trang Blog

dongphuongTham gia: 20/05/2011
  • Thuyết Minh về Đạo Dừa Bến Tre
    Du Lịch
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Thuyết Minh về Đạo Dừa Bến Tre

    ĐẠO DỪA

    Dzoãn Tiến Đạt

    THÁNH SỐNG HAY KẺ ĐIÊN KHÙNG

    Khách thập phương về bến tre, lúc đang đi trên phà rạch miễu, mảnh đất xứ dừa đầu tiên nằm giữa sông tiền bao la là cồn Phụng (Tân Vinh, xã Tân Thành, huyện Châu Thành). Một phần đất của Cồn Phụng trong một thời gian dài được Đạo Dừa chiếm giữ xây dựng “thánh địa” của mình. Từ “chùa Nam Quốc Phật” đó, Nguyễn Thành Nam bành trướng thân thế, ảnh hưởng bằng nhiều kiểu cách cho thứ đạo tổng hợp, thập cẩm: Phật + Thiên Chúa + Cao Đài + Tứ ân Hiếu nghĩa… cho ra Đạo Dừa (Vừa). Nhiều người lương cũng như giáo nói thẳng cùng Thành Nam rằng: ông muốn làm giáo chủ, đế vương của đất phương Nam này. Điều đó là có thật chăng?

    VÌ SAO GỌI ĐẠO DỪA?

    Vì Nguyễn Thành Nam cũng tự xưng như vậy. Rồi sau đó ông bổ sung thêm chữ “Vừa”. Đạo Dừa và các đệ tử – ông cũng tự xưng là Cậu Hai, giải thích: “25 năm bần đạo không uống nước sống, nước mưa, chỉ uống nước dừa xiêm và nước mía”. Cả đến nước rửa hoa quả để ăn, Cậu Hai cũng dùng toàn bằng nước dừa khô, “đài bát quái” được Cậu Hai làm đầu tiên cao 14 mét tại xã Phước Thạnh (Châu Thành – Bến Tre) bằng cây dừa. Tục gọi Đạo Dừa lan rộng từ đó.

    Đạo Dừa sính dùng từ, ông chơi chữ đủ trò. Cách xưng gọi “Cậu” cũng tỏ ta đây là công tử – dân cậu, dân thầy (Maitre), dân giàu sang của đất đồng bằng hào phóng. Theo kiểu Tây, ông đảo họ tên Nguyễn Thành Nam ra Nam Nguyễn Thành. Đạo Dừa xây cất “đài bát quái” bằng ống dẫn nước. Sau khi bỏ đài bát quái bằng cây dừa, ông L.P ở Sài Gòn chi tiền cho Đạo Dừa xây đài cao 24 mét bằng sắt ống nước thì được giải thích là “để lo việc nước”. Ong xay thức ăn ra thành nước để dùng, được giải thích: “bậc quân tử vì lo làm hòa bình mà không nghĩ đến ăn, chỉ uống”, theo câu: Quân tử vi tác hòa bình nhi ư vong thực; rằng “uống nước để lo việc nước và tượng trưng Cậu Hai làm hòa bình mau như uống nước vậy”. Hay kiểu giải thích ngang: không ăn hành vì sợ bị hành hạ, Bến Tre – Bé Trên (ý nói Bến Tre là một tỉnh nhỏ nhưng nhờ có Cậu Hai Dừa nên sáng chói, nổi danh hơn các địa phương khác). Giải thích với một ký giả Sài Gòn trước đây, Cậu Hai kêu một hội nghị Mỏ Neo (thời gian mở hội nghị Paris về chiến tranh Việt Nam) là ý gì, đệ tử làm thông ngôn cho Cậu Hai (lúc ông ta tịnh khẩu) cho biết: “Đây là lối chơi chữ của Cậu Hai. Mỏ là MOI. MOI là JE. JE là GE. Vậy Genève đọc là GIƠ – NEO (giơ cái mỏ neo) hay Mỏ Neo cũng vậy”. Trong phòng của Cậu Hai có hơn 50 tờ lịch mang hình ảnh có chữ “Nam” do ông đệ tử sưu tầm góp nhóp được, bất kể hình ảnh “sex” hay không. Một cụ già được xem những hình ảnh rất đạo Nam này nói rằng, ông thấy mắc cỡ quá vìi các cô gái “quá nghèo” thiếu vải mặc nên để thân hình hở hang. “Bầu linh dược” ông mang bên mình kè kè, không lúc nào thiếu vắng, có khi trong ấy chỉ có mấy cái vé hát của rạp Đại Nam. Vậy mà có người lại tin bầu linh dược đó cải tử hoàn sinh cho con người, trị được bom nguyên tử khi xảy ra gây tai học cho thế gian. Nghe đồn ông Nguyễn Văn Phương ở Hóc Môn, đốn hạ cây gáo, cưa xẻ ra có hình thù chữ “Nam”, Đạo Dừa liền vận động đem thanh củi ấy về trưng bày, thờ phụng tại thuyền bát nhã. Không chỉ có thế, những thanh gỗ khác có vân dáng bóng mờ chữ “Tiên sinh”, chữ “Nam” (chữ Hán), Đạo Dừa cũng gom góp, chụp ảnh để quảng cáo cho là “cơ trời” duyên định với Nguyễn Thành Nam. Đạo Dừa làm vậy là ý gì? Có người giải thích thay ông: Cậu Hai tên Nam – muốn mình là “Đại Nam” – Vua nước Nam. Đạo dừa cũng nhất trí cao với giải thích như vậy.

    Nguyễn Thành Nam sinh ngày 25 tháng chạp, năm Kỷ Dậu (giấy khai sinh ghi ngày 22-4-1910), tại xã Phước Thạnh nay là huyện Châu Thành – Bến Tre.

    Xuất thân từ một gia đình giàu có, đầy thế lực, cha ông là Nguyễn Thành Thúc, một cựu cai tổng thời Pháp thuộc, mẹ là bà Lê Thị Sen, nên con đường ăn học, du chơi của Nam rộng mở. Hơn nữa vì Thành Nam là con trưởng nam của dòng chánh (Thầy cai tổng có 3 bà   vợ chính thức). Nhiều cô bác lớn tuổi tại xã Phước Thạnh cho biết con Thầy cai Thúc lúc nhỏ đi học, gặp trời mưa là người ở làm thuê phải cõng đi. Riêng Nguyễn Thành Nam học hành không mấy chăm chỉ. Bác Năm ở Phước Thạnh, cùng ấp với Nguyễn Thành Nam nhớ lại: “Ong hút thuốc lá của Anh, cầm điếu thuốc không giống nông dân. Bạn học ông ấy đều là dân thầy, dân cậu. Do chơi bời nhiều, học là cái cớ để moi tiền từ gia đình mà chơi”. Bác Năm cũng công nhận ông Nam người nhỏ, đẹp trai, thông minh, ăn nói có duyên. Nghe đâu những bằng cấp, giấy tờ để sang Pháp du học của ông ấy đêu được mua cả.

    Hết học ở quê, Nam học trường Taberd, trường Chasseloup – Laubat Sài Gòn, năm 1928, tự lực sang Pháp học tiếp. Biết tính ý của con, ba má khuyên bảo ông cặn kẽ: “Sở dĩ hôm nay ba má cho con ra nước ngoài học, là xây dựng cuộc đời tương lai ủa con sau nầy, để trở thành một nhân tài trong xã hội. Con nên cố gắng học cho tới nơi tới chốn, đừng để phụ lòng cha mẹ”. Thầy cai Thúc tổ chức tiệc linh đình để cùng gia đình ông, mọi người tiễn đưa con mình xuất dương sang Pháp du học. Trong tiểu sử in ra để xin chính quyền Sài Gòn cũ ứng cử vào ghế “đại Tổng thống” năm 1971, Nguyễn Thành Nam ghi đã học qua các trường trên đất Pháp: Pensionat des lafaristes tại Lyon, Saint Joseph et Saint Marie tại Canes, Jean Baptiste de la Salle tại Rouen và trường cao đẳng hóa học Roune.

    Trong thời gian ở Pháp, cậu Hai đã du lịch qua nhiều thành phố, thủ đô của Châu Au, cả trong các họp đêm khiêu vũ, mà các nàng ca-ve sẵn sàng ngã vào vòng tay nam giới và chấp nhận mọi điều, miễn có túi tiền đầy ắp. Những nơi cờ bạc nổi tiếng, đều có cậu Hai đến chơi đỏ đen. Ơ những nơi Thành Nam đến ăn chơi, bạn bè thường gọi ông là “bá hộ” và bằng Maitre Nam. Đạo Dừa có để lại, có lúc bên nhà không gởi itền qua được, khiến ông phải điêu đứng thiếu trước hụt sau, không đồng xu dính túi, ông phải nhờ vã hết người này đến người khác để sống qua ngày trên xứ sở ánh sáng hoa lệ mà ông và gia đình luôn kỳ vọng.

    Gặp cảnh túng thiếu đó, phải chăng đã thức tỉnh trong Thành Nam một nước Pháp với bề trái khốn khổ, địa ngục, của những tên đại tư bản quyền thế vượt trội hơn địa chủ, cường hào ở xứ An Nam thuộc địa. Chính Thành Nam đã thừa nhận: Thật là một việc không thể tưởng tượng, có mà không, không mà có… kể từ ngày 15-3-1928 lên chiếc tàu Sphinx ra đi, đến năm 1935 quay trở về nước, ngót 8 năm trời vật lộn với bao khốn khó của thời cuộc, của cuộc đời.

    Tại quê hương, trong khỏang 10 năm (1935 – 1945), Cậu Hai thường lui tới các nơi đánh tài xỉu nổi tiếng, theo lời của ông là “để tìm hiểu thấu tận mọi khía cạnh của cuộc đời hầu đưa ra một lối thóat toàn vẹn” (?). Có lần cậu Hai nguyện: Chừng nào tài xỉu cấm chơi con sẽ đi tu. Quả thật, sau đó Nguyễn Thành Nam vào Thất Sơn (Châu Đốc – An Giang) tìm thầy học. Mấy lần tìm đường lên Thất Sơn của cậu Hai, cũng được ông và đồng đạo thêu dệt thành huyền thoại, huyền bí cho căn số tu hành trong nhiều kiếp trước. Theo thành Nam nhờ sự hướng dẫn của Đức Ngọc Thanh (tức ông cử đa), ngày 3 tháng 9 At Dậu (1945), không lâu sau Cách mạng tháng 8 thành công, bọn thực dân cùng lũ bán nước sụp đổ, Cậu Hai đến qui y với Hòa thượng Nguyễn Hồng Tôi tại chùa An Sơn núi Tượng (hay Liên Hoa Sơn) ở Châu Đốc, An Giang.

    Theo một số tài liệu cho biết, Cậu Hai là công tử miệt vườn, danh giá, lúc sang Pháp học ngành thú y, bị thất tình vì thầm yêu trộm nhớ tiểu thư vương giả Paulette de C., con của Công tước Henri de C. mà cô này không đáp lại. Trước khi về Việt Nam đã khôn khéo mua bằng kỹ sư hóa học. Kỹ sư hóa học – hay ông “Bác vật Nam” như dòng họ và một số bà con xóm làng truy tặng, về nước cưới vợ là con gái của ông Hội đồng giàu có ở đất Yên Luông, Gò Công (nay là tỉnh Tiền Giang). Vì không hiểu rành ngành hóa, nên bác vật Nam đành trông coi, kiểm tra việc bán giấy cho nhà máy xay xát lúa gạo ở Gò Công.

    Vừa qua về Phú An Hòa (Châu Thành) chúng tôi được những người thân cận của Đạo Dừa cho thấy mấy mảnh vải màu, trên đó chính tay ông đã viết bằng thuốc đỏ chữ CataliNam. Theo họ, đó là tên ghép của cô đầm mà Đạo Dừa si mê cùng tên ông. Còn bà Diệu Ứng, cháu ruột của Đạo Dừa, người nhiuều năm theo ông tu luyện cũng khẳng định điều đó và cho biết thêm Cậu Hai gọi đó là lá cờ luôn giữ gìn rất cẩn thận. Phải chăng lần gặp cô công nương tại tu viện cổ La Grande – Chartreuse do thánh Bruno xây dựng từ thế kỷ XI đến lần cô đồng ý tiếp người thanh niên da vàng mũi thấp tại nhà riêng, mãi mãi không phai mờ trong đầu óc, dù ông có xưng “đời sống tinh thần hòan tòan giải thoát”. Chính cuộc tình đơn phương mộng ảo với người con gái vương giả tan vỡ đã khắc đậm dấu ấn , khúc quanh trong cuộc sống tìng cảm, quyết định cả phần đời còn lại của Nguyễn Thành Nam.

    Cách nay mấy năm, có người hỏi ông Đạo Dừa đã tốt nghiệp và có bằng kỹ sư hóa học ở Pháp không, ông một mực từ chối, không nhận điều đó. Khi người nêu câu hỏi này nói, ông Huỳnh Minh, tác giả cuốn “Đời khổ hạnh ông Đạo Dừa” cũng có viết, ông là kỹ sư đàng hoàng, thì Cậu Hai cương quyết: “Đó là ông Huỳnh Minh nói chớ cậu Hai có nói đâu”. Chúng tôi xem lại quyển sách này, ở phần cuối (trang 213) ghi như sau: Lời tu sĩ khổ hạnh Nam Nguyễn Thành – Đạo Nam được xem qua quyển sách này, do sọan giả Hùynh Minh lượt thuật đời khổ hạnh của bần đạo, trước khi đem ra ấn tống. Tuy chưa ghi hết đầy đủ, nhưng quyển sách này thuật lại không ngòai sự thật. Đạo Nam lấy làm hoan hỷ.  

    Cũng nên nói thêm, trước ngày giải phóng (4-1975) không chỉ có một quyển sách này viết về cuộc đời không bình thường của ông Đạo Dừa. Cuốn “Đời khổ hạnh ông Đạo Dừa” in ra là để phát cho không.

    Trong tiêu sử xin ứng cử “Đại Tổng Thống” của Đạo Dừa, được chùa Nam Quốc Phật in phổ biến rộng rãi, ghi rõ thành tích tu khổ hạnh của ông (từ 1945 đến 1971 – 26 năm) để được chính quyền Sài Gòn cho ra ứng cử, mong lòng thương của cử tri như sau: 3 năm ngồi tù tại núi Tượng, 3 năm ngồi Cửu Long giang; 23 năm không ăn các thứ bột, không ăn cơm và các thứ bánh; 25 chỉ độ trái cây ngày một bữa ngọ trưa; 21 năm không ăn muối, đường; 24 năm không tắm; 13 năm không nói (1946 – 1959); 24 năm bịnh không uống thuốc hay chích thuốc; 25 năm ngồi kiết già hòai không nằm; 26 năm chỉ có manh quần tấm áo che thân; 26 năm tự tay làm lấy thức ăn thức uống… “Thành tích” đó không kéo dài theo tuổi tác của Cậu Hai được mãi. Ngày 30-12-1985, cùng với việc thông báo chữ ký mẫu mới, cậu Hai cũng cho phép người đời gọi Đạo Dừa hay Đạo Sữa cũng được vì cậu đã dùng sữa. Có sách chép lúc mới lên Thất Sơn, Đạo Dừa dùng cơm 3 tháng, sau đó mỗi ngày chỉ độ trái cây, rau củ vào giờ ngọ. Những lần ôm bình bát đi khất thực ai cho gì ông độ cái ấy.

    Về thành tích ép xác, tu khổ hạnh, những đồ đệ của Cậu Hai, không phải ai cũng tin ông thực hiện hòan tòan như đã công bố. Còn những người khác cả lương hay giáo ( không phải đệ tử của cậu Hai) thì có khi hiểu ngược lại. Chẳng hạn ông nói 24 năm không tắm, 26 năm chỉ có manh quần tấm che thân, nhưng lúc ở Phước Thạnh, mỗi năm vào ngày mùng 8 tháng 4 vào giờ ngọ người ta thấy một ông đạo xách một thùng nước lấy gáo xối tắm cho ông, rồi sau đó thay bộ quầnáo khác.

    Trước cảnh đất nước bị ngọai bang xâm lược gây chiến tranh tàn khốc, những việc làm của Đạo Dừa càng chứng minh cảnh bát nháo, đảo điên, bế tắc trong một số người, không biết đâu đường chánh, nẻo tà, hay muốn đánh lận con đen có lợi cho bọn đế quốc và tay sai.

    Có câu chuyện nghe qua nhiều người cho phi lý, khó tin, bịa đặt, nhưng được Cậu Hai và những đồ đệ ruột thịt loan truyền nhằm chứng minh cho sự hi sinh cao cả của ông như sau: Lúc ở Thất Sơn, Cậu Hai bị quỉ vương (satan) thử thách bằng 100 ngày không cho ăn uống chi cả (?) Ngày đêm ông cứ chạy khắp nơi. Một hôm, sau khi chịu nhiều đe dọa, thử thách ghê gớm, thần kinh căng thẳng tột độ như mài khất nhượng, chở quỉ vương 18 nước đến hành hình cắt lưỡi… Quỉ vương ra lệnh cho Cậu Hai quì gối trên gạch tù sáng tới trưa, rồi sai người nhà đem đến cho Cậu Hai một cái mõ (tượng trưng cho bom nguyên tử). Từ trên không có tiếng quỉ vương ra lệnh: “Đây là trái bom nguyên tử, nhà ngươi hãy bỏ để tiêu diệt hết thế giới này đi…”. Cậu Hai suy nghĩ giây lâu rồi đáp: “Ta đâu khiếp nhược. Ta nhất quyết hi sinh cứu nhân lọai”. Quỉ vương nóng giận hét to: “Vậy để ta đem nhà ngươi xuống địa ngục hành hình nhà ngươi còn cả gan cứu đời nữa không cho biết”. Quỉ vương nói xong, nghe có tiếng lòi tói, tiếng xích xiềng, tiếng dụng cu tra tấnvang lên rổn rảng.

    Qua câu chuyện ấy, Cậu Hai bảo đó là “con đường hi sinh cao cả tòan vẹn để cứu mình, cứu dân tộc và nhân lọai – gọi là bất chiến tự nhiên thành, không sai”.

    Đạo Dừa không từ chối nhân sinh ra mình là một cựu cai tổng, mà ông còn tiết lộ thêm: Cậu Hai là vua Minh Mang tái sinh (Minh Mạng kế vị Gia Long – một ông vua theo con số chính thức của hòang tộc công bố thì có 142 đứa con còn sống, gồm 78 hòang nam và 64 hòang nữ). Nên có lúc ở Cồn Phụng, Đạo Dừa tự dựng cảnh dâng áo hòang bào (giả) của Minh Mạng cho ông. Đao Dừa không dừng lại ở đó, ông còn cho rằng: Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đầu thai thành vua Minh Mạng. Như vậy Trạng Trình chết tái sinh ra Minh Mạng, Minh Mạng chết lộn kiếp ra Nguyễn Thành Nam. Từ chuyện đầu thai đó mà năm 1970, lúc Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn, ban hành luật “Người cày có ruộng” nhằm xóa bỏ thành quả của cách mạng đem lại đất cho dân cày, thì ở chùa Nam Quốc Phật, hai câu sấm Trạng Trình được rao giảng thường  xuyên:

    Phá điền  quân tử xuất

    Bất chiến tự nhiên thành

    Câu “Bất chiến tự nhiên thành” được Cậu Hai kẻ vẽ sơn phết to, xem là lời tuyên bố chính thức, khẩu hiệu tại thánh địa Cồn Phụng. Theo ông Phan Kim Huê (ở Long An), Đạo Dừa và đệ tử của ông cắt nghĩa “phá điền” là bỏ luật đất đai điền thổ tức ban hành luật người cày có ruộng thì thiên tử, tức nhà vua xuất hiện – Vua đó là Nguyễn Thành Nam – Cậu Hai Đạo Dừa. Khi Cậu Hai lo việc trị vì thiên hạ thì không còn chiến tranh, ai cũng nghe lời ông – Cậu Hai “chánh vì vương”.

    Ngày 10 tháng 4 Tân Mùi (1991) là kỷ niệm 500 năm ngày sinh của Trạng nguyên đời Mạc – Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nguyễn Bỉnh Khiêm, lương tâm của thế kỷ XVI Việt Nam, theo tiến sĩ Đinh Thời Xung, học trò của ông, viết về ông như sau: “Không điều gì ma 2không biết chu tòan, không việc gì mà không biết cụ thể. Đã nói là đầy đủ. Đã làm là đầy đủ”. Phải chăng biết con người tài giỏi như vậy mà Đạo Dừa liên hệ chuyện tái sinh mình cùng với nhà văn hóa nổi bật khoa triết học phương Đông (Nguyễn Bỉnh Khiêm) cách nhau ngót năm thế kỷ. Có gì bảo đảm cho lời giải thích đó là vững chắc, sự bất di bất dịch duyên số quay vòng ấy.

    Lúc Nguyễn Thành Nam về Thất Sơn để dọn mình cho một sứ mạng tối cao “cứu dân độ thế” thì có chuyện truyền miệng được nhiều người biết, đại lọai: có một ông bác vật từ Pháp về. Ong ta nghe rằng vùng Thất Sơn huyền bí nên đến thăm. Ơ núi Cấm, ông ta bắt gặp một cái hang sâu nên chui vào xem thử. Hang rộng, sáng choang, trên long sàn các vua nhà Nguyễn (Gia Long, Minh Mạng…) nằm yên như ngủ, không có vẻ gì giống người chết. Thấy vậy, ông bác vật nọ quay trở ra và được lính hầu ở trong hang căn dặn là ông ta không được nói với ai điều gì. Sau đó ông bác vật nọ bán gia tài sự sản ở Sài Gòn trở vào Thất Sơn ở luôn. Ong bác vật theo câu chuyện trên là ở lại hang động Thất Sơn, còn ông bác vật nam sau 3 năm ở chùa An Sơn đã trở lại quê nhà làng Phước Thạnhtruyền bá Đạo Dừa. Khi Thành Nam về lại nơi cắt rốn chôn nhau là lúc chiến tranh ở đây đến hồi cao độ. Léon Leroy, tên tây lai (cha lính lê duương quê từ đảo Corse, mẹ ở An Hóa) đang hòanh hành, giết hại khủng bố dân lành với đội quân ác ôn nổi tiếng UMDC (nhân dân thường gọi là quân uống-máu-dân-chúng). Chỉ tính “thành tích” tàn sát tập thể dân lành, UMDC đã bắn giết 545 người. Riêng tại cầu Hòa, Phong nẫm, buổi sáng 19 tháng Chạp 1946 chúng tàn sát 286 người, trong số đó có một ông già đóng đáy ở Văn Hàn, tất cả còn lại là đàn bà và trẻ em, có người đang mang thai, mù cả hai mắt chúng cũng không tha. Xã Phước Thạnh nơi Nguyễn Thành Nam về ngồi dưới gốc cây dương, gốc duối, xây đài bát quái tu hành bị đội quân của Leroy giết tập thể 124 người , đốt 1.500 ngôi nhà (chưa kể Leroy và tay sai của hắn giết hại riêng lẻ). Leroy có mấy lần lên Phước Thạnh tiếp  kiến Đạo Dừa và để cho ông được yên thân tu hành. Người thân của Cậu Hai giải thích vì bổn mạng của ông lớn, nghiệp duyên chân tu, linh thần đại hùng, đại lực nên thắng được ma quỉ. Còn nhiều người dân Phước Thạnh thì nói ngược lại điều đó. Chính vì thế – theo một số người chứng minh tại ấp 1 Phước Thạnh, ngòai thân tộc ông, không ai theo, sùng bái Đạo Dừa cả.

    Thời kỳ ở Thất Sơn, Cậu Hai đã đến thăm viếng nhiều nơi như núi Cấm, núi Ông Tô, núi Dài… Du ngọan Cấm Sơn (núi Cấm), Cậu Hai gặp một hòn đá giống hình chiếc tàu, đêm đến ông nghỉ lại ở đó, nơi đây ông gặp nhiều điều lạ, kỳ bí. Cuốn “Đời khổ hạnh ông Đạo Dừa” chép: có lần đi đến điện Rao Tần nghỉ trưa, tai nghe tiếng đờn du dương và thêm tiếng sáo thổi ở dưới hang cách điện không xa, tu sĩ phăng lần đến để xem cho biết. Nhưng vừa đến thì tiếng sáo và đờn đã dứt, tu sĩ nói rằng, núi này xưa nay người ta đồn linh thiêng huyền bí là đúng lắm, có nhiều vị tu đắc pháp, khi ẩn khi hiện, giờ phút nào cũng có các vị ấy ở kề một bên, người mắt phàm không sao thấy được. Tu sĩ ngày thì dạo núi, ban đêm lên ngồi tịnh trên chiếc tàu. Trong giờ tịnh nghe tiếng chuông, tiếng mõ ở trong hang dội ra vang động, nhưng sáng xuống không gặp người, qua đêm chót đuợc chứng kiến những việc từ đâu đưa đến, nhưng tu sĩ vẫn giữ kín không hề tiết lộ cho ai biết. Thời gian tu sĩ ở lại Cấm Sơn 7 hôm, mắt thấy tai nghe đầy đủ những sự việc trên đây, rồi trở xuống núi đúng ngày mùng một Tết vào giờ ngọ (sđd trang 120, 123).

    Kể từ ngày qui y, mùng 3 tháng 9 năm At Dậu (1945) sau khi tu ở chùa An Sơn (3 năm), Nguyễn Thành Nam về tu ngồi trên một chiếc thuyền ven sông cửa đại 3 năm. Tại quê nhà (Phước Thạnh) cũng ngồi dưới gốc dương, cây duối 3 năm. Tiếp theo là thời kỳ dựng đài bát quái, hết sử cây dừa đến sắt phi ống nước. Sở dĩ gọi là đài bát quái vì ông dùng mảnh gỗ có 8 góc, lót trên đầu cột dừa để ngồi. Tại Phước Thạnh, Cậu Hai xây dựng cửu trùng đài, quyên góp tiền bá tánh làm thuyền bát nhã vẽ rồng bay phượng múa thả nổi trên sông Ba  Lai. Nhiều lúc ông cùng các tín đồ chèo thuyền xuôi ngược dòng sông để “khải ngộ” đạo pháp.

    Dòng Ba Lai êm đềm trôi chảy giữa rừng dừa thơ mộng hữu tình. Ngồi trên đài cao ngắm nhìn dòng sông hiền hòa, Cậu Hai thấy mình như thóat tục. Dòng sông quê hương em đâu kém sông Hằng xa xôi, hay dòng sông Seine tận trời tây, từng chứng kiến bao cảnh nghiệt ngã, sự ê chề vì các cuộc vui chơi, người tình ruồng bỏ của mình. Dù thế nhưng chiến tranh đã lan ra, ác liệt. Làng quên Phú An Hòa – Phước Thạnh hẻo vắng, sao mà mở mang thanh thế của đạo Trời (?)

    Tháng 3-1964, Đạo Dừa xin đất ở đầu phía Đông Cồn Phụng cách bến phà Rạch Miễu phía Bến Tre khỏang một cây số để xây dựng kiên cố chùa Nam Quốc Phật, thường được gọi là giang sơn thánh thủy, thánh địa của Cậu.

    Cồn Phụng nổi lên khỏang từ năm 1930 trở lại đây. Lúc đầu được gọi là cồn Nổi. Người ta kể rằng khi tu sĩ Nguyễn Thành Nam đến đây xây trại, dựng chùa, lượm được một cái chén xưa có hình con chim phụng nên gọi cồn Phụng. Thực tế nhìn vào địa hình sông Tiền đọan này cho thấy có 4 cồn đất nổi lên đeo bám nhau và tên chúng được đặt theo 1 quan niệm của người xưa: Long, Lân, Qui, Phụng (tứ linh). Cồn Lân tức là cù lao Thái Sơn, cồn Rồng (Long) thuộc phần đất của tỉnh Tiền Giang hiện nay. Còn cồn Qui nổi sau cùng giao đầu cùng cồn Phụng. Một số bà con lớn tuổi ở Tân Thạch cho biết tên gọi cồn Phụng (Tân Vinh xã Tân Thạch huyện Châu Thành) có từ người dân đầu tiên là ông hai Rẩy đến khai phá nó. Nghĩa là không phải đợi khi ông Đạo Dừa đến lập chùa, vọng chuông, gõ mõ mới đẻ ra tên cồn Phụng.

    Cồn Phụng không lớn, trước 1975 chỉ khỏang 23 hecta. Đến cuối thập kỷ 90 này diện tích không tăng hơn 40 hecta và một diện tích bãi bồi bao bọc. Nơi Cồn Phụng hiện nay, vào năm 1785 xảy ra trận thủy chiến ác liệt của nghĩa quân Tây Sơn với liên quân Xiêm – Nguyễn. Đội quân mai phục ở cù lao Thái Sơn, cách Cồn Phụng khỏang 1 cây số, cùng thủy binh của Nguyễn Huệ đánh cho quân xâm lược trận thua quyết định. Không rõ lúc đến đào bới đất cồn Phụng để xây cất thánh địa, Đạo Dừa và đệ tử có lượm được manh giáp, xác thuyền nào của quân xâm lược và bán nước không? Nếu có thì đâu chỉ là cái chénmang hình chim phụng. Đất đai cồn Phụng bay giờ bây giờ màu xanh cay trái, bãi bồi, mương vườn nuôi tôm cá. Người dân ở đây cần cù làm vườn, đánh bắt tôm cá trên sông va 2làm nghềthủ công. Cồn Phụng đã trở thành một điểm trong tuyến du lịch của tỉnh. Trong 5 tháng đầunăm 1991, nhà nghỉ du lịch công đòan Bến Tre đã tiếp đón 400 khách quốc tế, 800 khách trong nước và trên 5.000 lượt khách đến tham quan nghỉ mát.

    Ai cũng rõ sở dĩ Đạo Dừa chọn Cồn Phụng làm nơi dựng chùa vì đây là đầu cầu của tỉnh Bến Tre. Người nơi khác muốn đến Bến Tre hoặc người trong tỉnh đi ra ngòai đều lướt ngang Cồn Phụng sẽ bắt gặp Cậu Hai. Canh tu trên sông nước lộ thiên, cùng tiếng chuông mõ vọng vào tâm não con người xuôi ngược theo những chuyến phà Rạch Miễu, có níu kéo con người về cùng hội cùng thuyền với Cậu Hai chăng? Cậu Hai rất ao ước điều đó trở thành sự thật. Về Cồn Phụng còn chân  ướt, chân ráo, Cậu Hai cho xây dựng ngay đài bát quái cao 18 mét (làm xong ngày mùng 8 tháng 4 Giáp Thìn 1964). Chính cái lồng cu (theo cách gọi của một số người) vượt cao trên những rặng bần mọc giữ đất như một điểm đen giữa màu xanh bao la của cây, nước sông Tiền.

    Một chi itết chưa được người viết kiểm chứng kỹ, nhiều cụ già ở cồn Phụng nói rằng, trừ những người tản cư do chiến tranh theo Đạo Dừa dựng lều, cất trại tu hành, người lao động chân chính làm ăn ở đây không ai theo Đạo Dừa cả. Chi tiết này trùng hợp với bà con ấp 1 xã Phước Thạnh, nơi Cậu Hai cất tiếng khóc chào đời, ngòai họ hàng thân tộc, không ai tin, nói theo kiểu hành đạo của ông.

    Nơi nào cũng vậy, Cậu Hai đến ở cũng thấy, rồi nêu ra “cơ trời, điềm đất” kỳ bí khôn lường. Tại Thất Sơn trước đây thì Cậu Hai đã “khám phá cũng như khải ngộ nhiều bí ẩn, ơn trên có liên quan đến vận mạng nước nhà”. Ơ bên bờ Cửu Long lộng gió thì cậu Hai chứng kiến “một nắp bình bát chân truyền đã bị rớt xuống sông và tự trôi ngược dòng nước”. Chiếc bình bát này theo Cậu Hai nói do thầy mình tặng và nó đã trải qua 3 vị tổ lưu truyền được giữ kỹ từ lâu. Chiếc bình bát, bầu linh dược (trong chứa đựng mấy tấm vé của rạp Đại Nam) và cây gậy xấu xí luôn luôn ở bên Cậu Hai, cho dù cậu có hành vi hàng vạn dặm. Còn tại Phước Thạnh, gốc cây duối chỗ Cậu Hai ngồi hành đạo thì “lộ hình một con voi cúi đầu bái phục”.

    Cũng cần biết chuyện Đạo Dừa kể lại: Có một đêm nọ mưa giông tầm tã, sấm chớp tứ phía bủa giăng, ông ngồi dưới gốc dương già cằn cõi trên có tàu lá chuối che, chịu đựng những hạt mưa đổ xuống suốt đêm. Bỗng đâu một tiếng nổ kinh hồn, lửa đỏ cả vùng. Ai cũng tưởng ông bị trời đánh chết, nhưng không ông vẫn còn ngồi đó. Sau vụ sét đánh ấy có lời ra vào rằng cuộc đất chỗ Đạo Dừa ngồi có nhiều ma quỉ, nên trời đánh đuổi đi, dọn dẹp cho sạch sẽ, khử trọc trấn thanh để Cậu Hai khỏi bị tà khí xâm nhập. Nghe câu chuyện trời đánh này, cha đẻ của cột thu lôi, ở nơi chín suối chắc cũng không nhịn được cười, huống chi người sống đương thời.

    CÓ MỘT KHÔNG HAI

    Trong cảnh dầu sôi lửa bỏng của cuộc chiến tranh trước đây, ở Sài Gòn, cũng như các vùng Mỹ – ngụy chiếm đóng khác, các đảng phái, tôn giáo luôn tìm cách lọai nhau, tranh giành ảnh hưởng, quyền bính bằng nhiều thủ đọan thượng vàng hạ cám. Lắm kiểu thủ đọan giật gân như “hai dân biểu nhịn ăn, nhịn đói và cấm khẩu 48 giờ trước cửa Quốc hội Sài Gòn”, “Dân biểu Hồ Hữu Tường ăn chay nằm đất 10 ngày liền trước Quốc hội. Ong Phi Lạc đem theo một túi xăng-úyt và một chai nước đường pha ớt” (Báo Độc Lập ngày 5 và 6-3-1970). “Biến động trước chùa Chantareangsay, 100 sư sãi Việt gốc Miên tràn xuống đường” (Báo Tiếng Việt ngày 21-3-1970)… Trong cảnh bát nháo hổn độn đó, Đạo Dừa cũng tung hòanh để lại nhiều chuyện lạ, giật gân: “Ông Đạo Dừa lãnh tụ híp-pi quốc tế. Tu phái thích hòa bình đang nghĩ gì? Mưu định gì? (Báo Tiếng Việt ngày 7-2-1970), “Đạo Dừa ông là ai? Thánh sống hay kẻ điên khùng?” (Báo Tia Sáng ngày 29-12-1971)… Có tờ báo ca ngợi ông, có tờ đả kích, mạt sát, trong cảnh nghẹt thở của bầu không khí chánh trị. Những tờ báo tự xưng là “Tiếng nói cua người dân nổi giận – Báo Thách Đố”, “Tờ báo của đa số người thầm lặng – Báo Thống Nhất”, “Nhật báo của dân ngu khu đen – Báo Đen”, một thời tên tuổi Đạo Dừa được khai thác triệt để.

    Từng động tịnh lớn nhỏ trên chính trường Sài Gòn, Đạo Dừa và các đệ tử ruột thịt của ông theo dõi rất tỉ mỉ. Hình ảnh, bài báo, mẫu tin, những trò tà đạo, ma giáo của bọn Mỹ – ngụy và tay sai, bọn lợi dụng tôn giáo được Đạo Dừa cùng đệ tử phân tích, tổng hợp, hệ thống lại. Từ đó chọn lựa, tung ra những đòn tấn công, những chiêu bài quái dị mới.

    Nhờ những cú đánh đúng thời cơ, họat đầu chính trị Đạo Dừa đã gây được ảnh hưởng trên dư luận, không chỉ bằng những cái loa ở chùa Nam Quốc Phật, mà rất có hiệu quả do báo chí Sài Gòn cũ. Từ đó, những “ký giả trẻ”, “ký giả cáo già”, “ký giả tôn giáo” luôn rình rập bên Cậu Hai, sẵn sàng để thiên cơ…khả lậu, càng sớm càng có lợi. Những bài báo viết về kiểu tu khổ “hạnh đầu đà” của Cậu Hai đuợc xào nấu, tráo lận trắng đen thật và ảo, được tung ra rao bán khắp nơi. Trong số họ có người lợi dụng, hiếu kỳ, tin và không tin vào đạo tổng hợp “Vừa” tất cả này.

    Dầu cho tự xưng là Trạng Trình đầu thai, Minh Mạng tái thế, đắc cử Tổng  thống sẽ làm hòa bình trong 24 giờ, hay bảy, chín ngày đi nữa, Đạo Dừa cũng thể qua mắt được Nguyễn Văn Thiệu. Đạo Dừa bao lần lên Sài Gòn vận động, ra điềm cơ cho sứ mạng đế vương của mình đều bị Thiệu gọi cảnh sát “mời về” cồn Phụng, vì chưa phải lúc cần ông xuất đầu lộ diện trên chính trường, chỉ để hắn ta dở trò độc diễn, ứng – bầu một mình mà thôi.

    Trong chiến dịch vận động bầu cử Tổng thống, Cậu Hai mang một cái chuông lên Sài Gòn yêu cầu được gióng lên một tiếng trên Đài phát thanh Sài Gòn. Theo lời cậu Hai để cả nước lắng nghe tiếng chuông ấy và tức khắc có hòa bình “phong điền gió thuận, quốc thới dân an”. Bà Diệu Ứng có kể chuyện Cậu Hai cũng bảo bà mang một cái chuông làm bằng vỏ đạn pháo, sang tặng cho Giáo hòang ở Tòa thánh Vatican. Diệu Ứng quyên góp tiền mua vé máy bay qua Thụy Sĩ để thăm người bà con bên ấy và nhờ chuyển giúp cái chuông đến địa chỉ như ý Cậu Hai muốn. Bà Diệu Ứng nói, không đi là không được với cậu Hai đâu. Đành phải đi, luôn thể một công hai việc – Cậu Hai cũng tin rằng, chuông ấy được đánh lên sẽ có hòa bình trên tòan cầu.

    Giựt gân nhất có lẽ là việc Cậu Hai nộp đơn xin chánh quyền Sài Gòn ra ứng cử “đại Tổng thống” (1971) với tên gọi “Liên danh dân tộc hòa bình thống nhất” dấu hiệu chiếc chìa khóa và chiếc thuyền bát nhã. Người được Cậu Hai chọn vào chức vụ Phó Tổng thống là Diệu Ứng – Hùynh Thị Ưng, cháu gọi ông bằng cậu (tín đồ Đạo Dừa nữ gọi là “DIỆU”, nam là “ĐẠO”). Diệu Ứng sau này có nói, không ra ứng cử cùng Cậu Hai thì bị ông chửi mắng. Bà khóc rất nhiều, không chịu làm Phó Tổng thống “bất đắc dĩ”. Cậu Hai mấy lần la rầy rồi cứ ghi tên bà vào, cho in ấn tiểu sử, thư vận động cả ký hiệu, kẻ vẽ khẩu hiệu tranh cử. Mạnh nhất là tuyên truyền miệng, rỉ tai về mục đích của Cậu Hai và Diệu Ứng ra tranh cử giành ghế Tổng thống “Việt Nam Cộng Hòa”. Cậu Hai tung ra các jiểu vận động đột xuất làm bàn dân thiên hạ từ gây chú ý đến kinh ngạc. Trong bản “siêu sáng kiến” – theo cách gọi của cậu Hai, nếu đắc cử Tổng thống, ông sẽ đem lại hòa bình cho Việt Nam và Đông Dương trong 7 ngày. Hết ngày thứ 9 “Tân Đại tổng thống” sẽ từ chức. Đạo Dừa còn nhấn mạnh “đây là cục đá thử vàng để cho quốc dân lựa chọn được vị tân Tổng thống…” và ông giải thích, thanh minh cho việc làm của mình là Cậu Hai làm đại Tổng thống là để cứu chúng sanh, chớ không phải giành ghế Tổng thống hay cái dinh độc lập của quí vị đâu, xin đùng hiểu lầm. Hết thời hạn như đã hứa Cậu Hai sẽ từ chức, tìm chỗ tu hành chờ ngày cứu thế giới” (?).          

     Thứ hòa bình mà ông Đạo Dừa hứa đắc cử đẽm lại cho Việt Nam và Đông Dương được báo chí Sài Gòn lúc bấy giờ cho là không tưởng, kỳ quặc “bất chiến tự nhiên thành” là “thể hiện tất cả sự lạ lùng của một  tu sĩ muốn làm chính trị” (Báo Điện Tín ngày 19-6-1971). Có người cũng cho hành động Đạo Dừa là của một nhân vật vô thưởng vô phạt, chỉ đánh thức sự tò mò, đầu đề thời cuộc tiếu lâm trong sự nhiễu nhương của bối cảnh chính trị miền Nam lúc này. Những người am hểu về Cậu Hai lại cho rằng, ông rất tin uy tín của mình là trùm thiên hạ, cả trong và ngòai nước, với chiêu bài hòa đồng tôn giáo, chắc ăn ẽ được trúng cử nếu được ra ứng cử.

    Vậy quyết định ra tranh cử của Cậu Hai là có cơ sở, tính tóan kỹ, chớ đâu chỉ là trò đùa, tiếu lâm chính trị. Thời gian này Đạo Dừa họat động ráo riết: ra thư kêu gọi, vân động miệng, mấy lần lên Sài Gòn đòi  gặp các tên có quyền, thế lực trong ngụy quyền Sài Gòn, như tờ Báo Đen đưa tin: sáng ngày 12-1-1971, ông Đạo Dừa và một số đệ tử đã bất thần tới trụ sở Hạ viện yêu cầu gặp Chủ tịch Nguyễn Bá Lương (có báo chí gọi tên này gọi là Nguyễn Bất Lương). Ong ta nhớ lại, trước đây, tháng 11-1964, chính tên Quốc trưởng Phan Khắc Sửu tiếp ông rất long trọng. Quốc trưởng bù nhìn này còn hậu thuẫn cho Đạo Dừa họat động, nhận quà, viết vào sổ lưu bút của Đạo Dừa. Có nguồn tin, khi mất ghế, Phan Khắc Sửu tìm đến cồn Phụng tiếp tục cổ vũ cho Đạo Dừa và Đạo Dừa xem đó là một vinh dự vô cùng quí báu.

    Luật lệ Sài Gòn lúc bấy giờ buộc ai ra tranh cử Tổng thống phải nộp (ký quỹ) 50 triệu bạc. Đó là số tiền rất lớn. Ngày 11-1-1971, Cậu Hai bí mật rời cồn Phụng lên Sài Gòn để gặp Tổng thống Thiệu trình bày nguyện vọng ra ứng cử. Tiền cống nộp để ứng cử Cậu Hai cùng cháu gái, các đệ tử ruột đựng trong 9 cái cần xé, gây nên cảnh ngộ nghĩnh, lạ mắt.

    Cậu Hai thường tổ chức nghi lễ, nói và làm những kiểu lạ đời tại “thánh địa” cồn Phụng, ông bày ra vở kịch, trong đó tín đồ giả mọt bên làm Việt cộng, bên là ngụy Sài Gòn đánh đấm, chém giết lẫn nhau để mọi người chứng kiến. Màn kịch đó kéo dài đến giờ ngọ (12 giờ trưa), ông Đạo Dừa từ trên đài cao bước xuống làm sứ giả hòa bình, hai phe lâm chiến đều bỏ súng đạn, không thèm đánh nhau, trịn trọng cúi đầu ngưỡng mộ Cậu Hai. Thế là có hòa bình. Hai phe bèn lấy súng đạn, bỏ lớp vỏ ngoài, bên trong tòan là bánh tét, bánh ích tha hồ mà ăn uống no nê.

    Vì Cậu Hai cho mình là Minh Mạng tái sinh nên đã tổ chức cảnh dâng áo hoàng bào của Minh Mạng cho mình. Chiếc hòang bào đó do Diệu Ứng mua lại của một người giữ miếu, với giá 50,000đ. Chiếc hòang bào đồng bóng ấy đến nay bà Diệu Ứng còn cất giữ để làm kỷ niệm. Cậu Hai còn vận động tín đồ mua biếu một cặp ngà voi, rồi ông ngồi chính giữa như đế vương để chụp ảnh phổ biến rộng rãi. Anh Đạo Dừa tay cầm quả đất, trên cao co 1một vì sao chiếu rọi, được lồng ghép với cảnh đài cao bát quái, in ấn phát hành, thờ phụng mọi nơi. Cậu Hai thường đeo ở cổ một đồng hồ trái quýt, thì được ông lý giải “tất cả múi giờ trên trái đất đều tập trung ở trong ấy. Và Cậu Hai làm chủ được thời gian trên hòan cầu”. Ong nói, xưng hô cái gì cũng to tát, thực hư lộn xộn, như ông hay viết “Hòang-Nam-Chúa, Hòang-Nam-Đế, Hòang-Nam-Quốc”

    Lãnh địa cồn Phụng, Đạo Dừa gọi là “Đài giang sơn hùng vĩ thánh thủy sông Cửu Long”, rồi “Đại cầu hòa cộng (dài 52 mét) nối liền Thái Bình Dương với Thất Sơn, có hai bờ sông Bến Hải”; đó là “Kỳ quan Nam Quốc” hay “Đại Tổng thống”…

    Những tấm ảnh chụp chân dung Đạo Dừa do ánh sáng và kỹ thuật phòng tối, được đệ tử ông đồ, như nơi người ông tỏa ra vầng hào quang thiên mệnh. Đó là Phật sống, thánh sống – có tấm ảnh được chụp lúc lọn tóc từ đầu được quấn ngược xuống càmgiốnh như các nhà Fakir bên An Độ. Đạo Dừa thuê máy in hiện đại, in hình ông lồng lộng ở chín tầng mây để phô truyền thánh thể, ông bắt chó cho mèo con bú. Tháng 2-1964, ông đem chuột thả cùng lồng với mèo (sau khi mèo xơi chuột no nê) xách lên Sài Gòn tìm đến “thái thú” Cabot Logde và đòi gặp Bộ trưởng Chiến tranh Mac Namara (Mỹ) sang thị sát chiến trường Việt Nam. Anh dừa bị chất độc hóa học của Mỹ ra hoa dị dạng, hoặc cây dừa có 5, 7 ngọn được chùa Nam Quốc in phổ biến rộng rãi với mục đích mê tín dị đoan có lợi cho Đạo Dừa.

    Năm 1967, Cậu Hai đem hai con gà nòi bôi mặt xong đến thả trước dinh Tổng thống ngụy để cho chúng đá nhau và 18 con gà con chạy quanh kêu la sợ hãi. Cậu Hai giải thích màn này bằng câu “khôn ngoan đá đáp người ngòai, gà cùng một mẹ chới hòai đá nhau”. Sau đó Cậu Hai tuyên bố cùng báo chí “ngày nào chưa ra làm hòa bình đượcthì ngày ấy dân ta còn chịu khổ dài dài… Nếu ai không nghe lời chỉ dẫn của Cậu Hai thì ngày gần đây khổ ráng chịu. Thời gian sẽ trả lời hiệu nghiệm của nó”. Ong khẳng định mạnh mẽ: “Từ năm 1948 đến nay (1970) bần đạo là người duy nhất nắm giữ chìa khóa hòa bình mà chưa có dịp mở khai” cho nên “bần đạo phải tự hi sinh đứng ra nhận gánh hòa bình” (?).

    Ngay từ năm 1948, Cậu Hai đã nói mình đã “tiếp điển ơn trên” viết 18 từ tiên tri gởi Ngô Đình Diệm, và bị Tổng thống bù nhìn này phạt vạ. Năm 1969, Cậu Hai lại lên Sài Gòn xin gặp Nguyễn Văn Thiệu để tiết lộ “đũa thần hòa bình thiên định”. Theo Đạo Dừa, không ai chịu nghe ông. Thậm chí họ cho rằng ông khùng điên làm chuyện ngông cuồng. Chính Ngô Đình Diệm đã ra lệnh chở Đạo Dừa vào nhà thương Chợ Quán để trị bệnh tâm thần.

    Lúc tên Nguyễn Như Hùng làm Tỉnh trưởng Bến Tre, hắn cũng cho quân lính “mời” Đạo Dừa vào nhà thương Bến Tre trị bệnh tâm thần, vì tòan nói những chuyện quàng xuyên, bậy bạ.

    Lúc Đạo Dừa tạm rời cái am ở Phước Thạnh về quê vợ Gò Cônglà lúc tâm hồn ông bấn lọan cực độ. Tại gia đình bên vợ ông luôn noi những câu hư hư, thiệt thiệt, khó hiểu. Hết rước thầy chùa tụng kinh, thầy chùa thầy pháp cúng bái, đến lương y xem mạch hốt thuốc, nhưng bệnh tình của ông vẫn không thuyên giảm. Đến mức gia đình nhạc gia phải nhốt Thành Nam trong phòng khóa cửa lại, không cho ra ngòai sợ kêu la quậy phá, đập đồ đạc. Sau đó đưa ông lên Chợ Lớn tìm thầy chạy thuốc men tiếp tục. Ơ Chợ Lớn, trong nhà một người thân, có đêm Cậu Hai không chịu ngủ cứ vặn đèn tắt cháy mãi,nói rằng thâu âm dương, làm cho những người theo canh giữ bực mình bắt trói ông lại, nhưng Cậu Hai giãy giụa sút dây tuôn chạy ra đường gần đồn Cây Mai la hét tiếng tàu suốt mấy giờ đồng hồ. Về “thành tích” rối lọan tâm thần của Cậu Hai có người cho đó là vô ý, người thì báo đúng sự thật với con người bị khủng hỏang, căng thẳng thần kinh chứa đầy sự mê muội.

    Độc giả chú ý, ở phần trước chúng tôi có đề cập cảnh cậu Hai tự xưng bị quỉ Satan (quỉ vương) hành hạ bảo ông ném bom nguyên tử; chuyện nghe đờn, tiếng sáo du dương, tiếng mõ tiếng chuông nơi hang động; chuyện nắp bình trôi ngược dòng nước…

    Có thể nói không sợ quá lời, quanh Đạo Dừa hơn 1001 câu hcuyện kỳ cục, lạ đời. Những câu chuyện đó, cùng với con người Cậu Hai, đúng là có một không thể tìm ra người thứ hai ở xứ sở cù lao Bến Tre. 

    LỜI THÚ TỘI

    Cuối thập kỷ sáu mươi và những năm đầu thập kỷ bảy mươi, mỏm đất phía đông cồn Phụng chứng kiến biết bao nghi lễ “tả bí lù”, những màn cảnh đăng quang của cậu Hai luôn tự xưng “chánh vì vương” – Thời kỳ vàng son đó, tiếng chuông tiếng mõ chùa Nam Quốc ngân nga ngấm vào lòng một số người khi cuộc chiến tranh với quốc sách bình định nông thôn của Mỹ – Thiệu đẩy lên đến hồi cao độ. Do vậy “giang sơn thánh địa” của Đạo Dừa không ít người tình nguyện đến cư trú trốn đời, trốn bom đạn. Trong đó không thiếu những thanh niên nhẹ dạ cả tin, bọn đầu trộm đuôi cướp, bọn gián điệp ác ôn, lợi dụng Phật – Chúa và che mắt thế gian bằng màu áo nâu già.

    Mặc dù Cậu Hai tự xưng là “chủ chứa người chiến sĩ  vật chất chiến tranh, tù nhân đạo đức tinh thần” nhưng ngụy quyền quận Trúc Giang, tỉnh Kiến Hòa (nay là huyện Châu Thành, Bến Tre) đâu để ông vượt xa quá mức (hay là sự trá hình). Liên tiếp trong các năm 1969, 1970, 1971…nhiều cuộc hành quân càn quét của Mỹ-ngụy vào lãnh địa cồn Phụng đã lùa đi hàng trăm thanh niên được gom sẵn xua vào lính. Điển hình một vụ càn, bố ráp được báo “Công Luận” ngày 28-2-1970 đăng tải như sau: “Thiếu tá Vinh, Quận trưởng Trúc Giang chỉ huy cuộc hành quân vào giang sơn của Đạo Dừa tối 25-2-1970, bắt đi 150 thanh niên…”. Thật sự ông Đạo Dừa có phản kháng, nhưng sự việc đâu rồi cũng vào đó, êm xuôi. Số thanh niên bị ngụy quyền bắt cởi áo nâu già, mặc áo lính, đẩy ra chiến trường làm bia đỡ đạn cho chúng.

    Có lần một thanh niên sau khi đi lính, vì óan hận, trở lại Cồn Phụng , dùng súng bắn lên cái đài cao Đạo Dừa chiêm nghiệm cơ trời, số đất, lòng người. Đầu đạn không xuyênvào cái lồng Đạo Dừa đang ngồi, ông ta vẫn sống, nghe đâu lúc bắn, tên lính đã có rựơu trong người. Số người thánh thần hóa Đạo Dừa thì cho là nhờ Phật Trời phù hộ nên ông tai qua nạn khỏi, càng củng cố thêm lòng tin. Về con đường tu khổ hạnh của Đạo Dừa, chính cha vợ ông Đạo Dừa còn cho đó là “đồ khùng”.

    Cậu Hai có vợ (bà Lộ Thị Nga) sinh được một con gái và có con rơi do thương trộm cô gái ở Yên Luông (Gò Công, Tiền Giang). Có tài liệu nên con rơi của cậu Hai là Thành Tâm, anh này biết viết văn làm thơ trước ngày giải phóng, nhưng không giỏi. Theo bà Diệu Ứng khi biết tin này bà có cùng người phát hiện sự việc ấy truy tìm, nhưng không đúng như vậy. Bà ứng và người của cậu Hai cũng thừa nhận thời trai trẻ ông rất hào hoa phong nhã, nhưng về chuyện con rơi thì không.

    Chung quanh những cô “Diệu”, ông “Đạo” tín đồ tin cậy của Cậu Hai cũng lắm chuyện ly kỳ, hấp dẫn. Có chuyện mới nghe qua rất khó tin, nhưng là sự thật. Đúng là chỉ có thánh mới hiểu biết hết hành động, mưu đồ của Cậu Hai, cùng những đệ tử của ông.

    Chẳng hạn vụ hai ông Hùynh Văn Hưng, Nguyễn Văn Cư tiến cử cô gái Trần Thị Được, sau đó đuợc đổi tên thay họ ra Nguyễn Thị Phi tu đạo bên Cậu Hai vào giữa năm 1974. Cô Phi biết hút thuốc, uống rượu bia, mặc quần áo đúng mốt tự xưng là “ Phù xuyên phương nữ” từ Nhựt Bổn về ở bên câu Hai. Phi gọi Cậu Hai là “Vương phụ”. Hai ông Hưng và Cư cũng đổ khá nhiều tiền của để nuôi nấng cô gái này. Lúc về ở bên Cậu Hai, “Phù xuyên Phương nữ” đòi gì là Cậu Hai bảo, bổn đạo phải lo cho đủ. Cả thịt, cá, rượu, thuốc lá. Nếu ai không lo Cậu Hai giận, khiển trách nặng nề.

    Có một số tín đồ chống đối lại việc làm này của cậu Hai và các người hùa theo, nhưng không đạt kết quả. Sự rạng nứt trong đồng đạo đã ló dạng. Có lúc Cậu Hai ra lệnh kéo xà lan tách khỏi khu vực chùa vì có người ngăn cản, không cho ông gần Thị Phi. Có lần cô Diệu bắt gặp Phi đưa ảnh 36 kiểu bậy bạ cho Cậu Hai xem. Phi luôn đòi ăn ở gần Vương phụ. Lúc này bà Diệu Ứng và một ông đạo ra mặt ngăn cản, Cậu Hai rất giận, còn Phi hết dùng dao hăm dọa, đến uống thuốc ngủ, giả tự vận. Không chỉ có Trạm y tế mà cả chùa Nam Quốc Phật phải một phen sốt gió và ca bệnh đặc biệt này.

    Theo bà Diệu Ứng đây là việc làm phá đạo của một ả giang hồ, nhưng Cậu Hai cùng một số ông Đạo lại chấp nhận. Bà Ứng cho biết thêm từ đó ý đồ dạy tu “đạo bất tạo con” của cậu Hai đã trở thành một khát vọng. Mới đây người viết có tìm gặp bà Diệu Ứng, bà đã cho chúng tôi biết them lai lịch, hình ảnh của “Phù xuyên Phương nữ” từng làm đại náo thánh địa cồn Phụng. Cách nay mấy năm, khi Đạo Dừa trở về ngồi bên bờ Ba Lai, Nguyễn Thị Phi có tìm đến thăm Vương phụ một lần rồi biệt vô âm tín.

    Ngòai đạo, Diệu là người Việt, đệ tử Cậu Hai có mấy người Mỹ. Cậu Hai rất hãnh diện cùng bá tánh vì mình có công đức, uy tín tầm cỡ quốc tế nên mới thu phục được mấy người nước ngòai. Hình ảnh 2 người Mỹ quỳ gối chấp tay trước ngực cao lêu nghêu đứng giữa là ông Đạo Dừa nhỏ thó được in phổ biến rộng rãi. Chính những tín đồ gốc Hoa Kỳ đó được Cậu Hai xem là chủ lực trong các cuộc mặc cả, được yêu sách này nọ cùng chính quyền Sài Gòn, hòng “rung cây nhát khỉ” với bọn không có máu mặt, không hiểu rõ ý đồ, việc làm của ông. Hai người Mỹ đó là ai, tìm đến qui phục Đạo Dừa với ý đồ gì chắc chắn tình báo Mỹ thừa biết.

    Đang lúc thêm một bớt hai về sứ mạng vương giả của mình với câu thiệu “mười phần hết bảy còn ba, hết hai còn một mới ra thái bình” thì tiếng súng của chiến dịch giải phóng miền Nam đã kéo Cậu Hai đã trở lại thực tại. Chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng. Miền Nam hòan tòan giải phóng. Đất nước độc lập thống nhất. Không đầy một tuần sau ngày 30-4-1975 lịch sử, Cậu Hai cùng một số đệ tử lén lút chạy ra đảo Phú Quốc (Kiên Giang) để hành đạo – đặc biệt là dạy “đạo bất tạo con”, cùng những họat động mờ ám khác. Cậu Hai cho biết việc dạy đó Cậu đã suy nghĩ nhiều từ thập kỷ 70, nay mới có điều kiện thực hành (theo bà Diệu Ứng là từ năm 1974). Lý do Cậu Hai bỏ trốn vào Kiên Giang theo cách công khai với một số tín đồ ở lại cồn Phụng là: Cậu Hai đi tham quan 99 hòn đảo ở vịnh Thái Lan và kiếm đất lập chùa làm rẫy. Chính quyền tỉnh Kiên Giang đã phát hiện Cậu Hai cùng đệ tử cư trú, họat động trái phép nên kiên quyết trả ông về địa phương Bến Tre. Trong thời gian còn nhiều phức tạp của một phần đất nước vừa mới giải phóng, Cậu Hai còn họat động, cổ vũ việc làm của mình ở một số tỉnh khác, chứ không riêng ở tỉnh Kiên Giang.

    Hùynh Ngọc Mỹ, một số Đạo Dừa đựoc tuyển dụng “đạo bất tạo con” tự thú về phương pháp dạy, hành đạo này: “Nam nữ trần truồng ở chung với Cậu Hai, ai phạm tội giao cấu bị phạt 10 năm tù hoặc tử hình”. Ơ Phú Quốc (Kiên Giang) không thực hiện được ý đồ trái thuần phong mỹ tục, Cậu Hai cùng một số đệ tử về Hậu Giang tiếp tực họat động trái phép, tu dạy “đạo bất tạo con”. Hiểu rõ ý đồ và qua sự giáo dục không kết quả, cuối cùng chánh quyền sở tại mời Cậu Hai đi cải tạo mấy năm ròng.

    Trong thời gian bôn ba tìm chốn dạy “đạo bất tạo con” kể cả lúc về Phú An Hòa, mọi người chứng kiến chính Cậu Hai tự xóa danh Đạo Dừa vì ông đã dùng sữa, bánh canh, bánh xèo và cơm như bao người.

    Cuối năm 1985, Đạo Dừa được bà Hùynh Thị Ứng và người thân bảo lãnh rước về trú ngụ tại xã Phú An Hòa (Châu Thành) với gia đình bà Ứng, dưới sự quản chế của chính quyền địa phương để ông ta không được làm những điều trái phép, dạy thứ đạo trái thuần phong mỹ tục, bôi xấu danh dự con người.

    Trở về nơi ghi dấu bao kỷ niệm thời trai trẻ, sau bao năm xa cách, bước đầu Đạo Dừa đóng góp làm được một ít việc từ thiện như vân động bà con sửa cầu đừơng. Có người cho là ông không quên ân tình nghĩa nặng với nơi cắt rốn chôn nhau. Có ý kiến, Cậu Hai đã phục thiện, trở về con đường Phật pháp, làm lành lánh dữ. Nhưng không lâu sau, (ngựa quen đường cũ), Đạo Dừa vận động bá tánh quyên góp tiền vàng xây am chùa, mua sắm ghe thuyền làm cơ ngơi dạy “đạo bất tạo con”. Đạo Dừa cũng đã làm mô hình qui họach rồi thi công xây mộ phần, nơi an nghĩ cuối cùng của ông tại ấp 1 xã Phước Thạnh. Đạo Dừa cho ngừơi bàn cùng chánh quyền địa phương, nếu kéo điện về xã (trong đó có nơi ông đang ở) ông sẽ ra sức khuyên bảo tín đồ đóng góp. Đổi lại, chính quyền phải cho ông dạy “đạo bất tạo con”.

    Một phóng báo Đồng Khởi (Bến Tre) kể về chuyến viếng Đạo Dừa cùng với khách từ các nơi kéo đến Phú An Hòa tháng 10-1988 thật là rất kỳ lạ. Khách bước vào trại chưa thấy bóng Cậu Hai thì ai nấy đều lo quỳ gối, hấp tay, mọp sát đất đồng thanh thưa “lạy đức Cậu Hai”. Sau đó họ ùa vào căn chòi (lúc đó Cậu Hai rời căn gác) ngồi vây quanh sát người Cậu. Ai nấy cũng tranh thủ thoa vuốt và xoa bóp khắp người ông một cách tôn nghiêm, kính cẩn như một vị thần linh tối cao. Mấy người khách đó là ai? Họ đến đây để làm gì? Theo điều tra của phóng viên: đó là những con bệnh ngặt nghèo, người buôn bán đến nhờ đức Cậu Hai để mua rẻ bán đắt; số còn lai là đệ tử của ông thường đến lui quyên góp nhằm xây dựng lại “thiên đường” đã mất.

    Đạo Dừa tuyên bố Cậu Hai là một thứ đạo táo bạo, nam nữ sống trần truồng với nhau mới thành Phật được chứ. Để dạy “đạo bất tạo con” được hiệu nghiệm, Cậu Hai đề ra một nam cùng chính nữ trần truồng như nhộng (nhất nam cửu nữ). Ong luôn thúc bách những tín đồ đáng tin cậy, con cháu họ hàng hiến dâng những cháu gái đồng trinh để Cậu dạy mẫu cho người khác tin theo. Không ít ông cha bà mẹ mê tín, thần tượng hóa Cậu Hai đã đem con cháu mình cống hiến cho. Cậu Hai diễn nghĩa: bên Thiên Chúa giáo coi tổ tiên lòai người là ông Adam và bà Eva cũng đâu mặc quần áo gì, cũng trần truồng tuốt tuột. Đó là giềng mới, buổi sơ khai của “đạo bất tạo con”.

    Dạy thứ đạo này trên đất liền không kín đáo, Cậu Hai lệnh cho đệ tử dời điểm xuống thuyền neo trên sông Ba Lai. Chính Đạo Dừa còn sai người đi mời giáo sư Bùi Sĩ Hùng, giám đốc bệnh viện Từ Dũ ở TPHCM, người cùng thời, quen biết (bác sĩ Hùng quê ở Bình Đại), bà bác sĩ Trần Thị Mỹ (bệnh viện Hùng Vương, TPHCM) về tại Phú An Hòa để ông tranh thủ rao giảng và truyền kinh nghiệm sinh đẻ có kế họach từ việc dạy “đạo bất tạo con”.

    Bà Diệu Ứng nói, sau khi nghe Cậu Hai nói về việc này các bác sĩ lắc đâu bỏ về. Ngay từ năm 1974 và liên tiếp những lần sau này chính mẹ của Cậu Hai cũng phản đối, can ngăn ông, không cho làm việc xằng bậy ấy. Nhưng cậu Hai đều bỏ ngòai tai. Y ông đã quyết rồi thì phải thực hiện cho bằng được. Có lần em ruột ông (mẹ bà Diệu Ứng) cùng bà Ứng ngăn cản khi ông ra tay dạy đạo. Cậu Hai dùng cây gậy chân truyền cố đánh nhưng không trúng người em gái, làm cây gậy phải gãy. Cây gậy bị gãy oan ấy đang được em Cậu Hai giữ làm kỷ niệm.

    Nhiều bà con biết được ý định, việc làm xằng bậy của Đạo Dừa, đã lên án mạnh mẽ và tố cáo cùng chính quyền địa phương trong đó có người tín đồ là trẻ em. Chúng tôi xin trích 3 ý kiến của ông Thanh Lưu, một trí thức ở thị xã Bến Tre viết về Đạo Dừa như sau:

    Nhiều người hết sức sửng sốt và bất bình khi đọc bài phóng sự trên báo Đồng Khởi ngày 5-10-1988 về hành vi tục tỉu, khinh thường luân lý dân tộc của Nguyễn Thành Nam, tục gọi Đạo Dừa, ở tại xã Phú An Hòa, huyện Châu Thành tỉnh ta.

    Sửng sốt và bất bình vì không ngờ “vị giáo chủ” này tuổi cao sức mòn, sau một thời gian đi học tập cải tạo vì tội lỗi của mình được trở về gia đình lẽ ra nên “sám hối” và lặng lẽ sống cho qua ngày, lại tiếp tục hành đạo hại đời. Thật quái gỡ cho một người tu hành (nếu ông ta đúng là người tu), lần này hành động của ông mang tính khiêu dâm rõ rệt – Cần nhấn mạnh: giống như thời Hoa Kỳ còn ngự trị ở miền Nam, lần này Đạo Dừa cũng núp sau bình phong đạo giáo để làm điều xằng bậy. Từng tự xưng có tài “nắm quá khứ, rõ vị lai”, tại sao Đạo Dừa kh6ng đóan được nhân dân ta ngày nay không tha thứ hành vi thấp hèn hơn trần tục của ông ta? Nhiều người đặt câu hỏi: Đạo Dừa nhằm ý đồ gì khi lén lút tổ chức cái trò nam nữ tín đồ lõa thể – gái trinh càng tốt – không phải chỉ có một người, từng người, mà cả một nhóm chín mười người để nghe ông ta giảng dạy cách thức “bất tạo con”. Bày cái trò này, phải chăng Đạo Dừa xúi giục thanh niên nam nữ tín đồ đua nhau lao vào tình dục? Ai trao cho “vị giáo chủ” này nhiệm vụ ấy? Cách nay hàng mấy triệu năm, con người còn mông muội, sống theo lối quần cư, “ăn lông ở lỗ”. Ngày nay ánh sáng văn minh qua khoa học đã xua tan nhiều vùng tăm tối nhất trong đầu óc con người cũng như trên các lục địa của hành tinh. Thế mà Đạo Dừa còn nuối tiếc thời nguy6en thủy sao? Không, chúng tôi không tin vào giáo lý của Đạo Nam, cũng như không tin vào trình độ hiểu biết nhân sinh quan của ông ta (cho là Nguyễn Thành nam có du học bên Pháp). Cần phải tìm hiểu rõ hơn nữa đằng sau cái trò khiêu dâm này, Đạo Dừa ngắm cái đích nào đây. Rõ ràng Đạo Dừa đã gây ra một vụ án. Nếu không, sự việc đã không bị lôi ra ánh sáng, đưa trước tòa án quần chúng, để những kẻ phạm luân, phạm pháp tự thú tội…

    Cũng tại Phú An Hòa, Cậu Hai chuẩn bị (đã mua xong máy và băng cassette) xây dựng hệ thống phát thanh. Đạo Dừa đã đọc ghi vào băng xong: “Đây là đài phát thanh Phú An Hòa – Đây là đài phát thanh Phú An Hòa” những băng ghi âm này để có cơ hội là phát đi. Nội dung những cuốn băng ghi âm này ra sao? Không lành mạnh, dạy đạo “bất tạo con” xuyên tạc sự thật công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Cậu Hai không cần úp mở hay bí mật chi cả, cừ tuyên truyền rộng rãi “chiến tranh hạt nhân, nguyên tử sắp xảy ra, tất yếu lòai người sẽ bị tiêu diệt”. Ong khẳng định rằng ai tu, hành đạo theo cậu Hai sẽ tránh khỏi bom nguyên tử nhâp. Cũng từ các cuộn băng và qua thư từ, lời cầu thỉnh , Đạo Dừa đề đạt nguyện vọng nóng bỏng của mình muốn gặp tổng thống Goóc-ba-chóp (Liên Xô), Tổng thống Rê-gân (Hoa Kỳ)…theo ông ta là để bàn luận vấn đề thế giới, Đông Nam Á.

    Điểm đáng lưu ý, tiếp tay, bày vẽ cho Đạo Dừa làm những việc trân tráo, phá đạo hại đời nêu trên là những đệ tử tín cận của ông. Có họ ông như cá gặp nước, rồng mây hội ngộ mặc sức vùng vẫy. Như Cậu Hai, những con người ấy lòng đạo duyên đời còn bộn bề, hỗn độn phải – trái. Chúng tôi thấy, khi xem xét đến hành vi, tư tưởng của Đạo Dừa, cần phải nhìn tòan diện và cụ thể, mới mong sáng rõ căn cơ. Chúng tôi xin trích giới thiệu lời nhận tội của Hùynh Ngọc Mỹ, một người cháu, cũng là tín đồ chung sống xuyên suốt với Đạo Dừa, để bạn đọc phán xét:

    Năm 1974, tôi được Cậu Hai dạy “đạo bất tạo con” đầu tiên. Tôi biết là một thứ đạo hòan tòan sai trái cả về đạo đức và pháp luật. Nhưng sau khyi Cậu Hai học tập cải tạo về năm 1985 thì chúng tôi là người thúc đẩy, kích xúi Cậu Hai dạy đạo trở lại. Trong việc thúc đẩy này chính tôi trực tiếp đi mời bác sĩ Hùng ở bệnh viện Từ Dũ, bác sĩ Mỹ ở bệnh viện Hùng Vương TPHCM, đến gặp Cậu Hai để nghe nói về dạy “đạo bất tạo con”. Tôi xem sách, báo chí, nghe đài phương Tây rồi đến bình luận với Cậu Hai về các vấn đề kinh tế, chính trị trong và ngòai nước có ý xuyên tạc thực tế. Tôi đã thúc đẩy Cậu Hai làm kiến nghị xin đi Liên Xô và Hà Nội làm đại diện tổ chức một cuộc hội nghị bàn bát quái để giải quyết vấn đề hòa bình Việt Nam và thế giới. Chính tôi đã trực tiếp ra Hà Nội để xin cho Cậu Hai đi Liên Xô để thực hiện ý đồ trên. Việc mua máy radio cassette để Cậu Hai làm đài phát thanh Phú An Hòa và nghe đài phương Tây là do tôi làm đạo diễn và kích xúi.

    Vào đêm 1-9-1988 khi lực lượng vũ trang kiểm tra phát hiện có người cư trú bất hợp pháp dưới ghe gồm Cậu Hai, ông Hiền, ông Hải (ở Tiền Giang), ông Thời, ông Tấn, tôi đã có hành động chống lại. Cụ thể như không thực hiện theo yêu cầu của cán bộ, không ký tên vào biên bản, liên tục đập tay mạnh vào ghe và la lớn tiếng, với những lời lẽ không tốt có ýkhiêu khích lực lượng đang làm nhiệm vụ. Việc làm của tôi là hòan tòan sai trái, không ngăn cản Cậu Hai họat động phạm pháp mà còn đồng tình, tiếp tay…

    Các đệ tử ruột thịt của cậu Hai, có người vì quá mê tín chẳng nhận ra đâu là chánh đạo, đâu là đời, thánh thần và phàm phu tục tử. Chẳng hạn Đạo Dừa nói ra một lời gì đó thì được số người này thêu dệt, tô vẽ ra bao điều huyền bí. Có người cho rằng bất kỳ cái gì thuộc về Cậu Hai là chữa được tất cả bệnh tật, giải thóat được linh hồn – cái khăn lau mồ hôi, lau nơi Cậu Hai nằm, họ cũng sẵn sàng đưa lên lau mặt với lời khen đáo để: “khỏe quá! Hạnh phúc quá!”. Đến viếng Cậu Hai họ chờ cho được trời mưa, hứng lấy nước từ mái nhà ông ở để mang về trị bệnh. Có phụ nữ trần truồng bên Đạo Dừa, cứ ngỡ ông là thánh sống, nếu ông ta thành thánh thi mình cũng hóa kiếp “ăn theo”.

    Họat động trái phép, trái luân thường đạo lý của Đạo Dừa và một số đệ tử đã được chính quyền, đòan thể và bà con ở gần nhắc nhở. Đạo Dừa cũng hứa sửa chữa những sai trái, bậy bạ của mình. Vậy mà còn ít người hùa theo, tìm cách nói xấu chính quyền và những ai phản đối Đạo Dừa. Có những kẻ lợi dụng Đạo Dừa, lợi dụng sự mê tín của bà con, bày mưu tính kế trục lợi về tinh thần và vật chất, cả đến khi Đạo Dừa nhắm mắt ngàn thu.

    Để hiểu rõ một phần những họat động của Đạo Dừa từ năm 1975 về sau, xin độc giả đọc lời thú tội của Dương Văn Hiếu (tự Hí) em cùng cha khác mẹ với Đạo Dừa, trước bà con các đòan thể, chính quyền huyện Châu Thành ngày 1-10-1988.

    1.      Việc dạy “đạo bất tạo con”, năm 1974, anh Nam đã dạy đạo này ở cồn Phụng bị gia đình ngăn ản. Năm 1975, anh Nguyễn Văn Cư chủ nhà in Hiệp Phát ở Gò Công cùng anh Nam vào dựng chùa ở Hậu Giang, bị chánh quyền bắt tập trung cải tạo với tội lợi dụng tôn giáo chống chánh quyền cách mạng. Năm 1985 gia đình viết đơn bảo lãnh, được nhà nước chiếu cố vì tuổi cao sức yếu nên cho về sum họp tại hộ HÙynh Ngọc An và tiếp tục bị chánh quyền quản chế tại ấp 3 xã Phú An Hòa (Châu Thành). Nhưng bước sang năm 1987, sau khi được tạm tha 2 năm, anh nam hô hào dạy “đạo bất tạo con”, vận động bà con hiến con gái đến để anh dạy học. Chính tôi đã tự hiến con gái tôi. Sau Hải em tôi cũng hiến đưa con gái. Tôi biết còn 20 hộ gửi đơn đăng ký cho họ hoặc cho cháu họ đến để anh Nam dạy “đạo bất tạo con”. Việc làm này chánh quyền không cho phép, gia đình có ngăn cản, như vậy là sai phạm, chưa nói đến việc anh Nam còn đang vị quản chế. Nếu anh Nam dạy “đạo bất tạo con”, sẽ xâm phạm nhân phẩm phụ nữ, xúc phạm truyền thông thuần phong mỹ tục của người Việt Nam.

    2.      Việc làm đài phát thanh, sử dụng casette phát các lọai băng ghi âm mang nội dung không mạnh mẽ, không được chánh quyền chấp nhận là những việc làm phạm pháp. Nội dung tuyên truyền ảnh hưởng đến chủ trương của đảng và nhà nước, làm giảm uy tín chánh quyền các cấp, giảm uy tín các nhà lãnh đạo. Tôi biết và được nghe hầu hết trong các băng do anh Nam nói và đầu các băng đều có: Đây! Đây! Đài phát thanh Phú An Hòa! Câu này lập đi lập lại 2,3 lần.

    3.      Trong khi nói tình hình chính trị, kinh tế, sanh đẻ có kế họach với bà con và bổ đạo từ các nơi đến, thì anh nam có nêu lên 3 vấn đề dẫn đến sự chết của nhân lọai, thế giới, mà nhà nước không có khả năng giải quyết là: khó khăn kinh tế, chiến tranh và sanh đẻ không có kế họach và những người đứng đầu đảng và nhà nước bất tài, thiếu đạo đức. Tôi thấy Nam nói như vậy là giảm uy tín và xúc phạm đến lãnh tụ của Đảng và nhà nước.

    4.      Anh Nam yêu cầu bà con mê tín từ nhiều nơi nếu còn tiền vàng thì bỏ ra cho anh. Số tiền này do Hùynh Thị Ứng đếm và cho vào tủ, tôi không biết số tiền đó là bao nhiêu, thu chi không minh bạch. Còn số tiền ăn uống của anh Nam do những người mê tín ở Tiền Giang cung cấp, đóng góp công trình phuc lợi công cộng ở địa phương cũng không hề sử dụng số tiền đó. Nói tóm lại, Diệu Ứng chịu trách nhiệm về tiền bạc của bá tánh cống hiến nhưng thu chi không minh bạch.

    5.      Anh Nam yêu cầu mua ghe hoặc đóng ghe cho anh, những người mê tín ở Tiền Giang cho anh Nam hai chiếc ghe. Ghe chưa có giấy tờ hợp lệ, nhưng chiều ý anh Nam ghe được kéo về Phú An Hòa, chánh quyền địa phương không cho anh Nam xuống ghe nhưng Hùynh Ngọc Mỹ đã cố tình đưa Nam xuống ghe trong dịp lễ 2-9-1988. Khi lực lượng tuần tra bảo vệ trên sông đến kiểm tra hành chánh thì anh Nam yêu cầu tắt đèn, sáng làm việc. Khi kiểm tra xong, anh Nam không ký vào biên bản. Như vậy việc đóng và mua ghe chưa hợp lệ, chúng tôi xuống ở dưới ghe với anh Nam là trái phép, không chấp hành lệnh của đòan kiểm tra hành chánh là chống đối lực lượng kiểm tra thi hành nhiệm vụ.

    6.      anh Nam yêu cầu những người mê tín ở Tiền Giang đóng góp vật liệu xây dựng cái tháp cao 3,5 mét kiểu hình bát quái, không trình báo và chưa được chánh quyền địa phương cho phép là việc làm sai. Trên đây là việc làm sai trái của anh Namvà một số người khác trong đó có tôi.

    Riêng về phần tôi, xin nêu lại cụ thể những sai phạm sau:

    1.      tự nguyện hiến con để anh Nam dạy “đạo bất tạo con”.

    2.      Trông coi việc xây dựng cái tháp cho anh Nam trong khi chưa có ý kiến cho phép của các cấp chánh quyền.

    3.      Mặc dù biết anh Nam xuống ở dưới ghe là sai phạm, nhưng tôi cố ý xuống ở cùng anh và 4 người khác 2 ngày 2 đêm.

    4.      Biết anh Nam làm nhiều việc sai phạm mà không ngăn cản thậm chí còn tỏ ra đồng tình, có trường hợp còn giúp đỡ, tạo điều kiện cho anh Nam thực hiện.

    Trên đây là những việc làm sai phạm của anh Nam cũng như của tôi và một số người khác trong thời gian qua gây ra tình hình dư luận không tốt tại địa phương và nhiều nơi khác. Đến nay tôi đã thấy rõ sai phạm của mình, tôi hứa sẽ khắc phục tốt và không tái phạm nữa. Tôi xin trình bày sự thật; kính mong chánh quyền các cấp cứu xét, rộng lượng tha thứ cho tôi và anh Nguyễn Thành Nam. Tôi thành thật biết ơn.

    Sở dĩ chúng tôi nêu nguyên văn lời tự thú của Dương Văn Hiếu, vì không lâu sau sau ngày công khai tội trạng này, có người, kể cả người thân của ông Hiếu, nói rằng ông ta không có thú nhận những điều như báo chí đã nêu. Đây cũng là ý riêng, được ông Hiếu tự giác khai báo. Có vụ việc khá rõ, có việc cần được xem xét lại.

    Còn lời nhận tội của Diệu Ứng (Hùynh Thị Ứng sinh năm 1932), từng ứng cử Phó đại Tổng thống với Đạo Dừa, ngòai những điểm giống như ông Dương Văn Hiếu, có những chi tiết cần thêm là:

    Cậu Hai gọi ủng hộ tiền bạc để xây dựng các công trình phúc lợi địa phương, nhưng ông đã dùng vào việc xây dựng chỗ dạy “đạo bất tạo con”. Có hơn 30 người làm đơn đăng ký đến học đạo này. Y đồ Câu Hai đóng ghe dạy “đạo bất tạo con” là rõ. Làm đài phát thanh là phạm pháp, tôi có cản ngăn, Cậu Hai nói: “Mày không cho tao dạy đạo (bất tạo con), tao nhất định cho mày ở tù”. Tôi là người đứng tên bảo lãnh Cậu Hai, mong muốn của tôi là khuyên Cậu Hai và bổ đạo tu thuần túy, tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng, nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp và hiến pháp, đóng góp vào việc phúc lợi xã hội, cùng với chính quyền địa phương xây dựng lại quê hương.

    Bà Diệu Ứng thành tâm hứa cùng bà con:

    - Tôi dung túng, không kiên quyết với Cậu Hai và những người khác làm việc phạm pháp. Tôi xin hòan tòan chịu trách nhiệm những việc đã xảy ra tại gia đình tôi từ ngày Cậu Hai về đến Nam, về phần tiền có người trong họ hàng, gia đình thân tộc như cậu Ba Hiếu, cậu Sáu Hải cho rằng tôi nuôi Cậu Hai để thu tiền bổn đạo. Tôi xin chịu trách nhiệm về các khoản chi từ việc nhận của bổn đạo đến việc thăm nuôi Cậu Hai, cũng như đóng góp vào việc xây dựng các công trình phúc lợi xã hội từ năm 1975 (còn ở cồn Tân Vinh) đến khi về xã Phú An Hoà… Rất mong được sự cứu xét,tôi chân thành biết ơn.

    Ong Phan Kim Huê ở Long An, khá am hiểu về Đạo Dừa có viết trên tờ in công an Bến Tre (ngày 1-4-1989): - Trên con người nguyên thủy đó, Đạo Dừa xây dựng thuyết bất tạo con, là vợ chồng ăn cùng mâm, ngủ cùng chiếu mà không ăn ở vợ chồng với nhau, diệt dục để trở thành chánh quả. Liệu cái thuyết bất tạo con đó có phải không tưởng không. Nếu có người làm theo một là mấy ông giá cúp bình thiếc, với mấy bà lão gần xuống lổ hoặc thanh niên bất lực với một thiéu nữ mắc bệnh lãnh cảm. Nếu không họ sẽ khùng lên vì bị ẩn ức sinh lý (refooulement). Rất tiếc hiên nay có người tin theo.

    Không ít, có thể nói là đại đa sốngười đồng tình với ý kiến của ông Phan Kim Huê về cái bệnh của Đạo Dừa.

    Không biết có phải nghe người ta nói mình bị bệnh như vừa nêu, nên chính ông Đạo Dừa đã viết cho người thân mìn biết ông ta kh6ng bị bất lực, liệt dương gì cả, bộ “đồ kín của ông” vẫn họat động bình thường. Lúc về “ẩn dật” tại Phú An Hòa, bên bờ Ba Lai hiền hòa, Đạo Dừa vẫn chưa nguôi “lòng đạo”, vẫn lén lút cùng tín đồ dùng xe riêng bung ra đi thăm dò, họat động riêng nhiều nơi, trong đó có các khách sạn ở thành phố Mỹ Tho, ở TPHCM, cả khách sạn nổi trên sông Sài Gòn cũng được ông tìm đến. Hình ảnh, người chứng kiến Đạo Dừa đến đây để dạy “đạo bất tạo con” đã rành rành, không thể nào phủ nhận được. Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật có nói: “Tà hay chính đều do lòng người tạo ra cả”. Người – tâm Đạo Dừa thế nào mới làm những điều như trên.

    Bạn Thiên Thanh, thay mặt cho nhiều độc giả nêu ý kiến của mình trên báo Đồng Khởi số 1001, ra ngày 19-10-1988 yêu cầu:

    Rõ ràng hành vi của ông Đạo Dừa là lỗi đạo, phản khoa học, lợi dụng sự mê tín của tín đồ mê muội… Ngày xưa thằng giặc mỗi lần nghi ai theo cộng sản chúng còn chặt đầu bên giữa chợ để làm “gương” kia mà. Chế độ ta rất nhân đạo, không làm những chuyện như thằng giặc, nhưng không hiểu sao trong vụ Đạo Dừa chứng cứ đã rõ ràng, đây là một vụ án, vậy mà kẻ gây ra nó không chính mình ra trước công chúng tự thú về hành vi mờ ám của mìh. Công luận đang cần Đạo Dừa đứng ra tự thú trước nhân dân, nói rõ thủ đọan, lột tả hết ý đồ của mình để đồng đạo khắp nơi để không còn bị mê hoặc, lừa mị nữa.

    Qua những sự kiện trên, tư liệu cùng lời thú trên đây về họat động của Cậu Hai và đệ tử như dạy “đạo bất tạo con”, làm đài phát thanh, xuyên tạc chính sách chủ trương của nàh nước, làm hại uy tín người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước ta…rõ ràng Cậu Hai đã vi phạm pháp luật hiện hành.

    Hành động của Đạo Dừa bị dư luận xã hội lên án mạnh mẽ. Đệ tử và kẻ bày mưu tính kế ra nhận tội trước nhân dân. Không lâu – lần sau cùng trong đời – Cậu Hai lại tiếp tục bí mật rời bỏ Phú An Hòa, đến phường 5 thành phố Mỹ Tho cư  trú trái phép hầu tiếp tục “sự nghiệp, duyên căn” còn đang dang dở tại quê nhà.

    Chiều ngày 12-5-1990, công an Bến Tre cùng công an địa phương đến yêu cầu Cậu Hai trở về nơi cũ vì đã vi phạm lệnh cư trú bắt buộc, có hành vi tuyên truyền mê tín dị đoan. Một số tên bảo vệ Đạo Dừa, bằng nhiều cách chống lại lực lượng đang thi hành nhiệm vụ. Chúng đã níu kéo Đạo Dừa lại, để rơi ông ta từ trên gác xuống nền nhà, Đạo Dừa bị chấn thương nặng. Măc dù bị đưa đi cấp cứu kịp thời, sáng hôm sau, Đạo Dừa tắt thở, do chấn thương, nứt sọ và xuất huyết não.

    Xét ở một góc độ nhân đạo, Nguyễn Thành Nam – Đạo Dừa đã vi phạm pháp luật, điều ấy sẽ được xử lý thích đáng. Nhưng về mặt sức khỏe và tính mạng ông ta vẫn được pháp luật bảo hộ. Trước nhất những kẻ trực tiếp gây ra cái chết của Nguyễn Thành Nam phải được đưa ra trước vành móng ngựa.

    Hơn 5 tháng sau cái chết của Nguyễn Thành Nam, ngày 31-10-1990, Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre đã công khai xét xử vụ án này. Những kẻ liên quan đến vụ án hiện đang ngồi tù. Kết thúc vụ án Đạo Dừa cũng khép luôn lại hồ sơ của một người không bình thường ở xứ dừa Bến Tre.

    Chúng tôi rất tâm đắc với nhận xét của một nhà báo lão thành ở Bến Tre: Thật quá đơn giản nếu nghĩ rằng việc cải tạo Đạo Dừa xem như hòan tất. Biểu hiện một chiếc xà lan thành một nhà hàng nổi, biến khu vực Tân Vinh đen tối về văn hóa thành một nơi nghỉ mát hay một điểm du lịch quả là không khó. Cái khó nhất là gội sạch óc mê tín ở những con người đã bị kẻ thù nhiều lọai u mê hóa để chúng lợi dụng thực hiện mưu đồ nguy hại cho xã hội mà rất nhiều tín đồ khó nhìn thấy. 

    Thuyết Minh về Đạo Dừa Bến Tre