trang Blog

dongphuongTham gia: 20/05/2011
  • Bài Thuyết Minh Phan Rang Nha Trang Đà Lạt
    Du Lịch
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Bài Thuyết Minh Phan Rang Nha Trang Đà Lạt

    Bài Thuyết Minh Tuyến Phan Rang - Nha Trang - Đà Lạt

    Thuyết Minh Theo Tuyến Từ Tp.HCM->Nha Trang

    Dzoãn Tiến Đạt

    Địa phận Tp.HCM:
    Trên mảnh đất mà ngày nay có Tp.HCM, từ đầu TK XVII đã có những người nông dân Việt Nam đến và khai phá rừng mở mang đồng ruộng. Họ là những người nông dân lao động không chịu đựng nổi sự áp bức, bóc lột của bọn phong kiến Trịnh – Nguyễn vì thế mà họ lần theo bờ biển Đông hoặc bằng những chiếc ghe bầu cưỡi đầu ngọn sông đi tìm đất sống tự do.
    Cái tên Đồng Nai – Bến Nghé phản ánh rất đúng hiện thực rất chân chất và thơ mộng cũng ra đời từ đấy.
    Mảnh đất Bến Nghé này trãi qua gần 400 năm lịch sử đã mang rất nhiều tên khác nhau để rồi ngày nay được mang tên Hồ Chí Minh – người anh hùng đẹp nhất trong lịch sử Việt Nam.
    Từ đầu TK XVII đến năm 1688 là Bến Nghé
    Từ 1688 là phiên trấn Dinh
    Năm 1698 là Tân Bình huyện
    Năm 1775 là Gia Định thành
    Năm 1790 là Gia Định kinh
    Năm 1802 là Gia Định trấn
    Năm 1809 là Gia Định thành, thủ phủ của tổng trấn Phiên An.
    Từ năm 1976 sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Quốc Hội chính thức lấy tên là TP.HCM
    Thành phố Hồ Chí Minh trong địa giới hôm nay rộng hơn 2093,7 km2; Dân số 5.554. 850 người (năm 2003), Là Thành Phố lớn và đông dân nhất của đất nước, có năng lực lớn về sản xuất kinh doanh và là một trong những thành phố đang phát phát triển khá sầm uất của khu vực Đông Nam Á. Gồm 20 quận và 5 huyện:
    Nội thành có 15 quận: Quận 1, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10, 11, Phú Nhuận, Gò Vấp, Bình Thạnh, Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân.
    Ngoại thành có 4 quận: quận 2, 9, 12, Thủ Đức
    5 huyện : Nhà Bè, Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh, Cần Giờ.
    Lịch sử hình thành nên khu vực này trải dài hơn 300 năm với biết bao thăng trầm.
    Ngày xưa đây là 2 huyện của xứ “ Sài – Côn “, vào năm 1698 Chưởng Binh Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh đã xây thành dinh Trấn Biên tại xứ Đông Phố, dinh Phiên Trấn tại xứ Sài – Côn và lấy vùng đất mới dẹp loạn và đặt tên là huyện Tân Bình (nghĩa là mới bình loạn). Việc xác định Sài Gòn ở vị trí trung tâm cho cả vùng đất mới phương Nam thể hiện xu thế phát triển và bản lĩnh kiên cường của một dân tộc vốn có nền văn hiến lâu đời. Chính vì vậy Sài Gòn – Gia Định suốt mấy thế kỉ qua đã đứng vững trước bao thử thách và phát triển ngày càng nhanh chóng. Sài Gòn ra đời vào lúc chế độ phong kiến suy vong, giai cấp thống trị không còn tiêu biểu cho truyền thống cao quý của dân tộc. Song những người lao động, trước hết là những người nông dân, tụ hội từ 4 phương đến Sài Gòn vẫn mang trong mình dòng máu “Con Rồng Cháu Tiên”, vẫn giữ gìn truyền thống đoàn kết dân tộc và thống nhất quốc gia. Chính vì vậy trải qua ba thế kỷ đầy biến động và hào hùng, từ khi còn là mảnh đất hoang sơ cho đến khi hình thành một đơn vị hành chính, một trung tâm kinh tế văn hoá của cả nước; Sài Gòn luôn là mảnh đất yêu dấu trong lòng mỗi người dân Việt Nam.
    *Tọa lạc trên vùng đất Đông Nam Bộ, Sài Gòn ở vào vị trí có ưu thế lớn:
    -Phía Tây là bình nguyên bát ngát – vựa lúa cả nước, với những kênh rạch đủ sâu cho mọi loại thuyền.
    -Phía Đông là cảng biển lí tưởng cho sự giao lưu thế giới. Khí hậu nóng ẩm, song lại ít thiên tai, sản vật phong phú: lúa gạo, trái cây 4 mùa, sản phẩm rừng biển cùng cùng với sức lao động dồi dào và con người dũng cảm, cần cù, nhân hậu... Sài Gòn đã sớm trở thành nơi giao lưu kinh tế và thương mại có sức cuốn hút lớn.
    Khi bị ngoại xâm, không cam chịu mất nước, nhân dân Sài Gòn – Gia Định đã nhất tề đứng lên. Lịch sử đã ghi nhận tinh thần yêu nước nồng nàn và ý thức trách nhiệm cao cả của nhân dân Nam Bộ nói chung và Sài Gòn – Gia Định nói riêng trước vận mệnh dân tộc.
    Sau thời gian dài trường kì kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân 1975 đã đánh dấu bước ngoặc mới cho sự hòa bình và ấm no của dân tộc Việt Nam.
    Tên thành phố Sài Gòn được đổi thành tên thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1976.
    Sau hơn 10 năm cùng với cả nước thực hiện đường lối đổi mới kinh tế trên địa bàn thành phố tăng trưởng khá cao và ổn định đóng góp 37,8% GDP cả nước.
    Hiện nay, Tp.HCM là trung tâm du lịch lớn nhất cả nước , thu hút hàng năm 70% lượng khách quốc tế đến Việt Nam .
    Ngã Tư Hàng Xanh Đây là một trong những giao lộ quan trọng và là cửa ngõ ra vào thành phố với lưu lượng hơn 20.000 lượt xe qua lại trong một giờ. Cho nên thường xảy ra tình trạng kẹt xe trong giờ cao điểm. Trước tình hình này UBND TP.Hồ Chí Minh đã xem xét dự án xây dựng giao lộ này với kinh phí xây dựng 15,6 tỉ đồng. Tên gọi Hàng Xanh bởi ngày xưa khu vực này có rất nhiều cây Sanh (một loại cây gỗ cùng họ với cây Si) đọc chạy nên có tên là Hàng Xanh. Người dân ở đây quen gọi là Ngã 4 Hàng Xanh.
    Khu Du Lịch Văn Thánh
    Cầu Văn Thánh bắt qua rạch Văn Thánh đổ ra rạch Thị Nghè rồi sau đó đổ ra sông Sài Gòn. Phía bên tay phải là khu du lịch Văn Thánh một trong những nơi du lịch,vui chơi giải trí của thành phố, được xây vào năm 1988. đây là một cù lao nhỏ (khoảng 7ha) trước những năm 1975 còn được gọi là cù lao Bảy Mẫu. Theo sáng kiến của các nhà hoạt động văn hóa quận Bình Thạnh, cù lao Bảy Mẫu đã được đầu tư xây dựng thành khu du lịch Văn Thánh. Hàng năm vào ngày 5-1 âm lịch nơi đây thường tổ chức lễ hội mừng chiến thắng của vua Quang Trung (Ký Dậu 1789)và cuộc thi tuyển chọn diễn viên điện ảnh, người mẫu. Tên gọi là Văn Thánh vì năm 1824(Minh Mạng đời thứ 5) ở khu vực này có xây dựng ngôi Văn-Miếu thờ đức Khổng Tử nên người dân gọi là khu Văn Tử dụng hánh nhưng trong thời Pháp miếu thờ này đã bị phá hủy và hiện nay không còn nữa.
    Bến Xe Văn Thánh
    Bến xe Văn Thánh là một trong những bến xe lớn có từ lâu đời ở khu vực này. Từ đây có thể đi Biên Hòa-Vũng Tàu và một số tỉnh miền Trung. Khoảng cuối năm 1996 bến xe được dời sang bến xe Miền Đông vì ở đây xây dựng hệ thống đường lớn và cao tốc, nếu để bến xe ở khu vực này dễ gây ách tắt giao thông.
    Khu Tân Cảng
    Khu Tân Cảng nằm ngay dưới chân cầu Sài Gòn phía hạ lưu quận Bình Thạnh. Cảng này được Mỹ xây dựng vào năm 1965, được xem là Hải Cảng Quân Sự lớn của Mĩ-Ngụy nhằm cung cấp vũ khí và đạn dược cho chiến trường miền Nam Việt Nam. Sau giải phóng thì đây là khu vực do hải quân Việt Nam kiểm sóat. Trong thời kinh tế thị trường (1990) khu Tân Cảng được chia thành 2 khu vực: khu vực kinh tế (cho tàu xuất nhập hàng hóa và kho để các Container). Từ cầu Sài Gòn nhìn xuống chúng ta có thể thấy rất nhiều Container xếp chồng lên nhau trong một khu vực lớn. Hiện cảng là trung tâm sửa chữa và tiếp tế hàng hóa chính của nền quân sự Việt Nam.
    Cảng Sài Gòn trực thuộc Cục hải quan Việt Nam, là cảng lớn nhất của Việt Nam hiện nay, đã trải qua trên 100 năm phát triển và là thành viên của Hiệp hội cảng quốc tế từ năm 1992. Hiện nay cảng còn tiếp tục thu hút đầu tư để phát triển và mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế. Điều kiện tự nhiên của cảng Sài Gòn khá thuận lợi cho một cảng biển với độ dốc luồng 85 km từ Vũng Tàu với mức nước bình quân 11 m, thấp nhất là 9,7 m và cao nhất là 12,1 m. Cảng có thể tiếp nhận tàu có trọng tải 30.000 DWT, dài 230m trong khoảng thời gian 6 -> 15 giờ/ngày.
    Khu Thanh Đa
    Cư xá Thanh Đa gồm 29 lô chiếm diện tích 36ha được xây dựng 1973 làm khu nhà ở cho công nhân viên chức.
    Đặc sản của khu vực này là:bánh tráng phơi sương cuốn thịt luộc, cháo vịt… ngoài ra ở đây còn nổi tiếng với Khu Du Lịch Bình Quới: gọi là khu du lịch dưới nước với nhiều hoạt động vui chơi trên đoạn sông Sài Gòn. Đến đây chúng ta có thể tổ chức các hoạt động dã ngoại như: lướt ván trên sông, câu cá giải trí, du thuyền trên sông…hàng năm ở đây thường tổ chức trại hè cho thiếu nhi toàn thành phố.

    Cầu Sài Gòn
    Cầu Sài Gòn được xây dựng vào năm 1960 và hoàn thành vào năm 1964, cầu dài 987,2 m, rộng 16m, dài 32 nhịp, trọng tải 25 tấn. Đây là chiếc cầu quan trọng của cửa ngõ dẫn vào thành phố. Cầu do hãng C.E.C ( Captital Engineering Cooperation) thiết kế và hãng RMR (Mỹ) thi công xây dựng bắt qua sông Sài Gòn, kinh phí do chính quyền Mỹ tài trợ, sông Sài Gòn bắt nguồn từ Sông Bé(Sông Mê Kông) chảy qua Củ Chi, Thanh Đa, Nhà Bè rồi đổ ra cửa biển Cần Giờ qua sông Soài Rạp.
    Năm 1998, ta liên minh với Pháp xây dựng, sửa chữa và nâng cấp lại phần chịu lực đồng thời mở rộng từ 16m thành 25m với tải trọng 45 tấn. Trong tương lai sẽ có thêm một cây cầu nữa bắc song hành với cây cầu cũ nhằm giảm bớt áp lực cho cầu Sài Gòn. Cầu Sài Gòn là ranh giới giữa đường Điện Biên Phủ và xa lộ Hà Nội.
    Sông Sài Gòn dài 220 km, bắt nguồn từ cao nguyên Hớn Quảng. Một đoạn của con sông này là ranh giới tự nhiên của tỉnh Tây Ninh và Bình Phước. Một phần đổ vào hồ Dầu Tiếng, sau khi chảy qua Bến Cát sông lại nhập chung với sông Đồng Nai và đổ ra cửa biển Gành Rái.
    Xa lộ Biên Hòa
    Xa lộ Biên Hòa dài 31 km, rộng 21m được xây dựng từ năm 1956->1961 do Mỹ viện trợ. Xa lộ Biên Hòa nối liền từ cầu Điện Biên Phủ(trước đây là cầu Phan Thanh Giản) đến ngã ba Tam Hiệp ( Hố Nai) theo dự định ban đầu xa lộ có 4 làn xe nhưng do thất bại trong “chiến tranh đặc biệt” Hoa Kỳ đã cắt giảm kinh phí nên năm 1964 xa lộ được khánh thành chỉ với 2 làn xe. Mỹ và chính quyền Sài Gòn sử dụng con đường này như một đường bằng quân sự dã chiến phòng khi sân bay Tân Sơn Nhất gặp sự cố. Đến năm 1971 chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cho rằng xa lộ sẽ là 1 đường băng tuyệt vời cho quân giải phóng tấn công Sài Gòn nên đã cho xây dựng 1 con lươn chạy dọc theo xa lộ. Tuy vậy xét về mặt giao thông vận tải thì đây là một điều kiện tốt nhằm giúp cho giao thông trên xa lộ được an toàn hơn.
    Ngày 10-10-1984 nhân kỷ niệm 30 năm giải phóng Hà Nội, xa lộ Biên Hòa đổi tên là xa lộ Hà Nội. Năm 1998, cùng với dự án khôi phục QL 1A, xa lộ Hà Nội cũng được khôi phục và mở rộng, bàn giao lại cho chính phủ Việt Nam vào ngày 20/1/1998. Đây là con đường quan trọng về kinh tế, quân sự nối liền miền Bắc và Sài Gòn.
    Ngã ba Cát Lái
    Nằm trong xa lộ cao tốc TP.Hờ Chí Minh-Vũng Tàu với chiều dài 96,6 km và chiều rộng 23m, tổng dụ án dự kiến là 645 triệu USD dược thực hiện bởi liên doanh Anh và Việt Nam, xa lộ cao tốc này sẽ được thiết kế với 4 làn xe và bắt qua cấu Đồng Nai mới.
    Cầu Rạch Chiếc.
    Đọan đường từ cầu Sài Gòn đến cầu Rạch Chiếc là địa bàn thuộc quận 2, cầu Rạch Chiếc đến cầu Đồng Nai thuộc Quận 9 và Quận Thủ Đức.cầu Rạch Chiếc được xây dựng từ năm 1960. Đây là cửa ngõ quan trọng về quân sự của chính quyền Sài Gòn, cầu dài 184m, rộng 8,5m. Vào 27/4/1975 tại chân cầu đã xảy ra 5 cuộc giao tranh ác liệt giữa quân giải phóng và quân Việt Nam Cộng Hòa, sở dĩ cầu có tên Rạch Chiếc là do khi làm cầu này ở sông có loại rau chiếc nên được gọi là cầu Rạch Chiếc.
    Quận Thủ Đức- Lâm Viên Thủ Đức
    Trước kia Thủ Đức là một huyện ngoại thành có diện tích 20.000ha. Vào ngày 4-4-1997 để mở rộng trung tâm nội thành ra , UBND thành phố quyết định thành lập 5 quận mới. Trong đó Thủ Đức được tách ra thành 3 quận ngoại thành: quận 2,quận 9 và quận Thủ Đức. Xét về tiềm năng kinh tế tại khu vực Thủ Đức này phát triển rất nhiều cơ sở đầu tư của nước ngoài; món ăn đặc sản ở đây là nem Thủ Đức.
    Lâm viên Thủ Đức:vào ngày 22-4-1992 được phép của Uy Ban Hợp Tác Đầu Tư Nhà Nước bởi 4 công ty: Lâm Viên Thủ Đức, Du Lịch Thành Phố, Liksin và công ty Đài Loan Liên Doanh xây dựng tại đây sân Golf 36 lỗ đạt tiêu chuẩn quốc tế và một khách sạn 120 phòng đạt tiêu chuẩn 3 sao và những công trình phụ như: sân quần vợt, hồ bơi, sân chơi trẻ em…với tổng kinh phí 7 triệu USD hoàn thành năm 1996. Khi bắt đầu xây dựng thì đã có nhiều nguồn dư luận nhưng sau đó có kết luận của Thủ Tướng Chính Phủ sân Golf mới đi vào xây dựng yên ổn. Hiện nay sân tập đánh Golf đã hình thành và thẻ hội viên thường trực của Golf là 5.000 USD/người.

    Nhà Máy Xi Măng Hà Tiên
    Nhà máy xi măng Hà Tiên được người Pháp xây dựng từ năm 1969 đến 1964 nhằm cung cấp xi măng cho các tỉnh thành phố. Vị trí nhà máy rất thuận tiện cho việc chuyển nguyên liệu từ nhà máy xi măng Kiên Lương ở Hà Tiên về đây bằng đường bộ lẫn đường thủy. Do nguồn nguyên liệu chủ yếu được khai thác từ Hà Tiên nên gọi là xi măng Hà Tiên. Đến cuối năm 1994 nhà máy Hà Tiên đổi thành Công Ty xi măng Hà Tiên 1. Sản lượng hiện nay hơn 2 triệu tấn/năm.
    Xa Lộ Đại Hàn
    Xa Lộ Đại Hàn dài 40 km, rộng 24 m bao bọc vòng quanh thành phố kết thúc tại ngã 3 An Lạc-Bình Chánh. Xa lộ được xây dựng vào năm 1963 dưới sự viện trợ của Mĩ với mục đích giải tỏa lưu lượng xe cộ từ các tỉnh phía Bắc vào Nam tạo thành vòng đai bảo vệ thành phố, cản bước tiến quân của bộ đội chủ lực và du kích tràn vào Sài Gòn. Xa lộ này có tác dụng lớn về quân sự,lẫn kinh tế, nối các tỉnh miền Đông với các tỉnh miền Tây Nam Bộ mà không phải qua thành phố. Xa lộ Đại Hàn do một công ty Đại Hàn xây dựng nên nó có tên là xa lộ Đại Hàn
    Suối Tiên Thủ Đức
    Lâm trại Suối Tiên cách trung TP. Hồ Chí Minh 19 km thuộc xã Tân Phú huyện Thủ Đức, cách Xa Lộ Hà Nội khoảng 100 m, nơi đây có một dòng suối thiên nhiên lâu đời uốn lượn qua những cụm rừng nguyên sinh và đổ dòng qua 6 ngọn đồi, tạo thành 6 ngọn thác nhỏ. Suối chảy qua các tỉnh Đồng Nai, Sông Bé và hạ nguồn chảy qua Lâm Trại dài 1.200m, như một dải lụa trắng. Mùa xuân hoa mai vàng nở rộ dọc theo triền suối. Trước vẻ đẹp thơ mộng và quyến rủ ấy người dân ở đây không ngần ngại đặt tên là Suối Tiên. Thánh 6-1993 đồ án quy họach được văn phòng kiến trúc sư trưởng phê duyệt và UBND thành phố cho phép thực hiện theo quy họach Lâm Trại Suối Tiên trên diện tích 120 ha với vốn đầu tư bước đầu là 50 tỉ đồng cho các công trình vui chơi tham quan trên diện tích 20 ha.
    Đến với Suối Tiên quý khách sẽ được tận hưởng những giây phút thoải mái không khí trong lành cùng với thiên nhiên và đặc biệt được chiêm ngưỡng hình ảnh một con rồng được xây dựng theo truyền thuyết “con rồng cháu tiên” lớn nhất Việt Nam, dài 400 m được đúc bằng bêtông. Trong tương lai một phần của sở thú sẽ được chuyển ra đây.
    Nghĩa trang Thành phố.
    Nghĩa trang Thành Phố là nơi quy tụ mộ anh hùng liệt sĩ, đã hy sinh trong 3 cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và Campuchia. Nghĩa trang này rộng 3 ha gồm hơn 12.000 ngôi mộ được sắp xếp xung quanh đài tưởng niệm “ Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng” . Công trình được xây dựng năm 1984 và hoàn thành vào 4-1987.
    Cầu Đồng Nai
    Cầu Đồng Nai được xây dựng vào năm 1959-1961 do hãng C.E.C thiết kế và hãng Joushin Deake thi công, cầu dài 454 m, rộng 16 mét, trọng tải 25 tấn, gồm 27 nhịp được bắt qua con sông Đồng Nai, con sông quan trọng của tỉnh Đa Nhim-Đa Dung có nguồn gốc từ cao nguyên Lâm Viên(Lang Bian) ở độ cao 1776 m đổ về, chảy qua địa phận tỉnh Đồng Nai sau đó kết hợp với sông Sài Gòn và đổ ra vịnh Gành Rái.
    Sông Đồng Nai :Hệ thống sông Đồng Nai-Vàm Cỏ là hệ thống sông kép vì hai con sông này chỉ gặp nhau ở ngoài cửa Soài Rạp và được kết nối với nhau bằng những con kênh nhân tạo. Đây là hệ thống sông lớn thứ ba trong nước sau hệ thống sông Hồng và sông Cửu Long. Chiều dài sông chính là 635 km, diện tích toàn khu vực là 44100 km2 phát triển chủ yếu ở Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, một phần ở Tây Nam Bộ và Campuchia. Hệ thống sông Đồng Nai và Vàm Cỏ có tổng lượng nước vào khoảng 32,8 tỉ m3/năm. Thủy chế tương đối đơn giản vì chỉ có một mùa mưa và một mùa cạn. Sông Đồng Nai có giá trị cả về giao thông, sinh hoạt, nông nghiệp và thủy điện.
    Từ trên cầu, ở ngã ba sông về phía thượng lưu là Cù Lao Phố. Ngược dòng lịch sử, năm 1679, khi triều Minh Mạng ở Trung Hoa bị nhà Thanh lật đổ có khoảng 3000 binh sĩ và gia đình trong nhóm bài Thanh phục Minh đã đến nước ta và xin Chúa Nguyễn cho làm dân Việt. Trong đó có một nhóm do Trần Thường Xuyên làm thủ lĩnh đến cư trú tại đây và lập nên một cảng có hoạt động thương mại sầm uất gọi là Nông Nại Đại Phố. Năm 1698, thừa lệnh của Chúa Nguyển, Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lý, ông thấy vùng đất này trù phú và yên bình nên đã dừng chân tại đây. Ông đã chia đặt các đơn vị hành chính và thành lập chính quyền Nam Bộ, hai huyện đầu tiên là Phước Long và Tân Bình. Sông Đồng Nai là ranh giới tự nhiên giữa thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai.

    Tỉnh Đồng Nai
    Đồng Nai là tỉnh thuộc Miền Đông Nam Bộ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có diện tích 5.862,73 km2, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ.
    Dân số toàn tỉnh theo số liệu thống kê năm 2003 là 2.149.030 người, mật độ dân số: 365 người/km2.
    Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của toàn tỉnh năm 2004 là 1,22%.
    Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thành phố Biên Hòa - là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của tỉnh; thị xã Long Khánh và 9 huyện: Long Thành; Nhơn Trạch; Trảng Bom; Thống Nhất; Cẩm Mỹ; Vĩnh Cửu; Xuân Lộc; Định Quán; Tân Phú.
    Là một tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam Đồng Nai tiếp giáp với các vùng sau:
    ◊ Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận.
    ◊ Phía Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng.
    ◊ Phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước
    ◊ Phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
    ◊ Phía Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh

    Là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên.
    Lịch Sử Hình Thành
    Cuối thế kỷ XVI, vùng đất Đồng Nai vẫn còn hoang dã, chưa được khai phá, người dân bản địa gồm các dân tộc Stiêng, Mạ, Kơ ho, M'nông, Chơ ro và một vài sóc người Khơ me sinh sống. Dân ít, sống thưa thớt, kỹ thuật sản xuất thô sơ, trình độ xã hội còn thấp. Cuộc chiến tranh của họ Trịnh và họ Nguyễn ở miền Trung và Bắc Việt Nam làm cho dân chúng khổ sở, điêu đứng và tạo ra một làn sóng di cư của người dân miền Thuận Quảng vào Đồng Nai tìm đất sống. Bản tính cần cù, chịu khó, lưu dân người Việt đã cùng với người bản địa chung sức khai phá đất đai để sản xuất nông nghiệp. Dần dà, rừng rậm hoang vu đã trở thành những cánh đồng lúa và hoa màu tươi tốt.
    Năm 1679, nhà Minh ở Trung Quốc sụp đổ, Tổng binh Trần Thượng Xuyên trấn thủ các châu Cao, Lôi, Liêm không khuất phục nhà Thanh đã đem 50 chiến thuyền, 3.000 binh lính thân tín và gia quyến đến xin thuần phục chúa Nguyễn ở Thuận Hóa. Chúa Nguyễn Phúc Chu đã thu nhận họ và cho vào khai khẩn, mở mang vùng đất Đông Phố (Cù lao Phố ngày nay).
    Năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Đồng Nai (là cả Nam Bộ bây giờ), đặt vùng đất mới thành phủ Gia Định, chia làm 2 huyện: huyện Phước Long (Đồng Nai) dựng dinh Trấn Biên, huyện Tân Bình (Sài Gòn) dựng dinh Phiên Trấn. Ngoài ra, Nguyễn Hữu Cảnh còn cho lập bộ đinh, bộ điền, chiêu mộ những người có vật lực từ các vùng khác vào lập nghiệp và phát triển kinh tế. Người Hoa theo Trần Thượng Xuyên đầu tiên định cư ở Bến Gỗ, nhưng thấy Cù lao Phố có vị trí thuận lợi cho việc kinh doanh buôn bán, họ đã quyết định di chuyển đến đây sinh sống. Từ đây, Cù lao Phố phát triển ngày càng phồn thịnh và nhanh chóng trở thành trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế của cả vùng Gia Định (Nam bộ ngày nay).
    Theo ông Vương Hồng Sển, thời chúa Nguyễn một số người Trung Quốc không theo nhà Thanh mà di dân sang Việt Nam, xuống đây khai khẩn đất hoang để sinh sống. Họ lập ra Nông Nại Đại Phố, về sau đọc trại thành Đồng Nai.
    Đồng Nai là vùng đất con người cư trú rất sớm, những di chỉ khảo cổ ở Hang Gòn, Cầu Sắt có các công cụ bằng đá của người tiền sử, ở Dốc Chùa có những khuôn đúc đồng cách đây 3000 năm. Vùng Bà Rịa của tỉnh Đồng Nai cũng là nơi người Việt vào khai phá đất hoang sớm nhất trong cả Nam Bộ.
    Năm 1679, một nhóm người Hoa đã đến cư trú cùng người Việt tại vùng Biên Hòa và lập nên khu vực chợ búa quan trọng nhất Nam Bộ trong thế kỷ 18-Cù Lao Phố. Sử sách ghi lại, nơi đây xưa kia là khu chợ sầm uất với phố xá mái ngói tường vôi, lầu cao, quán rộng dọc theo suốt bờ sông. Thuyền buôn của các nước đền đây buôn bán tấp nập. Đến khoảng 1776-1777 trong cuộc chiến giữa Tây Sơn và họ Nguyễn, Cù Lao Phố bị tàn phá và suy sụp hẳn. Thương gia ở đây về vùng Sài Gòn lập nên Chợ Lớn ngày nay. Cù Lao Phố ngày nay thuộc địa phận của xã Hiệp Hòa trong thành phố Biên Hòa.
    Tỉnh lỵ là thành phố Biên Hòa. Người Kinh chiếm vị thế ưu thế, bên cạnh đó còn có các dân tộc khác như Mạ, Khơ-Mú, Tày, Nùng. Thái… Ưu thế là cây nông nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, mía, đậu phộng, đậu tương, thuốc lá.Đặc sản nơi đây là bưởi: bưởi Tân Triều, bưởi Đường Núm, bưởi thanh, bưởi Xiêm…nhưng thường gọi chung là bưởi Biên Hòa. Diện tích cây cao su đứng thứ hai cả nước sau Bình Phước. Tiểu thủ công nghiệp nổi tiếng với nghề làm gốm, tạc tượng. Sau hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, nhân dân Đồng Nai đã cố gắng tập trung khôi phục lại những gì chiến tranh đã lấy đi, đồng thời xây dựng và phát triển những cái mới mẻ để sánh vai kịp cùng với thành phố Hồ Chí Minh.

    Khu Công Nghiệp Biên Hòa
    Đồng Nai là tỉnh có ngành công nghiệp phát triển,toàn tỉnh có 120 công ty nhà máy với 72000 lao động. Riêng khu công nghiệp Biên Hòa là trung tâm công nghiệp lớn nhất tỉnh được bao bọc một bên là sông Đồng Nai, một bên là xa lộ Hà Nội và một bên là tỉnh lộ 51 rất thuận tiện cho việc thông thương cả về đường thủy và đường bộ.
    Khu công nghiệp Biên Hòa 1 được thành lập từ 1963 với tên gọi là khu kỹ nghệ Biên Hòa, với tổng diện tích theo quy hoạch ban đầu là 511 ha. Theo các tài liệu để lại, ý đồ của chính quyền Sài Gòn lúc đó là xây dựng một khu công nghiệp tập trung với định hướng ưu tiên bố trí các nhà máy, xí nghiệp sử dụng nông phẩm và nguyên liệu trong vùng, sản xuất hàng tiêu dùng và các cơ sở dịch vụ để giải tỏa dần các nhà máy, xí nghiệp khu vực Sài Gòn-Chợ Lớn với định hướng ban đầu là thiên về công nghiệp chế biến và công nghiệp nhẹ. Sau khi được tiếp quản, khu kỹ nghệ có 95 xí nghiệp. Cơ cấu 95 xí nghiệp phân thành các nghành như: công nghiệp nặng(điện, luyện kim, cơ khí) có 10 xí nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng có 68 xí nghiệp, công nghiệp vật liệu kiến trúc xây dựng 12 xí nghiệp.
    Khu Thiên Chúa Giáo Hố Nai
    Khu Thiên Chúa giáo Hố Nai cách trung tâm thành phố Biên Hòa 3 km về phía Đông Bắc, nằm trên giải đất dài 12 km với nhiều nhà thờ rải rác hai bên quốc lộ 1. Trước năm 1954, khu đất còn là rừng hoang thuộc địa phận xã Bình Phước, huyện Đức Tu tỉnh Biên Hòa; năm 1954 có hơn 40.000 đồng bào theo đạo thiên chúa giáo thuộc 25 xứ đạo tư nhiều tỉnh trên miền Bắc, đặc biệt là tỉnh Hà Nam Ninh cũ, đã di cư vào đây, lập trại định cư theo sự bố trí của chính quyền Ngô Đình Diệm. Tháng 8-1956 Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh gọi trại định cư này là Hố Nai, xã có diện tích 2090 ha, trụ sở cách trung tâm thành phố Biên Hòa 10 km, cư dân ở đây tuyệt đại đa số là người Việt chỉ có rất ít là người Nùng. Hiện nay xã Hố Nai đã trở thành một khu dân cư đông đúc và hoạt động kinh tế phong phú với dân số lên đến 100.000 người, nhiều cơ sở tôn giáo và y tế giáo dục được xây dựng, xã có gần 30 nhà thờ, 28 trường học, 1 bệnh viện và các cơ sở từ thiện của khu vực. Sau năm 1975 xã Hố Nai được chia thành 4 khu: Hố Nai 1,2,3 và 4 thuộc huyện Thống Nhất-Đồng Nai. Ngày nay Hố Nai là một trong những trọng điểm sản xuất dịch vụ đang phát triển mạnh của miền Đông Nam Bộ, đặc biệt là chế biến gỗ phát triển mạnh của miền Đông Nam Bộ.
    Ngã Ba Dầu Giây
    Ngã Ba Dầu Giây là điểm giao nhau giữa quốc lộ 20 và quốc lộ 1A, cách thành phố Hồ Chí Minh 67 km. Sở dĩ có tên là Dầu Giây là vì vào năm 1954 thi người Bắc di cư vào đây họ mang một số trầu dây leo. Nhưng họ không phát âm được chữ “trầu” mà phát âm là chữ “dầu” do đó mới có tên là Dầu Giây. Có giải thích cho rằng: ngày xưa ở đây có một cây dầu thật to có nhiều dây leo bám chằng chịt. Đặc biệt quanh vùng chỉ có dây dầu này là to nhất nên địa phương mới đặt tên nơi đây thành một địa danh: Dâu Giây và do ở đây là ngã 3 nên mới gọi là Ngã 3 Dầu Giây.
    Đèo Mẹ Bồng Con
    Đèo Mẹ Bồng Con là ngọn đèo đầu tiên trên con đường Bắc Nam, cách Ngã 3 Dầu Giây khoảng 4 km theo quốc lộ 1A, ở khu vực này gồm 1 con dốc lớn và và một dốc nhỏ. Trước đây người ta kể rằng: có một người phụ nữ mang thai, khi qua khu vực này thì chẳng may gặp tai nạn chết và đêm đêm người dân ở đây kể lại rằng thường nghe tiếng người phụ nữ bồng đứa con hay qua lại khu này than khóc oan ức, nên người ta đã đặt tên cho khu vực này là Đèo Mẹ Bồng Con.
    Thủy điện Trị An
    Trị An là thác nước cuối cùng trên con sông Đồng Nai trước khi chảy vào đồng bằng. Với sự giúp đỡ của Liên Xô và sự đóng góp công sức của cả nước, công trình thủy điện lớn thứ hai sau thủy điện Hòa Bình trên sông Đà đã khởi công xây dựng năm 1983. Đập chính chắn ngang sông Đồng Nai được xây dựng phía thượng nguồn của thác Trị An, tạo nên hồ rộng 232 km2 chứa 3 tỷ m3 nước. Nước từ hồ chính đưa qua hồ phụ rồi chảy qua nhà máy làm quay, 4 tổ máy có công suất tổng cộng 400 MW. Sản lượng điện hàng năm đạt 1,7 tỷ kv/h.
    Cây Cao Su
    Cây Cao Su có tên khoa học là Hevèa, nguồn gốc ở Nam Mỹ mọc theo dòng sông Amazon(chảy từ Pêru qua Braxin và đổ về Đại Tây Dương). Thổ dân Mainás dùng một thứ nhựa trắng của cây bôi lên quần áo để chống ẩm và mưa, họ còn dùng nó để tạo ra những viên bi, quả bóng vui chơi trong những dịp lễ hội và họ gọi thứ nhựa này là Caoutchouk có nghĩa là nước mắt của cây và người Pháp đã phiên dịch ra thành cao su.
    Năm 1877 các nhà khoa học Pháp đã đưa giống cây cao su từ Philippines về trồng tại vườn thực vật Sài Gòn và một số nơi khác. Do không hợp cây cao su chết hết.
    Năm 1905 Raoult đem một số cây ở Jakarta về trồng ở vùng đất Bazan. Bác sĩ Yerin cũng nhận được một số cây và đem về trồng ở Suối Dầu và chính từ đây cây này là hạt nhân đã tạo ra các nông trường cao su ở nước ta. Chính phủ bảo hộ Pháp đã tìm những nơi đất thích hợp để lập đồn điền cao su. Tuổi thọ cây từ 20->30 tuổi.
    Cây thanh long
    Cây thanh long có tên tiếng Anh là Ritahaya hay còn gọi là Dragon Fruit thuộc họ xương rồng ở Việt Nam từ lâu, nhưng mới được đưa lên thành hàng hóa trong vài năm gần đây, Việt Nam hiện nay là nước duy nhất ở Đông Nam Á có trồng Thanh Long tương đối tập chung nên quy mô thương mại với diện tích ước tính khoảng 2.000 ha trong đó Bình Thuận chiếm 1.000 ha. Cây Thanh Long là cây có nguồn gốc nhiệt đới, chịu hạn giỏi nên được trồng ở những vùng nóng. Đặc biệt cây Thanh Long có hiện tượng rụng nụ, khi số lượng nụ trên cành nhiều sau khi xuất hiện từ 5->7 ngày thì nụ không phát triển vàng rối rụng. Tỷ lệ rụng từ 10->20%, đặc biệt nhất ở cây này có vòng chín 3 lần. Từ xanh sang đỏ, từ đỏ sang xanh, từ xanh sang đỏ sậm đến lần chín thứ 3 là lần chín cuối cùng và là lần ngon nhất của trái Thanh Long nhưng làm vậy cây sẽ mất sức nên nhà vườn chỉ để chín lần 2 là bán ra thị trường. Hiện nay trái thanh long còn được xuất khẩu sang các thị trường các nước như: Đài Loan, Singapore,HongKong, Nhật Bản…. Và các nước Châu Au.

    Bình Thuận
    Cách thành phố Hồ Chí Minh 188 km, phía Bắc và Đông Bắc giáp Ninh Thuận, Tây Bắc giáp Lâm Đồng, Tây Nam giáp Đồng Nai, Đông và Đông Nam giáp biển, Tây Nam giáp Bà Rịa-Vũng Tàu.
    - Diện tích tự nhiên: 7.854 km mét vuông.
    - Dân số: 1.090.000 người. Nhiều dân tộc, đa số là dân tộc Kinh chiếm 80%, số còn lại là dân tộc, C7841;i là dân tộc, Chăm, Hoa, K'Ho...
    - Vị trí: Cách thành phố Hồ Chí Minh 188km. Phía bắc và đông bắc giáp Ninh Thuận, tây bắc giáp Lâm Ðồng, tây giáp Ðồng Nai, đông và đông nam giáp biển, tây nam giáp Bà Rịa - Vũng Tàu.
    - Ðơn vị hành chính: Thành phố Phan Thiết và 8 huyện: Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân, Ðức Linh, Tánh Linh và huyện đảo Phú Quý.
    - Ðịa hình: Thuộc phần cuối dãy núi Trường Sơn cao hơn 1.000m đâm ra biển, độ dốc cao. Có sông La Ngà và 6 con sông nhỏ. Ðất canh tác chiếm 1/7 tổng diện tích. Ven biển nhiều đồi cát và ngập mặn.
    - Khí hậu: Thuộc khu vực khô hạn nhất cả nước, lượng mưa ít, trung bình 1.000 đến 1.600 mm/năm (bằng 1/2 lượng mưa trung bình ở Nam Bộ). Nhiệt độ trung bình 27 độ C. Ðộ ẩm trung bình 80%.
    - Công trình lớn quốc gia: Cụm thủy điện Hàm Thuận - Ða Mi công suất 476 Mw/h.

    Bình Thuận - những cái nhất cả nước

    1. Vùng đồi cát Mũi Né đẹp nhất và hoạt động du lịch dã ngoại sôi động nhất.
    2. Bãi đá Cổ Thạch ở Tuy Phong nhiều hình hài màu sắc nhất.
    3. Ngọn đèn biển Khê Gà 100 m hơn trăm tuổi bằng đá cao nhất.
    4. Tượng Phật nằm lớn nhất dài 49 m nằm giữa rừng nguyên sinh trong khuôn viên chùa Linh Sơn Trường Thọ trên núi Tà kú thuộc Hàm Thuận Nam.
    5.Tháp nước đẹp nhất cao 32m, 70 tuổi ở trung tâm Phan Thiết (do Hoàng thân Xuvanuvông thiết kế).
    6. Ðền thờ cá voi Vạn Thủy Tú lớn nhất, lưu giữ hơn 100 bộ xương cá voi ở Phan Thiết.
    7. Vùng trồng thanh long nhiều và ngon nhất, sò điệp nhiều và có giá trị nhất.
    8. Có nhiều cuộc thi dân gian độc đáo nhất như đua thuyền trên sông Cà Ty, leo núi Tà kú, chạy việt dã qua đồi cát. Quy mô hội thi và rước đèn Trung thu lớn nhất cho trẻ em.
    Bình Thuận là địa danh chung chỉ vùng đất Nam Trung Bộ thời các đời chúa Nguyễn cho mở mang khai khẩn. Trải qua 300 năm, những thay đổi địa giới, đơn vị hành chính và dân cư theo các biến cố lịch sử đã hình thành tỉnh Bình Thuận ngày nay.
    Vào cuối tháng 10-1995, hàng vạn nhà khoa học, khách du lịch trong nước và thế giới đổ về Mũi Né để chiêm ngưỡng và nghiên cứu hiện tượng nhật thực toàn phần cả trăm năm mới có thì cũng đồng thời nhận ra nơi họ đến đón kỳ quan vũ trụ có nhiều cảnh quan kỳ thú và tiềm năng kinh tế phong phú. Khắp nơi trên đất này, nơi đâu ta cũng gặp các cánh đồng lúa, vườn điều xanh tươi, những gốc thanh long trái mọng đỏ, vị nồng ấm của các sản phẩm miền biển tràn đến từ những cánh đồng muối, những vuông nuôi tôm nối nhau, những bến cá, bãi phơi hay từ những xưởng nước mắm ....
    Thiên nhiên Bình Thuận có 192 km bờ biển, có huyện đảo Phú Quý và nhiều đảo nhỏ, vũng, vịnh trước ngư trường rộng lớn có nhiều dòng hải lưu, hội tụ các đàn cá, tôm, mực... Với 4.600 con tàu lớn nhỏ, ngư dân thạo nghề ở đây mỗi năm đánh bắt được 130 ngàn tấn hải sản các loại. Mực là sản phẩm giá trị nổi tiếng của tỉnh với sản lượng hơn 20.000 tấn/năm chế biến dưới dạng đông lạnh hoặc sấy khô được ưa chuộng ở thị trường trong và ngoài nước. Thương hiệu nước mắm Phan Thiết từ lâu có chất lượng và hương vị riêng vẫn cung cấp đều đặn hơn 20 triệu lít/năm cho thị trường nội địa. Phần diện tích hơn 52.000 ha bãi triều ngập mặn trong tỉnh thuận lợi tạo ao đầm nuôi tôm sú, đặt lồng bè nuôi cua, cá, đặc biệt sò điệp chiếm 75% sản lượng khai thác cả nước, chúng được chế biến dưới tên hiệu xuất khẩu Queen Scallop danh tiếng. Các huyện ven biển những năm gần đây đã phát triển mạnh mẽ nghề nuôi thủy hải sản, đặc biệt là tôm sú, thu hút mạnh vốn đầu tư từ nhiều nguồn.
    Dải đất nhiều nắng ít mưa này không thuận trồng lúa, nhưng hợp với cây công nghiệp dài ngày như cao su, điều, tiêu, đặc biệt cây trái thanh long xuất khẩu 25.000 tấn/năm, đang phát triển vùng bông vải 10.000 ha. Nhà nước đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng cho từng hạng mục xây dựng hồ trữ nước, mạng thủy lợi cho sản xuất và sinh hoạt
    Chỉ trong vài năm, một trọng điểm du lịch cấp quốc gia thứ 10 - Du lịch Bình Thuận được đánh dấu son trên bản đồ, dành cho loại hình du lịch dã ngoại, sinh thái nghỉ dưỡng đang rất được khách ưa chuộng.
    Năm 1996 Phan Thiết chỉ có vài khách sạn, nhà nghỉ nhỏ, cả năm đón vài chục ngàn khách thì đến nay đã có 202 dự án đầu tư du lịch với vốn đăng ký 1.300 tỷ VNÐ và 7 dự án nước ngoài đăng ký vốn 30 triệu USD được cấp phép, trong đó 67 dự án trong nước và 4 của nước ngoài đang hoạt động. Mỗi dự án đều cố gắng hòa với thiên nhiên sẵn có, cống hiến nhiều sáng tạo trong thiết kế, trang bị hiện đại tiện nghi, phục vụ chu đáo, tất cả đều muốn cho du khách có những ngày nghỉ đáng nhớ.
    Khu dã ngoại leo núi, tắm suối nước nóng ở Tàkóu; Khu dã ngoại mạo hiểm vùng hồ Biển Lạc, vượt thác Ch'reo, thăm rừng nguyên sinh Tánh Linh. Ngành du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong tỉnh.

    Núi Tà Cú
    Núi Tà Cú là tên gọi của người Chăm. Núi thuộc huyện Hàm Tân có độ cao khoảng 480 m so với mặt nước biển. Trên lưng núi có chùa Linh Sơn Trường Thọ. Chùa có từ thới vua Tự Đức. Tên chùa do nhà vua ban tặng khi vị thiền sư tại chùa chữa khỏi bệnh cho Từ Dũ- mẹ vua. Chùa có tượng Phật Thích Ca nhập niết bàn dài 49 m, được dựng năm 1962.
    Sông Cà Ty
    Sông Cà Ty hay còn gọi là sông Mường-Mán hay sông Cái. Trên song có bến phà Cà Ty là nơi qua lại lấy nước và tắm giặt của người dân trong vùng Phú Hội và Phú Mỹ. Sông là nơi tụ hội nhiều con sông Mán, sông Rao Ét, sông Linh… và các con suối Vàng, Lèn… Con sông đi qua địa phương nào thì được người dân ở địa phương đó lấy tên quê hương đặt cho để nói lên tình cảm của mình đối với con sông.
    Thành phố Phan Thiết
    Cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 200 km, được thành lập 20/10/1898. Thành phố PhanThiết nằm ở hai bên sông Cà Ty. Ngày 25/8/1999 PhanThiết được nâng cấp từ thị xã lên thành phố.
    Bên hữu ngạn là khu di tích trường Dục thanh và phân viện bảo tàng Hồ Chí Minh với tượng đài Bác nhìn ra dòng sông. Phan Thiết gắn liền với những địa danh như Lầu Ông Hoàng, Tháp Pô Shanư, những rặng dừa xanh ngút, những đồi cát vàng óng…
    Với vùng biển trải dài, Phan Thiết gắn liền với ngành kinh tế biển góp phần làm giàu cho đất nước. Vịnh Phan Thiết tương đối kín gió lại nằm trên dòng hải lưu nóng lạnh tạo nên nguồn hải sản phong phú. Ngày nay đến với Phan Thiết chúng ta sẽ thấy được những khu nghỉ mát rất đẹp, những điểm tham quan ngày càng mới mẻ… đã góp phần cho Phan Thiết trở thành điểm thu hút khách du lịch.
    Nhà máy nước suối Vĩnh Hảo
    Thuộc xã Vĩnh Hảo huyện Tuy Phong, cách QL 1A 1 km. Trước 1975, nước suối Vĩnh Hảo là một trong những sản phẩm nổi tiếng trên thị trường Đông Nam Á. Dòng suối Vĩnh Hảo được xem là linh thiêng đối với người Chăm xưa.
    Năm 1301, thái thượng hoàng Trần Nhân Tông cùng đòan Chiêm Quốc du ngoạn, ông đã từng hứa gả con gái là Huyền Trân Công Chúa cho vua Chế Mân. Tháng 6/1306, Chế Mân dâng 2 Châu Ô và Lý để làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân. Trong thời gian sống ở Chiêm Quốc, Huyền Trân và Chế Mân thướng đi thưởng ngoạn ở dòng suối này. Do thấy phong cảnh hữu tình và dòng suối đẹp nên Huyền Trân đặt tên là Vĩnh Hảo để nói lên sự giao hảo bền chặt giữa hai nước Việt-Chăm.
    Năm 1928 được người Pháp khai thác gọi là Vichy giống như loại nước khoáng nổi tiếng bay giờ của Pháp. Nước suối Vĩnh Hảo được chính thức nghiên cứu năm 1945. Nước suối Vĩnh Hảo thực sự lớn mạnh khi trở thành một công ty cổ phần tài chính Sài Gòn hợp tác với công ty nước giải khát Tribeco với vốn ban đầu là 10 tỉ đồng.
    Bãi biển Cà Ná
    Bãi biển Cà Ná nằm sát bờ biển. Cà Ná có vị trí thuận lợi cho việc tham quan, chúng ta có thể dừng chân tại Cà Ná thưởng thức cảnh đẹp và nghỉ ngơi để tiếp tục cho cuộc du ngoạn. Cà Ná có không khí trong lành và cả những hoạt động rất phong phú.
    Nước mắm Phan Thiết
    Nước mắm Phan Thiết từ lâu được xem là thứ nước chấm ngon. Đi dọc trên đường chúng ta sẽ dễ dàng nhìn thấy những chiếc lu đựng nước mắm, thời gian càng lâu nước mắm càng ngon. Xưa kia nước mắm Phan Thiết được vẫn chuyển theo ghe bấu vào cung ứng cho thị trường Nam Bộ và đồng bào phía Nam.
    Ninh Thuận
    Ninh Thuận có diện tích 3.427 km2, dân số khoảng 503.048 người. Tỉnh lỵ là thị xã Phan Rang-Tháp Chàm, bao gồm 4 huyện : Ninh Hải, Ninh Sơn, Ninh Phước, Bác Ai. Do có hệ thống đập Đa Nhiêm nên các vùng sản xuất chuyên canh nho, tỏi, bông vải … phát triển rất tốt.
    Ninh Thuận nằm trong vùng khô hạn nhất nước với hiện tượng gió nhiều mà khô nóng, không có mùa đông, nhiệt độ trung bình là 270C. Tuy nhiên, bờ biển Ninh Thuận lại là nơi thuận lợi cho khách nghỉ dưỡng và tắm mát. Có ưu thế về biển và di tích, lễ hội Chăm Pa hoành tráng, Ninh Thuận nằm trong cụm du lịch quốc gia thuộc tam giác Đà Lạt-Nha Trang-Phan Rang..
    Tháp Chàm Ninh Thuận
    Có ba tháp đặc biệt là tháp Pô Klông Garai, tháp Pô Rômê, tháp Hòa Lai.
    Tháp Pô Klông Garai nằm trên đồi Trâu thuộc phường Đô Vinh, cách trung tâm thị xã 9 km, được xây dựng vào thời nhà vua Chế Mân, để thờ vua Pô Klông Garai-vị vua Chăm có nhiều công lớn trong lĩnh vực thủy lợi. Tháp này là một tổng thể gồm 3 tháp : tháp chính cao 20,5 m; tháp lửa cao 9,31 m; tháp cổng cao 8,56 m. Tháp đã được Bộ văn hóa công nhận là di tích lịch sử năm 1979. Tại đây vào dịp Tết Chăm, lễ hội Katê được tổ chức trọng thể vào ngày 1/7 Chăm lịch ( khoảng tháng 10 dương lịch ).
    Tháp Pô Rômê ở trên ngọn đồi cao thuộc thôn Hậu Sanh, cách thị xã 15 km, được xây vào khoảng thế kỷ 16. Tháp này được coi là bản sao không hoàn hảo của tháp Pô Klông Garai. Công trình này gồm 2 tháp : tháp chính thờ vua Pô Rômê, tháp phụ thờ hoàng hậu.
    Tháp Hòa Lai cách thị xã 14 km, thuộc thôn Ba Tháp, xã Tân Hải, huyệ Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, được xây vào những năm đầu thế kỷ 9. Là một tổng thể ba tháp nhưng do thời gian dài bỏ phế nên tháp trung tâm đã sụp đổ, chỉ còn lại 2 tháp là tháp Bắc và tháp Nam, nay đã được trùng tu và bảo vệ.

    Thị xã Phan Rang
    Dân số khoảng 80.000 người, nằm bên bờ sông Cái. Khu vực Phan Rang có nhiều người Chăm sinh sống. Phan Rang có nho là đặc sản nổi tiếng. Tại trung tâm thị xã có một ngả ba rẽ trái 110 km là đến Đà Lạt. Đồng bằng Phan Rang trù phú nhờ công trình đập thủy điện Đa Nhim.
    Thác Sakai và dịch vụ tắm ngâm nước khoáng nóng
    Từ thị xã Phan Rang đi về hướng Tây Bắc khoảng 55 km chúng ta sẽ đến với Sa Kai ở huyện Ninh Sơn. Thác nằm ngay dưới chân đèo Ngoạn Mục và công trình nhà máy thủy điện Đa Nhim.Phong cảnh nơi đây còn hoang dã với những tảng đá lớn phản chiếu màu sắc cầu vồng ẩn hiện giữa rừng cây xanh bao la cùng thác nước đổ từ trên cao tung bọt trắng xóa.
    Dưới chân đèo Ngoạn Mục có dịch vụ du lịch tắm nước khoáng nóng do công ty sản xuất nước khoáng Mỹ Á tổ chức. Chúng ta có thể bơi lội, ngâm mình thư giãn bằng nước ấm tại những hồ nhỏ trang trí trong vườn cây kín đáo và râm mát. Nước khoáng này được dẫn ra từ trong rặng núi cao bằng hệ thống ống dài khoảng 6 km. Nước khoáng có tác dụng phục hồi sức khỏe, thư giãn thần kinh, kích thích tiêu hóa, chữa bệnh thấp khớp… Bên cạnh đó còn có những ngôi nhà sàn nhỏ cất bằng cây lá cạnh vườn hoa nhiều sắc hương thích hợp cho người có nhu cầu ở lại qua đêm.
    Làng du lịch Cà Ná
    Làng du lịch Cà Ná nằm sát bờ biển, cách thị xã Phan Rang 32 km, cách thành phố PhanThiết 114 km. Làng du lịch Cà Ná lưng dựa vào núi, mặt quay ra biển rất thuận tiện cho du khách đi đường bộ và đường sắt.
    Với không khí trong lành, mát mẻ, du khách ngồi xe ngựa tới các thắng cảnh của Cà Ná, Mũi Dinh, những hang động : hang Ông Phật, ghềnh Ông Nồng, giếng Đục, núi Bạc. Khách có thể tham gia môn thể thao leo núi hoặc vào rừng dạo chơi, tắm biển, đi canô trên mặt biển ngắm nhìn trời mây, nước xanh và quang cảnh núi rừng. Làng du lịch với những ngôi nhà nho nhỏ đủ tiện nghi cho 2 hoặc 4 người nghỉ lại đã mọc lên sát biển tạo thành 1 làng du lịch Cà Ná.
    Khu du lịch Vĩnh Hy
    Vĩnh Hy thuộc xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Vĩnh Hy được ví như nơi nối rừng với biển. Nơi đây có làng chài Vĩnh Hy, cạnh đó là ốc đảo Vĩnh Hy quyến rũ bởi địa thế hiểm trở, một mặt là biển và 3 bề rừng núi bạt ngàn.
    Khởi hành từ thị xã Phan Rang theo tỉnh lộ 702, du khách sẽ luồn qua những cung đèo xuyên rừng mai và khộp lá vàng, đặc trưng cho khí hậu khô nóng miền cực Nam.Đâu đó 1 làng chài ẩn hiện, xóa tan sự tĩnh mịch của núi rừng.
    Du khách có thể thám hiểm vịnh Vĩnh Hy với 1 chiếc thuyền nhẹ, chở được 4 người. Chèo thuyền mang theo vách núi ăn ra sát biển, khách sẽ thăm thú được toàn bộ vịnh. Giữa làn nước trong xanh tĩnh lặng, từng đàn cá cơm bạo dạn bơi lội quanh thuyền. Xa xa về phía Nam là những đồi cát chạy dài, ôm cong bờ biển. Sau khi thám hiểm du khách có thể thả mình trong bãi tắm hoang sơ, vắng vẻ hoặc vào làng chài tìm hiểu sinh hoạt người dân với những nghề làm mắm, hấp cá và cùng ngư dân kéo lưới, thưởng thức các đặc sản biển. Rời vịnh, vượt qua 1 cây cầu treo và sau 15 phút đi bộ, khách sẽ gặp khu bảo tồn thiên nhiên Núi Chúa. Chuyến du khảo thú vị sẽ đưa du khách đến với làn nước mát lạnh của suối Lồ Ô, bắt nguồn từ những dòng nhỏ, luồn lách trong các khe rừng rồi chụm lại đây. Hai bên suối là các phiến đá bằng phẳng, được che mát bởi những tán cổ thụ rậm rạp. Vào những ngày quang đãng, ánh sáng mặt trời bị khúc xạ bởi bọt nước trong không trung tạo nên cầu vồng rất kỳ thú.
    Dân tộc Chăm
    Người Chăm còn có tên gọi là Chàm, Chiêm, Chiêm Thành… Người Chăm có dân số 98.971 người thuộc nhóm ngữ hệ Nam Đảo. Vương quốc Chămpa tồn tại từ thế kỷ II đến đầu thế kỷ XVII. Lãnh thổ kéo dài từ Quảng Bình đến Bình Thuận, số còn lại cư trú ở An Giang, Phú Yên, TP.HCM, Bình Định, Tây Ninh. Vào thế kỷ XV sau những lần giao tranh với Đại Việt thất bại, một số người đã chạy sang Campuchia. Đến thế kỷ XVII họ lại trở về. Vào những năm 1940 do chiến tranh họ lại di chuyển lên sống và định cư ở TP.HCM.
    Dân tộc Chăm có hai bộ phận Cau và Dừa, giữa hai bộ phận này thường xảy ra tranh chấp cho đến thế kỷ II sau công nguyên, Khu Liên chống lại nhà Hán lập ra Lâm Ấp, sau đó cháu là Phạm Phật đã thống nhất hai bộ phận này và lập ra nước Chămpa. Kinh đô của nước Chămpa lúc đó là Trà Kiệu cách Đà Nẵng 70 km về phía Tây Nam mà sử gọi là Sinhapura (thành phố sư tử) nằm bên bờ sông Thu Bồn nay thuộc xã Duy Sơn.
    Từ thế kỷ IX kinh đô được chuyển ra phía Bắc tại làng Đồng Dương nằm bên bờ sông Ly Ly, là một nhánh sông Thu Bồn, cách cố đô Trà Kiệu 25 km về phía Nam có tên là Indrapura, vương triều này còn gọi là vương triều Phật Giáo vì trong giai đoạn này Phật Giáo phát triển thành quốc giáo lấn áp cả Ấn Giáo. Đồng Dương là nơi tập hợp đền chùa, cung điện chứ không tách ra như vương triều trước.Vào cuối thế kỷ X, kinh đô Đồng Dương bị tấn công nhiều lần nên vào những năm 1000 thì dời về Đồ Bàn với trung tâm được đánh dấu là tháp Cánh Tiên.
    Làng của người Chăm gọi là Plây, xung quanh không có cây cối hoặc chỉ có vài cây me vì họ cho rằng ma quỷ trú ngụ trên những cây to. Nhà được xây dựng dựng về hướng Nam. Một gia đình sống trong khuôn viên có hàng rào bằng cây khô. Người Chăm sống theo chế độ mẫu hệ. Mỗi gia đình có những ngôi nhà xây cất gần nhau theo một trật tự gồm : một căn nhà lớn cho cả nhà gọi là Thang Yơ, đến khi con gái lớn lấy chồng thì mọi người nhường căn nhà đó cho cô và cất căn nhà khác bên cạnh gọi là Thang Mưyân. Khi cô con gái thứ hai lấy chồng cô cả phải ra ở cạnh để nhường cho cô em. Cô con gái út được hưởng nhà đó và có nhiệm vụ giữ Chick Atâu-là một cái giỏ tre đựng đồ quý của gia đình để cúng giỗ gia đình.
    Người Chăm ăn cơm gạo được nấu trong nồi đất. Thức ăn gồm thịt, cá, rau củ do săn bắt, hái lượm, chăn nuôi. Ngưởi Chăm ở Bình Thuận, Ninh Thuận ăn bằng đũa. Người Chăm theo đạo Hồi không ăn thịt bò vì bò là vật linh thiêng. Họ cũng không ăn heo vì heo là con vật dơ bẩn. Họ có món canh Vabai nấu bằng là rừng trộn thịt, bột gạo rồi khuấy đều. Món cháo chua, bánh nhân chuối. Thức uống có rượu cần, rượu gạo.
    Nói đến người Chăm không thể không nói đến tháp Chàm. Kỹ thuật để xây dựng tháp Chàm ngày nay vẫn còn là một dấu chấm hỏi lớn đối với các nhà nghiên cứu. Tháp được làm bằng gạch Chăm, gạch có kích thước khoảng 31cmx 17cmx 5cm. Chúng được xếp chồng khít lên nhau mà chúng ta không thể nào nhìn thấy những mạch hồ. Thế tại sao nó có thể đứng được ? Có người cho rằng người Chăm xây tháp bằng gạch mộc gọt lên đó rồi nung khối tháp trong một ngọn lửa khổng lồ. Giả thuyết này không có sức thuyết phục vì gạch mộc thì làm sao chịu được sức nặng của ngôi tháp và khi nung thì làm sao những viên gạch ở những bức tường dày 1-1,5 m ấy lại có độ nung chín đều như những viên gạch trong lẫn ngoài như thế. Lại có người cho rằng người Chăm dùng một thứ nhựa thực vật để làm hồ dán những viên gạch lại với nhau. Có người cho rằng đó là mủ cây xương rồng trộng với mật đường nhưng lại có người cho rằng đó là dầu rái để gằn những viên gạch lại với nhau. Sự tinh tế của các tháp Chàm còn thề hiện ở vô số hình chạm khắc tỉ mỉ, trau chuốt cho nghệ thuật đục đẽo trực tiếp lên tường tháp sau khi tường tháp đã được xây. Tháp thường có ba tầng, càgn lên cao càng thu hẹp lại, mỗi tầng mô phỏng lại vòm cuốn của cửa chính và cửa giả. Ở góc mỗi tầng tháp đều có hình tháp thu nhỏ và rất nhiều vật trang trí phụ bằng sa thạch thể hiện hình tiên nữ Apsara, chim thần Garuda, bò thần Nandin… Tất cả những chủ đề trang trí đều được thể hiện bên ngoài tháp, tường trong tháp bao giờ cũng để trơn. Trên chóp tháp là một khối đá nhọn đặt ngay giữa đỉnh.

    Khánh Hòa
    Khánh Hòa là nơi có nền văn hóa và lịch sử lâu đời. Cách đây hàng ngàn năm, con người đã sinh sống tại đây. Trống đồng Nha Trang đã xuất hiện từ 2000 năm trước. Trên mảnh đất này có nhiều người Chăm sinh sống. Hệ thống giáo dục ở Khánh Hòa khá phát triển với trên 20 cơ quan lưu giữ hiện vật và nghiên cứu về biển lớn nhất Đông Nam Á với trên 11.000 tiêu bản về hải sản.
    Vịnh Cam Ranh
    Là một vịnh nhỏ ở cực Nam của tỉnh Khánh Hòa. Vịnh được xếp là 1 trong 3 hải cảng thiên nhiên tốt nhất thế giới cùng với cảng San Francisco và Rio De Janeiro. Vịnh rộng 6000 ha bề ngang và dài 6 km. Với diện tích đó vịnh Cam Ranh cho phép nhiều tàu bè cập bến cùng một lúc. Trước năm 1975, Mỹ huấn luyện cá heo để tuần du. Hiện vịnh Cam Ranh chia làm hai khu vực chính trị và kinh tế. Vịnh Cam Ranh còn là nơi để du khách có thể đến ngắm cảnh hay đi bộ trên những đồi cát trắng mịn.
    Khu du lịch Suối Tiên
    Là dòng suối đẹp với nhiều cảnh lạ huyền bí nằm ở phía Nam huyện Diên Khánh. Tới đây chúng ta có thể dừng chân ở một đoạn đường có một dãy đá chắn ngang dòng suối tạo thành một đập đá tự nhiên. Dưới chân đập đá có vùng nước xói thành lòng chảo sâu và rộng gọi là Hồ Tiên. Gọi là Hồ Tiên vì truyền rằng Tiên thường tắm ở đây xưa kia. Nước hồ trong vắt có thể nhìn thấy đáy hồ cát trắng mịn. Theo bờ suối ngược lên những tảng đá nhỏ nằm ngổn ngang khắp suối, đá muôn hình với màu sắc khác nhau. Hai bờ suối cây cối mọc chen trong đá nghiêng mình xuống dòng suối mát rượi. Trong lòng suối hoặc trên bờ suối có nhiều tảng đá rộng lớn và bằng phẳng nửa nằm dưới nước nửa nằm trên bờ có dấu chữ điền, chữ khẩu, nét đá mờ rêu phong. Người địa phương gọi là bàn thờ Tiên. Lên trên nữa là rất nhiều thác đá và hồ nước nhỏ, đá chất chồng thành hang gọi là hang Tiên.
    Ngã ba Đồng Đế
    Trước 1975 nơi đây là nơi huấn luyện hạ sĩ qua Đồng Đế. Hiện nay là doanh trại nhân dân Việt Nam.
    Đèo Rù Rì
    Đèo dài 3 km, tên gọi Rù Rì vì khi gió thổi qua đèo cây cối lao xao tạo nên âm thanh rù rì và đó cũng là cách lý giải cho địa danh mang tên Rù Rì.
    Bãi biển Đại Lãnh
    Nằm giữa hai đèo Cổ Mã và đèo Cả. Đây là một trong những bãi tắm đẹp nhất Việt Nam với những bãi cát trắng mịn. Bãi biển rộng và dài, nước biển luôn xanh một màu ngọc bích. Đặc biệt giữa khu vực bãi tắm có một nguồn nước ngọt chảy ra từ chân núi hòa vào biển cả, nước quanh năm mát lạnh và tinh khiết. Đại Lãnh từ xưa đã được liệt vào danh lam thắng cảnh của nước ta và minh chứng cho điều đó là hình ảnh Đại Lãnh trên một số Cửu Đỉnh của Minh Mạng.
    Đèo Cả Là tên của dãy núi cao thuộc hệ thống Trường Sơn Đông có sườn phía Đông, dốc đứng và tiếp xúc trực tiếp với biển Đông. Đèo dài 12 km, cao 250 m so với mực nước biển. Đèo là ranh giới tự nhiên của hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa.
    Đèo có cấu trúc địa chất khá điển hình đó là một phức hệ đá xâm nhập bao gồm hầu như độc nhất một loại đá Granit.
    Vũng Rô Là một cảng biển rộng, nơi sâu nhất có thể lên đến 15-16 m. Vũng Rô được chắn bởi núi Đá Bia hùng vĩ. Trước năm 1975, đây là cảng quân sự chiến lược đảm bảo cho việc tiếp tế hậu cần cho các căn cứ quân sự Mỹ và quân đội Sài Gòn.
    Ngoài ra Vũng Rô còn là một bến cảng tiếp nhận vũ khí đạn dược và các phương tiện chiến đấu từ Bắc gửi vào chi viện cho chiến trường quân khu 5, được chuyên chở bằng những con tàu không số. Hiện tại Vũng Rô còn xác một con tàu không số từ miền Bắc vào bị lộ. Các chiến sĩ đã tranh thủ bốc dỡ hàng hóa và đặt mìn đánh đắm tàu.
    Núi Đá Bia
    Trên đỉnh đèo Cả có núi Đá Bia hay còn gọi là Thạch Bi Sơn cao 706 m. Năm 1471 sau khi thân chinh đem quân đánh đuổi Chiêm Thành về phía Nam, vua Lê Thánh Tông đã đặt chân đến Đèo Cả và cho khắc lên đỉnh Thạch Bi Sơn một bài thơ ghi lại chiến tích và làm ranh giới cho hai nước Việt-Chiêm. Tuy nhiên cho đến ngày nay ngươì ta vẫn chưa tìm được dấu vết của bài thơ trên ngọn Bi Sơn.

    Thuyết Minh Theo Tuyến Từ Nha Trang -> Đà Lạt

    Huyện Ninh Sơn
    Là vùng sâu của tỉnh Ninh thuận, cách thị xã Phan Rang 37 km. Dân số : 74900 người, gồm 8 xã miền núi và 6 xã đồng bằng. Đa số người dân sinh sống bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi và một số làm nghề thủ công. Đa số người dân ở đây là người Chăm.
    Đèo Sông Pha
    Nơi đây trồng rất nhiều cây nho, cây thuốc lá và cây bông vải, một vai nơi còn trồng mía.
    Cây nho: trồng theo kiểu dây leo, trên giàn. Đầu tiên người ta làm giàn bằng gỗ cao khoảng 1,6 -> 1,8 m (tính nếu làm 1 giàn nho thì phải phá 4 ha rừng, chính điều này đã gay nạn phá rừng tràn lan). Những nhánh nho được trồng cho bám lên giàn, khoảng 18 tháng nho sẽ được thu hoạch, hái trái. Tuổi thọ của nho khoảng từ 7->10 năm, 1 năm có 3 mùa thu họach, trung bình 2,5 tấn/mùa/năm. Trung bình 1 ha nho lợi nhuận gấp 10 lần trồng lúa. Hiện nay liên doanh với Anh sản xuất rượu nho Thiên Thai. Diện tích trồng nho ở Phan Rang là 1350 ha. Và đang được nghiên cứu để có giống nho không hạt. Nhưng hiện nay rượu nho Việt Nam không được ưa chuộng vì nho không ngọt và có rất nhiều hạt làm cho chất lượng rượu nho giảm có vị chát vị chua …
    Cây bông vải : Vào năm 1941-1945 được trồng thử nghiệm ở Phan Rang nhưng hiệu quả kém. Năm 1954 nhập giống cây bông từ Hoa Kỳ. Năm 1970-1973 lại cho nhập giống bông từ trung tâm khảo cứu châu Phi, thuộc viện khảo cứu bông vải I.R.C.T nhằm cung cấp sợi bông cho các nhà máy dệt nhuộm. Cây bông vải thuộc cây đa niên, nếu đốn gốc mùa sau sẽ mọc lại nhưng dễ bị sâu bệnh, năng suất thấp. Chu kỳ sinh trưởng cây bông vải gồm 5 giai đoạn : giai đoạn mọc mầm, cây non tăng trưởng, trổ hoa, đậu trái, trái chín. Thời gian từ lúc trông cho đến khi trái chín và cho bông trung bình 178 ngày. Sau đó đốn bỏ cây và thường trồng xen canh với các loại cây khác như đậu nành, đậu phộng, đa số là những cây ngắn ngày.
    Xã Mỹ Sơn
    Tới cầu Sông Cay (sông Dinh nhưng đoạn này người ta gọi là sông cay ). Nơi đây chúng ta sẽ thấy núi Trầm Ngân.
    Suối nước nóng Mỹ Á Suối nước nóng Mỹ Á thuộc xã Ninh Tân, huyện Ninh Sơn, Ninh Thuận nằm cạnh quốc lộ 27. Nay có nhà máy khai thác và chế biến suôi nước nóng Mỹ Á. Nguồn nước khoáng này là mạch ngầm khai thác tự nhiên.
    Thị trấn Sông Pha
    Nơi tập trung dân cư khá đông nằm dưới chân đèo Sông Pha, có nhiều hàng quán. Tập trung đông là do trước đây lên Đà Lạt qua đèo Ngoạn Mục khó khăn và phải chờ thời gian thích hợp ( do đuờng hẹp chỉ lên xuống 1 lượt nên nơi này thường là nơi nghỉ qua đêm của khách đi xe đò). Thứ hai là gần đây là nhà máy điện Đa Nhim nên công nhân làm việc xây dựng công trình này cũng góp phần làm cho thị trấn đông đúc hơn.
    Nhà máy thủy điện Sông Pha
    Xây dựng năm 1992, có công suất nhỏ, phục vụ cho tiêu dùng địa phương.
    Nhà máy thủy điện Đa Nhim
    Nước xả của Đa Nhim là nguồn cung cấp nước cho Sông Pha. Ngoài ra nuớc thoát từ nhà máy thủy điện dùng nuớc tưới tiêu cho hơn 23.800 ha lúa khô cằn của Phan Rang.
    Hệ thống thủy điện Đa Nhim
    Sông Đa Nhim tiếng dân địa phương có nghĩa là nước mắt, bắt nguồn từ huyền thoại LangBiang, với lưu lượng nước phong phú, lại nằm trên triền núi thẳng đứng. Do đó có nhiều dự án của những nhà máy thủy điện tên tuổi về vị trí thiên nhiên hiếm có này.
    Ngày 13/5/1959 thực hiện thỏa ước bồi thường chiến tranh Nhật-Việt, hai chính phủ đã dùng kinh phí này vào việc thiết lập hệ thống thủy điện Đa Nhim, gồm 39 triệu đôla và thêm 7,5 triệu đôla vay thêm.
    Hệ thống thủy điện Đa Nhim được thiết lập do 1 dự án dung hòa của hãng Sofréah (Pháp) và hãng Nippon Koei (Nhật) với mục đích đưa nước sông Đa Nhim từ Đơn Dương về Sông Pha qua hệ thống ống tạo thành nước cao 800 m. Sức mạnh lưu lượng nước này làm động lực quay những tuabin của nhà máy phát điện Đa Nhim.
    o Hệ thống gồm 5 công trình:
    Một hồ chứa nước nhân tạo Đơn Dương (bằng cách đắp 1 đập dài 1.460 m chắn nang dòng sông Đa Nhim) điều hòa lưu lượng nước cần thiết dùng cho nhà máy Sông Pha suốt năm (rộng 10 km2, chứa 160 triệu m3 nước).
    Đường hầm dẫn nước dài 5 km xuyên qua núi, dưới dãy đèo Ngoạn Mục và 2 ống thủy áp dài 2.340 m cuối đường hầm để đưa nước từ hồ Đa Nhim về đến nhà máy Sông Pha.
    Nhà máy thủy điện tại Sông Pha chạy bằng máy tuabin Pelton do động lực từ sức nước của đường thủy áp.
    Một đường dẫn điện cao thế 230 KV từ nhà máy Sông Pha về nhà máy biền điện Thủ Đức.
    Nhà máy biền điện Thủ Đức hạ thấp điện thế từ 230 KV xuống còn 6,6 KV và vành đai trung thế cung cấp điện cho thành phố Hồ Chí Minh và một số nơi khác.
    Ngoài việc sản xuất tổng công suất 160.000 KV điện và số nước dùng để chạy máy thoát ra, được đưa vào hệ thống dẫn nước tưới cánh đồng Phan Rang 23.800 ha. Hệ thống thủy điện Đa Nhim còn tạo cho Đơn Dương một hồ chứa nước tuyệt đẹp. Hồ Đa Nhim cách Đà Lạt 50 km về phía Đông Bắc là một thắng cảnh thơ mộng với những đồi thông vi vu soi bóng nước, một nơi lý tưởng để săn bắn và câu cá.
    Đèo Sông Pha
    Đèo nhỏ, dài khoảng 1 km. Nơi tập trung dân cư khá đông nằm dưới chân đèo Sông Pha, có nhiều hàng quán, khu vực này tâp trung đông là do trước đây lên Đà Lạt qua đèo Ngoạn Mục khó khăn, phải chờ thời gian thích hợp nên nơi đây tập trung rất nhiều các xe khách. Chúng ta sẽ thấy đèo Ngoạn Mục.
    Đèo Ngoạn Mục
    Hay còn gọi là đèo Krông Pha. Đây là con đèo tuyệt đẹp nằm trên đồi cao 980 m, dài khoảng 18 km, con đường quanh co gấp khúc liên tục; lên độ cao 400m là ranh giới tự nhiên giữa Ninh Thuận và Lâm Đồng. Đây là đèo dài nhất và nguy hiểm nhất trên cung đường từ Phan Rang lên Đà Lạt, với nhiều khúc quanh nguy hiểm. Lên đèo Ngoạn Mục, khí hậu thay đổi là do sự chênh lệch địa hình giữa hai vùng khoảng 1000m. Khi lên đèo Ngoạn Mục ta thấy hai đường ống lớn nằm vắt ngang qua núi, đó là hệ thống đường ống dẫn nước của nhà máy thủy điện Đa Nhim, dẫn nước từ hồ Đa Nhim-Lâm Đồng xuống nhà máy thủy điện Đa Nhim-Ninh Thuận nằm dưới chân đèo Ngoạn Mục. Đi hết đèo Ngoạn Mục ta đến tỉnh Lâm Đồng.

    Thuyết Minh Theo Tuyến Từ Đà Lạt->TP.HCM

    Đèo Prenn
    Đỉnh đèo Prenn ở độ cao 1500 m so với mực nước biển, cách trung tâm thành phố Đà Lạt 10 km. Đây là ngọn đèo cuối cùng trên quốc lộ 20 đưa du khách đến viếng thăm Đà Lạt. Ở đây chúng ta thấy những gốc thông già cả trăm tuổi, đồi núi chập chùng, khí hậu mát mẻ tạo cho du khách cảm giác thoải mái, thư thái.
    Ngay dưới chân đèo Prenn là thác Prenn mà gốc tiếng Chăm có ý nghĩa xa xưa là vùng xâm chiếm. Nguyên trước đây nhiều thế kỷ, người Chăm ở Ninh Thuận luôn có những cuộc giao tranh dai dẳng với các dân tộc ít người ở Lâm Đồng. Prenn là ranh giới giao tranh và nhận định ( từ Đơn Dương, Phan Rang ) là của người Chăm và từ Prenn trở lên là của người K’Ho, Mạ. Hiện nay nhiều làng ở vùng Đơn Dương vẫn còn mang ảnh hưởng của người Chăm từ đó. Thác cao 15 m từ trên các tảng đá đổ xuống và từ dưới trônglên cứ như từ trên trời đổ xuống nên người Sài Gòn gọi là thác Thiên Sa (những giọt châu sa từ trên trời rơi xuống).
    Từ năm 1998 đến nay, thác Prenn được cơ quan chủ quản là công ty du lịch Lâm Đồng và nay là công ty dịch vụ du lịch Đà Lạt đầu tư mạnh nên đang là điểm thu hút du khách của du lịch Lâm Đồng. Trong khuôn viên thác có cầu treo dân tộc, có hồ nuôi cá sấu, có một ít thú. Quý khách đến đây có thể thưởng thức được món đặc sản là cháo cá lóc, món ăn này được xếp vào loại nhất nhì Đà Lạt. Cá được róc bỏ xương, ăn với bồ tạt tạo cho du khách một cảm giác khó quean. Chỉ 100.000 đồng, một nhóm du khách khoảng 4-6 người đã có thể dùng bữa cháo thay cơm trưa, bên dòng thác chảy róc rách rất lý tưởng và tuyệt vời.
    Thác Pongour
    Tại Di Linh-Đức Trọng có một ngọn thác cao, hùng vĩ đầy chất hoang vu, một ngọn thác vào loại đẹp nhất của tỉnh Lâm Đồng, đó là thác Pongour. Thác Pongour cách Đà Lạt 45 km, là ngọn thác đẹp nhất và hùng vĩ nhất của vùng Tây Nguyên, với chiều cao 20 m, bề mặt thác dài hàng trăm mét và một thềm thác rộng hàng chục ha có thể tổ chức vui chơi cho hàng ngàn người một lúc. Các nhà du lịch đã không ngần ngại đặt cho Pongour biệt hiệu “Nam phương đệ nhất thác”.
    Trong những năm 80 , tác giả Nguyễn Nhật Hồng đã tới thăm và sưu tầm về truyền thuyết của thác Pongour. Ông đã viết bài thơ bằng tiếng dân tộc K’ho và khắc lên tảng đá sừng tê giác đầu tiên, tạm dịch như sau :

    Ngày xưa đẹp lắm nàng Kanai,
    Cũng là Trưng Triệu bậc anh tài
    Diệt lũ tham tàn cứu dân khổ
    Vì đời lại dựng cõi thiên thai.

    Thác Pongour được gọi là thác Thiên Thai có lẽ là sau những năm 80 ấy.
    Thác Dambri
    Thác Dambri cách trung tâm thị xã Bảo Lộc 18 km về hướng Tây. Thác cao 90 m, là một thác hùng vĩ và nguy nga mà khách có thể dễ dàng đến thăm. Cảnh quan thiên nhiên đẹp, không khí trong lành. Năm 1992 đã được Liên hiệp Dâu tằm tơ đầu tư hàng chục tỷ đồng làm đường ngựa vào thác. Xung quanh hai bên đường là những đồi dâu bạt ngàn xanh tốt, những đồi cà phê, chè.
    Thị trấn Bảo Lộc
    Một địa danh nổi tiếng với những đồi chè, cà phê bạt ngàn, có thác Dambri hùng vĩ và những giai thoại.
    Ngành trồng cà phê tại Bảo Lộc : sau khi Pháp chiếm Việt Nam, để khai thác thuộc địa người Pháp đã trồng nhiều loại nông sản được ưa chuộng như cao su, cà phê, chè, vani … Cây cà phê chính thức du nhập vào Việt Nam năm 1890. Cuối thế kỷ 19 cây cà phê được trồng thử nghiệm tại Nam Bộ nhưng không đạt hiệu quả nên đã bị đốn bỏ. Đầu thế kỷ 20 vùng Gia Định có khoảng 150.000 cây cà phê, nhiều nhất là vùng Hạnh Thông Tây và Thủ Đức. Khoảng năm 1920 trồng thử nghiệm tại Plâyku, Kontum cho kết quả ban đầu khả quan. Năm 1927 chính quyền thực dân hô hào trồng cà phê Arabica ở vùng Tây Nguyên. Đến năm 1946 vùng Tây Nguyên có 3000 ha cà phê. Năm 1948 giống Arabica bị tàn phá nặng nề do mọt cà phê. Các nhà nghiên cứu chuyển sang trồng loại Rubusta và cà phê Chari. Năm 1980 cà phê mới được trồng nhiều tại Đà Lạt.
    Ngành trồng trà tại Bảo Lộc : tỉnh Lâm Đồng là một vùng quan trọng ngay từ thời Pháp thuộc. Năm 1930 một trung tâm nghiên cứu nông học được lập ở Bảo Lộc để nghiên cứu các giống trà phục vụ cho việc phát triển các đồn trà. Cho đến 1954, ngành trồng trà nằm trong tay Pháp với đồn điền rộng lớn. Năm 1954 nhiều người từ miền Bắc di cư vào miền nam được định cư ở Bảo Lộc và Di Linh. Họ cũng lập những vườn trà quy mô nhỏ, có tính cách gia đình bên cạnh những đồn điền lớn của các công ty xí nghiệp liên doanh. Diện tích trồng chè ở nước ta hiện nay là 160.000 ha, riêng Lâm Đồng 16.000 ha và Bảo Lộc 10.000 ha, năng suất 18-20 tấn lá/năm/ha.
    Giai thoại : xưa kia có một vị Đại Đức đang ngồi nghe Đức Phật thuyết pháp thì ngủ gục vì quá meat mỏi, khi giật mình tỉnh dậy ông rất giận mình nên cắt hai mí mắt vứt ra ngoài sân. Ít lâu sau chỗ đó mọc lên một thứ cây lạ, lá có hình dáng giống như chiếc mi mắt, người ta nhai lá này thì có vị chát, pha với nước uống thì tỉnh táo hẳn bớt buồn ngủ.

    Đèo Bảo Lộc
    Nằm trên tuyến đường quốc lộ 20 với chiều dài 10 km. Lên đến đỉnh đèo chúng ta đang ở độ cao 800 – 850 m so với mực nước biển. Với đường quanh co, khung cảnh hùng vĩ của núi rừng và khí hậu mát mẻ của vùng cao nguyên chắc rằng du khách sẽ cảm thấy thoải mái nhẹ nhõm, cảnh thiên nhiên hùng vĩ đó là bức tranh hoàn mỹ, một thắng cảnh nổi tiếng của Bảo Lộc. Bên cạnh bức tranh thiên nhiên ấy, quý khách còn thấy ở nơi đây có miếu thờ Tam Cô và tương Đức Mẹ.
    Theo câu chuyện được truyền miệng, miếu thờ Tam Cô rất linh thiêng. Các lái xe tuyến đường này kể lại, vào những lúc sương mù hay trời tối, họ thường thấy bóng dáng của ba cô gái đứng trên đường, hướng dẫn cho xe của họ đi đúng hướng, tránh xảy ra những tai nạn thương tâm, đáng tiếc. Chính vì những tình tiết như vậy mà để cho linh hồn quá cố được ấm với những nén nhang của người đi đường, họ đã dựng miếu thờ những cô gái xấu số đó. Về sau những đóng góp của những người từ tâm, miếu Tam Cô được xây dựng khang trang như ngày nay.
    Sát cạnh miếu thờ Tam Cô, bên dòng suối nhỏ là tượng Đức Mẹ Maria với đôi mắt dịu hiền được giáo dân xứ An Bình đóng góp xây dựng nên, xuất phát từ tín ngưỡng tôn giáo và sự tôn thờ Đức Mẹ, luôn ban ơn lành, hạnh phúc cho mọi người, luôn mở rộng vòng tay đón nhận những kẻ bất hạnh. Họ đã dựng nhữngtượng đài Đức Mẹ ngay cạnh đèo Bảo Lộc là để cầu sự an lành cho những người đi đường.
    Khu du lịch Suối Tiên
    Suối Tiên bắt nguồn từ núi San-Say giáp tỉnh Bình Thuận, dài trên 10 km, là khu du lịch liên doanh giữa Saigon tourist và huyện Đa Hoài năm 1989.
    Suối Tiên là dòng suối rộng, trong xanh, chảy xiết với nhiều khối đá nổi lên trên lòng suối. Dòng suối này chảy qua vùng rừng nhiệt đới nguyên sinh càng tạo phong cảnh hưu tình. Ở đây có thể tổ chức tour nghỉ ngơi, giải trí, cắm trại, tham quan rừng. Hiện nay có trồng thêm vườn lan và nuôi nhiều thú cho khách thưởng ngoạn.
    Tên gọi Suối Tiên với truyền thuyết như sau : Tương truyền từ xa xưa, ông trời nổi giận không cho mưa xuống, làm khắp buôn làng người Mạ âu sâu, lo lắng, trẻ con khóc thét đòi nước uống. Một gia đình nọ, vợ sinh con đầu lòng nhưng thiếu sữa cho con bú, chồng liền cầm nỏ vào rừng tìm trái chua cho vợ con. Chàng đã vượt qua ba ngọn núi , bảy cánh rừng. Khi mặt trời lên cao, người thợ săn nhìn thấy một tổ ong, chàng vươn cung lên bắn, tên vừa chạm vào tổ ong thì một dòng nước bắn thẳng vào thợ săn, chàng trai hoảng sợ bỏ chạy, tức thì dòng nước chạy theo. Chàng chạy càng nhanh dòng nước chạy càng nhanh, chàng chạy mãi đến bên cánh rừng thì kiệt sức và thiếp đi thì dòng nước dừng lại và lan rộng, lan rộng mãi thành một vùng nước sâu. Nhờ dòng nước này mà buôn làng được cứu sống và tồn tại cho đến ngày nay.
    Theo quốc lộ 20 từ ranh giới tỉnh Lâm Đồng ta bắt gặp vùng cư trú của dân tộc Mạ ngay từ huyện Đa Hoài kéo dài đến Bảo Lộc. Dân tộc Mạ có khoảng 20000 người (1989). Các dân tộc bản địa ở Lâm Đồng chủ yếu sống bằng các hoạt động kinh tế nương rẫy là chủ yếu. Hàng năm vào trước mùa mưa, các buôn làng tổ chức đốt rẫy và đến khi cơn mưa đầu mùa vào khoảng tháng tư, họ bắt đầu tỉa lúa, ngoài ra họ còn xen kẻ trong lúa là trồng bắp, đậu … Khi đã đến mùa gặt thì họ phơi khô lúa, ngô để trong kho. Sinh hoạt kinh tế nương rẫy có từ lâu đời, ngoài ra họ còn có nghề săn bắt rất đặc biệt truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hầu hết các dân tộc ít người ở Lâm Đồng cư trú thành các Bon (Plei). Mỗi Bon có từ vài chục nóc nhà. Vùng Mạ tồn tại các ngôi nhà dài hàng chục mét. Ở người Mạ, chế độ phụ hệ đã được xác lập. Mỗi Bon đều có một người đứng đầu do sự tín nhiệm và đề cử của các thành viên cộng đồng. Những việc gieo trồng, chia đất, chiến tranh … phải do sự quyết định tập thể của cộng đồng. Người Mạ cho đến ngày nay vẫn còn tồn tại một kho tàng dân gian tục ngữ khá đồ sộ nhất là những bản tình ca thật da diết, hồn nhiên. Vốn âm nhạc của dân tộc rất phong phú, đặc biệt là bộ cồng chiêng. Đêm đêm vào mùa lễ hội, sau khi đã thu hoạch xong một vụ lúa, người dân tổ chức ăn mừng lúa mới. Trong không gian hùng vĩ ấy của núi rừng, tiếng chiêng vang lên những âm điệu diệu kỳ như kêu gọi hướng về một tương lai của những ngày tươi đẹp. Âm nhạc là nhu cầu gửi gắm tâm tư nguyện vọng của dân tộc ít người. Chính ở vùng Mạ Bảo Lộc đã phát hiện được bộ đàn đá Bơrode (hiện lưu giữ tại Los Angeles) là một minh chứng cho trình độ âm nhạc độc đáo của các dân tộc ít người ở Lâm Đồng.
    Đèo Chuối
    Dài 4 km, chạy giữa thung lũng của hai dãy núi cao. Trước đây vùng này mọc rất nhiều cây chuối hoang nên người ta thường gọi là Đèo Chuối. Lên đèo Chuối chúng ta đang ở độ cao 350 m so với mực nước biển.
    Cầu La Ngà
    Được xây dựng năm 1985-1987, chiều dài 173,4 m; rộng 9,56 m, cầu được bắt qua sông La Ngà nổi tiếng với những chặng đánh lịch sử của quân và dân miền Nam trong thời gian chống đế quốc xâm lược.
    Hai bên cầu trên dòng nước phẳng lặng, chúng ta nhìn thấy những ngôi nhà bồng bềnh trên mặt nước đó là làng nuôi cá bè. Ban đầu chỉ có vài người ở miền Tây lên đây lập nghiệp và họ đã mang theo nghề nuôi cá bè đặc trưng ở miền Tây Nam bộ. Một công việc đã đem lại cho họ một cuộc sống ổn định hơn. Về sau có lẽ do dòng sông hiền hòa ấy thích hợp cho việc nuôi cá bè, từ đó kinh tế của họ đi lên. Chính vì vậy mà ngày càng tập trung nhiều người tại đây và đã từ từ hình thành nên một làng nuôi cá bè.
    Nhà máy đường La Ngà
    Được xây dựng năm 1979-1984 do Đan Mạch viện trợ với công suất thiết kế 2000 tấn mía cây/ ngày, đạt 2 triệu tấn đường/năm. Phía sau nhà máy đường là một đồi trồng cây xanh rất đẹp, dân ở đây gọi là đồi du lịch, gần khu nhà ở của các chuyên gia nước ngoài làm việc tại nhà máy đường La Ngà. Sau đó mở thêm nhà máy kẹo, công suất 2,5 tấn/ ngày và nhà máy sản xuất phân Komix, các sản phẩm kẹo và phân Komix đạt tới 170 tỷ đồng ( nguyên liệu làm từ bả bùn trong sản xuất đường ). Ngoài ra còn liên doanh với Úc để sản xuất ra các loại men khô, men dùng trong thực phẩm với vốn đầu tư 4,5 triệu USD. Tổng số công nhân làm việc trong nhà máy La Ngà lên đến 2000 người.

    Vườn quốc gia Cát Tiên
    Là một khu rừng nguyên sinh tiêu biểu cho hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới, rừng nằm uốn khúc quanh sông Đồng Nai. Cát Tiên có phong cảnh tuyệt vời và đa dạng : vừa có đồi núi chập chùng, các mảng tự nhiên rộng lớn bằng phẳng và những dòng chảy nhỏ. Vào mùa mưa các dòng chảy này đổ thành thác, nước ở đây trong veo, tuôn nhẹ nhàng qua các gờ đá, tạo thành con suối mát hiền hòa.
    Trên đoạn đường chính vào rừng du khách sẽ thấy phía bên tay trái là rừng già tập trung rất nhiều gỗ quý như gõ, bằng lăng, cẩm lai, gụ, trắc … Phía bên tay phải rừng là thác rời. Cách bìa rừng 7 km là vùng Bàu Sấu, làng Bàu Sấu chứa rất nhiều cá. Chính vì thế mà gà lôi, công trĩ, mồng két … tập trung rất đông. Vườn quốc gia Cát Tiên hầu như còn nguyên vẹn thảm thực vật và động vật phong phú. Ngoài ra trong khu vực này có cây gõ Ông Đồng 300 tuổi, cây thiên tuế bảy ngọn làm phong phú bộ sưu tập rừng.
    Vườn quốc gia Cát Tiên có thể xem là khu bảo tồn động vật lớn chất lượng vì có rất nhiều loại chim và thú hiếm, chính là rừng vàng của Nam bộ.
    Thủy điện Trị An
    Là thác nước cuối cùng của sông Đồng Nai trước khi chảy vào đồng bằng. Vào mùa nước kiệt, trên một khoảng sông rộng nổi lên hàng trăm tảng đá đen lô nhô giống như bầy trâu đang đắm mình dưới sông. Vào mùa nước nhiều, nước sông đổ cuồn cuộn làm tung bọt trắng xóa trên một đoạn sông hàng trăm mét tạo nên khung cảnh thật hùng vĩ.
    Với sự giúp đỡ của Liên Xô và sự đóng góp của cả nước, công trình thủy điện đã ra đời sau thủy điện Hòa Bình trên sông Đà. Được khởi công xây dựng năm 1983, các tỉnh miền nam tiếp tế, các tỉnh miền Bắc gửi cán bộ giỏi, nhiều kinh nghiệm, kỹ thuật. Phần đóng góp quan trọng nhất là tỉnh Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh gánh vác. Nhân dân 16 tỉnh thành phố miền Nam đóng góp trên 51 tỷ đồng, Liên Xô cũ cho vay 150 rúp và cung cấp máy móc thiết bị xây dựng công trình. Sau 5 năm lao động cật lực của cán bộ công nhân trên công trường xây dựng, tổ máy số 1,2 hoạt động vào năm 1988, đến năm 1989 cả 4 tổ máy được vẫn hành sản xuất điện.
    Đập chính chắn ngang và được xây dựng từ thượng nguồn của thác Trị An, tạo nên một hồ chứa nước rộng 232 km2 chứa gần 3 tỷ m3 nước. Nước từ hồ chính đưa qua hồ phụ rồi chảy sang nhà máy thủy điện làm quay bốn tổ máy cócông suất tổng cộng 400 MW, sản lượng điện hàng năm đạt tới 1,7 KW/h. Hồ Trị An là một khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, một địa điểm hấp dẫn du khách.

    Bài Thuyết Minh Điểm (Tour Phan Rang - Nha Trang)

    Tỉnh Ninh Thuận

    * Diện tích: 3.427 km2
    * Dân số: 483.400 người
    * Tỉnh lỵ: Phan Rang
    * Tỉnh Ninh Thuận bao gồm thị xã Phan Rang và ba huyện: Ninh Sơn, Ninh Hải và Ninh Phước.
    Ninh Thuận là 1 tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, Bắc giáp Khánh Hòa, Tây giáp với Lâm Đồng, Nam giáp với Bình Thuận và Đông giáp biển Đông. Ninh Thuận được bao bọc bởi 3 mặt là núi: phía Bắc và Nam là 2 dãy núi nhô ra biển, phía Đông là vùng núi cao của tỉnh Lâm Đồng. Địa hình có 3 dạng : miền núi, đồng bằng, vùng ven biển. Nơi đây có hai hệ thống sông chính đó là : hệ thống sông Cái bao gồm các sông nhánh như sông Mê Lam, sông Sắt, sông Ông, sông La, sông Quao … và hệ thống các sông suối nhỏ phân bố ở phía Bắc và Nam của tỉnh như sông Trâu, sông Bà Râu.
    Ninh Thụân nằm trong vùng khô hạn nhất nước ta, khí hậu nhiệt đới gió mùa với các đặc trưng là khô nóng, gió nhiều và bốc hơi mạnh, không có mùa đông. Nhiệt độ trung bình năm là 270C, lượng mưa trung bình 705 mm và tăng dần theo độ cao lên đến 1100 mm ở vùng miền núi. Một năm có 2 mùa : mùa mưa từ tháng 5 ->11 và mùa khô từ tháng 12 ->5 năm sau.
    Vì có khí hậu và vùng đất không được như những vùng khác trong nước nên Ninh Thuận có những vùng chuyên sản xuất chuyên canh như nho, thuốc lá, mía, đường, bông, tỏi, hành và nuôi trồng thủy sản vì nơi đây là vùng ven biển.
    Ninh Thuận là 1 bức tranh hài hòa giữa đồng bằng, đồi núi và biển cả.Nằm trong cụm du lịch quốc gia thuộc tam giác Đà Lạt-Nha Trang-Phan Rang. Ninh Thuận có vườn quốc gia Núi Chúa…
    Ninh Thuận là một tỉnh phía nam miền Trung Việt Nam. Đây là mảnh đất sinh sống của một số lượng lớn những người Chàm. Trong lịch sử, dân tộc Chàm đã từng là một quốc gia hùng mạnh và tại đây còn nhiều những di tích lịch sử và văn hóa của người Chàm cổ như Tháp Chàm, ... Tất cả tạo nên một sức thu hút lớn cho du khách.
    Ninh Thuận nằm dọc theo bờ biển, chính điều này đã đem đến nhiều bãi biển đẹp và nguồn hải sản dồi dào tạo thế mạnh rất lớn cho việc phát triển kinh tế của Tỉnh.

    Nét hấp dẫn mới của miền Panduranga

    Thời gian gần đây, miền Panduranga (Phan Rang, Ninh Thuận) được các hãng lữ hành xem như điểm đến mới, bởi ngành du lịch tỉnh đang tăng tốc đầu tư nhiều tuyến, điểm du lịch. Không chỉ có "cát và xương rồng", ở đây còn có nhiều thứ đủ níu chân du khách.

    Nho xanh và thổ cẩm
    Tạo hoá đã ban tặng vùng đất nắng gió này cái ưu thế thổ nhưỡng để có được những vườn nho bạt ngàn - loại đặc sản duy nhất được trồng đại trà ở đây. Hiện nay ngành nông nghiệp Ninh Thuận đã thực hiện chương trình cải cách nông nghiệp trồng nho theo định hướng sạch, phục hồi lại giống nho đỏ và trồng mới một số giống nho xanh.
    Làng dệt thổ cẩm truyền thống Mỹ Nghiệp (huyện Ninh Phước) khi được hãng lữ hành chọn là một điểm tham quan tìm hiểu văn hoá một làng nghề Chămpa tiêu biểu, các hộ dân trong làng đã nhanh chóng đưa ra các mặt hàng lưu niệm dệt thủ công tinh xảo, giá cả cũng tương đối rẻ như: cà vạt, ví đầm, áo gilê…
    Vĩnh Hy, Mỹ Á, Đen Giòn và những dự án lớn
    Vịnh Vĩnh Hy (cách thị xã Phan Rang 40km về phía Đông Bắc, thuộc huyện Ninh Hải, được xếp vào một trong bốn vịnh đẹp nhất Việt Nam cùng Hạ Long, Văn Phong và Cam Ranh) hiện được xem như một điểm du lịch khá mới mẻ và hấp dẫn ở Ninh Thuận. Saigontourist là đơn vị tiên phong đưa Vĩnh Hy vào chương trình du lịch liên tuyến: Ninh Chữ - Vĩnh Hy - Đà Lạt. Trong định hướng phát triển du lịch của tỉnh, vịnh Vĩnh Hy sẽ được quy hoạch thành điểm du lịch sinh thái biển có quy mô lớn, nơi sẽ tổ chức nhiều loại hình du lịch biển như: lướt ván, lặn biển, bơi thuyền.
    Trong khi đó, mới đón khách vào đầu năm nay là Đen Gòn - khu du lịch sinh thái tiêu biểu ở Ninh Thuận rộng 10ha, chạy dọc theo bờ biển Ninh Chữ với các bungalow và các nhà nghỉ liên kế vườn cây cảnh rất đẹp. Trên bờ biển Ninh Chữ còn có khu du lịch Hoàn cầu với công viên nước đầu tiên ở Ninh Thuận. Khu suối khoáng nóng Mỹ Á (hyện Ninh Sơn) cũng thu hút sự chú ý của khách du lịch. Từ thị xã Phan Rang theo quốc lộ 27 (đường đi Đà Lạt) chừng 30km, du khách sẽ đến với Mỹ Á để đắm mình thư giãn trong lòng nước ấm. Đi chừng 10km nữa du khách sẽ đến thuỷ điện sông Pha, chinh phục đèo Ngoạn Mục cảnh trí hùng vĩ, đẹp như tranh vẽ.
    Tỉnh Ninh Thuận cũng đã phê duyệt dự án xây dựng khu Hòn Cò - Cà Ná thành một khu du lịch biển phức hợp có tầm cỡ quốc tế với kinh phí xây dựng 17 tỷ đồng, xây dựng khách sạn trung tâm tại thị xã Phan Rang đạt tiêu chuẩn quốc tế ba sao và nâng cấp các khách sạn đã có như Ninh Chữ, Ninh Thuận, Thống Nhất.
    Với những nỗ lực và định hướng phát triển du lich như vậy, giới kinh doanh du lịch đánh giá trong tương lai không xa du lịch Phan Rang - Ninh Thuận có thể sánh vai cùng hai đàn anh trong lĩnh vực du lịch ở miền Trung là Nha Trang - Khánh Hoà và Phan Thiết - Bình Thuận.

    Những kỷ luật của xứ sở xương rồng

    Bãi biển vào loại đẹp nhất nước: Bãi Cà Ná nước xanh biếc và bãi Ninh Chữ cát trắng trải dài, được đánh giá là hai trong số chín bãi biển đẹp nhất nước ta.
    * Vịnh đẹp nhất nước: đó là Vịnh Vĩnh Hy là một trong bốn vịnh đẹp nhất Việt Nam (cùng với các vịnh Hạ Long, Văn Phong và Cam Ranh), với làn nước trong xanh quanh vịnh là núi đá cheo leo và những bãi san hô tuyệt đẹp.
    * Vùng khô hạn nhất nước: lượng mưa trung bình hàng năm của Ninh Thuận chỉ 659mm (TP.HCM 1979mm). Do khí hậu này Ninh Thuận có khu bảo tồn thiên nhiên Núi Chúa rộng 24.353ha với hệ sinh thái rừng khô hạn đặc trưng hiếm thấy ở nước ta.
    * Tỉnh có đơn vị hành chánh cấp huyện ít nhất: Toàn tỉnh chỉ có một thị xã (Phan Rang-Tháp Chàm) và 4 huyện (Ninh Phước, Ninh Hải, Ninh Sơn và Bác Ái).
    * Đồng bào Chăm đông nhất: Người Chăm ở Ninh Thuận ước 50.000 người, chiếm khoảng 50% dân số người Chăm trong toàn quốc.
    * Làng gốm cổ nhất Đông Dương: Các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng Bàu Trúc là làng gốm cổ nhất ở Đông Dương vẫn giữ nguyên phương thức sản xuất hoàn toàn bằng tay.
    * Ruộng muối lớn nhất nước: Ruộng muối của Xí nghiệp Muối công nghiệp Cà Ná rộng gần 500 héc ta, sản lượng 55 đến 60 nghìn tấn/năm, là ruộng muối công nghiệp lớn nhất nước, hình thành từ năm 1927.
    * Đàn cừu lớn nhất nước: gồm trên 50.000 con
    * Nho nhiều nhất nước: Ninh Thuận có trên 1.500ha nho, gần đây có giống nho xanh trái lớn, chất lượng không thua kém nho vùng ôn đới.
    * Giống tỏi thơm ngon nhất: Tỏi Ninh Thuận tép nhỏ, nhưng rất thơm, nổi tiếng nhất là tỏi vùng Vân Sơn.
    * Những con đường gần nhau nhất: Có dịp đi ngang Cà Ná bạn sẽ thấy đường biển chỉ cách quốc lộ 1A khoảng 5m, quốc lộ 1A cách đường sắt cũng 5m, và đường sắt cách đường núi 5m.

    DÂN TỘC CHĂM

     Người Chăm còn có tên gọi là Chàm, Chiêm,¬Chiêm Thành… Người Chăm có dân số 98.971 người thuộc nhóm ngữ hệ Nam Đảo.
     Vương quốc Chămpa tồn tại từ thế kỷ II đến đầu thế kỷ XVII. Lãnh thổ¬kéo dài từ Quảng Bình đến Bình Thuận, số còn lại cư trú ở An Giang, Phú Yên, TP.HCM, Bình Định, Tây Ninh. Vào thế kỷ XV sau những lần giao tranh với Đại Việt thất bại, một số người đã chạy sang Campuchia. Đến thế kỷ XVII họ lại trở về. Vào những năm 1940 do chiến tranh họ lại di chuyển lên sống và định cư ở TP.HCM.
     Làng của người Chăm gọi là Plây, xung quanh không có cây cối¬hoặc chỉ có vài cây me vì họ cho rằng ma quỷ trú ngụ trên những cây to. Nhà được xây dựng dựng về hướng Nam. Một gia đình sống trong khuôn viên có hàng rào bằng cây khô. Người Chăm sống theo chế độ mẫu hệ. Mỗi gia đình có những ngôi nhà xây cất gần nhau theo một trật tự gồm : một căn nhà lớn cho cả nhà gọi là Thang Yơ, đến khi con gái lớn lấy chồng thì mọi người nhường căn nhà đó cho cô và cất căn nhà khác bên cạnh gọi là Thang Mưyân. Khi cô con gái thứ hai lấy chồng cô cả phải ra ở cạnh để nhường cho cô em. Cô con gái út được hưởng nhà đó và có nhiệm vụ giữ Chick Atâu-là một cái giỏ tre đựng đồ quý của gia đình để cúng giỗ gia đình.
     Người Chăm ăn cơm gạo được nấu trong nồi đất. Thức ăn gồm¬thịt, cá, rau củ do săn bắt, hái lượm, chăn nuôi. Ngưởi Chăm ở Bình Thuận, Ninh Thuận ăn bằng đũa. Người Chăm theo đạo Hồi không ăn thịt bò vì bò là vật linh thiêng. Họ cũng không ăn heo vì heo là con vật dơ bẩn. Họ có món canh Vabai nấu bằng là rừng trộn thịt, bột gạo rồi khuấy đều. Món cháo chua, bánh nhân chuối. Thức uống có rượu cần, rượu gạo.

    SƠ NÉT LỊCH SỬ CHĂM

    Vương quốc Chămpa ra đời vào cuối thế kỷ thứ II (năm 192), gồm hai bộ phận: Chăm phía Nam (từ Phú Yên, Khánh Hòa trở vào) gọi là Nam Chăm, một bộ phận ở phía Bắc là tiểu quốc Lâm Ấp gọi là Bắc Chăm, hai bộ phận này thường xảy ra tranh chấp.
    Khoảng năm 349-361, Phạm Phật (phiên âm Hán Việt) có công thốbg nhất Bắc Nam Chăm lập ra vương quốc Chămpa, đây có thể là tên một loài hoa mà ta thường gọi là hoa Sứ-Michilia Champacca Lênaie. Phạm Phật có thể là ông vua Bhadravarman được biết đến đầu tiên trong các bia ký để lại.
    Vương triều Gangaragia: từ đầu thế kỷ thứ 6 đến năm 734. Đây là thời kỳ cực thịnh của vương quốc Chăm, trải qua chín đời vua và chịu ảnh hưởng rất lớn của Ấn Độ Giáo, văn hóa Ấn Độ. Kinh đô lúc này là Trà Kiệu (gọi là thành Sư Tử) Sinhapura thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam và cách Thánh Địa Mỹ Sơn 28 km về phía Tây.
    Vương triều Panduranga : từ 734 đến giữa thế kỷ 9, lúc này Bắc Chăm có nhiều biến động nên trung tâm Chămpa chuyển vào Khánh Hòa, có 6 đời vua.
    Vương triều Đông Dương Indrapura : từ giữa thế kỷ 9 đến thế kỷ 10. Lúc này kinh đô Chăm chuyển ra phía Bắc xây dựng tại làng Đông Dương, bên bờ sông Ly Ly, một nhánh của sông Thu Bồn, cách cố đô Trà Kiệu 15 km về phía Nam. Indrapura là thành phố chiếu đầy ánh hào quang. Trong thời kỳ này do ảnh hưởng của Phật Giáo nên Đông Dương là nơi tập hợp đền chùa và cung điện với hơn 30 công triònh kiến trúc, có cả chùa Phật Giáo và Ấn Độ Giáo. Vương triều này có 9 đời vua.
    Vương triều Vijaya : Vua Yangpuku lên ngôi năm 999 quyết định dời đô về Vijaya, còn gọi là thành Đồ Bàn, với trung tâm là ngọn tháp Cánh Tiên, thuộc huyện An Nhơn, Bình Định. Vương triều kéo dài khoảng 5 thế kỷ với nhiều biến động, nhiều lần dời đô về phương Nam và lãnh thổ lúc này bị thu hẹp dần.
    Vương triều Paduranga : từ giữa thế kỷ 15 đến cuối thế kỷ 17. Sau khi thành Đồ Bàn thất thủ, vương quốc Chămpa bước vào giai đoạn cuối cùng của nó. Lúc đầu đóng đô ở KauHara (Khánh Hòa), sau đó chuyển về vùng Phan Rang. Cho đến 1693 nhà Nguyễn chiếm được Phan Thiết thì vương triều Chămpa mất hẳn độc lập, chỉ tồn tại như một thế lực bán tự chủ. Trong thời Minh Mạng, Chămpa trở thành một thành phần của dân tộc Việt Nam. Hiện nay tại xã Phan Thanh, huyện Bắc Ninh, tỉnh Bình Thuận có bà Thêm thuộc dòng dõi hoàng tộc Chăm, còn giữ một số châu báu của vua Chăm như vương niệm có trong lượng khoảng 1,5 kg vàng y.

    MÚA CHĂM

     Múa Chăm là một loại hình nghệ thuật đặc¬sắc, nhạc cụ chính của múa Chăm gồm trống paranưng, kèn saranai và trống ghinăng. Âm thanh của hai loại trống này cũng đặc biệt khác, bởi nó không mang cảm giác sôi động, dục giã như các loại trống khác mà nó thâm trầm, huyền bí đi sâu vào nội tâm con người.
     Vũ điệu múa Chăm thường bắt nguồn từ¬những động tác lao động, sinh hoạt thường ngày và đều phản ánh những ước vọng của con người trước thần linh, thiên nhiên và cuộc sống cộng đồng. Những điệu múa thể hiện sự cầu mong cho mưa thuận gió hoà, con cháu khoẻ mạnh, yên ổn làm ăn và thờ phụng tổ tiên, nhưng cũng có những điệu múa thể hiện ý chí quật cường sẵn sàng đương đầu mọi khó khăn thử thách trong cuộc sống (múa roi).
    ¬Múa Chăm gồm có ba loại. Múa dân gian, còn gọi là múa cộng đồng, thường diễn ra vào các ngày lễ đầu năm, đầu mùa. Những điệu múa đặc trưng là đoá pụ (có nghĩa là đội nước, khi múa, những cô gái đội một cái bình trên đầu- đội đầu là một hình thức vận chuyển phổ biến của người Chăm), múa quạt, múa khăn, múa trống paranưng, múa roi, múa chèo thuyền. Múa chèo thuyền được coi là điệu múa lâu đời nhất của người Chăm, thể hiện sinh hoạt lao động vùng biển của con người.
     Múa tôn giáo cũng diễn ra vào dịp lễ tết, nhưng trang trọng hơn,¬do các cô gái đồng trinh đội lễ vật múa ở đền, bày tỏ lòng tôn kính với các vị thần linh. Cho đến nay “múa bóng” được coi là mang đậm tính tôn giáo. Dàn nhạc đệm cho múa bóng là hai cái trống paranưng và một chiếc kèn saranai, còn vũ điệu khi múa phô diễn hết vẻ đẹp của con người.
     Múa Cung đình hay còn gọi là¬múa tiên nữ Apsara, điệu múa này ngày xưa chỉ vua chúa mới được thưởng thức. Theo truyền thuyết Apsara là nữ thần của các cung nữ phục vụ các vị thần. Nhiều điêu khắc trên các hệ thống tháp Chăm hiện còn lưu giữ dọc vùng đất Nam Trung bộ đều có những hình tượng mô phỏng vũ nữ Apsara với những đường nét căng tròn, mềm mại, uyển chuyển. Ngày nay, múa Chăm cũng như nhiều loại hình nghệ thuật dân gian khác của Việt Nam đang được phục hồi và lưu giữ, được biểu diễn cho nhiều người cùng thưởng thức, không chỉ trong các dịp lễ hội. Múa Chăm cũng đã dần đi vào đời sống hiện đại, qua những đêm diễn phục vụ khách du lịch-một sản phẩm văn hóa đặc sắc trong kho tàng văn hoá đa dân tộc Việt Nam cần giới thiệu với bạn bè

    Các Nghĩa Địa Chăm

     Theo các triết lý Bà La Môn, người Chăm BàvLa Môn hỏa thiêu người chết, đem tro đổ xuống biển, sông, suối, ao,hồ. Theo các truyền thuyết, chỉ sau đời vua Pô Alloah (khoảng thế kỷ 11) tro cốt của vua chúa mới được chôn trong tháp, của quý tộc ở lăng tẩm còn thứ dân thì rắc bỏ dười nước. Dần dần do nhu cầu tình cảm, muốn giữ lại di cốt người chết sau khi hỏa thiêu, Kút đã xuất hiện. Kút nghĩa là nghĩa địa, nơi chôn giữ chín mảnh xương trán của người chết xếp theo dòng tộc mẹ cuả người Chăm Bà La Môn. Theo suy đoán, có lẽ Kút xuất hiện từ thời Pô Klông Garai. Ở làng Chăm Hữu Đức nơi có phế tích Pô Klông Halâu, còn lại những đá Kút, người Chăm gọi là Kút Pô Klông Halâu. Kế đến là một Kút cổ nằm kề Pô Rôme. Anh Trương Đại Thọ, người bảo vệ tháp này cho biết dù đã khóa ( không nhập thêm cốt vào) từ xa xưa nhưng Kút vẫn được người của dòng tộc thuộc xã Phước Thái chăm sóc hàng năm. Được tạo dựng từ lâu đời, phần bị thất tự, hầu hết các Kút cổ đều bị phế tán. Để giữ lại đá Kút của những Kút cổ, mới đây trung tâm nghiên cứu Chăm Ninh Thuận đã đưa về lưu giữ 5 Kút cổ vô chủ. Kút thường được chọn đặt nơi vuông đất cách xa làng từ 1-2 km nhưng khi làng mở rộng đã có Kút nằm giữa làng. Kút Mu Khú Than của dòng họ Lưu Thị Pa Ga ở làng Mậu Sanh (Phước Hữu, Ninh Thuận) rộng không quá 250 m2, nằm ngay đầu làng. Kút của dòng họ Kà Đạ ở làng Chăm Mỹ Nghiệp nằm cuối làng, kế khu dân cư và trường học. Đây là một Kút khang trang và hiện đại. Người Chăm Bà La Môn không chôn di cốt của mỗi người thành một mộ phần trong Kút. Trên nền của Kút vồn không rộng đó-tối đa chừng 500 m2, chỗ đặt di cốt là bệ rộng không quá 200 m2 được định vị bởi những viên đá Kút, mặt trên để trống hoặc tráng xi măng, lát gạch. Dưới mỗi viên đá Kút có một hố nhỏ để đưa cốt nhập vào. Người ta không đưa cốt lẻ nhập Kút mà chờ tới khi trong dòng tộc có nhiều cốt mới rước vị sư cả về làm lễ nhập Kút một lần. Trong thời gian chờ nhập Kút, cốt được đặt ở một nơi kín đáo và dễ nhớ. Việc tìm đá Kút, định vị chúng trên nền Kút cũng theo một triết lý. Viên đá giữa tượng trưng cho Nữ thần của Kút (Pô Inư Nagar Kút) được chọn lấy từ biển. Viên đặt ở hướng Tây dành cho nữ, cầu cho sự sinh sản, viên đá phải có phần dưới (mông) to tròn, map mạp và phải được tìm từ sông Cái trong vùng. Viên đặt ở hướng Đông dành chon am, được tìm ở ngọn núi cao nhất trong vùng, cầu cho sự trường tồn, khang kiện, viên đá phải có phần giữa (ngực) nở nang. Không có ngày tảo mộ hàng năm. Khi thấy Kút bị cỏ dại cành cây che khuất (trong Kút thường trồng cây để tỏa bóng mát) thì người trong tộc sẽ đến làm lễ xin phép thổ thần để cùng nhau dọn dẹp.
     Người Chăm Bà Ni không hỏavthiêu người chết mà lại chôn cả thi thể người chết. Nghĩa địa của họ chung cho cả làng, trong đó phần của mỗi dòng tộc được xếp theo từng cụm. Khùn-rát (ghurrăk) được nối bởi hai từ : ghur là đụn, động cát và răk là nấm mồ trên đụn cát bởi ngưiời Chăm thường lập làng ven biển. Khùn-rát ở làng Phước Nhơn (Ninh Hải, Ninh Thuận) là vùng đất rẫy nằm ở mé Tây Bắc của làng. Chăm Bà Ni không phân biệt tuổi tác, trẻ con, người lớn đều được chôn trực tiếp trong nghĩa địa dòng tộc. Khùn-rát tốn rất ít đất bởi các mộ nằm ken xít nhau. Anh Thập Liên Trưởng, cư dân của làng, hiện là cán bộ nghiên cứu văn hóa Chăm Ninh Thuận cho biết làng Phước Nhơn của anh đã thành lập từ 1896, hiện có trên 6000 nhân khẩu, 16 dòng tộc, vậy mà phần đất thật sự dành cho chôn cất chỉ chừng 3500 m2 trong tổng diện tích được bố trí làm Khùn-rát của làng rộng khoảng 3 ha. Khùn-rát của làng Po Tầm mẹ anh với 127 mộ chiếm không đầy 200 m2. Đây sẽ là nơi yên nghỉ của rất nhiều người nữa trong dòng tộc mẹ anh.
     Người chết sau là con cháuvcó thể nằm chồng lên ông bà, cha mẹ bởi nằm giữa trái tim ông bà là điều tốt. Mộ không có nấm, dấu hiệu để nhận biết là hai viên đá táng đầu chân đặt cách nhau dưới 1 m, đầu luôn nằm ở hướng Bắc. Khoảng cách giữa hai mộ thường đủ để trải chiếu nhỏ ngồi cầu nguyện trong ngày tảo mộ.
     Việc chọn đá tảng dựa vàovnhững quy định : nếu người chết thuộc dòng tộc ở biển thì đá phải được tìm ở biển, nếu thuộc tộc núi thì đá phải tìm ở núi hoặc những dòng sông nơi chân núi. Đá đẹp phải là viên đá mịn, nhẵn tròn. Nếu người Chăm Bà La Môn đã cách tân Kút bằng cách xây tường thành cổng ngõ thì người Chăm Bà Ni cũng đã có những thay đổi như viên đá táng có thể là những viên đá được tìm với đủ kích cỡ, màu sắc, có thể tự tạc đẽo để có những viên đá hoa cương tròn, hoặc đá được đúc bằng ximăng, tô đá rửa. Có người còn khắc vào đá tên tuổi, ngày mất của người chết.
     Khùn-rát ngày nay giống như bãi nấm kỳ ảo, sinh động, thanh thoátvchứ không nhuốm vẻ cô tịch. Người Chăm Bà Ni đi tảo mộ vào cuối tháng 8 Hồi lịch (khoảng tháng 11 Dương lịch). Xong tảo mộ là lễ Ramưwan, mọi người mọi nhà lại một lần nữa cầu nguyện cho người đã khuất.

    Các Lễ Hội Chăm

    Lễ Hội Mbăng Yang

    Ngưỡi Chăm có nhiều lễ hôị trong năm, như lễ Mbăng Yang ( lễ cúng đầu năm tại lăng, tháp cầu xin thần linh chop phép dân khai kênh, đằp đập, làm mùa), lễ Yôn Yang và Plao Pasah (lễ cầu dảo), lễ Rijja Narga ( lễ cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió muà). Nhưng quan trọng hơn cả là có quy mô lớn và kéo dài nhiều ngày là lễ hội Mbăng Katê. Đây là lệ tết cuả người Chăm và cũng là dịp tưởg nhớ các anh hùng liệt sỉ các vị thần linh như nữ thần Pô Narga các vị vua có công phát triển nông nghiệp như Pô klông Garai, Pô Rômê đã được thần hoá và cúng tổ tiên ông bà.Những người hiếm muộn con, nhân dip lễ này cũng mang lễ vật đến lăng, tháp để câù xin nữ thần Pô nagra ban phúc lành
    Lễ Mbăng Katê tổ chức vào đầu tháng 7 theo lịch Chăm, lịch chăm sau dương lịch 6 tháng như vâỵ tháng 7 lịch chăm tương đương vơí tháng 1 dương lịch. Lễ được tổ chức tại các lăng, tháp sau đó được chuyển về từng hộ gia đình làm lễ cúng tổ tiên trong 3 ngày. Cần lưu ý thêm rằng người chăm rất coi trong quan hệ huyết thống họ hàng cũng như tình cảm gia đình .nhân dịp này người ta tổ chức thăm viếng nhau giữa những người thân tộc, bạn bè, những người vì lý do sinh kế phải sống xa ,dịp này cũng thu xếp công việc để cùng về sum họp.Những cuộc ăn uống vui chơi trứơc kia kéo dài cho đến 1 tháng có lễ
    Lễ Mbăng Katê thừơng được tổ chức trọng thể ở các lăng, tháp Pônagra, Pô Rômê (khu vực Phan Rang), Pô Klông Garai (khu vực Phan Rí ). Các già làng của người Raglai dẫn đầu đoàn người xuống tham gia lễ hội. Vào những năm được mùa người Ragrai xuống dự càng đông. Họ mang theo Vương Niệm trang phục cuả vua Chăm cùng các bảo vật mà trước đây trong các cuộc lánh nạn chạy lên nuí hoặc chạy sang Campuchia đã ký thác cho họ cất giữ và lo việc thờ cúng. Nay vào dịp lễ Mbăng Katê họ mang các bảo vật ấy cùng phẩm vật mang cúng về nơi lăng, tháp cũ để dâng lên các thần. Dẫn đầu đoàn người là Raglai là ông Jơngưi tức là ông từ lo việc quản lý các bảo vật của vua và các vị thần.
    Chủ lễ là thầy cả Pasêh (ông Dhia) với sự trợ giúp của ông Chămnay (người giữ lăng và đồ thờ cúng), ông Kadhar còn gọi là thầy Cò He, người kéo đàn Kanhi và Haut lễ ca, ông Muk Pajâu (người dâng lễ vật)
    Vào đêm cuối tháng 6 ông thầy cả Pashê cùng với những người trong ban tế làm lễ tại Danok (nơi cất giữ đồ lễ vua) để xin được thĩnh lễ phục cùng các đồ lễ khác đưa lên lăng, tháp. Vật phẩm dâng cúng gồm có trứng gà, trầu rượu, bánh, trái cây. Sau lơì khan váy cuả chủ lễ PôDhia, ông Kadhar Gru vưà kéo đàn Kanhi vừa hát bài ngơị ca công đức của nhà vua và các vị anh hũng có công khác. Ông JukPajâu lo việc dâng lễ vật. Tiếp theo là các ông Chămnay và ông Jơngưi bước lên khan thần. Trong tiếng nhạc Roan Ràng, các người đi theo cầu khan theo sổ nguyện , và sau khi khấn xong đều có muá dâng lễ. Lễ thỉnh y phục kéo dài cho đến khuya mới kết thúc
    Lễ rước y phục nhà vua từ Danok lên lăng, tháp được tiến hành vào sáng hôm sau. Đi đầu là các thầy lễ trong bộ áo choàng dài trắng, đầu chit khăn trắng. Tiếp đền là các thân hào, nhân sĩ, các vị chức sắc trong làng phụ trách thờ lăng tháp ấy rồi các kiệu trên đặt các bộ lễ phục, các lọng hầu hai bên, theo sau là một đoàn thiếu nữ vừa đi vừa muá quạt trong tiếng nhạc Roan Ràng vui tươi .

    Khi đoàn rước đi lên đến tháp, các thầy lễ Pô Dhia, Chămnay, Kadhar Gur, Muk Pajâu, Jơngưi làm lễ mở cửa tháp rồi tiến vào bên trong. Sau khi làm lễ tẩy thể tượng vua (Pamunay Yang), Ông Jơngưi dâng lễ phục, để ông Pô Dhia(thầy cả Pasêh) làm phép trước khi mặt cho tượng vua, còn ông Kdhar thì hát ca lễ .
    Trong khi ông Muk Pajâu dâng lễ thỉ ông Pô Dhia làm các động tác tượng trưng coi như các vị thần hướng về các lễ vật. Giữa lúc đang hành lễ , người ta quan sát ánh sáng các cây đèn làm bằng sáp ong trên bàn đặt lễ vật. Để đoán định các thần có hưởng hay không. Theo tín ngưỡng dân gian nếu ngọn lửa các cây đèn cháy thành hai ngọn, có hai màu đậm nhạt khác nhau, thì có nghĩa là thần linh đã về, nếu hiện tượng đó chưa xảy ra thì mọi người lại tiếp tục cầu nguyện, kết hợp với những động tác múa lễ lắm lúc kéo dài nhiều tiếng đồng hồ.
    Trong lúc đó, ở quanh khuôn viên đền tháp khách tập hợp thành từng nhóm:chỗ này tổ chức hát lệ cầu kinh, dâng cúng, chỗ kia ngâm thơ, đàn hát. Ai đói thì soạn thức ăn mang theo, ăn tại chỗ, chỗ nọ là đám người lâu ngày gặp nhau tập hợp nhau vừa ăn uống vừa hàn huyên. Một số thiếu nữ rủ nhau đi “xin chủ nghĩa cuả thần”
    Vào khoảng 3,4 giờ chiều thì lễ cúng ở lăng tháp kết thúc. Các đoàn rời khỏi lăng, tháp toả về các xóm. Những người Chăm theo đạo Bàlamôn bắt tay vào việc cúng ông bà, tồ tiên tại gia đình mình. Lúc này ngừơi ta thăm viếng nhau cùng vui chơi làm những món ăn dân tộc để đãi khách .
    Nhiều trò chơi được tổ chức lôi cuốn người tham gia như: hôị thi dệt thổ cẩm ở làng Mỹ nghiệp, xem triển lãm thủ công, mỹ nghệ dệt gốm, dự các chương trình ca muá nhạc đàn ca… Cứ như thế cuộc vui chơi tiếp tục kéo dài trong 3 ngày liền.
    Xưa sau lễ hôị Mbăng Katê người chăm có tục kiên không đi làm cho hết tháng

    Lễ RoyaIdil Adha

     Dân tộc: Chăm, cộng đồng theo đạo Hồi¬
     Thờ: thượng đế Alah¬
     Thơì gian : từ 7 đến 10 tháng 12 (lịch hồi)¬
    ¬Điạ điểm: Thánh đường hồi giáo
     Đặc điểm:Lễ tết truyền thống, kể chuyện về¬thánh điạ Mecca
    Cũng như cộng đồng người Chăm theo đạo Bàlamôn có nhiều lễ hôị trong năm, cộng đồng theo đạo Hồi hàng năm cũng có một hệ thống lễ hội riêng. Trong đó đáng chú ý nhất là lễ hội Ramadam(còn được gọi là Ramưoan) tổ chức vào tháng 9 theo lịch hồi và kết thúc vào tháng ăn chay. Suốt tháng lễ cả tu sĩ và tín đồ đều nhịn ăn nhịn hút thuốc lá, cấm quan hệ tình dục và chỉ được ăn uống vào lúc thanh tịnh (nghiã là về đêm) trừ trường hợp những người ốm đau và già yếu khách bộ hành nhưng phải nhịn luì lại khi nào thuận tiện
    Lễ RoyaIdil Adha được coi như lễ tết truyền thống cuả họ. Ý nghiã cuả lễ gắn liền với việc hành hương đền thánh địa Mecca, vương quốc Ảrập Saudi, nhằm kỉ niệm những sự kiện trọng đại trong lịch sử đạo hồi. Lễ RoyaIdil Adha đựơc tồ chức từ ngày 7 đến 10 tháng 12 theo lịch Hồi tương ứng vơí các ngày thượng tuần tháng âm lịch.
    Phần lớn các gia đình ngươì chăm theo đạo Islam ở An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh đều có người thân đi làm ăn buôn bán ở nơi xa nên đây là dịp để họ trở về sum hợp với gia đình vui chơi cùng bà con trong làng hay khu vực cùng nhau tiễn năm cũ đón năm mơí
    Để chuẩn bị cho Lễ RoyaIdil Adha ngay từ đầu tháng 12 nhiều nhà đã lo mua sắm những thứ cần thiết vải vóc, áo quần thực phẩm, trang hoàng nhà cửa. Đối với các bà các chị đây là dịp để trỗ tài nội trợ đảm đang và khéo tay với những loại bánh dân tộc. Nam giới từ già đến trẻ đều ăn mặc tươm tất đi đến thánh đường làm lễ. Trong ngày này tại các thánh đừơng được trang hoàng lộng lẫy, mở rộng cửa đón hàng ngàn tín đồ đến hành lễ. Buổi giảng kinh vào ngày thánh lễ thứ 6 trong mùa lễ thường nhắc nhở các tín đồ thực hiện tốt bổn phận cuả mình đoàn kết tương thân tương aí. Cũng vào dịp này các vị Khôtípnhất là các vị khôtíp đã hành hương về thánh điạ Mecca được mang tước hiệu Hadji kể lại những gì đã được chứng kiến ở nơi thánh điạ coi như một món quà tinh thần đối với những người chưa có dịp đến đó .
    Để mừng vào ngày tổ chức hiến sinh (ngày 10 tháng 12 hôì lịch) các nhà người Chăm khá giả thường cúng một con bò thay cho con cưù theo tục lệ . Tục hiến sinh vào mùa hành hương cuả đạo Hồi được xuất phát từ truyền thuyết về sự hy sinh cuả thần Ibrôhim phải vượt qua thử thách bằng việc giết con để biểu lộ đức tin tuyệt đối vào thượng đế Allah. Lễ hiến sinh còn mang ý nghiã khuyên nhũ hãy thực hiện tốt đức tin và làm tròn 5 bổn phận căn bản cuả mình đề được Allah cứu giúp như ngươì đã làm với Ibrôhim lễ hiến sinh đã trở thành một tập tục của ngươì chăm Hồi Giáo ở miền Nam trong muà lễ hội. Thịt cuả con vật hiến sinh được chia đều cho các hộ gia đình trong làng cũng như khu vực cùng hưởng để biểu hiện tình cảm tương thân tương ái.
    Sau phần hành lễ cộng đồng ngươi Chăm thừờng thổ chức các cuộc vui chơi sinh hoạt giải trí, thể thao như: ca hát, đua ghe, thi đấu bóng đá.
    Lễ RoyaIdil Adha của cộng đồng người chăm ở Nam Bộ vừa mang ý nghiã tôn giáo thiêng liêng vừa mang những nét sinh hoạt đặc thù . Giống như ngày tết cuả người việt đây là dịp để các bà con thăm viếng nhau vui chơi, chúc mừng, và cầu mong đều tốt cho nhau. Tại thành phố Hồ Chí Minh Lễ RoyaIdil Adha được cử hành trong không khí vui tươi cơỉ mở và đoàn kết giưã các tín đồ Hồi giào người kinh, người Malaisia, Ấn độ, Inđônêsia.
    Lễ Cầu Đảo của người Chăm
    • Thời gian : 18/5 ÂL hoặc các dịp hạn hán đe dọa.
    • Địa điểm : Tháp Pô Klông Garai và Pô Rômê tỉnh Ninh Thuận.
    • Đối tượng suy tôn : thần Nông. Thầy cúng và người dân địa phương lên tháp lễ Thần Nông để cầu mưa, cầu xin thần linh phù hộ cho mùa màng bội thu. Lễ vật dâng cúng tế thần có con trâu trắng.

    Tháp Hòa Lai

    Cụm tháp Hòa Lai, còn có tên Ba Tháp, nằm ven quốc lộ 1A cách Phan Rang 14km về phía bắc; thuộc làng ba tháp xã Tân Hải huyện Ninh Hải-Ninh Thuận; được xây dựng từ đầu thế kỷ thứ 9. Cụm tháp đã từng được các nhà nghiên cứu phương Tây đánh giá là kiến trúc tháp cổ và đẹp nhất của Chămpa; Đáng tiếc là nay tháp chính đã bị sụp đổ chỉ còn lại tháp Bắc và tháp Nam nhưng cũng trong tình trạng hoang tàn. Di tích là thân tháp hình khối lập phương khỏe khắn nhô lên từ một phần bệ vuông và đỡ cả một hệ thống các tầng nhỏ dần vẫn còn những hoa văn điêu khắc rất tỉ mỹ rất đẹp trên vòm cửa, trên các trụ ốp, trên bộ diềm mái.
    Tháp Bắc có 4 trụ bổ tường, mỗi trụ được trang trí rất đẹp và hình tượng chim Garuda giang rộng cánh. Trên mỗi đầu các trụ bổ của các mái chìa có các diềm mũ để trang hoàng. Các cửa giả được trang trí với những vòng cung và những hình người được thể hiện trong tư thế ngồi. Hình thức trang trí ở tháp Nam đơn giản hơn, cũng có 4 trụ bổ tường với những đường nét bên dưới và những diềm mũ với các hoa văn trang trí ở mái chìa, các cửa giả được trang trí vòng cung lớn nhưng không tỉ mỉ như tháp Bắc. Tháp có ba tầng mái, mỗi tầng có một hốc giả tang trí bởi các vòng cung.
    Thế nhưng hiện nay ở Ninh Thuận và Bình Thuận lại không công nhận khu tháp Hòa Lai là của mình mà cho rằng các tháp đó là của người Khơ Me và lưu truyền truyền thuyết sau:
    Một lần người Khơ Me xâm chiếm lãnh thổ chiêm thành, Pôklong giarai do ra điều kiện khi xây tháp, nếu ngài xây xong trước thì người Khơ Me phải rút quân về, nếu ngài thua sẽ nhượng đất cho họ. Ỷ vào số đông và tài xây tháp của mình, người Khơ Me nhận lời, Pôklong Giarai truyền cho dân chúng lấy tre làm khung, lấy giấy phết làm gạch chờ người Khơ Me sắp hoàn thành tháp của họ nhân đêm tối ông cho dựng mấy cây tháp bằng tre giấy lên, sáng sớm tinh sương người Khơ Me ngủ dậy thấy tháp của người Chăm sừng sững họ đành chịu thua và rút quân về nước.
    Một điều mà cho đến nay vẫn chưa xác định được là chức năng thờ tự của tháp, bởi vì hầu như không phát hiện đồ thờ bằng đá hoặc kim loại nào cũng như không có dấu tích của một bia ký nào, tháp này không được thờ cúng, hiện nay chỉ còn 2 tháp do hư nên 1 tháp đã bị sập.

    Làng gốm cổ truyền Bàu Trúc

    Làng Bầu Trúc cách thị xã Phan Rang (Ninh Thuận) khoảng chừng 10 km, là nơi sinh sống của đồng bào dân tộc Chăm. Làng có hơn 80 % số hộ gắn bó với nghề gốm và là một trong những làng cổ xưa nhất ở nước ta. Ngoài nghề làm ruộng, nghề gốm là nghề tạo ra nguồn thu nhập chính của địa phương.
    Truyền thuyết về nghề gốm Bầu Trúc
    Chuyện xưa kể rằng, ngày ấy cách nay gần một thiên niên kỷ, trên vùng đất đầy nắng và gió cát có một cậu bé mục đồng nghèo khó tên là Pô Klong Garai ngày ngày đi chăn trâu thuê cho chủ. Nghèo khó khiến cho cậu mình mẩy đầy ghẻ lác, phong hủi, da dẻ xù xì, xấu xí. Ngày nọ, một con trâu trong đàn bị lạc. Cậu hơ hải đi tìm. Trên đường, cậu gặp Pi Kong Chan, hai người kết nghĩa bạn bè. Tìm trâu không thấy, họ quyết định cùng trốn đi buôn trâu. Đến vùng Bầu Trúc (Palay Hamu Trok - nay là thị trấn Phước Dân, Ninh Phước, Ninh Thuận) - vùng đất như chiếc lòng chảo nằm giữa núi và biển thì Pô Klong Garai quỵ ngã. Pô Klong Chan hối hả đặt bạn nằm nghỉ, còn mình đi tìm người cứu. Đoàn người cùng Pô Klong Chan quay lại thì thấy một cảnh tượng vô cùng kỳ lạ: Một con rồng đang liếm trên thân thể Pô Klong Garai. Rồng liếm đến đâu, ghẻ lác biến mất. Pô Klong Garai trở thành chàng trai tuấn tú, tinh anh khác người. Pô Klong Garai lên làm vua, mời Pô Klong Chan làm cận thần, nhưng Pô Klong Chan từ chối. Ông ở lại vùng đất có phù sa bồi tụ tạo nên hầm vàng (mỏ đất sét), hầm bạc (dải cát ven sông vào mùa nước cạn dòng, cát trắng mịn màng). Ông dạy người dân lấy những báu vật của thiên nhiên là đất sét và cát làm thành lu, khạp, chõ, nồi, niêu, trã... Dân làng Bầu Trúc tôn ông là sư tổ của nghề gốm và lập đền thờ cho đến ngày nay. Hàng năm, dân làng dâng vật cúng cầu xin tổ nghiệp ban cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, ngành nghề phát đạt, nhân khang vật thịnh.
    Đây được coi là một trong hai làng gốm tối cổ còn lại ở Đông-Nam Á bởi người thợ gốm làng Bầu Trúc giờ vẫn còn dùng "bàn gốm" là những hòn kê cố định chứ chưa sử dụng bàn xoay và vẫn dùng chân, tay để nhào đất.
    Người Chăm có thể làm được tất cả các sản phẩm theo nhu cầu của thị trường. Từ tượng nữ thần Apsara-biểu tượng cho vẻ đẹp thiếu nữ Chăm, hàng lưu niệm để phục vu khách du lịch đến các vật dụng thường ngày như nồi đất nấu lẩu, khuôn đổ bánh căn, lu đựng nước, ấm, nồi, chén... Nghề làm gốm ở đây cũng khá công phu. Để tạo ra cảc sản phẩm, người thợ phải thực hiện theo ba công đoạn đó là chuẩn bị đất, kỹ thuật tạo dáng và nung. Đất sét lấy từ ruộng, đập thành những cục nhỏ, phơi khô loại bỏ những tạp chất rồi ngâm nước trong cái hố đất đã đào sẵn. Cát cũng được sàng lọc kỹ và luợng cát pha tùy thuộc vào hình dáng và kích thước của sản phẩm. Đầu tiên là dùng chân nhồi đất và cát mịn, cuộn thành từng lọn hình trụ và phủ kín bằng tấm vải ủ qua đêm. Người thợ còn phải nhồi và lăn lại đất bằng tay nhiều lần rồi vo tròn thành các cục đặt lên hòn kê để nặn.
    Kỹ thuật tạo gốm gồm có nặn hình: tạo dáng gốm cơ bản ban đầu, sau đó nối những “lọn đất” vào miệng gốm, dùng “vòng quơ” chải quanh thành gốm. Chà láng gốm là dùng vải cuộn thấm nước, quấn vào tay chà láng thân gốm và tạo hình miệng. Trang trí hoa văn trên gốm là dùng que cây, vỏ sò... để tạo hình răng cưa, khắc vạch, sóng nước, hoa thực vật; có khi người ta dùng màu thực vật để nhuộm áo gốm.
    Nung gốm là khâu cuối cùng của công đoạn làm gốm. Gốm được nung ngoài trời và trước khi nung phải phơi khô một ngày. Vật liệu đùng để nung là củi, phân trâu bò khô, rơm rạ, trấu... Người thợ gốm Bầu Trúc chỉ đốt lò vào buổi chiều ít gió hoặc gió nhẹ và đốt theo chiều ngược gió và nung trong khoảng 2-3 giờ đồng hồ.
    Sắc đỏ gốm nung như đã ăn vào máu thịt của bà con nơi đây. Với bàn tay khéo léo, người phụ nữ Chăm đã tạo nên những sản phẩm, độc đáo. Mỗi đường nét hoa văn đều mang những tâm tư, tình cảm của họ gửi gắm vào nên không thể lẫn được với gốm khác. Gốm ở đây cũng là loại đất sét đặc biệt, khi nung rất dẻo và bền. Vì thế, vật dụng gốm của Bầu Trúc nhất là lu đựng nước thường được người dân vùng khô và nắng ưa chuộng.

    NHỮNG BÃI BIỂN ĐẸP NINH THUẬN

    Vịnh Vĩnh Hy - nối rừng và biển
    Chỉ cách thị xã Phan Rang chưa đầy 40 km về phía đông bắc, nhưng làng chài Vĩnh Hy thuộc huyện Ninh Hải lại được ví như nơi sơn cùng thủy tận của tỉnh Ninh Thuận. Cạnh đó là ốc đảo Vĩnh Hy quyến rũ bởi địa thế hiểm trở, một mặt là biển và 3 bề rừng núi bạt ngàn.
    Khởi hành từ thị xã Phan Rang theo tỉnh lộ 702, du khách sẽ luồn qua những cung đèo xuyên rừng mai và khộp lá vàng, đặc trưng cho khí hậu khô nóng miền cực nam. Đâu đó một làng chài ẩn hiện, xóa tan sự tĩnh mịch của núi rừng.
    Chuyến đi bắt đầu với cuộc thám hiểm vịnh Vĩnh Hy. 30.000 đồng cho một chiếc thuyền nhẹ, chở được 4 người. Chèo thuyền men theo vách núi ăn ra sát biển, khách sẽ thăm thú được toàn bộ vịnh. Giữa làn nước trong xanh tĩnh lặng, từng đàn cá cơm bạo dạn bơi lội quanh thuyền. Xa xa về phía nam là những doi cát chạy dài, ôm cong bờ biển.
    Sau khi thám hiểm, du khách có thể thả mình trong bãi tắm hoang sơ, vắng vẻ hoặc vào làng chài và tìm hiểu sinh hoạt của họ với những nghề làm mắm, hấp cá và cùng ngư dân kéo lưới. Tại đây luôn có hải sản tươi sống, vừa từ ngoài khơi trở về, được bán với giá cực kỳ rẻ.
    Đi tắm biển Bà Điên
    Đến với Phan Rang, ngoài các điểm tham quan quen thuộc như tháp Chàm Po Long Giai, bãi biển Ninh Chữ, đồi cát Nam Cương, vườn nho... nay thêm một điểm du lịch đầy thú vị và gây ấn tượng với du khách: du thuyền trên vịnh Vĩnh Hy, ngắm san hô và tắm biển Bà Điên.
    Ra vịnh là vào buổi sáng khí trời rất dễ chịu, thích hợp cho chuyến du ngoạn trên sông nước. Đi xe đến nơi neo thuyền, đoạn đường khoảng hơn 30 km, mỗi chiếc thuyền máy có thể chở được 20 - 25 người đi thẳng ra bãi tắm Bà Điên. Nguồn gốc của tên bãi tắm bắt nguồn từ chuyện người vợ trẻ chờ chồng đến hóa điên và chết. Cảnh trên vịnh hiền hòa, thơ mộng sẽ là phông nền cho những bức ảnh đẹp chụp từ nhiều góc độ.
    Đây là bãi tắm ít có bàn tay con người can thiệp vào, thích hợp với những ai muốn tìm về với thiên nhiên, tìm về khoảng trời trong lành yên tĩnh. Chỉ có đá, cát, sóng biển và... bạn. Chưa có dịch vụ thuê dù, ghế, tắm nước ngọt hay bán thức ăn đồ uống. Do đó, nếu bạn muốn ở đây lâu một chút thì nên chuẩn bị đầy đủ những gì cần thiết. Người dân rất hiền và thân thiện, họ vui vẻ cởi mở khi tiếp xúc.
    Đi thuyền ngắm biển
    Mỗi hành khách khi lên thuyền được phát một chiếc áo phao, khi đến nơi tôi ngỏ ý hỏi mượn chiếc áo phao này để mặc luôn xuống tắm biển, anh lái tàu vui vẻ cho cả đoàn mượn (vì hầu hết không biết bơi, nhưng ai cũng muốn được ra xa mà vẫy vùng với nước). Nước biển trong và mát hơn bất kỳ bãi biển nào mà tôi đã được đến. Tôi dám chắc với bạn rằng, ngâm mình trong làn nước biển trong xanh dưới tiết trời hanh hanh nắng tại đây cả giờ, bạn cũng sẽ không hề chán.
    Khoảng 30 phút sau, một chiếc thuyền đáy kính tấp vào và đón đoàn quay ra vịnh ngắm san hô, nếu là đoàn đông sẽ tách làm nhiều đợt. Qua lớp kính dưới đáy thuyền, từng rặng san hô đủ màu sắc đủ hình dạng hiện ra, chúng rõ như thể tôi nhìn thấy chúng ở tầm xa chỉ vài ba mét. Một thế giới lung linh huyền ảo đẹp đến mức làm tôi phải nghĩ những câu chuyện về thủy cung có long vương, công chúa thủy tề mà bà kể khi xưa là có thật. Người lái thuyền sẽ tắt máy, để thuyền trôi tự do giữa biển một đoạn vài chục mét, kéo dài thời gian cho những du khách đang mải mê trầm trồ, chiêm ngưỡng kỳ quan dưới nước mà thiên nhiên ban tặng.
    Và điều thú vị hơn cả, là chính lúc đang được ''trôi tự do'' trên biển này đây, một tốp thanh niên đã quyết định tìm cảm giác mạnh bằng cách nhảy xuống, ở giữa biển - dù chỉ vài phút là cũng thích thú lắm rồi. Với những chiếc áo phao an toàn trên người, chúng tôi không sợ gì nữa, thế là, từng người nhảy ùm xuống nước, tha hồ vẫy vùng hò reo trong làn nước trong mát. Người chưa dám xuống thì mang chút tò mò chút sờ sợ, đến khi nhảy xuống rồi thì thích đến nỗi không muốn quay lên. Khi leo lên thuyền để trở lại bãi tắm, ai trong chúng tôi cũng mang cảm giác tiếc nuối, nhìn những chú cá tung tăng giữa biển khơi mà lại thèm được giống như thế.
    Thuyền chở chúng tôi quay về bãi tắm Bà Điên và đón một tốp 20 người khác ra vịnh. Trong khi chờ đợi, chúng tôi tiếp tục tắm biển, chơi những trò chơi trên biển. Một số người tha thẩn thả bộ dọc đường biển, chụp hình trên những bãi đá, bãi cát vàng mịn... tóm lại là dù cảnh thiên nhiên nơi đây hoang sơ nhưng vẫn là một bức tranh sơn thủy hài hòa đáng để chúng ta lưu lại những bức ảnh đẹp. Sau khi mọi người trong đoàn đều ra vịnh ngắm san hô về, chúng tôi bắt đầu thu dọn đồ đạc lên tàu trở về đất liền, bằng một chiếc thuyền du lịch khác.
    Một buổi sáng trên vịnh Vĩnh Hy thật sự đã để lại trong tôi biết bao điều thú vị khó quên. Trong một ngày gần nhất, nếu có dịp, chắc chắn tôi sẽ trở lại đây lần nữa. Khi đến Phan Rang -Ninh Chữ bạn đừng bỏ qua điểm du lịch hấp dẫn này, bạn sẽ có được một chuyến đi trọn vẹn niềm vui, thú vị tại vùng đất của nắng, gió và cát...
    Bãi tắm Ninh Chữ
    Cách thị xã Phan Rang 5 km về phía đông (theo hướng đường Ngô Gia Tự kéo dài xuống Ninh Hải) thuộc địa phận xã Khánh Hải, huyện Ninh Hải. Bãi biển Ninh Chữ là bãi tắm đẹp, có chiều dài 10 km, bờ biển hình vòng cung bằng phẳng, xung quanh là rừng dương và các núi Ðá Chồng, núi Tân An, núi Cà Ðú... rất thích hợp cho các hoạt động du lịch như tắm biển, lướt ván, câu cá, du thuyền, leo núi, săn bắn. Khí hậu Ninh Chữ mát mẻ, nắng ấm quanh năm. Tại đây có khách sạn quốc tế Ninh Chữ (2 sao) của công ty du lịch Ninh Thuận và các dịch vụ khác phục vụ du khách.
    Biển Cà Ná quyến rũ
    Nhiều hướng dẫn viên du lịch nói vui, Cà Ná như một cô gái thật đa tình, quyến rũ biết bao lữ khách trên con đường thiên lý Nam - Bắc. Còn các nhà làm du lịch xem Cà Ná là điểm dừng chân tắm biển, ngắm cảnh, ẩm thực khá lý tưởng cho du khách.

    Biển một bên, núi một bên
    Nếu như lộ trình từ thành phố Phan Thiết đến Cà Ná dài 114 km, qua hai huyện Bắc Bình và Tuy Phong đầy nắng gió khô cằn, thì đến đoạn giáp ranh Bình Thuận - Ninh Thuận bất chợt biển Cà Nà hiện ra bao la, du khách phải trầm trồ quá đẹp và không ai có thể làm ngơ với cảnh đa tình như thế. Còn các bác tài xế tuyến đường Nam - Bắc đến đây dường như cũng cho xe chạy chậm hơn, rồi mở toang lồng ngực để tận hưởng gió từ đại dương thổi vào mát rượi.
    Ít bờ biển nào ở Việt Nam đẹp kỳ lạ như khu vực biển Cà Ná. Biển xanh, cát trắng, ghềnh đá, núi non, cộng với các tuyến đường giao thông uốn luợn qua các eo biển, tạo cho Cà Ná một cảnh quan đầy ngoạn mục. Một điều đặc biệt, nếu đứng ở độ cao nào đó du khách sẽ thấy, ở đây có đoạn biển chỉ cách đường bộ 5 mét, đường bộ cách đường sắt 5 mét, đường sắt cách núi cũng 5 mét.
    Các nhà kinh doanh du lịch đánh giá, Cà Ná có đủ các yếu tố lý tưởng cho nhiều loại hình du lịch leo núi, khám phá, du lịch biển, hải đảo. Nước biển Cà Ná xanh thẳm. Chỉ cần từ bờ lội ra khơi chừng 20 mét, ở độ sâu chỉ từ 1-1,5 mét, du khách đã thấy được các rạn san hô rất đẹp. Bãi tắm ở đây lài ra xa, cát trắng tinh anh, sạch sẽ. Người ta nói những ghềnh đá hoa cương đã điểm xuyết cho nét đẹp đặc trưng của Cà Ná. Chính những ghềnh đá này tạo nên nhiều hang động kỳ bí như hang Ông Phật, ghềnh Ông Nồng, hang Giếng Lục, như trêu chọc những ai thích phiêu lưu vào hang động.
    Hòn Lao Câu (hay còn gọi hòn Rau Câu, thuộc tỉnh Bình Thuận) nằm cách Cà Ná chừng 10 km về phía nam. Ốc đảo nguyên sơ này có nhiều loài chim và hải sản quý, đặc biệt là loại ốc nhảy rất ngon. Hằng năm ở đảo, ngư dân còn tổ chức lễ hội cầu ngư, thu hút hàng trăm người từ đất liền ra thăm đảo. Hiện nay công ty du lịch Bình Thuận và khách sạn Cà Ná, Hải Sơn đã tổ chức đưa khách ra hòn Lao Câu, câu cá, cắm trại hay ngủ qua đêm.

    Tháp PôRôme

    PôRômê là vị vua cuối cùng của triều đại Chămpa. Ông bị chúa Nguyễn bắt vào năm 1651.
    Nếu tháp Hòa Lai là công trình của buổi bình minh của nghệ thuật Chăm, thì tháp Pôrôme là ngôi tháp cuối cùng bằng gạch và cũng là ngôi tháp lớn cuối cùng của vương triều Panduranga. Tháp xây dựng vào thế kỷ thứ 16 tại làng Hậu Sanh, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước trên một ngọn đồi cao 50 mét.
    Tháp nhô, hình vuông, cao 8 mét, gồm ba tầng mái mỗi tầng có bốn tháp góc, các góc trang trí hình ngọn lửa và đỉnh tháp là búp sen bằng đá, trong tháp thờ tượng vua Pôrôme dưới dạng thần Shiva tám tay. Trước đây, còn có tượng hoàng hậu ở bên cạnh, nhưng đã bị đánh cắp. Tượng bà hoàng thứ hai ở gian phía sau cũng vậy. Tuy công trình không trang nhã và tinh tế như các tháp cổ khác, tháp Pô Rome vẫn là một kiến trúc đầy ấn tượng. Sau con đường dài qua những làng Chăm im lìm, từ xa, ngọn tháp nổi bật trên đỉnh đồi. Leo thang những bậc đá dài, thẳng tắp đến bên chân tháp. Không gian bao la, im vắng, không một âm thanh dù chỉ tiếng lá rơi. Ngọn tháp đứng trầm tư thời gian như dừng lại. Cảm giác thật là lạ, nhất là nghe chợt nhớ về thành phố náo nhiệt, ồn ào.

    Tháp Chàm PoK'luang Garai

    Trong di sản văn hoá người Chăm hiện nay nổi bật nhất là hệ thống đền tháp, điêu khắc, tượng thờ, thành quách, bia kí…Hầu hết từ Miền Trung cho đến Tây Nguyên, nơi nào có người Chăm sinh sống thì họ đều xây dựng đền tháp để thờ thần. Điều đó cho ta thấy tầm quan trọng đền tháp đối với người Chăm. Thế nhưng hiện nay, trong tổng số khoảng 250 di tích đã được người Pháp thống kê, chỉ còn 20 nhóm đền tháp với 40 công trình còn tạm đứng vững.
    Theo bi kí cho biết, ngay vào thế kỉ thứ V – VII người Chăm đã xây dựng đền tháp để thờ thần. Trước đó, tại thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam – Đà Nẵng) người ta đã tìm được dấu vết một ngôi đền bằng gỗ thờ thần Siva – Bhadravarman. Tiếp sau đó và kéo dài cho đến thế kỷ XVII các đền tháp Champa tiếp tục ra đời mang nhiều phong cách khác nhau như Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Bằng An, Chiên Đàng (Khánh Hoà), Po Kluang Garai, Po Rame (Ninh Thuận), tháp Po Sah Inư, Po Dam (Bình Thuận), Tháp Yang Pruang (Tây Nguyên)… Tất cả đền tháp Chăm được xây dựng để thờ ba vị thần chính: Siva, Vishnu, Brahma. Về sau tháp Chăm ngoài thờ thần Ấn giáo họ còn thờ các vị vua Chăm như tháp Po Kluang Garai, Po Rame (Ninh Thuận).
    Những đền tháp Chăm đều có đặc điểm chung là một cụm kiến trúc bao gồm một tháp trung tâm hình vuông, mái thôn nhọn “tượng trưng cho ngọn núi Mêru - Ấn Độ, trung tâm vũ trụ nơi ngự trị của thánh thần”. Xung quanh tháp chính là những tháp chính là những tháp nhỏ nằm theo vị trí 4 hướng tượng trưng cho các lục địa và ngoài cùng là hào rãnh, biểu tượng của đại dương. Sơ đồ kiến trúc đó được xây dựng theo khái niệm vũ trụ luận của Ấn Độ.
    Tháp còn có một đặc điểm chung là xây bằng gạch, có 4 mặt hình vuông đối xứng nhau. Mặt trước hướng về phía đông có cửa ra vào còn 3 mặt còn lại ở 3 hướng (tây, nam, bắc) có ba cửa giả. Tháp Chăm thường có 3 tầng được cấu trúc như nhau, mỗi tầng càng lên cao càng thu nhỏ dần và kết thúc bằng một Linga bằng đá trên nóc tháp. Kĩ thuật xây dựng và chất kết dính tháp Chăm như thế nào đến nay vẫn còn nhiều bí ẩn chưa giải mã được đối với những nhà nghiên cứu. Gần một thế kỷ trôi qua, ngày trong những năm đầu thế kỉ XX các nhà nghiên cứu người Pháp như G. Maspero (1928), J. Clayes, H. Pamertier (1948), Wawrenersk và Skibinski (1937)… đã đưa ra nhiều giải thiết, thể nghiệm về chất kết dính của các viên gạch trong kĩ thuật xây tháp người Chăm.
    Các ý kiến của tác giả nêu trên tựu trung lại thành 4 giả thuyết như sau:
    - Trong kĩ thuật xây tháp, người Chăm nung gạch toàn khối hoặc nhiều lần để các viên gạch tự kết dính với nhau.
    - Sử dụng chất kết dính (chất keo, phụ gia) trong việc xây gạch.
    - Mài gạch với mặt tiếp xúc để gạch tự kết dính với nhau.
    - Dùng kĩ thuật xếp gạch nung sẵn.
    Tất cả những giả thuyết trên, mặc dù hiện nay được hỗ trợ bằng phương pháp phân tích khoa học thực nghiệm hiện đại, tiên tiến nhưng kết quả về chất kết dính, về kỹ thuật xây dựng tháp Chăm vẫn chưa được làm sáng tỏ. Tiếp tục công việc nghiên cứu của các tác giả đi trước, sau năm 1975 các tác giả Việt Nam như Cao Xuân Phổ, Trần Kỹ Phương, Ngô Văn Doanh… cũng đã mất khá nhiều công sức nghiên cứu tháp Chăm nhưng chưa có gì mới hơn. “Hầu hết các giả thuyết” nghiên cứu sau năm 1975 gần như lặp lại các giả thuyết trước 1975 của các nhà nghiên cứu người Pháp”. Tháp Chăm vẫn đang còn bí ẩn, chưa được khám phá.
    Cùng với kiến trúc, điêu khắc Champa cũng thể hiện được vẻ đa dạng, độc đáo. Những đề tài điêu khắc Chăm là những tượng thờ Siva, Vishnu, Brahma. Ngoài những vị thần trên, vật thờ ở tháp Chăm phổ biến vẫn là cặp Linga-Yoni. Ngoài tượng thờ các vị thần chính, điêu khắc ở đền tháp Chăm còn trang trí bằng tượng thờ Vũ nữ (apsara), người cưỡi ngựa đánh cầu; những con vật huyền thoại như Garuda, Kala, bò thần Nandin. Những cảnh chạm khắc trang trí ở các bệ thờ, điêu khắc Chăm phần lớn ảnh hưởng văn hoá Ấn Độ. Chẳng hạn bệ thờ Trà Kiệu chạm khắc 4 cảnh quanh đài thờ kể chuyện trường ca Ramayana (chủ đề lễ cưới công chúa Sita). Bệ thờ Mỹ Sơn E1 diễn tả cảnh sinh hoạt lễ nghi tôn giáo của đạo sĩ Ấn và những cảnh trầm tư, giảng đạo múa hát, luyện thuốc chữa bệnh. Điêu khắc Chăm đã thể hiện nhiều đề tài phong phú, đa dạng. Một số tác phẩm đã trở thành kiệt tác mà tiêu biểu là tượng Vũ nữ Trà Kiệu (Apsara) được đánh giá là “đỉnh cao của nghệ thuật tạc tượng Champa và của cả miền Đông Nam Á”.
    Nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc Chăm tuy có những nét ảnh hưởng văn hoá Ấn Độ, Indonesia, Khơme nhưng họ không tiếp thu, sao chép một cách nguyên vẹn mà luôn cải biên sáng tạo trên cơ sở văn hoá bản địa. Người Chăm một thời tôn thờ, đề cao Siva Ấn Độ nhưng Siva của người Chăm không giống Siva Ấn Độ, Siva Chăm vẫn hướng về nữ tính, gần gũi với tín ngưỡng thờ mẫu (Inư) của người Chăm và luôn kết hợp với Linga – Yoni (tín ngưỡng phồn thực). Về sau tục thờ Siva được gắn với tục thờ Vua - Thần (Mukhalinga). Điều đó thể hiện được tính bản địa - một cá tính riêng trong tục thờ thần của người Chăm. Cũng như các mẫu đề điêu khắc, kiến trúc Chăm luôn dựa vào môtíp của Ấn giáo để rồi biến hoá thành cái riêng mình. Chẳng hạn tháp Chăm chỉ xây bằng gạch, chứ không xây bằng đá như tháp Ấn Độ. Các tháp Chăm hướng về hình khối đơn giản, không qui mô bề thế như các tháp ở Ấn Độ, đền tháp Ăngko (Campuchia), tháp Borobudur (Indonesia). Tháp Chăm luôn hướng về tiểu phẩm cân xứng, đẹp mắt, vừa độc đáo vừa có cá tính, kĩ thuật, bí quyết riêng mà đến nay vẫn còn là một điều bí ẩn. Đó là thành tựu rực rỡ, là nét bản sắc riêng biệt, “thể hiện sự sáng tạo, tài ba độc đáo của những nhà kiến trúc, điêu khắc Chăm thời xa xưa”.
    Hiện nay người Chăm ở Ninh Thuận còn tồn tại 3 ngôi tháp, mang 3 phong cách và niên đại khác nhau nằm trên ngọn đồi trầu (cơk hala) thuộc phường Đô Vinh, cách trung tâm thị xã Phan Rang - Tháp Chàm 9 km về phía Tây Bắc. Tháp Po Kluang Garai là một tổng thể kiến trúc nghệ thuật bao gồm 3 ngôi tháp: Tháp chính (Kalan Po) cao 20,5m bên trong thờ một tượng vua Po Kluang Garai bằng đá dưới hình thể Mukhalinga (Linga có gắn mặt vua) và một tượng bò thần Nandin bằng đá đặt ở lối ra vào; tháp cổng (Kalan tahah libang) cao khoảng 8,56m; tháp lửa (Sang cuh yang apui) cao 9,31m. Ngoài ra ở phía sau tháp chính còn có một ngôi miếu nhỏ thờ một phiến đá. Xung quanh tháp được bao bằng một vòng thành. Tháp được người Chăm xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ XII đầu thế kỷ XIII để thờ vị vua Po kluang Garai (1151-1205) - một vì vua có công với dân, với nước, được người Chăm suy tôn thành thần thánh. Tháp Po Kluang Garai là một cụm tháp hoàn mỹ, đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ trong nền nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Champa. Tháp được Bộ Văn hoá xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật vào năm 1979
    Di tích tháp Poklongarai là quần thể tháp Chàm được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14, nằm trên đồi Trầu, (Phan Rang - Tháp Chàm, Ninh Thuận). Đây là một công trình độc đáo, được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật và điêu khắc Chăm.
    Quần thể này gồm ba tháp: Tháp chính (nơi vua ở, cao 20,50 m, dài 13,80 m, rộng 10,71 m - đây là tháp để thờ phượng và hành lễ trong năm); Tháp lửa (bếp lửa của vua, cao 9,13 m, dài 8,18 m, rộng 5 m) và Tháp cổng (nơi vua tiếp khách, cao 5,65 m, dài 5,10 m, rộng 4,85 m) được xây dựng để thờ vua Poklongarai (poklongarai là tên gọi của dân tộc Chăm đối với Vua SINHAVARMAN III (tên hiệu tiếng Phạn) trị vì, từ 1152 đến 1205 - vị vua có công lớn trong việc xây dựng hệ thống dẫn thủy ở địa phương.
    Theo truyền thuyết của dân tộc Chăm, có một cặp vợ chồng nông dân nhìn thấy một đứa trẻ sơ sinh nằm trên bọt nước, trôi từ thượng nguồn dòng sông Dinh (chảy qua địa phận huyện Ninh Sơn và qua thị xã Phan Rang - Tháp Chàm đổ ra bể). Tiếng khóc của đứa trẻ đã làm động lòng cặp vợ chồng làm rẫy gần đấy và họ đã đem bé về nuôi. Họ đâu biết, đứa trẻ này được bề trên phái xuống để thử lòng dạ người trần. Trời làm cho đứa bé bị ghẻ lở đầy người, mà các thầy thuốc giỏi trong vùng đều không thể chữa khỏi, cốt ý để xem cặp vợ chồng này đối xử như thế nào với đứa bé. Sau đó, trời cho Rồng vàng xuống trần, liếm hết những vết ghẻ lở trên người của cậu bé đang chăn trâu rồi nằm nghỉ trưa ở ngoài đồng. Cậu bé sau đó trở nên khôi ngô tuấn tú khác thường... Sau khi vị vua trị vì mất, nghe lời của một vị chiêm tinh, cậu bé (sau này đã trưởng thành) được phong làm vua, lấy tên hiệu là Poklongarai...
    Huyền thoại dân tộc Chăm ở Ninh Thuận còn gắn liền với sự nghiệp xây dựng tháp và giữ đất của vua Poklongarai khi người Tàu đến chiếm đất của người Chăm. Theo truyền thuyết, vua Tàu và vua Chăm đưa ra một cuộc thi xây tháp, bên nào xây xong tháp trước trong thời gian đã quy định thì bên ấy được ở lại giữ đất, ngược lại bên nào xây chậm hơn thì phải rút quân đi. Vua Tàu đốc thúc quân lính đào đất nung gạch, xây tháp suốt bốn tháng trời mà tháp vẫn chưa xong. Trong khi đó vua Poklongarai thì ung dung thong thả. Vào đêm cuối cùng của thời giao hẹn, Poklongarai mới cho quân dựng lên một khung tháp với chất liệu gỗ và trét phên tre lên rồi phủ thêm vải đỏ bên ngoài. Đến sáng ngày hôm sau quân Tàu từ xa đã trông thấy tháp của vua Chăm trụ sừng sững trên đồi mà không hiểu vua Chăm đã có phép lạ gì mà xây tháp nhanh như thế. Không biết mình đã bị lọt bẫy vì cái kế: "Xây tháp giả bằng gỗ" của Poklongarai. Cuối cùng, vua Tàu đành phải chấp nhận rút quân đi khỏi đất của người Chăm như đã giao kết.

    Làng Dệt Mỹ Nghiệp

    Lọt giữa hai khu du lịch biển Cà Ná và Ninh Chữ của Ninh Thuận, đó chính là làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp của đồng bào Chăm. Có lẽ do nằm ở ven quốc lộ 1A và thị trấn huyện Ninh Phước, vì thế 10 năm qua, ngày càng có nhiều đoàn khách du lịch ghé thăm làng. Họ muốn mua tận tay những tấm thổ cầm nhiều hoa văn, màu sắc độc đáo của những cô gái Chăm tài hoa.
    Vài nét về lịch sử.
    Cho đến bây giờ, các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định được nghề dệt thổ cẩm Chăm hình thành và phát triển như thế nào trong quá trình lịch sử. Truyền thuyết về Bà Chúa Xứ kể rằng: Po Inư Nưgar từ Trung Quốc trở về, đã đặt kinh đô Champa ở Nha Trang và dạy người Chăm - lúc đó còn trong thời kỳ mông muội - cày cấy, dệt vải, xây tháp, tổ chức hành chánh..
    Theo Lê Quí Đôn ( Vân Đài Loại Ngữ ) : “ Ở Lâm Ấp có trồng cây cát bối, khi chín hoa cây giống như lông ngỗ, kéo sợi làm chỉ dệt khăn không khác gì loại gai”. Còn theo G. Maspero thì dưới thời các vương triều Champa, người Chăm đã biết trồng dâu, nuôi tằm và dệt lụa. Trông suốt chiều dài lịch sử từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ XVIII, người ta tìm thấy các nét hoa văn được chạm trổ thật tinh vi trên các tượng đá ( Shi va, Apsara...), vương mão ( Po Mưh Taha - đầu thế kỷ thứ XVII ) hiện vẫn còn được lưu giữ ở một làng Raglai tỉnh Ninh Thuận. Từ các cứ liệu này, chúng ta khẳng định rằng nghề dệt thổ cẩm Chăm đã hình thành từ rất sớm và đã phát triển đến mức tinh xảo.
    Người ta không rõ nghề dệt thổ cầm của Mỹ Nghiệp đã có từ bao giờ, chỉ biết từ xưa gia đình nào trong làng cũng có ít nhất một khung cửi vì thế mà các bé gái 6, 7 tuổi đã tự nhiên mà biết dệt. Tự nhiên bởi có ai lại có thể dửng dưng, không ao ước tự tay dệt ra những hoa văn mê hoặc ấy.
    Ngày nay, người ta dệt bằng hai loại khung: Khung ngắn dùng 7 cây go bằng tre để tạo hình hoa văn, hoàn thành trong ba ngày cho tấm thổ cẩm 0,9mx3,4m; Khung dài dùng bảy hòn go bằng đá san hô buộc bằng dây cho tấm thổ cầm ngang 2-30cm, dài 100-120m, hoàn thành trong 25-30 ngày.
    Sản phẩm từ thổ cẩm như áo, khăn, túi xách... rất đẹp bán tại làng Mỹ Nghiệp với giá rất rẻ. Chỉ hơn phân nửa giá bán tại cửa hiệu ở thành phố Hồ Chí Minh
    Làng Mỹ Nghiệp gồm có 485 hộ, 3000 khẩu. Người Chăm xưa trồng bông sợi và lấy cây lá làm thuốc nhuộm để dệt nên những tấm thổ cẩm bền, đẹp, màu sắc không phai. Bí quyết dệt vẫn còn gần như nguyên vẹn, nhưng kỹ thuật nhuộm và một số mẫu hoa văn đã bị thất truyền. Bù lại một số nghệ nhân tâm huyết đã dày công sưu tập, các mẫu hoa văn qua sách cổ, từ bốn loại hoa văn chín là bông mai, hình thoi chân chó và gùrek mà cách điệu lên thành nhiều mẫu hoa văn mới lạ làm tăng thêm sự phong phú cho sắc màu thổ cẩm. Sợi thì nhập khẩu từ Hungary để đáp ứng nhu cầu tăng nhanh của thị trường và để kinh tế hơn. Nhiều khách cho rằng thổ cẩm Mỹ Nghiệp nổi tiếng và ăn khách khắp trong Nam, ngoài Bắc và ra tận nước ngoài, chính là nhờ những đôi tay mềm mại, chăm chỉ và khéo léo của những thiếu nữ Chăm.
    Nhiều nhà nghiên cứu dân tộc và mỹ nghệ thủ công, khái quát rằng những hoa văn, sắc màu trên nền vải thô của Mỹ Nghiệp thực chất là ngôn ngữ giao tiếp, là “phương tiện” để nói với khách phương xa về một nền văn hóa tiềm ẩn trong từng viên gạch, mái nhà, núi đồi, suối thác của vùng đất cực nam Trung bộ. Do vậy, nhiều khách nước ngoài mừng như bắt được vàng khi tất bật quay phim, chụp ảnh và mua tận tay những tấm thổ cẩm do chính bà con làm ra. Bà Phú Thị Mỡ đứng đầu một trong nhiều “tổ hợp” của làng. Bà là người hết lòng truyền nghề cho lớp thanh niên mới lớn. Bà Mỡ cho rằng thổ cẩm của làng đi xa là nhờ các thợ cả hết lòng giữ lại những nét hoa văn đặc trưng. Thổ cẩm Mỹ Nghiệp do vậy khó nhầm lẫn với các làng dệt, các dân tộc khác.
    Trưởng thôn Mỹ Nghiệp, ông Hàm Minh Thiều nhớ lại trước kia hơn 100 ha đất nông nghiệp của thôn không nuôi nổi làng. Từ khi ngành văn hóa, du lịch phát hiện, đã nỗ lực quảng bá thổ cẩm dân tộc, đã góp phần làm khôi phục lại nghề truyền thống. Tiền công cho thợ dệt mỗi ngày được hưởng tới 25.000-30.000đ. Mối lái khắp nơi nườm nượp đến ký hợp đồng đặt hàng. Nhiều hộ lên đến 10 khung dệt, mỗi tháng thu nhập từ 3-5 triệu đồng. Thanh niên nam nữ Chăm lập gia đình đều xây nhà đẹp, sắm xe máy, video. Thiếu niên Mỹ Nghiệp vào trường dân tộc rồi lên đại học cũng là nhờ nghề dệt truyền thống. Thế nhưng hơn một năm nay thổ cẩm Mỹ Nghiệp bỗng tiêu thu chậm, khách đặt hàng thưa hẳn. Một số hộ đành phải tháo khung cửi xếp lại. Các thiếu nữ dệt nét mặt ít tươi hơn.
    Ông Hàm Minh Thiện tâm sự đầy vẻ ưu tư: thấy hàng Mỹ Nghiệp bán chạy, nhiều doanh nghiệp có vốn đã đến mô phỏng, về “thiết kế” trên các máy dệt tân tiến. Các loại vải này đều được giới thiệu là hàng thổ cẩm, được trưng bày ở nhiều trung tâm bán hàng lưu niệm của các khu du lịch lớn! Ðáng nói hơn cả là giá các loại hàng này chỉ bằng 1/4 sản phẩm dệt thủ công. Khách du lịch ít quan tâm vẫn cứ mua về làm quà “lưu niệm”. Làm sao trả lại thổ cẩm giá trị đích thực, khôi phục làng dệt truyền thống Mỹ Nghiệp? Một cán bộ Sở thương mại - du lịch địa phương cho biết: chính quyền sẽ cố gắng thực hiện ý kiến vận động các khách sạn, khu du lịch trưng bày, giới thiệu thổ cẩm Mỹ Nghiệp thứ thiệt cũng như củng cố các hình thức hợp tác để nâng cao sức sản xuất của làng.
    Tuy nhiên, quan trọng nhất, theo ý kiến của nhiều người, phải có những cơ quan tâm huyết đứng ra xúc tiến lập một thương hiệu riêng, đăng ký độc quyền cho thổ cẩm Mỹ Nghiệp cũng như các sản phẩm truyền thống độc đáo của nhiều làng dân tộc khác. Cũng nên mạnh dạn đưa các nhãn hiệu độc quyền ra thương trường quốc tế. Thế nhưng ngành nào, cơ quan nào hoặc tổ chức, cá nhân nào sẽ đứng ra tư vấn hoặc hỗ trợ những người nông dân vốn chỉ biết chăm chỉ, cần cù lại rất ít hiểu biết thông tin, thị trường ở một vùng đất cách xa các trung tâm văn hoá, thông tin.
    Cây Bông Vải
    Được trồng thử nghiệm ở Phan Rang ngày 19/11/1945 nhưng hiệu quả kém, đến năm 1954 nhập giống bông từ hoa kỳ, năm 1973 nhập giống từ trung tâm khảo giống châu phi nhằm cung cấp sợi bông cho các nhà máy dệt. Cây bông vải thuộc loại…nếu đốn gốc thì mùa sau sẽ mọc lại nhưng dễ bị sâu bệnh và cho năng suất thấp, chu kỳ sinh trưởng cây bông vải gồm 5 giai đoạn: giai đoạn mọc mầm, cây non, tăng trưởng, chưa có hoa), trổ hoa, đậu trái và trái chín. Thời gian từ lúc trồng đến lúc trái chín và cho bông trung bình 178 ngày, sau đó người ta đống bỏ, thường trồng xen canh với các loại cây khác như đậu nành và một số cây ngắn ngày
    Xe lăn bánh qua cầu Đạo Long rẽ phải theo đường Ngô Gia Tự , sau đó đến một ngã tư Xe rẽ phải và Khu du lịch Đen Giòn.Tại đây các bạn sinh viên dùng cơm trưa , nghỉ một chút thì Đoàn lại tiếp tục chuyến tham quan , rời Đen Giòn để đến Nha Trang ..Trên đường đi chúng ta sẽ thấy khu 3 tháp Hòa Lai theo phía tay phải .

    Tổng Quan Khánh Hòa

    Trên bản đồ Việt Nam hình chữ S, tỉnh Khánh Hòa là ở phần cong vươn xa nhất ra biển Đông. Cùng với dải đất liền, Khánh Hòa còn có huyện đảo Trường Sa với gần một trăm đảo đá, bãi cạn mà đảo gần nhất của huyện đảo này cũng cách đất liền tới 250 hải lý. Như vậy, cùng với đất liền và hải đảo, Khánh Hòa là một tỉnh ven biển Nam Trung Bộ và nằm ở điểm cực đông Việt Nam, nơi nhận được ánh nắng ban mai sớm nhất nước.
    Về vị trí địa lý:
    Phía Bắc tỉnh Khánh Hòa giáp tỉnh Phú Yên
    Phía Tây giáp tỉnh Đăklăk và Lâm Đồng
    Phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận.
    Phía Đông giáp biển Đông
    Diện tích tỉnh Khánh Hòa là 5.197 km2 ,
    Dân số là 1.080.800 người (ĐTDS 2002).
    Tỉnh lỵ là thành phố Nha Trang.
    Các huyện của tỉnh Khánh Hòa là:Vạn Ninh, Ninh Hòa, Diên Khánh, Khánh Vĩnh, Cam Ranh, Khánh Sơn và huyện đảo Trường Sa.
    Dân cư sinh sống trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa thuộc các dân tộc Việt (Kinh), Raglai, Hoa, K’ho…
    Khí hậu Khánh Hòa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất khí hậu đại dương nên tương đối ôn hòa. Nhiệt độ trung bình năm là 26,5oC.
    Địa hình Khánh Hòa đa dạng như hình ảnh của đất nước Việt Nam thu nhỏ, có rừng núi, đồng bằng, miền ven biển và hải đảo. Biển Khánh Hòa thuộc vùng biển giàu có của nước ta, nơi hội tụ nhiều loại cá biển bắc, biển nhiệt đới, bao gồm có nhóm cá tầng nước trên, tầng đáy, … có nhiều hải sản quý, đặc biệt là yến sào và một lâm sản có giá trị quý như vàng, khiến từ lâu vùng đất này được mệnh danh là “xứ trầm”: trầm hương.
    Hai con sông lớn nhất chảy qua tỉnh Khánh Hòa là sông Cái và sông Dinh.
    Bờ biển Khánh Hòa dài 200km, với trên 200 đảo lớn nhỏ, trong đó huyện đảo Trường Sa quy tụ trên 100 đảo. Tỉnh có nhiều hải sản quý, đặc biệt là yến sào. Khánh Hòa có 5 suối nước nóng có tác dụng chữa bệnh và khai thác nước uống. Ngoài ra, tại đây cũng có nhiều cảng biển, trong đó cảng Cam Ranh thuộc vào loại cảng biển tốt nhất thế giới, có sân bay Nha Trang, sân bay cam Ranh tiện lợi cho du khách đến Khánh Hòa.
    Đất Khánh Hòa thích hợp với nhiều loại cây trồng nên nông nghiệp cũng là một trong những thế mạnh của tỉnh Khánh Hòa. Khánh Hòa không chỉ là một trong những tỉnh có nhiều cảnh đẹp nổi tiếng mà còn là nơi có truyền thống văn hóa lâu đời – quê hương của đàn đá Khánh Sơn và nhiều di tích văn hóa Chăm, cũng như truyền thống kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm. Khánh Hòa còn có những công trình kiến trúc lâu đời có giá trị như Tháp Bà Pô Nagar, những cơ sở thực nghiệm, nghiên cứu khoa học có tầm quan trọng với cả nước như viện Pasteur, Viện Vaccin và dịch tể, Viện nghiên cứu biển.
    Nằm trên trục giao thông Bắc – Nam quan trọng trên quốc lộ 1A, đường sắt xuyên Việt nối Khánh Hòa với các tỉnh miền Nam và miền Bắc, quốc lộ 26 nối Khánh Hòa với Đăklăk và các tỉnh Tây Nguyên. Nha Trang cách Phan Rang 105km, cách Buôn Ma Thuột 190km, cách Đà Lạt 215km, cách Quy Nhơn 238km, cách thành phố Hồ Chí Minh 445km và cách Hà Nội 1.299km.

    Nha Trang là một thành phố biển nằm trên đường Quốc lộ 1A. Thành phố này cách thủ đô Hà Nội 1.450km và cách thành phố Hồ Chí Minh 450km. Với bờ biển đẹp dài 7km, bãi cát trắng và nước biển trong xanh đã thu hút hàng ngàn khách du lịch trong và ngoài nước. Bãi biển này quanh năm nắng tốt và bầu trời trong xanh tựa màu xanh của vùng biển Địa Trung Hải. Đại Lãnh – Văn Phong – Nha Trang là một bờ biển dài với nhiều bãi biển đẹp kéo dài từ Đại Lãnh qua Nha Trang, Ninh Chữ tới Cà Ná (Ninh Thuận).
    Là một tỉnh ven biển Nam Trung Bộ Việt Nam, Khánh Hòa có bờ biển kéo dài 385km, miền bờ biển bị đứt gãy tạo ra vùng lý tưởng nổi tiếng cho du lịch vì nhiều bãi tắm đẹp, cát trắng, nước biển trong xanh, không có các loài cá dữ và dòng nước xoáy ngầm.
    Những dãy núi cao nhấp nhô chạy dài ra biển Đông tạo thành các kỳ quan thiên nhiên và các đầm, vịnh kín gió, Khánh Hòa có khí hậu nhiệt đới, gió mùa chia ra làm hai mùa mưa - nắng rõ rệt. Mưa chỉ kéo dài trong hai tháng 10 và 11 - còn lại 10 tháng trong năm chan hòa ánh nắng, làm cho cảnh quan thiên nhiên vốn đã rất đẹp lại thêm phần hấp dẫn.
    Với điều kiện thiên nhiên ưu đãi như vậy, Khánh Hòa có thể phát triển các loại hình du lịch đa dạng: du lịch nghỉ dưỡng, du lịch săn bắn, du lịch bơi lặn, du lịch leo núi, du lịch sưu khảo, du lịch hội nghị - hội thảo, du lịch bơi - đua thuyền, nhất là du lịch biển đảo.
    Nha Trang-Khánh Hòa từ lâu được mệnh danh là thành phố biển cùng với nhiều di tích lịch sử, thắng cảnh danh lam tuyệt đẹp như tháp Bà Ponagar, chùa Long Sơn, lầu Bảo Đại, Hòn Chồng, Hòn Yến, Hòn Mun, Hòn Tằm, Hồ cá Trí Nguyên, Bãi Trũ-Đầm Già ...
    Theo tài liệu đánh giá của Liên hiệp các xí nghiệp tư vấn kỹ thuật Nhật Bản (ECFA) thì Nha Trang là một thành phố sạch, nhiều hải đảo ven bờ có thể đến đó rất nhanh bằng thuyền - có nhiều dải san hô bao quanh đảo, có thể tổ chức bơi lặn bằng bình hơi hay mang ống thở
    Nhận định về tiềm năng du lịch Khánh Hòa - Nha Trang, theo dự án VIE89/003 do Hiệp Hội Du Lịch Thế giới (OMT), chương trình phát triển du lịch Liên Hiệp Quốc (PNUD) và viện nghiên cứu phát triển du lịch Việt Nam (IRDT) phối hợp soạn thảo thì khu vực Nha Trang - Đà Lạt là vùng du lịch số 3 trong 4 vùng du lịch của cả nước, có tốc độ phát triển từ nay đến năm 2005 cao hơn hẳn các vùng du lịch khác trong nước.

    Biển và các Vịnh Biển của Khánh Hòa

    Biển Khánh Hòa có độ sâu bậc nhất biển Việt Nam và tiếp giáp rất gần với đại dương cũng như các đường hàng hải quốc tế.
    Đáy biển có độ dốc cao, gồ ghề gồm tầng tầng lớp lớp những rặng san hô.
    So với các vùng biển khác ở Việt Nam cũng như ở Đông Nam Á nói chung, đặc tính khí hậu và địa mạo của biển Khánh Hòa có các điều kiện tối ưu hơn cả cho việc nghiên cứu hải dương học.
    Độ dài bờ biển khoảng 385 km, là một trong những đoạn bờ biển khúc khuỷu, tạo nhiều đầm, vịnh nổi tiếng nhất Việt Nam như Cam Ranh, Vân Phong.
    Dọc bờ biển có những vũng, vịnh, bãi triều, bãi cát mịn thuận tiện cho việc lập cảng biển, nuôi trồng thủy sản và phát triển du lịch như Đại Lãnh,Vân Phong, Hòn Khói, Nha Phu, Cù Huân (Nha Trang), Cam Ranh.

    Với bờ biển trải dài khoảng 385km, khúc khuỷu với hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ, và các bãi cát trắng mênh mông, Khánh Hòa có ưu thế để phát triển kinh tế biển, đặc biệt là du lịch biển đảo.
    Từ Bắc vào Nam, Khánh Hòa có các vịnh Vân Phong, vịnh Nha Trang và vịnh Cam Ranh. Mỗi vịnh có những đặc thù riêng, có thể tổ chức thành các tuyến, cụm và điểm tham quan du lịch, nghỉ dưỡng, tắm biển đa dạng và hấp dẫn. Các địa điểm tiêu biểu như Ðại lãnh, Ðầm Môn (Vạn Ninh), Dốc Lết, Ninh Phước, Đầm Nha Phu (Ninh Hoà), Vĩnh lương, Bãi Tiên, bãi biển Trần Phú, Bãi Trủ, Bãi Sạn (Nha trang), bãi Thuỷ Triều, Bãi Dài (Cam Ranh).

    Vịnh Vân Phong

    Vân Phong là vịnh biển lớn nhất tỉnh Khánh Hòa với tổng diện tích 503 km2, độ sâu trung bình trên 10m, nơi sâu nhất trên 30m. Vùng vịnh Vân Phong cùng với bãi biển Ðại Lãnh, vùng núi Sơn Tập - Trại Thơm, bãi biển Dốc Lết là nơi có tiềm năng du lịch tổng hợp biển - rừng- núi lớn nhất tỉnh Khánh Hòa và cả nước, do nơi đây có sự kết hợp hài hòa giữa trời, mây, sóng nước, đảo, rừng núi với những bãi tắm cát trắng phau và là nơi có mức độ ô nhiễm môi trường còn rất thấp.
    Đây là một kỳ quan thiên nhiên tuyệt đẹp trong môi trường lý tưởng hiếm có với khí hậu ôn hoà, bãi biển đẹp, cát mịn, núi đồi hùng vĩ bao quanh cùng với những cánh rừng nhiệt đới hầu như còn nguyên vẹn, những rạn san hô đa sắc, đẹp sững sờ, có dấu tích sinh tồn của một khu rừng ngập mặn, hàng trăm sinh cảnh, muông thú đặc chủng và hàng chục ngàn loài thuỷ, hải sản quý. Đây là những ưu thế giúp Vân Phong có thế mạnh phát triển du lịch sinh thái rõ nét. Tổng cục Du lịch Việt Nam đã xếp Vân Phong vào vùng du lịch trọng điểm phát triển, trong kế hoạch dài hạn của ngành đến năm 2010. Vân Phong cũng được Hiệp hội Biển thế giới xếp vào danh sách 4 vị trí du lịch biển lý tưởng nhất hiện nay.

    Vịnh Nha Trang

    Vịnh Nha Trang là vịnh biển lớn thứ hai sau vịnh Vân Phong của tỉnh Khánh Hòa với diện tích khoảng 400 km. Phía Đông và phía Nam vịnh được giới hạn bằng một vòng cung các đảo. Lớn nhất là đảo Hòn Tre (còn gọi là Hòn Lớn) có diện tích khoảng 30 km2. Trên đảo có những bãi tắm rất quen thuộc như Bãi Trũ, Bãi Tre. Đảo Hòn Miếu có điểm du lịch Trí Nguyên.
    Đảo Hòn Mun là nơi thiết lập khu bảo tồn biển đầu tiên ở Việt Nam có những rạn san hô với một quần thể sinh vật biển còn nguyên sơ, gần như độc nhất vô nhị không chỉ của Việt Nam mà còn của cả Đông Nam Á. Các đảo Hòn Tằm, Hòn Chà Là, Hòn Hố, Hòn Ðụn, Hòn Xưởng là những hòn đảo không chỉ có những cảnh đẹp trên bờ, dưới nước mà còn đem lại nguồn thu nhập lớn cho tỉnh Khánh Hòa, do có chim yến cư trú và làm tổ.

    Câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất thế giới được thành lập vào tháng 3-1997 tại Berlin (Đức) với mục đích bảo tồn sinh thái biển, phát triển các loại hình du lịch ở các vùng vịnh một cách bền vững, lâu dài. Tại Hội nghị lần thứ hai của CLB được tổ chức ở Tadousac (Quebec, Canada) từ 1-6 đến 8-6-2003, vịnh Nha Trang đã được kết nạp làm thành viên thứ 29 của thế giới, thứ 2 của châu Á (sau vịnh Hạ Long) trong CLB.
    Đầu thế kỷ trước, thành phố Nha Trang ngày nay còn là một bãi biển hoang sơ với một làng chài vài mươi nóc nhà tranh ở xóm Cồn. Chỉ có duy nhất một ngôi nhà xây 2 tầng lầu mầu trắng là nhà làm việc của Bác sĩ Alexandre Yersin (lầu ông Năm). Nếu đến đây bằng đường biển sẽ thấy ngôi nhà trắng trước tiên, Nha Trang chính là "nhà trắng" được gọi chệch đi. Đó là cách kiến giải về xuất xứ tên gọi Nha Trang của những người ngưỡng mộ A. Yersin, một công dân đặc biệt của thành phố. Còn theo các nhà nghiên cứu xưa kia hai bên bờ sông Cái đổ ra cửa biển Cù Huân (Cửa Lớn) đầy lau lách rậm rạp, nên sông được gọi là sông Lau (tiếng Chăm là yjatran hay Ea Tran). Lâu dần nó được gọi chệch thành Nha Trang. Tên sông sau thành tên đất, rồi được dùng cho cả vịnh biển ôm ấp và làm đẹp cho vùng đất.
    Được che chắn bởi 19 đảo lớn nhỏ, vịnh Nha Trang rộng chừng 500km2 khá kín gió, không có sóng lớn. Cửa sông Cái đổ ra giữa hai bãi biển hình trăng khuyết, cát mịn mát trải dài hàng 6, 7 cây số. Dưới ánh nắng mặt trời nhiệt đới, màu xanh của những triền núi nhấp nhô trên bờ, của các hòn đảo hoà cùng mầu biển biếc, như tôn thêm vẻ quyến rũ của những dải cát vàng dạt dào sóng trắng. Trong vịnh Nha Trang có gần mười đảo yến, hằng năm việc khai thác yến sào mang về hàng triệu USD cho tỉnh Khánh Hòa. Dưới mặt vịnh Nha Trang lại có một thế giới kỳ thú khác, đó là thế giới của 350 loài san hô, 190 loài cá, các loài nhuyễn thể, giáp xác, cỏ biển... Tháng 12-2000, dự án Khu bảo tồn biển Hòn Mun trong vịnh Nha Trang. Khu bảo tồn biển đầu tiên của nước ta đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

    Vịnh Nha Trang có khí hậu hai mùa rõ rệt: mùa khô kéo dài từ tháng giêng đến tháng tám, mùa mưa từ tháng chín đến tháng mười hai; nhiệt độ bình quân hàng năm là 26 0C; nóng nhất 39 0C, lạnh nhất 14,4 0C.
    Vịnh Nha Trang không chỉ giàu tài nguyên, đẹp cảnh quan mà còn gắn liền với những nét đẹp của văn hóa biển và những địa chỉ văn hóa - du lịch như Tháp bà Ponagar, Viện Pasteur Nha Trang, Bảo tàng A.Yersin, Viện Hải dương học, Bảo tàng biển lớn nhất Đông Dương... Tại Đại hội lần thứ hai câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất thế giới tổ chức tại Tadoussac (Québec, Canada) tháng 5/2003, với những ưu thế tuyệt vời kể trên, vịnh Nha Trang đã được công nhận là thành viên thứ 29 Câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất thế giới. Chính phủ đã cho phép thiết lập khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang, khu bảo tồn biển đầu tiên ở nước ta. Bộ Văn hóa - Thông tin cũng đã cấp bằng công nhận vịnh Nha Trang là danh thắng cấp quốc gia.

    Vịnh Cam Ranh

    Vịnh Cam Ranh nằm cách TP. Nha Trang khoảng 60km về phía Nam và được đánh giá là 1 trong 3 cảng biển tự nhiên tốt vào bậc nhất thế giới do có đủ 3 yếu tố cơ bản: chiều rộng, độ sâu và được che chắn tốt, lại nằm trong vùng ít bão.
    Vịnh được tạo nên do một nhánh của dãy núi Hoàng Ngưu (còn gọi là Đồng Bò, cao hơn 927m) chạy từ mũi Cù Hin theo hướng Bắc - Nam vào đến mũi Điện dài trên 30km, nhấp nhô đồi núi cát trắng với những điểm cao: Cù Hin, núi Ké, núi Phụng Hoàng, tạo thành một bán đảo (thường gọi là bán đảo Cam Ranh). Một nhánh của dãy núi Chúa (1.040m) từ phía Nam chạy theo hướng Nam - Bắc tới mũi Chà Đà thành một bán đảo (thường gọi là bán đảo Mũi Hời), tạo thành cửa trong của vịnh, rộng khoảng 1km. Đảo Bình Ba, gồm hai ngọn núi nối liền nhau: Hòn Gò và Hòn Dự (cao từ 100 - 200m) nằm án ngữ giữa biển, phía Nam bán đảo Cam Ranh, tạo thành cửa ngoài của vịnh gồm hai cửa: cửa Lớn ở phía Nam rộng khoảng 3,5km và cửa Nhỏ ở phía Bắc rộng khoảng 250m. Vịnh có chiều ngang khoảng 60km, chiều dài khoảng 20km; lòng vịnh sâu từ 12 - 25m; diện tích mặt nước cho tàu đậu khoảng 100km2, có sức chứa hàng trăm tàu cùng một lúc và tàu có trọng tải 100.000 tấn có thể ra vào vịnh dễ dàng.
    Năm 1979, trong khu vực vịnh Cam Ranh, địa điểm khảo cổ học Xóm Cồn thuộc phường Cam Linh, thị xã Cam Ranh được phát hiện và đã được khai quật 2 lần vào các năm 1980 và 1992. Năm 1990, trên đảo Bình Ba và đảo Bình Hưng trong vịnh Cam Ranh, các nhà khoa học đã tiến hành khai quật với quy mô lớn. Kết quả đã thu được rất nhiều di vật của cư dân cổ gồm các loại rìu đá, đồ gốm, đồ trang sức bằng lõi ốc. Trên cơ sở đó, các nhà khoa học đã xác lập được một văn hóa khảo cổ có tên gọi: Văn hóa Xóm Cồn, niên đại 4.140 ± 80 năm cách ngày nay.
    Tháng 8-2002, di chỉ khảo cổ học Hòa Diêm (thuộc xã Cam Thịnh Đông) cách di chỉ Xóm Cồn khoảng 5km về phía Nam cũng được khai quật. Hàng chục mộ chum, hàng vạn tiêu bản gốm cùng nhiều di vật bằng đá, đồng, sắt, thủy tinh, mã não đã được tìm thấy. Như vậy, Hòa Diêm là một di chỉ cư trú và mộ táng của những cư dân cổ, là một gạch gối đáng tin cậy về khoa học của tiến trình phát triển kế tiếp từ giai đoạn văn hóa Xóm Cồn lên văn hóa Sa Huỳnh sau này ở Khánh Hòa cách đây khoảng 2.000 năm. Có thể thấy, những phát hiện về khảo cổ học nói trên không chỉ khẳng định vùng đất này từ rất sớm đã có con người sinh sống mà còn có ý nghĩa lớn về khoa học trong việc nghiên cứu các giai đoạn phát triển thời kỳ tiền sử và sơ sử ở Khánh Hòa cùng các mối quan hệ, giao lưu kinh tế - văn hóa của các nhóm cư dân cổ nơi đây với các nền văn hóa cổ ở khu vực Nam Trung bộ và Nam bộ nước ta từ hàng ngàn năm trước.

    Trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật năm 1905, hạm đội Nga Sa Hoàng gồm 52 tàu các loại do Đô đốc Rôjetvenski chỉ huy xuất phát từ cảng Libô vượt qua 3 đại dương, dài trên 16.628 hải lý đến Vơladivốtstốc để giải tỏa cảng Lữ Thuận đang bị hạm đội Nhật bao vây đã ghé vào vịnh Cam Ranh tránh bão và để được tiếp nhiên liệu, lương thực, nước ngọt suốt 1 tháng (từ 12-4-1905 đến 12-5-1905). Nhân sự kiện này, các chí sĩ yêu nước như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp trên đường vào các tỉnh phía Nam truyền bá phong trào Duy Tân đã ghé vịnh Cam Ranh xem hạm đội Nga và cụ Huỳnh đã để lại một bài thơ đến nay vẫn còn lưu truyền ở Khánh Hòa.
    Sau chiến tranh Nga - Nhật, lo sợ trước thế lực và âm mưu tranh giành thuộc địa của Nhật ở Viễn Đông và Thái Bình Dương, năm 1911, Chính phủ Pháp đã cử Đại úy hải quân Fillommeus chỉ huy xây dựng 1 quân cảng ở Cam Ranh. Trong chiến tranh thế giới lần II, giữa năm 1939, thực dân Pháp chủ trương xây dựng Cam Ranh thành một căn cứ hải quân lớn trong kế hoạch “phòng thủ chung” ở Đông Dương và nhiều công trình quân sự được xây dựng trên bán đảo Cam Ranh và đảo Bình Ba. Nhưng từ tháng 7-1940, Nhật đã ép Pháp để Nhật cùng “phòng thủ Đông Dương” và ngày 15-9-1940, Nhật gửi tối hậu thư đòi kiểm soát các căn cứ hải quân, trong đó có cảng và vịnh Cam Ranh. Trên thực tế, đến năm 1942, quân Nhật đã độc chiếm cảng và vùng vịnh đồng thời xây dựng thêm sân bay làm bàn đạp để tiến đánh các thuộc địa của Anh, Mỹ ở Thái Bình Dương cho đến năm 1945.
    Ngày 18-10-1946, một sự kiện có ý nghĩa lịch sử đã diễn ra tại vịnh Cam Ranh. Trên chiếc thông báo hạm Duymont d’Urville của hải quân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi đi thăm nước Pháp trở về đã có cuộc hội đàm với Đô đốc Đácgiăngliơ nhằm ngăn chặn cuộc chiến tranh Pháp - Việt có thể nổ ra, đáng tiếc là đã không thu được kết quả do sự hiếu chiến của giới quân sự và chính trị Pháp.

    Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Cam Ranh là một trong những vị trí bị quân đội Hoa Kỳ xâm chiếm đầu tiên. Ngày 10-6-1965, Lữ đoàn 106 gồm 4.000 công binh Mỹ đến Cam Ranh xây dựng căn cứ quân sự; tháng 8-1965, 4.000 tên thuộc Lữ đoàn 1 Sư đoàn dù 101 đến Cam Ranh; tháng 10-1965, Trung đoàn 30 Sư đoàn Bạch Mã Nam Triều Tiên đến Cam Ranh. Từ đó, quân Mỹ và chư hầu liên tiếp đổ quân vào Cam Ranh, năm cao nhất (1968) có tới 2 vạn quân Mỹ và 1 vạn quân của các nước chư hầu. Cam Ranh thật sự trở thành một căn cứ quân sự liên hợp: hải, lục, không quân và khu hậu cần lớn cho cả chiến trường Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Tại đây chúng đã xây dựng sân bay cấp 1 có thể sử dụng cho các loại máy bay hiện đại và hệ thống đường sá với tổng chiều dài 260km. Tháng 3-1967, chính quyền tay sai Thiệu - Kỳ đã ký hiệp định bán đứng vùng bán đảo và vịnh Cam Ranh cho Mỹ trong 99 năm, bao gồm một vùng rộng lớn với diện tích 260km2 và Mỹ đã biến Cam Ranh thành căn cứ hải quân lớn nhất Đông Nam Á.
    Tháng 12-1968, Tiểu đoàn Đặc công 407 của Liên khu V đã được điều động về Cam Ranh, chuyên trách đánh căn cứ này. Mở đầu là trận đánh đêm ngày 6 rạng ngày 7-8-1969 tại Lỗ Đất, ta đã tiêu diệt 550 tên, hầu hết là sĩ quan và giặc lái Mỹ, phá hủy 9 kho chứa 350 tấn hàng quân sự, 2 kho xăng 1 triệu lít, 5 xe quân sự và 25 căn trại. Ngày 18-7-1971, ta tấn công kho xăng Quảng Cơ, đốt cháy 45 triệu lít xăng, diệt 30 tên Mỹ. Ngày 21-9-1971, tấn công kho bom Núi Ké, diệt 55 tên Mỹ, phá hủy 32 kho đạn gồm 55 vạn tấn, trong đó có 1 kho bom loại 7 tấn, 1 hầm tên lửa, 12 xe quân sự, 55 dàn tên lửa bảo vệ căn cứ. Đêm 8-4-1972, tập kích kho Suối Mốc, phá hủy hơn 35.000 tấn bom đạn, diệt 300 quân Mỹ. Đêm 11-6-1972, đánh kho xăng Ô Vũ, thiêu hủy 20 triệu lít xăng. Đêm 5-8-1972, diệt 200 quân ngụy, phá hủy 14 căn trại lính. Trong chiến dịch mùa xuân 1975, ngày 3-4-1975, Sư đoàn 10 tiến vào giải phóng Cam Ranh và tổ chức tiếp quản toàn bộ khu vực Cảng. Cam Ranh trở thành một bàn đạp chiến lược, căn cứ hậu cần của ta phục vụ cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

    Từ năm 1979, theo hiệp định được ký kết giữa Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên Xô, Cảng Cam Ranh được dùng làm căn cứ hậu cần của hạm đội Thái Bình Dương. Ngày 2-5-2002, theo thỏa thuận giữa Việt Nam và Liên bang Nga, Cảng Cam Ranh đã được bàn giao lại cho ta. Quan điểm của Việt Nam về việc sử dụng Cảng Cam Ranh trong tương lai là sẽ không hợp tác với bất cứ nước nào để sử dụng Cam Ranh vào mục đích quân sự. Việt Nam sẽ khai thác có hiệu quả nhất những tiềm năng và lợi thế của Cam Ranh phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
    Việc Cảng Cam Ranh trở thành một cảng dân sự có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương cũng như cả nước trong thời gian tới. Theo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở Khánh Hòa từ nay đến năm 2005 đã được Trung ương phê duyệt, chẳng bao lâu nữa Cảng Cam Ranh sẽ được nâng cấp thành cảng biển quốc tế, sân bay Cam Ranh sẽ được cải tạo thành sân bay dân sự dùng cho các chuyến bay nội địa và quốc tế được nối với thành phố biển Nha Trang bằng một con đường ngắn chừng 30km chạy dọc theo bờ biển. Điều này sẽ góp phần khai thác những tiềm năng và thế mạnh của vịnh và cảng Cam Ranh trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước và ưu thế về văn hóa du lịch sinh thái ở Khánh Hòa sẽ được khai thác ở tầm cao mới, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đồng thời, một số địa điểm có liên quan đến các sự kiện lịch sử, nhất là thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, đã được UBND tỉnh Khánh Hòa ra quyết định công nhận là di tích lịch sử văn hóa trong những năm qua ở khu vực này sẽ được tôn tạo, bảo vệ và khai thác một cách hữu hiệu hơn, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ trẻ trong tương lai. Chúng ta có quyền hy vọng và tin tưởng ở tương lai tươi sáng của vịnh Cam Ranh.
    Trong vịnh còn có một số cảng đang hoạt động như cảng khai thác cát, cảng Ba Ngòi, cảng cá Đá Bạc và cảng quân sự.
    Những chính sách mới được ban hành đã cho thấy một tương lai phát triển của Cam Ranh. Phía bắc Cam Ranh - khu Bãi Dài - đang được xúc tiến xây dựng thành một phức hợp du lịch với qui mô trên 2.000ha nối liền Nha Trang. Nó nằm ngay cửa ngõ sân bay, theo đại lộ Nguyễn Tất Thành đi Nha Trang chỉ 30km, ngược về Cam Ranh cũng khoảng đó đường (sắp tới, cầu Cam Ranh vượt eo vịnh xây xong sẽ ngắn hơn nữa).
    Ông Đỗ Hữu Thiệt, phó giám đốc Sở Kế hoạch và đầu tư Khánh Hòa, khẳng định: Du lịch Nha Trang có dấu hiệu quá tải rồi. Chúng tôi tiến về phía này với mục đích khai thác tiềm năng thiên nhiên Cam Ranh và thu hút thêm du khách. Tương lai, đây sẽ là một khu du lịch chất lượng cao, phù hợp nghỉ dưỡng dài ngày. Không chỉ có Nha Trang, việc chuyển sân bay về đây sẽ kéo thêm hành khách từ Ninh Thuận. Điều đó đồng nghĩa với việc gắn kết thêm du lịch Ninh Thuận với Khánh Hòa...
    Bên cạnh ngành kinh tế không khói này, các kế hoạch phát triển khác cũng khởi động. Ngược về hướng nam Cam Ranh, dự án khu công nghiệp đa ngành rộng 300ha đã được giao đất. Đặc biệt, dự án cấp quốc gia về qui hoạch khu tập trung nuôi tôm giống qui mô 500ha (mỗi năm sản xuất 8-10 tỉ con tôm post) hiện đang làm đường, giải tỏa mặt bằng. Còn dự án nuôi tôm thịt công nghiệp qui mô 103ha với vốn đầu tư hạ tầng 32 tỉ đồng đã làm xong một giai đoạn. Dự án xây dựng nhà máy đóng tàu và nghiền linker cũng sẽ được tính đến như một động lực lớn để đánh thức tiềm năng Cam Ranh...

    Lịch Sử Khánh Hòa

    Khánh Hòa là vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa, tại đây đã từng tồn tại một nền văn hóa Xóm Cồn, có niên đại lâu trước cả văn minh Sa Huỳnh.

    Theo Đại Nam nhất thống chí, năm 1653 vua Chăm là Bà Tấm sai quân quấy nhiễu biên cảnh, chúa Nguyễn Phúc Tần sai cai cơ Hùng Lộc chống giữ, nhân đêm tối vượt núi Thạch Bi, tiến đến tận sông Phan Lang (Rang). Vua Chăm sai con mang thư hàng và xin dâng đất cho chúa từ phía Đông sông Phan Rang trở ra đến Phú Yên. Chúa Nguyễn chấp thuận, đặt dinh Thái Khang chia làm hai phủ Thái Khang và Diên Ninh gồm 5 huyện là Phước Diên, Hoa Châu, Vĩnh Xương (thuộc phủ Diên Ninh) ở phía Nam; huyện Tân Định, Quảng Phước (thuộc phủ Thái Khang), giao cho Hùng Lộc trấn thủ.
    Như vậy, với việc đặt dinh Thái Khang và phân chia các đơn vị hành chính, chúa Nguyễn đã đưa vùng đất Khánh Hoà ngày nay hội nhập vào lãnh thổ Đại Việt. Sự kiện lịch sử này được coi là mốc thời gian mở đầu cho sự hình thành địa phận hành chính tỉnh Khánh Hoà ngày nay. Năm 1837, Minh Mạng ban hành cách làm ruộng ở dinh điền Khánh Hòa như sau: Mỗi sở 2 suất đội, 100 biền binh. Vụ cày cấy họp lại cùng làm, xong việc rút về, hiện để 1 suất đội, 30 biền binh dẫn nước vào ruộng, chăn nuôi trâu bò, chốt giữ thú rừng. Đến khi lúa chín lại hợp sức lại thu hoạch, xong việc lại rút về, ruộng để lại 1 suất đội 15 lính canh giữ để làm ruộng, thóc giống và chăn nuôi trâu bò, lính được cấp 1 phương gạo, ở lại thì cấp lương, ai rút về thì thôi.
    Bên cạnh hình thức khai hoang do Nhà nước trực tiếp tổ chức, nhà Nguyễn còn cho phép tư nhân đứng ra chiêu mộ dân nghèo tổ chức đi vỡ hoang. Hình thức mộ dân này được thực hiện ở Khánh Hòa vào năm 1855. Để phát huy hết tính năng và tác dụng của các loại đồn điền, dinh điền, các vua triều Nguyễn đã có những quy định nhằm khuyến khích, phát triển sản xuất. Từ năm 1840, Nhà nước còn ban thưởng cho những đồn điền có năng suất, sản lượng cao. Năm 1840 ở Khánh Hòa khẩn được 140 mẫu, thu 2.300 hộc thóc, thưởng 100 quan. Năm 1841, vua Thiệu Trị ra lệnh đem toàn bộ đồn điền 4 tỉnh: Khánh Hòa, Định Tường, Biên Hòa và Sơn Tây cấp cho xã dân làm công điền. Đặc biệt, ở Khánh Hòa còn có một biệt lệ là ưu tiên khen thưởng cho những người có công chiêu mộ dân và tổ chức khẩn hoang ở những vùng có trạm dịch. Những ai mộ được 30 người dân ở những vùng có trạm dịch sẽ được thưởng “Tòng cửu phẩm bá hộ” và làm Lý trưởng, mộ được 30 người sẽ được thưởng “Chánh bát phẩm bá hộ” và lãnh chức Cai tổng.
    Công cuộc khẩn hoang ở Khánh Hòa cũng như trong cả nước do nhà Nguyễn thi hành hoàn toàn bị bãi bỏ kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. Tuy nhiên, những chính sách và biện pháp khẩn hoang của nhà Nguyễn trên quy mô cả nước nói chung và Khánh Hòa nói riêng đã mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần quan trọng vào việc giữ gìn biên giới, mở rộng diện tích canh tác và tăng sản lượng nông nghiệp, giảm bớt gánh nặng cho việc cung cấp tiền gạo khẩn lương cho binh lính, tù phạm và phần nào đã tạo công ăn việc làm cho một lực lượng nghèo khó trong xã hội. Đây là một đóng góp tích cực của nhà Nguyễn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nước ta trong buổi đầu xây dựng quốc gia thống nhất, độc lập vào nửa đầu thế kỷ XIX.
    Tên tỉnh Khánh Hòa được xác lập vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng. Lúc bấy giờ Khánh Hòa có 2 phủ: Bình Hòa (gồm 2 huyện Tân Định và Quảng Phước) và Diên Khánh (gồm 3 huyện: Phước Điềm, Vĩnh Xương và Hoa Châu); 18 tổng (thuộc), 290 làng (trong đó có 15 làng đã mất sổ địa bạ), còn 275 làng thì có 132 xã, 130 thôn, 3 xóm, 3 ấp, 3 lạch, 1 phường, 1 sách. Trong tổng số diện tích đất đai đo được của toàn tỉnh là 16.680 mẫu, 0 sào, 9 thước, 8 tấc thì: Diện tích sử dụng là: 10.728 mẫu, 1 thước, 4 tấc, diện tích không sử dụng là 5.952 mẫu, 0 sào, 8 thước, 9 tấc.
    Trải qua triều Nguyễn, thời thuộc Pháp, tỉnh lỵ đóng tại thành Diên Khánh. Đến đầu năm 1945 chuyển về đóng tại thị xã Nha Trang (nay là thành phố Nha Trang) cho đến nay.
    Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 29/10/1975, hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa được hợp nhất thành một tỉnh mới là tỉnh Phú Khánh.
    Ngày 30/3/1977, thị xã Nha Trang được nâng cấp lên thành Thành phố Nha Trang.
    Ngày 28/12/1982, Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ 4 đã quyết định sát nhập huyện đảo Trường Sa vào tỉnh Phú Khánh.
    Ngày 30/6/1989, Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 5 đã quyết định chia tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh mới là Khánh Hòa và Phú Yên.

    Ngược dòng thời gian, Khánh Hòa là vùng đất có bề dày lịch sử - văn hóa.
    Nơi đây, ngày nay vẫn còn sừng sững khu tháp cổ thờ Bà mẹ xứ sở Ponagar_khu Tháp Bà (Nha Trang) nằm trên đỉnh hòn Cù Lao thuộc phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang là một quần thể kiến trúc tín ngưỡng thuộc loại lớn nhất trong hệ thống đền tháp Chămpa tại Việt Nam.

    Các Lễ Hội tại Khánh Hòa

    Khánh Hòa có nền văn hóa và lịch sử lâu đời. Cách đây hàng ngàn năm, con người đã sinh sống nơi đây. Trống đồng Nha Trang đã xuất hiện từ 2.000 năm trước. Việc tìm thấy những phiến lythophone (đàn đá) của bộ đàn đá cổ mà chủ nhân là người Raglai tại di chỉ Gốc Gạo, huyện Khánh Sơn đã chứng tỏ nơi đây đã sản xuất ra dụng cụ âm nhạc bằng đá từ thời nguyên thủy (khoảng 3.000 năm trước). Trên mảnh đất này có nhiều dân tộc sinh sống: Việt, Raglai, Hoa, Giẻ Triêng, Eđê, Tày, Nùng, Mường, Chăm… Nét đặc sắc của văn hóa dân gian ở Khánh Hòa là có nhiều lễ hội mang tính tôn giáo cổ.
    Lễ hội cá Voi:
    Lễ hội này gắn với truyền thuyết cá voi đã cứu vua Gia Long trên biển. Hằng năm, ở Khánh Hòa tổ chức lễ hội để tỏ lòng kính trong cá voi. Nghi thức cúng lễ như lễ tế đình. Trong lễ có hát bả trạo khi kết thúc và sau đó là hội hát chầu.
    Lễ hội Tháp Bà:
    Lễ hội được tổ chức vào ngày 20 – 24/3 âm lịch hằng năm tại khu di tích Tháp Bà Pô Nagar – thành phố Nha Trang. Đây là lễ hội lớn nhất trong khu vực để tưởng niệm nữ thần Mẹ Xứ Sở. Theo truyền thuyết, nữ thần Mẹ Xứ Sở là người có công tạo lập xứ sở, duy trì nòi giống, tìm ra cây lúa, dạy dân trồng trọt, …
    Nghi lễ có hai phần chính: Lễ Thay Y (ngày 20/3): tháo bỏ xiêm y, mũ miện cũ, tắm rửa tượng nữ thần bằng nước lá thơm và thay xiêm y, mũ miện mới; Lễ Cầu Cúng (ngày 23/3) được tiến hành rất tôn nghiêm, ca ngơi công đức nữ thần Mẹ Xứ Sở và cầu mong cho dân sống yên bình, ấm no và hạnh phúc.
    Sau phần lễ là phần hội. Phần hội chủ yếu là múa bóng – điệu múa có động tác uốn éo, ưỡn hông như các vũ nữ Chămpa có ở phù điêu tại khu di tích Tháp Bà, múa dân bông và hát bộ diễn các tích tuồng cổ trước ngôi đền chính. Trước đây, trong phần hội còn có các cuộc đua thuyền thúng dưới chân tháp.
    Lễ hội Tháp Bà không chỉ thu hút đông đảo bà con người Việt, người Chăm ở Nha Trang – Khánh Hòa mà còn nhiều người ở khắp nơi trong nước cũng nô nức kéo về dự hội.
    Lễ hội Am Chúa:
    Được tổ chức vào ngày 22/4 âm lịch để tưởng niệm nữ thần Thiên Y A Na được nhân dân trong vùng tôn sùng là Bà Chúa – bà mẹ của xứ sở tại Am Chúa, nơi thờ nữ thần Pô Nagar (Thiên Y A Na) trên sườn núi Đại An (Núi Chúa) thuộc xã Diên Điền, huyện Diên Khánh. Theo truyền thuyết, đây là nơi nữ thần giáng trần, sống thời thơ ấu với hai vợ chồng tiều phu già. Nơi đây có miếu thờ và tượng Bà.
    Lễ hội gồm 2 phần: phần lễ và phần hội. Sau lễ cầu cúng tôn nghiêm theo nghi thức cổ truyền là điệu múa dâng bông, vãn Bà, các điệu múa gắn với truyền thuyết và sự tích Thiên Y A Na.

    Thành phố Nha Trang

    Vào 4 thế kỷ trước, đây là lãnh địa của thị tộc Cau người Chiêm Thành, gọi là Kaut Hara. Kaut là thị tộc Cau, Hara là vùng đất. Vùng này là duyên hải, dưới chân dãy Trường Sơn. Trên dãy núi phía Tây trùng điệp có người bản thổ thiểu số là dân tộc Eđê và Jarai. Vùng duyên hải còn hoang vu, có sông đầm và nhiều lau sậy. Sông nước người Chiêm Thành gọi là Ya, người Jarai gọi giống như vậy nhưng đọc trại ra là Ia. Người Eđê gọi là Ea, biến âm mường tượng như “Ya”. Lau sậy gọi là “Tran”. Một dòng sông chảy từ phía núi cao, mặt Tây ngoằn ngoèo như lối đi loài rắn xuống, qua vùng lau lách của miền đất thấp, trổ ra biển mà ngày nay ta gọi là sông Cái, được cư dân bản địa hồi ấy (thị tộc Kaut) gọi là “sông có nhiều lau lách – Yatran”.
    Khi người Việt đến, gọi trại ra là Ya = Nha và tran = Trang. Tên Nha Trang hình thành trong cộng đồng người Việt để gọi con sông ấy, theo thổ ngữ Chămpa, đạo Bàlamôn. Cư dân Việt ngày càng đông ở bên bờ sông, trải qua 350 năm, hình thành từ thôn làng đến thị tứ, lấy tên sông Nha Trang làm đơn vị hành chính, cho tới ngày nay là thành phố biển Nha Trang.
    Theo các nhà địa lý xưa, đất Nha Trang là một đại cuộc “Tứ thủy triều quy tứ thú tụ”:
     “Tứ thủy triều quy” làØbốn mặt có nước bao bọc. Hai phía Nam và Bắc của con sông Nha Trang, phía chảy vào cửa Bé, phía chảy xuống cửa Lớn, ôm choàng lấy cuộc đất, mà phía Đông là biển khơi.
     “Tứ thú tụ” là mượn bốn hòn núi tượng hình bốn con thú tụØhọp lại để giữ gìn anh khí:

    1. Núi Cảnh Long ở Chụt là Con Rồng, vì núi chạy dài từ Cửa Bé ra Cầu Đá dọc theo mé biển và đến Cầu Đá núi lại chạy thẳng ra biển, nên gọi là “Thanh Long hý thủy” (Rồng xanh giỡn nước).
    2. Hòn Sinh Trung ở Hà Ra là Con Voi, vì núi đứng cạnh đầm Xương Huân nên gọi là “Bạch Tượng quyện hồ” (Voi trắng quậy hồ).
    3. Hòn Trại Thủy là Con Dơi, vì trước núi, tại đầu dơi có một bàu nước hình tròn như mặt trăng nên gọi là “Ngọc Bức hàm hoàn” (Dơi ngọc ngậm vòng).
    4. Hòn Hoa Sơn, tục gọi là Núi Một ở phía Tây Nha Trang là Con Rùa, vì trên núi có ngọn cổ tháp nên gọi là “Kim Quy đối tháp” (Rùa vàng đội tháp).

    Vùng “cát trắng, dương xanh” này 7km bờ biển toàn bãi tắm đẹp. Dải cát trắng phau uốn cong như vành nón, nghiêng nghiêng bên làn nước xanh thẫm dạt dào tiếng sóng. Trời Nha Trang hầu như xanh ngắt quanh năm, không khác gì bầu trời Địa Trung Hải. Vì thế, từ lâu, Nha Trang được ví như một Địa Trung Hải của Việt Nam – thành phố của nắng và gió. Quanh năm suốt tháng, bờ biển Nha Trang tràn ngập ánh nắng, nhiệt độ trung bình trên 23oC nhưng nhờ có gió Nam nên lúc nào trời cũng mát mẻ. Nhờ có dãy Trường Sơn và đèo Cả chắn ngang về phía Bắc, Nha Trang không bị bão tố đe dọa như các vùng du lịch khác. Lên đèo Cả, có thể nhìn ngắm được Vũng Rô, mũi Kê Gà, lên đèo Cổ Mả ngắm Vũng Hòn Đỏ và Vũng Trấn Nam. Chếch về hướng Đông – Nha Trang có một cụm đảo nằm liền nhau, lớn nhất là Hòn Tre, rộng gần 25km2. Từ đây, nhìn thẳng ra khơi còn một số đảo nhỏ nữa, chính những đảo này với ưu thế biển kính, sạch làm thành những bãi tắm yên tĩnh, đẹp tuyệt vời tạo nên huyền thoại về biển Nha Trang. Nha Trang có biển, có đảo, có núi, có đồng bằng, hợp thành một địa hình rất đẹp mắt và thuận lợi cho du lịch.
    Thành phố biển Nha Trang có những đặc điểm nổi bật sau:
    ØBờ biển với một loạt bãi tắm dài và lài, sạch đẹp nằm cạnh thành phố, ở về phía cực đông của đất nước. Vì thế, thành phố Nha Trang là thành phố biển ở miền cửa Đông của Việt Nam.
     Bãi biển Nha Trang thuộc loại sâu nhất nước ta. ĐáyØbiển gồ ghề, nơi ngàn năm tích tụ các tầng lớp san hô với nhiều cảnh sắc tuyệt vời, được mệnh danh là chốn thủy cung huyền bí, lộng lẫy. Một số đảo có đủ điều kiện tham quan, nghỉ dưỡng, vui chơi, thư giãn, ăn uống, che chắn tạo thành một vùng cảnh quan ngoạn mục, quyến rũ trữ tình, mặt nước êm đềm giống như một vùng hồ rộng, thích hợp với các hoạt động thanh niên, thể thao, đặc thù là bơi lặn thám hiểm đáy nước và săn bắn. Hải sản ở đây có nhiều loài ngon, lạ miệng.
     Thành phố Nha Trang là thủ phủ của tỉnh Khánh Hoà, được hình thành vớiØdáng vẻ đầm thắm, trữ tịnh. Nhiều con đường tuy nhỏ hẹp, vẫn còn râm mát cây xanh cổ thụ yên ả, giúp cho du khách dịu thần kinh, thư giản tốt và có cảm tưởng được yên bình thoải mái. Khu thương mại sầm uất nhưng không quá ồn ào, thương nhân lịch sự, khả ái. Toàn cảnh thành phố khởi sắc với những cơ sở tôn giáo lâu đời, những di tích văn hóa lịch sử gợi tò mò cho du khách, kèm theo những truyện tích hấp dẫn, thú vị của một địa phương vốn dung hợp hai nền văn hóa – tín ngưỡng Việt – Chăm từ khoảng 400 năm qua.
     Do những điều kiện thuận lợiØvề khí hậu, giao thông, Nha Trang có bề dày về ngành du lịch từ lâu và ngày càng phát triển. Những tiện nghi hiện đại được trang bị cung ứng những nhu cầu cao cấp cho du khách phương xa.

    Vùng biển Nha Trang nằm ở chặng giữaØcủa dải bờ biển dài 200km thuộc tỉnh Khánh Hoà. Khí hậu thích hợp cho nghỉ dưỡng, du ngoạn vừa chịu chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vùa mang tính chất của khí hậu đại dương nên tương đối ôn hoà.
     Thành phố biển NhaØTrang ở vào vị trí thuận lợi về mặt giao thông, trên tuyến đường dài xuyên Việt và lên núi rừng cao nguyên phía Tây.
    Thành phố biển này trải qua bao thời kỳ biến chuyển, đã sớm phát triển dù nhiều lúc bị khói lửa chiến tranh tàn phá. Vào thời Pháp, một số cơ sở nghiên cứu khoa học được thành lập do nơi này có nhiều điều kiện thuận lợi như viện nghiên cứu Hải dương học, chi nhánh viện Pasteur. Một số cơ sở tôn giáo được xây cất do nhiều điều kiện cảnh quan môi trường thanh tịnh, trong lành, đi đầu và sớm nhất là các chùa, am Phật giáo trong các sơn động, hay trên đồi núi cao, nay đã thành cổ tự.
    Ngày nay, Nha Trang đã là một thành phố du lịch, nhưng định hướng phát triển ngành này đã có từ lâu. Vì thế nên trong dân gian địa phương có câu hát:

    Nhắn ai viếng cảnh Nha Trang
    Muốn tìm dấu cũ thì sang Tháp Bà
    Muốn trông trời biển bao la
    Con thuyền nho nhỏ bơi ra Hòn Chồng
    Muốn xem cá lạ biển Đông
    Xuống Tòa Hải Học trong vùng Trường Tây,
    Muốn vui cùng nước cùng mây,
    Mây trùm suối Ngổ, nước đầy suối Tiên,
    Ba Hồ lắm thú thiên nhiên
    Qua Sơn là chốn thần tiên đi về.
    Lòng mong nương bóng bồ đề,
    Lên chùa Hải Đức gần kề Nha Trang.

    Thành Cổ Diên Khánh

    Từ TP. Nha Trang, đường 23-10 chạy ngược về hướng Tây chừng 10km, gặp đường thiên lý Bắc - Nam (Quốc lộ I) tại ngã ba Thành, rẽ về hướng Tây Bắc 500m, ta đến địa phận khóm Đông Môn, thị trấn Diên Khánh (trước gọi là thôn Khánh Thành, xã Diên Toàn và xưa kia là thôn Phú Mỹ và Trường Thạnh, Phủ Diên Ninh). Vùng đất xanh um cây trái này đã chứng kiến biết bao sự kiện lịch sử, lưu lại trong lòng người nhiều giai thoại khó quên. Nổi bật nhất là Thành cổ Diên Khánh.
    Theo các thư tịch cổ, năm 1653 chúa Nguyễn Phúc Tần sai Cai cơ Hùng Lục Hầu cầm quân, mang quân đi đánh Chiêm Thành, chiếm được đất Kau thara, lập nên dinh Thái Khang (gồm hai phủ Thái Khang và Diên Ninh). Nhận thấy đất này liền núi, cạnh sông gần biển, chuá Nguyễn cho thiết lập đồn luỹ để tăng cường phòng thủ. Năm 1690, dinh Thái Khang đổi tên là dinh Bình Khang.
    Năm 1742 lại được đôỉ thành phủ Diên Ninh – thành Diên Khánh
    Năm 1773, nghĩa quân Tây Sơn khởi binh đánh bại quân chúa Nguyễn, mở rộng căn cứ ở Bình Định, rồi tiến vào phía Nam, chiếm thành Diên Khánh dùng làm lỵ sở của dinh Bình Khang.
    Năm 1774, Nguyễn Ánh sai Tống Phúc Hiệp và Nguyễn Khoa Thuyên từ Gia Định theo hai đường thủy bộ tiến ra đánh Bình Khang, nghĩa quân Tây Sơn rút về giữ phần đất Phú Yên và Bình Định.
    Sau những tranh chấp liên tục giữa nghĩa quân Tây Sơn và quân của chúa Trịnh, chúa Nguyễn, tháng 5-1775 quân Trịnh tiến quân vào Quảng Nam trực tiếp uy hiếp nghĩa quân Tây Sơn ở phía Bắc. Thấy vậy, Nguyễn Ánh sai Tống Phúc Hiệp tiến ra đánh chiếm Phú Yên, kéo hơn 6 vạn quân ra Vũng Lấm - Xuân Đài, áp sát Quy Nhơn.
    Nghĩa quân Tây Sơn bị ép vào giữa hai gọng kìm và đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt. Khai thác mâu thuẫn giữa quân Trịnh - Nguyễn, với mưu lược và thiên tài quân sự của mình, Nguyễn Huệ đã đánh tan lực lượng quân Nguyễn do Tống Phúc Hiệp chỉ huy và liên tiếp tiêu diệt hai đạo quân Nguyễn Ánh tung ra phản công. Chiến thắng vang dội của Nguyễn Huệ không chỉ chiếm lại Phú Yên, Bình Khang, Diên Khánh và mở rộng vùng kiểm soát vào tận Bình Thuận mà còn tạo uy thế cho nghĩa quân, góp phần đẩy lùi quân Chúa Trịnh về Bắc. Phần đất Diên Khánh lại trở về với nghĩa quân Tây Sơn. Tháng 5-1781, Nguyễn Ánh lại cho ba đạo quân tiến ra hướng Bình Khang. Nghĩa quân Tây Sơn đã tung đội tượng binh hùng mạnh vào chiến đấu, quân Nguyễn tháo chạy tán loạn. Âm mưu chiếm lại Diên Khánh của Nguyễn Ánh bị đập tan.
    Năm 1792, Nguyễn Huệ mất, nhà Tây Sơn suy yếu dần.
    Năm 1792, nhà Tây Sơn phái tướng Trần Quang Diệu đem quân vào tiến công thành Diên Khánh. Quân phòng thành của chúa Nguyễn do Hoàng tử Cảnh chỉ huy bị vây hãm vô cùng khốn đốn. Thấy nguy cơ bị tiêu diệt, Hoàng tử Cảnh phải cầu viện Nguyễn Ánh cho quân từ Gia Định ra giải vây. Quân Tây Sơn do Trần Quang Diệu chỉ huy lại đem đại quân vào quyết hạ thành Diên Khánh. Lúc này Võ Tánh chỉ huy quân Nguyễn đã cho thủy quân ra chặn đánh ngay trên bến Trường Cá. Nhưng lực lượng thủy binh hùng mạnh và thiện chiến của Tây Sơn đã đánh bại quân Nguyễn. Trần Quang Diệu thúc quân vây hãm thành Diên Khánh, hai bên giằng co quyết liệt nên một lần nữa Nguyễn Ánh phải điều quân ra giải vây.
    Thời gian này nội bộ nhà Tây Sơn có nhiều rối ren. Thái sư Bùi Đắc Trung (cha đẻ của nữ tướng Bùi Thị Xuân và là cha vợ tướng Trần Quang Diệu) bị Vũ Văn Dũng giết. Trần Quang Diệu cho rút quân về Phú Xuân. Thành Diên Khánh vẫn nằm trong tay quân Nguyễn và trở thành lỵ sở của phong kiến nhà Nguyễn tại dinh Bình Khang. Sau đó dinh Bình Khang đổi ra Bình Hòa rồi Khánh Hòa.
    Vào năm Qúy Sửu (1793),sau khi đánh thắng nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã cho xây dựng Diên Khánh thành một căn cứ vững chắc một công trình mang tính phòng thủ từ xa vừa là trụ sở mang tính chính trị.Thành Diên Khánh chính thức xuất hiện từ đó .
    Thành Diên Khánh là một quần thể kiến trúc mang phong cách “vau ban” ,kiểu thành trì quân sự phổ biến ở Châu Âu vào thế kỉ VII-VIII.Thành nằm trên một vùng núi cao thuộc điạ phận khóm Đông Môn –thị trấn Diên Khánh chung quanh đắp đất với tổng diện tích khoảng 36.000m2 . Tường thành hình lục giác dài 2.693m, 6 cạnh không đều nhau.
    Trên mỗi cạnh, tường thành lại chia ra nhiều đoạn nhỏ, uốn lượn nên các góc thành không nhô hẳn ra mà vẫn bảo đảm quan sát được hai bên. Tường thành đắp đất cao chừng 3m50, mặt ngoài tường thành hơi dựng đứng. Mặt trong có độ thoải và được đắp thành hai bậc, tạo một đường vận chuyển thuận lợi ven thành.
    Tại các góc:
    - Về phía trong là một bãi đất khá rộng dùng làm nơi trú quân.
    - Trên mặt thành là pháo đài góc, đắp bằng đất, cao khoảng 2m (công sự đặt đại bác).
    - Bên ngoài góc được đắp hơi nhô ra có thể quan sát cả hai bên.
    Trên tường thành được trồng tre gai ken dày và các loại cây có gai khác vừa giữ độ bền cho tường thành vừa tăng chướng ngại cho đối phương như một hàng rào phòng ngự.
    Bên ngoài thành là hào nước sâu khoảng 3 - 4m, có đoạn sâu tới 5m. Bề rộng mặt hào cũng không đều nhau, tại các góc thành thường hẹp hơn (chừng 15m) và rộng nhất là trước các cổng thành, chừng 40m, lòng hào thường xuyên đầy nước từ sông Cái dẫn vào. Bên ngoài hào nước đắp một đường đi - gọi là đường ngoài hào để tuần tra, vận chuyển, nhân dân gọi là đường quan phòng.
    Đặc biệt, mặt Bắc thành giáp sông Cái thường bị xói mòn vào mùa mưa lụt do nước thượng nguồn tràn về, dâng cao, chảy xiết nên những người xây thành đã trồng nhiều cây gỗ sao - một loại cây có khả năng giữ đất chống xói mòn, sụt lở. Sao trồng thành hàng dày, nên nhân dân thường gọi là Hàng Sao. Sau đó, sao phát triển thành bãi chi chít và tới nay bị hủy hoại nhiều chẳng còn mấy nhưng tên Hàng Sao vẫn giữ nguyên.
    Tên Hàng Sao không phai mờ trong lòng dân, khắc sâu vào tình cảm của mỗi người, lưu truyền qua bao thế hệ vì nơi đây bọn quan quân phong kiến và bọn ngoại bang cướp nước đã giết hại những người dân yêu nước, những chiến sĩ trong phong trào Cần Vương và đồng bào, đồng chí hoạt động cách mạng từ khi Đảng ta ra đời đến ngày toàn thắng 1975.
    Khi xây dựng xong (1793) thành Diên Khánh có 6 cửa (cổng), 6 cạnh tường thành. Hiện nay chỉ còn lại 4 cửa: Đông, Tây, Tiền (Nam), Hậu (Bắc). Năm 1823, cửa Tả và cửa Hữu đã bị lấp, tới nay không còn dấu vết gì, tuy vậy ta có thể dự đoán hai cổng cũng nằm trên hai cạnh tường thành Tây Nam và Đông Nam.
    Cổng thành là một công trình kiến trúc khối vuông vững chãi, xây bằng gạch nung cỡ 4,5cm x 1,38cm gồm 2 tầng: tầng dưới gắn liền với tường thành, mặt ngoài rộng 16,8m, cao 4,5m, xây thẳng đứng, mặt trong xây tường gạch cao khoảng 2m, cách mặt ngoài 2,5m để lèn đất vào giữa. Cổng vào ra rộng 3,2m, xây gạch kiểu vòm cuốn hình quả chuông, đỉnh cao nhất khoảng 3,5m, cánh cổng bằng gỗ lim dày. Mặt tường trong xây cấp bậc bằng gạch, rộng hơn 2m làm lối đi lên tầng trên. Tầng trên cao ngang mặt thành, hình tứ giác mỗi chiều 1,5m, cao gần 2m, xây cổ lầu mái uốn cong, lợp ngói âm dương. Hai bên xây ban công cao gần 1m. Đây có thể là nơi canh gác, quan sát trong, ngoài thành. Toàn bộ cổng thành không trang trí, tên cổng ghi bằng chữ Hán. Nhìn tổng thể, cổng thành mang dáng vẽ kiến trúc Á Đông thời ấy. Hiện nay, chỉ hai cổng Đông và Tây còn trọn vẹn.
    Theo các tư liệu lưu trữ và dấu tích còn sót laị , bên trong vòng thành có nhiều công trình kiến trúc độc đáo: Qua khỏi cửa Tiền (cửa chính ở hướng Nam) dành riêng cho nhà vua, hoàng tộc và các đại thần là một cột cờ lớn. Sau cột cờ là hoàng cung - công trình có quy mô lớn nhất so với các công trình khác. Hoàng cung xây theo kiểu Điện Thái Hòa ở Huế, gồm ba gian rộng chừng 40m, xung quanh có hành lang rộng rãi, thoáng mát. Cột kèo được chạm trổ tinh tế, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Phần trên có cổ lầu, các mái và guột mái uốn cong thanh thoát. Trên nóc gắn hai con rồng chầu một quả cầu lớn.
    Trước hoàng cung là một sân gạch lớn - gọi là sân chầu - nơi các quan văn võ trong tỉnh đứng chầu khi có lễ lớn. Vị trí đứng được ghi vào cái bảng gỗ, đặt thành hai hàng hai bên, theo thứ tự từ cửu phẩm lên nhất phẩm. Giữa hoàng cung đặt một bệ gỗ lớn 3 tầng, mỗi tầng cao hơn 0,20m. Trên cùng đặt một ngai vàng.
    Bên trái hoàng cung là dinh Tuần vũ, sau đó là dinh Án sát, và sau nữa là dinh Lãnh binh, phía dưới là dinh quan Tham tri.
    Ngoài các dinh thự của các quan cai trị, trong thành còn có một dãy nhà kho đồ sộ chiếm hàng ngàn mét vuông và một nhà lao xây tường đá cao kiên cố. Tất cả các mái nhà đều lợp ngói âm dương.
    Từ khi xây xong cho đến cuối thơì pháp thuộc thành Diên Khánh là nơi đóng các cơ quan đầu não cuả cơ quan triều Nguyễn và là trung tâm kinh tế – văn hóa – chính trị cuả điạ phương. Trong phong trào Cần Vương (1885-1886) thành là tổng hành dinh của nghĩa quân vùng Khánh Hoà, pháp đã nhiều lần nã pháo vào thành .Khi chiếm được thực dân pháp cho san bằng hai mặt Bắc –Nam
    Thời kì kháng chiến chống pháp 1945-1954 thành Diên Khánh laị trở thành trụ sở bộ tư lệnh, quân dân Nha Trang- Diên Khánh đã phối hợp với nhau đã đánh thắng nhiều trận giòn giã trong cuộc chiến đấu 101 ngày đêm lịch sử từ cầu mới nha trang đến thành Diên Khánh. Từ 1975 đến nay thành Diên Khánh trở thành trụ sở cuả lãnh đạo huyện Diên Khánh .
    Nói đến thành Diên Khánh không thể không nhắc tới Văn Miếu Diên Khánh đựơc dựng lên để thờ đức ca Khổng Tử .Văn miếu được xây dựng và trùng tu năm 1846 trên một cao ráo nhất trong vùng , có diện tích gần 1500m2.. Văn Miếu có tấm bia đá khắc tên những người đỗ đạt cao trong các khoa thi.Những ông cử , ông tú thời đó như Nguyễn Khanh- Lê Thiện Kế- Lê Nghị – Lê Viết Tạo…ngoài việc lấy đạo làm người quân tử, nhiều ngươì đã đem lòng yêu nước,ủng hộ phong trào Cần Vương yêu nước đầu thế kỉ XX
    Với lịch sử hơn 200 năm thành Diên Khánh chứng kiế biết bao thăng trầm cuảxã hội thời kì phong kiến cũng như cuộc đấu trnh cuả nhân dân Khánh Hoàtrong hai cuộc kháng chiến trừơng . Thành cổ Diên Khánh và Văn Miến Diên Khánh đã trở thành một di tích lịch sử cấp quốc gia, một điểm du lịch cànhg thu hút nhiều khách tham quan
    Văn Miếu Diên Khánh xây dựng trên một khu đất cao với diện tích gần 1.500m2 thuộc địa phận thôn Phú Lộc, thị trấn Diên Khánh. Đây là một quần thể kiến trúc được xây để thờ đức Khổng Tử, người khai sáng đạo Nho ở Trung Quốc và vẫn được người đời tụng xưng là "Vạn thế sư biểu" (Người thầy của muôn đời).
    Theo bài chính văn được khắc bằng chữ Hán trong bia đá để tại bi đình hiện vẫn còn, cho biết về quá trình tạo lập Văn Miếu như sau: "Đền thờ được dựng lên để thờ tiên sư vậy. Châu tư từ trước đến nay chưa có. Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) tỉnh đường quan bố chính Ngô Văn Địch đại nhân, quan tri phủ Đặng Trọng Giám khởi xướng trước tiên, dựng đền thờ vọng khiến nơi nơi đều sùng thượng, thật vì nhân tâm mà phong tục vậy. Đến khi xây dựng lần thứ nhất chưa được tráng quan. Năm Tự Đức thứ 6 (1853), Thái thú châu ta hiện thăng Án sát, cẩn trai Đỗ Thúc Tỉnh đáo nhậm đất ta, cần cán, công liêm. Quan dân đều tín nhiệm, ái mộ, kiêm việc duyệt văn, lại hay về phong thủy, hội ý với quan giáo thọ hiện lãnh tri phủ Ninh Hòa Trương Đức Lân, triệu tập văn thân châu ta dời đỉnh thờ về dựng phía Đông phủ lỵ. Cẩn trai công lại làm tờ thông khuyên người trong hạt đóng góp tài lực, ra sức dựng xây. Trước mua đất tư tại nơi đây, nhóm họp thợ thuyền xây đắp nền mới, mái lợp ngói. Năm thứ 7 (1854) mùa Đông, đền thờ hoàn thành, có nơi tế tự, có nơi chiêm ngưỡng, văn vật nơi đây, pháp độ nơi đây. Nay sừng sững thành một nơi quan chiêm to lớn, đẹp đẽ, để lại về lâu dài, thật châu ta sĩ phu nhiều hân hạnh lắm. Từ nay về sau, phong khí văn học phát triển thông suốt khoa hoạn tốt đẹp. Đem thi hành công nghiệp không phải vì nơi này sao, bởi vậy phải khắc vào đá.
    Giặc Pháp công khai đem quân xâm lược Việt Nam. Bất chấp ý chí độc lập, tự chủ của nhân dân, coi rẻ máu xương của các văn thân, sĩ phu yêu nước, triều đình Huế ươn hèn lần lượt bán lục tỉnh Nam kỳ, cúi đầu cho Pháp vào Bắc kỳ và cuối cùng bán đứt Trung kỳ cho Pháp bằng hiệp ước Patơnốt năm 1884.
    Năm 1885, phái chủ chiến trong triều, đại diện cho lòng yêu nước, ý chí độc lập dân tộc do đại thần Tôn Thất Thuyết đứng đầu đã hộ giá vua Hàm Nghi ra Sơn Phòng Quảng Trị xuống chiếu Cần Vương chống Pháp.
    Tại Khánh Hòa, ông Trịnh Phong người làng Võ Cạnh, huyện Vĩnh Xương cùng hai ông Lê Nghị và Trần Đường đứng lên cùng các sĩ phu chiêu tập quân sĩ hưởng ứng hịch Cần Vương, phò vua cứu nước. Người trong tỉnh hưởng ứng rất đông, ai ai cũng muốn được góp phần mình vào nghĩa lớn.
    Nghĩa quân tôn Trịnh Phong là “Bình Tây Đại tướng” chỉ huy nghĩa quân và lãnh đạo phong trào Cần Vương Khánh Hòa. Nghĩa quân Khánh Hòa chia thành hai quân khu. Quân khu Bắc gồm Vạn Ninh và Ninh Hòa do tổng trấn Trần Đường chỉ huy, dưới đó còn có tham trấn Phạm Chánh, hiệp trấn Nguyễn Sum và nhiếp binh Phạm Long. Tổng hành dinh quân khu đặt tại núi Phổ Đà, cạnh đèo Dốc Thị. Quân khu Nam gồm Diên Khánh và Vĩnh Xương do Trịnh Phong trực tiếp chỉ huy, bên cạnh ông là tổng trấn Lê Nghị. Ông Nguyễn Khanh được giao chức #tán tương quân vụ# và hai người em là tham tán Nguyễn Dị và kiêm biện Nguyễn Lương chăm lo việc tuyển mộ quân sĩ, tiếp tế võ khí, lương thực và mọi việc hậu cần.
    Thành Diên Khánh trở thành Tổng hành dinh của nghĩa quân Cần Vương Khánh Hòa và quân khu Nam.
    Năm 1886, quân Pháp từ Nam kỳ kéo ra, đổ bộ lên Nha Trang. Trịnh Phong giao việc giữ thành Diên Khánh cho Lê Nghị, tự mình đốc xuất quân sĩ từ đồi Trại Thủy xông ra chiến đấu. Nghĩa quân chặn đánh quân Pháp nhiều trận trên cửa sông Cái, bến Trường Cá nhưng không cản được bước tiến của giặc. Trịnh Phong cho một đạo quân lùi về khu vực Đá Lố - Hòn Thơm xây phòng tuyến, tiếp tục cản giặc còn một đạo cho về tăng cường phòng thủ thành Diên Khánh.
    Quân Pháp tránh Đá Lố, tiến thẳng lên đánh vào thành. Dựa vào thành cao, hào sâu và lũy tre bao bọc, nghĩa quân gây nhiều thiệt hại cho địch. Tận dụng ưu thế sơn pháo 80 ly, nòng có rãnh xoắn, giặc Pháp nã liên tiếp vào thành, nhưng đạn đại bác không phá vỡ hết lũy tre dày và bờ thành vững chãi. Giặc bao vây chặt quanh thành. Ban ngày nghĩa quân từ mặt thành bắn xuống diệt địch, xác những tên Pháp liều lĩnh chồng chất trước các cổng thành. Ban đêm nghĩa quân tổ chức nhiều toán nhỏ, bí mật vượt thành ra ngoài đánh úp, quấy rối sau lưng, diệt nhiều giặc và gây hoang mang cho chúng.
    Cuộc chiến đấu giằng co mấy tháng liền. Đạn dược, lương thực khan hiếm nên cuộc sống của nghĩa quân hết sức khó khăn. Một số người dao động trốn ra hàng, cung khai với giặc tình hình trong thành. Nắm được những điểm yếu bên trong của nghĩa quân, giặc Pháp bắt đầu đào đất đắp ụ quanh thành, nhiều người không nghe theo, bị chúng đánh đập tàn nhẫn. Khi các ụ đất cao hơn mặt thành, quân Pháp cho đặt đại bác lên đó bắn thẳng vào những nơi hiểm yếu trong thành, kho thuốc súng, kho lương bốc cháy.
    Biết khó lòng giữ nổi, Trịnh Phong mật báo với Lê Nghị trong thành, hẹn nhau một kế hoạch giải vây. Từ bên ngoài, Trịnh Phong bí mật điều quân đánh sau lưng buộc giặc Pháp quay ra đối phó, nhân đó nghĩa quân từ bên trong đánh ra mở đường rút hết về quân khu Bắc, tiếp tục cuộc chiến đấu.
    Thành Diên Khánh rơi vào tay quân Pháp nhưng phong trào Cần Vương đánh Pháp ở Khánh Hòa vẫn còn tiếp diễn nhằm đánh đuổi quân Pháp xâm lược giải phóng quê hương.
    Sau sự kiện (9-3-1945) “Nhật đảo chính Pháp” nắm lấy quyền cai trị Đông Dương, tinh thần cách mạng trong nhân dân do Việt Minh lãnh đạo càng sôi sục.
    Sáng chủ nhật, 19-8-1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Khánh Hòa, trực tiếp là Đảng bộ Diên Khánh, các đội Thanh niên tự vệ dẫn đầu hàng ngàn quần chúng cách mạng trong Mặt trận Việt Minh tiến vào thành Diên Khánh, bắt tên tri phủ Phạm Bào, thu ấn tín, xóa bỏ chính quyền tay sai, lập ra chính quyền cách mạng, phối hợp với nhân dân toàn tỉnh vùng lên khởi nghĩa, lật nhào ách thống trị của lũ bù nhìn thân Nhật.
    Cờ đỏ sao vàng xuất hiện rực rỡ trên thành Diên Khánh. Lần đầu tiên trong lịch sử đất nước, thành Diên Khánh trở thành trụ sở chính quyền cách mạng, chính quyền của nhân dân.
    Hơn một tháng sau, ngày 23-9-1945, núp bóng quân Anh, được bọn Nhật tiếp tay, giặc Pháp quay lại xâm lược nước ta. Cuộc kháng chiến của nhân dân Nam bộ bùng nổ. Cả nước dồn sức người, sức của cho Nam bộ kháng chiến. Diên Khánh nằm trên đường thiên lý Bắc - Nam ngày đêm nườm nượp những đoàn xe vào trận.
    Thực hiện âm mưu cắt đứt đường vận chuyển chi viện cho Nam bộ, giặc Pháp đổ bộ vào Nha Trang. Ngày 23-10-1945 nhân dân Nha Trang - Khánh Hòa đứng lên đồng loạt tiến công bao vây quân Pháp trong thành phố, giữ vững tuyến giao thông huyết mạch Bắc Nam trên hai tuyến đường sắt và Quốc lộ I. Mặt trận Nha Trang hình thành. Các cơ quan lãnh đạo Việt Minh tỉnh, Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh, Sở Chỉ huy Mặt trận Nha Trang và nhiều cơ sở quân y, quân giới, cơ khí, vận tải rời về thành Diên Khánh.
    Suốt ba tháng bao vây giam chân giặc Pháp tại Nha Trang, Thành Diên Khánh thực sự là tổng hành dinh của cuộc kháng chiến chống Pháp tại Khánh Hòa. Nhân dân Diên Khánh kề vai sát cánh với nhân dân trong tỉnh làm tròn nhiệm vụ hậu phương, trực tiếp đối với Mặt trận Nha Trang. Đêm mồng 1-2-1946, nhằm đêm giao thừa, Tết Nguyên đán Bính Tuất, đơn vị giải phóng quân cuối cùng rút khỏi thành Diên Khánh sau buổi liên hoan văn nghệ quân dân, đánh dấu thắng lợi của 101 ngày đêm của Mặt trận Nha Trang. Từ đó, thành Diên Khánh bị quân xâm lược Pháp chiếm đóng.
    Pháp thua rút về nước nhưng Diên Khánh vẫn nằm trong tay bè lũ tay sai bán nước. Đế quốc Mỹ thay chân Pháp xâm lược miền Nam Việt Nam, tiếp tục giày xéo quê hương Diên Khánh.
    Hai mươi chín năm dưới ách Mỹ - Ngụy, nhân dân Diên Khánh vẫn nhớ những ngày được sống trong độc lập tự do, vẫn một lòng hướng về cách mạng. Nhiều gia đình cơ sở vẫn bí mật nuôi giấu cán bộ hoạt động, tạo điều kiện cho lực lượng tự vệ mật, bộ đội đặc công chiến đấu.
    Tháng 4-1975, kết hợp với lực lượng chủ lực, lực lượng vũ trang, nhân dân Diên Khánh đã nổi dậy giải phóng quê hương. Thành Diên Khánh đón nhận cơ quan lãnh đạo của Đảng và chính quyền huyện trở về.
    Như vậy, Văn Miếu Diên Khánh được xây dựng với quy mô lớn từ năm 1853 và đến năm sau thì cơ bản hoàn thành. Tuy vậy, trải qua nhiều thăng trầm trong cơn binh lửa, nhất là giai đoạn chống thực dân Pháp 1945 - 1954, đến nay đã trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa.
    Văn Miếu Diên Khánh được xây trong khuôn viên khá vuông vức, phía trước có nhà bi đình, chính giữa có tòa tiền đường và chánh đường cao rộng, làm bằng gỗ xây tường gạch bao, các cột kèo được chạm trổ sơn son, thếp vàng đẹp đẽ và uy nghiêm. Ngăn cách giữa bi đình và tòa chánh đường là một sân gạch khá rộng, hai bên có hai dãy nhà tả vu và hữu vu. Bên dãy tả vu còn có nhà quan cư được bày trí đẹp, thường dùng làm chỗ tạm trú cho quan khách sử dụng trong những dịp tế lễ.
    Phía tây Văn Miếu có một ngôi miếu nhỏ gọi là Khải Miếu thờ Khải Thánh Công Lương Ngột và bà Nhan Thị Trưng Tại là đức thân phụ và thân mẫu của đức Khổng Tử. Thường khi vào cuộc tế lễ, người ta thường tế đầu tiên ở ngôi Khải Miếu để tôn vinh người đã sinh ra Đức Ngài.
    Trước năm 1945, lệ cúng hàng năm ở Văn Miếu thường được tổ chức vào ngày "Đán" và ngày "Húy", tức ngày sinh và ngày mất của Khổng Tử do Nhà nước đứng ra tổ chức, ngân sách do tỉnh đài thọ. Buổi tế được tổ chức rất trang trọng, đúng với những nghi lễ của triều đình đã quy định. Chính vì vậy, trong lễ cúng thường có mặt đông đảo quan lại, thân hào nhân sĩ trí thức trong phủ tham gia. Ngày nay, việc tế tự vẫn được duy trì vào những ngày trên và do Ban tế lễ Văn Miếu chuẩn bị chu đáo, phù hợp với hoàn cảnh hiện tại.
    Hiện trong Văn Miếu vẫn còn một tấm bia khắc tên những người trong phủ đã từng học hành và đỗ đạt cao trong các khoa thi thời phong kiến. Đặc biệt, trong đó có các ông Nguyễn Khanh, Lê Thiện Kế, Lê Nghị, Lê Viết Tạo, Nguyễn Lương sau này đều trở thành những danh tướng trong phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Khánh Hòa do Trịnh Phong lãnh đạo (1885 - 1886). Ngay sau khi nhân dân tỉnh nhà giành được chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945, Văn Miếu Diên Khánh là nơi luyện tập quân sự của thanh niên trong thôn và là địa điểm tập kết lương thực, thực phẩm để cung cấp cho chiến sĩ ta chiến đấu ở mặt trận Nha Trang. Trong kháng chiến chống Mỹ, đây là địa điểm liên lạc, nơi dừng chân của các chiến sĩ cách mạng trong những lần xuống đồng bằng. Với những giá trị tiêu biểu về nhiều mặt, ngày 15-10-1998, di tích lịch sử văn hóa Văn Miếu Diên Khánh đã được Nhà nước ra quyết định công nhận là di tích quốc gia. Đặc biệt nhất là cổng thành hầu như còn nguyên vẹn. So với những thành quách xây dựng cùng thời, trừ thành Huế, thành Diên Khánh vẫn giữ được hình dáng từ gần 200 năm nay.

    Tháp Pônagar
    Đền Thờ Nữ Thần Mẹ

    Tọa lạc trên một quả đồi khá cao tại làng Cù Lao, tổng Xương Hà, huyện Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hòa xưa (nay thuộc thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa), là khu di tích quan trọng của người Chăm – Tháp Pô Nagar. Khi người Chăm rút khỏi vùng Khauthara (tức vùng Khánh Hòa), ngôi đền thờ chính này của người Chăm được chuyển giao cho người Việt và trở thành tháp Bà hay tháp Thiên Yana Thánh Mẫu. Cho đến nay, người Việt quanh vùng, cứ đến ngày rằm, mồng một hoặc khi có chuyện riêng từ gì đo, đều lên tháp Bà thắp hương, cầu xin Bà phù hộ độ trì. Tại chân núi Tháp Bà, bên bờ sông Nha Trang (sông Cái), có hẳn một xóm của những người làm nghề cung văn, nhạc công, múa bóng chuyên nghiệp thường xuyên phục vụ các nghi lễ dân gian tại Tháp Bà. Xóm đó được gọi là xóm Bóng “Ai về xóm Bóng Hà Ra / Hỏi thăm điệu hát dâng Bà còn không?”.
    Đối với người Chăm, tháp PôNagar là đền thờ vị nữ thần đáng kính nhất và quan trọng nhất của dân tộc mình: thần mẹ xứ sở – Pô Inư Nagar (Pô: Ngài, Bà; Inư: Mẹ; Nagar: xứ sở, đất nước, đô thị). Vì vậy, sau khi rút khỏi vùng Nha Trang, người Chăm đem nữ thần của mình về thờ tại một ngôi đền nhỏ ở làng Hữu Đức, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Hiện nay, cứ vào ngày thứ năm và thứ sáu của tuần đầu tháng giêng theo lịch Chăm hằng năm, người Chăm lại làm lễ Rija – Nugar để cầu xin thần Mẹ xứ sở giúp những điều kiện tốt lành, mưa thuận gió hòa. Nữ thần PôNagar là nữ thần bản địa có vai trò rất quan trọng đối với đời sống của người Chăm.
    PôNagar không chỉ đầy huyền tích mà còn là một trong những tổng thể kiến trúc vào loại lớn nhất của vương quốc Chămpa xưa. Toàn bộ khu đền Pô Nagar nằm trên đồi Cù Lao, hướng mặt về phía biển, hướng về phía Đông, chếch Bắc 7 độ và có cả 3 tầng kiến trúc. Ơ tầng trên cùng là hai dãy tháp, xung quanh có tường bao (hiện chỉ còn dấu tích tường xưa ở mé tây và nam). Dãy tháp thứ nhất, từ Bắc xuống Nam, gồm ngôi tháp chính (theo truyền thuyết là tháp thờ thái tử Bắc Hải), ngôi miếu nhỏ (nơi thờ ông bà trồng dưa). Trên dãy tháp thứ hai phía sau, hiện chỉ còn một ngôi tháp mái dài hình cong như yên ngựa (mà truyền thuyết cho là nơi thờ hai người con của Thiên Yana). Thế nhưng có thể nhận thấy ở dãy tháp thứ hai dấu tích nền móng của hai ngôi tháp nữa. Đối diện với tháp thờ chính, hiện còn dấu vết của những tam cấp bằng gạch rất dốc nối liền tầng kiến trúc phía dưới (tầng thứ hai từ dưới lên) với tầng kiến trúc trên cùng. Trên mặt tầng thứ hai hiện còn hai dãy cột chính gồm 10 cột, mỗi dãy 5 cột, bằng gạch hình bát giác, rất lớn và cao, đường kính hơn 1m và cao khoảng 3m. Bao quanh 10 cột lớn, hiện còn hai hàng gồm 14 cột nhỏ và thấp hơn cũng bằng gạch và có hình bát giác như các cột lớn. Toàn bộ hệ thống cột đó dựng trên một nền gạch chữ nhật cao hơn 1m. Trên cơ sở những chiếc cột và tầng nền còn lại, các nhà nghiên cứu đã giải thiết rằng xưa kia, nơi đây là một toà nhà dài lớn, mái ngói, dùng làm nơi để mọi người chuẩn bị đồ lễ trước khi lên các tháp thờ ở phía trên. Ngôi nhà cột dài có cầu thang phía đông dẫn xuống tầng cuối cùng, nơi có ngôi tháp cổng. Thế nhưng, hiện nay, ngôi tháp cổng không còn nữa.
    Tháp thờ chính là một kiến trúc tháp bốn tầng kiểu truyền thống của Chămpa khá lớn (cao chừng 25m). Các mặt tường phía ngoài của thân tháp (trừ mặt đông là nơi có cửa ra vào) được trang trí bằng hệ thống các cột ốp, cửa giả và các đường gờ nằm giữa các cột ốp. Mỗi mặt tường có năm cột ốp cao thon thả và trang nhã. Tính thanh thoát của các cột ốp còn được nhấn bởi một đường rãnh dọc chạy giữa suốt cả thân cột. Thân các cột ốp đều có một hình áp có hai thân và hai trán hình ngọn lửa. Khoảng tường nằm giữa các cột ốp cũng được chạm khắc thành một đường rãnh lõm hình chữ nhật đứng để làm nổi lên đường gờ dài ở chính giữa. Cũng như các hình áp chân cột, các cửa giả nằm chính giữa các mặt tường là một cấu trúc lớn có hai thân nhô ra và vút cao như hình mũi giáo. Trên đỉnh của phần thân, nằm ngay trên đầu các cột ốp ở góc, là bốn hình tháp nhỏ; còn ở khoảng trống giữa các tháp góc đó nhấp nhô những hình trang trí giống các hình áp chân cột ốp. Ba tầng phía trên là những khối kiến trúc mô phỏng phần thân của tháp, lại có bố cục như hình lăng trụ tám mặt. Một torng những nét đặc trưng nhất của ngôi tháp thờ chính là sự có mặt của những con vật bằng đá trên mái: những con chim lớn trên mái bằng của thân chính, những con dê trên mái tầng một, những con hạc đang dang cánh trên mái tầng hai, những con voi đang bước, đầu quay lại ở tầng ba. Cửa ra vào phía đông là cả một cấu trúc hình tháp gắn vào mặt tường. Tháp cửa có hình dáng và cấu trúc hệt như tháp chính, nhưng chỉ có ba tầng, không có hình người đứng. Cửa ra vào tách khỏi tháp cửa thành một tiền sảnh. Ơ lối vào có hai trục cửa bằng đá hình chữ nhật, khắc đầy bia ký, đỡ một mi cửa trơn. Bên trên là một trán cửa bằng gạch, hai thân, ôm lấy một phiến đá hình cung nhọn có hình nữ thần Durga múa giữa hai nhạc công. Đáng tiếc là mặt tiền của tháp chính đã hư hại nhiều và tuy được tu sửa, nhưng lại sửa không đúng. Do đó, muốn thấy rõ hình dáng và vẻ đẹp thực của ngôi tháp, phải đứng nhìn từ phía sau của tháp.
    Nằm ngay bên cạnh, về phía Nam của tháp chính là ngôi tháp lớn thứ hai, cao chừng 12m, trong toàn bộ tổng thể kiến trúc ở PôNagar. Mặc dầu phần thân tháp mang sắc thái của một tháp Chăm truyền thống – nghĩa là mặt tường bên ngoài được trang trí bằng các cột ốp – nhưng toàn bộ phần đỉnh lại không phải là các tầng thu nhỏ dần về phía chóp mà là một khối hình tháp hình cung nhọn được tạo bởi bốn mặt cong từ bốn mép tường khép vào với nhau. Điều đặc biệt nữa ở ngôi tháp lớn thứ hai tại PôNagar là khối chóp tháp bằng đá hình linga nhô lên từ một khối bệ hình củ hành bốn múi được trang trí bằng bốn hình đầu bò thần Namđin ở bốn góc. Cũng như ngôi tháp chính, cửa ra vào phía đông của tháp nhô hẳn ra thành một cấu trúc gồm gian tiểu sảnh ở phía trong và cửa ở phía ngoài, nhưng trán cửa là khối đá trơn chứ không có hình chạm khắc như của tháp chính.
    Nằm trên dãy thứ nhất, ở phía nam của ngôi tháp hình chóp nhọn vừa mô tả trên đây, là một kiến trúc vừa nhỏ, vừa đặc biệt. Thân dưới của kiến trúc hình chữ nhật gồm ba mặt tường và cửa vào phía đông như mọi tháp Chăm khác, nhưng không có các tháp nhỏ ở bốn góc mái. Tầng thứ nhất có cấu trúc và hình dáng đơn giản như phần thân của kiến trúc. Phía trên tầng một, không còn cấu trúc theo kiểu tầng nữa, mà là một bệ mái cong hình yên ngựa phô ra hai đầu hồi hai hình cung nhọn có hai thân. Bên trong tháp chứa một linga không có bệ làm tượng thờ.
    Ngôi tháp thứ tư và là ngôi tháp còn nguyên vẹn nhất của PôNagar nằm về phía tây – bắc trên dãy kiến trúc thứ hai. Xét về loại hình thì toà kiến trúc này là một tháp tầng, nhưng số tầng chỉ có một và đỉnh nhọn được thay bằng bộ mái dài hình yên ngựa. Toàn bộ phần thân hình chữ nhật kéo dài theo hướng Bắc – Nam của tháp có cấu trúc và hình dáng như các tháp Chăm truyền thống khác, nhưng trong các ô cửa giả lại nổi lên các hình chạm khắc đặc biệt bằng gạch: hình chim thần Garuda ở mặt nam, hình con sư tử trong tư thế tấn công với các móng vuốt của hai chân trước co lại sát thân ở mặt bắc, một người cầm lao ở tay phải, cầm các góc, trên đầu các cột ốp ở góc tường nhô ra những hình trang trí thể hiện các tiên nữ Apsara như ở tháp chính (hình phía ngoài bằng đá, hình phía trong bằng đất nung). Các cột ốp góc tường đội bốn trang trí góc có hình như quả chuông bằng gạch, còn phần diềm mái nằm giữa các quả chuông gạch được trang trí bằng các hình áp lô nhô như răng cưa. Tầng trên là một khối kiến trúc mô phỏng phần thân và cũng chạy dài theo hướng Bắc – Nam. Mỗi mặt tường đều được trang trí bằng các cột ốp (mặt dài 3 cột, mặt ngắn 2 cột) và cửa giả ở chính giữa mỗi mặt. Toàn bộ đường diềm (phía trên) nhô ra, khá mạnh của tầng một có chức năng làm bệ cho bộ mái gạch hình yên ngựa phía trên. Hai mặt hồi hình vòm cung nhọn uốn vào phía trong phô ra hai trán nhà có chạm khách hình một vị thần nào đó đang ngồi dưới tán các đầu rắn Naga; còn hai chân mái phía đông và tây được tô điểm bằng các hình vòm nhấp nhô – mỗi mặt 5 hình. Cửa tách ra khỏi mặt đông của thân thành một tiền sảnh ngắn có mái hình cung nhọn và một trán cửa kép. Chính phía dước nền của tháp Tây – Bắc, vào những năm đầu thế kỷ 20, trong khi tu sửa, người Pháp đã tìm thấy kho báu thiêng gồm những đồ cúng tiến bằng vàng bạc.
    Việc thờ phụng nữ thần Yan PôNagar đã có từ lâu và tồn tại liên tục trong nhiều thế kỷ ở tháp PôNagar. Điều lý thú và rất có ý nghĩa là: nếu bia ký được ghi bằng chữ Phạn thì nữ thần mang tên nữ thần của An Độ Bhagavati (Sakti hay vợ của thần Siva), còn bia ký ghi bằng chữ Chăm cổ thì nữ thần được gọi là Yan Pô Nagar (Thần mẹ xứ sở). Rõ ràng, cái vỏ hay hình thức của An Độ giáo đã trùm lên hay đã nhập vào việc phụng thờ Nữ thần mẹ Yan Pô Nagar. Điều này cũng được phản ánh rõ qua hình ảnh bức tượng đá nữ thần hiện còn được thờ trong ngôi tháp chính ở Pô Nagar.

    Bức tượng thờ bằng đá khá lớn, cao 2.6m, được tạc bằng đá hoa cương nguyên khối màu đen, ngồi trên bệ đá uy nghiêm hình đài sen thể hiện một nữ thần ngồi xếp bằng trước một tấm tựa hình chữ U ngược được chạm cả hai mặt: mặt trước là một vòng cung dạng Kala – Makara – Tôrana (đầu Kala nhìn thẳng ở chính giữa, hai đầu Makara nhìn nghiêng ở hai bên), mặt sau là kiểu trang trí hình lá nhọn to uốn ngược đầu lên (mỗi bên hai lá) hướng về hình lá đề to ở chính giữa. Nữ thần chỉ mặc chiếc váy ở phía dưới, còn toàn bộ phần trên để trần phô ra cặp vú to căng tròn, những nếp nhăn lớn ở bụng chứng tỏ đã trải qua nhiều lần sinh nở, bên dưới mặt một chiếc xà rông. Nữ thần có mười tay: hai bàn tay dưới đặt lên hai đầu gối và không cầm gì cả, bàn tay phải để ngửa, còn bàn tay trái cũng mở nhưng dựng đứng và hướng về phía trước. Các bàn tay khác đầu cầm các vật phụ thuộc: đoản kiếm, mũi tên, trùy và lao ở bên phải; chuông nhỏ, đĩa, cung và tù và ở bên trái. Đáng tiếc là đầu tượng đã mất, cái đầu hiện nay là đầu được gắn vào về sau. Tất cả các dấu hiệu, đặc biệt là các vật cầm tay cho biết tượng thờ chính ở Pô Nagar là tượng Mahisamardini – Nữ thần diệt trừ quỷ ác Drga – Sakti, hay vợ của thần Siva. Dựa trên các yếu tố phong cách, các nhà nghiên cứu xác định tượng thờ ở Pô Nagar có niên đại thế kỷ 10. Do đó, có thể cho rằng pho tượng hiện nay đang được thờ ở tháp chính Pô Nagar là pho tượng bằng đá do vua Jaya Indravaman dựng lên vào năm 965 mà bia ký tại tháp đã nhắc tới. Hình tượng nữ thần cũng được thể hiện trên hình khắc trán cửa của ngôi tháp chính. Toàn bộ ơ5c đặt trên một Yoni lớn, gồm nhiều lớp đá chồng khích lên nhau, được đẽo gọt từ nguyên khối.
    Hình khắc đá trang trí trán cửa thể hiện một nữ thần bốn tay đang đứng trên lưng một con trâu con. Nữ thần cầm trong ba tay những vật phụ thuộc sau: tầm sét, bông sen, trùy, còn một tay dưới đưa lên ngực làm ấnquyết. Có thể dễ dàng xác định nữ thần trên trán cửa ở Pô Nagar cũng chính là Mahisamardini. Thế nhưng, tác phẩm điêu khắc này lại có niên đại muộn hơn – giữa thế kỷ 11.
    Ngoài tượng và hình khắc thể hiện nữ thần – đối tượng thờ phụng chính – ở khu vực tháp Pô Nagar còn có những tác phẩm điêu khắc bằng đá và bằng gỗ khác như: hai con voi gỗ, các linga nhỏ- vật thờ trong các tháp phụ, tượng một phụ nữ quỳ, tượng Visnu và nhiều mảnh điêu khắc đá khác. Trong số đó, có những tác phẩm điêu khắc như tượng Visnu, tượng người phụ nữ có niên đại thế kỷ 8 – 9 thời Hoàn Vương.
    Mặc dầu không còn lại những dấu tích vật chất, nhưng các truyền thuyết, các địa danh mang tính thánh tích lại cho ta biết tục thờ nữ thần mẹ Yan Pô Nagar mà về sau, người Việt gọi là Thiên Y Thánh Mẫu có mặt gần như trên khắp lãnh thổ Chămpa xưa. Theo bài hát ca ngợi tại lễ cúng ở lăng Pô Inư Nagar thì “Thần có tên là Pô Yan Inư Nugar Taha, nữ thần vĩ đại của xứ sở. Thần còn có tên nữa là Muk Juk (Bà đen), là Patao Kumây (Chúa tể của phụ nữ). Thần sinh ra từ mây và bọt biển. Thần có 97 người chồng, mà nổi tiếng nhất là Pô Yan Amư (Ngài thần Cha). Thần sinh ra 38 cô con gái, trong đó có những cô con gái nổi tiếng như: Pô Nưga, Jạrạ, Pô Bia Tikuk, Pô Jạrạ Nai Anéthơ (Bà Jạrạ Nàng Nhỏ), Pô Sah Anethơ và Pô Nưgar Gahơlâu (Bà xứ Trầm)”.
    Về sau, từ thế kỷ 10, khi Hồi giáo du nhập vào đất Chămpa, huyền thoại về nữ thần mẹ xứ sở Yan Pô Inư Nagar lại khoác lên bộ áo mới – bộ áo đạo Hồi, nhưng cốt lõi xưa vẫn không mất đi. Trong các sách cổ ít nhiều chịu ảnh hưởng của Hồi giáo thì nữ thần Pô Nagar của người Chăm, dù có bị gắn với đạo Hồi, vẫn hiện ra như trong những câu chuyện dân gian. Khi giải thích sự hình thành của thế giới, các bộ sách cổ đều nói tới bốn thời kỳ sáng thế lớn: Lần đầu tiên, thế giới do Đại nữ thần Atmưhekat tạo ra vũ trụ từ hư không với 12 mặt trời và 12 mặt trăng. Ong thần phò tá Đại nữ thần là Mơmaisahaicadông đã dùng tên bắn vỡ hết mặt trời, mặt trăng để cho khí hậu bớt nóng. Thế là xảy ra tận thế lần đầu. Lần thứ hai, Đại nữ thần sai vị thần thân tín của mình là Ong Cú đi tạo thiên lập địa. Nhưng khai thấy trời đất quá tối tăm, con người còn mông muội, ông Cú đành trở về. Lần thứ ba, Đại nữ thần lại sai ông Cú đi. Lần này, đi cùng ông Cú có thần Aulahú (Alla), thần Mưhamach (Môhamét) và nhiều thần Hồi giáo khác. Sau khi làm cho trời đất sáng sủa, vạn vật sinh sôi, ông Cú về trời nghỉ ngơi. Lần thứ tư, ông Cú sai con gái đầu của mình là Pô Inư Nagar xuống trần. Nữ thần Pô Inư Nagar lập ra nước Chămpa và tất cả các nước khác, sinh ra các vị giáo chủ (Nabi) cho người Chăm, sinh ra các vị vua đầu tiên của nước Chămpa… Tất cả các tinh tú, mặt trời, mặt trăng trên vòm trời là hình tượng cụ thể của Bà. Bà là mẹ sáng tạo ra muôn vật, sáng tạo ra văn hóa…
    Đến thế kỷ 17, vùng đất Chămpa, trong khu vực tỉnh Khánh Hòa hiện nay, trở thành đất của người Việt. Từ thời điểm đó đến nay, khu tháp Pô Nagar trên đỉnh Cù Lao ở vùng Khauthara xưa trở thành đền thờ của người Việt dưới tên gọi: Tháp Bà hay Tháp Thiên Y Thánh Mẫu. Để Việt hóa ngôi đền của người Chăm, những người chủ mới, dựa trên những huyền thoại và truyền thuyết xưa của người Chăm, đã sáng tạo ra một huyền thoại mới cho Tháp Bà. Năm 1856, theo lời kể của dân địa phương (người Việt) quanh vùng Tháp Bà, Phan Thanh Giản đã ghi lại truyền thuyết về ngôi tháp. Sau này, các quan địa phương đã khắc truyền thuyết đó lên bia đá, rồi dựng ở Tháp Bà. Nội dung truyền thuyết Tháp cổ Thiên Y như sau:
    Tục truyền Thiên Y là một nàng tiên, nguyên sơ giáng xuống núi Đại Điền. Thuở ấy, có hai vợ chồng ông già ở trên núi, trồng dưa để sinh sống. Khi dưa chín, kẻ lạ thường đến hái. Ong già để ý rình. Một đêm, ông thấy một cô gái độ 13, 14 tuổi theo bóng cây, lần đến, lấy dưa vần chơi dưới bóng trăng. Ong đón cô gái, gạn hỏi thì ra chính cô gái này đã hái trộm dưa từ lâu. Nhưng thấy cô gái còn nhỏ, yếu ớt, ông bèn đem về nuôi. Cô gái, rõ ra là một người trời sinh, nên được vợ chồng ông rất yêu thương. Một ngày, mưa lụt bỗng tràn đến. Cô gái sực nhớ phong cảnh cũn ở Tam Thần Sơn, liền kiếm cây hoa, chất mảnh đá làm núi giả để chơi. Ong già thấy cô gái chơi như vậy nên nổi giận, rầy la. Trong lúc bị rầy la, thì cô gái thấy một cây già nam trôi theo nước lụt đến. Cô bèn biến hình, nhập vào thân cây ấy. Rồi cây ấy trôi theo nước lụt, dạt vào bờ biển phương Bắc. Người phương ấy thấy cây thơm lạ, rủ nhau khuân về nha, nhưng nặng quá không nhấc lên nổi. Một vị thái tử nghe chuyện bèn đến bờ biển xem, rồi xuống vớt cây, nâng lên tay, đem về để nơi điện các.
    Thái tử khi ấy vừa 20 tuổi, chưa vợ. Chàng thường ngày vỗ về cây già nam kia, lòng bồi hồi vơ vẩn. Có khi chàng chợt thấy dưới bóng trăng lờ mờ dường như có người thoảng đi đến, thái tử lấy làm lạ. Một đêm nọ, sau khi mọi người đều yên giấc, chàng tới chỗ từng thấy bóng người thì thấy một cô gái đẹp. Bị giữ lại gặng hỏi, cô gái đành phải nói rõ tông tích. Thái tử nửa mừng, nửa sợ, bèn tâu lên vua cha. Vua cha cho gieo quẻ và được quẻ tốt, bèn cho thái tử và cô gái kết hôn. Vợ chồng thái tử ăn ở với nhau được ít lâu thì sinh được một trai, đặt tên là Trí, và một gái, đặt tên là Quý.
    Một hôm, nhớ chốn cũ, nàng bèn dắt hai con nhập vào cây già nam, vượt biển về phương Nam, thẳng đến cửa Cù Huân, rồi tìm về chốn cũ tại triền núi Đại Điền. Khi ấy, vợ chồng người trồng dưa đã mất. Nàng bèn lập đền để phụng tự.
    Thấy dân vùng vợ chồng người trồng dưa từng sống khờ dại, thật thà, không biết việc làm ăn và phòng hoạn nạn, nàng bèn dạy bảo. Bà lại cho đục đá ở núi Cù Lao làm tượng truyền thần, rồi giữa ban ngày, bà phi thăng đi mất.
    Sau khi vợ về nam, thái tử không biết vợ đi đâu, bèn sai người đáp thuyền đi tìm. Khi đến Cù Huân, những kẻ tùy tùng theo lệnh thái tử đi tìm vợ hách dịch, hà hiếp dân sở tại và không kính trọng thần tượng. Bất thình lình, một trận cuồng phong nổi lên. Chiếc thuyền chở bọn người xấu kia bị lập úp xuống, hóa thành một cụm đá to.
    Từ đấy về sau, Bà hiển linh. Bà có khi cỡi voi trắng đi dạo trên đỉnh núi. Khi Bà xuất hiện, trong núi có ba tiếng nổ vang như súng lớn. Có khi Bà hiện thành dải lụa bay giữa không trung. Có khi Bà cỡi cá sấu trong vùng đảo Yến, núi Cù. Dân địa phương ngưỡng vọng, cho là thần, có cầu khẩn việc gì thì thường ứng nghiệm, bèn xây hai tháp trên núi Cù Lao: tháp phía tả thờ Chúa Tiên (Thần Thiên Y), tháp phía hữu thờ Thái Tử. Phía sau tháp dựng đền nhỏ thờ hai người con của Bà. Phía tả tháp lại xây một đền nhỏ nữa để thờ hai vợ chồng ông già trồng dưa.
    Mặc dầu là truyền thuyết của người Việt và mang tính thần kỳ và sự tích, truyền thuyết Tháp Cổ Thiên Y vẫn còn giữ lại hạt nhân thần thoại của người Chăm: Nữ thần Thiên Y – anh hùng văn hóa và là nữ thần của cây trầm hương. Cái cốt lõi huyền tích đó còn là cơ sở để người Việt sáng tạo ra nhiều truyền thuyết về Thiên Y thánh mẫu cũng như những sự tích khác. Rất có thể truyền thuyết mà Phan Thanh Giản ghi lại được của người Việt là dị bản đã Việt hóa của truyền thuyết Nàng Mưjưk hiện còn được lưu truyền trong người Chăm ở Ninh Thuận – Bình Thuận. Nội dung truyền thuyết về Nàng Mưjưk như sau:
    Ngày xưa, tại núi Lănggari thuộc xứ Nha Trang có vợ chồng nhà nọ, ăn ở phúc đức, nhưng hiềm một nỗi đến cuối đời vẫn không sinh được mụn con cho vui cửa nhà. Năm ấy, vợ chồng già trồng được một rẫy dưa cho rất nhiều trái. Đêm rằm tháng bảy, một cô gái, nhan sắc tuyệt trần, tuổi chừng 16, không biết từ đâu đến, đi vào rẫy dưa. Nàng điềm nhiên hái những trái dưa tốt rồi tung lên trời làm trò chơi. Sáng hôm sau, vộ chồng ông già vào thăm rẫy thì thấy dấu chân người và những trái dưa rơi rớt lung tung. Ong bà ngạc nhiên. Liền ba đêm đều như vậy. Đến đêm thứ tư, ông bà quyết định bắt cho được kẻ phá dưa. Vào khoảng nữa đêm, bỗng họ thấy một nàng tiên trên trời bay xuống hái dưa tung chơi. Vợ chồng ông già vừa sợ, vừa mừng. Họ nhủ thần rằng có lẽ trời thương cảnh già hiu quạnh nên cho tiên nữ xuống đây. Thế rồi ông bà cùng chạy ra ôm cô gái và nói cho cô biết ý muốn của mình. Cô gái vui lòng ở lại và nhận ông bà làm cha mẹ nuôi. Ong bà yêu cô gái như con đẻ và đặt tên nàng là Mưjưk.
    Phía nam nhà ông bà già có một con sông lớn chảy ra biển. Ngày ngày nàng Mưjưk thường ra sông tắm. Một hôm nàng thấy một cây trầm hương lớn độ một ôm, dài chừng ba sải đang lập lờ trôi theo dòng sông. Nàng liền bám vào cây trầm để tập bơi. Đột nhiên, một ngọn sóng lớn ập tới, kéo cây trầm cùng nàng ra biển.
    Tại một xứ nọ, dân chúng đang làm ăn yên ổn, bỗng dưng bị hạn hán liên miên. Đồng ruộng trở nên khô cằn, xóm làng tiêu điều. Nhà vua và triều đình cho lập đền cầu mưa, nhưng vẫn không có mưa. Các nhà thông thái cũng đành bó tay, không hiểu vì sao mà suốt bảy năm trời hạn hán liên miên như vậy. Bỗng có một đạo sĩ tâu với vua rằng ngoài cửa biển có một cây trầm hương từ phương xa dạt vào, muốn hết hạn thì phải vớt cây trầm hương đó lên.
    Lập tức, cả ngàn người được gọi ra cửa biển. Nhưng họ không tài nào kéo được cây trầm hương lên. Chuyện cây trầm kỳ lạ lọt đến tai thái tử. Chàng tới bờ biển và thử kéo cây trầm lên. Lạ thay, cây trầm trở nên nhẹ bỗng, và chàng vác cây trầm về cung. Từ khi cây trầm được vớt lên thì mưa thuận, gió hòa, nhân dân no đủ. Nhưng thái tử thì tại đổ bệnh, quên ăn, mất ngủ. Đêm đên, chàng ra ngồi cạnh cây trầm, và lập tức từ trong cây trầm phát ra tiếng kèn, tiếng sáo du dương.
    Một đêm trăng sáng, như thuờng lệ, chàng lại một mình ngồi bên cây trầm. Bỗng một nàng tiên xinh đẹp từ cây trầm bước ra. Chàng hỏi nàng là ai thì nàng e lệ cho biết “Nhà em ở xa lắm, vì mải chơi nên trôi dạt tới đây. Cha mẹ vẫn gọi em là Mưjuk”. Từ hôm đó, chàng không còn u sầu nữa. Một hôm, thái tử ướm lời muốn được cùng nàng kết tóc se tơ. Nàng lắc đầu “Em chẳng dám nhận lời, vì xa quê, xa cha mẹ, chàng lại là hoàng tử. Nếu chàng thật lòng yêu em thì phải được vua cha và mẫu hậu thuận tình”. Hoàng tử vô cùng vui sướng, gặp ngay vui cha. Nghe hoàng tử nói, nhà vua vô cùng phẫn nộ và truyền rằng “Ta đường đường là một bậc vương giả, há lại đi cưới cho con ta một đứa con gái không cha không mẹ ư?”. Lời của vua cha làm chàng rất buồn. Từ đó, chàng như người mất trí, cứ đêm đến, chàng lại lén ra cây trầm âu sầu than thở. Thấy vậy, nhà vua và hoàng hậu cho mời các danh y tới chữa bệnh cho hoàng tử. Nhưng bệnh của chàng ngày một nặng thêm. Sực nhớ tới vị đạo sĩ, người đã phát hiện ra cây trầm dạo nào, vua cho đón ông ta tới và hỏi nguyên nhân bệnh tật của hoàng tử. Vị đạo sĩ tâu “Bệnh của hoàng tử không có thuốc gì chữa khỏi. Số là hoàng tử và nàng tiên cây trầm hương có duyên nợ từ kiếp trước. Nàng tiên ấy chính là con của thượng đế, được sai xuống nước Chiêm Thành. Muốn cho hoàng tử khỏi bệnh, chỉ có cách cho hai người được kết duyên”.
    Không còn cách nào khác, vua và hoàng hậu thuận tình cho hoàng tử và nàng tiên trầm hương lấy nhau. Tiệc cước được tiến hành suốt một trăm ngày liền. Sau sáu năm chung sống, nàng Mưjưk sinh được hai người con trai khôi ngô, tuấn tú.
    Thấy chồng luôn đem quân đi cướp phá các nơi, nàng Mưjưk cố can ngăn nhưng không được. Một đêm, nàng biến mình vào cây trầm rồi bay về quê hương xứ sở. Về tới nơi, nàng dạy dân cày bừa, dệt vải, xây thành đắp lũy, rồi tự xưng là Pô Inư Nưgar.
    Được tin nàng Mưjưk đã bỏ về quê cũng và làm vua nơi ấy, hoàng tử vô cùng tức giận và quyết định cùng hai con đi gọi nàng về. Hôm đó, nhìn thấy một chiếc thuyền lạ tiến vào cửa biển Nha Trang, nàng Mưjưk biết ngay là người chồng tàn bạo của mình đã đến. Lập tức, nàng làm cho giông tố nổi lên, nhấn chìm chiếc thuyền xuống đáy biển. Hoàng tử và hai người con biến thành ba tảng đá. Ngày nay, tại cửa biển Nha Trang vẫn còn dấu vết của nhũng tảng đá đó.

    Trên cơ sở những thần thoại nguyên sơ về Nữ Thần Mẹ, người Chăm Bani (người Chăm theo đạo Hồi cũ) ở hai tỉnh Ninh Thuận và BìnhThuận lại sáng tác ra một câu chuyện mang tính pha trộn khá đặc biệt về Pô Nagar như sau:
    Thuở khai sơ, vũ trụ có mười hai mặt trăng, mười mặt trời. Trời thì thấp, đất còn mỏng manh và chưa có người. Mãi tới giờ thứ ba, ngày thứ hai, tháng sáu, năm con Chuột theo lịch Chăm, bà Atmêhưcắt mới bắt đầu trông coi vạn vật. Vì nóng quá do nhiều mặt trời gây ra nên vạn vật không sinh nở được. Thánh Nơmaisơbaicadong bèn giương cung bắn tan tác các mặt trời. Thế là vũ trụ trở nên u ám, tối tăm.
    Đến ngày thứ hai, mồng sáu tháng năm, năm con Chuột, ông Auhahú thụ sắc của bà Atmêhưcắt, từ trong cõi hư tối ra đời. Sau mười năm tu luyện, ông đã thành công trong việc tạo thiên lập địa lại cho sáng sủa hơn. Ong hóa ra ông Mưhămmách. Ong Mưhămmách sinh ra ông Đibraiel. Ong Đibraiel lại sinh ra Ibarmamimbư trị vì đất đai của Auloahu. Lúc ấy, ông A Tầm và bà Hao Oa vì mắc tội, nên bị trời đày xuống trần gian. Hai ông bà sinh con đẻ cái, tạo ra loài người. Khi ông bà mất, thì tất cả tiêu tan hết, chỉ còn lại một cây Môsi vòi vọi, cao lớn.
    Ngày thứ ba, mồng sáu, tháng hai, năm con Trâu, Auloahú, tức ông Cú, lại từ trong cây Môsi ra đời. Ong lại lo khai quang trời đất và tái tạo muôn vật. Trước hết, ông làm ra loài cá và các loài vật sống dưới nước. Tiếp đến, ông làm ra cây cỏ và thú vật. Kế đến, ông làm ra ma quỷ và con người. Bấy giờ, vật và người sống lẫn lộn, có xác mà không hồn. Đến năm con Dê, ông Cú sai con gái đầu lòng tên là Mụ Dụ xuống trần gian thay ông cai quản vạn vật. Mụ Dụ chính là bà Nagar.
    Khi xuống trần (ngày 19 tháng 7 năm con Chuột), bà Nagar có các thần Aulóa, Giamư và Têpatathor phò tá. Lúc đầu, bà xuống hạt Hạ Ngâu, thuộc vùng Brama xứ Tuy Hòa ngày nay. Ơ đó, bà dựng một xóm, đặt tên là Pallaisarioana (tức xóm Bà Lài ngày nay). Sau đó, bà lập đền đài ở xóm Palhucmarasam tại Pandaran (Phan Rang). Ít lâu sau, bà dời đến Chơcalâu (tức núi Đại An ở Diên Khánh, Khánh Hoà).
    Thấy vụ trụ xếp đặt chưa yên, bà Nagar sửa lại. Bà lấy một cái cân mà bầu trời là đĩa cây, đất là quả cân, các vì tinh tú là hoa cân giao cho các vị thánh. Sau đó, bà sắp xếp vũ trụ the hòinh thân thể của bà: đầu là phương tây, chân là phương đông, mặt trời - mặt trăng là hai mắt, sao Mai là trái tim, vòng sao Mỏ Cáy là cánh tay, vòng sao Bắc Đẩu là ống chân, sao Đế Thích là đầu gối. Khi bà hắng giọng lần đầu thì trời đất mở rộng ra một khoảnh. Bà liền hóa ra nắm gạo hồn, một thúng lúa và giao cho ông Giamư đem gieo ở chân trời. Rồi bà truyền cho ông săngcala (con ốc có hình như cái loa, để thổi báo hiệu) đem thổi. Trời đất, nhờ đó mà ngày càng sáng tỏ. Bà sai ông Aulóa làm ra thánh tự và sai hai vị thầy tu là Imun và Catíp lo việc thờ cúng. Đạo Islam từ đó ra đời. Bà lại sai ông Tepatathor lập một Pơcanơrai và tìm hai vị tu sĩ Pôthia và Paxê trông coi đạo Acaphiar (đạo Bàlamôn). Từ đó, tục hỏa táng ra đời.
    Bà Nagar hắng giọng lầnt hứ hai, trời đất nổi sấm sét. Lần thứ ba, đất gầm thét. Lần thứ tư, biển động, rừng rung. Tiếp đó, bà và ba vị thần thổi ra bốn luồng hơi: hơi của bà thành gió Bắc, của ông Aulóa thành gió Nam, của ông Giamư thành gió Tây, của ông Têpatathor thành gió Đông. Xong việc, ba vị thần phò tá bà được giao những việc khác. Ong Aulóa trông coi nưới Nôrơrioan ati chana - gồm các nước Chân Lạp, Chà Và, Chiêm Thành, Cao Miên và Việt Nam. Ong lập ra một thánh tự, giao cho hai vị thầy tu Imun và Catip lo việc truyền đạo Islam, lập nhiều chùa chiền để có nơi lễ bái, viết kinh sách để truyền dạy, lập ra lịch để mọi người biết tuổi tác, dạy dân cạo đầu và cử người đi truyền đạo khắp nơi. Ong Giamư thì ở xứ Brama và lập đền đài ở vùng Chămrai (thượng du Phú Yên). Ong được bà Nagr giao cho cái săngcala để tạo ra vạn vật. Ong thổi săngcala lần đầu, làm cho trời đất quang đãng; thổi lần thứ hai, làm cho loài người sinh nở, cây cối đơm hoa, kết quả; thổi lần thứ ba, loài người biết cảm xúc, các vật biết kêu và chim biết bay; thổi lần thứ tư, trời sinh ra bốn phương; thổi lần thứ năm thì đủ tám hướng. Ong Giamư giao thóc cho loài người, dạy dân cách trồng lúc, lấy lá cây làm thuốc, đánh đá lấy lửa. Ong lại đặt ra tục lệ hàng năm. Ong sang Mơ Cá (thành La Méc) kết duyên với bà tiên, sinh ra các con: 50 người con gái cho xuống đồng bằng, 50 người con trai cho lên vùng thượng du. Ong Têpatathor thì ở vùng Pandurang. Ong lĩnh thánh tự của bà Nagar, giao cho hai thầy tu Pôthia và Paxe trông coi thờ phụng và truyền đạo Acaphiar. Sau đó, ông qua Trung Quốc dạy người Tàu cách kết tóc.
    Ong Aulóa truyền ngôi cho con là Nưpiloahu để sang Ả Rập tu hành. Vì Nưpiloahu có tội nên đất nước gặp nhiều tai ách, ma quỷ quấy phá, dân tình khổ cực. Bà Nagar động lòng, phải giáng trần, truất ngơi Nưpiloahu, bắt loài ma quỷ đày xuống âm ti và ban phước cho Nưpiloahu trấn áp chúng. Từ đó, âm dương cách biệt. Sau đó, bà Nagar cho Patao Patô lên làm vua. Được bà Smư, sứ giả của bà Nagar, giúp, Patao Patô cho sửa sang mọi việc và phân chia thành hai giống khác nhau. Ong Patao Patô trị vì được bảy mươi năm thì về trời. Bà Nagar bèn truyền cho ông Aulóa về làm vua. Các ông Giamư và Têpatathor cũng trở về phò tá. Ong Giamư coi về nghề nông và nghề cá. Ong Têpatathor coi về số mạng và sinh tử của loài người. Ong Aulóa chỉnh đốn lại lịch: mỗi năm chia làm 12 tháng, mỗi tháng chia làm 30 ngày, mỗi ngày chia làm 5 giờ - 2 giờ tốt và 3 giờ xấu.
    Trong lúc mọi việc đang tiến hành thì xảy ra sự bất hòa giữa bà Nagar và ông Giamư, nên ông Giamư xây được cái gì thì bà Nagar lại thổi đi cho hỏng. Bà Nagar lại xoay chiều ánh sáng khiến trời đất mờ dần, đem vận mệnh nước Nơsơrinan Chanachá thắt làm ba nút. Ong Giamư chán nản, còn ông Aulóa, bà Smư và ông Giamư sang Mơ Cá tu hành. Ong Têpatathor sang Trung Hoa một thời gian rồi trở về Panchorang. Bà Nagar lại lên ngôi, trị nước. Bà lo xây dựng đất nước, dạy dân đóng cày cày ruộng, dùng xe trâu chuyên chở. Bà cũng đem thuần phong mỹ tục dạy bảo mọi người.
    Mặc dù Bà Nagar tận tình, nhưng vì bà lấy chồng trần nên phải chịu đọa đày, khiến dân chúng bị khổ lây. Thấy thế, ông Cú ra lệnh cho Patao Patô sai bốn vị thái tử con bà là Athun, Aly, Thun Prang và Pither xuống thay bà.
    Do làm được nhiều việc tốt cho dân, cho nước, nên bà Nagar được người Chăm đời đời sùng kính và thờ phụng. Hằng năm, vào dịp tế Katê và các dịp tế lễ khác, dân chúng đều mang nhang, đèn, hoa quả, cỗ bàn dến cúng lễ nơi đền của bà rất đông.
    Tất cả những tài liệu bia ký và điêu khắc đều cho chúng ta biết về lịch sử lâu đời cũng như tính phức hợp của đền Pô Nagar. Thế nhưng, bao giờ Pô Nagar cũng là đền thờ Nữ thần Mẹ Yan Pô Nagar của người Chăm. Người Chiêm Thành tôn hiệu Bà là Ana Diễn Bà Chúa Ngọc Thánh Phi. Triều Nguyễn ngay buổi đầu đã phong tặng Bà là Hồng Nhân Phổ Tế Linh Ứng Thượng Đẳng Thần và cắt dân làng Cù Lao ba người sung làm Từ Phu.
    Khu tháp Pô Nagar còn là nơi, sau thánh địa Mỹ Sơn, giữ lại được nhiều bia ký cổ của Chămpa nhất. Các bia ký ở PôNagar không chỉ cho chúng ta biết về lịch sử và vai trò của ngôi đền mà còn là những tài liệu vô giá và phong phú về vương quốc cổ Chămpa. Với tất cả những gì còn lại, từ kiến trúc tới điêu khắc, từ bia ký tới truyền thuyết, khu tháp cổ Pô Nagar hay tháp Bà ở Nha Trang quả là một di tích lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và danh thắng quan trọng mà người Chăm đã để lại cho đất nước ta.

    Bác Sĩ Alexandre yersin
    (1863-1943)

    Ngày 22/9/1863 Alexandre yersin đã ra đời taị một vùng quê miền nuí ở Navanux – thuộc tổng Vaud – nước Thụy Sĩ .
    Năm 1865 vua Louis XIV huỷ bỏ chỉ dụ Nantes không còn đối xử bình đẳng với những người theo giaó phái Calvin như trước. Tổ tiên yersin bị khủng bố phải rời bỏ vùng quê cha đất tổ vùng Languedoc ( miền nam nước pháp) di cư sang Thụy Sĩ.
    Cha cuả Yersin là một giáo viên sinh học. Mẹ quê ở Paris. Yersin là em trai trong gia đình có hai chị em.
    Với tính khiêm tốn trầm lặng thích sống ẩn dật, Ông ít nói về đời mình nên hiện nay người ta ít biết về những ngày thơ ấy của Ông .
    Năm 20 tuổi (1883) Yersin học ngành y tại Lausanne ( Thuỵ Sĩ ). Sau đó tiếp tục học tại Marbuorg (Đức) vá tốt nghiệp đaị học Paris ( Pháp).
    Từ năm 1886 ông làm việc tại viện Pasteur Paris và cộng tác với bác sĩ Roux- tìm độc tố vi khuẩn bạch cầu.
    Năm 1890 ông được chuyển lai quốc tịch pháp
    Trong những năm miệt mài nghiên cứu tại viện Pasteur Paris Ông đã chứng tỏ là một thiên tài hiếm có nmột con người giàu nghị lực ham tìm tòi học hỏi .Tương lai sáng mở ra trước mắt ôn. Nhưng Yersin lai hứơng về chân trơì mới muốn tìm ra lối thoát khỏi cuộc sống hiện tại “tôi luôn luôn mơ ứơc khám phá đất lạ, thám hiểm khi còn trẻ ta luôn tưởng tượntg những đều kì lạ sẽ đến , không có gì là không có thể làm được”.
    Bác sĩ Vallerey – Radot cháu nội của nhà bác học Pasteur, đã nhận xét về Yessin : “từ nhà ông nội tôi , tôi thấy ông ấy nhìn bản đồ hàng giờ”.
    Thế rồi yersin bất ngờ rơì bỏ ngành vi trùng học- sống đơì thủy thủ và nhà thám hiểm- mở đầu một cuộc đời khác kéo dài 50 năm .
    Trước hết Yersin nhận lơì làm bác sĩ cho một con tàu của công ty vận tải đường biển đến Viễn Đông. Sau 6 tháng hoạt động trên tuyến đường Sài Gòn-Manila (Philippin0, Yersin chuyển sang làm việc trên tàu Sài Gòn chạy từ Sài Gòn đến Hải Phòng và ngược lại.
    Những tháng đầu tiên trong nghề hàng hải đối với Yersin thật quyến rũ! Yersin chưa từng tiếp xúc với biển cả nhưng trong thời thanh niên, Yersin đã quen với hồ Léman. Khi thuyền lênh đênh trên đại dương, Yersin nhìn lean bầu trời và học cách xác định toạ độ. Khi tàu cập bean, Yersin tập sự cùng kính thiên văn. Trong những năm sau, Yersin say mê thiên văn học và về sau tìm hiểu cả điện khí quyển, quang phổ mặt trời.
    Tàu chạy trên tuyến đường Hải Phòng-Sài Gòn, khi tiến lại gần bờ biển, lúc vượt sóng ra ngoài khơi. Dãy Trường Sơn hùng vĩ ở phía Tây hiện ra trước mắt Yersin gợi lean kỷ niệm tuổi học trò. Ngày ấy, Yersin đã cùng các bạn leo lên sườn núi Valais. Dãy Trường Sơn tuy không có những đường nét và màu sắc giống như dãy Alpes nhưng có những hấp dẫn kỳ lạ. Yersin muốn tìm lại những cảm giác thành thực và thân thiết khi khám phá được những điều bí ẩn, đặt chân lên miền đất lạ.
    Tháng 7-1891, Yersin cập bến Nha Trang. Ong lên bờ, đi dọc miền duyên hải đến Phan Rí và theo các con đường moon vượt qua một ngọn đèo cao 1200 m gần Di Linh. Từ Di Linh ông định băng rừng đến Sài Gòn tìm ra con đường bộ nối liền Nha Trang với Sài Gòn, nhưng không kịp chuyến tàu đi Hải Phòng nên ông đành bỏ cuộc hành trình, xuống Phan Thiết dùng thuyền buồm ra Nha Trang.
    Chuyến thám hiểm đầu tiên ngắn ngủi này đã giúp nhà thám hiểm 30 tuổi làm quuen với những khó khăn trên miền núi vùng nhiệt đới-với gió núi-mưa rừng- chịu đựng những con vắt hút máu người- vượt qua những con suối nước chảy như thác đổ… lần tiếp xúc đầu tiên với núi rừng Tây Nguyên cũng đã kích thích Yersin ham muốn thực hiện những chuyến thám hiểm khác.
    Ngày 29-3-1892, tứ Nha Trang ra Ninh Hòa, tiến thẳng vế hướng Tây đến Stung-treng trên bờ sông MêKông.
    Nhờ sự giúp sức của Pasteur và bộ trưởng giáo dục Pháp; năm 1893, Yersin thực hiện nhiệm vụ thám hiểm vùng núi nằm giữ bờ biển miền trung và sông Mêkông, vùng thượng nguồn sông Đồng Nai và Sêbangcan mà trước nay ít người biết đến. Rời Sài Gòn ông đã vượt qua thác Trị An đến Tánh Linh, vượt qua sông La Ngà đến Di Linh. Men theo một con đường mòn gần giống như con đường QL20 hiện nay. Ngày 21-6-1893, ông đến thác Prenn và sau đó đặt chân lên LangBiang.
    “Trên đường đi, cao nguyên nhấp nhô cao từ 900-1200 khỏang 15->20 km trước khi đến chân núi. Tôi đứng trên một vùng hoàng toàn tơ trụi và cây cỏ. Đất đồi mấp mô khiến tôi cảm giác như đang đi rên một đại dương xao động vì những ngọn sóng khổng lồ. Núi Langbiang đứng sừng sững ở giữa như moat hòn đảo và hình như ngày càng xa dần khi tôi đến gần. Dưới chỗ trũng, đất màu đen và đầy than bù. Những đàn nai lớn để yên cho chúng tôi đến gần vài trăm mét. Đàn nai vụt chạy ra xa rồi ngoái cổ lại tò mò nhìn chúng tôi”.
    Cuối năm 1893, Yersin lại lên cao nguyên Langbiang, thám hiểm cao nguyên Đắc Lắk-A Tô Pơ (Lào) và ngày 7-5-1894 về Đà Nẵng.
    Năm 1890, bác sĩ Albelt Calmette thiết lập chi nhánh viện Pasteur ở Sài Gòn.
    Năm 1894, bệnh dịch hạch lan tràn trên khắp miền Đông Trung Quốc. Bác sĩ Calmette đề nghị Yersin đi Trung Quốc nghiên cứu tại chỗ bệnh dịch hạch.
    Ngày 15-6-1894, Yersin đến Hồng Kông và gặp một đối thủ-bác sĩ Kitasatô đã đến Hồng Kông trước Yersin 3 ngày. Bác sĩ người Nhật này nổi tiếng về công trình khoa học tìm ra vi trùng uốn ván.
    Yersin dựng một túp lều tranh ên cạnh bệnh viện và làm việc trong điều kiện thiếu thốn. Chỉ sau 5 ngày làm việc, ngày 20-6-1894, ông đã tìm ra vi trùng bệnh dịch hạch. Qua hệ thống bưu điện của Anh, ông đã gữi những ống nghiệm trực trùng sang Pháp. Trực trùng bệnh dịch hạch đến Pasteur Paris nguyên vẹn và được xác minh, mang tên Yersin (Yersins Pestis).
    Năm 1895, Yersin thành lập viện Pasteur ở Nha Trang và điều chế huyết thanh chữa bệnh dịch hạch.
    Moat năm sau, bệnh dịch tái phát ở trung quốc, Yersin lại sang trung quốc và cứu được nhiều người thoát khỏi căn bệnh hiểm nghèo đã giết 50 triệu người ở thượng cổ.
    Yersin trở về Nha Trang. Một cuộc đời bắt đầu, nhiều vấn đề đặt ra. Nhận thấy thành phố Nha Trang xây dựng trên một vùng cát trắng không tiện mở rộng những cánh đồng cỏ để nuôi ngựa dùng cho việc điều chế huyết thanh, ông khai phá cùng Suối Dầu- cách Nha Trang 10 km về hướng nam, thành lập một trại chăn nuôi và trồng trọt.
    Theo gương các bậc tiền bối, ông lao vào nghiên cứu huyết thanh trị bệnh dịch hạch cho trâu bò. Từ đó, viện Pasteur nha trang nghien cứu vi trùng động vật và cá bệnh nhiễm trùng gia súc.
    Trong một chuyến dừng chân tại Malaixia Và Inđônêxia, Yersin rất chú ý đến trồng cao su. Năm 1897, ông bắt đầu trồng cao su ở suối dầu và 8 năm sau (1905), hãng Michelia (Pháp) nhận được 1316kg mũ cao su đầu tiên. Quan tâm đến phương pháp trồng, khai thác và chế biến cao su, ông đã thiết lập một phòng thí nghiệm nông hóa. Tại đây, những biện pháp chọn giống, cạo mủ và làm đông mũ cao su được nghiên cứu có hệ thống đã giúp rất nhiều cho những người trồng cao su ở Đông Dương.

    Thời gian trôi qua… tại trại chăn nuôi và trồng trọt tại Suối Dầu ngày càng mở rộng, Yersin nhận chức viện trưởng 2 viện Pasteur ở Sài Gòn và Nha Trang.
    Năm 1902-1903, ông ra Hà Nội để thành lập trường đại học Yersin Đông Dương và làm hiệu trưởng đầu tiên.
    Năm 1924, ông giữ chức vụ Tổng Thanh Tra Các Viện Pasteur ở Đông Dương
    Năm 1933, ông làm viện trưởng danh dự viện Pasteur ở Paris.
    Trong thời gian sống ở xóm Cồn (nha trang), ông là một người hàng xóm đôn hậu, thường giúp những cụ già và những ngươì chài lưới, thươnng yêu trẻ con. Ông sống rất giản dị, giàu long nhân ái.

    Sau chuyến công du ở Ấn Độ, toàn quyền pháp Paul Doumer muốn xây dựng một nơi nghĩ dưỡng cho pháp kiều như những nơi nghĩ dưỡng ở An Độ. Yersin đề nghị nên chọn Đănkia-cách đà lạt hơn 10km về phía tây bắc.
    Năm 1899, ông đã tháp tùng Paul Doumer lên Đà Lạt. Sau khi quan sát tại chỗ, Paul Doumer không chọn Đankia làm nơi nghĩ dưỡng nhưng chọn vị trí Đà Lạt hiện nay theo đề nghị của bác sĩ Emile Tardif vì :
     Đà Lạt ở độ cao hơn Đankia™
     Độ dốc của Đà™Lạt thoai thoải-không khí của Đà Lạt hợp vệ sinhhơn ờ Đankia-có những ngọn đồi nhỏ cách nhau bằng những thung lũng lầy lội.
     Khôn khí ở Đà Lạt mát lạnh™và ít ẩm hơn ở Đankia vì Đankia name gần đỉnh langbian-sườn núi hứng gío ẩm-nhận lượng mưa nhiều hơn-sương mú nhiều hơn (đến 10g sáng sương mới tan).
    Về thực vật™đankia chỉ toàn đồi nhỏ, trong khi đà lạt gần rừng thông, khôn gkhí vừa mát mẻ vừa thơm ngát hương thông.
     Về giao thông vận tải: Đà Lạt thuận tiện hơn™Đankia.
    Năm 1914, chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Lúc bấy giờ, Hoà Lan chiếm độc quyền sản xuất Quinine-phương thuốc duy nhất chữa bệnh sốt r1et. Yersin gieo thou hạt canh kin a ở Suối Dầu và Đankia. Ông gặp thất bại hoàn toàn ở suối dầu, nhưng Đankia can tốn thêm nhiều công sức.
    Năm 1917, Yersin trồng cây canh kin a ở Hòn Bà-một ngọn núi gần suối dầu. Lúc đầu cây tăng trưởng tốt nhưng về sau cheat vì đất đai không thích hợp.
    Tháng 7-1923 những cây Canh Ki Na tốt nhất ở Hòn Bà được đem lên trồng ờ Đrăn và thu được kết quả tốt. Ông tiếp tục trồng trên cao nguyên Langbiang nhỏ và Di Linh.
    Năm 1936, cây Canh Ki Na được trồng quy mô lớn ở Lán Tranh và Di Linh-thu hoạch được 30 tấn vỏ với tỷ lệ Quinine Sunfat 7,42%.
    Năm 1938, thu được 21 tấn vỏ với tỷ lệ Quinine Sunfat cao hơn (8,5%).

    Ngày 28-6-1935, trường trung học Yersin được khánh thành ở đà lạt. Yersin trở về đà lạt lần cuối cùng trước khi mất. Nhân dịp này, đáp lại lời phát biểu của moat học sinh, ông đã trình bày cảm tưởng khi đặt chân lên cao nguyên Lanbiang: “không khí mát mẻ đã làm tôi quên đi mệt nhọc và tôi nhớ lại niềm vui được chạy hết tốc lực lên xuống những ngọn đồi như một học sinh trung học trẻ tuổi”.
    Trong những năm cuối đời, Yersin vẫn say mê nghiên cứu khoa học-Ngành Thiên Văn-Vô Tuyến Điện. Vài tuần trước khi mất, tuy bệnh ngày cành tăng, ông vẫn theo dõi mực thủy triều.
    Ngày 1-3-1943, Yersin thanh thản qua đời, hưởng thọ 80 tuổi để lại niềm thương tiếc sâu sắc. Hàng ngàn người dân nha trang đã đưa linh cửu ông đến nơi an nghĩ cuối cùng ở suối dầu
    Đến Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ 19 và nửa đầu 20, Yersin đã làm việc trong bộ máy cai trị của thực dân pháp. Tuy nhiên, những công trình khoa học Đa Dạng-Cuộc Sống Giản Dị-Lòng Nhân Ai và tình yêu Việt Nam của ông vẫn sống mãi trong tâm tư, tình cảm của người Đà Lạt-Nha Trang và trên hành tinh của chúng ta. Thủ đô Hà Nội-Thành Phố Hồ Chí Minh-Nha Trang đã đặt tên Yersin cho một con đường trong thành phố. Ơ Đà Lạt, con đường dẫn đến trường trung học Yersin củ hiện nay là (trường Cao Đẳng Sư Phạm) được mang tên nhà bác học Pháp-người đã mang nặng nghĩa tình Việt Nam và để lại những kỷ niệm khó quên ở Đà Lạt: Alexandre Yersin !

    Chợ Đầm - Nha Trang

    Một khu chợ đông vui, lại có một công trình kiến trúc đẹp, khá độc đáo ở trung tâm chợ như chợ Đầm Nha Trang rất đáng được du khách bốn phương biết đến trước khi chia tay, tạm biệt thành phố biển xinh đẹp, mến khách này.
    Gọi tên chợ Đầm vì chỗ đất dựng chợ ngày nay trước kia vốn là một cái đầm từ cửa sông Cái ăn sâu vào đất liền, phía dưới Hà Ra. Đầm rộng khoảng hơn 7 ha, hai bên bờ đầm là nhà ở của nhân dân, hầu hết là dân nghèo với những ngôi nhà lụp xụp, chen chúc nhau. Phía cuối đầm, giáp đầu đường Phan Bội Châu bây giờ là một ngôi chợ cũ được xây cất vào khoảng năm 1908, thường gọi là chợ Đầm hay chợ Cửa (chỉ nơi cửa sông). Dần dần với số dân gia tăng của thành phố, khuôn khổ chợ cũ không còn thích hợp, việc phát triển buôn bán và phát triển nhà ở ngày càng lộn xộn, chật hẹp kém mỹ quan và thiếu vệ sinh, thậm chí gây nhiều dịch bệnh cho thành phố. Trước tình hình đó, việc quy hoạch lại khu chợ này trở nên cấp thiết.
    Năm 1961, Ty Kiến thiết Khánh Hòa lập một dự án đại cương về quy hoạch lại khu vực chợ này, xây một ngôi chợ hình tròn thay thế cho chợ cũ. Đồ án sơ bộ này do Kiến trúc sư Lê Anh Kim phác họa.
    Năm 1964, Tổng nha Kiến thiết lập một đồ án khác do Kiến trúc sư Lê Quý Phong đề xuất, phần chính của đồ án là xây cất một ngôi chợ tròn có mái xếp và một nhánh hình cánh cung. Chính đồ án này được coi là cốt lõi cho việc xây cất ngôi chợ sau này.
    Cả hai đồ án chưa được thực hiện thì đêm 16-9-1968 xảy ra vụ hỏa hoạn lớn chưa từng có: 126 ngôi nhà bị cháy rụi. Tình thế trở nên cấp bách: Một đồ án xây dựng khu vực chợ với quy mô mới, toàn diện hơn được hình thành, có sự phối hợp của nhiều ngành hữu trách: lấp toàn bộ đầm, xây cất ngôi chợ mới cùng hai thương xá và chung cư, làm lại đường sá, hệ thống cống rãnh thoát nước.
    Ngày 12-4-1969 được coi là ngày khởi sự đầu tiên của kế hoạch này với việc chiếc xáng Bassa của Nha Thủy vận Sài Gòn bắt đầu thổi cát lấp đầm. Sau 6 tháng, đầm đã bị lấp hoàn toàn với khối lượng cát đã thổi là 350.000m3. Tiếp theo là việc tạo móng, dựng nền và xây cất công trình, hàng nghìn cọc bê tông cốt sắt dài 20m đã được đóng xuống qua lớp sình lầy.
    Dựa theo đồ án của Kiến trúc sư Lê Quý Phong được thiết kế từ hơn 4 năm trước, các Kiến trúc sư Hồ Thăng, Võ Đình Hiệp, Kỹ sư Nguyễn Xuân Phương cải tiến và bổ sung thêm một số chi tiết. Ngôi nhà chính ở trung tâm chợ được xây cất theo hình tròn, mái xếp thành hình chữ V tượng trưng cho bông sen và những cánh sen, đường kính của ngôi nhà 66,5m, có một tầng lầu hình vành khăn, lệch tâm. Diện tích cả tầng trệt và tầng lầu rộng tới 5.270m2, có thể cùng lúc chứa được trên 3.000 khách ra vào mua bán. Hỗ trợ và phối cảnh với ngôi nhà tròn là hai tòa cao ốc 4 tầng A và B, tầng trệt là thương xá, các tầng trên là chung cư được xây cất theo đường lượn cong bao bọc vành ngoài ngôi nhà tròn, mỗi cao ốc đều có diện tích trên 2.500 tới trên 2.800m2, thiết kế thoáng, trang nhã. Hai cao ốc này được khởi công xây dựng đầu năm 1970 và hoàn thành vào cuối năm 1972. Ngôi nhà tròn và toàn bộ khu chợ được hoàn thành, đưa vào khai trương sử dụng năm 1974.
    Tiếc thay, thời gian sử dụng chưa được bao lâu thì những ngày cuối tháng 3-1975, trước sức tiến công và nổi dậy của quân và dân ta, bọn tàn quân ngụy rút chạy từ Tây Nguyên và các nơi khác đổ về đã ngang nhiên cướp phá chợ Đầm, phóng lửa đốt chợ. Ngôi nhà tròn như một bông sen lớn mới nở giữa lòng thành phố bị xám đen, sập đổ hư hỏng nặng, không sử dụng được nữa. Chợ Đầm vẫn tiếp tục nhóm họp nhưng mỹ quan và trật tự bị giảm sút nhiều. Một kế hoạch tu sửa lại toàn bộ ngôi nhà tròn và quy hoạch tổng thể khu chợ được xây dựng và triển khai với sự tham gia của Viện Thiết kế xây dựng và Ty Xây dựng tỉnh. Ngày 3-2-1980, nhân kỷ niệm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và mừng xuân Canh Thân, lễ chính thức khai trương Cửa hàng Bách hóa tổng hợp Chợ Đầm với diện tích sử dụng là toàn bộ hai tầng của ngôi nhà tròn được sửa chữa lại khang trang và đẹp đẽ hơn xưa được tổ chức trọng thể với nhiều quan khách trong và ngoài tỉnh cùng hàng ngàn đồng bào tham dự.
    Ngày nay, ai đã có dịp đi trên máy bay từ thủ đô Hà Nội vào Nha Trang, từ trên nhìn xuống, cả thành phố như một lẵng hoa lớn đặt bên bờ biển xanh sẽ nhận ra trong lẵng hoa đó có một bông sen đang nở, đó chính là chợ Đầm Tròn và vị trí bông sen là điểm gần giữa đầm mấy chục năm về trước. Năm 1985, trong một cuộc triển lãm ảnh nghệ thuật với đề tài Nha Trang - Huế - Cần Thơ, di tích và thắng cảnh do Hội Văn nghệ của 3 địa phương phối hợp tổ chức, một trong những bộ ảnh được đông đảo người xem, đặc biệt là những người dân Nha Trang rất chú ý và được tặng thưởng của Ban tổ chức là bộ ảnh 3 chiếc chụp cùng ở một vị trí, góc độ nhưng ở ba thời điểm cách xa nhau: 1960, 1980 và 1985 của một nhóm tác giả chụp về quang cảnh chợ Đầm xưa và nay.

    Viện Hải Dương học Nha Trang
    Nằm trên đường Trần Phú, trên một khu đất cao ráo, rộng rãi, ngay cạnh cảng Cầu Đá, cách trung tâm thành phố 6km theo hướng Đông Nam, Viện Hải Dương học được thành lập vào năm 1923, đồng thời với bảo tàng Hải Dương học Nha Trang, là một trong những cơ sở nghiên cứu khoa học, viện nghiên cứu tiềm năng biển nhiệt đới, ra đời sớm nhất ở Việt Nam.
    Viện Hải Dương học Nha Trang được xem là cơ quan lưu giữ hiện vật và nghiên cứu biển lớn nhất Đông Nam Á với trên 11.000 tiêu bản về hải sản. Ngày 14 tháng 9 năm 1922, Sở Nghề Cá Đông Dương - tiền thân của Viện Hải Dương Học ngày nay đã được thành lập. Do nằm trên khu đất cao ráo, có vị trí rất thuận lợi để hình thành một viện nghiên cứu biển ở Việt Nam, bởi bờ biển Nha Trang thuộc loại sâu nhất, chứa đựng đầy đủ các tầng, các lớp và các loài động thực vật biển của vùng Đông Nam Á nên nơi đây được xem như là viện bảo tàng sinh vật biển, là nơi lưu trữ lớn nhất và đầy đủ nhất về các sinh vật biển ở Việt Nam. Tại đây có trên 20.000 mẫu vật của hơn 4.000 loài sinh vật biển và nước ngọt được sưu tầm, gìn giữ từ bao năm qua bên cạnh những sinh vật điển hình được nuôi thả trong bể kính.
    Trải qua hơn 80 năm hoạt động và phát triển, Viện Hải Dương Học đã đóng góp được một khối lượng lớn các công trình nghiên cứu cho công cuộc chinh phục khai thác và bảo vệ biển Đông, bao gồm 1100 ấn phẩm đã được công bố, trong đó nghiên cứu về tính đa dạng sinh học chiếm 62,6%, về vật lý hải dương chiếm 11,6%, về sinh thái môi trường chiếm 7,6%, về địa chất địa mạo biển chiếm 5,4%, về hóa học biển và về hóa sinh chiếm 4,4%. Qua đó, có thể thấy được Viện Hải Dương Học Nha Trang đã góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu khoa học của đất nước.
    Viện Hải Dương học có một bộ xương cá voi khổng lồ dài tới khoảng 26m, cao 3m, với 48 đốt sống được phục chế nhằm mục đích nghiên cứu khoa học và phục vụ du khách tới thăm viếng. Bộ xương này được tìm thấy ngày 8/12/1994 tại huyện Hải Hậu, tỉnh Hà Nam trong lúc đào mương làm thủy lợi và được đưa về trưng bày tại đây năm 1995. Bên cạnh đó, Viện còn trưng bày bộ xương bò biển (dugon) hết ngày 22/1/1997 tại bãi Lò Vôi (Côn Đảo) và được vườn quốc gia Côn Đảo chôn cất, bảo quản. Bộ xương dài 273cm, nặng 300kg, được Uy Ban Nhân Dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và vườn quốc gia Côn Đảo tặng tháng 11/1997.

    BỘ SƯU TẬP NHỮNG SINH VẬT SỐNG

     Cá ngát : phân bố ở châu Phi, Ấn Độ,Hồng™Hải, Malaysia, Philipin, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam. Kích thước tôí đa là 32 cm. Cá tìm thức ăn trong nền đáy nhờ những gai xúc giác nhỏ trên râu. Trên vây long và vây ngực cá còn có những chiếc gai rất nhọn mang độc tố, khi chích sẽ gây ra vết thong song tấy và đau nhức . Cá sống thành đàn. Khi gặp nguy hiểm, đàn cá cuộn lại thành một khối cầu to.
     Cá sơn đá : gặp ở tất cả các™vùng biển nhiệt đới, kích thước tôí đa là 32 cm. Đặc điểm : loài cá naỳ chỉ hoạt động vào ban đêm, ban ngày cá ẩn nấp trong những khe đá, hang hốc. Cá có thể phát ra những tiếng “click” rất rõ (có lẽ để liên lạc vơí nhau).
     Cá™chình : phân bố ở các vùng nhiệt đơí và ôn đới, kích thước tối đa là 3m. Đặc điểm : cá hoạt động vào ban đêm, ban ngày chúng chui rúc trong các hang hốc hay vùi mình trong cát. Những con lớn có răng rất sắc nhọn, có thể tấn công người.
     Cá vệ sinh : phân bố ở Úc, Ấn Độ-Thái Bình Dương, kích thước tôí™đa 14cm. Đặc điểm : những lòai cá dù to lớn hay hung dữ thế naò đi nưã thì đứng trước cá vệ sinh đều tỏ ra rất hiền lành, ngoan ngoãn. Chúng chuyên ăn các phần thịt thối rữa, làm sạch vết thương và ăn các loại ký sinh trùng bám trên mang, da, trong miệng các loài cá khác.
     Cá™bò hỏa tiễn : phân bố ở Úc,Ấn Độ-Thái Bình Dương, kích thước tối đa là 60 cm. Đặc điểm : lớp da cá rất dày, miệng nhỏ nhưng có những chiếc răng rất khỏe nhờ đó có thể ăn được những sinh vật có vỏ cứng như cua, sò, cầu gai, vẹm… Lớp da dưới ngực cá có khả năng giãn ra làm cho kích thước cá tăng đáng kể để hăm dọa kẻ thù.
     Cá nóc : phân bố ở biển Đỏ, Ấn Độ-Thaí Bình Dương, kích thước™tối đa là 90 cm. Đây là nguyên liệu chính để làm món “sushi fugu” rất được ưa thích tại Nhật. Tuy nhiên một số loài cá nóc mang độc tố tetrodotoxin cực mạnh, chỉ cần ăn phải một lượng rất nhỏ cũng có thể tử vong.Cá có thể phình to khi gặp nguy hiểm.
     Cá mặt quỷ : phân bố ở Úc, Ấn Độ-Thái Bình Dương, kích thước™tối đạ cm. Cá có hình thức ngụy trang đặc biệt nên còn gọi là cá đá. Những chiếc gai trên lưng và hậu môn gây độc tố cực mạnh gây hôn mê thậm chí tử
    vong. Tuy nhiên thịt cá không có độc và lại rất ngon được xem là đặc sản.
     Hải™sâm : rất rộng, có thể tìm thấy ở tất cả các vùng biển, ở mọi độ sâu. Khi bị tấn công nó phun ra hầu hết các phần nội tạng làm thức ăn cho kẻthù, phần đã mất sẽ được tái tạo lại sau 20 ngày. Một số loài là thức ăn tốt.
    Tuy vậy, với nhiệm vụ nghiên cứu biển trong tương lai, Viện Hải Dương Học Nha Trang luôn luôn tăng cường đội ngũ cán bộ khoa học và cán bộ quản lý khoa học cả về hai mặt lượng lẫn chất với những trang thiết bị hiện đại nhất, để đáp ứng được nhiệm vụ hiện đại hóa đất nước.
    Viện hải Dương Học được thành lập từ ngày 14 tháng 09 năm 1922 cho tới nay, qua gần một thế kỷ hoạt động và phát triển, Viện Hải Dương Học đã đóng góp được một khối lượng lớn các công trình nghiên cứu cho công cuộc chinh phục, khai thác và bảo vệ biển. Cùng với bao biến cố thăng trầm của lịch sử, các giai đoạn hoạt động và phát triển Viện có thể được chia như sau:
    Giai đoạn từ năm 1922 -1930
    Sở Hải Dương Học Nghề Cá Đông Dương: (Service Océanographique des

    Pêches de l'Indochine) là cơ quan tiền thân của Viện Hải Dương Học Đông Dương được thành lập theo quyết định của Ngài Baudoin, Toàn quyền Đông Dương ký ngày 14/09/1922.
    Phương hướng nghiên cứu: Nghiên cứu khảo sát các điều kiện tự nhiên và nguồn lợi cá để phục vụ cho nghề cá Đông Dương.
    Giám đốc: Tiến sĩ Armand Krempf, nhà nghiên cứu sinh học.
    Cán bộ nghiên cứu khoa học chính :
    Tiến sĩ Paul Chabanaud, nhà nghiên cứu ngư học.
    Tiến sĩ Constantin Nikolaevitch Dawydoff (người Nga) nhà nghiên cứu động vật không xương sống ở biển.
    Tiến sĩ Pierre Chevey nhà nghiên cứu ngư học.
    Tiến sĩ Henri Marcelet, nhà nghiên cứu hóa sinh học.
    Ô. Nguyễn Công Tiêu, nhà nghiên cứu động vật giun nhiều tơ.
    Giai đoạn từ năm 1930 - 1952
    Viện Hải Dương Học Đông Dương (L'Institut Océanographique de l'Indochine) được thành lập theo sắc lệnh của ngài Gaston Doumergue, Tổng thống nước Cộng hòa Pháp ký vào ngày 01/12/1929
    Giai đoạn từ năm 1952 -1975
    Từ năm 1952, Viện Hải Dương Học Đông Dương được đổi tên là Viện Hải Dương Học Nha Trang (L'Institut Océanographique de Nha Trang), về sau đổi thành Hải học Viện Nha Trang khi có quyết định của Chính phủ Pháp bàn giao cho Chính quyền miền Nam đương thời (1954). Tiến sĩ Raoul Sérène giữ nhiệm vụ vai trò cố vấn kỹ thuật cho đến tháng 03/1961. Thời gian này, đất nước chưa thống nhất, việc nghiên cứu biển mang tính chất khu vực. Viện Hải Dương Học Nha Trang hoạt động khó khăn trong điều kiện có chiến tranh nên phương hướng nhiệm vụ của Viện chú trọng vào việc đào tạo cán bộ nghiên cứu biển có trình độ trên đại học và đại học cộng đồng và tổ chức những chuyến khảo sát biển ven bờ, cù lao gần và tập trung vào cộng tác xác định mẫu vật sắp xếp lại theo bộ môn, viết báo cáo về các khảo sát có tính ứng dụng.
    Tham gia khảo cứu vùng biển vịnh Thái Lan và miền Nam Việt Nam với Viện Scripps (Institution of Oceanography California) Hoa Kỳ trên tàu Stranger trong chương trình NAGA (1959-1960) và tham gia chương trình CSK (Cooper ative Study of Kuro shivo) (1965-1977) nghiên cứu ảnh hưởng của dòng Kuroshio.
    Giai đoạn từ năm 1959 - 1975
    Trong khi đất nước chưa thống nhất, để khảo sát khu vực biển vịnh Bắc Bộ Chính phủ Việt Nam DCCH quyết định thành lập các tổ chức nghiên cứu biển :
    1959 thành lập Đoàn Khảo sát Biển vịnh Bắc Bộ (điều kiện tự nhiên và nguồn lợi cá tầng đáy và gần đáy).
    1961 thành lập Trạm Nghiên cứu Biển Hải Phòng trên cơ sở của Đoàn Khảo sát Biển.
    1967 thành lập Viện Nghiên Cứu Biển Hải Phòng trên cơ sở Trạm Nghiên cứu Biển Hải Phòng.
    1967 thành lập Viện Nghiên Cứu Biển Hải Phòng trên cơ sở Trạm Nghiên cứu Biển Hải Phòng.
    Từ 1975- đến nay:
    Sau khi Việt Nam thống nhất, Viện Hải Dương Học Nha Trang, Viện Nghiên Cứu Biển Hải Phòng được sát nhập thành một Viện thống nhất lấy tên là Viện Nghiên Cứu Biển Nha Trang, trực thuộc Viên Khoa học Việt Nam, nay là Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia.
    Đến năm 1993, Viện Hải Dương Học (L'Institut Océanographique) bao gồm tất cả các cơ quan nghiên cứu biển trên toàn quốc, Viện được tổ chức thành một Viện chính ở Nha Trang và hai phân viện ở Hải Phòng và Hà Nội

    Sau khi tham quan viện hải dương hoc chúng tôi đến hòn chồng một địa danh mà có cái tên kì lạ những truyền thuyền được dựng nên với những câu chuyện hấp dẫn, và hòn chồng trở nên thần thoại hóa đó có lẽ cũng là một nét thu hút khách của vùng này, đứng đây chúng tối thể ngắm được ngọn núi cô tiên khá độc đáo do thiên nhiên mang lại.

    Chùa Long Sơn

    Tọa lạc trên đường 23/10, thuộc làng Phước Hải, phường Phương Sơn, thành phố Nha Trang, chùa Long Sơn là ngôi chùa có quy mô lớn nhất trong số hơn 20 ngôi chùa ở Nha Trang. Chùa nằm ngay trong nội thành Nha Trang, bên quốc lộ 1A, dưới chân hòn Trại Thủy.
    Chùa được hòa thượng Ngộ Chí, người Phú Yên, cho xây dựng năm Bính Tuất 1886 tại đỉnh đồi Trại Thủy, có tên là Đằng Long tự. Ban đầu Chùa được kiến tạo bằng vật liệu nhẹ, mái lợp tranh vách đất. Đến năm Canh Tý 1900, chùa bị bão sập, hòa thượng Ngộ Chí dời chùa xuống chân núi, tại vị trí hiện nay, sửa sang và lợp bằng ngói âm dương, rồi đổi tên là Long Sơn Tự. Cũng trong thời gian này, chùa được sắc phong “Sắc Tứ Long Sơn Tự”.
    Về Núi Trại Thủy, dân gian gọi là Hòn Xưởng. Sách cũ ghi là Khố Sơn, tục danh là Hòn Kho. Những tên này biểu hiện mối liên hệ đến lịch sử. Núi Trại Thủy là một hòn đơn độc nằm ở địa đầu thành phố Nha Trang về phía Tây. Hòn núi này chỉ cao chừng 35m, dài độc 600m, giống một ngọn đồi dọc theo quốc lộ 1A, ở phía Bắc. Hình dáng giống như con dơi nằm xoè cánh, đầu hướng về phía Tây Nam. Người xưa gọi là “Ngọc bức hàm hoàn”. Triền phía sau có dốc ngược, toàn là đá hoa cương. Triền phía trước hơi lài, cũng bằng đá hoa cương nhưng có lẫn đất điệp. Trên núi không có cổ thụ và bàn thạch. Cảnh tượng khô khan, trơ trụi. Quang cảnh chung quanh núi rất đặc sắc. Đặc biệt là cảnh quan những vườn dừa nối liền nhau tưởng chừng như bất tận của các làng Lư Cấm, Ngọc Hội, Vĩnh Hội, Vĩnh Điền nổi bật dưới chân núi, trải một màu xanh mượt mà.
    Hòn Trại Thủy đứng giữa đất bằng nhưng không đơn độc. Theo các nhà địa lý, núi này thuộc hệ thống dãy Trường Sơn Tây nguyên. Còn các thầy phong thủy xưa cho rằng đây là Trấn Thủy khẩu của dãy núi Tây Diên Khánh. Long mạch phát khởi từ hòn Thị ở Diên Khánh, chạy ngầm dưới đất gần cửa sông Cù, đổi khởi thành cột trụ giữ linh khí cho cuộc đất Diên Khánh Vĩnh Xương.
    Khoảng giữa thế kỷ 18, nhà Tây Sơn thắng chúa Nguyễn, dinh Bình Hòa thuộc về nhà Tây Sơn. Đô đốc Trần Quang Diệu vào trấn Bình Hòa và nhận thấy Ninh Hòa không thể dụng binh bèn dời dinh Tổng trấn vào Diên Khánh, xây thành đắp lũy để chống với quân chúa Nguyễn ở mặt Nam, về đường bộ. Để chống giữ về mặt biển, Trần Quang Diệu lại cắt một đạo thủy binh xuống trấn miền duyên hai. Xét thấy Hoàng Mai Sơn (núi Trại Thủy) vị thế hiểm trở, bèn dùng làm căn cứ quân sự. Trên núi thì cất trại lính, dưới núi về mặt Bắc gần sông lại đóng xưởng cất thuyền, đóng kho chứa lương thực. Vì vậy, núi mới có tên là Trại Thủy hay Hòn Xưởng, Hòn Kho.
    Hòn Trại Thủy trước thời thực dân Pháp chiếm đóng là một hòn núi mọc toàn mai. Những khóm mai cổ thụ, cội cao tàng cả, mọc chen vào những tảng đá hoa cương to lớn. Mỗi lần xuân đến, hoa mai nở vàng cả núa. Hết mùa, lá mai đậm và láng trùm lên núi một màu xanh lục lìa và anh ánh. Sang đông, lá mai rụng hết, núi trở thành một hòn trọc màu xám in những nét đen nhạt của những cảnh khúc khuỷu, những cội u nần của những khóm mai già rắn rỏi.
    Năm Canh Thìn1940, chùa được đại trùng tu lại theo kiểu Á Đông gồm: tiền đường, hậu sảnh, Đông lan, Tây lan, tăng khách, tăng phòng, nhà bếp… Công trình này do đạo hữu Tôn Thất Quyền, hội trưởng Hội Phật học Khánh Hòa lúc bấy giờ chủ trương tổ chức. Năm Tân Hợi 1971, chùa tiến hành cuộc đại trùng tu lần 2 do Thượng toạ Thích Thiện Bình, Chánh đại diện Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa lúc bấy giờ chủ trương tổ chức theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Võ Đình Diệp. Đến năm 1975, công trình đã thực hiện được 60% so với đồ án đã thiết kế. Chiều ngang tiền đường chùa Long Sơn dài 44.5m, chiều dài từ tiền đường đến chân núi là 37.5m, chiều cao chánh điện là 17.5m.
    Trong điện thờ uy nghiêm bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng đồng lớn, nặng 700kg, cao 1.6m. Sau bức tượng là tấm gương lớn tượng trưng cho ánh sáng hào quang nhà Phật, và bức tượng Quan Am Chuẩn Đề có nhiều tay, mỗi tay cầm một vật mà các vị Phật hay cầm.
    Bên hôn trái chùa có đường lên núi Trại Thủy. Nơi đây, có tôn trí Kim Thân Phật Tổ là tượng Đức Phật Thích Ca tại đỉnh núi Trại Thủy. Tượng do Thượng toạ Thích Đức Minh và điêu khắc gia Bùi Văn Thêm, hiệu Phúc Điền, thực hiện vào 2 năm 1964 – 1965. Tượng quay về hướng Đông, có chiều cao từ mặt bằng lên 24m, phần tượng cao 14m, tư thế toạ thiền, uy nghi giữa nền trời. Từ đỉnh tượng đến sân trước cửa chùa cao chênh lệch 50m, nếu lên đến nơi tôn trí Kim Thân Phật Tổ phải leo 150 bậc thang ờ sau chùa.
    Năm Bính Tý 1936, chùa được cúng cho Hội Phật học tỉnh Khánh Hòa để làm Hội quán Tỉnh hội. Liên tiếp từ đó đến nay, chùa là trụ sở của Giáo hội Phật giáo Khánh Hòa. Trong khuôn viên chùa có sự phối hợp hài hòa giữa công trình kiến trúc với cảnh quan thiên nhiên góp phần tạo nên cho Nha Trang một danh lam thắng cảnh nổi tiếng.

    Hòn Chồng

    Là một thắng cảnh nổi tiếng của TP. Nha Trang, thuộc khóm Hòn Chồng, phường Vĩnh Phước.
    Trong tác phẩm “Xứ Trầm Hương”, Quách Tấn đã viết: “Ở Nha Trang, muốn đến Hòn Chồng thì có hai đường. Hoặc đến xóm Bóng mướn con thuyền nhỏ bơi ra hướng Bắc, để khai vị thú trời biển bao la. Hoặc theo con đường quốc lộ 1 đi ra khỏi Tháp Bà chừng một cây số rưỡng, rồi quẹo xuống ngõ tẻ qua xóm dừa nước ngọt bóng xanh. Chỉ trong giây lát là đến Hòn Chồng. Cách Tháp Bà Pônagar khoảng 1.500m theo hướng Đông Bắc là một thắng cảnh thiên nhiên: Hòn Chồng – Hòn Vợ. Đó là hai khóm đá lớn, một nằm phía Bắc, nửa chìm nửa nổi được gọi là Hòn Chồng; một là nhóm nhỏ hơn, nằm dưới biển, ở chân đồi phía Đông là Hòn Vợ, thuộc phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
    Hòn Chồng là một quần thể các khối đá lớn nhỏ, đa hình đa dạng xếp chồng lên nhau như có bàn tay tạo hóa sắp đặt, tạo dựng trong một trò chơi xếp hình tinh nghịch. Có những khối đá rất lớn trên những khối đá nhỏ hơn, trông rất chênh vênh, hờ hững. Đá một màu xanh xám, lớp chìm dưới nước, lớp nổi lên mặt sóng, lớp nằm giăng hàng, lớp chồng lên nhau. Từ trong bờ, đá chạy lúp xúp ra ngoài khơi, đồi đột khởi lên một tảng đá vừa cao vừa rộng, trông như một cái gò, dáng bằng phẳng. Lạ nhất là trên tảng đá này lại có một khối đá lớn như một ngôi nhà cao tầng nằm trên mỏm cao nhất, bề mặt tương đối bằng phẳng hướng ra biển có in dấu một bàn tay khổng lồ hằn sâu trong đá, như thuở mới tạo sơn, đã có một bàn tay khổng lồ nào bấu vịn vào để lại dấu vết đến ngày nay.
    Trên đường xuống Hòn Chồng là một khối đá vuông ví như được ném xuống từ trời cao bị kẹt giữa hai khối đá khác, điều này vô tình tạo nên một chiếc cổng đá tựa như cổng thành cổ xưa và làm thành một khối đi lớn. Về dấu bàn tay khổng lồ có đủ 5 ngón ở mặt phía Đông của tảng đá, có một sự tích dân gian kể lại như sau:
    Vào thời xa xưa, các tiên nữ trên trời thấy cảnh giới nơi này đẹp nên thường kéo nhau xuống chơi. Một lần, các tiên nữ xuống tắm ở suối, thích thú, đùa giỡn làm vang động cả một vùng. Khi ấy, có một người khỗng lồ từ phương xa đến xứ này ngoại cảnh, ông dừng lại say sưa ngắm nhìn, vô tình trượt chân ngã, ông vội bám víu vào những mô đá bên sườn núi. Sườn núi không chịu nổi sức mạnh của ông khổng lồ nên đổ sụp cả sườn núi. Đá núi ào ào sụp lở vả đổ văng ra tận cửa biện, tạo nên Hòn Chồng ngày nay. Khối đá lớn ông khổng lồ bám vào còn in hằn cả bàn tay. Dấu chân trượt ngã cũng với đủ năm ngón lún vào đá thì để lại dấu tích ở Suối Tiên.
    Truyền thuyết khác nói về Hòn Chồng:
    Cụm đá lớn ở ngoài biển gọi là Hòn Chồng, gồm một khối đá lớn vuông vức nằm trên một tảng đá bằng phẳng và rộng hơn, phía mặt đá quay ra biển có một vết lõm hình bàn tay rất lớn. Tục truyền rằng, thuở xưa ông khổng lồ ngồi câu cá nơi đây, có một con cá cũng khổng lồ cắn câu lôi đi, ông phải kéo lại, tay cầm cần câu, tay tì vào tảng đá lấy đà khiến bàn tay ấn vào đá và để lại dấu như đã thấy.
    Lại cũng có thêm một truyền thuyết khác nói về Hòn Chồng:
    Xưa kia, nơi đây vốn còn những vách đá cao và dựng đứng. Một ngày nọ, có một chiếc thuyền của đôi vợ chồng trẻ bị sóng to gió lớn đánh trôi dạt vào cửa biển này. Sóng xô thuyền đụng vào vách đá vỡ tung. Sóng lớn cuốn lôi người vợ ra xa. Người chồng vội lao ra kéo người vợ vào nhưng sóng càng lúc càng mạnh. Người chồng một tay dìu vợ, một tay bám được vào vách đá. Vốn đã chênh vênh muốn đổ, nay lại thêm sức mạnh của người chồng bám vào nên vách đá đổ ào xuống biển và nhấn chìm cả đôi vợ chồng trẻ bất hạnh. Họ chết đi nhưng dấu bàn tay của người chồng còn hằn sâu trong đá và giữ mãi với thời gian.
    Những tảng đá nơi Hòn Vợ cũng lớn chồng lên nhau, lớp giăng hàng như cảnh Hòn Chồng. Tại Hòn Chồng, đá thường bị sóng cọ mài nên phần nhiều trơn liền, tròn trịa. Còn đá nơi Hòn Vợ nhiều góc cạnh và phần nhiều hình khối lăng trụ. Đá Hòn Chồng thường nằm chồng lên nhau. Còn đá tại Hòn Vợ lại nằm khắng khít bên nhau một cách âu yếm.

    Hòn Tằm

    Vị trí: Phía Nam vịnh Nha Trang cách bờ 7km
    Vùng đảo biển Nha Trang thật hấp dẫn với một loạt các hòn đảo như hòn Tằm, hòn Mun, hòn Dung, hòn Tre, hòn Miếu, hòn Thị, hòn Hèo, hòn Chồng và các đảo khác… Nằm trong vùng vịnh thuộc dự án Khu bảo tồn biển Hòn Mun, hòn Tằm có lợi thế là khá gần với trung tâm thành phố Nha Trang. Từ bến tàu dưới chân biệt điện Bảo Đại, để đến đảo chỉ cần khoảng chưa đầy 15 phút bằng thuyền máy, và khoảng 5 phút bằng canô cao tốc. Có thể đi Hòn Tằm và trở về bất cứ lúc nào, kể cả trong đêm.
    Hòn Tằm có diện tích hơn 130ha. Tại đây không có dân cư sinh sống. Trong bất cứ mùa nào, hòn Tằm vẫn lặng gió, mặt nước biển êm như mặt hồ. Nơi đây còn nguyên vẹn vẻ hoang sơ của thiên nhiên với thảm rừng nhiệt đới tươi xanh rợp mát bốn mùa. Bờ cát dài uốn lượn như nàng tiên cá đang phô diễn nét mịnh màng của tạo hóa bên ngàn trùng sóng vỗ êm dịu suốt ngày đêm. Phía dưới, những ghềnh đá nhấp nhô là làn nước xanh như pha lê với hàng trăm loài cá tụ tập thành đàn tung tăng trẩy hội len lỏi trong những rặng san hô trăm hồng nghìn tía đua nhau khoe sắc. Tất cả đều huyền ảo và vô cùng thơ mộng.
    Nhìn từ xa, Hòn Tằm tựa như một con tằm với “sân chơi” là cả một vùng biển được bao quanh bởi hòn Tre, hòn Một, hòn Miễu (có hồ cá Trí Nguyên) nên thuận gió và tương đối ít sóng, là nơi lý tưởng cho các loại hình vui chơi trên biển: dù bay, lướt ván, thuyền buồn, môtô nước, chèo thuyền, câu cá, phao chuối…
    Hiện nay, trên đảo có cơ sở dịch vụ du lịch được xây dựng tập trung thành hai khu: Khu A – được xây dựng trước – với nhiều dịch vụ, kể cả phòng nghỉ, giá cả có phần “mềm” hơn; Khu B – mới đưa vào kinh doanh từ năm 2001 – với một nhà hàng và các nhà nghỉ độc lập nằm dưới chân đảo, gần bãi tắm với cảnh quan đẹp, yên tĩnh, thích hợp cho các nhu cầu nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng.
    Đến đây, du khách được lắng mình trong một không gian yên tĩnh, chỉ có tiếng sóng biển ngày đêm rì rào ôm quanh bờ đảo, tiếng gió lướt trên các rặng cây và ghềnh đá cùng muôn vàn chim biển chao chát, chấp chới trong những buổi bình minh hay hoàng hôn. Thảm rừng nhiệt đới trên đảo xanh tươi bốn mùa không những phong phú về giống loài thực vật mà còn là nơi ẩn mình của khá nhiều loài chim muông. Dưới chân đảo là các bãi tắm đẹp có độ dốc thoai thoải, chạy dài 400 m và uốn lượn phô mình trong làn nước trong, xanh biếc một mầu.
    Hòn Tằm còn kỳ thú, lôi cuốn du khách bởi hệ động, thực vật biển phong phú. Tại mũi đảo, nơi những ghềnh đá nhấp nhô là rạn san hô. Hàng trăm loài cá đã quy tụ về đây thành từng đàn, tung tăng, len lỏi trong rạn san hô và thảm thực vật đại dương, tạo nên một cảnh sắc thật thơ mộng.
    Trong khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, các công trình kiến trúc du lịch được thiết kế hài hòa, phù hợp cảnh quan, chính là những điểm nhấn đặc sắc, làm tăng thêm vẻ đẹp của hòn đảo. Khuất dưới rặng cây xanh và những vườn hoa, hàng dừa là hệ thống nhà nghỉ cao cấp, hướng mặt ra biển đón gió trời và ánh sáng, đồng thời tạo tầm nhìn bao quát, giúp du khách chiêm ngưỡng phong cảnh bao la, bát ngát của biển, trời. Cạnh đó, dọc theo bờ biển là những chòi cá ẩn hiện, thấp thoáng cùng các nhà nghỉ được thiết kế bằng tre, nứa, lá cho du khách dừng chân và nếu thích thì có thể nghỉ lại qua đêm.
    Ngoài việc tham quan, tắm biển, nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe, đến khu du lịch Hòn Tằm, du khách còn có dịp được tham gia những hoạt động thể thao bóng đá, bóng chuyền trên cát hoặc các loại hình giải trí như leo núi, thám hiểm rừng cây, đi xe đạp vòng quanh đảo, chèo xuồng, bơi thuyền buồm, câu cá và theo ngư dân tham gia những tour du lịch săn bắt dưới nước. Khu du lịch mới khai trương các môn thể thao cảm giác mạnh thể hiện lòng can đảm: lướt ván, bay dù, mô-tô nước và lặn biển khám phá thế giới đại dương. Khi hoàng hôn buông, du khách có thể hòa mình trong thiên nhiên với tour du lịch "Đêm trên đỉnh Hòn Tằm". Sau một buổi leo núi, khách thật sự sảng khoái bên đống lửa trại bập bùng, được ca hát, vui chơi giữa lồng lộng gió trời và tiếng sóng biển, cùng nhau thưởng thức những món ăn đậm hương vị mặn mòi của biển và vui bên ché rượu cần, trong tiếng nhạc, lời ca, điệu múa cổ truyền dân tộc.
    Trong mười năm trở lại đây, với vị trí thuận lợi, nằm giữa tuyến du lịch đảo của Khánh Hòa, lại được Công ty cung ứng tàu biển thương mại và du lịch Nha Trang đầu tư xây dựng và tạo dựng các sản phẩm hấp dẫn, khu du lịch Hòn Tằm đã trở thành điểm dừng chân của hầu hết các tour du lịch thăm vịnh Nha Trang. Năm 2004, gần 300 nghìn lượt khách đã đến vui chơi tại đây, doanh thu đạt gần 12 tỷ đồng. Từ đầu năm đến nay, khu du lịch đón hơn 100 nghìn lượt du khách và số lượng khách quay trở lại chiếm tỷ lệ rất cao. Đây là kết quả của quá trình khai thác hiệu quả những tiềm năng thế mạnh biển đảo và tạo dựng nhiều sản phẩm vui chơi, giải trí cùng các loại hình dịch vụ chất lượng cao.
    Theo các nhà quản lý, sắp tới khu du lịch sẽ hoàn thiện một con đường vòng quanh núi để tạo một tour du lịch đạp xe địa hình bên cạnh tour leo núi đã có, đồng thời mở rộng mô hình chăn nuôi một số loài chim, thú để du khách săn bắn. Không ngừng sáng tạo và đổi mới, đó là phương châm để khu du lịch là điểm đến được du khách ưa thích nhất của Nha Trang - Khánh Hòa.
    Đến với Khu du lịch Hòn tằm chúng tôi Một trong những điểm đến được hài lòng nhất năm 2004 ; do người tiêu dùng bình chọn. Bạn sẽ được phục vụ tận tình chu đáo.
    Chúng tôi có 3 nhà hàng đủ sức chứa 1.000 khách cùng một lúc với những món ăn từ dân dã đến hải đặc sản cao cấp. Bạn có thể lựa chọn cho mình 1 thực đơn hợp với khẩu vị với mức giá từ 25.000đ đến 200.000đ/khách. Nếu Bạn muốn tham gia trò chơi cảm giác mạnh - Chỉ với từ 120.000đ đến 200.000đ/người bạn sẽ được như ý cùng lặn thám hiểm biển, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Hòn Tằm từ trên cao trên những chiếc dù bay hoặc có thể đua tốc độ cùng với những con sóng trên chiếc Jestki. Bạn có thể chơi bóng chuyền bãi biển, đua xuồng Kayak, leo núihoặc nằm dài trên những chiếc ghế ngắm mây trời và sóng biển.
     Khu du lịch "Con Sẻ Tre"
    Nằm trải dài ở phía Nam đảo Hòn Tre (Nha Trang), khu du lịch "Con Sẻ Tre" đang là nơi thu hút rất đông du khách đến tham quan nghỉ ngơi.
    Dưới bàn tay tài hoa của kiến trúc sư, những vật liệu thô sơ giản dị như tranh, tre nứa, lá đã trở thành những đường nét chấm phá độc đáo cho khu du lịch "Con Sẻ Tre". Từ quầy tiếp tân được thiết kế bằng nguyên liệu chính là tre đan xếp vào nhau, khu nhà trọ mái lợp lá cọ thoáng mát tới đường đi tất cả đều ẩn chứa nét thôn quê. Ngay lúc tàu du lịch cập bờ, chiêng trống đã dồn vang chào đón, các nhân viên trong trang phục mớ ba mớ bẩy, khăn xếp áo the niềm nở đón khách. Qua quầy lễ tân, men theo những con đường rải đá cuội, bạn sẽ được chiêm ngưỡng một bãi tắm khá đặc biệt với những lều tắm thiết kế theo hình ảnh 12 con giáp. Trên mỗi vách lều là những bức tranh Đông Hồ màu sắc tươi tắn: Hứng dừa, Đánh Ghen, Đám cưới chuột...sinh động trên nền giấy điệp. Bên cạnh đó, Ban quản lý khu du lịch còn tổ chức các trò chơi dân gian như: ô ăn quan, chọi gà, cờ tướng nhằm giới thiệu cho du khách nét sinh hoạt văn hóa của người Việt. Sau khi tắm biển, nghỉ ngơi thư giãn, du khách còn có cơ hội thưởng thức các món ăn dân dã như canh cua rau đay, cá kho tương, thịt kho tộ...điều đặc biệt là các món ăn này được trưng bày trong những chiếc bát, đĩa gốm Bát Tràng khiến bữa cơm của du khách thêm hấp dẫn.
    Thăm khu du lịch "Con Sẻ Tre", bạn sẽ được tận hưởng khung cảnh thôn quê thanh bình như lạc vào một ngôi làng cổ kính nhưng lại mang hơi hướng hiện đại của gió, nắng, biển xanh mát.
    Quả thật những thú vị liên tiếp diễn ra và không thể có những sự buồn chán tại thành phố biển này, bũa ăn tạo nên không khí ấm cúng với những tách trà nóng khiến cho chúng tôi quên đi cơn mưa vùa rồi. bữa ăn kết thúc cũng là lúc bọn tôi ùa ra tham quan chụp hình với những bụi tre trải dài dẹp như một giác mơ. Sau đó chúng tôi rời đảo lên tàu trở lại bờ tham quan viện hải dương học với cái tên quen thuộc của người sáng lập bác sĩ Alexandre Yersin.

    Khu Du lịch Sinh thái Suối Hoa Lan

    Vị trí: Cách Nha Trang khoảng 18km về phía Bắc
    Sau 30 phút đường biển, du khách sẽ đến với khu Du lịch Sinh thái Suối Hoa Lan, chiêm ngưỡng vẻ đẹp tự nhiên của biển trời, non nước, được hít thở bầu không khí trong lành của rừng cây, thác nước.
    Vẻ đẹp hoang sơ mà tạo hóa ban tặng cho Suối Hoa Lan sẽ đem đến cho du khách một ngày dã ngoại đầy thú vị, sinh hoạt lửa trại, văn nghệ, thưởng thức rượu cần. Hòn Hèo (Suối Hoa Lan) không những là nơi có cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp mà nơi đây còn ghi dấu tích của người Chăm đã từng sinh sống từ thuở xa xưa và là căn cứ cách mạng của hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.

    Bài Thuyết Minh Phan Rang Nha Trang Đà Lạt