn, là đường đi vào những nơi sinh hoạt tập thể, dấu chỉ của sự đoàn kết, gắn bó của người dân Việt.
    Tùy theo từng loại kiến trúc mà người ta đã thay đổi, cách tân nó cho phù hợp với ý nghĩa và tính chất của công trình. Mô hình Cổng Tam quan của Thánh đường Đa Minh- Ba Chuông được thiết kế nhằm tạo nên sự thân thiện, và gần gũi với tâm thức của người Việt, nhưng không sao chép theo một mẫu kiến trúc cổ nào. Nó cũng mang ý nghĩa “phân cách không gian, làm đẹp công trình như là một tiền đường, một khoảng lặng tạo cảm giác thong dong thư thái và an nhàn, một dấu nghỉ, một bầu khí lặng thầm trang nghiêm trước khi vào chầu lễ với cộng đoàn”.
    b. Tháp chuông

    Tháp chuông là thành tố không thể thiếu được trong kiến trúc một ngôi nhà thờ Công giáo. Tháp chuông có thể gắn liền với nhà thờ hoặc được xây dựng tách biệt tùy theo ý tưởng và cách thiết kế của mỗi ngôi nhà thờ. Tháp chuông càng cao thì tiếng chuông càng vang xa, nhằm kêu gọi mọi người tề tụ về Thánh Đương để dâng Thánh Lễ.Đặc biệt ở Thánh đường Đa Minh - Ba Chuông, là phải có đủ ba quả chuông đồng : “một dấu ấn mang tính lịch sử đã trở thành biệt danh của nhà thờ”.Tháp chuông hình trụ vuông gồm ba tầng mái với kiểu dáng mái cong truyền thống, được cách điệu và hiện đại hóa. Mỗi góc mái là một đầu đao hình đầu rồng quy hướng về Thánh giá, vừa thể hiện sự hội nhập văn hóa trong kiến trúc nhà thờ.
    c. Mái cong:
    Dân Việt mình sống trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, địa hình có nhiều đồng bằng với hệ thống sông ngòi dày đặc. Hình ảnh sông nước và con thuyền rất gần gũi với cuộc sống của người dân. Tâm thức đó đã được thể hiện trong quá trình sống, qua các công trình tác phẩm của dân tộc. Từ đó cho thấy hình ảnh ngôi nhà, mái đình chính là phản ảnh sự thích nghi của con người trước môi trường tự nhiên.
    Hình ảnh nhà mái cong hình con thuyền trên các trống đồng Đông Sơn cho thấy nhà mái cong đã có từ lâu đời và đã trở thành nét văn hóa truyền thống trong kiến trúc người Việt. Nét uốn cong vút tại mỗi góc tạo thành những “tàu đao” của mái nhà Việt Nam, làm cho các tầng mái kiến trúc dù thấp và nặng nề, được vươn cao, thanh thoát, nhẹ nhàng, cân đối và hài hòa.
    Ngoài tính mỹ thuật trang trí và công dụng che mưa nắng của khí hậu miền nhiệt đới, mái cong còn chuyển tải một triết lý sống uyển chuyển, linh động “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” và một tâm hồn mở rộng (tứ hải giai huynh đệ); một khát vọng hướng thượng, giải thoát, sự giao hòa giữa trời cao và đất thấp, giữa con người với thần linh
    d. Tàu đao - linh vật :
    Tàu đao được tạo thành do “hai mái bên gặp nhau tạo thành đường bờ giải gẫy khúc, lượn cong nhè nhẹ. Đường diềm giọt nước ở phía dưới uốn cong tinh tế từ điểm giữa rồi lượn vênh lên, từ hai mái ở hai phía kéo ra góc gặp nhau chuyển hướng hất lên đột ngột, còn cuộn lại, có khi tạo thành cái đầu rồng duyên dáng, được xem như “đóa hoa đao đình”.
    Đầu đao có thể là hình đầu rồng, đầu chim phụng, chim câu hoặc các hoa văn nhằm tạo tính chất linh liêng cho các công trình kiến trúc. Thánh đường Đa Minh - Ba Chuông chọn hình đầu Rồng, vốn là một linh vật trong tứ linh. Trong văn hoá Việt Nam, Rồng vốn là một linh vật mang đầy ý nghĩa : Trời đất có rồng để mưa thuận gió hoà ; Đình miếu có rồng để cộng đồng làng xã ấm no ; Minh quân có rồng để quốc thái dân an. Rồng xuất hiện như một điềm lành, đem lại những điều may mắn và tốt đẹp.
    Rồng nơi góc mái trang trí của Thánh Đường nhắc nhớ mọi người nhớ về thuỷ tổ của dân Việt, nhớ mình là “con rồng cháu tiên”. Hơn thế nữa tàu đao đầu rồng với dáng dấp rồng bay ngoài ý nghĩa nhắc nhớ cội nguồn, còn khơi gợi con đường con đường giải thoát, và diễn tả ý muốn vươn lên cao hơn, hướng thượng và những khát khao nội tâm trong tâm thức của mỗi người tín hữu khi đến cầu kinh, dâng lễ.
    Đặc biệt, nơi Thánh đường Đa Minh - Ba Chuông có các tàu đao đầu rồng đều hướng về tâm điểm là Thánh giá. Thay vì “long chầu nguyệt”, những con rồng ở đây chầu Thánh giá, thể hiện ý hướng tôn thờ biểu tượng của Đạo Công Giáo.
    e. Con Nghê
    Con nghe là một trong hai linh vật đặc thù của văn hóa Việt Nam, nhưng lại rất ít được biết đến và người ta cũng không biết rõ xuất xứ ngọn nguồn của nó. Chỉ biết rằng trong kiến trúc đền đài, lăng tẩm, người Việt mình thường chạm khắc những cặp nghê đá, đặt hai bên tam cấp, như là để bảo vệ, hộ phù.
    Trong ý nghĩa trên, tượng nghe được đặt trước bốn phía tiền đường Thánh đường Đa Minh - Ba Chuông ngang hàng với rồng chầu. Vừa gợi lên niềm tự hào về bản sắc văn hóa của dân tộc, vừa làm cho ngôi nhà thờ tăng thêm vẻ uy nghiêm, thiêng thánh.
    “Nắng mưa dầu giãi canh thâu,
    Hai con nghê đá nằm chầu thiên thu”

    Click this bar to view the full image.

     

    f. Thiên nhiên và ngoại cảnh:
    Thiên nhiên, ngoại cảnh là yếu tố căn bản trong kiến trúc Việt Nam. Cái triết lý “vạn vật nhất thể” bàng bạc khắp nơi. Qua thiên nhiên và nhờ thiên nhiên, con người cảm thấy gần gũi, nhẹ nhàng, một bước rất gần tới Chân, Thiện, My.
    Xung quanh ngôi Thánh đường nguy nga tráng lệ là các quảng trường Thánh Martinô, quảng trường Đức Mẹ La Vang, quảng trường Các Thánh Tử Đạo Việt Nam được trang hoàng bằng những nhân tố văn hóa rất Việt: những cây đèn đá, bờ tre, khóm trúc, cây kiểng, hòn non bộ, hồ cá... tạo nên không gian thờ phượng rất thiên nhiên và cũng rất gần gũi với đời sống của người dân. Những bài trí đó vừa mang nét đẹp của văn hóa Việt, vừa góp phần làm cho ngôi Thánh đường đồ sộ hòa mình với cảnh quan tự nhiên của đất trời, cỏ cây mây nước.
    2. Nội thất:
    Bước vào trong Thánh đường, ta sẽ thấy rõ chủ ý của tác giả khi thiết kế ngôi Thánh đường này: đưa bản sắc dân tộc vào trong kiến trúc, nghệ thuật thánh. Điều này thể hiện qua việc thiết kế gian cung thánh và các bài trí bên trong lòng của nhà thờ. Một trong những nét văn hóa tiêu biểu đậm nét trong nội thất ngôi Thánh đường chính là biểu tượng Vuông – Tròn : lòng nhà thờ vuông gian cung thánh tròn, chóp đỉnh vuông - tròn, bàn thờ mặt tròn - chân vuông, Nhà Tạm vuông - tròn, .v.v.
    Ý nghĩa biểu tượng “Vuông - Tròn” trong văn hóa Việt
    Ai trong chúng ta cũng từng một lần nghe câu thành ngữ “Mẹ tròn con vuông”. Mới nghe qua chúng ta thấy có vẻ khá vô lý và đối nghịch nhau, nhưng thành ngữ hàm chứa một ý nghĩa hết sức tốt đẹp, nhằm diễn tả cả hai mẹ con đều khỏe mạnh sau giờ phút mãn nguyệt khai hoa; tức là nói đến một kết quả tốt đẹp đúng như người ta trông đợi. Trong văn hóa Việt nam, hai hình thể “vuông - tròn” trong nhiều trường hợp đi đôi, gắn liền với nhau biểu thị cho một sự kết hợp thuận lẽ trời, và đem đến một kết quả tốt lành, ý nghĩa ấy ta bắt gặp trong sự tích “bánh dày bành chưng” đời vua Hùng.
    Nói một cách triết lý, Vuông Tròn chính là khái niệm về Trời Đất, về Càn Khôn, về Âm Dương. Trong kiến trúc Đông phương, hầu hết các đường nét bao giờ cũng là những đường nét pha trộn giữa Âm và Dương. Bên cạnh những đường thẳng cần thiết phải có, người ta không quên đưa những đường cong, những vòng tròn vào, để tạo nên một tổng thể hài hòa giữa Âm và Dương. Cái mái ngói cong cong, cái cửa sổ tròn tròn.
    Từ khái niệm vuông tròn biểu trưng của Trời Đất, đến khái niệm vuông tròn của Âm Dương: tròn tượng trưng cho Âm tính, vuông tiêu biểu cho Dương tính. Sự kết hợp hài hòa giữa Âm - Dương bao giờ cũng được xem là một kết hợp thuận tự nhiên. Một kết hợp như thế luôn luôn mang lại kết quả tốt đẹp.
    Nhìn chung, Thánh đường Đa Minh - Ba Chuông với bình đồ hình chữ Quốc. Hình vuông làm nền như khung hình Tế Đàn Nam Giao : tượng trưng cho Đất; khung mái bên trên hình tròn tượng trưng cho Trời. Các góc mái nhà thờ cong vút được trang trí rồng bay tượng trưng con đường giải thoát, hướng thượng.

    Click this bar to view the full image.

     

    a. Phù điêu
    Được trưng bày ở tiền sảnh ngôi nhà thờ, các bức phù điêu làm nổi bật sự liên kết giữa tinh thần Kitô giáo và truyền thống văn hóa dân tộc.
    Bên trái là phù điêu Đức Mẹ Mân Côi có khoảng không gian nền với hoa sen tượng trưng cho sự thanh khiết, nguồn nước tượng trưng cho lòng Mẹ bao la. Tất cả những biểu tượng này đều mang tâm thức Việt.
    Bên phải là bức phù điêu Thánh Giuse và Chúa Giêsu trong bối cảnh nền là không gian thuần Việt : ngọn núi, ngôi nhà, bàn mộc - biểu lộ tinh thần vững chãi của người cha lao động; sự công chính và sự cương trực được thể hiện qua hình ảnh khóm tre (trúc), một biểu tượng “tiết trực tâm hư” theo tinh thần Á đông.
    b. Hội họa
    Ba bộ tranh gốm bao bọc ba mặt tầng lửng bên trong nội thất nhà thờ, gồm 15 bức họa sống động, với tổng chiều dài 60 mét, thể hiện sự hòa hợp giữa các gam màu và họa tiết, kết cấu nên một bộ giáo lý bằng tranh sinh động. Qua đó chúng ta có dịp khắc ghi những biến cố quan trọng trong toàn bộ tiến trình Lịch sử của Đạo Công Giáo.Bên cạnh đó, bộ tranh còn diễn đạt sự hình thành và phát triển của hạt giống Tin Mừng cứu độ trên quê hương Việt Nam từ buổi đầu cho đến nay, như một âm vang thể hiện sự trải rộng của ơn cứu độ, vươn tới mọi thời đại và mọi dân tộc.

    Click this bar to view the full image.

     

    Các bức tranh gốm cho thấy một sự đan quyện hài hòa các giá trị nội dung căn bản của Kitô giáo với những giá trị văn hóa dân tộc ẩn chứa trong các họa tiết tiêu biểu : áo dài khăn đống, áo tứ thân, nón lá, bụi chuối, căn nhà Việt và cả con người Việt nữa. Ý nghĩa thiêng liêng của kiến trúc thánh trong Thánh đường thấm sâu vào từng phong cách, khung cảnh và sắc màu làng quê rất Việt.
    (
    http://gxdaminh.net)

    Kể chuyện dời mộ ở Sài Gòn nhân Lễ Vu Lan


    Nhân Rằm tháng bảy, ngày hướng tới vong linh mọi người đã khuất, xin gửi tới bạn đọc những chuyện kể xung quanh việc di dời các nghĩa trang ở Sài Gòn trong thế kỷ trước. Trong đó có nhiều chi tiết ít ai biết tới và ngờ tới.
    Khu vực nội đô TP.HCM tại thời điểm những năm 80 của thế kỷ trước có hàng trăm nghìn ngôi mộ tại các nghĩa trang chính sau: Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi nằm ở đường Điện Biên Phủ cắt với Hai Bà Trưng (địa danh sau giải phóng) tại quận 1, rộng khoảng 7,5ha. Nghĩa trang quân đội Sài Gòn chạy dọc đường Quang Trung ở phường 12, quận Gò Vấp, giáp chợ Cầu.
    Nghĩa trang Chí Hòa rộng khoảng 25ha, trước là nghĩa trang (Đô Thành), nằm ở phường 15, quận 10. Nghĩa trang Bình Thới rộng khoảng 30ha nằm ở đường Lãnh Binh Thăng, quận 11. Nghĩa trang Phú Thọ khoảng 40ha, nằm ở đường Lạc Long Quân, phường 5, quận 1. Nghĩa trang quân đội Pháp nằm ở đường Hoàng Văn Thụ, quận Tân Bình.
    Các nghĩa trang này được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX, dưới chế độ Pháp thuộc, khi quy mô của Sài Gòn - Gia Định còn rất nhỏ. Những năm sau đó, dân cư thành phố nhanh chóng trở nên đông đúc. Và chính quyền đã phải di dời nghĩa trang để "lấy đất xây dựng các công trình phúc lợi, giữ vệ sinh môi trường". Việc di dời được thông báo trước ba tháng. Trước hết là các gia đình tự lo. Nếu gia đình quá nghèo, không thể di dời, thì chính quyền đứng ra thực hiện.
    Nhân Rằm tháng bảy, ngày hướng tới vong linh mọi người đã khuất, xin gửi tới bạn đọc những chuyện kể xung quanh việc di dời các nghĩa trang ở Sài gòn trong thế kỷ trước. Trong đó có nhiều chi tiết ít ai biết tới và ngờ tới.

    Saigon-những kỷ lục

    Continental: Khách sạn cổ nhất TP. HCM
    Là một trong năm địa điểm của TP. HCM được công nhận di tích lịch sử, Khách sạn Continental tọa lạc ở góc ngã tư Công trường Quốc tế - Đồng Khởi. Cổng chính hướng ra đường Đồng Khởi gồm hai số 132 - 134. Khách sạn được xây dựng vào năm 1880, do kiến trúc sư người Pháp thiết kế, và mang tên Continental ngay từ những ngày đầu. Sau ngày giải phóng miền Nam, có thời gian khách sạn đổi tên thành Hải Âu. Đến 1989, khi được chỉnh trang, nâng cấp khách sạn đã lấy lại tên cũ. Continental có diện tích tổng thể 3.430m2, cao 3 tầng. Tuy số phòng không lớn, song diện tích mỗi phòng ở đây cũng thuộc vào loại "kỷ lục", có phòng rộng 80m2 với chiều cao 4m. Nơi đây từng đón tiếp Tổng thống Pháp J. Chirac, Thống đốc bang California, người mẫu Kate Mode và nhà văn Mỹ nổi tiếng Gramham Green. Chính tại phòng 214 của khách sạn là nơi cho ra đời tác phẩm "Quiet American".

    Thảo Cầm Viên, công viên lâu đời nhất TP
    Tính đến tháng 3 năm 1998, Thảo Cầm Viên (TCV) đã có 134 năm tuổi. Khởi công xây dựng vào tháng 3/1864, TCV lúc ban đầu là một công viên rộng 12 ha, do Nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp J.B.Louis Pierre sáng lập và làm Giám đốc đầu tiên. Đến năm 1865, nơi đây được mở rộng thêm 8 ha nữa, và là vườn ươm nhiều giống cây du nhập có giá trị kinh tế cao như cao su, cà phê, ca cao, măng cụt, vú sữa, sầu riêng, xà cừ, dầu rái..., đồng thời người Pháp cũng phát triển ở đây một số vườn thú, vì vậy công viên này được đặt tên là Sở Thú. Đến năm 1924, Sở Thú được mở rộng thêm 13 ha. Năm 1956, chính quyền Sài Gòn cho tu sửa, tái thiết lại và năm 1966 đổi tên thành Thảo Cầm Viên. Từ năm 1989, TCV lại được cải tạo, mở rộng và du nhập thêm nhiều giống mới, trồng thêm một số loài cây quý. Bộ sưu tập thú của TCV hiện có đến 600 đầu thú thuộc 120 loài với tổng diện tích chuồng trại lên đến 21.352m2, ngoài ra còn có 1823 cây gỗ thuộc 260 loài và nhiều loại hoa cây kiểng quý. Năm 1990, TCV là thành viên chính thức của Hiệp hội các vườn thú Đông Nam Á, và đây cũng là một trong những công viên khoa học lớn nhất Đông dương

    Đầm Sen, công viên lớn nhất TP
    Công viên Đầm Sen với tổng diện tích 54 ha, hiện đang giữ kỷ lục công viên lớn nhất TP. Ban đầu chỉ là một ao rao muống, đến năm 1985, hồ được giao về Cty dịch vụ văn hóa tổng hợp Q.11, rồi sau đó là Cty du lịch Q.11 quản lý và được đầu tư trở thành công viên vui chơi giải trí. Từ năm 90, công viên Đầm Sen đã nổi tiếng với nhiều công trình như Hòn non bộ cao 20m, bảo tàng sinh vật biển, vườn chim và nhiều thú quý hiếm. Năm 96, Đầm Sen đầu tư 10 tỉ đồng xây dựng trò chơi Monoray trên không, công trình Nhạc nước, trò chơi Vượt thác, những trò chơi hiện đại đầu tiên ở TP. Ngoài ra, còn có Nhà Xương Rồng (với 30 loại xương rồng, trong đó có loại giá trị lên đến 30 triệu/cây), Nhà hoa ôn đới (20 loại cây trong nhiệt độ 15-20oC), Vườn Nam Tú Thượng Uyển (tập họp những loại cây kiểng cổ quý giá). Trong năm 98, Đầm Sen sẽ được đầu tư thêm ba khu vui chơi hiện đại nữa: Khu trò chơi cảm giác mạnh; Khu Đầm Sen Water Park; Khu du lịch Bồng Lai... Cả ba công trình này sẽ ra mắt vào Tết Âm lịch con Mèo (1999) sắp tới. Hiện nay, trung bình mỗi ngày Đầm Sen đón 4.000 - 5.000 khách đến vui chơi, ngày lễ, chủ nhật từ 15.000 - 20.000 người

    Nhà máy điện xưa nhất TP. HCM
    Nhà máy điện đầu tiên được xây dựng ở Sài Gòn là nhà máy điện Chợ Quán vào năm 1896, địa chỉ tại số 8 Bến Hàm Tử, quận 5. Khởi đầu, nhà máy cung cấp điện công cộng bằng dòng điện ba pha, với công suất chưa tới 120 MW. Máy phát điện chạy bằng hơi nước, có năm lò hơi với 150m2 chứa nước luân lưu. Một máy phát chính công suất 1000 ampères/giờ chuyển động bằng vòng quay để phân phối điện bảo vệ an toàn và kiểm soát dòng điện. Hiện nay nhà máy đã được trang bị hiện đại với bảy máy phát điện, cung ứng phần quan trọng cho lưới điện TP và lưới điện quốc gia.

    New World Saigon - Khách sạn lớn nhất TP. HCM
    Tọa lạc tại số 76 Lê Lai, Q.1, toàn bộ khuôn viên Khách sạn New World Saigon nằm trên phần đất hình tam giác, tiếp giáp giữa ba con đường: Lê Lai, Phạm Hồng Thái và Nguyễn Thái Học. Chính thức hoạt động từ năm 1995, Khách sạn New World Saigon hiện giữ kỷ lục là khách sạn lớn nhất TP với 14 tầng, 543 phòng, trong đó có 27 suite (phòng gia đình) và 32 văn phòng kinh doanh, đầy đủ những tiện nghi hoàn hảo nhất: phục vụ thức ăn suốt ngày tại phòng, hệ thống an toàn, tivi màu, bàn làm việc, mini bar, điện thoại quốc tế trực tiếp... Ngoài ra, còn có Câu lạc bộ thể thao với hồ bơi, sân tennis, sân luyện golf. Tầng trên cùng là những phòng nghỉ cao cấp mang tên Câu lạc bộ Hoàng gia. Tại đây, ngoài những dịch vụ đặc biệt, khách có thể ngắm toàn bộ cảnh quan TP từ độ cao hơn 70m.

    Ngôi đình lâu đời nhất TP
    Đó là Đình Thần Chí Hòa tại 475 Đường Cách Mạng Tháng 8, P.13, quận 10. Đây là ngôi Đình dù chưa xác định được chính xác năm xây dựng, nhưng không ít người đều khẳng định Đình phải có gần 300 năm tuổi. Ngôi Đình cổ kính và lâu đời này từng được Vua Tự Đức đời thứ 5 ban sắc phong ngày 29.11 năm Nhân Tý 1852.
    Nơi đây, Cụ Võ Trường Toản đã từng dạy học, ông đã đào tạo ra nhiều nhân tài cho đất nước, đến nay di bút của ông còn in sâu trên cặp Liễn treo trước chính điện Đình. Phan Xích Long cũng từng mượn Võ ca của Đình để làm nơi dạy võ chống thực dân. Đình Thần Chí Hòa trong thời kỳ chiến tranh cũng là nơi che giấu cán bộ Cách mạng hoạt động bí mật. Ngày 16.2.1997 (Âm lịch) Đình Thần Chí Hòa được Nhà nước CHXHCN Việt Nam công nhận là di tích lịch sử Quốc gia.
    Khi mới ra đời Đình Chí Hòa được làm bằng đá và trước khi được vua Tự Đức ban sắc phong đã được xây dựng lại như ngày nay. Tại Thành phố Hồ Chí Minh Đình Thần Chí Hòa được xếp hạng nhất trong tất cả các Đình hiện có và cũng đứng đầu danh sách 10 Đình Chùa cổ và lâu đời nhất của Thành phố Hồ Chí Minh.

    Lê Quý Đôn: Ngôi trường cổ nhất
    Trường Lê Quý Đôn được xây dựng vào năm 1874 và hoàn tất vào năm 1877. Lúc đầu trường có tên Collège Indigène (Trung học bản xứ) rồi đổi tên thành Collège Chasseloup Laubat. Sau năm 1954, trường mang tên là Jean Jacques Roussean nhưng vẫn do người Pháp quản lý. Đến 1967, trường được trả lại cho người Việt Nam và trở thành Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn. Từ 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, trường mang tên PTTH Lê Quý Đôn. Trải qua hơn một thế kỷ (123 năm), kiến trúc ban đầu vẫn được giữ như xưa, gồm bốn dãy nhà cao hai tầng ghép lại có hình chữ "khẩu". Khuôn viên nguyên thủy của trường gồm cả diện tích của hai trường PTCS Lê Quý Đôn và PTTH Lê Quý Đôn, có hai cổng chính: một quay ra đường Nguyễn Thị Minh Khai và một hướng về Võ Văn Tần.
    Rất nhiều cựu học sinh của trường đã trở thành những nhân vật nổi tiếng như nhà trí thức yêu nước Cao Triều Phát, học giả Nguyễn An Ninh, giáo sư sử học Trần Văn Giàu, nhà nghiên cứu dân tộc học Vương Hồng Sển và nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn.

    Nhà hát cổ nhất thành phố
    Đó là Nhà hát (NH) Lớn (70 Đồng Khởi, Q.1).
    Bắt đầu khởi công xây dựng năm 1989, với nguyên vật liệu chủ yếu từ Pháp đưa sang, phần trang trí bên trong có hoa văn gần giống như các NH lớn ở Pháp cuối TK 19. Ngày 17.1.1990: công diễn buổi đầu tiên và được gọi là Nhà hát Tây. Tại đây đã từng diễn ra buổi diễn thuyết của đại thi hào người Ấn Độ Rabindranath Tagore vào 1929. Năm 1956 được phục hồi làm trụ sở Hạ nghị viện chế độ cũ. Đến 5.1975 trở thành Nhà hát Lớn TP với 750 chỗ ngồi. Là một trong 8 công trình văn hóa chào mừng 300 năm Sài Gòn - TP. HCM, 12.1997 NH được đầu tư trùng tu sửa chữa với kinh phí 25 tỷ 150 triệu. Toàn bộ phần kiến trúc bên ngoài của NH sẽ được phục chế y như cũ, bao gồm các phù điêu, tượng thần âm nhạc, hai người đàn bà đỡ cột bằng đá cẩm thạch cao 4m, mái của NH sẽ được lợp bằng thạch bản pha kẽm. Tuy nhiên để bảo đảm yêu cầu là một NH có chất lượng, NH sẽ chỉ còn hơn 600 ghế với một hệ thống âm thanh, ánh sáng được xử lý bằng máy vi tính. Dự kiến việc trùng tu sửa chữa sẽ hoàn thành cuối 1998.

    Chợ Rẫy, Bệnh viện lớn nhất TP
    Xây dựng năm 1890, khởi đầu bệnh viện có tên là "Nhà thương thành phố Chợ Lớn", đến năm 1919 đổi thành "Nhà thương bản xứ Nam Kỳ". Năm 1938 BV lại đổi tên là "Nhà thương Lalung - Bonnaire". Năm 1957 sau khi sát nhập hai phòng khám Hàm Nghi và Nam Việt, BV đổi tên là Nhà thương Chợ Rẫy. Năm 1971, Nhật xây dựng nơi đây thành một BV mới hiện đại, trên diện tích 53.000m2, đến tháng 6/1974 thì hoàn thành với tên gọi và cấu trúc như hiện nay. Thời Pháp thuộc đây là BV đa khoa có số giường bệnh lớn nhất lúc đó: 647 giường. Hiện nay, đây là BV tuyến TW, cao 11 tầng, 1155 giường với 35 khoa chẩn đoán, điều trị khác nhau. Từ nay đến năm 2000, BV Chợ Rẫy còn được chọn là một trong những trọng điểm đầu tư phát triển thành Trung tâm y tế chuyên sâu phía Nam.

    Thư viện lớn nhất
    Đó là Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. HCM (trước 1975 có tên là Thư viện Quốc gia). Thư viện khánh thành ngày 23.12.1971 và bắt đầu phục vụ người đọc vào đầu năm 72. Tổng diện tích khuôn viên 7.070m2, tiếp giáp bốn đường: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Lê Thánh Tôn, Nguyễn Trung Trực, cổng chính số 69 đường Lý Tự Trọng. Thư viện cao 16 tầng, chia làm hai khối gần như phân biệt: Khối thứ nhất là một dãy nhà dài 71m, ngang 23m gồm tầng hầm, tầng trệt, hai lầu và một sân thượng; Khối thứ nhì nằm giữa, vuông vức và vọt lên như một ngọn tháp, có 14 tầng với chiều cao 43m dành làm kho chứa sách báo. Thư viện hiện có 500.000 đầu sách và 300.000 báo, tạp chí các loại. Năm 1997 đã có 294.248 lượt người đến tham khảo 917.834 lượt tài liệu. Ngoài việc phục vụ nhu cầu đọc sách, báo, tham khảo tài liệu... hiện nay, thư viện mở thêm dịch vụ sao chép tư liệu, tài liệu cổ và những sách báo quý hiếm theo yêu cầu độc giả.

    Nhà Bảo tàng lâu năm nhất TP
    Đó chính là Nhà Bảo tàng Lịch sử Việt Nam nằm trong khuôn viên Thảo Cầm Viên ngày nay. Ngày 24/11/1927, người Pháp cho xây dựng Viện Bảo tàng Blanchard De La Brosse trong khuôn viên Sở Thú theo thiết kế của kiến trúc sư Delaval, với kiểu kiến trúc độc đáo hơi giống tháp cung điện mùa hè Bắc Kinh. Đến năm 1956, chính quyền Sài Gòn đổi tên thành Viện Bảo tàng quốc gia Sài Gòn, trưng bày mỹ thuật của Việt Nam, Chàm, Khmer, Trung Quốc, Nhật Bản và các sắc tộc thiểu số. Năm 1970, bảo tàng được xây dựng mở rộng thêm phần phía sau một dãy nhà hình chữ U do Kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng thiết kế. Năm 1979, Viện bảo tàng lại được đổi tên thành Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và tồn tại đến ngày nay, với 15 phòng trưng bày nhiều hiện vật cổ, phản ánh nền văn hóa của đại gia đình dân tộc VN suốt 4.000 năm dựng nước và giữ nước. Ngoài ra, còn có 6 phòng trưng bày chuyên đề giới thiệu các giai đoạn lịch sử văn hóa ở miền Nam.

    Bức tranh đắt giá nhất
    Bức tranh đắt giá nhất từ xưa tới nay của TP. HCM (và cũng là của cả nước VN) là tác phẩm sơn mài "Vườn xuân Trung Nam Bắc" của cố họa sĩ Nguyễn Gia Trí (1908-1993). HS Nguyễn Gia Trí là bậc thầy lớn nhất về sơn mài, đã có công đưa "sơn ta" (sơn Phú Thọ) từ một chất liệu làm đồ mỹ nghệ cổ truyền phương Đông trở thành chất liệu hội họa nghệ thuật độc đáo của riêng VN từ những năm 30, gọi là "sơn rửa" hay "sơn mài". "Vườn xuân Trung Nam Bắc" gồm 9 tấm kích thước 2mx5,4m được sáng tác kéo dài từ đầu những năm 1970 đến năm 1990, là tác phẩm lớn cuối cùng của cụ Trí. Năm 1990, UBND TP. HCM đã quyết định mua tác phẩm này với giá 600 triệu đồng, tương đương 100.000 USD vào lúc ấy. Tác phẩm thể hiện sự thống nhất đất nước qua cảnh các phụ nữ 3 miền múa hát vui chơi trong thiên nhiên tươi đẹp đầy hoa lá, được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật thành phố.

    Cầu lâu năm nhất TP. Hồ Chí Minh
    Cũng có người cho rằng chiếc cầu lâu năm nhất tại TP. HCM phải là cầu Móng (nằm ở quận 1). Tuy nhiên cây cầu này lại không có hồ sơ lưu trữ ở ngành GTCC, nên cũng thật khó xác định độ tuổi. Hiện tại TP. HCM có nhiều người nhất trí khi cho rằng có một cây cầu lâu năm nhất hiện nay, đó là Cầu Sơn.
    Cầu Sơn được xây dựng từ cuối thế kỷ 18 dưới thời Nhà Nguyễn. Trước đây vùng này chuyên sống bằng nghề trồng Sơn lấy nhựa cung cấp cho nhu cầu của nhà nước phong kiến đương thời, nên cầu khi được xây dựng cũng mang luôn tên cầu Sơn. Cầu Sơn dài 19m, rộng 11m và mỗi bên lề rộng 0,5m.
    Hiện cầu Sơn thuộc ranh giới hai phường 25 và 26 quận Bình Thạnh nằm trên đường Xô Viết Nghệ Tĩnh

    Nhà sách lớn nhất Thành phố
    Nhà sách lớn nhất TP hiện nay không nằm ở các quận trung tâm mà lại ở một quận vùng ven - Nhà sách Cây Gõ, 146 Minh Phụng, Q.6. Tiền thân nơi này là rạp hát Cây Gõ, được UBNDTP ra quyết định chuyển giao cho Cty FAHASA đầu tư 1 tỷ đồng sửa chữa và xây dựng lắp đặt các trang thiết bị làm thành Nhà sách Cây Gõ, khai trương vào ngày 5.6.1998 vừa qua. Nhà sách Cây Gõ hiện là nhà sách lớn nhất TP và có thể lớn nhất nước với diện tích gần 1.000m2. Nhà sách có tổng giá trị hàng hóa 6 tỷ đồng gồm 15.000 tên sách quốc văn, 5.000 tên sách ngoại văn và gian hàng sách thiếu nhi, dụng cụ học sinh, đồ chơi trẻ em, quầy văn hóa phẩm (vidéo, cassette, CD, CD-ROM, VCD...), văn phòng phẩm, dịch vụ in tráng ảnh, khu đọc sách và xem vidéo miễn phí... Ngay ngày khai trương, nhà sách đã đạt doanh số kỷ lục - gần 80 triệu đồng. Từ tháng 6 - 8.1998, nhà sách giảm 10% giá đối với các học sinh giỏi khi mua sách giáo khoa, sách tham khảo và 5% khi mua dụng cụ và tập học sinh của FAHASA. Đối với các khách hàng khác, nhà sách giảm 5% giá bằng hiện vật.

    An Bình: Bệnh viện cổ nhất
    Bệnh viện miễn phí An Bình tọa lạc trên một khu đất rộng 17.361m2 ở đường An Bình, quận 5. Khởi thủy, nơi đây là một ngôi chùa của người Trung Hoa, được xây cất từ năm 1829. Tại đây đã có những hoạt động y tế nhân đạo, khám và điều trị miễn phí cho nhân dân dựa vào nền tảng y học cổ truyền. Do nhu cầu về dịch vụ y tế của nhân dân ngày càng tăng, vào năm 1916 Bệnh viện được chính thức xây dựng. Đến 1945 Bệnh viện đưa vào sử dụng và có tên là Bệnh viện Triều Châu. Sau nhiều lần sửa chữa, nâng cấp, Bệnh viện đã có bộ mặt như ngày nay. Năm 1978, Bệnh viện được công lập hóa trở thành bệnh viện đa khoa với tên gọi An Bình.
    Ngày 19.5.1994, Bệnh viện An Bình lại nhận một trách nhiệm mới "chăm sóc sức khỏe cho nhân dân lao động nghèo của Thành phố". Và từ đó đến nay bệnh viện mang tên "Bệnh viện miễn phí An Bình".

    Nữ quân nhân cao tuổi nhất
    Đó là nữ kiệt miền Đông, bà đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Thị Bi, tên thật là Hồ Thị Hoa. Bà sinh ngày 25.4.1916 tại xã Tân Hiệp, quận Hóc Môn. Tham gia Cách mạng ở tuổi hai mươi, khởi đầu là hoạt động trong Hội Ái Hữu (1936). Cũng năm này, được kết nạp vào Đảng. Cách mạng Tháng Tám 1945, là Đoàn trưởng Ban tiếp tế của quận, thành lập "Ban trừ tà" thuộc Chi đội 12. Năm 1948 là trưởng Ban công tác số 12, đại đội trưởng Đại đội 2804, kiêm tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 935 trực thuộc E 312 Gia Định Hóc Môn với nhiệm vụ chính là trừ gian diệt tề, binh vận, bảo vệ nhân dân. Do có nhiều công lao trong việc xây dựng lực lượng vũ trang, tổ chức kinh tế tự túc nuôi quân, 1950 được Bác Hồ tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng I, Huân chương Quân công hạng III. Sau khi tập kết ra miền Bắc 1954, công tác tại Ban đón tiếp đồng bào miền Nam, Cục Cán bộ, Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng. Trước khi nghỉ hưu 1976, là Phó Chủ nhiệm chính trị Bộ Tư lệnh TP. Hồ Chí Minh. Bà là một trong những người thành lập Hội Cựu chiến binh TP, Tổ ghi sử - Bảo tàng phụ nữ Nam bộ, nghĩa trang Tân Xuân. Được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng II, Lao động hạng I, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

    NS ưu tú Phùng Há - Nữ nghệ sĩ cao tuổi nhất
    Nữ nghệ sĩ Phùng Há sinh năm 1911, hiện là bậc cao niên trong làng nghệ sĩ (87 tuổi). Tên thật là Trương Phụng Hảo, sinh quán tại xã Điều Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang). Năm 23 tuổi (1924), Phụng Hảo trở thành cô đào của Tái Đồng Ban với cái tên Phùng Há. Kể từ thời điểm đó, cô theo các gánh hát thầy Nam Tú, gánh Huỳnh Kỳ, Trần Đắc. Năm 1935, nữ nghệ sĩ hợp tác với nghệ sĩ Năm Phỉ lập đoàn Phi Phụng, rồi một năm sau lại lập tiếp Đoàn Phụng Hảo. Bà từng cộng tác với các nghệ sĩ như Năm Giao, Ba Vân... lập ra nhiều đoàn cải lương khác. Nổi tiếng với nhiều vai diễn trong các vở: "Đêm không ngày", "Đời cô Lựu", "Mộng Hoa Vương", "Mạnh Lệ Quân thoát hài" , "Tô Ánh Nguyệt", "Phụng Nghi Đình", "Giọt máu chung tình".
    Không chỉ là một nghệ sĩ ưu tú, bà còn là một nhà hoạt động xã hội (Hội trưởng Hội Ái Hữu). Trước giải phóng, bà từng tham gia lãnh đạo anh em văn nghệ sĩ biểu tình buộc địch phải trả tự do cho nghệ sĩ Năm Châu (1954), hay cùng soạn giả Trần Hữu Trang đấu tranh chống sa thải công nhân Ba Son (1951). Hiện nay, nữ nghệ sĩ tuy cao tuổi nhưng vẫn thuộc Ban Quản Trị chùa Nghệ Sĩ, là nơi lo về đời sống vật chất, tinh thần cho những nghệ sĩ già không nơi nương tựa.

    Người có nhiều thơ được phổ nhạc nhất ở TP. HCM
    Đó là nhà thơ Dương Xuân Định, sinh năm 1955, hiện đang công tác tại LĐLĐ TP. Hồ Chí Minh. Dương Xuân Định đến với thơ ca từ năm 1967, nhưng phải nói từ năm 1987 đến nay, anh mới thật sự khẳng định mình trong làng thơ của TP. HCM. Khiêm tốn, không ồn ào, những bài thơ của Dương Xuân Định mang đậm chất lãng mạn, hồn nhiên của thời hoa niên. Với anh, một chút nắng hồng, đôi tà áo xanh thiếu nữ, một vầng mây bạc trôi cuối trời xa... cũng trở thành những kỷ niệm ngọt ngào, để rồi một ngày nào đó, tất cả bỗng rạt rào thành những vần thơ thật dễ thương. Cho nên, cũng thật dễ hiểu tại sao có nhiều nhạc sĩ đã phổ nhạc vào thơ anh. Dương Xuân Định đã xuất bản được 3 tập thơ. Và, 52 bài thơ của anh đã được các nhạc sĩ phổ nhạc. Trong đó, có những bài rất nổi tiếng như: Một chút gì để nhớ (nhạc sĩ Nguyễn Văn Hiên, ca sĩ Thủy Tiên), Chiều vàng (nhạc sĩ Lê Châu, ca sĩ Quỳnh Lan), Giông bão riêng anh (nhạc sĩ Lý Dũng Liêm, ca sĩ Tuấn Phong), Chia xa (nhạc sĩ Lý Dũng Liêm, ca sĩ Tuấn Phong)... Sắp tới, Dương Xuân Định sẽ xuất bản một tập gồm 30 ca khúc được phổ nhạc từ thơ anh.

    Đền tưởng niệm liệt sĩ lớn nhất
    Đó là Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược nằm trong khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi ở xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi, cách trung tâm TP. Hồ Chí Minh 70 cây số về phía Bắc. Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược khởi công xây dựng ngày 19.5.1993 trên một khu đất rộng 7 ha ven sông Sài Gòn, khánh thành ngày 19.12.1995. Kinh phí xây dựng 21 tỷ đồng, một phần do nhân dân TP. HCM và các tỉnh bạn đóng góp. Đền gồm có 5 hạng mục: cổng tam quan, nhà văn bia, tháp 9 tầng, hoa viên và đền chính. Hơn 47.000 liệt sĩ hy sinh trên đất Sài Gòn - Gia Định trong hai cuộc kháng chiến được khắc tên chữ mạ vàng lên bia đá hoa cương đặt trong đền. Các ngày lễ, cán bộ, nhân dân TP đến đền thắp hương tưởng nhớ các liệt sĩ. TP. HCM cũng đã lấy ngày 19.12 hàng năm làm ngày lễ hội tưởng nhớ và tri ân các liệt sĩ SG-GĐ tại Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược - Củ Chi.

    Nhà giáo cao niên nhất
    Giáo sư Ngô Gia Hy sinh ngày 16.6.1916, tại Tam Sơn, Bắc Ninh. Ông tốt nghiệp trường Đại học Y khoa năm 1948, đã làm việc và giảng dạy tại nhiều trường đại học y dược ở Hà Nội, Sài Gòn. Ông đã từng đảm trách nhiều chức vụ quan trọng như UVBCH Tổng hội Y Dược học Việt nam, Chủ tịch Hội Niệu thận học TP. HCM, Chủ tịch Chi hội Y học dân tộc Việt Nam... Ngoài ra ông còn là thành viên của Hội Niệu học quốc tế. Ông được phong danh hiệu giáo sư năm 1984. Năm nay, ở tuổi ngoài 80, GS, BS Ngô Gia Hy vẫn còn khỏe mạnh và tiếp tục giảng dạy ở Trung tâm bồi dưỡng cán bộ Y tế TP. HCM, là hiệu trưởng trường ĐH dân lập Hùng Vương và là Tổng biên tập của tập san: Thời sự y dược học TP. HCM, phụ bản Y học cho mọi người.
    GS, BS Ngô Gia Hy được Nhà nước phong danh hiệu cao quý: Nhà giáo Ưu tú, vì sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Sắp tới giáo sư sẽ cho xuất bản nhiều tác phẩm nghiên cứu khoa học có giá trị như: "Kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trên cơ sở dịch lý", "Y đức và sinh học", "Toàn tập niệu học".

    Trần Tuấn Anh - Cây vợt bóng bàn cao niên nhất
    Danh thủ bóng bàn (BB) Trần Tuấn Anh sanh năm 1949, thường trú tại 352 Ter đường Nguyễn Trãi - quận 1 TP. HCM, là cây vợt có tuổi đời lớn nhất. Trần Tuấn Anh là tay vợt có lối đánh cắt bóng xa bàn, sử dụng mặt vợt phản xoáy gai ngửa. Với phong cách thi đấu trầm tĩnh, khuôn mặt lạnh như tiền, anh Tuấn Anh đã làm nhiều danh thủ tên tuổi trong nước dở khóc dở cười. Mặc dù năm nay vừa tròn 49 tuổi, nhưng Tuấn Anh vẫn là cây vợt chủ lực trong đội hình BB Tiền Giang, tranh chức Á quân Giải VĐTQ và Các đội mạnh toàn quốc năm 1996. Tại giải Vô địch toàn quốc (VĐTQ) 98, Tuấn Anh tiếp tục đạt danh hiệu VĐV cấp Kiện tướng và suýt nữa Tuấn Anh được tuyển vào Top 12 cây vợt xuất sắc nhất nước. Nhất là đối với các VĐV trẻ, tính đến nay anh vẫn là "khúc xương khó nuốt". Mấy năm gần đây, anh đã đoạt nhiều giải thưởng lớn như 2 lần Huy chương Vàng đôi nam nữ (cùng Lê Thị Kim Tiếng năm 87 và Lê Ngọc Phương Lan năm 92), Huy chương Bạc đôi nam nữ năm 1997 cùng Nguyễn Bích Ngọc (Hà Nội) , vô địch đồng đội nam giải Cây vợt vàng năm 1988 tại Nhà thi đấu Phan Đình Phùng, cùng Nguyễn Vinh Hiển, Trần Quốc Cường và Vương Hùng Khánh (đội Công an Nhân dân).

    Nữ võ sư cao niên nhất
    Nữ võ sư Phạm Cô Gia sinh năm 1903 tại xã Tăng Nhơn Phú, huyện Thủ Đức, trong một gia đình ba đời đều theo nghiệp võ. Với lòng say mê võ thuật và một tư chất thông minh, bà được thân phụ cho học võ từ năm lên 9. Sau 5 năm học, bà đã thuần phục nhiều môn Kinh khí và quyền thuật của dòng họ Phạm. Năm 18 tuổi, bà đã được thân phụ cho đứng lớp dạy võ tại võ đường Phạm Tăng Đại. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bà đã từng tham gia vào tiểu đoàn quyết tử thuộc khối vũ trang Biệt động đặc khu SG. Sau khi thân phụ mất bà thành lập võ phái "Phạm gia". Hiện bà sống trong một căn nhà nhỏ sau lưng chợ Nhỏ huyện Thủ Đức. Năm nay bà đã 95 tuổi nhưng giọng nói vẫn sang sảng đầy hào khí với đôi mắt sáng, khuôn mặt phúc hậu và điệu bộ linh hoạt. Hàng này bà vẫn luyện tập khí công để giữ gìn sức khỏe và tiếp tục đào tạo những lớp võ sĩ kế tục cho đất nước.

    Sương Nguyệt Anh (1864 - 1921)
    Tên thật là Nguyễn Xuân Khuê, con gái của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu.
    Bà học giỏi, thường làm thơ bằng chữ Hán hay quốc ngữ, bày tỏ tâm sự trước cảnh nước mất nhà tan, nhân dân lầm than đau khổ.
    Năm 1918 bà làm chủ bút tuần báo Nữ Giới Chung (xuất bản ở Sài Gòn), trở thành người phụ nữ Việt Nam đầu tiên là chủ bút tờ báo của giới phụ nữ nước ta.

    Nguyễn Thái Bình

    Sinh 14-1-1948 tại Cần Giuộc, Long An. Mười giờ sáng ngày 2-7-1972 khi chiếc Boeing 747 mang số hiệu 841 của hãng hàng không Liên Mỹ PAN AM vừa đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất, Nguyễn Thái Bình đã bị William H. Mills, nhân viên cơ quan tình báo Mỹ CIA, cùng đi trên máy bay bắn 4 phát đạn vào ngực rồi ném xác anh xuống đường băng.
    Hai tháng trước đó, Nguyễn Thái Bình tốt nghiệp kỹ sư công nghiệp thực phẩm và ngư nghiệp với hạng danh dự tại Viện đại học Washington. Được cấp học bổng Leadership đi du học tại Mỹ từ năm 1968, anh luôn nghĩ về đất nước mình, dân tộc mình. Anh tham gia các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam, viết nhiều bài báo (bằng tiếng Việt và tiếng Anh) tố cáo những tội ác mà quân viễn chinh Mỹ gây ra cho đồng bào mình, làm thơ, vẽ tranh, sáng tác nhạc bày tỏ khát vọng độc lập và hòa bình của nhân dân Việt Nam. Đặc biệt trong lễ phát bằng tốt nghiệp đại học (5-1972) anh công bố tài liệu Nợ máu (Blood Debt), lên án Chính phủ Mỹ đã gây ra bao đau thương, chết chóc và tàn phá trên quê hương anh. Trong thư ngỏ gửi Tổng thống Mỹ Richard M. Nixon đề ngày 1-7-1972 tức một ngày trước khi hy sinh, Nguyễn Thái Bình viết: "[Tôi] trở về Việt Nam để đứng trong hàng ngũ nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc... Không một vũ khí nào, không một đe dọa nào có thể khiến tôi chùn bước... Nếu tôi có bị giết thì cả triệu người Việt Nam sẽ thay thế tôi chiến đấu cho tới ngày nào chúng tôi chấm dứt được cuộc chiến vô luân, vô nhân đạo này".

    Nguyễn Hữu Cảnh (tức Nguyễn Hữu Kính, 1650 - 1700)
    Quê gốc ở Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
    Năm 1692 ông làm Tổng binh, lập trấn Thuận Thành (Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay), sau làm Trấn thủ dinh Bình Khang (Khánh Hòa ngày nay). Năm 1698, ông được cử làm Thống suất vào Nam Kinh lược thành lập các đơn vị hành chính, xây dựng bộ máy chính quyền các phủ, dinh, huyện, chiêu tập dân khai khẩn đất hoang, lập làng, xóm. Ông được phong tước Lễ Thành Hầu và Vĩnh An Hầu. Sau khi qua đời, ông được nhiều địa phương ở Nam Bộ thờ làm Thành hoàng.

    Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888)Quê làng Tân Khánh, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định. Đỗ tú tài trường thi Gia Định lúc 21 tuổi. Ra Huế học thêm để chờ khoa thi Kỷ Dậu 1849. Bỗng được tin mẹ mất, ông trở về chịu tang, dọc đường bị bệnh rồi mù cả đôi mắt. Ông về Gia Định dạy học. Pháp chiếm Gia Định ông lui về Ba Tri, tỉnh Bến Tre, tiếp tục dạy học và làm thuốc. Liên hệ mật thiết với nghĩa binh Trương Định. Tích cực dùng văn chương khơi dậy lòng yêu nước của sĩ phu và nhân dân.

    Nguyễn Văn Cừ
    Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, sinh ngày 9-7-1912. Quê Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
    Năm 1930, ông làm Bí thư đầu tiên đặc khu Hòn Gai - Uông Bí, năm 1937 dự Hội nghị Trung ương tại Bà Điểm, Hóc Môn, Gia Định và được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng.
    Năm 1938, ông được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương.
    Mùa thu năm 1939, ông vào Sài Gòn cùng các ông Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu... mở Hội nghị Trung ương lần thứ 6. Tháng 6-1940, ông bị bắt tại đường Nguyễn Tấn Nghiệm, Sài Gòn. Ngày 28-8-1941, ông bị thực dân Pháp xử bắn tại Bà Điểm - Hóc Môn.

    Lê Văn Duyệt (1763 - 1832)
    Quê Quảng Ngãi. Từ 1780 theo Nguyễn Ánh chống Tây Sơn. Tổng trấn Gia Định năm 1813, năm 1816 triều đình triệu về kinh, năm 1820 trở lại làm Tổng trấn Gia Định, năm 1832 mất tại chức. Là người có công lớn trong việc khai hoang lập ấp ở đất Gia Định. Tại xã Bình Hòa nay là quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh còn phần mộ ông - Lăng đức Tả quân, Lăng Thượng Công hay Lăng Ông Bà Chiểu.

    Nguyễn Cửu Đàm
    Giữ chức Điều khiển. Năm 1772, ông cầm quân đánh đuổi đạo quân Xiêm (do chính Vua Xiêm Trịnh Quốc Anh chỉ huy) ra khỏi lãnh thổ Cao Miên, giải phóng các thành Nam Vang, La Bích. Về lại Gia Định, ông cho xây lũy Bán Bích dài 15 dặm để bảo vệ Sài Gòn.

    Lê Quang Định (1759 - 1813)
    Hiệu Cấn Trai, quê huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Học với Võ Trường Toản, kết bạn với Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, được người đương thời xưng tặng là Gia Định Tam gia, lập Thi xã Bình Dương, được sĩ phu đường thời khen ngợi. Năm 1788, Nguyễn Ánh chiếm Gia Định, mở khoa thi, ông và Trịnh Hoài Đức trúng tuyển, được cử làm Hàn Lâm viện chế cáo, rồi thăng đến Thượng thư bộ Binh, Thượng thư bộ Hộ. Biên soạn Hoàng Việt nhất thống địa dư chí. Ông mất năm Quý Dậu 1813.

    Nguyễn Huỳnh Đức (? - 1819)
    Danh tướng đời Gia Long, tên thật Huỳnh Tường Đức, vì lập công lớn nên được mang họ vua. Quê Thủ Thừa, Long An, làm Hiệp Tổng trấn Gia Định cùng với Trịnh Hoài Đức

    Thích Quảng Đức (1897 - 1963)
    Tên thật là Lâm Văn Tuất còn có tên là Nguyễn Văn Khiết, quê Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Sinh năm 1897. Ngôi chùa cuối cùng ông trụ trì là chùa Quan Thế Âm (nay ở 90 đường Thích Quảng Đức, thành phố Hồ Chí Minh). 11-6-1963, trong cuộc tuần hành của trên 1.000 vị tăng sĩ và giới lãnh đạo Giáo hội Phật giáo miền Nam chống đế chế độc tài Ngô Đình Diệm, tại ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt (nay là góc đường Nguyễn Đình Chiểu - Cách Mạng Tháng Tám), ông tự thiêu đòi bình đẳng tôn giáo, chống đàn áp Phật giáo và đòi dân sinh dân chủ.

    Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825)
    Vốn gốc người tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, đến đời ông nội là Trịnh Hội sang nước ta ngụ ở Phú Xuân (Huế), sau vào Biên Hòa lập nghiệp. Làm quan với chúa Nguyễn Ánh, làm đến Thượng thư bộ Lại kiêm bộ Hình và Phó tổng tài Quốc sử quán. Ông nổi tiếng văn chương một thời, cùng Lê Quang Định và Ngô Nhân Tịnh được người đời xưng tặng là Gia Định Tam gia trong nhóm Bình Dương Thi xã. Ông là tác giả tác phẩm Gia Định thành thông chí.

    Phạm Thế Hiển (1803 - 1861)
    Quê Đông Quan, Nam Định. Năm 1829, đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ. Khi giặc Pháp xâm lược miền Nam, ông cùng vào Nam với Tổng đốc quân vụ Nguyễn Tri Phương, chống giữ đại đồn Chí Hòa. Năm 1861, giặc Pháp tấn công ác liệt, đánh chiếm được Gia Định. Nguyễn Tri Phương lui binh về giữ Biên Hòa. Ông bị thương và mất sau đó.

    Hồ Hảo Hớn (1926 - 1967)
    Bí danh Hai Nghị, sinh tại Bến Tre. Năm 1962 là Bí thư Ban cán sự sinh viên học sinh Sài Gòn, 1965 là Phó Bí thư Khu đoàn Sài Gòn - Gia Định, rồi Bí thư Thành đoàn Thanh niên Lao động (1967). Tháng 10-1967, bị giặc bắt ở gần bót Bà Hòa và hy sinh tại đây

    Phan Văn Hớn
    Quê ở Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh). Đêm 8 rạng ngày 9-2-1885, ông cùng Nguyễn Văn Quá lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở vùng 18 Thôn Vườn Trầu, đánh chiếm quận Hóc Môn, giết tay sai đầu sỏ Đốc phủ Trần Tử Ca, sau đó kéo xuống đánh Sài Gòn, nhưng giữa đường bị quân Pháp chặn lại. Cuộc khởi nghĩa tan vỡ. Ông bị bắt và xử tử hình cùng với Nguyễn Văn Quá và một số người khác vào sáng ngày 30-3-1886.

    Nguyễn Văn HưởngÔng Nguyễn Văn Hưởng (tức Nguyễn Thành Tâm), sinh ngày 24-12-1906, quê xã Mỹ Long Xuyên (nay là tỉnh An Giang), ông tốt nghiệp tiến sĩ y khoa tại Pháp năm 1932, ông tham gia hoạt động cách mạng năm 1945, vào Đảng CS ngày 3-7-1953. Năm 1945, Thành viên Hội đồng Cố vấn ủy ban Nhân dân Nam Bộ; tháng 9-1945, là Trưởng ban Y tế và bào chế của sở Y tế Nam Bộ. Tháng 3-1946, làm công tác vận động trí thức, tiếp tế thuốc cho khu 7 để săn sóc cán bộ hoạt động nội thành và ở khu về. Tháng 6-1947, là ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ; kiêm Giám đốc Sở Y tế quân dân Nam Bộ. Tháng 3-1955, là Trưởng đoàn đại biểu nhân dân Nam Bộ đi dự Hội nghị châu Á tại Niu Đê-li (Ấn Độ). Tháng 7-1955, là Giám đốc Bệnh viện 303. Tháng 1956, là Giám đốc Viện Vi trùng học. Năm 1958, được phân công kiêm Giám đốc Viện nghiên cứu Đông y. Năm 1959, là Giám đốc Viện nghiên cứu Đông y. Tháng 4-1969, được bổ nhiệm giữ chức vụ Bộ trưởng Y tế. Tháng 5-1970, ông được Ban Bí thư Trung ương Đảng chỉ định là Bí thư Đảng Đoàn Bộ Y tế. Năm 1956, ông là ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội. Năm 1960, ông là Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Năm 1964- 1971, ông là Phó Chủ tịch ủy ban Thường vụ Quốc hội, là Đại biểu Quốc hội khóa I, II, III.
    Ông là ủy viên Chủ tịch Đoàn UBT.Ư Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
    Do công lao và thành tích đối với cách mạng, ông đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Anh hùng Lao động, Huân chương Độc Lập hạng nhất và nhiều Huân chương, Huy chương cao quý khác. (Theo báo Tuổi Trẻ số 92/98 ngày 8/8/1998)

    Nguyễn Thị Minh Khai (1910 - 1941)
    Quê Vĩnh Yên, Nghệ An. Năm 1927, gia nhập Đảng Tân Việt. Năm 1930, sang Trung Quốc làm việc ở Văn Phòng Đông Dương Bộ Quốc tế Cộng sản.
    Năm 1936, tham gia Xứ ủy Nam Kỳ, làm Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn. 30-7-1940 bà bị địch bắt. Ngày 28-8-1941, bà bị xử bắn cùng các đồng chí Võ Văn Tần, Nguyễn Văn Cừ tại Hóc Môn.

    Trần Tuấn Khải (1895 - 1983)
    Nhà thơ, bút hiệu Đông Minh Đông Á Thị, Á Nam, quê làng Quán Xán, huyện Mi Lộc, tỉnh Nam Định.
    Sau năm 1954, ông sống ở Sài Gòn và làm việc tại Thư viện quốc gia, Viện khảo cổ, chuyên viên Hán học tại Nhà văn hóa. Ông góp mặt trong các phong trào chống văn hóa đồi trụy, tranh đấu đòi hòa bình, dân sinh, dân chủ. Năm 1966, ông cùng một số trí thức tiến bộ ký tên yêu cầu chính quyền Sài Gòn hiệp thương với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, nên bị buộc nghỉ việc. Sau đó ông làm Chủ tịch danh dự Lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc.

    Lê Văn Khôi (? - 1835)
    Dũng tướng đời Minh Mạng, con nuôi Tả quân Lê Văn Duyệt, Tổng trấn thành Phiên An; làm Phó Vệ úy. Lê Văn Duyệt mất (năm 1832), Nguyễn Văn Quế thay làm Tổng đốc cùng Bố chánh Bạch Xuân Nguyên vu nhiều tội cho Tả quân, ông cũng bị ngồi tù. Ông phá ngục dấy binh chiếm thành Gia Định, bắt giết Nguyễn Văn Quế và Bạch Xuân Nguyên, tự xưng là Bình Nam Đại nguyên soái. Tháng 7-1935, cuộc nổi loạn bị dẹp tan. Hơn 1.830 người bị giết gom chung vào một huyệt, gọi là mả ngụy (nay còn dấu vết ở phía Tây thành phố Hồ Chí Minh).

    Trương Minh Ký (1855 - 1900)
    Quê làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc quận 5, thành phố Hồ Chí Minh). Một trong những người Việt Nam đầu tiên được đi du học ở Lycée de Anger thuộc Pháp. Dạy tại các trường Chasseloup Laubat, trường Thông ngôn tại Sài Gòn. Là cộng tác viên thường trực của Trương Vĩnh Ký cho tờ Gia Định báo. Sau đó, ông làm chủ bút tờ này. Trương Minh Ký là một trong những người Việt Nam sử dụng chữ quốc ngữ sớm nhất trong việc trước tác, nghiên cứu.

    Trương Vĩnh Ký (1837 - 1898)
    Tự là Sĩ Tải, tên thánh Petrus Jean-Baptiste, quê ở Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, tỉnh Vĩnh Long. Thông thạo 15 sinh ngữ. Là Hội viên Hội nhân chủng học và khoa học miền Tây nước Pháp, Hội chuyên học nói tiếng phương Đông, Hội chuyên khảo văn hóa Á châu... Chủ bút tờ Gia Định báo (1868). Ông trước tác nhiều thể loại và có nhiều công trình nghiên cứu đồ sộ về học thuật. Năm 1898, ông mất, để lại cho đời hơn 100 bộ sách giá trị. Đặc biệt là bộ Từ điển danh nhân An Nam, bộ Thông loại khóa trình do ông chủ biên xuất bản được 18 tập có giá trị về văn học cổ Việt Nam.

    Nguyễn Hiến Lê (1912 - 1984)
    Quê Quảng Oai, Sơn Tây. Sau Cách mạng Tháng Tám dạy học ở Long Xuyên, năm 1952 lên Sài Gòn mở nhà xuất bản, sống bằng ngòi bút. Trong đời cầm bút của mình, ông đã xuất bản được đúng 100 bộ sách về nhiều lĩnh vực văn học, ngôn ngữ học, triết học, giáo dục. Những năm 1960, chính quyền Sài Gòn đã tặng ông "Giải thưởng văn chương toàn quốc" với một ngân phiếu lớn (tương đương mấy chục lượng vàng), ông đã công khai từ chối với lý do "dùng tiền ấy để giúp nạn nhân chiến tranh" và bản thân tác giả không hề tranh giải.

    Châu Văn Liêm
    Sinh ngày 29-6-1902, quận Ô Môn, tỉnh Cần Thơ. Tốt nghiệp Sư phạm Sài Gòn. Tham gia cải tổ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội để thành lập Đảng Cộng sản. Ngày 4-5-1930, ông lãnh đạo cuộc biểu tình hàng nghìn quần chúng từ Đức Hòa lên Chợ Lớn, hô hào đòi giải phóng dân tộc, giảm sưu thuế..., bị Pháp bắn chết lúc 28 tuổi.

    Nguyễn Văn Linh (1.7.1915 - 27.4.1998)
    Ông Nguyễn Văn Linh, tên thật là Nguyễn Văn Cúc, sinh ngày 1 tháng 7 năm 1915 trong một gia đình công chức tại xã Gia Phạm, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên. Ông tham gia hoạt động Cách mạng từ năm 14 tuổi trong phong trào học sinh và công nhân, được kết nạp vào Đảng CS Đông Dương năm 1936.
    Ông đã hai lần bị thực dân Pháp bắt và đày ra Côn Đảo (lần I: 1930-1936, lần II: 1941-1945).
    Gần 70 năm liên tục hoạt động Cách mạng, ông đã đảm nhận nhiều nhiệm vụ quan trọng, trong đó có những chức vụ Bí thư Đặc khu ủy Sài Gòn - Gia Định. Bí thư Trung ương Cục, Bí thư Thành ủy TP. HCM. Từ tháng 12-1986 đến tháng 6-1991, ông được bầu làm Tổng Bí thư BCH T.Ư Đảng CS Việt Nam. Sau đó được cử làm Cố vấn BCH T.Ư Đảng.
    Ông từ trần vào hồi 8 giờ 12 phút ngày 27 tháng 4 năm 1998 tại TP. Hồ Chí Minh, thọ 83 tuổi. Tên tuổi và sự nghiệp Cách mạng của ông đã gắn liền với sự nghiệp Cách mạng Giải phóng Dân tộc, sự nghiệp xây dựng XHCN, sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhân dân ta.

    Phan Xích Long (1898 - 1916)
    Tên thật là Phan Phát Sanh, sinh tại Chợ Lớn. Từ 1911, cùng Nguyễn Hữu Trí và Nguyễn Văn Hiệp, tổ chức một hội kín. Tự tôn là Phan Xích Long Hoàng đế, lập căn cứ ở núi Thất Sơn. Đêm 23 rạng ngày 24-3-1913, họ ném bom và tạc đạn ở Sài Gòn và Chợ Lớn, nhưng bom không nổ và kế hoạch đã bị lộ trước đó. Phan Xích Long trước đó 2 ngày đã bị bắt ở Phan Thiết. Ông bị giam ở Khám lớn Sài Gòn. Đêm 16-2-1916, khoảng 300 hội viên kín ở Gia Định, Chợ Lớn, Biên Hòa, Thủ Dầu Một tay cầm gươm mác xông vào phá ngục. Pháp thẳng tay khủng bố giết chết tại trận nhiều chiến sĩ. Sau đó đưa 38 người, trong đó đứng đầu là ông, xử bắn tại đồng Tập Trận.

    Thái Văn Lung (1916 - 1946)
    Sinh tại huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh) trong một gia đình trí thức theo đạo Thiên Chúa. Tốt nghiệp cử nhân luật khoa tại Đại học Paris (Pháp), ông về nước làm luật sư tại Tòa thượng thẩm Sài Gòn. Trong giai đoạn tiền khởi nghĩa, ông tham gia thành lập Thanh niên Tiền phong, phụ trách trưởng ban huấn luyện quân sự của tổ chức này. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được nhân dân bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I.
    Pháp trở lại xâm lược nước ta, ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến huyện Thủ Đức, chỉ huy Lực lượng vũ trang của huyện (mà nhân dân quen gọi là bộ đội Thái Văn Lung). Trong một trận đánh, ông bị giặc bắt. Chúng tìm mọi cách dụ dỗ mua chuộc nhưng ông vẫn giữ vững khí tiết của nhà trí thức yêu nước. Ông bị tra tấn đến chết khi mới tròn 30 tuổi

    Hồ Chí Minh (1890 - 1969)
    Tức Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lãnh tụ cách mạng Việt Nam, người sáng lập Đảng Cộng sản Đông Dương, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lúc còn nhỏ có tên là Nguyễn Sinh Cung. Trong nhiều năm hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và nhiều tên khác (Lý Thụy, Anh Ba, Vương Sơn Nhi, Chàng Vương, Tống Văn Sơ, Hồ Quang, Thầu Chín). Con cụ phó bảng Nguyễn Sinh Huy (Nguyễn Sinh Sắc) và bà Hoàng Thị Loan, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
    Ông xuất thân trong một gia đình Nho học yêu nước, thuở nhỏ thông minh, hiếu học. Đến tuổi thiếu niên theo thân phụ vào Huế học tại Trường tiểu học Đông Ba, Trường Trung học Quốc học. Đầu năm 1911 ông bỏ học với ý định ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Trên đường vào Sài Gòn ông ghé Phan Thiết (thủ phủ tỉnh Bình Thuận, nay thuộc tỉnh Bình Thuận), dạy học một thời gian ngắn tại Trường Dục Thanh do các nhà yêu nước lập ra. Sau ông vào Sài Gòn lấy tên là anh Ba làm phụ bếp cho tàu buôn Amiral Latouche Tréville, rồi sang Pháp tìm hiểu tình hình thế giới. Tại đây ông liên hệ mật thiết với nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường... và đến các nước Anh, Đức, Mỹ một thời gian.
    Năm 1917, ông tham gia Đảng Xã hội Pháp, lập Hội những người Việt Nam yêu nước để tuyên truyền và giác ngộ Việt kiều Pháp. Năm 1918 ông cùng các nhà yêu nước khác gửi đến Hội nghị Versailles một yêu sách gồm 8 điểm đòi tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của người Việt Nam với tên là Nguyễn Ái Quốc.
    Năm 1921, ông tham gia Đảng Cộng sản Pháp. Tại Đại hội lần thứ 2 của Đảng Cộng sản Pháp (1923) ông được cử tham gia Chủ tịch đoàn Đại hội. Ở đây ông và các đồng chí khác xuất bản tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Cuối năm 1923 ông sang Liên Xô với tư cách là đại biểu của nông dân các nước thuộc địa. Tại hội nghị Quốc tế nông dân ông được bầu vào Ban chấp hành Quốc tế nông dân. Trong thời gian này ông làm việc ở Quốc tế Cộng sản và viết bài cho các báo Sự Thật, Thư tín Quốc tế.
    Cuối năm 1924, ông về Quảng Châu (Trung Quốc) với tên là Lý Thụy công tác trong phái đoàn Brodine (cố vấn Liên Xô bên cạnh chính phủ Quốc dân đảng Trung Quốc). Tại đây ông sáng lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội tập hợp các nhà yêu nước ở nước ngoài và tham gia thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông. Năm 1927 sau vụ khởi nghĩa Quảng Châu ông đi Liên Xô, Bỉ, Đức, Thụy Sĩ... Giữa năm 1928 về hoạt động ở Thái Lan và xuất bản báo Thân ái. Các năm 1930 - 1931, tuy ở nước ngoài ông vẫn chỉ đạo thực hiện phong trào Xô Viết ở Nghệ Tĩnh và các tỉnh khác. Tháng 6 - 1932 ông bị mật thám Anh bắt tại Hương Cảng, đến đầu năm 1933 mới được trả tự do, sau đó ông trở lại Liên Xô học tại Trường Đại học Lénine. Năm 1938 ông về hoạt động ở Quảng Tây (Trung Quốc) trong đơn vị Bát lộ quân Trung Quốc, đầu năm 1939 ông liên lạc được với Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương qua xứ ủy Bắc Kỳ.
    Cuối năm 1940 ông về nước, lập căn cứ ở Pác Bó (nay thuộc tỉnh Cao Bằng) đào tạo cán bộ và trực tiếp chỉ đạo công tác xây dựng các hội Cứu quốc ở các địa phương để chuẩn bị Tổng khởi nghĩa.
    Tháng 8 năm 1942 ông lấy tên là Hồ Chí Minh rồi trở sang Trung Quốc liên lạc với các tổ chức cách mạng của người Việt Nam ở đó. Vừa đến biên giới thì bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam một năm. Trong thời gian ngồi tù ông viết tập thơ Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù). Tháng 9 năm 1943, sau khi được trả tự do, ông tiếp xúc với các tổ chức chống Pháp - Nhật của người Việt Nam ở Liễu Châu, bắt liên lạc được với Đảng rồi trở về nước lãnh đạo cách mạng. Cuối năm 1944 ông thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và lập Khu giải phóng Việt Bắc chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Ngày 16-8-1945. Ông chủ tọa Hội nghị Quốc dân toàn quốc (Quốc dân đại hội). Tại Đại hội ông được bầu làm Chủ tịch. Ngày 25-8-1945 ông về Hà Nội chủ tọa phiên họp của Tổng bộ Việt Minh thành lập chính phủ lâm thời.
    Ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ đọc bản Tuyên ngôn độc lập do ông viết, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấm dứt chính quyền phong kiến, thực dân ngự trị lâu dài trên đất nước Việt Nam. Đến ngày 19-12-1946 do sự khiêu khích của thực dân Pháp, Chủ tịch ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Pháp. Cuộc kháng chiến kéo dài đến năm 1954 - với chiến thắng ở Điện Biên Phủ - quân Pháp bị bắt buộc ký hiệp định Genève rút quân ra khỏi Việt Nam. Đầu năm 1955 Chủ tịch từ chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội trước sự đón tiếp tưng bừng của nhân dân Thủ đô. Các năm 1957 - 1960 Chủ tịch đi thăm các nước Xã hội Chủ nghĩa nhằm thắt chặt tình hữu nghị và tổng kết vấn đề chiến lược của cách mạng thế giới.
    Sau khi Mỹ can thiệp vào miền Nam và chiến tranh xảy ra ác liệt, ở cả hai miền, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt (27-3-1964) nhằm tăng cường khối đoàn kết toàn dân thực hiện thắng lợi cho cách mạng.
    Trong những năm cuối đời, sức khỏe sút giảm, Chủ tịch vẫn sáng suốt lãnh đạo nhân dân xây dựng và kháng chiến.
    Ngày 2-9-1969 (lúc 9 giờ 47 phút) Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần tại Hà Nội hưởng thọ 79 tuổi để lại sự thương tiếc khôn nguôi trong lòng nhân dân Việt Nam. Trước khi về thế giới bên kia Chủ tịch có lời "Di chúc" về việc riêng "Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là "hỏa táng"(...) Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào cái hộp sành. Một cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam.
    Đồng bào mỗi miền nên chọn một quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá, tượng đồng, mà nên xây một ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để cho những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi".
    Trong lễ Quốc tang Chủ tịch, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam đọc bài "Điếu văn" trong đó có đoạn:
    "Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta".
    Một tác giả khuyết danh - trước đây ở Sài Gòn - trân trọng điếu Chủ tịch:

    "Thế giới đạo tiền trình, âu á kim vô hậu bối;
    Vĩ nhân tân xã hội, Mã liệt chi hận hữu tiên sinh".

    Nghĩa :Vạch ra con đường lên thế giới mới, xưa nay âu á chưa từng có như người;
    Vĩ nhân của xã hội mới, sau Các Mác, Lê Nin chỉ có người mà thôi.
    Ngoài một nhà cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một nhà văn, một nhà lý luận sáng giá. Ông còn để lại đời các tác phẩm nổi tiếng:

    • Đường Kách mệnh
    • Bản án chế độ thực dân Pháp
    • Con rồng tre
    • Nhật ký trong tù
    • Tuyên ngôn độc lập
    • Sửa đổi lề lối làm việc
    • ....

    Và một số lớn tác phẩm thơ văn khác...Chủ tịch Hồ Chí Minh:một lãnh tụ vĩ đại, một anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới - Người mãi mãi là Bác Hồ kính yêu của nhân dân Việt Nam.(Từ điển nhân vật lịch sử VN - NXB Văn hóa

    Hồ Huấn Nghiệp (1828 - 1864)
    Tự Thiệu Tiên, người làng An Định, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh). Ông học giỏi, nhưng vì cha mất, phải nuôi mẹ già, ông không đi thi, mở trường dạy học. Nhưng khi Pháp chiếm Gia Định, ông tham gia cuộc kháng chiến do Trương Định lãnh đạo, được cử làm Tri phủ Tân Bình (chính quyền bí mật trong vùng địch chiếm), thường điều động binh sĩ và lương thực tiếp tế cho Trương Định.

    Nguyễn Văn Nguyễn (1910 - 1953)
    Sinh tại xã Điều Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang), học Trường Sư phạm Sài Gòn.
    Sớm giác ngộ cách mạng, ông được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội và trở thành một trong những đảng viên đầu tiên của Đảng. Ông tham gia nhiều hoạt động do Đảng lãnh đạo như phong trào Đông Dương đại hội, làm thư ký báo L'Avant-garde (Tiền Phong) của Đảng, tham gia lãnh đạo cuộc giành chính quyền ở Sài Gòn ngày 25-8-1945. Cách mạng Tháng Tám thành công, ông đắc cử làm đại biểu Quốc hội khóa I.
    Trong kháng chiến chống Pháp, ông là ủy viên Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ, Giám đốc Sở Thông tin Nam Bộ, Giám đốc Đài phát thanh Tiếng nói Nam Bộ, chủ bút tờ báo Cứu quốc Nam Bộ. Trên đường ra miền Bắc nhận công tác, ông qua đời vì bệnh ngày 25-3-1953.

    Nguyễn An Ninh (1900 - 1943)
    Quê quán Hóc Môn, Gia Định (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh).
    Năm 1920, ông đỗ cử nhân luật tại Pháp. Về nước, ông diễn thuyết, viết sách, ra báo Cloche Fêlée (Chuông Rè). Ông được dân chúng ở Nam Bộ mến mộ, tôn làm thần tượng một thời. Thực dân Pháp rất sợ, nhiều lần bắt giam ông. Trong những năm 1930, ông sát cánh với các chiến sĩ cộng sản (Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Nguyễn, Dương Bạch Mai...) đấu tranh chống chế độ thuộc địa phản động, đòi các quyền tự do, dân chủ. 4-10-1939, ông bị Pháp bắt, lần này là lần thứ 5, kết án 5 năm tù lưu đày Côn Đảo. Trên đảo ông bị kiệt sức vì bị hành hạ, mất trong tù ngày 14-8-1943.

    Huỳnh Khương Ninh (1890 - 1950)
    Quê ở xã Thắng Tam, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tốt nghiệp bằng Thành Chung nhưng không hợp tác với thực dân Pháp, mở trường tư. Trường Huỳnh Khương Ninh là một trường trung học tư thục nổi tiếng ở Sài Gòn, là nơi đào tạo nhiều thanh niên ưu tú, là một trung tâm của giáo chức yêu nước Sài Gòn trước đây.

    Huỳnh Tấn Phát (1913 - 1989)
    Sinh tại xã Tân Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký (nay là trường trung học Lê Hồng Phong). Sau khi tốt nghiệp kiến trúc sư tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội (1938), ông về Sài Gòn mở văn phòng kiến trúc sư tại số 68-70 đường Mayer (nay là đường Võ Thị Sáu). Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 5-3-1945.
    Trong giai đoạn tiền khởi nghĩa, ông là chủ nhiệm báo Thanh Niên, hoạt động trong phong trào Thanh Niên, hoạt động trong phong trào Thanh niên Tiền Phong, truyền bá quốc ngữ, cứu tế nạn đói ở Nam Bộ. Tháng 8-1945, ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn. Ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I. Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông cộng tác bí mật ở Sài Gòn, bị địch bắt giam ở Khám lớn Sài Gòn. Năm 1949, ông ra chiến khu, giữ chức ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ, Giám đốc Sở Thông tin Nam Bộ, trực tiếp phụ trách Đài phát thanh Tiếng nói Sài Gòn - Chợ Lớn tự do. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng khu Sài Gòn - Gia Định. Tháng 6-1969, ông được Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam bầu làm Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sau ngày đất nước thống nhất, ông đảm trách các chức vụ: Phó Thủ tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

    Lê Hồng Phong
    Tên thật là Lê Duy Doãn, sinh năm 1902, quê thôn Đông Thông, Hưng Nguyên, Nghệ An, một chiến sĩ xuất sắc trung kiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đến cuối năm 1937 hoạt động ở Sài Gòn - Chợ Lớn, tham gia lãnh đạo phong trào trong toàn quốc. Giữa năm 1938, ông bị Pháp bắt ở Chợ Lớn, kết án 10 tháng tù. Ngày 29-9, ông bị bắt lần thứ hai đưa vào giam ở Khám lớn Sài Gòn, rồi kết án 5 năm tù đày đi Côn Đảo. Ông mất ngày 6-9-1942, ở Côn Đảo vì bị tra tấn dã man, bệnh nặng và sức yếu.

    Trần Phú
    Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, sinh 1-5-1903, Đức Phổ, Quảng Ngãi. Năm 1925, tham gia lập Hội Phục Việt, rồi gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Năm 1927 học Đại học Phương Đông Mátxcơva. 1930 vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Tổng Bí thư trong Hội nghị lần thứ nhất của Đảng. Sau Hội nghị ông từ Hồng Kông về Sài Gòn hoạt động ở tại 66 đường Champagne (nay là đường Lý Chính Thắng). Ông đã soạn thảo Luận cương chính trị của Đảng. Giữa lúc đang hoạt động tích cực, ông bị địch bắt 18-4-1931. Biết ông là người lãnh đạo Đảng, địch đã tra tấn ông rất dã man cho tới khi ông kiệt sức, chúng đưa ông vào Bệnh viện Chợ Quán, một trại giam trá hình. Và ông đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 6-9-1931. Trước khi chết, ông còn dặn lại các đồng chí: "Hãy giữ vững ý chí chiến đấu".

    Nguyễn Tri Phương (1800 - 1873)
    Quê Phong Điền - Thừa Thiên. Năm 1935, ông nhận lệnh vua Minh Mạng vào Gia Định cùng Trương Minh Giảng bình định các vùng mới khai hoang. Năm 1860, được sung chức Gia Định quân thứ, Thống đốc quân vụ cùng Tham tán đại thần Phạm Thế Hiển trông coi việc quân sự ở miền Nam. Là người cho xây dựng đại đồn Chí Hòa chống giặc Pháp. Năm Nhâm Thân 1872, ông giữ chức Tuyên sát đồng sức đại thần thay mặt triều đình xem xét việc quân sự ở Bắc Kỳ. Ngày 19-11-1873, Garnier đánh úp thành Hà Nội, ông bị trọng thương, tuyệt thực đúng 1 tháng sau thì mất vào ngày 20-12-1873.

    Nguyễn Thị Rành (1900 - 1979)
    Quê ở xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi, tỉnh Gia Định (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh).
    Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, má đào hầm bí mật ngay trong vườn nhà mình để nuôi giấu cán bộ, bộ đội, cứu chữa thương binh. Má còn tham gia dân quân du kích xã, bám đất giữ làng. Tám người con và hai cháu của má đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Má được Đảng và Nhà nước tuyên dương Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân, được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Sau ngày má qua đời, tượng của má được dựng trước Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ (đường Võ Thị Sáu, thành phố Hồ Chí Minh).

    Lê Thị Riêng (1925 - 1968)
    Quê Bạc Liêu, nguyên ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Phó Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam. Bị địch bắt vào tháng 5-1967, giam tại nhà lao Biên Hòa. Dù địch tra tấn vô cùng dã man, chị vẫn không khuất phục. Trong cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân, chị bị địch giết chết trên đường Hồng Bàng - Sài Gòn (nay thuộc đường Hùng Vương).

    Lê Văn Sĩ (1910 - 1948)
    Tên thật là Võ Sĩ, quê ở thôn Minh Tân, xã Đức Minh, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội năm 1927. Nguyên trong Xứ ủy Nam Bộ, Chính ủy Quân khu 8, rồi năm 1947 được chỉ định làm Bí thư Thành ủy Sài Gòn. Tháng 10-1948, ông hy sinh trong một cuộc càn quét lớn của địch vào vùng Láng Le, Vườn Thơm - Long An.

    Nguyễn Văn Tạo (1908 - 1970)
    Sinh tại làng Phước Lợi, tỉnh Chợ Lớn. Sau khi tốt nghiệp trường trung học Chasseloup Laubat (Sài Gòn), ông sang Pháp du học. Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Pháp, trở thành ủy viên Ban Chấp hành Trung ương của Đảng. Năm 1930, ông bị Pháp trục xuất về nước. Tại Sài Gòn, ông viết báo chống thực dân. Trong những năm 1933 và 1935, ông đắc cử vào Hội đồng thành phố Sài Gòn. Năm 1936, ông là một trong những người tổ chức phong trào Đông Dương Đại hội. Thực dân nhiều lần bắt giam ông, đày ra Côn Đảo, quản thúc ở Mỹ Tho và Rạch Giá. Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I, ủy viên Ủy ban Nhân dân lâm thời Nam Bộ, Bộ trưởng Bộ Lao động. Sau Hiệp định Genève, ông làm Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

    Hà Huy Tập
    Sinh 1902, quê Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh.
    Năm 1927 vào dạy học tại Trường Phan Xích Hồng, Sài Gòn. Và tham gia phát triển tổ chức đảng Tân Việt. Từ 1934 cùng Lê Hồng Phong lãnh đạo công tác Hải ngoại của Đảng. Về nước, ông hoạt động tại Sài Gòn. Hà Huy Tập là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương (1935 - 1938). Ông bị địch bắt 5-1938, đưa về quản thúc tại quê. Sau đó đưa về Sài Gòn với mức án tù 5 năm. Hoảng sợ trước khí thế cách mạng của Nam Kỳ khởi nghĩa, chúng lại tuyên án tử hình và đưa ông cùng một loạt các cán bộ ưu tú của Đảng là Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Tiến xử bắn tại Bà Điểm, Hóc Môn.

    Phạm Ngọc Thạch (1909 - 1968)
    Sinh tại Phan Thiết (nay thuộc tỉnh Bình Thuận). Sau khi tốt nghiệp bác sĩ y khoa (chuyên khoa lao) trường Đại học Paris năm 1935, ông về nước, mở phòng mạch tư ở số 202 đường Chasseloup Laubat (đường Nguyễn Thị Minh Khai), Sài Gòn. Tháng 5-1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, ông tham gia thành lập và lãnh đạo tổ chức Thanh niên Tiền phong. Cách mạng tháng Tám thành công, ông được cử làm Bộ trưởng Bộ Y tế trong Chính phủ lâm thời. Trong kháng chiến chống Pháp, ông làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Sau Hiệp định Genève, ông làm Bộ trưởng Bộ Y tế, Viện trưởng Viện chống lao, Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam. Ông còn là Chủ tịch ủy ban điều tra tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Ông được tuyên dương là Anh hùng Lao động. Ngày 7-11-1968, ông hy sinh trong lúc đang công tác trên chiến trường miền Nam.

    Phạm Ngọc Thảo (1922 - 1965)
    Sinh tại xã Mỹ Phước, tỉnh Long Xuyên (nay là An Giang).
    Lên Sài Gòn học trường trung học Taberd, rồi ra Hà Nội học đại học, tốt nghiệp kỹ sư công chánh.
    Trong kháng chiến chống Pháp, ông được cử làm Trưởng phòng Mật vụ Nam Bộ (1947), Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 410 (Quân khu 9).
    Sau Hiệp định Genève 1954, ông được phân công hoạt động tình báo trong lòng địch (được phong đại tá ngụy quân, làm việc trong cơ quan mật vụ và Phủ Tổng thống ngụy quyền...), được cử sang học tại Mỹ. Nhờ vậy, ông chuyển ra vùng giải phóng nhiều tin tức và tài liệu quan trọng của địch.
    Ông bị địch bắt và tra tấn dã man đến chết. Ông được Nhà nước truy phong quân hàm đại tá.

    Tôn Đức Thắng (20.8.1888 - 30.3.1980)
    Ông sinh ngày 20.8.1888 tại quê Cù Lao Ông Hổ, xã Mỹ Hòa Hưng, tổng Bình Thành, tỉnh Long Xuyên nay là tỉnh An Giang, trong một gia đình nông dân.
    Học xong tiểu học, ông lên Sài Gòn học trường Kỹ thuật Khoa Cơ điện - Tốt nghiệp, vào làm việc ở xưởng sửa chữa tàu biển Ba Son, rồi bị điều sang làm việc ở xưởng Toulon bên Pháp - Cuối năm 1917, Cách mạng Tháng 10 Nga thành công, các cường quốc đế quốc bao vây và tấn công Cách mạng Nga. Ngày 1/4/1919, ông cùng các sĩ quan và binh lính trên chiến hạm France nổi dậy làm binh biến, ông là người kéo cờ đỏ Cách mạng trên chiến hạm và cùng những người nổi dậy kéo lên bờ cùng nhân dân Nga làm mít-tinh chào mừng Cách mạng Nga.
    Năm 1920, ông bị trả về Sài Gòn. Năm 1925 ông gia nhập Thanh niên Cách mạng Đồng Chí hội, năm 1927 được bầu vào Ban Chấp hành Thành bộ Sài Gòn và Kỳ bộ Nam Kỳ.
    Ông bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo (1930 - 1945).
    Cách mạng Tháng 8 thành công, ông tham gia Xứ ủy và Ủy ban Hành chính Nam Bộ - Năm 1946, Trung ương điều ra Bắc phụ trách công tác mặt trận, Chủ tịch Hội liên Việt - Từ 1951 là ủy viên Trung ương Đảng cho tới lúc qua đời.
    Năm 1954, ông là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch nước. Sau khi Hồ Chủ tịch qua đời, Quốc hội cử ông làm Chủ tịch nước. Ông từ trần ngày 30.3.1980, hưởng thọ 92 tuổi.

    Trần Quốc Thảo (1914 - 1957)
    Tên thật là Hồ Xuân Lưu. Quê làng Cổ Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Năm 1950, làm Thường vụ Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, kiêm Phó Tổng thư ký Công đoàn Việt Nam. Đến năm 1957, làm Bí thư Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn. Ông bị địch bắt tại Phú Nhuận và bị đánh tới chết ngày 16-10-1957.

    Trịnh Đình Thảo (1901 - 1986)
    Quê Từ Liêm, Hà Nội. Du học ở Pháp, tốt nghiệp cử nhân văn chương, cao học kinh tế và thương mại, tiến sĩ luật khoa. Làm luật sư tại Tòa Thượng thẩm Sài Gòn nhiều năm. Sau Nhật đảo chính Pháp ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong nội các Trần Trọng Kim, đã ra lệnh thả hàng ngàn tù chính trị bị Pháp giam giữ. Năm 1968, ông ra chiến khu tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ, hòa bình Việt Nam. Từng giữ các chức vụ: Chủ tịch Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ hòa bình Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sau ngày đất nước thống nhất, ông là ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngày 31-3-1986, ông mất tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Phạm Thiều (1904 - 1986)
    Quê xã Diễn Phúc, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Sau Cách mạng Tháng Tám, từng giữ các chức vụ: Giám đốc Sở Thông tin Nam Bộ, Chủ tịch Ủy ban hành chánh Sài Gòn - Chợ Lớn, Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chánh liên khu miền Đông, Vụ trưởng Vụ Sư phạm Bộ Giáo dục, Đại sứ tại Tiệp Khắc và Hungary, Giám đốc Thư viện Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh.

    Ngô Nhân Tịnh (? - 1816)
    Gốc người Quảng Đông sang ngụ ở đất Gia Định. Học trò Võ Trường Toản, cùng Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định được đương thời xưng tụng là nhà thơ lớn đất Gia Định xưa (Gia Định tam gia). Năm 1802, từng được làm Giáp phó xứ sang nhà Thanh rồi Chánh xứ sang Chân Lạp đem ấn sắc phong Nặc Ông Chân làm vua Chân Lạp. Năm 1812 làm Hiệp tổng trấn Gia Định phụ tá Tổng trấn Lê Văn Duyệt.

    Nguyễn Hữu Thọ (1910 - 1996)
    Sinh tại xã Long Phú, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc huyện Bến Lức, tỉnh Long An). 11 tuổi, ông được sang Pháp du học. Sau khi tốt nghiệp cử nhân luật khoa (tháng 9-1932), ông về nước, mở văn phòng luật sư tại Mỹ Tho, Cần Thơ, làm Chánh Tòa án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Từ 1947, ông lên Sài Gòn tham gia các hoạt động cách mạng. Ngày 16-10-1949, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1950, ông được cử làm Trưởng Phái đoàn đại biểu các giới Sài Gòn - Chợ Lớn, tổ chức các phong trào đấu tranh chống xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ của nhân dân thành phố. Hiệp định Genève 1954 ký kết, ông cùng một số tri thức Sài Gòn - Chợ Lớn thành lập Phong trào bảo vệ hòa bình và giữ chức Phó Chủ tịch của tổ chức này. Ông được bầu làm Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (1962 - 1976) và Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1969 - 1976). Đất nước thống nhất, ông giữ nhiều trọng trách như Phó Chủ tịch nước, quyền Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

    Võ Trường Toản (? - 1792)
    Quê huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh). Ở ẩn dạy học, đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước như Ngô Tùng Châu, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh... Nguyễn Phúc Ánh mời ông đến giảng sách, bàn luận chính trị, muốn trọng dụng ông, nhưng ông một mực từ chối. Ngày 9-9 năm Nhâm Tý (27-7-1792) ông mất. Nguyễn Ánh ban hiệu cho ông là Gia Định xủ sĩ Sùng Đức Võ tiên sinh.

    Trần Văn Trà (1919 - 1996)
    Quê xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Hai mươi tuổi, ông vào Sài Gòn hoạt động cách mạng. Mùa Thu năm 1945, ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn. Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông đảm nhận nhiều nhiệm vụ quan trọng: Khu trưởng khu 8, Xứ ủy viên Nam Bộ, Phó Tư lệnh Nam Bộ, Tư lệnh kiêm Chính ủy Khu Sài Gòn - Chợ Lớn, Tư lệnh Phân liên khu miền Đông Nam Bộ. Tập kết ra Bắc, ông làm Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Giám đốc Học viện quân chính, Chánh án Tòa án quân sự Trung ương. Năm 1963, ông về Nam, đảm nhiệm các chức vụ: Tư lệnh quân giải phóng miền Nam, ủy viên Trung ương cục miền Nam, Phó Bí thư Quân ủy miền. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, ông là Phó tư lệnh Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh. Miền Nam được giải phóng, ông làm Chủ tịch ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định, Tư lệnh kiêm Chính ủy quân khu 7, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông được phong quân hàm Trung tướng năm 1959, Thượng tướng năm 1974 và được tặng thưởng hai Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân chương khác.

    Nguyễn Văn Trỗi (1940 - 1964)
    Quê ở Điện Bàn, Quảng Nam. Theo gia đình vào Sài Gòn, làm nghề thợ điện ở nhà máy đèn Chợ Quán, tham gia biệt động vũ trang thuộc Đại đội Quyết tử 65, cánh Tây Nam Sài Gòn. Anh bị bắt lúc 22 giờ đêm ngày 9-5-1964, giữa lúc đang gài mìn tại cầu Công Lý nhằm tiêu diệt phái đoàn quân sự cấp cao của Mỹ do Bộ trưởng Quốc phòng Robert Mac Namara dẫn đầu, sang Sài Gòn vạch kế hoạch tăng cường và mở rộng chiến tranh xâm lược ở cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam. Anh bị xử bắn tại vườn rau nhà lao Chí Hòa - Sài Gòn lúc 9 giờ 45 phút ngày 15-10-1964. Anh được tặng danh hiệu Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân.

    Lý Tự Trọng (1915 - 1931)
    Tên thật là Lê Hữu Trọng quê xã Thạch Minh, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, sinh tại bản May, tỉnh Na Khôn, Thái Lan. Năm 1926, anh sang Quảng Châu học trung học, rồi làm việc tại cơ quan Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội. Ba năm sau, anh được phái về Sài Gòn công tác ở cơ quan Trung ương An Nam Cộng sản Đảng. Ngày 9-2-1931, trong cuộc mít-tinh tổ chức tại cổng sân banh Mayer để kỷ niệm khởi nghĩa Yên Bái, anh bắn chết viên thanh tra cảnh sát Legrand, bảo vệ diễn giả Phan Bôi. Anh bị bắt, bị tra tấn chết đi sống lại, nhưng luôn luôn giữ khí tiết cách mạng khiến những cai ngục cũng phải kính nể, gọi anh là "Ông Nhỏ". Trước khi bị thực dân xử bắn, anh còn hát vang bài Quốc tế ca.

    Phan Văn Trường (1878 - 1993)
    Quê làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội, những năm hoạt động của ông chủ yếu diễn ra ở Paris và Sài Gòn. Đỗ tiến sĩ luật khoa ở Pháp (là một trong những tiến sĩ luật khoa đầu tiên của nước ta), làm luật sư tại Tòa thượng thẩm Paris. Hoạt động trong phong trào yêu nước của Việt kiều tại Pháp, cùng với Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội đồng bào thân ái và Nhóm những người Việt Nam yêu nước. Viết nhiều bài cho tờ Le Paria (do Nguyễn Ái Quốc chủ trương). Cuối năm 1923, ông về nước, làm chủ bút hai tờ báo La Cloche Fêlée (Chuông Rè) và L'Annam (Nước Nam), đả kích mạnh mẽ chế độ thuộc địa của Pháp ở Đông Dương và góp phần truyền bá chủ nghĩa Mác vào Việt Nam.
    Hai lần ông bị thực dân Pháp bắt giam: lần đầu ở Paris (cùng một lúc với Phan Châu Trinh), lần sau ở Sài Gòn (nhưng bị tạm giam ở Paris).
    Mai Thọ Truyền (1905 - 1973) Là một Đốc phủ xứ ngoại hạng, một trong những người sáng lập chùa Xá Lợi (Sài Gòn) và Hội Phật học Nam Việt, Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa (Sài Gòn). Ông mất ngày 17-4-1973 tại Sài Gòn.

    Ngô Gia Tự
    Sinh ngày 3-12-1908, ở Từ Sơn, Bắc Ninh. Năm 1926, gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Cuối năm 1928 vào Sài Gòn hoạt động cách mạng.
    Cuối năm 1930, bị địch bắt tại Sài Gòn. Tháng 5-1933, thì bị đày ra Côn Đảo. Cuối tháng 1-1935, chi bộ nhà tù tổ chức cho ông và một nhóm anh em vượt ngục, nhưng ông và các đồng chí đã mất tích giữa biển.

    Hoàng Việt (1928 - 1967)
    Sinh tại Chợ Lớn, tên thật là Lê Chí Trực. Từ 16 tuổi, ông đã bắt đầu sáng tác, được nhiều người biết đến với những bài Chí cả, Biệt đô thành, Tiếng còi trong sương đêm (Ký tên Lê Trực). Ông tham gia cách mạng, công tác trong Tổ quân nhạc của Quân khu 8. Ông nổi tiếng với những ca khúc phục vụ kháng chiến như Lá xanh (1950), Lên ngàn (1952), Nhạc rừng (1953), Mùa lúa chín (1953-1954)...
    Sau Hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc, tiếp tục sáng tác. Bản Tình ca (1957) được những người yêu nhạc đánh giá là một trong những tình khúc hay nhất của nền âm nhạc nước ta. Sau đó, ông xin về Nam phục vụ kháng chiến. Ông tiếp tục sáng tác nhiều ca khúc, bản giao hưởng Cửu Long, nhạc kịch Bông Sen... Ngày 31-12-1967, ông hy sinh khi chưa tròn 40 tuổi.

    Trương Phước Vĩnh
    Ông là người đầu tiên giữ chức Điều khiển, Thống suất toàn bộ quan binh các dinh, các trấn ở miền Nam. Ông có công dẹp tan giặc Sà Tốt (làng Prea Sot) năm 1731 và cho đắp lũy Hoa Phong (dấu vết còn ở gần chùa Cây Mai) để ngăn giặc.

    Lăng Cha Cả - Bá Đa Lộc - Thực và hư

    Bá Đa Lộc - Thực và hư

    Trước khi di dời nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, vào năm 1980, Lăng Cha Cả ở khu vực ngã tư Lê Văn Sỹ - Hoàng Văn Thụ được cải. Chính quyền giải thích: cải để chỉnh trang đường phố, giảm ùn tắc giao thông. Cha Cả được dùng để chỉ vị tu sĩ Công giáo đứng đầu địa phận. Lăng Cha Cả là khu đất rộng khoảng 2 ngàn thước, gồm một nhà lợp ngói, cột và vách bằng gỗ quý, ở trước có bia đá lớn. Người ta nói đó là mộ phần của Giám mục Bá Đa Lộc, một Giám mục người Pháp đã sang giúp Nguyễn Ánh chống Tây Sơn Nguyễn Huệ và của một số thừa giám. Bá Đa Lộc là tên tiếng Việt được phiên âm từ tiếng Pháp (Pigneau de Behain).
    Tuy nhiên, chuyện Lăng Cha Cả còn nhiều điều đáng lưu ý. Những hài cốt tại khu mộ này đã được đại diện từ nước Pháp sang nhận và mang về chôn. Nhưng riêng mộ của Giám mục Bá Đa Lộc, khi khai quật, chỉ thấy cây Thánh giá bằng vàng Tây lớn mà ông đeo khi xưa, chiếc gậy vàng của chức Giám mục, những mề đay của nhà nước Pháp và Việt trao tặng.
    Nhà nghiên cứu Lý Nhân Phan Thứ Lang, người Công giáo, lật ngược vấn đề: "Nhiều người nghĩ đó là mộ thật của Đức Giám mục, nhưng tờ Nam Phong Tạp Chí của Phạm Quỳnh, quyển XVI, 92, phát hành tháng 2 năm 1925, có bài: "Bá Đa Lộc: mộ ông... hiện nay ở đâu?" của Vương Gia Bật, chỉ rõ: Lăng Ngọc Hội cách thành phố Nha Trang 8 cây số. Phía trước mộ có một cái miếu nhỏ ở giữa đề chữ Hán: "Bá Đa Lộc chi mộ". Phía sau miếu có khắc cây Thánh giá.
    Ngày 13/3/1925, quan Công sứ và Linh mục nhà thờ Bình Can (Nha Trang) ra lệnh cải táng. Bên trong, xương cốt đã mục, hàm còn dính 3 cái răng, có 2 - 3 cái rơi ra ngoài...".
    "Như vậy đích là mộ Đức Cha Bá Đa Lộc chôn ở Nha Trang" - Ông Lý Nhân Phan Thứ Lang thành kính - "Theo tôi, ngay sau khi cải táng, hài cốt của Đức Cha đã được đưa về Pháp, ngôi mộ ở khu Lăng Cha Cả tại Sài Gòn chỉ là tượng trưng. Tôi nghĩ, khi Gia Long mới lên ngôi, sợ Tây Sơn có ngày lật ngược thế cờ, nên phải cho dựng lăng ở Gia Định để đánh lạc hướng. Còn việc di dời lăng phục vụ dân sinh là đúng".

    Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ

    Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ còn gọi là Rừng Sác là một quần thể gồm các loài động, thực vật rừng trên cạn và thuỷ sinh, được hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của các cửa sông Đồng Nai, Sài gòn và Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây. UNESCO đã công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển thế giới với hệ động thực vật đa dạng độc đáo điển hình của vùng ngập mặn.
    Vị trí địa lý
    Khu dự trữ sinh quyển rừng mặn Cần Giờ được hình thành ở hạ lưu sông Đồng Nai – Sài Gòn nằm ở cửa ngõ Đông Nam Thành phố Hồ Chí Minh Tọa độ: 10°22’ – 10°40’ độ vĩ Bắc và 106°46’ – 107°01’ kinh độ Đông.
    Cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh khoảng 70km, khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ giáp tỉnh Đồng Nai ở phía Bắc, giáp biển Đông ở phía Nam, giáp tỉnh Tiền Giang và Long An ở phía Tây, và giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ở phía Đông. Tổng diện tích khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ là 75.740 ha, trong đó: vùng lõi 4.721 ha, vùng đệm 41.139 ha, và vùng chuyển tiếp 29.880 ha.
    Đây là khu rừng ngập mặn với một quần thể động thực vật đa dạng, trong số đó nổi bật là đàn khỉ đuôi dài (Macaca fascicularis) cùng nhiều loài chim, cò
    Hình thành
    Hợp lưu của sông Lò Rèn và sông Vàm Sát trong rừng Cần Giờ, nhìn phía xa hướng Đông có thể thấy Núi Lớn của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
    Trước chiến tranh, Cần Giờ thuộc tỉnh Đồng Nai, và nơi đây đã là khu rừng ngập mặn với quần thể động thực vật phong phú. Nhưng trong chiến tranh bom đạn và chất độc hóa học đã làm nơi đây trở thành “vùng đất chết”. Năm 1978, Cần Giờ được sáp nhập về thành phố Hồ Chí Minh, và năm 1979 UBND thành phố Hồ Chí Minh phát động chiến dịch trồng lại rừng Cần Giờ, thành lập Lâm trường Duyên Hải (đóng tại Cần Giờ, thuộc Ty Lâm nghiệp) với nhiệm vụ khôi phục lại hệ sinh thái ngập mặn[3]. Diện tích rừng đã phủ xanh hơn 31 nghìn héc-ta, trong đó có gần 20 nghìn héc-ta rừng trồng, hơn 11 nghìn héc-ta được khoanh nuôi tái sinh tự nhiên và các loại rừng khác.
    Ngày 21/ 01/ 2000, khu rừng này đã được Chương trình Con người và Sinh Quyển - MAB của UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam nằm trong mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển của thế giới.
    Sự khôi phục và phát triển cũng như bảo vệ của khu rừng này ghi nhận sự đóng góp rất lớn của lực lượng thanh niên xung phong thành phố Hồ Chi Minh và nhân dân Cần Giờ. Hiện khu rừng đã được giao cho chính người dân nơi đây chăm sóc và quản lý.
    Hệ sinh thái
    Rừng ngập mặn Cần Giờ có điều kiện môi trường rất đặc biệt, là hệ sinh thái trung gian giữa hệ sinh thái thủy vực với hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái nước mặn. Rừng Cần Giờ nhận một lượng lớn phù sa từ sông Đồng Nai, cùng với ảnh hưởng của biển kế cận và các đợt thủy triều mà hệ thực vật nơi đây rất phong phú với trên 150 loài thực vật, trở thành nguồn cung cấp thức ăn và nơi trú ngụ cho rất nhiều loài thủy sinh, cá và các động vật có xương sống khác.
    * Về thực vật: nhiều loại cây, chủ yếu là bần trắng, mấm trắng, các quần hợp đước đôi - bần trắng cùng xu ổi, trang, đưng v.v… và các loại nước lợ như bần chua, ô rô, dừa lá, ráng, v.v… Thảm cỏ biển với các loài ưu thế Halophyla sp., Halodule sp., và Thalassia sp.; đất canh tác nông nghiệp với lúa, khoai mỡ, các loại đậu, dừa, các loại cây ăn quả.
    * Về động vật: khu hệ động vật thủy sinh không xương sống với trên 700 loài, khu hệ cá trên 130 loài, khu hệ động vật có xương sống có 9 loài lưỡng thê, 31 loài bò sát, 4 loài có vú. Trong đó có 11 loài bò sát có tên trong sách đỏ Việt Nam như: tắc kè (gekko gekko), kỳ đà nước (varanus salvator), trăn đất (python molurus), trăn gấm (python reticulatus), rắn cạp nong (bungarus fasciatus), rắn hổ mang (naja naja), rắn hổ chúa (ophiophagus hannah), vích (chelonia mydas), cá sấu hoa cà (crocodylus porosus)… Khu hệ chim có khoảng 130 loài thuộc 47 họ, 17 bộ. Trong đó có 51 loài chim nước và 79 loài không phải chim nước sống trong nhiều sinh cảnh khác nhau.
    Đây là một khu rừng mà theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài là được khôi phục, chăm sóc, bảo vệ thuộc loại tốt nhất ở Việt Nam và toàn thế giới. Đây cũng là địa điểm lý tưởng phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái.
    Rừng ngập mặn Cần Giờ đã trở thành "lá phổi" đồng thời là "quả thận" có chức năng làm sạch không khí và nước thải từ các thành phố công nghiệp trong thượng nguồn sông Ðồng Nai - Sài Gòn để ra biển Ðông.
    Du lịch
    Từ một vùng đất nghèo, Cần Giờ đã đổi thay khi được thành phố Hồ Chí Minh quy hoạch và phát triển thành khu du lịch sinh thái. Năm 2000, khu du lịch sinh thái Vàm Sát nằm trong vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ được thành lập, tháng 2/2003 đã được chức du lịch thế giới cũng công nhận khu du lịch Vàm Sát là một trong hai khu du lịch sinh thái phát triển bền vững của thế giới ở nước ta. Ở đây có nhiều hoạt động du lịch thú vị như thăm quan đầm dơi, đi thuyền trên sông, thăm sân chim với rất nhiều loài chim sinh sông, tiếp xúc với đàn khỉ hoang dã nhưng rất dạn dĩ, tìm hiểu về hệ thực vật - động vật nơi đây.
    Tiếp giáp về phía Nam của rừng Cần Giờ là biển. Biển Cần Giờ trong xanh, bờ cát mịn, với không khí thoáng đãng, đang được xây dựng trở thành khu du lịch hiện đại.

    Vườn cò Thủ Đức


    Không có những trò chơi giải trí vui nhộn, những hang động kỳ bí đem đến cảm giác mạnh cho du khách như khu du lịch Suối Tiên hay Sài Gòn Water Park...song Vườn Cò Thủ đức (nay là quận 9) thành phố Hồ Chí Minh lại mang đến cho du khách những cảm giác không kém phần thú vị. Đó là cảnh vật tĩnh lặng của đồng quê, là không khí trong lành của đồng nội, có sông nước mênh mông, có những con đò nhỏ...
    Hấp dẫn nhất vẫn là hình ảnh những đàn cò trắng cứ mỗi buổi hoàng hôn lại kéo nhau về. Ở nơi đây không phải có vài con mà hàng chục ngàn con, chúng tranh nhau tìm chỗ ngủ, kêu táo tác, đậu trắng vườn dừa. Bỏ sau lưng xa lộ Hà Nội đầy nắng, bụi, đường Võ Văn Ngân đông đúc người qua lại, bạn sẽ rẽ vào con đường đất đỏ rộng thênh thang nằm xuyên qua những ruộng lúa ngút ngàn.
    Và chiều đến khi mặt trời khuất dần sau rặm tre bên kia sông là lúc từng đàn cò trắng đi kiếm ăn bay về tổ. Chúng bay thẳng hàng, con này nối con kia, đôi khi chúng vô tình xếp hình thành con chữ A, V...trông rất ngộ nghĩnh. đây có thể là khoảng khắc tuyệt vời đối với du khách. Những cánh cò chấp chới trên nền trời chiều chợt làm cho bức tranh quê tĩnh lặng sống động hẳn lên. Tiếng kêu khàn đục phát ra từ cổ họng của những chú cò cũng đủ khiến du khách nao lòng.
    Khi những con cò cuối cùng bay về tổ, thì đàn cò mới ngừng hẳn tiếng kêu, chúng bắt đầu giờ ngủ đêm sau một ngày lặn ngụp ngoài đồng. Lúc này là lúc du khách kết thúc chuyến tham quan. Và dù cho bạn có rời Vườn Cò về với đô thị ồn ào náo nhiệt hay ở nơi nào đó, vẫn tin chắc rằng cảnh vật nơi này, cánh cò, con sông, mùi hương nồng nàn của đồng nội sẽ vương vấn trong tâm hồn bạn, thôi thúc bạn một ngày nào đó lại đến Vườn Cò.

    Lăng Lê Văn Duyệt
    Lăng tả quân Lê Văn Duyệt (1763 - 1832) thường được gọi là Lăng Ông hay Lăng Ông Bà Chiểu. Lăng được xây trong khuôn viên 18.500 m2. Người xây lăng này cũng là người xây lăng Tự Đức ở Huế.
    Lăng có mộ Lê Văn Duyệt và phu nhân. Ngoài khuôn viên có hai mộ của hai nàng hầu. Sau khi Lê Văn Khôi (con nuôi Lê Văn Duyệt) khởi binh chống lại triều đình, vua Minh Mạng ra lệnh xiềng mộ Lê Văn Duyệt, đến đời vua Tự Đức mới được giải oan.
    Lăng được trùng tu nhiều lần. Đáng chú ý là bốn cây cột gỗ chạm rồng khá đẹp ở chánh điện. Cổng tam quan, cây thốt nốt tạo cho lăng một vẻ trang nghiêm u nhã, mặc dầu bên ngoài khuôn viên là đường phố và chợ búa.
    Trong nhà bia có tấm bia đá cẩm thạch lớn dựng năm Thành Thái thứ 6 (1896). Ngôi lăng cao và rộng, chiều dài 80 mét, gồm nhà hương, trung điện - nơi đặt bàn thờ, đồ lỗ bộ, chiêng trống - phía trong là chánh điện. Gian giữa là bàn thờ Tả quân (có bức họa truyền thần của ông từ thời làm Tổng trấn Gia Định). Bên phải là bàn thờ Phan Thanh Giản (có ảnh mặc triều phục), bên trái là bàn thờ Lê Chất (nguyên là Tổng trấn Bắc Thành), mất năm 1826, về sau đã bị Minh Mạng ra lệnh san bằng mộ, đến thờ Tự Đức mới được truy phục chức cũ.
    Hàng năm, tại Lăng Ông có hai lễ hội lớn: ngày giỗ Tả quân 1 tháng 8 âm lịch và ngày hội đầu Xuân mùng 1 và mùng 2 tết. Số người đến dự hội hàng năm lên đến hàng chục vạn. Đáng chú ý số khách người Hoa đi lễ rất lớn, chiếm khoảng 50%. Lý do, người Hoa coi ông như một vị phúc thần mà lúc sinh thời làm Tổng trấn, đã có nhiều chủ trương, chính sách nâng đỡ họ, tạo điều kiện cho họ an cư lạc nghiệp.
    Ngày 16 tháng 11 năm 1988 lăng được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích Kiến trúc - Nghệ thuật theo quyết định số 1288-VH/QĐ.

    Đền thờ Hùng Vương
    Nằm cạnh cổng chính trong khu vực Thảo Cầm Viên. Đền do Pháp xây dựng vào năm 1926, mang tên đền Kỷ niệm (Temple de Souvenir) để tưởng nhớ những binh sĩ Pháp tử trận. Sau năm 1954, đền đổi tên là đền Quốc tổ Hùng Vương. Năm 1975, đổi thành đền Hùng Vương và giao cho Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - thành phố Hồ Chí Minh quản lý.
    Nóc đền có dáng mái cong, chia làm ba bậc. Nóc trên trang trí hình rồng và phượng, thuộc phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Hai bên bậc đá lên cửa chính có đôi rồng chầu. Trên các bao lơn xung quanh phía trong đền chạm khắc hình hạc, lân, qui, phượng sơn màu đỏ. Đền được chống đỡ bằng 12 cây gỗ mật màu đen.
    Chánh điện có ngai thờ các vua Hùng, bài vị thờ tổ tiên bách tính và lương thần, danh tướng. Trước bàn thờ có bộ bát bửu, chiêng trống. Xung quanh chánh điện có các hộp hình, tranh ảnh chuyên đề giới thiệu sơ lược về thời đại nguyên thủy và thời đại Hùng Vương trên các mặt nông nghiệp, săn bắn, đánh cá, nghề sản xuất gốm, nghề đúc đồng, nghề dệt vải, các loại vũ khí, văn hóa nghệ thuật...

    Bảo tàng Tôn Đức Thắng
    Địa chỉ: số 5, đường Tôn Đức Thắng, quận 1.
    Bảo tàng Tôn Đức Thắng được thành lập nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (1888 - 1988) tại toà nhà vốn là tư dinh của Trần Thiệu Khiêm, Thủ tướng của chính quyền Sài Gòn trước năm 1975.
    Bảo tàng là nơi lưu giữ, nghiên cứu, trưng bày, giới thiệu, về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng - nhà yêu nước lớn, một chiến sĩ kiên cường mẫu mực. Chủ tịch Tôn Đức Thắng là người Việt Nam duy nhất đã tham gia phản chiến trên chiến hạm France tại biển Đen vào năm 1917, ủng hộ cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới thắng lợi - cách mạng tháng Mười Nga. Là người kế tục chức vụ Chủ tịch nước Việt Nam sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, từ năm 1969 đến năm 1980.
    Hiện này, Bảo tàng có 7 phòng trưng bày với diện tích trên 700 m2. Bảo tàng đã thể hiện một cách sinh động, khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của chủ tịch Tôn Đức Thắng qua hơn 600 hiện vật, tài liệu, hình ảnh.

    Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ
    Địa chỉ: số 202, đường Võ Thị Sáu, quận 3.
    Toà nhà này nguyên là dinh cơ của Nguyễn Ngọc Loan - Giám đốc Tổng nha Cảnh Sát chế độ nguỵ quyền Sài Gòn cũ. Năm 1984 được Nhà nước giao làm Nhà truyền thống Phụ nữ Nam Bộ. Sau đó được xây thêm toà nhà 4 tầng và đổi thành Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ.
    Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ có diện tích trưng bày khoảng 2000 m2 gồm 10 phòng trưng bày về truyền thống dựng nước và giữ nước của phụ nữ Nam Bộ. Có một hội trường 800 chỗ ngồi, một phòng chiếu phim, một thư viện và một kho lưu giữ hàng trục ngàn hiện vật, tranh ảnh quý hiếm.
    Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ mở cửa từ năm 1985, là trung tâm sinh hoạt văn hoá giáo dục, hội thảo khoa học, họp mặt truyền thống, giao lưu văn hoá của giới nữ nhằm bảo tồn và phát huy truyền thống tốt đẹp của phụ nữ.

    Bảo tàng Mỹ thuật
    Địa chỉ: số 97, đường Phó Đức Chính, quận 1.
    Bảo tàng được thành lập theo quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ngày 5 tháng 9 năm 1987. Đây vốn là ngôi nhà của một tư sản người Hoa là Hui Bon Hoa xây dựng từ cuối thế kỷ XIX theo kiến trúc phương Tây, gồm 4 tầng. Đây là một trong số ít ngôi nhà tư nhân bề thế nhất của Sài Gòn xưa.
    Bảo tàng trưng bày các tác phẩm mỹ thuật, đồ thủ công mỹ nghệ Việt Nam từ cổ, cận đến hiện đại. Ngoài ra, Bảo tàng cũng giới thiệu những tượng đá, phù điêu thuộc văn hóa óc Eo, Chămpa.

    Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh
    Địa chỉ:số 2, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1.
    Nguyên trước là Bảo tàng Blanchard de la Brosse - tên của Thống đốc Nam Kỳ, người sáng lập ra nó - được xây cất năm 1927 và hoàn thành vào ngày 1 tháng 1 năm 1929. Khi người Pháp rút đi (1954), Bảo tàng đổi tên là Viện Bảo tàng quốc gia. Ngày 23 tháng 8 năm 1979, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định thành lập Bảo tàng Lịch sử Viện Nam - thành phố Hồ Chí Minh.
    Công trình nằm bên trái cổng vào Thảo Cầm Viên do kiến trúc sư người Pháp Delaval thiết kế. Tòa nhà ở giữa có hình bát giác với hai tầng mái. Phần sau tòa nhà được bố trí theo hình chữ U do kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng thiết kế gồm 2 dãy nhà bên và sau cùng là dãy nhà 3 tầng. Khoảng giữa là hồ nước, cây cảnh.
    Bảo tàng có 15 phòng tập hợp trên 5.000 cổ vật thuộc nền văn hóa Việt Nam và của nhiều quốc gia Đông Nam Á như Chămpa, Phù Nam, Khơme, Lào, Indonesia và cả Nhật Bản, Trung Quốc... Đặc biệt có nhiều tượng đá, bia đá, bình lọ gốm, các loại y phục dân tộc từ Bình Trị Thiên trở vào, phần lớn có niên đại trên 1.000 năm

    Bảo tàng Hồ Chí Minh (Bến Nhà Rồng)
    Địa chỉ: số 1, đường Nguyễn Tất Thành, quận 1.
    Bến Nhà Rồng hay khu lưu niệm Bác Hồ nằm trên ngã ba sông Sài Gòn, đầu đường Nguyễn Tất Thành. Nơi đây ngày 5 tháng 6 năm 1911 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xuống tàu “Đô đốc Latouche Tréville” ra đi tìm đường cứu nước. Nhà Rồng nguyên là trụ sở của đại diện hãng chuyên chở hàng hải Pháp (thuộc Công ty vận tải đường biển Pháp Messageries Pharitimes) xây cất năm 1862 làm nơi ở cho viên tổng quản lý và là nơi bán vé tàu. Toà nhà có hình 2 con rồng trên nóc. Con tàu đầu tiên rời bến Nhà Rồng vào tháng 11 năm 1862.
    Ngày 3 tháng 9 năm 1979, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định lấy Nhà rồng là “Khu lưu niệm chủ tịch Hồ Chí Minh” (tức Bảo tàng Hồ Chí Minh - Bến Nhà Rồng). Bên trong khu nhà lưu niệm có trưng bày nhiều hình ảnh và hiện vật về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. Từ đó đến nay, Bảo tàng Hồ Chí Minh - Bến Nhà Rồng đã đón tiếp hàng chục triệu lượt khách trong và ngoài nước vào tham quan. Ngoài ra, tại đây thường tổ chức những cuộc vui lớn, biểu diễn nghệ thuật, nghe kể chuyện truyền thống, tổ chức lễ kết nạp Đảng, kết nạp Đoàn viên...

    Bảo tàng lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ
    Địa chỉ: số 247, đường Hoàng Văn Thụ, quận Tân Bình.
    Bảo tàng còn có tên gọi là Bảo tàng Quân khu 7, nằm trên khu đất rộng 2,5 hecta. Toàn bộ hiện vật, sa bàn, hình ảnh trưng bày tập trung thể hiện quá trình hình thành và lớn mạnh của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ. Nội dung trưng bày chia làm 3 phần:
    - Từ tổ chức vũ trang đầu tiên (xích vệ đội Phú Riềng năm 1930) đến lực lượng vũ trang thời kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954).
    - Lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975).
    - Lực lượng vũ trang Quân khu 7 trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong nghĩa vụ quốc tế (1975 - 1995).

    Bảo tàng Địa chất
    Địa chỉ: số 2, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1.
    Bảo tàng địa chất tại thành phố Hồ Chí Minh được thành lập năm 1954, là một trong hai bảo tàng địa chất của Việt Nam. Tại đây, hiện lưu giữ và trưng bày hơn 20.000 mẫu đá, hàng ngàn mét lõi khoan, 50 sưu tập mẫu cổ sinh vật, nhiều sưu tập mẫu khoáng sản của các mỏ điển hình của Việt Nam, nhiều sưu tập mẫu khoáng vật chuẩn của các nơi trên thế giới.
    Đến Bảo tàng địa chất, du khách sẽ thấy rõ sự tiến hóa địa chất của lãnh thổ Việt Nam (từ cách đây 4.000 triệu năm tới nay); thấy rõ các quá trình địa chất (vũ trụ, kiến tạo, magma, trầm tích, biến chất, phong hóa) đã tác động đến sự hình thành trái đất như thế nào. Bức tranh về sự phong phú tài nguyên khoáng sản của đất nước đã được thể hiện sinh động bởi nhiều sưu tập mẫu khoáng sản.
    Bảo tàng địa chất còn có khả năng cung cấp các sưu tập mẫu đá, quặng phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu của học sinh, sinh viên và các nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước. Bảo tàng cũng hướng dẫn các Tour du lịch địa chất quanh thành phố Chí Minh và các vùng lân cận.

    Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh
    Địa chỉ: số 28, đường Võ Văn Tần, quận 3.
    Xưa khu vực này là phần đất của chùa Khải Tường, nơi sinh ra vua Minh Mạng năm 1791 và được ông cho sửa sang lại năm 1832.
    Khi đánh chiếm Sài Gòn (1859), quân Pháp đã biến chùa thành cứ điểm phòng thủ chống lại quân triều Nguyễn. Khi đã đánh chiếm toàn bộ Nam Kỳ, Pháp dùng chùa Khải Tường làm nơi đào tạo giáo viên cho học sinh người Việt, tiếp đến làm dinh thự cho quan chức Pháp.
    Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, nơi đây là nơi bảo trì điện tử của Mỹ cho 4 cơ quan: Đại sứ quán Mỹ, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ, Phủ Tổng thống và Phủ thủ tướng chính quyền Sài Gòn.
    Ngày 18 tháng 10 năm 1978, Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ký quyết định thành lập Nhà trưng bày Tội ác Mỹ - Ngụy.
    Ngày 10 tháng 11 năm 1990, đổi tên thành Nhà trưng bày Tội ác Chiến tranh xâm lược. Đến ngày 4 tháng 7 năm 1995, lại đổi tên là Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh.
    Trong khuôn viên rộng 0,73 hecta, Bảo tàng trưng bày các hiện vật và chứng tích chiến tranh gồm các vũ khí, phương tiện chiến tranh của Mỹ đã sử dụng ở Việt Nam như máy bay, xe tăng, đại bác, bom đạn... Có cả cỗ máy chém do Pháp sản xuất đã được sử dụng trong khi áp dụng luật 10/59 dưới thời Ngô Đình Diệm.
    Các hiện vật, chứng tích, các bức ảnh được trưng bày cho thấy sự khốc liệt của chiến tranh và tinh thần kiên cường bất khuất của dân tộc Việt Nam.

    Bảo tàng Cách mạng Thành phố Hồ Chí Minh                      
    Địa chỉ: số 65, đường Lý Tự Trọng, quận 1.
    Tòa nhà Bảo tàng Cách mạng thành phố Hồ Chí Minh ngày nay được xây dựng từ năm 1985 đến năm 1890 thì hoàn thành, thực hiện theo đề án của kiến trúc sư người Pháp Foulhoux.
    Khởi đầu, việc xây dựng ngôi nhà này với mục đích làm nơi triển lãm thương mại. Nhưng khi xây dựng xong thì được làm tư dinh cho viên Thống đốc Nam Kỳ. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (ngày 9 tháng 3 năm 1945), nơi đây được làm dinh Thống đốc Nhật Minôda và sau đó là dinh Khâm sai đại thần Nguyễn Văn Sâm. Sau Cách mạng tháng Tám tòa nhà được làm trụ sở ủy ban hành chánh Lâm thời Nam Bộ.
    Tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp dùng làm trụ sở của Cao ủy Cộng hòa Pháp, tiếp theo là dinh thủ hiến Nam Kỳ của Trần Văn Hữu.
    Sau Hiệp định Genève 1954, nơi đây là “Dinh thủ hiến Nam phần”, đến “Dinh Gia Long” của Ngô Đình Diệm rồi “Tối cao pháp viện” trong thời kỳ Nguyễn Văn Thiệu.
    Từ ngày 12 tháng 8 năm 1978 ngôi nhà này được sử dụng làm Bảo tàng Cách mạng thành phố Hồ Chí Minh. Bảo tàng thể hiện các nội dung chính như sau:
    - Một vài nét về Sài Gòn xưa.
    - Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Những cuộc vận động chống thực dân Pháp trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1859 - 1930).
    - Sự truyền bá của chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cuộc vận động chống thực dân Pháp của nhân dân Sài Gòn - Gia định dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản trong phong trào những năm 1930 -1939, khởi nghĩa Nam Kỳ 1940 và đặc biệt là Cách mạng tháng Tám 1945, thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và ở thành phố là Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Lâm thời Nam Bộ (1930 - 1945).
    - Cuộc kháng chiến chống Pháp ở Sài Gòn - Gia định (từ ngày 23 tháng 9 năm 1945 đến năm 1954).
    - Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Sài Gòn - Gia định kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954 - 1975).

    Ðịa đạo Củ Chi
    Vị trí: Ðịa đạo Củ Chi là một di tích lịch sử cách mạng nổi tiếng, thuộc xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi, cách trung tâm Tp. Hồ Chí Minh 70km về phía tây bắc.
    Ðặc điểm: Ðịa đạo quả là kỳ quan độc nhất vô nhị: dài 250km chạy ngoắt ngoéo trong lòng đất, được làm nên từ dụng cụ thô sơ là lưỡi cuốc và chiếc ki xúc đất.
    Ðường hầm sâu dưới đất từ 3 - 8m, chiều cao chỉ đủ cho một người đi lom khom. Căn hầm đầu tiên ở ngay bìa rừng có giếng ngầm cung cấp nguồn nước uống và sinh hoạt cho toàn khu vực địa đạo. Giếng sâu 15m, trong vắt. Hệ thống địa đạo gồm 3 tầng, từ đường "xương sống" toả ra vô số nhánh dài, nhánh ngắn ăn thông nhau, có nhánh trổ ra tận sông Sài Gòn. Tầng một cách mặt đất 3m, chống được đạn pháo và sức nặng của xe tăng, xe bọc thép. Tầng 2 cách mặt đất 5m, có thể chống được bom cỡ nhỏ. Còn tầng cuối cùng cách mặt đất 8-10m hết sức an toàn. Ðường lên xuống giữa các tầng hầm được bố trí bằng các nắp hầm bí mật. Bên trên nguỵ trang kín đáo, nhìn như những ụ mối đùn, dọc đường hầm có lỗ thông hơi. Liên hoàn với địa đạo có các hầm rộng để nghỉ ngơi, có nơi dự trữ vũ khí, lương thực, có giếng nước, có bếp Hoàng Cầm, có hầm chỉ huy, hầm giải phẫu... Còn có cả hầm lớn, mái lợp thoáng mát, nguỵ trang khéo léo để xem phim, văn nghệ.
    Hãy một lần chui vào địa đạo, ta sẽ thấy rõ chiều sâu thăm thẳm của lòng căm thù, ý chí bất khuất của "vùng đất thép" và sẽ hiểu vì sao một nước Việt Nam nhỏ bé lại chiến thắng một nước lớn và giàu có như Hoa Kỳ? Ta cũng sẽ hiểu vì sao Củ Chi - mảnh đất nghèo khó lại đương đầu ròng rã suốt 20 năm với một đội quân thiện chiến, vũ khí tối tân mà vẫn giành thắng lợi. Cũng từ địa đạo này, cuộc hành quân Crimp (cái bẫy) của Mỹ với 3.000 quân bộ, cuộc hành quân Sedarfall gồm 12.000 lính, có xe tăng, máy bay yểm trợ tối đa, nhằm biến Củ Chi thành "khu tự do hủy diệt" đã bị đập tan. Củ Chi thật xứng danh "đất thép thành đồng" qua 20 năm bền bỉ chiến đấu.
    Ðiều thú vị nữa khi về thăm mảnh đất anh hùng này là các hướng dẫn viên đều ăn mặc như hồi chiến tranh: nam mặc đồ giải phóng, mũ tai bèo; nữ mặc bà ba đen, quàng khăn rằn và đi dép lốp. Sự có mặt của họ bên trong những búi cây, ở mỗi khúc quanh khiến du khách có cảm giác đang được sống trong sự thật của Củ Chi thời đánh giặc. Cảm giác thời chiến rõ nét hơn khi đĩa sắn luộc, bát muối vừng được đưa mời khách du lịch. Những ly rượu bé xíu, trong vắt và nồng nàn được gọi đùa là nước mắt quê hương bên đĩa rau mốp muối chua, giòn và ngon đến lạ. Bạn đừng quên nếm thử món rau mốp. Rau mốp là lương thực chính của quân dân Củ Chi ngày trước, còn giờ đây đang là đặc sản.
    Địa đạo Củ Chi
    Di tích địa đạo Củ Chi ở xã Phú Mỹ Hưng nằm phía Bắc Củ Chi là một hệ thống gồm hầm, địa đạo, giao thông hào, ụ chiến đấu, chủ yếu tập trung ở ấp Phú Hiệp thuộc xã Phú Mỹ Hưng với diện tích gần 100 mẫu: Tây Bắc giáp sông Sài Gòn, Đông Bắc giáp ấp Phú Lợi, Tây Nam giáp ấp Lộc Thuận, Lộc Hưng (Trảng Bàng) và Đông Nam giáp ấp Phú Hòa. Chọn Phú Hiệp lập hệ thống địa đạo là bởi vùng đất cao, lòng đất lẫn đá sỏi rắn chắc, có thể chịu sức ép bom 500kg và xe cơ giới của địch. Đây là khu rừng chồi, tre và cao su lẫn lộn rất th
    ích hợp cho địa hình du kích chiến.
    Năm 1961, địa đạo ở xã Phú Mỹ Hưng chỉ là những đường hầm ngầm sâu trong lòng đất, kéo dài vài chục thước, đôi khi giao nhau, chồng chéo... cốt tránh địch hơn là đối phó. Năm 1962, khi cuộc chiến chống đế quốc Mỹ bước sang giai đoạn quyết liệt, đồng chí Võ Văn Kiệt, lúc này là bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chỉ thị thành lập Ban chỉ đạo xây căn cứ có tên gọi là căn cứ Phú Hiệp do đồng chí Mười Phước - chỉ huy trưởng, các đồng chí: Tư Đạt, Năm Long, Ba Lùn, Tư Hùng - ủy viên và đồng chí Tám Trương - trưởng văn phòng cùng một số chiến sĩ thuộc tiểu đoàn Vinh Quang.
    Công trình lấy ngày kỷ niệm thành lập Đảng (3 tháng 2) khởi công. Theo bản thiết kế, địa đạo được xây dựng dựa theo kinh nghiệm từ trước, bằng cách cứ khoảng 16m tạo một giếng, đường kính 0,6m, sâu 3m, khi giáp mí thì lấp miệng. Từ đáy giếng dùng cuốc chim khoét sâu tạo địa đạo có chiều ngang 50cm, cao 80cm. Địa đạo gồm các ngóc ngách theo thế vừa chiến đấu, vừa tiếp nối từ hầm này đến hầm khác thành một thế liên hoàn được tính toán hết sức khoa học. Bởi vậy có những đoạn cắt ngắn, có đoạn song song, đoạn giao nhau, đoạn trên đoạn dưới, vòng vèo, quanh co, kéo dài đến trên 100 cây số.
    Những nơi giao nhau hoặc sắp vào miệng hầm, địa đạo hẹp dần, có khi phải trườn hoặc chui vào miệng hầm. Những giao điểm đặc biệt của địa đạo có chốt an toàn. Chốt là một khúc gỗ, đầu nhọn dài hoặc khối mủ cao su đường kính 40cm có dây dài. Để bịt kín địa đạo chỉ cần kéo mạnh dây, nút thắt cao su, hoặc khúc gỗ sẽ bịt kín đường hẹp địa đạo. Chốt an toàn nhằm ngừa địch sử dụng hơi cay hoặc bơm nước độc xuống địa đạo.
    Miệng địa đạo là một trong những cấu trúc đặc biệt, rất tinh vi thường lẫn lộn trong bụi rậm, gò mối, kích thước vừa vặn một người chui vào 30cm x 40cm. Nắp hầm là mảnh gỗ dày 10cm, mặt khỏa cỏ tươi, chụp vừa miệng hầm. Những lỗ thông hơi được tạo theo đường xiên 45o, núp trong các bụi rậm khó phát hiện. Tại các miệng xuống địa đạo, thỉnh thoảng có bẫy chông, là mảnh ván bắc ngang, dưới đặt bàn chông. Kẻ lạ bước lên, lập tức rơi xuống bẫy.
    Địa đạo ở xã Phú Mỹ Hưng chia làm 3 khu: Khu trung tâm dành cho các cán bộ lãnh đạo cao cấp. Khu bên phải gồm hầm văn phòng và hầm hội họp. Khu bên trái nơi đóng quân của tiểu đoàn Vinh Quang (đội phòng vệ). Điểm nổi bật của khu địa đạo ở xã Phú Mỹ Hưng là các hầm âm trong lòng đất. Những căn hầm xây dựng cho văn phòng, y tế, hậu cần, cơ yếu, văn nghệ... cả bếp Hoàng Cầm (bếp ém khói) tập trung khu vực mạn Đông con suối Thai Thai gọi là vườn quít. Mỗi hầm cách nhau 50 đến 70m, có kích thước như một hình vuông từ 3m đến 3,5m. Địa đạo nối các hầm thường vòng vèo và qua một chốt bảo vệ.
    Hầm tại khu trung tâm được mô tả như là một trong những kỳ công của khu địa đạo Phú Mỹ Hưng. Tại đây có hầm làm việc của Chính ủy, Tư lệnh và Phó tư lệnh, các khu ủy và hầm họp. Mỗi hầm cách nhau khoảng 400 đến 500m, thông nhau qua địa đạo. Tất cả những hầm này đều xây dựng trong khu vực đất rắn pha đá sỏi, nằm sát mí vườn nhà của hai ông: Hai Bao và Tám Cắt. Trước tiên hầm hình thành như một hố sâu, ngang 2m, rộng 3,5m, sâu 3,5m (kể cả nóc hầm cách mặt đất 1,8m).
    Nóc hầm được làm bằng các đà bê tông thả ngang, sau đó lấp kín hoàn toàn bên trên. Trong hầm, hai bên vách có giàn cây chịu lực hình chữ A có thể mắc võng nằm. Một số hầm có trét xi-măng chống thấm. Miệng hầm nối địa đạo thường qua một chốt gác. Từ đây, địa đạo có ngã rẽ chia hai. Một địa đạo đặc biệt dẫn dài đến mé sông Sài Gòn và trổ lên trong bụi ô rô. Khi có mật hiệu, ghe bên kia sông sẽ sang rước khách đặc biệt vào căn cứ Thanh Tuyền (bên kia sông Sài Gòn thuộc Bình Dương).
    Các hầm trong khu trung tâm đều có dạng cấu trúc tương tự và đều có địa đạo riêng thông với địa đạo đặc biệt nhằm đối phó khi có tình huống nguy hiểm. Trong thời gian tạm lánh tại địa đạo Phú Mỹ Hưng, các đồng chí cán bộ lãnh đạo cấp cao thường lên khỏi địa đạo đến thăm, đàm đạo với người dân trong ấp cũng như gia đình ông Hai Bao và Tám Cắt. Khu bên trái tức khu bố phòng của tiểu đoàn Vinh Quang với số lượng hầm ít hơn, cấu trúc thông thường như hầm hành chánh, kích thước 3m x 3,5m. Một chiến tuyến vững chắc hình thành một vòng cung bảo vệ khu trung tâm là một hệ thống giao thông hào xen kẽ ụ chiến đấu.
    Giao thông hào sâu từ 1,2m đến 1,4m, ngang 0,5m, chạy vòng vèo theo địa hình và kỹ thuật chiến đấu, cắt quãng hoặc tiếp nối các ụ chiến đấu. Uụ chiến đấu sử dụng bắn máy bay gồm rãnh tròn đường kính 3m bao quanh mô đất cao quá đầu người, ở giữa. Xạ thủ dùng mô đất vừa đặt súng, vừa làm vật cản, chạy quanh mô đất núp bắn máy bay địch. Có ụ chiến đấu là hố sâu chứa từ 3 đến 5 người. Xạ thủ bố trí nhiều mặt chiến đấu. Trong khu địa đạo Củ Chi có một giao thông hào song song con lộ 6 bố trí nhiều ụ chiến đấu, trang bị hỏa lực mạnh nhằm lừa địch, nhử địch, chặn địch và tiêu diệt địch. Ngoài ra bốn mặt khu địa đạo Phú Mỹ Hưng (căn cứ Phú Hiệp) còn có 4 trạm thông tin, báo động, trang bị máy móc hiện đại.
    Những đồng chí lãnh đạo cấp cao thường đến làm việc và ở tại căn cứ Phú Hiệp đôi lần trong thời gian vài ngày đến vài tháng như:
    • Đ/c Nguyễn Văn Linh (bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định từ 1965 - 1975);
    • Đ/c Võ Văn Kiệt (bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định từ 1960 - 1965);
    • Đ/c Trần Bạch Đằng - Uủy viên thường vụ Khu ủy (1960 - 1965), bí thư Phân khu 6 (tháng 10 - 1967);
    • Đ/c Mai Chí Thọ - phụ trách An ninh (1965 - 1975);
    • Đ/c Uút Một - Khu ủy viên phụ trách Tuyên huấn;
    • Đ/c Nguyễn Văn Tứ - Khu ủy viên phụ trách Tổ chức công an;
    • Đ/c Năm Đang - Khu ủy viên phụ trách Tổ chức phụ nữ;
    • Đ/c Hai Mơ - Khu ủy viên phụ trách Quân sự;
    • Đ/c Tám Lê Thanh, Trần Hải Phụng...
    Tháng 1/1966, Mỹ huy động hàng ngàn tăng, pháo binh, không quân, hải quân và trên 3.000 quân đổ xuống vùng tam giác sắt (bao trùm cả địa đạo Phú Mỹ Hưng). Đây là trận càn mang tên Crimp (cái bẫy) với đầy đủ vũ khí, kỹ thuật tối tân, cốt phá hệ thống địa đạo. Các du kích luồn trong địa đạo, lúc ẩn lúc hiện, đánh phủ đầu rồi lại biến mất. Cuộc hành quân tốn kém nhưng không thực hiện được ý đồ, nên một năm sau, ngày 8/1/1967, địch tiếp tục mở cuộc càn lớn mang tên Cedarfall với trên 12.000 quân lính đủ các binh chủng, được yểm trợ tối đa của phi cơ, pháo binh, thiết giáp đánh phá ác liệt khu địa đạo Phú Mỹ Hưng và phụ cận.
    Chúng đưa pháo đài bay B52 rải thảm bom, dội pháo từng đợt, sau đó đưa trực thăng đổ quân ào ạt. Một đại đội chuyên phá hầm và địa đạo, được huấn luyện tại Đồng Dù, sử dụng chó, súng phun lửa, hóa chất, xe ủi hạng nặng và hàng chục trực thăng chở nước bơm xuống địa đạo. Chúng dùng xe ủi đất 60 tấn, có móc thọc sâu xuống địa đạo đoạn đưa mìn vào đánh. Chúng chia mỗi tốp 4 tên, hai tên xuống địa đạo, trang bị mặt nạ, đặt mìn, chuyền dây phá địa đạo. Dùng bom xăng đặc, đốt cháy cả khu rừng, biến xóm làng thành bình địa. Nhiều đoạn địa đạo sụp, xóa mất các chốt, các miệng hầm. Mỹ thú nhận: "tìm thấy miệng địa đạo, nhưng thiếu kinh nghiệm, không thu được gì!".
    Giữa tháng 3/1967, Mỹ lại tiếp tục mở trận càn Manhattan, sử dụng tăng kèm bộ binh từ Đồng Dù càn lên căn cứ Phú Hiệp (địa đạo Phú Mỹ Hưng). Du kích sử dụng B40 và B41. Trận chiến diễn ra ác liệt. Địch gọi B52 rải bom. Vài đoạn địa đạo bị sụp so với hàng chục cây số địa đạo. Lại thất bại trong mưu đồ "xóa sổ" khu địa đạo Phú Mỹ Hưng, địch sử dụng cỏ Mỹ (loại cỏ gặp mưa phát triển rất nhanh) cao từ 2 đến 3m, thân to và sắc, lấn át các thứ cỏ khác, gây khó khăn đi lại và rất dễ phát hiện dấu vết. Mùa khô chúng đốt cỏ nhằm phát hiện miệng địa đạo, rải máy đếm tiếng động của người để gọi pháo dập, hoặc gài mìn râu, mìn cóc và tiếp tục mở hàng trăm cuộc càn phá lẻ tẻ nhưng tất cả đều phá sản. Các chiến sĩ vẫn tiếp tục tập kích, lúc ẩn lúc hiện, chặn đầu, khóa đuôi, gây tổn thất nặng nề cho sư đoàn "Tia chớp nhiệt đới", "Anh cả đỏ" và sư đoàn 25 ngụy, làm cho địch bàng hoàng, sửng sốt.
    Ngày nay, để tưởng nhớ công lao bao chiến sĩ anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và đất nước, một khu đền tưởng niệm được xây dựng hết sức trang trọng và uy nghi tại Bến Dược. Trên văn bia đặt trước đền có đoạn ghi "...Chiến thắng lớn đến từ hy sinh to lớn. Ai đếm khăn tang, ai đong máu chiến trường? Con của mẹ ra đi không bao giờ trở lại, mẹ khóc mỗi hoàng hôn... chim bay về núi tối rồi...". Địa đạo Phú Mỹ Hưng được Bộ Văn hóa cấp bằng công nhận di tích theo quyết định số 54/VHQĐ ký ngày 29/4/1979.

    Tên Gọi Bà Điểm:

    Xã xưa có 18 th. Vườn Trầu, huyện Bình Long, phường Tân Bình, tỉnh Gia Định xưa, nay là xã Tân Thới Nhất thuộc huyện Hóc Môn, ở phía Tây-Tây Bắc Thuận Kiều, TP. Hồ Chí Minh. Hội nghị TW lần 6 họp tại Bà Điểm tháng 11-1939 do các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu và Lê Duẩn chủ trì. Nơi nuôi giấu các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Duẩn, Võ Văn Tần. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra ngày 23/11/1940 tại đây và lan ra cách tỉnh Nam Kỳ, sau khi thất bại, Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai đã bị giặc Pháp xử bắn ở Hóc Môn ngày 25/4/1941.

    Tên gọi Bà Chiểu:

    địa điểm ở làng Hòa Bình, huyện Bình Dương, phường Tân Bình, tỉnh Gia Định nay thuộc huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh, có lăng Lê Văn Duyệt ở phía Bắc rạch cầu Bông, nhánh sông Thị Nghè. Chợ trên đường Bùi Hữu Nghĩa ở quận Bình Thạnh.

    Địa Danh Ba Son:

    Xưởng đóng tàu thủy của chúa Nguyễn xưa và xưởng sửa chữa, đóng tàu thủy và sà-lan của quân đội Pháp, thành lập năm 1864 ở vòm sông Thị Nghè ở Tp. Sài Gòn nay là Tp. Hồ Chí Minh. Bên cạnh có trường Bách Nghệ đào tạo công nhân cho xưởng này. Năm 1912 cụ Tôn Đức Thắng tham gia cuộc bãi công của trường Bách Nghệ. Tháng 8/1925, công nhân Ba Son đã tham gia cuộc bãi công lần thứ 2 của trường Bách Nghệ ngăn cản tàu Michelet chở quân Pháp sang Thượng Hải can thiệp vào cách mạng Trung Quốc.

    18 thôn vườn trầu
    Vị trí: Mười tám Thôn vườn trầu thuộc xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, ngoại vi Tp. Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố chưa đầy 10km.
    Ðặc điểm: Bà con sinh sống lâu đời ở đây coi trồng trầu là một nghề ăn nên làm ra. Do vậy mà, vườn nhà nọ nối với vườn nhà kia bằng một màu xanh bất tận của cây trầu.
    Thời ấy Mười tám Thôn vườn trầu lắm thú dữ, cảnh trí hoang sơn, cỏ cây rậm rạp. Nhắc tới địa danh này, nhiều cụ cao niên cho biết ngày xưa ở đây nhiều hổ lắm, "ông ba mươi" đi trên đường làng giữa ban ngày, còn ban đêm thì thả sức tung hoành quấy phá, bởi vậy mới có câu truyền miệng "dữ như hổ Mười tám Thôn vườn trầu". Bà con sinh sống lâu đời ở đây coi trồng trầu là một nghề ăn nên làm ra. Do vậy mà, vườn nhà nọ nối với vườn nhà kia bằng một màu xanh bất tận của cây trầu. Nghề nuôi ngựa, nuôi gà chọi cũng là một trong những nghề nổi tiếng ở đây. Buổi đầu Pháp xâm chiếm Nam Bộ, giữa tết năm Ất Dậu (1885), nhân dân Mười tám Thôn vườn trầu đã nổi dậy, khởi nghĩa giết đốc phủ Ca, một tên tay sai gian ác, rồi kéo quân vào Sài Gòn....
    Năm 1930 khi Ðảng Cộng Sản Ðông Dương ra đời thì Mười tám Thôn vườn trầu được chọn làm hậu cứ, nơi nuôi dưỡng các cán bộ lãnh đạo của Ðảng, nơi cất dấu tài liệu bí mật của Ðảng. Trong khoảng thời gian năm 1930 đến 1940, bà con Mười tám Thôn vườn trầu đã bảo vệ, che dấu, nuôi nấng nhiều chiến sĩ cộng sản, nhiều người con ưu tú của giai cấp công nhân, của dân tộc Việt Nam: Nguyễn Văn Cừ, Phan Ðăng Lưu, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Quốc Việt, Lê Duẩn...Tin vào dân, dựa vào dân, Trung ương Ðảng đã tổ chức ở đây ba cuộc họp quan trọng. Tháng 3 năm 1937 Trung ương Ðảng họp hội nghị mở rộng kiểm điểm tình hình, bàn chủ trương biện pháp cụ thể, nhất là công tác mặt trận và công tác đấu tranh hợp pháp để đẩy mạnh phong trào cách mạng tại ấp Tiến Lâm. Cũng tại ấp này, tháng 3 năm 1938, Trung ương Ðảng họp hội nghị toàn thể kiểm điểm ưu khuyết điểm về các mặt công tác: xây dựng Ðảng, tổ chức quần chúng, xây dựng mặt trận. Và đề ra những chủ trương cụ thể nhằm phát huy thắng lợi đã giành được, đưa phong trào đấu tranh dân chủ lên một bước nữa. Từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 11 năm 1939, hội nghị Trung ương Ðảng lần thứ 6 khai mạc tại ấp Tây Bắc Lân - Mười tám Thôn vườn trầu với sự tham gia của các đồng chí Nguyễn Văn Cừ (Tổng bí thư), Lê Duẩn, Phan Ðăng Lưu, Võ Văn Tần... Hội nghị đã bàn toàn diện các chủ trương của Ðảng trong tình hình mới. Ðêm 23 tháng 11 năm 1940, khởi nghĩa Nam kỳ bùng nổ. Cả một vùng rộng lớn nông thôn Nam Bộ rung chuyển trước sức nổi dậy, tiến công của quần chúng cách mạng. Ngày đó, bà con Mười tám Thôn vườn trầu tự vũ trang bằng gậy gộc, giáo mác đánh vào các cơ quan hành chính của thực dân Pháp. Do điều kiện chưa chín muồi, cuộc khởi nghĩa này đã thất bại. Thực dân Pháp dựng trường bắn ngay tại thị trấn Hóc Môn - chỗ ngã ba Giồng. Tại đây, những người con ưu tú của dân tộc, những cán bộ xuất sắc của Ðảng: Nguyễn văn Cừ, Võ Văn Tần, Phan Ðăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai... đã ngã xuống.
    Ngày nay Hóc Môn vẫn còn những di tích lịch sử ghi dấu những giai đoạn lịch sử anh hùng của nhân dân Hóc Môn cùng nhân dân Nam Bộ đấu tranh anh dũng kiên cường với thực dân Pháp, đế quốc Mỹ dành độc lập. Như: "Bia căm thù" ở Cầu Xáng, khu di tích. ĐỊA DANH 18 THÔN VƯỜN TRẦU
    Nhiều tài liệu nói, Hóc Môn là xứ trầu cau, người ta thường thu hoạch đem đi bán chợ Kinh (chợ Bến Thành) và các tỉnh.
    Những thực khách sành sỏi ở Sài Gòn, Chợ Lớn và các nơi có dịp đến Hóc Môn ăn nem, thưởng thức rượu đế, không ai quên được hương vị đặc biệt của món ăn này; rượu nấu bằng gạo nếp, men ngọt, nước trong nên vị ngọt, mùi thơm, nhiều bọt.Hóc Môn không phải chỉ có nem và rượu nếp ngon mà thôi. Đặc biệt, trầu và cau Bà Điểm nổi tiếng trong cả nước.
    Trước kia, Hóc Môn có 18 thôn, thôn nào cũng có trồng trầu và cau, vì thế nên có biệt danh “Thập Bát phù viên” (tức là 18 thôn vườn trầu) cho đến nay.
    Đa số phụ nữ Việt Nam thường hay ăn trầu, nhất là trầu và cau Bà Điểm, trầu Bà Điểm lá nhỏ, mỏng, vàng tươi, cau cơm dầy, trắng, ruột lớn, vỏ mỏng mềm, mùi thơm ngọt. Đặc biệt, ít khi bị thối ruột, không chát, ăn không bị say.
    Phong tục nuớc ta trong những ngày tết Nguyên đán, mọi nhà đều cúng ông bà, cha mẹ quá cố thì đặt một dĩa trầu cau. Trong việc giao tế nhất là việc hôn nhân, trầu cau đóng vai trò hết sức quan trọng “Miếng trầu là đầu câu chuyện” hay là “Trầu cau dùng lễ, nghĩa nhân mới nồng”.
    Trầu cau giữ một vai trò rất quan trọng trong việc dâng cúng ông bà trong 3 ngày tết; trong việc hôn nhân, giao tế nên dân gian kết cấu ra sự tích Cao Lang và Cao Nương để nói lên mối tình đầy thương tâm của hai người anh em giống nhau đến nỗi chị dâu phải nhầm.
    Trầu cau được thể hiện rất nhiều qua các câu phong giao, đồng giao hoặc các câu hò, câu hát…
    Trồng trầu thì phải khai mương
    Làm trai hai vợ phải thương cho đồng.
    ***
    Con chim chìa vôi bay ngang đám thuốc
    Con cá bãi trầu lội tuốt mương cau.
    ***
    Cau không trồng cau đực
    Trai không vơ,ï cực lắm anh ơi !
    *******
    Trái cau nho nhỏ – cái vỏ xanh xanh
    Anh gặp em giữa chợ Bến Thành
    Đến nay bầy con đông đúc, anh phải đành vậy thôi

    Những địa chỉ ẫm thực Sài Gòn - Cơm Sài Gòn

    Cơm Sài Gòn, chỉ đơn giản thế thôi, nhưng có bao nhiêu là món, mỗi món cơm đều mang một hương vị khác nhau, những "gu" thưởng thức cũng khác nhau. Nếu bạn muốn biết Sài Gòn có bao nhiêu món cơm, hay những quán cơm có tiếng thì hãy cùng mình điếm nhé:
    Cơm trái dừa: 80/68 Trần Quang Diệu
    Cơm Nêu - Quán Sài Gòn: 6C Tú Xương Q.3 - 8 203 188 (Người phục vụ đập nêu điệu nghệ, tung hứng. Cơm 3 miền, cá kho, canh rau, mắm đồng. Giá cao)
    Cơm hến
    a. Cố Đô: 367 An Dương Vương Quận 5 - 8 356 367
    b. Ngự Viên: 40 Kỳ Đồng-Quận 3 - 8 437 670
    c. Nam Giao: 26/b13-14 sư vạn hạnh quận 10 - 8 621 203
    Cơm tấm
    a. Thuận Kiều: 24 Thuận Kiều Quận 11 (Bì chả ở đây làm rất là đặc biệt)
    b. Thuận Kiều: 24 Tôn Thất Tùng Q.1, trước nhà thờ Huyện Sĩ
    c. 144 Võ Thị Sáu Quận 1 - 8 243 891
    d. Cơm Tấm Hạnh Dung: 111 Âu Cơ, P.14, Q.11, TP. HCM - 9 693 081. Quán rộng rãi, sạch sẽ, phục vụ chuyên nghiệp, món ăn ngon như thịt kho tàu, chuyên bán các món của người Hoa, ngoài ra còn có lẩu, cháo... Giá thấp nhất là 12000/dĩa cơm
    Cơm gà
    a. Cơm Gà Tôn Thọ Tường: quán cơm Vân Ký, Hà Ký, Phùng Nguyên hay Kim Tân ở khu phố bán gà, vịt quay ở đường Tạ Uyên, quận 11 (gần ngã tư giáp với đường Ba Tháng Hai). Theo thói quen của người Hoa, gà luộc được chấm nước xì dầu ăn kèm tương gừng băm nhuyễn với ớt xắt khoanh. Cơm lại được nấu bằng nước luộc gà trộn thêm chút dầu mè khiến thực khách ăn no vẫn còn muốn lần sau đến ăn nữa. Không những thế, bên cạnh đĩa cơm gà, chủ quán thường đặt đĩa dưa chua trông rất bắt miệng.
    b. Cơm gà bà luận tam kỳ : 43B1 Chu Văn An P. 26, Q. Bình Thạnh
    c. Cơm Gà Thiên Nhiên: 379 Minh Phụng, P.10, Q.11, TP. HCM - 9 606 856
    d. Cơm gà Ðông Giang : Trần Quý, quận 11 (gần chợ Thiếc)
    e. Cơm gà Thượng Hải: 21 Võ Văn Tần Q.3 , giữa Lê Quý Đôn và Trần Quốc Thảo
    f. Cơm gà Đông Nguyên: 89 Châu Văn Liêm Q.5 - 8 557 662 , ngay ngã 4 với Nguyễn Trãi- 1801 Nguyễn Trãi Q.5 (cách 2 căn trên đường Nguyễn Trãi) Gà ta luộc, cơm nóng, nước chấm ngon và 1 tô canh cải ngọt. Ngoài ra còn các món như gà ác tiềm thuốc bắc, canh óc heo, canh củ sen, dưa cải chua và xá xíu
    g. Hải Nam - 8 218 759
    h. Hồng Thắng: 378 Hai Bà Trưng Quận 1
    i. Dân Ký: 697 Lê Hồng Phong Quận 10 - 9 271 773
    j. Kim Tân: 237 Tạ Uyên Quận 11 - 8 561 621
    Cơm bắc
    a. Cơm bà cả Đọi : 11 Tôn Thất Hiệp Quận 1 - 8 225 328
    b. Cơm Bắc: 70 Ngô Đức Kế Quận 1- 8 298 954
    c. Cơm Bắc Đồng Nhân: 42 Trương Định Q.1 (ngay ngã 4 Lê Thánh Tôn) Quán cơm với những món bắc phổ thông. Hậu nhân của quán bà cả Đọi nổi tiếng trước kia.

    MUA SẮM:
    Một trong những thú vui khi đến thành phố Hồ Chí Minh là đi dạo phố và mua sắm.
    Hàng hóa thật phong phú, đủ màu sắc, đủ chủng loại, từ những vật dụng thông thường hàng ngày cho đến những đặc sản nổi tiếng của mọi miền đất nước, từ hàng sản xuất trong nước đến những nhãn hiệu quốc tế có uy tín trên thế giới. Cửa hàng thường trang trí rất đẹp, nhất là các cửa hàng thủ công mỹ nghệ và thời trang, mỗi cửa hàng như một tác phẩm nghệ thuật nho nhỏ.
    Chợ Bến Thành, một biểu tượng của Sài Gòn, được xem là chợ bán lẻ lớn nhất theo nghĩa bạn có thể tìm thấy tại đây đủ thứ mặt hàng, từ bình dân đến cao cấp, đặc biệt hàng thực phẩm thuộc loại chọn lọc nhất. Chợ An Đông mới xây dựng, có sáu tầng, trang bị khá hiện đại, phong phú nhất là hàng vải và hàng giả da. Bình Tây là chợ bán sỉ lớn nhất, không chỉ của thành phố mà cả phía Nam, là đầu mối phân phối sản phẩm tiểu thủ công nghiệp của Chợ Lớn, nông sản của đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên cùng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, Thái Lan… đi khắp mọi miền đất nước. Chữ bán sỉ và bán lẻ ở đây được hiểu theo nghĩa rất tương đối bởi vì thực tế các chợ lớn hay nhỏ đều có cả hai hình thức buôn bán này.
    Một đặc điểm nữa là thành phố có nhiều chợ chỉ chuyên bán một mặt hàng: Chợ vải Soái Kình Lâm, chợ hóa chất Kim Biên, chợ gạo Trần Chánh Chiếu, chợ thuốc lá Học Lạc, chợ gà Xóm Vôi, chợ hoa Hồ Thị Kỷ, chợ vật liệu xây dựng Trịnh Hoài Đức…
    Bên cạnh chợ, Sài Gòn có phố chuyên doanh.
    Muốn mua đồ gỗ thông dụng, mời bạn đến phố Ngô Gia Tự. Nhưng đồ gỗ cao cấp, thời trang hơn thì lại phải tìm đến các cửa hiệu trên đường Nguyễn Thị Minh Khai. Trong khi đó, phố đồ gỗ Cộng Hòa ở Tân Bình chủ yếu bán đồ nội thất chạm trỗ, các loại tượng bằng gỗ quý.
    Trang trí nhà cửa thì có phố vật liệu trang trí đường Lý Thường Kiệt và Tô Hiến Thành; phố hoa giả đường Ba Tháng Hai; phố màn rèm chăn gối trên đường Lê Văn Sĩ và Lý Thái Tổ - Điện Biên Phủ; phố trang trí đám cưới ở cuối đường Nguyễn Đình Chiểu…
    Phố thực phẩm Nguyễn Thông chuyên bán đồ hộp, nhưng rượu ngoại thì phải tìm đến phố Hải Triều. Phố Tạ Uyên chuyên bán thịt quay đủ loại. Còn trái cây thì nổi tiếng có Lê Thánh Tôn, Tân Định và Yết Kiêu
    Phố quần áo kéo dài trên đường Cao Thắng và Nguyễn Đình Chiểu, trong khi phố giày dép tập trung một đoạn đường Trần Huy Liệu cùng ở quận 3.
    Đồ cổ tập trung trên đường Lê Công Kiều, hàng lưu niệm khu Đồng Khởi, Lê Lợi và Lê Thánh Tôn, thuốc Bắc khu Triệu Quang Phục, hàng mã đường Lương Nhữ Học, đồ thờ đường Nguyễn Chí Thanh và Cách Mạng Tháng Tám…
    Một vòng dạo quanh sẽ đưa bạn đến với nhiều phố nữa, vẫn đang tiếp tục nở rộ khắp nơi.

    THAM QUAN & DU NGOẠN:

    Để chuyến du lịch đến thành phố Hồ Chí Minh trọn vẹn, có những điểm tham quan tiêu biểu mà bạn không thể bỏ qua.
    Với hệ thống 11 bảo tàng, thành phố Hồ Chí Minh là nơi có số bảo tàng nhiều nhất so với các tỉnh, thành trong cả nước. Nội dung trưng bày của các bảo tàng khá phong phú, và không chỉ về lịch sử và văn hóa địa phương, mà của cả Nam bộ, quốc gia và khu vực Đông Nam Á, cung cấp nhiều kiến thức lý thú.
    Trên 1.000 ngôi chùa, đình, đền và miếu được xây dựng qua nhiều thời kỳ cũng là những tài sản quý về văn hóa, kiến trúc và nghệ thuật. Bạn sẽ tìm thấy những chùa Phật giáo Nam bộ tiêu biểu, những ngôi đình xưa gắn liền với lịch sử khẩn hoang mở đất. Bên cạnh đó là những chùa "cách tân" lớn nhất và đẹp nhất trong cả nước, kết hợp nhuần nhuyễn giữa phong cách hiện đại với kiến trúc chùa cổ truyền. Thành phố có đến nửa triệu người Hoa sống tập trung nên số chùa Hoa cũng nhiều nhất so trong nước, kiến trúc đa dạng và phong phú, nhiều chùa đã được công nhận di tích lịch sử - văn hóa của thành phố và quốc gia.
    Người Pháp đã để lại nhiều công trình đẹp và đa dạng. Có thể nói hiếm có đô thị nào ở Đông Nam Á lại có nhiều dạng kiến trúc, nhiều trường phái, phong cách nghệ thuật phương Tây như Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh. Điển hình như trụ sở Ủy ban Nhân dân Thành phố theo phong cách Đệ Tam Cộng hòa Pháp, Ngân hàng Nhà nước chịu ảnh hưởng trào lưu Tân Nghệ thuật, Nhà Thiếu nhi với phong cách Tân Cổ điển, Nhà Rồng phong cách Đông Dương, Bưu điện với trường phái Chiết Trung, nhà thờ Đức Bà với nghệ thuật Rôman, nhà thờ Huyện Sĩ theo Tân Gôtic…
    Mảng kiến trúc đương đại, đang bùng nổ, trăm màu trăm vẻ, tạo cho thành phố một diện mạo vui mắt, trong đó có một số tòa nhà đẹp, có giá trị thẩm mỹ cao.
    Nhưng điểm du lịch độc đáo nhất của thành phố vẫn là Địa đạo Củ Chi, một công trình độc đáo trong lịch sử quân sự thế giới, biểu tượng của ý chí sắt đá và thông minh mưu trí của quân dân thành phố trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Lẫy lừng không kém là rừng ngập mặn Cần Giờ với những trận chiến phá tàu giặc trên cửa sông Sài Gòn, nay là một điểm du lịch sinh thái tuyệt vời với những cánh rừng đước xanh vô tận.
    Bảo tàng :
    Hệ thống bảo tàng của thành phố Hồ Chí Minh gồm 11 bảo tàng cùng nhiều nhà lưu niệm, nhà truyền thống, phòng truyền thống ở các quận, huyện.
    Bảo tàng Lịch sử Việt Nam là bảo tàng lớn nhất, và cũng là bảo tàng đầu tiên của thành phố, ra đời từ những năm đầu thế kỷ 20. Nhờ không ngừng sưu tầm và bảo quản được hiện vật qua các thời kỳ, nên Bảo tàng Lịch sử đã có một bộ sưu tập phong phú gần 30.000 hiện vật giá trị.
    Bảo tàng Hồ Chí Minh, nơi giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chủ tịch, thu hút nhiều khách nội địa nhất. Trong khi đó, Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh trưng bày về tội ác dã man của quân xâm lược Mỹ đối với nhân dân Việt Nam, là địa chỉ không thể thiếu trong chương trình tham quan của du khách nước ngoài.
    Chua chien:
    Có những ngôi chùa tiêu biểu của phong cách kiến trúc chùa Phật giáo cổ truyền ở Nam bộ với khung cảnh thanh nhàn, nội thất u nhã, và hàng chục pho tượng thờ, cột, bao lam gỗ chạm trổ tinh vi. Lại có những chùa xây dựng theo phong cách hiện đại nhưng lấy cảm hứng từ kiến trúc truyền thống với nội thất cao rộng và sáng sủa, bài trí đơn giản, tôn nghiêm, kết cấu bêtông cốt thép nhưng vẫn giữ dáng dấp cổ truyền.
    Trên 30 chùa Hoa, thực chất là miếu, gắn liền với lịch sử định cư của Sài Gòn – Chợ Lớn xưa kia. Kiến trúc chùa Hoa với màu sắc rực rỡ, nhiều tác phẩm điêu khắc, hội họa sinh động, thư pháp rồng bay phượng múa, mỗi chùa một sắc thái riêng theo phong tục tập quán của năm nhóm ngôn ngữ Quảng Đông, Phước Kiến, Triều Châu, Hải Nam và Hẹ.
    Điểm du ngoạn :
    Sông Sài Gòn như một dải lụa bạc uốn lượn qua thành phố.
    Một chuyến du ngoạn trên sông không chỉ để ngắm cảnh, đón gió mát mà còn để có cái nhìn bao quát về quá trình phát triển của vùng đất này: Từ những vạt dừa nước trên vùng đất bồi chuyển sang những cao ốc đẹp của thời kỳ đổi mới; từ những bến ghe chất đầy nông sản miền Tây đến cảng Sài Gòn lớn nhất Việt Nam đón tàu biển khắp thế giới; từ bến Nhà Rồng là nơi Bác ra đi tìm đường cứu nước sang bến Bạch Đằng cho tàu du lịch trên sông…
    Trên địa đầu tây bắc của thành phố là Địa đạo Củ Chi, căn cứ cách mạng với hệ thống đường hầm như mạng nhện trong lòng đất, nổi danh cả trên thế giới. Quần thể địa đạo và Đền Tưởng niệm Bến Dược bên sông Sài Gòn nay là một di tích lịch sử - văn hóa với phong cảnh hữu tình, dòng sông thanh bình, vườn cây sum suê và đồng lúa xanh bát ngát.
    Rừng ngập mặn Cần Giờ án ngữ cửa sông Sài Gòn, nguyên là căn cứ của lực lượng đặc công với những trận diệt tàu giặc lẫy lừng, đã trơ trụi vì bom đạn và chất độc màu da cam. Nay những cánh rừng đước mênh mông đã được hồi sinh, trở thành Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới, một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn.
    Bạn cũng sẽ ngạc nhiên về một điểm sinh thái khác cách không xa trung tâm thành phố là vườn cò Thủ Đức, trong một vùng quê sông nước êm ả, thanh bình, nơi "đất lành chim đậu".

    Văn hoá – Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
    Đất Sài Gòn - Gia Định là nơi hội tụ nhiều dòng chảy văn hóa, là "cơ cấu kiến trúc" Việt - Hoa - Châu Âu. Vì trên 300 năm trước, Bến Nghé – Sài Gòn xưa là nơi tiếp nhận các nguồn lưu dân từ Trung, Bắc đến lập nghiệp, rồi các di dân người Hoa vào định cư ở Biên Hòa, Mỹ Tho cùng hội tụ với dân cư bản địa. Sau đó, Sài Gòn trở thành một trong những trung tâm của cả nước đón nhận những ảnh hưởng của văn hóa Pháp, Mỹ qua các giai đoạn thăng trầm của đất nước. Tính giao thoa hội tụ của những người cần cù vượt khó, hội tụ tài năng và sức lực cả nước đã biến Sài Gòn thành một phức thể văn hóa thông qua phong tục tập quán, cách thức ăn uống, trang phục, sinh hoạt ma chay, cưới hỏi, tôn giáo tín ngưỡng; tinh thần đoàn kết dân tộc, năng động sáng tạo; kiên cường bất khuất, lòng yêu nước, ý chí tự lực tự cường; tinh thần tương thân tương ái; tính chất hòa đồng, nhạy cảm, dễ tiếp cận và hòa nhập; cá tính bộc trực, thẳng thắn, trọng nghĩa khinh tài... vốn là truyền thống, phẩm chất tốt đẹp của dân tộc và con người Thành phố.
    Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là trung tâm văn hóa mà còn là trung tâm báo chí - xuất bản của đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước. Thành phố này là nơi phổ biến chữ quốc ngữ đầu tiên, là nơi ra báo đầu tiên bằng chữ quốc ngữ (Tờ “Gia Định báo”) của cả nước. Sự ra đời và phát triển phong phú của sách, báo, trường đào tạo chuyên ngành, của đội ngũ văn nghệ sĩ, của các hoạt động và giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật ... đã tạo cho Sài Gòn từ lâu là một thành phố có ảnh hưởng lớn về văn hóa.
    Trải qua hơn 300 năm hình thành và phát triển, Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố trẻ nhưng cũng có không ít những tài nguyên du lịch nhân văn. Đó là những công trình kiến trúc cổ như Nhà Rồng, đền Quốc Tổ, Dinh Xã Tây (trụ sở UBNDTP), Nhà hát lớn, Bưu điện, hệ thống các ngôi chùa cổ (chùa Giác Lâm, chùa Bà Thiên Hậu, Tổ Đình Giác Viên...), hệ thống các nhà thờ cổ (Đức Bà, Huyện Sỹ, Thông Tây Hội, Thủ Đức...).
    Với vai trò vị trí là một Trung tâm Văn hoá của cả nước, thành phố hiện có 22 đơn vị nghệ thuật, 9 rạp hát, chiếm 15,5% và 18,6% số lượng của cả nước. Ngành Văn hóa Thông tin đã xây dựng quy hoạch phát triển ngành văn hoá thông tin đến năm 2010cũng như kế hoạch thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ văn hoá – xã hội theo hướng phát triển đô thị hiện đại, giàu bản sắc dân tộc. Trong năm 2003, Thành phố phấn đấu đào tạo nghề cho 180.000 người, giải quyết việc làm cho mới cho 210.000 người và cương quyết hoàn thành cơ bản chương trình XĐGN vào cuối năm. Tiếp tục thực hiện chương trình nhà ở cho công nhân lao động và người có thu nhập thấp. Để trở thành Thành phố văn minh, các phong trào chống các tệ nạn xã hội mà nổi bật là chương trình ba giảm đã được toàn dân thành phố tham gia. Thành phố đã đề ra kế hoạch theo một lộ trình rõ rệt để giải quyết đồng bộ các tệ nạn xã hội. Đẩy mạnh phong trào xây dựng đời sống văn hoá cơ sở , đổi mới phương thức trong hoạt động tuyên truyền cổ động, triển lãm quảng cáo-->,tiếp tục phát triển hệ thống Bảo tàng, Thư viện, Trung tâm Văn hóa..., tăng cường quản lý Nhà nước, cương quyết lập lại trật tự kỷ cương trong các hoạt động văn hoá, tạo môi trường văn hoá xã hội lành mạnh.

    Thành phố - chứng nhân của dòng chảy lịch sử
    Được xem là nơi cung cấp nguồn lương thực cho cả nước và cũng là trung tâm buôn bán ngay giữa một vùng phì nhiêu nhất, điều kiện tự nhiên lại rất thuận lợi về mặt giao thông hàng hải, thương mại... Sài Gòn được các nước phương Tây chú ý ngay từ những năm đầu thế kỷ XIX. Sau một năm đổ bộ vào Đà Nẵng, năm 1859 quân đội viễn chinh Pháp đánh chiếm Sài Gòn. Nhằm thực hiện mưu đồ chiếm đóng toàn bộ lãnh thổ nước ta, tiến tới việc xác lập khu vực ảnh hưởng của đế quốc Pháp tại Viễn Đông, Pháp đã gấp rút xúc tiến việc qui hoạch xây dựng Sài Gòn thành một đô thị lớn nhiều chức năng về hành chính, quân sự, kinh tế, cảng v.v... Đứng trước vận mệnh của dân tộc, nhân dân Sài Gòn – Gia Định đã nhất tề đứng dậy chống xâm lăng...
    Vào cuối năm 1950, lợi dụng tình hình thực dân Pháp suy yếu, đế quốc Mỹ thừa cơ nhảy vào thay thế Pháp, chủ trương chiếm đóng lâu dài miền Nam. Lúc này, Sài Gòn trở thành thủ đô của miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào. Cùng với việc xây dựng để bảo vệ các cơ quan đầu não về chính trị, quân sự, Mỹ đã đầu tư phát triển xây dựng, mở mang làm cho thành phố Sài Gòn trở thành một trung tâm kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa. Thêm một lần nữa, lịch sử đã ghi nhận tinh thần yêu nước nồng nàn và ý thức trách nhiệm cao cả của đồng bào Nam Bộ mà Sài Gòn – Gia Định là bức trường thành kiên cố của Tổ quốc phương Nam, là lực lượng kiên cường bảo vệ sự thống nhất đất nước...
    Hôm qua, nhân dân thành phố đã chịu biết bao hy sinh gian khổ. Hôm nay, nhân dân thành phố đã đem hết sức lực, trí tuệ, vượt qua nhiều khó khăn thử thách, khắc phục hậu quả và hàn gắn vết thương chiến tranh, phấn đấu trở thành một thành phố mạnh về mọi mặt, một thành phố xã hội chủ nghĩa có cơ cấu công – nông nghiệp hiện đại, có văn hóa, khoa học tiên tiến, một thành phố văn minh có tầm cỡ Đông Nam Châu Á.

    '''Chợ Bến Thành''' là một trong những địa điểm tiêu biểu của [[Thành phố Hồ Chí Minh]]. Trong nhiều trường hợp, hình ảnh khu cửa nam ngôi chợ này được xem là biểu tượng của thành phố.

    CHỢ BẾN THÀNH

    Nguồn gốc và xuất xứ tên gọi

    Nguyên thủy, chợ Bến Thành đã có từ trước khi người Pháp xâm chiếm [[Gia Định]]. Ban đầu, vị trí của chợ nằm bên bờ sông Bến Nghé, cạnh một bến sông gần [[thành Gia Định]] (bấy giờ là thành Quy, còn gọi là [[thành Bát Quái]]). Bến này dùng để cho hành khách vãng lai và quân nhân vào thành, vì vậy mới có tên gọi là Bến Thành, và khu chợ cũng có tên gọi là chợ Bến Thành

    ==Chợ Cũ==

    Chợ Bến Thành thời kỳ đầu được xây bằng gạch, sườn gỗ, lợp tranh, được mô tả như là "phố chợ nhà cửa trù mật ở dọc theo bến sông. Chỗ đầu bến này có lệ đến đầu mùa xuân gặp ngày tế mạ, có thao diễn thủy binh, nơi bến có đò ngang chở khách buôn ngoài biển lên. Đầu phố phía Bắc là ngòi Sa ngư, có gác cầu ván ngang qua, hai bên nách cầu có dãy phố ngói, tụ tập trăm thứ hàng hóa, dọc bến sông ghe buôn lớn nhỏ đến đậu nối liền"<ref> "[[Gia Định thành thông chí]]" - Trịnh Hoài Đức</ref>. Tuy nhiên, sau [[Cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi|cuộc nổi loạn]] của [[Lê Văn Khôi]] (1833-1835), thành Quy bị triệt hạ, phố chợ Bến Thành cũng không còn sầm uất như trước.

    Trước khi Pháp đánh chiếm Gia Định, khu vực xung quanh thành Gia Định (bấy giờ là [[Thành Gia Định (1836-1859)|thành Phụng]]) mới chỉ có 100 ngàn dân và chợ Bến Thành là nơi đông đúc nhất. Cạnh khu chợ, dọc theo bờ sông Bến Nghé, các ghe thương thuyền thường đậu chen chúc nhau, tạo thành một thành phố nổi trên mặt nước. Tuy nhiên, khi ấy khu họp chợ trên bến mới chỉ là một dãy nhà trống lợp ngói. Tháng 2 năm 1859, [[Trận thành Gia Định, 1859|Pháp chiếm thành Gia Định]] và hai ngày sau, các binh lính người Việt đã tổ chức [[hỏa công]] thiêu rụi cả thành phố, tất nhiên chợ Bến Thành cũng bị thiêu hủy. Sau khi đã vững chân trên mảnh đất [[Nam Kỳ]], năm 1860, người Pháp đã cho cho xây cất lại chợ Bến Thành ở địa điểm cũ (thời [[Việt Nam Cộng hòa]] là địa điểm Tổng Ngân khố, nay là Trường đào tạo cán bộ ngân hàng trên đường Nguyễn Huệ). Ngôi chợ được xây cất bằng cột gạch, sườn gỗ, và lợp lá. Đến tháng 7 năm 1870, chợ bị cháy mất một gian, phải xây cất lại bằng cột gạch, sườn sắt, lợp bằng ngói, tất cả có năm gian: gian thực phẩm, gian hàng cá, gian hàng thịt, gian hàng ăn uống và gian hàng tạp hóa. Trong năm gian hàng này, chỉ có gian hàng thịt được lợp bằng tôn, nền lót đá xanh.

    Thời đó, khu chợ được xây dựng bên bờ phía nam một con kênh, được gọi là Kinh Lớn. Phía trước chợ, dọc bờ kênh là một con đường được người Pháp đặt tên là đường Charner, hay một tên gọi khác là đường Quảng Đông (''Rue de Canton''), bởi đa số người Hoa làm nghề buôn bán ở đây đều là người [[Quảng Đông]]. Phía đối diện bờ kênh là đường Rigault de Genouilly. Do vị trí nằm giao điểm của khu đô thị và hợp lưu của hai tuyến đường thủy là kênh Lớn và rạch Cầu Sấu (nay là đường Hàm Nghi), ghe thuyền có thể cập bến và đổ người lên chợ bất cứ ở phía bên này hay bên kia. Còn người bên đất liền muốn qua chợ thì có thể đi qua những chiếc cầu gỗ xinh xắn, do đó chợ Bến Thành luôn luôn nhộn nhịp.

    Vào năm 1887, người Pháp cho lấp con kênh và sát nhập hai con đường lại làm một thành đại lộ Charner. Dân bản xứ gọi nôm là đường Kinh Lấp (nay là Đại lộ Nguyễn Huệ). Khu chợ càng trở nên đông đúc với các cửa hiệu phần nhiều là của [[người Hoa]], người [[Ấn Độ]] và người Pháp. Tuy nhiên, khoảng giữa năm 1911, ngôi chợ trở nên cũ kỹ và lâm vào tình trạng có thể bị sụp đổ. Để tránh tai họa, người ta phải phá chợ, chỉ còn gian hàng thịt, vì mái tôn nhẹ, nên chưa bị phá. Đồng thời, người Pháp cũng lựa chọn một địa điểm để xây cất một khu chợ mới lớn hơn để phục vụ nhu cầu buôn bán sầm uất ngày càng phát triển. Địa điểm được lựa chọn nằm gần ga xe lửa [[Mỹ Tho]] (nay là Bến xe Sài Gòn), tức là địa điểm chợ Bến Thành ngày nay.

    ==Chợ Mới==

    Khu vực xây chợ, vốn là một cái ao sình lầy cũ, gọi là ao Bồ Rệt (''Marais Boresse''), được người Pháp cho lấp đi. Khuôn viên chợ quy hoạch bốn mặt bởi bốn con đường. Mặt tiền là Place Cuniac, tên đặt theo viên Xã Tây (Ủy viên Hội đồng) Cuniac, người đã đề ra công việc lấp ao. Người Việt thì quen gọi đó là ''Bùng binh Chợ Bến Thành'' cho dù tên chính thức đã từng đổi là "Công trường Cộng Hòa", "Công trường Diên Hồng", rồi "Quảng trường Quách Thị Trang". Mặt bắc chợ là Rue d'Espagne, phía đông là rue Viénot, và phía tây là rue Schroeder. Năm 1955 thời [[Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam]], bốn con đường này đổi tên thành đường Lê Thánh Tôn, đường Phan Bội Châu và đường Phan Châu Trinh.

    Ngôi chợ mới do hãng thầu Brossard et Maupin<ref>Phụng Nghi. ''Sài-gòn trong mắt tôi''. Westminster, CA: Văn-nghệ. trang 114.</ref> khởi công xây dựng từ năm 1912 đến cuối tháng 3 năm 1914 thì hoàn tất. Lễ ăn mừng chợ khánh thành được báo chí thời đó gọi là "Tân Vương Hội", do được diễn ra trong ba ngày 28, 29 và 30 tháng 3 năm 1914, với [[pháo bông]], xe hoa và hơn 100.000 người tham dự, kể cả từ các tỉnh đổ về.

    Khu chợ mới này vẫn mang tên gọi Bến Thành, ngoài ra người dân còn gọi là chợ Mới, để phân biệt chợ Cũ tại điểm cũ, vốn chỉ còn lại gian hàng thịt. Phần còn lại bị phá đi và được người Pháp xây dựng thành cơ quan Ngân khố. Hai con đường bên hông chợ mãi đến năm 1940 còn là bến xe đò miền Đông và miền Tây. Về sau, bến xe này mới được dời đi chỗ khác.

    Chợ Bến Thành hoạt động liên tục trong 70 năm. Từ ngày 1 tháng 7 đến 15 tháng 8 năm 1985, chợ Bến Thành được cải tạo và sữa chữa lớn.

    * Địa chỉ: Cửa Nam (nằm giữa các đường Phan Bội Châu - Phan Chu Trinh - Lê Thánh Tôn - Công trường Quách Thị Trang) - Phường Bến Thành - Quận 1

    * Điện thoại: +84.8.8292096

    * Diện tích: 13.056 m²

    * Ngành hàng kinh doanh chủ yếu: Quần áo, vải sợi, giầy dép, thời trang, hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm tươi sống, trái cây, hoa tươi.

    Click this bar to view the full image.

     

    Quán Cõi riêng :Địa chỉ của quán là : 334A, Nguyễn Trọng Tuyển. Q.Tân Bình, TP.HCM

    Quán Lối Về :Địa chỉ quán : 438 Nguyễn Kiệm, P.9, Q. Phú Nhuận, Tp.HCM

    Cà phê Nhỏ và Xinh, 91 Nguyễn Trọng Tuyển, quận Phú Nhuận, TP HCM

    Cà phê Dạ Khúc, 39/2 Phạm Ngọc Thạch, quận 1.

    Tìm về Chốn Xưa 63/14/4 Lê Văn Sỹ, phường 13, quận Phú Nhuận, TP HCM

    Cà phê Sỏi Đá 6B Ngô Thời Nhiệm, quận 3, TP HCM

    Quán Nắng Xanh: 58 Phan Xích Long, phường 1, quận Phú Nhuận, TP HCM

    Era: Địa chỉ là 58C Trần Quốc Thảo, góc Trần Quốc Thảo - Tú Xương

    Tưởng Niệm: Địa chỉ: 55A Trần Bình Trọng, Bình Thạnh.

    MỤC LỤC



    Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam
    PHÒNG 1: THỜI ĐẠI NGUYÊN THỦY***
    *** Phòng 2: THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG***
    Phòng 3: THỜI KỲ ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC (THẾ KỈ I – THẾ KỈ X)***

    Phòng 4: MỘ XÁC ƯỚP XÓM CẢI***
    *** Phòng 5: THỜI LÝ (thế kỉ XI – thế kỉ XIII)***

    Phòng 6: THỜI TRẦN (Thế kỉ XIII - thế kỉ XIV) ***

    Phòng 7: THỜI LÊ (thế kỉ XV - thế kỉ XVII) ***
    Phòng 8: THỜI TÂY SƠN (Thế Kỉ XVIII

    Phòng 9: Thời Nguyễn Và Phong Trào Chống Thực Dân Pháp
    (Thế Kỉ XIX - Đầu Thế Kỉ XX)***

    Phòng 10: GỐM CỔ MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á***
    PHÒNG 11: VĂN HOÁ ÓC EO (Thế Kỉ I - Thế Kỉ VI)***
    Phòng 12: NGHỆ THUẬT ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
    (Thế Kỉ VII - Thế Kỉ XIII) ***

    Phòng 13: BẾN NGHÉ - SÀI GÒN***
    Phòng 14: NGHỆ THUẬT CHĂMPA***
    Phòng 15: THÀNH PHẦN DÂN TỘC Ở CÁC TỈNH PHÍA NAM***

    Phòng 16: TƯỢNG PHẬT VIỆT NAM VÀ MỘT CÁC NƯỚC CHÂU Á***
    Thành phố hồ chí minh và những điểm cần thuyết minh

    THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Dinh Thống Nhất

    BẢO TÀNG CHIẾN TÍCH CHIẾN TRANH
    BẾN CẢNG NHÀ RỒNG

    Lý lịch Bến cảng Nhà Rồng


    NHÀ THỜ ĐỨC BÀ
    ĐIỂM CẦN THUYẾT MINH-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
    Đường Nguyễn Văn Trỗi , Tiểu sử Nguyễn Văn Trỗi

    Đường Hoàng Văn Thụ, Tiểu sử Hoàng Văn Thụ

    Đường Phan Đăng Lưu, Tiểu sử Phan Đăng Lưu

    Lăng Ông Bà Chiểu

    Đường Bạch Đằng Đường Bạch Đằng

    Đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh

    Vòng xoay Hàng Xanh
    Đường Điện Biên Phủ,Chiến dịch Điện Biên Phủ

    Khu vực Văn Thánh

    Sông Sài Gòn

    Cầu Sài Gòn

    Cư xá Thanh Đa

    Khu vực Tân Cảng
    Quận 2
    Quốc lộ 52 (Xa lộ Biên Hoà)
    Quận 9

    Quận Thủ Đức

    Cầu Rạch Chiếc

    Nghĩa trang liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh
    KHU DU LỊCH VĂN HÓA SUỐI TIÊN
    NHÀ MÁY NƯỚC THỦ ĐỨC

    Ngã tư Thủ Đức
    Thảo Cầm Viên Sài Gòn
    Bưu điện Thành phố Hồ Chí Minh
    Chợ Bến Thành
    Chùa Vĩnh Nghiêm

    Việt Nam QuốcTự

    Thiền viện vạn hạnh
    Chùa Xá Lợi
    Chùa Giác Lâm

    Bát Bửu Phật đài ,(Chùa Phật cô đơn)
    Chùa Ông ,(Nghĩa An Hội Quán)

    Rừng ngập mặn Cần Giờ

    Khu du lịch văn thánh

    Một số quán ăn ngon tại tp.HCM

    Chùa Phước Hải

    Chợ kim Biên
    Chợ Bình Tây – chợ Lớn
    Lịch sử Đức Phật ,Thích Ca Mâu

    CHÙA GIÁC LÂM

    LIỄU TRI TÂM

    Chùa Vĩnh Nghiêm

    Lễ hội chùa Ngọc Hoàng

    Khám phá kiến trúc nhà thờ Tân Định
    Vườn trái Lái Thiêu

    Phố đồ cổ tại Sài Gòn - Phố Lê Công Kiều

    Hướng dẫn du lịch TP Hồ Chí Minh

    Chùa chiền

    Nhà thờ

    Các kiến trúc khác

    Điểm du ngoạn

    Hệ thống chợ Tp.HCM

    Nhà thờ Ba Chuông

    Kể chuyện dời mộ ở Sài Gòn nhân Lễ Vu Lan

    Saigon-những kỷ lục

    Lăng Cha Cả - Bá Đa Lộc - Thực và hư

    Tên Gọi Bà Điểm

    Tên gọi Bà Chiểu:

    Địa Danh


    Ba Son

    Bài thuyết minh city tour Thành Phố Hồ Chí Minh