trang Blog

tiendatguideTham gia: 20/11/2006
  • BÀI THUYẾT MINH TUYẾN ĐIỂM ĐÀ LẠT
    Du Lịch
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    BÀI THUYẾT MINH TUYẾN ĐIỂM ĐÀ LẠT

    Bài Thuyết Minh Tuyến - Điểm TP.HCM - Đà Lạt

    Địa phận Tp.HCM:
    Sơ Lược Về Lịch Sử Hình Thành Của Thành Phố Hơn 300 Năm
    Vào khoảng đầu thế kỷ XVII, cả vùng đất Nam Bộ ở trong tình trạng hầu hết đất đai đều hoang vu, rừng hoang bạt ngàn, dân cư thưa thớt, hệ thống sông ngòi chằng chịt. Ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đã hình thành một thị trấn nhỏ, hình thức cư trú tập trung ban đầu. Trong số dân cư ở đây, người Khơmer chiếm đa số, cạnh đó còn có những người Việt đầu tiên từ các tỉnh miền Trung vào đây sinh sống. Đây là nơi buôn bán trao đổi của nhân dân trong vùng .
    Sự xuất hiện của con người ở vùng này khá sớm, tồn tại nhiều nền văn hoá từ thời kỳ đồ đá đến kim khí với di tích Bến Đò quận 9 .
    Qua các dữ liệu trong quá khứ và hiện nay, chúng ta thấy trên vùng đất Nam Bộ từ sông Tiền trở lên vùng Tây Bắc ra phía Bà Rịa ở phía Đông đã có giống người sinh sống và tồn tại. Giống người đó ngày nay thuộc hai phần dân tộc chính là Mạ và Stiêng, người Khơme đến sau chiếm một vùng đất trên rẻo đất phía Tây Tây Ninh .
    Căn cứ vào thư tịch cổ và các chứng cứ khảo cổ học cho thấy ở miền Nam có sự tồn tại của nền văn hóa sáng giá và vương quốc Phù Nam có nền văn hoá phát triển được mệnh danh là văn hoá Óc Eo. Vương quốc này hiện diện từ thế kỷ II sau Công Nguyên cho đến nửa đầu thế kỷ VIII. Có giả thiết cho rằng vào thời điểm này có một trận hồng thủy lớn đã chôn vùi hải cảng Óc Eo phồn thịnh dưới lớp phù sa .
    Sau đó một thời gian, nước Chân Lạp của người Khơmer đang ở sâu trong nội địa Nam Lào mở rộng ra và chia thành hai miền :
    _Lục Chân Lạp ở phía Bắc là miền núi đồi .
    _Thuỷ Chân Lạp có biển và đầm lầy .
    Thuỷ và Lục Chân Lạp thống nhất vào đầu thế kỷ IX, người Khơmer sống tập trung ở vùng đất cao ráo gần Biển Hồ, xây dựng Ankor huy hoàng. Đồng bằng Nam Bộ nói chung là một vùng gần như hoang dã, chỉ có vài số người Khơme sống rải rác ở vùng cao .
    1 .Thời chúa Nguyễn :
    Người Việt vào miền Nam lúc nào sử sách không ghi lại. Không ghi vì họ không phải là cánh quân chinh phục, cũng không có sứ mạng rao giảng gì cả, những di dân đầu tiên chỉ là những nông dân nghèo phải tha phương cầu thực. Có thể vào cuối thế kỷ XVI, vào thời Trịnh _Nguyễn phân tranh trong 9 trận đánh lớn kể từ năm 1692 đến 1672 chỉ có một trận đánh lớn là do quân Trịnh chủ động gây chiến, đi từ Thăng Long vào nhưng đều thất bại. Như vậy, qua mấy chục năm chiến tranh, sự thiệt hại nặng nề thuộc về chúa Trịnh. Điều đó cho thấy những lưu dân người Việt buổi đầu vào đất Gia Định có thể là những người này chạy loạn đến đây .
    Cũng có người cho rằng những lưu dân đầu tiên của người Việt đặt chân đến vùng Mô Xoài vào thời thuộc Minh. Sử sách đã ghi chép về tính hà khắc của bọn xâm lược Minh đối với dân Việt đến nỗi người ta không sống được. Có lẽ lực lượng kháng chiến chống quân Minh của quân dân nhà Trần đã rút vào Thuận Hoá. Cuộc kháng chiến thất bại, sẵn có thuyền bè, lương thực, chắc chắn số người này sẽ căng buồm vào Nam nơi nghe nói trù phú và hoàn toàn vô chủ (giai đoạn này không thể vượt đường bộ vì vùng đất từ núi Bà Rịa vào Nam đến Hàm Tân còn là lãnh thổ của nước Chiêm Thành cho đến 1693).
    Đến năm 1697, hai tướng nhà Minh là Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên với 3000 quân và 50 chiến thuyền trốn nhà Thanh chạy sang chúa Nguyễn cho vào Mỹ Tho và Biên Hoà làm ăn. Họ lập ra phố chợ, phát triển sở trường thương mại. Năm 1698 khi lưu dân đã khá đông, chúa Nguyễn cử Thống Suất Nguyễn Hữu Cảnh vào tổ chức bộ máy chính quyền ở Gia Định và lập ra đơn vị hành chính như sau :
    + Lập dinh Phiên Trấn thuộc huyện Tân Bình .
    + Lập dinh Trấn Biên thuộc huyện Phước Long. Hai dinh này thuộc phủ Gia Định .
    Đến năm 1788, Nguyễn Ánh chiếm Gia Định, nâng Gia Định trấn thành Gia Định thành, cho xây dựng thành Bát Quái vào năm 1790 vị trí nằm giữa bốn con đường hiện nay là Đinh Tiên Hoàng, Lê Thánh Tôn, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Nguyễn Đình Chiểu .
    Từ năm 1802 đến năm 1808 đất Sài Gòn thuộc hai huyện Bình Dương và Tân Long, Sài Gòn vừa là trụ sở của trấn Phiên An tại chợ Thị Nghè, vừa là trụ sở của Gia Định thành .
    Tháng 7 năm 1832 tả quân Lê Văn Duyệt chết, vua Minh Mạng bỏ cấp thành Gia Định và chia Nam Bộ ra thành Lục tỉnh.
    Đến năm 1836 vua Minh Mạng cho xây thành Phụng sau khi phá bỏ thành Bát Quái với vị trí ngày nay thuộc bốn con đường : Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Mạc Đỉnh Chi .
    2. Sài Gòn thời Pháp thuộc:
    Đầu thế kỷ XIX, tư bản Pháp phát triển cao đòi hỏi phải có một thị trường cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ hàng hoá sản phẩm sản xuất ở chính quốc. Hai nhân vật quan trọng trong việc cổ vũ Pháp chiếm Việt Nam là giám mục Pellerin_cai quản địa phận Huế và linh mục Huc_cựu thừa sai truyền giáo .
    Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 01-9-1858 Pháp huy động 3000 quân, 14 tàu chiến tấn công Đà Nẵng. Ngày 02-2-1859 Pháp rời Đà Nẵng kéo vào đánh thành Gia Định bằng đường biển rồi tiến vào sông Lòng Tàu, nhưng dọc sông Lòng Tàu có nhiều pháo đài do quân triều đình đóng giữ và đánh trả quyết liệt. Chính vì vậy, đoàn quân viễn chinh phải mất một tuần lễ mới vượt qua được. Tuy nhiên, đến chiều ngày 15-2-1859, quân Pháp vẫn đến cửa ngõ thành Gia Định và bắn đại bác vào thành để yểm trợ cho bộ binh tiến lên cổng thành .
    Quân ta cầm cự đến 10g thì rút, bỏ lại hầu hết súng đạn, 200 khẩu đại bác, 8 chiến thuyền trong xưởng, 85.000kg thuốc súng và nhiều kho gạo đủ để nuôi 7000-8000 người trong một năm. Đến ngày 08-3-1859 Pháp huỷ thành Phụng và triều đình Huế ký hoà ước vào ngày 05-6-1862 giao ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp là: Biên Hoà –Gia Định –Định Tường. Sau đó là hoà ước 1867 giao ba tỉnh miền Tây : Vĩnh Long-An Giang –Hà Tiên. Như vậy trên nguyên tắc chiến tranh giữa Pháp và triều đình Huế chấm dứt. Cả Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp .
    Ngày 08-1-1877 tổng thống Pháp ký sắc lệnh chính thức thành lập thành phố Sài Gòn. Thành phố Sài Gòn được xếp vào loại thành phố cấp I .
    Ngày 20-10-1879, thống đốc Nam Kỳ Le Myre deVillers ban hành nghị định thành lập thành phố Chợ Lớn và xếp vào cấp II.
    Ngày 17-10-1877, tổng thống Nam Kỳ ban hành sắc lệnh thành lập liên bang Đông Dương trong đó có xứ Nam Kỳ. Ngày 12-11-1887, do sắc lệnh của tổng thống Pháp, Sài Gòn được chọn làm thủ phủ Đông Dương .
    3. Sài Gòn vào thời Mỹ-Nguỵ:
    Bị sa lầy ở chiến trường Đông Dương, đặc biệt là sau thất bại Điện Biên Phủ, thực dân Pháp buộc phải ngồi vào bàn hội nghị Genève, đàm phán với chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà về việc chấm dứt đưa tay sai Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng bù nhìn tại miền Nam Việt Nam và nước ta bị chia cắt làm hai miền .
    Với bản chất hiếu chiến độc tài, gia đình trị, Ngô Đình Diệm chẳng những không được lòng dân mà ngay cả giới sĩ quan, binh lính cũng bất mãn. Chính vì vậy, ngày 01-11-1963 cuộc đảo chính lật đổ chế độ độc tài nổ ra kết thúc cuộc đời Diệm –Nhu trên đường từ nhà thờ Cha Tam về Sài Gòn. Mỹ đưa Nguyễn Văn Thiệu, rồi Trần Văn Hương cuối cùng là Dương Văn Minh lên nắm quyền tổng thống .
    4. Thời kỳ thống nhất đất nước :
    Từ năm 1974, bộ chính trị đã đề ra kế hoạch và nhiệm vụ cho Cách Mạng miền Nam trong năm 1975-1976. Tuy nhiên, nếu có thời cơ thì giải phóng trong miền Nam ngay trong năm 1975. Trên tinh thần đó, sau hàng loạt chiến thắng của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam: chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế – Đà Nẵng, giải phóng Phước Long, ta tiếp tục mở chiến dịch giải phóng Sài Gòn –Gia Định .
    Ngày 14-4-1975 chiến dịch này chính thức mang tên ”chiến dịch Hồ Chí Minh“. Ngày 26-4-1975 quân giải phóng chia làm 5 mũi tiến chiếm được năm mục tiêu quan trọng nhất Sài Gòn .
    5g sáng ngày 30-4-1975, sau đợt bắn pháo chuẩn bị, đội hình thọc sâu của quân đoàn 3 vượt qua ngã tư Bảy Hiền tiến đánh sân bay Tân Sơn Nhất. Trên tất cả các hướng, các sư đoàn tiến nhanh về thành phố mà điểm tập hợp là Dinh Độc Lâp Đến 11g30’ ngày 30-4-1975 lá cờ Cách Mạng đã tung bay trên nóc Dinh Độc Lập .
    Sau khi chính quyền cũ Việt Nam Cộng Hoà và đế quốc Mỹ hoàn toàn sụp đổ với sự đầu hàng của tổng thống cuối cùng là Dương Văn Minh nước Việt Nam vẫn còn tồn tại hai chính phủ :
    + Ở miền Bắc đang tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa là chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng .
    + Ở miền Nam là chính phủ Cách Mạng lâm thời miền Nam Việt Nam của nhân dân miền Nam đã đứng lên giải phóng đất nước bao gồm quân giải phóng và các lực lượng tiến bộ khác, quốc kỳ nửa đỏ nửa xanh, sao vàng ở giữa.
    Sau khi giành được độc lập hoàn toàn vào ngày 30-4-1975, ngày 26 và 27-12-1975 tại Dinh Độc Lập lúc bấy giờ đã diễn ra hội nghị Hiệp Thương hai miền Nam –Bắc thống nhất đất nước.
    Sau khi thống nhất đất nước, nước Việt Nam chỉ còn lại một chính phủ là Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam với quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng .
    Ngày 02-7-1976 Quốc hội khoá VI đã chính thức đổi tên Sài Gòn thành Thành Phố Hố Chí Minh

    ĐÔI NÉT VỀ TP.HCM
    Thành phố Hồ Chí Minh trong địa giới hôm nay rộng hơn 2093,7 km2; Dân số hơn 8 triệu người (năm 2006). Là Thành Phố lớn và đông dân nhất của đất nước, có năng lực lớn về sản xuất kinh doanh và là một trong những thành phố đang phát triển khá sầm uất của khu vực Đông Nam Á. Gồm 20 quận và 4 huyện:
    Nội thành có 15 quận: Quận 1, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10, 11, Phú Nhuận, Gò Vấp, Bình Thạnh, Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân.
    Ngoại thành có 4 quận: quận 2, 9, 12, Thủ Đức .
    5 huyện : Nhà Bè, Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh, Cần Giờ.
    Sau thời gian dài trường kì kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân 1975 đã đánh dấu bước ngoặt mới cho sự hòa bình và ấm no của dân tộc Việt Nam.
    Tên thành phố Sài Gòn được đổi thành tên thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1976.
    Sau hơn 10 năm cùng với cả nước thực hiện đường lối đổi mới kinh tế trên địa bàn thành phố tăng trưởng khá cao và ổn định đóng góp 37,8% GDP cả nước.
    Hiện nay, Tp.HCM là trung tâm du lịch lớn nhất cả nước, thu hút hàng năm 70% lượng khách quốc tế đến Việt Nam .
    Giao Thông
    Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông của cả miền Nam bao gồm đường sắt, đường bộ, đường thủy và đường hàng không. Từ thành phố đi Hà Nội có quốc lộ 1A, đường sắt Thống Nhất và quốc lộ 13 xuyên Đông Dương.
    Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất chỉ cách trung tâm thành phố 7km, là sân bay lớn nhất nước với hàng chục đường bay nội địa và quốc tế. Có các đường bay nội địa từ Tp. Hồ Chí Minh tới Buôn Ma Thuột, Đà Lạt, Đà Nẵng, Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Nha Trang, Phú Quốc, Pleiku, Quy Nhơn, Rạch Giá, Vinh.
    Tp. Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km, cách Tây Ninh 99km, Biên Hòa (Đồng Nai) 30km, Mỹ Tho 71km, Vũng Tàu 129km, Cần Thơ 168km, Đà Lạt 308km.
    Ngã Tư Hàng Xanh
    Đây là một trong những giao lộ quan trọng và là cửa ngõ ra vào thành phố với lưu lượng hơn 20.000 lượt xe qua lại trong một giờ. Cho nên thường xảy ra tình trạng kẹt xe trong giờ cao điểm. Trước tình hình này UBND TP.Hồ Chí Minh đã xem xét dự án xây dựng giao lộ này với kinh phí xây dựng 15,6 tỉ đồng. Tên gọi Hàng Xanh bởi ngày xưa khu vực này có rất nhiều cây Sanh (một loại cây gỗ cùng họ với cây Si) đọc chạy nên có tên là Hàng Xanh. Người dân ở đây quen gọi là Ngã 4 Hàng Xanh.
    Khu Du Lịch Văn Thánh
    Cầu Văn Thánh bắt qua rạch Văn Thánh đổ ra rạch Thị Nghè rồi sau đó đổ ra sông Sài Gòn. Phía bên tay phải là khu du lịch Văn Thánh một trong những nơi du lịch, vui chơi giải trí của thành phố, được xây vào năm 1988. đây là một cù lao nhỏ (khoảng 7ha) trước những năm 1975 còn được gọi là cù lao Bảy Mẫu. Theo sáng kiến của các nhà hoạt động văn hóa quận Bình Thạnh, cù lao Bảy Mẫu đã được đầu tư xây dựng thành khu du lịch Văn Thánh. Hàng năm vào ngày 5-1 âm lịch nơi đây thường tổ chức lễ hội mừng chiến thắng của vua Quang Trung (Kỷ Dậu 1789)và cuộc thi tuyển chọn diễn viên điện ảnh, người mẫu. Tên gọi là Văn Thánh vì năm 1824(Minh Mạng đời thứ 5) ở khu vực này có xây dựng ngôi Văn-Miếu thờ đức Khổng Tử nên người dân gọi là khu Văn Tử Dụng Thánh nhưng trong thời Pháp miếu thờ này đã bị phá hủy và hiện nay không còn nữa.
    Bến Xe Văn Thánh
    Bến xe Văn Thánh là một trong những bến xe lớn có từ lâu đời ở khu vực này. Từ đây có thể đi Biên Hòa-Vũng Tàu và một số tỉnh miền Trung. Khoảng cuối năm 1996 bến xe được dời sang bến xe Miền Đông vì ở đây xây dựng hệ thống đường lớn và cao tốc, nếu để bến xe ở khu vực này dễ gây ách tắt giao thông.
    Khu Tân Cảng
    Khu Tân Cảng nằm ngay dưới chân cầu Sài Gòn phía hạ lưu quận Bình Thạnh. Cảng này được Mỹ xây dựng vào năm 1965, được xem là Hải Cảng Quân Sự lớn của Mĩ-Ngụy nhằm cung cấp vũ khí và đạn dược cho chiến trường miền Nam Việt Nam. Sau giải phóng thì đây là khu vực do hải quân Việt Nam kiểm soát. Trong thời kinh tế thị trường (1990) khu Tân Cảng được chia thành 2 khu vực: khu vực kinh tế (cho tàu xuất nhập hàng hóa và kho để các Container). Từ cầu Sài Gòn nhìn xuống chúng ta có thể thấy rất nhiều Container xếp chồng lên nhau trong một khu vực lớn. Hiện cảng là trung tâm sửa chữa và tiếp tế hàng hóa chính của nền quân sự Việt Nam.
    Cảng Sài Gòn trực thuộc Cục Hải Quan Việt Nam, là cảng lớn nhất của Việt Nam hiện nay, đã trải qua trên 100 năm phát triển và là thành viên của Hiệp hội cảng quốc tế từ năm 1992. Hiện nay cảng còn tiếp tục thu hút đầu tư để phát triển và mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế. Điều kiện tự nhiên của cảng Sài Gòn khá thuận lợi cho một cảng biển với độ dốc luồng 85 km từ Vũng Tàu với mức nước bình quân 11 m, thấp nhất là 9,7 m và cao nhất là 12,1 m. Cảng có thể tiếp nhận tàu có trọng tải 30.000 DWT, dài 230m trong khoảng thời gian 6 -> 15 giờ/ngày.
    Khu Thanh Đa
    Cư xá Thanh Đa gồm 29 lô chiếm diện tích 36ha được xây dựng 1973 làm khu nhà ở cho công nhân viên chức.
    Đặc sản của khu vực này là: bánh tráng phơi sương cuốn thịt luộc, cháo vịt… ngoài ra ở đây còn nổi tiếng với Khu Du Lịch Bình Quới: gọi là khu du lịch dưới nước với nhiều hoạt động vui chơi trên đoạn sông Sài Gòn. Đến đây chúng ta có thể tổ chức các hoạt động dã ngoại như: lướt ván trên sông, câu cá giải trí, du thuyền trên sông…hàng năm ở đây thường tổ chức trại hè cho thiếu nhi toàn thành phố.
    Cầu Sài Gòn
    Cầu Sài Gòn được xây dựng vào năm 1960 và hoàn thành vào năm 1964, cầu dài 987,2 m, rộng 16m, dài 32 nhịp, trọng tải 25 tấn. Đây là chiếc cầu quan trọng của cửa ngõ dẫn vào thành phố. Cầu do hãng C.E.C (Captital Engineering Cooperation) thiết kế và hãng RMR (Mỹ) thi công xây dựng bắt qua sông Sài Gòn, kinh phí do chính quyền Mỹ tài trợ, sông Sài Gòn bắt nguồn từ Sông Bé(Sông Mê Kông) chảy qua Củ Chi, Thanh Đa, Nhà Bè rồi đổ ra cửa biển Cần Giờ qua sông Soài Rạp.
    Năm 1998, ta liên minh với Pháp xây dựng, sửa chữa và nâng cấp lại phần chịu lực đồng thời mở rộng từ 16m thành 25m với tải trọng 45 tấn. Trong tương lai sẽ có thêm một cây cầu nữa bắc song hành với cây cầu cũ nhằm giảm bớt áp lực cho cầu Sài Gòn. Cầu Sài Gòn là ranh giới giữa đường Điện Biên Phủ và xa lộ Hà Nội.
    Sông Sài Gòn dài 220 km, bắt nguồn từ cao nguyên Hớn Quảng. Một đoạn của con sông này là ranh giới tự nhiên của tỉnh Tây Ninh và Bình Phước. Một phần đổ vào hồ Dầu Tiếng, sau khi chảy qua Bến Cát sông lại nhập chung với sông Đồng Nai và đổ ra cửa biển Gành Rái.
    Cảng Sài Gòn
    Trực thuộc Cục hàng hải Việt Nam, đây là cảng lớn nhất nước ta hiện nay. Điều kiện tự nhiên của Cảng Sài Gòn được xem là khá thuận lợi cho một cảng biển, đặc biệt tại đây có sức chứa hàng hóa khá lớn và có thể chứa hàng hóa kho bãi hơn 200.000 tấn.
    Quận 2
    Qua khỏi cầu Sài Gòn là địa phận của Quận 2 TP.HCM với diện tích hơn 5000 ha gồm An Phú-An Khánh-Thủ Thiêm-Thạnh Mỹ Lợi-Bình Trưng. Trước năm 1997 khu vực này thuộc huyện Thủ Đức.
    Quận 2 gồm khu công nghiệp Cát Lái và khu đô thị mới Thủ Thiêm hiện nay là trung tâm mới của Thành Phố. Dân số hiện nay là 200.000 người và dự kiến đến năm 2010 sẽ là 800.000 người.
    Hiện nay cùng với sự phát triển kinh tế đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập WTO (11/2006), những nhà đầu tư nước ngoài chọn Quận 2 là trung tâm để xây dựng các cao ốc biệt thự, nhà cho thuê, dọc theo tuyến đường chúng ta thấy cơ sở vật chất ở đây khá khang trang. Đó cũng là một bộ mặt mới của TP.Hồ Chí Minh hiện nay.
    Xa lộ Hà Nội
    Xa lộ Hà Nội dài 31 km, rộng 21m được xây dựng từ năm 1956->1961 do Mỹ viện trợ. Xa lộ Hà Nội nối liền từ cầu Điện Biên Phủ (trước đây là cầu Phan Thanh Giản) đến ngã ba Tam Hiệp ( Hố Nai) theo dự định ban đầu xa lộ có 4 làn xe nhưng do thất bại trong “chiến tranh đặc biệt” Hoa Kỳ đã cắt giảm kinh phí nên năm 1964 xa lộ được khánh thành chỉ với 2 làn xe. Mỹ và chính quyền Sài Gòn sử dụng con đường này như một đường bằng quân sự dã chiến phòng khi sân bay Tân Sơn Nhất gặp sự cố. Đến năm 1971 chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cho rằng xa lộ sẽ là 1 đường băng tuyệt vời cho quân giải phóng tấn công Sài Gòn nên đã cho xây dựng 1 con lươn chạy dọc theo xa lộ. Tuy vậy xét về mặt giao thông vận tải thì đây là một điều kiện tốt nhằm giúp cho giao thông trên xa lộ được an toàn hơn.
    Ngày 10-10-1984 nhân kỷ niệm 30 năm giải phóng Hà Nội, xa lộ Biên Hòa đổi tên là xa lộ Hà Nội. Năm 1998, cùng với dự án khôi phục QL 1A, xa lộ Hà Nội cũng được khôi phục và mở rộng, bàn giao lại cho chính phủ Việt Nam vào ngày 20/1/1998. Đây là con đường quan trọng về kinh tế, quân sự nối liền miền Bắc và Sài Gòn.
    Parkland
    Đây là khu nhà ở dành cho người nước ngoài thuê, được xây dựng khoảng 1995 …
    Là biệt thự đẹp được xây dựng trong vườn rộng, thoáng, nằm cạnh xa lộ quan trọng Sài Gòn- Biên Hoà tạo thêm cảnh quan cho thành phố phía trên là khu nhà ở, văn phòng cho người nước ngoài thuê và tầng trệt là một siêu thị Mini bán hàng phục vụ cho những người ở quanh khu vực.
    Ngã ba Cát Lái
    Nằm trong xa lộ cao tốc TP.Hồ Chí Minh-Vũng Tàu với chiều dài 96,6 km và chiều rộng 23m, tổng dụ án dự kiến là 645 triệu USD dược thực hiện bởi liên doanh Anh và Việt Nam, xa lộ cao tốc này sẽ được thiết kế với 4 làn xe và bắt qua cầu Đồng Nai mới.
    Nhà Máy Ciment Sao Mai
    Đây là một nhà máy liên doanh giữa nhà máy Ciment Hà Tiên và tập đoàn Holder Bank của Thụy Sĩ với vốn đầu tư 346 triệu USD (35% vốn Việt Nam). Thời gian sử dụng 50 năm.
    Công suất thiết kế của nhà máy 1,8 triệu tấn/năm. Được xây dựng tháng 10-1994 và hoàn thành vào đầu năm 1997. Tháng 1-1997, nhà máy Ciment Sao Mai đã cho ra những mẻ ciment đầu tiên.
    Giống như nhà máy ciment Hà Tiên, nhà máy ciment Sao Mai cũng có nhà máy ciment ở Hòn Chông, Hà Tiên để cung cấp nguyên liệu Linke cho sản xuất.

    Cầu Rạch Chiếc
    Đọan đường từ cầu Sài Gòn đến cầu Rạch Chiếc là địa bàn thuộc quận 2, cầu Rạch Chiếc đến cầu Đồng Nai thuộc Quận 9 và Quận Thủ Đức. Đây là cửa ngõ quan trọng về quân sự của chính quyền Sài Gòn. Sở dĩ cầu có tên Rạch Chiếc là do khi làm cầu này ở sông có loại rau chiếc nên được gọi là cầu Rạch Chiếc.
    Đựơc xây dựng cùng thời điểm với cầu Sài Gòn và xa lộ Biên Hòa(1959-1961) dài 150m. Đây tuy là chiếc cầu nhỏ nhưng chứa đựng một sự kiện lịch sử hết sức quan trọng góp phần làm rạng rỡ cho chiến dịch Hồ Chí Minh. Vào ngày 27/4/1975, tại chân cầu này đã xảy ra liên tục năm trận đánh giữa quân Giải Phóng và quân lính chế độ Sài Gòn bảo vệ cầu. Cuối cùng, quân giải phóng đã chiếm được cầu Rạch Chiếc nhưng 59 chiến sỹ cách mạng đã hy sinh tại đây để giành đường lưu thông an toàn cho quân giải phóng tấn công vào Sài Gòn.
    Hiện nay nhà nước đang có kế hoạch đầu tư xây dựng tại đây một đài tưởng niệm các chiến sỹ cách mạng đã hy sinh ngày 27/4/1975.
    Quận Thủ Đức- Lâm Viên Thủ Đức
    Trước kia Thủ Đức là một huyện ngoại thành có diện tích 20.000ha. Vào ngày 4-4-1997 để mở rộng trung tâm nội thành ra, UBND thành phố quyết định thành lập 5 quận mới. Trong đó Thủ Đức được tách ra thành 3 quận ngoại thành: quận 2, quận 9 và quận Thủ Đức. Xét về tiềm năng kinh tế tại khu vực Thủ Đức này phát triển rất nhiều cơ sở đầu tư của nước ngoài; món ăn đặc sản ở đây là nem Thủ Đức.
    Lâm viên Thủ Đức: vào ngày 22-4-1992 được phép của Uy Ban Hợp Tác Đầu Tư Nhà Nước bởi 4 công ty: Lâm Viên Thủ Đức, Du Lịch Thành Phố, Liksin và công ty Đài Loan Liên Doanh xây dựng tại đây sân Golf 36 lỗ đạt tiêu chuẩn quốc tế và một khách sạn 120 phòng đạt tiêu chuẩn 3 sao và những công trình phụ như: sân quần vợt, hồ bơi, sân chơi trẻ em…với tổng kinh phí 7 triệu USD hoàn thành năm 1996. Khi bắt đầu xây dựng thì đã có nhiều nguồn dư luận nhưng sau đó có kết luận của Thủ Tướng Chính Phủ sân Golf mới đi vào xây dựng yên ổn. Hiện nay sân tập đánh Golf đã hình thành và thẻ hội viên thường trực của Golf là 5.000 USD/người.
    Nhà Máy Xi Măng Hà Tiên
    Nhà máy xi măng Hà Tiên được người Pháp xây dựng từ năm 1969 đến 1964 nhằm cung cấp xi măng cho các tỉnh thành phố. Vị trí nhà máy rất thuận tiện cho việc chuyển nguyên liệu từ nhà máy xi măng Kiên Lương ở Hà Tiên về đây bằng đường bộ lẫn đường thủy. Do nguồn nguyên liệu chủ yếu được khai thác từ Hà Tiên nên gọi là xi măng Hà Tiên. Đến cuối năm 1994 nhà máy Hà Tiên đổi thành Công Ty xi măng Hà Tiên 1. Sản lượng hiện nay hơn 2 triệu tấn/năm.
    Một trong những cánh chim đầu đàn về sản xuất vật liệu xây dựng ở Việt Nam. Nguyên liệu chính được lấy từ nhà máy xi măng Kiên Lương, sau đó chuyên chở bằng xà lan đến thành phố sản xuất ra xi măng cung cấp cho thành phố và một số tỉnh ở vùng Đông Nam Bộ. Trước đây nhà máy này đã gây ra một lượng khí thải lớn ảnh hưởng đến môi trường nhưng sau đó đã được khắc phục với kinh phí là 2 tỷ đồng.
    Công Ty Truyền Tải Điện 4 Trạm Thủ Đức
    Để có thể nhận điện từ thủy điện Đanhim (1961-1964) và phân phối điện cho thành phố, nên ở đây xây dựng thêm một trạm biến điện (các năm 1964) do các công ty của Nhật xây dựng bằng bêtông cốt thép và mang dáng dấp nhà máy hiện đại .
    Năm 1964: gọi là nhà truyền tải và phân phối điện, đến năm 1976 đổi tên thành sở truyền tải điện Thủ Đức. Hiện nay gọi là công ty truyền tải điện 4 Trạm Thủ Đức.
    Hiện nay ở đây tập trung 2 nguồn điện: nhiệt điện Thủ Đức và Thủy điện Đanhim (còn thủy điện Trị An hạ thế ở trạm Hóc Môn) hạ thế cung cấp điện cho thành phố và khu vực xung quanh.
    Ngã Tư Bình Thái
    Rẽ phải đi vào có một số nhà máy lớn: Vietronics, thép Posvina, dệt Phước Long.
    Rẽ trái vào chùa Một Cột, trường Đoàn Lý Tự Trọng và chợ Thủ Đức.
    Làng Đại Học
    Được xây dựng từ năm 1961 hơn 200 ngôi biệt thự dành cho 200 giáo sư ở và làm việc. Đây là một dự án lớn xây làng đại học ở cây số 12, cạnh xa lộ Biên Hòa cũ do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đưa ra phương án qui hoạch tổng thể khu làng Đại Học này .
    Công trình xây dựng khu biệt thự này với sự tham gia thiết kế của hầu hết các kiến trúc sư tiếng tăm thời bấy giờ: Huỳnh Kim Mảng, Nguyễn Gia Đức, Tô Công Văn, Lê Công Lắm, Trần Văn Tải, Nguyễn Quang Nhạc, Phạm Văn Thông. Biệt thự được thiết kế đa dạng đầy đủ tiện nghi nằm trên các lô đất thoáng mát .
    Ngã Tư Thủ Đức
    Đi phía phải: vào chợ nhỏ, bệnh viện, quân đội 7A, trường công an Phước Sơn Học Viện chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh –phân viện TP.HCM, Đại học giao thông.
    Đi phía trái: Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thủ Đức và vào 2km đến chợ Thủ Đức, nếu đi thẳng sẽ qua Water Park và về đường cầu Bình Triệu .
    Tìm Hiểu Về Thủ Đức
    Vừa qua viện Khoa Học Xã Hội Thành Phố, cùng với nhà truyền thống Huyện tìm hiểu thực tế: tại tổ 3 ấp 10 thị trấn Thủ Đức còn ngôi mộ cổ kiến trúc theo hình voi phục có tấm bia đá Granit khắc chữ Hán nội dung như sau: Mộ ông Tạ Huy, hiệu Thủ Đức tiền hiền thôn Linh Chiểu Đông nước Đại Nam. Ông chết ngày 19-6. Hương chức lập mộ bia vào tháng 2-1890.
    Như vậy đã rõ tên hiệu của ông Tạ Huy. Tìm hiểu thêm ông Tạ Huy hay Tạ Dương Minh là thủ lãnh của người Hoa bài Thanh phục Minh sang cư ngụ tại vùng Linh Chiểu, có công trong việc khai khẩn đất hoang, lập ấp nên người ta gọi địa danh này là Thủ Đức.
    Nhà Máy Nước Thủ Đức
    Được xây dựng năm 1959, với công suất 4500m3 nước/ngày. Hiện nay: công suất: 650.000m3 nước/ngày.
    Đây là nhà máy nước quan trọng cung cấp nước cho toàn thành phố. Nước ở đây được bơm từ trạm bơm Hoá An, lấy nước sông Đồng Nai về đây .
    Nhu cầu tiêu dùng nước ở thành phố Hồ Chí Minh hiện tại là: 1.000.000m3 nước/ngày. (Nhà máy nước Thủ Đức cung cấp m3 nước/ngày + nhà máy nước Hóc Môn 200.000m3 nước/ngày, thiếu khoảng 150.000m3 nước/ngày).
    Ngân hàng Á Châu cho vay khoảng 62,3 tỉ USD để nâng công suất nhà máy nước Thủ Đức đủ cho nhu cầu tiêu dùng, thay hệ thống ống chính lên 2,4m (ống cũ 1,8m).
    Bên trái chúng ta có 2 ống cao nhô lên là:
    Cột thủy áp lực (giống cầu Điện Biên Phủ) nhằm điều hòa các lực trong các đường ống nước. Ví dụ, vào ban đêm tất cả các van nước của các gia đình đều đóng lại thì áp lực nước trong ống rất lớn, nên 2 trụ này có nhiệm vụ giảm áp suất tránh các đường ống bị phá vỡ.
    Công Ty Nước Giải Khát Coca-cola
    Nhà máy nước ngọt Coca-cola: trước đây là công ty liên doanh giữa công ty nước giải khát Chương Dương và công ty Indochina chi nhánh PCB ( Paciffic Beverga Company) đặt tại Singapore. Chính thức ký hợp đồng vào tháng 7-1993 với tổng vốn đầu tư là 24 triệu USD. Nhà máy PCB nằm trên một lô đất khoảng 2ha tại Thủ Đức. Nhà máy có 3 dây chuyền sản xuất 3.5000 két/ngày và công suất tối đa là 40 triệu lít/năm. Hiện nay là doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài.
    Trước đây thị trường nước ngọt giải khát ở TP.HCM là Tribêcô –tiếp Pepsi –hiện nay Coca-cola chiếm lĩnh thị trường nước ngọt ở TP.HCM và cả nước.
    Hiện nay Coca-cola là một trong những đơn vị tài trợ cho nhiều hoạt động thể thao thành phố và cả nước.
    Xa Lộ Đại Hàn
    Đến ngã ba trạm 2: phía trái là xa lộ Đại Hàn.
    Sau tổng tấn công vào tết nổi dậy năm Mậu Thân 1968, Mỹ hoảng sợ và cho xây dựng hệ thống đường vành đai để bảo vệ sân bay Tân Sơn Nhất và Sài Gòn, để ngăn cách giữa Sài Gòn và quân cách mạng ở Hóc Môn –Củ Chi.
    Xa lộ Đại Hàn được xây dựng 1960-1970, do công ty Mỹ thiết kế và do công binh Đại Hàn xây dựng (nên có tên gọi là xa lộ Đại Hàn).
    Xa lộ Đại Hàn dài 40km, rộng 16m bắt đầu từ ngã 3 trạm 2 đến ngã 3 An Lạc. Hiện nay đoạn đường này là quốc lộ 1A (trên đoạn này từ Trạm 2 đến ngã 2 Bình Phước gọi là đường Trường Sơn).
    Xa lộ Đại Hàn là một hệ thống đường giao thông hết sức quan trọng là cầu nối 2 khu vực kinh tế: vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long và vùng Đồng Bằng Nam Bộ. Đa số những xe đi từ các tỉnh miền Tây lên miền Đông không phải vào TP.HCM mà đi qua xa lộ Đại Hàn.

    Đường Xuyên Á
    Khoảng năm 1996 chính phủ đã có quyết định xây dựng đường Xuyên Á từ (Bangkok) Thái Lan qua Campuchia (Nôm Pênh) qua cửa khẩu Mộc Bài (Bến Cầu –Tây Ninh) qua thị trấn Gò Dầu đến quốc lộ 22A đến Ngã 4 An Sương quẹo trái qua xa lộ Đại Hàn đến ngã 3 trạm 2 và đi Vũng Tàu.
    Đoạn đường từ Bangkok –Nôm Pênh –TP.HCM –Vũng Tàu là công trình đầu tiên Liên Á được “hội nghị kỹ thuật vùng” của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đầu năm 1996 ưu tiên chọn lựa. Theo tính toán các chuyên gia, cảng Bến Đình –Sao Mai –Thị Vải nối thông mạng ôtô Xuyên Á, sẽ làm cho các sức sản xuất khu vực tăng gấp 2 đến 2,5 lần (Có các tỉnh như: Tây Ninh, Bình Dương, TP.HCM, Đồng Nai, Vũng Tàu).
    Đường Xuyên Á trên địa phận Việt Nam từ cửa khẩu Mộc Bài đến Vũng Tàu dài 173km.
    Kinh phí toàn tuyến Bangkok –Nông Pênh –Vũng Tàu là 306 tr USD. Trên địa phận Việt Nam là 120 tr USD.
    Từ trạm 2 vào phía trái khoảng 2km (rẽ phải) vào trường Đại Học Đại Cương –Đại Học Dược, TDTT, … Nếu đi tới khoảng 500m (phía trái) là khu điện tử Nam Triều Tiên VINASAMSUNG, tiếp tục đi tới phía trái là khu chế xuất Linh Trung.
    Suối Tiên Thủ Đức
    Lâm trại Suối Tiên cách trung tâm TP. Hồ Chí Minh 19km thuộc xã Tân Phú huyện Thủ Đức cách xa lộ Hà Nội 100m, nơi đây có một dòng suối thiên nhiên lâu đời uốn lượn qua những cụm rừng nguyên sinh và đổ dòng qua 6 ngọn đồi, tạo thành 6 ngọn thác nhỏ. Suối chảy qua các tỉnh Đồng Nai, Sông Bé và hạ nguồn chảy qua Lâm Trại dài 1.200m, như một dải lụa trắng. Mùa xuân hoa mai vàng nở rộ dọc theo triền suối. Trước vẻ đẹp thơ mộng và quyến rũ ấy người dân ở đây không ngần ngại đặt tên là Suối Tiên. Tháng 6-1993 đồ án quy hoạch được văn phòng kiến trúc sư trưởng phê duyệt và UBND thành phố cho phép thực hiện theo quy hoạch Lâm Trại Suối Tiên trên diện tích 120ha với vốn đầu tư bước đầu là 50 tỉ đồng cho các công trình vui chơi tham quan trên diện tích 20ha.
    Đến với Suối Tiên quý khách sẽ tận hưởng những giây phút thoải mái không khí trong lành cùng với thiên nhiên và đặc biệt được chiêm ngưỡng hình ảnh một con rồng được xây dựng theo truyền thuyết “con rồng cháu tiên” lớn nhất Việt Nam, dài 400m được đúc bằng bêtông. Trong tương lai một phần của sở thú sẽ được chuyển ra đây.
    Dự An Thảo Cầm Viên Mới
    UBND TP chấp nhận cho địa điểm xây dựng Thảo Cầm Viên mới tại khu vực đồi Lâm Viên gần sân golf quận 9. Thảo Cầm Viên mới có diện tích 200ha với các khu vui chơi, giải trí, mô hình tiến hoá các loại động vật và thực vật. Dự kiến kinh phí xây dựng khoảng 50tr USD.
    Khu Lâm Viên Thủ Đức được quyết định thành lập ngày 6-8-1984 cách xa lộ Hà Nội 2km phía phải với diện tích là 1200ha (trong đó phủ 350ha cây điều và 200ha cây xanh) .
    Nghĩa trang liệt sĩ Thành phố.
    Nghĩa trang Thành Phố là nơi quy tụ mộ anh hùng liệt sĩ, đã hy sinh trong 3 cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và Campuchia. Nghĩa trang này rộng 3 ha gồm hơn 12.000 ngôi mộ được sắp xếp xung quanh đài tưởng niệm “ Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng” . Công trình được xây dựng năm 1984 và hoàn thành vào 4-1987.
    TỈNH BÌNH DƯƠNG
    Diện tích : 2695,5 km2 .Dân số : 883.200 người ( 2004 ).
    Tỉnh lỵ: thị xã Thủ Dầu Một.
    Các huyện : Bến Cát, Dầu Tiếng, Tân Uyên, Phú Giáo, Thuận An, Dĩ An.
    Dân tộc: Việt ( kinh ), Hoa, Khmer, Tày.
    Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ. Phía Bắc giáp Campuchia, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai ( với sông Đồng Nai làm ranh giới ), phía Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh, phía Tây giáp Củ Chi và tỉnh Tây Ninh. Thị xã Thủ Dầu Một cách Thành phố Hồ Chí Minh 30km về phía Bắc.
    Địa thế trong tỉnh toàn bình nguyên và đồi thấp, chỉ có núi Ong cao 281m là đáng kể.
    Sông ngòi: có 3 sông lớn là sông Đồng Nai, Sài Gòn và sông Bé, nhiều kênh rạch, sông con, ghe thuyền đi lại thuận tiện.
    Khí hậu Bình Dương giống như đa số các tỉnh miền Nam, mùa mưa từ tháng 5 – 11, mùa khô từ tháng 12 – 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 270. lượng mưa trung bình hàng năm là 2300 mm.
    Đường bộ: tuyến quốc lộ 13 xuyên suốt từ Bắc đến Nam của tỉnh, nhiều đường liên tỉnh nối liền các đường giao thông thuận tiện và an toàn.
    Có những ngành nghề thủ công truyền thống nổi tiếng như : gốm sứ, sơn mài, điêu khắc gỗ…
    Nền kinh tế của tỉnh khá phát triển với các khu công nghiệp như Việt Nam – Singapore, Việt Hương …
    Núi Châu Thới
    Còn gọi là núi Châu Thái, cao 73m, trên núi có chùa Hội Sơn. Trụ trì Khánh Hưng Thiền Sư. Vào thế kỷ 18 ở đây từng là nơi đóng quân của Nguyễn Anh .
    Trước đây ở núi Châu Thới là nơi khai thác đá để cung cấp cho ngành xây dựng và cầu đường.
    Phía trái :khu du lịch Bình An.
    Nằm cách xa lộ Hà Nội 500m phía trái là khu du lịch hồ Bình An, khu nghỉ ngơi vào cuối tuần cho dân thành phố, với khung cảnh thoáng mát hữu tình có hồ nước, nhiều khu vui chơi .
    Đường vào Tân Vạn, (ngã 3 Tân Vạn): vào núi Châu Thới du lịch suối Lồ Ô.
    Cây Điều:
    Chưa tìm thấy tài liệu nào nói đích xác cây điều được di giống đến nước ta từ bao giờ. Có giả thiết cho rằng các giáo sĩ Au Châu khi tới Việt Nam truyền giáo đã mang theo hạt điều vào nước ta; điều đó có nghĩa là cây điều đã có mặt ở nước ta từ mấy trăm năm nay vào thời kỳ các nước tây Au bành trướng thuộc địa ở Châu A và châu Phi. Nhưng cũng có tài liệu lại cho rằng một số chủ đồn điền người Pháp mang hạt điều từ An Độ sang trồng thử tại nước ta chỉ mới hơn một trăm năm nay. Có thể tin rằng vào thời kỳ đầu đã có cây điều trồng thử nhiều vùng ở nước ta, Miền Bắc cũng như Miền Trung và Miền Nam. Song do năng lực thích nghi về sinh thái khí hậu nên giống điều chỉ tồn tại ở Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ dưới dạng cây vườn phân tán ở các đồn điền cũ của Pháp và xung quanh nhà dân.
    Suốt trong một thời gian dài do không có thị trường tiêu thụ và do sản phẩm không đáng kể nên cây điều chẳng được mấy ai chú ý đến. Đến khi lực lượng quân sự Mỹ ồ ạt xâm chiếm miền Nam vào những năm 60 và đầu thập kỷ 70 vừa qua, một số danh nhân Hoa Kiều ở Chợ Lớn đã tìm thấy nguồn lợi trong việc chế biến nhân hạt điều cho các tiệm ăn phục vụ binh sĩ Mỹ mới bắt đầu tổ chức mua hạt điều của các hộ nông dân và đầu tư chút ít cho việc trồng điều quy mô nhỏ. Tính tới đầu những năm 80 cây điều từ dạng phân tán lẻ tẻ đã được trồng thành vườn nhỏ với tổng diện tích ở Đông Nam Bộ và duyên hải Miền Trung lên sấp sỉ 1000 ha, đạt sản lượng khoảng 200 – 300 tấn/năm.
    Vào 1977 – 1978, do tìm hiểu thị trường tiêu thu do Sở Ngoại Thương Tp.HCM đã xuất được lô hàng đầu tiên thô đầu tiên ra nước ngoài bán với giá cao và tìm thấy ở ngành hàng nông sản này một thế mạnh trên thị trường quốc tế nên đã mạnh dạng đầu tư xây dựng một nông trường trồng điều 300 ha ở Huyện bến Các Tỉnh Bình Dương. Từ đó đã dấy lên một phong trào trồng điều mạnh mẽ ở nhiều địa phương. Đến nay tổng diện tích trồng điều ở nước ta, tính từ phía Nam đèo Hải Vân trở vào mà tập trung nhiều nhất là các tỉnh Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ đã lên đến 250.000 ha gồm đủ loại cũ có mới có, già có non có, vườn có năng suất cao cũng như vườn thoái hoá. Sản lượng hạt điều thô thu mau trong hai năm 1996 – 1997, bình quân mỗi năm là 130.000 tấn; dự kiến năm 2000 có thể đạt đến 200.000 tấn.
    Vào những năm 80 phần lượng hạt điều của nước ta đều bán ra thị trường nước ngoài. Bước qua thập kỷ 90 cụ thể là 1995 trở lại đấy đã có hơn 50 cơ sở kinh danh, chế biến hạt điều với tổng công suất thiết kế để chế biến đạt 150.000 tấn nguyên liệu hạt thô/năm. Nhờ đó đã thu được hầu như toàn bộ sản lượng hạt điều thô cho chế biến trong nước, tỷ lệ xuất nguyên liệu thô không đáng kể.
    Trong một thời gian hết sức ngắn, chưa đầy 20 năm, cây điều ở nước ta chưa được mấy người quan tâm nay đã trở thành một loại cây trồng mạnh mẽ, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động cả trong khâu trồng cũng như trong chế biến sản phẩm và cho giá trị kim ngạch xuất khẩu đáng kể. Đồng thời, cũng cần chú ý rằng mặt hàng điều của nước ta đã chiếm một vị trí cao cả về tổng lượng sản phẩm cũng như phẩm chất mặt hàng trên thương trường quốc tế. Song, cũng trong thời gian ngắn đó đã có biết bao vấn đề khó khăn, trở ngại cả về phương diện khoa học kỹ thuật trong gây trồng giống chế biến cũng như về chính sách kinh tế về mối quan hệ giữa người sản xuất nguyên liệu với cơ sở chế biến, giữa các đơn vị xuất khẩu và bạn hàng nước ngoài đã từng lúc, từng nơi kìm hãm sự phát triển của mặt hàng này, thậm chí đã có địa phương người nông dân chặt bỏ vườn điều của mình vì sản phẩm thu hoạch được bị ép giá rẻ không đủ bù chi phí sản xuất.
    Để cây điều phát triển ổn định, mặt hàng xuất khẩu tăng, sản phẩm có chất lượng cao thì đã tới lúc nhà nước có sư quan tâm thích đáng về phương diện khoa học-kỹ thuật, chính sách kinh tế, điều chỉnh các mối quan hệ trong nội–ngoại thương, cùng với lúa và cao su xem cây điều như một cây trồng nông-công nghiệp chiến lược của nước ta.

    Cầu Đồng Nai
    Cầu Đồng Nai được xây dựng vào năm 1959-1961 do hãng C.E.C thiết kế và hãng Joushin Deake thi công, cầu dài 454 m, rộng 16 mét, trọng tải 25 tấn, gồm 27 nhịp được bắt qua con sông Đồng Nai, con sông quan trọng của tỉnh Đa Nhim-Đa Dung có nguồn gốc từ cao nguyên Lâm Viên (Langbian) ở độ cao 1776 m đổ về, chảy qua địa phận tỉnh Đồng Nai sau đó kết hợp với sông Sài Gòn và đổ ra vịnh Gành Rái.
    Sông Đồng Nai: Hệ thống sông Đồng Nai-Vàm Cỏ là hệ thống sông kép vì hai con sông này chỉ gặp nhau ở ngoài cửa Soài Rạp và được kết nối với nhau bằng những con kênh nhân tạo. Đây là hệ thống sông lớn thứ ba trong nước sau hệ thống sông Hồng và sông Cửu Long. Chiều dài sông chính là 635 km, diện tích toàn khu vực là 44100 km2 phát triển chủ yếu ở Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, một phần ở Tây Nam Bộ và Campuchia. Hệ thống sông Đồng Nai và Vàm Cỏ có tổng lượng nước vào khoảng 32,8 tỉ m3/năm. Thủy chế tương đối đơn giản vì chỉ có một mùa mưa và một mùa cạn. Sông Đồng Nai có giá trị cả về giao thông, sinh hoạt, nông nghiệp và thủy điện.
    Từ trên cầu, ở ngã ba sông về phía thượng lưu là Cù Lao Phố. Ngược dòng lịch sử, năm 1679, khi triều Minh Mạng ở Trung Hoa bị nhà Thanh lật đổ có khoảng 3000 binh sĩ và gia đình trong nhóm bài Thanh phục Minh đã đến nước ta và xin Chúa Nguyễn cho làm dân Việt. Trong đó có một nhóm do Trần Thượng Xuyên làm thủ lĩnh đến cư trú tại đây và lập nên một cảng có hoạt động thương mại sầm uất gọi là Nông Nại Đại Phố. Năm 1698, thừa lệnh của Chúa Nguyễn, Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lý, ông thấy vùng đất này trù phú và yên bình nên đã dừng chân tại đây. Ông đã chia đặt các đơn vị hành chính và thành lập chính quyền Nam Bộ, hai huyện đầu tiên là Phước Long và Tân Bình. Sông Đồng Nai là ranh giới tự nhiên giữa thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai.Cù lao phố
    Qua Cầu Đồng Nai, nhìn bên trái, xa xa chúng ta thấy cù lao, đó chính là Cù Lao Phố. Có diện tích khoảng 660ha và hơn 9.000 dân sống ở đây thuộc xã Hiệp Hòa, thành Phố Biên Hòa, Đồng Nai.
    Thế kỷ 17, Cù lao phố là thương cảng sầm uất, tên gọi là Nông Nại Đại Phố, trao đổi hàng hóa với nhiều nước trong khu vực: Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônexia. Năm 1679, nhóm người Hoa di dân của nhà Minh-nhóm Trần Thượng Xuyên đến Cù Lao Phố.

    Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh đến vùng đất này, đặt tổng hành dinh tại Cù Lao Phố thuộc dinh Trấn Biên, huyện Phước Long.
    Năm 1998, tp.HCM –tp.Biên Hòa kỷ niệm 300 năm, ngày đặt nền hành chính đầu tiên tại Nam Bộ.
    TỈNH ĐỒNG NAI
    Đồng Nai là tỉnh thuộc Miền Đông Nam Bộ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có diện tích 5.862,73 km2, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ. Dân số toàn tỉnh theo số liệu thống kê năm 2003 là 2.149.030 người, mật độ dân số: 365 người/km2. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của toàn tỉnh năm 2004 là 1,22%. Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thành phố Biên Hòa - là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của tỉnh; thị xã Long Khánh và 9 huyện: Long Thành; Nhơn Trạch; Trảng Bom; Thống Nhất; Cẩm Mỹ; Vĩnh Cửu; Xuân Lộc; Định Quán; Tân Phú.
    Là một tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam Đồng Nai tiếp giáp với các vùng sau:
    • Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận.
    • Phía Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng.
    • Phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước
    • Phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
    • Phía Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh
    Là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên.
    Phần lớn diện tích của cả tỉnh là vùng đất cao, địa thế mấp mô, nối tiếp cao nguyên Nam Trung Bộ và phần đất tiếp giáp với Cao nguyên Lâm Viên và Di Linh. Tuy nhiên cũng có một số thung lũng, đồng bằng, gò, đồi thấp. Phần lớn đất ở Đồng Nai là đất badan, đất xám và đất phù sa cũ màu mỡ nằm chen lẫn nhau quanh các ngọn núi lửa cổ và vùng phù sa thấp phẳng ven sông Đồng Nai rất tốt cho việc trồng trọt. Bởi vậy, Đồng Nai trồng nhiều loại cây công nghiệp như : cao su, cà phê, chè, cây ăn trái và cây công nghiệp ngắn ngày.
    Sông Đồng Nai là con sông quan trọng nhất của tỉnh do hai sông Đa Dung và Đa Nhim phát nguyên từ cao nguyên Lâm Viên hợp thành. Sông có chiều dài 480km, đoạn chảy qua tỉnh Đồng Nai dài 294 km. Dọc hai bên bờ là các làng đảo, vườn bưởi. Đập thủy điện Đa Nhim được xây dựng trên con sông La Ngà, sông Lá Buông chảy qua, có nhà máy thuỷ điện Trị An
    Đồng Nai có lợi thế về vị trí địa lý, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, thuộc vùng ít bão lụt thiên tai, nhiệt độ bình quân hàng năm 25-26 0C, gồm 2 mùa mưa nắng, lượng mưa tương đối cao khoảng 1.500mm - 2.700mm, địa hình chủ yếu là đất đồi cao, kết cấu đất có độ cứng chịu nén tốt (trên 2kg/cm2) không tốn nhiều chi phí trong việc san lấp, xử lý nền móng công trình, thuận lợi cho việc đầu tư phát triển công nghiệp và xây dựng công trình với chi phí thấp.
    Do những lợi thế nêu trên, đến năm 2010, chưa kể các cụm tiểu thủ công nghiệp qui mô nhỏ, Đồng Nai đã qui hoạch và phát triển khoảng 10.000 ha đất khu công nghiệp tập trung, trong đó Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 15 khu công nghiệp với diện tích 4.751 ha. Các khu công nghiệp này, cơ sở hạ tầng đã và đang được xây dựng đồng bộ, đã bố trí 55% diện tích đất, và đang sẵn sàng đón nhận các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
    Đồng Nai có nhiều tiềm năng về nông nghiệp. Đất canh tác nông nghiệp phần lớn là đất đỏ bazan thích hợp để phát triển các loại cây công nghiệp và cây ăn quả. Các cây trồng chủ yếu như cao su (41.000ha), cà phê (25.000ha), điều (42.000ha), đậu nành (7.000ha), bắp (67.000ha), cây ăn quả (20.000ha) ... Đồng Nai đang là một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về sản xuất thức ăn gia súc, và có nhiều trang trại chăn nuôi qui mô công nghiệp, tổng đàn trâu bò 76.000 con, heo 970.000 con, gia cầm 11 triệu con. Đây là nguồn nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến.
    Kết cấu hạ tầng tại Đồng Nai khá thuận lợi so với nhiều địa phương khác trong cả nước, vì Đồng Nai chỉ cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 25 km, các nhà đầu tư tại Đồng Nai có thể sử dụng các công trình kỹ thuật hạ tầng và hệ thống dịch vụ hiện có của Thành phố Hồ Chí Minh như sân bay, bến cảng, hệ thống viễn thông, khách sạn và các dịch vụ khác.
    VÀI DÒNG LỊCH SỬ
    Cuối thế kỷ XVI, vùng đất Đồng Nai vẫn còn hoang dã, chưa được khai phá, người dân bản địa gồm các dân tộc Stiêng, Mạ, Kơ ho, M'nông, Chơ Ro và một vài sóc người Khơ me sinh sống. Dân ít, sống thưa thớt, kỹ thuật sản xuất thô sơ, trình độ xã hội còn thấp.
    Cuộc chiến tranh của họ Trịnh và họ Nguyễn ở miền Trung và Bắc Việt Nam làm cho dân chúng khổ sở, điêu đứng và tạo ra một làn sóng di cư của người dân miền Thuận Quảng vào Đồng Nai tìm đất sống.
    Bản tính cần cù, chịu khó, lưu dân người Việt đã cùng với người bản địa chung sức khai phá đất đai để sản xuất nông nghiệp. Dần dà, rừng rậm hoang vu đã trở thành những cánh đồng lúa và hoa màu tươi tốt.
    Năm 1679, nhà Minh ở Trung Quốc sụp đổ, Tổng binh Trần Thượng Xuyên trấn thủ các châu Cao, Lôi, Liêm không khuất phục nhà Thanh đã đem 50 chiến thuyền, 3.000 binh lính thân tín và gia quyến đến xin thuần phục chúa Nguyễn ở Thuận Hóa. Chúa Nguyễn Phúc Chu đã thu nhận họ và cho vào khai khẩn, mở mang vùng đất Đông Phố (Cù lao Phố ngày nay).
    Năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn sai Thống suất Chưởng Cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Đồng Nai (là cả Nam Bộ bây giờ), đặt vùng đất mới thành phủ Gia Định, chia làm 2 huyện: huyện Phước Long (Đồng Nai) dựng dinh Trấn Biên, huyện Tân Bình (Sài Gòn) dựng dinh Phiên Trấn. Ngoài ra, Nguyễn Hữu Cảnh còn cho lập bộ đinh, bộ điền, chiêu mộ những người có vật lực từ các vùng khác vào lập nghiệp và phát triển kinh tế.
    Người Hoa theo Trần Thượng Xuyên đầu tiên định cư ở Bến Gỗ, nhưng thấy Cù lao Phố có vị trí thuận lợi cho việc kinh doanh buôn bán, họ đã quyết định di chuyển đến đây sinh sống. Từ đây, Cù lao Phố phát triển ngày càng phồn thịnh và nhanh chóng trở thành trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế của cả vùng Gia Định (Nam bộ ngày nay).
    Trong cuộc hành trình dài giữ nước, ông cha ta đã khai phá đất đai ngàn dặm dọc suốt miền Trung và đền nơi đây là Biên Hòa-Đồng Nai, mảnh đất đai đầu ở Nam Bộ in dấu chân đoàn quân Nam tiến của dân tộc Việt.
    Đồng Nai còn nổi tiếng với một số di tích lịch sử quan trọng đó là chiến khu Đ, căn cứ địa bí mật của Trung Ương cục R thời kháng chiến chống Pháp Và Mỹ. Ngày nay chiến khu Đ trở thành một điểm đến du lịch mà bất cứ du khách nào khi đến Đồng Nai đều không thể bỏ qua.
    ẨM THỰC ĐỒNG NAI
    Do thời tiết hai mùa mưa nắng, sản vật biển, rừng, sông nước, vườn ruộng phong phú, cách ăn uống của người Đồng Nai vừa thể hiện nét chung của văn hóa Việt Nam, vừa có sắc thái mang dấu ấn Nam Bộ
    Các món ăn quen thuộc của người Biên Hòa - Đồng Nai trong thói quen ngày ăn ba bữa thông thường: cháo đậu ăn với cá lóc kho tiêu, cháo đậu nước cốt dừa, canh bầu nấu với cá trê vàng, cá lóc kho thơm, canh chua cá lóc, mắm kho ghém rau sống, mắm đồng chưng trứng, canh khổ qua dồn thịt…
    Đất Đồng Nai cũng rất giàu hoa trái, gần như quanh năm đều có trái cây, trong đó bưởi là thứ trái cây nổi tiếng nhất.
    Biên Hòa có bưởi Thanh Trà; Thủ Đức nem nướng, Điện Bà Tây Ninh; Bưởi Đồng Nai nhiều nhất ở làng Tân Triều (huyện Vĩnh Cửu). Bưởi Tân Triều nổi tiếng trong nước và cả một số nước trên thế giới với vị chua ngọt dễ chịu, múi nhỏ mọng nước, có tác dụng tốt cho tim mạch. Ngày nay, du khách có thể theo tour, hoặc tự đến làng Tân Triều ( tỉnh lộ 24, qua khỏi trung tâm Văn hóa Du lịch Bửu Long 10km) để được nằm nghỉ, cắm trại hay picnic ngay trong vườn bưởi, và tự tay chọn hái những quả bưởi trĩu cành, để tận hưởng vị ngọt thanh của đường hòa tan trong múi bưởi – một vị ngọt mát nhẹ nhàng giúp cho tinh thần sảng khoái..
    Không thể không nhắc đến chôm chôm, sầu riêng – hai thứ đặc sản của các vườn cây Long Khánh.
    Quả chôm chôm vỏ dày, thịt trắng trong, ngọt mát. Sầu riêng là loại đắt tiền nhất trong các loại hoa quả Việt nam. Tên của loại quả này gắn liền với truyền thuyết về mối tình không thành của chàng hoàng tử láng giềng và cô gái Nam Bộ Việt Nam. Sầu riêng vỏ dày, cứng, có gai nhọn lởm chởm. Khi chín, chỉ cần dùng lưỡi dao tách nhẹ vào đường rãnh vỏ là thấy ngay những múi sầu riêng vàng ngà, óng ánh như được phết bơ. Hương sầu riêng rất đậm, quyến rũ đến lạ kỳ, bay rất xa và rất lâu tan trong không khí. Sầu riêng đã được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới.
    Đồng Nai là tỉnh có ngành công nghiệp phát triển, toàn tỉnh có 120 công ty nhà máy với 72000 lao động. Riêng khu công nghiệp Biên Hòa là trung tâm công nghiệp lớn nhất tỉnh được bao bọc một bên là sông Đồng Nai, một bên là xa lộ Hà Nội và một bên là tỉnh lộ 51 rất thuận tiện cho việc thông thương cả về đường thủy và đường bộ.
    Khu Căn Cứ Long Bình
    Khu căn cứ Long Bình nằm phía phải( góc đông bắc ngã 3 xa lộ), được xây dựng 1964 với diện tích ban đầu là 6km2, dùng làm kho chứa đạn và dụng cụ chiến tranh đầu tiên gọi là kho Long Bình .
    Tháng 4-1965 sau khi kiểm tra tình hình miền Nam Việt Nam, phái đoàn quân sự do Mac Namara và Taylor cầm đầu đã quyết định xây dựng lại kho Long Bình năm 1986, mở rộng gấp 4 lần so với trước là 24km2 và gọi là tổng kho Long Bình. Tổng kho Long Bình lấy hàng từ cảng Sài Gòn, cảng Vũng Tàu, sân bay Biên Hòa và trở thành trung tâm cung cấp vũ khí cho quân đội Mỹ và chư hầu. Tổng kho Long Bình có 6 hầm ngầm đủ chứa 150.000 tấn bom, đạn. Có 7 lớp rào bao bọc 72 tháp canh.
    Đại siêu thị Big C
    Được khánh thành ngày 18/8/1998 do tập đoàn Boubon của Pháp đầu tư với số vồn là 54 triệu USD, diện tích 20.000 m vuông. Siêu thị có trên hơn 20.000 mặt hàng và 90% hàng hòa là sản xuất tại Việt Nam. Tập đoàn Boubon là một trong những tập đoàn lớn nhất của Pháp về lương thực thực phẩm. Các dự ánBoubon đã đầu tư vào Việt Nam như nhà máy đường Bourbon Tây Ninh-nhà máy thức ăn gia súc Boron trong quy hoạch phát triển tại Việt Nam, Bourbon đã vạch rõ sẽ thôn tính toàn bộ hệ thống siêu thị Việt Nam với khách hàng chủ yếu là tầng lớp trung lưu. Hiện nay tập đoàn Bourbon có 3 siêu thị lớn ở Việt Nam: siêu thị An Lạc, siêu thị Cora Miền Đông-siêu thị Cora Hà Nội. Trước đây có tên là Co Ra nhưng tập đoàn này đã bán lại cho một tập đoàn của Thái Lan.
    Khu Công nghiệp Biên Hòa 1 và 2. Đây là khu công nghiệp được đầu tư xây dựng quy mô khá lớn. Trước năm 1975, Mỹ đã xây dựng những khu công nghiệp này lên nhằm làm cho nền kinh tế ta phát triển, hàng hóa của Mỹ chiếm độc quyền. Tại đây chuyên sản xuất về các mặt hàng như: công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, dày da, công nghiệp thực phẩm, điện tử……và thu hút nhiều nhà đầu tư đến từ các nước như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc….Đặc biệt nhờ có biện pháp xử lý và đầu tư tốt cho nên mặc dù hai khu công nghiệp này nằm bên đường quốc lộ nhưng không gây ô nhiễm môi trường.
    Khu công nghiệp Biên Hoà 1
    Khu công nghiệp Biên Hòa 1 được thành lập từ 1963 với tên gọi là khu kỹ nghệ Biên Hòa, với tổng diện tích theo quy hoạch ban đầu là 511 ha. Theo các tài liệu để lại, ý đồ của chính quyền Sài Gòn lúc đó là xây dựng một khu công nghiệp tập trung với định hướng ưu tiên bố trí các nhà máy, xí nghiệp sử dụng nông phẩm và nguyên liệu trong vùng, sản xuất hàng tiêu dùng và các cơ sở dịch vụ để giải tỏa dần các nhà máy, xí nghiệp khu vực Sài Gòn-Chợ Lớn với định hướng ban đầu là thiên về công nghiệp chế biến và công nghiệp nhẹ. Sau khi được tiếp quản, khu kỹ nghệ có 95 xí nghiệp. Cơ cấu 95 xí nghiệp phân thành các nghành như: công nghiệp nặng (điện, luyện kim, cơ khí) có 10 xí nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng có 68 xí nghiệp, công nghiệp vật liệu kiến trúc xây dựng 12 xí nghiệp.
    Khu công nghiệp Biên Hoà 2
    Ngành nghề thu hút đầu tư : thực phẩm và chế biến nông sản thực phẩm; may mặc và dệt sợi; hàng nữ trang, mỹ nghệ và các loại mỹ phẩm; giày dép, dụng cu thể thao, các loại bao bì cao cấp; sản phẩm công nghiệp từ cao su, gốm sứ, thuỷ tinh; lắp ráp điện tử, phụ kiện máy tính, linh kiện điện tử; sản xuất dây điện các loại , đồ điện gia dụng; dược phẩm, dụng cụ y tế và nông dược, thiết bị công nghiệp…

    Khu công nghiệp Amata
    Nằm cách tp.hcm 30km nằm cạnh khu công nghiệp Biên Hòa 2. Tổng diện tích 760 ha được xây dựng qua 5 giai đoạn trong đó giai đoạn 1 xây dựng 100 ha chưa kể diện tích xây dựng đường giao thông nối quốc lộ vào khu công nghiệp. Tại đây chuyên sản xuất về các mặt hàng như: đầu tư cơ khí l uyện kim, may mặc, da dày, hóa chất, mỹ phẩm, điện tử.
    Khu Thiên Chúa Giáo Hố Nai
    Khu Thiên Chúa giáo Hố Nai cách trung tâm thành phố Biên Hòa 3 km về phía Đông Bắc, nằm trên giải đất dài 12 km với nhiều nhà thờ rải rác hai bên quốc lộ 1. Trước năm 1954, khu đất còn là rừng hoang thuộc địa phận xã Bình Phước, huyện Đức Tu tỉnh Biên Hòa; năm 1954 có hơn 40.000 đồng bào theo đạo thiên chúa giáo thuộc 25 xứ đạo từ nhiều tỉnh trên miền Bắc, đặc biệt là tỉnh Hà Nam Ninh cũ, đã di cư vào đây, lập trại định cư theo sự bố trí của chính quyền Ngô Đình Diệm. Tháng 8-1956 Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh gọi trại định cư này là Hố Nai, xã có diện tích 2090 ha, trụ sở cách trung tâm thành phố Biên Hòa 10 km, cư dân ở đây tuyệt đại đa số là người Việt chỉ có rất ít là người Nùng. Hiện nay xã Hố Nai đã trở thành một khu dân cư đông đúc và hoạt động kinh tế phong phú với dân số lên đến 100.000 người, nhiều cơ sở tôn giáo và y tế giáo dục được xây dựng, xã có gần 30 nhà thờ, 28 trường học, 1 bệnh viện và các cơ sở từ thiện của khu vực. Sau năm 1975 xã Hố Nai được chia thành 4 khu: Hố Nai 1, 2, 3 và 4 thuộc huyện Thống Nhất-Đồng Nai. Ngày nay Hố Nai là một trong những trọng điểm sản xuất dịch vụ đang phát triển mạnh của miền Đông Nam Bộ, đặc biệt là chế biến gỗ phát triển mạnh của miền Đông Nam Bộ.
    Thủy điện Trị An
    Trị An là thác nước cuối cùng trên con sông Đồng Nai trước khi chảy vào đồng bằng. Với sự giúp đỡ của Liên Xô và sự đóng góp công sức của cả nước, công trình thủy điện lớn thứ hai sau thủy điện Hòa Bình trên sông Đà đã khởi công xây dựng năm 1983. Đập chính chắn ngang sông Đồng Nai được xây dựng phía thượng nguồn của thác Trị An, tạo nên hồ rộng 232 km2 chứa 3 tỷ m3 nước. Nước từ hồ chính đưa qua hồ phụ rồi chảy qua nhà máy làm quay, 4 tổ máy có công suất tổng cộng 400 MW. Sản lượng điện hàng năm đạt 1,7 tỷ kv/h.

    Ngã Ba Dầu Giây
    Ngã Ba Dầu Giây là điểm giao nhau giữa quốc lộ 20 và quốc lộ 1A, cách thành phố Hồ Chí Minh 67 km. Sở dĩ có tên là Dầu Giây là vì vào năm 1954 khi người Bắc di cư vào đây họ mang một số trầu dây leo. Nhưng họ không phát âm được chữ “trầu” mà phát âm là chữ “dầu” do đó mới có tên là Dầu Giây. Có giải thích cho rằng: ngày xưa ở đây có một cây dầu thật to có nhiều dây leo bám chằng chịt. Đặc biệt quanh vùng chỉ có dây dầu này là to nhất nên địa phương mới đặt tên nơi đây thành một địa danh: Dầu Giây và do ở đây là ngã 3 nên mới gọi là Ngã 3 Dầu Giây.
    Cách Tp.HCM, khoảng 67 km, quẹo trái đi 232 km đến Đà Lạt, nếu đi thẳng theo quốc lộ 1A đi các tỉnh miền Trung.
    Gỉa thuyết về Dầu Giây: người ta cho rằng trước đây vùng này có nhiều cây dầu và cây giây leo. Có giả thuyết khác cho rằng Dầu Giây là đọc lại từ Trầu giây, khu vực này có trồng nhiều cao su.
    Nằm trên đầu mối giao thông quan trọng của khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, Đồng Nai có nhiều điều kiện thuận lợi cả về đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong nhiều năm qua ngành Giao thông Vận tải đã không ngừng phấn đấu, từng bước xây dựng hoàn thiện hệ thống giao thông, phục vụ kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của khu vực.

    Thủy điện Trị An
    Là thác nước cuối cùng của sông Đồng Nai trước khi chảy vào đồng bằng. Vào mùa nước kiệt, trên một khoảng sông rộng nổi lên hàng trăm tảng đá đen lô nhô giống như bầy trâu đang đắm mình dưới sông. Vào mùa nước nhiều, nước sông đổ cuồn cuộn làm tung bọt trắng xóa trên một đoạn sông hàng trăm mét tạo nên khung cảnh thật hùng vĩ.
    Với sự giúp đỡ của Liên Xô và sự đóng góp của cả nước, công trình thủy điện đã ra đời sau thủy điện Hòa Bình trên sông Đà. Được khởi công xây dựng năm 1983, các tỉnh miền nam tiếp tế, các tỉnh miền Bắc gửi cán bộ giỏi, nhiều kinh nghiệm, kỹ thuật. Phần đóng góp quan trọng nhất là tỉnh Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh gánh vác. Nhân dân 16 tỉnh thành phố miền Nam đóng góp trên 51 tỷ đồng, Liên Xô cũ cho vay 150 rúp và cung cấp máy móc thiết bị xây dựng công trình. Sau 5 năm lao động cật lực của cán bộ công nhân trên công trường xây dựng, tổ máy số 1,2 hoạt động vào năm 1988, đến năm 1989 cả 4 tổ máy được vẫn hành sản xuất điện.
    Đập chính chắn ngang và được xây dựng từ thượng nguồn của thác Trị An, tạo nên một hồ chứa nước rộng 232 km2 chứa gần 3 tỷ m3 nước. Nước từ hồ chính đưa qua hồ phụ rồi chảy sang nhà máy thủy điện làm quay bốn tổ máy cócông suất tổng cộng 400 MW, sản lượng điện hàng năm đạt tới 1,7 KW/h. Hồ Trị An là một khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, một địa điểm hấp dẫn du khách.

    Vườn quốc gia Cát Tiên
    Là một khu rừng nguyên sinh tiêu biểu cho hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới, rừng nằm uốn khúc quanh sông Đồng Nai. Cát Tiên có phong cảnh tuyệt vời và đa dạng : vừa có đồi núi chập chùng, các mảng tự nhiên rộng lớn bằng phẳng và những dòng chảy nhỏ. Vào mùa mưa các dòng chảy này đổ thành thác, nước ở đây trong veo, tuôn nhẹ nhàng qua các gờ đá, tạo thành con suối mát hiền hòa.
    Trên đoạn đường chính vào rừng du khách sẽ thấy phía bên tay trái là rừng già tập trung rất nhiều gỗ quý như gõ, bằng lăng, cẩm lai, gụ, trắc … Phía bên tay phải rừng là thác rời. Cách bìa rừng 7 km là vùng Bàu Sấu, làng Bàu Sấu chứa rất nhiều cá. Chính vì thế mà gà lôi, công trĩ, mồng két … tập trung rất đông. Vườn quốc gia Cát Tiên hầu như còn nguyên vẹn thảm thực vật và động vật phong phú. Ngoài ra trong khu vực này có cây gõ Ông Đồng 300 tuổi, cây thiên tuế bảy ngọn làm phong phú bộ sưu tập rừng.
    Vườn quốc gia Cát Tiên có thể xem là khu bảo tồn động vật lớn chất lượng vì có rất nhiều loại chim và thú hiếm, chính là rừng vàng của Nam bộ.

    Nhà máy đường La Ngà
    Được xây dựng năm 1979-1984 do Đan Mạch viện trợ với công suất thiết kế 2000 tấn mía cây/ ngày, đạt 2 triệu tấn đường/năm. Phía sau nhà máy đường là một đồi trồng cây xanh rất đẹp, dân ở đây gọi là đồi du lịch, gần khu nhà ở của các chuyên gia nước ngoài làm việc tại nhà máy đường La Ngà. Sau đó mở thêm nhà máy kẹo, công suất 2,5 tấn/ ngày và nhà máy sản xuất phân Komix, các sản phẩm kẹo và phân Komix đạt tới 170 tỷ đồng ( nguyên liệu làm từ bả bùn trong sản xuất đường ). Ngoài ra còn liên doanh với Úc để sản xuất ra các loại men khô, men dùng trong thực phẩm với vốn đầu tư 4,5 triệu USD. Tổng số công nhân làm việc trong nhà máy La Ngà lên đến 2000 người.
    Cầu La Ngà
    Được xây dựng năm 1985-1987, chiều dài 173,4 m; rộng 9,56 m, cầu được bắt qua sông La Ngà nổi tiếng với những chặng đánh lịch sử của quân và dân miền Nam trong thời gian chống đế quốc xâm lược.
    Hai bên cầu trên dòng nước phẳng lặng, chúng ta nhìn thấy những ngôi nhà bồng bềnh trên mặt nước đó là làng nuôi cá bè. Ban đầu chỉ có vài người ở miền Tây lên đây lập nghiệp và họ đã mang theo nghề nuôi cá bè đặc trưng ở miền Tây Nam bộ. Một công việc đã đem lại cho họ một cuộc sống ổn định hơn. Về sau có lẽ do dòng sông hiền hòa ấy thích hợp cho việc nuôi cá bè, từ đó kinh tế của họ đi lên. Chính vì vậy mà ngày càng tập trung nhiều người tại đây và đã từ từ hình thành nên một làng nuôi cá bè.
    Đèo Chuối
    Dài 4 km, chạy giữa thung lũng của hai dãy núi cao. Trước đây vùng này mọc rất nhiều cây chuối hoang nên người ta thường gọi là Đèo Chuối. Lên đèo Chuối chúng ta đang ở độ cao 350 m so với mực nước biển.
    Khu du lịch Suối Tiên
    Suối Tiên bắt nguồn từ núi San-Say giáp tỉnh Bình Thuận, dài trên 10 km, là khu du lịch liên doanh giữa Saigon tourist và huyện Đa Hoài năm 1989.
    Suối Tiên là dòng suối rộng, trong xanh, chảy xiết với nhiều khối đá nổi lên trên lòng suối. Dòng suối này chảy qua vùng rừng nhiệt đới nguyên sinh càng tạo phong cảnh hưu tình. Ở đây có thể tổ chức tour nghỉ ngơi, giải trí, cắm trại, tham quan rừng. Hiện nay có trồng thêm vườn lan và nuôi nhiều thú cho khách thưởng ngoạn.
    Tên gọi Suối Tiên với truyền thuyết như sau : Tương truyền từ xa xưa, ông trời nổi giận không cho mưa xuống, làm khắp buôn làng người Mạ âu sâu, lo lắng, trẻ con khóc thét đòi nước uống. Một gia đình nọ, vợ sinh con đầu lòng nhưng thiếu sữa cho con bú, chồng liền cầm nỏ vào rừng tìm trái chua cho vợ con. Chàng đã vượt qua ba ngọn núi , bảy cánh rừng. Khi mặt trời lên cao, người thợ săn nhìn thấy một tổ ong, chàng vươn cung lên bắn, tên vừa chạm vào tổ ong thì một dòng nước bắn thẳng vào thợ săn, chàng trai hoảng sợ bỏ chạy, tức thì dòng nước chạy theo. Chàng chạy càng nhanh dòng nước chạy càng nhanh, chàng chạy mãi đến bên cánh rừng thì kiệt sức và thiếp đi thì dòng nước dừng lại và lan rộng, lan rộng mãi thành một vùng nước sâu. Nhờ dòng nước này mà buôn làng được cứu sống và tồn tại cho đến ngày nay.
    Theo quốc lộ 20 từ ranh giới tỉnh Lâm Đồng ta bắt gặp vùng cư trú của dân tộc Mạ ngay từ huyện Đa Hoài kéo dài đến Bảo Lộc. Dân tộc Mạ có khoảng 20000 người (1989). Các dân tộc bản địa ở Lâm Đồng chủ yếu sống bằng các hoạt động kinh tế nương rẫy là chủ yếu. Hàng năm vào trước mùa mưa, các buôn làng tổ chức đốt rẫy và đến khi cơn mưa đầu mùa vào khoảng tháng tư, họ bắt đầu tỉa lúa, ngoài ra họ còn xen kẻ trong lúa là trồng bắp, đậu … Khi đã đến mùa gặt thì họ phơi khô lúa, ngô để trong kho. Sinh hoạt kinh tế nương rẫy có từ lâu đời, ngoài ra họ còn có nghề săn bắt rất đặc biệt truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hầu hết các dân tộc ít người ở Lâm Đồng cư trú thành các Bon (Plei). Mỗi Bon có từ vài chục nóc nhà. Vùng Mạ tồn tại các ngôi nhà dài hàng chục mét. Ở người Mạ, chế độ phụ hệ đã được xác lập. Mỗi Bon đều có một người đứng đầu do sự tín nhiệm và đề cử của các thành viên cộng đồng. Những việc gieo trồng, chia đất, chiến tranh … phải do sự quyết định tập thể của cộng đồng. Người Mạ cho đến ngày nay vẫn còn tồn tại một kho tàng dân gian tục ngữ khá đồ sộ nhất là những bản tình ca thật da diết, hồn nhiên. Vốn âm nhạc của dân tộc rất phong phú, đặc biệt là bộ cồng chiêng. Đêm đêm vào mùa lễ hội, sau khi đã thu hoạch xong một vụ lúa, người dân tổ chức ăn mừng lúa mới. Trong không gian hùng vĩ ấy của núi rừng, tiếng chiêng vang lên những âm điệu diệu kỳ như kêu gọi hướng về một tương lai của những ngày tươi đẹp. Âm nhạc là nhu cầu gửi gắm tâm tư nguyện vọng của dân tộc ít người. Chính ở vùng Mạ Bảo Lộc đã phát hiện được bộ đàn đá Bơrode (hiện lưu giữ tại Los Angeles) là một minh chứng cho trình độ âm nhạc độc đáo của các dân tộc ít người ở Lâm Đồng.
    Đèo Bảo Lộc
    Nằm trên tuyến đường quốc lộ 20 với chiều dài 10 km. Lên đến đỉnh đèo chúng ta đang ở độ cao 800 – 850 m so với mực nước biển. Với đường quanh co, khung cảnh hùng vĩ của núi rừng và khí hậu mát mẻ của vùng cao nguyên chắc rằng du khách sẽ cảm thấy thoải mái nhẹ nhõm, cảnh thiên nhiên hùng vĩ đó là bức tranh hoàn mỹ, một thắng cảnh nổi tiếng của Bảo Lộc. Bên cạnh bức tranh thiên nhiên ấy, quý khách còn thấy ở nơi đây có miếu thờ Tam Cô và tương Đức Mẹ.
    Theo câu chuyện được truyền miệng, miếu thờ Tam Cô rất linh thiêng. Các lái xe tuyến đường này kể lại, vào những lúc sương mù hay trời tối, họ thường thấy bóng dáng của ba cô gái đứng trên đường, hướng dẫn cho xe của họ đi đúng hướng, tránh xảy ra những tai nạn thương tâm, đáng tiếc. Chính vì những tình tiết như vậy mà để cho linh hồn quá cố được ấm với những nén nhang của người đi đường, họ đã dựng miếu thờ những cô gái xấu số đó. Về sau những đóng góp của những người từ tâm, miếu Tam Cô được xây dựng khang trang như ngày nay.
    Sát cạnh miếu thờ Tam Cô, bên dòng suối nhỏ là tượng Đức Mẹ Maria với đôi mắt dịu hiền được giáo dân xứ An Bình đóng góp xây dựng nên, xuất phát từ tín ngưỡng tôn giáo và sự tôn thờ Đức Mẹ, luôn ban ơn lành, hạnh phúc cho mọi người, luôn mở rộng vòng tay đón nhận những kẻ bất hạnh. Họ đã dựng nhữngtượng đài Đức Mẹ ngay cạnh đèo Bảo Lộc là để cầu sự an lành cho những người đi đường.

    Thuyết minh điểm Đà Lạt

    Hồ Xuân Hương


    Hồ Xuân Hương không mang trên mình nhiều huyền thoại như một số địa danh khác của Đà Lạt. Khi xưa, hồ chỉ là một con suối chảy giữa thung lũng, từ đó mà phát sinh tên gọi Đà Lạt - dòng suối của người Lạch. Năm 1919, kỹ sư công chánh người Pháp Labbé cho đào một cái hồ nhân tạo tại thung lũng mà con suối chảy qua và xây đập nước từ Thủy Tạ đến quán Hướng Đạo cũ. Đến năm 1923, hồ được mở rộng có tên là Grand Lac và lại xây thêm một cái đập nữa phía dưới tạo thành hai hồ. Sau cơn bão năm 1932, cả hai đập đều bị sập. Đến khoảng năm 1934 - 1935, người ta lại xây một cái đập đá lớn phía dưới và hồ Xuân Hương thành hình từ đó đến nay. Năm 1953, ông Nguyễn Vỹ - chủ tịch hội đồng thị xã Đà Lạt đổi tên từ Grand Lac do người Pháp đặt trước kia thành Xuân Hương - tên một nữ sĩ tài hoa, bà chú thơ Nôm nổi tiếng của Việt Nam thế kỷ 19. Hồ Xuân Hương còn là bản làng của các dân tộc bản địa trước kia qua việc phát hiện ở đây những di chỉ của người xưa.
    Đep lộng lẫy và dịu dàng, Hồ Xuân Hương là không chỉ là viên ngọc bích, mà còn là trái tim của thành phố Đà Lạt. Viền quan hồ là con đường nhựa láng tiếp nối với hàng loạt con đường khác từ khắp các nẻo của thành phố đổ về. Đây là hồ đẹp nhất nằm ở trung tâm thành phố Đà Lạt, chu vi 5.000m, rộng khoảng 38ha, độ sâu trung bình là 1,5m, có hình dáng một mảnh trăng lưỡi liềm. Mặt hồ phẳng lặng, trong vắt tựa chiếc gương soi, chỉ gợn vài đợt sóng lăn tăn khi có cơn gió nhẹ thổi qua. Ven hồ, bờ cỏ xanh mượt điểm những cây thông tùng, anh đào, liễu rũ… xinh đẹp tạo thành một khung cảnh thơ mộng cuốn hút khách nhàn du. Cầu phía trên đập chỗ đi vào trung tâm thành phố có tên gọi là cầu ông Đạo, mang chức danh ông quản đạo người Việt đầu tiên ở đây là ông Phạm Khắc Hòe.
    Trên bờ hồ, cách khoảng 300m về phía Tây Nam là quảng trường Hòa Bình cao rộng và sầm uất. Xung quanh quảng trường san sát những tiệm ăn, buôn bán, rạp chiếu bóng, chợ… khách ra vào tấp nập. Từ quảng trường có cầu bắc thẳng vào tầng 2 của chợ Đà Lạt, ngôi chợ 3 tầng lớn nhất Đà Lạt. Cách bờ hồ hơn 1km về phía Đông là ga xe lửa Đà Lạt, nằm im lìm, gợi trong lòng du khách về một thời dĩ vãng đã xa có những chuyến tàu xuôi ngược
    Ngày 10/1/1977, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Lâm Đồng ký quyết định số 26.QĐ-UB xác định: Trung tâm du lịch lấy trọng tâm là khu vực Hồ Xuân Hương.

    Tháng 10 - 1984, chính quyền tỉnh Lâm Đồng cho nạo vét lại lòng hồ, gia cố móng của đập cầu Ông Đạo. Trong 6 tháng nước hồ được tháo cạn, đáy hồ được hàng vạn thanh niên của thành phố Hoa đổ mồ hôi, công sứ nạo vét nhằm làm đẹp thêm cho quê hương mình. Đây là lần chỉnh trang thứ 2 kể từ sau năm 1934, lúc kỹ sư Trần Đăng Khoa cho xây dựng cầu Ông Đạo. Ngày 16-11-1988, Bộ Văn-Hoá Thông Tin và Thể Thao đã ra quyết định số 1288 công nhận Hồ Xuân Hương là 1 trong 464 thắng cảnh cấp quốc gia. Nhưng rồi, sau đó theo năm tháng, trước những tác động xấu của một số người một phần Hồ Xuân Hương đã bị bồi lấp làm giảm đi vẻ đẹp quyến rũ, nên thơ vốn có. Vì vậy, công việc nạo vét Hồ Xuân Hương được chính thức khời công với tổng kinh phí lên tới 20 tỉ, trong đó ngoài vốn ngân sách nhà nước còn có sự đóng góp của ngươì dân thành phố lên đến 6 tỉ. Có thể nói đây là lần chỉnh trang lại Hồ Xuân Hương lớn nhất từ trước đến nay vì ngoài việc nạo vét, còn phải xây dựng thêm hồ lắng phía thượng lưu và xây kè đá chống sụp lở xung quanh hồ. Sau hơn 3 tháng thi công, chủ yếu bằng cơ giới với việc nạo vét lòng hồ trên 1 triệu m3 đất, gia cố lại móng, các cống thoát nước của cầu Ông Đạo, xây bờ kè bằng đá chung quanh hồ, khôi phục lại các "cầu chữ Y" quanh bờ hồ, lát cỏ và cho xây dựng 4 hồ chống bồi lắng tại các dòng chảy chính trước khi vào hồ. Cuối tháng 9-1998 Hồ Xuân Hương được đóng nước, góp phần làm cho một thắng cảnh vốn đã đẹp nay còn đẹp hơn.
    Thực tế, hơn trăm năm qua, hồ Xuân Hương đã gắn liền với cuộc sống người dân Đà Lạt, gắn liền với những thăng trầm, biến động của thành phố Hoa. Vào mùa nắng và những ngày đẹp trời, mặt hồ Xuân Hương xanh biếc, gợn sống lăn tăn. Những ngày mưa lớn, nước đỏ ngầu làm người ta chạnh nhớ đến Hồng Hà-Hà Nội. Tuy nhiên, vẻ đẹp của Xuân Hương không giống với vẻ đẹp Hoàn Kiếm của kinh thành Thăng Long hay Tịnh Tâm của cố đô Huế. Nước hồ Hoàn Kiếm có màu xanh lục soi bóng tháp rùa, tháp Bút-ghi dấu ấn anh hùng của một giai thoại lịch sử dân tộc Việt Nam trong công cuộc chống ngoại xâm. Còn Tịnh Tâm ngát hương sen hình như lúc nào cũng thăng trầm và lặng lẻ như tính cách người dân xứ Huế. Còn hồ Xuân Hương lại có nét kiều diễm của phương Tây. Nước xanh soi bóng những cây Anh Đào rực hồng mỗi độ Xuân về, không e lệ ngại ngần, luôn bặt thiệp với khách trong nước cũng như ngoài nước. Có ai ngờ rằng cách đây 105 năm, đáy hồ còn là ruộng lúa của dân bản Langbi ang. Hằng năm, cứ mỗi độ xuân về, hồ Xuân Hương lại tươi trẻ hơn, rực rỡ hơn bởi ngàn hoa Anh Đào đua nở và mặt hồ xanh trong như mây trời.
    Hôm nay, hồ Xuân Hương vẫn còn in bóng khách sạn Palace-nơi đón tiếp đoàn đại biểu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đến dự hội nghị trù bị Đà Lạt năm 1946 và là nơi Bộ Chính Trị mở hội nghị tổng kết chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Đó còn là chứng nhân và niềm tự hào chính đáng của nhân dân các dân tộc thành phố Đà Lạt.
    Hồ xuân hương không những là một thắng cảnh của đà lạt mà còn là niềm tự hào của các dân tộc tỉnh Lâm Đồng. Đó còn là niềm cảm hứng bất tận cho biết bao thế hệ văn nghệ sĩ Việt Nam để sáng tác ra những áng văn, thơ tuyệt mỹ:
    "Ai hãy lặng thinh chớ nói nhiều
    Để nghe dưới đáy nước hồ reo
    Để nghe tơ liểu rung trong gió
    Và để nghe trời giải nghĩa yêu"
    (Đà Lạt Trăng Mờ-Hàn Mạc Tử)
    "Hồ Xuân Hương mặt nước trầm tư
    Thi nhân hỡi, có nhìn tôi không thấy
    Hồ trong xanh, lòng sâu đến tận trời
    Nghiêng mơ màng bao bóng thông trôi"
    (Một Ngày Đà Lạt-Lâm Thị Mỹ Dạ)

    Dinh thự tại Đà Lạt
    Bên cạnh lối kiến trúc thâm nghiêm cổ kính của các chùa chiền, nhà thờ, Đà Lạt còn thu hút bởi các dinh thự và nhiều công trình xây dựng theo kiểu dáng phương Tây rất hoành tráng. Mỗi biệt điện, mỗi villa đều có lối kiến trúc độc đáo riêng, nhưng nhìn tổng thể lại mang nét hài hòa, tao nhã, tạo cho thành phố này một phong cách đặc biệt mà không nơi nào sánh được.

    Dinh 1
    Nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 4km về phía Đông Nam, theo đường Trần Hưng Đạo đến ngã 3 Trại Hầm rồi rẽ phải đi 400m tiếp đường Trần Quang Diệu sẽ đến được Dinh 1. nguyên đây là cơ ngơi của một ngươì pháp được Bảo Đại mua lại.
    Dinh 1 có kiến trúc độc đáo mang dáng vẻ cổ kính uy nghi mà tao nhã khiến ai đã một lần đến đây đều nhớ mãi. Nguyên đây là cơ ngơi của một người Pháp, được vua Bảo Đại mua lại từ tháng 8/1949 và cho xây dựng thành Tổng hành dinh của chính phủ Hoàng triều cương thổ. Đến thời Ngô Đình Diệm được gia cố thành một lâu đài tráng lệ và kiên cố. Dưới toà nhà chính có một đường hầm thoát hiểm, cửa chính đường hầm này nằm ngay cạnh phòng ngủ của Ngô Đình Diệm. Một phần đường hầm nổi lên mặt đất có đường thoát hiểm thông ra phía sau dinh, nơi có sân tráng nhựa cho máy bay trực thăng đỗ dài khoảng 100m. Hiện nay dinh đã được mở cửa cho tham quan và đang thuộc quyền quản lý của liên doanh DRI.

    Dinh 2 - Dinh Toàn Quyền
    Dinh tọa lạc trên một đồi thông có diện tích 16ha ở đầu đường Trần Hưng Đạo, cách trung tâm thành phố 2km về hướng Đông Nam. Ở đây phong cảnh rất đẹp, có thể nhìn thấy mặt hồ Xuân Hương thấp thoáng qua những tán lá thông, xa xa là đồi Cù với những dải cỏ non xanh biếc.
    Dinh 2 được xây dựn gtừ năm 1933 - 1937, gồm 25 phòng được bài trí cực kỳ sang trọng. Khi còn đương chức, Toàn quyền Jean Decoux đã cho xây dựng dinh thự này làm nơi nghỉ mát mỗi mùa hè. Để tránh máy bay oanh tạc và tránh sự tấn công từ bên ngoài; toàn quyền đã cho xây dựng đường hầm bí mật để khi có sự cố thoát ra ngoài, ngoài ra còn cho xây dựng những đường hầm rất kiên cố, được nối vào hầm chứa rượu với bề ngang khoảng 1.5m và cao hơn 1m có nhiều ngóc ngách được đổ bêtông chắc chắn, nhiều năm nay đường hầm không được bảo vệ nên đã hư hại khá nhiều.
    Đến đời Ngô Đình Diệm cầm quyền ở miền Nam thì dinh này được ông cố vấn Ngô Đình Nhu lên ở như là dinh riêng.
    Ngoài dinh toàn quyền chủ yếu dùng để gia đình toàn quyền nghỉ ngơi, người Pháp còn xây dựng một văn phòng phủ toàn quyền khá bề thế. (Nhà nghỉ Liên đoàn lao động tỉnh hiện nay). Trong dinh có một số hiện vật quý như bức liễn khảm xà cừ khắc những bài thơ của vua Tự Đức đang để ở phòng khách. Trước đây còn có cả ngà voi nhưng hiện nay đã bị thất lạc qua nhiều lần thay đổi chủ quản lý. Trong dinh hiện vẫn còn chiếc dương cầm của phu nhân toàn quyền.
    Việc sửa chữa và khôi phục lại đường hầm chắc chắn sẽ làm cho dinh hấp dẫn khách hơn và có thể cho khách thuê để tổ chức tiệc tùng, cưới xin ở ngay phòng dưới đường hầm.
    Hiện nay, Dinh 2 là nhà khách của UBND tỉnh Lâm Đồng.

    Dinh 3 - Dinh Bảo Đại
    Nằm trên đường Triệu Việt Vương, cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 2km về hướng Tây Nam, ẩn mình trong một đồi khung cảnh thơ mộng trên đồi thông cao. Dinh 3 là biệt thự nghỉ hè của vua Bảo Đại và gia đình được xây dựng từ năm 1933 - 1937 trên diện tích 2.600m2 do kiến trúc sư người Pháp cùng kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát thiết kế và người thực hiện là ông Võ Đình Trung và kỹ sư Tôn Thất Hường. Vật liệu xây dựng được đem từ Pháp sang và từ miền Trung Việt Nam vào.
    Biệt điện Bảo Đại có 25 phòng, 2 tầng lầu. Tầng trệt dùng làm nơi hội họp, yến tiệc. Căn phòng làm việc của vua Bảo Đại có trưng bày những ấn tín quân sự, ngọc tỷ hoàng đế, quốc thư, quốc kỳ các quốc gia có quan hệ ngoại giao, tượng bán thân của vua Khải Định và vua Bảo Đại.
    Trên lầu là phòng ngủ của vua Bảo Đại, hoàng hậu Nam Phương, cùng thái tử Bảo Long, các công chúa Phương Mai, Phương Liên, Phương Dung và hoàng tử Bảo Thăng. Phía ngoài phòng ngủ của cựu hoàng là Lầu Vọng nguyệt khá đẹp dùng làm nơi cho cựu hoàng cùng hoàng hậu ngắm trăng….. Do thái tử Bảo Long là người được chọn kế nghiệp ngai vàng (từ năm 1939) nên trong phòng trang hoàng toàn màu vàng.
    Vua Bảo Đại có một bà vợ chính thức là hoàng hậu Nam Phương (tên thật là Nguyễn Hữu Thị Lan), con nhà hào phú Nguyễn Hữu Hào). Từ năm 1949, khi hoàng hậu Nam Phương đưa các con sang sống, học tập bên Pháp thì Bảo Đại chung vui với 3 thứ phi là Bùi Mộng Điệp, Phi ánh và bà Jeny Woong (người Hương Cảng). Ba bà thứ phi ở 3 dinh riêng tại Đà Lạt, mỗi khi cựu hoàng cần thì cho xe đến đón và dùng cơm chiều với ông rồi ở lại luôn trong dinh. Sáng hôm sau lại có xe đưa các bà trở về dinh của mình. Theo nhiều người đã từng phục vụ Bảo Đại kể lại thì cựu hoàng Bảo Đại mê bà Mộng Điệp hơn do bà vừa có sắc đẹp lại trẻ trung. Bảo Đại đã có với bà này 3 người con là hoàng nữ Phương Thảo, 2 hoàng nam Bảo Hoàng và Bảo Sơn. Cách đây vài năm con gái của cựu hoàng Bảo Đại với bà Mộng Điệp có về ở lại trong dinh (cùng chồng là một kỹ sư người Pháp).
    Sau khi Bảo Đại qua Pháp sống lưu vong, dinh là nơi nghỉ mát cao cấp của chính phủ Ngô Đình Diệm và sau này là Dinh của Nguyễn Văn Thiệu. Trong nhiều năm, dinh thuộc Ban tài chính quản trị tỉnh uỷ Lâm Đồng và mới được giao về cho Công ty du lịch dịch vụ Xuân Hương quản lý từ giữa năm 2000.
    Năm 1988, người ta đã phát hiện ra một số bảo vật gồm 122 món ngọc ngà, châu báu của triều Nguyễn do bà Từ Cung (mẹ vua Bảo Đại) đem từ Huế vào. Theo một tài liệu đáng tin cậy thì số bảo vật này là của cải riêng của hoàng thái hậu Từ Cung và cựu hoàng Bảo Đại, được Chính phủ cách mạng lâm thời (tháng 9.1945) cho phép tự do sử dụng. Đáng chú ý có nhiều đồ dùng bằng ngọc như thau rửa mặt bằng vàng nạm 16 viên ngọc, các loại bát ngọc, đĩa ngọc, một số đồ dùng bằng vàng. Số bảo vật này đang được lưu giữ tại kho bạc tỉnh Lâm Đồng và chưa dám khui ra vì địa phương rất lo lắng đến phương án bảo vệ. Qua các tài liệu còn lưu giữ được thì có lẽ đây là bộ sưu tập về ngọc đầy đủ nhất, quý giá nhất của các triều đại phong kiến Việt Nam còn lưu giữ được cho đến ngày nay. Trong một tương lai gần, bộ sưu tập ngọc này sẽ được đưa ra trưng bày tại Dinh 3 để cho du khách gần xa có dịp chiêm ngưỡng.
    Phía ngoài dinh (từ ngoài vào mé bên trái) vẫn còn hầm rượu của Bảo Đại nằm chìm dưới đất, cửa vào trông ra mé đồi thông. Theo nhiều người kể lại thì ngày trước Bảo Đại có rất nhiều loại rượu ngoại, chủ yếu là ảnh hưởng của lối sống Pháp. Thường buổi trưa ông thích ăn cơm ta và chiều ăn cơm Tây, một điều lạ là ông không thích nhậu nhẹt mà chỉ để tiếp khách. Nếu ăn cơm ta thì dọn các món lên một lần còn cơm Tây thì dọn từng món một. Một sở thích của vua Bảo Đại là thích săn bắn, ông thường tổ chức những chuyến đi săn xuyên đường quốc lộ 27 qua bên Dăk Lăk và kéo dài cả tuần, với đoàn tùy tùng đi theo rất đông. Cựu hoàng bắn rất giỏi, chính các quan chức Pháp cũng phải phục, bằng chứng là ngày trước trong dinh có 3 bộ da cọp để trang trí ngay phòng khách và trên lầu do chính tay Bảo Đại săn được. Chung quanh khu vực dinh ngày trước còn khá rậm rạp và cọp thỉnh thoảng cũng có về định "hỏi thăm".
    Một số căn phòng được phục chế trong Dinh 3:
    ¢ Phòng làm việc của vua Bảo Đại: tại đây hiện vẫn còn nguyên như bàn làm việc, điện thoại (bên phải là của vua Bảo Đại, bên trái là của tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu). Chính giữa có kệ tủ, bên trên có tượng vua Khải Định đặt ở hai bên, giữa là tượng vua Bảo Đại, 4 thanh kiếm của thị vệ đại thần, 2 dãy cờ 2 bên tượng trưng cho mối bang giao với các quốc gia trên thế giới, chiếc mũ khi đi môtô của vua Bảo Đại. Bên trái là ảnh gia đình. Trong kệ có sách săn hóa, kinh thánh và 2 ấn nổi bằng đồng của vua Bảo Đại khi làm Quốc trưởng Hoàng Triều Cương Thổ.
    ¢ Phòng tiếp khách: là nơi dùng tiếp khách của vua Bảo Đại, trong phòng có trưng bày đàn piano, là cây đàn mà hoàng hậu Nam Phương thường sử dụng. Ngoài ra còn có bức tranh sơn mài vẽ đền Angkor do một người bạn Campuchia tặng nhân ngày sinh nhật vua Bảo Đại vào năm 1951 và có một bức sơn dầu vẻ cảnh Thái Miếu ở Huế. Bên trên lò sưởi là cặp sừng min (trâu rừng) do vua Bảo Đại săn được ở đèo Krông Pha.
    ¢ Phòng tiếp khách thân mật: là nơi dùng tiếp những người thân trong hoàng tộc. Bên trên còn trưng bày cặp sừng nai do vua Bảo Đại đi săn được tại 1 vùng núi thuộc dãy Langbian.
    ¢ Phòng Khánh tiết: là nơi dùng để hội họp, chiêu đãi yến tiệc. Phòng trang trí tranh sơn mài vẽ cảnh núi rừng Tây Nguyên, bản đồ do một nhóm du học sinh tại Pháp vẽ tặng năm 1952 có hình bản đồ Việt Nam và các danh lam thắng cảnh tượng trưng cho 3 miền Bắc - Trung - Nam và một bức tranh vẽ điện Kiến Trung ở Đại Nội - Huế, ngoài ra con có một tượng bán thân vua Bảo Đại mặc quốc phục, đeo thẻ bài và huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh.
    ¢ Phòng giải trí: có để hai chiếc võng gọi là "Võng đào" dành riêng cho vua và hoàng hậu.
    ¢ Phòng sinh hoạt gia đình: trong phòng có 6 chiếc ghế, ghế dài của vua và hoàng hậu, hai ghế dành cho thái tử Bảo Long và hoàng tử Bảo Thăng, 3 ghế còn lại dành cho 3 công chúa Phương Mai, Phương Liên và Phương Dung.
    Tất cả đều như chỉ mới hôm qua, tạo cho du khách mường tượng được cuộc sống vương giả của các bậc vua chúa trước đây.

    Đồi Mộng mơ
    Đồi Mộng mơ cách thành phố Đà Lạt chừng 4 - 5 km theo đường Phù Đổng Thiên Vương, nằm gần thung lũng Tình Yêu, lối vào đập Đa Thiện với những đồi hồng, nương dâu đang vào mùa thu hoạch. Phía xa xa là dãy núi chập trùng có hình dáng như thiếu nữ nằm nghiêng với bầu sữa căng tròn đầy sức sống - đỉnh Lang Biang. Khu du lịch này vừa được công ty cổ phần Thành Ngọc mở cửa đón khách tham quan vào đầu tháng 11 năm 2003, chào đón sự kiện Đà Lạt 110 năm hình thành và phát triển. Ðây là một khu du lịch khá rộng lớn khoảng 11 ha nằm trên ngọn đồi thoai thoải, lộng gió.
    Từ cổng chào đi vào, điều du khách bắt gặp đầu tiên là các loài hoa Đà Lạt nằm bên vạt cỏ êm ái dưới những rặng thông toả bóng. Phía bên phải quả đồi là dãy nhà nghỉ được thiết kế theo kiểu nhà sàn gồm 5 ngôi trông rất xinh xắn được mang tên các loài hoa: Mimoza, đỗ quyên, forgetmenot, trà my và mai anh đào.
    Thăm ngôi nhà cổ có tuổi trên 300 năm được bê nguyên bản từ Bình Định vào. "Ai hãy lặng thinh chớ nói nhiều để nghe tơ liễu rung trong gió, và để nghe trời giải nghĩa yêu của nhà thơ Hàn Mặc Tử và cũng đâu đó là bài Ðoá hoa vô thường của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Đó chính là hai tác phẩm nghệ thuật rất đặc sắc của nghệ nhân Phạm Văn Hạng đã tặng cho nơi này, cả hai bức tượng được đặt trong không gian khá lãng mạn, trữ tình, trong một khuôn viên rợp bóng thông già và hoa lá. Đi "dăm" bước nữa là đến khu trung tâm du khách có thể thưởng lãm hàng trăm loài hoa mang dáng vẻ xứ cao nguyên, nổi bật nhất vẫn là vườn hồng trồng xen kẽ giữa muôn loài cây miền ôn đới. Nếu có nhu cầu khách còn được nghe giới thiệu về nghệ thuật trồng hoa.
    Một Vạn lý trường thành cũng đang chờ thử thách sức khỏe dẻo dai của du khách. Một vòng quanh tiểu Vạn Lý Trường Thành, con đường sẽ dẫn đến một thung sâu với ngôi nhà sàn của đồng bào thiểu số có một sân khấu khá rộng dành cho việc giao lưu văn hoá văn nghệ, có thể đốt lửa trại vào ban đêm. Ở đây có chương trình văn nghệ mang đậm bản sắc văn hoá Tây Nguyên. Rời khu sinh hoạt văn hoá cồng chiêng, du khách sẽ đến thăm Mộng Mơ tửu với hầm rượu luôn luôn có không dưới 20.000 lít bàu đá được ngâm lâu ngày, cùng với sản phẩm rượu vang nổi tiếng của Đà Lạt, rượu cần Tây Nguyên, rượu cần Tây Bắc... Và, một điểm dừng chân khác không thể không ghé qua: Nhà hàng mang tên Hạnh Phúc nằm trên một quả đồi lộng gió với tầm nhìn rất hào phóng với khoảng 400 chỗ ngồi.
    Giữa rừng thông, du khách còn có thể gặp bầy nai đang gặm cỏ chạy đùa, phía bên kia đồi là khu dã ngoại dành cho các bạn trẻ sinh hoạt tập thể, cắm trại. Kế bên vườn lan là nơi trưng bày bộ sưu tập đá nghệ thuật "quý" của cao nguyên Bảo Lộc như: silic trầm tích, bồ kết trầm tích . Bạn có thể ngắm nhìn vẻ đẹp như những bức tranh trừu tượng được thiên nhiên điêu khắc sắc sảo và khéo léo. Ngay lối ra đang khẩn trương hoàn tất là dãy nhà rông Tây Nguyên dành để khách tận hưởng không gian yên tĩnh, thoáng đãng.
    Là một ngọn đồi khá thơ mộng đồi mộng mơ mang trên mình nhừng kiến trúc khá hoa mĩ cụ thể như một bức tường vạn lí trường thành thu nhỏ, ở đâ chúng tôi có thể thả hồn mình theo thiên nhiên. Sau khi tham quan chúng tôi ghé vào một địa điểm khá thú vị đó là Đà Lạt Sử Quán, tìm hiểu về nghệ thuật tranh thêu.

    Cát Tiên (Đồng Nai, Bình Phước, Lâm Đồng)

    Vị trí: Cát Tiên là tên gọi một vùng đất nằm gọn trong đoạn uốn khúc của sông Ðồng Nai, thuộc địa phận của ba tỉnh Ðồng Nai, Bình Phước và Lâm Ðồng.Đặc điểm: Tục truyền, nơi đây có nàng tiên thường xuống hạ giới để vui đùa và tận hưởng dòng nước trong mát, nên được gọi là "Nam Cát Tiên". Ðây là công trình khảo cổ có giá trị văn hoá, lịch sử và tín ngưỡng lớn để có thể xác định được sự tồn tại, nguồn gốc của một vương quốc đã bị lãng quên hơn 1.300 năm.Vườn Quốc gia Cát Tiên có tổng diện tích là 70.548ha, trong đó phần diện tích thuộc Đồng Nai: 39.108ha; phần diện tích thuộc tỉnh Lâm Đồng: 26.969ha; phần diện tích thuộc tỉnh Bình Phước: 4.469ha. Trụ sở Vườn Quốc gia Cát Tiên đặt tại huyện Tân Phú, Ðồng Nai. Khu vườn có cảnh thiên nhiên đa dạng: vừa có đồi, vừa có bãi ven sông, vừa có các trảng rộng lớn bằng phẳng, lại có các dòng chảy dốc. Vào mùa mưa các dòng suối hiền lành trở thành các dòng thác, nước đổ trắng xoá trên các triền đá lớn. Nhiều đoạn thác quanh co, lượn khúc tạo ra những bãi cát vàng rộng như các bãi tắm tự nhiên. Giữa dòng sông rộng lớn nổi lên các hòn đảo chạy dài theo con nước. Trên đảo, cây cổ thụ mọc xen với đám cỏ rộng có thể làm nơi cắm trại, đốt lửa đêm lý tưởng. Dọc ven sông, theo lộ chính về phía tay trái là toàn bộ các kiểu rừng già, hỗn giao của các loại cây gỗ quý: gõ, giáng hương, trắc, cẩm lai, gụ... Bên phải của con đường rừng là thác trời, một ghềnh thác kỳ thú nhất của Cát Tiên. Tiếp tục băng rừng, qua các thung lũng sâu sẽ đến Bàu Sấu, nơi chứa nước rộng nhất, nằm ở khu trung tâm của Vườn Quốc gia Cát Tiên. Lòng bàu chứa nhiều loại cá, đặc biệt có cả cá sấu nước ngọt. Ven bàu là nơi tập hợp của nhiều đàn chim lớn như công, trĩ, gà lôi, sếu, giang, mòng, két, le le, cù đen...Cát Tiên không những có cảnh quan ngoạn mục, lại nằm trong khu vực chuyển tiếp của khí hậu miền núi và đồng bằng nên Cát Tiên có khí hậu độc đáo. Địa hình có sông suối bao bọc làm cho khu rừng già vừa được giữ nguyên vẹn, vừa trở thành nơi qui tụ hầu hết các kiểu rừng đồng bằng Nam Bộ. Ðây là khu rừng nguyên sinh tiêu biểu cho hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới vùng thấp. Rừng có nhiều cây cổ thụ như bằng lăng, gỗ đỏ. Hệ thực vật có hơn 1.362 loài thực vật bậc cao, hơn 440 loài cây gỗ quý, hàng trăm loại cây dược liệu, 133 loài hoa phong lan... Về động vật có 62 loài thú, 121 loài chim, có những loài chim quý hiếm như trĩ lông đỏ, cò quắm xanh, tê giác một sừng, voi... Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy một đền thờ vật linh thuộc nền văn hoá Phù Nam trên đỉnh ngọn đồi A1 (xã Quảng Ngãi, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Ðồng) tại khu vực đầu nguồn sông Ðồng Nai. Ðó là khu đền thờ được xây bằng gạch thô, bệ, khung diềm cửa, cột trụ bằng đá xanh granit chạm trổ hoa văn, các Linga bằng vàng hoặc bằng vàng bịt bạc, một Linga - Yoni cao 2,1m, đường kính 0,7m bằng đá xanh mài bóng, lớn nhất Ðông Nam Á cùng hơn một trăm miếng vàng có chạm hình mô tả cảnh sinh hoạt thời đó: các vũ nữ, chiến binh, voi, bò, hoa sen... Vườn Quốc gia Cát Tiên cách Tp. Hồ Chí Minh khoảng 150km theo quốc lộ 20. Cát Tiên là một điểm du lịch sinh thái và văn hoá hấp dẫn của vùng miền Ðông Nam Bộ với nhiều loại hình du lịch như đi bộ, quan sát chim thú, cắm trại, du thuyền, du lịch mạo hiểm...

    Bài Thuyết Minh Điểm Tham Quan Tại Đà Lạt - Lâm Đồng

    Tổng Quan Tỉnh Lâm Đồng


    Lâm Đồng là một tỉnh miền núi thuộc Nam Tây Nguyên, nằm giữa các tọa độ địa lý:
    X = 110 12' - 12015' vĩ độ Bắc;
    Y = 107015' - 108 0 45' kinh độ Đông.
    Tỉnh Lâm Đồng có diện tích 9.764,8km2; chiếm khoảng 2,9% diện tích cả nước.
    Phía Đông giáp các tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận,
    Phía Tây giáp tỉnh Bình Phước, phía Tây Nam giáp tỉnh Đồng Nai.
    Phía Nam - Đông Nam giáp tỉnh Bình Thuận.
    Phía Bắc giáp tỉnh Đắc Lắc.
    Đường ranh giới tỉnh Lâm Đồng phía bắc là các sông Đa Dâng, Krông Knô; phía đông đi ngang qua phía đông núi Bi Đúp, núi Kanan, núi Yàng Kuet; phía nam là núi Yam, núi Marông, núi Đrơnăng; phía tây là sông Đồng Nai.
    Lâm Đồng nằm trọn trong nội địa của nước Việt Nam, không có đường biên giới quốc gia và bờ biển.
    Lâm Đồng nằm trn cao nguyên thứ bao và cao nhất của vùng đất Tây Nguyên với độ cao 1.500m so với mặt biển. Tỉnh Lâm Đồng ngày nay được hợp nhất từ hai tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức và thị xã Đà Lạt trước năm 1975. Tỉnh Lâm Đồng có 9 huyện: Lạc Dương, Đơn Dương, Đức Trong, Lâm Hà, Bảo Lâm, Di Linh, Đạ Hoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên và thị xã Bảo Lộc cùng thành phố Đà Lạt.
    Với diện tích 9.765km2, trong đó rừng núi chiếm 70%, phía Bắc giáp tỉnh Đăklăk, phía Đông Nam giáp tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, phía Tây giáp Bình Phước và Đồng Nai.
    Về địa hình: phía bắc là hai dãy núi đi song song từ đông sang tây, có đỉnh Chư Yang Sin cao 2.405m, Yang Bông cao 1.749m. Dãy núi phía nam, sát ngay Đà Lạt có các đỉnh Đan Sê Na cao 1.950m, Langbian cao 2.163m, Hòn Nga cao 1,948m. Giữa hai dãy núi này là nơi bắt nguồn của các dòng sông Đa Dung chảy vào sông Đồng Nai, sông Cái chảy ra Nha Trang. Phía Nam của hai dãy núi là cao nguyên Langbian, trong đó có thành phố Đà Lạt ở độ cao 1.475m. Phía đông và nam tỉnh có cao nguyên nhỏ Di Linh cao 1.010m, khá bằng phẳng và đông dân cư, là nơi đầu nguồn của sông La Ngà chảy vào Đồng Nai.
    Khí hậu Lâm Đồng chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Lượng mưa trung bình năm tương đối lớn. Lượng mưa mùa khô chiếm từ 10 - 17%, còn mùa mưa
    chiếm từ 83 - 89%. Số ngày mưa trung bình năm ở Đà Lạt, Liên Khương là 140 - 150 ngày, tại Di Linh là 130 ngày, tại Bảo Lộc từ 170 - 180 ngày. Hướng gió thịnh hành vào mùa đông là hướng tây, vào mùa hạ là hướng đông.
    Nhiệt độ trung bình năm tương đối thấp. Đà Lạt không có thời kỳ dài trên 20oC và cao nguyên Di Linh không có thời kỳ dài 25oC. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng nhỏ, nhưng chênh lệch giữa ngày và đêm lại tương đối lớn. Độ ẩm không khí tương đối thấp, trung bình toàn tỉnh là 80 - 85%. Các tháng có mùa khô thì độ ẩm từ 75 - 80% và mùa mưa có độ ẩm từ 85 - 90%. Trong mùa khô, ở Lâm Đồng, trung bình mỗi tháng có 200 - 250 giờ nắng, còn mùa mưa là 100 - 150 giờ.
    Về dân cư, trước năm 1900, dân cư Đồng Nai Thượng (Lâm Đồng ngày nay) thưa thớt, chủ yếu là các dân tộc K'ho, Mạ, Churu, M'nông… Từ khi Pháp tập trung xây dựng Đà Lạt thành nơi nghỉ mát và bắt đầu khai thác tài nguyên, mở đồn điền, thị trường sức lao động được mở rộng, người Kinh đến ngày càng nhiều. Năm 1923, Đà Lạt chỉ mới có 1.500 người.
    Năm 1936 - 1937, dân số Đồng Nai Thượng có 60.000 người, trong đó dân số tại Đà Lạt gần 10.000 người; còn tại Di Linh, Blao và Dran là trên 50.000 người. Sau năm 1975, sự biến động dân số diễn ra đáng kể do cuộc vận động đi xây dựng kinh tế mới. Người Kinh từ rất nhiều tỉnh của đất nước Việt Nam đến đây lập nghiệp, đặc biệt là các tỉnh Hà Tây, Ninh Bình, Nam Hà, Nghệ An, Hà Tỉnh, Thừa Thiên - Huế, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Định và thành phố Hà Nội…
    Dân số tỉnh Lâm Đồng tính đến ngày 31/12/1995 có trên 850.000 người, bao gồm 29 dân tộc khác nhau, người Kinh chiếm 77%, các dân tộc thiểu số chiếm 23% nhưng phân bổ không đều. Nếu so sánh với cả nước thì tỷ lệ dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng gần bằng 2 lần của cả nước nhưng so sánh với các tỉnh Tây Nguyên, tỷ lệ này còn thấp hơn nhiều. Theo thống kê ngày 31/12/2002, dân số của tỉnh Lâm Đồng là 1.098.000 người, trong đó chủ yếu là dân tộc Kinh và hơn 150.000 người thuộc dân tộc ít người gồm các dân tộc bản địa như Mạ, K'ho, Churu… và một số dân tộc miền Bắc di cư vào như Thái, Tày, Nùng…
    Trong các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng, dân tộc K'ho là dân tộc gốc địa phương có tỷ lệ cao nhất, chiến 12,98% trong dân số của tỉnh, tiếp đó là dân tộc Mạ chiếm 3,1%, Hoa chiếm 1,75%, Churu chiếm 1,63%, Nùng chiếm 1,33%, Tày chiếm 1,03%. Các dân tộc bản địa sống trải theo chiều dài của tỉnh, bắt đầu từ Đạ Hoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên kéo dài đến thị xã Bảo Lộc là vùng cư trú của dân tộc Mạ. Từ ranh giới thị xã Bảo Lộc và huyện Di Linh, dọc theo quốc lộ 20 là vùng cư trú của dân tộc K'ho và người Churu sinh sống chủ yếu ở huyện Đơn Dương.

    Lịch Sử Hình Thành Vùng Đất Lâm Đồng


    Lâm Đồng là một vùng đất cổ, có cảnh quan địa mạo đa dạng, cấu tạo địa chất phức tạp với nhiều dân tộc anh em thuộc ngữ hệ Môn - Khơ Me và ngữ hệ Malayô - Polynêxia lần lượt đến sinh sống trên mảnh đất Nam Tây Nguyên này. Lâm Đồng có một nền văn hoá, lịch sử lâu đời. Các dân tộc anh em trong tiến trình lịch sử lâu dài của mình đã để lại nhiều di tích hình thành nên bản sắc chung của văn hoá Lâm Đồng. Vùng đất Lâm Đồng còn lưu giữ nhiều dấu tích văn hoá, lịch sử của các dân tộc. Đó là những công cụ lao động, dụng cụ gia đình, đồ trang sức cá nhân, những đền tháp, những khu mộ táng của nhiều thời đại. Đó là những chứng tích sống động về cuộc sống của những con người và của các thời đại đã từng sinh sống trên vùng đất này. Quá trình hình thành các nhóm cư dân của các dân tộc trên đất Lâm Đồng có những nét riêng. Di tích rất phong phú, đa dạng nhưng công cuộc phát hiện, khai quật trên đất Lâm Đồng chưa làm được bao nhiêu. Vài ba năm nay, trên cơ sở phát hiện ngẫu nhiên của nhân dân, công cuộc tìm kiếm, khai quật khảo cổ bước đầu được triển khai. Những hiện vật phát hiện thu lượm được đã cho thấy sự phong phú, đa dạng của di tích khảo cổ vùng này, cùng với mối quan hệ văn hoá với các vùng xung quanh. Nét đặc biệt của lịch sử Lâm Đồng gần giống như các vùng Tây Nguyên là cư dân của nhiều dân tộc thiểu số trong thời gian dài sống trong một nền kinh tế lạc hậu, sau này mới hoà nhập vào nền văn hoá, lịch sử của người Việt. Do đó không thể đem khái niệm thời gian Đinh, Lê, Lý, Trần để tìm hiểu di tích khảo cổ trên đất Lâm Ðồng. Di tích khảo cổ trên đất Lâm Đồng có thể phân làm 2 giai đoạn: di tích khảo cổ thời tiền sử và di tích khảo cổ trong các thời kỳ lịch sử.
    Các Di Tích Khảo Cổ Thời Tiền Sử
    Ở Lâm Đồng các di tích khảo cổ thời tiền sử thường tập trung ở những sườn đồi bazan có độ cao vừa phải và có các thềm đất phù sa hoặc các sườn đồi ven các dòng sông, suối trong tỉnh.
    Những công cụ bằng đá của người tiền sử phát hiện được lẻ tẻ ở nhiều nơi từ Di Linh, Lạc Dương đến Lâm Hà, Đơn Dương, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên. Trong quá trình làm nương rẫy hoặc đào ao, làm nhà, nhân dân thường nhặt được các lưỡi rìu bằng đá mà họ thường gọi là "lưỡi tầm sét" hay "búa nhà trời", ít thì một chiếc, nhiều thì vài ba chiếc. Chính từ những thông tin ban đầu này, ngành khảo cổ học đã vào cuộc. Kết quả từ những cuộc khai quật khảo cổ này đã làm cho nhiều nhà khoa học trong cả nước ngạc nhiên và thích thú.


    Các Di Tích Khảo Cổ Trong Các Thời Kỳ Lịch Sử
    Ở Lâm Đồng nói riêng, cũng như các tỉnh trên Tây Nguyên nói chung, các di tích lịch sử được phát hiện, nghiên cứu chưa nhiều. Mặc dù vậy, trong nhiều năm qua, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, nhiều di tích lịch sử được quan tâm tiếp cận nghiên cứu, một số di tích được tiến hành tổ chức khai quật khảo cổ học và kết quả đã cung cấp nhiều tư liệu quý góp phần phục dựng lại tiến trình lịch sử trên vùng đất Nam Tây Nguyên này.
    Các di tích khảo cổ hiện biết ở Lâm Đồng có khá nhiều, phân bổ rộng với nhiều loại hình, có tính liên tục về thời gian. Riêng các di tích giới khảo cổ học khai quật chủ yếu gồm hai loại hình kiến trúc tôn giáo và mộ táng, tập trung chủ yếu ven dòng sông Đa Dâng.
    Văn hoá Chăm Pa, văn hoá Óc Eo mỗi khi có điều kiện lại lan tỏa lên cao nguyên. Sự kết hợp chặt chẽ giữa các nền văn hoá của các tộc người sinh sống, quản lý vùng đất này với các nền văn hoá khác đã để lại khá nhiều di tích lịch sử trên đất Lâm Ðồng. Mặc dù, cho đến nay, các di tích đó mới được biết đến hay khảo sát ban đầu, nhưng đã cho thấy sự phong phú về loại hình và số lượng của các di tích ở đây. Có thể kể ra một số di tích khác như địa điểm Pró thuộc huyện Đơn Dương còn dấu vết một hầm gạch chạy dài. Khu mộ cổ này với gò mộ cao 2m, chu vi hơn 20m đã từng bị đào trộm, hoặc phế tích biến táng ở Đạ Huoai với bộ ngẫu tượng linga - yony đơn lẻ.
    Ngoài những di tích, có thể biết đến những di vật lịch sử quý của hoàng tộc vương quốc Chăm Pa để lại trên đất Lâm Đồng như tại làng Sopmadrong (huyện Đơn Dương) của người Chu Ru có bộ sưu tập vũ khí như súng, dao, lao, đao, kiếm,... những đồ dùng như chậu, ấm, cùng mũ của vua Chăm Pa khi lưu lạc trên cao nguyên.
    Tại đền thờ Krayo ở làng La Bui (huyện Đơn Dương) của người Chu Ru còn lưu giữ bộ sưu tập gồm: gươm, kiếm, giáo, lao cùng những hiện vật như hộp đồng, ấm đồng của người Chăm giữ lại. Những di tích, hiện vật này phản ánh lại lịch sử của vùng đất Lâm Ðồng nói riêng, của cao nguyên nói chung trong tiến trình tồn tại, phát triển và hoà nhập chung vào lịch sử cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
    Trải dài theo tiến trình lịch sử, các di tích ở Lâm Đồng với nhiều loại hình, đa dạng về hiện vật đã cung cấp thêm những tư liệu để hiểu về cội nguồn văn hoá của một vùng đất. Một nền văn hoá truyền thống bản địa cùng những yếu tố hội nhập đã tạo nên bản sắc văn hoá cao nguyên giàu tính dân tộc, làm tăng nét độc đáo và làm giàu bản sắc đa dạng của văn hoá dân tộc trong lịch sử sâu xa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

    Tài nguyên du lịch tự nhiên của Lâm Đồng

    Tài nguyên du lịch tự nhiên của Lâm Đồng đa dạng và phong phú, được hình thành bởi đặc điểm tổng hợp của các yếu tố địa hình, khí hậu, rừng và khu hệ động thực vật, thủy văn,... đã tạo ra cảnh quan đặc sắc với nhiều hồ, thác nước, đồi núi, rừng thông ngoạn mục.
    Tài nguyên tự nhiên có giá trị du lịch được phân bố tương đối tập trung ở khu vực Ðà Lạt và vùng phụ cận, đây là một thuận lợi đối với việc khai thác và bảo vệ những tài nguyên này. Mặt khác, nằm rải rác trên địa bàn tỉnh cũng có những thắng cảnh, di tích, mỗi nơi một sắc thái, tạo cho Lâm Ðồng có thể phát triển nhiều điểm tham quan, đa dạng hoá các sản phẩm du lịch.
    Một số cảnh quan du lịch tự nhiên đặc sắc: Hồ Xuân Hương, Đan Kia - Suối Vàng, Tuyền Lâm, Than Thở, Thung lũng Tình yêu, Đa Nhim ; thác Cam Ly, Ðatanla, Prenn, Liên Khương, Gougah, Pongour, Ðambri, Bobla, Li Liang, thác Voi, Pong Giang ; đồi Cù, núi Lang Bian,...
    Các di tích văn hoá lịch sử như Dinh I, Dinh II, Dinh III, Khách sạn Palace; chùa Linh Sơn, Linh Phong ; Thiền viện Trúc Lâm ; nhà thờ Chánh tòa, Cam Ly ; Nghĩa trang Liệt sĩ ; khu mộ cổ của dân tộc Mạ, khu di tích Cát Tiên ; các lễ hội văn hoá dân gian như lễ hội đâm trâu, lễ hội cồng chiêng,... là điểm hẹn của du khách trong nước và quốc tế.

    Quá Trình Phát Triển Ngành Du Lịch
    Thời kỳ 1893 - 1954
    Khi Toàn quyền Paul Doumer công du ở Ấn Độ về và nêu ra 4 điều kiện về độ cao, nguồn nước, đất đai, đường giao thông để có thể tìm một nơi nghỉ dưỡng thì ở miền Bắc có 2 địa điểm được giới thiệu nhưng không được chấp nhận là đỉnh núi Ba Vì và phần đất cao nguyên giữa sông Hồng và sông Đà. Đỉnh núi Ba Vì quá chật hẹp và độ ẩm quá cao, đường giao thông lên vùng cao nguyên giữa sông Hồng và sông Ðà không thuận lợi.
    Ở miền Nam, Vũng Tàu cũng được xem xét vì Vũng Tàu có một bãi biển mát mẻ hơn vùng nội địa nhưng cũng không thể dùng làm nơi nghỉ dưỡng vì lúc bấy giờ có vùng đầm lầy ở gần Vũng Tàu là môi trường truyền bệnh sốt rét. Cuối cùng, Đà Lạt - Đan Kia được Toàn quyền Doumer chọn sau khi được bác sĩ Yersin giới thiệu và sau nhiều chuyến khảo sát của người Pháp, trong đó có chuyến đi trực tiếp của Paul Doumer.
    Trong nhiều đoàn khảo sát, phái đoàn thứ hai do đại úy Guynet dẫn đầu gồm có 20 người Âu, trong đó có bác sĩ Eùtienne Tardif.
    Bác sĩ Tardif mô tả Đà Lạt và Đan Kia lúc bấy giờ như sau:
    Đà Lạt nằm trên cao nguyên Lang Bian trên độ cao ít nhất 1.500m. Đồn lính nằm trên lưng chừng đồi của một thung lũng rộng, nhìn xuống một vùng đất dốc thoai thoải ven bìa rừng thông. Một dòng suối có lưu lượng rất cao chảy dưới thung lũng. Nước suối trong mát, dễ uống và không có mùi vị.
    Vị bác sĩ này đề nghị chọn Đà Lạt làm nơi nghỉ dưỡng thay vì Đan Kia vì những lợi thế sau:
    Điều kiện vệ sinh: Vị trí thuận lợi nhất để thành lập nơi nghỉ dưỡng là một địa điểm trống trải và dễ đến gần. Đó là trường hợp của Đà Lạt có thể đến một cách rất tự nhiên, trong khi phải đi quanh co thêm 13km để đến Đan Kia. Đà Lạt còn có một điểm thuận lợi nữa là đất đai kéo dài liên tục với dốc thấp, trong khi Ðan Kia gồm một dãy đồi núi tách rời nhau với những thung lũng hẹp và lầy lội.
    Về độ cao: Đà Lạt cao hơn Đan Kia 100m. Có thể nói một cách chính xác rằng Đà Lạt ở trên cao và Đan Kia nằm trong lòng chảo.
    Nước: Nếu trong tương lai, nơi nghỉ dưỡng trở thành trung tâm, chỉ cần xây dựng ở Đà Lạt một tháp nước là sẽ phân phối được nước cho mọi nhà; ở Đan Kia, một công trình như vậy gặp rất nhiều khó khăn.
    Không khí: Về điểm này, Đà Lạt càng thuận lợi hơn Đan Kia. Tôi chưa dám nói trước rằng nhờ độ cao, không khí Đà Lạt trong sạch hơn, nhưng chắc chắn là không khí Đà Lạt khô hơn.
    Nằm gần đỉnh núi Lang Bian, trong mùa mưa, Đan Kia hứng hầu hết những trận mưa. Ở Đan Kia, sương mù dày đặc hơn, gió và tia nắng mặt trời chỉ đến từ 9 đến 10 giờ sáng.
    Cuối cùng, Đan Kia không bao giờ có không khí rừng thông. Ngược lại, Đà Lạt nằm kề một rừng thông mênh mông tạo thành một hình bán nguyệt ở đông nam cao nguyên.
    Về thảo mộc: Quanh Đan Kia không có cây cối. Đồi núi chỉ phủ toàn một lớp cỏ xanh. Đà Lạt, trái lại, nằm cạnh một rừng thông và tùng, không khí đầy hương thơm nhựa thông trong lành. Tính chất thổ nhưỡng ở Đà Lạt cũng tốt hơn ở Đan Kia.
    Nếu nơi nghỉ dưỡng đặt ở Đan Kia, đây sẽ là một thành phố có nhiều đồi núi mấp mô, ít đất bằng, không thuận tiện cho các phương tiện giao thông (xe hơi, xe điện, xe đạp) hoạt động. Về ban ngày, không có bóng cây, do đó không thể dạo chơi; ban đêm lại đầy sương mù.
    Giá thành nước cung cấp đến tận nhà rất cao. Vấn đề giải quyết nước thải bằng những phương pháp cơ học hay hoá học ở Đan Kia rất tốn kém. Nếu nước thải chảy vào sông Đồng Nai sẽ gặp rất nhiều khó khăn vào mùa khô. Ở Ðà Lạt, với đất rộng, đồi núi thấp, một tháp nước và một hệ thống đường ống dẫn nước có thể cung cấp nước cho mọi gia đình. Nước thải được cho chảy về Prenn. Dưới thung lũng này có một dòng suối đầy nước quanh năm chảy qua một vùng rộng lớn gần như hoang vu trước khi nhập vào sông Ða Nhim.
    Vật liệu xây dựng lại ở gần Đà Lạt và rất xa Đan Kia.
    Về phương diện thẩm mỹ, Đà Lạt nằm ở vị trí rất tuyệt diệu, chân trời lui về phía dãy núi Lang Bian. Trái lại, từ lòng chảo Đan Kia, chân trời bị những ngọn đồi xanh bao quanh, không có rừng, không có núi, chỉ nhìn thấy ánh mặt trời và đồi cỏ xanh.
    Việc chọn Đà Lạt hay Đan Kia làm địa điểm để thành lập nơi nghỉ dưỡng kéo dài trong nhiều năm, mãi cho đến năm 1906 Đà Lạt mới chính thức được quyết định và từ đó không còn sự tranh cãi nữa. Ngay từ khi quyết định chọn Đà Lạt thay cho các địa danh khác ở Việt Nam để làm nơi nghỉ dưỡng, người Pháp trong những năm đầu đã có một số nỗ lực nhất định như thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng vào ngày 1-11-1899 gồm vùng thượng lưu sông Đồng Nai đến biên giới của Nam Kỳ và Căm-pu-chia, tỉnh lỵ đặt tại Djiring và hai trạm hành chính đặt ở Tánh Linh và cao nguyên Lang Bian; nhiều phái đoàn được cử đến Lang Bian nghiên cứu các tuyến đường giao thông lên Đà Lạt từ Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết và Sài Gòn. Sau khi quyết định chọn Ðà Lạt làm nơi nghỉ dưỡng, Toàn quyền Paul Doumer ở Hà Nội đã vạch ra một kế hoạch khá đồ sộ, chi tiết, tỉ mỉ để xây dựng địa điểm này.
    Trong một tư liệu của thời kỳ này còn lưu trữ lại cho thấy:
    Khi còn ở Hà Nội, Doumer đã lập một chương trình xây dựng Đà Lạt. Theo chương trình này, Đà Lạt là một thành phố toàn vẹn với các trụ sở hành chính hoạt động về mùa hè, các trường trung học và doanh trại quân đội. Bản đồ phân lô đã bố trí các công trình kiến trúc từ dinh Toàn quyền đến nhà ở của y tá, văn phòng công chánh, thuế vụ, thú y, thanh tra tài chính, nông nghiệp... Sở cảnh sát ở bên cạnh giải trí trường. Toà thị chính rộng 306,88m2 với nhiều phòng. Nước được dự kiến cung cấp cho 10.000 dân, nguồn nước có thể thỏa mãn trong tương lai cho 40.000 dân. Nước được lọc bằng phương pháp ozon hoá và có thể cả tia cực tím. Năng lượng thuỷ điện của các thác nước ở Ankroet với nhà máy 2.760 sức ngựa sẽ cung cấp điện cho thành phố.
    Tiếc rằng kế hoạch này không được thực hiện vì Doumer về Pháp, nguồn kinh phí không có. Đà Lạt không được đầu tư xây dựng gì đáng kể để trở thành nơi nghỉ dưỡng trong nhiều năm sau đó.
    Mãi đến năm 1914, chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ, người Âu gặp khó khăn trong việc trở về quê hương nghỉ phép hàng năm nên Ðà Lạt có điều kiện để đón tiếp nhiều du khách đến nghỉ dưỡng. Với tình hình đó, tháng 11-1915, Toàn quyền Roume quyết định đánh thức Đà Lạt sau một giấc ngủ dài; ngày 18 tháng 3 năm Duy Tân thứ 10 (20-4-1916), Hội đồng Nhiếp chính triều đình Huế thông báo dụ thành lập trung tâm đô thị Ðà Lạt.
    Đà Lạt trong khoảng thời gian của chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã thực tế trở thành trạm nghỉ dưỡng nổi tiếng với khoảng vài chục căn nhà gỗ được dựng lên gấp rút. Nhịp độ xây dựng tăng lên với những công trình xây dựng, giao thông quan trọng: Hôtel Langbian Palace, Hôtel du Parc, đường nội thị, Hồ Lớn Đà Lạt (nay là hồ Xuân Hương), quốc lộ Phan Rang lên Đà lạt, bưu điện, trường Nazareth, ngân khố, nhà máy điện, nhà máy nước,...Chỉ trong vòng vài năm, Đà Lạt đã có nhiều đổi thay nhờ hoạt động du lịch của du khách. Những hình ảnh đó ta có thể thấy được trong nhật ký ghi chép chuyến đi Lâm Viên của Nam tước Ninh Lãng, Hiệp tá Ðại học sĩ, lãnh chức Thượng thư Bộ Công, đăng trên Nam Phong tạp chí năm 1918:

    Các dinh thự nhà cửa cho đến khách sạn, nhà ở của người dân, thảy đều xây cất trên đồi núi. Ven chân núi nào cũng có đường cái, xe điện có thể chạy được, đan chéo vào nhau.... Từ dưới đồng bằng nhìn lên, thấy lâu đài sắp xếp như quân cờ, la liệt như sao. Cảnh đẹp giống như tranh vẽ. Kiến trúc hiện đang có là tòa công sứ, nha lục lộ, nha kiểm lâm, nha nhân khố, phòng điện báo, bệnh viện và cư xá cho binh lính đồn trú. Ngoài ra còn có những khách sạn xây cất theo kiểu mẫu phương Tây.
    Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, suy cho cùng, cũng chỉ là giai đoạn khởi đầu cho ngành du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng bước đầu nhận thức được chân giá trị của mình, là điểm xuất phát cho cả một quá trình khoảng 20 năm phát triển mạnh mẽ, từ sau thế chiến thứ nhất đến đầu thế chiến thứ hai của Đà Lạt nói riêng và của ngành du lịch Lâm Đồng. Điều đó bắt nguồn trước hết từ nguyên nhân tăng mạnh của nhu cầu khách du lịch, đồng thời cũng có nguyên nhân kinh tế, do khả năng nguồn vốn đầu tư tăng, vì vào thời kỳ này, sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, bối cảnh chung ở Đông Dương là thực dân Pháp tăng cường khai thác thuộc địa để bù đắp những tổn thất trong chiến tranh, nhưng bên cạnh đó, tình trạng lạm phát ở Pháp đã làm cho đồng bạc Đông Dương và nguyên vật liệu tăng giá và các nhà đầu tư ở Pháp cũng đã có nhiều thông tin và quảng cáo về Đông Dương do hãng Kinh tế Đông Dương tại Pa-ri cung cấp nên đã thúc đẩy tư bản Pháp đầu tư vào Đông Dương. Đà Lạt tiếp nhận được những cơ hội quý giá trong bối cảnh như vậy, và lúc này Đà Lạt đã được nhiều người biết đến với chức năng là một trung tâm nghỉ dưỡng đầy tiềm năng.
    Sự phát triển nhanh đến mức chính phủ Đông Dương lúc bấy giờ nhận thấy cần phải có một "Đồ án chỉnh trang tổng quát" để điều hành việc phát triển Đà Lạt. Năm 1921, Toàn quyền Maurice Long giao trách nhiệm thiết lập đồ án cho kiến trúc sư Ernest Hébrard, một kiến trúc sư từng tham gia trùng tu thành phố cổ Salonique ở Hy Lạp.
    Năm 1923, Hébrard hoàn tất đồà án, theo đó Đà Lạt sẽ là một thành phố nghỉ mát trên cao và là thủ đô tương lai của Đông Dương. Từ đó, nhiều luật lệ trong xây dựng ở Đà Lạt được áp dụng chặt chẽ với các quy định về sử dụng đường và quy định về xây cất công trình ban hành ngày 1-6-1923 và ngày 26-7-1923.
    Trong khoảng 20 năm giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, Đà Lạt đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong đầu tư xây dựng, trong tổ chức hành chánh ... để trước hết là thực hiện ý đồ xây dựng Đà Lạt thành một trung tâm nghỉ dưỡng của người Pháp:
    Năm 1922, khách sạn Langbian Palace được khánh thành.
    Năm 1926, khu tự trị Lang Bian trở thành thị xã Ðà Lạt (commune de Dalat).
    Năm 1933, đường bộ nối liền Đà Lạt với Sài Gòn chỉ mất vài giờ qua đèo B'Lao được mở cho giao thông.
    Ngày 23-5-1937, quốc lộ 7 nối liền Đồng Nai Thượng với Đắc Lắc được khai thông, 160 ô tô chạy trên đường này trong 3 tháng mùa khô.
    Những công trình xây dựng đường xe lửa có răng cưa bắt đầu từ năm 1920 được hoàn thành và đường sắt nối đến Đà Lạt vào năm 1932. Nhà ga xây dựng xong năm 1938. Lúc bấy giờ, đi từ Hà Nội đến Đà Lạt chỉ mất 48 giờ nên số du khách từ miền Bắc đến nghỉ hè ở Ðà Lạt rất đông. Các buồng trong khách sạn được khách đặt thuê từ nhiều tháng trước.
    Đà Lạt đã có một hệ thống đường sá đủ để khẳng định sự trưởng thành. Các biệt thự ở đường Hoa Lay-ơn (Rue des Glaieuls), Hoa Hồng (Rue des Roses) được xây dựng, cư xá Saint Benoitđược thành lập. Về phía tây bắc thành phố, cư dân người Việt cũng xây dựng các ấp Hà Đông (1938), Nghệ Tĩnh (1940).
    Những công trình đô thị được hoàn chỉnh. Một nhà máy điện mới được thành lập năm 1927. Nhà máy nước tăng cường hệ thống dẫn nước. Một kế hoạch mở rộng nhà máy nước được đặt ra năm 1937 mà giai đoạn đầu kéo dài 5 năm.
    Cuối năm 1937, xây dựng Dinh Toàn quyền (nay là Dinh II).
    Lục quân và hải quân cũng thiết lập những trại nghỉ hè. Doanh trại Courbet được quy hoạch năm 1930, một doanh trại quân đội rộng 24 hecta được thiết lập ở phía đông thành phố vào năm 1937; về hướng bắc, Trường Thiếu sinh quân chiếm 38 hecta từ năm 1939.
    Chùa Linh Sơn được khởi công xây dựng từ năm 1938, đến năm 1940 hoàn thành. Nhà thờ Chánh tòa được đặt móng từ năm 1931, đến đầu năm 1942 thì xây dựng xong.
    Từ năm 1935, Công ty Du lịch được thành lập với hơn 80 thành viên. Tháng 12-1936, Công ty xuất bản một tập sách giới thiệu du lịch ở Ðà Lạt và vùng ven, viết bằng ba thứ tiếng Pháp, Anh, Hà Lan, in rất đẹp và phổ biến rộng rãi khắp Viễn Đông.
    Đà Lạt vào những năm của thập kỷ 30 đã có nhiều loại hình dịch vụ du lịch phục vụ du khách như: du khách có thể dạo chơi thưởng ngoạn trên những con đường mòn dưới rặng thông bằng ô tô, xe ngựa hoặc đi bộ, có thể đi xa hơn đến các vùng ven thành phố để thưởng thức cảnh đẹp của rất nhiều thác nước như thác Cam Ly, Prenn, Ankroet 1, Ankroet 2, Liên Khương, Gougah, Pongour,
    Những người yêu thích thể thao tìm thấy ở Đà Lạt một môi trường thích hợp. Những ai thích leo núi có thể leo đỉnh núi Lang Bian với 5 đỉnh núi sừng sững, phủ một lớp cây màu xanh thẩm. Du khách hay tập trung nhất ở Hồ Lớn (hồ Xuân Hương), tại đây du khách chèo thuyền, bơi lội; Nhà Thuỷ Tạ là nơi khách bơi có thể nhào từ trên cao xuống nước; từ Nhà Thuỷ Tạ nhìn qua bên kia Hồ Lớn là một địa điểm hấp dẫn không kém đối với những người chơi thể thao: sân Cù 9 lỗ; những người chơi cù thường tổ chức các cuộc tranh giải vào dịp tết dương lịch hoặc lễ Phục sinh. Ðà Lạt còn có nhiều sân quần vợt, các du khách chơi môn này thường tới đây vào mùa khô để tổ chức tranh giải. Ðà Lạt là nơi thích hợp đối với môn thể thao trên lưng ngựa, nhiều du khách đến đây thuê ngựa hàng giờ để đi dạo hoặc cưỡi ngựa thể thao, đua ngựa,...
    Khách du lịch có thể nghỉ đêm tại các khách sạn sang trọng hoặc ở các nhà nghỉ, biệt thự. Ðà Lạt về đêm những năm này cũng có nhiều thú vui chơi giải trí, khách sạn Langbian Palace (nay là khách sạn Sofitel Dalat Palace) tổ chức những buổi dạ hội khiêu vũ, rạp chiếu bóng Eden (nay là khách sạn Ngọc Lan) hàng tuần chiếu 2 chương trình phim khác nhau.
    Năm 1939, bùng nổ chiến tranh thế giới lần thứ hai, một lần nữa, liên lạc với nước ngoài bị gián đoạn, người Pháp phải ở lại Đông Dương trong thời gian lâu hơn khiến cho số người lên nghỉ mát ở Đà Lạt luôn luôn tăng lên. Nhu cầu đầu tư phát triển với một qui mô và trình độ cao hơn những năm trước chiến tranh thế giới lần thứ hai đã góp phần vào việc mở mang hơn nữa ngành du lịch Đà Lạt - Đồng Nai Thượng lúc bấy giờ. Đà Lạt không chỉ là trạm nghỉ mát vùng cao cho người Pháp ở Ðông Dương mà còn có thể trở thành một nơi nghỉ mát lớn ở Viễn Đông. Đặc trưng nhất là không khí xây dựng thể hiện qua việc nhà chức trách buộc phải điều chỉnh lại quy hoạch thành phố .
    Vốn không sử dụng ở Nam Kỳ đã được đầu tư vào Ðà Lạt. Khắp nơi, người ta bán đất, xây dựng các biệt thự. Số giấy phép xây dựng là 59 trong năm 1939, tăng lên 155 trong năm 1940, 257 trong năm 1941 và vượt quá con số 300 trong năm 1942. Số biệt thự là 530 trong năm 1940, tăng lên 728 vào cuối năm 1942.
    Tháng 10-1942, một nhà máy thủy điện được khởi công xây dựng ở Ankroet trên sông Đa Dâng để cung cấp đủ điện cho thành phố.
    Tháng 11-1943, nhà thầu Gross bắt đầu xây dựng đường Prenn mới (đường đèo Prenn hiện nay) thay thế cho đường Prenn cũ (đường qua ngả Khe Sanh).
    Dân số cũng không ngừng tăng lên: 4.500 người Việt Nam năm 1935, 20.000 năm 1944; 470 người Pháp năm 1935, 1.130 năm 1944; 315 học sinh Pháp năm 1935, 1.118 năm 1944; số du khách tối đa cũng tăng từ 1.729 (4-1940) lên đến 2.610 (5-1944).
    Sự phát triển của Đà Lạt nhanh chóng đến mức một lần nữa thành phố đã trở nên chật hẹp vào đầu những năm 1940 và Toàn quyền Decoux đã giao cho Nha Quy hoạch Đô thị và Kiến trúc Đông Dương nghiên cứu, kiến trúc sư J. Lagisquet được giao trực tiếp chủ trì nhóm nghiên cứu xây dựng đồ án chỉnh trang và phát triển thành phố.
    Ngày 27-4-1943, đồ án chỉnh trang mới của Đà Lạt đã được Toàn quyền Decoux chấp thuận và ban hành áp dụng kèm theo một chương trình địa dịch với các chức năng của thành phố là: Trung tâm hành chính trung ương, trạm nghỉ mát vùng cao, thành phố nghỉ dưỡng, thành phố trường học, trung tâm được tuyển chọn dành cho thanh niên, trung tâm văn hoá tinh thần.
    Dựa vào nền tảng đó, Đà Lạt được tiếp tục phát triển về mọi phương diện và đã trở thành một thành phố tuyệt đẹp của khu vực Viễn Đông. Từ Một con đường mòn in dấu chân người, một vùng đồi cỏ trải dài đến tận chân núi Lang Bian, đây đó vài mái nhà sàn, một sự im lặng ngự trị trên một vùng đất gần như hoang sơ... Đà Lạt như vậy đó vào cuối thế kỷ XIX đến đầu năm 1942, một thành phố xinh đẹp hiện ra với những đường phố rộng rãi, những biệt thự duyên dáng giữa những vườn hoa và thảm cỏ xanh tươi, mặt hồ phẳng lặng. Đà Lạt là một nơi nghỉ mát quan trọng nhất không những của Đông Dương mà cả Viễn Đông.
    Có thể nói lịch sử phát triển kinh tế của Lâm Đồng thời kỳ Pháp thuộc được tập trung chủ yếu cho phát triển du lịch - nghỉ dưỡng và xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho du lịch - nghỉ dưỡng phục vụ cho người Pháp và tập trung ở thành phố Đà Lạt. Quá trình đầu tư trong vòng 30 năm, kể từ thế chiến thứ nhất, đã xây dựng Đà Lạt trở thành một trung tâm du lịch - nghỉ dưỡng với đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết mà khả năng đáp ứng của nó có thể kéo dài đến vài chục năm sau. Bức tranh cảnh quan du lịch, môi trường sinh thái của thời kỳ này ngày càng hấp dẫn, tạo nên sự luyến tiếc, mong muốn tái tạo lại trên vùng đất Lâm Ðồng ở những thế hệ về sau.
    Từ năm 1945 - 1954, tình hình chính trị bất an, ngày 14-4-1950, Bảo Đại ra Dụ số 6/QT/TG xác định Đà Lạt thuộc Hoàng triều Cương thổ, hạn chế sự nhập cư của người Việt, du lịch - nghỉ dưỡng và các hoạt động phát triển ngành này cũng không đáng kể.
    Thời kỳ 1954 - 1975
    Từ năm 1954 đến năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm có kế hoạch phát triển Ðà Lạt khá qui mô: xây dựng các công trình văn hoá - nghệ thuật, sửa sang đường sá, cầu cống, dinh thự, đền đài, vườn hoa, nơi giải trí, thể dục - thể thao... Ngày 24-10-1956, nhằm bảo vệ thắng cảnh dọc quốc lộ 20 từ Định Quán đến Đà Lạt, Ngô Đình Diệm ra Dụ số 57D ấn định thể thức kiểm soát việc xây cất hai bên quốc lộ. Theo nội dung của dụ này thì tất cả các việc xây cất hai bên quốc lộ trong khoảng 200m bề ngang tính từ tim đường ra mỗi bên đều phải có giấy phép của Tỉnh trưởng hay Thị trưởng sở tại cấp sau khi hỏi ý kiến Bộ Kiến thiết và Thiết kế đô thị về mặt kiến trúc và bảo vệ thắng cảnh; trong khoảng giới hạn này cấm không được lập những doanh nghiệp công kỹ nghệ mới, nhất là các trại cưa hay sửa chữa và mở rộng thêm. Trong thời hạn một năm kể từ ngày ban hành dụ, các cơ sở phải di dời ra khỏi khoảnh đất đã được giới hạn trên.
    Đà Lạt trong thời kỳ này bắt đầu chú ý phát triển du lịch đối với khách nước ngoài. Năm 1961, Nha Quốc gia Du lịch đặt ra tiêu đề Năm viếng thăm Đông Dương trong chương trình cổ động du lịch các đô thị nổi tiếng: Hương Cảng, Vọng Các, Cựu Kim Sơn và Đà Lạt. Từ đó, Đà Lạt chuẩn bị ráo riết để đón khách nước ngoài. Các khách sạn được tân trang, đường sá, điện nước được chăm sóc, sửa chữa.
    Khách ngoại quốc đề nghị có đường bay trực tiếp Đà Lạt đi các nước, đặc biệt từ Vọng Các, Hương Cảng đến Đà Lạt. Ngày 24-2-1961, sân bay Liên Khương là sân bay quốc tế thứ hai tại miền Nam Việt Nam sau Tân Sơn Nhất được khánh thành.
    Du khách đến Đà Lạt ngày càng tăng, họ đến đây vì thích vẻ thiên nhiên, tìm thấy ở đó những gì đầy thú vị. Người thích cái đẹp tân thời cũng nhìn thấy được sự lộng lẫy huy hoàng và những ai thích cái đẹp trừu tượng thì cũng có thể tìm thấy những gì là ý nghĩa thâm trầm cao cả.
    Một du khách đã mô tả về Đà Lạt lúc này ... Ồn ào nhất là những dịp tết, du khách từ bốn phương đổ đến mang một không khí náo nức rộn rịp cho Đà Lạt. Hai bên phố các tà áo màu rực rỡ khoe tươi như ganh đua với mấy nụ hoa tươi bày bán trên vỉa hè...
    Từ những người phu xe, những chị buôn gánh bán bưng, những người lao động đến các cậu học sinh, các công chức tất cả đều phục sức rất đặc biệt...Về nữ sinh cái áo muôn thuở của các cô là cái áo len màu đen. Vào những buổi tan học, nhìn các cô đua nhau rẽ khắp các nẻo đường, phất phơ tà áo trắng nổi bật với chiếc nón bài thơ xinh xinh xứ Huế.
    Năm 1962, số du khách đã lên khoảng 400.000 lượt người.
    Dự án phát triển Đà Lạt thành trung tâm du lịch - nghỉ dưỡng quốc tế mới thực hiện một phần nhỏ thì bị ngưng lại vì chế độ Ngô Ðình Diệm bị lật đổ ngày 1-11-1963.
    Từ năm 1963 đến năm 1975, tình hình kinh tế, xã hội, chính trị ở miền Nam không ổn định, các thế lực chính trị liên tục lật đổ nhau. Dưới thời Nguyễn Văn Thiệu, chiến tranh ngày càng diễn ra trên diện rộng, nhất là từ năm 1965 khi Mỹ trực tiếp đưa quân vào miền Nam Việt Nam. Việc tôn tạo cảnh quan và phát triển Đà Lạt, trung tâm du lịch của tỉnh Lâm Đồng hầu như bị ngưng lại, chính quyền đương thời chỉ tập trung xây dựng các công trình quân sự hay phục vụ lợi ích trước mắt. Các tuyến giao thông đến Đà Lạt không an toàn nên du khách đến Đà Lạt cũng giảm dần, thời kỳ 1963-1971 lượng du khách hàng năm chỉ khoảng 100-300 ngàn lượt người. Năm 1972 và 1973 có tăng lên nhưng vẫn chỉ ở mức từ 350-400 ngàn lượt người/năm.
    Thời kỳ 1975 - 1985
    Sau ngày giải phóng, việc ổn định an ninh, chính trị, cải tạo xã hội và tập trung giải quyết lương thực, thực phẩm cho nhân dân là nhiệm vụ trọng tâm của chính quyền. Trong thời kỳ này, chủ trương ưu tiên mở rộng diện tích, phát rừng làm rẫy, phát triển lương thực đã làm cảnh quan ngày một xấu đi, các hồ bị bồi lắng, đường sá, điện nước,... ngày càng xuống cấp trầm trọng, nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hoá, biệt thự bị tàn phá, lấn chiếm, đầu tư cho lĩnh vực du lịch không đáng kể.
    Trong bối cảnh đó, ngành du lịch Lâm Đồng khó tránh được những khó khăn, hầu như không có hướng phát triển. Khách du lịch trong và ngoài nước vắng vẻ. Khách quốc tế đến Lâm Đồng chủ yếu là khách đến theo các hiệp định hợp tác trao đổi giữa Việt Nam với các nước, đặc biệt là các nước Đông Âu. Kinh tế của cả nước khó khăn, khách trong nước đến Lâm Đồng cũng hạn chế, chủ yếu công đoàn các cơ quan, xí nghiệp, đoàn thể sử dụng quỹ phúc lợi để tổ chức cho cán bộ, công nhân viên đi nghỉ mát tập thể.

    Thành Phố Đà Lạt
    Diện tích 417 km2.
    Chia làm 12 phường và 3 xã.
    Gồm có khoảng 116.000 dân.
    Đà Lạt, một nơi du lịch và nghỉ dưỡng lý tưởng.
    Thành phố Đà Lạt nằm trong cao nguyên Lang Biang, phía Bắc tỉnh Lâm Đồng, giáp ranh với huyện Đức Trọng và Đơn Dương; ở giữa những ngọn núi cao như: núi Lang Biang (2.163m), phía Tây Nam là núi Voi (1800m), phía bắc là đỉnh Lapbe Bắc (1732m) và đỉnh Lapbe Nam (1707m) án ngữ phía Tây Nam.
    Vĩ độ 10,57, kinh độ 108,20. Cao trung bình so với mặt biển là 1500m. Nơi cao nhất trong trung tâm thành phố là Nhà Bảo Tàng (1532 m), nơi thấp nhất là thung lũng Nguyễn Tri Phương (1398,2m). Đà Lạt cách biển Thuận Hải theo đường chim bay 90 km, nhưng theo quốc lộ 11 đến Phan rang là 108 km; cách thành phố Hồ Chí Minh 250 km theo đường chim bay và theo quốc lộ 20 là 305 km.
    Đất Đà Lạt được cấu tạo bởi một sơn khối cổ, gồm chủ yếu các loại nham hoa cương, hoa vân, mica, diệp thạch qua sự biến hóa, tạo thành nhiều lớp kaolin và đất sét.

    Khí Hậu
    Do ảnh hưởng của cao độ và rừng thông bao bọc nên tuy ở phương nam của nhiều vùng nhiệt đới châu Á, Đà Lạt mang nhiều đặc tính của miền ôn đới. Không khí trong lành mát mẻ quanh năm. Ánh sáng phong phú và điều hòa, dù là ngày mưa vẫn có mặt trời. Nhiệt độ trung bình 18-210C, nhiệt độ cao nhất chưa bao giờ quá 32 0C và thấp nhất không dưới 50C.
    Đà Lạt có hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4. Mùa hè thường có mưa vào buổi chiều, đôi khi có mưa đá. Những tháng cuối năm là lúc phong cảnh tươi đẹp nhất. Tuy sáng có sương mù nhưng khi nắng lên trời trong ngần, lộng nắng igó. Đó là muột mùa lý tưởng cho du ngoạn và cắm trại.
    Lượng mưa trung bình năm là 1562 mm và độ ẩm 82%.
    Đà Lạt không bao giờ có bão, chỉ có gió lớn do ảnh hưởng bão từ biển thổi vào vì sườn đông không có núi che chắn.
    Giao Thông
    Để phục vụ cho trung tâm nghỉ mát Đà Lạt, trước kia các phương tiện giao thông được khai thác tới mức tối đa, bất chấp những trở ngại về địa thế.

    Đường bộ
    Con đường đầu tiên phải kể đến là con đường mòn của htổ dân đã đưa bác sĩ Yersin, một nhà thám hiểm đi từ Nha Trang ngược lên núi theo thung lũng sông Đa Nhim đến Đơn Dương (Dran) qua Fimnom, lên đèo Prenn rồi đến Đà Lạt.
    Tháng 10.1897, toàn quyền Doumer cử phái đoàn do đại úy pháo binh Thouard và ông Cunhac tìm hiểu Đà Lạt. Đến 1899, con đường đất từ Phan Rang lên Đà Lạt hoàn tất. Đó là con đường có 20 km đèo dốc quanh co trong một khung cảnh non nược hữu tình được gọi là đèo Ngoạn Mục (Bellevue) và đèo Dran dài 10km. (Quốc lộ 11 - Đà Lạt - phan Rang 108 km; Đà Lạt - Nha Trang 219 km).
    Mãi đến năm 1932, đường sắt Sài Gòn lên Đà Lạt qua Bảo Lộc mới được hoàn tất. Nay gọi là quốc lộ 20. Đến tháng 2.1943, đạon đường từ thác Prenn lên Đà Lạt được cải tiến, bỏ đoạn đường cũ thay đường mới, theo một sườn núi khác. Đoạn đường này có lợi điểm rút ngắn chỉ còn 8,6 km, thay vì 14 km như trước kia. đến 1970, quốc lộ 20 và đạon 21b nối liền quốc lộ 20 từ ngã ba Fimnom đến Dran được sửa thành xa lộ. Ngoài ra muốn liên với các tỉnh miền coa nguyên có đường đi Ban Mê Thuộc hay Quảng Đức qua ngã Fyan hoặc Di Linh.
    Để đến với Đà Lạt, đừơng bộ đang chiếm cương vị độc tôn về phương diện giao thông hiện nay.

    Đường hàng không
    Đà Lạt có các đường bay nối liền với các nơi khác qua hai phi trường Cam Ly và Liên Khương.
    Phi trường Cam Ly
    Cách Đà Lạt 5km về hướng tây. Trước kia nơi đây là phi trường quân sự. Trong thời gian chiến tranh leo thang, nơi đấy máy bay lên xuống liên tục để cung cấp những nhu cầu quân sự và là một thương cảng rau.
    Phi trường Liên Khương
    Cách Đà Lạt khoảng 30 km. Sau ba năm xây dựng, 1933 phi trường Liên Khương bắt đầu hạot động. Lúc đó phi đạo dài 700m được đáp bằng đất, chỉ đáp ứng cho loại phi cơ có trọng tải dưới 2 tấn.
    1945, Nhật mở mặt trận ở Đông Nam Á, do nhu cầu chiến tranh đã tu bổ phi trường Liên Khương. Phi đạo lúc đó được cán đá để dùng cho các loại phi cơ chiến đấu của Nhật thời bấy giờ.
    1960-1975, vì chiến tranh, phương tiện giao thông đường bộ bị gián đoạn, mất an ninh. Hành khách sử dụng đừơng hàng không tăng nhanh chóng. Để đáp ứng nhu cầu đó, phi trường đã mở rộng. Phi đạo được trải nhựa dài 1480m, rộng 40m, có thể sử dụng cho phi cơ 35 tấn trở xuống. So với phi trường Tân Sơn Nhất hay Đà Nẵng, phi trường Liên Khương chỉ ở vào vị trí rất khiêm tốn - Phi trường hạng 2.
    Đường sắt
    Trứơc kia nếu muốn thưởng thức vẻ huyền bí của núi rừng cao nguyên bạn có thể lên Đà Lạt bằng tàu hỏa . Bạn sẽ có một cảm giác độc đáo khi ở trên một con tàu dài ngoằn ngoèo đang hì hục leo lên những triền dốc cao. Núi rừng hùng vĩ lướt chầm chậm qua mắt bạn trong một cuộc gặp gỡ đầy lưu luyến. Thỉnh thoảng con tàu phải chui qua một đạon hầm tối tăm bí hiểm. Làm sao tìm lại được hương vị của một chuyến đi trên tuyến đường sắt Tháp Chàm (Tourcham) - Đà Lạt.
    Đoạn đường này dài 84km, do người Thụy Điển thiết kế. Thụy Điển là nước có nhiều đường dốc, giàu kinh nghiệm về đừơng sắt có răng cưa (crémaillère). Chuyến tàu lửa đầu tiên lên Đà Lạt được khởi hành vào năm 1933.
    Điều đáng buồn là cả một công trình vĩ đại và thơ mộng này hiện nay không còn nữa. Trong chiến tranh có một đoạn đường thiếu an ninh nên tuyến giao thông đường sắt không thể sử dụng được. Và đã trở nên hoang phế từ đó.
    Ga Đà Lạt trước kia là một trong những ga xinh đẹp và độc đáo của Việt Nam nhưng nay hầu như tất cả đều chìm vào quên lãng.
    Kinh Tế
    Được thiên nhiên ưu đãi, khí hậu trong lành, đất đai phì nhiêu nên phần đông dân Đà Lạt sống bằng nghề trồng rau, quả, hoa, một số làm tiểu thủ công nghiệp, gần đây thương mại và dịch vụ du lịch đã bắt đầu phát triển. Ngoài ra dân Đà Lạt còn làm nghề khai thác lâm sản và khoáng sản quý (khai thác vàng ở Tà In), đất sét trắng, cát núi, đá quý.
    Về những vùng đồng bào dân tộc ít người quanh thành phố đã đi vào định canh định cư, đời sống tương đối ổn định. Ngoài việc khai thác lâm sản, săn bắn họ đã biết đầu tư cho việc sản xuất cây công nghiệp, làm kinh tế vườn: cà phê, dâu tằm, xen kẽ việc trồng lúa, hoa màu. Có những gia đình đã trở nên khá giả. Riêng những vùng sâu như Đầm Ròn, Manline đời sống vẫn còn nhiều khó khăn, đói kém.

    Nông nghiệp
    Rau: khí hậu thích hợp cho các loại rau miền ôn đới, Đà Lạt cung cấp nguồn rau cho thành phố Hồ Chí MInh và các tỉnh phía Nam. Gồm có cà rốt, xà lách, xà lách son, su su, cải bông, khoai tây, cải bắp thảo.
    Hoa: nghề trồng lan phát triển rộng rãi sau 1975. Hoa lan có giá trị xuất khẩu cao. Gần đây Đà Lạt lại xuất khẩu thêm sản phẩm hoa Ly trắng. Ngòai ra còn có hoa glailleul, hoa hồng, hoa cúc Nhật, cẩm nhung# được gởi đi bán ở các tỉnh.
    Quả: Đáng kể nhất có lẽ lá trái hồng - có cây mỗi năm thu đựơc cả lạng vàng. Hồng có giá trị kinh tế cao vì có thể chế biến được trái hồng khô và rượu. Ngoài ra Đà Lạt còn có mận Trại hầm thơm ngon, trái dâu tây, táo tây, đào lông, trái bơ, chuối.
    Dược liệu: Đà Lạt có nhiều cây dược liệu quý như artichaut, các loại sâm, trầm hương, kỳ namĐà Lạt đã có công nghệ chế biến artichaut xuất khẩu.
    Cây công nghiệp: Đất Đà Lạt cũng phù hợp với những loại cây công nghiệp trà, cà phê, dâu tằm, đồn điền chè Cầu Đất có diện tích khá lớn.
    Chăn nuôi: Đà Lạt có nhiều đồi cỏ thích hợp cho việc chăn nuôi. Gần đây việc chăn nuôi bò sữa đã lại phát triển. Hiện nay thành phố có trên 5000 con bò, hằng trăm con trâu và nhiều gia súc.
    Trước kia Đà Lạt có những trại chăn nuôi lớn như Trại Dankia, trại Faraut, Grillet ở Suối Tía, Trại gà scala.
    Tuy là một vùng đất có nhiều hồ nước, nhưng việc nuôi cá nước ngọt chưa được quan tâm đúng mức.
    Lâm Nghiệp
    Lâm sản chủ yếu của Đà Lạt là nhựa thông và gỗ thông - nguồn tài nguyên phong phú, có giá trị xuất khẩu cao. Việc khai thác gỗ ồ ạt trong một giai đoạn đầu tưởng như đem lại nhiều hiệu quả kinh tế nhưng thật ra đã ảnh hưởng không tốt tới môi trường sinh thái của một thành phố du lịch. Trồn grừng chỉ vù đắp lại một phần so với việc phá rừng. Hơn nữa chưa có biện pháp hữu hiệu, ngăn chặn nạn cháy rừng xảy ra vào mùa khô.

    Tiểu Thủ Công Nghiệp
    Chủ yếu phát triển ở một số nghề đan, móc, thêu xuất khuẩu, tranh cưa lộng, tranh bút lửa. Những hợp đồng kinh tế với nứơc ngoài không đều nên có nhiều thời gian gián đoạn gây khó khăn cho đời sống của người lao động trực tiếp.
    Hàng thêu, đan len của Đà Lạt được du khách trong và ngoài nước rất ưa chuộng. Riêng ngành tiểu thủ công nghiệp, từ sản phẩm gỗ gặp khó khăn về đầu tư, cải tiến mẫu mã nên phát triển chậm so với thành phố Hồ Chí Minh.

    Dịch Vụ Du Lịch
    Sau Nghị quyết VI, nguồn sinh khí đã dần dần trở lại với thành phố Đà Lạt. Ngoài hệ thống nhà hàng, khách sạn của Nhà nước và khách sạn của các đoàn thể như tỉnh ủy, thanh niên, công đoàn, công tư hợp doanh. Đà Lạt còn có khách sạn, nhà trọ của tư nhân. Đây là một biện pháp hữu hiệu để đầu tư cho du lịch thành phố, vì lượng khách trong năm không đều. Đó là đểim khó khăn nhất cho ngành du lịch Đà Lạt. Có lúc hàng loạt khách sạn trống vắng nhưng cũng có lúc du khách không thể nào tìm được một chỗ trọ. Việc cho phép nhà nhà làm dịch vụ du lịch đã giải quyết được một phần tình trạng mất cân đối này và làm cho bộ mặt thành phố có những biến đổi rõ nét.

    Tôn Giáo
    Đà Lạt - Lâm Đồng có 12 tôn giáo và tín ngưỡng khác nhau. Đông nhất là Phật giáo, thiên chúa giáo, tin lành và cao đài.
    Phật giáo: có 4 hệ phái - Ấn quang, Tịnh độ, Khất sĩ và Hoa tông. Phật giáo Ấn quang chiếm tín độ đồng nhất. Sau giải phóng các hệ phái này được sáp nhập làm một gọi là Phật giáo thống nhất. Đà Lạt có những chùa lớn như chùa Linh Sơn, chùa Sư nữ, chùa Linh Phong, chùa Tàu.

    Thiên chúa giáo: theo bước chân của linh mục Robert, quản lý hội thừa sai Balê tại viễn đông, đã tháp tùng đợt thám hiểm sau cùng với bác sĩ Yersin, thiên chúa giáo đã hiện diện rất sớm trên đất Đà Lạt, với những cơ sở đồ sộ, những công trình kiến trúc đẹp mắt: nhà thờ chánh tòa, Giòng chúa cứu thế, Fansiscaine, Domaine de Marie, Giáo hoàng học viện# Sau đợt di dân từ miền Bắc (1954), thiên chúa giáo Đà Lạt đã lớn mạnh - gồm có 38 dòng tu.
    Tin lành: Từ năm 1929, thông qua những mục sư người Mỹ, đạo Tin lành đã bắt đầu hoạt động ở vùng dân tộc ít người. Trong những năm 30, tại thành phố Đà Lạt đã bắt đầu có những hội thánh tin lành hoạt động.
    Cao Đài: bao gồm số tín đồ trung niên nhiều hơn thanh thiếu niên. Cao Đài gồm có 2 hệ phái: Tây Ninh và Bến Tre.

    Văn hóa
    Vài nét về bộ tộc Lạt và Chill

    Về thời kỳ lập quốc của nước Việt Nam có truyền thuyết: ngày xưa Lạc Long Quân hóa thân rồng lấy nàng Âu Cơ hiện thân của Tiên, đẻ ra một bọc trăm trứng nở ra trăm người con. Sau năm chục người theo cha xuống biển là người Kinh, năm chục người theo mẹ lên núi nay là đồng bào dân tộc ít người. Đà Lạt là một trong những nơi tụ hội Con Rồng cháu Tiên.
    Trước kia, vùng thung lũng nay là hồ Xuân Hương là nơi cư trú của người Lat, vùng gần Cam Ly là địa bàn của bộ tộc Chill. Sau họ lui dần ra ngoại vi thành phố. Người Lat rút về ở xã Lát, dưới chân núi Lang Biang. Người Chill ở rải rác quanh Đà Lạt, Tà Nung, Đức Trọng.
    Hai bộ tộc Lat, Chill thuộc dân tộc K'ho có quan hệ gần gũi về chủng tộc và văn hóa nên họ có những tập tục giống nhau:
    - Về lịch sử, họ có một vị anh hùng là tù trưởng Yagut đã từng lãnh đạo các bộ tộc chống ngoại xâm (hiện nay Đà Lạt vẫn có con đường mang tên vị tù trưởng này).
    - Bon (buôn làng) là đơn vị cư trú của người Chill, Lat. Mỗi bon gồm khoảng 4-5 nhà dài. Mỗi nhà dài là một đại gia đình huyết tộc gồm có nhiều bếp. Mỗi gia đình có một bếp để nấu nướng sinh hoạt quanh đó. Mỗi bếp chỉ cách nhau vài mét. Ranh giới giữa các bếp có tính chất ước lệ, không có phên vách hoặc vật chuẩn phân chia cụ thể.
    - Người Chill và Lạt theo chế độ mẫu hệ. Con gái lớn lên đi cưới chồng. Trong lễ cưới, nhà gái phải nộp một số tài sản cho nhà trai để bắt chồng. Thân phận người con trai được thể hiện qua câu tục ngữ Chill:
    Um mơ h'ru chill chao
    Um mơ bao chill n'dĩ
    (Ở với chị thì làm người.
    Ở với vợ thì làm tớ.)
    - Về y phục : trước kia, đàn ông đóng khố ; phụ nữ chỉ mặc độc nhất chiếc sa-rong (một loại váy quấn). Thân thể họ nâu sậm, đầy sinh lực vì tiếp xúc trực tiếp với nắng gió, với thiên nhiên. Chỉ những lúc trời thật lạnh, họ mới cần đến một tấm chăn khóac quanh mình.
    - Cà răng căng tai : dùng vật cứng để cà răng cho mòn, căng trái tai thật to. Đến khi nào răng mòn hay tai đứt họ làm lễ ăn mừng. Đó là vẻ đẹp của người dân tộc trước kia, nay còn lại ở những người già.
    - Trang sức gồm những vòng đồng, chuỗi cườm, móng vuốt dã thú.
    - Chiêng, ché, cườm là những tài sản quý giá, biểu hiện cho sự giàu sang và hùng mạnh. Số chiêng, ché càng nhiều càng cổ xưa càng chứng tỏ sự giàu có lâu đời. Mỗi bộ chiêng (một loại nhạc cụ) gồm có 6 cái có thể đổi hàng chục con trâu. Các ché cổ và dây cườm cũng có giá trị lớn.
    - Dụng cụ lao động gồm có: chiếc xà-gạc (wek), một nông cụ hữu hiệu để phát rẫy, luôn đeo bên mình: chiếc gậy để chọc lỗ gieo hạt; cung nỏ để săn bắn và chiếc gùi ở sau lưng.
    - Họ đối xử tàn tê với những người bị nghi là ó ma lai. Người dân thiểu số tin rằng. Ó ma lai là người có thể rút đầu ra khỏi mình bay đi ăn phân người vào ban đêm. Người nào bị ó ma lai ăn phân sẽ bị rút mất ruột mà chết.
    - Họ sống với nhau trong quan hệ bình đẳng, được điều hành bởi các Kuan bon (chủ làng) là người được dân làng kính phục vì tài đức.
    - Thầy phù thủy, thầy cúng (Pô dâu, Thanghô, Krou). Những người này chuyên việc cúng bái lên đồng, phù chú chữa bệnh đoán xem vận mạng. Pô dâu thường là những người hiểu biết các phong tục truyền thống của dân làng, có kinh nghiệm sản xuất, chọn nương rẫy, xem thời tiết. Họ được tham gia các vụ phân xử tranh chấp trong bon. Pô dâu thường giúp chủ làng kiểm tra thật sự hay gian dối của bị cáo bằng cách đổ chì vào lòng bàn tay đun nước sôi để bị cáo nhúng tay vào. Chính vì vậy mà họ có một địa vị nhất định trong bon về mặt tín ngưỡng.
    - Già làng: một số người trên 60 tuổi có uy tín, đức độ và hiểu biết được bon gọi là già làng. Họ là lớp người tinh hoa của bộ tộc bởi tích lũy được nhiều kinh nghiệm sống, chiến đấu và sản xuất. Già làng thường được mời đóng góp ý kiến về mọi việc quan trọng trong buôn làng.
    - Họ thờ nhiều Ỳang (thần), nhất là Ỳang Koi (thần lúa), lễ đâm trâu, được tổ chức linh đình để cúng thần mỗi khi khởi công mùa cấy và khi thu hoạch lúa, hoa màu.
    Vào ngày lễ, dân bản tụ tập đông đủ ở sân làng. Một cây nêu trạm trổ tinh vi, treo nhiều nhạc cụ và vào nhau vang lên âm thanh rất lạ tai. Một con trâu được cột dưới gốc cây nêu. Buổi lễ bắt đầu khi ngọn lửa được đốt lên. Thầy phù thủy cầm một cây thương dài, miệng ngậm một con dao khá lớn, bên hông lại đeo một con dao to nữa, múa may quay cuồng trong tiếng chiêng cồng rền vang, rồi thình lình đâm vào con trâu. Đầu trâu được chặt treo lên cây nêu để làm vật tế lễ. Sau đó mọi người cùng múa hát và lăn xả vào xẻ thịt con trâu ăn mừng lễ cúng Ỳang, bên những ché rượu cần cong.

    Lược Sử Hình Thành Thành Phố Đà Lạt

    Đà Lạt một thành phố trẻ đẹp, sớm hấp thụ nền văn minh Âu châu. Tuy là một mảnh đất của quê hương có trên 4000 năm văn hiến nhưng Đà Lạt mới được khám phá trong vòng 100 năm nay. Đó là một thành phố có nhiều nét đặc thù về mọi mặt lịch sử, địa lý, nhân văn.
    Khám phá cội nguồn Đà Lạt:
    Không ai ngờ rằng vào năm 1893, sau một chuyến thám hiểm dài ngày tại khu vực Đông Nam Bộ, bác sĩ Alexandre John Emile Yersin đặt chân lên vùng đất Ankroet Dankia và tiếp cận cao nguyên Langbian đã làm thay đổi một vùng đất hoang sơ và tạo ra một bước ngoặc lớn trong lịch sử phát triển của Đà Lạt, góp phần làm nên một thành phố nổi tiếng như ngày nay.
    Ngày 21.6.1893, Alexandre John Emile Yersin, một người Pháp, gốc Thụy Sĩ 30 tuổi, đã tìm ra Dalat và sáng lập nên thành phố xinh đẹp này.
    Là một bác sĩ của hãng tàu Messageries Maritimes nhưng cuộc sống lênh đênh trên biển cả dường như quá phẳng lặng, nên khi tàu đi dọc biển phía Nam, qua những lăng kính thiên văn, ông bị cuốn hút bởi vẻ bí hiểm của dãy Nam Tây Nguyên Trường Sơn ở xa xa.
    Tháng 7.1890, khi chiếc Sài Gòn cập bến Nha Trang, ông đã xin phép lên bờ và tìm người hướng dẫn lên cao nguyên theo những con đường mòn của thổ dân. Suốt một ngày leo dốc dưới cơn mưa tầm tã, ông đã đến được ấp Tam Bố, vùng Djiring (Di Linh). Trải qua một đêm ở chòi canh ngoài rẫy, lại thêm một ngày đường ròng rã, vào hôm sau ông trở về Phan Thiết để kịp đáp chuyến tàu của hãng. Ngay lần mạo hiểm đầu tiên này ông đã bị bệnh sốt rét nặng, phải nằm liệt giường khá lây.
    Khó khăn không làm giảm đi lòng say mê mạo hiểm của ông. Hơn nữa, khi biết ý định đó, đại úy Cupet trong phái bộ Pave yêu cầu ông tiến hành cuộc mạo hiểm, việc này thật phù hợp với nhu cầu kiểm soát lãnh thổ của Pháp tại Đông Dương.
    Vào những năm 1890-1894, miền cao nguyên này còn là một vùng bí hiểm, ngoài một số bộ lạc dân tộc ít người, hầu như chưa có ai đặt chân đến vùng đấy hoang vu này. Vậy mà một người ngoại quốc như bác sĩ Yersin dám dấn thân vào miền rừng sâu nước độc, bất chấp dã thú và sự sát hại của thổ dân. Thật là một ý chí mạo hiểm phi thừơng.
    Năm 1893, trong cuộc thám hiểm vùng Dran, ông bị bọn cướp Thonk tấn công, chém đứt ngón tay cái trái và đâm nhiều nhát dao găm vào ngực, suýt chết. Trong lúc nguy khốn, ông nhờ người võng về Phan Rang, ngay đêm hôm đó để kịp cấp cứu. Dọc đường lại gặp một đàn voi đang tiến về hướng họ. Mấy người gánh võng hoảng sợ bỏ chạy hết, còn ông một mình trơ trọi giữa rừng. Kiệt sức không cử động được, ông đành nằm chờ chết. may thay đàn voi rẽ qua hướng khác. Dù đã đối diện với cái chết, ông không từ bỏ hoài bão thiết tha của mình. Đi đến đâu ông cũng ghi chép địa thế từ dòng sông, con suối, phong tục và giá trị kinh tế từng vùng.
    Sau ba cuộc thám hiểm liên tiếp, lần sau cùng trên con đừơng từ Nha Trang đi ngược lên núi, dò theo thung lũng sông Đa Nhim, đến Đơn Dương rồi qua Finnom lên đèo Prenn, vào lúc 15g30 ngày 21.6.1893, bác sĩ Yersin đã đứng ngẩn ngơ trước khung cảnh hoang sơ tuyệt đẹp của cao nguyên Lang Biang, ông thấy đồi núi cũng có những ngọn sóng thần kỳ ảo hơn cả biển khơi. Hướng Tây Bắc đỉnh núi Lang Biang sừng sững ở chân trời, làm cho khung cảnh tươi đẹp thêm hùng tráng. Như lạc vào một mảnh đất thần tiên, quên hết bao mệt nhọc, ông đã chạy hết tốc lực lên xuống những ngọn đồi như một chú học trò nhỏ. Rồi ông gặp bộ tộc M'Lates trên dòng suối nhỏ của một thung lũng xanh biếc. Tên Dalat có từ đây (Da: Dak: nứơc, suối, sông; Lat: M'Lates - Dalat: Suối của người Lat). Ở đây có một sự trùng hợp khá thú vị, người ta kể rằng bác sĩ Yersin thông thạo tiếng Latin, đã cho Dalat là nơi Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperriem (Cho người này niềm vui, cho người kia sự mát dịu). Kỳ diệ sao khi ông phát hiện những chữ đầu của câu cách ngôn đó lại ghép thành tên mảnh đất thần tiên này.
    Sau cuộc thám hiểm, bác sĩ Yersin đề nghị toàn quyền Pháp Paul Doumer lập một trung tâm dưỡng sức tại Đà Lạt. Tháng 10.1897, Doumer cử một phái đoàn do đại uý pháo binh Thouard và ông Cunhac, phụ trách trắc địa, tìm hiểu Đà Lạt. Năm 1899, sau khi con đường đất từ Phan Rang lên Đà Lạt hoàn tất, Doumer đích thân lên quan sát và quyết định tức khắc một ngân quỹ xây cất những cơ sở đầu tiên cho một trung tâm nghỉ mát tương lai.
    Một đề án quy mô do kiến trúc sư Hébrard thếit lập với một dự kếin xây dựng Đà Lạt thành thủ đô Liên bang Đông Dương. Những cơ sở quan trọng lần lượt dời về đây. Toàn quyền Decoux cho xây Dinh thự Mùa hè, vua Bảo Đại cũng lập Biệt điện.
    Thế chiến thứ II đã đưa Đà Lạt đến thời cực thịnh. Chiến tranh làm cho người Pháp không có phương tiện về chính quốc nghỉ mát nên họ tập trung lên Đà Lạt. Hàng hóa, mọi nhu cầu cung cấp cho họ không thể mang từ Pháp sang. Chính quyền Pháp tại Đông Dương phải quyết định áp dụng chính sách tự túc. Hơn nữa, những giống rau, hoa quả# mang từ Pháp trồng rất tốt trên đất Đà Lạt. Lúc bấy giờ Đà Lạt là một "tiểu Paris"là Hoàng triều cương thổ (Domaine de la Couronne) - Một mảnh đất dành riêng cho người Pháp và giòng dõi hoàng tộc cũng như quan lại cao cấp triều đình Huế; một vương quốc biệt lập, ai muốn đến đều phải có passeport như đi ngoại quốc vậy. Thực chất người Pháp lập Hoàng triều cương thổ chỉ là một lối trá hình để biến vùng cao nguyên thành thuộc địa trực tiếp của Pháp. Vùng cao nguyên này có một tầm quan trọng đặc biệt về chiến lược và kinh tế. Về chiến lược nó nằm giữa 3 quốc gia Việt, Cambốt, Lào - một ưu thế hiếm có. Về mặt kinh tế, có nhiều tài nguyên, nhiều khoáng sản chưa được khai thác.
    Sau hiệp định Genève, Pháp rời khỏi Đông Dương. Dân số Đà Lạt tăng nhanh với lượng người di cư từ Bắc vào Nam. Khu vực thương mại trung tâm thành phố được xây cất khang trang hơn. Một số địa danh, đường phố được đổi từ tên Pháp sang tên Việt Đà Lạt chuyển sang một giai đoạn mới.
    Ngay giây phúa phát hiện ra cao nguyên Langbian, chính Yersin đã bị cảnh sắc thiên nhiên hoang dã nơi đây cuốn hút. Khi toàn quyền Đông Dương Paul Doumer có ý định tìm một địa điểm thuận tiện ở độ cao cần thiết để xây dựng khu nghỉ dưỡng cho người Pháp không có điều kiện trở về chính quốc, Yersin đã đề nghị xây dựng cao nguyên Langbian như là một nơi đáp ứng đầy đủ yêu cầu về độ cao, khí hậu, nguồn nước và cả hệ thống giao thông. Đây chính là tiền thân của thành phố Đà Lạt sau này.
    Như một nàng công chúa ngủ quên trong rừng, từ một vùng đồi núi hoang sơ, vắng vẻ, chỉ lác đác một vài buôn làng, Đà Lạt sớm được đánh thức và nhanh chóng phát triển thành một thành phố mang dáng dấp Châu Au. Năm 1901, những căn nhà gỗ dùng làm bệnh viện, nơi làm việc của quan chức Pháp xuất hiện. Tiếp theo nhiều công trình như nhà thờ, nhà máy điện… được hình thành. Dân cư các vùng khác bắt đầu đến lập nghiệp tại Đà Lạt từ năm 1931.
    Ngày nay, Đà Lạt có hơn 2.500 biệt thư, đặc biệt là không biệt thự nào giống biệt thự nào. Mỗi biệt thự có một dáng vẻ riêng, lối kiến trúc riêng. Tuy nhiên, điều dễ nhận ra nếu ai đó quan sát chú ý: có hai loại biệt thự: cũ và mới. Biệt thự cũ là những biệt thự được xây dựng vào khoảng thời gian nữa đầu thế kỷ 20, tức là trước Đệ nhị thế chiến với kiểu kiến trúc có ống khói trên nóc biệt thự. Đây là ống khói lò sưởi theo thiết kế kiến trúc châu Au xưa. Loại biệt thự mới được tạo dựng vào khoảng thập niên 1950 trở về sau là những ngôi biệt thự không có ống khói, nghiên về lối kiến trúc cách tân.
    Nhìn chung, thành phố Đà Lạt ngày nay có một dáng vẻ đặc thù kỳ thú: một thành phố có nhà cửa kiến trúc theo châu Au giá lạnh nằm trong vùng nhiệt đới Á châu, được bao phủ bằng núi rừng còn hoang dã và trinh nguyên. Theo năm tháng, đến nay, Đà Lạt đã trở thành một thành phố du lịch nổi tiếng, thu hút nhiều du khách đến tham quan và nghỉ dưỡng, bởi nơi đây không gian yên ả và thơ mộng với những làn sương mờ ảo, những biệt thự nép mình bên đồi thông, sắc vàng của mimosa trải dài trên những con dốc trong thành phố. Cảnh quan Đà Lạt có những nét đặc trưng độc đáo và tuyệt vời riêng khiến lữ khách bồi hồi, xao xuyến khi chia tay với thành phố sương mù xinh đẹp này

    Huyền thoại một tên gọi:
    Tên Đà Lạt có từ bao giờ và do ai đặt ra cho đến nay vẫn còn là vấn đề bàn luận của các nhà chuyên môn. Người bản địa cho rằng tên Đà Lạt là do biến âm của từ Đạq Lạch, có nghĩa là dòng sông, dòng suối của bộ tộc Lạch, một bộ tộc đã chọn các khu rừng thưa trên cao nguyên Langbian làm nơi cư trú.
    Có lẽ cũng nên lắng nghe ý kiến của người Pháp, viên công sứ đầu tiên của Đà Lạt - ông Counhac đã lý giải về ý nghĩa tên gọi Đà Lạt như sau "Ở hồ nước mà dòng suối nhỏ của bột tộc Lạch chảy qua, người ta gọi là Đà Lạt". Ong còn cẩn thận ghi thêm chú thích "Theo tiếng Thượng, Đa hay Đak có nghĩa là nước".
    Nhưng một số người khác lại cho rằng khi người Pháp xây dựng Đà Lạt, họ đã chọn cho thành phố này một câu phương ngôn bằng tiếng Latinh, có nghĩa khá hay lại phù hợp với một thành phố vừa trẻ trung vừa xinh đẹp "Dat Aliis Laetitian Aliis temperiem", có nghĩa là "Cho người này niềm, người kia sự mát lành". Năm chữ cái đầu tiên của năm từ trên khi ghép lại thành ra chữ DALAT - điều này đã khiến nhiều người suy đoán rằng tên Đà Lạt là do người Pháp đặt và cách hiểu đó cho đến nay vẫn còn được nhiều người quan tâm.
    Dù với cách hiểu nào đi nữa thì Đà Lạt - thành phố cao nguyên này vẫn còn nhiều điều mới lạ, cuốn hút, cho dù bạn đã có thời gian dài sinh sống hay đã nhiều lần đến công tác, nghỉ ngơi ở chốn này.
    Thành phố của mùa xuân
    Với khí hậu và phong cảnh đặc trưng, Đà Lạt được ví như một thành phố của Châu Au, nằm giữa môt đất nước nhiệt đới. Ơ đây, bất cứ nơi nào cũng có thể là công viên cho lữ khách dừng chân, những đồi thông, những thảm cỏ xanh mượt mà, những đóa hoa dại… có mặt ở mọi nơi trong thành phố nhỏ bé mà xinh đẹp này. Trong những thung lũng dưới chân đồi, chân núi, những buổi sáng khí lạnh còn bao phủ cả thành phố, sương mù phủ kín các con dốc vàng rực màu dã quỳ, nhìn từ xa, Đà Lạt đẹp tựa xứ sở sương mù Luân Đôn. Đứng trên đường Trần Hưng Đạo, sương mù lãng đãng bay dưới mặt hồ Xuân Hương, xa xa là màu xanh của Đồi Cù mà hiếm nơi nào ở Việt Nam có được, thấp thoáng những ngôi biệt thự mang dáng dấp kiến trúc Pháp ẩn mình dưới những rừng thông, vườn rau xanh mướt… Trước những cảnh đẹp ấy, con người cảm thấy như lạc đến một quang cảnh ôn đới của một xứ sở châu Au nào đó.
    Lung linh những sắc hoa:
    Hoa là một yếu tố nội sinh làm nên hình hài và vẻ tuyệt mỹ của Đà Lạt. Cùng với lịch sử 110 năm hình thành và phát triển của thành phố này, hoa ở đây đã đi vào văn - thơ - nhạc - họa, và cũng là cơ sở cho Đà Lạt phát triển. Những thập niên trước đây, cứ mỗi khi nghe cái chớm lạnh của mùa Noel là cả Đà Lạt dường như vàng rực trong màu hoa dã quỳ - hoa trên những ngọn đồi, hoa ven những con đường đồi dốc quanh co của miền sơn cước.
    Thế nhưng không chỉ có hoa dã quỳ mà nay Đà Lạt còn có rất nhiều hoa tuyệt đẹp khác. Hoa Cẩm tú cầu to với hàng trăm cánh hoa nhỏ nép sát vào nhau và thay đổi màu sắc lung linh như một nạm ngọc. Hoa hồng Đà Lạt có nhiều loại - nhất là hồng nhung đỏ thắm mịn đủ làm ngơ ngẩn cả những người ít quan tâm đến hoa; hoa Lys sang trọng, mượt mà với những cánh lớn vươn vút như cánh tay của những vũ nữ; hoa Pensée đầy quyến rũ; hàng chục giống hoa lan - bên cạnh địa lan, gia đình phong lan của Đà Lạt rất phong phú, trong đó có thể kể đến các loài Giáng Hương, Phi Điệp, Quế Lan Hương, Tức Mạc, Hạc Đinh, Đai Châu… Các loài hoa như Tường vy, Thạch thảo, Rạng đông, Tiên hài, Cát đằng, Trà my, Hồng trà cũng làm cho sắc hoa Đà Lạt thêm phong phú.
    Vương quốc hoa Đà Lạt những năm gần đây có thêm rất nhiều "cư dân mỹ miều" khác đến từ nhiều nơi trên thế giới với những cái tên ngoại nhập như Brigitte, Vanda, Parisbi, Odorata, Coquelicot… Tại các vườn hoa trong thành phố, các vườn nhà của tư nhân, có thể nhìn thấy màu hồng của hoa tường vi, hoa đào, màu tím của hoa cúc Nhật Bản, màu vàng của hoa cúc đại đóa, hoa thiên lý, màu đỏ của hoa dâm bụt, màu trắng của hoa sứ, hoa huệ, trà mi… Về đêm, hương thơm ngào ngạt tỏa ra từ hoa dạ lan, hoa lài, hoa hồng… làm cho núi rừng cao nguyên càng thêm quyến rũ. Trong những rừng thông, ven bờ suối, trên đồi hoang, bãi đất trống, còn có thể bắt gặp cơ man nào là các loại hoa dại vừa lạ vừa đẹp lại dễ phát triển như me đất, trinh nữ, huệ đất, cúc quỳ, đỗ quyên, hoa mua, bướm bạc… Có thể nói, ở Đà Lạt, đi đâu cũng gặp hoa. Bởi vậy mà Đà Lạt được mệnh danh là "thành phố ngàn hoa".

    Hồ Xuân Hương

    Hồ Xuân Hương không mang trên mình nhiều huyền thoại như một số địa danh khác của Đà Lạt. Khi xưa, hồ chỉ là một con suối chảy giữa thung lũng, từ đó mà phát sinh tên gọi Đà Lạt - dòng suối của người Lạch. Năm 1919, kỹ sư công chánh người Pháp Labbé cho đào một cái hồ nhân tạo tại thung lũng mà con suối chảy qua và xây đập nước từ Thủy Tạ đến quán Hướng Đạo cũ. Đến năm 1923, hồ được mở rộng có tên là Grand Lac và lại xây thêm một cái đập nữa phía dưới tạo thành hai hồ. Sau cơn bão năm 1932, cả hai đập đều bị sập. Đến khoảng năm 1934 - 1935, người ta lại xây một cái đập đá lớn phía dưới và hồ Xuân Hương thành hình từ đó đến nay. Năm 1953, ông Nguyễn Vỹ - chủ tịch hội đồng thị xã Đà Lạt đổi tên từ Grand Lac do người Pháp đặt trước kia thành Xuân Hương - tên một nữ sĩ tài hoa, bà chú thơ Nôm nổi tiếng của Việt Nam thế kỷ 19. Hồ Xuân Hương còn là bản làng của các dân tộc bản địa trước kia qua việc phát hiện ở đây những di chỉ của người xưa.
    Đep lộng lẫy và dịu dàng, Hồ Xuân Hương là không chỉ là viên ngọc bích, mà còn là trái tim của thành phố Đà Lạt. Viền quan hồ là con đường nhựa láng tiếp nối với hàng loạt con đường khác từ khắp các nẻo của thành phố đổ về. Đây là hồ đẹp nhất nằm ở trung tâm thành phố Đà Lạt, chu vi 5.000m, rộng khoảng 38ha, độ sâu trung bình là 1,5m, có hình dáng một mảnh trăng lưỡi liềm. Mặt hồ phẳng lặng, trong vắt tựa chiếc gương soi, chỉ gợn vài đợt sóng lăn tăn khi có cơn gió nhẹ thổi qua. Ven hồ, bờ cỏ xanh mượt điểm những cây thông tùng, anh đào, liễu rũ… xinh đẹp tạo thành một khung cảnh thơ mộng cuốn hút khách nhàn du. Cầu phía trên đập chỗ đi vào trung tâm thành phố có tên gọi là cầu ông Đạo, mang chức danh ông quản đạo người Việt đầu tiên ở đây là ông Phạm Khắc Hòe.
    Trên bờ hồ, cách khoảng 300m về phía Tây Nam là quảng trường Hòa Bình cao rộng và sầm uất. Xung quanh quảng trường san sát những tiệm ăn, buôn bán, rạp chiếu bóng, chợ… khách ra vào tấp nập. Từ quảng trường có cầu bắc thẳng vào tầng 2 của chợ Đà Lạt, ngôi chợ 3 tầng lớn nhất Đà Lạt. Cách bờ hồ hơn 1km về phía Đông là ga xe lửa Đà Lạt, nằm im lìm, gợi trong lòng du khách về một thời dĩ vãng đã xa có những chuyến tàu xuôi ngược
    Ngày 10/1/1977, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Lâm Đồng ký quyết định số 26.QĐ-UB xác định: Trung tâm du lịch lấy trọng tâm là khu vực Hồ Xuân Hương.
    Tháng 10 - 1984, chính quyền tỉnh Lâm Đồng cho nạo vét lại lòng hồ, gia cố móng của đập cầu Ông Đạo. Trong 6 tháng nước hồ được tháo cạn, đáy hồ được hàng vạn thanh niên của thành phố Hoa đổ mồ hôi, công sứ nạo vét nhằm làm đẹp thêm cho quê hương mình. Đây là lần chỉnh trang thứ 2 kể từ sau năm 1934, lúc kỹ sư Trần Đăng Khoa cho xây dựng cầu Ông Đạo. Ngày 16-11-1988, Bộ Văn-Hoá Thông Tin và Thể Thao đã ra quyết định số 1288 công nhận Hồ Xuân Hương là 1 trong 464 thắng cảnh cấp quốc gia. Nhưng rồi, sau đó theo năm tháng, trước những tác động xấu của một số người một phần Hồ Xuân Hương đã bị bồi lấp làm giảm đi vẻ đẹp quyến rũ, nên thơ vốn có. Vì vậy, công việc nạo vét Hồ Xuân Hương được chính thức khời công với tổng kinh phí lên tới 20 tỉ, trong đó ngoài vốn ngân sách nhà nước còn có sự đóng góp của ngươì dân thành phố lên đến 6 tỉ. Có thể nói đây là lần chỉnh trang lại Hồ Xuân Hương lớn nhất từ trước đến nay vì ngoài việc nạo vét, còn phải xây dựng thêm hồ lắng phía thượng lưu và xây kè đá chống sụp lở xung quanh hồ. Sau hơn 3 tháng thi công, chủ yếu bằng cơ giới với việc nạo vét lòng hồ trên 1 triệu m3 đất, gia cố lại móng, các cống thoát nước của cầu Ông Đạo, xây bờ kè bằng đá chung quanh hồ, khôi phục lại các "cầu chữ Y" quanh bờ hồ, lát cỏ và cho xây dựng 4 hồ chống bồi lắng tại các dòng chảy chính trước khi vào hồ. Cuối tháng 9-1998 Hồ Xuân Hương được đóng nước, góp phần làm cho một thắng cảnh vốn đã đẹp nay còn đẹp hơn.
    Thực tế, hơn trăm năm qua, hồ Xuân Hương đã gắn liền với cuộc sống người dân Đà Lạt, gắn liền với những thăng trầm, biến động của thành phố Hoa. Vào mùa nắng và những ngày đẹp trời, mặt hồ Xuân Hương xanh biếc, gợn sống lăn tăn. Những ngày mưa lớn, nước đỏ ngầu làm người ta chạnh nhớ đến Hồng Hà-Hà Nội. Tuy nhiên, vẻ đẹp của Xuân Hương không giống với vẻ đẹp Hoàn Kiếm của kinh thành Thăng Long hay Tịnh Tâm của cố đô Huế. Nước hồ Hoàn Kiếm có màu xanh lục soi bóng tháp rùa, tháp Bút-ghi dấu ấn anh hùng của một giai thoại lịch sử dân tộc Việt Nam trong công cuộc chống ngoại xâm. Còn Tịnh Tâm ngát hương sen hình như lúc nào cũng thăng trầm và lặng lẻ như tính cách người dân xứ Huế. Còn hồ Xuân Hương lại có nét kiều diễm của phương Tây. Nước xanh soi bóng những cây Anh Đào rực hồng mỗi độ Xuân về, không e lệ ngại ngần, luôn bặt thiệp với khách trong nước cũng như ngoài nước. Có ai ngờ rằng cách đây 105 năm, đáy hồ còn là ruộng lúa của dân bản Langbi ang. Hằng năm, cứ mỗi độ xuân về, hồ Xuân Hương lại tươi trẻ hơn, rực rỡ hơn bởi ngàn hoa Anh Đào đua nở và mặt hồ xanh trong như mây trời.
    Hôm nay, hồ Xuân Hương vẫn còn in bóng khách sạn Palace-nơi đón tiếp đoàn đại biểu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đến dự hội nghị trù bị Đà Lạt năm 1946 và là nơi Bộ Chính Trị mở hội nghị tổng kết chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Đó còn là chứng nhân và niềm tự hào chính đáng của nhân dân các dân tộc thành phố Đà Lạt.
    Hồ xuân hương không những là một thắng cảnh của đà lạt mà còn là niềm tự hào của các dân tộc tỉnh Lâm Đồng. Đó còn là niềm cảm hứng bất tận cho biết bao thế hệ văn nghệ sĩ Việt Nam để sáng tác ra những áng văn, thơ tuyệt mỹ:
    "Ai hãy lặng thinh chớ nói nhiều
    Để nghe dưới đáy nước hồ reo
    Để nghe tơ liểu rung trong gió
    Và để nghe trời giải nghĩa yêu"
    (Đà Lạt Trăng Mờ-Hàn Mạc Tử)
    "Hồ Xuân Hương mặt nước trầm tư
    Thi nhân hỡi, có nhìn tôi không thấy
    Hồ trong xanh, lòng sâu đến tận trời
    Nghiêng mơ màng bao bóng thông trôi"
    (Một Ngày Đà Lạt-Lâm Thị Mỹ Dạ)

    Dinh thự tại Đà Lạt
    Bên cạnh lối kiến trúc thâm nghiêm cổ kính của các chùa chiền, nhà thờ, Đà Lạt còn thu hút bởi các dinh thự và nhiều công trình xây dựng theo kiểu dáng phương Tây rất hoành tráng. Mỗi biệt điện, mỗi villa đều có lối kiến trúc độc đáo riêng, nhưng nhìn tổng thể lại mang nét hài hòa, tao nhã, tạo cho thành phố này một phong cách đặc biệt mà không nơi nào sánh được.

    Dinh 1
    Nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 4km về phía Đông Nam, theo đường Trần Hưng Đạo đến ngã 3 Trại Hầm rồi rẽ phải đi 400m tiếp đường Trần Quang Diệu sẽ đến được Dinh 1. nguyên đây là cơ ngơi của một ngươì pháp được Bảo Đại mua lại.
    Dinh 1 có kiến trúc độc đáo mang dáng vẻ cổ kính uy nghi mà tao nhã khiến ai đã một lần đến đây đều nhớ mãi. Nguyên đây là cơ ngơi của một người Pháp, được vua Bảo Đại mua lại từ tháng 8/1949 và cho xây dựng thành Tổng hành dinh của chính phủ Hoàng triều cương thổ. Đến thời Ngô Đình Diệm được gia cố thành một lâu đài tráng lệ và kiên cố. Dưới toà nhà chính có một đường hầm thoát hiểm, cửa chính đường hầm này nằm ngay cạnh phòng ngủ của Ngô Đình Diệm. Một phần đường hầm nổi lên mặt đất có đường thoát hiểm thông ra phía sau dinh, nơi có sân tráng nhựa cho máy bay trực thăng đỗ dài khoảng 100m. Hiện nay dinh đã được mở cửa cho tham quan và đang thuộc quyền quản lý của liên doanh DRI

    Dinh 2 - Dinh Toàn Quyền
    Dinh tọa lạc trên một đồi thông có diện tích 16ha ở đầu đường Trần Hưng Đạo, cách trung tâm thành phố 2km về hướng Đông Nam. Ở đây phong cảnh rất đẹp, có thể nhìn thấy mặt hồ Xuân Hương thấp thoáng qua những tán lá thông, xa xa là đồi Cù với những dải cỏ non xanh biếc.
    Dinh 2 được xây dựn gtừ năm 1933 - 1937, gồm 25 phòng được bài trí cực kỳ sang trọng. Khi còn đương chức, Toàn quyền Jean Decoux đã cho xây dựng dinh thự này làm nơi nghỉ mát mỗi mùa hè. Để tránh máy bay oanh tạc và tránh sự tấn công từ bên ngoài; toàn quyền đã cho xây dựng đường hầm bí mật để khi có sự cố thoát ra ngoài, ngoài ra còn cho xây dựng những đường hầm rất kiên cố, được nối vào hầm chứa rượu với bề ngang khoảng 1.5m và cao hơn 1m có nhiều ngóc ngách được đổ bêtông chắc chắn, nhiều năm nay đường hầm không được bảo vệ nên đã hư hại khá nhiều.
    Đến đời Ngô Đình Diệm cầm quyền ở miền Nam thì dinh này được ông cố vấn Ngô Đình Nhu lên ở như là dinh riêng.
    Ngoài dinh toàn quyền chủ yếu dùng để gia đình toàn quyền nghỉ ngơi, người Pháp còn xây dựng một văn phòng phủ toàn quyền khá bề thế. (Nhà nghỉ Liên đoàn lao động tỉnh hiện nay). Trong dinh có một số hiện vật quý như bức liễn khảm xà cừ khắc những bài thơ của vua Tự Đức đang để ở phòng khách. Trước đây còn có cả ngà voi nhưng hiện nay đã bị thất lạc qua nhiều lần thay đổi chủ quản lý. Trong dinh hiện vẫn còn chiếc dương cầm của phu nhân toàn quyền.
    Việc sửa chữa và khôi phục lại đường hầm chắc chắn sẽ làm cho dinh hấp dẫn khách hơn và có thể cho khách thuê để tổ chức tiệc tùng, cưới xin ở ngay phòng dưới đường hầm.
    Hiện nay, Dinh 2 là nhà khách của UBND tỉnh Lâm Đồng.

    Dinh 3 - Dinh Bảo Đại
    Nằm trên đường Triệu Việt Vương, cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 2km về hướng Tây Nam, ẩn mình trong một đồi khung cảnh thơ mộng trên đồi thông cao. Dinh 3 là biệt thự nghỉ hè của vua Bảo Đại và gia đình được xây dựng từ năm 1933 - 1937 trên diện tích 2.600m2 do kiến trúc sư người Pháp cùng kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát thiết kế và người thực hiện là ông Võ Đình Trung và kỹ sư Tôn Thất Hường. Vật liệu xây dựng được đem từ Pháp sang và từ miền Trung Việt Nam vào.
    Biệt điện Bảo Đại có 25 phòng, 2 tầng lầu. Tầng trệt dùng làm nơi hội họp, yến tiệc. Căn phòng làm việc của vua Bảo Đại có trưng bày những ấn tín quân sự, ngọc tỷ hoàng đế, quốc thư, quốc kỳ các quốc gia có quan hệ ngoại giao, tượng bán thân của vua Khải Định và vua Bảo Đại.
    Trên lầu là phòng ngủ của vua Bảo Đại, hoàng hậu Nam Phương, cùng thái tử Bảo Long, các công chúa Phương Mai, Phương Liên, Phương Dung và hoàng tử Bảo Thăng. Phía ngoài phòng ngủ của cựu hoàng là Lầu Vọng nguyệt khá đẹp dùng làm nơi cho cựu hoàng cùng hoàng hậu ngắm trăng….. Do thái tử Bảo Long là người được chọn kế nghiệp ngai vàng (từ năm 1939) nên trong phòng trang hoàng toàn màu vàng.
    Vua Bảo Đại có một bà vợ chính thức là hoàng hậu Nam Phương (tên thật là Nguyễn Hữu Thị Lan), con nhà hào phú Nguyễn Hữu Hào). Từ năm 1949, khi hoàng hậu Nam Phương đưa các con sang sống, học tập bên Pháp thì Bảo Đại chung vui với 3 thứ phi là Bùi Mộng Điệp, Phi ánh và bà Jeny Woong (người Hương Cảng). Ba bà thứ phi ở 3 dinh riêng tại Đà Lạt, mỗi khi cựu hoàng cần thì cho xe đến đón và dùng cơm chiều với ông rồi ở lại luôn trong dinh. Sáng hôm sau lại có xe đưa các bà trở về dinh của mình. Theo nhiều người đã từng phục vụ Bảo Đại kể lại thì cựu hoàng Bảo Đại mê bà Mộng Điệp hơn do bà vừa có sắc đẹp lại trẻ trung. Bảo Đại đã có với bà này 3 người con là hoàng nữ Phương Thảo, 2 hoàng nam Bảo Hoàng và Bảo Sơn. Cách đây vài năm con gái của cựu hoàng Bảo Đại với bà Mộng Điệp có về ở lại trong dinh (cùng chồng là một kỹ sư người Pháp).
    Sau khi Bảo Đại qua Pháp sống lưu vong, dinh là nơi nghỉ mát cao cấp của chính phủ Ngô Đình Diệm và sau này là Dinh của Nguyễn Văn Thiệu. Trong nhiều năm, dinh thuộc Ban tài chính quản trị tỉnh uỷ Lâm Đồng và mới được giao về cho Công ty du lịch dịch vụ Xuân Hương quản lý từ giữa năm 2000.
    Năm 1988, người ta đã phát hiện ra một số bảo vật gồm 122 món ngọc ngà, châu báu của triều Nguyễn do bà Từ Cung (mẹ vua Bảo Đại) đem từ Huế vào. Theo một tài liệu đáng tin cậy thì số bảo vật này là của cải riêng của hoàng thái hậu Từ Cung và cựu hoàng Bảo Đại, được Chính phủ cách mạng lâm thời (tháng 9.1945) cho phép tự do sử dụng. Đáng chú ý có nhiều đồ dùng bằng ngọc như thau rửa mặt bằng vàng nạm 16 viên ngọc, các loại bát ngọc, đĩa ngọc, một số đồ dùng bằng vàng. Số bảo vật này đang được lưu giữ tại kho bạc tỉnh Lâm Đồng và chưa dám khui ra vì địa phương rất lo lắng đến phương án bảo vệ. Qua các tài liệu còn lưu giữ được thì có lẽ đây là bộ sưu tập về ngọc đầy đủ nhất, quý giá nhất của các triều đại phong kiến Việt Nam còn lưu giữ được cho đến ngày nay. Trong một tương lai gần, bộ sưu tập ngọc này sẽ được đưa ra trưng bày tại Dinh 3 để cho du khách gần xa có dịp chiêm ngưỡng.
    Phía ngoài dinh (từ ngoài vào mé bên trái) vẫn còn hầm rượu của Bảo Đại nằm chìm dưới đất, cửa vào trông ra mé đồi thông. Theo nhiều người kể lại thì ngày trước Bảo Đại có rất nhiều loại rượu ngoại, chủ yếu là ảnh hưởng của lối sống Pháp. Thường buổi trưa ông thích ăn cơm ta và chiều ăn cơm Tây, một điều lạ là ông không thích nhậu nhẹt mà chỉ để tiếp khách. Nếu ăn cơm ta thì dọn các món lên một lần còn cơm Tây thì dọn từng món một. Một sở thích của vua Bảo Đại là thích săn bắn, ông thường tổ chức những chuyến đi săn xuyên đường quốc lộ 27 qua bên Dăk Lăk và kéo dài cả tuần, với đoàn tùy tùng đi theo rất đông. Cựu hoàng bắn rất giỏi, chính các quan chức Pháp cũng phải phục, bằng chứng là ngày trước trong dinh có 3 bộ da cọp để trang trí ngay phòng khách và trên lầu do chính tay Bảo Đại săn được. Chung quanh khu vực dinh ngày trước còn khá rậm rạp và cọp thỉnh thoảng cũng có về định "hỏi thăm".
    Một số căn phòng được phục chế trong Dinh 3:
    ¢ Phòng làm việc của vua Bảo Đại: tại đây hiện vẫn còn nguyên như bàn làm việc, điện thoại (bên phải là của vua Bảo Đại, bên trái là của tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu). Chính giữa có kệ tủ, bên trên có tượng vua Khải Định đặt ở hai bên, giữa là tượng vua Bảo Đại, 4 thanh kiếm của thị vệ đại thần, 2 dãy cờ 2 bên tượng trưng cho mối bang giao với các quốc gia trên thế giới, chiếc mũ khi đi môtô của vua Bảo Đại. Bên trái là ảnh gia đình. Trong kệ có sách săn hóa, kinh thánh và 2 ấn nổi bằng đồng của vua Bảo Đại khi làm Quốc trưởng Hoàng Triều Cương Thổ.
    ¢ Phòng tiếp khách: là nơi dùng tiếp khách của vua Bảo Đại, trong phòng có trưng bày đàn piano, là cây đàn mà hoàng hậu Nam Phương thường sử dụng. Ngoài ra còn có bức tranh sơn mài vẽ đền Angkor do một người bạn Campuchia tặng nhân ngày sinh nhật vua Bảo Đại vào năm 1951 và có một bức sơn dầu vẻ cảnh Thái Miếu ở Huế. Bên trên lò sưởi là cặp sừng min (trâu rừng) do vua Bảo Đại săn được ở đèo Krông Pha.
    ¢ Phòng tiếp khách thân mật: là nơi dùng tiếp những người thân trong hoàng tộc. Bên trên còn trưng bày cặp sừng nai do vua Bảo Đại đi săn được tại 1 vùng núi thuộc dãy Langbian.
    ¢ Phòng Khánh tiết: là nơi dùng để hội họp, chiêu đãi yến tiệc. Phòng trang trí tranh sơn mài vẽ cảnh núi rừng Tây Nguyên, bản đồ do một nhóm du học sinh tại Pháp vẽ tặng năm 1952 có hình bản đồ Việt Nam và các danh lam thắng cảnh tượng trưng cho 3 miền Bắc - Trung - Nam và một bức tranh vẽ điện Kiến Trung ở Đại Nội - Huế, ngoài ra con có một tượng bán thân vua Bảo Đại mặc quốc phục, đeo thẻ bài và huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh.
    ¢ Phòng giải trí: có để hai chiếc võng gọi là "Võng đào" dành riêng cho vua và hoàng hậu.
    ¢ Phòng sinh hoạt gia đình: trong phòng có 6 chiếc ghế, ghế dài của vua và hoàng hậu, hai ghế dành cho thái tử Bảo Long và hoàng tử Bảo Thăng, 3 ghế còn lại dành cho 3 công chúa Phương Mai, Phương Liên và Phương Dung.
    Tất cả đều như chỉ mới hôm qua, tạo cho du khách mường tượng được cuộc sống vương giả của các bậc vua chúa trước đây.

    Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy


    " 22/10/1913: Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy được sinh ra tại Huế (nhằm ngày 23/9 năm Quý Sửu)
    " 28/3/1922: được sách lập Đông Cung Hoàng Thái Tử
    " 15/6/1922: cùng vua cha Khải Định xuất hành Tây du để thượng ngoạn cuộc triển lãm hàng hóa tại Marseille
    " 6/1922: được vợ chồng cựu Khâm sứ Trung Kỳ nhận làm con nuôi, cho ăn học tại Pháp
    " 11/1925: từ Pháp về nước thọ tang vua cha Khải Định tạ thế ngày 25/11/1925
    " 8/1/1926: được tôn lên kế vị, lấy niên hiệu là Bảo Đại, vua thứ 13 triều Nguyễn khi đúng 13 tuổi
    " 3/1926: trở lại Pháp để tiếp tục học "nghề làm vua"
    " 1932: hồi loan trở về nước chính thức cầm quyền chức vị vua; mở cuộc ngự du đầu tiên trong nước để đi thăm lăng tẩm và chiêm bái vong linh tiên đế nhà Nguyễn
    " 12/1933: ngự du Bắc kỳ thăm dân chúng
    " 20/3/1934: làm lễ cưới với Jeanne Mariette Nguyễn Hữu Thị Lan (con cái Nguyễn Hữu Hào và Lê Thị Bình - điền chủ đất Gò Công)
    " 23/3/1934: sắc phong cho vợ là Nguyễn Hữu Thị Lan là Nam Phương Hoàng Hậu
    " 4/1/1936: Nam Phương Hoàng hậu sinh hạ hoàng tử Bảo Long
    " 9/3/1945: Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương
    " 19/8/1945: Cách mạng Tháng tám thành công, toàn dân đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp và chế độ quân chủ, Bảo Đại xin thoái vị
    " 30/8/1945: Bảo Đại chính thức thoái vị và trao ấn kiếm cho đại diện chính phủ lâm thời Việt Nam vừa đuợc thành lập.
    " 9/1945: ra Hà Nội nhận chức Cố vấn Tối cao Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh
    " 6/1/1946: được bầu làm đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa
    " 16/3/1946: sang thăm Trung Quốc trong phái đoàn nước Việt Nam DCCH và nhân dịp này ở lại Trung Quốc
    " 12/1947: sang Luân Đôn gặp một số yếu nhân Anh, Pháp để bàn về vấn đề Việt Nam
    " 1/1948: đi Genève gặp một số yếu nhân Pháp để bàn tiếp về vấn đề Việt Nam
    " 5/3/1948: từ Genève trở về Hồng Kông
    " 24/4/1949: trở về Việt Nam
    " 14/6/1949: tại Toà Đô Sảnh Sài Gòn, Cao ủy Pignon và cựu hoàng Bảo Đại trao đổi các văn kiện về Thỏa ước Elysée; Sau đó, Bảo Đại tuyên bố tạm cầm quyền đến khi tổ chức được tổng tuyển cử và tạm giữ danh hiệu Hoàng đế, để có một địa vị quốc tế hợp pháp
    " 2/7/1949: về VN chấp chính với danh nghĩa Quốc trưởng VN
    " 16/6/1954: chính phủ Bửu Lộc từ chức; Quốc trưởng Bảo Đại cử Ngô Đình Diệm về nước
    " 6/7/1954: Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ mới
    " 30/4/1955: Hội đồng Nhân dân Cách mạng thành lập và tuyên bố truất phế Quốc trưởng Bảo Đại
    " 4/10/1955: một Uy ban trưng cầu dân ý thành lập, đưa ý kiến đòi truất phế Quốc trưởng Bảo Đại và suy tôn Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên làm Quốc trưởng thay thế Bảo Đại
    " 15/9/1963: Hoàng hậu Nam Phương tạ thế tại Pháp
    " 1982: Cựu hoàng Bảo Đại lấy vợ kế là bà Monique Baudot làm vợ chính thức, có hôn thú và gia nhập đạo Thiên Chúa
    " 1/8/1997: Cựu hoàng Bảo Đại tạ thế tại Quân y viện Val de Grace (Paris), thọ 84 tuổi; thi hài được an táng tại Nghĩa trang Công giáo, số 2 Commandant Scholoesing, Quận 16, Paris, Pháp.

    Đồi Mộng mơ
    Đồi Mộng mơ cách thành phố Đà Lạt chừng 4 - 5 km theo đường Phù Đổng Thiên Vương, nằm gần thung lũng Tình Yêu, lối vào đập Đa Thiện với những đồi hồng, nương dâu đang vào mùa thu hoạch. Phía xa xa là dãy núi chập trùng có hình dáng như thiếu nữ nằm nghiêng với bầu sữa căng tròn đầy sức sống - đỉnh Lang Biang. Khu du lịch này vừa được công ty cổ phần Thành Ngọc mở cửa đón khách tham quan vào đầu tháng 11 năm 2003, chào đón sự kiện Đà Lạt 110 năm hình thành và phát triển. Ðây là một khu du lịch khá rộng lớn khoảng 11 ha nằm trên ngọn đồi thoai thoải, lộng gió.
    Từ cổng chào đi vào, điều du khách bắt gặp đầu tiên là các loài hoa Đà Lạt nằm bên vạt cỏ êm ái dưới những rặng thông toả bóng. Phía bên phải quả đồi là dãy nhà nghỉ được thiết kế theo kiểu nhà sàn gồm 5 ngôi trông rất xinh xắn được mang tên các loài hoa: Mimoza, đỗ quyên, forgetmenot, trà my và mai anh đào.
    Thăm ngôi nhà cổ có tuổi trên 300 năm được bê nguyên bản từ Bình Định vào. "Ai hãy lặng thinh chớ nói nhiều để nghe tơ liễu rung trong gió, và để nghe trời giải nghĩa yêu của nhà thơ Hàn Mặc Tử và cũng đâu đó là bài Ðoá hoa vô thường của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Đó chính là hai tác phẩm nghệ thuật rất đặc sắc của nghệ nhân Phạm Văn Hạng đã tặng cho nơi này, cả hai bức tượng được đặt trong không gian khá lãng mạn, trữ tình, trong một khuôn viên rợp bóng thông già và hoa lá. Đi "dăm" bước nữa là đến khu trung tâm du khách có thể thưởng lãm hàng trăm loài hoa mang dáng vẻ xứ cao nguyên, nổi bật nhất vẫn là vườn hồng trồng xen kẽ giữa muôn loài cây miền ôn đới. Nếu có nhu cầu khách còn được nghe giới thiệu về nghệ thuật trồng hoa.
    Một Vạn lý trường thành cũng đang chờ thử thách sức khỏe dẻo dai của du khách. Một vòng quanh tiểu Vạn Lý Trường Thành, con đường sẽ dẫn đến một thung sâu với ngôi nhà sàn của đồng bào thiểu số có một sân khấu khá rộng dành cho việc giao lưu văn hoá văn nghệ, có thể đốt lửa trại vào ban đêm. Ở đây có chương trình văn nghệ mang đậm bản sắc văn hoá Tây Nguyên. Rời khu sinh hoạt văn hoá cồng chiêng, du khách sẽ đến thăm Mộng Mơ tửu với hầm rượu luôn luôn có không dưới 20.000 lít bàu đá được ngâm lâu ngày, cùng với sản phẩm rượu vang nổi tiếng của Đà Lạt, rượu cần Tây Nguyên, rượu cần Tây Bắc... Và, một điểm dừng chân khác không thể không ghé qua: Nhà hàng mang tên Hạnh Phúc nằm trên một quả đồi lộng gió với tầm nhìn rất hào phóng với khoảng 400 chỗ ngồi.
    Giữa rừng thông, du khách còn có thể gặp bầy nai đang gặm cỏ chạy đùa, phía bên kia đồi là khu dã ngoại dành cho các bạn trẻ sinh hoạt tập thể, cắm trại. Kế bên vườn lan là nơi trưng bày bộ sưu tập đá nghệ thuật "quý" của cao nguyên Bảo Lộc như: silic trầm tích, bồ kết trầm tích . Bạn có thể ngắm nhìn vẻ đẹp như những bức tranh trừu tượng được thiên nhiên điêu khắc sắc sảo và khéo léo. Ngay lối ra đang khẩn trương hoàn tất là dãy nhà rông Tây Nguyên dành để khách tận hưởng không gian yên tĩnh, thoáng đãng.
    Là một ngọn đồi khá thơ mộng đồi mộng mơ mang trên mình nhừng kiến trúc khá hoa mĩ cụ thể như một bức tường vạn lí trường thành thu nhỏ, ở đâ chúng tôi có thể thả hồn mình theo thiên nhiên. Sau khi tham quan chúng tôi ghé vào một địa điểm khá thú vị đó là Đà Lạt Sử Quán, tìm hiểu về nghệ thuật tranh thêu.

    THUYẾT MINH DIỂM ĐÀ LẠT

    Lịch sử hình thành tỉnh Lâm Đồng
    Là một tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên, Lâm Đồng là tỉnh duy nhất ở Tây Nguyên không có đường biên giới quốc tế.
    Ngày 1/11/1899 chính quyền Pháp lập tỉnh Đồng Nai thượng, tỉnh lỵ đặt tại Di Linh.
    Năm 1903 bãi bỏ tỉnh Đồng Nai Thượng, chuyển thành đại lý hành chính Di Linh, do đại diện của Công sứ Bình Thuận cai trị.
    Năm 1913 nhập đại lý Đà Lạt với đại lý Di Linh, gọi chung là đại lý Di Linh và vẫn thuộc tỉnh Bình Thuận.
    Ngày 6/1 /1916 thành lập tỉnh Lâm Viên gồm đại lý Đà Lạt mới lập lại và đại lý Di Linh, tách từ tỉnh Bình Thuận, Tỉnh lỵ đặt tại Đà Lạt. Tỉnh Lâm Viên còn được gọi là Langbiang hay Lâm Biên.
    Ngày 31/10/1920 xóa bỏ tỉnh Lâm Viên, một phần lập ra thành phố Đà Lạt, phần còn lại lập lại tỉnh Đồng Nai Thượng, tỉnh lỵ đặt tại Di Linh. Năm 1928 chuyển tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai Thượng về Đà Lạt
    Ngày 8/1/1941 lập lại tỉnh Lâm Viên, tỉnh lỵ đặt tại Đà Lạt. Tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai Thượng chuyển về Di Linh.
    Ngày 19/ 5/ 1958 chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đổi tên tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng, đồng thời tách một phần đất sáp nhập với thành phố Đà Lạt, thành lập tỉnh Tuyên Đức. Tỉnh Lâm Đồng gồm 2 quận Bảo Lộc (Blao) và Di Linh. Chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam nhập tỉnh Lâm Viên với tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng.
    Tháng 2/1976 sáp nhập tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Tuyên Đức thành tỉnh Lâm Đồng mới.
    Hiện nay Lâm Đồng có 1 thành phố thuộc tỉnh, 1 thị xã và 10 huyện: gồm Thành Phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc, các huyện: Lạc Dương, Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà, Đam Rông, Bảo Lâm, Di Linh, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, và Cát Tiên.

    con người Đà Lạt
    Khi đề cập đến con người Đà Lạt nhiều nhà nghiên cưú dân tộc học cho rằng : thật ra không có con ngươì đà lạt đơn thuần mà đó là sự hội tụ tinh hoa của con người từ moị miền đất nước, là tổng hoà khí chất không chỉ các dân tộc bản xứ và 3 miền Bắc – Trung- Nam Việt Nam mà còn có cả Trung Hoa và Tây Au
    Ngược dòng lịch sử và nhận diện con người Đà Lạt hôm nay, chúng ta có thể bắt gặp điều đó .Trong bản thân họ luôn có vẻ tôn trọng lẫn tế nhị, thanh lịch của ngươì bắc nét trầm mặc suy tư cần cù lao động cuả ngươì miền trung vẻ thật thà, đôn hậu trọng tình nghiã cuả ngươì miền nam cũng như cách giao tiếp khéo léo cuả người hoa và lối ăn mặc lịch sự cuả người tây âu
    Cho tới bây giờ cũng chưa ai lý giải được 3 tộc người Lạch- Chil-Srê có mặt tại đà lạt tự lúc nào mà chỉ ước đoán họ xuất hiện trên thành phố cao nguyên này cách đây 4,5 thế kỷ vào thời hưng thịnh nhất của vương quốc chămpa. Sự xuất hiện một số di chỉ đá mài ngay đèo Pren gần đây cho thấy từ rất xa xưa Đà Lạt đã có ngươì ở nhưng những người này có quan hệ gì với người lạch-Chil-Sre hay với người kinh thì phải chờ các công trình nghiên cúu khoa học ngày nay mới co thể xác định được
    Dẫu rằng mỗi tộc người có một phong tục – ngôn ngữ - tập quán và tự cho mình một điạ bàn cư trú khác nhau, nhưng những gì còn tồn tại ngày nay đã góp phần khẳng định Đà Lạt có một tính chất rất riêng khó nhầm lẫn vơí các điạ phương khác
    ØNếu ba tộc ngươì anh em Lạch- Chil-Srê chọn phía tây nam và tây bắc cuả thành phố để tụ cư thì phần lớn người Đà Lạt gốc bắc lại chọn các quả đồi và thung lũng quanh các khu ngoại ô thành phố như : ấp Hà Đông –Nghệ Tĩnh-Du sinh để làm ăn.
    ØNgười Thưà Thiên –Huế chọn lòng chảo quanh ấp Anh Sáng gần Hồ Xuân Hương để cư ngu.
     mỡØNgười Quảng Nam – Quảng Ngãi – Bình Định thì chọn những vùng đất màu quanh thành phố như Xuân Trường – Xuân Thọ định cư .
     khuØNgười hoa lấy Hoà Bình – đường Phan Đình Phùng đề sinh sống .A6 u chọn các qủa đồi xinh đẹp nằm rãi rác trong thành phố để an cư xây dựng càc biệt thư làm cho thành phố thêm đa dạng và phong phú .
    Ngày nay theo con đường Đà Lạt theo con đường dốc quanh co gần 20km về hướng tây nam chúng ta sẽ gặp ngay bà con Srê – Chil –Lạch với cuộc sống chuyên canh lúa nước trồng cà phê và hoa màu thuộc xã Tà Nưng có diên tích 55,91 km2 với 1593 người dân, trong đó với 2/3 là ngươì Chil (587 ngươì), Lạch (347 người) – 290 người Srê. Nếu đi về hướng Tây Bắc của thành phố chúng ta sẽ đặt chân đến Đania (huyện Lạc Dương ) và sẽ bắt gặp nhưng buôn cuả người L ạch , ngươì Chil tại đây
    Người Đà Lạt Gốc Miền Bắc
    Theo con số thống kê chưa đầy đủ người Đà Lạt gốc Bắc trên thành phố cao nguyên hiên nay chiếm khoảng 50% số dân toàn Đà Lạt. Điều đó cũng phù hợp với tiến trình phát triển lịch sử xây dựng thành phố .Để xây dựng thành phố nghỉ dưỡng tuyệt đẹp ngày 6-1-1916 toàn quyền Đông Dương lúc bấy giờ đã quyết định biến Đà Lạt thành tỉnh lỵ cuả tỉnh Labiang và cho cấp tốc xây dựng cơ sở hạ tầng như : khách sạn Lanbiang 1916 nhà máy điện 1919 ngăn dòng suối Lạch để tạo thành thắng cảnh hồ lớn năm1919 – làm đường xe lửa răng cưa lên Đà Lạt 1920 –xây dựng một số trường tiểu học - ngân khố –bưu điện ... để thu hút ngươì dân khắp mọi miền đất nước đến Đà Lạt cư ngụ nhằm góp phần xây dựng thành phố . Năm 1923 dự án thiết kế đô thị cuả kiến trúc sư Hébrard được thông qua với qui hoạch phát triển dân cư Đà Lạt về phía Tây Bắc và Đông bắc cuả Hố Lớn đã đánh giá một bước phát triển của cư dân Đà Lạt.
    Cho tới bây gìơ nhiều người vẫn còn nhớ năm 1931 -1932 đã có hàng chục hộ miền bắc tiềm đến Đà Lạt làm ăn sinh sống tại trại chăn nuôi bò sưã cuả pháp tại Đankia
    Nhằm thực hiện ý định của toàn quyền đông pháp , ông Trần Văn Lý quản đạo Đà Lạt lúc bầy giờ, đã thống nhất với các ông Hoàng Trọng Phu-Lê Văn Định và một vài viên chức khác di dân ở Bắc Kỳ vào thành phố. Đầu tiên, vào năm 1938, có 33 người thuộc các làng : Ngọc Hà-Quảng Nam-Nghi Tàm-Xuân Tảo-tây Tựu và Vạn Phúc thuộc tỉnh Hà Đông cũ được di cư vào D9à Lạt để trồng rau và lập nên ấp Hà Đông.
    Trong suốt 4 năm (Từ 1939->1942), do thiếu công nhân để xây dựng và khai hoang nên nhiều vườn ở Đà Lạt đã ra tận các tỉnh ngoài Bắc như : Nam Định-Hà Nam-Hải Dương-Hưng Yên-Bắc Ninh tuyển thêm lao động. Số ngươì này phần lớn đã quyết định ở lại Đà Lạt làm ăn khi hết hợp đồng.
    Đền năm 1940, ông Phạm Khắc Hoè-quản đạo Lâm Viên lúc bấy giờ (ngươì Nghệ Tĩnh), sau mấy lần đến thăm ấp Hà Đông, nhận thấy bà con làm ăn được nên mới về quê bàn với ông Nguyễn Thái Hiến đưa một số gia đình trong dòng họ, thân quen của mình tứ Nghệ Tĩnh vào Đà Lạt để lập nghiệp. Việc chuyển cư này được tiến hành rất nhiều đợt, chính ông Phạm Khắc Hòe đã bố trí, giúp đỡ cho họ ổn định cuộc sống và xây dựng nên ấp nghệ tỉnh vào năm 1940 với diện tích 36 ha. Lúc đầu bà con Nghệ Tĩnh vào đà lạt ban ngày phải làm thuê, chiều về vỡ đất khai hoang trồng rau. Chỉ sau một vài năm, họ đã có trong tay một cơ ngơi rộng lớn và bắt đầu chuyển hẳn qua nghề làm vườn, chuyên trồng cây Atisô và dâu tây để cung cấp cho người Pháp và các chợ.
    Từ năm 1954 trở đi, nhiều trại định cư của bà con Thiên Chúa Giáo từ các nơi như : Hà Nội-Hà Đông-Bắc Ninh-Hà Nam Ninh-Thái Bình được xây dựng tại Đà Lạt. Thế là xuấthiện các ấp : Du Sinh-Thánh Mẩu-Đa Minh-Đa Thiện...
    Cuối tháng 3, đầu tháng 4 được sự giúp đỡ của linh mục Mạnh Trọng Bích, khoảng 4000 bà con thiênchúa giáo của làng :Nghi Yên-Cầu Khống thuộc huyện Đức Thọ-Hà Tĩnh mới di cư vào Đà Lạt. Ngày 22-5-1955, bà con đến nơi và lập nên ấp tah1nh mẫu. Cũng vào thời điểm đó, hơn 3000 giáo dân ở Hải Phòng-Nam Định-Hà Nội-Thái Bình-Bắc Ninh được linh mục Đỗ Ngọc Bích đưa vào quả đồi thông gần trại định cư giải tán, cuộc sống quá khó khăn, một số gia đình (khoảng 2000người) đã tản mác xuống Đồng Nai và một số nơi khác. Số còn lại quyết bám trụ và sau đó trở thành một bộ phận dân cư của khóm Nam Thiên bây giờ.
    Năm 1957, khoảng 600 giáo dân của làng Phát Diệm được linh mục Mai Đức Thạc đưa vào vùng cầu đất lập nghiệp. Lúc đầu họ nhận làm sở trà cầu đất nhưng sau đó vì đời sống quá vất vả nên đã có 60 hộ lần lượt bỏ đi nơi khác, chỉ không còn quá 20 hộ ở lại.
    Nói đến những người dân đà lạt gốc Bắc còn phải kể đến bà con ở ấp Tùng Lâm-Kim Thạch, đa số là người Hà Đông-Hà Nội được các linh mục đưa đến đây để sinh cơ lập nghiệp.
    Từ năm 1957->1975, số dân miền Bắc đến Đà Lạt nhập cư không đáng kể, chỉ từ sau năm 1975 đến nay mới thật sự đông đúc do Đà Lạt tiếp nhận một số bà con từ các tỉnh phía Bắc vào làm ăn sinh sống, công tác trong các ngành của tỉnh và thành phố. Bên cạnh đó, số bà con đi xây dựng vùng kinh tế mới Lâm Hà chuyển đến Đà Lạt vả nhận nơi này làm quê hương thứ 2 của mình.
    Thực tế, cho thấy rằng người Đà Lạt gốc Bắc có ảnh hưởng đến phong cách của người Đà Lạt vì họ chiếm số lượng khá đông và trong họ có một truyền thống văn hiến lâu đời-lễ nghi-phong tục-tập quán truyền thống. Chính điều đó đã góp phần tạo nên sự phong phú về văn hóa cho cư dân Đà Lạt . phải thừa nhận rằng người Đà Lạt xưa nay vốn có phong cách tế nhị-thanh lịch nhẹ nhàng-tiếng nói giàu âm sắc là nhờ ảnh hưởng khá lớn của người gốc bắc nói chung và người Hà Nội-Thủ Đô của một đất nước 4000 năm văn hiến nói riêng.
    Bên cạnh đó, tính cần cù-chịu khó của người nghệ tĩnh cũng đã ăn sâu vào tiềm thức ngươí dân đà lạt, vì hơn ai hết, do xuất thân từ vùng quê nghèo khó-bỏng rát gió Lào ; khi đặt chân đến Đà Lạt, những con người Nghệ Tĩnh đã quyết tâm cố gắng làm ăn-tạo ra một ấp Nghệ Tĩnh giàu có và khẳng định được chỗ đứng trong cộng đồng dân cư Đà Lạt hôm nay.
    Người Đà Lạt Gốc Thừa Thiên Huế
    Trong những năm 1930, vì nạn sưu cao thuế nặng, cũng như sư o ép hà khắc cuả chế độ phong kiến và tình trạng đất đai cằn cõi những đoàn người Thưà Thiên -Huế đầu tiên đã tìm vào Đà Lạt để kiếm sống sinh nhai . Sau đó họ về lại quê nhà đùm túm vợ con và rủ người thân thích lên vùng đất tốt tươi thiên nhiên ưu đãi con người này để an cư lập nghiệp. Họ tập trung cư ngụ quanh khu vực trung tâm thành phố và dọc theo Hồ Lớn đề trồng rau và buôn bán và hình thành ấp Anh Sáng vào năm 1952 . Một trong những người sáng lập là ông Cao Minh Hiễụ thị trưởng cuả Đà Lạt và cái tên ấp Anh Sáng là do ông đặt ra từ phong trào Anh Sáng của nhóm tự lực văn đoàn.
    Nhiều cụ già kể lại : vào năm 1930 nơi đây chỉ có từ 5 đến 6 gia đình người làng Kế Môn – Phước Yên vào sinh sống với những căn chòi tranh vách lá đơn sơ. Ba anh em ông Cao Quang Kì – Cao Quang Chướng và Cao Xá là những bậc tiền bối đã có công khai sơn phá thạch vỡ hoang vúng đất này. Sau đó hàng chục hộ gia đình từ Thừa thiên – Huế thấy việc sinh sống ở đây có nhiều thuận lợi và dễ dàng nên mới kéo về đây làm ăn ngày một đông đảo.
    Năm 1946 do chiến tranh nhiều gia đình bà con thừa thiên –Huế ở ấp Anh Sáng nói riêng và dân đà lạt nói chung phải tản cư đi nơi khác. Cuối 1947 họ mới dần hồi cư quê cũ . Đến năm 1952 khi thành lập và đặt tên chính xác là ấp Anh Sáng lúc bấy giờ cũng chỉ có 36 nóc nhà gia đình được xây dựng trên lô đất bằng phẳng ven sườn đồi theo hình chữ A mái ngói – vách gỗ rộng 7,5m – dài 12m chia thành hai dãy cách nhau một lối đi mỗi nhà cách nhau 4m tạo thành một khu vực thị trấn nhỏ xinh. Đến 1893 thì dòng điện chính cho bà con ấp ánh sáng sử dụng
    Mấy năm sau do những biến cố chính trị nhiều người thưà thiên – Huế lo lắng trứớc cảnh chiến tranh ác liệt ở quê nhà nên lần lượt kẻ trước người sau kéo nhau vào Đà Lạt và họ cùng tập trung vào ấp Anh Sáng làm cho ấp này phát triển lên ngày càng trăm hộ . Năm 1955 – 1956 một số hộ bị giải tỏa họ mới rủ nhau về Thái Phiên xin cấp đất làm vườn . Một số khác lên dọc khu Hoà Bình để buôn bán . Người Thừa Thiên Huế vào Đà Lạt mang theo cả phong tục và tập quán cưới hỏi, ma chay, đình đám , hội hè càch ăn mặc chịu ảnh hưởng cuả lê 4 nghi cung đình huế vào thành phố Cao Nguyên. Người Thưà Thiên Huế thường làm nhà thờ họ – tế tư – giỗ chạp theo chu kỳ nhằm thắt chặt mối tình tương thân tương ái giữa không chỉ những người đồng hương trên quê mới cuả mình mà còn gắn bó với bà con dòng họ chốn quê nhà .
    Họ thường rất kỹ tính trong mọi việc từ cung cấp làm ăn đến sinh hoạt hằng ngày. Chiếc áo dài, chiếc nón bài thơ xứ Huế cũng từ đó có đều kiện du nhập và trở thành phong cách của nữ sinh Đà Lạt.
    Người Đà Lạt Gốc Quảng Nam – Quảng Ngãi- Bình Định – Phú Yên
    Ngược dòng lịch sử chúng ta sẽ thấy những ngươì dân Quãng nam –Quãng Ngãi –Bình Định –Phú Yên đến Đà Lạt khá sớm.Họ có mặt từ năm 1920 khi người pháp tuyển mộ phu làm đường quốc lộ 1- 11- 20 và làm đường xe lưả Tháp Chàm –Đà Lạt . Tuy nhiên kể từ khi cầu Trà Đất lập năm 1927 thì những người gốc Nam –Ngãi- Bình Phú tập trung đông nhất. Phần lớn trong số họ đến đây để làm thuê cho các chủ đồn điền người Pháp và tranh thủ khai hoang lập vườn trồng rau .
    Dân Nam-Ngãi-Bình- Phú tập trung đông nhất ở Trại Hầm-Tân Lạc –Xuân Thọ –Trại Mát– Xuân Trường. Năm 1929 làng Trường Xuân được thành lập .Từ năm 1936- 1940 làn sóng người dân Nam –Ngãi –Bình –Phú nhập cư vào thành phố này càng nhiều do điều kiện làm ăn ở quê nhà quá vất vả- khó khăn. Họ rủ nhau vào Đà Lạt lâp nghiệp và tập trung khá đông ở các khu như Nam Hồ- Nguyễn Siêu .... sinh sống bằng ngề làm vườn
    Sau năm 1954 những ngươì dân ở Quãng Nam –Quảng Ngãi kéo vào Đà Lạt ngày một đông hơn . Nguyên nhân là các vùng quê hẻo lánh bị dịch “ tảo thanh” càn quét buộc phaỉ tản cư nên thất nghiệp .Trong số đó có một số cán bộ cách mạng do bị lộ hoăc do yêu cầu công tác để tránh sư khủng bố cuả chế độ Sài Gòn nên phải tìm vào Đà Lạt để làm thuê và hoạt động cách mạng. Họ mang theo cả gia đình, vợ con vào thành phố lập nghiệp và ở khắp nơi trong Đà Lạt từ các đường : Cao Bá Quát-Xuân Thọ-Sào Nam-Thái Phiên-Đa Lợi-Xuân Thành-Trại Mát-Đa Thiện....
    Khác với người Bắc và người Thừa Thiên Huế, người Nam –Ngãi-Bình-Phú vào Đà Lạt không nhận được ân huệ, chiếu cố của chính quyền lúc bấy giờ mà (họ phải tự lực cánh sinh-xây dựng cuộc sống trên quê hương mới. Vì vậy, họ sống rất thực tế-không chú ý lắm đến hình thức và do xuất thên từ vùng đất có tinh thần thượng võ nên nhóm người này giàu ý chí-nghị lực và cá tính rõ ràng. Hay nói đúng hơn người Nam –Ngãi-Bình –Phú nhập cư vào đà lạt mang theo cả truyền thống bất khuất-kiên cường và nhiệt tình cách mạng. Từ đó, họ đã góp phần tạo nên phong trào cách mạng hào hùng của người Đà Lạt suốt mấy chục năm qua và hình thành nên phong cách “biết nâng hoa, cũng biết tát quân thù” của người dân Đa Thành.
    Người Đà Lạt Gốc Hoa
    Ngươì Hoa đến đà lạt cũng khá sớm từ những năm đầu thế kỷ XX. Thế nhưng, mãi đến năm 1935, số lượng người Hoa đến Đà Lạt để làm ăn và định cư mới thật sự rõ nét và đông đảo: 333 người. Những năm sau đó, số lượng tuy có tăng nhưng không đáng kể: năm 1944 có 360 người; năm 1952 tăng lên 752 người. Phần lớn trong số họ làm ăn trong các nghề như buôn bán-lao công-giúp việc nhà. Đến năm 1993, Đà Lạt có 2.385 người Hoa thuộc các tỉnh Quảng Đông-Hải Nam-Phúc Kiến-Triều Châu Và Sơn Đông đến Đà Lạt sinh cơ lập nghiệp. Bà con sinh sống chủ yếu ở các phường 1-2 và Xuân Trường. Số còn lại rải rác từ phường 3 đến phường 11. họ sinh sống chủ yếu bằng các nghề buôn bán- dịch vụ và các ngành tiểu thủ công nghiệp. Chính họ cũng đã góp tạo cho người Đà Lạt đặc tính khéo léo trong kinh doanh, đồng thời góp phần xây dựng thành phố này càng phát triển.
    Người Pháp Ở Đà Lạt
    Có thể nói, trong quá trình phát triển của thành phố, người Đà Lạt chịu ảnh hưởng không ít tính cách của người Pháp, bởi lẽ họ là những người đầu tiên khai sinh thành phố. Lịch sử vẫn còn ghi lại: sau chuyến thám hiểm của bác sĩ Alexandra Yersin và những người pháp đầu tiên đặt trưng lên cao nguyên Langbiang vào tháng 6-1893, đến năm 1989, ông Missigbrott quyết định ở lại lập một khu vườn rau cải và chăn nuôi gia súc ở Đankia. Tiếp theo, cùng với dự án xây dựng Đà Lạt thành một trung tâm nghĩ dưỡng của toàn quyền Đông Dương, các viên chức-binh sĩ cùng gia đình họ đã lên Đà Lạt định cư nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ cho các công sở, trường học. Bên cạnh đó, còn có những người pháp đến khai phá và xây dựng các nông trại ở Camly-Đankia-Sơn Trà-Cầu Đất. Trong những năm đầu xây dựng thành phố, số người Pháp nhập cư vào đà lạt không nhừng gia tăng; nếu 1935 chỉ có 470 người->năm 1952 lên đến 1217 người. Nhưng sau đó vì lý do khách quan, số người Pháp chọn đà đạt làm quê hương thứ 2 từng bước giảm dần chỉ còn 608 người năm 1955.
    Trước năm 1945, phần lớn người Pháp đến Đà Lạt sống trong các biệt thự phía nam thác Camly-Hồ Lớn và cư xá Decoux (gần trường trung học Trần Hưng Đạo cũ). Sau đó, họ xây dựng hàng trăm biệt thự dọc đường trần hưng đạo ngày nay và rãi rác quanh viện Pasteur Đà Lạt. Người pháp sống ở Đà Lạt có quê quán từ Paris-Nomandie-Corse-Alsace-Lorraine đến Gascogne….Chính họ không những mang đến cho thành phố những giống hoa quyến rũ của quê hương họ mà còn tạo cho bộ mặt Đà Lạt mang dáng dấp của moat thành phố Châu Au thu nhỏ với những biệt thự xinh đẹp thấp thoáng trong hoa lá, thì thầm với ngàn thông-những mái nhà thờ và tháp chuông cao vút và bên trên có con gà Gôloa như những nhà thờ ở Pháp quốc. Họ còn để lại dấu ấn khó phai trong phong cách của người Đà Lạt: không bảo thủ-cố chấp-vă minh và lịch sự

    Ẩm thực Đà Lạt
    Ẩm thực, một trong những nhu cầu không thể thiếu của du khách khi tới tham quan bất kỳ một điểm du lịch nào đó. Du lịch Đà Lạt, muốn thưởng thức các hương vị của núi rừng nơi đây, hãy dừng bên những quán cóc tuy bình dân, nhưng mang đậm phong cách của núi rừng cao nguyên.
    - Bún công (đường Phù Đổng thiên vương) ở đây có món bún bò Huết rất ngon, dân Đà Lạt và khách du lịch đến đây ăn rất là nhiều. Một tô lớn giá khoảng 18.000đ.
    - Mì Quảng: nói là Mì Quảng nhưng vị và cách nấu không giống của Quảng nam đâu nhé, mì được làm giống cọng phở nhưng có màu vàng. Nước lèo được nấu từ tôm khô, giò heo, thịt ba chỉ, củ sắn... khi ăn thì bỏ thêm vào một ít bánh tráng và đậu phộng rang. Ăn với rau xà lách Đà Lạt và tía tô, rau được xắt nhỏ như cọng chỉ, khi bỏ vào tô quyện với nước lèo và thịt. Các quán mì nổi tiếng ở Đà Lạt nằm ở đường Ấp Ánh sáng, đường Phan Đình Phùng (ngay Ngọc Hiệp), đường Hoàng Diệu, đường Nhà Chung.
    - Bánh Canh: làm từ bột năng, nấu với giò heo, nổi tiếng nhất Đà Lạt là bánh canh xuân An, ở đường Nhà Chung.

    - Bánh Căn: đường Tăng Bạt Hổ, đi theo đường này thì có đến mấy cửa tiệm bán bánh Căn (làm từ bột gạo, đổ vô khuôn cho bánh chín, có thể đổ chung với trứng cút, trứng vịt, thịt bò) ăn với nước chấm là mắm nêm hay nước mắm, có thêm viên xíu mại. Món này ăn buổi chiều rất ngon.
    - Mì hoành thánh: Mì tàu cao, nằm trên đường Phan Đình Phùng, Hoặc Mì Vĩnh lợi, đầu đường Hoàng Diệu.
    - Xắp xắp (gỏi khô bò) bò pía: đường tăng Bạt Hổ hoặc Nguyễn Văn Trỗi.
    - Chè: chè hé đường 3 tháng 2, ở đường này có 2 quán chè, khách du lịch thích ghé quán chè hé vì cửa lúc nào cũng chỉ mở hé thôi, ở đời thường cái gì nửa kín nửa hở thì ngươi ta xàng tò mò, quán chè này theo phương châm ấy. Ngoài ra còn có mấy quán chè nóng khác ở đường Tăng bạt Hổ. Bùi thị xuân.
    - Cơm chay: phan đình phùng và bùi thị xuân, dđây là 2 con đường tập trung nhiều nhà hàng chay, và quán cơm chay nhất.
    - Ở chợ Đà Lạt còn có món kem bơ rất ngon và rất đặc biệt, ngoài ra còn có các món kem khác, mùi vị cũng ngon không kém. Giá khoảng 5000đ/ly.
    HEHEH VÀ NGOÀI RA CÓ MỘT LOẠI THỨC UỐNG CŨNG KHÁ LÀ HẤP DẪN CỦA NGƯỜI DÂN HOẶC DU KHÁCH KHI ĐẾN VỚI CHỢ Đà LẠT VÀO BUỒI TỐI ĐÓ LÀ "SỮA ĐẬU NÀNH NÓNG VÀ TÀU HỦ NÓNG "NỮA ĐÓ

    Hồ Than Thở

    Từ trung tâm thành phố, du khách đi về hướng Thái Phiên hoặc Chi Lăng chừng 6 km, rẽ về hướng tay phải, men theo con đường nhỏ, du khách sẽ gặp hồ Than Thở. Con đường đất hẹp uốn lượn quanh bờ hồ phủ cỏ và vô vàng cúc dại, càng làm quang cảnh nơi đây thêm phần thơ mộng.
    Xung quanh hồ Than Thở là những câu chuyện, những truyển thuyết về tình yêu làm lay động lòng người.
    “Người ta kể rằng, cuối thế kỷ XVIII, năm 1789, vua Quang Trung từ Huế ra Bắc đánh đuổi quân xâm lược nhà Thanh. Thời ấy nghĩa sĩ các nơi đều tòng quân. Trên cao nguyên Lang Biang, bên bờ nước biếc, có đôi trai gái yêu nhau thường hò hẹn, chàng trai tên là Nguyễn Tùng và cô gái tên là Mai Nương. Khi được biết vua Quang Trung kêu gọi toàn dân Việt đánh đuổi quân Thanh xâm lược, Nguyễn Tùng đã chia tay Mai Hương lên đường theo tiếng gọi của núi sông. Ít lâu sau, nghe tin Nguyễn Tùng tử trận Mai Nương đau buồn và nàng đã chết theo người yêu. Mộ Mai Nương nằm bên bờ hồ. Không bao lâu sau, Nguyễn Tùng thắng trận trở về, biết Mai Nương không còn chàng nguyện ở vậy suốt đời cho trọn vẹn tình chung. Vài năm sau, triều đại tây Sơn sụp đổ, Nguyễn Ánh chiếm Phú Xuân. Được tin Nguyễn Tùng mất hết hy vọng, đau đớn vì tình riêng, xót xa vì vận nước, Nguyễn Tùng đã nhảy xuống hồ chết theo Mai Nương, chết theo sự nghiệp của anh hùng áo vải cờ đào. Từ đó, mỗi buổi sáng sớm hoặc khi hoàng hôn thả những tia nắng cuối ngày, ngàn thông bên hồ nổi lên khúc nhạc bi hùng như than thở và ca ngợi đôi trai tài gái sắc vì nước trọn tình. Vì thế mà người ta gọi là Hồ Than Thở. Tên hồ đã có khoảng 200 năm nay, khi người Việt đầu tiên lên Đà Lạt.”
    Chuyện xưa, tích cũ là thế, xong thực tế Hồ Than Thở khởi thuỷ chỉ là một hồ nhỏ. Về sau người Pháp cho làm đập chặn nước tạo thành hồ và đặt tên là hồ Lac Des Soupris, nhưng đến ngày 22 tháng 12 năm 1956 trở lại tên hồ Than Thở. Sau năm 1975, hồ Than Thở được gọi là hồ Sương Mai. Nhưng nhân dân Đà Lạt và du khách khi nhắc đến hồ này mọi người vẫn thường gọi là hồ Than Thở. Năm 1990, chính quyền thành phố quyết định khôi phục lại tên cũ: hồ Than Thở. Ngày nay, hồ Than Thở được tôn tạo thành một công viên giải trí với những bồn hoa, thảm cỏ, những trò chơi đu quay, xe đạp nước...nhưng vẫn giữ được nét huyền hoặc vốn là cái “hồn “ của Hồ Than Thở.

    Sự tích "Hồ Than Thở
    Hồ nằm về phía đông bắc thành phố Đà Lạt (khoảng 5 cây số). Nơi đây trước kia là một vùng hoang vu, giang sơn của những loài thảo mộc, cầm thú nhưng đã mang một sự tích bi hùng do lòng ái quốc của đôi trai tài gái sắc nước Việt.
    Cuối thu năm 1788, quân Thanh lấy cớ ủng hộ ngai vàng vua Lê sang xâm chiếm Việt Nam. Khắp trời Nam, tiếng loa rộn rã thúc giục các chàng trai tráng hiên ngang nhập ngũ dưới bóng cờ Tây Sơn để tiến ra Bắc Hà, quét sạch quân xâm lược.
    Lời hịch chiêu mộ đã đến tai Hoàng Tùng, chàng tráng sĩ đất Viễn Hương.
    Hoàng vốn dòng dõi danh gia thế phiệt. Ông cha trước kia vì không chịu nổi chế độ hà khắc của quân Minh (đời nhà Hồ) nên đã bồng bế, gồng gánh nhau tìm đường sống tự do. Đến đây, thấy cảnh hoang vu tịch mịch, non xanh, nước biếc, hợp với lòng phóng khoáng, ẩn dật của mình nên chọn làm nơi di dưỡng. Và, đặt tên Viễn Hương để ghi dấu cho một hoàn cảnh mới, cho con cháu sau này nhớ việc hồi hương.
    Trước tiếng gọi của núi sông, chàng họ Hoàng cương quyết ra đi. Nhưng trước khi lên đường, Hoàng hẹn gặp người yêu là Mai Nương để cùng đôi câu tiễn biệt. Biết đâu chiến sĩ "một ra đi là không trở về".
    Mai Nương là con một vị thổ ty sơn cước. Nàng đẹp và duyên dáng; vì may mắn được Hoàng cứu thoát tai nạn nên người ân trở thành bạn tình, rồi nhận lời gá nghĩa kết duyên. Đôi bạn định xuân sang khi hoa đào khoe sắc thắm thì sẽ xin gia đình cử hành hôn lễ. Nhưng hôm nay ... nơi hẹn của Hoàng được định trong rùng Kỳ Ngộ, bên bờ suối Dịu Hiền.
    Gặp nhau, sau khi nói qua cho Mai Nương biết ý định của mình, Hoàng Tùng đau đớn ngồi trầm lặng. Bên nước, bên tình, dù con người khí khái thế mấy cũng không khỏi quyến luyến, bâng khuâng.
    Sự trầm lặng của Hoàng làm cho Mai Nương hiểu lầm. Nàng tưởng người yêu hoài nghi lòng trung trinh của nàng. Dịu dàng, nàng hẹn với chàng là hôm sau cũng giờ này, tại đây, nàng sẽ có quà tặng người bạn tình anh dũng trước khi xách kiếm ra đi.
    Nhưng hôm sau...
    Mai Nương đến trước giờ hẹn. Nàng ngồi bên dòng suối than thở cho duyên kiếp bẽ bàng. Rồi muốn cho người yêu hiểu lòng nàng để dứt mối băn khoăn, nàng thấy chỉ còn cái chết mới để cho chàng yên tâm rằng Mai Nương của chàng bao giờ cũng là vợ của chàng, dù sau này chàng vinh quang trở về hay đã ngã gục giữa chiến trường... Nghĩ vậy, nàng khóc lóc một lúc, gọi tên người yêu mấy lần, đoạn nhắm mắt nhảy xuống dòng nước.
    Hoàng Tùng đến đúng giờ hẹn. Nhưng lạ thay, chàng ngơ ngác không tìm ra chỗ cũ. Thì ra, cảm lòng người liệt nữ, chim muông cây cỏ trong rừng đều khóc, nước chảy xuống nơi Mai Nương tuẫn tiết làm thành một giếng sâu, và hai bên đầu suối bít lại. Nơi Mai Nương trầm mình bỗng biến thành một hồ rộng rãi, im lặng bên rừng Kỳ Ngộ.
    Sau khi xác nàng nổi lên, dân làng hiểu chuyện lấy làm cảm động, đặt tên hồ này là hồ Than Thở để ghi lại phút cuối cùng của người sơn nữ đã hy sinh cuộc đời cho người yêu yên tâm, làm tròn nghĩa vụ.
    Một thi sĩ thương xót cho cảnh ngộ của đôi trai tài gái sắc trung trinh, nên diễn thành một bài trường ca nhẹ nhàng, ai oán:

     

    Nhớ thuở ấy lòng đau khôn xiết,
    Ngó non sông dân Việt lầm than...
    Cảnh bày: Nước loạn, nhà tan.
    Giặc Thanh giày xéo tan hoang cõi bờ.
    Rửa hận nước phất cờ vung kiếm.
    Đấng anh hùng họ Nguyễn Quang Trung
    Ra tay ngang dọc vẫy vùng,
    Thề đâu chịu đội trời chung phen này?
    Hịch chiêu hiền đó đây rộn rực,
    Trống mộ quân tập kích quân thù.
    Một phen giành lại cõi bờ,
    Một phen dựng lại cơ đồ nhà Nam.
    Hoàng Tùng vốn trang anh tuấn,
    Quyết ra đi rửa hận non sông.
    Tấm thân coi tựa bông hồng,
    Mong sao một tiếng anh hùng còn ghi...
    Thảm một nỗi biệt ly cắc cớ
    Cùng Mai Nương đâu nỡ chia tay?
    Ra đi ngàn dặm nước mây,
    Biết đâu còn lại có ngày thấy nhau?
    Chàng tần ngần lòng đau khôn tả,
    Nàng héo hon tấc dạ khôn khuâỵ
    Hết nhìn nhau lại cầm tay,
    Hỡi khuôn thiêng thấu nỗi này chăng?
    Nàng thổn thức hẹn chàng gặp lại,
    Suối Dịu Hiền sẽ lại cùng nhau
    Chân tơ kẽ tóc gót đầu
    Bên rừng Kỳ Ngộ đôi câu tạ từ.
    Nào có ngờ xót xa nỗi ấy,
    Luống e chàng áy náy khôn nguôi.
    Chiến trường biên ải xa xôi,
    Chữ trinh thiếp có vẹn mười cho không?
    Càng canh cánh bên lòng thắc mắc
    Thà nén tâm gạt phắt thường tình.
    Cho chàng thỏa chí bình sinh,
    Diệt thù thỏa nguyện tâm tình nước non.
    Bên dòng nước, Mai Nương lén bước
    Từ tinh sương, rảo trước bóng chàng.
    Đoái nhìn rừng thẳm mênh mang
    Thảm nghe dòng suối thở than não nề...
    Rồi một phút như mê như tỉnh,
    Gọi Hoàng Tùng lanh lảnh xa đưa.
    Gọi rồi đôi mắt lệ mờ,
    Tấm thân gieo nặng dưới hồ nước sâu.
    Bỗng gió thảm mưa sầu dồn dập,
    Khắp núi đồi: Chim khóc, muông than
    Hoa rừng tràn lệ chứa chan,
    Đất trời như cũng thảm thương não tình.
    Chàng thất thểu đinh ninh lần tới
    Tìm tình nương chân mỏi, mắt mờ.
    Bốn bên vắng lạnh như tờ,
    Mênh mông hồ rộng, nước lờ đờ trôi...
    Đôi hàng lệ: "Mai Nương ơi hỡi!
    Vì đâu mà chín suối xa chơi?
    Âm dương cách biệt đôi nơi,
    Lệ sầu như nước xanh trôi lững lờ.
    Khôn thiêng em hãy đợi chờ.
    Mặt hồ Than thở bây giờ là đây
    Mai Nương nàng hỡi có hay?"

    "Lâu đài mạng nhện" - chốn thiên thai giữa... cõi trần
    Nằm trên con dốc thoai thoải ở đường Huỳnh Thúc Kháng thuộc phường 4, ngôi nhà kỳ dị ẩn hiện trong sương sớm Đà Lạt như một lâu đài đầy bí ẩn. Cũng chính vì vẻ ngoài xù xì và kiến trúc khác lạ như thế mà du khách đến Đà Lạt đều mong muốn được khám phá công trình kiến trúc độc đáo có một không hai này.
    Hằng năm, công trình kiến trúc này thu hút hàng chục ngàn du khách đến tham quan bởi vẻ đẹp bí ẩn và kỳ quái của nó. Đến Đà Lạt mà chưa đến Lâu đài mạng nhện thì xem như chưa biết gì về Đà Lạt cả.

    Được xây dựng từ năm 1990, trên diện tích hơn 1.600m2 bắt nguồn từ ý tưởng đưa con người trở lại gần gũi, yêu mến với thiên nhiên và không nên tàn phá thiên nhiên một cách vô tội vạ. Ngôi nhà kỳ dị (tên gọi ban đầu là Biệt thự Hằng Nga) là một công trình kiến trúc phá cách bằng những hình khối tự do, những đường cong uốn éo theo hình thù của những gốc cây, những chiếc rễ...
    Bước qua cánh cổng gỗ xù xì, du khách viếng thăm sẽ ngỡ ngàng với những cảnh vật hiện ra trước mắt. Phía bên trái là phòng trưng bày hình ảnh và những dòng cảm xúc của du khách thập phương khi đến tham quan công trình này. Tiếp đến là lối đi dẫn lên những căn phòng nhỏ của công trình, trông chúng giống như những gốc cây cổ thụ to đùng, còn lối đi là những rễ cây chằng chịt.
    Vào trong công trình, du khách như lạc vào một mê cung, mà ở đó từng con đường dẫn tới một phòng nhỏ khác nhau. Ngôi nhà này có nhiều tầng, mỗi tầng là một phòng nghỉ với đầy đủ tiện nghi hiện đại. Mỗi phòng được thiết kế mang tên một loài thú hoang dã như phòng cọp, phòng gấu, phòng quả bầu, phòng kangaroo, phòng thỏ, phòng chim trĩ...
    Các dụng cụ trong căn phòng ngủ cũng rất đặc biệt, đa số đều được làm bằng gỗ và chúng phải... xù xì, gân guốc, kỳ dị như chính kiến trúc bên ngoài của ngôi nhà này vậy. Cầu thang liên thông giữa những căn phòng này giống như những dây leo khổng lồ ôm lấy thân cây cổ thụ. Những ô cửa lồi, lõm như những mắt cây trông rất ngộ nghĩnh.
    Từ khu nhà bên trái, du khách theo lối đi vòng vèo để xuống gian giữa của ngôi nhà - nơi đặt phòng thờ cố Tổng Bí thư Trường Chinh và phu nhân. Hẳn mọi người sẽ ngạc nhiên bởi tại sao trong ngôi nhà kỳ quái này lại có phòng thờ cố Tổng Bí thư, đơn giản bởi chủ nhân của ngôi nhà này là kiến trúc sư Đặng Việt Nga, con gái thứ hai của cố Tổng bí thư Trường Chinh.
    Phía bên phải của công trình này là nhà tổ kiến đang được xây dựng dở dang, ở dưới là khu vườn với những lối đi nhỏ có dây leo chằng chịt và mạng nhện nhân tạo giăng khắp nơi. Lồng trong khu cảnh đó là cỏ cây, hoa lá, những chiếc cầu nhỏ, những bức tượng với nhiều chất liệu khác nhau... tất cả tạo cho du khách tham quan có cảm giác như đang lạc vào một khu rừng đầy bí ẩn nào đó.
    Nhiều khách du lịch nước ngoài khi đến tham quan công trình này đã hết sức ngạc nhiên và thích thú, nhiều người đi ba, bốn vòng để ngắm nhìn hết mọi góc cạnh độc đáo của ngôi nhà. Đứng từ nơi cao nhất của ngôi nhà, du khách có thể thu vào tầm mắt những mái nhà nhấp nhô ở khu trung tâm Đà Lạt, những rặng thông già, những con đường vắng với hoa dã quỳ vàng rực bên những con dốc thoai thoải.
    Trong không khí bãng lãng của sương khói Đà Lạt vào một buổi sớm mai, ta vô tình bước ngang qua ngôi nhà này, hãy dừng chân ngắm nhìn và chiêm ngưỡng để thấy hết vẻ đẹp bí ẩn của một công trình độc đáo có một không hai ở Việt Nam. Sau nhiều năm không được thừa nhận, mới đây, chính quyền tỉnh Lâm Đồng đã chính thức công nhận đây là một công trình kiến trúc có tính nghệ thuật độc đáo và cho mở cửa để du khách trong và ngoài nước đến tham quan.

    Trà Ô Long trên đồi bauxite
    Mười năm trước, khi giá cà phê rớt thảm chỉ còn 4.000 đồng/kg, ở xã Lộc Phát (thị xã Bảo Lộc, lâm đồng) có một đại lý thu mua cà phê của nông dân bị đổ nợ đến 3 tỉ đồng. Hai vợ chồng chủ đại lý thay vì “chạy làng”, bỏ trốn như thường thấy ở Tây nguyên thì đi “vái lạy” bà con thương tình cho khất nợ. Thế rồi họ cầm cố hết tài sản còn lại làm vốn, vào vùng sâu ở huyện Bảo Lâm tìm đất trồng trà để mong trả cho hết nợ...
    Nhìn những trang trại trà Ô Long mênh mông do người Đài Loan đầu tư khắp cao nguyên Bảo Lộc, Di Linh, ông Nguyễn Bình Đông và bà Trần Thị Kính thầm ao ước. Nhưng muốn trồng trà quy mô lớn thì họ phải vay vốn và vay thật nhiều...
    Nước mắt phải tính bằng thùng phuy
    Đã có lúc, trong năm 2008, cái trang trại quá rộng vượt khỏi sức chịu đựng của đôi vợ chồng nông dân nghèo vốn liếng. Khi ấy, vì giá trà đọt xuống quá thấp, họ đành phải chọn cách bin (chặt ngang cho bụi trà “ngủ” suốt năm) tới 55ha trà đang độ sung sức cho đọt để không tốn chi phí nuôi dưỡng, bởi nếu không hi sinh như thế mỗi tuần họ phải đổ vào các đồi trà 50-70 triệu đồng. Bà Kính ngậm ngùi bảo rằng nếu có thể đong được thì nước mắt họ đổ xuống trang trại trồng trà này “phải tính bằng thùng phuy”.
    Những vùng đất màu mỡ lý tưởng cho cây trà phát triển ở Bảo Lộc, Bảo Lâm, Di Linh... đã được các doanh nghiệp Đài Loan và các công ty hoạt động bằng vốn nước ngoài “xí phần” thông qua những dự án thuê đất dài hạn. Hai vợ chồng lang thang khắp các vùng xa tít của huyện Bảo Lâm với hi vọng tìm thấy những mảnh đất đã bị người khác chê vì quá xấu. Một ngày nọ, họ đến vùng đồi núi hoang vu ở cuối xã Lộc Ngãi, nơi ngay bên dưới lớp đất là quặng bauxite.
    Đất càng xấu giá càng rẻ. Những tháng ngày kế tiếp, họ la cà đến các làng hỏi thăm và tìm mua lại những mảnh đất ấy. “Phải trồng được trà giống như các đại gia, như các ông chủ Đài Loan, với các giống trà cao cấp Kim Tuyên, Ngọc Thúy, Tứ Quý, Ô Long. Có vậy mới bán được trà với giá cao, mới nhanh trả xong nợ!” - ông Đông kể.
    Cứ vậy, từ mảnh đất bauxite hoang tàn nhỏ lẻ đầu tiên, họ mua gom dần thêm những mảnh đất khác xung quanh khi có người muốn “tống” (bán) nó đi, bằng tiền cóp nhặt được từ những luống trà trồng năm trước và từ những ký heo hơi, kể cả những tấn phân heo họ có được. Trang trại trồng trà rộng đến 111ha hiện nay của ông Đông - bà Kính được mua gom từ 56 “chủ đất”!
    Suốt 10 năm qua, vợ chồng họ gần như chưa nghỉ ngơi bao giờ. Thời gian đầu họ dựng lều trên đồi, làm quần quật cả ngày để mong sớm có trà đem bán trả nợ, bởi lúc này tổng số tiền vay nợ đầu tư trồng trà cao cấp đã lên đến 20 tỉ đồng! Lãi mẹ đẻ lãi con, nợ mới chồng lên nợ cũ...
    Trong khi ở các trang trại trồng trà Ô Long cao cấp của các doanh nhân Đài Loan có đầy đủ phương tiện kỹ thuật, trà được bón bằng phân vi sinh tốt nhất, bằng cả sữa bò tươi (pha ngâm để xịt lên lá cho trà tươi tốt, mỡ màng) thì ở trang trại của ông Đông - bà Kính, chủ nhân phải vắt sức làm việc như công nhân, phải mò mẫm kỹ thuật trồng sao cho trà tươi tốt, không bị sâu bệnh. Trà của họ cũng được “tắm” sữa nhưng là thứ sữa tươi đã bắt đầu chuyển mùi hoặc thứ sữa bột quá đát mà họ săn lùng được với giá thật rẻ.
    Đồng trà sinh thái
    Lâu nay hình ảnh thường gặp trên “vương quốc trà” Bảo Lộc là những nương trà thẳng tắp, ngút ngàn chỉ cao quá bụng người. Nhưng khi lạc vào vùng trà của đôi vợ chồng Đông - Kính, người ta đi giữa những luống trà rợp bóng cây xanh.
    Ban sơ, tiền thân của những đồi trà ở Tây nguyên là những cánh rừng, nhưng giờ đây chỉ trang trại trồng trà của đôi vợ chồng Đông - Kính còn dáng vẻ của rừng nhờ rừng cây được gìn giữ. “Giữ lại cây xanh cũng là cách để vườn trà có tình hơn, êm ái hơn và cũng để cho con suối dưới kia còn có nước” - bà Kính 54 tuổi (kém chồng một tuổi), chưa học hết tiểu học, bày tỏ. Không chỉ giữ lại cây rừng nguyên sinh, họ còn trồng thêm rất nhiều thông và hàng trăm ngàn cây muồng đen, hàng vạn cây gió bầu để có bóng mát cho trà. Ông Đông gọi nương trà của mình là “đồng trà sinh thái”.
    Trên các luống trà đọt ra tươi tốt là những phụ nữ dân tộc Châu Mạ đeo gùi hái trà - hình ảnh đông vui, nhộn nhịp không thua kém bất cứ trang trại lớn nào do người nước ngoài đầu tư, quản lý vào vụ thu hoạch. Chỉ khác là vợ chồng chủ nhân ăn mặc tuềnh toàng, hòa mình trong dòng người hái trà hăng ngày. Họ chỉ nhận người Châu Mạ làm việc vì “trong các buôn làng vùng sâu này bà con ta vẫn còn quá thiếu việc làm” như lời ông Đông.
    Dạo bước trong “đồng trà sinh thái” ấy, ta cảm nhận được tức thì sự yên bình, thanh sạch. Trên các sườn đồi, có lắp đặt hệ thống tưới nước tiết kiệm bằng ống tưới nhỏ giọt ngầm trong đất hay hệ thống tưới phun tự động để những luống trà luôn được mát mẻ. Công đoạn tưới chỉ diễn ra vào mờ sáng hoặc đêm về để nước không mau bốc hơi. Nước được hút từ suối lên, chứa trên hồ treo ở đỉnh đồi để lắng lọc sạch trước khi tưới. Với hàng vạn mét dây đường ống và 14 chiếc máy nổ đặt ở nhiều vị trí nhưng công việc tưới trà có khi chỉ cần một người.
    Ngoài phân bón vi sinh và thuốc trừ sâu vi sinh, chất dinh dưỡng chính cho trà là bã đậu nành, bánh dầu phộng, rong biển, sữa bò (mỗi tháng sử dụng ít nhất 300 hộp)... Đây đó trên các lối đi trong trang trại là những thùng rác với dòng chữ “Làm ơn bỏ rác vào thùng”. Bên trong khu nhà ở cho công nhân có tủ thuốc với những thứ thuốc men thường dùng và y cụ sơ cứu. Kho chứa phân bón, thuốc trừ sâu, khu tắm giặt của người lao động nằm tách biệt với chỗ ngủ, chòi nghỉ...
    Trên hết là trà trồng ra được thu hái ở nông trang Đông - Kính chất lượng không thua kém bất cứ đồng trà Đài Loan nào ở Bảo Lộc, Bảo Lâm, Di Linh hay Cầu Đất (Đà Lạt). Chính một số doanh nhân trồng trà người Đài Loan khi nghe đồn, tìm vào đây tham quan cũng ngỡ ngàng và thán phục trước một nông trang trà với bản sắc riêng độc đáo.
    Gặp chuyên gia về cây trà hàng đầu của VN hiện nay - tiến sĩ Phạm S (phó giám đốc Sở NN&PTNT Lâm Đồng), ông bảo: “Đây là nông trang tuyệt vời, một mô hình mẫu mực cho nền canh nông hiện đại. Chúng tôi đang đề xuất cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn GlobalGAP (tiêu chuẩn quốc tế về vệ sinh an toàn thực phẩm) cho nông trại trà của họ”.
    Giấc mơ danh trà
    Khi những luống trà đầu tiên ra đọt, hai vợ chồng chở từng bao bán cho một hãng trà nổi tiếng ở Bảo Lộc. Chuyện mua bán không trôi chảy, những lứa trà sau đó họ tìm đến những trang trại của các ông chủ Đài Loan cũng trên địa bàn Bảo Lâm. Trà “sinh thái” Đông - Kính thế là thành trà Đài Loan!
    Chỉ mấy năm sau, do được nhìn tận mắt quy trình trồng và chăm bón đồng trà của đôi vợ chồng Đông - Kính, Công ty chế biến nông sản Phương Nam ở Bảo Lộc mới đồng ý bao tiêu tất cả trà của họ. Trà Ô Long vừa hái phải được đưa vào nhà máy chế biến ngay để giữ tinh chất và hương thơm. Đồng trà Đông - Kính cách xưởng chế biến của Phương Nam hơn 35km. Cuối năm 2007, họ đem trang trại của mình thế chấp, vay tiền sắm hai chiếc xe tải nhẹ Isuzu để chở trà vừa hái đem chế biến ngay. Năm 2008 đầy khó khăn, trà rớt giá trong khi giá phân bón tăng vọt, họ phải bán đi một chiếc để nuôi đồng trà...
    Tháng 8-2009, màu xanh đã trở lại với đồng trà sinh thái ấy sau gần một năm bị “kềm” phát triển. Những cô gái Châu Mạ cho biết từ khi có đồng trà của ông bà Đông - Kính, mỗi ngày họ có được từ 7-10kg gạo, không còn cảnh ngồi không và cũng không phải sang tận xã Lộc Tân để hái trà cho các ông chủ Đài Loan.
    Đi trong không khí nô nức ấy, bà Kính vẫn chạnh lòng: “Cứ mỗi lần ra thị xã Bảo Lộc, ngang phố trà đoạn trên quốc lộ 20, nhìn thấy nhãn hiệu các danh trà, chúng tôi cứ ao ước giá đồng trà của mình cũng có được một nhãn hiệu như thế. Bán hàng tinh như họ chắc chắn phải thu lợi được nhiều hơn bán trà đọt thô như chúng tôi”.
    Biệt điện Trần Lệ Xuân ở Đà Lạt
    Những ngôi biệt thự nằm len lỏi trên những đồi thông của thành phố Đà Lạt đã trở nên rất quen thuộc nhưng cũng thật lạ lùng với nhiều du khách.
    Chắc hẳn nhiều người đến Đà Lạt đã từng được nghe những cái tên như “ngôi nhà ma” hay “biệt thự hoang vu” không người ở với biết bao câu chuyện được kể với độ rùng rợn và ly kỳ cao; nhưng có lẽ nhiều người chưa biết nhiều về ngôi biệt điện của Trần Lệ Xuân tại Đà Lạt, một ngôi biệt điện không kém phần xa hoa lộng lẫy nhưng cũng đầy bí ẩn. Theo nhiều người dân sống xung quanh khu biệt điện đó kể lại thì nó rất nổi tiếng, nổi tiếng đến độ sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ thì người dân đã đổ xô đến để xem. Vậy điều gì đã khiến ngôi biệt điện này nổi tiếng đến thế?
    Trước hết chủ nhân của ngôi biệt điện này không ai khác là Ngô Đình Nhu và Trần Lệ Xuân (em trai và em dâu của Ngô Đình Diệm - tổng thống chính quyền Sài Gòn giai đoạn 1955-1963), đôi vợ chồng giàu có và đầy quyền lực thời bấy giờ. Sự giàu có ấy chỉ được tiết lộ khi báo chí nước ngoài thời ấy cho biết tài sản của Lệ Xuân lên đến 18 tỉ USD, ám chỉ số tiền gửi trong các ngân hàng nước ngoài từ năm 1956, khi gia đình họ Ngô bắt đầu lên nắm quyền tại miền Nam.
    Trong Việt Nam nhân chứng, Trần Văn Đôn viết về khu biệt thự lộng lẫy này như sau: “Họ (ông bà Nhu) có xây một khu nhà ở trên Đà Lạt, gồm ba ngôi nhà có hồ tắm, sân đánh tennis. Xây mãi không xong vì bà Nhu đổi ý kiến hoài nên đến ngày đảo chính 1-11-1963 vẫn chưa hoàn thành”.
    Đỗ Mậu - một tướng quân đội Sài Gòn - viết qua hồi ký như sau: “Tướng Đôn và bà Nhu là đôi bạn chí thân từ năm 1948. Tướng Đôn biết rõ sự nghiệp và cuộc đời của bà Nhu cũng như ngôi nhà của bà ta tại Đà Lạt. Tướng Đôn quên kể cái vườn hoa rộng lớn có thể được gọi là bát ngát trong sân trước, quên cả rừng thông trên ngọn đồi của lâu đài được sắp đặt và vun xới công phu, quên cả cái hồ sen hình địa đồ Việt Nam mà bà Nhu đã mời kỹ sư Nhật Bản đến Việt Nam hai lần để thiết kế và xây cất cái hồ đặc biệt đó”.
    Trên thực tế, bây giờ người ta vẫn gọi khu biệt thự ở số 2 Yết Kiêu, Đà Lạt là khu biệt điện Trần Lệ Xuân. Khu này được xây dựng trên một quả đồi có tên là Lam Sơn với diện tích hơn 13.000m2 đất, với các hạng mục chính như sau:
    Biệt thự Bạch Ngọc và hồ bơi nước nóng, nơi giải trí của gia đình Lệ Xuân. Tọa lạc ngay trên một quả đồi, khu biệt điện hiện lên lộng lẫy hơn khi có một hồ bơi nước nóng với sức chứa hơn 300m3 nước để xua đi cái lạnh của thành phố cao nguyên này. Nơi đây còn là một không gian đầy lãng mạn, từ vọng lâu của biệt điện có thể phóng tầm mắt ngắm những đồi thông xanh ngắt chập chùng.
    Biệt thự Lam Ngọc được trang bị hiện đại bậc nhất thời đó. Có phòng làm việc, hội họp, phòng nhảy, phòng trang điểm của Lệ Xuân, nhà được trang bị lò sưởi kiểu Pháp. Trong biệt thự này có đường hầm thoát hiểm nội bộ và hầm trú ẩn với nắp hầm được làm bằng một loại thép đặc biệt đạn bắn không thủng, bên dưới hầm được thiết kế rộng rãi, đủ chỗ cho hơn mười người trú ẩn.
    Biệt thự Hồng Ngọc thường gọi là biệt thự Trần Văn Chương. Ngôi biệt thự này Trần Lệ Xuân xây cho bố đẻ là Trần Văn Chương khi ấy đang làm đại sứ của chính quyền Diệm ở Mỹ. Công trình chưa hoàn thành thì chế độ Diệm bị lật đổ.
    Vườn hoa Nhật Bản nằm phía sau biệt thự Lam Ngọc (do kỹ sư Nhật thiết kế nên gọi là vườn hoa Nhật Bản). Trong vườn hoa Nhật Bản có hồ nước, khi bơm nước đầy hiện rõ hình bản đồ Việt Nam. Và hai khu nhà dành cho đơn vị bảo vệ, canh gác. Vườn hoa Nhật Bản có thác nước, nhiều loài hoa đẹp và được chăm sóc rất công phu.
    Sau cuộc đảo chính 1-11-1963, tài sản gia đình họ Ngô bị tịch thu, khu biệt điện Trần Lệ Xuân được chế độ Sài Gòn dùng làm khu bảo tàng sắc tộc Tây nguyên. Sau 30-4-1975, khu biệt điện này được giao cho Sở Du lịch Lâm Đồng quản lý. Năm 1984, tỉnh Lâm Đồng giao lại cho Cục Lưu trữ nhà nước (nay là Cục Văn thư và lưu trữ nhà nước) quản lý để làm nơi bảo quản khối tài liệu mộc bản triều Nguyễn.
    Kể từ tháng 8-2006, khu biệt thự Trần Lệ Xuân trở thành trụ sở chính của Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.
    Ngày nay, biệt điện Trần Lệ Xuân không còn bí ẩn nữa khi được trùng tu, tôn tạo để giữ lại vẻ đẹp diễm lệ xưa. Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV, cơ quan chủ quản khu biệt điện, đã khai trương khu trưng bày triển lãm tài liệu lưu trữ quốc gia ngay trong khuôn viên biệt điện, mở cửa đón các nhà nghiên cứu, du khách trong và ngoài nước, những người quan tâm đến lịch sử và văn hóa Việt Nam.
    Còn ông Đông cho biết xây dựng một nhà xưởng ngay tại nông trang như mô hình làm trà trên thế giới còn quá xa vời với vợ chồng ông, nhưng khả năng thanh toán hết nợ đã rõ dần. Riêng tôi biết trong số các danh trà kia, có hãng không trồng lấy một cây trà nhưng vẫn sống khỏe và vẫn nổi tiếng suốt mấy chục năm qua chỉ nhờ mua trà của nông dân về chế biến, đóng gói, đưa ra thị trường...

    Nghệ thuật kiến trúc ngôi nhà chung của Chúa và Yàng
    Nhà thờ Cam Ly (Đà Lạt) được xây dựng nǎm 1959, là một công trình kiến trúc độc đáo dành cho đồng bàocông giáo các dân tộc thiểu số, với hình dáng của nhà rông Tây Nguyên cùng hình tượng các loài vật linh thiêng và quen thuộc...
    Trong số gần 100 công trình kiến trúc công giáo xuất hiện ở Đà Lạt từ thập niên 20 đến thập niên 60 của thế kỷ vừa rồi, nhà thờ Cam Ly được xây dựng riêng cho đồng bào các dân tộc thiểu số vì thế mang một sắc thái độc đáo, khác hẳn với các giáo đường dành cho người Kinh. Những người tạo tác nên ngôi nhà thờ đã thể hiện sự "hội nhập vǎn hóa" qua nghệ thuật kiếntrúc khi cho gương mặt chúa trời hòa nhập với gương mặt của Yàng (trời) mà những người dân nơi đây đã nghìn nǎm sùng bái.
    Khai sinh ra ý tưởng về ngôi nhà chung của Chúa và Yàng là linh mục người pháp Boutary và người thể hiện thành công ý tưởng này là nhà thầu Nguyễn Thanh Hồ. Công trình được khởi công vào cuối nǎm 1959 và hoàn thành tám nǎm sau đó. Cách không xa dòng thác Cam Ly, trên mộtquả đồi thơ mộng mà diện tích ban đầu khoảng 20 ha, nhìn bên ngoài toàn bộ giáo đường tựa như một ngôi nhà rông của đồng bào Tây Nguyên. Hai mái nhà nhìn ngang giống như lưỡi rìu, dốc đứng 17 m được lợp bằng 80.000 viên ngói với tổng trọng lượng tương đương 90 tấn. Để chịu đựng được sức nặng của ngôi nhà với cột, kèo, giằng bằng bê-tông, sắt và gỗ, móng của công trình đã được gia cố hết sức kỹ lưỡng. Riêng phần móng nhà thầu đã phải cật lực làm trong vòng nửa nǎm.
    Trước cổng chính nhà thờ là hai hình tượng hổ và phượng hoàng - những loài vật quen thuộc trong hiện thực và trong ý thức của đồng bào thiểu số. Hổ tượng trưng cho sức mạnh và phượng hoàng thể hiện sự tinh khôn. Mặt khác, các nhà tạo tác cũng ngầm ví von các cư dân Thượng bản tính gần với tự nhiên vốn như chúa sơn lâm nhưng đã trở nên tốt lành, thanh dịu như chim phượng nhờ các tín điều tôn giáo. Cùng tư duy đó, nội thất thánh đường còn xuất hiện nhiều hình ảnh các loài vật khác thể hiện bản tính của chúng, như sự trong sáng của nai, sự gần gũi của chim và cá... Đặc biệt bên cung thánh bằng gỗ thông dưới chân thánh giá có treo ba đầu trâu theo thứ tự cao thấp. Trâu là linh vật mà người thiểu số ở Tây Nguyên thường dùng làm vật phẩm để "giao tiếp" với Yàng của họ, trong trường hợp này là kính dâng Thiên Chúa như một thông điệp biểu lộ lòng sùng kính.
    Sau ba khung cửa lớn là nội thất giáo đường với diện tích gần 400 m2, một không gian vừa u huyền, thâm nghiêm vừa khoáng đạt, phóng túng. Cảm giác đó có được là do hiệu quả các giải pháp kiến trúc. Nối với những bức tường lửng có độ cao khoảng 3m được xây bằng đá chẻ là hệ thống cửa kính mầu xanh-nâu-vàng trong các khung gỗ. Các khung cửa liền nhau và giáp mái này cùng với 20 vì kèo tương ứng đều cách điệu hoa vǎn Tây Nguyên mà chủ đạo là hình vuông và hình tam giác - tượng trưng cho mặt trǎng và mặt trời trong môtip bản địa về quan niệm vũ trụ. Đối xứng phải trái là 16 bức tranh đá trong đó có 14 bức diễn tả các chặng thương khó của Chúa Jesus và ngày ngài thọ nạn, phục sinh...
    Ở ngôi nhà chung của Chúa và Yàng, cùng với nghệ thuật sắp đặt và các giải pháp kiến trúc, các nhà tạo tác đã kết hợp hài hòa và thành công giữa tư duy mộc mạc, tự nhiên của đồng bào các dân tộc thiểu số với triết lý tôn giáo nhân bản và sâu sắc.

    Huyền thoại "Nữ chúa rừng xanh"

    Với người Kơ Ho ở vùng Đồng Nai Thượng, Nữ chúa rừng xanh - Ka Nhỗi đã trở thành nhân vật huyền thoại. Cuộc kháng chiến chống Pháp của nghĩa quân chân trần Ka Nhỗi cũng đi vào lịch sử như một huyền thoại.
    Đã thành thông lệ, cứ đến tháng 8 hàng năm là tôi về lại quê hương của Nữ chúa rừng xanh. Đó là một làng quê của người Kơ Ho ven trục lộ 20 cách Đà Lạt 80 km, có tên gọi là Dongr Dor (nay thuộc xã Đinh Lạc, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng). Đồng Nai Thượng là cái nôi của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ và là quê hương của những huyền thoại về người đàn bà tóc trắng, thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa...
    NHỮNG DÒNG TƯ LIỆU
    Trong cuốn "Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng" do Sở VH-TT Lâm Đồng xuất bản năm 1983 viết: "Với nội dung là đoàn kết, đấu tranh chống ngoại xâm, phong trào Mọ Kộ (tên gọi khác của Ka Nhỗi - Nữ chúa rừng xanh) ở Lâm Đồng (Đồng Nai Thượng) lúc bấy giờ đã tập hợp được 10.000 đồng bào các dân tộc trong tỉnh tham gia chống Pháp... Cùng với sự chuẩn bị về tài chính, vũ khí, họ cũng đã bắt đầu chú ý về mặt tổ chức. Phong trào có tính chất tự quản đối với bộ máy của bọn thực dân trong vùng đồng bào dân tộc ít người...". Sử ghi là thế. Đọc nghe khô khốc, Nhưng K'Sen, vị cận thần của Nữ chúa rừng xanh kể cho tôi nghe thì hấp dẫn hơn nhiều. Trong đêm tuyên thệ, Nữ chúa rừng xanh đứng đó. Mái tóc dài của bà buông thõng, trắng xóa, ánh mắt rực lửa căm hờn thẳng nhìn về phía trước: "Rạp nen an se, Bo Krong... Chau go! Cau lec mu, lec mac, hat mong, dhau yô, choujoh... Trâu đã giết! Hỡi thần linh, đến uống đi! Đến uống nào, hãy đến đây tất cả... Hỡi các thần! Hãy giết hết bọn thực dân Pháp xâm lược! Để cho người Thượng, người Chăm, người Việt Nam cùng nhau chung sống trong hòa bình, ấm no, hạnh phúc". Tôi đọc tiếp những dòng trong cuốn sách nói trên: "Nếu bỏ đi những yếu tố hoang đường, lời cầu nguyện ấy có nội dung động viên đoàn kết các dân tộc ở Việt Nam đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm, cùng nhau xây dựng cuộc sống mới, một cuộc sống đoàn kết, tương trợ, bình đẳng giữa các dân tộc...". Còn đây là cách diễn đạt của già làng K'Sen: Sau lời tuyên thệ, nước thánh Da Yơn được phân phát cho nghĩa quân. Có nghĩa là sức mạnh được truyền vào đôi tay - đôi tay rắn, truyền vào đôi chân - đôi chân khỏe. Đoàn quân nguyện một lòng giữ yên núi rừng Tây Nguyên. Một vạn nghĩa quân Kơ Ho dưới sự chỉ huy của Nữ chúa rừng xanh tuyên thệ trước núi rừng rằng không đội trời chung với giặc Pháp. Họ quyên góp tiền xu để làm mũi tên đồng, quyên góp và sản xuất hàng tấn lương thực để nuôi quân, chuẩn bị kháng chiến chống Pháp.
    Sau báo cáo "Cuộc bạo loạn của người Thượng tại Đồng Nai Thượng" của Công sứ Pháp tại tỉnh Đồng Nai Thượng gửi Khâm sứ Trung kỳ, thực dân Pháp tổ chức cuộc bao vây căn cứ Dongr Dor nhiều ngày đêm liền. Mọ Kộ và toàn bộ ban tham mưu của nghĩa quân bị bắt. Khâm sứ Trung kỳ kết án Nữ chúa rừng xanh và "đồng bọn" - trong đó có K'Sen (tài liệu của Pháp ghi là K'Soun), vị cận thần của Nữ chủ tướng - hai mươi năm tù khổ sai, đầy ra Côn Đảo.
    MỐI TÌNH THÁNH THIỆN
    Tháng 8 mưa phân vân. Trên đường Đà Lạt đi Di Linh - quê hương của Nữ chúa rừng xanh, tôi cứ lo ngại là sẽ không gặp được già làng K'Sen, vị cận thần của Ka Nhỗi duy nhất còn sống sót. Làng bản của Nữ chủ tướng chìm trong khói lam. K'Sen đón tôi bằng câu hỏi mở đầu thay cho lời chào: "Mày đã viết về tình cảm của chị Ka Nhỗi chưa?". Tôi thật khó trả lời. Bởi chuyện tình của Nữ chúa rừng xanh thì tôi đã được nghe kể nhiều lần. Đêm nay cũng vậy, bên bếp lửa nhà sàn, K'Sen lại nâng cần rượu. Ông "kéo" một hơi thật dài như uống cả con suối Đạ Sar vào lồng ngực cuộn sóng, K'Sen lại kể cho tôi nghe về chuyện tình của Nữ chúa rừng xanh: Ka Nhỗi không những là một chủ tướng dũng cảm mà ở bà còn có một mối tình thánh thiện. Bà có độc nhất người con gái tên là Ka Nhung. Ka Nhung đã chết khi lên 7 tuổi. Tuy có con nhưng Ka Nhỗi chưa một lần kết hôn. Ka Nhung chính là sản phẩm của một mối tình đẹp, mối tình duy nhất trong đời Nữ chúa rừng xanh.
    Thời xuân sắc, Ka Nhỗi từng làm cho đám trai làng ngây ngất bởi làn da trắng, mái tóc rất dài và rất trắng của mình. Bởi nuôi ý định dấy nghĩa nên Mộ Kộ chưa chọn chàng trai nào "ưng cái bụng" để bắt làm chồng theo phong tục của người Kơ Ho. Thế rồi một hôm, gia đình Ka Nhỗi tổ chức lễ đâm trâu. K'Jéo là người làng bên tự nguyện sang giúp bố Ka Nhỗi làm cọc nêu. Đó là một chàng trai khỏe mạnh, thông minh và có nhiều tài vặt. Lễ xong, Ka Nhỗi mời K'Jéo ở lại uống rượu cần và ăn thịt trâu nướng suốt đêm. Nửa khuya rượu nhạt, mọi người đã say và đi ngủ, còn lại bên bếp lửa là K'Jéo và Ka Nhỗi. Chàng cất tiếng: "Cồng ditini tầm tạ. Trạ di tor... Trao người thương yêu nhất/ Cái vòng tay bỏ vào tay/ Cái bông tai đeo vào tai/ Còn con khỉ đeo lục lạc". Giai điệu của bài Lảh lông (dân ca Kơ Ho) mới trữ tình làm sao. Núi rừng tĩnh phắc. Dòng suối Đạ Sar ven làng cũng dường như quên trôi về sông lớn. Chỉ còn có hai con tim cùng gõ nhịp và ngọn lửa bập bùng chứng dám. Ka Nhỗi dạn dĩ hẳn lên: "Ngăn gư di oh... Chơ gư di got... Chàng cười vui đứng vững/ Khiến tôi cũng vui đứng vững? như cọc nêu, như cây tre xưa/ Chàng về gió nổi lên/ Và con suối chiều nay không cạn nước". Và cứ thế, lời trong lời, câu trong câu. Điệu Lảh lông trữ tình thắt chặt đôi trai gái vào nhau như sợi dây rừng buộc vào cọc nêu ngoài sân. Sáng hôm sau, họ chia tay nhau với lời hẹn: "Đêm, ta lại đến. Em hãy chờ cửa nhé!". Như vậy, người con gái Kơ Ho ấy đã biết yêu lần đầu, biết chờ mong và biết rằng ngày dài hơn ông mặt trời đi từ đỉnh núi phía đông sang đỉnh núi phía tây. Thời gian gần trôi. Đôi trai gái quyện vào nhau như ngọn Đăng Kér soi bóng xuống sòng Đạ Brăng - nơi hẹn hò của đôi uyên ương. Và chỉ có ngọn Đăng Brăng và dòng Đạ Brăng mới hiểu được rằng: Nằm xuống đây em ơi/ Đôi ta như bóng với hình, em ơi/ Tay đặt trong tay nắm chặt/ Đã yêu thương nhau ta nhắc/ Trọn đời có chửa có con/ Đừng như nước trôi đi mất".
    Với người Kơ Ho, quan hệ tiền hôn nhân không có gì ràng buộc, nhưng để lại "hậu quả" là sự vi phạm luật tục. Khi biết mình có mang, Ka Nhỗi thưa với người cậu - người đóng vai trò quyết định trong hôn nhân của dân tộc Kơ Ho: "Cậu hãy sang nhà K'Jéo và nói với cha mẹ "nó" là cháu sẽ bắt K'Jéo về làm chồng". Tại nhà K'Jéo, người cậu mắc phải một cản lực: Bố mẹ K'Jéo từ chối lời cầu hôn của Ka Nhỗi (ở cộng đồng người Kơ Ho, người con gái chủ động trong hôn nhân) vì Ka Nhỗi là người bạch tạng - tóc trắng, da trắng. Cản lực đó về sau còn lây lan sang cả gia đình Ka Nhỗi. Đôi trai gái đau khổ đến tột cùng vì không thể "trao vòng" cho nhau được. Chỉ duy nhất con chim Bling trên đỉnh Đang Két là thấu hiểu nỗi lòng của hai người: Đêm, nó bay về làng báo mộng với già làng rằng chỉ nên "phạt trâu" K'Jéo mà thôi, không nên ruồng bỏ họ, vì lời thề của K'Jéo và Ka Nhỗi đã được thần núi Đăng Két và thần suối Đa Brăng nghe thấy. Trước hội đồng già làng, K'Jéo chấp nhận hình phạt "đền trâu" cho nhà Ka Nhỗi để giữ trọn lời hứa thủy chung với người mình yêu suốt đời. Sau mối tình đầy nước mắt đó, K'Jéo không chấp nhận lời cầu hôn của bất kỳ người con gái nào khác. Một thời gian sau, ông chết vì bệnh tương tư(?). Còn về phần Mọ Kộ, sau mối tình với kết quả là sinh hạ một người con gái (bị chết năm lên 7 tuổi), bà bị quấn vào cuộc dấy nghĩa của nghĩa quân Kơ Ho. Mặc dầu vậy, Ka Nhỗi vẫn không quên lời thề hôm nào bên dòng suối Đạ Brăng: Những lời tỏ tình của các chàng trai đều bị bà từ chối. Đến cuối đời, vị thủ lĩnh của quân kháng Pháp người Kơ Ho chết trong đơn độc, không chồng, không con đưa tiễn. Mối tình duy nhất của Nữ chúa rừng xanh cũng theo bà xuống mồ và bị chôn chặt từ bấy đến giờ...
    Giọng của già làng K'Sen trầm lắng. Chóe rượu cần nhạt hẳn. Gió đêm đuổi nhau trong vườn, lá khô khua lào xào. Tiếng gà nhà ai cất lên bên kia suối Đạ Sar. Một ngày mới bắt đầu.
    PHÂN VÂN MƯA THÁNG TÁM
    Trời sáng hẳn. Tôi đề nghị anh K'Nhẽo - cháu gọi Ka Nhỗi là dì ruột: "Chúng ta hãy đến thăm mộ của Nữ chúa rừng xanh". K'Nhẽo không một thoáng do dự. Chúng tôi băng qua một cánh đồng có tên là Đạ Brăng (vốn xưa là suối Đạ Brăng). Vườn cà phê nhà ai xanh um trên đồi Đăng Két (là núi Đăng Kér trước đây). Nắng lấp lóa che vạt rừng thiêng trên đồi Đăng Kér thành những sợi vàng mỏng manh. K'Nhẽo phăng phăng bước tới khu rừng thiêng. Còn tôi thì chậm rãi nối gót. Đồi Đăng Kér là đây. Dòng Đạ Brăng là đây. Nơi hò hẹn của đôi uyên ương ngày ấy là đây. Nhưng lúc này, con suối Đạ Brăng đã biến thành đồng ruộng, núi Đăng Kér thành rẫy cà phê. May mà một khu rừng rừng thiêng trên đỉnh còn được giữ lại. Ngôi mộ của Ka Nhỗi nằm trong khu rừng thiêng, bên cạnh một gốc cây cổ thụ. Người cháu ruột của Nữ chúa rừng xanh - anh K'Nhẽo - khom xuống nhặt những cọng cỏ trên nấm mộ dì, xếp lại những chum ché theo tục "chia của" của người Kơ Ho. Trong tôi, buồn vui lẫn lộn: Vậy là khi trở về với đất, Nữ chúa rừng xanh đã tìm đến địa chỉ "hò hẹn" trước kia. Nhưng giá như dòng suối Đạ Brăng kia và ngọn núi Đăng Kér này - những địa danh gắn liền với tên tuổi vị nữ thủ lĩnh quân kháng Pháp của dân tộc thiểu số Kơ Ho - Lâm Đồng - được giữ lại, tránh khỏi những thúc bách về miếng cơm manh áo của con người? Trong thoáng chốc ngậm ngùi, thương cảm trước mộ Nữ chúa rừng xanh, tôi chợt phân vân: Sự thật thì Nữ chúa rừng xanh là ai? Vì sao cuộc khởi nghĩa của bà (cuối năm 1938) cận kề Cách mạng tháng Tám vụt lóe lên như ánh lửa rừng rồi vội tắt ngấm, chìm vào lãng quên? Và có thật nó chỉ là phong trào tự phát của cộng đồng dân tộc thiểu số tỉnh Đồng Nai Thượng mà thôi?
    Trong những tài liệu mà tôi đọc được đều khẳng định phong trào Mộ Kộ kề Cách mạng Tháng Tám không có sự lãnh đạo của lực lượng nào khác. Tức nó là phong trào tự phát. Tuy nhiên, qua nhiều lần tiếp xúc với dân làng và tiếp xúc với vị cận thần của Nữ chúa rừng xanh là K'Sen thì trong câu chuyện kể gần như là huyền thoại của họ, tôi "nhìn thấy" thấp thoáng bóng dáng một nhân vật người Kinh. Và, người Kinh này cũng rất... huyền thoại. Trong trí nhớ của dân bản, người Kinh ấy có dáng hơi gầy, da trắng, mặc khố như đồng bào Thượng, nói giọng Bắc miền Trung. "Không ai được biết tên ông vì nguyên tắc hoạt động bí mật lúc bấy giờ". Đêm hôm qua, già làng K'Sen đã nói với tôi như vậy. Nghĩa quân chỉ nhìn thấy ông từ xa trong một vài lần rất hiếm hoi khi ông đến bàn định, hội ý kín với Mộ Kộ, và chỉ duy nhất với Mộ Kộ mà thôi. Nơi gặp gỡ của hai người là đại bản doanh của nghĩa quân - một khu rừng nguyên sinh bên cạnh suối Đạ Sar, làng Dongr Dor. Ngay như K'Sen, tuy là người thân tín, là cận thần, lại là em ruột của Nữ chủ tướng, nhưng cũng chỉ được đứng ở "vòng ngoài" làm nhiệm vụ canh gác chứ không được đến gần, không được tiếp xúc. Và, vào năm trước khi Mộ Kộ chết (bà chết năm 1973 sau khi đi tù ở Côn Đảo về), người "cấp trên" ấy vẫn còn đến gặp Mộ Kộ - ở lần gặp này cũng vậy, như thuở Mộ Kộ còn hoạt động: xong là ông vội vàng đi ngay. Dẫu thế, dân làng Dongr Dor vẫn đủ thời gian để nhận ra "Người Kinh mặc khố" ấy. Nhờ vậy, trong trí nhớ của những người già ở làng Đồng Đò (cách gọi chệch của Dongr Dor) ngày nay, trong đó có già làng K'Sen "người Kinh mặc khố" năm nào không thể lẫn với ai được. Nếu hiện còn sống, nay ông khoảng 90 tuổi. Nhưng tiếc thay, kể từ khi Ka Nhỗi mất, nhân vật "người Kinh mặc khố" chưa một lần xuất hiện trở lại Đồng Đò.
    Vậy nhân vật nói trên là ai? Công việc tiếp theo để trả lời câu hỏi này hẳn là của nhà làm sử. Có thể rồi đây, sự cố gắng của các sử gia sẽ làm sáng tỏ vấn đề đó. Và biết đâu, nếu đọc được những dòng này, thì "người Kinh mặc khố" kia sẽ "tự thú" nếu ông hiện còn sống? Và cũng biết đâu, tính chất cuộc cách mạng do Ka Nhỗi lãnh đạo ở tỉnh Đồng Nai Thượng vào cuối thập kỷ 30 sẽ được thay đổi, sẽ được đánh giá lại, được nhìn nhận lại?
    Hình như trong tôi đang có thoáng phân vân ở thời khắc Tháng Tám trên quê hương của Nữ chúa rừng xanh?
    ***
    Dongr Dor - quê hương của Nữ chúa rừng xanh - nay đã trở thành vùng định canh định cư trù phú. Hơn 700 người con cháu của bà đã thực sự giã từ không gian cư trú cổ lạc hậu. Như vậy là sau bao nhiêu năm chiến tranh, sau bao cuộc lang bạt vô phương trong những cánh rừng già, cháu con của Nữ chúa rừng xanh lại về tề tựu bên dòng suối Đạ Char, bên cánh đồng Đạ Brăng, bên ngọn đồi Đăng Kér - nơi mà gần 60 năm trước, người con gái của dân tộc Kơ Ho Lâm Đồng dấy quân đuổi Pháp, mong mang lại ấm no cho mọi người. Những sợi nắng ban mai lấp lóa chẻ mỏng khu rừng thiêng trên đồi Đăng Kér...
    Rời nơi an nghỉ cuối cùng củ Nữ chúa rừng xanh, tôi và người cháu của bà - anh K'Nhẽo - trở lại nhà. Già làng K'Sen, cận thần của Nữ chúa rừng xanh vẫn ngồi đó bên ánh lửa bập bùng, bên chóe rượu cần đã nhạt và bên linh hồn của một người đã đi vào huyền thoại. Từ đêm qua đến giờ, K'Sen chưa chợp mắt. Ông ngồi lặng thinh ở đó như từng ngồi như vậy từ bao nhiêu năm nay rồi. K'Sen im lặng nhìn vào bếp lửa. Tôi nhìn vào mắt ông. Ở nơi "dấu chân chim" lấp lánh một hạt ngọc hiếm hoi của tuổi già cằn cỗi. Nếu tôi không nhầm, ông đang nghĩ về Nữ chúa rừng xanh?

    Thác Jráibilan
    Vị trí
    Thác Jráibilan là một thắng cảnh thiên nhiên hùng vĩ nằm ẩn mình giữa núi rừng Tà In của tỉnh Lâm Đồng. Jráibilan là tên tiếng Churu có nghĩa là thác đá cao. Riêng người Kinh thì gọi là thác Bảo Đại, bởi lẽ vua Bảo Đại khi còn đương chức thường ghé dừng chân ở đây để nghỉ trong những chuyến đi săn.
    Cảnh quan
    Thác nước mang một vẻ đẹp bí ẩn khuôn thu hút sự tò mò khám phá của nhiều người. Từ vách đá cao chừng 70m, một dòng nước lớn chia làm ba nhánh đổ thẳng xuống lòng suối sâu. Những tia nước đuổi nhau, phóng nhanh như tên bắn, bụi nước bốc mù mịt làm thức giấc cả một vùng núi rừng tĩnh lặng.
    Dưới chân thác là bãi đá nhấp nhô với nhiều tảng đá lớn nhiều tảng đá lớn gợi nên sự tưởng tượng lý thú cho du khách khi có dịp "dừng chân lãng du". Tương truyền thì đó chính là xác của các loài cầm thú, chim muông và có cả con người bị chết hóa đá khi tụ tập ở đây để nghe âm thanh huyền diệu phát ra từ lưỡi con cá sấu.
    Tương phản với sự mạnh mẽ của dòng thác, cảnh vật ven bờ rất nên thơ. Bên phải thác, trên vách đá cheo leo một cây si già buông những cánh tay dài xuống thác như thể đang đùa vui với dòng nước. Rồi những cành cây, dây leo mềm mại bò trên vách đá. Đây đó, thỉnh thoảng xuất hiện những chùm phong lan trắng muốt từ các cành cây rũ xuống điểm trang. Bên trái thác, men theo con đường mòn nhỏ, ta sẽ gặp một hang đá có vách dựng gần như một giao thông hào đi sâu vào lòng thác gợi cho khách lòng ham muốn khám phá.
    Truyền thuyết
    Truyền thuyết kể rằng, ngày xưa ở vùng Ktun có hai cậu cháu, người cậu tên là Zuwar, người cháu là Stak. Hai cậu cháu thường rủ nhau đi bắt cá. Một hôm nọ ra suối suốt cả ngày mà vẫn không bắt được một con cá nào. Chiều đến, đói rã cả người, hai cậu cháu vẫn chưa tìm được gì để lót dạ. Và khi hoàng hôn bắt đầu buông xuống thì hai người cùng nhìn thấy một quả trứng lớn nằm trong hốc đá.
    Cậu Zuwar định lượm nhưng Stak ngăn không cho; một lát sau Stak cũng muốn lượm nhưng Zuwar lại can ngăn vì sợ... Hai người giằng co nhau mãi và đến cuối cùng thì họ quyết mang luộc. Khi trứng được luộc chín, hai cậu cháu lại dành nhau về chuyện ăn thử. Zuwar thì nói mình già rồi, có chết cũng không sao nên đòi ăn trước. Stak cũng không chịu, sợ cậu chết nên cố đòi ăn trước. Cuối cùng cháu Stak ăn được trước. Ăn xong, thấy ngứa hết cả mình mẩy, bèn nhờ cậu gãi giùm nhưng vẫn không hết. Càng gãi càng ngứa, hoảng quá Stak nhảy xuống suối ngâm mình trong nước. Một lúc sau người lớn bằng con bê và đến sáng đã lớn bằng con trâu. Zuwar buồn quá đành để cháu lại chạy về báo với người trong nhà. Khi mọi người trong gia đình chạy ra thì Stak vẫn sống mà một phần chân tay đã có vẩy như cá sấu, phần dưới mọc một cái đuôi dài. Stak ngẩng đầu lên nói với cha mẹ rằng: mình sẽ không sống làm gì nữa khi biến thành cá sấu, nên xin cha mẹ trước khi chết được ăn đủ trâu, bò, gà, vịt mỗi thứ 7 con. Người nhà liền làm theo. Nhưng Stak vẫn không chết, mà lúc này người đã lớn bằng cái nhà dài. Trong họ hàng nhà Stak bắt đầu có sự bàn cãi, giằng co nhau, có nên để cho nó sống nữa hay không. Cuối cùng họ cắt một miếng mâm sắc nung đỏ và mang tới nói là một miếng thịt đỏ rồi ném cho Stak, lúc này đã là một con cá sấu khổng lồ. Nuốt xong, nó nằm vật ngửa ra chết, xác nằm chắn ngang giữa suối. Lưỡi nó thè ra, nước tràn qua lưỡi tạo nên âm thanh hay hơn cả tiếng đàn. Hay đến nổi trứng gà trong tổ cũng lăn tới bờ suối để nghe. Tất cả các loài muôn thú và dân trong vùng đều bị mê hoặc bởi âm thanh kỳ lạ đó, bỏ cả công ăn việc làm tới nghe đến nỗi phải chết đói mà hoá đá.
    Thấy vậy, Vua Chàm liền sai 100 người buộc dây kéo cái lưỡi ra. Nhưng kỳ lạ thay, cái lưỡi cứ dài ra rồi lại co rút lại làm cho cả đoàn người lăn tõm xuống vực sâu mà chết. Thưong hại con người, "Giàng" liền sai một con chim đen xuống mách bảo: phải lấy da ông già làm dây mới kéo được. Mừng quá, vua Chàm liền sai người rao tìm người già tình nguyện chết để cứu dân làng. Vừa lúc đó có một cụ già chống gậy tới xem, biết chuyện ông liền bước tới trước vua Chàm xin được chết. Vua Chàm mừng rỡ sai người mổ trâu bò làm tiệc thết đãi ông già, sau đó mổ lấy da bện thành dây thừng để kéo. Quả nhiên cái lưỡi bị gãy văng ra khắp nơi, dính cả vào cây lồ ô, cây tre bên cạnh. Nhưng cái lưỡi vẫn còn ba phần lớn. Một thành thác Jráiblian, một phần văng tới vùng Tu Tra (thuộc huyện Đơn Dương bây giờ) và một phần ở Ma Bó thành suối. Cũng vì vậy mà ngày nay tre và lồ ô là những loại cây có khả năng phát ra âm thanh nên được sử dụng làm các loại nhạc cụ.

    Núi Voi
    Vị trí
    Núi Voi nằm bên cạnh thác Voi, thuộc thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Núi nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt không xa lắm, nên rất tiện lợi cho du khách tham quan mỗi khi đến Đà Lạt.
    Cảnh quan
    Núi cao 1.754m, cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, là điểm du lịch dã ngoại rất được ưa chuộng ở Lâm Đồng. Trên quốc lộ 20 từ thành phố Hồ Chí Minh đi Đà Lạt, đến đỉnh đèo Preen, bạn sẽ nhận ra dãy núi Voi lờ mờ trong sương khói ở phía Tây Nam thành phố.
    Theo truyền thuyết, núi Voi là nơi mà đàn voi trên đường đến dự lễ cưới của Lang và Biang khi nghe tin dữ đã buồn rầu và chết ở đây. Từ đó, dân làng gọi núi là núi Voi. Dòng thác đổ từ trên núi xuống cũng được gọi là thác Voi.
    Du lịch
    Ngày nay, khu vực núi Voi đã được quy hoạch thành khu du lịch dã ngoại khá hấp dẫn du khách. Hiện có khoảng chục ngôi nhà sàn tọa lạc giữa khu rừng núi Voi này. Trong đó, đặc biệt có hai ngôi nhà sàn được thiết kế nằm trên cành cây cao từ 6 đến 10 mét. Tất cả các ngôi nhà sàn giữa rừng đều có hệ thống nước bắt nguồn từ hang núi, có đầy đủ hệ thống toilet, nhà tắm. Nước uống được đun bằng củi rừng. Đây sẽ là nơi nghỉ ngơi lý tưởng cho du khách. Hiện nay, tour du lịch khám phá Núi Voi - ngủ giữa rừng bắt đầu được các công ty du lịch trong nước khai thác để phục vụ du khách. Thường tour có thể kéo dài 2 đêm 3 ngày, trong đó một đêm được bố trí cho khách ngủ lại giữa rừng, còn một đêm về phố.
    Đến đây, du khách có thể cưỡi ngựa hay voi để du ngoạn. Hãy tưởng tượng bạn ngồi trên lưng voi lắc lư xuyên qua cách rừng thông bạt ngàn, lội qua những con suối và thác nước… Rồi bất chợt bạn có thể dừng lại bên dòng suối mát lạnh, nhảy xuống tắm thỏa thê trước khi tiếp tục đi vào giữa khu rừng sâu giá buốt.

    Thác Popla
    Vị trí
    Thác Popla là một trong những thác nước đẹp nằm trên địa phận xã Liên Đầm, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, cách TP Đà Lạt hơn 8km và cách TX Bảo Lộc 25 km. Theo quốc lộ 20, qua khỏi TX Bảo Lộc khoảng 25km là du khách có thể nghe thấy tiếng thác đổ ầm ầm. Khi đến gần, du khách sẽ bất ngờ trước vẻ đẹp hoang sơ và kỳ vĩ của cảnh quan nơi đây.
    Cảnh quan
    Thác Popla nằm lọt thỏm giữa hai ngọn đồi có hình voi phục và giống như một cái hang động. Chung quanh là nhà cửa và những trang trại cà phê xanh bát ngát. Dưới chân thác là một cái hồ nhỏ do nước chảy lâu ngày tạo thành. Cạnh hồ có những tảng đá lớn trông như những bàn đá và những cây cổ thụ cao to che mát cả một khoảng trời.
    Truyền thuyết
    Thác Popla còn có tên gọi là thác Ngà Voi. Theo lời kể của đồng bào dân tộc bản xứ thì vào thời xa xưa, khi người Chàm cai trị Di Linh ngày nay, họ bắt người dân bản xứ phải đóng thuế bằng những sản vật của núi rừng như da thú, sừng tê giác, hươu nai… và đặc biệt là ngà voi. Người dân đã tìm thấy tại nơi con thác này một cặp ngà voi cao quá đầu người, ngựa phi qua cũng không được. Từ đó, vua Chàm thích quá nên đặt tên cho thác là Popla, tức Ngà Voi.

    Cũng trong khoảng thời gian ấy, có một chàng trai tài gỏi tên là Lang Dăm, đã cứu giúp dân làng Liang Jrăk Mur thoát khỏi sự cai trị của giặc Chàm. Trong một lần quân Chàm tiến đánh buôn làng, cả làng đều sợ hãi bỏ chạy, duy chỉ có Liang Dăm là không chạy, anh bẻ một cành trâm bên bờ thác và cầm cành trâm hướng về phía quân thù; lạ thay, khi cành trâm gãy đến đây thì quân Chàm tan vỡ, tự đâm chém nhau. Giặc tan rồi, Liang lặng lẽ đi về phía Đông dòng thác và biến mất. Từ đó để ghi nhớ công ơn, dân làng đã đặt tên buôn là Liang Dăm và sau này đã bị đọc trại, phiên âm theo tiếng Kinh là Liên Đầm.

    Thác Liên Khương

    Thác Liên Khương nằm cạnh quốc lộ 20, thuộc khu vực Liên Khương, huyện Đức Trọng, cách thành phố Đà Lạt 27 km. Thác có bề mặt rất dài khoảng 200 mét, cao 50 mét, được kể là ngọn thác hùng vĩ của tỉnh Lâm Đồng.

    Truyền thuyết
    Liên Khương có tên cũ là Liên Khàng, đọc theo âm k'Ho bản địa, Liên Khàng có nghĩa là Tổ Kiến Vàng. Tương truyền, nơi đây vốn là khu rừng ghuyên sinh có con suối thơ mộng chảy qua. Trên cây có lắm quả ngọt dành cho người và khỉ. Dưới suối có nhiều cá đến nổi dân làng ăn không hết. Vì lý do đó mà lũ kiến vàng từ vùng núi xa xăm nào đó kéo về ngụ cư. Bởi cuộc sống sung túc nên kiến vàng ngày càng đông. Chúng làm tổ và chiếm vị trí độc tôn khiến người dân bản địa lại thiếu cái ăn. Dân làng phải bắt buộc cầu cứu thần lửa. Nhưng thần lửa càng đốt nhiều thì lũ kiến càng sinh sôi. Thần lửa kiệt sức đành chịu thua. Lũ làng lại dâng lễ vật, đâm trâu cúng Yàng và cầu xin Yàng đánh giặc Kiến Vàng. Cảm động trước lòng thành của dân làng, Yàng đã gọi thần mưa, thần Sấm Sét làm cho lụt to. Nước từ Đa Nhim như nước mắt đổ về cuốn trôi giặc Kiến Vàng. Từ đó dân chúng sống ấm no hạnh phúc. Thác Liên Khương là nơi búa sét cuối cùng đánh tan kiến chúa chạy qua đấy, tạo thành dòng thác sâu và đẹp.
    Cảnh quan
    Thượng nguồn thác Liên Khương là dòng suối có nền đá rộng 60 m2, xung quanh là các ruộng lúa bậc thang phong cảnh hữu tình. Thác tung bọt trắng xóa với chiều rộng từ 30 đến 50 m, chảy xuôi về phía Tùng Nghĩa. Du khách có thể đi thuyền dọc theo dòng nước êm đềm để khám phá các hang động nhỏ huyền bí. Từ ngày xây dựng đập Đa Nhim, thác Liên Khương không còn nhiều nước vào mùa khô. Và đến thời điểm này thì thác đã coi như biến mất, không còn ai đến tham quan nữa.

    Mộ cổ Lạc Xuân
    Khu mộ cổ Lạc Xuân nằm trên một ngọn đồi thấp thuộc địa bàn xã Lạc Xuân, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Khu mộ bị những người săn tìm cổ vật đào bới năm 1993 và đã̃ bị lấy đi những hiện vật quý, chỉ còn lại nhiều mảnh vụn gồm nhiều hình, nhiều chất liệu khác nhau:
    Đồ gốm đa phần là mảnh vỡ gồm gốm men trắng hoa lam, men màu xanh, đỏ nhạt có nguồn gốc từ Trung Quốc, niên đại thế kỷ XVII - XVIII. Đồ gốm Champa với đặc trưng xám đen, cứng, dày, độ nung cao thường tráng men màu xám, vàng nhạt, không hoa văn trang trí
    Đồ đồng gồm nhẫn , bao tay, vòng tay, vòng cổ,…
    Đồ sắt gồm dao, thuổng, đục, rìu, giáo, lao,…
    Hạt trang sức chế tác từ thuỷ tinh nhiều màu vàng, đen, đỏ, tím,… với nhiều kích cỡ.
    Qua phân tích hiện vật, các nhà khảo cổ đoán định, khu mộ có niên đại vào thế kỷ XVII-XVIII, tưng đương các khu mộ Đại Làng, Đại Lào - Đạ Đờn, đã được biết trên địa bàn. Chủ nhân khu mộ có thể là người K'ho như truyền thuyết trong vùng xác nhận.
    Ngoài khu vực này, người ta còn phát hiện tại một số địa điểm khác như: Khu mộ tại Pró còn dấu vết một hầm gạch chạy dài với ò mộ cao 2m, chu vi hơn 20m. Tại làng Sopmadrong của người Churu có bộ sưu tập vũ khí: súng, dao, lao, dao, kiếm,… những đồ dùng như chậu, ấm, cùng mũ của vua Champa khi lưu lạc trên cao nguyên. Tại đền thờ Krayo ở làng La Bui của người Churu còn lưu giữ bộ sưu tập gồm: gươm, kiếm, giáo, lao cùng những hiện vật như hộp đồng, ấm đồng của người Chăm giữ lại. Những di tích, hiện vật này phản ánh lại lịch sử của vùng đất Lâm Đồng nói riêng, của cao nguyên nói chung trong tiến trình tồn tại, phát triển và hòa nhập chung vào lịch sử cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

    Sông Đa Nhim
    Vị trí
    Sông Đa Nhim bắt nguồn từ phía Bắc núi Gia Rích (1.923m) ở huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, gần ranh giới với hai tỉnh Khánh Hoà và Ninh Thuận. Sông chảy qua các huyện Đơn Dương, Đức Trọng và đổ vào sông Đa Dâng gần thác Pongour.
    Truyền thuyết
    Về lai lịch của con sông, người Cơ Ho có câu chuyện kể như sau: Ngày xưa, ở buôn Kon Đố, xã Đưng K’Nớ, huyện Lạc Dương, có một đôi vợ chồng: người chồng tên là Ha Biang, người vợ tên là K’ Lang. Một năm nọ, toàn vùng bị hạn hán, Ha Biang lên đường đi kiện trời, nhưng khi đến núi Găng-reo ở huyện Đức Trọng hiện nay thì bị chết đói.
    K’Lang lần theo vết của cây con do Ha Biang đã bẻ đi tìm chồng. Nhìn thấy xác chồng, K’ Lang khóc lóc thảm thiết, vang xa khắp “tám núi, tám sông, tám rừng, tám suối” và bay đến tận trời.
    Trời liền sai thần mưa trút nước xuống trần gian nhưng K’Lang vẫn tiếp tục khóc cho đến chết. Tiếng khóc của K’Lang làm xúc động con voi đầu đàn. Nó đến che mưa cho K’Lang và Ha Biang, đứng khóc rồi chết theo Ha Biang và K’Lang.
    Nước mưa hoà cùng nước mắt của K’Lang và con voi chảy thành sông gọi là sông Đa Nhim (da: nước; nhim: khóc). Các già làng đặt tên cho ngọn núi ở Kon Đố là Lang Biang và núi Găng-reo là núi Voi.
    Nguồn lợi
    Trên dòng chảy của sông Đa Nhim, người ta chặn một đập nước tạo thành hồ Đa Nhim, hay còn gọi là hồ Đơn Dương trên địa bàn huyện Đơn Dương. Đây là công trình thuỷ điện quan trọng trong vùng. Từ thị xã Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, ngược quốc lộ 27 chừng 50 km, du khách sẽ nhìn thấy hai ống thủy lực chạy song song, dài khoảng 2 km, dẫn nước từ trên núi xuống nhà máy nằm dưới chân đèo.
    Không chỉ là nguồn lợi thuỷ điện, sông Đa Nhim còn tạo ra nhiều cảnh quan đẹp trở thành những điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Lâm Đồng. Sông có 3 thác: Liên Khương, Gougah và và Pongour.

    Thác Liêng Rơwa
    Vị trí
    Thác Liêng Rơwa còn có tên gọi là thác Voi, là một thắng cảnh đẹp ở thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Từ ngã ba Liên Khương theo quốc lộ 27 về hướng Buôn Ma Thuột khoảng 19km, rồi rẽ phải khoảng 13km về thị trấn Nam Ban, du khách sẽ đến thác Voi.
    Truyền thuyết
    Về tên gọi của thác có truyền thuyết của đồng bào K’Ho kể rằng: Ngày xưa thú rừng rất yêu mến nàng Biang con của tù trưởng bộ tộc Chil. Khi hay tin nàng sắp “bắt chồng” là chàng Lang– một tù trưởng của bộ tộc Lạt, voi rừng vùng La ngư Thượng mừng lắm, chúng kéo về dự đám cưới. Nhưng khi đến ngọn thác này thì nhận được tin hai người đã chết vì sự thù hận của bộ tộc. Cả đàn voi rừng gào thét suốt mấy ngày đêm rồi lăn ra chết và hoá đá. Thương xót chúng, thần núi Langbiang khóc hết ngày này sang ngày khác, nước mắt chảy thành thác.
    Một truyền thuyết khác kể rằng: Ngày xưa, vị tù trưởng của vùng núi Jơi Biêng có cô con gái rất đẹp. Mỗi khi sơn nữ cất giọng hát thì lá rừng thôi xào xạc, đàn chim ngừng tiếng hót để lắng nghe. Người yêu của nàng là con trai của tù trưởng làng bên. Chàng được nhiều người yêu mến, quý trọng không chỉ bởi vóc dáng vạm vỡ, khuôn mặt khôi ngô mà còn vì sự gan góc, dũng cảm ít ai sánh kịp. Họ đã trao lời hẹn ước nên duyên chồng vợ song chàng trai phải lên đường giết giặc và rồi nhiều mùa trăng trôi qua mà chẳng thấy quay về. Cô gái đau khổ tìm đến ngọn núi hoang vắng mà trước kia họ từng hò hẹn, cất tiếng hát tha thiết, sầu thảm với hy vọng người trong mộng tìm về chốn xưa. Tiếng hát khiến loài chim B'ling xúc động. Chúng rủ nhau bay đi thật xa để dò la tin tức rồi về báo cho nàng biết là chàng trai đã hy sinh ngoài chiến trường. Thế nhưng, sơn nữ vẫn không chịu chấp nhận sự thật phũ phàng đó. Nàng cứ hát, hát mãi cho đến khi kiệt sức, ngã quỵ và không bao giờ gượng dậy được nữa. Đàn voi phủ phục nghe nàng hát bấy lâu nay cũng hóa đá lặng câm. Bỗng có tiếng nổ lớn, trời đất rung chuyển khiến ngọn núi gãy ngang và một dòng thác đột ngột tuôn chảy, tung bọt trắng xóa. Người K'ho bèn đặt tên cho thác là Liêng Rơwoa Jơi Biêng - thác của những con voi phủ phục hóa đá trước tình yêu nồng nàn, son sắt
    Cảnh quan
    Từ xa, du khách đã có thể nghe tiếng ầm ào thác đổ như tiếng bầy voi rừng đang gầm rú. Thấp thoáng dưới bóng thông xanh là một mái chùa trầm mặc, mặt hướng ra ngọn thác, lưng tựa vào núi. Khi đến gần, trước mắt bạn là một dòng thác hiện ra hùng vĩ đổ xuống từ độ cao hơn 30m. Thác không kiêu hãnh như thác Dambri, không trữ tình như thác Pongour, không lãng mạn như thác Cam Ly hoặc thơ mộng như Preen nhưng nó có vóc dáng riêng thật hoang sơ, trong một khung cảnh thiên nhiên thật gần gũi.
    Dưới chân thác, những thảm cỏ xanh mướt mọc trên từng mỏm đá lô nhô đủ hình dạng, được thiên nhiên sắp xếp thật khéo léo tựa như một đàn voi quây quần bên nhau. Có những tảng đá như chú voi con ngẩng đầu lắng nghe tiếng hót của muôn loài chim rừng. Sau làn bụi nước, phong cảnh lúc ẩn lúc hiện, đẹp như mơ. Chảy quanh các mô đá là một dòng suối hiền hoà, trong vắt. Du khách có thể cắm trại bên bờ suối. Khi hoàng hôn buông xuống có thể đốt củi cùng sinh hoạt tập thể bên ánh lửa bập bùng, cất lên những bài ca bất hủ giữa đại ngàn để rồi trời về khuya lúc nào không ai hay biết.
    Thác Voi quả là bức tranh sinh động mà thiên nhiên đã khắc hoạ nên, với những hang động kỳ thú hiện mình sau những vách đá hiểm trở, những cây cổ thụ chằng chịt dây leo, đặt biệt những khối đá nham huyền vũ với hình thù kỳ quái ẩn ẩn hiện hiện sau làng sương tựa như đàn voi chen nhau tắm suối. Tham quan thác voi, ngoài những phút giây hồi hộp khi phải vượt qua những lối xuống chênh vênh hay những chiếc cầu thanh mảnh vắt ngang vực đá, du khách còn có cái thú luồn lách trong những hang động âm u, hòa mình vào với thiên nhiên hoang dã hay thả hồn theo những dòng suối uốn lượn dưới những tán cây rừng rợp bóng.
    Phía sau thác nước là một hang động rộng chừng 20 ha, là nơi trú ẩn của hàng ngàn con dơi. Loại dơi ở đây rất to có con nặng tới nửa ký. Khi có tiếng người, chúng rời khỏi vòm động, đập cánh bay ra làm xao động cả một khoảng không.
    Sau khi thám hiểm thác, du khách có thể viếng ngôi chùa Linh Ấn to lớn, bề thế với tượng Phật Di Lặc cao 8 m ở ngay trên thác, đặc biệt là những tảng đá to lớn, có hình dạng tựa những bó đũa như ai đó đã vô tình ném xuống thác, nằm trong một quần thể đá tuyệt đẹp. Vào bất kỳ thời điểm nào trong năm, du khách đều có thể vừa vãn cảnh chùa, vừa ngắm dòng nước tung bọt trắng xóa. Sẽ thật đáng tiếc khi đến Lâm Đồng mà không tham quan thắng cảnh quốc gia độc đáo này.

    Thác Hang Cọp (Đà Lạt), đầy sinh động và huyền bí
    Thác Hang Cọp nằm cách quốc lộ 20b 2,7km về phía đông, thuộc ấp Túy Sơn, Xã Xuân Thọ, Thành phố Đà Lạt. Có nhiều tên gọi khác nhau dành cho thác nước này: Thác Đạ Sar, Long Nhân, Hang Cọp, Thác Ông Thuận, Thiên Thai... thác cách xa khu vực dân cư 3km, nằm trong khu rừng thông với diện tích 308ha, chiều cao thác khoảng 50m, dài 500m.
    Nếu đứng dưới chân thác, du khách sẽ thấy bên trên là hai thác nhỏ liên hoàn nhau, dòng nước từ trên cao khoảng 6-8m chảy xuống chân những tảng đá lớn, bọt nước trắng xóa uốn lượn 20m thì đến thác nước cuối cùng. Dòng nước rộng chừng 10m từ trên độ cao thẳng đứng 20m đổ vào một chiếc hồ xinh xắn bên dưới. Tiếng thác phát ra như tiếng cọp gầm, vang xa 2km. Dòng nước từ thác lớn tạo ra 7 tầng thác phía dưới, cao trung bình 4m. Bên cạnh thác có một hang đá rộng chừng 40m3, có 3 ngăn, 1 ngách và 2 miệng hang được tạo một cách tự nhiên. Người Chill gọi là Hang Cọp, tương truyền có cọp ở đó. Trước năm 1975, người K’Ho sinh sống bằng nghề làm rẫy, đốt than, săn bắn và đánh cá cư trú rải rác dọc sông Đạ Kòn, sông Đạ Langbian thuộc địa phận xã Xuân Thọ. Khoảng năm 1950-1975, nơi đây là cơ sở cách mạng, quân giải phóng đặt tên thác này là thác Ông Thuận.
    Thác Hang Cọp có truyền thuyết liên quan đến lịch sử của các vương quốc Chàm trong các đợt giao chiến. Người già dân tộc Chill kể rằng: Ngày xưa, dưới cái hồ xinh xắn của thác có một tượng đá hình dáng như bức tượng mẹ bồng con. Khi vua Chàm gây chiến tranh lên Tây nguyên, dừng chân đóng trại dưới chân đèo Krông-fa (đèo Ngoạn Mục ngày nay). Suốt 10 đêm ở phòng tuyến, nhà vua không đêm nào ngủ được, trong những lúc thiếp đi chập chờn, vua nghe văng vẳng tiếng gầm rú man dại của núi rừng hòa lẫn với những âm thanh huyền bí. Tự mình thống lĩnh hàng trăm quân vượt đèo Krông-fa quyết tâm tìm cho được âm thanh huyền bí kia. Khi đến thác nước này, nhà vua thấy nước dồn dập từ trên cao đổ xuống trên vai tượng đá có hình mẹ bồng con và từ đó phát ra những âm thanh huyền bí. Vua Chàm bèn xua quân lính đập phá tan tành tượng đá, sau khi phá được tượng đá, bị dòng nước cuốn trôi xuống dòng Đạ Langbian và chết gần hết. Với số quân còn lại ít ỏi, vua Chàm cho khiêng tất cả những mảnh đá vỡ về đất Chàm. Trên đường đi, binh sĩ Chàm chịu nhiều bệnh tật, kiệt sức, không ai đem được một cục đá nhỏ nào về nước được. Đá rơi xuống phía dưới thác tạo ra 7 tầng, về sau, người Chill thu lượm những viên đá rơi vãi dọc đường đem về làm đàn đá, treo trên nương rẫy để đuổi chim muông, thú rừng. Để tưởng nhớ đến người mẹ của họ, người Chill đặt tên cho dòng thác này là thác Long Nhân.
    Những dịp lễ, tết, ngày nghỉ du khách thường đến thưởng ngoạn. Ở đây, cái vẻ hoang vắng, tĩnh mịch của núi rừng chưa bị phá vỡ, cảnh quan còn tương đối nguyên vẹn. Vùng rừng nguyên sinh với nhiều loại cây quý, nhiều cầm thú, thỉnh thoảng dân địa phương bắt gặp nai đỏ, heo rừng, chồn, cheo, thỏ, vượn, mễn... Suối nước chảy quanh năm hòa lẫn với tiếng hót của nhiều loài chim, hai bên suối dây leo chằng chịt... Thật là nên thơ và đầy thú vị!

    Ga Đà Lạt những điều chưa biết
    Ga Đà Lạt hiện lên với một kiến trúc độc đáo, một hình ảnh rất quen thuộc đối với người Đà Lạt. Từ cổng đi vào ta dễ dàng bắt gặp toàn cảnh nhà ga với một lối kiến trúc như hình đỉnh núi: ba đỉnh chóp hình tam giác như những đỉnh núi Lang Biang vây quanh xứ lạnh này.
    Ga Đà Lạt được gắn liền với tên tuổi một kiến trúc sư người Pháp tên là Moncet. Năm 1932, kiến trúc sư Moncet cùng đồng nghiệp của mình là Reveron đã thiết kế và thi công ga hỏa xa Đà Lạt. Sau 5 năm thi công (vào năm 1936), nhà ga hoàn thành.
    Tuy vậy, theo một tư liệu lịch sử cho biết dự án xây dựng tuyến đường sắt từ Tháp Chàm đi Đà Lạt được toàn quyền Paul Doumer phê duyệt và khởi công xây dựng từ năm 1908, đến năm 1922, Công ty thầu khoán Á Châu được ủy nhiệm nghiên cứu làm đoạn đường xe lửa răng cưa Kroongpha - Dran theo kiểu Thụy Sỹ, với đoạn đường sắt răng cưa dài khoảng 10km, vượt độ cao 1.000m của đèo Sông Pha với độ dốc 12% để đến đất Dran của Lâm Đồng.
    Kể từ khi có nhà ga Đà Lạt thì số lượng khách du lịch đến với thành phố du lịch và nghỉ dưỡng ngày càng nhiều. Theo tư liệu, mỗi ngày có ba đôi tàu thường xuyên hoạt động trên tuyến đường sắt Đà Lạt - Tháp Chàm. Khi đó, trên mỗi chuyến tàu, ngoài toa vận chuyển hàng hóa còn có 3 toa chở khách, và những toa chở khách này cũng được phân ra theo 3 hạng khác nhau.
    Sau khi người Pháp rời Việt Nam, việc chạy tàu từ Đà Lạt đi Tháp Chàm vẫn được duy trì. Đến thời Mỹ chiếm đóng, tuyến đường sắt này chủ yếu phục vụ việc vận chuyển thiết bị cho chiến tranh nên đã bị quân giải phóng cắt đứt và nhà ga này ngừng hoạt động năm 1972. Sau giải phóng, tuyến đường sắt này được khôi phục và chính thức kéo còi vào ngày 19-5-1975, nhân kỷ niệm ngày sinh nhật Bác.
    Ga Đà Lạt có thể coi là đặc biệt bởi nó không hề giống với bất cứ một dinh thự hay công sở nào lúc bấy giờ, và cũng không giống với bất cứ lối kiến trúc của một nhà ga nào khác ở Việt Nam. Nhà ga có chiều dài 66,5m, rộng 11,4 m, cao 11m. Ga Đà Lạt là nhà ga có độ cao cao nhất Việt Nam vì nó nằm ở độ cao 1.500m so với mặt nước biển, và lúc bấy giờ nó cũng được xem là nhà ga đẹp nhất Đông Dương và cả nước Pháp. Hiện nay ở nước ta ngoài ga Hải Phòng thì ga Đà Lạt là nhà ga cổ kính nhất còn lại ở Việt Nam.
    Ở Việt Nam hiện nay, loại tàu hỏa chạy bằng hơi nước chỉ còn lại vài chiếc, chủ yếu là ở Hà Nội. Ở miền Nam chỉ duy nhất có ở Đà Lạt. Chiếc đầu máy chạy bằng hơi nước này được sản xuất tại Nhật vào năm 1932. Theo tính toán của các kỹ sư thì để chiếc đầu máy này chạy được phải cần đến một nhiệt độ 3.000C, đun 12m3 nước để tạo ra một sức kéo 700 tấn. Tuyến đường ray mà con tàu này chạy cũng độc đáo không kém: đường sắt răng cưa, một đường sắt độc nhất vô nhị ở Việt Nam.
    Vào năm 1960, dưới chế độ Việt Nam cộng hòa, khối tài liệu mộc bản với hơn 35.000 tấm được chứa trong 3 toa mỗi toa nặng khoảng 25 tấn, nên đã phải dùng đến toa tàu hỏa có răng cưa để vận chuyển khối mộc bản lên cao nguyên này. Khối tài liệu mộc bản triều Nguyễn được hình thành dưới triều Nguyễn bao gồm những tác phẩm chính văn, chính sử; những áng văn ngự chế của các vị hoàng đế triều Nguyễn... Sau khi nhà Nguyễn sụp đổ thì toàn bộ những ván khắc in mộc bản này được chuyển về Đà Lạt.
    Ngày nay, tuyến đường sắt này chỉ còn 17 km đi từ ga Đà Lạt đến ga Trại Mát, và được đưa vào tuyến du lịch trên những toa tàu và đầu tàu cổ kính. Khi một cột khói đen bốc lên, những bánh răng cưa bắt đầu chuyển bánh. Những du khách hiếu kỳ có dịp ngắm phong cảnh Đà Lạt bên ngoài những ô cửa sổ với ngút ngàn đồi thông chập chùng và khung cảnh bầu trời Đà Lạt trong veo.

    Những đường hầm bí mật ở thành phố Đà Lạt
    Đường hầm khách sạn Palace
    (BNS) Đà Lạt - thành phố du lịch hơn 100 tuổi nổi tiếng với du khách trong, ngoài nước suốt nhiều thập niên qua. Tuy vậy, thành phố này vẫn còn nhiều điều bí mật chưa được khám phá. Một trong những bí mật ấy là những đường hầm xuyên các tòa nhà nổi tiếng mà ngay cả những người dân đang sống ở thành phố này, không mấy người biết đến.
    KHÁCH SẠN (KS) PALACE
    Đường hầm nối từ cổng phụ của KS lên đến phòng khách cửa chính, chiều dài khoảng 40m, rộng 2m, nền đá, tường đúc xi măng, theo hình chữ Y, khá sạch sẽ và thông thoáng. Từ điểm bắt đầu đến hai ngã: một dẫn ra cửa chính KS, một đi lên nhà bếp - tầng trệt của KS. Trên nóc hầm có lắp đặt hệ thống bóng điện chiếu sáng. Hai bên đường hầm gắn các đường ống dẫn điện và nước (tách biệt) khá thẩm mỹ và an toàn. Trong tầng hầm có kho chứa rượu và quầy bar (mở cửa từ 16 giờ chiều đến 22 giờ đêm để phục vụ du khách). Ông Phạm Thành Trung - Tổng giám đốc Cty DRI (tập đoàn Accor của Pháp) - “ông chủ” của KS Palace cho biết: ngay từ khi xây dựng KS (năm 1922), người Pháp đã tính toán đến đường hầm này. Vì KS được xây trong thời chiến nên trước hết nó là con đường an toàn để thoát thân, đề phòng xảy ra bất trắc. Một lẽ khác, đó là sự tận dụng khuôn viên để các nhân viên phục vụ đi lại. Ở đây, những chuyện “bếp núc” như đến các phòng thay trang phục, chuyển thực phẩm nấu ăn... không lộ thiên như các KS, nhà hàng khác. Điều này cũng chứng tỏ tính hiện đại, chuyên nghiệp của chủ KS và các nhà thiết kế xây dựng từ cả trăm năm trước.
    ĐỊA ĐẠO BÍ MẬT Ở DINH I
    Đường hầm Dinh I băng qua hướng bắc
    Dinh I nguyên là tổng hành dinh của cựu hoàng Bảo Đại và cũng là nơi nghỉ dưỡng của Ngô Đình Diệm. Tòa nhà này là của một viên công sứ người Pháp, Bảo Đại mua lại (vào khoảng cuối năm 1951 đầu năm 1952), sau đó xây dựng thành dinh thự trên một quả đồi. Phía sau dinh, dưới chân đồi cách khuôn viên tòa dinh thự chừng hơn 200m có một đường hầm bí mật được đào xuyên qua quả đồi, có ngã rẽ vào Dinh I thông đến phòng khách Dinh II (Dinh Toàn quyền). Hầm có chiều dài gần 3 cây số, cửa hầm ngụỵ trang trong một căn nhà xây nhỏ. Ông Nguyễn Đức Hòa (SN 1927), từng là người hầu cận thân tín của cựu hoàng Bảo Đại và sau được tin dùng mấy đời “nguyên thủ quốc gia” kể: “Khi chúng tôi được lệnh đến sửa sang lại tòa nhà đã phát hiện ra đường hầm bí mật này. Đức Kim Thượng (vua Bảo Đại) dặn phải tuyệt đối giữ bí mật, không ai được hé răng. Đường hầm do Nhật đào để chuẩn bị cho cuộc đảo chính Pháp năm 1945, nhằm bắt sống Toàn quyền Đông Dương và quan Tây trong các biệt thự. Do địa hình dốc uốn lượn, địa đạo nằm chếch về hướng bắc băng qua Dinh I, qua Sở Điện lực tỉnh (cách đó chừng 700m), rẽ nhánh vào 4 biệt thự trên đường Paul Doumer (nay là đường Trần Hưng Đạo). Tại các ngã rẽ này đều có một khu vực được đào rộng hơn bình thường, xuyên mặt đất và được ngụy trang bằng các cành cây phía trên, dường như là căn cứ của các Bộ tham mưu của Nhật. Cửa hầm rộng 3m, cao 1,8m, cách mặt đất 2m. Khi phát hiện ra đường hầm này, Bảo Đại mừng lắm và cho đặt một xe du lịch ngay cửa hầm, phòng khi bất trắc thì được đưa vào xe lánh nạn. Cạnh đó, “ngài” cho xây dựng một sân bay. Thẳng hướng cửa hầm lên và lối đường hầm băng qua, Bảo Đại cho xây dựng vườn Thượng uyển làm nơi đãi tiệc và dạo chơi. Không biết lính Nhật đào từ bao giờ và chở đất đá đi đâu mà người Pháp không phát hiện được. Năm 1956, Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống, ông ta chọn Dinh I làm nơi nghỉ dưỡng; ông Hòa được điều về phục vụ tại đây nên có điều kiện biết rõ hơn về đường hầm này. Vốn tính tò mò, nhiều buổi trưa ông Hòa cùng mấy người bạn mang theo đèn pin, lén xuống hầm đi sâu vào bên trong. Họ phát hiện rễ cây đâm tua tủa xuống đường hầm (người Nhật không chặt rễ cây, sợ cây chết, quân Pháp nghi ngờ), dơi làm tổ ở đó, ông Hòa cùng mấy người bạn bắt về làm thịt ăn. Năm 1958, Dinh Độc Lập bị thả bom, ông Diệm sợ quá vội xuống lệnh yêu cầu đổ bê-tông “kiên cố hóa” đường hầm bí mật để phòng thân nhằm khi có biến động. Đích thân ông ta cho gọi nhà thầu Phan Xứng đến giao thực hiện nhiệm vụ “tuyệt mật” này. Đoạn đường địa đạo bí mật nối vào Dinh I chưa khai thông, giờ bị xới lên “nối” tới tầng 2 (của Dinh), cửa hầm ngay trong phòng ngủ, cạnh đầu giường của tổng thống. Phía trước được ngụy trang bằng một giá sách, chỉ cần đẩy nhẹ sang một bên là bước vào cánh cửa dẫn xuống đường hầm. Bên dưới đường hầm có 3 phòng: phòng nghỉ ngơi và làm việc của tổng thống, phòng điện đài cơ yếu và phòng bảo vệ. Trên nóc dãy phòng này và bốn bề được kè đá, đóng cửa sắt cẩn thận. Ông Hòa - người duy nhất biết rõ về đường hầm này luôn bị căn dặn phải ghi nhớ 3 điều: “không biết, không nghe, không thấy”. Ông kể: Cứ mỗi lần quản gia ông Diệm báo “ngài sắp lên” là tôi lại phải mất mấy ngày chuyên tâm lau dọn đường hầm cho sạch sẽ. Và khi nào cũng vậy, vừa đặt chân đến dinh là ông Diệm vội vàng xuống kiểm tra an toàn của đường hầm bí mật trước tiên.
    Nghe nói để xây dựng lại đường hầm này, ông Diệm đưa gần hai chục người từ Huế lên ăn ở tại chỗ và hì hục làm trong suốt gần hai năm liền. Sau đó, họ bị đưa đi đâu không rõ. Không ngoại trừ khả năng họ bị xử tử bí mật để đảm bảo an toàn*
    ĐƯỜNG HẦM DINH II
    Dinh Toàn quyền được xây dựng từ năm 1933 với sự tham gia thiết kế của kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát - nguyên Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam. Tại Dinh này, ngoài đường hầm nối từ Dinh I còn có một đường hầm bí mật khác được đào ra phía sườn đồi, hướng tây nam, dài chừng 500m, do Toàn quyền Jean Decoux khi về đây đã cho xây dựng nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối ông ta và gia đình. Đường hầm này khá kiên cố, được đổ bê-tông cao hơn 1m, rộng 1,5m, cửa hầm nằm phía sau nhà khách của dinh. Sau đó, Ngô Đình Nhu và Trần Lệ Xuân đến ở, đã xem đường hầm là “sự quý giá” Toàn quyền để lại. Năm 1964, tướng Nguyễn Khánh lên nắm quyền ở miền Nam đã chọn Dinh II làm tổng hành dinh trong mùa nghỉ mát và lệnh cho tu bổ lại các đường hầm cũng mục đích hòng để thoát thân nếu chẳng may có đảo chính.
    Tại trụ sở UBMTTQ tỉnh Lâm Đồng (xưa là nhà Ngự Lâm Quân của vua Bảo Đại) và Bảo tàng Lâm Đồng (nguyên là nhà của Đại phú hào Nguyễn Hữu Hào - cha đẻ của hoàng hậu Nam Phương) cũng có đường hầm. Theo lời ông Hòa thì hầu hết các biệt thự lớn ở Đà Lạt đều có đường hầm do Nhật đào để bắt sống các quan Pháp thời đó. Hơn 60 năm trôi qua, nhất là sau năm 1975, nhiều đường hầm bí mật ở đây bị sập, hư hỏng nặng, người ta cho dùng đất đá lấp lại. Đến nay, các đoạn đường hầm kể trên hầu như không còn dấu tích.
    Giá mà các đường hầm bí mật kể trên được phát hiện, xem xét đúng giá trị lịch sử và đầu tư phục hồi cho du khách tham quan thì chắc chắn Đà Lạt sẽ thu hút được nhiều du khách hơn nữa.

    Truyền Thuyết Thác PONGUOR (ĐÀ LẠT)

    Về tên gọi thác PonGour có hai truyền thuyết như sau :
    Thứ nhất: PonGour là tên một người Pháp, phiên âm từ tiếng bản địa (K’Ho : PON - GOU, với nghĩa là ông chủ vùng đất sét trắng). Qua một số tài liệu địa chất của người Pháp, vùng này có nhiều Kaolin.
    Như vậy PO N-GOU có nghĩa là ông chủ hay ông vua Kaolin.
    Thứ hai : Do tác giả Nguyễn Hồng Nhật nêu lên năm 1984, hiện nay khá phổ biến được nhiều người nhắc đến POUGOUR, xuất phát từ ngôn ngữ K’HO, có nghĩa là bốn sừng tê giác ( PO N: bốn, GOUR: sừng) giả thuyết này lấy từ một chuyện cổ trong kho tàng chuyện cổ K’HO, CHÀM, CHURU. Nội dung chuyện cổ như sau:
    Ngày xưa vùng đất PHÚ HỘI – TÂN HỘI - TÂN HÀ do nàng KANAI làm chủ, KANAI là một tù trưởng (bộ tộc trưởng) nữ trẻ xinh đẹp, có sức mạnh hơn cả thanh niên dũng sĩ K’HO-CHURU, nàng lại có quyền lực chinh phục thú rừng, đặc biệt là loài Tây U (tê Giác) do đó bộ tộc của nàng có đến bốn con tê giác to lớn khác thường, chúng được dùng để khai phá núi rừng, đồi suối để làm rẫy và đánh giặc bảo vệ buôn làng. Thuở ấy giặc PRENN (Châm) ở PANDURANGA (Ninh Thuận ngày nay) thường đến quấy phá, bắt bớ dân địa phương về vương quốc Châm để làm xu, làm phu (một hình thức nô lệ) hoặc đi lính chống lại người YUAN (Kinh).
    Một lần, dân của bộ tộc KANAI bị lính PRENN bắt đi khá nhiều, căm giận trước cảnh ấy, nàng KANAI đã kêu gọi các bộ tộc Tây Nguyên như: STE, CHIL , MA , NỐP nổi dậy chống người PRENN, nàng đã tự mình cưỡi tê giác cùng đoàn quân Tây Nguyên xuống đánh phá vương quốc PANDURANGA, để báo thù. Nàng KANAI chiếm được bốn thành của người PRENN, cứu được hàng trăm dân K’HO bị người PRENN bắt đi làm nô lệ trước đây. Nhưng qua chiến thắng này nàng KANAI mới thấm thía nỗi nhân tình thế thái, một số người K’HO, MẠ đã theo giặc PRENN chứ không chịu về Tây Nguyên quê hương cũ mặc dù họ đã có gia đình tại quê nhà.
    Đau buồn trước nghịch cảnh ấy, nàng KANAI quyết trừng trị những ai bội nghĩa quên tình và sau đó KANAI phải xây dựng cuộc sống cho buôn làng, KANAI cùng bốn con tê giác ngày đêm ủi núi sau đồi để tạo dựng một vương quốc thủy chung cho người K’HO của nàng, POUGOUR là dấu vết của bốn con tê giác cắm xuống núi rừng Tây Nguyên để mở ra một kỷ nguyên văn hoá cho các dân tộc tại đây…

    Đà Lạt và Những huyền thoại tình yêu
    Đến với Đà Lạt, du khách không chỉ bị mê hồn bởi những cảnh quan thiên nhiên, mà còn say sưa trong những huyền thoại tình yêu gắn liền với những cảnh quan ấy. Người dân Đà Lạt vẫn kể về những huyền thoại, như những thác nước vẫn ngày đêm chảy và không bao giờ cạn.
    * Thiên tình sử núi Lang Bian: Ngày 21-6-1893, đoàn thám hiểm người Pháp do bác sĩ Alexandre Yersin dẫn đầu đến thác Prenn sau đó đặt chân lên cao nguyên Lang Bian và đã tìm ra được "xứ hoa đào"! Nhưng truyền thuyết về ngọn núi kiêu dũng và thơ mộng này có từ rất lâu mà người dân bản địa nơi đây vẫn lưu truyền và kể lại trong mỗi mùa xuân về.
    Một già làng Cơ Ho ngồi bên đống lửa, vừa uống rượu cần vừa chậm rãi kể. Ngày xưa, xưa lắm, vùng La Ngư Thượng - tức Đà Lạt bây giờ đất đai màu mỡ, khí hậu quanh năm mát mẻ. Có nhiều bộ tộc sống ở nơi đây và có hai bộ tộc mạnh nhất là Lạch và Srê. Tộc Lạch có một tù trưởng đẹp trai, khỏe mạnh với một sức mạnh phi thường có thể thắng hàng nghìn thú dữ. Thiếu nữ trong làng không ai "bắt" được chàng về làm chồng vì nghĩ mình không xứng, chàng tên là Lang. Ở bộ tộc Srê có một người con gái mà nhan sắc của nàng làm núi rừng phải nghiêng ngả, thú dữ phải bỏ chạy. Vì nhan sắc tuyệt trần đó nên có hai con rắn hồ tinh ghen ghét và kiên quyết hãm hại nàng. Một hôm nàng vào rừng hái quả thì bị bọn chúng tấn công. Chàng Lang đi săn, thấy người gặp nạn đến cứu, giết chết bọn yêu quái và giải thoát cho nàng, nàng tên là Bian. Cũng từ đó chàng Lang và nàng Bian đem lòng yêu mến nhau cho dù họ khác bộ tộc và cách xa nhau mấy con suối. Họ cùng đi dạo trên những quả đồi La Ngư Thượng, say sưa ngắm trăng và chàng Lang trao cho nàng Bian chiếc vòng cầu hôn.
    Tin lan truyền và đến tai Bạp (cha) của Bian, ông không chấp nhận mặc dù Bian đã nài nỉ, khóc lóc, ông kiên quyết rằng: "Trước đây người Lạch và Srê có thù oán nên con gái Srê không được bắt chồng người Lạch. Giàng (Trời) đã ghi trong luật tục Bạp không có quyền thay đổi". Bian tuyệt vọng và kiên quyết không bắt ai làm chồng nữa và thề sẽ trọn đời mang trong mình chiếc vòng cầu hôn của Lang.
    Ngày hôm sau, Bian vượt qua nhiều cánh rừng để báo tin cho Lang biết. Họ đau khổ khôn cùng. Bian khóc, nước mắt nàng tuôn trào hòa vào con thác khiến cho nó gầm rú ngày đêm như khóc than cho mối tình tuyệt vọng của hai người. Lang và Bian ngồi yên lặng bên nhau suốt ngày này qua ngày khác mặc cho nắng gió sương đêm. Thế rồi sau một đêm giông tố họ đã qua đời, các bộ tộc vô cùng thương xót. Trước xác hai con, hai già làng bắt tay nhau xóa mọi hận thù và tập hợp các bộ tộc khác thành dân tộc Cơ Ho. Người dân thương cảm hằng năm cứ đắp hai nấm mộ cao lên. Giàng thương xót phủ hoa lá thành một ngọn núi xinh đẹp: núi Lang Bian như một thiên tình sử của hai người mãi hiện hình trong tâm tư những người Cơ Ho.
    * Hồ Than Thở - những chuyện tình bi tráng
    Trai gái hôm nay yêu đương không thành, thường đến hồ Than Thở để giải tỏa những sầu muộn và như một "tập tục" của những mối tình dở dang thời hiện đại. Không phải ngẫu nhiên mà họ "thở than". Chuyện kể rằng có hai người yêu nhau từ thuở học trò, chàng tên là Tâm, nàng tên là Thủy. Tình yêu gắn với nhiều mộng ước nhưng Tâm phải xa Thủy. Khi nàng nhận được tin Tâm thì đó lại là tin tuyệt vọng: chàng vui duyên mới. Nàng đau khổ ra đi cùng mối tình trong trắng, mượn hồ Than Thở kết liễu đời mình. Câu chuyện được học sinh trường Trần Hưng Đạo sưu tầm vào năm 1970. Sau khi Thủy chết, người đời thương xót đắp cho nàng nấm mộ bên hồ với hai câu thơ trên bia:
    "Mây xanh nước biếc dù thay đổi
    Ngàn năm Thủy vẫn ở trong Tâm"
    Đến nay, lớp rêu phong thời gian phủ kín bia mộ có ghi câu thơ của mối tình bi thương này. Nhưng khi thăm hồ nhiều đôi uyên ương vẫn tặng cho người bạc mệnh những chùm hoa trắng.
    Câu chuyện thứ hai mang tính lịch sử bi tráng. Có một nghĩa sĩ Tây Sơn tên là Hoàng Tùng yêu một người con gái tên Mai Nương. Khi giặc Thanh xâm lược, Hoàng Tùng ra trận, tin báo về cho Mai Nương là chàng tử trận. Nàng buồn rầu, nhớ lại buổi chia tay bên hồ và kiên quyết chết theo người tình.
    Một tháng sau Hoàng Tùng trở về thì người xưa không còn nữa, chàng nguyện suốt đời ở vậy cho trọn mối tình chung. Mấy năm sau triều Tây Sơn sụp đổ, Nguyễn Ánh trả thù một cách đê hèn. Hoàng Tùng đau đớn tình riêng vận nước, tuyệt vọng đi theo tiếng gọi tình yêu của Mai Nương bên hồ Than Thở. Từ đó mỗi sáng, mỗi chiều ngàn thông bên hồ lại nổi lên khúc nhạc bi ai than thở cho đôi trai tài gái sắc vì nước trọn tình yêu nên người đời gọi hồ này là hồ Than Thở.
    * Thung lũng Tình Yêu và tình yêu hiện đại
    Cũng thật là một cái tên đầy lãng mạn dành cho thung lũng này, nhưng cái tên đó lại không được dệt nên từ những chuyện tình huyễn hoặc cổ tích mà hoàn toàn "trần thế". Đứng trên đồi thông nhìn xuống, mặt hồ Đa Thiện như một con tim. Xa xa là đỉnh núi Lang Bian ẩn hiện trong sương mù, mặt hồ phẳng lặng thấp thoáng những con thuyền nhỏ khiến ta hình dung ra một bức tranh thủy mặc rất gợi tình. Có cây xanh non, nhiều học sinh, sinh viên thường hay đến cắm trại nên họ gọi thung lũng này là thung lũng Tình Yêu với ý nghĩa yêu thiên nhiên, đất nước.
    Cách lý giải thứ hai, thung lũng gần biệt thự Bảo Đại và là nơi chứng kiến cuộc tình của hoàng đế cuối cùng này với người mỹ nữ (đồng thời là cô gái của cảm hứng bài hát "Ai lên xứ hoa Đào") nên thung lũng được gọi là thung lũng Tình Yêu (Vallée Amour). Sinh viên đại học Đà Lạt thấy đây là nơi hẹn hò lý tưởng của những lứa đôi nên cũng biến thành nơi thổ lộ tình yêu của mình.
    Còn bao nhiêu huyền thoại tình yêu gắn với nhiều danh thắng khác, Đà Lạt mộng mơ có lẽ là vì vậy. Mùa xuân này nếu có "Ai lên xứ hoa Đào" sẽ được tắm mình trong nền huyền thoại ấy, nếu ai chưa một lần đến cũng mong hình dung ít nhiều về xứ lạnh mộng mơ...

    Tên đường Đà Lạt (Xưa - nay)
    Vài cái tên đường ở Đà Lạt mà trước đây cứ nghe nói, không tìm hiểu rõ ý nghĩa, không biết viết như thế nào ví dụ như nghe nói ba-toa, ba-toa mà bây giờ mới biết là Abattoir (lò sát sinh).
    Rồi một số tên con đường quen thuộc có những cái tên cũ nghe khá ngộ nghĩnh như Cầu Quẹo = Phan Đình Phùng, rồi đường Cunhac = Bà Triệu, hay Lò Gạch = Hoàng Diệu ...
    Đa số những cái tên đường cũ trước đây đều là tên quan tướng Pháp, hay nhà khoa học, nhà văn thơ Pháp, hoặc vua nhà Nguyễn...

    Tên Đường Phố Đà Lạt

    STT
    TÊN CŨ (trước năm 1953)
    TÊN MỚI (thay đổi về sau)
    1.Abattoir (Lò sát sinh)
    Lê Quý Đôn

    2.Adran
    Bá Đa Lộc, Hà Huy Tập (1)

    3.Albert Sarraut
    Thống Nhất, Yersin (5)

    4.Ankroet
    Ankroet

    5.Annam
    Hàm Nghi, Nguyễn Văn Trỗi (1)

    6.Auger
    Ya Gut

    7.Babey
    Nguyễn Du

    8.Basse du Camly (Cam Ly Hạ)
    Phạm Ngũ Lão

    9.Bellevue (Ngoạn Mục) (cư xá)
    Lam Sơn

    10.Bourgery
    Lý Thái Tổ, Gia Long, Trần Quang Diệu (1)

    11.Calmette
    Calmette + Thi Sách + Ngô Quyền; Calmette Phạm Ngọc Thạch (1)

    12.Canivey
    Lê Lai

    13.Carrières (hầm đá) (2)
    Đào Duy Từ

    14.Cassaigne
    Mai Hắc Đế

    15.Cầu Quẹo
    Phan Đình Phùng

    16.Champoudry
    Phạm Phú Thứ, Lê Hồng Phong (1)

    18.Clémenceau (ngã tư)
    Ba Đình

    19.Cunhac
    Bà Triệu

    20.Dankir
    Đinh Tiên Hoàng + Nguyễn Công Trứ + Tôn Thất Thuyết +Nguyễn Hoàng (4) + Dankir

    21.Darles
    Triệu Việt Vương

    22.De Gaulle (quảng trường)
    Diên Hồng

    23.De Lattre de Tassigny
    Trình Minh Thế, Khởi nghĩa Bắc Sơn) (1)

    24.Đồng Khánh
    Thành Thái , Nguyễn Chí Thanh (1)

    25.Fernand Millet
    Dã Tượng

    26.Foch (Maréchal)
    Duy Tân, 3 tháng 2 (1)

    27.France
    Pháp Quốc, Cộng Hoà, Lý Tự Trọng (1)

    28.Gare (nhà ga)
    Nguyễn Trãi

    29.Gia Long
    Lê Đại Hành

    30.Glaieuls
    Hoa Glaieul (lay-ơn), Ngô Đình Huân, Phạm Phú Quốc, Nguyễn Viết Xuân (1)

    31.Graffeuil
    Lê Thái Tổ, Hùng Vương (1)

    32.Hà Văn Ký
    Ký Con

    33.Helgouach
    Đoàn Thị Điểm

    34.Henri Maitre
    Yết Kiêu

    35.Hôpital (bệnh viện)
    Hải Thượng

    36.Jardins (vườn rau)
    La Sơn Phu tử

    37.Jean O'Neil
    Hùng Vương, Hoàng Văn Thụ (1)

    38.Khải Định
    Cường Để, Nguyễn Văn Cừ (1)

    39.Lacaze
    Nguyễn Thái Học

    40.Lamartine
    Bà Huyện Thanh Quan

    41.Leclerc
    Trần Quốc Toản

    42.Léon Garnier
    Phạm Hồng Thái

    43.Lò Gạch
    Hoàng Diệu

    44.Long
    Tự Đức, Hồ Tùng Mậu (1)

    45.Long Mỹ (Quận công)
    Thủ khoa Huân

    46.Louat de Boart
    Cô Giang + Phó Đức Chính

    47.Marché (chợ) (quảng trường)
    Khu Hoà Bình

    48.Milice (cảnh binh)
    Phan Thanh Giản, Nguyễn Thị Hồng Gấm (1)

    49.Minh Mạng
    Trương Công Định (1)

    50.Missions (đoàn truyền giáo)
    Nhà Chung

    51.Mossard
    Hàn Thuyên

    52.Nhà Làng (dốc)
    Nguyễn Biểu

    53.Pages
    Tô Hiến Thành

    54.Pasteur
    Hai Bà Trưng
    55.Paul Doumer
    Trần Hưng Đạo
    56.Pétrus Ký
    Trương Vĩnh Ký, Nam Kỳ Khởi nghĩa (1)

    57.Pics (đỉnh núi) (cư xá) (3)
    Bảo Long, Vạn Kiếp

    58.Pierre Pasquier
    Nguyễn Trường Tộ, Hồ Tùng Mậu (1)

    59.Prenn
    Nguyễn Tri Phương (6) + Đặng Thái Thân + Trần Nhân Tôn

    60.Prenn cũ
    Tiền quân Thành, Khe Sanh (1)
    Nguồn tin: Hội Quán Du Lịch
    http://www.hoiquandulich.com/cung-du...t-xua-nay.html

    61.René Robin
    Quang Trung + Phan Chu Trinh

    62.Robelin
    Lê Thánh Tôn

    63.Robinson
    Huyền Trân Công chúa

    64.Roses
    Hoa Hồng, Ngô Đình Khôi, Huỳnh Thúc Kháng

    65.Roume
    Pasteur, Lê Hồng Phong (1)

    66.Saigonnais
    Tả quân Duyệt, Yên Thế (1)

    68.Saint Nicolas (quảng trường)
    Cộng Hoà

    69.Schertzur
    Trạng Trình

    70.Surna
    Trần Khánh Dư

    71.Thouard
    Võ Tánh, Bùi Thị Xuân (1)
    72.Trại Hầm (dốc)
    Hoàng Hoa Thám

    73.Van Vollenhoven
    Phan Bội Châu

    74.Yersin
    Trần Phú (1)


    (1) đổi tên từ năm 1975.
    (2) còn gọi là Dốc Nhà Bò.
    (3) còn gọi là Decoux.
    (4) Từ năm 1975, đường Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Hoàng đổi thành Xô viết Nghệ Tĩnh.
    (5) đổi tên từ năm 1993.
    (6) Từ năm 1975, đường Nguyễn Tri Phương đổi thành đường 3 tháng 4.

    Các tuyến xe Bus tại Đà lạt

    Các tuyến xe Bus từ bến xe bus tại trung tâm thành phố Đà Lạt theo các tuyến đường về các xã, huyện của Đà Lạt, Lâm đồng. Dựa trên lộ trình này du khách có thể lựa chọn cho mình hình thức tham quan một số điểm du lịch bằng phương tiện xe bus.
    1. Tuyến đường: Đà Lạt <-> Đức Trọng
    Lộ trình: Bến xe nội thành -> Khu Hòa Bình -> 3/2 -> Trần Phú -> Ngã tư kim Cúc -> 3/4 -> đèo Prenn -> Qlộ 20 -> Ngã ba Finom -> Bến xe Đức Trọng
    Thời gian: 100 phút
    Hoạt động:
    - Chuyến đầu: 5h 30’
    - Cao điểm: 10’/ chuýên
    - Thấp điểm: 50’/ chuyến
    Số tuyến: 70
    Doanh nghiệp: Cổ Phần
    2. Tuyến đường: Đà Lạt <-> Bảo Lộc
    Lộ trình: Bến xe nội thành -> Khu Hòa Bình -> 3/2 -> Trần Phú -> Ngã tư kim Cúc -> 3/4 -> đèo Prenn -> Qlộ 20 -> Ngã ba Finom -> thị xã Bảo Lộc -> đường 28/3 -> Nguyễn Công Trứ -> bến xe Hà Giang
    Thời gian: 180 phút
    Hoạt động: 4h 35’ -> 19h 55
    Cao điểm: 20’/ chuýên
    Thấp điểm: 50’/ chuyến
    Số tuyến: 60
    Doanh nghiệp: Thái Hòa
    3. Tuyến đường: Đà Lạt <-> Đơn Dương
    Lộ trình: Bến xe nội thành -> Khu Hòa Bình -> 3/2 -> Trần Phú -> Ngã tư kim Cúc -> 3/4 -> đèo Prenn -> Qlộ 20 -> Ngã ba Finom -> Qlộ 27 Thạnh Mỹ -> Chợ D’ran
    Thời gian: 100 phút
    Hoạt động: 5h 15’ -> 19h 10’
    Cao điểm: 10’/ chuýên
    Thấp điểm: 30’/ chuyến
    Doanh nghiệp: Phương Trang
    4. Tuyến đường: Đà Lạt <-> Thái Phiên
    Lộ trình: Bến xe nội thành -> Khu Hòa Bình -> 3/2 -> Trần Phú -> Palace -> Hồ Tùng Mậu -> Yersin -> Quang Trung -> Chi Lăng -> Mê Linh -> chợ Thái Phiên
    Thời gian: 27 phút
    Hoạt động:
    - Cao điểm: 30’/ chuýên
    - Thấp điểm: 45’/ chuyến
    Số tuyến: 36
    Doanh nghiệp: Phương Trang
    5. Tuyến đường: Đà Lạt <-> Lạc Dương
    Lộ trình: Bến xe nội thành -> Khu Hòa Bình -> 3/2 -> số 4 -> Xô Viết Nghệ Tĩnh -> số 6 -> Langbiang
    Thời gian: 30 phút
    Hoạt động:5h 30’ -> 18h 45’
    - Cao điểm: 30’/ chuýên
    - Thấp điểm: 40’/ chuyến
    Số tuyến: 48
    Doanh nghiệp: Phương Trang
    6. Tuyến đường: Đà Lạt <-> Xuân Trường
    Lộ trình: Bến xe nội thành -> Khu Hòa Bình -> 3/2 -> Trần Phú -> Ngã tư kim Cúc -> Trần Hưng Đạo -> Hùng Vương -> Trại Mát -> Xuân Thọ - Xuân Trường — Cầu Đất -> trạm Hành 2
    Thời gian: 70 phút
    Hoạt động: 5h 30’ -> 19h
    - Cao điểm: 30’/ chuýên
    - Thấp điểm: 40’/ chuyến
    Số tuyến: 40
    Doanh nghiệp: Phương Trang
    7. Tuyến đường: Đà Lạt <-> Đại Lào
    Lộ trình: Bến xe nội thành -> Khu Hòa Bình -> 3/2 -> Trần Phú -> Ngã tư kim Cúc -> 3/4 -> đèo Prenn -> Qlộ 20 -> Ngã ba Finom -> thị xã Bảo Lộc - chợ Bảo Lộc -> Nguyễn Công Trứ -> đường 28/3 -> Trần Phú -> chợ Đại Lào
    Thời gian: 200 phút
    Hoạt động:4h 20’ -> 20h
    - Cao điểm: 10’/ chuýên
    - Thấp điểm: 30’/ chuyến
    Số tuyến: 47
    Doanh nghiệp: Phương Trang

    Đà Lạt mùa phượng tím


    Khi những cánh hoa mai anh đào cuối cùng biến mất, để từ những đài hoa li ti đó tạo thành những chùm quả nho nhỏ màu tím đỏ mọng như trái nho thì cũng là lúc báo hiệu mùa xuân đã chấm dứt ở xứ sương mù.
    Khắp nơi, dọc các con đường quanh co, triền dốc của Đà Lạt như đường Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Thị Minh Khai, Trần Phú, Lê Hồng Phong... phủ một màu lam tím nhạt của hoa phượng tím, tạo một không gian thơ mộng, đầy chất lãng mạn nhưng lại man mác buồn.
    Phượng vĩ tím (còn gọi là phượng tím) có tên khoa học là Jacranda mimosaefolia D.Don (J.Ovalifolia R.B) thuộc họ Cúc nác (Bignoniaceae), cây có nguồn gốc từ châu Mỹ được du nhập và trồng tại thành phố Đà Lạt từ nhiều năm nay. Hoa phượng vĩ tím có cánh tràng hợp lại thành ống dài hẹp, đầu loe rộng chia thùy gần đều, mọc thành chùm với những hoa nhỏ màu lam tím nhạt.
    Một số hình ảnh dưới đây được chụp vào những ngày giữa tháng 4-2009 tại thành phố Đà Lạt.
    Phượng tím nở dọc các triền dốc của Đà Lạt
    Phượng tím đem lại cho Đà Lạt một không gian thơ mộng, đầy chất lãng mạn nhưng lại man mác buồn

    Vườn hoa thành phố: Vườn hoa thành phố nằm ở cuối hồ Xuân Hương, bên cạnh đồi Cù thơ mộng, cách trung tâm thành phố Đà Lạt 2 km. Ngày xưa, đã từng được nhắc đến với tên gọi vườn hoa Bích Câu, từ năm 1986 đã được nâng cấp lên thành công viên hoa thành phố Đà Lạt. Vườn hoa hiện đang là nơi trưng bày bộ sưu tập về hoa lớn nhất và đầy đủ nhất của Đà Lạt với hàng trăm giống hoa khác nhau.
    Ngoài các giống hoa truyền thống mà du khách đã biết như: cẩm tú cầu, hồng, hồng ry, xác pháo, mimosa; tại vườn hoa còn có hàng chục giống hoa mới được du nhập vào Đà Lạt từ 10 năm nay như các loại: cúc, hồng, đồng tiền, đỗ quyên, trà my...
    Nơi đây có một khu vườn địa lan, phong lan khá lớn và thuộc loại đẹp nhất của Đà Lạt đáp ứng nhu cầu thưởng thức, mua bán trao đoi của khách hàng. Vào dịp tết nguyên đán hàng năm, đây là nơi diễn ra hội hoa xuân tập hợp những nghệ nhân chơi hoa, địa lan, phong lan, cây cảnh, tiểu cảnh - non bộ của Đà Lạt và các tỉnh thi tài.

    Vườn hoa Minh Tâm

    Vườn hoa Minh Tâm nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt 3 km (trước khi đến chùa Tàu Thiên Vương Cổ sát) trên đường cũ từ Đà Lạt đi lên đèo Prenn. Nơi này vốn là biệt thự tư nhân cải tạo thành vườn hoa, mặt bằng nhỏ hẹp nhưng được bố trí tập trung theo từng đặc điểm địa hình hợp lý tạo cho vườn hoa có một phong cách riêng.
    Các loại hoa được đặc biệt chú ý là: mimosa, hồng, cẩm tú cầu, huệ... phía phải là vườn hoa có nhiều ngôi nhà rông, nhà sàn xinh xắn yên tĩnh hợp với những cặp vợ chồng mới cưới đi hưởng tuần trăng mật.

    Trường cao đẳng sư phạm Đà Lạt

    Trường cao đẳng sư phạm Đà Lạt được xây dựng từ năm 1935, trước kia nơi đây là trường trung học Yersin (Lycée Yersin), trường là một trong những công trình kiến trúc lớn và đẹp nhất ở Đông dương lúc bấy giờ. Sau năm 1975, trường chính thức đổi tên thành trường cao đẳng sư phạm Đà Lạt vào ngày 6 tháng 10 năm 1976.
    Ngày 28 tháng 12 năm 2001, bộ văn hóa - thông tin đã ban hành quyết định về việc xếp hạng di tích trường trường cao đẳng sư phạm Đà Lạt là di tích kiến trúc cấp quốc gia.
    Trường cao đẳng sư phạm Đà Lạt là công trình kiến trúc được các nhà phê bình, kiến trúc sư và nghiên cứu kiến trúc thế giới cùng hội kiến trúc thế giới công bố giới thiệu là một trong 1.000 công trình kiến trúc tiêu biểu của thế giới trong thế kỷ XX

    Thiền viện Trúc Lâm

    Thiền viện Trúc Lâm cách trung tâm thành phố Đà Lạt 5 km về hướng Nam, đến đường dẫn vào hồ Tuyền Lâm phóng tầm mắt về phía trước thấy thiền viện Trúc Lâm thấp thoáng trên đầu núi Phụng Hoàng trầm hùng, kỳ vỹ. Thiền viện bắt đầu được xây dựng vào năm 1993 đến năm 1994 thì hoàn thành, bản thiết kế do kiến trúc sư Vũ Xuân Hùng và kiến trúc sư Trần Đức Lộc vẽ.
    Thiền viện được chia ra làm năm khu vực: khu vực ngoại viện, khu tịnh thất hòa thượng, hòa thượng viện trưởng, khu nội viện tăng và khu nội viện ni.
    Đây là một công trình kiến trúc độc đáo bên cạnh hồ Tuyền Lâm. Đi lên từ phía hồ Tuyền Lâm là một con đường dốc có 140 bậc thang bằng đá, hai bên là những rặng thông cao vút dẫn qua ba cổng tam quan để vào chính điện.
    Chính điện có diện tích 192 m2, bên trong thờ tự đơn giản, nhưng mang đầy ý nghĩa của nhà Phật. Giữa điện thờ tượng đức Phật bổn sư Thích Ca Mâu Ni cao khoảng 2 mét, tay phải cầm cành hoa sen đưa lên. Bên phải đức Phật là bồ tát Văn Thù cưỡi sư tử, bên trái là bồ tat Phổ Hiền cưỡi voi trắng sáu ngà.
    Chung quanh phía trên chính điện là các bức phù điêu chạm khắc tám tướng thị hiện của đức Phật và các bao lam, án thờ bằng gỗ được chạm khắc rất công phu. Hành lang phía trước chính điện là hàng cột gồm bốn cột tròn giả gỗ. Trần được lợp bằng ngói tráng men sáng loáng, mái ngói uốn nhẹ toát lên nét khiêm cung của người Việt, nét thanh thoát của nhà thiền.

    Nhà thờ Domain De Marie

    Nhà thờ Domain De Marie tọa lạc trên một một ngọn đồi thoáng đẹp, các trung tâm thành phố Đà Lạt 1 km về hướng Tây Nam. Nhà thờ còn có tên là nhà thờ Mai Anh vì trước đây khu vực này có rất nhiều cây mai anh đào.
    Từ một nhà nguyện của nữ tu dòng Bác Ái, năm 1943 nhà thờ này được xây dựng lại theo lối kiến trúc độc đáo hơn bất cứ nhà thờ nào khác ở Đà Lạt.
    Nét đặc trưng của nhà thờ là có tượng Đức Mẹ đứng trên quả địa cầu tạo theo mẫu người phụ nữ Việt Nam do Jon Chère, kiến trúc sư người Pháp thiết kế. Tượng cao 3 mét, nặng 1 tấn được làm vào năm 1943 là quà tặng của phu nhân toàn quyền Đông Dương Decoux. Đây cũng là nơi yên nghỉ của phu nhân toàn quyền Đông Dương - an táng ở hành lang phía sau của nhà thờ.
    Ngày nay các nữ tử bác ái thánh Vinh Sơn tham gia vào nhiều hoạt động xã hội mang tính từ thiện như: chăm sóc trẻ em chậm phát triển, giúp đỡ các cô nhi, chữa trị bệnh cho người nghèo... Đến thăm nhà thờ Domaine De Marie, du khách sẽ được chiêm ngắm dàn hài tiên khá hiếm nở hoa thật đẹp.

    Nhà thờ Con Gà

    Nhà thờ chính tòa của thành phố Đà Lạt được dân địa phương quen gọi là nhà thờ Con Gà vì trên đỉnh tháp chuông có hình con gà lớn. Biểu tượng con gà có ý nhắc nhở, cảnh tỉnh và mời gọi ăn năn.
    Nhà thờ được xây dựng từ năm 1931 đến năm 1942 mới hoàn thành, là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu và cổ xưa nhất của Đà Lạt, có chiều dài 65 mét, chiều rộng 14 mét, tháp chuông cao 47 mét.
    Với độ cao đó, từ tháp chuông của nhà thờ du khách có thể nhìn thấy mọi nơi của thành phố. Cửa chính của nhà thờ hướng về phía núi Lang Biang.
    Phần áp mái trang trí bằng 70 tấm kính màu chế tạo từ Pháp, làm cho khung cảnh thánh đường thêm phần huyền ảo, thể hiện một nét trong kiến trúc nhà thờ châu Âu thời trung cổ.
    Vào dịp giáng sinh hàng năm, nơi đây thu hút rất nhiều người cả trong và ngoài đạo đến dự lễ tham quan. Giám mục đương nhiệm là ngài Phêrô Nguyễn Văn Nhơn.

    Nhà ga xe lửa Đà Lạt

    Tuyến đường sắt Tháp Chàm - Đà Lạt bắt đầu được nghiên cứu từ năm 1898. Năm 1908, thi công đoạn 38 km giữa Tháp Chàm và Xóm Gòn. Năm 1916, những chuyến xe lửa đầu tiên bat đầu hoạt động mỗi tuần hai chuyến.
    Năm 1917, được nối dài đến tận sông Pha (krông Kmar) - dưới chân đèo Ngoạn Mục. Năm 1922, công ty thầu khoán châu Á tiến hành xây dựng một con đường sắt nối Sông Pha với Trạm Hành - Đà Lạt. Để qua được đèo, dốc người ta đã phải thiết kế những bánh răng cưa lắp thêm vào trong đầu máy nên tuyến đường này mới có tên gọi tuyến xe lửa răng cưa.
    Nhà ga Đà Lạt xây dựng từ năm 1922 đến năm 1932. Kiến trúc cổ kính của nhà ga được giữ nguyên cho đến ngày nay. Xưa mỗi ngày có hai đôi tàu chạy tuyến Đà Lạt - Nha Trang, Đà Lạt - Sài Gòn (với ba toa khách, một toa hàng) và ngược lại. Hành khách bao giờ cũng đông, phần lớn là người Pháp và quan chức người Việt. Nếu đi từ Sài Gòn từ 17h00 thì 5h00 hôm sau sẽ đến Đà Lạt. Trong chiến tranh chống Mỹ, tuyến đường sắt đã bị ngưng từ cuối thập niên 60.
    Năm 1997, tuyến đường sắt đã được khôi phục một đoạn dài 7 km từ ga Đà Lạt đi ga Trại Mát phục vụ khách du lịch. Ga xe lửa Đà Lạt hiện là nhà ga cổ và đẹp nhất Đông Dương.

    Dinh IV - bảo tàng Lâm Đồng

    Dinh IV nằm trên đường Hùng Vương, cách trung tâm thành phố Đà Lạt gần 3 km. Xưa kia từng là biệt thự của đại điền chủ Nguyễn Hữu Hào (bố vợ Bảo Đại), sau đó tặng cho hoàng hậu Nam Phương.
    Từ cuối năm 1999 nơi đây được dùng làm bảo tàng Lâm Đồng. Ở đây có trưng bày nhiều hiện vật quý hiếm về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, trang phục của các dân tộc bản địa đang sinh sống trên đất Lâm Đồng và các hiện vật khảo cổ học di chỉ Cát Tiên.

    Dinh III - dinh Bảo Đại

    Dinh III nằm trên đường Triệu Viet Vương, cách trung tâm thành phố Đà Lạt 2 km về hướng Tây Nam trên một đồi thông cao 1.539 mét. Dinh III là biet thự nghỉ hè của vua Bảo Đại được xây dựng từ năm 1933 đến năm 1937.
    Biệt điện có 25 phòng ngủ, hai tầng lầu. Tầng trệt dùng làm nơi hội họp, yến tiệc. Căn phòng làm việc của vua Bảo Đại với những ấn tín quân sự, ngọc tỷ của hoàng đế, quốc thư, quốc kỳ các nước có quan hệ ngoại giao, tượng bán thân của vua Bảo Đại và vua Khải Định. Trên lầu là phòng ngủ của Bảo Đại, hoàng hậu Nam Phương, cùng thái tử Bảo Long, công chúa Phương Mai, Phương Liên, công chúa Phương Dung và hoàng tử Bảo Thăng.
    Phía ngoài phòng ngủ của cựu hoàng là lầu vọng nguyệt khá đẹp, dùng làm nơi cho cựu hoàng cùng hoàng hậu ngắm trăng... Tất cả đếu như chỉ mới hôm qua sẽ tạo cho du khách mường tượng được cuộc sống của các vị vua chúa trước đây như thế nào.

    Dinh I - dinh tổng thống

    Dinh I nằm cách trung tâm thành pho Đà Lạt 4 km về phía Đông Nam, theo đường Trần Hưng Đạo đến ngã ba Trại Hầm rồi rẽ phải đi tiếp đường Trần Quang Diệu, du khách sẽ đến được dinh I. Dinh có kiến trúc độc đáo mang dáng vẻ cổ kính, uy nghi mà tao nhã khiến ai đã một lần đến đây đều nhớ mãi.
    Nguyên đây là cơ ngơi của một người Pháp được Bảo Đại mua lại từ tháng 8 năm 1949 và cho xây dựng thành tổng hành dinh của chính phủ hoàng triều cương thổ. Đến thời Ngô Đình Diệm được gia cố thành một lâu đài tráng lệ và kiên cố.
    Dưới tòa nhà chính có một đường thoát hiểm, cửa chính đường hầm nằm ngay cạnh phòng ngủ của Ngô Đình Diệm. Một phần đường hầm nổi trên mặt đất có đường thoát hiểm thông ra phía sau dinh, nơi có sân tráng nhựa cho máy bay trực thăng đỗ dài khoảng hơn 100 mét. Hiện nay dinh đã mở cửa cho du khách tham quanvà thuộc quyền quản lý của liên doanh DRI.

    Trường đại học Đà Lạt

    Trường đại học Đà Lạt toa lạc trên một khu đồi thơ mộng ở cuối đồi Cù (phía Bắc hồ Xuân Hương) thuộc đường Phù Đổng Thiên Vương (gần vườn hoa thành phố) với diện tích 40 hecta, trường ra đời vào cuối thập nien 50 với tư cách một viện đại học tư thuc thuộc quyền sở hữu của hội đồng giám mục Công giáo miền Nam Việt Nam. Trươc đó, đây là khu vực của trường thiếu sinh quân hỗn hợp châu Á.
    Trước năm 1975, trường có khoa chính trị - kinh doanh nổi tiếng thu hút sinh viên cả miền Nam về đây học tập, lúc cao nhất, riêng khoa này có đến hơn 1.000 sinh viên theo học.
    Trước đây, các tòa nhà của trường đều được mang những cái tên lấy từ sách “Trung Dung” và “Kinh Thi” như: Năng Tĩnh, Đạt Nhân, Tri Nhất, Minh Thành... Sau năm 1975, trường được khôi phục như là một trường đại học tổng hợp có quy mô vùng và hoạt động trở lại từ năm 1977.
    Trường đại học Đà Lạt hiện là một trường đại học đa ngành đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực cho vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Nhưng thí sinh theo học thì đến từ nhiều miền của đất nước, từ các tỉnh miền Bắc, nhất là các tỉnh Thanh, Nghệ cũ và các tỉnh duyên hải miền Trung.

    Chùa Thiên Vương Cổ Sát

    Chùa do hòa thượng Thọ Dã thuộc hội quán Triều Châu đã đứng ra xây dựng năm 1958 ban đầu chỉ làba gian nhà gỗ lợp tôn. Năm 1989, chùa được ông Lê Văn Cảnh đứng ra trùng tu, tôn tạo như ngày nay.
    Qua khỏi cổng tam quan du khách sẽ gặp tòa Từ Tôn bảo điện, chính giữa có tượng Di Lặc cao khoảng 3 mét và tượng Phật Thích Ca cao 0,5 mét, bốn góc Bảo điện có tượng Tứ Đại Thiên Vương được đúc bằng xi măng cao 2,6 mét.
    Minh Quang điện thờ Tây Phương Tam Thánh gồm các tượng: tượng Phật A Di Đà nằm ở giữa, tượng bồ tát Quan Thế Âm nằm bên trái và tượng bồ tát Đại Thế Chí nằm bên phải, mỗi tượng cao 4 mét, nặng 1,5 tấn. Đây là những bức tượng quý được tạc bằng gỗ trầm do hòa thượng Thọ Dã thỉnh từ Hồng Kông về vào năm 1958. Nơi đây cũng còn hai tượng: tượng bồ tát Văn Thù và tượng bồ tát Phổ Hiền ở hai bên vách bảo điện.
    Trên đỉnh đồi thông phía sau Quang Minh bảo điện là một đài cao hai tầng, tầng thượng có tượng Phật Thích Ca cao 10 mét toạ thiền trên đài sen, tầng dưới kiến trúc rất đẹp, quanh tường là những bức phù điêu kể lại sự tích Phật Thích Ca từ lúc xuất gia cho đến ngày nhập diệt. Du khách có thể dừng chân nơi đây vừa trò chuyện hóng gió, vừa nghe thông reo thì quả thật không có gì tuyệt vời bằng.

    Chùa Linh Sơn

    Chùa Linh Sơn toạ lạc trên đường Nguyễn Văn Trỗi tại một ngọn đồi rộng 4 hecta, cách trung tâm thành phố Đà Lạt gần 1 km về hướng Tây Bắc.
    Chùa Linh Sơn là một trong những ngôi chùa cổ kính và đẹp của Đà Lạt. Chùa được xây dựng từ năm 1936 đến năm 1940 theo lối kiến trúc Á Đông, hai mái xuôi hơi cong phía cuối, trên đỉnh mái có đắp đuoi rồng uốn lượn theo thế “lưỡng long triều nguyệt“ như các chùa cổ của kinh thành Huế.
    Trước chùa có bốn trụ lớn, dưới diềm máilà mảng trang trí hoa văn hình chữ “Vạn” cách điệu. Hai bên bậc cấp dẫn vào chánh điện cũng có cặp rồng há miệng được khắc chạm công phu tượng trưng long thần hộ trì Phật pháp.
    Bên trong chùa được bài trí nghiêm trang. Chánh điện thờ đức Thích Ca Mâu Ni bằng đồng, nặng 1.250 kg, cao 1,7 mét được đúc năm 1952. Phía sau là tổ đường nơi thờ Đạt Ma Tổ Sư cùng các vị tăng ni đã viên tịch và vong linh các Phật tử được gia đình ký thác tại chùa.
    Trong chùa có phòng phát hành kinh sách do giáo hội ấn tống. Ngoài ra, chùa Linh Sơn còn có một giảng đường khá lớn được xây dựng năm 1972 nay là trường cơ bản Phật học của tỉnh Lâm Đồng.

    Chùa Linh Quang

    Chùa Linh Quang là ngôi tổ đình đầu tiên có ở Đà Lạt được hòa thượng Thích Nhân Thứ đứng ra tạo lập năm 1931, toạ lạc ở số 133, đường Hai Bà Trưng, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Đến nay chùa đã quá hai lần trùng tu vào năm 1958 và năm 1972 dưới thời hoà thượng Thích Minh Cảnh trụ trì. Ở góc lớp mái chùa có đắp nổi hình chim phượng rất cầu kỳ và tinh xảo. Trong khuôn viên chùa có khu vườn tháp mộ trông rất uy nghi. Đến đây du khách sẽ được đắm mình trong không gian tĩnh lặng và tìm hiểu lối kiến trúc độc đáo của những năm 30 thế kỷ XX.

    Chùa Linh Phước

    Chùa Linh Phước tọa lạc tại số 120, đường Tự Phước, nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt 8 km (khu vực Trại Mát) gần đường quốc lộ 27 cũ thuộc địa phận phường 11, thành phố Đà Lạt. Chùa được xây dựng từ năm 1949 đến năm 1952 và được Đại Đức Thích Tâm Vị trùng tu lại vào năm 1990. Kiến trúc chùa mang đậm màu sắc Á Đông. Cổng tam quan nằm sát đường quốc lộ.
    Sân chùa có điện thờ Phật Bà Quan Thế Âm. Chánh điện dài 33 mét, rộng 22 mét, trần nhà được đỡ bằng 12 cột rồng khảm mảnh sành. Tại điện thờ tượng Phật Thích Ca uy nghi trên tòa sen cao 4,9 mét được thiếp vàng rực rỡ. Quanh tường những bức phu điêu kể lại lịch sử của đức Phật, khảm bằng miểng chén sứ với nghệ thuật rất tinh vi và độc đáo.
    Bên phải chánh điện là tổ đường, sau bức Cửu Long Môn uốn mình chầu Phật là Long Hoa Viên với hồ nước và hòn giả sơn, cây cảnh và vườn phong lan. Một mình rồng dài 49 mét uốn lượn quanh hồ nước với đầu rồng che phủ tượng đài Di Lặc dựa theo tích pháp hội Long Hoa, toàn thân rông được khảm tạo vây bằng mảnh của 12.000 vỏ chai các loại.
    Ngoài các kiến trúc trên, chùa Linh Phước còn có một đại hồng chung khổng lồ cao 4,3 mét, rộng 2,2 mét và nặng gần 10 tấn được đúc năm 1999 đặt trong một tháp cao bảy tầng.

    Chùa sư nữ Linh Phong

    Chùa sư nữ Linh Phong nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 6 km, toạ lạc trên một ngọn đồi cao cuối đường Hoàng Hoa Thám rất yên tĩnh. Chùa được thành lập năm 1944 do hoa thượng Thích Bích Nguyên sáng lập, nhưng ban đầu đây chỉ là một niệm Phật đường bằng gỗ. Từ năm 1948 đến năm 1962, sư bà Thích Nữ Từ Hương trùng tu và xây dựng thành ngôi ni tự như ngày nay.
    Chùa có năm gian, mang dáng dấp đình làng miền Trung. Cưa dẫn vào chùa theo kiểu cổng tam quan, giữa sân có tượng Quan Thế Âm dựng trên đài sen đúc bằng thạch cao.
    Chánh điện thờ Đức Phật A Di Đà cao 1,8 mét, hai bên thờ bồ tát Quan Thế Âm và bồ tát Đại Thế Chí tượng bằng đồng. Phía sau là nơi thờ Đạt Ma Sư Tổ và hoa thượng Thích Quảng Đức. Phía ngoài là hai dãy nhà làm nơi sinh hoạt cho các ni cô, tiếp khách thập phương và giảng đường. Kế bên là nhà hậu tổ, nơi ở của sư bà và miếu âm lịch. Sau cùng là một bảo tháp ba tầng được xây dựng năm 1988.

    Chợ Đà Lạt

    Chợ Đà Lạt lúc đầu được xây dựng tại ấp Ánh Sáng vào năm 1929 sau đó đươc dời lên phía trái khu Hòa Bình ngày nay. Lúc mới xây dựng, chợ có mái lợp tôn và cột bằng cây nên bị dân gian gọi là chợ Cây. Năm 1937, khu chợ này bị cháy hoàn toàn. Công sứ Lucien Anges cho xây lại khu chợ mới bằng gạch.
    Mặt tiền khi chợ có gắn huy hiệu của thành phố, trong đó có một đôi nam nữ thanh niên người Kho, một con hổ với câu châm ngôn bằng tiếng La Tinh “Dat Alliis Laetitum Alliis Temperriem”, câu này có nghĩa là “Cho người này niềm vui, cho người kia mát lành”. Vì thế mới có người giải thích tên gọi của thành phố bắt nguồn từ năm chữ đầu của câu châm ngôn La Tinh ghép lại.
    Ngày nay, chợ Đà Lạt là một toàn kiến trúc nhiều tầng được xem là một trong những chợ đẹp nhất của Việt Nam. Ngôi chợ mới này do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế, giống như một siêu thị.

    Bảo tàng động vật Tây Nguyên

    Bảo tàng động vật Tây Nguyên tọa lạc tại số 116, đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Bảo tàng động vật Tây Nguyên do phân viện sinh học tại Đà Lạt (thuộc trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia) quản lý. Bảo tàng bao gồm một hệ thống phòng lưu trữ mẫu vật để phục vụ nghiên cứu khoa học diện tích 160 m2 và một hệ thống phòng trưng bày mẫu vật để phục vụ tham quan, nâng cao dân trí diện tích 600 m2, trong đó có phòng trưng bày tổng hợp tập hợp mẫu vật của lưỡng thể - bò sát, các động vật biển và các động vật nuôi khánh thành năm 1990; phòng trưng bày lớp chim và ba phòng trưng bày lớp thú khánh thành năm 1993; phòng trưng bày lớp côn trùng khánh thành năm 1994.

    Thác Rơwoa (thác Voi)

    Thác Voi nằm cách thành phố Đà Lạt 24 km về phía Tây Nam, thuộc thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà. Đây là một thăng cảnh độc đáo của tỉnh Lâm Đồng được du khách biết đến trong những năm 90. Tuy xa, nhưng những du khách yêu thiên nhiên dù chỉ một lần đến đây khi ra về khó mà quên được vẻ đẹp hoành tráng của thác nước này.
    Thác Voi quả là bức tranh sinh động mà thiên nhiên đã khắc hoạ nên. Vào những ngày nắng đẹp, qua làn sương khói mờ mịt bốc lên lấp lánh bảy sắc cầu vồng, ta có cảm giác một đàn voi đang tắm dưới chân thác. Tiếng của gió ngàn hoà với tiếng thác đổ, khiến cho ta liên tưởng đến tieng gầm thét của chúng. Thác Voi - cái tên không biết có từ bao giờ và do ai đặt.
    “Theo truyền thuyết của đồng bào KHo kể rằng: ngày xưa thú rừng rất yêu mến nàng Biang con của tù trưởng bộ tộc Chil. Khi hay tin nàng sắp “bắt chồng”là chàng Lang - một tù trưởng của bộ tộc Lạt, voi rừng vùng La Ngư Thượng mừng lắm, chúng kéo về dự đám cưới. Nhưng khi đến ngọn thác này thì nhận được tin hai người đã chết vì sự thù hận của bộ tộc. Cả đàn voi rừng gào thét suốt mấy ngày đêm rồi lăn ra chết và hoá đá. Thương xót chúng, thần núi Lang Biang khóc hết ngày này sang ngày khác, nước mắt chảy thành suối tắm mát, vỗ về cho đàn voi suốt đời.”
    Chuyện xưa là vây, song khi đặt chân đến thác Voi, du khách không khỏi bâng khuâng khi về với khung cảnh hoang dã và hùng vĩ này.

    Thác Prenn

    Thác Prenn nằm ngay bên chân đèo Prenn - cửa ngõ vào thành phố, trên quốc lộ 20 từ thành phố Hồ Chí Minh lên Đà Lạt. Tên Prenn - theo tiếng Chăm có nghĩa là “vùng xâm chiếm”, còn các dân tộc bản địa như Lạt, Chil, Sre lại gọi kẻ xâm lăng là “người Prenn”.
    Để vào thác, du khách phải qua một chiếc cầu ngắn, tựa chiếc nơ xinh xắn bắc ngang dòng suối có tay vịnh. Du khách sẽ được nhìn thấy một bức màn nước, từ trên các tảng đá đổ xuống và từ dưới trông lên cứ như từ trên trời đổ xuống nên người Sài Gòn đã gọi tên thác là Thiên Sa, những giọt nước như những hạt ngọc lấp lánh buông mình từ độ cao gần 10 mét xuống thung lũng nhỏ đã được chỉnh sửa thành vườn hoa mà từ đây có nhiều lối mòn xen cỏ và hoa dẫn lên các đồi thông thoáng đãng chung quanh.
    Từ năm 1998 đến nay, Prenn được đầu tư mạnh nên đang là điểm ăn khách. Trong khuôn viên thác có cầu treo dân tộc, có hồ nuôi cá sấu, có một ít thú như gấu ngựa, cá sấu, thuyền chèo cao su. Từ tết năm 2003, nơi đây có thêm đền thờ Âu Lạc (dựa theo truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ) ở phía trên đồi cao để khach tham quan, dâng hương.
    Du khách có thể men theo những lối nhỏ để đếnvườn thú, vườn lan hay thư thả dạo hoa viên ngắm nhìn muôn hoa khoe sắc, những căn chòi xinh xinh trên ngọn cây hoặc đung đưa cùng cây cầu treo bắc ngang dòng suối nhỏ. Đặc biệt với hệ thống cáp treo, du khách có thể lướt ngang qua dòngthác trong cảm giác phiêu bồng. Đến thác Prenn, du khách còn được tham gia những trò chơi của người bản xứ: bắn nỏ, bắn tên, uống rượu cần...

    Thác Pongour (thác Sừng Tê Giác)

    Thác Pongour nằm trên địa bàn xã Tân Hội, huyện Đức Trọng, cách thành phố Đà Lạt 45 km, cách đường quốc lộ 20 khoảng 7 km. Thác thuộc loại đẹp, hùng vĩ nhất Tây Nguyên với chiều cao hơn 20 mét, bề mặt thác dài hàng trăm mét và một thềm thác rộng hàng chục hecta có thể tổ chức vui chơi cho hàng ngàn người một lúc. Các nhà du lịch đã không ngần ngại đặt cho Pongour biệt hiệu “Nam Phương đệ nhất thác”.
    “Theo truyền thuyết của đồng bào dân tộc thì thác gắn liền với câu chuyện về nàng Ka Nai - một tù trưởng xinh đẹp đã có công xây dựng nên cuộc sống thịnh vượng của đồng bào KHo. Tương truyền Ka Nai có bốn con tê giác và Ponguor là dấu về các con tê giác cắm sừng xuống đất.”
    Ponguor có ngày hội thác vào ngày rằm tháng giêng hàng năm và ngày nay đã trở thành một ngày du xuân của thanh niên Đà Lạt - Lâm Đồng với nhiều trò chơi dân gian, các nghi lễ truyền thống của các dân tộc bản địa.

    Thác Hang Cọp

    Thác Hang Cọp nằm tại “thung lũng trắng”, cách trung tâm Đà Lạt 12 km về hướng Đông Bắc. Theo đường Trần Hưng Đạo qua đường Hùng Vương chạy về Trại Mát rồi rẽ trái vào thôn Tuý Sơn, men theo con đường đất dài khoảng 3 km, thác Hang cọp hiện ra thật hùng vĩ và thơ mộng. Tên thác Hang Cọp là do người dân địa phương đặt vì đi từ trên xuống, thác được chia làm ba tầng. Tầng đầu tiên là chỗ ở của một con cọp ba chân hung dữ. Vào những năm 50, con cọp này đã bị người dân bẫy được. Nhưng cả một thời gian dài ít ai dám đến khu vực này vì sợ. Tầng ba của thác là tầng đẹp nhất, dòng nước mát tinh khiết đổ từ trên cao xuống, uốn lượn qua nhiều bậc đá nhỏ với dáng vẻ độc đáo kỳ lạ rồi mất hút vào rừng sâu.

    Thác Lạc Nghiệp

    Lạc Nghiệp, cái tên này là tên của một xã thuộc huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Chính vì thế nên dân địa phương đặt tên cho thác là Lạc Nghiệp. Khi bắt đầu vào đèo trên đường xuống Phan Rang chúng ta có thể nhìn thấy thác từ hẻm vực bên tay phải (nhìn được cả từ quốc lộ). Tuy nhiên cũng hơi khó tìm vì dòng chảy của thác bị những tàn cây che khuất. Theo như dân địa phương cho biết thì địa điểm có dòng chảy được gọi là Eo gió, nhưng nếu hỏi địa danh Miếu Cọp thì nhiều người biết hơn (vì thác nằm ngay dưới miếu cọp).
    Thác ẩn dưới những tán cây, nên đường vào thác hơi khó một chút. Chịu khó lần theo dòng chảy ta sẽ đến nơi. Đoạn cuối con đường là hai vách núi cao dựng đứng. Mặt trời chỉ có thể chiếu sáng khoảng thời gian từ 11h00 đến 13h30, còn khoảng thời gian còn lại mặt trời đã bị vách núi che khuất. Khi đến nơi, ta sẽ thấy toàn cảnh thác. Một cảnh hùng vĩ với những dòng chảy xiết, qua những tảng đá nhỏ, nước sủi bọt trắng xóa. Ta còn có thể nghe được tiếng vi vu của gió dưới lòng thác. Không khí dưới thác rất dễ chị. Ta có thể đứng trên các mỏm đá cao mà hít thở không khí trong lành của vùng núi. Nhưng thác vào mùa mưa thì rất nguy hiểm, mực nước dâng cao và đường leo rất trơn.

    Thác Jráiblian

    Ẩn mình giữa núi rừng Tà In thanh vắng là một thác nước cao hùng vĩ. Thác có một vẻ đẹp vừa huyền bí vừa mơ màng. Ai đã một lần đi qua chắc khó quên những ấn tượng về dòng thác cũng như vẻ đẹp hoang dã của nó giữa núi rừng hùng vĩ.
    Từ vách đá cao chừng 70 mét, một dòng nước lớn chia làm ba nhánh đổ thẳng xuống lòng suối sâu; những tia nước đuổi nhau, phóng nhanh như tên bắn, bụi nước bốc mù mịt cả một vùng thật là huyền ảo. Ở xa chừng hai, ba cây số ta cũng đã nghe thấy tiếng nước reo ì ầm. Trải dài dưới chân thác là một bãi đá rộng, có nhiều tảng đá lớn gợi nên sự tưởng tượng lý thú cho du khách khi có dịp “dừng chân lãng du”. Tương truyền thì đó chính là xác của các loài cầm thú, chim muông và có cả con người bị chết hóa đá khi tụ tập ở đây để nghe âm thanh huyền diệu phát ra từ lưỡi con cá sấu.
    Tương phản với sự mạnh mẽ của dòng thác, cảnh vật ven bờ rất nên thơ. Bên phải thác, trên vách đá cheo leo một cây si già buông những cánh tay dài xuống thác như thể đang đùa vui với dòng nước. Rồi những cành cây, dây leo mềm mại bò trên vách đá. Đây đó, thỉnh thoảng xuất hiện những chùm phong lan trắng muốt từ các cành cây rũ xuống điểm trang.
    Bên trái thác, men theo con đường mòn nhỏ, ta sẽ gặp một hang đá có vách dựng gần như một giao thông hào đi sâu vào lòng thác gợi cho khách lòng ham muốn khám phá.

    Jráiblian - đó là cái tên quen thuộc mà đồng bào Churu trong vùng vẫn thường gọi dòng thác hùng vỹ này. Jráiblian - có nghĩa là thác đá cao. Nhưng về sau thác còn có tên gọi là thác Bảo Đại. Vì trong những năm tháng làm vua, Bảo Đại thường đi săn qua vùng này. Thác Jráiblian là điểm được ông chọn làm nơi dừng chân nghỉ ngơi, thư giãn sau những ngày đi săn.
    Ngày nay, đồng bào Churu trong vùng vẫn còn lưu truyền một truyền thuyết lý giải về sự xuất hiện của thác Jráiblian.
    “Chuyện kể rằng, ngày xưa ở vùng Ktun có hai cậu cháu, người cậu tên là Zuwar, người cháu là Stak. Hai cậu cháu thường rủ nhau đi bắt cá. Một hôm nọ ra suối suốt cả ngày mà vẫn không bắt được một con cá nào. Chiều đến, đói rã cả người, hai cậu cháu vẫn chưa tìm được gì để lót dạ. Và khi hoàng hôn bắt đầu buông xuống thì hai người cùng nhìn thấy một quả trứng lớn nằm trong hốc đá. Cậu Zuwar định lượm nhưng Stak ngăn không cho; một lát sau Stak cũng muốn lượm nhưng Zuwar lại can ngăn vì sợ... Hai người giằng co nhau mãi và đến cuối cùng thì họ quyết mang luộc. Khi trứng được luộc chín, hai cậu cháu lại dành nhau về chuyện ăn thử. Zuwar thì nói mình già rồi, có chết cũng không sao nên đòi ăn trước. Stak cũng không chịu, sợ cậu chết nên cố đòi ăn trước. Cuối cùng cháu Stak ăn được trước. Ăn xong, thấy ngứa hết cả mình mẩy, bèn nhờ cậu gãi giùm nhưng vẫn không hết. Càng gãi càng ngứa, hoảng quá Stak nhảy xuống suối ngâm mình trong nước. Một lúc sau người lớn bằng con bê và đến sáng đã lớn bằng con trâu. Zuwar buồn quá đành để cháu lại chạy về báo với người trong nhà. Khi mọi người trong gia đình chạy ra thì Stak vẫn sống mà một phần chân tay đã có vẩy như cá sấu, phần dưới mọc một cái đuôi dài. Stak ngẩng đầu lên nói với cha mẹ rằng: mình sẽ không sống làm gì nữa khi biến thành cá sấu, nên xin cha mẹ trước khi chết được ăn đủ trâu, bò, gà, vịt mỗi thứ bảy con. Người nhà liền làm theo nhưng Stak vẫn không chết, mà lúc này người đã lớn bằng cái nhà dài. Trong họ hàng nhà Stak bắt đầu có sự bàn cãi, giằng co nhau, có nên để cho nó sống nữa hay không. Cuối cùng họ cắt một miếng mâm sắt nung đỏ và mang tới nói là một miếng thịt đỏ rồi ném cho Stak, lúc này đã là một con cá sấu khổng lồ. Nuốt xong, nó nằm vật ngửa ra chết, xác nằm chắn ngang giữa suối. Lưỡi nó thè ra, nước tràn qua lưỡi tạo nên âm thanh hay hơn cả tiếng đàn. Hay đến nổi trứng gà trong tổ cũng lăn tới bờ suối để nghe. Tất cả các loài muôn thú và dân trong vùng đều bị mê hoặc bởi âm thanh kỳ lạ đó, bỏ cả công ăn việc làm tới nghe đến nỗi phải chết đói.
    Vua Chàm liền sai 100 người buộc dây kéo cái lưỡi ra. Nhưng kỳ lạ thay, cái lưỡi cứ dài ra rồi lại co rút lại làm cho cả đoàn người lăn tõm xuống vực sâu mà chết. Thương hại con người, “Giàng” liền sai một con chim đen xuống mách bảo: phải lấy da ông già làm dây mới kéo được. Mừng quá, vua Chàm liền sai người rao tìm người già tình nguyện chết để cứu dân làng. Vừa lúc đó có một cụ già chống gậy tới xem, biết chuyện ông liền bước tới trước vua Chàm xin được chết. Vua Chàm mừng rỡ sai người mổ trâu bò làm tiệc thết đãi ông già, sau đó mổ lấy da bện thành dây thừng để kéo. Quả nhiên cái lưỡi bị gãy văng ra khắp nơi, dính cả vào cây lồ ô, cây tre bên cạnh. Nhưng cái lưỡi vẫn còn ba phần lớn. Một thành thác Jráiblian, một phần văng tới vùng Tu Tra (thuộc huyện Đơn Dương bây giờ) và một phần ở Ma Bó thành suối. Cũng vì vậy mà ngày nay tre và lồ ô là những loại cây có khả năng phát ra âm thanh nên được sử dụng làm các loại nhạc cụ.”

    Jráiblian hay thác Bảo Đại là một trong những thắng cảnh còn giữ được nhiều vẻ đẹp hoang dã của Lâm Đồng, hứa hẹn một tiềm năng du lịch đầy triển vọng.

    Thác Gougah (thác Ổ Gà)

    Thác Gougah nằm cách Đà Lạt 30 km và cách đường quốc lộ 20 chừng 300 mét (từ Đà Lạt về thành phố, qua khỏi thị trấn Liên Nghĩa 8 km gặp một ngã ba rẽ phía tay trái). Tên thác Gougah là do người dân bản địa đặt còn tên Ổ Gà là do người Kinh đặt.
    “Theo các truyện cổ Nam Tây Nguyên thì xưa kia Gougah vốn là một vực sâu kho báu của hoàng hậu Naf Biút (nước Chiêm Thành - Chăm). Naf Biút vốn người Việt, lấy vua Chăm, nàng được vua rất sủng ái, để chữa bệnh cho nàng có quần thần tâu phải xây mộtcung điện ngoài vương quốc Chămpa để hoàng hậu dưỡng bệnh và vua Chăm đã chấp thuận. Về sau hoàng hậu mất, nhà vua cho chôn cất ở nơi hoang dã ấy và cho chôn theo một kho tàng vàng, ngọc để hoàng hậu dùng.”
    Còn theo một truyện dã sử khác của người Chăm thì hoàng hậu Naf Biút chính là Huyền Trân Công Chúa.

    Thác Đatanla

    Thác Đatanla nằm giữa đèo Prenn, cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 5 km. Cảnh vật xung quang còn hoang sơ và mang vẻ đẹp của Tây Nguyên trữ tình, nước từ trên ghềnh cao đổ xuống thành dòng suối len lõ qua các mỏm đá rồi xa hút vào rừng sâu. Phía trên thác là cánh rừng thông đặc chủng xanh tốt có tuổi đời hàng trăm năm, hoặc những tảng đá to bằng phẳng là nơi dừng chân lý tưởng cho du khách trước khi tiếp tục cuộc hành trình.
    Có rất nhiều truyền thuyết về Đatanla.
    “Truyền thuyết kể rằng, Đatanla còn là thác mà các nàng tiên thường hay xuống tắm vì có dòng nước trong vắt, được che phủ bởi nhiều tầng lá. Vì không biết là dưới lá có nước nên khi phát hiện ra con thác, bà con dân tộc thiểu số đặc tên cho nó là “Đạ Tam Nnha” có nghĩa là “dưới lá có nước”. Sau này khi người Pháp và người Kinh đặt chân lên vùng cao nguyên đầy trữ tình này thì biến âm thành Đatina rồi là Đatanla.”
    “Có truyền thuyết kể lại rằng, vào thời Pôrêmê, người Chăm từ Panduranga (Phan Rang) thường kéo lên tấn công người Lạt, người Chil ở cao nguyên Lang Biang để giành đất và bắt nô lệ. Trong lúc người Lạt sắp thua vì thiếu “cái nước” thì tình cờ họ phát hiện ra dòng thác này và có nước uống, nên người Lạt đã chiến thắng và bảo vệ được buôn làng. Còn người Chăm thua vì họ không biết “dưới lá có nước”. Từ đó bà con bộ tộc Lạt đặt tên là “Đạ Tam Nnha” (dưới lá có nước) để nhắn nhủ với con cháu sau này.”
    “Cũng theo truyền thuyết của người Lạt, Đalanla là nơi chàng dũng sĩ Lang thắng hai con rắn tinh, bảy con chó sói để cứu nàng Biang thoát nạn. Hai người đem lòng yêu nhau, nhưng do khác bộ tộc nên cuộc hôn nhân của họ không được chấp nhận, đôi tình nhân này nguyện đi đến cái chết bên nhau để phản đối luật tục khắt khe của bộ tộc.”
    Dưới chân thác Đatala có những hố sâu, hiểm trở gọi là vực Tử Thần, như nhắc nhở bước chân du khách hãy thận trọng. Tuy nhiên trong vài năm trở lại đây, vực Tử Thần trở thành nơi hấp dẫn đối với khách du lịch thích cảm giác mạo hiểm qua trò chơi chinh phục vách đá, leo lên leo xuống bằng dây, hay lách mình qua những lùm cây và bắt chợt gặp chú sóc, chú chồn đang lơ láo...

    Thác Đam Ri

    Theo quốc lộ 20, du khách đến Đam Ri, cách thị xã Bảo Lộc khoảng 18 km về phía Tây, thác cao 90 mét. Đây là thác quan trọng của tỉnh Lâm Đồng, nằm trong tuyến du lịch Đà Lạt, tới từ thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ, cùng tỉnh Bình Thuận. Thác Đam Ri rất kỳ vỹ, luôn âm vang tiếng nước đổ lan rộng hàng mấy cây số.
    Tên Đam Ri theo ngôn ngữ KHo có nghĩa là “chờ đợi”, bắt nguồn từ tên Đam và HRi (đọc là Hờ Ri) của một đôi trai gái trong chuyện tình chung thủy.
    “Truyền thuyết kể lại rằng từ rất xa xưa ngọn thác này chỉ là dòng suối nhỏ và là nơi tắm thường ngày của nàng HRi duyên dáng. Một hôm, chàng thanh niên Đam (có chỗ nói là KĐam) đi săn tới đây, tình cờ nhìn thấy nàng đang ở dưới suối. Chàng bị vẻ đẹp của nàng làm mê mẩn. Sau đó hai người yêu nhau và kết hôn.
    Một hôm, chàng Đam đi săn trong rừng quá lâu. Nàng HRi ở nhà chờ đợi, chẳng thấy tin chồng về. Ngày lại ngày, đam vẫn bặt tin. Quá thương nhớ chồng, HRi khóc mãi đến mức nước mắt tuôn trào, hoà cùng nước suối tạo thành dòng thác lớn.
    Sau chuyến đi săn lâu ngày, chàng Đam quay trở về nhà. Nghe chuyện của vợ, chàng đau lòng đến bên bờ suối, nhảy từ trên cao xuống để giữ trọn lời thề thuỷ chung. Thân xác chàng hoá thành con sư tử, ngày đêm đứng cạnh thác nước.
    Ngày nay, du khách đến bên ngọn thác này có thể nhìn thấy được tảng đá hình con sư tử dưới chân thác. Đó chính là chàng Đam ngày đêm phục bên thác nước khóc thương người vợ yêu. Do chuyện tình này, người KHo đặt tên thác là Đam HRi, ngày nay người ta quen gọi là Đam Ri.”

    Thác Cửa Thần

    "Chuyện kể rằng vùng đất này xưa kia được bà con bộ tộc SRê chọn làm nơi sinh sống, họ sống du canh du cư. Có lần đến mùa giáp hạt, thiếu cái ăn, cả bon (bon là đơn vị cư trú của người SRê) phải sống trong cảnh đói nghèo. Với trách nhiệm cao nhất, vị già làng đã một mình lặn lội khắp núi rừng để săn bắt, kiếm cái ăn cứu sống con em bon. Sau nhiều ngày vất vả không kiếm được gì, già làng dừng chân, gối đầu lên tảng đá bên dòng thác cuồn cuộn để lấy lại sức. Bỗng ông phát hiện một vị thần chói lọi đứng trên đỉnh cao của thác từ lúc nào không hay.
    Dường như hiểu được nỗi lòng của già làng, vị thần đã dẫn già làng xuống vách núi được tạo dựng bởi hai bờ đá cao thẳng đứng, nhìn từ trên cao ta có cảm tưởng như một cánh cửa đá khổng lồ vừa được hé mở. Vừa qua hết vách đá là một hồ nước khá rộng...vị thần bỗng dưng biến mất. Tại đây, già làng đã bắt được rất nhiều cá mang về kịp thời cứu đói cho bon. Kể từ đó bà con bộ tộc SRê gọi dòng thác này là Liang Mpông Yàng - có nghĩa là thác Cửa Thần. Dòng thác có độ cao khoảng 15 mét, ngày đêm cuồn cuộn xối xả tạo nên một dòng suối bạc trắng, nhìn tựa như chòm râu của vị thần đã cứu dân."

    Nếu tiếp tục ngược theo dòng suối chính, vượt qua ghềnh đá cheo leo, luồn mình qua những lùm cây nguyên sinh, nước vẫn cuồn cuộn trải mình trên nền đá...vừa khi thấm mệt du khách lại được tận hưởng vẻ đẹp của một thác nước thấp hơn, nhưng rộng hơn và cũng êm ả hơn mang tên Liang Pe KBít - thác Khát Vọng - theo bà con đó là tên của một loài cá có cánh chuyên sống nơi thác ghềnh, khi chiều xuống nó lại búng nhảy lên mặt nước để ngắm nhìn vẻ đẹp của đất trời, và để tận hưởng cái không khí trong lành của núi rừng thiên nhiên...
    Cụm thác nước vừa kể là một tiềm năng du lịch bấy lâu đang bị lãng quên mặc dù chỉ cách Đà Lạt khoảng 17 km về hướng Tây Nam, thuộc xã Tà Nung, một xã có gần 60% dân cư là đồng bào dân tộc thiểu số. Nếu có một vị thần nào đó biết khai thác thì sẽ biến vùng đất này trở thành một địa chỉ du lịch sinh thái kết hợp khám phá văn hóa dân tộc bản địa rất hấp dẫn. Hiện tại con đường từ thác Cam Ly dẫn về Tà Nung đã được trải nhựa (chỉ còn lại vài ba cây số do địa hình hiểm trở đang thi công dang dở) rất thuận tiện để du khách đặt chân đến khám phá và chinh phục vẻ đẹp của thiên nhiên và đời sống của bà con bộ tộc SRê giữa đất trời Nam Tây Nguyên này.

    Thác Cam Ly

    Thác này chỉ cách trung tâm thành phố phố Đà Lạt 3 km. Thác đổ dài như mái tóc buông xoã của một kiều nữ đầy sinh lực, trẻ trung. Cam Ly là tên thác mà cũng là tên của một dòng suối nhỏ chảy từ Hồ Xuân Hương đến thác Cam Ly có nhiều ý nghĩa: theo sự hiểu biết thông thường, dễ dãi là “cam đành ly biệt”. Nhưng theo từ Hán thì Cam có nghĩa là “đành lòng, thích tai, vui vẻ và ngọt” còn ly là “mỏng manh, nước thấm vào đất”. Có người còn cho rằng Cam Ly là biểu tượng của một dòng suối nước mát ngọt thấm vào lòng du khách.
    Tên Cam Ly có từ xưa, khiến nhiều người thắc mắc về địa danh tiếng Việt này. Chính viên Công sứ Pháp đầu tiên ở Đà Lạt cũng không hiểu sao Đà Lạt có hầu hết tên đất là tiếng người dân tộc, còn Cam Ly lại là tên Việt.
    Có thuyết cho rằng Cam Ly là biến âm tên người dân tộc Mon MLy, Đăm MLy (người đàn ông bất khuất trong thời kì Pháp mới xâm chiếm vùng Lang Biang).
    Giả thuyết sau đây có phần phù hợp với sự thật hơn:
    "Xa xưa bên bờ suối Cam Ly và Hồ Xuân Hương có đến ba tộc người thiểu số sống cận kề, hòa thuận với nhau. Người Lạch ở thung lũng Hồ Xuân Hương. Người Chil ở một phía bờ suối và hồ đến thác (khu vực cầu bá Hộ Chúc). Tộc người KHo do tù trưởng tên là KMly ở phía trên đầu thác.
    Sau khi tù trưởng qua đời, tộc người này lấy tên ông đặt cho vùng đất mà họ chiếm cứ cùng ngọn thác và đoạn suối: vùng đất quê hương đáng để ghi nhớ tên vị tù trưởng khả kính của họ.
    Con suối và ngọn thác được gọi chung là KMly. Âm KMly nói nhanh thành Kam Ly và được viết thành Cam Ly, khiến viên công sứ Pháp tưởng là tên tiếng Việt."

    Thác Bobla (thác Liên Đầm)

    Ở xã Liên đầm, huyện Di Linh, cách thành phố Đà Lạt 80 km và cách thị xã Bảo Lộc 25 km, cạnh quốc lộ 20, nối liền bằng đường vòng 300 mét.
    Theo tiếng người KHo, Bobla được viết theo thổ ngữ đó là Pố Pla có nghĩa là đầu ngà voi, gọi theo tiếng Việt là Bốp Bờ La. Còn gọi là thác Liên Đầm, theo địa danh xã địa phương.
    Thác này nằm lọt giữa ngọn đồi có hình voi phục và dánh vẻ giống như hang động. Chung quanh thác có nhà cửa, hàng quán, trang trai, vườn cà phê.
    Dưới chân thác có một hồ nhỏ do nước đổ từ thác lâu ngày tạo thành. Cạnh hồ là những tảng đá lớn giống như những bàn tay đá của người khổng lồ, và những cây cổ thụ có tàn tán rộng che mát cả một khoảng không gian. Thác Bobla cao gần bằng thác Đam Ri ở Bảo Lộc.
    Truyền thuyết của người dân tộc xưa cư trú tại đây cho biết:
    “Ngày xửa ngày xưa, người Chăm thống trị vùng Di Linh này. Người Chăm bắt dân bản địa phải đóng thuế bằng sản vật của núi rừng như da thú, sừng tê giác, hươu nai và đặc biệt hơn cả là phải có ngà voi.
    Phải chọn ngà voi thật to lớn, Tù trưởng bộ tộc cư trú tại thác tìm cặp ngà voi cao quá đầu người, đến nỗi khi dựng đứng lên ngựa cũng không phi qua được. Vua Chăm thích quá đặt tên cho nơi này là Pố Pla và dòng thác kia cũng mang tên là Pố Pla.
    Tên Liên Đầm có được do nói trại tiếng Liang Đăm, là tên chàng trai tài hoa đã cứu dân làng Liang Jrăk Mur thoát khỏi bàn tay độc ác của giặc Chăm. Trong một lần quân Chăm tiến đánh làng, cả làng đều khiếp sợ bỏ chạy. Chỉ có chàng Liang Đăm là không nao núng, bẻ một cây trâm bên bờ thác, có cành hướng thằng về phía quân thù. Lạ thay! Cành trâm gãy tới đâu thì quân Chăm điên cuồng tự chém giết nhau rồi tan vỡ đến ấy.

    Sau khi giặc tan, Liang lặng lẽ đi tới dòng thác rồi biến mất. Từ đó dân làng lấy tên chàng đặt cho làng để tạ ơn. Tên làng Liang đăm về sau bị gọi trại và người Việt phiên âm là Liên Đầm.”

    Hồ Xuân Hương

    Năm 1922, theo chủ hồi sinh thành phố của Toàn quyền P.Doumer, kỹ sư công chánh Labbè đã cho đào một cái hồ nhân tạo, cho xây cái đập ngăn nước trên thung lũng cũ và tạo nên một cái hồ mới có tên Pháp là Gran Lake. Một năm sau có thêm một đập ngăn nước nữa ở phía dưới nhưng đến năm 1932, một cơn bão lớn đã làm vỡ hai đập và sau đó người ta xây dựng một đập lớn bằng đá như ngày nay (mang tên ông Quản đạo người Việt đầu tiên là ông Phạm Khắc Hòe).
    Năm 1953, theo chủ trương của chính quyền Ngô Đình Diệm cho Việt hoá một số địa danh ở miền Nam nên hồ đã được mang một cái tên mới là hồ Xuân Hương ( tỏa hương thơm vào mùa xuân). Hồ có chu vi 5,5 km và độ sâu trung bình 1,5 mét. Xung quanh hồ có hai loại cây có thể gọi là đặc trưng của Đà Lạt là mai anh đào và liễu rủ. Cứ trước Tết từ Nô-en trở đi là mai anh đào lại nở rực bên hồ gợi cho du khách một chút xuân xứ Bắc.
    Cứ mỗi buổi chiều, thả bộ dạo một vòng từ khu Hoà Bình đến bờ hồ rồi vòng qua Thủy Tạ hay Thanh Thủy để hưởng cái se se lạnh về đêm của tiết trời ôn đới, du khách sẽ thấy tâm hồn thư thái. Về mặt lịch sử, hồ Xuân Hương chính là nơi phát xuất danh xưng Đà Lạt. Đây là danh thắng đầu tiên của Lâm Đồng được công nhận là di tích cấp quốc gia vào năm 1988.

    Hồ Tuyền Lâm

    Theo quốc lộ 20, lên đèo Prenn, qua khỏi thác Đatanla rẽ về phía trái chừng hơn 1 km, băng qua những rừng thông ngút ngàn, du khách sẽ bắt gặp một hồ nước mênh mông, xanh biếc và đầy vẻ quyến rũ - đó là hồ Tuyền Lâm. Với diện tích mặt nước khoảng 350 hecta, hồ Tuyền Lâm được tạo thành bởi dòng suối Tía.
    Tên hồ không biết có tự bao giờ và do ai đặt, nhưng có lẽ cũng do xuất phát từ khung cảnh thiên nhiên kỳ vỹ ở đây mà tên gọi ấy đã sống mãi. Đó là nơi gặp gỡ giữa sông, suối và cây rừng.
    Năm 1982, để đảm bảo nước tưới cho hàng trăm hecta lúa của huyện Đức Trọng, Nhà nước đã cho xây dựng đập ngăn nước tại đây. Năm năm sau, công trình được hoàn thành và đã dần dần trở nên một điểm tham quan, du lịch không thể thiếu đối với nhiều người. Với mặt nước mênh mông quanh co dưới chân những ngọn núi nhấp nhô, trùng điệp, ở mỗi khúc quanh, non nước trời mây hình như luôn biến đổi. Nơi này là rừng thông non, nơi kia là non cao với lớp lớp ngàn thông thẳng tắp. Tuyền Lâm! Thật đúng là non xanh nước biếc, phong cảnh hữu tình.Vào những ngày đẹp trời, dùng ca-nô hay thuyền buồm du ngoạn trên mặt hồ, du khách sẽ được chiêm ngưỡng tận mắt những đồi thông xanh mởn, xen giữa là những cụm rừng già và những sườn đồi thoai thoải, soi bóng xuống mặt hồ. Trước khung cảnh ấy, lòng ta như bâng khuâng, đồng thời lại có cảm giác như vừa trút bỏ được hết những vướng bận của bụi trần để bước chân vào chốn thần tiên.
    Buổi sớm, hồ nước phủ đầy sương trắng và yên tĩnh đến lạ kỳ, chỉ có tiếng chim quyện thành vòng, thành chuỗi để rồi tan xuống mặt hồ phẳng lặng. Buổi trưa bầu trời sáng láng, mặt hồ xanh biếc như biển khơi, lấp lánh ánh thủy tinh. Đến chiều thì mềm ra trong ánh sáng mát lạnh và mặt hồ dần dần chuyển sang màu xanh thẫm. Nếu ngồi ở hồ Tuyền Lâm câu cá, làm thơ, hoặc đi dạo với người yêu vào những thời điểm như vậy, mới cảm nhận được hết vẻ kỳ ảo, thơ mộng và huyền diệu của cảnh sơn thủy hữu tình mà tạo hóa đã ban cho đất trời Đà Lạt.

    Hồ Hàm Thuận - Đa Mi

    Trên đường đến thị xã Bảo Lộc, rẽ phải và đi chừng 20 km bạn sẽ đến hồ thuỷ điện Hàm Thuận - Đa Mi, nơi có các hồ chứa nước rộng mênh mông, đập tràn dài tít tắp, các cổng lấy nước, các công trình chống xói lở, vách núi được trồng cỏ mượt như nhung và hàng trăm tiểu đảo cô độc giữa lòng hồ.
    Thời gian một ngày đủ cho bạn đi xe máy hoặc ôtô từ thành phố Hồ Chí Minh đến Hàm Thuận - Đa Mi và tham quan vùng hồ cùng các công trình của nhà máy thủy điện.
    Tại vùng hồ Hàm Thuận - Đa Mi hiện chưa có nhà nghỉ, do đó muốn tìm khách sạn loại xịn bạn phải trở ra thị xã Bảo Lộc, còn nếu chọn chỗ nghỉ bình dân có thể thuê phòng nghỉ qua đêm ngay tại trung tâm xã Đa Mi. Đó là khu nhà xây kiên cố, có trên 100 phòng của các chuyên gia Nhật sử dụng trong quá trình thi công công trình Hàm Thuận - Đa Mi; nay các chuyên gia rút đi, bàn giao khu nhà này cho Xí nghiệp lâm nông công nghiệp Hàm Thuận Bắc quản lý.
    Bạn có thể mua các loại cá chép, cá lóc, cá trắng...do nhân dân địa phương đánh bắt từ lòng hồ, đốt thêm đống lửa trại và thưởng thức món cá, thịt nướng chấm muối ớt, lai rai vài ly rượu trong không khí mát rượi giữa thiên nhiên yên tĩnh (hồ Hàm Thuận - Đa Mi ở độ cao 500 mét so với mực nước biển, không khí vùng này gần như ở thị xã Bảo Lộc).
    Thác chín tầng, cách trung tâm xã Đa Mi khoảng 7 km. Đường dốc quanh co nhưng được trải nhựa dẫn đến ngọn thác có chín tầng nước chảy, mỗi tầng thác cách nhau khoảng 100 mét, hoang sơ, hùng vĩ...
    Đa Mi còn có hàng chục con thác khác như Đaguri, thác Đatro, Đatriam, Đa Klan...thác nào cũng có vẻ đẹp riêng. Trên đường du khảo, bạn cũng có thể ghé thăm cống điều áp của đường hầm dẫn nước từ cổng lấy nước đến Nhà máy thủy điện Đa Mi ở độ cao 500 mét so với mực nước biển. Đó là một cái giếng khổng lồ (đường kính khoảng 20 mét) và sâu hun hút, mà những người yếu tim được khuyến cáo không nên nhìn xuống dưới.

    Hồ Đankia - Suối Vàng

    Là một điểm tham quan du lịch nổi tiếng của Đà Lạt nằm cách trung tâm Đà Lạt 12 km về hướng Bắc, hồ Đankia - Suối Vàng trông như một thiếu nữ vừa bước vào tuổi thanh xuân nằm phơi mình bên những đồi thông xanh biếc chập chùng. Nơi đây, năm 1893, bác sĩ Yersin đã từng ngây ngất trước vẻ đạp thiên nhiên của núi non hùng vĩ trên cao nguyên Lang Biang và từ đó đã khai sinh ý tưởng thiết lập một trạm nghỉ dưỡng trên cao nguyên - khai sinh ra thành phố Đà Lạt. Hồ Suối Vàng gồm có hai hồ Đankia và Ankoret có sức chứa khoảng 21 triệu mét khối nước cung cấp nguồn nước cho hai nhà máy điện và nước nuôi sống người dân thành phố Đà Lạt.
    Dưới hồ Đankia có một thác nước đẹp gọi là thác bảy tầng. Nơi đây có nhà máy thủy điện Ankoret - nhà máy thủy điện được xây dựng đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1943 hiện vẫn còn hoạt động. Năm 2000, Đan Mạch viện trợ giúp nâng cấp cải tạo nhà máy nước ĐanKia - Suối Vàng và Đà Lạt có tỷ lệ người dân được cung cấp nước sạch cao nhất nước 80%, tỷ lệ thất thoát nước cũng thuộc loại thấp nhất nước (20%). Nếu dự án khu du lịch tổng hợp lớn nhất nước với số vốn hơn 730 triệu USD (đã được Chính phủ phê duyệt vào tháng 2 năm 1998) được hoàn thành thì cái tên Suối Vàng thật sự là “vàng trắng” cho vùng đất Tây Nguyên

    Đà Lạt sử quán (XQ sử quán)
    Đà Lạt sử quán nằm gần cạnh khu du lịch Thung Lũng Tình Yêu, xây dựng trong năm 2001, đưa vào hoạt động từ năm 2002 và được du khách biết đến như là một bảo tàng nghệ thuật về nghề thêu tranh nghệ thuật (thêu tay trên lụa) Việt Nam.
    Chủ nhân của nó là công ty trách nhiệm hữu hạn XQ Đà Lạt do hai vợ chồng chị Hoàng Thị Xuân và anh Võ Văn Quân làm chủ. Đà Lạt sử quán được thiết kế thành mười khu vực:

     

    1. Khu vực truyền thống.
    2. Khu vực bản sắc.
    3. Khu vực phát tích.
    4. Nhà trưng bày.
    5. Khu vực vấn vít nghệ thuật và cuộc đời.
    6. Vườn tri kỷ.
    7. Sân thiên thai hội tụ.
    8. Khu vực trưng bày “Của Những Con Người Bị Ruồng Bỏ”.
    9. Khu vực trưng bày “Nghệ Thuật Cho Bản Thân Tôi”.
    10. Khu vực “Đà Lạt Của Tôi”.

    Các khu vực được sắp xếp hài hòa với yếu tố địa hình, cảnh quan và lối kiến trúc mang dáng dấp cung đình Huế với vật liệu truyền thống đã tạo cho Đà Lạt sử quán một vẻ đẹp văn hóa riêng biệt đầy chất thơ. Khách đến đây có dịp tìm hiểu thêm về nghề thêu tay trên lụa và có dịp thả hồn phiêu diêu theo ý tưởng của chủ nhân để tâm hồn bay bổng thanh thoát.
    Từ chỗ chỉ là nơi trưng bày, giới thiệu về nghề thêu; Đà Lạt sử quán đã trở thành nơi con người và thiên nhiên gặp gỡ, giao hoà trong một không gian đầy chất thơ.
    Tại đây, vào tối thứ bảy hàng tuần có tổ chức phố ẩm thực phục vụ du khách và khách Đà Lạt với các món ăn truyền thống của khu vực miền Trung như: bánh bột lọc, cơm hến, bún bò Huế...

    HỒN VIỆT QUA ĐƯỜNG KIM MŨI CHỈ
    Với bàn tay tài hoa, người nghệ nhân thêu tranh đã thả hồn theo những đường kim mũi chỉ, làm nên bức tranh sống động, gợi nhiều cảm xúc trong tâm hồn người xem. Xuất phát từ nghề thêu truyền thống, với nỗ lực sáng tạo không ngừng của các nghệ nhân, tranh thêu đã trở thành một loại hình nghệ thuật độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam.
    Một trong những món quà lưu niệm được khách du lịch nước ngoài ưa thích nhất khi đến Việt Nam chính là tranh thêu. Tranh thêu bán ở Nha Trang có nhiều nguồn khác nhau, nhưng đa dạng và độc đáo nhất vẫn là tranh thêu XQ - được phát triển từ nghề thêu truyền thống ở xứ Huế.
    Ai đã từng nhìn ngắm những bức tranh thêu chắc hẳn không khỏi thán phục sự tài hoa của những nghệ nhân thêu tranh. Đến với thế giới nghệ thuật tranh thêu là đến với thế giới của màu sắc, đường nét và vẻ đẹp của tâm hồn. Ai đã từng đến XQ sử quán - Đà Lạt, Trung tâm XQ ở Nha Trang… đều thấu hiểu vì sao các nghệ nhân làm được những tác phẩm tinh tế đến vậy. Những tà áo dài tha thướt, vườn thơ nghệ nhân, chén trà thơm hương… đã góp phần thanh lọc tâm hồn để người nghệ nhân bước vào nghệ thuật tranh thêu một cách toàn tâm toàn ý. Sự thành công của tranh thêu XQ bắt đầu từ khâu tạo mẫu. Những họa sĩ vẽ mẫu đã hòa mình vào thiên nhiên, tìm sự tĩnh tại của tâm hồn, cảm nhận cuộc sống một cách tinh tế từ đó tạo ra những mẫu tranh thêu độc đáo bằng màu chì đen trên nền giấy can. Bằng kinh nghiệm và sự nhạy cảm, các nghệ nhân tranh thêu sẽ chọn chất liệu, màu sắc phù hợp cho tác phẩm. Thường thì giữa họa sĩ tạo mẫu và nghệ nhân thêu tranh có sự bàn bạc, trao đổi để tìm được tiếng nói chung, ý tưởng chung cho tác phẩm. Vì vậy, tranh thêu XQ luôn có sự hòa điệu giữa chủ đề với màu sắc, tạo nên giá trị thẩm mỹ cao.
    Có thể nói, nghệ thuật thêu tranh của các nghệ nhân tranh thêu XQ đã đạt đến trình độ cao, tạo nên ngôn ngữ ngành nghề riêng biệt. Các nghệ nhân tranh thêu đã biết kết hợp kỹ thuật đồ họa, sự hòa phối màu sắc, xử lý ánh sáng… làm cho bức tranh sống động. Sự rung cảm trong tâm hồn cùng đường kim mũi chỉ đã giúp đôi tay tài hoa của người nghệ nhân “bay lượn” trên nền vải tạo nên thế giới của muôn vàn màu sắc với những cỏ cây, hoa, lá… Đỉnh cao của nghệ thuật thêu tranh là tranh thêu 2 mặt. Trên nền vải voan, bằng kỹ thuật giấu chỉ, các nghệ nhân XQ đã tạo nên những bức tranh có 2 mặt y hệt nhau. Nghệ thuật thêu tranh 2 mặt xuất phát từ những bức rèm thêu của người chinh phụ với nỗi mong ngóng người chồng đi chinh chiến trở về. Qua nghệ thuật thêu tranh 2 mặt, người nghệ nhân bày tỏ khát vọng tái tạo không gian êm ả để những người ra đi mong muốn trở về căn nhà của mình. Đó cũng là khát vọng muôn đời của người phụ nữ Á Đông.
    Chủ đề của tranh thêu khá đa dạng: phong cảnh quê hương, cuộc sống đời thường, chân dung… Với tình yêu thiên nhiên, người Á Đông bao giờ cũng dành những ngôn từ, đường nét, giai điệu đẹp nhất để tái hiện vẻ đẹp của tự nhiên. Riêng với chủ đề phong cảnh quê hương, tranh thêu đã tái hiện cả ký ức tuổi thơ với nhiều hình ảnh thân thuộc. Nhìn những mái đình cong vút, cây đa, bến nước trong tranh thêu của XQ, nhiều người nhớ về tuổi thơ êm đềm với những buổi tắm sông, chọi gà trên bờ đê xa tít tắp… Nghệ thuật thêu tranh phong cảnh của XQ đã đạt đến độ tinh tế hiếm thấy. Một bức tranh thêu của XQ sử dụng vài chục, thậm chí cả trăm màu chỉ. Ngoài các loại chỉ công nghiệp, các nghệ nhân tranh thêu còn sử dụng chỉ tơ tằm… Đặc biệt, chỉ tơ tằm với sắc độ tự nhiên đã tạo cho các bức tranh phong cảnh gần hơn với màu sắc thực. Nhờ vậy, tranh thêu phong cảnh luôn có vẻ đẹp lộng lẫy, sang trọng. Cái hay của tranh phong cảnh XQ, đặc biệt là tranh về thế giới của loài hoa không chỉ nằm ở sự hài hòa giữa màu sắc và đường nét mà ngay cả ở tên gọi của bức tranh. Các nghệ nhân XQ đã sáng tạo ra những câu chuyện tình, những huyền thoại gắn liền với tên mỗi loài hoa - tên bức tranh. Bởi vậy, tranh thêu luôn mang một vẻ đẹp lung linh, huyền hoặc. Nếu như tranh thêu phong cảnh gợi nhớ đến tuổi thơ nơi làng quê, thì những bức tranh chân dung của XQ lại chạm đến những tình cảm sâu kín nhất trong tâm hồn con người. Sự trải nghiệm trong cuộc sống và tình cảm chân thực giúp người nghệ nhân chuyển tải được cái hồn của bức tranh. Nhìn gương mặt hằn in dấu thời gian của người phụ nữ trong tranh thêu XQ, những kỷ niệm một thời thơ ấu thức dậy, ùa về… với những câu hát ru à ơi chậm buồn, trĩu nặng như cuộc đời tảo tần sớm hôm của người phụ nữ thôn quê. Không chỉ vậy, những bức tranh thiên về cuộc sống đời thường là hình ảnh con người khắc khổ, trầm mặc nhưng luôn hiện lên khát vọng ước mơ về cuộc sống ngày mai: Ông già nhặt rác, Giấc ngủ của những đứa bé đánh giày… Nói cách khác, tranh thêu chân dung XQ luôn chất chứa những nỗi niềm sâu kín, những tình cảm thiêng liêng. Đặc biệt, những bức tranh như Vinh quang nơi trần thế… còn là tiếng nói cảnh tỉnh mọi người trước những cám dỗ của đời thường. Cái đẹp của tranh thêu XQ không chỉ là sự tinh tế của đường kim mũi chỉ, sự hài hòa lộng lẫy của màu sắc… mà cao hơn đó là sự hòa quyện giữa hình thức bên ngoài và ý nghĩa sâu sắc của bức tranh. Chính vì vậy, tranh XQ không đơn thuần là những vật trang trí bình thưòng mà còn chuyên chở triết lý nhân sinh, cuộc đời khơi dậy những tình cảm tốt đẹp của con người.

    ĐẶC SẢN CỦA XỨ SỞ NGÀN HOA
    RƯỢU ĐÀ LẠT
    Không chỉ là một thức uống, rượu vang và rượu cần ở Đà Lạt còn gọi là đặc sản, là cái hồn tinh túy của xứ sở sương mù. Nổi tiếng nhất là thương hiệu vang Đà Lạt. Có mặt từ năm 1999, vang Đà Lạt nhanh chóng trở thành thức uống và món quà được nhiều người ưa chuộng.
    Vang là sản phẩm được lên men từ các loại trái cây đặc trưng của Đà Lạt như: dâu, nho… Qua quá trình chế biến bằng công thức truyền thống và công nghệ hiện đại, rượu vang ra đời với hương vị thơm ngon, đậm đà, mang tính năng bồi bổ sức khỏe, thường xuyên xuất hiện trên các bàn tiệc, bữa ăn gia đình của nhiều người trên khắp cả nước.
    Ngoài rượu vang, Đà Lạt còn có món đặc sản rượu cần của đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Hương rượu cần ngon không kém một loại rượu nổi tiếng nào. Bạn sẽ được thưởng thức rượu cần với đồng bào người dân tộc trong những đêm hội cồng chiêng do nhiều công ty du lịch lữ hành ở Đà Lạt tổ chức. Trong không khí giao lưu đầm ấm, trong tiếng cồng chiêng rộn rã, chén rượu cần được mang ra cho mọi người cùng thưởng thức hương vị của phố núi…
    TRÁI CÂY TẠI ĐÀ LẠT
    Hồng trái rộ vào mùa thu với các loại: hồng giòn, hồng tàu, hồng khía, hồng trứng… Bơ có vào mùa hè, trái không to như bơ Buôn Mê Thuộc, nhưng dẻovà béo hơn. Đào lông thường có vào cuối xuân, đầu mùa hạ. Trái đào lông khi chưa chín có màu xanh lục, chín có màu phơn phớt hồng, bên ngoài phủ một lớp lông trắng mịn như nhung. Đào lông có vị chua chua,
    ngòn ngọt. Dâu tây thì thường có vào mùa khô,
    trái dâu màu đỏ, ở Đà Lạt có 2 loại: dâu tây Pháp
    màu đỏ nhạt, trái nhỏ nhưng vị ngọt hơn dâu Mỹ - trái to và hơi chua. Khi bạn mua dâu, người bán sẽ bỏ dâu vào hộp cartom có lóp rơm và lá dâu để tránh bị dập nát. Dâu tằm cũng có mùa vụ giống dâu tây, nhưng người ta ít chọn dâu tằm vì ăn không được ngon. Dâu tằm dùng để làm mứt rất ngon.
    Đặc sản mứt miền ôn đới:
    - Du khách cũng có thể mua các loại mứt đặc sản được bán trong khu chợ Đà Lạt để làm quà biếu. Có khá nhiều loại mứt cho bạn tha hồ lựa chọn như: mứt hồng (hay còn gọi là hồng khô), được làm từ trái hồng chín phơi khô, mứt mận, mứt đào, mứt dâu tây, mứt dâu tằm, khoai lang dẻo,…
    Trà Lâm Đồng
    - Đến Đà Lạt, còn 1 thứ mà bạn không thể bỏ sót được, đó là trà. Trà Bảo Lộc nổi tiếng thơm ngon từ xưa đến nay. Chỉ riêng trà đã có trên dưới 10 loại, với nhiều cơ sở chế biến. Bạn có thể đến các cơ sở sau để mua, giá cả rất hợp lý, tùy theo từng loại nguyên chất hay có ướp tương.


    HOA ĐÀ LẠT
    Được mệnh danh là vương quốc của các loài hoa, Đà Lạt ấp ủ trong mình hương sắc của đất trời rồi ban tặng cho con người. Mỗi loài hoa mang một tiếng nói riêng, hoa cho ngày đầu hò hẹn, hoa thay lời tỏ tình nồng nàn, hoa nói hộ những lời chia xa, hoa dành cho nỗi nhớ nhung da diết... Đà Lạt có hàng trăm, hàng ngàn loài hoa, hoa nào cũng đẹp, cũng mang dáng dấp riêng. Đặc trưng và tiêu biểu nhất là hoa anh đào, mimosa, phượng tím, ngoài ra phải kể đến hoa lan, cẩm tú cầu, dã quỳ,...
    Các loại rau củ quả:
    Không chỉ là vương quốc của các loài hoa, Đà Lạt còn là xứ sở của các loại rau quả. Rau quả ở Đà Lạt có chất lượng cao, không những cung cấp cho các tỉnh trong nước mà còn xuất khẩu sang nước ngoài.
    Rau Đà Lạt có khá nhiều chủng loại như: cải bắp, cải thảo, bó xôi, súp lơ, atisô, cần tây, đậu Hà Lan, cà rốt, khoai tây, su su, cải ngọt...

    PHONG PHÚ CÁC LOẠI TRÀ
    Từ xa xưa, trà (hay chè) đã được biết đến không chỉ như một thứ nước giải khát thông dụng, bồi bổ sức khỏe mà còn có tác dụng chữa và ngăn ngừa một số lọai bệnh.
    Trước đây, nguyên liệu dùng để chế biến trà chủ yếu lấy từ cây chè. Chúng ta hay gọi nôm na lọai trà nấu từ lá chè tươi là trà xanh, lọai lá trà đã qua chế biến là trà đen. Song, tùy thuộc vào từng vùng khí hậu (nhiệt đới, ôn đới…), miền thổ nhưỡng (chất liệu đất), phương thức chăm sóc, cách thu hái, chế biến (phương pháp sao tẩm, các lọai hương liệu dùng để ướp…) mà người ta chia trà ra nhiều lọai khác nhau. Ví dụ như trà ướp sen thì gọi là trà sen, ướp lài thì gọi trà lài, trà được sao chế từ những búp non là trà búp…Ở Trung Quốc có một lọai trà chỉ lấy những cái nõn mới nhú của cây trà để chế ra một thứ trà tiến vua gọi là trà Long tĩnh.
    Chất lượng cây chè tùy thuộc rất nhiều vào vùng đất. Từ đó mà có những lọai trà nổi tiếng thế giới như Trung Quốc có trà Tân Cương, Liên Xô (cũ) có trà xanh Gruzia, Ấn Độ với trà đen…Ở Việt Nam, Miền Bắc là trà Thái Nguyên, trà Phú Thọ, Miền Nam có trà Đà Lạt, trà Bảo Lộ c …
    Cùng với sự phát triển và hội nhập rộng rãi kinh tế xã hội, ngành chế biến trà trong nước và thế giới cũng bung ra với những bước tiến ào ạt về số lượng và chất lượng. Khái niệm về trà hiện nay không còn bó hẹp trong phạm vi các lọai trà chế biến từ cây chè.
    Nhiều lòai thảo dược được trưng dụng để bổ sung vào danh sách các lọai trà đang có mặt trên thị trường. Có thể ai đó phàn nàn rằng, mấy thứ cây cỏ đó làm lệch khái niệm tinh khiết của trà; rằng, đã là trà thì chỉ có thể được chế biến từ cây chè. Song, với định nghĩa, trà là thứ sản phẩm dùng để giải khát và chữa bệnh thì bất cứ thứ gì na ná đều có thể gọi là trà. Do vậy, thị trường trà đang nở rộ với vô số loại trà thảo dược uống liền : trà Atiso, trà khổ qua, trà cỏ ngọt, trà trái nhàu, trà linh chi, trà dây, trà đắng v.v…
    Theo quảng cáo trên bao bì sản phẩm, lọai nào cũng rất tốt cho sức khỏe và có công dụng chữa bệnh: trà đắng nhuận gan, trà khổ qua mát phổi, trà dây giảm béo, trà cỏ ngọt tốt cho người bị bệnh tiểu đường, trà linh chi hạ cholesterol trong máu v.v…Ai có dịp sang Trung Quốc sẽ được thưởng thức trà hoa cúc, trà sinh thái, trà ô long v.v…, thứ nào cũng được nhà sản xuất quảng cáo là ngăn ngừa bệnh tật, đẹp da, kéo dài tuổi thọ…
    Lọai trà Long tĩnh không chỉ pha nước uống mà còn dùng để nấu canh gà, canh tôm, xào trứng…là những món ăn rất bổ dưỡng. Nếu ngâm với sơn tra, nhân trần thì sẽ thành lọai thuốc dùng cho người cao huyết áp. Hoặc món canh từ trà hoa tam thất giúp những phụ nữ mới sinh mau lại sức, rượu ngâm trà hoa tam thất thì dành cho người ốm yếu, suy nhược cơ thể …
    Phần bã trà sau khi pha nước được tận dụng làm phân bón rất tốt cho cây, hoa cảnh, đặc biệt là hoa phong lan. Người Trung Quốc còn dùng bã trà khô làm gối, với tác dụng an thần, tạo giấc ngủ ngon và sâu hơn. Lọai bã trà Long tĩnh thì được nghiền nhỏ, trộn đường, làm thành một lọai kẹo trà có mùi vị thơm ngon, bùi và béo như kẹo vừng.
    Lại nữa, do công việc bận rộn, nhiều người không có thời gian để pha, đợi cho trà ngấm. Thế là nhà sản xuất nghĩ ra cách chế biến các lọai trà có thể uống liền mà không cần qua các công đọan pha chế rườm rà. Có hai lọai trà uống liền mang tính đột phá trong phong cách dùng trà: Trà túi lọc và trà hòa tan.
    Như tên gọi, trà túi lọc là lọai trà đen xay thành bột, đựng trong những cái túi nhỏ. Riêng việc tìm ra công thức chế biến lọai túi này cũng mất nhiều công sức. Túi lọc phải giữ được hương vị trà, phải chống ẩm, chống mốc, chống thẩm thấu cho trà và hương liệu, lại phải bảo đảm an tòan thực phẩm. Với chức năng “lọc”, khi pha, chỉ có trà tan vào nước, còn bã trà vẫn giữ nguyên trong túi. Mỗi túi trà có khối lượng 5 g, đủ cho một ly 100 – 200 ml, tùy khẩu vị từng người. Hiện nay trên thị trường, ngòai trà Lipton nhãn vàng nổi tiếng, các lọai trà thảo dược khác như actiso, trà thanh nhiệt, trà linh chi v.v…đều là lọai trà túi.
    Lọai thứ hai là trà hòa tan: Trà được xay thành bột, tinh chiết, lọai bỏ chất không tan rồi sấy khô, tẩm ướp hương liệu, chất bảo quản, chất tạo vị…Mỗi gói trà có khối lượng từ 10 - 20 g. Thêm vào 100 – 200 ml nước sôi là có một ly trà : Trà chanh, trà gừng, trà xanh, trà chanh dây v.v…Tùy theo sở thích, khách hàng có thể chọn lọai trà có đường hoặc không đường, trà nguyên chất hay ướp hương liệu, trà chanh hay trà thường v.v.
    Ngòai ra, còn có trà giải cảm, trà thanh nhiệt, trà hà thủ ô… gồm một số vị thuốc nam thông dụng, có tác dụng chữa bệnh : trà giải cảm để giải cảm, trà thanh nhiệt hạ huyết áp, trà hà thủ ô làm đen tóc, bổ thận tráng dương ….
    Để thỏa mãn thị hiếu khách hàng, cùng một lọai nguyên liệu, nhà sản xuất có thể đưa ra nhiều lọai sản phẩm trà khác nhau. Ví dụ như trà actiso có hơn 10 lọai : trà hòa tan, trà túi lọc, trà bông actisô, trà rễ, trà khúc lát….Khối lượng, kiểu đóng gói, bao bì, mẫu mã, phầm cấp …cũng đa dạng và phong phú.

    NGHỆ THUẬ PHA TRẢ
    Giống như các lọai nước giải khát khác, trà ngon hay dở tùy thuộc vào khẩu vị của từng người. Có người thích lọai trà Bắc pha thật đặc, uống vào chát sít cổ họng. Người khác lại chuộng trà Nam của Đà Lạt hay Bảo Lộc, lá to, cánh dày, được sao tẩm với các lọai hoa như hoa lài, hoa sen, hoa ngâu…Lọai trà này không chát, không đắng mà có khi lại hơi ngọt. Khi pha, nước rất đẹp và được nước. Pha đến lần thứ 3, thứ 4, màu nước vẫn sánh.
    Cũng là trà Bắc nhưng nhiều người thích để “mộc”, kẻ lại chuộng lọai ướp hương v.v…Ngày xưa, các xứ sở trà có lọai trà “móc câu” nổi tiếng với “một tôm hai lá” : Người ta chỉ hái búp đầu (tôm) và 2 lá gần kề. Khi sao, lá trà quăn lại thành hình móc câu. Lọai trà này thơm mùi đặc trưng, đẹp nước. Khi uống, mới đầu thấy chát nhưng vị ngọt đọng trong cổ rất lâu. Chỉ một chén trà đủ làm cả người bừng bừng sảng khóai.
    Lại có lọai trà cổ thụ hàng trăm năm tuổi của vùng Hà Giang, có nơi gọi là trà Tuyết san. Tuy vị đắng, chát và đậm nhưng khi uống vào thì thấy tỉnh táo và khoan khóai hẳn lên nên được coi là trà quí. Song, hiện nay rất hiếm lọai trà này. Chỉ thỉnh thỏang chủ nhà làm một ít để dành riêng uống hay biếu bạn bè. Phần nhiều trên thị trường chỉ có “trà móc câu”, trà Tuyết san giả.
    Khi có trà ngon, phải biết cách pha thì mới được nước ngon. Làm thế nào để được nước trà ngon ? Theo những người sành trà, cần phải chú ý các yếu tố sau :
    a. Ấm và chén:
    Có rất nhiều loại ấm để pha trà nhưng dùng ấm sành hoặc ấm sứ là tốt nhất vì giữ được nhiệt lâu. Hiện nay, tại các quán trà, người ta dùng nhiều lọai chén với những tên gọi và phân lọai cầu kỳ như thứ nhất là ấm Thế Đức gan gà, thứ nhì Lưu Bội, và thứ ba là Mạnh Thân. Nhiều quán còn quy định màu sắc cho ấm pha trà. Ví dụ như muốn thưởng thức trà thật ngon thì màu ấm phải là màu gan trâu, gan gà, chu sa…Hình dáng ấm pha trà có những kiểu chính là: trái lê, trái cau, trái hồng, trái nhót…Các loại chén uống trà chủ yếu có 2 lọai : chén Tống (cao và thuôn) và chén Quân (thấp và rộng hơn). Phú quí sinh lễ nghĩa là vậy.
    Trong khi đó, các cụ ở nông thôn thì vẫn chuộng ấm trái quýt và chén hạt mít, hay còn gọi là chén mắt trâu. Hoặc ở thành phố, có khi người ta pha trà vào các bình nhựa hoặc bình inôc có sẵn một cái giỏ lọc để chứa bã trà. Ở phía Nam người ta thích dùng lọai trà đá, uống trong những cái ly cối to đùng. Đơn giản vậy mà cũng đâu có kém ngon.
    b. Nước dùng để pha trà:
    Tốt nhất là nước mưa. Nước mưa hứng ngay giữa trời là sạch nhất. Có thể dùng nước giếng mà là giếng đá ong càng tốt. Ngày xưa, những nhà giàu có thường cho người đi thu gom những hạt sương đọng trên tàu lá sen. Đó được coi là thứ nước đặc biệt, tinh khiết. Ở thành phố thì phải dùng nước máy. Nước máy phải để một thời gian cho bay hết mùi hoá chất khử trùng. Có thể dùng nước tinh khiết hoặc nước qua các bình lọc nước. Khi đun nước dùng bếp than hoặc bếp ga để tránh các mùi lạ thấm vào nước như mùi khói, mùi dầu hỏa…Trà thơm quí đến mấy mà nước lẫn mùi lạ thì không thể ngon được.
    c. Pha trà:
    Trước khi pha phải rót ít nước sôi tráng ấm, đổ đi rồi mới cho trà vào. Dùng thìa tre hoặc thìa gỗ để múc trà, không nên dùng thìa kim lọai. Lần đầu rót một ít nước sôi tráng qua lớp trà rồi đổ đi, coi như “rửa” trà. Sau đó rót thêm nước sôi ngập lớp trà, để vài phút cho ngấm. Đến lần thứ 3 thì mới rót đầy ấm. Sau đó để chừng 2-3 phút thì có thể thưởng thức.
    Lại nữa, không phải trà nào cũng dùng nước thật sôi. Các cụ sành trà rất khắt khe với nhiệt độ nước. Ví dụ lọai trà mộc thì nước sủi tăm là được (khỏang 80 độ C), nước pha trà hương chỉ cần sôi lăn tăn. Các lọai trà dược liệu cũng chỉ cần nước gần sôi…Không nên dùng nước sôi sùng sục để chế vào trà vì có thể làm “cháy”, khiến trà trở nên chát.
    d. Rót trà:
    Nên tính xem bao nhiêu người uống thì ước lượng số nước sôi cần rót. Thông thường, nhà sản xuất đã tính sẵn số nước trong ấm vừa đủ cho số chén đi kèm trong bộ ấm chén. Nhưng nếu số người uống ít hơn thì không cần rót đầy ấm. Muốn uống nữa, rót tiếp nước sôi. Làm như vậy để trà khỏi chín nhừ không mất đi hương vị, lại tránh bị nồng.
    Chú ý khi rót trà, chỉ rót mỗi chén một ít. Khi xong lượt đầu sẽ rót tiếp lượt hai. Như vậy sẽ không có chén nào nước bị loãng quá hoặc đặc quá. Cả cách rót trà cũng là một nghệ thuật cần phải học. Lúc đầu, miệng ấm kề sát với miệng chén, mấy giây sau, từ từ đưa ấm lên cao hơn, vừa đủ để có tiếng nước rót róc rách mà không bắn ra ngòai. Rót sao cho tất cả các mức nước trong từng chén đều ngang nhau. Từng thao tác phải thuần thục, uyển chuyển và duyên dáng. Ánh mắt chăm chú, miệng hơi mỉm cười…Đó chính là nghệ thuật rót trà...

    DANH TRÀ BẢO LỘC
    Khách Du lịch đi Đà Lạt đa số đều dừng chân ở Bảo Lộc - Một thị trấn êm đềm xinh đẹp cách Đà Lạt 120 km. Và ai ai cũng mang về làm quà cho người thân đặc sản nổi tiếng của miền cao nguyên trù phú này – Trà Bảo Lộc. Đến Bảo Lộc, chỗ nào bạn cũng nhìn thấy trà: những vườn trà xanh bát ngát chạy tít tắp phía chân trời, trà bao bọc xung quanh nhà ở, trà ở phía trong sân, cho đến trà trong những bao mầu rực rỡ tiệm bán trà. Đến bất kỳ nhà ai ở Bảo Lộc, bạn cũng được người ta tiếp bằng thứ nước mang vị chan chát, man mát ngọt. đó là nước trà.
    Ngược dòng lịch sử, từ vùng Cầu Đất trên độ cao 1.000m, theo quá trình hình thành và phát triển, theo nhu cầu khai thác đất đai và nhân công bản xứ của giới chủ Người Pháp mà cây trà lan dài xuống vùng Bảo Lộc, Di Linh theo lộ trình mới mở cửa của con đường từ Đà Lạt đi Sài Gòn vào thập niên 1930. Trà bắt đầu làm quen với đất B’Lao từ các đồn điền của người Pháp như đồn điền Felit B’Lao, B’Lao Sierre..rồi dần dà là sự ra đời của các trang trại , các rẫy trà, vườn trà của các hộ gia đình. Từ đó ở vùng đất này đã xuất hiện một tầng lớp dân cư đông đảo chuyên sống bằng nghề canh tác hoặc chế biến trà hương. Một thế giới riêng của những người làm trà trên đất Bazan đã khai mở từ gần 80 năm trước, để hôm nay, trà là một trong ba cây công nghiệp quan trọng, phát triển mạnh nhất ở Bảo Lộc.
    Và ngay từ những ngày đầu dựng nghiệp trà trên quê hương mình, những người làm trà đã chọn ngay đjai danh B’ Lao để đặt tên cho sản phẩm của họ. Nhờ tiếng tăm đã được khẳng định của thương hiệu “Trà B’Lao” mà các danh trà sau này đều dùng thêm chữ Trà B’Lao trên sản phẩm của mình. Đó có thể là Danh trà Quốc Thái, Đỗ Hữu, Trâm Anh, hay Rồng Vàng, Thiên Thành, Ngọc Trang...”Nếu không ghi chữ B’Lao vào bao bì thì sản phẩm như mất đi phần bản sắc quan trọng nhất và rất khó tiêu thụ” - chủ một danh trà đã khẳng định như thế. điều đó minh chứng thêm cho sự hoà quyện máu thịt giữa con người, xứ sở và sản phẩm ra đời trên miền đất cao nguyên. Đồng thời, một lý do quan trọng khác là trà B’Lao mang dấu ấn đặc trưng riêng trong phông vị đã từng chinh phục thói quen thưởng trà của người “Đàng trong” trong khi ở “Đàng ngoài” co trà Bắc Thái nức tiếng lâu đời. Nghề làm trà ở cao nguyên B’Lao đã thành nghiệp cha truyền con nối. Những ông chủ của thế hệ đầu tiên của các danh trà nổi tiếng hầu như đã về với đất. Vẫn là những tên gọi cũ nhưng những người kế nghiệp đã sang đến đời thứ ba, thứ tư. Bảo Lộc chục năm lại đây xuất hiện nhiều doanh nghiệp – doanh nhân trong và ngoài nước tìm đến làm trà. Họ là những ông chủ Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc đến đầu tư, thuê đất đai, nhân công và trồng trà để làm giàu và họ đã giàu nhanh chóng. Gần 1.500 cơ sở sản xuất chế biến trà lớn nhỏ là con số thống kê ở “đô thị trà” Bảo Lộc. Trà B’ Lao không chỉ là sản phẩm nội tiêu mà đã toả hương ở nhiều thị trường trên thế giới. Người dân nào ở Bảo Lộc cũng có vài sào trà để sinh sống chủ yếu . Đây là loại cây công nghiệp dễ trồng, dễ chăm sóc mà lại có sức sống vô cùng mãnh liệt . Cứ 10 ngày 1 lần, người ta hái và 10 người sau, những đọt non mơn mởn lại mọc lên. Trà Bảo Lộc được chuyển đi các tỉnh, có những vùng nước lợ mà người ta không thể uống nước được nếu không có trà. Bất kỳ một quán giải khát, quán ăn nào cũng không thể thiếu nước trà. Đây là thứ nước uống giải khát lành mạnh cho mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, ai cũng có thể thưởng thức hương vị thơm ngon, đậm đà của trà . Đêm mùa đông lạnh lẽo, một ly trà thơm bốc khói có thể sưởi ấm tay bạn trong chốc lát. Xuân về tết đến, nhà ai lai không có một vài tách trà thơm để tiếp khách đến nhà mừng xuân. Nếu như trà “Đàng ngoài” thường sao suốt và không ướp hương thì trà B’Lao truyền thống cũng có bí quyết riêng . Những đọt trà non hái mang về được luộc hoặc xào cho chín, sau đó đem vò xoăn lại, kế tiếp là sấy bên bếp than hồng đến khi nào trà khô và bốc mùi thơm ngát là được. Trà chế biến đến đây gọi là trà mộc. Một số người thích uống trà này hơn vì nó còn mang đầy đủ hương vị của trà . Muốn ngon hơn, người ta ướp thêm các vị thuốc khác như quế hương, cam thảo. Hương ướp trà B’Lao chủ yếu là hoa sói, hoa nhài, rất thích hợp với khí hậu và thổ nhưỡng ở đây. .Hãy nghe tâm sự của một bạn trẻ: “Ở nhà, sáng nào tôi cũng pha cho Ba tôi một tách trà , nước phải xanh và trong vắt thì Ba tôi mới vừa lòng. Ngồi bên tách trà thơm bốc khói, Ba tôi sắp xếp công việc cho một ngày và buổi tối cũng vậy, sau bữa cơm chiều, ông có thể ngồi hàng giờ bên tách trà xanh thoảng hương nhài. Tôi cảm tưởng người quên hết tất cả những ưư phiền trong ngày qua làn khói bốc lên từ ly trà” Người ta thường nói “Miếng trầu là đầu câu chuyện” nhưng ở Bảo Lộc người ta nói “Tách trà là đầu câu chuyên” đấy bạn ạ.

    KINH TẾ
    Được thiên nhiên ưu đãi, khí hậu trong lành, đất đai phì nhiêu nên phần đông dân Đà Lạt sống bằng nghề trồng rau, quả, hoa…, một số làm tiểu thủ công nghiệp, gần đây thương mại và dịch vụ du lịch đã bắt đầu phát triển. Ngoài ra dân Đà Lạt còn làm nghề khai thác lâm sản và khoáng sản quý (khai thác vàng ở Tà In), đất sét trắng, cát núi, đá quý…
    Về những vùng đồng bào dân tộc ít người quanh thành phố đã đi vào định canh định cư, đời sống tương đối ổn định. Ngoài việc khai thác lâm sản, săn bắn… họ đã biết đầu tư cho việc sản xuất cây công nghiệp, làm kinh tế vườn: cà phê, dâu tằm, xen kẽ việc trồng lúa, hoa màu. Có những gia đình đã trở nên khá giả. Riêng những vùng sâu như Đầm Ròn, Manline đời sống vẫn còn nhiều khó khăn, đói kém.
    Nông nghiệp
    Rau: khí hậu thích hợp cho các loại rau miền ôn đới, Đà Lạt cung cấp nguồn rau cho thành phố Hồ Chí MInh và các tỉnh phía Nam. Gồm có cà rốt, xà lách, xà lách son, su su, cải bông, khoai tây, cải bắp thảo…
    Hoa: nghề trồng lan phát triển rộng rãi sau 1975. Hoa lan có giá trị xuất khẩu cao. Gần đây Đà Lạt lại xuất khẩu thêm sản phẩm hoa Lys trắng. Ngòai ra còn có hoa glailleul, hoa hồng, hoa cúc Nhật, cẩm nhung… được gởi đi bán ở các tỉnh.
    Quả: Đáng kể nhất có lẽ lá trái hồng - có cây mỗi năm thu đựơc cả lạng vàng. Hồng có giá trị kinh tế cao vì có thể chế biến được trái hồng khô và rượu. Ngoài ra Đà Lạt còn có mận Trại hầm thơm ngon, trái dâu tây, táo tây, đào lông, trái bơ, chuối…
    Dược liệu: Đà Lạt có nhiều cây dược liệu quý như artichaut, các loại sâm, trầm hương, kỳ nam… Đà Lạt đã có công nghệ chế biến artichaut xuất khẩu.
    Cây công nghiệp: Đất Đà Lạt cũng phù hợp với những loại cây công nghiệp trà, cà phê, dâu tằm… đồn điền chè Cầu Đất có diện tích khá lớn.
    Chăn nuôi: Đà Lạt có nhiều đồi cỏ thích hợp cho việc chăn nuôi. Gần đây việc chăn nuôi bò sữa đã lại phát triển. Hiện nay thành phố có trên 5000 con bò, hằng trăm con trâu và nhiều gia súc.
    Trước kia Đà Lạt có những trại chăn nuôi lớn như Trại Dankia, trại Faraut, Grillet ở Suối Tía, Trại gà scala…
    Tuy là một vùng đất có nhiều hồ nước, nhưng việc nuôi cá nước ngọt chưa được quan tâm đúng mức.
    Lâm nghiệp Lâm sản chủ yếu của Đà Lạt là nhựa thông và gỗ thông - nguồn tài nguyên phong phú, có giá trị xuất khẩu cao. Việc khai thác gỗ ồ ạt trong một giai đoạn đầu tưởng như đem lại nhiều hiệu quả kinh tế nhưng thật ra đã ảnh hưởng không tốt tới môi trường sinh thái của một thành phố du lịch. Trồn grừng chỉ vù đắp lại một phần so với việc phá rừng. Hơn nữa chưa có biện pháp hữu hiệu, ngăn chặn nạn cháy rừng xảy ra vào mùa khô.
    Tiểu thủ công nghiệp Chủ yếu phát triển ở một số nghề đan, móc, thêu xuất khuẩu, tranh cưa lộng, tranh bút lửa. Những hợp đồng kinh tế với nứơc ngoài không đều nên có nhiều thời gian gián đoạn gây khó khăn cho đời sống của người lao động trực tiếp.
    Hàng thêu, đan len của Đà Lạt được du khách trong và ngoài nước rất ưa chuộng. Riêng ngành tiểu thủ công nghiệp, từ sản phẩm gỗ gặp khó khăn về đầu tư, cải tiến mẫu mã nên phát triển chậm so với thành phố Hồ Chí Minh.
    Dịch vụ du lịch
    Sau Nghị quyết VI, nguồn sinh khí đã dần dần trở lại với thành phố Đà Lạt. Ngoài hệ thống nhà hàng, khách sạn của Nhà nước và khách sạn của các đoàn thể như tỉnh ủy, thanh niên, công đoàn, công tư hợp doanh… Đà Lạt còn có khách sạn, nhà trọ của tư nhân. Đây là một biện pháp hữu hiệu để đầu tư cho du lịch thành phố, vì lượng khách trong năm không đều. Đó là đểim khó khăn nhất cho ngành du lịch Đà Lạt. Có lúc hàng loạt khách sạn trống vắng nhưng cũng có lúc du khách không thể nào tìm được một chỗ trọ. Việc cho phép nhà nhà làm dịch vụ du lịch đã giải quyết được một phần tình trạng mất cân đối này và làm cho bộ mặt thành phố có những biến đổi rõ nét

    Vài nét về bộ tộc Lạt và Chill
    Về thời kỳ lập quốc của nước Việt Nam có truyền thuyết: ngày xưa Lạc Long Quân hóa thân rồng lấy nàng Âu Cơ hiện thân của Tiên, đẻ ra một bọc trăm trứng nở ra trăm người con. Sau năm chục người theo cha xuống biển là người Kinh, năm chục người theo mẹ lên núi nay là đồng bào dân tộc ít người. Đà Lạt là một trong những nơi tụ hội Con Rồng cháu Tiên.
    Trước kia, vùng thung lũng nay là hồ Xuân Hương là nơi cư trú của người Lat, vùng gần Cam Ly là địa bàn của bộ tộc Chill. Sau họ lui dần ra ngoại vi thành phố. Người Lat rút về ở xã Lát, dưới chân núi Lang Biang. Người Chill ở rải rác quanh Đà Lạt, Tà Nung, Đức Trọng.
    Hai bộ tộc Lat, Chill thuộc dân tộc K’ho có quan hệ gần gũi về chủng tộc và văn hóa nên họ có những tập tục giống nhau:
    - Về lịch sử, họ có một vị anh hùng là tù trưởng Yagut đã từng lãnh đạo các bộ tộc chống ngoại xâm (hiện nay Đà Lạt vẫn có con đường mang tên vị tù trưởng này).
    - Bon (buôn làng) là đơn vị cư trú của người Chill, Lat. Mỗi bon gồm khoảng 4-5 nhà dài. Mỗi nhà dài là một đại gia đình huyết tộc gồm có nhiều bếp. Mỗi gia đình có một bếp để nấu nướng sinh hoạt quanh đó. Mỗi bếp chỉ cách nhau vài mét. Ranh giới giữa các bếp có tính chất ước lệ, không có phên vách hoặc vật chuẩn phân chia cụ thể.
    - Người Chill và Lạt theo chế độ mẫu hệ. Con gái lớn lên đi cưới chồng. Trong lễ cưới, nhà gái phải nộp một số tài sản cho nhà trai để bắt chồng. Thân phận người con trai được thể hiện qua câu tục ngữ Chill:
    Um mơ h’ru chill chao
    Um mơ bao chill n’dĩ
    (Ở với chị thì làm người.
    Ở với vợ thì làm tớ.)
    - Về y phục : trước kia, đàn ông đóng khố ; phụ nữ chỉ mặc độc nhất chiếc sa-rong (một loại váy quấn). Thân thể họ nâu sậm, đầy sinh lực vì tiếp xúc trực tiếp với nắng gió, với thiên nhiên. Chỉ những lúc trời thật lạnh, họ mới cần đến một tấm chăn khóac quanh mình.
    - Cà răng căng tai : dùng vật cứng để cà răng cho mòn, căng trái tai thật to. Đến khi nào răng mòn hay tai đứt họ làm lễ ăn mừng. Đó là vẻ đẹp của người dân tộc trước kia, nay còn lại ở những người già.
    - Trang sức gồm những vòng đồng, chuỗi cườm, móng vuốt dã thú.
    - Chiêng, ché, cườm … là những tài sản quý giá, biểu hiện cho sự giàu sang và hùng mạnh. Số chiêng, ché càng nhiều càng cổ xưa càng chứng tỏ sự giàu có lâu đời. Mỗi bộ chiêng (một loại nhạc cụ) gồm có 6 cái có thể đổi hàng chục con trâu. Các ché cổ và dây cườm cũng có giá trị lớn.
    - Dụng cụ lao động gồm có: chiếc xà-gạc (wek), một nông cụ hữu hiệu để phát rẫy, luôn đeo bên mình: chiếc gậy để chọc lỗ gieo hạt; cung nỏ để săn bắn và chiếc gùi ở sau lưng.
    - Họ đối xử tàn tê với những người bị nghi là ó ma lai. Người dân thiểu số tin rằng. Ó ma lai là người có thể rút đầu ra khỏi mình bay đi ăn phân người vào ban đêm. Người nào bị ó ma lai ăn phân sẽ bị rút mất ruột mà chết.
    - Họ sống với nhau trong quan hệ bình đẳng, được điều hành bởi các Kuan bon (chủ làng) là người được dân làng kính phục vì tài đức.
    - Thầy phù thủy, thầy cúng (Pô dâu, Thanghô, Krou…). Những người này chuyên việc cúng bái lên đồng, phù chú chữa bệnh đoán xem vận mạng. Pô dâu thường là những người hiểu biết các phong tục truyền thống của dân làng, có kinh nghiệm sản xuất, chọn nương rẫy, xem thời tiết… Họ được tham gia các vụ phân xử tranh chấp trong bon. Pô dâu thường giúp chủ làng kiểm tra thật sự hay gian dối của bị cáo bằng cách đổ chì vào lòng bàn tay đun nước sôi để bị cáo nhúng tay vào… Chính vì vậy mà họ có một địa vị nhất định trong bon về mặt tín ngưỡng.
    - Già làng: một số người trên 60 tuổi có uy tín, đức độ và hiểu biết được bon gọi là già làng. Họ là lớp người tinh hoa của bộ tộc bởi tích lũy được nhiều kinh nghiệm sống, chiến đấu và sản xuất. Già làng thường được mời đóng góp ý kiến về mọi việc quan trọng trong buôn làng.
    - Họ thờ nhiều Ỳang (thần), nhất là Ỳang Koi (thần lúa), lễ đâm trâu, được tổ chức linh đình để cúng thần mỗi khi khởi công mùa cấy và khi thu hoạch lúa, hoa màu.
    Vào ngày lễ, dân bản tụ tập đông đủ ở sân làng. Một cây nêu trạm trổ tinh vi, treo nhiều nhạc cụ và vào nhau vang lên âm thanh rất lạ tai. Một con trâu được cột dưới gốc cây nêu. Buổi lễ bắt đầu khi ngọn lửa được đốt lên. Thầy phù thủy cầm một cây thương dài, miệng ngậm một con dao khá lớn, bên hông lại đeo một con dao to nữa, múa may quay cuồng trong tiếng chiêng cồng rền vang, rồi thình lình đâm vào con trâu… Đầu trâu được chặt treo lên cây nêu để làm vật tế lễ. Sau đó mọi người cùng múa hát và lăn xả vào xẻ thịt con trâu ăn mừng lễ cúng Ỳang, bên những ché rượu cần cong vút…


    CON NGƯỜI ĐÀ LẠT
    Đà Lạt là một tiểu hiệp chủng quốc của nước Việt Nam. Chỉ có người Lạt, người Chill mới thật sự có nguồn gốc Đà Lạt. Còn hầu hết là những người từ bốn phương trời hội tụ về đây qua những lần mộ phu, di cư… nhiều nhất là người Huế, người Bắc và người Quảng. Họ nhận mảnh đất này là quê hương.
    Sống trong mộ thành phố văn hóa với những ảnh hưởng xã hội và thổ nhưỡng đã tạo nên một con người Đà Lạt hiền hòa, khoan thai, lịch sự, kín đáo những lại thân tình và hiếu khách. Tính chất này không riêng cho những người trí thức mà đã ăn sâu rộng trong mọi người dân lao động. Trong một gặp gỡ tình cờ ở đâu đó với một chị bán hàng, anh thợ chụp hình, người sửa xe… có khi ta bất chợt thấy họ có thể nói một ngoại ngữ Pháp hay Anh. Và ta sẽ ngạc nhiên khi tìm hiểu về lai lịch của một con người - Trên mỗi số phận đã hằn bao biến cố của đất nước.
    Tiếng nói của người Đà Lạt có giọng đặc biệt, mang âm sắc pha trộn của các miền Bắc Trung Nam. Phong tục tập quán cũng đa dạng vô cùng. Một số gia đình tây học có nếp sống ảnh hưởng tây phương và hầu hết đều giữ lại một ít phong tục của quê quán xưa cũ. Có một cái gì đó hòa nhập giữa Âu - Á - Con người Đà Lạt là một sự tổng hợp của muôn sắc thái.
    Đến những nơi khác, một người chỉ cần mang danh người Đà Lạt thì sẽ nhận được một sự ưu ái đặc biệt. Hình như con người ấy mang theo quanh mình cả một vùng đất thần tiên.
    Tôn giáo
    Đà Lạt - Lâm Đồng có 12 tôn giáo và tín ngưỡng khác nhau. Đông nhất là Phật giáo, thiên chúa giáo, tin lành và cao đài.
    Phật giáo:
    có 4 hệ phái - Ấn quang, Tịnh độ, Khất sĩ và Hoa tông. Phật giáo Ấn quang chiếm tín độ đồng nhất. Sau giải phóng các hệ phái này được sáp nhập làm một gọi là Phật giáo thống nhất. Đà Lạt có những chùa lớn như chùa Linh Sơn, chùa Sư nữ, chùa Linh Phong, chùa Tàu…
    Thiên chúa giáo: theo bước chân của linh mục Robert, quản lý hội thừa sai Balê tại viễn đông, đã tháp tùng đợt thám hiểm sau cùng với bác sĩ Yersin, thiên chúa giáo đã hiện diện rất sớm trên đất Đà Lạt, với những cơ sở đồ sộ, những công trình kiến trúc đẹp mắt: nhà thờ chánh tòa, Giòng chúa cứu thế, Fansiscaine, Domaine de Marie, Giáo hoàng học viện… Sau đợt di dân từ miền Bắc (1954), thiên chúa giáo Đà Lạt đã lớn mạnh - gồm có 38 dòng tu.
    Tin lành: Từ năm 1929, thông qua những mục sư người Mỹ, đạo Tin lành đã bắt đầu hoạt động ở vùng dân tộc ít người. Trong những năm 30, tại thành phố Đà Lạt đã bắt đầu có những hội thánh tin lành hoạt động.
    Cao Đài: bao gồm số tín đồ trung niên nhiều hơn thanh thiếu niên. Cao Đài gồm có 2 hệ phái: Tây Ninh và Bến Tre.
    Địa lý
    Đà Lạt, một nơi du lịch và nghỉ dưỡng lý tưởng với diện tích 417 km2, chia làm 12 phường và 3 xã, gồm có khoảng 116.000 dân.
    Thành phố Đà Lạt nằm trong cao nguyên Lang Biang, phía Bắc tỉnh Lâm Đồng, giáp ranh với huyện Đức Trọng và Đơn Dương; ở giữa những ngọn núi cao như: núi Lang Biang (2.163m), phía Tây Nam là núi Voi (1800m), phía bắc là đỉnh Lapbe Bắc (1732m) và đỉnh Lapbe Nam (1707m) án ngữ phía Tây Nam.
    Vĩ độ 10,57, kinh độ 108,20. Cao trung bình so với mặt biển là 1500m. Nơi cao nhất trong trung tâm thành phố là Nhà Bảo Tàng (1532 m), nơi thấp nhất là thung lũng Nguyễn Tri Phương (1398,2m). Đà Lạt cách biển Thuận Hải theo đường chim bay 90 km, nhưng theo quốc lộ 11 đến Phan rang là 108 km; cách thành phố Hồ Chí Minh 250 km theo đường chim bay và theo quốc lộ 20 là 305 km.
    Đất Đà Lạt được cấu tạo bởi một sơn khối cổ, gồm chủ yếu các loại nham hoa cương, hoa vân, mica, diệp thạch… qua sự biến hóa, tạo thành nhiều lớp kaolin và đất sét.
    KHÍ HẬU
    Do ảnh hưởng của cao độ và rừng thông bao bọc nên tuy ở phương nam của nhiều vùng nhiệt đới châu Á, Đà Lạt mang nhiều đặc tính của miền ôn đới. Không khí trong lành mát mẻ quanh năm. Ánh sáng phong phú và điều hòa, dù là ngày mưa vẫn có mặt trời. Nhiệt độ trung bình 18-21oC, nhiệt độ cao nhất chưa bao giờ quá 32oC và thấp nhất không dưới 5oC.
    Đà Lạt có hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4. Mùa hè thường có mưa vào buổi chiều, đôi khi có mưa đá. Những tháng cuối năm là lúc phong cảnh tươi đẹp nhất. Tuy sáng có sương mù nhưng khi nắng lên trời trong ngần, lộng nắng igó. Đó là muột mùa lý tưởng cho du ngoạn và cắm trại.
    Lượng mưa trung bình năm là 1562 mm và độ ẩm 82%.
    Đà Lạt không bao giờ có bão, chỉ có gió lớn do ảnh hưởng bão từ biển thổi vào vì sườn đông không có núi che chắn.
    GIAO THÔNG
    Để phục vụ cho trung tâm nghỉ mát Đà Lạt, trước kia các phương tiện giao thông được khai thác tới mức tối đa, bất chấp những trở ngại về địa thế.
    Đường bộ
    Con đường đầu tiên phải kể đến là con đường mòn của htổ dân đã đưa bác sĩ Yersin, một nhà thám hiểm đi từ Nha Trang ngược lên núi theo thung lũng sông Đa Nhim đến Đơn Dương (Dran) qua Fimnom, lên đèo Prenn rồi đến Đà Lạt.
    Tháng 10.1897, toàn quyền Doumer cử phái đoàn do đại úy pháo binh Thouard và ông Cunhac tìm hiểu Đà Lạt. Đến 1899, con đường đất từ Phan Rang lên Đà Lạt hoàn tất. Đó là con đường có 20 km đèo dốc quanh co trong một khung cảnh non nược hữu tình được gọi là đèo Ngoạn Mục (Bellevue) và đèo Dran dài 10km. (Quốc lộ 11 - Đà Lạt - phan Rang 108 km; Đà Lạt - Nha Trang 219 km).
    Mãi đến năm 1932, đường sắt Sài Gòn lên Đà Lạt qua Bảo Lộc mới được hoàn tất. Nay gọi là quốc lộ 20. Đến tháng 2.1943, đạon đường từ thác Prenn lên Đà Lạt được cải tiến, bỏ đoạn đường cũ thay đường mới, theo một sườn núi khác. Đoạn đường này có lợi điểm rút ngắn chỉ còn 8,6 km, thay vì 14 km như trước kia. đến 1970, quốc lộ 20 và đạon 21b nối liền quốc lộ 20 từ ngã ba Fimnom đến Dran được sửa thành xa lộ. Ngoài ra muốn liên với các tỉnh miền coa nguyên có đường đi Ban Mê Thuộc hay Quảng Đức qua ngã Fyan hoặc Di Linh.
    Để đến với Đà Lạt, đừơng bộ đang chiếm cương vị độc tôn về phương diện giao thông hiện nay.
    Đường hàng không
    Đà Lạt có các đường bay nối liền với các nơi khác qua hai phi trường Cam Ly và Liên Khương.
    Phi trường Cam Ly
    Cách Đà Lạt 5km về hướng tây. Trước kia nơi đây là phi trường quân sự. Trong thời gian chiến tranh leo thang, nơi đấy máy bay lên xuống liên tục để cung cấp những nhu cầu quân sự và là một thương cảng rau.
    Phi trường Liên Khương
    Cách Đà Lạt khoảng 30 km. Sau ba năm xây dựng, 1933 phi trường Liên Khương bắt đầu hạot động. Lúc đó phi đạo dài 700m được đáp bằng đất, chỉ đáp ứng cho loại phi cơ có trọng tải dưới 2 tấn.
    1945, Nhật mở mặt trận ở Đông Nam Á, do nhu cầu chiến tranh đã tu bổ phi trường Liên Khương. Phi đạo lúc đó được cán đá để dùng cho các loại phi cơ chiến đấu của Nhật thời bấy giờ.
    1960-1975, vì chiến tranh, phương tiện giao thông đường bộ bị gián đoạn, mất an ninh. Hành khách sử dụng đừơng hàng không tăng nhanh chóng. Để đáp ứng nhu cầu đó, phi trường đã mở rộng. Phi đạo được trải nhựa dài 1480m, rộng 40m, có thể sử dụng cho phi cơ 35 tấn trở xuống. So với phi trường Tân Sơn Nhất hay Đà Nẵng, phi trường Liên Khương chỉ ở vào vị trí rất khiêm tốn - Phi trường hạng 2.
    Đường sắt
    Trứơc kia nếu muốn thưởng thức vẻ huyền bí của núi rừng cao nguyên bạn có thể lên Đà Lạt bằng tàu hỏa . Bạn sẽ có một cảm giác độc đáo khi ở trên một con tàu dài ngoằn ngoèo đang hì hục leo lên những triền dốc cao. Núi rừng hùng vĩ lướt chầm chậm qua mắt bạn trong một cuộc gặp gỡ đầy lưu luyến. Thỉnh thoảng con tàu phải chui qua một đạon hầm tối tăm bí hiểm. Làm sao tìm lại được hương vị của một chuyến đi trên tuyến đường sắt Tháp Chàm (Tourcham) - Đà Lạt.
    Đoạn đường này dài 84km, do người Thụy Điển thiết kế. Thụy Điển là nước có nhiều đường dốc, giàu kinh nghiệm về đừơng sắt có răng cưa (crémaillère). Chuyến tàu lửa đầu tiên lên Đà Lạt được khởi hành vào năm 1933.
    Điều đáng buồn là cả một công trình vĩ đại và thơ mộng này hiện nay không còn nữa. Trong chiến tranh có một đoạn đường thiếu an ninh nên tuyến giao thông đường sắt không thể sử dụng được. Và đã trở nên hoang phế từ đó.
    Ga Đà Lạt trước kia là một trong những ga xinh đẹp và độc đáo của Việt Nam nhưng nay hầu như tất cả đều chìm vào quên lãng.

    Tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội

    Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch
    Từ Tp. Hồ Chí Minh, đi ô tô theo quốc lộ 20 chừng 300km là đến Đà Lạt. Con đường sẽ đưa du khách lên cao dần, cao dần và khi chạm vào Đà Lạt ở thác Prenn thì trước mặt du khách đã là ngút ngàn rừng thông hai lá, ba lá. Đi sâu vào thành phố Đà Lạt, du khách sẽ khám phá một "bảo tàng" của các thác nước, những hồ đẹp, thung lũng hoa và đồi cỏ.
    Nếu đi theo đường 27 từ Phan Rang ngược sông Dinh lên, sau khi vượt qua những khu di tích lịch sử của nước Chămpa xưa và những cánh đồng khô ráo quanh năm, chúng ta đứng trên đèo Ngoạn Mục với bức tranh thiên nhiên hùng vĩ trước mắt.
    Thành phố Đà Lạt hơn 100 năm tuổi (phát hiện 1893), đang trở thành một trong những địa danh du lịch hấp dẫn nhất đối với du khách trong và ngoài nước, một thành phố nghỉ mát lâu đời ở nước ta. Đà Lạt nổi tiếng về hồ, về thác nước và rừng thông. Những hồ đẹp ở Đà Lạt là hồ Xuân Hương, hồ Than Thở, hồ Đa Thiện, hồ Vạn Kiếp, hồ Mê Linh. Những hồ này nằm ngay trong thành phố, tên thơ mộng như cảnh hồ thơ mộng, mỗi hồ gắn với một truyền thuyết xa xưa.
    Du khách đến Đà Lạt vừa thăm viếng, vừa thưởng thức những sản phẩm Đà Lạt bao gồm nhiều loại trái cây: hồng, mận, đào, bơ; nhiều món ăn dân tộc độc đáo và các hàng lưu niệm của riêng vùng Đà Lạt.
    Vẻ đẹp của Đà Lạt còn được ngợi ca nhiều và hấp dẫn du khách bởi hàng trăm, ngàn loại hoa, loại phong lan độc đáo, hoặc được sản sinh riêng trên mảnh đất này, hoặc lấy giống từ nhiều nơi như: Pháp, Anh, Hà Lan, Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, Ấn Độ, Italy,...như hoa hồng, hoa bất tử, hoa đỗ quyên, hoa xác pháo, hoa tư tưởng, hoa trà mi, mi mô da, mai anh đào, thủy tiên trắng...
    Khách sạn du lịch đầu tiên ở Đà Lạt được xây dựng từ năm 1907, đó là ngôi nhà gỗ mang tên khách sạn Hồ (Hôtel du Lac). Ngày nay, đến Đà Lạt du khách sẽ cảm nhận có một nét kiến trúc rất nên thơ, lộng lẫy mà kín đáo qua ngôi biệt thự ẩn mình trong cây lá hoặc rực rỡ bởi được phủ lên cả một rừng hoa.

    Hoang dã Madagui
    Ấn tượng với một Madagui hoang sơ.
    Cách Đà Lạt 148 km, Madagui (thuộc huyện Đa Hoai, tỉnh Lâm Đồng) là khu rừng nguyên sinh nhiệt đới rộng khoảng 400 ha. Và khu du lịch rừng Madagui có diện tích 368 ha nằm trên quốc lộ 20, cách TP HCM 152km.
    Madagui được đặt tên theo cách phát âm của người Mạ, dân tộc sinh sống chủ yếu tại khu vực. Người Mạ tin có nhiều thần: Yàng là vị thần tối cao, thần Sông, thần Núi, thần Lửa ... , Người Mạ sống tập trung tại khu vực có sông, suối, vì vậy họ làm thuyền độc mộc để đi lại, vận chuyển và đánh cá sông.
    Rừng Madagui có nhiều sông suối hang động, thác nước với thảm thực vật tự nhiên phong phú với đủ loại cây rừng nhiệt đới, tạo nên dáng vẻ hữu tình mà hoang sơ. Nhiều buôn làng lâu đời của người K’Ho, người Mạ gắn bó với núi rừng hằng bao thế hệ. Cho đến ngày nay, họ vẫn giữ nguyên những lễ hội mang đậm nét văn hóa đặc sắc của dân tộc mình, như lễ hội Đâm trâu, lễ hội Cồng chiêng, lễ cúng Giàng… Nơi đây còn là quê hương của những sản phẩm thổ cẩm độc đáo được làm từ những đôi tay khéo léo của những nghệ nhân người K’Ho, người Mạ.
    Dã ngoại rừng Madagui khi đi ngang chiếc cầu gỗ xinh xắn bắc ngang dòng Suối Tiên, du khách thấy nước tung bọt trắng xóa, ào ào uốn quanh những hòn đá cuội như dải lụa đào, vừa thướt tha, vừa dữ dội chạy dài đến tận chân trời. Những con đường rừng rợp bóng cây, những cánh hoa dại bình dị, lung lay như vẫy chào mọi người đến với đại ngàn. Lý thú nhất là khu Thạch Lâm với hệ thống hang động liên hoàn, mời gọi chúng ta đến với thiên nhiên. Hang Dơi, vốn là nơi trú ngụ của dơi rừng Madagui, với những vách đá cheo leo, những vực sâu thăm thẳm như thách thức những người thích mạo hiểm. Cổng Trời cao chót vót, như có sức hút diệu kỳ, khiến chúng ta quên hết mệt nhọc để chinh phục đỉnh cao. Rồi hang Âm Phủ, hang đá lạnh căm và tối như bưng, càng xuống sâu, gió lùa hù hù nghe rờn rợn bên tai mà cũng vô cùng thú vị.
    Phong nghỉ trên cây ở Madagui - Lâm Đồng.
    Đi sâu vào trong rừng, ta sẽ đến với suối Voi, được mang tên như vậy vì đây là lộ trình di chuyển của đàn voi rừng. Đêm về, bên ánh lửa bập bùng với hương thơm rượu cần chếch choáng, càng ngất ngây hơn khi nghe cô gái K’Ho, cô gái Mạ cất tiếng hát bản trường ca Khan, H’ămon trong tiếng cồng chiêng âm vang giữa đại ngàn.
    Madagui có không khí trong lành mát mẻ quanh năm với con sông Đạ Huoai, Suối Voi, Suối Tiên và rất nhiều suối nhỏ ngầm trong các hang động. Suối Tiên là một phần của con sông Đạ Huoai bắt nguồn từ Bảo Lộc chảy ngang qua rừng Madagui với chiều dài khoảng 3km là nơi sinh sống của hai loài cá nổi tiếng là cá Lăng và cá Leo.
    Hệ thống hang động chia thành hai tầng: loại hang động nằm sâu dưới lòng đất, cách mặt đất từ 10 đến 12 m và loại hang động nằm trên cao, cũng cách mặt đất 10m. Khách du lịch sẽ được thám hiểm khu Thạch lâm, cổng Trời, hang dơi, hang cô, hang thầy, hang rẽ quạt và rất nhiều hang khác nữa nằm sâu trong rừng được bao phủ bởi rễ của những cây cổ thụ.
    Theo Saigonnet, sau khi thám hiểm, suối, hang động, du khách sẽ dạo vườn kiểng, vườn tượng, tắm suối bãi tình yêu …, nếu không ở lều hoặc ở nhà Tarzan được cất trên cây cao ven bờ suối, du khách sẽ ở những phòng nghỉ xây theo kiểu nhà rông nhưng đầy đủ tiện nghi như ở thành phố.
    Madagui
    Tham quan học tập tại khu rừng mưa nhiệt đới
    400ha dành riêng cho khu du lịch Rừng Madagui, một không gian 99% thiên nhiên, đủ để thu hút những du khách muốn tìm cảm giác yên bình của núi rừng, cây cỏ. Đã có từ lâu lắm rồi, nhưng mãi đến hôm nay, Madagui mới khoác lên người chiếc áo mới, chiếc áo của một điểm du lịch dã ngoại chuyên nghiệp.
    Cách TPHCM 152km theo hướng quốc lộ 20 lên Đà Lạt, Madagui nằm cheo leo giữa lưng chừng đèo Chuối. Bốn bề là núi, ở giữa là suối Tiên với những ghềnh đá, đây thật sự là một điểm đến hoang dã. Phía ngoài, đừng bận tâm đến tượng thần núi hay những nhà hàng được xây cất không mấy hợp nhãn, bước thẳng vào trong, vượt qua chiếc cầu treo lủng lẳng là đã chạm tay vào một vùng rừng núi thuần khiết. Những chiếc lều bạt được căng sát mặt suối, mở ô cửa sổ bằng vải màn lên là có thể nhìn được dòng nước rì rầm đến bất tận. Phía xa xa, những cây kơ-nia huyền thoại cứ vươn thẳng tắp, bất chấp những cụm lan rừng cố túm chặt lấy nhánh cây để trổ hoa.
    Tắm ở suối Tiên là một cái thú rất được khách ưa chuộng
    Buổi sáng, dù vẫn còn ngái ngủ sau một đêm tưng bừng lửa trại, mọi người vẫn khá hào hứng tham gia phong trào "Vì màu xanh quê hương". Anh hướng dẫn luôn miệng nhắc: "Nhớ ghi tên mình vào bảng tên, chừng ba năm nữa là có thể đến hái xoài do chính tay mình trồng rồi...". Khu rừng mưa nhiệt đới quả thật hấp dẫn. Những cây đa to kềnh lại nằm chễnh chệ trên một tảng đá, bộ rễ xòe ra, ôm trọn lấy phiến đá. Những sợi dây leo cứ đánh đu qua lại, quấn quít lấy nhau đan thành một tấm lưới. Kiến đi thành từng đàn, sẵn sàng dọa nạt những khách tham quan yếu bóng vía... Nhiều điểm dừng chân thú vị được đưa vào chương trình: hang dơi, hang tử thần, cổng trời. Những cái tên hơi kêu, nhưng quả thật rất hấp dẫn. Lòng hang hun hút sâu, hẹp lại dần và tối om om. Vừa bò từ từ vào trong mà trống ngực vẫn tiếp tục gõ thùng thùng. Thoát ra được bên ngoài, mồ hôi nhễ nhại, vì mệt thì ít mà vì sợ thì nhiều hơn... Một tour hay cho ngày cuối tuần: không quá xa, lạ và độc đáo.(TT)
    Uống rượu cần
    Qua hang dơi
    Là khu rừng nguyên sinh nhiệt đới, Madagui rộng khoảng 400 ha và Khu du lịch rừng Madagui có diện tích 368 ha nằm trên quốc lộ 20, cách TP. HCM 152km, cách Đà Lạt 148 km , cách thị xã Bảo Lộc 3O km thuộc huyện Đa Huoai, tỉnh Lâm Đồng đã bắt đầu đi vào hoạt động với hình thức kinh doanh du lịch sinh thái theo mô hình nghỉ dưỡng - dã ngoại do khách sạn Quê Hương - trực thuộc Tổng công ty du lịch Sài gòn quản lý.
    Madagui được đặt tên theo cách phát âm của người Mạ, dân tộc sinh sống chủ yếu tại khu vực ( Mạ là dân tộc Mạ, Đa đọc từ âm chính là Đạ có nghĩa là dòng sông, dòng suối, Gui là tên dòng suối. Madagui có nghĩa là sông Gui của người Mạ ). Người Mạ tin có nhiều thần: Yàng là vị thần tối cao, thần Sông, thần Núi, thần Lửa ... , Người Mạ sống tập trung tại khu vực có sông, suối, vì vậy họ làm thuyền độc mộc để đi lại, vận chuyển và đánh cá sông.
    Rừng Madagui có nhiều sông suối hang động, thác nước với thảm thực vật tự nhiên phong phú với đủ loại cây rừng nhiệt đới, tạo nên dáng vẻ hữu tình mà hoang sơ. Nhiều buôn làng lâu đời của người K’Ho, người Mạ gắn bó với núi rừng hằng bao thế hệ. Cho đến ngày nay họ vẫn giữ nguyên những lễ hội mang đậm nét văn hóa đặc sắc của dân tộc mình, như lễ hội Đâm trâu, lễ hội Cồng chiêng, lễ cúng Giàng… Nơi đây còn là quê hương của những sản phẩm thổ cẩm độc đáo được làm từ những đôi tay khéo léo của những nghệ nhân người K’Ho, người Mạ.
    Dã ngoại rừng Madagui khi đi ngang chiếc cầu gỗ xinh xắn bắc ngang dòng Suối Tiên, du khách thấy nước tung bọt trắng xóa, ào ào uốn quanh những hòn đá cuội như dải lụa đào, vừa thướt tha, vừa dữ dội chạy dài đến tận chân trời. Những con đường rừng rợp bóng cây, những cánh hoa dại bình dị, lung lay như vẫy chào mọi người đến với đại ngàn. Lý thú nhất là khu Thạch Lâm với hệ thống hang động liên hoàn, mời gọi chúng ta đến với thiên nhiên. Hang Dơi, vốn là nơi trú ngụ của dơi rừng Madagui, với những vách đá cheo leo, những vực sâu thăm thẳm như thách thức những người thích mạo hiểm. Cổng Trời cao chót vót, như có sức hút diệu kỳ, khiến chúng ta quên hết mệt nhọc để chinh phục đỉnh cao. Rồi hang Âm Phủ, hang đá lạnh căm và tối như bưng, càng xuống sâu, gió lùa hù hù nghe rờn rợn bên tai mà cũng vô cùng thú vị. Đi sâu vào trong rừng, ta sẽ đến với suối Voi, được mang tên như vậy vì đây là lộ trình di chuyển của đàn voi rừng. Đêm về, bên ánh lửa bập bùng với hương thơm rượu cần chếch choáng, càng ngất ngây hơn khi nghe cô gái K’Ho, cô gái Mạ cất tiếng hát bản trường ca Khan, H’ămon trong tiếng cồng chiêng âm vang giữa đại ngàn.
    Khám phá rừng
    Madagui có không khí trong lành mát mẻ quanh năm với con sông Đạ Huoai, Suối Voi, Suối Tiên và rất nhiều suối nhỏ ngầm trong các hang động. Suối Tiên là một phần của con sông Đạ Huoai bắt nguồn từ Bảo Lộc chảy ngang qua rừng Madagui với chiều dài khoảng 3km là nơi sinh sống của hai loài cá nổi tiếng là cá Lăng và cá Leo.
    Hệ thống hang động chia thành hai tầng: loại hang động nằm sâu dưới lòng đất, cách mặt đất từ 10 đến 12 m và loại hang động nằm trên cao, cũng cách mặt đất 10m. Khách du lịch sẽ được thám hiểm khu Thạch lâm, cổng Trời, hang dơi, hang cô, hang thầy, hang rẽ quạt và rất nhiều hang khác nữa nằm sâu trong rừng được bao phủ bởi rễ của những cây cổ thụ.
    Sau khi thám hiểm, suối, hang động, du khách sẽ dạo vườn kiểng, vườn tượng, tắm Suối bãi tình yêu …, nếu không ở lều hoặc ở nhà TARZAN được cất trên cây cao ven bờ suối, du khách sẽ ở những phòng nghỉ xây theo kiểu nhà rông nhưng đầy đủ tiện nghi như ở thành phố, có phòng karaoke giải trí, xem văn nghệ cồng chiêng do người dân tộc biểu diễn và uống rưọu cần. Nhà hàng Muông Xanh có thực đơn phong phú gồm nhiều món ăn đặc sản rừng và miền xuôi do những đầu bếp từ TP. HCM lên phục vụ.
    Khám phá rừng Madagui
    Khu du lịch rừng Madagui nằm bên quốc lộ 20 thuộc huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng, cách thị xã Bảo Lộc (Lâm Đồng) 30km, cách thành phố Hồ Chí Minh 152km. Khu du lịch có diện tích gần 600ha với nhiều dịch vụ du lịch hấp dẫn như:
    Khu thám hiểm rừng, khu cắm trại - sinh hoạt ngoại khoá, khu dịch vụ - nhà hàng nghỉ, khu vui chơi giải trí, khu công viên.
    Là một phần của rừng Nam Cát Tiên (được UNESCO công nhận là vườn quốc gia dự trữ sinh quyển ngày 25/4/2002). Với khí hậu trong lành, mát mẻ quanh năm, thiên nhiên nên thơ, hùng vĩ, thảm động thực vật phong phú, hệ thống hang động liên hoàn bao quanh được hình thành do chấn động của địa chất, núi lửa, hệ thống sông suối chính như sông Đạ Huoai, suối Voi cùng với những dòng suối ngầm trong các hang động... tạo nên một vẻ đẹp kỳ bí mà thơ mộng.
    Khu du lịch rừng Madagui là điểm dừng chân quen thuộc của du khách, nơi thu hút đông đảo thanh niên, học sinh, sinh viên trong những đợt dã ngoại cắm trại... Đến với khu du lịch Madagui, du khách như quay về với thiên nhiên, mọi lo toan căng thẳng như trôi đi theo tiếng gió reo, rừng hát, tiếng suối rì rào dịu mát. Du khách sẽ có cảm giác tự hào xen lẫn thú vị khi thám hiểm quần thể hang động được kết nối cực kỳ phức tạp với những hòn đá khổng lồ, nhiều hình thù kỳ lạ được chồng lên nhau như: hang Thầy, hang Cô, hang Thần Núi, hang Tử Thần, hang Dơi... không những phát triển các tuyến điểm tham quan về rừng, tận dụng cảnh quan thiên nhiên và diện tích rừng hiện có. Khu du lịch rừng Madagui còn phát triển thêm loại hình giáo dục trực quan về môi trường sinh thái với công trình khu rừng mưa nhiệt đới Madagui. Đây sẽ là nơi các em học sinh - sinh viên có thể khám phá, tìm hiểu về thực vật, nơi thực tập khá đa dạng về sinh học, ôn tập và tiếp cận thực tế với những gì đã học, là điểm tham quan bổ ích, hấp dẫn dành cho các tour giáo dục môi trường.
    Khu du lịch rừng Madagui nằm bên quốc lộ 20 thuộc huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng, cách thị xã Bảo Lộc (Lâm Đồng) 30km, cách TP Hồ Chí Minh 152km. Khu du lịch có diện tích gần 600ha với nhiều dịch vụ du lịch hấp dẫn như: Khu thám hiểm rừng, khu cắm trại - sinh hoạt ngoại khóa, khu dịch vụ - nhà hàng nghỉ, khu vui chơi giải trí, khu công viên.
    Là một phần của rừng Nam Cát Tiên (được UNESCO công nhận là vườn quốc gia dự trữ sinh quyển ngày 25-4-2002). Với khí hậu trong lành, mát mẻ quanh năm, thiên nhiên nên thơ, hùng vĩ, thảm động thực vật phong phú, hệ thống hang động liên hoàn bao quanh được hình thành do chấn động của địa chất, núi lửa, hệ thống sông suối chính như sông Đạ Huoai, suối Voi cùng với những dòng suối ngầm trong các hang động... tạo nên một vẻ đẹp kỳ bí mà thơ mộng.
    Khu du lịch rừng Madagui là điểm dừng chân quen thuộc của du khách, nơi thu hút đông đảo thanh niên, học sinh, sinh viên trong những đợt dã ngoại cắm trại... Đến với khu du lịch Madagui, du khách như quay về với thiên nhiên, mọi lo toan căng thẳng như trôi đi theo tiếng gió reo, rừng hát, tiếng suối rì rào dịu mát. Du khách sẽ có cảm giác tự hào xen lẫn thú vị khi thám hiểm quần thể hang động được kết nối cực kỳ phức tạp với những hòn đá khổng lồ, nhiều hình thù kỳ lạ được chồng lên nhau như: hang Thầy, hang Cô, hang Thần Núi, hang Tử Thần, hang Dơi...
    Không những phát triển các tuyến điểm tham quan về rừng, tận dụng cảnh quan thiên nhiên và diện tích rừng hiện có, Khu du lịch rừng Madagui còn phát triển thêm loại hình giáo dục trực quan về môi trường sinh thái với công trình khu rừng mưa nhiệt đới Madagui. Đây sẽ là nơi các em học sinh - sinh viên có thể khám phá, tìm hiểu về thực vật, nơi thực tập khá đa dạng về sinh học, ôn tập và tiếp cận thực tế với những gì đã học, là điểm tham quan bổ ích, hấp dẫn dành cho các tour giáo dục môi trường

    Lễ cúng Cơm mới
    Thời gian: Diễn ra trùng với tết Nguyên Đán của người Việt.
    Địa điểm: Tại phường B'Lao, thị xã Bảo Lộc.
    Đối tượng suy tôn: Giàng.
    Đặc điểm: Là lễ cầu mưa thuận gió hòa, ngăn thú rừng không cho chúng phá nương, phá rẫy.
    Lễ cúng cơm mới là một trong những lễ hội truyền thống của người Mạ, Cơ Ho tại phường B'Lao, thị xã Bảo Lộc. Ngày lễ này gần như trùng với tết Nguyên Đán của người Việt. Họ làm lễ để cầu mưa thuận gió hòa, ngăn thú rừng không cho chúng phá nương, phá rẫy. Cúng lúa mới, cơm mới cũng là để con cháu biết quý hạt thóc, hạt gạo. Lễ cúng gồm có: gạo thơm mới, ché rượu cần, gà trống giò, heo đực thiến và các loại thú rừng bẫy được.
    Lễ hội bắt đầu bằng việc khấn Giàng của thầy cúng, kế đến là tục vẩy rượu để chúc mọi người. Cuối cùng là uống rượu, hát tình ca, trường ca và tâm pớt(dân ca Mạ, Cơ Ho) trong tiếng cồng chiêng rộn rã. Lễ hội kéo dài suốt đêm cho đến sáng hôm sau.
    Lễ hội đâm Trâu
    Thời gian: Khi mùa màng đã thu hoạch xong.
    Địa điểm: Lễ hội được tổ chức dưới chân núi Lang Biang.
    Đối tượng suy tôn: Thần núi Lang Biang
    Đặc điểm: Lễ hội đâm Trâu - cúng thần núi Lang Biang được người Lạch cúng tế vào dịp dời làng hay khi bị thiên tai, địch họa.
    Khi mùa màng đã thu hoạch xong, cả làng tổ chức lễ đâm trâu (sa rơpu) để tạ ơn thần linh, đặc biệt là thần Ndu. Thần núi Lang Biang được người Lạch cúng tế vào dịp dời làng hay khi bị thiên tai, địch họa. Người Lạch coi đây là thần hộ mệnh của buôn làng. Ngoài những gia súc được hiến sinh, trên mâm cúng có một chiếc rìu với ba chén nước. Nghi lễ được tổ chức dưới chân núi Lang Biang. Việc tổ chức lễ hội sau vụ thu hoạch thường kéo dài nhiều ngày, được người miền xuôi gọi là Tết Thượng. Các gia đình thay phiên nhau mỗi năm hiến một con trâu để tế lễ. Lễ được tổ chức ở ngoài trời trước nhà chủ hiến tế hay chủ làng, có cây nêu được trang trí sặc sỡ và buộc trâu vào đó, dàn cồng chiêng được huy động cùng mọi người nhảy múa. Thịt trâu được xẻ ra và chia cho từng gia đình, tổ chức ăn uống theo từng nhà, máu con trâu được dùng để bôi vào trán mọi người như một sự cầu phúc. Dĩ nhiên mỗi nhà tùy theo khả năng có thể mổ thêm heo gà để cho bữa tiệc thêm phần thịnh soạn. Các thành viên ở trong buôn sẽ đến từng gia đình để chung vui, trước hết là những bà con thân thích, sau đó đến những người láng giềng thân cận. Sau cuộc tế lễ này, lúa mới được đưa ra sử dụng và bắt đầu những công việc như làm nhà, chuyển làng...

    Những đường hầm bí mật ở Đà Lạt
    Một trong những bí mật của Đà Lạt là những đường hầm xuyên các tòa nhà nổi tiếng, nơi nghỉ dưỡng của cựu hoàng Bảo Đại và Ngô Đình Diệm.
    Khách sạn Palace
    Đường hầm nối từ cổng phụ của khách sạn lên đến phòng khách cửa chính, chiều dài khoảng 40 m, rộng 2 m, nền đá, tường đúc xi măng, theo hình chữ Y, khá sạch sẽ và thông thoáng. Từ điểm bắt đầu đến hai ngả: một dẫn ra cửa chính khách sạn, một đi lên nhà bếp, tầng trệt của khách sạn. Trên nóc hầm có lắp đặt hệ thống bóng điện chiếu sáng. Hai bên đường hầm gắn các đường ống dẫn điện và nước (tách biệt) khá thẩm mỹ và an toàn.
    Ông Phạm Thành Trung, Tổng giám đốc Công ty DRI (tập đoàn Accor của Pháp), “ông chủ” của khách sạn Palace cho biết: "Ngay từ khi xây dựng (năm 1922), người Pháp đã tính toán đến đường hầm này. Vì khách sạn được xây trong thời chiến nên trước hết nó là con đường an toàn để thoát thân, đề phòng xảy ra bất trắc".
    Ở đây, những chuyện “bếp núc” như đến các phòng thay trang phục, chuyển thực phẩm nấu ăn... không lộ thiên như các khách sạn, nhà hàng khác.
    Địa đạo bí mật ở Dinh I
    Dinh I nguyên là tổng hành dinh của cựu hoàng Bảo Đại và cũng là nơi nghỉ dưỡng của Ngô Đình Diệm. Tòa nhà này của một viên công sứ người Pháp, Bảo Đại mua lại (vào khoảng cuối năm 1951 đầu năm 1952), sau đó xây dựng thành dinh thự trên một quả đồi. Phía sau dinh, dưới chân đồi cách khuôn viên tòa dinh thự chừng hơn 200 m có một đường hầm bí mật được đào xuyên qua quả đồi, có ngã rẽ vào Dinh I thông đến phòng khách Dinh II (Dinh Toàn quyền).
    Hầm có chiều dài gần 3 cây số, cửa hầm ngụỵ trang trong một căn nhà xây nhỏ. Ông Nguyễn Đức Hòa, 80 tuổi, từng là người hầu cận thân tín của cựu hoàng Bảo Đại và sau được tin dùng mấy đời “nguyên thủ quốc gia” kể: “Khi chúng tôi được lệnh đến sửa sang lại tòa nhà phát hiện đường hầm bí mật này. Đức Kim Thượng (vua Bảo Đại) dặn phải tuyệt đối giữ bí mật, không ai được hé răng". Đường hầm do Nhật đào để chuẩn bị cho cuộc đảo chính Pháp năm 1945, nhằm bắt sống Toàn quyền Đông Dương và quan Tây trong các biệt thự.
    Cửa hầm rộng 3 m, cao 1,8 m, cách mặt đất 2 m. Khi phát hiện ra đường hầm này, Bảo Đại mừng lắm và cho đặt một xe du lịch ngay cửa hầm, phòng khi bất trắc, được đưa vào xe lánh nạn.
    Cạnh đó, “ngài” cho xây dựng một sân bay. Thẳng hướng cửa hầm lên và lối đường hầm băng qua, Bảo Đại cho xây dựng vườn Thượng uyển làm nơi đãi tiệc và dạo chơi. Năm 1956, Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống, ông ta chọn Dinh I làm nơi nghỉ dưỡng; ông Hòa được điều về phục vụ tại đây nên có điều kiện biết rõ hơn về đường hầm này.
    Vốn tính tò mò, nhiều buổi trưa ông Hòa cùng mấy người bạn mang theo đèn pin, lén xuống hầm đi sâu vào bên trong. Họ phát hiện rễ cây đâm tua tủa xuống đường hầm (người Nhật không chặt rễ cây, sợ cây chết, quân Pháp nghi ngờ), dơi làm tổ ở đó, ông Hòa cùng mấy người bạn bắt về làm thịt ăn. Năm 1958, Dinh Độc Lập bị thả bom, Ngô Đình Diệm sợ quá vội xuống lệnh yêu cầu đổ bê tông “kiên cố hóa” đường hầm bí mật để phòng thân nhằm khi có biến động.
    Đoạn đường địa đạo bí mật nối vào Dinh I chưa khai thông, giờ bị xới lên “nối” tới tầng 2 (của Dinh), cửa hầm ngay trong phòng ngủ, cạnh đầu giường của tổng thống. Phía trước được ngụy trang bằng một giá sách, chỉ cần đẩy nhẹ sang một bên là bước vào cánh cửa dẫn xuống đường hầm. Bên dưới đường hầm có 3 phòng: phòng nghỉ ngơi và làm việc của tổng thống, phòng điện đài cơ yếu và phòng bảo vệ. Trên nóc dãy phòng này và bốn bề được kè đá, đóng cửa sắt cẩn thận.
    Ông Hòa, người duy nhất biết rõ về đường hầm này luôn bị căn dặn phải ghi nhớ 3 điều: “không biết, không nghe, không thấy”. Ông kể: "Cứ mỗi lần quản gia ông Diệm báo “ngài sắp lên” là tôi lại phải mất mấy ngày chuyên tâm lau dọn đường hầm cho sạch sẽ. Và khi nào cũng vậy, vừa đặt chân đến dinh là ông Diệm vội vàng xuống kiểm tra an toàn của đường hầm bí mật trước tiên".
    Nghe nói để xây dựng lại đường hầm này, ông Diệm đưa gần hai chục người từ Huế lên ăn ở tại chỗ và hì hục làm trong suốt gần hai năm liền. Sau đó, họ bị đưa đi đâu không rõ. Không ngoại trừ khả năng họ bị xử tử bí mật để đảm bảo an toàn.
    Đường hầm Dinh II
    Dinh Toàn quyền được xây dựng từ năm 1933 với sự tham gia thiết kế của kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, nguyên Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam. Tại Dinh này, ngoài đường hầm nối từ Dinh I còn có một đường hầm bí mật khác được đào ra phía sườn đồi, hướng tây nam, dài chừng 500 m, do Toàn quyền Jean Decoux khi về đây đã cho xây dựng nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối ông ta và gia đình.
    Đường hầm này khá kiên cố, cửa hầm nằm phía sau nhà khách của dinh. Sau đó, Ngô Đình Nhu và Trần Lệ Xuân đến ở, đã xem đường hầm là “sự quý giá” Toàn quyền để lại. Năm 1964, tướng Nguyễn Khánh lên nắm quyền ở miền Nam đã chọn Dinh II làm tổng hành dinh trong mùa nghỉ mát và lệnh cho tu bổ lại các đường hầm cũng mục đích hòng để thoát thân nếu chẳng may có đảo chính.
    Tại trụ sở UBMTTQ tỉnh Lâm Đồng (xưa là nhà Ngự Lâm Quân của vua Bảo Đại) và Bảo tàng Lâm Đồng (nguyên là nhà của Đại phú hào Nguyễn Hữu Hào, cha đẻ của hoàng hậu Nam Phương) cũng có đường hầm. Theo lời ông Hòa, hầu hết các biệt thự lớn ở Đà Lạt đều có đường hầm do Nhật đào để bắt sống các quan Pháp thời đó.
    Hơn 60 năm trôi qua, nhất là sau năm 1975, nhiều đường hầm bí mật ở đây bị sập, hư hỏng nặng, người ta cho dùng đất đá lấp lại. Đến nay, các đoạn đường hầm kể trên hầu như không còn dấu tích.

    TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI ĐÀ LẠT
    Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống xã hội và đã phát triển với tốc độ ngày càng nhanh. Đặc biệt, du lịch nghỉ dưỡng là loại hình giúp cho con người phục hồi sức khoẻ và lấy lại tinh thần sau những ngày làm việc mệt mỏi, những căng thẳng thường xuyên xảy ra trong cuộc sống.
    Đà Lạt, một thành phố nằm ở Nam Tây Nguyên được bác sĩ A.E.Yersin phát hiện và đã được người Pháp xây dựng thành phố nghỉ dưỡng. Trải qua hơn 110 năm hình thành và phát triển Đà Lạt vẫn giữ vững chức năng nghỉ dưỡng được đặt ra từ đầu.
    Đà Lạt nằm ở độ cao 1.500m so với mặt nước biển, địa hình phân thành nhiều bậc cao thấp, nền nhiệt độ của Đà Lạt khá thấp so với các nơi khác trong miền cùng vĩ độ, nhiệt độ trung bình dao động từ 17 – 180 C, chế độ mưa ở Đà Lạt cũng ôn hoà thường bắt đầu giữa tháng 04 và kết thúc vào tháng 10. Tổng lượng mưa trong năm dao động từ 1900 đến 2100mm/ năm. Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1800 đến 2000 giờ.
    Về hệ thống động thực vật, rừng Đà Lạt bao gồm rừng lá kim, rừng hỗn giao, trảng cỏ và bụi rậm. Rừng lá kim với cây thông ba lá chiếm diện tích khá lớn. Thông có mặt khắp nơi trong thành phố. Ngoài thông ba lá, thành phố còn có những dải rừng hẹp của thông hai lá như kiểu rừng thưa ở khu vực Manline. Đặc biệt, thông năm lá – một loài cây đặc hữu quý hiếm của Đà Lạt đã được tìm thấy ở một số nơi như Trại Mát, Biđup. Rừng hỗn giao cũng phân bổ khắp nơi quanh thành phố với nhiều loài cây cùng sinh sống như: dẻ, kim giao, hùynh đàn, chò ngọc lan,… chính nhờ vào nguồn tài nguyên rừng phong phú như vậy, lại ở một độ cao hợp lý, nên Đà Lạt mới có được một khí hậu ôn hoà và nguồn không khí tốt lành. Chính cây thông đã làm tăng lượng oxy cho Đà Lạt, đặc biệt là địa y đã góp phần đáng kể đem lại bầu không khí trong lành cho thành phố.
    Nhờ vậy, Đà Lạt trở thành một trung tâm nghỉ dưỡng, du lịch tuyệt vời mà hiếm nơi nào trên đất nước ta có được. Đà Lạt nhờ có được sự ưu đãi của thiên nhiên, không chỉ có khí hậu trong lành mà còn là nơi có thể sản xuất được những loại rau quả ôn đới như Xà Lách, khoai tây, cà rốt,… vùng rau Đà Lạt là nơi sản xuất và cung cấp những loại rau cải cao cấp quanh năm, phục vụ cho hướng phát triển du lịch nghỉ dưỡng của thành phố.
    Về tài nguyên du lịch nhân văn, Đà Lạt còn là nơi sinh sống của các tộc người Lạch, Chil, Srê. Mặc dù cuộc sống của các đồng bào dân tộc ít người này ngày nay đã và đang bị Việt hoá, nhưng trong công đồng vẩn còn tồn tại một số phong tục, lễ hội có thể xem là nguồn tài nguyên nhân văn quan trọng để thu hút du khách đến với Đà Lạt.
    Ngoài đặc điểm chung của người Việt Nam, người Đà Lạt còn chịu ảnh hưởng sâu đậm những tinh hoa của nền văn hoá Pháp và chính điều này đã góp phần hình thành nên phong cách riêng của con người Đà Lạt khó lẫn lộn với các nơi khác, đó là: hiền hoà, trầm mặc, thanh lịch, mến khách.
    Kiến trúc của Đà Lạt rất thích hợp cho loại hình du lịch nghỉ dưỡng, đó là kiến trúc của cư dân bản địa và kiến trúc của người Pháp. Kiến trúc của dân tộc thiểu số bản địa là loại hình nhà sàn và nhà đất rất thích hợp cho du khách quốc tế muốn tìm hiểu về nền văn hoá bản địa.
    Trong những năm qua, du lịch Đà Lạt có những bước phát triển rõ rệt. Du khách đến Đà Lạt với mục đích tham quan nghỉ ngơi, Đà Lạt thật sự là một điểm du lịch nghỉ dưỡng hấp dẫn đối với mọi người. Bên cạnh những kết quả đạt được du lịch nghỉ dưỡng Đà Lạt còn bộc lộ nhiều yếu kém, tồn tại đó là: tình hình phát triển du lịch nghỉ dưỡng tại Đà Lạt chưa cao và chưa thực sự là loại hình du lịch dành cho nghỉ dưỡng, loại hình du lịch còn đơn điệu, chất lượng sản phẩm du lịch chưa tèt, khả năng cạnh tranh thấp,…
    Để loại hình du lịch nghỉ dưỡng tại Đà Lạt ngày càng phát triển, trước hết phải định hướng phát triển du lịch bền vững, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn, có các biện pháp bảo vệ môi trường. Đào tạo nguồn nhân lực du lịch theo hướng chuyên nghiệp. Đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là nhanh chóng nâng cấp sân bay Liên Khương thành sân bay quốc tế và hoàn thiện hệ thống giao thông. Về cơ sở vật chất kỹ thuật cần xây dựng thêm các khách sạn, khu biệt thự, nhà hàng phù hợp với loại hình du lịch nghỉ dưỡng. Đa dạng hoá sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng, tạo ra các sản phẩm dành cho loại hình nghỉ dưỡng như: chăm sóc sức khỏe bằng phương pháp Yoga hoặc phương pháp thiền, du lịch kết hợp phương pháp vật lý trị liệu, châm cứu,… và chúng ta phải có chiến lược tuyên truyền, quảng bá và mở rộng thị truờng cho du lịch nghỉ dưỡng Đà Lạt ngày càng phát triển.
    Với ưu thế về khí hậu cảnh quan, không gian kiến trúc độc đáo và hài hòa với cảnh quan đã tạo điều kiện cho hai chức năng nghỉ dưỡng và du lịch của Đà Lạt gắn bó mật thiết và hỗ trợ cho nhau. Sự phát triển về du lịch của Đà Lạt góp phần thúc đẩy sự phát triển du lịch của cả nước nói chung, của vùng du lịch Nam Trung bộ nói riêng, xứng đáng với vai trò là một trong những trung tâm du lịch lớn của Việt Nam hiện nay.

    con người Đà Lạt


    Khi đề cập đến con người Đà Lạt nhiều nhà nghiên cưú dân tộc học cho rằng : thật ra không có con ngươì đà lạt đơn thuần mà đó là sự hội tụ tinh hoa của con người từ moị miền đất nước, là tổng hoà khí chất không chỉ các dân tộc bản xứ và 3 miền Bắc – Trung- Nam Việt Nam mà còn có cả Trung Hoa và Tây Au
    Ngược dòng lịch sử và nhận diện con người Đà Lạt hôm nay, chúng ta có thể bắt gặp điều đó .Trong bản thân họ luôn có vẻ tôn trọng lẫn tế nhị, thanh lịch của ngươì bắc nét trầm mặc suy tư cần cù lao động cuả ngươì miền trung vẻ thật thà, đôn hậu trọng tình nghiã cuả ngươì miền nam cũng như cách giao tiếp khéo léo cuả người hoa và lối ăn mặc lịch sự cuả người tây âu
    Cho tới bây giờ cũng chưa ai lý giải được 3 tộc người Lạch- Chil-Srê có mặt tại đà lạt tự lúc nào mà chỉ ước đoán họ xuất hiện trên thành phố cao nguyên này cách đây 4,5 thế kỷ vào thời hưng thịnh nhất của vương quốc chămpa. Sự xuất hiện một số di chỉ đá mài ngay đèo Pren gần đây cho thấy từ rất xa xưa Đà Lạt đã có ngươì ở nhưng những người này có quan hệ gì với người lạch-Chil-Sre hay với người kinh thì phải chờ các công trình nghiên cúu khoa học ngày nay mới co thể xác định được
    Dẫu rằng mỗi tộc người có một phong tục – ngôn ngữ - tập quán và tự cho mình một điạ bàn cư trú khác nhau, nhưng những gì còn tồn tại ngày nay đã góp phần khẳng định Đà Lạt có một tính chất rất riêng khó nhầm lẫn vơí các điạ phương khác
     Nếu ba tộc ngươìØanh em Lạch- Chil-Srê chọn phía tây nam và tây bắc cuả thành phố để tụ cư thì phần lớn người Đà Lạt gốc bắc lại chọn các quả đồi và thung lũng quanh các khu ngoại ô thành phố như : ấp Hà Đông –Nghệ Tĩnh-Du sinh để làm ăn.
     NgườiØThưà Thiên –Huế chọn lòng chảo quanh ấp Anh Sáng gần Hồ Xuân Hương để cư ngu.
     Người Quảng Nam – Quảng Ngãi – Bình Định thì chọn những vùng đất màuØmỡ quanh thành phố như Xuân Trường – Xuân Thọ định cư .
     Người hoa lấyØkhu Hoà Bình – đường Phan Đình Phùng đề sinh sống .A6 u chọn các qủa đồi xinh đẹp nằm rãi rác trong thành phố để an cư xây dựng càc biệt thư làm cho thành phố thêm đa dạng và phong phú .
    Ngày nay theo con đường Đà Lạt theo con đường dốc quanh co gần 20km về hướng tây nam chúng ta sẽ gặp ngay bà con Srê – Chil –Lạch với cuộc sống chuyên canh lúa nước trồng cà phê và hoa màu thuộc xã Tà Nưng có diên tích 55,91 km2 với 1593 người dân, trong đó với 2/3 là ngươì Chil (587 ngươì), Lạch (347 người) – 290 người Srê. Nếu đi về hướng Tây Bắc của thành phố chúng ta sẽ đặt chân đến Đania (huyện Lạc Dương ) và sẽ bắt gặp nhưng buôn cuả người L ạch , ngươì Chil tại đây

    Người Đà Lạt Gốc Miền Bắc
    Theo con số thống kê chưa đầy đủ người Đà Lạt gốc Bắc trên thành phố cao nguyên hiên nay chiếm khoảng 50% số dân toàn Đà Lạt. Điều đó cũng phù hợp với tiến trình phát triển lịch sử xây dựng thành phố .Để xây dựng thành phố nghỉ dưỡng tuyệt đẹp ngày 6-1-1916 toàn quyền Đông Dương lúc bấy giờ đã quyết định biến Đà Lạt thành tỉnh lỵ cuả tỉnh Labiang và cho cấp tốc xây dựng cơ sở hạ tầng như : khách sạn Lanbiang 1916 nhà máy điện 1919 ngăn dòng suối Lạch để tạo thành thắng cảnh hồ lớn năm1919 – làm đường xe lửa răng cưa lên Đà Lạt 1920 –xây dựng một số trường tiểu học - ngân khố –bưu điện ... để thu hút ngươì dân khắp mọi miền đất nước đến Đà Lạt cư ngụ nhằm góp phần xây dựng thành phố . Năm 1923 dự án thiết kế đô thị cuả kiến trúc sư Hébrard được thông qua với qui hoạch phát triển dân cư Đà Lạt về phía Tây Bắc và Đông bắc cuả Hố Lớn đã đánh giá một bước phát triển của cư dân Đà Lạt.
    Cho tới bây gìơ nhiều người vẫn còn nhớ năm 1931 -1932 đã có hàng chục hộ miền bắc tiềm đến Đà Lạt làm ăn sinh sống tại trại chăn nuôi bò sưã cuả pháp tại Đankia
    Nhằm thực hiện ý định của toàn quyền đông pháp , ông Trần Văn Lý quản đạo Đà Lạt lúc bầy giờ, đã thống nhất với các ông Hoàng Trọng Phu-Lê Văn Định và một vài viên chức khác di dân ở Bắc Kỳ vào thành phố. Đầu tiên, vào năm 1938, có 33 người thuộc các làng : Ngọc Hà-Quảng Nam-Nghi Tàm-Xuân Tảo-tây Tựu và Vạn Phúc thuộc tỉnh Hà Đông cũ được di cư vào D9à Lạt để trồng rau và lập nên ấp Hà Đông.
    Trong suốt 4 năm (Từ 1939->1942), do thiếu công nhân để xây dựng và khai hoang nên nhiều vườn ở Đà Lạt đã ra tận các tỉnh ngoài Bắc như : Nam Định-Hà Nam-Hải Dương-Hưng Yên-Bắc Ninh tuyển thêm lao động. Số ngươì này phần lớn đã quyết định ở lại Đà Lạt làm ăn khi hết hợp đồng.
    Đền năm 1940, ông Phạm Khắc Hoè-quản đạo Lâm Viên lúc bấy giờ (ngươì Nghệ Tĩnh), sau mấy lần đến thăm ấp Hà Đông, nhận thấy bà con làm ăn được nên mới về quê bàn với ông Nguyễn Thái Hiến đưa một số gia đình trong dòng họ, thân quen của mình tứ Nghệ Tĩnh vào Đà Lạt để lập nghiệp. Việc chuyển cư này được tiến hành rất nhiều đợt, chính ông Phạm Khắc Hòe đã bố trí, giúp đỡ cho họ ổn định cuộc sống và xây dựng nên ấp nghệ tỉnh vào năm 1940 với diện tích 36 ha. Lúc đầu bà con Nghệ Tĩnh vào đà lạt ban ngày phải làm thuê, chiều về vỡ đất khai hoang trồng rau. Chỉ sau một vài năm, họ đã có trong tay một cơ ngơi rộng lớn và bắt đầu chuyển hẳn qua nghề làm vườn, chuyên trồng cây Atisô và dâu tây để cung cấp cho người Pháp và các chợ.
    Từ năm 1954 trở đi, nhiều trại định cư của bà con Thiên Chúa Giáo từ các nơi như : Hà Nội-Hà Đông-Bắc Ninh-Hà Nam Ninh-Thái Bình được xây dựng tại Đà Lạt. Thế là xuấthiện các ấp : Du Sinh-Thánh Mẩu-Đa Minh-Đa Thiện...
    Cuối tháng 3, đầu tháng 4 được sự giúp đỡ của linh mục Mạnh Trọng Bích, khoảng 4000 bà con thiênchúa giáo của làng :Nghi Yên-Cầu Khống thuộc huyện Đức Thọ-Hà Tĩnh mới di cư vào Đà Lạt. Ngày 22-5-1955, bà con đến nơi và lập nên ấp tah1nh mẫu. Cũng vào thời điểm đó, hơn 3000 giáo dân ở Hải Phòng-Nam Định-Hà Nội-Thái Bình-Bắc Ninh được linh mục Đỗ Ngọc Bích đưa vào quả đồi thông gần trại định cư giải tán, cuộc sống quá khó khăn, một số gia đình (khoảng 2000người) đã tản mác xuống Đồng Nai và một số nơi khác. Số còn lại quyết bám trụ và sau đó trở thành một bộ phận dân cư của khóm Nam Thiên bây giờ.
    Năm 1957, khoảng 600 giáo dân của làng Phát Diệm được linh mục Mai Đức Thạc đưa vào vùng cầu đất lập nghiệp. Lúc đầu họ nhận làm sở trà cầu đất nhưng sau đó vì đời sống quá vất vả nên đã có 60 hộ lần lượt bỏ đi nơi khác, chỉ không còn quá 20 hộ ở lại.
    Nói đến những người dân đà lạt gốc Bắc còn phải kể đến bà con ở ấp Tùng Lâm-Kim Thạch, đa số là người Hà Đông-Hà Nội được các linh mục đưa đến đây để sinh cơ lập nghiệp.
    Từ năm 1957->1975, số dân miền Bắc đến Đà Lạt nhập cư không đáng kể, chỉ từ sau năm 1975 đến nay mới thật sự đông đúc do Đà Lạt tiếp nhận một số bà con từ các tỉnh phía Bắc vào làm ăn sinh sống, công tác trong các ngành của tỉnh và thành phố. Bên cạnh đó, số bà con đi xây dựng vùng kinh tế mới Lâm Hà chuyển đến Đà Lạt vả nhận nơi này làm quê hương thứ 2 của mình.
    Thực tế, cho thấy rằng người Đà Lạt gốc Bắc có ảnh hưởng đến phong cách của người Đà Lạt vì họ chiếm số lượng khá đông và trong họ có một truyền thống văn hiến lâu đời-lễ nghi-phong tục-tập quán truyền thống. Chính điều đó đã góp phần tạo nên sự phong phú về văn hóa cho cư dân Đà Lạt . phải thừa nhận rằng người Đà Lạt xưa nay vốn có phong cách tế nhị-thanh lịch nhẹ nhàng-tiếng nói giàu âm sắc là nhờ ảnh hưởng khá lớn của người gốc bắc nói chung và người Hà Nội-Thủ Đô của một đất nước 4000 năm văn hiến nói riêng.
    Bên cạnh đó, tính cần cù-chịu khó của người nghệ tĩnh cũng đã ăn sâu vào tiềm thức ngươí dân đà lạt, vì hơn ai hết, do xuất thân từ vùng quê nghèo khó-bỏng rát gió Lào ; khi đặt chân đến Đà Lạt, những con người Nghệ Tĩnh đã quyết tâm cố gắng làm ăn-tạo ra một ấp Nghệ Tĩnh giàu có và khẳng định được chỗ đứng trong cộng đồng dân cư Đà Lạt hôm nay.
    Người Đà Lạt Gốc Thừa Thiên Huế
    Trong những năm 1930, vì nạn sưu cao thuế nặng, cũng như sư o ép hà khắc cuả chế độ phong kiến và tình trạng đất đai cằn cõi những đoàn người Thưà Thiên -Huế đầu tiên đã tìm vào Đà Lạt để kiếm sống sinh nhai . Sau đó họ về lại quê nhà đùm túm vợ con và rủ người thân thích lên vùng đất tốt tươi thiên nhiên ưu đãi con người này để an cư lập nghiệp. Họ tập trung cư ngụ quanh khu vực trung tâm thành phố và dọc theo Hồ Lớn đề trồng rau và buôn bán và hình thành ấp Anh Sáng vào năm 1952 . Một trong những người sáng lập là ông Cao Minh Hiễụ thị trưởng cuả Đà Lạt và cái tên ấp Anh Sáng là do ông đặt ra từ phong trào Anh Sáng của nhóm tự lực văn đoàn.
    Nhiều cụ già kể lại : vào năm 1930 nơi đây chỉ có từ 5 đến 6 gia đình người làng Kế Môn – Phước Yên vào sinh sống với những căn chòi tranh vách lá đơn sơ. Ba anh em ông Cao Quang Kì – Cao Quang Chướng và Cao Xá là những bậc tiền bối đã có công khai sơn phá thạch vỡ hoang vúng đất này. Sau đó hàng chục hộ gia đình từ Thừa thiên – Huế thấy việc sinh sống ở đây có nhiều thuận lợi và dễ dàng nên mới kéo về đây làm ăn ngày một đông đảo.
    Năm 1946 do chiến tranh nhiều gia đình bà con thừa thiên –Huế ở ấp Anh Sáng nói riêng và dân đà lạt nói chung phải tản cư đi nơi khác. Cuối 1947 họ mới dần hồi cư quê cũ . Đến năm 1952 khi thành lập và đặt tên chính xác là ấp Anh Sáng lúc bấy giờ cũng chỉ có 36 nóc nhà gia đình được xây dựng trên lô đất bằng phẳng ven sườn đồi theo hình chữ A mái ngói – vách gỗ rộng 7,5m – dài 12m chia thành hai dãy cách nhau một lối đi mỗi nhà cách nhau 4m tạo thành một khu vực thị trấn nhỏ xinh. Đến 1893 thì dòng điện chính cho bà con ấp ánh sáng sử dụng
    Mấy năm sau do những biến cố chính trị nhiều người thưà thiên – Huế lo lắng trứớc cảnh chiến tranh ác liệt ở quê nhà nên lần lượt kẻ trước người sau kéo nhau vào Đà Lạt và họ cùng tập trung vào ấp Anh Sáng làm cho ấp này phát triển lên ngày càng trăm hộ . Năm 1955 – 1956 một số hộ bị giải tỏa họ mới rủ nhau về Thái Phiên xin cấp đất làm vườn . Một số khác lên dọc khu Hoà Bình để buôn bán . Người Thừa Thiên Huế vào Đà Lạt mang theo cả phong tục và tập quán cưới hỏi, ma chay, đình đám , hội hè càch ăn mặc chịu ảnh hưởng cuả lê 4 nghi cung đình huế vào thành phố Cao Nguyên. Người Thưà Thiên Huế thường làm nhà thờ họ – tế tư – giỗ chạp theo chu kỳ nhằm thắt chặt mối tình tương thân tương ái giữa không chỉ những người đồng hương trên quê mới cuả mình mà còn gắn bó với bà con dòng họ chốn quê nhà .
    Họ thường rất kỹ tính trong mọi việc từ cung cấp làm ăn đến sinh hoạt hằng ngày. Chiếc áo dài, chiếc nón bài thơ xứ Huế cũng từ đó có đều kiện du nhập và trở thành phong cách của nữ sinh Đà Lạt.

    Người Đà Lạt Gốc Quảng Nam – Quảng Ngãi- Bình Định – Phú Yên
    Ngược dòng lịch sử chúng ta sẽ thấy những ngươì dân Quãng nam –Quãng Ngãi –Bình Định –Phú Yên đến Đà Lạt khá sớm.Họ có mặt từ năm 1920 khi người pháp tuyển mộ phu làm đường quốc lộ 1- 11- 20 và làm đường xe lưả Tháp Chàm –Đà Lạt . Tuy nhiên kể từ khi cầu Trà Đất lập năm 1927 thì những người gốc Nam –Ngãi- Bình Phú tập trung đông nhất. Phần lớn trong số họ đến đây để làm thuê cho các chủ đồn điền người Pháp và tranh thủ khai hoang lập vườn trồng rau .

    Dân Nam-Ngãi-Bình- Phú tập trung đông nhất ở Trại Hầm-Tân Lạc –Xuân Thọ –Trại Mát– Xuân Trường. Năm 1929 làng Trường Xuân được thành lập .Từ năm 1936- 1940 làn sóng người dân Nam –Ngãi –Bình –Phú nhập cư vào thành phố này càng nhiều do điều kiện làm ăn ở quê nhà quá vất vả- khó khăn. Họ rủ nhau vào Đà Lạt lâp nghiệp và tập trung khá đông ở các khu như Nam Hồ- Nguyễn Siêu .... sinh sống bằng ngề làm vườn
    Sau năm 1954 những ngươì dân ở Quãng Nam –Quảng Ngãi kéo vào Đà Lạt ngày một đông hơn . Nguyên nhân là các vùng quê hẻo lánh bị dịch “ tảo thanh” càn quét buộc phaỉ tản cư nên thất nghiệp .Trong số đó có một số cán bộ cách mạng do bị lộ hoăc do yêu cầu công tác để tránh sư khủng bố cuả chế độ Sài Gòn nên phải tìm vào Đà Lạt để làm thuê và hoạt động cách mạng. Họ mang theo cả gia đình, vợ con vào thành phố lập nghiệp và ở khắp nơi trong Đà Lạt từ các đường : Cao Bá Quát-Xuân Thọ-Sào Nam-Thái Phiên-Đa Lợi-Xuân Thành-Trại Mát-Đa Thiện....
    Khác với người Bắc và người Thừa Thiên Huế, người Nam –Ngãi-Bình-Phú vào Đà Lạt không nhận được ân huệ, chiếu cố của chính quyền lúc bấy giờ mà (họ phải tự lực cánh sinh-xây dựng cuộc sống trên quê hương mới. Vì vậy, họ sống rất thực tế-không chú ý lắm đến hình thức và do xuất thên từ vùng đất có tinh thần thượng võ nên nhóm người này giàu ý chí-nghị lực và cá tính rõ ràng. Hay nói đúng hơn người Nam –Ngãi-Bình –Phú nhập cư vào đà lạt mang theo cả truyền thống bất khuất-kiên cường và nhiệt tình cách mạng. Từ đó, họ đã góp phần tạo nên phong trào cách mạng hào hùng của người Đà Lạt suốt mấy chục năm qua và hình thành nên phong cách “biết nâng hoa, cũng biết tát quân thù” của người dân Đa Thành.

    Người Đà Lạt Gốc Hoa
    Ngươì Hoa đến đà lạt cũng khá sớm từ những năm đầu thế kỷ XX. Thế nhưng, mãi đến năm 1935, số lượng người Hoa đến Đà Lạt để làm ăn và định cư mới thật sự rõ nét và đông đảo: 333 người. Những năm sau đó, số lượng tuy có tăng nhưng không đáng kể: năm 1944 có 360 người; năm 1952 tăng lên 752 người. Phần lớn trong số họ làm ăn trong các nghề như buôn bán-lao công-giúp việc nhà. Đến năm 1993, Đà Lạt có 2.385 người Hoa thuộc các tỉnh Quảng Đông-Hải Nam-Phúc Kiến-Triều Châu Và Sơn Đông đến Đà Lạt sinh cơ lập nghiệp. Bà con sinh sống chủ yếu ở các phường 1-2 và Xuân Trường. Số còn lại rải rác từ phường 3 đến phường 11. họ sinh sống chủ yếu bằng các nghề buôn bán- dịch vụ và các ngành tiểu thủ công nghiệp. Chính họ cũng đã góp tạo cho người Đà Lạt đặc tính khéo léo trong kinh doanh, đồng thời góp phần xây dựng thành phố này càng phát triển.

    Người Pháp Ở Đà Lạt
    Có thể nói, trong quá trình phát triển của thành phố, người Đà Lạt chịu ảnh hưởng không ít tính cách của người Pháp, bởi lẽ họ là những người đầu tiên khai sinh thành phố. Lịch sử vẫn còn ghi lại: sau chuyến thám hiểm của bác sĩ Alexandra Yersin và những người pháp đầu tiên đặt trưng lên cao nguyên Langbiang vào tháng 6-1893, đến năm 1989, ông Missigbrott quyết định ở lại lập một khu vườn rau cải và chăn nuôi gia súc ở Đankia. Tiếp theo, cùng với dự án xây dựng Đà Lạt thành một trung tâm nghĩ dưỡng của toàn quyền Đông Dương, các viên chức-binh sĩ cùng gia đình họ đã lên Đà Lạt định cư nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ cho các công sở, trường học. Bên cạnh đó, còn có những người pháp đến khai phá và xây dựng các nông trại ở Camly-Đankia-Sơn Trà-Cầu Đất. Trong những năm đầu xây dựng thành phố, số người Pháp nhập cư vào đà lạt không nhừng gia tăng; nếu 1935 chỉ có 470 người->năm 1952 lên đến 1217 người. Nhưng sau đó vì lý do khách quan, số người Pháp chọn đà đạt làm quê hương thứ 2 từng bước giảm dần chỉ còn 608 người năm 1955.
    Trước năm 1945, phần lớn người Pháp đến Đà Lạt sống trong các biệt thự phía nam thác Camly-Hồ Lớn và cư xá Decoux (gần trường trung học Trần Hưng Đạo cũ). Sau đó, họ xây dựng hàng trăm biệt thự dọc đường trần hưng đạo ngày nay và rãi rác quanh viện Pasteur Đà Lạt. Người pháp sống ở Đà Lạt có quê quán từ Paris-Nomandie-Corse-Alsace-Lorraine đến Gascogne….Chính họ không những mang đến cho thành phố những giống hoa quyến rũ của quê hương họ mà còn tạo cho bộ mặt Đà Lạt mang dáng dấp của moat thành phố Châu Au thu nhỏ với những biệt thự xinh đẹp thấp thoáng trong hoa lá, thì thầm với ngàn thông-những mái nhà thờ và tháp chuông cao vút và bên trên có con gà Gôloa như những nhà thờ ở Pháp quốc. Họ còn để lại dấu ấn khó phai trong phong cách của người Đà Lạt: không bảo thủ-cố chấp-vă minh và lịch sự

    Phục Chế Toa Xe Lửa Cổ

    Tin từ ga xe lửa Đà Lạt cho biết Công ty cổ phần Vận tải đường sắt Hà Nội vừa thỏa thuận đầu tư 800 triệu đồng phục chế bốn toa xe lửa cổ để đưa vào phục vụ tuyến du lịch đường sắt Đà Lạt - Tháp Chàm ngay trong quí 2-2008.
    Doanh nghiệp sẽ sưu tầm hình ảnh tư liệu về các toa xe do Nhật Bản sản xuất từ năm 1936 dùng vận chuyển hành khách trên tuyến đường sắt răng cưa Đà Lạt - Tháp Chàm để nghiên cứu, thiết kế, lắp ráp lại trên các bánh và sườn xe còn được lưu giữ tại ga Đà Lạt. Hiện ga xe lửa Đà Lạt đang dùng một đầu máy xe lửa chạy bằng dầu diesel và hai toa tàu do ngành đường sắt đóng mới để phục vụ du khách trên tuyến du lịch đường sắt Đà Lạt - Trại Mát dài 7km.

    Thị xã Bảo Lộc

    Bảo Lộc là một thị xã trực thuộc tỉnh Lâm Đồng, được thành lập năm 1994 trên cơ sở tách huyện Bảo Lộc cũ thành hai đơn vị mới là thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm. Bảo Lộc nằm trên tuyến quốc lộ 20, cách Thành phố Đà Lạt khoảng 110 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 190 km, cách thành phố Phan Thiết (Bình Thuận) khoảng 100 km.
    Diện tích của Bảo Lộc là 23.256 ha, chiếm 2,38% diện tích toàn tỉnh Lâm Đồng. Phía Đông, phía Nam và phía Bắc giáp với huyện Bảo Lâm. Phía Tây giáp với huyện Đạ Huoai.
    Dân số của Bảo Lộc chủ yếu là người kinh với 153.000 người/33.045 hộ; có 745 hộ đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 2,33% dân số.
    Hình:Bao Loc.jpg
    Bản đồ hành chính thị xã Bảo Lộc
    Mục lục


    * 1 Hành chính
    * 2 Địa hình,địa chất
    * 3 Khí hậu
    * 4 Thuỷ văn
    * 5 Nông nghiệp
    * 6 Công nghiệp
    * 7 Du lịch
    * 8 Liên kết ngoài

    Hành chính
    Thị xã Bảo Lộc gồm 6 phường và 5 xã với 120 thôn, buôn, khu phố

    Phường I - 431,44 ha
    * Phường II - 662,15 ha
    * Phường B’Lao - 540,29 ha
    * Phường Lộc Phát - 2573,02 ha
    * Phường Lộc Tiến - 1301,19 ha
    * Phường Lộc Sơn - 1236,69 ha
    * Xã Lộc Thanh - 2080,98 ha
    * Xã ĐamB’ri - 3282,01 ha
    * Xã Lộc Nga - 1603,19 ha
    * Xã Đại Lào - 5925,79 ha
    * Xã Lộc Châu - 3619,55

    ·         Địa hình,địa chất
    Địa hình thị xã Bảo Lộc có ba dạng địa hình chính: núi cao, đồi dốc và thung lũng.
    * Núi cao: Phân bố tập trung ở khu vực phía Tây Nam thị xã Bảo Lộc, bao gồm các ngọn núi cao (từ 900 đến 1.100 m so với mặt nước biển) độ dốc lớn (cấp IV đến cấp VI). Diện tích khoảng 2.500 ha, chiếm 11% tổng diện tích toàn thị xã.
    * Đồi dốc: Bao gồm các khối bazan bị chia cắt mạnh tạo nên các ngọn đồi và các dải đồi dốc có đỉnh tương đối bằng với độ cao phổ biến từ 800 đến 850 m. Độ dốc sườn đồi lớn (từ cấp II đến cấp IV), rất dễ bị xói mòn, dạng địa hình này chiếm 79,8% tổng diện tích toàn thị xã, là địa bàn sản xuất cây lâu năm như chè, cà phê, dâu.
    * Thung lũng: Phân bố tập trung ở xã Lộc Châu và xã Đại Lào, chiếm 9,2% tổng diện tích toàn thị xã. Đất tương đối bằng phẳng, nhiều khu vực bị ngập nước sau các trận mưa lớn, nhưng sau đó nước rút nhanh. Vì vậy thích hợp với phát triển cà phê và chè, nhưng có thể trồng dâu và cây ngắn ngày.
    Khí hậu
    Nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do ở nhiệt độ cao trên 800m và tác động của địa hình nên khí hậu Bảo Lộc có nhiều nét độc đáo với những đặc trưng chính như sau:
    * Nhiệt độ trung bình cả năm 21-22°C, nhiệt độ cao nhất trong năm 27,4°C, nhiệt độ thấp nhất trong năm 16,6°C.
    * Số giờ nắng trung bình 1.680 giờ/năm, bình quân 4,6 giờ/ngày (tháng mùa mưa: 2-3 giờ/ngày, các tháng mùa khô: 6-7 giờ/ngày), mùa khô nắng nhiều nhưng nhiệt độ trung bình thấp tạo nên nét đặc trưng độc đáo của khí hậu Bảo Lộc.
    * Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, lượng mưa trung bình hàng năm 2.513 mm, số ngày mưa trung bình cả năm 190 ngày, mưa nhiều và mưa tập trung từ tháng 7 đến tháng 9.
    * Độ ẩm trung bình hàng năm khá cao từ 80-90%.
    * Gió: gió chủ đạo theo hai hướng chính:
    o Gió Đông Bắc thịnh hành từ tháng 1 đến tháng 4
    o Gió Tây Nam thịnh hành từ tháng 6 đến tháng 9
    * Nắng ít, độ ẩm không khí cao, nhiều ngày có sương mù, cường độ mưa lớn tạo nên những nét đặc trưng riêng cho vùng đất Bảo Lộc.
    Thuỷ văn
    Hệ thống thủy văn bao gồm có ba hệ thống:
    * Hệ thống sông DaR’Nga: Phân bố ở phía Đông thị xã Bảo Lộc, là ranh giới giữa thị xã và huyện Bảo Lâm, các phụ lưu lớn của sông DaR’Nga trong thị xã Bảo Lộc gồm có: suối DaSre Drong, suối DaM’Drong, suối DaBrian. Các suối này có nước quanh năm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
    * Hệ thống suối Đại Bình: Phân bố chủ yếu ở phía nam Quốc lộ 20, bắt nguồn từ dãy núi cao ở phía nam và tây Bảo Lộc. Các phụ lưu gồm: suối DaLab, suối Tân Hồ, suối Đại Bình có lượng nước phong phú, có thể sử dụng làm nguồn nước tưới ổn định cho thung lũng Đại Bình.
    * Hệ thống suối ĐamB’ri: Là vùng đầu nguồn của suối ĐamB’ri, phân bố tập trung ở xã ĐamB’ri , phần lớn các nhánh suối chỉ có nước vào mùa mưa. Suối ĐamB’ri có nhiều ghềnh thác, trong đó có thác ĐamB’ri là cảnh quan có giá trị rất lớn về du lịch.
    * Nước ngầm: Nhìn chung trữ lượng nước ngầm ở khu vực Bảo Lộc tương đối khá, chất lượng nước tương đối tốt có thể vừa phục vụ cho sinh hoạt vừa phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và công nghiệp.
    Nông nghiệp
    Bảo Lộc là vùng chuyên canh trà, cà phê và dâu tằm. Các cây ăn trái của Bảo Lộc cũng rất phong phú, trong đó có những loại cây đặc sản như: bơ, sầu riêng, mít tố nữ...
    Bảo Lộc cũng là vùng có tiềm năng lớn để phát triển chăn nuôi bò sữa, dê.
    Công nghiệp
    Công nghiệp của thị xã Bảo Lộc chiếm trên 40% tỉ lệ công nghiệp của cả tỉnh Lâm Đồng, bao gồm các ngành chế biến trà, cà phê, se tơ, dệt, may mặc... Các nhà máy, xí nghiệp tập trung ở Khu Công nghiệp Lộc Sơn, Phường II và khu vực xã Đại Lào.
    Bảo Lộc là thủ phủ của ngành Dâu tằm tơ, có các nhà máy chế biến tơ tằm, ươm tơ dệt lụa nổi tiếng như nhà máy se tơ dệt lụa tơ tằm Á châu...
    Bảo Lộc có tiềm năng lớn về phát triển ngành khai thác và chế biến khoáng sản. Tại đây có trữ lượng lớn bô xít và cao lanh, trong đó bô xít có khoảng 378 triệu tấn với trữ lượng loại C1 (có hàm lượng Al2O3=44,69%; SiO2=6,7%) là 209 triệu tấn.
    Du lịch
    Do có khí hậu mát mẻ quanh năm nên đây là nơi lý tưởng để xây dựng các khu du lịch nghỉ dưỡng. Bảo Lộc có nhiều thác, hồ, suối đẹp như: Thác ĐamB'ri, thác bảy tầng, hồ Nam Phương, suối Đá Bàn...
    Khu du lịch ĐamB'ri nổi tiếng với thác nuớc hùng vĩ cao 57m và các cánh rừng nguyên sinh, là nơi có thể nghỉ dưỡng, cắm trại...

    Hoa đẹp

    Ngắm hoa Đà Lạt
    Đà Lạt trong khoảng 10 năm qua đã du nạp thêm hàng chục loài hoa với hàng trăm giống khác nhau. Đầu tiên là cúc với gần 20 giống mà người ta quen gọi theo màu như cúc nghệ, Tiger, đại đóa, Indo…rồi đến hồng cũng hơn 10 giống. Lys (hay lyly) vốn chỉ có một loại màu trắng giờ đã có thêm màu vàng, lại có cả hương thơm.
    Địa lan được mệnh danh là nữ hoàng của các loài hoa, hiện nay với công nghệ nhân giống vô tính (cấy mô tế bào) thì người ta đã có thể sản xuất ra hàng loạt “nữ hoàng” màu sắc lộng lẫy, một cá thể có thể cho đến 12 cành. Rồi cả một thế giới phong lan Đà Lạt với hơn 300 loài đủ làm say mê những khách yêu hoa...
    Hoa đào Đà Lạt.
    Trong vườn hoa (hay công viên hoa TP Đà Lạt), nhiều du khách sẽ thấy choáng ngợp, thích thú trước sự phong phú của các giống hoa mới. Nào là Ngọc thảo với 5 màu, Phong lữ thảo cũng vài màu rồi đến Dã uyên thảo xinh xắn và lại thêm cái tên rất mới là Anh thảo chỉ mới xuất hiện tại vườn hoa trong dịp Festival hoa 2005 do Công ty TNHH Bonnie Farm cung cấp. Anh thảo (tên khoa học là Cylamen, xuất xứ từ Mỹ), cây chỉ cao có 30cm, lá hình trái tim nhưng có rất nhiều hoa, lá xanh thẫm. Anh thảo hiện đang có 5 màu: đỏ, trắng, hồng phấn, hồng đậm và hồng tím.
    Với Việt Nam, hoa Đà Lạt đã là một sứ giả mang thông điệp hòa bình, phát triển của người Việt đi khắp năm châu.
    8 hoa viên đẹp được UBND thành phố Đà Lạt chọn ra trong dịp Festival hoa 2005 là: Vườn sinh thái Lan Ngọc (giữa đèo Prenn), vườn hoa Minh Thương (số 6 Phan Chu Trinh), trang trại Chế Quang Đệ (đường 723 đi Đạ Sa), vườn hoa hồng Quang Trí (104 Thánh Mẫu), vườn hoa Lang Biang (42 Xô Viết Nghệ Tĩnh), vườn hoa Trần Lê Gia Trang (tổ 18 KP2 Trần Hưng Đạo), vườn hoa Anh Quỳnh (44b Vạn Kiếp) và vườn hoa Nguyễn Thủy Thanh Thanh (đường Mimosa, giữa đèo Prenn). Đây là những điểm đến rất hấp dẫn cho du khách muốn thưởng ngoạn vẻ đẹp diệu kỳ của thế giới các loài hoa.

    Đa dạng ẩm thực Đà Lạt
    Đến Đà Lạt bạn đã biết mình sẽ thưởng thức những món ăn đặc sản của miền đất này ở đâu chưa? Dưới đây là một số gợi ý cho bạn.
    Ăn sáng
    Ngay tại khu Hoà Bình có các quán như phở Tùng, phở cơm tấm Bắc Hương (gần kế cà phê Tùng), bún bến xe Tùng Nghĩa (sau lưng khu Hòa Bình), phở Hiếu (kế bên khu Hoà Bình).
    Ở các đường phố khác không gần trung tâm thì có phở Hoàng Văn Thụ, phở Quang (Hà Huy Tập), phở Hà Nội trên dốc đường Hải Thượng Lãn Ông. Ở gần ngã tư Phan Chu Trinh thì nên đến phở Vi (góc Trần Quý Cáp với Nguyễn Du)
    Đối với du khách ở Sài Gòn nhiều năm nay đã quen với quán bún 44 Hùng Vương và một quán bún Huế khác là bún Công (nằm trên đường Phù Đổng Thiên Vương, trên đường đến khu du lịch Thung lũng Tình Yêu). Trước đây, món bún Công còn giữ được nét đặc trung của Huế là rất cay nhưng dần dần, để phù hợp với khẩu vị nhiều người, ớt đã gia giảm ít cay hơn, nhưng nếu bạn là người sành ăn cay thì nên dặn người phục vụ cho thêm ớt.
    Đối với khách bình dân thích ăn mì Quảng thì nên đến đường Nhà Chung, nơi có 2-3 quán mì Quảng rất đắt khách vào buổi sáng.
    Nếu là người thích các món ăn Trung Hoa thì du khách hãy ghé đến quán mì Hoành thánh 217 đường Phan Đình Phùng (gần ngã ba chùa Linh Sơn), hoặc quán Vĩnh Lợi ở cuối dốc Duy Tân. Buổi trưa, gần quán Như Ý có quán ăn Tài Ký với các món cơm xào, vịt tiềm, óc heo tiềm, chần gà tiềm hấp dẫn. Từ buổi trưa, một quán Tài Ký khác ở đường Bùi Thị Xuân cũng đã mở cửa sẵn sàng phục vụ du khách sành ăn cho đến chiều. Giá một tiềm thuốc bắc ở Đà Lạt khá rẻ tùy theo món.
    Nếu thích nơi yên tĩnh, có phong cảnh đẹp thì cũng có thể đến quán Bích Đào (đường Triệu Việt Vương, ngay dốc lên Dinh Bảo Đại). Ở đây có phục vụ món Bò né chất lượng không thua kém các quán nổi tiếng ở TP HCM. Ăn sáng ở Bích Đào có cái tiện là uống cà phê luôn tại chỗ và quán luôn sẵn các loại nhạc tuyển dành cho khách sành nhạc, nhất là nhạc cổ điển, hoà tấu không lời.
    Bánh canh Xuân An cũng trên đường Nhà Chung vào buổi chiều có món ăn đặc sản của Đà Lạt là bánh canh Xuân An (số 15 Nhà Chung, ĐT: 827690). Quán bánh canh này đã là một địa chỉ quen thuộc của người dân thành phố hoa từ hàng chục năm nay và đã đến thế hệ thứ 2.
    Ăn trưa
    Đối với các du khách đi đoàn lớn, thích ăn uống theo kiểu bình dân vừa hợp khẩu vị, vừa rẻ tiền thì ở hàng ăn trên chợ lầu Đà Lạt. Ở đây có đầy đủ các món ẩm thực bình dân như bún, cháo đến cơm, phở, bánh cuốn… với giá rất bình dân. Ở đây cũng có các món cơm, phở chay phục vụ các khách đi hành hương với chất lượng tương đương đồ mặn nhưng giá cả có rẻ hơn. Hay quanh chợ Đà Lạt cũng có một vài quán cơm bình dân phục vụ cơm trưa. Quanh khu vực bến xe Tùng Nghĩa (nằm góc đường Nguyễn Văn Trỗi và Phan Bội Châu), có các quán ăn “rất bình dân” dành cho người lao động.
    Nếu đi xe từ 12 chỗ ngồi trở xuống đến nhóm 3-4 người muốn ăn cơm “công chức” thì xuống đường Hùng Vương trước Phòng Cảnh sát giao thông có 2 quán cơm luôn đông khách vào buổi trưa phục vụ công chức và người lao động. Đi quá 200m cũng có 3 quán cơm bình dân khác mà khá nhất là quán Hà. Điểm đặc biệt ở các quán ăn trên đường Hùng Vương này là đều có món dưa, cà pháo và mắm nêm.
    Đối với du khách ở các khách sạn trên đường 3/2, Nguyễn Văn Cừ, Hải Thượng Lãn Ông có thể đến quán cơm bình dân ở góc đường Nguyễn Văn Cừ.
    Sang trọng hơn thì đã có các nhà hàng ở ngay đường vào chợ như Nam Đô (ĐT: 824550), Như Ngọc (ĐT: 822651), Hải Sơn (ĐT: 827252) đều ơ ngay đường vào chợ Đà Lạt và một số nhà hàng ơ đường Phan Đình Phùng như Phượng Hoàng (81 Phan Đình Phùng, ĐT: 822773), nhà hàng Cẩm Đô, nhà hàng Tân Huê Đô (số 27/2 đường Hoàng Diệu, ĐT: 826848).
    Đặc biệt nơi đây có món dê giả cầy thuộc loại nhất, nhì phố núi và giá cả cũng thuộc loại vừa phải. Hoặc du khách có thể ghé nhà hàng Vạn Huê Lầu số 22/2 Trần Phú (ĐT: 824794) với vị trí khá đẹp lại có Karaoke sân khấu cùng đội ngũ tiếp viên trẻ đẹp, lịch sự.
    Một địa chỉ rất quen thuộc của giới ẩm thực, nhất là khách nước ngoài (Tây ba lô) là nhà hàng Long Hoa, số 6 Đường 3/2, (ĐT: 822934) và nhà hàng Thanh Thanh, số 4 Tăng Bạt Hổ, (ĐT: 821836 – 829158). Cả hai nhà hàng này đều nằm ngay trung tâm Hoà Bình.
    Muốn ăn cơm niêu cùng các món ăn Nam Bộ thì đến Như Ngọc 2, số 19/8 Hồ Tùng Mậu (ĐT: 833999) sau lưng Bưu điện trung tâm Đà Lạt) với một vị trí đẹp nhìn ra khu trung tâm chợ và cới các cô phục vụ áo bà ba duyên dáng.
    Đối với khách thích món nướng có thể đến nhà hàng Sapa (5 Hải Thượng, ĐT: 835760), ở đây có phục vụ món cơm lam truyền thống của người Thái vùng Tây Bắc. Ngoài ra còn có hàng chục món nướng với cách ướp gia vị mang âm hương vùng núi phía Bắc Sapa, giá cả cũng không quá đắt.
    Buổi sáng, tại đây cũng có phục vụ ăn sáng nhẹ. Phòng ốc được thiết kế theo kiểu nhà sàn cách điệu của vùng núi Tây Bắc và Tây Nguyên. Một điểm ăn trưa và ăn tối không thể không nhắc đến là quán Như Ý ơ ngay gần rạp Giải Phóng (số 143B đường Phan Đình Phùng, ĐT: 823770). Nếu từ khu Hoà Bình chỉ cần xuôi dốc Trương Công Định là đến. Các món ăn ơ đây khá đa dạng (có thể kêu phần và kêu món), chất lượng khá, giá cả vừa phải và được du khách các tỉnh “chấm” từ nhiều năm nay. Quán Suối Mơ (17 Nguyễn Văn Trỗi, ĐT: 823022) cũng là địa điểm nên ghé.
    Đối với các du khách muốn “lai rai” tí chút với bạn bè thì nên chọn món “lẩu dê” để được thương thức các món rau xanh của Đà Lạt. Rẻ nhất, chất lượng nhất là quán dê Ngân (số 32C Hai Bà Trưng, ĐT: 823808), sau đó là quán Phú với các món dê trên đường Hoàng Diệu hay một số quán nhậu bình dân ở đường Lê Quý Đôn (khu Ba Toa, cách chợ Đà Lạt hơn 1 km) và khu gần phía đường 3/2, Nguyễn Văn Cừ.
    Nếu ở khu vực gần hồ Than Thở, gần ngã tư Phan Chu Trinh thì nên đến quán dê ở số 05 Hồ Xuân Hương, ĐT: 824197, đây là quán đã có thâm niên với các món dê, rượu tiết dê nhưng giá có “cứng” hơn một chút.
    Một món ăn có thể gọi là đặc sản thứ thiệt của Đà Lạt không thể quên là món Atiso hầm giò heo. Đây là loại thuốc bổ, loại món ăn có tác dụng như một loại thần dược sẽ giúp du khách ngủ ngon, lợi tiểu, mát gan, tăng thêm sức khỏe khi nghỉ dưỡng tại Đà Lạt. Nhưng món này chỉ có ở các nhà hàng và chỉ ngon khi vào trúng mùa Atiso (từ Noel đến đầu mùa hè năm sau)
    Ở Đà Lạt, muốn dùng hải sản tươi sống thì đã có nhà hàng Hoa Lê số 1 Nhà Chung, ĐT: 833399, quán 24 (15B Hai Bà Trưng) đây là một trong số ít nhà hàng chuyên phục vụ các món ăn hải sản tươi sống.
    Ăn tối
    Sau một ngày đi tham quan dã ngoại và sau một buổi tối đi dạo bên bờ hồ Xuân Hương, du khách cần ăn khuya một chút và đã có chợ Am Phủ ơ ngay cạnh khách sạn Hải Sơn. Chợ này phục vụ khách gần như cả đêm và chỉ phục vụ vào buổi tối từ khoảng 19h trở đi. Du khách cũng có thể ghé qua hẻm ấp Anh Sáng ở ngay bờ hồ để tìm một tô bún Huế cay cay vì dân ở hẻm này đại đa số là người Huế và một số món khác như cháo vịt, mì Quảng.
    Ngay cạnh khu Hoà Bình (hẻm đường Tăng Bạt Hổ) cũng có các quán phở phục vụ du khách đến 12 giờ đêm. Đà Lạt là thành phố vười đặc thù nên các quán ăn thường đóng của sớm hơn các nơi khác, do đó chắc ăn nhất là nên đến xung quanh khu Hoà Bình.
    Nếu ăn phở thì ghé vào đường Tăng Bạt Hổ có 2 tiệm phở lớn mơ cửa rất khuya; có hôm tới 2 giờ sáng vẫn còn bán. Nếu thích ăn miến gà thì nên đến quan ở số 24 đường Nguyễn Chí Thanh, ĐT: 823578, gần khách sạn Ngọc Lan, quán miến gà này chỉ bán vào ban đêm và được dân Đà Lạt rất tín nhiệm trong vài năm gần đây

    Chợ Đà LạtVị trí: Chợ Đà Lạt nằm ngay khu vực trung tâm thành phố Đà Lạt.
    Đặc điểm: Chợ Đà Lạt có dáng vẻ vừa bề thế vừa thanh nhã, mỹ thuật.

    Được xây dựng từ năm 1958-1960, chợ Đà Lạt có kiến trúc hiện đại nhất thời bấy giờ. Điểm đặc biệt là chợ này nằm ngay chân đồi, thông với đỉnh đồi là khu Hòa Bình qua một chiếc cầu ở tầng 2 và với hồ Xuân Hương bằng con đường dẫn vào tầng trệt. Phía trước chợ là một bùng binh trồng hoa. Bên hông, cạnh bùng binh có bậc tam cấp dẫn lên đường Lê Đại Hành và một con dốc nối khu Hòa Bình với hồ Xuân Hương. Tất cả tạo cho chợ Đà Lạt có một vị trí bố cục ngoạn mục mà chỉ có được ở những thành phố cao nguyên nhiều đồi núi.Ngoài những mặt hàng bình thường như tất cả những ngôi chợ khác, chợ Đà Lạt còn bán đủ các loại đặc sản, chủ yếu ở khu tầng trệt. Phía ngoài cùng là các sạp bán hoa, kế đó là các sạp trái cây, rồi đến khu vực các đặc sản Đà Lạt được chế biến như: a-ti-sô, xí muội, rượu vang, xi rô

    LƯỢC SỬ THÀNH LẬP THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
    Đà Lạt, một thành phố trẻ đẹp, sớm hấp thụ nền văn minh Âu châu. Tuy là một mảnh đất của quê hương có trên 4000 năm văn hiến nhưng Đà Lạt mới được khám phá trong vòng 100 năm nay. Đó là một thành phố có nhiều nét đặc thù về mọi mặt lịch sử, địa lý, nhân văn…
    Từ trước, người ta ghi nhận:
    Ngày 21.6.1893, Alexandre John Emile Yersin, một người Pháp, gốc Thụy Sĩ 30 tuổi, đã tìm ra Dalat và sáng lập nên thành phố xinh đẹp này.

    Là một bác sĩ của hãng tàu Messageries Maritimes nhưng cuộc sống lênh đênh trên biển cả dường như quá phẳng lặng, nên khi tàu đi dọc biển phía Nam, qua những lăng kính thiên văn, ông bị cuốn hút bởi vẻ bí hiểm của dãy Nam Tây Nguyên Trường Sơn ở xa xa.
    Tháng 7.1890, khi chiếc Sài Gòn cập bến Nha Trang, ông đã xin phép lên bờ và tìm người hướng dẫn lên cao nguyên theo những con đường mòn của thổ dân. Suốt một ngày leo dốc dưới cơn mưa tầm tã, ông đã đến được ấp Tam Bố, vùng Djiring (Di Linh). Trải qua một đêm ở chòi canh ngoài rẫy, lại thêm một ngày đường ròng rã, vào hôm sau ông trở về Phan Thiết để kịp đáp chuyến tàu của hãng. Ngay lần mạo hiểm đầu tiên này ông đã bị bệnh sốt rét nặng, phải nằm liệt giường khá lây.
    Khó khăn không làm giảm đi lòng say mê mạo hiểm của ông. Hơn nữa, khi biết ý định đó, đại úy Cupet trong phái bộ Pave yêu cầu ông tiến hành cuộc mạo hiểm, việc này thật phù hợp với nhu cầu kiểm soát lãnh thổ của Pháp tại Đông Dương.
    Vào những năm 1890-1894, miền cao nguyên này còn là một vùng bí hiểm, ngoài một số bộ lạc dân tộc ít người, hầu như chưa có ai đặt chân đến vùng đấy hoang vu này. Vậy mà một người ngoại quốc như bác sĩ Yersin dám dấn thân vào miền rừng sâu nước độc, bất chấp dã thú và sự sát hại của thổ dân. Thật là một ý chí mạo hiểm phi thừơng.
    Năm 1893, trong cuộc thám hiểm vùng Dran, ông bị bọn cướp Thonk tấn công, chém đứt ngón tay cái trái và đâm nhiều nhát dao găm vào ngực, suýt chết. Trong lúc nguy khốn, ông nhờ người võng về Phan Rang, ngay đêm hôm đó để kịp cấp cứu. Dọc đường lại gặp một đàn voi đang tiến về hướng họ. Mấy người gánh võng hoảng sợ bỏ chạy hết, còn ông một mình trơ trọi giữa rừng. Kiệt sức không cử động được, ông đành nằm chờ chết. may thay đàn voi rẽ qua hướng khác. Dù đã đối diện với cái chết, ông không từ bỏ hoài bão thiết tha của mình. Đi đến đâu ông cũng ghi chép địa thế từ dòng sông, con suối, phong tục và giá trị kinh tế từng vùng.
    Sau ba cuộc thám hiểm liên tiếp, lần sau cùng trên con đừơng từ Nha Trang đi ngược lên núi, dò theo thung lũng sông Đa Nhim, đến Đơn Dương rồi qua Finnom lên đèo Prenn, vào lúc 15g30 ngày 21.6.1893, bác sĩ Yersin đã đứng ngẩn ngơ trước khung cảnh hoang sơ tuyệt đẹp của cao nguyên Lang Biang, ông thấy đồi núi cũng có những ngọn sóng thần kỳ ảo hơn cả biển khơi. Hướng Tây Bắc đỉnh núi Lang Biang sừng sững ở chân trời, làm cho khung cảnh tươi đẹp thêm hùng tráng. Như lạc vào một mảnh đất thần tiên, quên hết bao mệt nhọc, ông đã “chạy hết tốc lực lên xuống những ngọn đồi như một chú học trò nhỏ”. Rồi ông gặp bộ tộc M’Lates trên dòng suối nhỏ của một thung lũng xanh biếc. Tên Dalat có từ đây (Da: Dak: nứơc, suối, sông; Lat: M’Lates - Dalat: Suối của người Lat). Ở đây có một sự trùng hợp khá thú vị, người ta kể rằng bác sĩ Yersin thông thạo tiếng Latin, đã cho Dalat là nơi “Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperriem” (Cho người này niềm vui, cho người kia sự mát dịu). Kỳ diệ sao khi ông phát hiện những chữ đầu của câu cách ngôn đó lại ghép thành tên mảnh đất thần tiên này.
    Sau cuộc thám hiểm, bác sĩ Yersin đề nghị toàn quyền Pháp Paul Doumer lập một trung tâm dưỡng sức tại Đà Lạt. Tháng 10.1897, Doumer cử một phái đoàn do đại uý pháo binh Thouard và ông Cunhac, phụ trách trắc địa, tìm hiểu Đà Lạt. Năm 1899, sau khi con đường đất từ Phan Rang lên Đà Lạt hoàn tất, Doumer đích thân lên quan sát và quyết định tức khắc một ngân quỹ xây cất những cơ sở đầu tiên cho một trung tâm nghỉ mát tương lai.
    Một đề án quy mô do kiến trúc sư Hébrard thếit lập với một dự kếin xây dựng Đà Lạt thành thủ đô Liên bang Đông Dương. Những cơ sở quan trọng lần lượt dời về đây. Toàn quyền Decoux cho xây Dinh thự Mùa hè, vua Bảo Đại cũng lập Biệt điện.
    Thế chiến thứ II đã đưa Đà Lạt đến thời cực thịnh. Chiến tranh làm cho người Pháp không có phương tiện về chính quốc nghỉ mát nên họ tập trung lên Đà Lạt. Hàng hóa, mọi nhu cầu cung cấp cho họ không thể mang từ Pháp sang. Chính quyền Pháp tại Đông Dương phải quyết định áp dụng chính sách tự túc. Hơn nữa, những giống rau, hoa quả… mang từ Pháp trồng rất tốt trên đất Đà Lạt. Lúc bấy giờ Đà Lạt là một “tiểu Paris” là Hoàng triều cương thổ (Domaine de la Couronne) - Một mảnh đất dành riêng cho người Pháp và giòng dõi hoàng tộc cũng như quan lại cao cấp triều đình Huế; một vương quốc biệt lập, ai muốn đến đều phải có passeport như đi ngoại quốc vậy. Thực chất người Pháp lập Hoàng triều cương thổ chỉ là một lối trá hình để biến vùng cao nguyên thành thuộc địa trực tiếp của Pháp. Vùng cao nguyên này có một tầm quan trọng đặc biệt về chiến lược và kinh tế. Về chiến lược nó nằm giữa 3 quốc gia Việt, Cambốt, Lào - một ưu thế hiếm có. Về mặt kinh tế, có nhiều tài nguyên, nhiều khoáng sản chưa được khai thác.
    Sau hiệp định Genève, Pháp rời khỏi Đông Dương. Dân số Đà Lạt tăng nhanh với lượng người di cư từ Bắc vào Nam. Khu vực thương mại trung tâm thành phố được xây cất khang trang hơn. Một số địa danh, đường phố được đổi từ tên Pháp sang tên Việt… Đà Lạt chuyển sang một giai đoạn mới.

    Lịch sử hình thành tỉnh Lâm Đồng
    Là một tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên, Lâm Đồng là tỉnh duy nhất ở Tây Nguyên không có đường biên giới quốc tế.
    Ngày 1/11/1899 chính quyền Pháp lập tỉnh Đồng Nai thượng, tỉnh lỵ đặt tại Di Linh.
    Năm 1903 bãi bỏ tỉnh Đồng Nai Thượng, chuyển thành đại lý hành chính Di Linh, do đại diện của Công sứ Bình Thuận cai trị.
    Năm 1913 nhập đại lý Đà Lạt với đại lý Di Linh, gọi chung là đại lý Di Linh và vẫn thuộc tỉnh Bình Thuận.
    Ngày 6/1 /1916 thành lập tỉnh Lâm Viên gồm đại lý Đà Lạt mới lập lại và đại lý Di Linh, tách từ tỉnh Bình Thuận, Tỉnh lỵ đặt tại Đà Lạt. Tỉnh Lâm Viên còn được gọi là Langbiang hay Lâm Biên.
    Ngày 31/10/1920 xóa bỏ tỉnh Lâm Viên, một phần lập ra thành phố Đà Lạt, phần còn lại lập lại tỉnh Đồng Nai Thượng, tỉnh lỵ đặt tại Di Linh. Năm 1928 chuyển tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai Thượng về Đà Lạt
    Ngày 8/1/1941 lập lại tỉnh Lâm Viên, tỉnh lỵ đặt tại Đà Lạt. Tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai Thượng chuyển về Di Linh.
    Ngày 19/ 5/ 1958 chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đổi tên tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng, đồng thời tách một phần đất sáp nhập với thành phố Đà Lạt, thành lập tỉnh Tuyên Đức. Tỉnh Lâm Đồng gồm 2 quận Bảo Lộc (Blao) và Di Linh. Chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam nhập tỉnh Lâm Viên với tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng.
    Tháng 2/1976 sáp nhập tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Tuyên Đức thành tỉnh Lâm Đồng mới.
    Hiện nay Lâm Đồng có 1 thành phố thuộc tỉnh, 1 thị xã và 10 huyện: gồm Thành Phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc, các huyện: Lạc Dương, Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà, Đam Rông, Bảo Lâm, Di Linh, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, và Cát Tiên.

    Tuần lễ văn hóa du lịch Đà Lạt
    UBND tỉnh Lâm Đồng đã phê duyệt kế hoạch cho phép thành phố Đà Lạt tổ chức các hoạt động chào mừng kỷ niệm 115 năm Đà Lạt hình thành và phát triển (23/11/1893 - 23/11/2008).
    Đây là sự kiện chính trị-văn hóa lớn nhằm tái hiện quá trình hình thành và phát triển của Đà Lạt nhằm cổ vũ nhân dân các dân tộc thành phố tiếp tục phát huy khối đại đoàn kết xây dựng thành phố Đà Lạt trở thành "Thành phố sinh thái-văn hóa, thành phố hoa-thành phố xanh".
    Đây cũng là hoạt động quảng bá cho khách du lịch trong và ngoài nước về một thành phố cao nguyên với những tiềm năng, thế mạnh về du lịch, khí hậu mát mẻ, thơ mộng cùng với những giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc gốc Tây Nguyên sẽ thực sự là điểm dừng chân lý tưởng hôm nay và mai sau.
    "Tuần lễ văn hóa" chào mừng kỷ niệm Đà Lạt 115 năm hình thành và phát triển sẽ diễn ra trong 5 ngày (từ 17 đến 21-12-2008) với chủ đề "Đà Lạt, những khát vọng và tương lai" được tổ chức tại các điểm du lịch nổi tiếng với 10 chương trình đặc sắc: Lễ tôn vinh 115 gương điển hình thành phố, Triển lãm "Đà Lạt xưa và nay", Liên hoan nghệ thuật các thành phố, Ngày hội về nguồn, Ngày hội rau Đà Lạt, Ngày hội văn hóa thể thao dân tộc, Phiên chợ hoa đầu tiên Đà Lạt, Đêm hội Đà Lạt phố, Ngày hội vì một thành phố không rác... Đặc biệt đêm hội kỷ niệm 115 năm Đà Lạt hình thành và phát triển sẽ là đoạn kết cho toàn bộ chương trình "Tuần lễ văn hóa" được tổ chức long trọng và hoành tráng tại Trường cao đẳng Sư phạm Đà Lạt-một công trình kiến trúc độc đáo hiếm thấy tại Việt Nam được xây dựng vào thập niên 40 thế kỷ 20, đã được các kiến trúc sư và các nhà nghiên cứu kiến trúc nổi tiếng thế giới (UIA) công nhận là một trong 100 công trình nổi tiếng thế giới trong thế kỷ XX, với dãy nhà cong, mái ngói cổ kính, có tháp chuông trên đỉnh đã gắn liền với lịch sử và văn hóa của Đà Lạt, tượng trưng rất hoàn hảo cho cuộc đời bác sĩ Y-éc-xanh.

     Thuyết Minh Theo Tuyến Từ Đà Lạt->TP.HCM


    Đèo Prenn
    Đỉnh đèo Prenn ở độ cao 1500 m so với mực nước biển, cách trung tâm thành phố Đà Lạt 10 km. Đây là ngọn đèo cuối cùng trên quốc lộ 20 đưa du khách đến viếng thăm Đà Lạt. Ở đây chúng ta thấy những gốc thông già cả trăm tuổi, đồi núi chập chùng, khí hậu mát mẻ tạo cho du khách cảm giác thoải mái, thư thái.
    Ngay dưới chân đèo Prenn là thác Prenn mà gốc tiếng Chăm có ý nghĩa xa xưa là vùng xâm chiếm. Nguyên trước đây nhiều thế kỷ, người Chăm ở Ninh Thuận luôn có những cuộc giao tranh dai dẳng với các dân tộc ít người ở Lâm Đồng. Prenn là ranh giới giao tranh và nhận định ( từ Đơn Dương, Phan Rang ) là của người Chăm và từ Prenn trở lên là của người K’Ho, Mạ. Hiện nay nhiều làng ở vùng Đơn Dương vẫn còn mang ảnh hưởng của người Chăm từ đó. Thác cao 15 m từ trên các tảng đá đổ xuống và từ dưới trônglên cứ như từ trên trời đổ xuống nên người Sài Gòn gọi là thác Thiên Sa (những giọt châu sa từ trên trời rơi xuống).
    Từ năm 1998 đến nay, thác Prenn được cơ quan chủ quản là công ty du lịch Lâm Đồng và nay là công ty dịch vụ du lịch Đà Lạt đầu tư mạnh nên đang là điểm thu hút du khách của du lịch Lâm Đồng. Trong khuôn viên thác có cầu treo dân tộc, có hồ nuôi cá sấu, có một ít thú. Quý khách đến đây có thể thưởng thức được món đặc sản là cháo cá lóc, món ăn này được xếp vào loại nhất nhì Đà Lạt. Cá được róc bỏ xương, ăn với bồ tạt tạo cho du khách một cảm giác khó quean. Chỉ 100.000 đồng, một nhóm du khách khoảng 4-6 người đã có thể dùng bữa cháo thay cơm trưa, bên dòng thác chảy róc rách rất lý tưởng và tuyệt vời.
    Thác Pongour
    Tại Di Linh-Đức Trọng có một ngọn thác cao, hùng vĩ đầy chất hoang vu, một ngọn thác vào loại đẹp nhất của tỉnh Lâm Đồng, đó là thác Pongour. Thác Pongour cách Đà Lạt 45 km, là ngọn thác đẹp nhất và hùng vĩ nhất của vùng Tây Nguyên, với chiều cao 20 m, bề mặt thác dài hàng trăm mét và một thềm thác rộng hàng chục ha có thể tổ chức vui chơi cho hàng ngàn người một lúc. Các nhà du lịch đã không ngần ngại đặt cho Pongour biệt hiệu “Nam phương đệ nhất thác”.
    Trong những năm 80 , tác giả Nguyễn Nhật Hồng đã tới thăm và sưu tầm về truyền thuyết của thác Pongour. Ông đã viết bài thơ bằng tiếng dân tộc K’ho và khắc lên tảng đá sừng tê giác đầu tiên, tạm dịch như sau :

    Ngày xưa đẹp lắm nàng Kanai,
    Cũng là Trưng Triệu bậc anh tài
    Diệt lũ tham tàn cứu dân khổ
    Vì đời lại dựng cõi thiên thai.


    Thác Pongour được gọi là thác Thiên Thai có lẽ là sau những năm 80 ấy.
    Thác Dambri
    Thác Dambri cách trung tâm thị xã Bảo Lộc 18 km về hướng Tây. Thác cao 90 m, là một thác hùng vĩ và nguy nga mà khách có thể dễ dàng đến thăm. Cảnh quan thiên nhiên đẹp, không khí trong lành. Năm 1992 đã được Liên hiệp Dâu tằm tơ đầu tư hàng chục tỷ đồng làm đường ngựa vào thác. Xung quanh hai bên đường là những đồi dâu bạt ngàn xanh tốt, những đồi cà phê, chè.
    Thị trấn Bảo Lộc
    Một địa danh nổi tiếng với những đồi chè, cà phê bạt ngàn, có thác Dambri hùng vĩ và những giai thoại.
    Ngành trồng cà phê tại Bảo Lộc : sau khi Pháp chiếm Việt Nam, để khai thác thuộc địa người Pháp đã trồng nhiều loại nông sản được ưa chuộng như cao su, cà phê, chè, vani … Cây cà phê chính thức du nhập vào Việt Nam năm 1890. Cuối thế kỷ 19 cây cà phê được trồng thử nghiệm tại Nam Bộ nhưng không đạt hiệu quả nên đã bị đốn bỏ. Đầu thế kỷ 20 vùng Gia Định có khoảng 150.000 cây cà phê, nhiều nhất là vùng Hạnh Thông Tây và Thủ Đức. Khoảng năm 1920 trồng thử nghiệm tại Plâyku, Kontum cho kết quả ban đầu khả quan. Năm 1927 chính quyền thực dân hô hào trồng cà phê Arabica ở vùng Tây Nguyên. Đến năm 1946 vùng Tây Nguyên có 3000 ha cà phê. Năm 1948 giống Arabica bị tàn phá nặng nề do mọt cà phê. Các nhà nghiên cứu chuyển sang trồng loại Rubusta và cà phê Chari. Năm 1980 cà phê mới được trồng nhiều tại Đà Lạt.
    Ngành trồng trà tại Bảo Lộc : tỉnh Lâm Đồng là một vùng quan trọng ngay từ thời Pháp thuộc. Năm 1930 một trung tâm nghiên cứu nông học được lập ở Bảo Lộc để nghiên cứu các giống trà phục vụ cho việc phát triển các đồn trà. Cho đến 1954, ngành trồng trà nằm trong tay Pháp với đồn điền rộng lớn. Năm 1954 nhiều người từ miền Bắc di cư vào miền nam được định cư ở Bảo Lộc và Di Linh. Họ cũng lập những vườn trà quy mô nhỏ, có tính cách gia đình bên cạnh những đồn điền lớn của các công ty xí nghiệp liên doanh. Diện tích trồng chè ở nước ta hiện nay là 160.000 ha, riêng Lâm Đồng 16.000 ha và Bảo Lộc 10.000 ha, năng suất 18-20 tấn lá/năm/ha.
    Giai thoại : xưa kia có một vị Đại Đức đang ngồi nghe Đức Phật thuyết pháp thì ngủ gục vì quá meat mỏi, khi giật mình tỉnh dậy ông rất giận mình nên cắt hai mí mắt vứt ra ngoài sân. Ít lâu sau chỗ đó mọc lên một thứ cây lạ, lá có hình dáng giống như chiếc mi mắt, người ta nhai lá này thì có vị chát, pha với nước uống thì tỉnh táo hẳn bớt buồn ngủ.

    Đèo Bảo Lộc
    Nằm trên tuyến đường quốc lộ 20 với chiều dài 10 km. Lên đến đỉnh đèo chúng ta đang ở độ cao 800 – 850 m so với mực nước biển. Với đường quanh co, khung cảnh hùng vĩ của núi rừng và khí hậu mát mẻ của vùng cao nguyên chắc rằng du khách sẽ cảm thấy thoải mái nhẹ nhõm, cảnh thiên nhiên hùng vĩ đó là bức tranh hoàn mỹ, một thắng cảnh nổi tiếng của Bảo Lộc. Bên cạnh bức tranh thiên nhiên ấy, quý khách còn thấy ở nơi đây có miếu thờ Tam Cô và tương Đức Mẹ.
    Theo câu chuyện được truyền miệng, miếu thờ Tam Cô rất linh thiêng. Các lái xe tuyến đường này kể lại, vào những lúc sương mù hay trời tối, họ thường thấy bóng dáng của ba cô gái đứng trên đường, hướng dẫn cho xe của họ đi đúng hướng, tránh xảy ra những tai nạn thương tâm, đáng tiếc. Chính vì những tình tiết như vậy mà để cho linh hồn quá cố được ấm với những nén nhang của người đi đường, họ đã dựng miếu thờ những cô gái xấu số đó. Về sau những đóng góp của những người từ tâm, miếu Tam Cô được xây dựng khang trang như ngày nay.
    Sát cạnh miếu thờ Tam Cô, bên dòng suối nhỏ là tượng Đức Mẹ Maria với đôi mắt dịu hiền được giáo dân xứ An Bình đóng góp xây dựng nên, xuất phát từ tín ngưỡng tôn giáo và sự tôn thờ Đức Mẹ, luôn ban ơn lành, hạnh phúc cho mọi người, luôn mở rộng vòng tay đón nhận những kẻ bất hạnh. Họ đã dựng nhữngtượng đài Đức Mẹ ngay cạnh đèo Bảo Lộc là để cầu sự an lành cho những người đi đường.
    Khu du lịch Suối Tiên
    Suối Tiên bắt nguồn từ núi San-Say giáp tỉnh Bình Thuận, dài trên 10 km, là khu du lịch liên doanh giữa Saigon tourist và huyện Đa Hoài năm 1989.
    Suối Tiên là dòng suối rộng, trong xanh, chảy xiết với nhiều khối đá nổi lên trên lòng suối. Dòng suối này chảy qua vùng rừng nhiệt đới nguyên sinh càng tạo phong cảnh hưu tình. Ở đây có thể tổ chức tour nghỉ ngơi, giải trí, cắm trại, tham quan rừng. Hiện nay có trồng thêm vườn lan và nuôi nhiều thú cho khách thưởng ngoạn.
    Tên gọi Suối Tiên với truyền thuyết như sau : Tương truyền từ xa xưa, ông trời nổi giận không cho mưa xuống, làm khắp buôn làng người Mạ âu sâu, lo lắng, trẻ con khóc thét đòi nước uống. Một gia đình nọ, vợ sinh con đầu lòng nhưng thiếu sữa cho con bú, chồng liền cầm nỏ vào rừng tìm trái chua cho vợ con. Chàng đã vượt qua ba ngọn núi , bảy cánh rừng. Khi mặt trời lên cao, người thợ săn nhìn thấy một tổ ong, chàng vươn cung lên bắn, tên vừa chạm vào tổ ong thì một dòng nước bắn thẳng vào thợ săn, chàng trai hoảng sợ bỏ chạy, tức thì dòng nước chạy theo. Chàng chạy càng nhanh dòng nước chạy càng nhanh, chàng chạy mãi đến bên cánh rừng thì kiệt sức và thiếp đi thì dòng nước dừng lại và lan rộng, lan rộng mãi thành một vùng nước sâu. Nhờ dòng nước này mà buôn làng được cứu sống và tồn tại cho đến ngày nay.
    Theo quốc lộ 20 từ ranh giới tỉnh Lâm Đồng ta bắt gặp vùng cư trú của dân tộc Mạ ngay từ huyện Đa Hoài kéo dài đến Bảo Lộc. Dân tộc Mạ có khoảng 20000 người (1989). Các dân tộc bản địa ở Lâm Đồng chủ yếu sống bằng các hoạt động kinh tế nương rẫy là chủ yếu. Hàng năm vào trước mùa mưa, các buôn làng tổ chức đốt rẫy và đến khi cơn mưa đầu mùa vào khoảng tháng tư, họ bắt đầu tỉa lúa, ngoài ra họ còn xen kẻ trong lúa là trồng bắp, đậu … Khi đã đến mùa gặt thì họ phơi khô lúa, ngô để trong kho. Sinh hoạt kinh tế nương rẫy có từ lâu đời, ngoài ra họ còn có nghề săn bắt rất đặc biệt truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hầu hết các dân tộc ít người ở Lâm Đồng cư trú thành các Bon (Plei). Mỗi Bon có từ vài chục nóc nhà. Vùng Mạ tồn tại các ngôi nhà dài hàng chục mét. Ở người Mạ, chế độ phụ hệ đã được xác lập. Mỗi Bon đều có một người đứng đầu do sự tín nhiệm và đề cử của các thành viên cộng đồng. Những việc gieo trồng, chia đất, chiến tranh … phải do sự quyết định tập thể của cộng đồng. Người Mạ cho đến ngày nay vẫn còn tồn tại một kho tàng dân gian tục ngữ khá đồ sộ nhất là những bản tình ca thật da diết, hồn nhiên. Vốn âm nhạc của dân tộc rất phong phú, đặc biệt là bộ cồng chiêng. Đêm đêm vào mùa lễ hội, sau khi đã thu hoạch xong một vụ lúa, người dân tổ chức ăn mừng lúa mới. Trong không gian hùng vĩ ấy của núi rừng, tiếng chiêng vang lên những âm điệu diệu kỳ như kêu gọi hướng về một tương lai của những ngày tươi đẹp. Âm nhạc là nhu cầu gửi gắm tâm tư nguyện vọng của dân tộc ít người. Chính ở vùng Mạ Bảo Lộc đã phát hiện được bộ đàn đá Bơrode (hiện lưu giữ tại Los Angeles) là một minh chứng cho trình độ âm nhạc độc đáo của các dân tộc ít người ở Lâm Đồng.
    Đèo Chuối
    Dài 4 km, chạy giữa thung lũng của hai dãy núi cao. Trước đây vùng này mọc rất nhiều cây chuối hoang nên người ta thường gọi là Đèo Chuối. Lên đèo Chuối chúng ta đang ở độ cao 350 m so với mực nước biển.
    Cầu La Ngà
    Được xây dựng năm 1985-1987, chiều dài 173,4 m; rộng 9,56 m, cầu được bắt qua sông La Ngà nổi tiếng với những chặng đánh lịch sử của quân và dân miền Nam trong thời gian chống đế quốc xâm lược.
    Hai bên cầu trên dòng nước phẳng lặng, chúng ta nhìn thấy những ngôi nhà bồng bềnh trên mặt nước đó là làng nuôi cá bè. Ban đầu chỉ có vài người ở miền Tây lên đây lập nghiệp và họ đã mang theo nghề nuôi cá bè đặc trưng ở miền Tây Nam bộ. Một công việc đã đem lại cho họ một cuộc sống ổn định hơn. Về sau có lẽ do dòng sông hiền hòa ấy thích hợp cho việc nuôi cá bè, từ đó kinh tế của họ đi lên. Chính vì vậy mà ngày càng tập trung nhiều người tại đây và đã từ từ hình thành nên một làng nuôi cá bè.
    Nhà máy đường La Ngà
    Được xây dựng năm 1979-1984 do Đan Mạch viện trợ với công suất thiết kế 2000 tấn mía cây/ ngày, đạt 2 triệu tấn đường/năm. Phía sau nhà máy đường là một đồi trồng cây xanh rất đẹp, dân ở đây gọi là đồi du lịch, gần khu nhà ở của các chuyên gia nước ngoài làm việc tại nhà máy đường La Ngà. Sau đó mở thêm nhà máy kẹo, công suất 2,5 tấn/ ngày và nhà máy sản xuất phân Komix, các sản phẩm kẹo và phân Komix đạt tới 170 tỷ đồng ( nguyên liệu làm từ bả bùn trong sản xuất đường ). Ngoài ra còn liên doanh với Úc để sản xuất ra các loại men khô, men dùng trong thực phẩm với vốn đầu tư 4,5 triệu USD. Tổng số công nhân làm việc trong nhà máy La Ngà lên đến 2000 người.

    Vườn quốc gia Cát Tiên
    Là một khu rừng nguyên sinh tiêu biểu cho hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới, rừng nằm uốn khúc quanh sông Đồng Nai. Cát Tiên có phong cảnh tuyệt vời và đa dạng : vừa có đồi núi chập chùng, các mảng tự nhiên rộng lớn bằng phẳng và những dòng chảy nhỏ. Vào mùa mưa các dòng chảy này đổ thành thác, nước ở đây trong veo, tuôn nhẹ nhàng qua các gờ đá, tạo thành con suối mát hiền hòa.
    Trên đoạn đường chính vào rừng du khách sẽ thấy phía bên tay trái là rừng già tập trung rất nhiều gỗ quý như gõ, bằng lăng, cẩm lai, gụ, trắc … Phía bên tay phải rừng là thác rời. Cách bìa rừng 7 km là vùng Bàu Sấu, làng Bàu Sấu chứa rất nhiều cá. Chính vì thế mà gà lôi, công trĩ, mồng két … tập trung rất đông. Vườn quốc gia Cát Tiên hầu như còn nguyên vẹn thảm thực vật và động vật phong phú. Ngoài ra trong khu vực này có cây gõ Ông Đồng 300 tuổi, cây thiên tuế bảy ngọn làm phong phú bộ sưu tập rừng.
    Vườn quốc gia Cát Tiên có thể xem là khu bảo tồn động vật lớn chất lượng vì có rất nhiều loại chim và thú hiếm, chính là rừng vàng của Nam bộ.
    Thủy điện Trị An
    Là thác nước cuối cùng của sông Đồng Nai trước khi chảy vào đồng bằng. Vào mùa nước kiệt, trên một khoảng sông rộng nổi lên hàng trăm tảng đá đen lô nhô giống như bầy trâu đang đắm mình dưới sông. Vào mùa nước nhiều, nước sông đổ cuồn cuộn làm tung bọt trắng xóa trên một đoạn sông hàng trăm mét tạo nên khung cảnh thật hùng vĩ.
    Với sự giúp đỡ của Liên Xô và sự đóng góp của cả nước, công trình thủy điện đã ra đời sau thủy điện Hòa Bình trên sông Đà. Được khởi công xây dựng năm 1983, các tỉnh miền nam tiếp tế, các tỉnh miền Bắc gửi cán bộ giỏi, nhiều kinh nghiệm, kỹ thuật. Phần đóng góp quan trọng nhất là tỉnh Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh gánh vác. Nhân dân 16 tỉnh thành phố miền Nam đóng góp trên 51 tỷ đồng, Liên Xô cũ cho vay 150 rúp và cung cấp máy móc thiết bị xây dựng công trình. Sau 5 năm lao động cật lực của cán bộ công nhân trên công trường xây dựng, tổ máy số 1,2 hoạt động vào năm 1988, đến năm 1989 cả 4 tổ máy được vẫn hành sản xuất điện.
    Đập chính chắn ngang và được xây dựng từ thượng nguồn của thác Trị An, tạo nên một hồ chứa nước rộng 232 km2 chứa gần 3 tỷ m3 nước. Nước từ hồ chính đưa qua hồ phụ rồi chảy sang nhà máy thủy điện làm quay bốn tổ máy cócông suất tổng cộng 400 MW, sản lượng điện hàng năm đạt tới 1,7 KW/h. Hồ Trị An là một khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, một địa điểm hấp dẫn du khách.

    Bài thuyết minh về thành phố Đà Lạt!!!
    Thác Datanla:
    - Cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 5km nằm gần giữa đèo Prenn.
    - Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Diệp Datanla được hình thành từ các từ K’ho ghép lại mà thành là đà- Tàm- Nha có nghĩa là “nước dưới lá”, do vậy có người đọc trại là Đatania. Dòng suối chảy qua Đatanla có liên hệ đến cuộc chiến đấu giữa người Chăm- Lat- Chil và lịch sử Đà Lạt, nhờ có nước mà người Lát đã chiến đấu và trụ lại ở Prenn trong khi người chăm không biết “dưới lá có nước” nên rút lui sau một thời gian đánh nhau với người Lat tại đèo Prenn, từ đó Đatanla là nguồn sức mạnh của các dân tộc bản địa.
    - Cảnh vật quanh Đatanla buổi đầu hoang dã và có sức hấp dẫn kì lạ, từ trên ghềnh cao nước chảy xuống tạo thành dòng suối trắng xoá len lõi giữa các tầng đá để rồi mất hút vào rừng sâu, những tản đá bóng nhẵn rất đẹp và bằng phẳng là nơi ngày xưa các nàng tiên nữ của thượng giới hay xuống tắm mát.Tới đây bạn còn được thử sức mình với hệ thống máng trượt hiện đại đưa bạn xuống và lên thác với cảm giác thú vị và mới lạ mà bạn không thể bỏ qua nếu đã đến đây.
    Hồ Tuyền Lâm:
    - Nằm sát thiền viện Trúc Lâm
    - với diện tích mặt nước khoảng 350 ha, được tạo thành bởi dòng suối Tía và thượng nguồn sông Đatam xuất phát từ núi voi đổ về
    - Tên hồ không biết có tự bao giờ và do ai đặt nhưng có lẽ cũng do xuất phát từ khung cảnh thiên nhiên kĩ vĩ nơi đây suối và rừng quấn chặt với nhau nên có tên là tuyền Lâm.
    Thiền Viện Trúc Lâm:
    - từ quốc lộ 20 rẽ trái khoảng 1km chúng ta sẽ đến được thiền viện Trúc Lâm và hồ Tuyền Lâm theo con đường tráng nhựa ngoằn nghèo ôm sát núi.
    - khi đặt chân đến đỉnh phượng hoàng nơi toạ của thiền Viện Trúc Lâm nơi đẹp nổi tiếng trong một khung cảnh thiên nhiên thoáng đãng thơ mộng.
    - Ra đời tronh hoàn cảnh khá đặc biệt, với chủ trương khôi phục dòng thiền đã được biết đến là sự dung hợp của thiền phái Thảo Đường, Vô Ngôn Thông, Tỳ ni đa lưu chi, lâm Tế,… để tạo thành thiền tông Việt Nam.
    - Thiền viện trúc lâm được xây dựng ngày 8/4/1993 với sự giúp đỡ của các tăng ni, phật tử trong cả nước và bên ngoài, chỉ trong vòng 10 tháng thi công đã hoàn tất và khánh thành 8/2/1994. Công trình được xây trên một khuôn viên bảo vệ rừng là 232ha trong đó diện tích xây dựng là khoảng 2ha. Thiền Viện do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ phác hoạ tổng thể, kiến trúc sư Huỳnh Ngọc Ẩn vẽ thiết kế chánh điện và cả khu nội viện.
    - thiền viện gồm ngôi chánh điện ở vị trí trung tâm còn có tham vân đường, lầu chuông, nhà trưng bày bên phải, gác trống, nhà khách tăng, thư viện, thiền thất viện trưởng và thiền đường bên trái.
    Trong chánh điện, giữa khoảng không cao rộng ngập tràn ánh sáng chỉ có một pho tượng là Đức Bổn sư cầm hoa sen đưa lên_đây là hình ảnh của đức Phật trong pháp hội linh sơn, một ấn tướng về “có mà như không, không mà như có” của đạo thiền. Thiền là pháp môn giúp chúng ta sống với sự tỉnh thức địa tâm trở về với trạng thái an bình. Thiền phái Trúc Lâm chú trọng sự tu tập nội tâm của bất kì ai, dù đó là tu sĩ, người xuất gia hay đang sống tại gia, đường lối tụ tập hướng nội dẫn đến thanh bình hoá bản thân khiến lòng không còn vướng bận và tư tánh biên lộ, đây là trạng thái thực sự an ổn trong chính mỗi người mà không phải tìm kiếm cực lạc.Viện trưởng đầu tiên là hoà thượng Thích Thanh Trì, ngoài 70t, thiền viện Trúc lâm được coi như là thiền viện tu thiền lớn nhất Việt Nam.
    Núi Voi:
    - Cách thành phố Đà Lạt khoảng 24km về phía Tây Nam, giáp xã Tà Nung thuộc thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà.
    - Có tên gọi như vậy vì xa xưa voi rừng trên cao nguyên Lang Biang rất yêu thương đôi trai gái nọ, nghe tin đôi trai gái này sắp cưới nhau liền réo gọi bầy kéo từ vùng ở khu vực Lâm Đồng ngày nay về dự lễ cưới, nhưng khi vượt qua chân thác thì đột nhiên nghe tin hai người đã quyết chết cùng nhau vì thành kiến thù hằn của bộ tộc, đàn voi rừng đau đớn , gào thét luôn cả mấy đêm ngày liền, đến khi kiệt sức ngã quỵ và chết hoá đá ở chân thác. Thần núi cảm thương ,tuôn rơi nước mắt thành suối để tắm mát đàn voi ở dưới vực sâu mãi mãi với thàng ngày qua đi.
    Trong đàn voi có 2 con lớn nhất đi lạc từ trước đến vùng đèo Prenn, khi nghe tin dữ cũng đã ngã quỵ xuống chết hoá thành 2 ngọn núi, ở phía trái quốc lộ 20 trước cửa ngõ vào thành phố Đà Lạt.Dưới chân rặng núi này có làng gà k’long của người k’Hô, nổi tiếng về dệt và sản xuất các mặt hàng thổ cẩm rất hấp dẫn du khách và còn có câu chuyện kỳ thú về “voi 9 ngà, gà 9 cựa” với mục đích là chống phá nạn thách cưới trong xã hội của dân tộc K’Hô ngày xưa .
    Tất cả những quang cảnh ở đây không chỉ mang ý nghĩa của một mình nó mà hơn trên hết tất cả kết hợp với nhau tạo nên sự hài hoà về phong thuỷ.Trước hết hồ Tuyền Lâm mang cho ta cảm giác thoải mái, con người khi đứng trước những biển, hồ thường thấy mình thanh thản và nước rất gần gũi và là một phần của con người. Núi Voi không chỉ vì truyền thuyết mà nhà sư chon nó chính là tấm bình phong che chắn cho khu vực, tạo thể hài hoà cho phong thuỷ nơi đây.
    Ga Cáp treo:-Tuyến cáp treo dài 2.300m từ đỉnh đồi Rôbin đến Thiền viện Trúc Lâm, ở độ cao 1.600m so với mực nước biển.
    - Hệ thống cáp treo Đà Lạt được khởi công xây dựng vào ngày 3/2/2002, khánh thành ngày 24/1/2003 và chính thức đưa vào hoạt động ngày 1/2/2003.
    - Hệ thống này do Hãng Doppelmayr của Thụy Sĩ và Áo thiết kế, chế tạo và lắp đặt.
    - Với 50 cabin tự động đủ màu sắc có công suất vận chuyển tối đa 900 lượt/giờ, du khách có thể thưởng ngoạn rừng núi Tây Nguyên hùng vĩ, toàn cảnh thành phố ngàn hoa và bay trên những rừng thông bạt ngàn, tận hưởng cái lành lạnh của trời Đà Lạt
    Ga cáp treo đồi Rôbin:
    - khu du lịch cáp treo Đà Lạt hình thành từ đầu năm 2003, cáp trep giăng qua khoảng không gian trên các đồi thông, từ một ngọn đồi phía trái bến xe Đà Lạt tới chân đồi Phượng Hoàng của thiền viện Trúc Lâm với quãng đường chim bay gần 2km.Trên tháp treo, du khách nhìn được toàn cảnh thành phố Đà lạt phía dưới, xa xa là dãy núi Lang Biang và có cảm giác như là đang bay giữa những thung lũng hẹp, đồi và rừng thông xanh mát, mượt mà.
    - người lớn đi, về >50k/ người, 1 lượt 30k/ người, trẻ em = ½ người lớn.
    Thành Phố Đà Lạt
    - Đà Lạt cách Biên Hòa (Đồng Nai) 278km, Hà Nội 1.481km, Tp. Hồ Chí Minh 293km, Nha Trang (Khánh Hòa) 205km.
    - Về hàng không, Lâm Đồng có chuyến bay Đà Lạt – Tp. Hồ Chí Minh và ngược lại.
    Lâm Đồng có đường bộ chính là quốc lộ 20 chạy xuyên qua tỉnh từ Đà Lạt, Bảo Lộc, Di Linh, Ma Đa Gui tới Đồng Nai. Ngoài ra tỉnh còn nằm trên trục đường quốc lộ 27: Thị xã Phan Rang Tháp Chàm (Ninh Thuận) – Lâm Đồng – Đắk Lắk (Buôn Ma Thuột), trục đường 28: Bình Thuận – Lâm Đồng (Di Linh) – Đắk Nông.
    - Từ Tp. Hồ Chí Minh, đi ô tô theo quốc lộ 20 chừng 300km là đến Đà Lạt. Con đường sẽ đưa du khách lên cao dần, cao dần và khi chạm vào Đà Lạt ở thác Prenn thì trước mặt du khách đã là ngút ngàn rừng thông hai lá, ba lá. Đi sâu vào thành phố Đà Lạt, du khách sẽ khám phá một "bảo tàng" của các thác nước, những hồ đẹp, thung lũng hoa và đồi cỏ.
    Nếu đi theo đường 27 từ Phan Rang ngược sông Dinh lên, sau khi vượt qua những khu di tích lịch sử của nước Chămpa xưa và những cánh đồng khô ráo quanh năm, chúng ta đứng trên đèo Ngoạn Mục với bức tranh thiên nhiên hùng vĩ trước mắt.
    Vào những năm cuối thế kỉ XIX, một người Thuỵ Sĩ mang quốc tịch Pháp là Alexandre Yersin, theo yêu cầu của nhà cầm quyền Pháp lúc bấy giờ thám hiểm Tây Nguyên và lên được cao nguyên LangBiang để rồi dẫn đến việc khai sinh thành phố hoa Đà Lạt hôm nay. Một thời khắc quan trọng là vào 15h30’ chiều ngày ngày 21/6/1893, sau một chuyến thám hiểm dài ngày khu vực miền Đông Nam Bộ, bác sĩ Yersin đã đặt chân lên được cao nguyên LangBiang làm thay đổi một vùng đất hoang sơ và tạo ra một bước ngoặc lớn trong lịch sử Đà Lạt góp phần biến vùng đất của người Lạch, người Chil đến lúc ấy vẫn chua có tên trên bảng đồ thành một thành phố nổi tiếng được ghi trong từ điển bách khoa của nhiều nước như hôm nay.
    Tên Đà Lạt từ khi phát sinh cũng ngẫu nhiên, có sự trùng âm trúng ý khiến nhiều người thắc mắc bàn luận. Có người cho rằng những người pháp là “sáng lập viên” đã chọn cho thành phố xinh đẹp này một câu châm ngôn đầy ý nghĩa như các thành phố Châu Âu bắng tiếng Latinh “DAT ALLIIS LAETITIUM ALLIIS TEMPERRIEM”, năm chữ đầu ghép lại thành từ Đà Lạt có nghĩa là cho người này niềm vui cho người kia sự mát lành.Thế nhưng theo nhiều nhà nghiên cứu dân tộc học thì không phải vậy mà tên Đà Lạt có từ gốc là đạ Lạch phát âm theo tiếng của người Lạch. Đây là một trong 3 chi phái thuộc hệ K’ho cùng chia nhau sống tại các vùng phía Bắc tỉnh Lâm Đồng.Riêng người Lạch sống từ chân núi LangBiang tới thành phố Đà Lạt, chiếm cứ xung quanh vùng Hồ Xuân Hương_nơi có con suối nhỏ chảy qua. Theo ngôn ngữ K’ho, Đa, Đạ hay Đăk có nghĩa là nước, là sông, là suối; Lạch( Lạt) là tên bộ tộc của dân tộc K’ho. Như vậy Đà Lạch là con suối của người Lạch. Trong hơn 100 năm qua tên Đà Lạt mang nhiều cách hiểu và nhiều ý nghĩa khác nhau. Nhưng ngày nay, chúng ta trả lại ý nghĩa ban đầu cho Đà Lạt : đó là con suối người Lạch, là quê hương của người Lạch và người Lạch một thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
    Thành phố Đà Lạt hơn 100 năm tuổi (phát hiện 1893), đang trở thành một trong những địa danh du lịch hấp dẫn nhất đối với du khách trong và ngoài nước, một thành phố nghỉ mát lâu đời ở nước ta. Đà Lạt nổi tiếng về hồ, về thác nước và rừng thông. Những hồ đẹp ở Đà Lạt là hồ Xuân Hương, hồ Than Thở, hồ Đa Thiện, hồ Vạn Kiếp, hồ Mê Linh. Những hồ này nằm ngay trong thành phố, tên thơ mộng như cảnh hồ thơ mộng, mỗi hồ gắn với một truyền thuyết xa xưa.
    Du khách đến Đà Lạt vừa thăm viếng, vừa thưởng thức những sản phẩm Đà Lạt bao gồm nhiều loại trái cây: hồng, mận, đào, bơ; nhiều món ăn dân tộc độc đáo và các hàng lưu niệm của riêng vùng Đà Lạt.
    Vẻ đẹp của Đà Lạt còn được ngợi ca nhiều và hấp dẫn du khách bởi hàng trăm, ngàn loại hoa, loại phong lan độc đáo, hoặc được sản sinh riêng trên mảnh đất này, hoặc lấy giống từ nhiều nơi như: Pháp, Anh, Hà Lan, Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, Ấn Độ, Italy,...như hoa hồng, hoa bất tử, hoa đỗ quyên, hoa xác pháo, hoa tư tưởng, hoa trà mi, mi mô da, mai anh đào, thủy tiên trắng...
    Khách sạn du lịch đầu tiên ở Đà Lạt được xây dựng từ năm 1907, đó là ngôi nhà gỗ mang tên khách sạn Hồ (Hôtel du Lac). Ngày nay, đến Đà Lạt du khách sẽ cảm nhận có một nét kiến trúc rất nên thơ, lộng lẫy mà kín đáo qua ngôi biệt thự ẩn mình trong cây lá hoặc rực rỡ bởi được phủ lên cả một rừng hoa.
    Cộng đồng dân cư Đà Lạt là một sự hòa nhập hết sức độc đáo của dân tộc từ các vùng Bắc, Trung Nam. Cả tỉnh có trên 20 tộc người, đông nhất là người Việt, sau đó là M’Nông, Mạ, Cơ Ho...Người dân ở quanh vùng Đà Lạt và Di Linh trồng rau và hoa cung cấp cho các tỉnh Nam Bộ.
    Đà Lạt mang đậm trong mình bản sắc văn hóa Tây Nguyên đẹp như huyền thoại. Những người dân hiền lành sống bằng nghề làm rẫy, làm vườn, trồng cà phê, chè, chăn nuôi gia súc...Vào những ngày hội làng, ngày vui của gia đình, du khách sẽ được xem họ múa, hát, chơi nhạc bằng những nhạc cụ độc đáo mà âm thanh của nó nghe như tiếng gió hú, tiếng thác chảy trên ghềnh đá. Thiên nhiên tươi đẹp đã tạo nên những mẫu người Đà Lạt có phong cách đáng yêu, hiền hòa, thanh lịch và mến khách.
    TP Đà Lạt (Da Lat city tour)
    Núi Lang Biang:-Nằm ở phía Bắc thành phố, cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 12km, thuộc địa bàn huyện Lạc Dương.
    - Núi Langbiang là một trong những ngọn núi cao nhất của tỉnh Lâm Đồng, đỉnh cao nhất là đỉnh Chưgianxin (2600m), bidup(2164m) và đỉnh Langbiang còn được gọi là núi Bà cao 2167. Dưới chân núi là nơi định cư của các bản làng dân tộc Lat, Chil,..còn lưu trữ khá nhiều nét văn hoá truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên.- Truyền thuyết kể rằng vùng cao nguyên La Ngư thượng này có 2 bộ tộc mạnh là Lat, Sré. Bộ tộc Lat có một tù trưởng đẹp trai, khoẻ mạnh, giàu lòng nhân ái và có tài chinh phục thú rừng.Một hôm có 2 con voi to đi lạc, chúng rất hung dữ, vài chục người trong bộ tộc không thể khuất phục nổi. Sau đó, Lang đi rẫy trở về ra dấu cho mọi ngưòi dừng tay và tự mình dùng lời lẽ khuất phục hai con voi. Langbiang gắn liền với một chuyện tình đi vào huyền thoại giữa chàng Lang và nàng Biang con gái tù trưởng bộ tộc Chil.do mối bất hoà của hai bộ lạc nên hai người không đến được với nhau,cuối cùng cả hai người phải chọn cái chết cho trọn tình và phản đối tục lệ khắt khe, khi 2 người chết ông K’zềng vô cùng ân hận bèn kêu gọi các bộ lạc kết hợp với nhau tạo thành bộ tộc K’ho xoá bỏ mọi hiềm khích và các nam nữ giữa các bộ tộc có thể lấy nhau sinh con đẻ cái.
    Trên đỉnh Langbiang hiện nay có 2 pho tượng chàng Lang và nàng Biang. Từ trên đỉnh có thể thấy hồ suối Vàng_Dakia thượng nguồn sông Đồng Nai và là nguồn cung cấp nước chính cho Đà Lạt.
    Phân viện Sinh học:
    - Phân Viện Sinh học nằm trên đỉnh đồi Tùng Lâm cao 1.548m, giữa khu rừng thông cách trung tâm thành phố Dalat gần 10km trên đường đi Suối Vàng
    - Thật ra đây nguyên là Học viện dòng Chúa Cứu thế thuộc Giáo hội Công giáo, xây dựng từ năm 1950. Sau ngày đất nước thống nhất, chính quyền địa phương đã dùng cơ sở này cho các hoạt động công ích. Sau vài lần thay đổi đơn vị quản lý, đến năm 1991 nơi đây được chuyển giao cho Viện Sinh học nhiệt đới trực thuộc Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ và trở thành Phân Viện Sinh học tại Dalat
    - Đặt chân đến đây, điều đầu tiên gây chú ý và ngạc nhiên nơi du khách là toà nhà bằng đá có nhiều cửa sổ thật tĩnh lặng giữa rừng thông mà nổi bật ở mặt tiền là cây thập giá với hai dòng chữ bằng tiếng Latin: ” Copiosa Apud Eum Pedemptio”, có nghĩa: “Ơn cứu độ chan chứa nơi Ngài.
    Phân Viện Sinh học có chức năng nghiên cứu hoá học, nghiên cứu vi sinh, nghiên cứu thực vật và công nghệ sinh học nuôi cấy mô...Ngoài ra, Phân Viện Sinh học còn hoạt động như một bảo tàng nhằm giới thiệu những loài đặc hữu tại Tây Nguyên và Lâm Đồng gồm bảo tàng động vật và vườn thực vật phục vụ tham quanvà du lịch.
    Tham quan nơi đây, du khách sẽ có dịp thưởng lãm bộ sưu tập hoa lan phong phú được trình bày trong hệ thống giàn gỗ với chừng 900 chậu địa lan nội ngoại, 1300 giò, chậu, bảng phong lan các loại. Du khách sẽ càng cảm kích khi biết Phân Viện Sinh học hiện đang chăm sóc giữ gìn nguồn gene của gần 200 loài lan rừng khác nhau như nguồn dự phòng cho phát triển kinh tế địa phương mai sau. Đây là những loài được tìm thấy ở các rừng Lâm Đồng và vùng phụ cận mà trong số đó nổi bật các tên như: Thanh lan, Thanh đạm, Tuyết ngọc...là những giống loài quý hiếm, hoặc như Hài đỏ được xếp vào những loài đẹp nhất thế giới. bộ sưu tập động vật ở Tây Nguyên và của cả nước được trưng bày tại 7 phòng gồm 378 mẫu thú của 58 loài, 242 mẫu chim của 94 loài, 42 mẫu lưỡng thê bò sát của 32 loài, 36 mẫu thú nuôi nhà của 22 loài và hơn 200 hộp mẫu của các loài côn trùng được sắp xếp theo từng loài, lớp, bộ, họ đi từ động vật phát triển cấp thấp đến cấp cao, từ động vật biển như: san hô, cua, ốc; loài lưỡng thê như trăn, rắn; động vật nuôi như gà, vịt, bò, cừu; lớp côn trùng; lớp chim; lớp thú rồi đến loài vật có não bộ phát triển ở bậc cao gần với con nguời như họ khỉ, hầu hay linh trưởng...
    Một danh sách đỏ cũng được Bảo tàng giới thiệu, từ các loài đang nguy cấp (đang bị đe doạ tuyệt chủng) như Gấu ngựa, Mang lớn, Cầy vằn bắc, Vượn má hung, Sóc bay sao, Sói đỏ, Cầy Giông sọc, Gấu chó, Hổ, Báo hoa mai... đến các loài sẽ nguy cấp ( có thể bị đe doạ tuyệt chủng) như Sơn dương, Cầy mực, Mèo gấm, Báo gấm, Beo lửa, Rái cá vuốt, Kỳ đà nước, Vọc vá chân đen, Lửng lợn...Du khách sẽ thật thích thú với các mẫu vật sẽ được giới thiệu trong những tư thế tự nhiên, sinh động. Khi gởi đi những lời kêu gọi: “Hãy bảo vệ loài tê giác Java”, “ Hãy bảo vệ Sao la”, “Hãy cứu lấy đàn voi của chúng ta”...Các nhà khoa học còn muốn nhắn nhủ ” Hãy thân thiện hơn với thiên nhiên, để thiên nhiên mãi là bạn đồng hành của con ngưởi!”
    Phân Viện Sinh học còn trưng bày 2 mô hình vũ trụ do Liên Xô cũ tặng Việt Nam năm 1989.
    Nhà thờ Domain:
    - Nằm trên đường Ngô Quyền, trên đồi Mai Anh cách trung tâm thành phố Đà Lạt 1 km về hướng Tây Nam
    - Nhà thờ Domain De Marie nằm trong khu Lam Sơn, được xây dựng từ năm 1940 đến năm 1944 do phu nhân toàn quyền Jean Decoux đứng ra quyên góp của nhiều giáo dân.
    - Tên gọi Domain De Marie có nghĩa là "lãnh địa của Đức Bà". Từ năm 1940 đến năm 1943 nơi đây là nhà nguyện của nữ tu dòng Bác Ái - một tu hội nữ tu có mặt tại Việt Nam từ năm 1928.
    - Nhà thờ được xây dựng lại theo lối kiến trúc độc đáo hơn bất cứ nhà thờ nào khác ở Đà Lạt bởi được xây dựng bằng một chất kết dính là vôi, mật mía, và một số vật phụ gia khác. Khi xây dựng nhà thờ, vị phu nhân toàn quyền Đông Dương có tâm nguyện là lúc mất người sẽ được chôn ở đây. Vào năm 1944, trên đường đi hoà giải mâu thuẩn giữa Bà Nam Phương Hoàng hậu và Bà Mộng Điệp, bà đã bị giao thông trên đoạn đường Khe Sanh và mất mộ tháng sau đó. Thi hài Bà đã được chôn cất tại hành lang sau nhà thờ, trong khuôn viên của một vườn hoa thoáng mát và rộng lớn, như yêu cầu của Bà lúc còn sống.
    Tuy nhà thờ không có tháp chuông trên đỉnh nhưng tiền đình được thiết kế là một tam giác can, phía trước được trang điểm các vòm cửa nhỏ. Tường được xây dựng bằng đá chẻ đến ngang bệ cửa sổ theo lối kiến trúc Normandie. Không gian nội thất được chiếu sáng bởi những khung kính màu, càng làm tăng thêm phần lung linh hấp dẫn cho thánh đường. Nhà thờ còn lưu trữ pho tượng Đức Me ban ơn cao 3m, nặng 1 tấn là quà tặng của phu nhân toàn quyền Đông Dương Decoux. Bức tượng được đặt giữa cung thánh trên nhà thờ. Tượng do nhà điêu khắc Johchère, người Pháp làm tại Hà Nội và đưa về nay năm 1944.
    Vào khuôn viên nhà thờ bạn có thể thấy rất nhiều loại hoa, đặc biệt là hoa Hài Tiên. Sau nhà thờ là một quần thể kiến trúc được thiết kế theo kiểu mới với 3 dãy nhà tầng của dòng Nữ Tu Bác Ái, càng làm tăng thêm vẽ uy nghi và trang nghiêm cho nhà thờ. Vì chỉ dùng duy nhất một màu vôi hồng đậm để quét tường, nên dưới ánh nắng nhà thờ như sáng rực hẳn lên.
    Nhà thờ Domain de Marie chỉ có tu nữ, họ sống và làm việc ở đây như đan áo lạnh, bán cho du khách vào tham quan nơi đây.
    Thác Camly:
    - Cách trung tâm thành phố Đà Lạt chỉ 2km
    - tên thác cũng là tên một dòng suối nhỏ từ Hồ xuân Hương chảy đến thác ngày nay. Cam Ly là biến âm của K’dam M’ly là tên một tù trưởng nổi danh của tộc người K’ho được dân làng địa phương tôn kính đặt ccho vùng đất, suối và thác, nơi tộc này chiếm ngụ để ghi nhớ công ơn của vị tù trưởng khả kính của họ.
    Thung lũng tình yêu:
    - Từ trung tâm thành phố Đà Lạt đi về phía trường Đại Học rồi đi theo đường Phù Đổng Thiên Vương lên khoảng 3km ta sẽ đến trước một khung cảnh thơ mộng vừa hữu tình. Đó là thung lũng tình yêu.
    - Love Volley được tạo thành bởi đập Đa Thiện chắn dòng chảy của những con suối nhỏ từ các ngọn đồi xung quanh
    - Trước đây người Pháp đặt tên là Vollue Damous. Năm 1953 chủ tịch hội đồng thị xã Đà Lạt Nguyễn Vĩ đã đổi tên Việt để phù hợp với bản sắc văn hoá dân tộc từ đó cái tên thung lũng tình yêu ra đời.:
    - Du khách dễ dàng nhìn thấy xưởng tranh thêu XQ nằm đối diện với đồi mộng mơ mà chúng ta sắp sửa thăm quan.
    - Ngày 30/10/1996, công ty TNHH XQ Đà Lạt chính thức thành lập, Ngày 29/12/2001, làng nghề thêu tay truyền thống XQ Sử Quán chính thức khai trương tại Đà Lạt.
    - Là đứa con ngoài giá thú, mẹ bỏ đi vì không chịu nổi điều tiếng, Võ Văn Quân lớn lên bơ vơ với cả tuổi thơ dài là những ám ảnh về chết chóc, đói nghèo, nhà cháy, lưu lạc của chiến tranh… Đứa trẻ bị bỏ rơi tủi phận, ít bạn bè, sống tách biệt nhưng lại ôm những mơ mộng “tràn bờ” với thế giới của thơ ca, nghệ thuật. Biệt danh “khùng” đã đeo theo Quân từ đó. Dấu mốc cuộc đời chính là khi Võ Văn Quân làm nhân viên kỹ thuật X-quang và gặp được người bạn đời - cô thợ thêu “thoát ly” làm y tá Hoàng Lệ Xuân. Chị Xuân cũng sớm mồ côi mẹ với ký ức đau buồn khi tận mắt thấy cảnh bà lìa trần ngay bên khung thêu trong một trận bom.
    Vợ chồng Xuân - Quân đến với nghề thêu, với những bức tranh kết bằng chỉ màu không biết từ lúc nào nhưng gần như là tất yếu. Thương hiệu XQ Đà Lạt sau này cũng chỉ đơn thuần là sự ghép nối, kết duyên giữa một cô thợ thêu và một anh chàng họa sỹ vẽ mẫu tranh.
    Nghề Thêu:ª
    Ở Việt Nam, nghề thêu là một ngành nghề thủ công truyền thống đã có tự lâu đời. Lịch sử của ngành nghề truyền thống này vốn gắn liền với lịch sử tâm linh của người phụ nữ Việt Nam trong quá khứ. Ngay từ thế kỷ thứ I, bên cạnh lá cờ thêu “Đền nợ nước trả thù nhà” của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, phụ nữ Việt Nam còn biết dùng công việc thêu thùa để trang hoàng nhà cửa, hơn nữa là để bày tỏ tâm sự, tình cảm và để làm đẹp cho chính mình.
    Tuy nhiên, cho đến nay không ai biết được, nghề thêu Việt Nam hình thành từ bao giờ? Ai là người đầu tiên có ý tưởng biến công việc may vá, thêu thùa thành một ngành nghề nghệ thuật? Tương truyền rằng, đầu thế kỷ XVII, nghề thêu Việt Nam được đánh dấu một bước ngoặt phát triển mới. Thời đó, ngài Lê Công Hành, (sinh ngày 18/01/1606 – mất ngày 12/06/1661) tại làng Quất Động, xã Quất Động, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây đã đúc kết kinh nghiệm và kỹ thuật thêu dân gian Việt Nam để phổ biến rộng rãi một nghệ thuật thủ công mang đậm nét nghệ thuật. Cho đến thời phong kiến, nghề thêu là một trong những nghề phục vụ cho Vua chúa và giới Quý tộc. Sản phẩm thêu được hoàn thành bởi những chất liệu chỉ vải do công sức sáng tạo của những người nghệ nhân Việt Nam. Những sợi chỉ lúc đó được nhuộm bằng công thức thủ công với chất liệu hoàn toàn thiên nhiên như củ nâu, cây chàm, vỏ bàng, nước điệp, lá vông, đá mài, hoa hòe ... khiến cho người nước ngoài phải cảm phục để nhận định rằng: "Nhìn những màu nước nhuộm của các cô thợ thấy rất dơ dáy không ngờ đến khi nhuộm xong đều đủ hết một bảng màu vô cùng lạ lùng tưởng như phù phép mới có được".
    Trong thời kỳ đó nghề thêu thường là do người phụ nữ Việt Nam đảm trách, theo quan niệm của nho giáo, người con gái phải hoàn thiện được tứ đức: "Công, Dung, Ngôn, Hạnh" như người xưa từng nói :
    “Trai thì đọc sách ngâm thơ
    Gái thì kim chỉ thêu thùa vá may.”
    Đại đa số phụ nữ cả nước đều biết thêu, tuy nhiên tập trung và có tính chuyên nghiệp từ lâu đời là ở Huế. Khi triều đại nhà Nguyễn xây dựng ở Cố Đô Huế, bà Hoàng Thị Cúc, mẹ Vua Bảo Đại, cùng với Nam Phương Hoàng Hậu đã kết hợp những ưu điểm của kỹ thuật thêu Châu Âu với những tinh hoa của nghệ thuật thêu Châu Á để biến nó trở thành nghệ thuật thêu của Cung Đình, gắn liền với những đặc điểm thùy mị, tinh tế, tỉ mỉ của người con gái xứ Huế. Gabrielle học giả người Pháp, chuyên nghiên cứu văn hóa Á Đông viết: "...Nhiều nơi đã truyền lại cho con cháu những ngành nghề lạ lùng là vẽ hình bằng chỉ làm cho bông sen, bông tử nở trên lụa, làm cho bươm bướm lượn trên mặt nước trong xanh, người thợ thêu An Nam khéo léo hơn người thợ thêu Trung Quốc về đường kim mũi chỉ và cách pha màu sắc..."
    Đồi mộng mơ:
    - Nằm cách Trung Tâm Thành Phố Đà Lạt 4km về hướng Đông.
    - Trên một diện tích khiêm tốn, nơi đây cũng có đầy đủ hoa, cỏ xanh mướt bốn mùa, nhiều giống hoa mới, màu sắc rực rỡ được chăm sóc tốt, thiết kế đẹp tạo cảm tình cho khách ngay từ ban đầu. Đến đây du khách có dịp thưởng thức những kiến trúc nhân tạo được kết hợp hài hòa với cảnh quan thiên nhiên từ tiểu vạn lý trường thành vắt ngang qua 2 km đồi núi đến căn nhà cổ hơn 300 năm được dựng từ nguyên bản nhà rường ở Bình Định sẽ đưa bước chân du khách đến với những hoài niệm của quá khứ ngàn xưa, từ vườn đá cảnh thiên nhiên đầy đủ sắc màu đến những kỳ hoa dị thảo rực rỡ khoe sắc tỏa hương trong những khu vườn chung quanh Đồi Mộng Mơ giúp cho du khách có những cảm giác mới lạ và thư thái.
    Nhưng điều làm nên sức thu hút lại chính là sân khấu cồng chiêng, và Làng Văn hoá dân tộc. Tận dụng địa hình dốc cao của khu đất, Công ty CP Thành Ngọc đã đầu tư cho xây dựng một sân khấu biểu diễn cồng chiêng, mái hình rẽ quạt, lợp tôn màu, sâu khấu và khán đài tam cấp chính được làm bằng đá đủ chỗ cho 550 người ngồi.
    Viện hạt nhân Đà Lạt:
    - Số 1 đường Nguyên Tử Lực, Đà Lạt, Lâm Đồng.Cơ sở 2: Số 13-15A, Đinh Tiên Hoàng, Đà Lạt, Lâm Đồng.
    - Viện Nghiên cứu hạt nhân là tổ chức sự nghiệp khoa học có thu trực thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, thực hiện chức năng nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học và kỹ thuật hạt nhân.
    Viện Nghiên cứu hạt nhân có tên giao dịch quốc tế là:NUCLEAR RESEARCH INSTITUTE (Viết tắt là NRI)
    Trường ĐH Đà Lạt:
    - Nằm tại số 1 Phù Đổng Thiên Vương, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Tọa lạc trên một quả đồi kế Đồi Cù với diện tích gần 40ha, trường Đại Học Đà Lạt là một quần thể kiến trúc độc đáo cùng với cảnh quan xinh đẹp.
    Vườn hoa thành phố:
    - Nằm cạnh hồ Xuân Hương, tại số 2 Phù Đổng Thiên Vương, thuộc phường 1, tp Đà Lạt.
    - Trong công viên còn có một vườn xương rồng khổng lồ. Để có vườn hoa xương rồng khổng lồ này là cả một quá trình chăm sóc và tìm kiếm giống từ châu Phi xa xôi. Nếu ở các thành phố, bạn vẫn thường mua và xương rồng nho nhỏ trong các chậu cảnh về để trong nhà, thì cũng với các loại xương rồng tròn như quả địa cầu đó, ở đây có cây đường kính lên tới 50-60 cm. Một điểm đẹp độc đáo ở Công viên hoa là khu vực hoa lan. Hoa lan được trồng theo phương pháp cấy mô, trưng bày tại đây mang cả tinh tuý cuả cái đẹp, cũng đa dạng loài, đa dạng màu sắc. Tại đây cũng bắt gặp những cành đào phai Hà Nội nhưng lại được gây giống tại Thung Lũng Đào Hoa, Đà Lạt.
    Đến Vườn hoa, chắc chắn du khách rất hài lòng bởi những bàn tay nghệ nhân đã chăm sóc và sưu tầm các loài hoa thật đầy tính nghệ sĩ, sẽ lưu lại cho du khách kỷ niệm không quên bằng những tấm ảnh đầy nghệ thuật. Ngoài những loài hoa quý hiếm, du khách có những phút giải trí bằng những môn thể thao: Bơi lặn, đá cầu... Đến với Đà lạt mà chưa đến Vườn hoa thật là điều tiếc nuối của du khách.
    Chợ Đà Lạt:-Chợ nằm trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường 1, thành phố Đà Lạt.
    - Điểm đặc biệt là chợ này nằm ngay chân đồi, trên tầng 2 có một chiếc cầu thông với khu Hoà Bình ở đỉnh đồi. Phía trước chợ có con đường dẫn ra hồ Xuân Hương. Bên hông có bậc tam cấp dẫn lên đường Lê Đại Hành và một con dốc nối khu Hòa Bình với hồ Xuân Hương. Tất cả tạo cho chợ Đà Lạt có một vị trí bố cục ngoạn mục mà chỉ có được ở những thành phố cao nguyên nhiều đồi núi.
    - Ngôi chợ hiện nay được xây dựng năm 1958, trên một vùng đất sình lầy trồng xà-lách-son. Công trình do kiến trúc sư Nguyễn Duy Đức thiết kế, nhà thầu Nguyễn Linh Chiểu thi công, hoàn thành vào năm 1960. Về sau, chợ được chỉnh trang bởi bàn tay của kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Viết Thụ.
    Hồ Xuân Hương:
    - nằm ngay trung tâm thành phố, là trái tim của thành phố hoa và ngàn thông.
    - Đây là hồ nước nhân tạo ở vị trí trung tâm thành phố, vào năm 1919 kỹ sư chánh người pháp tên Lable cho đào một cái hồ tại thung lũng nhỏ có dòng suối chảy qua( suối Cam Ly) và xây đập nước (từ nhà hàng Thuỷ Tạ đến quán Hướng Đạo vĩ). Năm 1923, hồ này được mở rộng có tên là Grand lac(hồ lớn) và được xây them 1 đập nước thứ 2 về phía dưới, năm 1932 1 cơn going bão làm vỡ cả 2 đập, sau đó vào 1935 1 đập đá được xây kiên cố và Hồ Xuân Hương được hình thành từ ngày đó.
    - Chu vi hồ rộng 5,5km độ sâu trung bình 1,5m, xung quanh hồ có hai loại cây đặc trưng là Mai Anh Đào và liễu nĩ. Tại đây có nhiều dịch vụ phục vụ yêu cầu giải trí quần chúng trong khung cảnh đẹp mắt, trữ tình tự nhiên và trên mặt nước hồ xanh trong xanh, mêng mang như thuyền đạp vịt 30k/h,xuồng máy 60k-80k/ chuyến.
    Ga xe lửa:
    - Năm 1938 toàn quyền người Pháp Decoux quyết định thành lập tuyến đường sắt Tháp Chàm- Đà Alt5 chiều dài 84km với 16km đường răng cưa do người Thuỵ Điển thiết kế đã cho phép du khách cùng con tàu leo qua những tầng dốc cao hay chui vào những đoạn đường hầm tối tăm trong một cảm giác phưu lưu kì thú khi được khiêm ngưỡng cảnh núi rừng hùng vỉ chầm chậm lướt qua những ô kính, nhưng do chiến tranh một vào đoạn đường không đảm bảo an ninh nên cả một tuyến đường sắt độc đạo đành phải bỏ hoang phế theo thời gian.
    Năm 1991 tuyến đường sắt nối trại Mát với Đà Lạt được khôi phục dài 7km
    - Ga xe lửa Đà Lạt do kiến trúc sư Keveson thiết kế và kếin trúc sư Moscet thi công. Ga Đà Lạt là một trong những ga đẹp nhất Đông Nam Á
    - Lúc đầu sử dụng đầu máy xe lửa của Nhật chạy bằng hơi nước, sau đó chạy bằng đầu xe lửa của Thuỵ Sĩ nay chỉ còn cái của Nhật
    Năm 1964-1965 do chiến tranh nên tuyến đường Tháp Chàm- Đà LẠt hoàn toàn ngưng hoạt động đến 1992 mới hồi phục một khoảng 7km từ Đà Lạt đi trại Mát và bây giờ đầu máy chạy bằng dầu. Ngày 28/12/2001 ga được bộ VHTT công nhân là di tích quốc gia.
    Hồ than thở:
    - Cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 6km về hướng Bắc theo trục đường Quang Trung_ Hồ Xuân Hương.
    - Là hồ nhân tạo với diện tích ban đầu 13ha, hiện nay mặt hồ bị bồi lấp chỉ còn khoảng 6ha. Vốn là mặt hồ nhỏ, người Pháp xưa kia cho làm một đập ngăn chặn nước tạo thành hồ, đặt tên là Lacdes Surprises(hồ nước có nhiều ngạc nhiên ). Sau năm 1975, có một thời gian được gọi là hồ Xương Mai nhưng người dân Đà Lạt và du khách vẫn gọi cái tên là Hồ Than Thở. Hồ này nằm giữa rừng thông cao vút, mát lạnh và tĩnh mịch, cạnh bên cánh rừng cũng đầy rậm cây thông trữ tình có tên rất ấn tượng là rừng Ân Ái.Cảnh vật quanh hồ thơ mộng, mặt nước hồ luôn phẳng lặng.
    - Có người cho rằng tên than thở của hồ bắt nguồn từ chuyện tình Hoàng tùng và Mai Nương vào thế kỉ 18. Khi người anh hung áo vải Nguyễn Huệ dấy binh đánh đuổi quân xâm lượt nhà Thanh, Hoàng Tùng đã có mặt trong đoàn quân trai trẻ yêu nước, trước khi lên đường chinh chiến, Hoàng Tùng dẫn người yêu tên Mai Nương ra hồ này tâm tình, thề hứa sẽ trở về vào mùa xuân năm sau,lúc mai anh đào nở rộ báo tin thắng trận. Sau đó, Mai Nương nhận được tin Hoàng Tùng hi sinh trên chiến trường, nàng tuyệt vọng gieo mình xuống hồ tự vẫn nhưng trớ trêu thay đó là tin thất thiệt, Hoàng tùng còn sống vinh quang trở về đúng vào mùa xuân hoa Mai Anh Đào nở rộ. Chàng đau khổ vô hạn khi biết người yêu mình đã chết vì chung thuỷ với mình. Thời gian sau, Triều Tây Sơn sụp đổ, triều Nguyễn báo thù những người có công với triều Tây Sơn, Hoàng Tùng chạy lành xa tới bờ hồ năm xưa, quyết theo người yêu tìm nguồn hạnh phúc chung sống với Mai Nương bên kia thế giới
    Cũng có một giải thích khác gắn liền với “đồi thông 2 mộ” là 1 đôi trai gái yêu nhau tên Thảo và Tâm nhưng gia đình đôi bên cản ngăn vì lý do tôn giáo, cả 2 ra bờ hồ ngồi than thở cho nghịch cảnh ngang trái, sau nhiều ngày tuyệt vọng, cả hai nắm tay nhau nhảy xuống hồ tự vẫn. Sau đó, có người vớt được xác đi chôn thành 2 mộ song song trên đồi thông và cũng từ đó có tên là “hồ than thở”, “đồi thông 2 mộ”.
    Nhà thờ con Gà:-Chính là nhà thờ Chánh Tòa, tọa lạc tại số 15 đường Trần Phú, Phường 3, Tp. Đà Lạt, đây là nhà thờ lớn nhất thành phố.
    - Nhà thờ khởi công xây dựng ngày 19/07/1931 và hoàn thành vào ngày 25/01/1942. Diện tích khá rộng với chiều dài 65m, chiều rộng 14m, được trang trí bằng 70 tấm kính màu do xưởng Louis Balmert của Pháp chế tạo.
    - dân chúng quen gọi là nhà thờ Con Gà vì trên đỉnh tháp chuông có tượng con gà lớn.
    - Tháp chuông nhà thờ cao 47m, bên trên có tượng con gà bằng đồng dài 0.66m, cao 0.58 m quay quanh một trục bạc để chỉ hướng gió. Con gà ở dây có thể là biểu tượng của nước Pháp ( gà trống xứ Gaulle), nhưng cũng có thể là biểu tượng gắn liền với chuyện thánh Phê-rô ghi trong Phúc âm nhắc nhở sự thức tỉnh.
    Vào mỗi dịp giáng sinh, đây là nơi tập trung nhiều người trong và ngoài đạo đế dự lễ, tham quan.
    . Biệt thự Hằng Nga:
    - Tác giả của công trình kiến trúc này là kiến trúc sư Đặng Việt Nga, con gái cố Tổng Bí thư Trường Trinh. Cô là người phụ nữ có nhiều ý tưởng lạ vượt ra khỏi khuôn mẫu trong kiến trúc.
    - Biệt thự Hằng Nga bao gồm khách sạn Hốc Cây và lâu đài Mạng Nhện, đó là hai thân cây cổ thụ làm bằng bê tông, trong đó có những gian phòng có tên các loài vật như Kanguru, hổ, gấu, chim trĩ…và để lên được những căn phòng này, du khách phải qua một cầu thang bao vòng quanh thân cây.
    Ở đây đẹp nhất là phòng “quả bầu”. Phòng “quả bầu” cũng chính là phòng cao nhất của biệt thự Hằng Nga và là phòng được khách du lịch quốc tế rất thích. Vì ở trong này có thể đốt củi trong bụng quả bầu, giữ ấm suốt đêm để ngủ mà không cần đắp chăn. Các phòng nghỉ ở đây có đầy đủ tiện nghi cần thiết của một khách sạn sang trọng.
    Điều đặc biệt ở ngôi biệt thự này là từ trần đến cửa và mái đều thiết kế tuỳ hứng không theo quy luật, thả sức uốn lượn, cửa sổ được cắt theo những hình thù kỳ lạ và đặt ở trong những chỗ lồi lõm của những bức tường hình bầu dục. Từ trên ban công hay từ những ô cửa sổ, du khách có thể ngắm nhìn khu vườn trong lâu đài với một tấm mạng nhện khổng lồ bằng sắt ở ngay lối vào của khách sạn. Mảnh vườn tuy nhỏ nhưng là nơi hội tụ của hoa lá, chim muông và của con người tìm đến sự thanh thản trong tâm hồn.
    Vào buổi chiều tối, du khách còn được nghe tiếng chẫu chuộc kêu, tạo cảm giác như mình đang lạc vào một khu rừng lạ kỳ và bí hiểm
    Dinh BĐại III:
    - Nằm trên đường Triệu Việt Vương cách trung tâm thành phố Dà Lạt khoảng 2,5km về phía Nam.
    - Được xây dựng năm 1930 khi Bảo Đại còn làm vua ở triều đình Huế, năm 1937 được khánh thành và được dùng làm nơi nghỉ mát mùa hè. Đến khi Pháp quay trở lại Việt Nam đưa Bảo Đại làm quốc trưởng bù nhìn vào năm 1950 thì ông đã dùng nơi đây làm nơi ở và nơi làm việc xung quanh nơi ở và làm việc có cả một trung đoàn ngự lâm quân bảo vệ và có cả đoàn xe riêng gọi là “công xa biệt điện”, lại có cả một đội máy bay riêng do phi công người Pháp phục vụ.
    - Biệt điện gồm 2 tầng : tầng trệt dùng làm nơi hội họp, yến tịêc tiếp khách ngoại quốc và quan chức hoàng triều. Gồm các phòng: làm việc, tiếp khách thân mật khánh tiết, phòng bí thư riêng ở ngay cửa ra vào, phòng vui chơi của công chúa và hoàng tử. Tại phòng khách tiết vẫn còn một kĩ vật là bức tranh đần Ăngcovat do hoàng thân Xihanuc tặng Bảo Đại, phòng này dùng để họp hội đồng nội cát và tổ chức yến tiệc, lúc này đã sử dụng bếp gas lấy từ Hông Kông. Ông có 6 đầu bếp, 3 bếp Âu và 3 bếp Á.
    Trên lầu là phòng ngủ của Bảo Đại, hoàng hậu Nam Phương cùng thái tử Bảo Long, các công chúa Phương Mai, Phương Liên, hoàng tử Bảo Thăng, phía ngoài phòng ngủ của cựu hoàng là lầu vọng nguyệt khá đẹp dùng làm nơi cựu hoàng và hoàng hậu ngắm trăng. Do thái tử Bảo Long được chọn là người kế vị ngai vàng nên trong phòng toàn trang trí màu vàng.
    - Trong phòng làm việc của ông có treo nhiều cờ và thực sự là vào thời này thì nước chúng ta đã đặc quan hệ ngoại giao với khoảng 30 nước, bên trái ta có thể thấy hình của Vua lúc ông 40 tuổi, ông sing được 5 người con: 2 hoàng tử,3 công chúa, và tấm ảnh tro trên tường là Hoàng tử Bảo Long lúc 19 tuổi đang giữ chức trung tá. 28/7/2008 hoàng tử Bảo Long qua đời thọ 71 tuổi, nhưng không có nguời nối dõi nên tài sản thuộc về hoàng tử Bảo Thăng lúc này 66 tuổi. Về hoàng hậu Nam Phương, bà là người Nam Bộ, quê ở Gò Công_ Tiền Giang, con ông nguyễn Hữu Hào, là người đẹp của 3 nước Đông Dương lúc bấy giờ, lấy Vua lúc 19 tuổi và bà cũng đã tốt nghiệp tại Pháp. 1949 bà đưa con sang Pháp sinh sống, năm 1963 lâm bệnh ung thư hưởng dương 49 tuổi. Suốt quá trình trị vì Bảo Đại có hết thảy 7 người phụ nữ, 3 người Việt, 3 người Pháp và một người Trung quốc, ông có 13 người con, 8 công chúa, 5 hoàng tử và không có cháu nội và đời Nguyễn Phước cũng chấm dứt từ đây. Ngoài ra, trong cuộc đời của ông, Bảo Đại đã phạm vào luật tứ bất lập của nhà Nguyễn là tể tướng, trạng nguyên, hoàng hậu và thái tử với việc lập bà Lan làm hoàng hậu. Chúng ta còn thấy trong phòng tiếp khách thân tình có một bức hình của bà thứ phi Mộng Điệp quê ở Bắc Ninh, hiện bà đã trên 80 tuổi và cũng đang sống tại Pháp cùng con gái tên Phương Thảo, bà cũng có 2 người con trai là Bảo Hoàng và Bảo Sơn nhưng đã mất.
    Đặc biệt vị vua cuối cùng của triều Nguyễn rất có duyên với con số 13 mà theo quan niệm của người phương Tây đó là con số không may mắn, hơn ai hết ông cũng biết rõ điều này nhưng ông đã nói chịu sự bảo hộ của Pháp thì phải chịu sự đào thải của xã hội và ông cũng có một câu nói rất nổi tiếng là “thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ”. Cu thể là Vua sinh năm Quý Sửu tức 1913, lên ngôi năm 1926 tức là ông vừa 13 tuổi, là vị vua thứ 13 của triều Nguyễn, ông có 13 năm trị vì, và sinh được 13 con. Triều đai nhà Nguyễn có thể tính từ năm 1558 tức là đời chúa Nguyễn Hoàng đến đời vua Bảo Đại năm 1945 là tròn 387 năm tức là thiếu 13 năm nữa sẽ tròn 4 thế kỉ.
    KSạn Palace:
    - Nằm tại số 12 Trần Phú, tp. Đà Lạt, Khách sạn nằm ngay tại trung tâm Đà Lạt, phía trước là hồ Xuân Hương, chỉ cách trung tâm thành phố vài bước chân, 30 phút từ sân bay Đà Lạt và 5 phút từ các cửa hiệu, chợ và sân golf Dalat Palace Golf Club.
    - Khách sạn gồm 38 phòng và 5 phòng căn hộ. Tất cả các phòng đều được trang bị các tiện nghi, đồ dùng hạng nhất, nhiều phòng có lò sưởi. Các phòng gồm giường đơn hoặc King- size. Có phòng thông nhau. Khach sạn gồm nhà hàng, quán rượu, quầy bar với tiếng nhạc piano du dương, phòng họp, phòng tiệc, trung tâm thương vụ, bể bơi ngoài trời, ngay cạnh là sân tenis và Golf Club
    - Được quản lí bởi tập đoàn Accour Group, là tập đoàn sở hữu và điều hành các thương hiệu Novotel và Sofitel tại Việt Nam
    - Khách sạn được xây dựng năm 1922 và khôi phục năm 1995
    Dinh II:
    - Toạ lạc trên đồi thông đầu đường Trần Hưng Đạo cách trung tân thành phố khoảng 2km về hướng Đông Nam.
    - Ở đây phong cảnh hữu tình có thể nhìn thấy Hồ Xuân Hương và xa xa là đồi cừu. Dinh gồm 24 phòng được bày trí sang trọng, Decour còn được xây dựng gồm những đường hầm bí mật rất kiên cố. Dưới thời Ngô Đình Diệm trở thành nơi nghỉ mát của gia đình cố vấn Ngô Đình Nhu. Hiện nay là nhà khách của UBND tình Lâm Đồng.
    - Dinh này được xây dựng vào năm 1933-1937.
    Vườn hoa Minh Tâm:
    - Vườn hoa Minh Tâm tọa lạc tại địa chỉ 20A, đường Khe Sanh, phường 10, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
    - Nơi đây trước kia là khu biệt thự của người Pháp tên David xây dựng năm 1938, sau khi về Pháp bán lại cho ông Nghiệp Đoàn tức là cha của ông Minh Tâm, sau này giải phóng đã hiến tặng vườn hoa này cho nhà nước. Năm 1978-1979 nơi đây được dùng làm nhà khách của sở Nội Vụ, đến 1990 chuyển sang khai thác du lịch.
    - Vườn hoa Minh Tâm có diện tích nhỏ hơn vườn hoa thành phố, vào đây bạn sẽ được làm quen với một số hoa là biểu tượng của thành phố Đà Lạt như : hoa Mimôsa,…Phía phải có nhiều nhôi nhà rông, nhà sàn xây theo kiểu dân tộc tĩnh mịch yên bình thơ mộng thích hợp cho những đôi uyên ương nghĩ tuần trăng mật, ngoài Mimosa còn có Cẩm Tú Cầu, Phù Dung, Cẩm Chướng, Hồng,… và nhiều laòi Lan rừng.
     Truyền thuyết hoa Mimosa:ª
    Hoa Mimosa là một trong những loài hoa đặc trưng của xứ sở ngàn thông, hoa Mimosa được đưa vào nước ta để làm cây cảnh, có tên gọi khoa học là Acacia Podalyriaefolia Cunn Mimosaceae, có nguồn gốc từ Australia.
    Ngày xưa ở vùng đất Australia xinh đẹp nằm ngoài bờ biển khơi đầy nắng ấm có hai người yêu nhau say đắm. Chàng là con của một người chủ thuyền có thân hình vạm vỡ nước da rám nắng, thông minh. Nàng là con gái của một gia đình quý tộc rất yêu màu vàng. Thế nhưng gia đình đã ép gã nàng cho một công tước hoàng gia, dù phản đối nhiều lần nhưng không được nên nàng đành phải tuân theo lời cha mẹ. Chàng trai buồn phiền bỏ nghề chài lưới giã từ biển khơi một mình âm thầm lên rừng núi sống ẩn dật để quên mối tình tuyệt vọng.Ngảy kia một trận cháy rừng lớn bất ngờ sảy ra, chàng một mình lao vào biển lửa để cứu cánh rừng xanh và loài Kangoru và các loài thú khác. Nhưng ngọn lửa tàn ác đã lấy mất sinh mạng của chàng. Trong đêm tân hôn khi nghe tin người yêu bỏ biển lên ngàn cô dâu đã bỏ trốn đi tìm chàng nhưng khi gặp chàng thì nàng không còn tin vào mắt mình nữa, xác chàng giờ chỉ còn lại đống tro tàn. Quá đau đớn nàng đã ngã gục xuống và chết bên người yêu. Kể từ đó trên vùng núi cao thơ mộng của đất nước Úc kiều diễm một loìa cây thân mộc, lá màu xanh biếc lấp lánh ánh bạc, hoa vàng xanh ngát xuất hiện, người dân đặt cho cái tên triều mến là Mimosa.
    Chùa Tàu (thiên vương cổ sát)-Chùa Thiên Vương Cổ Sát tọa lạc trên đồi Rồng, tại số 385 đường Khe Sanh, cách trung tâm thành phố Đà Lạt 5km về hướng đông bắc.
    - Chùa Tàu hay chùa Phật Trầm có tên gọi đầy đủ là chùa Thiên Vương Cổ Sát. Chùa được Hòa thượng Thọ Dã thuộc Hội quán Triều Châu xây dựng năm 1958.
    - Chùa theo hệ phái Phật giáo Huê Nghiêm của Trung Quốc. gồm 3 gian nhà bằng gỗ lợp tôle. Năm 1989, ông Lê Văn Cảnh đã đứng ra trùng tu xây dựng. Lúc này ngôi nhà giữa đã được tháo dỡ nhằm tạo không gian thông thoáng cho hai tòa nhà cònlại.
    Ngay giữa Từ Tôn Bảo Điện có điện phật Di Lặc, cao chừng 2,5m và tượng phật Thích Ca cao 0,5m. Tại 4 góc Bảo Điện có tượng Tứ Đại Thiên Vương cao 2,6m được đúc bằng xi măng. Qua một khoảnh sân là đến Minh Quang Bảo Điện, tại đây thờ Tây Phương Tam Thánh gồm các tượng A Di Đà Phật ở giữa, Quan Thế Âm Bồ Tát bên trái và Đại Thế Chí Bồ Tát bên phải. Đây là những bức tượng quí được tạc từ gỗ trầm, cao 4m và nặng 1,5 tấn do Hòa thượng Thọ Dã thỉnh từ Hồng Kông năm 1958. Nơi đây cũng còn hai tượng Văn Thù và Phổ Hiền ở hai bên vách bảo điện. Phía sau chùa, nơi trước đây là cốc của nhà sư Thọ Giã, đã xây dựng Thích Ca Phật Đài cao chừng 10m thật đẹp giữa đồi thông lộng gió. Hiện chùa chỉ có bà Diệu Anh phụ trách hoa, đèn và đọc kinh.
    Cùng với các nhà thờ, chùa chiền trên địa bàn thành phố, chùa Thiên Vương Cổ Sát (chùa Tàu) là một ngôi chùa có rất nhiều nét kiến trúc cũng như trang trí nội thất in đậm phong cách Trung Quốc. Ðiều đó càng chứng tỏ rằng, mặc dù các hạng mục kiến trúc ở Lâm Ðồng không có khác biệt lớn về phong cách so với kiến trúc cùng loại ở các vùng dân cư khác, nhưng vẫn có thể nhận ra những nét rất riêng của Ðà Lạt ở các công trình kiến trúc này. Trước hết, các kiến trúc này đều chiếm lĩnh những khoảng không gian rộng rãi, cảnh quan khoáng đãng và thường tọa lạc trên những đồi cao, chứ không chen chúc nhau trong những khoảng không gian chật hẹp ở các vùng đô thị.
    Dinh I:-Nằm cách trung tâm thành phố khoảng 4km về phía Đông Nam
    - Dinh I có kiến trúc độc đáo mang dáng vẻ cổ kính uy nghiêm mà tao nhã khiến ai một lần đến đây đều nhớ mãi.
    - Nguyên đây là cơ ngơi của một người Pháp được Bảo Đại mua lại từ tháng 8/1949 và cho xây dựng thành tổng hành dinh của chính phủ hoàng triều Cương Thổ. Đến thời Ngô Đình Diệm thì được gia cố thành một lâu đài tráng lệ và kiên cố.
    Chùa Linh Phước :
    - Chùa Linh Phước tọa lạc tại số 120 Tự Phước, cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 8 km về hướng Đông Nam.
    - Chùa được khởi công xây dựng từ 1949 đến 1952 mới hoàn thành. Năm 1990 chùa trùng tu lại toàn bộ, xây dựng cổng tam quan ngay mặt đường để khách dễ nhận biết, vì thực tế chùa nằm sâu trong hẻm cách mặt đường chừng 80m.
    - Bước vào sân chùa, du khách sẽ thấy choáng ngợp với tiền đường bảo tháp cao 27m được trang trí bằng những hình rồng độc đáo. Gian chánh điện dài 33m, rộng 22m với trần nhà được đỡ bằng 12 cột rồng khảm mảnh sành. Tại điện thờ, tượng Phật Thích Ca uy nghi trên tòa sen cao 4,9m được tiếp vàng rực rỡ.
    Bên phải chánh đường là Tổ đường, còn bên trái sau bức Cửu long môn uốn mình chầu Phật là Long Hoa viên với hồ nước và hòn giả sơn, cây cảnh và vườn phong lan. Một hình rồng dài 49m uốn quanh hồ nước với đầu rồng che phủ tượng đài Di Lặc dựa theo tích Pháp hội Long Hoa, toàn thân rồng được khảm tạo vây bằng mảnh của 12.000 vỏ chai bia các loại. Ngày 08-11-1999 (tức 01-10 năm Kỷ Mão), chùa đã đúc thành công đại hồng chung có chiều cao 4,3m, miệng rộng 2,2m và nặng chừng 10 tấn.
    Trụ trì chùa từ 1985 đến nay là Đại đức Thích Tâm Vị
    Đà Lạt – TP Hồ Chí Minh
    Thác Liên Khương:
    - Theo quốc lộ 20 đến ngã ba Liên Khương.
    - Thượng nguồn thác là một con suối nhỏ nền đá rộng 60m xung quanh là ruộng lúa bậc thang, phong cảnh hữu tình, thác Liên Khương với chiều rộng 30-50m chảy xuôi về phía Thuận Nghĩa.
    - Đọc theo tiếng K’ho là liên khang có nghĩ là tổ ong. Trong một tài liệu thì tên này gắn với truyền thuyết về cuộc giành đất khá gian nan cua dân tộc bản địa Liên Khàng vốn là khu rừng nguyên sinh có con suối thơ mộng chảy qua, trên cây có lắm quả ngọt dành cho người và khỉ, dưới suối có nhiều cá đến nổi dân làng ăn không hết. Vì lý do đó lũ kiến vàng từ rừng núi xa xôi kéo về cư ngụ, chúng sinh sôi nảy nở ăn hất cá dướisuối, ăn hết trái trên cây khiến cho dân làng không còn cái ăn, dân làng cầu cứu thần lửa nhưng thần lửa càng đốt bao nhiêu thì kiến vàng càng sinh sôi bấy nhiêu, do vậy thần Mưa và thần Sấm làm cho trời mưa lạt kéo về, nước Đa nhim như một dòng lũ cuốn trôi lũ kiến vàng từ đó dân làng sống ấm no hạnh phúc. Dòng sông Đa Nhim chảy qua huyện Đơn Dương, xuôi về Liên Khương gặp vết gãy địa chất dòng nước đổ xuống tạo thành thác ở độ cao 50m.
    Sân bay Liên Khương:
    - Cách thành phố Đà Lạt khoảng 30km
    - Là một sân bay dân sự, lúc đầu sân bay này dành phục vụ cho mục đích quân sự, sân bay này là một trong những cựu chiến binh trong hàng ngũ các sân bay Việt Nam.
    - Với thời gian tồn tại gần 73 năm tức thời vàng son của máy bay cánh quát đường hạ cánh lúc bấy giờ bằng đất nên sở dĩ người Pháp cho xây dựng sân bay này vì họ coi Đà Lạt là một trung tâm du lịch, một “thủ đô mùa hè” dành cho quan chức người Pháp làm việc ở Đông Dương.
    - Sân bay được xây dựng vào năm 1933 tức cách đây 73 năm. Sau năm 1945 quân đội Nhật đảo chính Pháp Nhật nối dài đường băng cho các loại máy bay hiện đại hơn hạ cánh. Năm 1956 nhà ga mới thực sự ra đời, đến 1972 đường băng mới được phủ nhựa hoàn toàn dài 1480m và rộng 40m sử dụng để đáp 35 tấn trở xuống. Đến 1992 tuyến bay Sài Gòn- Đà Lạt mới được khôi phục đều đặn. Hiện nay, sân bay Liên Khương có đầy d8ủ các chuyến bay Sài Gòn- Đà Lạt trong suố tuần.
    Thác Gougha:-Trên đường 20 từ Đà Lạt đi thành phố Hồ Chí Minh cách trung tâm Đà Lạt 37km thuộc địa bàn huyện Đức Trọng, du khách rẽ trái theo con đường tráng nhựa đi xóm Chung – Phú Hội, qua chừng 500m sẽ đến được thác Gougah mà từ xa đã nghe tiếng thác đổ ầm ào làm vang động cả núi rừng.
    - Gougah trong tiếng K’Ho có nghĩa là “bờ sông giống cái củi lồng”. Theo dã sử Chăm, Gougah vốn xưa là một vực sâu cất giấu kho tàng của Hoàng Hậu Nai Biút, vốn người Yuan (Việt). Cũng trong một truyện dã sử khác thì Nai Biút chính là Huyền Trân Công Chúa, còn Vua Chăm là Chế Mân.
    - Thác Gougah, hay còn gọi Ổ Gà là một thác đẹp hùng vĩ, với khối lượng nước đổ xuống từ độ cao khoảng 17m phản chiếu ánh mặt trời tạo thành nhiều sắc màu rực rỡ. Nước nơi đây được phân đôi thành 2 nhánh theo chiều dọc, một bên là dòng thác đậm màu đất đỏ im lìm chảy, một bên bắn tung tóe bọt nước trắng xóa.
    Có người giàu tưởng tượng đã thấy 2 màu nước này giống như lòng trắng và lòng đỏ của một qủa trứng gà nên đã nôm na gọi là thác Ổ Gà. Thực ra chữ “Ổ Gà” chỉ là biến âm của chữ Gougah mà ra
    Thác Bongour:
    - từ Đà Lạt xuống phía Nam, theo quốc lộ 20 khoảng 50km rồi rẽ phải đi khoảng 7km nữa là tới thác, thuộc xã Tân Hội, huyện Đức Trọng.
    - nhiều nhà nghiên cứu dân tộc học quan niệm 2 tiếng Pongour của người K’ho có ý nghĩa khác hơn và khẳng định Pon:4, Gou là sừng,vì theo truyền thuyết nơi đây có liên quan đến 4 con tê giác 1 sừng: chuyện kể ngày xưa vùng đất Phú Hội- Tân Hội- Tân Hà ngày nay do một nữ chúa người K’ho là nàng Kanai thống lĩnh. Là một nữ tù trưởng xinh đẹp, vừa trẻ trung, vừa khoẻ mạnh hơn các dũng sĩ K’ho Churu ở trong vùng. Kanai có tài chinh phục thú rừng ,nhất là đối với những con tê giác, nàng có 4 con Tê Giác to lớn khác thường dung để phá rừng, đồi núi và bảo vệ làng. Người Chăm ở vương quốc Panduranga thường lên tấn công bắt dân địa phương về làm nô lệ, vì dân làng bị bắt quá nhiều, Kanai kêu gọi các bộ tộc nổi dậy,chống lại,nàng cưỡi tê Giác dẫn đầu đoàn quân tràn xuống Panduranga đánh phá, chiếm được 4 thành của n gười Chăm, giải cứu được hàng trăm dân K’ho bị bắt. Nhưng một số người K’ho, Mạ khác lại đem long đi theo địch . Trước cảnh tình này kanai đã thẳng tay trừng trị những kẻ phản bội.Sau đó nàng cùng 4 con Tê Giác trở về làng ngày đêm san núi ủi đồi dựng vương quốc cho dân tộc của mình và bongour là dấu vết của 4 con tê giác cắm sừng xuống rừng núi Lâm Đồng.
    Thuỷ điện Đại Ninh

    Vườn Cà phê Chè
    :Cà phê là tên một chi thực vật thuộc họ Thiến thảo (Rubiaceae). Họ này bao gồm khoảng 500 chi khác nhau với trên 6.000 loài cây nhiệt đới.
    Chi cà phê bao gồm nhiều loài cây lâu năm khác nhau. Tuy nhiên, không phải loài nào cũng chứa caffein trong hạt, một số loài khác xa với những cây cà phê ta thường thấy. Chỉ có hai loài cà phê có ý nghĩa kinh tế. Loài thứ nhất có tên thông thường trong tiếng Việt là cà phê chè (tên khoa học: Coffea arabica), đại diện cho khoảng 61% các sản phẩm cà phê trên thế giới. Loài thứ hai là cà phê vối (tên khoa học: Coffea canephora hay Coffea robusta), chiếm gần 39% các sản phẩm cà phê. Ngoài ra còn có Coffea liberica và Coffea excelsa (ở Việt Nam gọi là cà phê mít) với sản lượng không đáng kể. Cây cà phê chè có thể cao tới 6 m, cà phê vối tới 10 m. Tuy nhiên ở các trang trại cà phê người ta thường phải cắt tỉa để giữ được độ cao từ 2-4 m, thuận lợi cho việc thu hoạch. Cây cà phê có cành thon dài, lá cuống ngắn, xanh đậm, hình oval. Mặt trên lá có màu xanh thẫm, mặt dưới xanh nhạt hơn. Hoa cà phê màu trắng, có năm cánh, thường mọc thành chùm đôi hoặc chùm ba. Màu hoa và hương hoa dễ làm ta liên tưởng tới hoa nhài. Hoa chỉ nở trong vòng 3 đến 4 ngày và thời gian thụ phấn chỉ vài ba tiếng. Một cây cà phê trưởng thành có từ 30.000 đến 40.000 bông hoa.
    Ở Việt Nam, nước hiện đứng đầu thế giới về sản xuất cà phê vối (robusta), niên vụ được tính từ tháng 10 đến hết tháng 9 năm sau (theo dương lịch). Thời gian thu hoạch tại các tỉnh Tây Nguyên -- là nơi sản xuất khoảng 80 % tổng sản lượng của Việt Nam -- thường kéo dài trong 4 tháng, tính từ cuối tháng 10 đến hết tháng 1.
    Cây chè tại Việt Nam đến giữa thể kỷ 20 được giồng khắp miền quê ngòai Bắc và Trung. Loại này thân mọc cao, lá lớn và dầy, có thể hái về vò nát để nấu uống tươi gọi là chè xanh.Loại thứ hai là chè đồn điền, cây thấp, lá nhỏ, thường phải ủ rồi mới nấu nước. Hạng nhất là chè búp, có khi gọi văn vẻ là "chè bạch mao" hay "chè bạch tuyết" nếu búp có lông tơ trắng.Hạng nhì là hai lá chè kế. Lá thứ tư, thứ năm là chè hạng ba. Những lá dưới nữa thì dùng làm chè mạn, rẻ hơn cả.Tính đến năm 1960, Việt Nam xuất cảng 2.000 tấn chè mỗi năm.
    Thác Bốp la:
    - Thác Bopla hay còn gọi là Thác Ngà Voi nằm trên địa phận xã Liên Đầm, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, cách thành phố Đà Lạt hơn 8km và cách thị xã Bảo Lộc 25km, thác rất cao và mang đậm vẻ hoang sơ.
    - Nằm cách đường quốc lộ 20 chỉ khoảng 300m đường vòng, thác Bobla đọc theo tiếng K’ho là Pố Pla (nghĩa là đầu ngà voi). Theo lời kể của đồng bào dân tộc bản xứ thì vào thời xa xưa, xưa lắm - khi người Chàm cai trị Di Linh ngày nay, họ bắt người dân bản xứ phải đóng thuế bằng những sản vật của núi rừng như da thú, sừng tê giác, hươu nai… và đặc biệt là ngà voi. Với ngà voi thì phải chọn cái to và người tù trưởng của bộ tộc nơi con thác đã tìm được một cặp ngà voi cao quá đầu người, ngựa phi qua cũng không được. Từ đó, vua Chàm thích quá nên đặt cho nơi này là Pố Pla và dòng thác cũng mang tên là PốPla.
    Còn cái tên Liên Đầm là do đọc trại của hai chữ Lang Dăm - một chàng trai tài giỏi đã cứu giúp dân làng Liang Jrăk Mur khỏi giặc Chàm. Trong một lần quân Chàm tiến đánh buôn làng, cả làng đều sợ hãi bỏ chạy. Duy chỉ có Liang Dăm là không chạy, anh bẻ một cành trâm bên bờ thác và cầm cành trâm hướng về phía quân thù.
    Lạ thay, khi cành trâm gãy đến đây thì quân Chàm tan vỡ, tự đâm chém nhau. Giặc tan rồi, Liang lặng lẽ đi về phía đông dòng thác rồi biến mất không đợi dân làng kéo đến tạ ơn. Từ đó để ghi nhớ công ơn, dân làng đã đặt tên buôn là Liang Dăm và sau này đã bị đọc trại, phiên âm theo tiếng Kinh là Liên Đầm.
    Khi chỉ còn cách thác vài chục mét, du khách sẽ nghe thấy tiếng thác đổ và càng gần thác du khách càng cảm nhận được vẻ hoang sơ của nó. Thác nằm lọt thỏm giữa hai ngọn đồi có hình voi phục và giống như một hang động với cảnh quan nhà cửa, những trang trại cà phê ở xung quanh. Dưới thác là một cái hồ nhỏ do nước chảy lâu ngày tạo thành. Cạnh hồ có những tảng đá lớn trông như những bàn đá của trời và có những cây cổ thụ cao to che mát cả một khoảng trời. Cũng giống như thác Đambri ở thị xã Bảo Lộc, thác Ngà voi rất cao.
    Từ Tết Canh Thìn 2000, thác được đưa vào quản lý và khai thác bởi công ty Dịch vụ và du lịch Đà Lạt.
    Thuỷ điện Hàm Thuận Đa Mi:
    - Thuỷ điện này được xây dựng vào ngày 18/02/1997 đến 16/05/1997
    - Tổng khởi công xây dựng thuỷ điện Hàm Thuận Đa Mi với tổng công suất 475 MW, trong đó Hàm Thuận 300MW, Đa Mi 175 MW, sản lượng điện trung bình năm là 1,6tỉ kwh, với tổng số vốn là 70 tỉ yên Nhật vốn vay ODA 85%, hai nhà máy cách nhau 10km, nước xả của Hàm Thuận là nguồn nứơc cung cấp cho Đa Mi
    - Hệ thống thuỷ điện này nằm trên thượng nguồn sông La Ngà.
    Trà Tâm Châu:
    Uống trà là một nét đặc trưng đậm đà bản sắc trong văn hóa ẩm thực của nhân loại. Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có nhũng cách thể hiện nét văn hóa đặc thù của dân tộc mình , vì thế mà chuyện “ẩm” cũng được coi là nghệ thuật : nghệ thuật pha trà, nghệ thuật độc ẩm , đối ẩm . Đất nước Nhật Bản với nghệ thuật Trà Đạo đã nỗi tiếng khắp thế giới , không những chất liệu trà được bào chế và bảo quản đúng mức mà khi thưởng thức trà người ta cảm nhận được néttinh tế cái hồn của đất nước và con người Nhật Bản. Khi xưa thi sĩ Tản Đà nghiền trà đến mức phải đi hành khất khắp thiên hạ chỉ để xin trà và tìm tri âm đối ẩm.
    Nắm bắt được thị hiếu và nét văn hóa đặc sắc đó , năm 1993 công ty trà và cà phê Tâm Châu đã được xây dựng trên cao nguyên Lâm Đồng , giữa một vùng nguyên liệu dồi dào và đầy tiềm năng , lần đầu tiên tại Việt Nam có một trung tâm trà cà phê , nơi quy tụ các Danh trà và cà phê của Bảo Lộc , cũng như của mọi miền đất nước , cùng với một số sản phẩm trà và cà phê nước ngoài. Đây là nơi duy nhất tại Bảo Lộc mà khách hàng có thể tìm thấy các lọai trà và cà phê ưa thích
     Trà Ô Lông:ª
    Trà Olong có nguồn gốc từ từ vùng núi Long Tĩnh , thuộc tỉnh phúc kiến Trung Quốc, sau đó được du nhập và phát triển cực thịnh ở Đài Loan rồi trở nên nỗi tiếng khắp thế giới . Giống trà cao cấp này chỉ phù hợp với vùng khí hậu ôn đới ở những vùng đất có độ cao nhiều so với biển, đồng thời đòi hỏi một quy trình công nghệ sạch từ khâu chăm sóc đến khâu chế biến. Khí hậu thổ nhưỡng, giống cây trồng và kỉ thuật chế biến là nền tảng để đạt được thành phần duợc chất và hương vị của trà.Những kết quả nghiên cứu mới nhất về tác dụng của trà olong do các trường đại học ở Nhật Bản (ĐH Osaka, ĐH Dược Shiga) phát hiện:
    _ trà Olong cũng có tác dụng như ở trà xanh : giúp phònh chốnh ung thư, tim mạch , viêm khớp sâu răng .
    _ Trà Olong giúp gảim hẳn nguy cơ mắc bênh xơ cứng động mạch , tiểu đường và nhất là béo phì.
    _Trà Olong làm chậm quá trình lão hóa da , ngăn ngừa sự hình thành của tàn nhang và những nếp nhăn.
    Sở dĩ trà Olong có tác dụng như vậy là nhờ nguồn Polyphenol đã tăng cường hoạt động của enzym SOD ( supperoxide dismutate) giúp ngăn ngừa sự hình thành và lọai bỏ các yếu tố gây bệnh do cơ thể thường xuyên phải kháng lại tác hại của tia cực tím , khói thuốc lá , thực phẩm chứa nhiều chất phụ gia , stress hay vận động quá mức . Bên cạnh đó , Polyphenol còn có tác dụng thúc đẩy sự chuyển hóa năng lượng của mỡ ( nhờ tăng cường hoạt động của enzym phân giải triglyceride), từ đó giúp giảm cân và chống được bệnh béo phì.
    Thác Dambri:-theo quốc lộ 20 du khách đến thác này, cách thị xã Bão Lộc khoảng 18km về phía Tây.
    - Thác cao 90m, kỳ vĩ, tiếng nước đổ lan rộng mấy km. Toàn cảnh thác này vừa kỹ vĩ vừa mỹ miều, trên thượng nguồn là rừng cây lá rậm rạp,xanh mát, dòng nước trong, trữ tình, dưới chân thác là vực sâu nhưng dòng chảy ngàn năm tạo hình uốn lượn kỳ thú. Sau hơn một năm triển khai, khu du lịch rộng hơn 300ha đã có được một số cơ sở vật chất như nhà hàng, quán nước, quầy lưu niệm… Bên cạnh đó, các dịch vụ phục vụ nhu cầu vui chơi, thư giãn cũng được chú ý đầu tư như thang máy xuống tham quan thác, quán cà phê dưới chân thác, đạp vịt, xe đạp đôi, bàn bida… Nếu muốn có những giây phút lắng mình, trở về với những trò chơi dân gian, du khách có thể chơi đu quay, xích đu, đi cầu khỉ không cần tay vịn… Khu du lịch Dambri cũng tập trung được một đoàn xiếc thú biểu diễn ở khu vực nuôi thả thú tự do phục vụ các em thiếu nhi. Ngoài thác chính là Dambri, khu du lịch còn ngọn thác Sasabrah ở phía trong và làng đồng bào dân tộc Mạ
    - tên Damri theo ngôn ngữ K’ho có nghĩa là chờ đợi bắt nguồn từ 2 tên kdam và h’ri của một đôi trai gái trong cuộc tình chung thuỷ. Truyền thuyết kể lại rằng từ rất xa xưa ngọn thác này chỉ là dòng suối nhỏ nơi tắm thường ngày của nàng Hri xinh đẹp. Một hôm, chàng thanh niên Kdam đi săn tới đây tình cờ thấy nàng đang ở dưới suối, chàng bị vẻ đẹp của nàng làm cho mê mẫn. Sau đó, hai người yêu nhau rồi tiến tới hôn nhân. Rồi một ngày nọ chàng Kdam đi săn trong rừng quá lâu, nàng Hri ở nhà chờ đợi mà chẳng thấy chồng về. Ngày lại ngày Kdam vẫn bặt tin, quá thương nhớ chồng Hri khóc mãi đến nỗi nước mắt tuôn trào lai láng hoà cùng nước suối tạo thành dòng thác lớn. Sau chuyến đi săn lâu ngày, Kdam trở về nghe biết chuyện vợ ở nhà chàng đến bên bờ suối nhảy từ cao nhảy xuống đáy thác tự vẫn theo vợ, giữ trọn lời thề chung thuỷ, thân xác biến thành con sư tử. Ngày nay khi du khách đến bên ngọn thác này nhìn thấy được tảng đá có hình dạng sư tử ở dưới chân thác, đó là chàng Kdam vẫn ngồi phục khóc thương cho người vợ yêu quý.Do đó mà thác có tên là Damri
    Đèo Bảo Lộc
    Cây Kơnia:-Cây Kơnia hay còn gọi là Cốc, Cầy là một loài cây thân gỗ lớn rừng tự nhiên, cao 15-30m, đường kính 40-60 cm, tên khoa học là: Irvingia malayana, thuộc họ Ixonan.
    - Là cây thường xanh có tán hình trứng, đẹp, rậm rạp có màu lục sẫm đặc trưng nên rất dễ nhận biết từ xa ( Tuy nhiên hình như cũng còn có một loại khác tán thưa, người ta gọi đó là Kơ Nia giống cái, có số lượng ít hơn nhiều so với loại có nét đặc trưng trên). Loài cây này mang ý nghĩa tâm linh rất lớn đối với người đồng bào dân tộc thiểu số, họ coi chúng là nơi trú ngụ của thần thánh, của vong linh những người đã khuất, vì vậy rất ít khi họ đụng chạm đến chúng, chặt phá chúng. Mặt khác do tính chất cơ lý rất đặc biệt của loài cây này là cho gỗ rất cứng, khi đã khô rất khó cưa xẻ nhưng lại cực kì dễ mối mọt
    KDL madagui:- Khu du lịch nằm tại thị trấn Ma Đa Gui, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.
    - Đây là điểm du lịch dã ngoại khá hấp dẫn dành cho giới trẻ yêu thiên nhiên, thích mạo hiểm.
    Khu du lịch có tổng diện tích khoảng 600ha, bao gồm nhiều khu vực như: khu thám hiểm rừng, khu cắm trại – sinh hoạt ngoại khóa, khu dịch vụ - nhà hàng nghỉ, khu vui chơi giải trí, khu công viên. Cảnh quan Mađagui được thiết kế hài hòa giữa tự nhiên và nhân tạo. Có suối Mađagui chảy quanh, cầu treo vắt ngang qua suối. Hoa cảnh được trồng tỉa, đan xen với cây rừng rất đẹp.
    Đến với Mađagui, du khách được đắm mình trong những dòng suối mát lành, được trở về với thiên nhiên hoang dã, tamh quên đi bao lo toan vất vả của cuộc sống đời thường. Không những như thế. Du khách cảm thấy ngạc nhiên và thích thú khi thám hiểm quần thể hang động được kết nối cực kỳ phức tạp với những hòn đá khổng lồ, nhiều hình thù kỳ lạ và được chồng lên nhau như: hang Thầy, hang Cô, hang Thần Núi, hang Tử Thần, hang Dơi
    Không những phát triển các tuyến điểm tham quan về rừng, tận dụng cảnh quan thiên nhiên và diện tích rừng hiện có, khu du lịch rừng Mađagui còn phát triển thêm loại hình giáo dục trực quan về môi trường sinh thái với công trình khu rừng nhiệt đới Mađagui. Đây sẽ là nơi học sinh-sinh viên có thể khám phá, tìm hiểu về thực vật, nơi thực tập khá da dạng về sinh học, ông tập và tiếp cận thực tế với những gì đã học, là điểm tham quan bổ ích, hấp dẫn dành cho các tour giáo dục môi trường.

    BÀI THUYẾT MINH TUYẾN ĐIỂM ĐÀ LẠT