trang Blog

tiendatguideTham gia: 20/11/2006
  • Bài thuyết minh: Tuyến TPHCM-Nha Trang
    Du Lịch
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Bài thuyết minh: Tuyến TPHCM-Nha Trang

    Thành phố Hồ Chí Minh
    Diện tích: 2.098,7m2
    Dân số (2006): 6.105.800 người
    Các quận: 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,Tân Bình, Tân Phú, Bình Thạnh
    Phú Nhuận, Thủ Đức, Gò Vấp, Bình Tân .
    Các huyện: Nhà bè, cần Giờ, Hóc Môn, Củ Chi và Huyện Bình Chánh.
    Dân tộc :Việt (Kinh), Hoa, Chăm, Khmer…
    Thành Phố Hồ Chí Minh có tọa độ địa lý 10o2213 – 11o2217 vĩ độ Bắc và 106o0125 – 107o0110 kinh độ Đông. Trung tâm Thành Phố cách Thủ Đô Hà Nội 1.730km (đường bộ) về phía Bắc và cách bờ biển Đông 50km đường chim bay. Thành Phố có 15km bờ biển.
    Thổ nhưỡng: đất của Thành Phố chủ yếu là phù sa cũ và phù sa mới tạo lập nên.
    Sông ngòi: trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh có hàng trăm sông ngòi, kênh rạch nhưng sông lớn không nhiều, lớn nhất là sông Sài Gòn mà đoạn chảy qua Thành Phố dài 106 km. Hệ thống đường sông từ Thành Phố Hồ Chí Minh lên miền Đông và xuống các tỉnh miền Tây, sang Cam-pu-chia đều thuận lợi.
    Thành Phố Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông của cả miền Nam bao gồm đường sắt, đường bộ, đường thủy và đường không. Từ Thành Phố đi hà Nội có quốc lộ 1, đường sắt thống nhất và quốc lộ 13 xuyên Đông dương, Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất cách trung tâm Thành Phố 7km, là sân bay lớn nhất ở Việt Nam với hàng chục đường bay quốc tế.
    Khí hậu hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa bình quân năm 1.979mm. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm 27,55oC, không có mùa đông. Hoạt động du lịch thuận lợi suốt 12 tháng.
    Khu vực hành chính toàn Thành Phố có 24 quận, huyện. Nội thành có các quận 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,Tân Bình, Tân Phú, Bình Thạnh,Phú Nhuận, Thủ Đức, Gò Vấp, Bình Tân .Ngoại thành có các huyện Nhà bè, cần Giờ, Hóc Môn, Củ Chi và Bình Chánh. Toàn Thành Phố có 259 phường, 58 xã, và 5 trị trấn.
    Vòng xoay Hàng Xanh
    Được xây dựng vào ngày 17 tháng 9 năm 1994 và hoàn thành vào ngày 30 tháng 4 năm 1995 do công ty Huy Hoàng làm chủ xây dựng, với kinh phí lên đến 15,6 tỷ đồng. Nếu tính cả tiền đền bù giả tỏa thì kinh phí lên tới 63 tỷ đồng. Mục đích xây dựng nút giao thông Hàng Xanh là để giải quyết tình trạng kẹt xe thường xuyên trong thời gian trước. Cưả giao thông Hàng Xanh là cửa ngõ quan trọng của phía Bắc thành phố.
    Đường Điện Biên Phủ-Chiến dịch Điện Biên Phủ
    Điện Biên Phủ là tên của một địa danh nằm ở Tây Bắc nước ta, nơi diễn ra chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 làm chấn động địa cầu. Trận Điện Biên Phủ là trận đánh lớn nhất trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất diễn ra tại lòng chảo Mường Thanh, châu Điện Biên Phủ (nay là thành phố Điện Biên Phủ), tỉnh Lai Châu (nay tách thành tỉnh Điện Biên) giữa quân Pháp và quân ta. Đây là chiến thắng quân sự lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945- 1954) của Việt Nam.
    Trên phương diện quốc tế trận này có một ý nghĩa rất lớn: lần đầu tiên quân đội của một nước thuộc địa châu Á đánh thắng bằng quân sự một quân đội của một cường quốc châu Âu. Trận Điện Biên Phủ đã đánh bại ý chí duy trì thuộc địa Đông Dương của Pháp và buộc nước này ra khỏi Đông Dương.
    Diễn biến
    Trận đánh diễn ra trong 55 ngày đêm vì quân ta có khó khăn trong hậu cần nên không thể tiến công liên tục mà chia thành các đợt tiến công. Sau mỗi đợt lại tổ chức lại quân số, bổ sung hậu cần.
    Đợt 1: từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 17 tháng 3.
    Quân Việt Minh tiêu diệt phân khu Bắc của tập đoàn cứ điểm. Chiều ngày 13 tháng 3 năm 1954 trận đánh bắt đầu. Quân ta sau đợt bắn pháo dữ dội, tiến công một trong các cứ điểm kiên cố nhất là cụm cứ điểm Him Lam (Béatrice) và sau một đêm đã chiếm xong cụm cứ điểm này và sau đó đến ngày 17 tháng 3 ta lần lượt mỗi ngày diệt một cứ điểm đã tiêu diệt lần lượt đồi Độc Lập (Gabrielle), Bản Kéo (Anne Marie 1, 2) và toàn bộ phân khu Bắc.
    Ngay từ những ngày đầu (từ ngày 23 tháng 3) pháo binh ta đã loại bỏ khả năng cất, hạ cánh của sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm từ đó trở đi các máy bay Pháp chỉ còn tiếp tế được cho tập đoàn cứ điểm bằng cách thả dù điều này cho thấy cầu hàng không mà bộ chỉ huy Pháp đặt nhiều kỳ vọng thực tế là rất yếu kém trước cách đánh áp sát của đối phương.
    Ngay từ những ngày đầu của đợt 1 quân Pháp đã nhận thức rõ được những điểm yếu chết người của mình và tương lai thất bại rõ ràng nhưng họ vẫn tăng cường cầm cự Điện Biên Phủ đến mức tối đa vì hy vọng khi mùa mưa đến quân ta không thể giải quyết vấn đề hậu cần và sẽ bỏ cuộc, Điện Biên Phủ sẽ tránh được đầu hàng. Sau đó khi mùa mưa không giúp được, bộ chỉ huy Pháp hy vọng cầm cự càng lâu càng tốt để Hội nghị Genève sẽ nhóm họp vào đầu tháng 7, sẽ có ngừng bắn trước khi tập đoàn sụp đổ. Nhưng hy vọng này cũng không có được, Điện Biên Phủ đầu hàng một ngày trước khi nhóm họp Hội nghị Genève về vấn đề Đông Dương.
    Đợt 2: từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 26 tháng 4.
    Quân ta đánh phân khu trung tâm đặc biệt là dãy điểm cao quan trọng phía Đông, vây lấn bóp nghẹt tập đoàn cứ điểm. Đây là đợt tiến công vào phân khu trung tâm chủ yếu nhằm chiếm dẫy đồi phía đông khống chế cánh đồng Mường Thanh (các cụm Dominique và Eliane). Tại đây hai bên đánh nhau giành đi giật lại các mỏm đồi có tính sống còn đối với tập đoàn cứ điểm, đặc biệt là các đồi A1 (Eliane 2), C1 (Eliane 1), D1 (Dominique 2), thương vong của hai bên rất lớn. Phía Pháp dựa vào hầm ngầm, lô cốt để cố thủ và đưa quân từ các điểm khác dùng xe tăng và lính dù, lính lê dương (légionnaire) để phản kích, các cứ điểm này vì có tính sống còn với quân Pháp đã được quân phòng ngự chiến đấu ngoan cường, quyết liệt phản kích liên tục để giữ vững và đã chống cự đến ngày cuối cùng của tập đoàn cứ điểm.
    Để chống lại các cứ điểm phòng ngự kiên cố của quân Pháp, quân ta đã áp dụng chiến thuật “vây lấn” rất có hiệu quả bằng hệ thống chiến hào họ đào các giao thông hào dần dần bao vây và siết chặt, tiếp cận dần vào các vị trí của Pháp. Các chiến hào này tránh cho quân tiến công thương vong vì pháo binh và không quân địch và vào sát được vị trí của quân địch, làm vị trí bàn đạp tấn công rất thuận lợi. Quân Pháp ngay từ ngày đầu tiên của trận đánh đã nhận thức rất rõ sự nguy hiểm của cách đánh này mà không có phương sách nào để khắc chế. Quân ta vây lấn đào hào cắt ngang cả sân bay, đào hào đến tận chân lô cốt cố thủ, khu vực kiểm soát của quân Pháp bị thu hẹp đến mức không thể hẹp hơn.
    Cuộc chiến đấu tại Điện Biên Phủ càng ngày càng yếu thế cho phía Pháp. Quân Pháp chỉ còn trông đợi vào dù tiếp tế nhưng phạm vi chiếm đóng bị thu hẹp và máy bay bị hệ thống phòng không của ta đánh mạnh nên dù tiếp tế và cả lính nhảy dù phần nhiều rơi sang phía đối phương, mùa mưa lại tới hầm hố của quân phòng thủ trở nên lầy lội thương binh không di tản đi được, lính chết không có chỗ chôn, bệnh tật, đường ruột phát sinh, đối phương lại áp sát bắn tỉa, tiếp tế thiếu mà việc lấy được dù cũng vô cùng khó khăn đi kèm với thương vong: quân Pháp thường phải đói khát đến đêm mới dám ra lấy dù. Tình cảnh của quân Pháp ngày càng bi đát và đi đến cùng cực. Điện Biên Phủ cho thấy khi bị bao vây cô lập thì một tiền đồn dù mạnh đến đâu rồi cũng sẽ bị tiêu diệt.
    Đợt 3: từ ngày 1 tháng 5 đến ngày 7 tháng 5.
    Việt Minh đánh dứt điểm dãy đồi phía Đông và tổng tiến công tiêu diệt các vị trí còn lại. Sau khi lực lượng của Pháp đã trở nên tuyệt vọng, suy kiệt, bổ sung bằng dù không còn đủ để duy trì sức chiến đấu, và quân Pháp ở Bắc bộ cũng đã hết lính dù và lính lê dương (légionnaire) có thể ném tiếp xuống Điện Biên Phủ, quân ta tổ chức đợt đánh dứt điểm các quả đồi phía Đông. Để chống lại hệ thống hầm ngầm cố thủ không thể xung phong đánh chiếm được trên đồi A1 có vị trí quyết định, bộ đội công binh của ta đã đào một hầm ngầm phía dưới và cho nổ 1 tấn thuốc nổ hất tung hệ thống hầm ngầm cố thủ cuối cùng. Đến sáng ngày 7 tháng 5 các quả đồi phía Đông này đã thất thủ hoàn toàn mà phía Pháp không còn lực lượng có khả năng chiếm lại, quân ta tổng tiến công trên khắp các mặt trận quân Pháp đã sức tàn lực kiệt quyết định đầu hàng, ta bắt Thiếu tướng chỉ huy Christian de Castries và toàn bộ ban tham mưu tập đoàn cứ điểm.
    Cụm phân khu Nam Hồng Cúm mưu toan chạy sang Lào nhưng bị quân ta đuổi theo bắt tất cả. Gần 10.000 quân Pháp còn lại tại Điện Biên Phủ đã bị bắt làm tù binh.
    Kết quả trận đánh
    Toàn bộ quân Pháp ở Điện Biên Phủ bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh. Thiệt hại về phía Pháp là 1.747 người chết, 5.240 người bị thương, 1.729 người mất tích và 11.721 người bị bắt làm tù binh. Ngoài ra còn có 2 phi công Mỹ chết và 1 phi công bị thương.
    Thiệt hại về phía quân ta là 4.020 người chết, 9.118 người bị thương và 792 người mất tích.
    Một ngày sau khi Pháp để Điện Biên Phủ thất thủ, ngày 8 tháng 5 năm 1954, Hội nghị Genève bắt đầu bàn về vấn đề Đông Dương. Sau hội nghị này, Pháp công nhận quyền tự do, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các nước Đông Dương trong đó có Việt Nam, chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương.
    Khu vực Văn Thánh
    Có nhiều tên gọi như cầu Văn Thánh, bến xe Văn Thánh, chợ Văn Thánh, khu du lịch Văn Thánh. Tên gọi Văn Thánh xuất phát từ năm 1824, khu vực này có xây dựng ngôi văn miếu thờ Đức Khổng Tử nên người ta gọi la khu Văn Thánh. Trong thời Pháp, miếu hổ đã bị phá vỡ hiện nay không còn nữa.
    Bến xe Văn Thánh là một bến xe lớn và lâu đời ở khu vực này. Từ đây có thể đi Vũng Tàu, Biên Hòa và một số tỉnh miền miền Trung. Cuối năm 1996, bến xe đuợc dời sang bến xe miền Đông vì ở đây xây dựng hệ thống đường lớn và cao tốc, nếu bến xe còn sẽ gây ra ách tắt giao thông.
    Chợ Văn Thánh được xây dựng từ khoảng những năm 1993 - 1994 dự kiến đây là chợ đầu mối cho các lọai hàng hóa từ miền Trung và khu vực Tân Cảng. Nhưng chợ Văn Thánh đi vào họat động chưa bao lâu thì bến xe Văn Thánh dời đi, làm chợ mất khách dẫn đến mất luôn vị trí chiến lược như dự tính. Hiện nay, chợ rất ế, nhà nước đang có dự kiến bán chợ cho doanh nghiệp Đài Loan sử dụng vào việc khác.
    Khu du lịch Văn Thánh nằm trên cù lao 7 hecta nên còn gọi là cù lao 7 mẫu. Khu du lịch này tuy nhỏ nhưng được khá nhiều người biết tới vì những năm 1993 - 1994 ở đây tổ chức thi tuyển diễn viên điện ảnh. Vào ngày 5 tháng giêng âm lịch hàng năm nơi này tưng bừng tổ chức lễ hội mừng chiến thắng Đống Đa (ngày 5 tháng 1 năm 1789).
    Sông Sài Gòn
    Sông Sài Gòn dài 230 km bắt nguồn từ cao nguyên Hớn Quảng - Bình Phước, đoạn sông là ranh giới tự nhiên giữa Tây Ninh và Bình Phước, một phần nước sông đổ vào khu vực khu vực Bến Cát đến Thủ Dầu Một vào thành phố Hồ Chí Minh và hợp với sông Đồng Nai đổ ra cửa Cần Giờ vịnh Gành Rái, đây là con sông có giá trị lớn vê mặt giao thông nơi tập trung nhều cảng lơn như: cảng Sài Gòn, cảng Cát Lái, Tân Cảng.
    Cầu Sài Gòn
    Cầu Sài Gòn được xây dựng từ năm 1959 đến năm 1961. Do công ty C.E.C (Capital Engeneering Corporation) và hai công ty khác của Mỹ thi công. Cầu dài 987,431 mét và rộng 19,3 mét với 32 nhịp, trọng tải 25 tấn. Hiện nay là cây cầu dài nhất Nam Bộ. Cầu đã được đầu tư nâng cấp năm 1998 với tổng kinh phí 54 triệu France và 7 tỉ đồng Việt Nam, từ 19,3 mét nay cầu rộng đến 24 mét.
    Cư xá Thanh Đa
    Cư xá Thanh Đa (cư xá màu xanh) gồm 29 lô chiếm diện tích 36 hecta, được xây dựng 1973 làmkhu nhà ở cho cán bộ công nhân viên, đây là khu cư xá lớn nhất cả nước nhưng giờ nó đang bị xuống cấp trầm trọng, nhà nước đang có kế hoạch đầu tư nâng cấp. Khu du lịch Bình Quới là khu du lịch dưới nước với nhiều hoạt động vui chơi, giải trí trên đoạn sông Sài Gòn, tới đây ta có thể lướt ván trên sông, tổ chức dã ngoại, đi tàu du lịch và câu cá thư giãn, hàng năm thường tổ chức trại hè cho thiếu nhi toàn thành. Khu biệt thự An Phú còn gọi là khu nhà cao cấp màu hồng được bố trí khá đẹp mắt ven sông Sài Gòn, giá thuê rất cao dành cho người nhiều tiền.
    Khu vực Tân Cảng
    Trước đây là một hải cảng quân sự lớn của Mỹ - Ngụy. Sau ngày giải phóng, đây là khu vực của Hải Quân Việt Nam. Giữa năm 1999, Tân Cảng được chia làm hai khu vực: khu vực quân sự và khu vực kinh tế cho tàu xuất nhập hàng hóa và kho để container. Từ cầu Sài Gòn nhìn xuống ta có thể thấy hệ thống container xếp chồng lên nhau trong một khu vực rộng lớn.
    Quận 2
    Diện tích 5.020 hecta gồm: An Phú, An Khánh, Thủ Thiêm, Thành Mỹ Lợi, Bình Trưng. Kế hoạch phát triển khu kinh tế của quận là trở thành một trung tâm thương mại và dịch vụ, ngân hàng, tài chính, chứng khoán. Với dân số 86.027 người gồm 11 phường và 2/3 diện tích dành cho các công trình lớn như:khu An Khánh, khu dân cư Bình Trưng - Thạnh Mỹ Lợi, khu liên hợp thể dục - thể thao Rạch Chiếc, khu công nghiệp Rách Lái... Ngoài ra con nhiều công trình giao thông như: cầu Thủ Thiêm, đường song hành Quốc lộ 22, xa lộ Vành Đai nối dài, đường cao tốc Bà Rịa - Vũng Tàu, xa lộ nối đường Bắc Nhà Bè - Nam Bình Chánh.
    Quốc lộ 52 (Xa lộ Biên Hoà)
    Xa lộ Biên Hòa được xây dựng từ năm 1959 đến năm 1961, do Mĩ đầu tư và giao cho công ty CEC thiết kế, thi công. Xa lộ Biên Hòa rộng 21 mét, dài 31 km, bắt đầu từ cầu Điện Biên Phủ và kết thúc tại ngã tư Tam Hiệp (Biên Hòa), nên có tên gọi là Xa lộ Biên Hòa. Trước năm 1975, Mĩ và chính quyền Sài Gòn sử dụng con đường này như một đường băng quân sự dã chiến khi sân bay Tân Sơn Nhất có sự cố. Đến năm 1971, họ cho rằng con đường này thuận lợi cho quân cách amng5 đổ bộ tấn công Sài Gòn nên đã xây dựng vách ngăn giữa tim đường. Năm 1984, nhân dịp kỉ niệm 30 năm ngày giải phóng Hà Nội và xa lộ này được đổi tên thành Xa lộ Hà Nội. Năm 1998, cùng với dự án mở rộng Quốc lộ 1A, xa lộ cũng được khôi phục, mở rộng và bàn giao cho chính phủ Việt Nam vào ngày 20 tháng 1 năm 1998. Ngày nay, hai bên xa lộ đã mọc lên các khu dân cư sầm uất, khu vực vui chơi giải trí thể thao, làng đại học và đặc biệt là các khu công nghiệp cao.
    Quận 9
    Diện tích 113,75 km2, dân số 123.059 người gồm 13 phường và các xã: Long Bình, Long Thanh Mỹ, Tăng Nhơn Phú, Long Phú, Long Phước, Long Trường, Phú Hữu, Phước Bình. Một phần diện tích các xã: Tân Phú, Phước Long, Hiệp Phú, Bình Trưng. Theo quy hoạch, quận 9 là khu công nghiệp kỹ thuật cao, du lịch vườn, thảm xanh thực vật ven sông Đồng Nai nhằm bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp cho thành phố. Ở đây có một số công trình lón như: sân golf 350 hecta, khu lâm viên rộng từ 300 hecta đến 400 hecta, khu công nghiệp kỹ thuật cao 800 hecta, khu công nghiệp Phước Long - Tăng Nhơn Phú 100 hecta, khu dịch vụ thể dục - thể thao ven sông Đồng Nai 510 hecta, khu quần thể di tích lịch sử văn hóa dân tộc 325 hecta và các công trình giao thông trọng điểm khác.
    Quận Thủ Đức
    Diện tích 47,26 km2, dân số 16.387 người gồm 12 phường: Thủ Đức, Linh Trung, Linh Xuân, Hiệp Bình Chánh, Hiệp Bình Phước, Tam Phú và một phần của các xã: Hiệp Phú, Tam Phú, Phước Long. Quận gồm 8 khu quy hoạch trọng điểm: khu công nghiệp Bắc Thủ Đức 400 hecta, khu công nghiệp Tam Bình 50 hecta, khu công nghiệp Bình Chiểu 28 hecta, khu dân cư Hiệp Bình Chánh - Linh Đông từ 50 hecta đến 70 hecta, khu dân cưmới 46 ha, 1 phần trường đại học quốc gia 200 hecta.
    Cầu Rạch Chiếc
    Cầu được xây dựng cùng thời với cầu Sài Gòn và xa lộ Biên Hòa từ năm 1959 đến năm 1961, cầu dài 148,9 mét. Đây tuy là chiếc cầu nhỏ nhưng là nhân chứng cho nhiều sự kiện lịch sử lớn, dưới chân cầu đã xảy ra luên tục hàng trăm trận đánh giữa quân giải phóng và quân địch bảo vệ cầu (vì đây là điểm trọng yếu của xa lộ Biên Hòa). Cuối cùng, quân ta cũng chiếm được cầu Rạch Chiếc nhưng đáng tiếc là 59 chiến sĩ cách mạng đã hi sinh anh dũng ở đây để bảo vệ đường lưu thông được an toàn, cho quân giải phóng tiến vào Sài Gòn.
    Ngã tư Thủ Đức
    Được xây dưng từ năm 1961 và hơn 200 ngôi biệt thự dành cho 200 giáo sư ở và làm việc. Dự án lớn xây làng đại học ở cây số 12, cạnh xa lộ Biên Hòa cũ do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đưa ra phương án quy hoạch tổng thể. Công trình xây dựng khu biệt thự với sự tham gia hầu hết của các kiến trúc sư nổi tiếng vào lúc bấy giờ. Khu biệt thự được thiết kế đa dạng, đầy đủ tiện nghi nằm trên lô đất thoáng mát.
    Nhà máy nước Thủ Đức
    Nhà máy được xây dựng vào năm 1959, nhà máy có 8 bể lọc, lấy nước từ sông Đồng Nai tại khu vực Hóa An với công suất 670.00 m3/ngày, cung cấp nước sinh hoạt cho cả thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay, chúng ta đang vay vốn từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) khoảng 5 triệu USD để thay đổi toàn bộ các ống dẫn nước từ 1,8 mét lên 2,4 mét.
    Khu du lịch văn hoá Suối Tiên
    Vào năm 1987, Suối Tiên vẫn còn là đồng ruộng, đầm lầy, rừng rậm, và đã từng là căn cứ địa cách mạng thời kháng chiến chốngMỹ... Suối Tiên bắt nguồn nối tiếp Suối Lồ Ô (huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương ngày nay) chảy ngầm trong lòng đất hàng chục kilômét qua xa lộ Hà Nội và trồi lên mặt đất này , để rồi tiếp tục xuôi dòng đổ ra sông Đồng Nai. Lúc đó, Suối Tiên còn cả một khu rừng đặc hữu, một khung cảnh thiên nhiên hiếm hoi còn sót lại. Tại đây còn có một miếu thờ bảy cô gái ở ven suối có cùng tuổi rồng, tình cờ đến đây tắm và qui tiên ở đoạn suối sâu. Dân trong vùng kể lại: “Bảy cô gái rất linh thiêng nên bà con thường xuyên nhang khói, thờ phụng”. Phải chăng bảy cô gái đã qui tiên trở nên linh thiêng thành Tiên, độ cho đời, nên suối này có tên gọi là “Suối Tiên” và được lưu truyền đến ngày nay.
    “Lâm Trại Suối Tiên” được bắt tay xây dựng với mục đích lâu dài ẩn chứa bên trong: lâm trại là tiền đề cho một khu du lịch tầm cỡ trong tương lai. Quá trình sản xuất của lâm trại là quá trình tích lũy vốn liếng cũng như điều tra, nghiên cứu thăm dò để xây dựng khu du lịch.
    Diện tích ban đầu của lâm trại chỉ có 2 hecta đất hoang hóa, chỉ là một trại nuôi trăn nhỏ. Các năm tiếp theo, lâm trại tổ chức chăn nuôi theo lối công nghiệp xuất khẩu, đồng thời nuôi cả các loài thú quí hiếm và trồng các loại cây ăn trái. Từ năm 1989 đến năm 1991, sản xuất gỗ xẻ xuất khẩu và sau đó sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ cao cấp. Hàng của lâm trại Suối Tiên được khách hàng trong và ngoài nước tín nhiệm. Đặc biệt tổ chức CITES thế giới chấp thuận và bảo vệ cho lâm trại trăn nuôi và xuất khẩu các loại động vật bò sát. Có lúc chuồng trăn ở đây lên đến 10.000 con, trong đó có những con trăn vàng đặc biệt quí hiếm, nên có người gọi lâm trại Suối Tiên là “trại Trăn Vàng Suối Tiên”.
    Năm 1992, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và Thành Phố Hồ Chí Minh nói riêng, việc xây dựng một khu du lịch tầm cỡ để phục vụ đời sống văn hóa, tinh thần của người dân đã trở thành một nhu cầu thiết yếu, phù hợp với chủ trương của Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Dự án xây dựng khu Du Lịch Văn Hóa Suối Tiên được phôi thai và từng bước trở thành hiện thực.

    Tháng 2 năm 1993,Ông Đinh Văn Vui sáng lập công ty Trách nhiệm Hữu hạn Lâm sản Mỹ nghệ Suối Tiên. Ông được bầu làm Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng Giám Đốc và khởi công xây dựng khu Du Lịch Văn Hóa Suối Tiên.
    Ngày 2 tháng 9 năm 1995, nhân kỷ niệm Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Du Lịch Văn Hóa Suối Tiên chính thức mở cửa đón du khách từ mọi miền đất nước đến tham quan.
    Du Lịch Văn Hóa Suối Tiên với chủ đề chính là trở về cội nguồn văn hóa dân tộc, đã tạo dựng các công trình qui mô, độc đáo, giàu ý nghĩa lịch sử, khơi gợi trong mỗi du khách đến tham quan lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, tự hào là Con Rồng Cháu Tiên.
    Du Lịch Văn Hóa Suối Tiên với phương châm “luôn luôn đổi mới, luôn luôn phát triển”. Hằng năm, cho ra đời từ 2 đến 4 công trình mới để phục vụ du khách.
    * Thời điểm đưa vào hoạt động của các công trình vui chơi, giải trí:
    -Năm 1993, khởi công xây dựng.
    -Ngày 2 tháng 9 năm 1995, mở cửa Tây Môn, Du lịch Văn hóaSuối Tiên chính thức ra đời.
    -Năm 1996, khánh thành Thủy Cung, Đu Quay Đứng, Máy Bay Boeing.
    -Năm 1997, mở cổng Thiên Tiên Môn, khánh thành công trình Kỳ Lân Cung, Xe Đạp Trên Không.
    -Năm 1998, khánh thành Phụng Hoàng Cung.
    -Năm 1999, khánh thành Tàu Lượn Siêu Tốc, Đu Quay Dây.
    -Năm 2000, mở cổng Thiên Tiên Môn và quần thể Long Hoa Nhật Nguyệt.
    -Năm 2001, khánh thành Thiên Đình Cung, Cung Vàng Điện Ngọc,Thiên Đăng Bảo Tháp.
    -Năm 2002, khánh thành Biển Tiên Đồng và Đền Thờ Vua Hùng.
    -Năm 2003, khánh thành Tứ Linh Hội Tụ, Siêu Thị Suối Tiên và Xe Đua Tốc Độ.
    -Năm 2004, Linh Cung Thập Nhị Giáp, Vương Quốc Cá Sấu vàGiang Sơn Bách Thú.
    -Năm 2005, khánh thành Phúc Cung Tam Phước, Long Hoa Thiên Bảo, Bí Mật Rừng Phù Thủy.
    -Năm 2006, khánh thành Bí Mật Kho Báu Cổ, Cối Xay Của Thần Gió, Ếch Thần Ngự Kim Sơn và Vòng Xoay Vũ Trụ.
    Tính đến nay, Du lịch Văn hóa Suối Tiên đã cho ra đời hơn150 điểm tham quan, vui chơi và giải trí để phục vụ du khách, trên diện tích rộng hơn 55 hecta, với tổng trị giá tài sản 1.200 tỷđồng. Hiện nay công ty đang mở rộng giai đoạn 2 với diện tích 50 hecta, vốn đầu tư 1.000 tỷ đồng, nâng tổng diện tích của Du lịch Văn hóa Suối Tiên lên 105 hecta, với tổng vốn đầu tư trên 2.200 tỷ đồng.
    Tháng 9 năm 2005, Du lịch văn hóa Suối Tiên tổ chức lễ kỷ niệm sinh nhật lần thứ 10, công tyđãtrao kỷ niệm chương và quà tặngcho hơn 50cán bộ, nhân viên công tác tại công ty trên 10 năm (từ thời kỳ đầu xây dựng Du lịch Văn hóa Suối Tiên). Việc trao kỷ niệm chương và quà tặng cho cán bộ, nhân viên được tổ chức hàng năm,đã trở thành một nét văn hóa tiêu biểu của doanh nghiệp.
    Du lịch Văn hóa Suối Tiên đang trên đà phát triển, luôn luôn đổi mới về mọi mặt để vươn lên ngang tầm khu vực Asean và thế giới. Tập thể cán bộ, nhân viên công tác tại Du lịch Văn hóa Suối Tiên đang nổ lực không ngừngđể xâydựng Suối Tiên thành mộtđiểmđến “xanh, sạch,đẹp và thân thiện”.
    Nghĩa trang liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh
    Được xây dựng với diện tích 3 hecta, là nơi yên nghỉ của hàng ngàn chiến sĩ đã hi sinh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ và cả cuộc chiến trên chiến trường Campuchia. Nghĩa trang được xây dựng vào năm 1984 đến tháng 4 năm 1987 thì hoàn thành với hình ảnh người mẹ Việt Nam cao sừng sững ôm lấy mười ngàn đứa con thân yêu đã ngã xuống vì Tố quốc (Điêu khắc gia Nguyễn Hải đã gửi tặng bức tượng này cho nhân dân thành phố Hồ Chí Minh năng động và anh hùng). Hiện nay, nhà nước đang có kế hoạch xây dựng tại đây một đài tưởng niệm các chiến sĩ đã ngã xuống nơi đây vào ngày 27 tháng 4 năm 1975.2. Tỉnh Bình Dương
    Diện tích: 2.696,2 km2
    Dân số (2006): 964.000 người
    Tỉnh lỵ: Thị xã Thủ DẦu Một.
    Các huyện: Bền cát, Dầu Tiếng, tân Uyên, Phú Giáo, Thuận A, Dĩ An.
    Dân tộc:Việt (Kinh), Hoa, Khmer, Tày…
    Bình Dương là 1 tỉnh ở miền Đông Nam Bộ, phía bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía nam giáp Tp. Hồ Chí Minh, phía đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía tây giáp tỉnh Tây Ninh.
    Tỉnh Bình Dương có các vùng đất đỏ trồng sao su và cà phê, vùng đất xám, nơi có đồng cỏ chăn nuôi và trồng hoa màu; vùng đồng bằng sông bồi, nơi có nhiều ruộng lúa, vườn cây ăn trái như Lái Thiêu nổi tiếng với các loại: sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, mít tố nữ…
    Các con sông lớn chảy qua địa phận tỉnh là: sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, và sông Bé, cùng với nhiều kênh rạch, sông con… cung cấp nước tưới cho đồng ruộng và tào điệu kiện cho ghe tuyền đi lại thuận tiện.
    Khí hậu chia 2 mùa: mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10. nhiệt độ trung bình năm 270C.
    Thị xã Thủ Dầu một nằm trên tả ngạn sông Sài Gòn, cách TP. Hồ Chí Minh 30km, là một vùng đất thuộc Gia Định xưa có hơn 300 năm lịch sử. Nơi đấy dân cư đông đúc, có nhiều ngành nghề thủ công truyền thống nổi tiếng như gốm sứ, sơn mài, điêu khắc gỗ… Bình Dương là tỉnh thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía nam: TP. Hồ Chí Minh – Đồng Nai – Bà Rịa – Vũng Tàu. Giao thông của tỉnh Bình Dương khá thuận tiện, có tuyến quốc lộ 13 và quốc lộ 14 xuyên suối tỉnh, nhiều đường liên tỉnh nối liền các vùng.
    Bình Dương là cửa rõ phía bắc Sài Gòn, trước kia là vùng có chiến sự ác liệt và kéo dài trong cuộc chiến tranh với Pháp và Mỹ ( nhất là ở huyện Bến Cát ). Đến Bình Dương du khách có thể đi theo tiến du lịch dọc sông Sài Gòn, từ vườn trái Lái Thiêu lên thị xã thủ Dầu Một, đến vùng hồ Dầu Tiếng. Các tuyến dọc sông Đồng Nai, theo quốc lộ 13, đường liên tỉnh 741 đến thăm các di tích và thắng cảnh của Bình Phước như Lộc Ninh, Thác Mơ, núi Bà Rá, Bù Đăng, Bù Đốp, sóc Bom Bo, khu du lịch hồ Sóc Xiêm.

    3. Tỉnh Đồng Nai
    Diện tích: 5.903,9 km2.
    Dân số (2006): 2.214.800 người.
    Tỉnh lỵ: thành phố Biên Hòa.
    Các huyện thị: thị xã Long Khánh; huyện Tân Phú, huyện Định Quán, huyện Vĩnh Cửu, huyện Thống Nhất, huyện Xuân Lộc, huyện Long Thành, huyện Nhơn Trạch, huyện Cẩm Mỹ, huyện Trảng Bom.
    Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, Xtiêng, Chơ Ro, Chăm.
    Đồng Nai nằm ở miền Đông Nam Bộ, cửa ngõ phía Đông của thành phố Hồ Chí Minh, phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp tỉnh Bình Dương, tỉnh Bình Phước và thành phố Hồ Chí Minh, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Thành phố Biên Hòa cách thành phố Hồ Chí Minh 28 km, cách Hà Nội 1.695 km.
    Tỉnh Đồng Nai nằm trên lưu vực sông Đồng Nai và một nhánh của nó là sông La Ngà. Địa hình Đồng Nai gồm một số thung lũng, đồng bằng, gò, đồi thấp, tuy nhiên phần đất tiếp giáp với cao nguyên Lâm Viên và Di Linh thì tương đối cao. Phần lớn đất ở Đồng Nai là đất bazan, đất xám và đất phù sa cũ rất tốt cho việc trồng trọt. Bởi vậy Đồng Nai trồng nhiều cây công nghiệp (cây cao su, cà phê...), cây ăn trái và cây công nghiệp ngắn ngày.
    Khí hậu: có hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm từ 25,40C đến 27,20C. Tỉnh có sông Đồng Nai, sông La Ngà, sông Lá Buông chảy qua, có nhà máy Thủy điện Trị An.
    Giao thông: đường bộ chính là quốc lộ 1A từ Hà Nội vào. Quốc lộ 20 từ Biên Hòa lên Lâm Đồng; quốc lộ 51, Đồng Nai đi Bà Rịa - Vũng Tàu. Đường sắt tuyến Bắc Nam đi qua thành phố Biên Hòa đến thành phố Hồ Chí Minh. Đồng Nai là tỉnh có công nghiệp phát triển, thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn thứ hai của khu vực miền Nam, chỉ sau thành phố Hồ Chí Minh. Xung quanh thành phố Biên Hòa có khu công nghiệp rộng lớn, nhiều nhà máy, xí nghiệp, công ty. Đồng Nai có nhiều nghề thủ công. Đồ gốm sứ Đồng Nai đẹp có tiếng trong nước. Đồng Nai có những rừng cao su, cà phê bạt ngàn. Vườn quốc gia Cát Tiên, một khu rừng nguyên sinh rộng lớn. Đến Đồng Nai du khách có thể tham gia những chuyến du lịch sinh thái trong các khu rừng hoặc vườn cây ăn qủa, cũng như săn bắn, câu cá, du thuyền trên sông Đồng Nai, dã ngoại tại các thắng cảnh: hồ Long Ẩn, khu văn hóa Suối Tre, thác Trị An, rừng Mã Đà...hay tham quan các di tích chiến tranh, nghiên cứu các di chỉ khảo cổ: mộ cổ Hàng Gòn, đàn đá Bình Đa...
    Sông Đồng Nai
    Sông Đồng Nai là tên con sông lớn thứ nhì đất Nam Bộ, chỉ thua sông Cửu Long. Sông chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Đăk Nông, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh, Long An, và Tiền Giang với chiều dài trên 500 km.
    Theo sách cổ “Gia Định Thành Thông Chí” của Trịnh Hoài Đức thì sông còn có tên là “sông Phước Long” vì gọi tên theo phủ Phước Long. Đồng Nai nguyên tên phiên âm tiếng Miên là “Nông Nại”. Đây là vùng đất của Chân Lạp mà người Việt vào khai phá trước tiên.
    Sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, tỉnh Lâm Đồng. Đoạn trên sông mang tên sông Đa Dung. Phụ lưu sông Đa Nhim góp nước vào sông Đa Dung ở Đại Ninh. Sông uốn khúc chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam vượt khỏi miền núi ra đến bình nguyên ở Tà Lài, tỉnh Đồng Nai. Ở khoảng hợp lưu với sông Bé thì có đập Trị An chắn dòng sông, tạo nên hồ nước nhân tạo lớn nhất miền Nam, tức Hồ Trị An. Hồ Trị An cũng là nơi sông La Ngà từ triền núi phía nam cao nguyên Di Linh dồn nước về. Đến thị trấn Uyên Hưng thì sông Đồng Nai chảy theo hướng Bắc - Nam ôm lấy cù lao Tân Uyên và cù lao Phố. Sông chảy qua thị xã Biên Hòa và Nhà Bè thì phân nước ra mấy nhánh như sông Lòng Tảo và sông Đồng Tranh. Vì vậy ca dao có câu:
    Nhà Bè nước chảy chia hai
    Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về...
    (Gia Định là rẽ theo sông Sài Gòn lên phía Tây Ninh,
    còn Đồng Nai là theo dòng sông lên Biên Hòa).
    Nhánh chính sông Đồng Nai ở khúc hạ lưu thường gọi là sông Nhà Bè. Sách xưa gọi sông này là “sông Phước Bình”. Sông Đồng Nai hòa với nước của sông Vàm Cỏ từ Long An đổ về trước khi tuôn ra Biển Đông tại cửa Soài Rạp. Phụ lưu chính của sông Đồng Nai gồm sông La Ngà, sông Bé, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ.
    Sông Đồng Nai có một số cảng lớn như cảng Cát Lái, cảng Bình Dương. Đường sắt và Quốc lộ 1A vượt sông này qua Cầu Đồng Nai ở Biên Hòa.
    Cù Lao Phố trên sông Đồng Nai là nơi phát triển sầm uất của cộng đồng người Minh Hương trước khi vùng đất này trở thành đơn vị hành chính chính thức của Đàng Trong năm 1698.
    Cầu Đồng Nai
    Cầu Đồng Nai dài 453,9 mét trọng tải 25 tấn, được xây dựng cùng thời với cầu Sài Gòn và xa lộ Biên Hòa. Sông Đồng Nai dài 586 km. sông được bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên chảy qua địa phận tỉnh Đồng Nai sau đó hợp với sông Sài Gòn và đổ ra vịnh Gành Rái. Sông Đồng Nai có giá trị kinh trế lớn như nước sinh hoạt, giao thông, nông nhiệp đặc biệt là thủy điện.
    Cù lao Phố
    Một thời vàng son
    Tên gọi Cù lao Phố dân dã là một danh xưng dễ quen, dễ nhớ về một nơi đã từng được mệnh danh “Xứ đô hội” mà công đầu do nhóm người Hoa của Trần Thượng Xuyên tạo dựng. Theo “Gia Định Thành Thông Chí” của Trịnh Hoài Đức cho biết: tháng 5 năm Kỷ Vị (1679) Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch, bầy tôi nhà Minh, không phục nhà Thanh đã dẫn 3.000 người với 50 chiến thuyền nhập cửa biển Tư Dung (Đà Nẵng) xin định cư ở nước ta. Chúa Nguyễn chấp thuận và sai các tướng Vân Trình, Văn Chiêu hướng dẫn cho vào đất Đông Phố. Nhóm Long Môn của Dương Ngạn Địch theo cửa Đại, cửa Tiểu đến định cư tại Mỹ Tho. Nhóm Cao, Lôi, Liêm của Trần Thượng Xuyên theo cửa biển Cần Giờ đến sinh sống ở xứ Bàn Lân (tức Biên Hòa ngày nay). Khi đến vùng Cù lao Phố, Trần Thượng Xuyên thấy địa hình này có ưu thế cho việc phát triển nông nghiệp, lại thuận tiện giao thông thủy, bộ; có lợi cho việc buôn bán nên đã xây dựng nơi đây thành một thương cảng. Đường xá ở Cù lao Phố được mở mang, phố xá được tạo dựng, chợ búa được thành lập, hàng hóa dồi dào, thường xuyên có nhiều tàu nước ngoài đến buôn bán.
    Cảnh phồn vinh, sầm uất của Cảng thị Cù lao Phố được sử sách ghi chép:
    “Trần Thượng Xuyên tướng quân chiêu mộ người buôn nước Tàu đến khai thác. Nông Nại đại phố ở đầu phía Tây Cù lao Đại phố được kiến thiết phố xá, mái ngói tường vôi, lầu cao quán rộng, dọc theo bờ sông liền lạc tới năm dặm. Chia vạch làm ba đường phố: đường phố lớn lót đá trắng, đường phố ngang lót đá ong, phố nhỏ lót đá xanh, đường rộng bằng phẳng. Kẻ buôn tụ tập, ghe thuyền lớn ở biển và ở sông đều neo liên tiếp nhau, ấy là một chỗ đại đô hội. Trong lịch sử phát triển của mình, Cù lao Phố được hình thành như một cảng sông sâu trong nội địa nên đã có ưu thế tối ưu như một trung tâm thu mua hàng hóa được từ nhiều nguồn, đa dạng và thương mại phát triển của một khu vực được khai phá sớm. Ngay từ vùng Cù lao Phố là nơi sớm tập trung các ngành nghề thủ công: dệt chiếu, làm tơ lụa, làm gốm, mộc, đúc đồng, làm pháo hay chăn nuôi tằm, trồng mía, nấu đường... Đặc biệt, những sản phẩm của Cù lao Phố được xem như những hàng đặc sản nhiều nơi đặt mua. Ngoài nguồn hàng cung cấp tại chỗ, thương cảng Cù lao Phố còn tiếp nhận các nguồn hàng hóa từ nơi khác trên vùng Đồng Nai lúc bấy giờ như Phước Thiền, Bến Gỗ, Bến Cá...nơi có một số người Hoa thạo nghề buôn bán sinh sống. Cù lao Phố trở thành “phố chợ thương mại, giao thông với người Tàu, người Nhật Bản, Tây Dương, Đồ Bà (Java), thuyền buôn tụ tập đông đảo...”. Sử sách ghi chép vắn tắt, song qua đó phản ánh sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của Cù lao Phố, nhất là về giao thông hàng hóa, đó chính là một trung tâm thương mại và giao dịch vào loại nhất của Nam Bộ vào thời bấy giờ.”
    Nông Nại Đại Phố vào cuối thế kỷ thứ XVIII đã trở thành một thương cảng lớn, một trung tâm thương mại sầm uất nhất ở Nam Bộ nói chung và Đồng Nai - Gia Định nói riêng. Thế nhưng, kiến trúc phong quang của Cù lao Phố bị ảnh hưởng và tàn phá nặng nề qua cuộc bạo loạn của thương nhân người Phước Kiến là Lý Văn Quang vào năm 1747; trong cuộc tranh chấp giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, đặc biệt vào năm 1776, Cù lao Phố bị tàn phá “...từ đấy chỗ nầy biến thành gò hoang, sau khi trung hưng, người ta tuy có trở về, nhưng dân số không được một phần trăm lúc trước”. Hầu hết đền, chùa, đình, miếu và phố xá ở Cù lao Phố thời còn là“xứ đại đô hội” đã bị thời gian, chiến tranh chôn vùi vào quá khứ.
    Những dấu tích lịch sử
    Với vị thế của một thương cảng, sầm uất, Cù lao Phố còn là nơi xây dựng những kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng đồ sộ lúc bấy giờ. Chắc chắn, những công trình kiến trúc được xây dựng trong thời kì lịch sử bấy giờ không chỉ đáp ứng cho nhu cầu tâm linh của cư dân tại chỗ mà còn cho các khách của vùng lân cận, vùng xa đến chiêm ngưỡng hay trong dịp mua bán hàng hoá.
    Hiếm có vùng đất nào với vị thế đơn vị hành chánh cấp xã ở Nam Bộ có mật độ của nhiều cơ sở tín ngưỡng như trên vùng đất này. Cù lao Phố có đến 5 ngôi chùa, 3 tịnh xá và 11 ngôi đình, 1 biểu toà Cao Đài, nhiều ngôi miếu... Trong đó, có 4 di tích được xếp hạng.
    Một trong những di tích tiêu biểu ở Cù lao Phố là miếu Quan Đế (còn gọi là Thất phủ cổ miếu hay chùa Ông). Sử sách cho biết đây là miếu điện nguy nga ở phía Nam Châu Đại Phố, ngó ra sông Phước Long (Đồng Nai), đền đài rộng rãi, tráng lệ với hai hội quán Phước Châu và Quảng Đông. Đây là cơ sở tín ngưỡng văn hóa của cộng đồng người Hoa tạo dựng sau 5 năm đặt chân đến vùng Biên Hòa (1684). Đồng thời, miếu Quan Đế còn là một công trình kiến trúc nghệ thuật khá độc đáo với những mảng trang trí, chạm khắc đá, gốm liên hoàn thể hiện nhiều đề tài dân gian sinh động. Trong nội thất của cơ sở tín ngưỡng này, một tập thành đối tượng thờ cúng của cộng đồng người Hoa rất sinh động.
    Ở Cù lao Phố còn có đền Lễ công thờ Nguyễn Hữu Cảnh ở phía Nam thuộc thôn Bình Hoành. Nguyễn Hữu Cảnh được cộng đồng cư dân Việt, Hoa tôn thờ như vị phúc thần vì công lao to lớn của ông đối với vùng đất này. Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn kinh lược Đồng Nai, thiết lập chế độ hành chánh và sáp nhập vùng đất này vào lãnh thổ xứ Đàng Trong. Đối với người Hoa, Nguyễn Hữu Cảnh lập đơn vị hành chánh là xã Thanh Hà quản lý, thống kê ghép vào sổ hộ tịch. Nhờ những việc làm quan trọng của Nguyễn Hữu Cảnh trong chuyến kinh lược, Cù lao Phố có điều kiện khẳng định vị thế thương cảng của một quốc gia và ngày càng phát triển. Đền thờ Lễ công Nguyễn Hữu Cảnh được Trịnh Hoài Đức đánh giá là: “miếu võ trang nghiêm” được xây dựng trên một địa điểm mà cảnh quan tự nhiên được coi là “địa linh”. Trước mặt đền ngó xuống sông Phước Long, lấy tảng đá lớn làm thủy thành, dưới đáy có con cá gáy hấp gió giỡn sóng, bơi lượn ra vào, khi gió mưa tiến nước chọi vào đá vang ồ ạt, sóng dậy chập chờn, thanh oai lẫm liệt”. Ngoài hai công trình kiến trúc tiêu biểu trên, vùng Cù lao Phố còn có nhiều đình chùa với những kiến trúc lịch sử riêng khá độc đáo: chùa Đại Giác, chùa Thủ Huồng, chùa Phước Hội, đình Bình Tự, Tân Giám...gắn liền với những truyện cổ, tích xưa đầy cảm động trong cách đối nhân xử thế.
    Chùa Đại Giác được xem là một trong ba ngôi danh lam cổ tự xứ Biên Hòa. Lịch sử chùa gắn liền với những chuyện tích về hoàng gia nhà Nguyễn. Chuyện kể, sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi (1802), lấy niên hiệu là Gia Long đã nhớ ơn ban chiếu chỉ trùng tu ngôi chùa mà trước đây ông đã nương náu trên đường bôn tẩu. Vua Gia Long chỉ dụ cho quan quân địa phương (trấn Biên Hòa) cho binh thợ đến xây cất và cho tượng binh đem voi đến dặm nền chùa. Vì vậy, sau này gọi chùa Đại Giác là “Chùa Tượng” (Chùa Voi). Dịp này, Gia Long còn cúng cho chùa Đại Giác một pho tượng Phật A Di Đà bằng gỗ mít rất lớn, cao 2,25 mét, nên nhân dân địa phương còn gọi chùa Đại Giác là “Chùa Phật lớn”. Năm 1820, vua Minh Mạng tiếp tục cho tu sửa mở rộng nhà giảng. Dịp này, công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh đã cúng cho chùa tấm biển tên chùa “Đại Giác Tự” sơn son thếp vàng, bên phải có khắc: “Tiên triều Hoàng nữ Đệ tam Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh”. Chùa Đại Giác còn gắn liền với câu chuyện tình nơi cửa Phật đầy bi cảm giữa của một hoàng cô đối với nhà sư. Sức mạnh của tình yêu con người, sức mạnh của niềm tin Phập pháp trong câu chuyện như vẫn còn nhắc nhở cho hậu thế những bài học đầy cảm động.
    Chùa Thủ Huồng gắn với chuyện tích của nhân vật vốn là thư lại gian tham đã ngộ ra lẽ chánh ở đời. Sau những tháng ngày gây bao tội lỗi, nhân vật Thủ Huồng đã bán của cải mình, bố thí người nghèo, giúp người sa cơ lỡ vận...để rồi không chỉ được thanh thản cuối đời mà còn đầu thai ở địa vị hiển vinh. Ngôi chùa Hoàng Ân cổ kính lại gắn với tích chuyện đối nhân xử thế của con người. Những chuyện tích có nhiều yếu tố huyền hoặc, thể hiện triết lý nhân sinh sâu sắc như muốn nhắc nhở con người cần có lòng từ bi, bác ái với nhau. Cái lẽ đời không chỉ ở kiếp sau mà ngay cả khi mình đang sống.
    Vùng sinh thái hấp dẫn
    Cù lao Phố còn là một vùng sinh thái khá hấp dẫn. Những ai đã từng nhận lấy cái nóng khi chạy rong ruổi trên những con đường nhựa của các nẻo đường thành phố sẽ cảm nhận được cái mát mẽ khi đến với vùng cù lao này. Khí hậu của cù lao thật thoáng mát bởi xung quanh đều là sông nước. Những vườn cây, những thửa ruộng xanh...giúp cho du khách thỏa mắt ngắm nhìn. Nếu có dịp, hãy thuê một chiếc ghe nhỏ để rong ruổi hai ngả sông ôm trọn cù lao để cảm nhận hơi nước mát của sông Đồng Nai “vừa xanh vừa mát”, những làn gió từ các vườn cây dạt thổi liên hồi... Bạn có thể cuốc bộ trên con đường đất ven sông toả bóng dừa, hay ngồi dưới những gốc cổ thụ xung quanh đình, chùa mà hóng mát... Và những giờ nghỉ, du khách có thể chọn cho mình những địa điểm quán xá ven sông, vừa thích thú ngắm nhìn cảnh sinh hoạt của con người, vừa thưởng thức những món ăn dân dã nơi đây. Trong thời điểm của ngày, nếu may mắn, bạn có thể nghe tiếng còi tàu hú, cảm nhận tiếng đất như chuyển rung nhịp nhàng dưới chân mỗi khi đoàn tàu Thống Nhất chạy qua trên hai cây Cầu Ghềnh, Cầu Rạch Cát bắc qua sông.
    Trong tương lai, vùng Cù lao Phố sẽ được quy hoạch thành khu du lịch sinh thái khá độc đáo. Sẽ có bốn cây cầu bắc qua các nhánh sông để vào Cù lao từ nhiều phía. Những dịch vụ du lịch sẽ đem đến cho du khách những tiện lợi, những thoải mái khi bước chân đến đây. Song, những điều này cũng còn nằm trong diện dự án. Tốt nhất, ngay từ bây giờ, có thời gian rỗi, du khách có thể đến đây dạo chơi, đón lấy gió trời, khí hậu trong trẻo, hơi mát từ nước sông, thăm thú các di tích lịch sử văn hóa... Bạn sẽ cảm nhận được sự thư thái sau những giờ làm việc mệt mỏi.
    Tổng kho Long Bình
    Tổng kho Long Bình cũ, trước đây là trung tâm cung cấp đạn dược cho quân đội Mỹ và quân chư hầu trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Kho Long Bình được xây dựng từ 1964 với diện tích có 6 km2 nhưng tới năm 1966 đã được xây dựng lại với diện tích 24 km2. Tòan bộ tổng kho Long Bình có 6 hầm ngầm chứa 150.000 tấn vũ khí đạn dược, khu này được bảo vệ cẩn mật với 6 hàng rào thép gai kiên cố, 72 tháp canh, 3 tiểu đoàn túc trực bảo vệ.
    Siêu thị Big C
    Đươc khánh thành vào ngày 18 tháng 8 năm 1998 do tập đoàn Bourbon của Pháp đầu tư với tổng vốn là 54 triệu USD, diện tích 20.000 m2. Siêu thị có trên 2.000 mặt hàng và 90% hàng hóa là sản xuất tại Việt Nam. Tập đòan Bourbon của Pháp là một trong những tập đoàn lớn nhất về lương thực - thực phẩm. Các dự án mà Bourbon đã đầu tư tại Việt Nam như nhà máy đường Bourbon Tây Ninh - nhà máy thức ăn gia súc Bourbon...trong những quy hoạch phát triển tại Việt Nam. Bourbon đã vạch rõ chiến lược sẽ thôn tính toàn bộ hệ thống siêu thị ở Việt Nam với khách hàng chủ yếu là tầng lớp trung lưu. Do đó mà hiện nay Bourbon đã có thêm ba siêu thị lớn tại Việt Nam: siêu thị An Lạc rộng 120.000 m2 tại An Lạc, siêu thị Cora Miền Đông rộng 10.000 m2, siêu thị Cora Hà Nội rộng 42.000 m2. Hiện nay, các siêu thị trong hệ thống Cora đều đã đổi tên thành siêu thị Big C.
    Khu công nghiệp Biên Hòa I
    Được thành lập năm 1963 với diện tích 335 hecta, nằm ở thành phố Biên Hòa ngay trên trục giao thông Bắc - Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 27 km, cách Vũng Tàu 90 km. Kết cấu hạ tầng tương đối ổn định: sử dụng lưới điện quốc gia, trạm biến áp 40 MVA, nước được cấp 25.000 m3/ngày, đường giao thông 20 km nội bộ, thông tin liên lạc với tổng đài nội bộ nối mạng quốc gia và quốc tế... Hiện đang nâng cấp công trình hạ tầng và xây dựng hệ thống xử lý nước thải. Ưu tiên đầu tư theo chiều sâu, đổi mới công nghệ và các sản phẩm không có chất thải.
    Khu công nghiệp Biên Hòa II
    Được thành lập năm 1993 tại thành phố Biên Hòa, nằm đối diện với khu công nghiệp Biên Hòa I. Tổng diện tích đất là 396 hecta trong đó diện tích đất dùng dùng để xây nhà máy là 264 hecta, diện tích cây xanh 34 hecta, diện tích đường bộ 78 hecta, đất chuyên dùng 24 hecta. Hệ thống cáp điện dự kiến nâng cấp trạm 80 MVA từ nguồn điện quốc gia. Nước cung cấp 5.000 m3/ngàycho toàn khu, hệ thống ống dẫn 20.500 m2. Thông tin liên lạc bằng ống dài điện tử với 1.024 mạch IDD liên lạc trực tiếp và quốc nội. Có hệ thống xử lý nước thải lỏng 12.000 m3/ngày và khu xử lý chất thải rắn, hệ thống xử lý nước mưa ra sông Đồng Nai dài 13.920 mét và đường giao thông nội khu dài 20 km. Số diện tích kêu gọi vốn đầu tư 26 hecta với các ngành nghề: cơ khí, điện tử, may mặc giày da, những mặt hàng sản xuất từ mũ cây cao su, chế biến lương thực thực phẩm, sản phẩm gia dụng, hàng tiêu dùng không có nhiều chất thải độc hại.
    Khu công nghiệp Biên Hòa Amata
    Nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 30 km, bên cạnh khu công nghiệp Biên Hòa II. Tổng diện tích là760 hecta, được xây dựng qua 5 giai đoạn trong đó giai đoạn 1 xây được 100 hecta chưa kể đến hệ thống đường giao thông nối quốc lộ vào khu công nghiệp. Hệ thống điện: giai đoạn 1 xây dựng trạm điện 40 MVA. Ngoài ra, Amata sẽ xây dựng một nhà máy điện để cung cấp nội bộ. Hệ thống cấp nước: công ty cấp nước Đồng Nai cung cấp bước đầu 5.000 m3/ngày. Amata sẽ xây dựng khu nhà cung cấp nước riêng 30.000 m3/ngày, lấy nguồn nước từ sông Đồng Nai. Hệ thống thông tin qua tổng đài tự động 960 đường dây bảo đảm việc liên lạc dễ dàng giữa trong nước và quốc tế. Giao thông: khu công nghiệp nối liền với quốc lộ 1 bằng đường chính rộng 52 mét. Ngoài ra, hệ thống đường nội khu công nghiệp bảo đảm sự vận hành liên tục và an toàn. Xử lý chất thải: xây dựng cơ sở xử lý chất thải theo tiêu chuẩn của luật bảo vệ môi trường. Ưu tiên đầu tư cơ khí luyện kim, hóa chất, mỹ phẩm, dệt may, điện tử...
    Khu Thiên Chúa giáo Hố Nai
    Cách Biên Hòa 10 km, trước năm 1954 là rừng hoang. Năm 1954 Hố Nai có khoảng 40.000 dân từ các tỉnh phía Bắc di cư vào đặc biệt là tỉnh Hà - Nam - Ninh cũ theo sự ủng hộ của giáo hội, Ngô Đình Diệm. Thành lập các xã Hố Nai như vành đai bảo vệ Sài Gòn. Dân ở đây có truyền thống là khai thác lâm sản và mộc. Hiện nay, có khoảng 16 xã, 29 nhà thờ, 28 trường học, 1 bệnh viện, 19 trạm y tế, 12 nhà bảo sanh. Hố Nai được chia làm 4 phần: Hố Nai 1, Hố Nai 2, Hố Nai 3, Hố Nai 4 với dân số hiện nay lên đến 700.000 người.
    Chợ Sặc
    Chợ Sặc là ngôi chợ mang đậm phong cách miền Bắc mà cụ thề là Hải Dương. Ở Hải Dương cũng có một địa danh tên là Chợ Sặc, những người dân di cư đã mang phong tục, tập quán và cả tên gọi địa danh ở nơi “chôn nhau cắt rốn” vào vùng đất mới xem như là hoài niệm cố hương.
    Thủy điện Trị An
    Thác Trị An là bậc hạ cuối cùng của sông Đồng Nai trước khi chảy vào đồng bằng. Năm 1983 với sự giúp đỡ của Liên Xô cũ, Việt Nam đã bắt tay vào xây dựng nhà máy thủy điện Trị An, tổng kinh phí là 150 triệu rúp và 51 tỉ đồng Việt Nam. Đa số các thiết bị nhập từ Liên Xô cũ. Hồ Trị An rộng 232 km2 với sức chứa 2,7 tỉ m3, công suất của nhà máy 400 MW, sản lượng điện 1,7 tỉ KWH/năm. Đến tháng 9 năm 1988 đã hoàn tất việc xây dựng nhà máy và đưa vào sử dụng.
    Đây là công trình thủy điện lớn nhất miền Nam, giải quyết nhu cầu về điện cho tất cả những ngành công nghiệp đang hoạt động và sinh hoạt trong gia đình. Từ lòng hồ Trị An mỗi năm thu về 10.000 tấn cá. Ở đây chứa đựng tiềm năng kinh tế dồi dào, nguồn lợi du lịch phong phú.
    Trảng Bom
    Trảng Bom cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 36 km. Trước khi có tên gọi là Trảng Bom nơi đây là một vùng đất hoang sơ chưa có đơn vị hành chính và có nhiều cây bom nên người ta quen gọi là Trảng Bom và tên gọi này tồn tại cho đến ngày nay. Còn một cách lí giải thú vị khác là vào lúc chiến tranh quân đội Mĩ đã dùng máy bay B52 oanh tạc vùng đất này. Bom sau khi nổ tạo thành những hố lớn, gọi là chảng bom mà đọc trại đi là trảng bom. Từ đó tên gọi Trảng Bom đã trở thành đơn vị hành chính nơi đây.
    Khu du lịch sinh thái thác Giang Điền
    Cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 45 km, khu du lịch sinh thái Thác Giang Điền (huyện Trảng Bom, Đồng Nai) đón khách bằng những bãi cỏ xanh ngát, thảm hoa đồng nội hồn nhiên khoe sắc; những ngôi nhà thơm mùi rơm rạ, lá dừa khô...và tiếng thác reo vui đêm ngày.
    Vừa “trình làng” đầu năm 2006 (mới hoàn thành giai đoạn 1) nhưng với diện tích 67 hecta, khu du lịch sinh thái Thác Giang Điền đang dần trở thành sự lựa chọn thú vị cho những hội trại lên đến cả ngàn người, những chuyến picnic, dã ngoại cuối tuần của gia đình, nhóm bạn bè hay những đôi tình nhân.
    Bình minh Thác Giang Điền thật lộng lẫy. Con thác lớn, thác đôi trắng xóa, reo trong sương. Mặt trời mạnh mẽ vượt lên, trùm ánh sáng xuống một vùng không gian thoáng đãng. Đi dọc theo con đường gạch phẳng lì, khẽ run trong làn áo mỏng, nghe hương hoa, thác đổ...để quên đi những giờ kẹt xe ngạt thở, quên đi những tòa nhà chèn ép tầm nhìn, quên đi cái hối hả đặc trưng của Sài Gòn.
    Chiều đến, chỉ cần 15.000 VNĐ là có thể “làm tình làm tội” chiếc xe đạp đôi suốt 45 phút. Cót két trên con đường gạch phẳng lì uốn lượn ven đồi, vượt qua chiếc cầu treo thơm mùi sơn mới, nghe gió rủ rỉ bên tai. “Ngứa tay” lại dừng xe hái hoa dại. Mỏi chân, dựng chống xe, tựa vai nhau trên chiếc băng gỗ nhỏ xinh hay nằm dài trên bãi cỏ ngắm mây trời.
    Đến Thác Giang Điền mà không tắm thác là chưa đến Thác Giang Điền. Nước dưới chân thác “nặng nợ bùn đất” nhưng vẫn có sức hút kì lạ. Những gót chân trần xinh tươi thoăn thoắt di chuyển trên những tảng đá ngay dưới chân thác. Đá rong rêu, gót chân trượt té, rớm máu, lại xuýt xoa, hờn dỗi.
    Gót chân đạp lên thân lục bình trơn lạnh, vừa thấy run run, lại thấy kì kì, khoai khoái. Muốn tìm cảm giác mạnh, mời bạn đến ngồi ngay dưới chân thác để lắng nghe trọn vẹn thanh âm của từng “dải lụa nước trắng xóa” hớn hở tuôn tràn. Nghe thác reo để biết thác mạnh đến nhường nào.
    Những nhà hàng với lối kiến trúc miền núi, “cây nấm” làm từ rơm rạ như một cố gắng để không làm nhạt nhòa nét hồn nhiên của nơi này. Hồ nước 2 hecta là điểm đến hấp dẫn cho các tay câu cá. Dù không xài “một chiếc cần câu bé tẻo teo” nhưng cái hồn của thú chơi tao nhã này vẫn đằm thắm lắm.
    Ngã ba Dầu Giây
    Cách thành phố Hồ Chí Minh 67 km, nếu rẽ trái vào Quốc lộ 20 khoảng 243 km là đến thành phố Đà Lạt ngàn hoa. Thẳng theo quốc lộ 1A ra các tỉnh miền Trung và miền Bắc. Sỡ dĩ khu vực này có tên là “Dầu Giây” vì trước kia ở đây có cây Dầu, trên thân của nó có nhiều dây leo chằng chịt. Còn có một cách giải thích khác về địa danh này là vào năm 1954 một số giáo dân theo hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm di cư vào khu vực miền Nam, đã an cư lạc nghiệp ở nơi này, họ đem theo mình những tập tục, thói quen chồng cây trầu tại khu mình sống, vì thế ở đây xuất hiện rất nhiều cây trầu dây nhưng Hà Nam Ninh không nói được âm “tr” nên họ đọc thành “gi”, do vậy trầu dây đọc thành Dầu Giây.
    Mộ cổ Hàng Gòn
    Ngôi mộ này được một kỹ sư người Pháp tên là Bouchot J phát hiện ra vào năm 1927 khi mở đường liên tỉnh số 2 nối liền Long Khánh với Bà Rịa. Mộ cổ có cấu trúc gồm hai hàng trụ bao quanh một hầm mộ.
    Tổng số trụ là 10, làm bằng đá granit và bazan, có chiều cao từ 2,5 mét đến 3 mét, đặc biệt là hai tụ là những tấm đan bằng granit có kích thước lớn 7,2 mét x 1 mét và 1 mét x 0,35 mét. Phần hầm mộ có dạng hình hộp, được ghép bằng sáu tấm đan bằng đá granit có kích thước lớn 4,2 mét x 2,7 mét và cao 1,6 mét. Theo Sauin E, di tích này có niên đại cách nay 3.950 năm.
    Từ năm 1992, mộ cổ Hàng Gòn đã được trùng tu: xây dựng tường bảo vệ, lát gạch quanh hầm mộ để chống xói mòn, trồng nhiều cây kiểng xung quanh. Đây là điểm tham quan khá hấp dẫn vì đây là ngôi mộ cổ và quy mô nhất Việt Nam còn được bảo tồn đến ngày nay.
    Dốc mẹ bồng con
    Gồm một dốc lớn và một dốc nhỏ như hình ảnh người mẹ bồng con, nên người ta mới gọi địa danh này như vậy. Người dân ở đây thường kể truyền miệng nhau rằng xưa kia ở đây từng có một người phụ nữ đang mang thai thì bi tai nạn chết, vì thế khi đêm đến người ta vẫn thường thấy một người đàn bà bế đứa bé qua lại trên ngọn dốc này.
    Núi Chứa Chan
    Từ thành phố Biên Hòa theo quốc lộ 1A ra Hà Nội gần 80 km, du khách sẽ đến với núi Chứa Chan ở thị trấn Gia Ray, huyện Xuân Lộc.
    Sách Đại Nam Nhất Thống Chí viết:
    “...Núi Chứa Chan có thế núi chót vót, trông xuống khe Da Lao, chỗ giáp giới của hai huyện Long Khánh và Phước Binh có nhiều mây song gỗ lạt, lưng núi có động đá và giếng đá...”.
    Núi Chứa Chan cao 837 mét với Chùa Bửu Quang (thường gọi là chùa Gia Lào) trên gần đỉnh núi là điểm du lịch thu hút nhiều du khách. Vào các dịp lễ, tết số người hành hương về đây lên đến hàng ngàn, tạo bầu không khí náo nhiệt của ngày lễ hội.
    Chùa Bửu Quang được xây dựng từ đầu thế kỳ XX, với chánh điện mái vòm, toạ lạc trên một hang đá có dáng Hàm Rồng. Toàn bộ quần thể kiến trúc chùa đều dựa theo những hang động thiên nhiên, tạo nên nét độc đáo giữa chốn thâm nghiêm kỳ vĩ của núi rừng.
    Suối Tiên trong vắt, nước chảy róc rách quanh năm và cây đa ba gốc thần bí ở lưng chừng núi như minh chứng thêm cho các huyền tích được truyền từ bao đời của vùng sơn cước này. Từ độ cao hơn 600 mét, phóng tầm nhìn ra xa du khách có thể chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên hữu tình, và lòng người sẽ cảm thấy thư thái sau chặng đường dốc lắm gian nan vất vả.
    Núi Chứa Chan ngày nay còn lưu lại nhiều dấu tích hoạt động cách mạng qua hai cuộc kháng chiến của người Đồng Nai, vì đây là căn cứ kháng chiến của huyện Xuân Lộc và chùa Bửu Hưng từng là căn cứ hậu cần, nơi trú đóng của nhiều cán bộ chiến sĩ cách mạng trong hai cuộc chiến tranh giải phóng.
    Tên núi Chứa Chan gắn liền với một truyền thuyết sau:
    “Vào thế kỷ XVII, có một viên quan người Việt tên làViệt Hùng trong lúc giao chiến với quân Khmer, ông đã bị bắt cùng vợ của mình. Sau đó ông bị giam lỏng trên núi này, còn vợ ông có nhan sắc nên bị vua Khmer bắt ép làm vợ lẻ dù hắn biết bà đang mang thai. Bà hạ sinh một bé gái, khi lớn lên bà đã kể cho con nghe tất cả sự thật. Cô gái quyết tâm đi tìm cha ruột cùng một người hầu cận và họ đã tương phùng, hai cha con bị lính truy đuổi ráo riết. Trong lúc hoảng loạn, cả ba đã gieo mình xuống thung lũng tự vẫn. Để tưởng nhớ họ trong chùa Gia Lào có tạc ba pho tượng gọi là: ông Vàng, cô Bạc, cậu Chì. Câu chuyện làm cho mọi người đều cảm thấy xót xa nên ngọn núi này mang tên là núi Chứa Chan.”
    Một giả thiết khác cho rằng:
    “Ngày xưa vùng đất này có nhiều cảnh đẹp nên tiên trên trời thường hay xuống đây du ngoạn. Một hôm có một nàng tiên vì quá say mê cảnh đẹp nên không kịp bay về trời và đã bị đày ở lại trần gian. Trong thời gian ở lại trần gian nàng tiên đã gặp và yêu một chàng tiều phu, tình cảm của họ ngày càng gắn bó. Thế nhưng lúc này nàng tiên đã hết hạn bị đày và phải quay về trời trong khi chuyện tình của họ vẫn chưa đi đến đâu. Hai người vì nhớ nhau nên đã khóc rất nhiều, nước mắt của họ hòa quyện vào nhau tạo thành dòng nước gây ngập lụt cả vùng cho nên người dân địa phương mới gọi núi này là núi Chứa Chan như tình cảm của họ.”
    Cách lý giải mới nhất và có lẽ hợp lí nhất cho tên núi Chứa Chan là do cách đọc trại âm từ từ Cho Chan hay Chóc Chan của người Chăm.
    Từ ngã ba nếu rẽ trái 2 km sẽ đến ngã ba Ông Đồn, thị trấn Gia Ray và 7 km sẽ lên núi Gia Lào, đi thẳng 98 km sẽ đến thành phố Phan Thiết. Núi này là phần cuối của dãy Trường Sơn ở Đông Nam Bộ.

    4. Tỉnh Bình Thuận
    Diện tích: 7.836,9 km2.
    Dân số (2006): 1.163.000 người.
    Tỉnh lỵ: thành phố Phan Thiết.
    Các huyện, thị: thị xã La Gi; huyện Tuy Phong, huyện Bắc Bình, huyện Hàm Thuận Bắc, huyện Hàm Thuận Nam, huyện Hàm Tân, huyện Đức Linh, huyện Tánh Linh, huyện Phú Quý.
    Dân tộc: Việt (Kinh), Chăm, Raglai, Hoa, Cơ Ho.
    Bình Thuận là một tỉnh duyên hải cực Nam Trung Bộ, phía Đông Bắc và Bắc giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây Nam giáp Bà Rịa - Vũng Tàu, phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông.
    Địa hình của tỉnh có thể chia thành ba vùng: vùng rừng núi, vùng đồng bằng và vùng ven biển. Bờ biển dài hơn 192 km (từ mũi đá chẹt giáp Cà Ná - Ninh Thuận đến bãi bồi Bình Châu - Bà Rịa - Vũng Tàu), có nhiều nhánh núi đâm ra biển tạo nên các mũi: La Gàn, Mũi Nhỏ, Mũi Rơm, Mũi Né, Kê Gà, chia bờ biển thành những đoạn lõm, vòm, tạo ra những vùng cửa biển tốt như: La Gàn - Phan Rí, Mũi Né - Phan Thiết, La Gi. Ngoài khơi có đảo Phú Quý, diện tích 16,5 km2, là cầu nối giữa đất liền với quần đảo Trường Sa.
    Các sông chảy qua tỉnh là sông La Ngà (từ cao nguyên Di Linh đổ xuống hồ Biển Lạc), sông Quao, sông Công, sông Dinh...
    Bình Thuận nằm trong vùng nhiệt đới, ít chịu ảnh hưởng gío mùa đông bắc, khí hậu nóng, khôn hạn. Nhiệt độ trung bình năm từ 260C đến 270C, lượng mưa trung bình năm từ 800 mm đến 1.150 mm.
    Bình Thuận là tỉnh có nhiều rừng. Công nghiệp chế biến gỗ, chế biến hạt điều và sản xuất hàng thủ công là thế mạnh của tỉnh, Bình Thuận có bờ biển dài, ngoài khơi giàu hải sản như cá thu, nục, ngừ, cơm, mực. Kinh tế phát triển mạnh, nhất là các lĩnh vực đánh bắt hải sản, sản xuất nước mắm, hải sản đông lạnh, làm muối.
    Thành phố Phan Thiết cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 200 km. Bình Thuận có quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam đi qua tỉnh. Nhiều bãi tắm cát trắng, nước trong xanh sạch sẽ cùng với những dải núi trùng điệp, nối những bãi biển nên thơ và những dải đồng bằng bát ngát. Tất cả đều khắc họa vẻ đẹp riêng hấp dẫn du khách mọi miền đến vối Bình Thuận.
    Đức Mẹ Tà Pao
    Tượng Đức Mẹ trên núi Tà Pao - Notre Dame de Ta Pao (gọi tắt là tượng Đức Mẹ Tà Pao) nằm ở xã Đồng Kho, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận là một trong năm tượng Đức Mẹ được đặt rải rác ở Miền Trung, Miền Nam và Cao nguyên Trung phần vào năm 1959.
    Ngày 8 tháng 12 năm 1959, lễ Cung hiến và khánh thành tượng Đức Mẹ Tà Pao do Giám mục Marcello Piquet (giám mục giáo phận Nha Trang bấy giờ) cử hành, với sự chứng kiến của đông đảo linh mục, tu sĩ và hàng chục ngàn giáo dân phần lớn gốc di cư từ Huế, Nha Trang, Buôn Mê Thuột, đồng bằng sông Cửu Long... Có thể nói Lễ Cung hiến và khánh thành tượng Đức Mẹ Tà Pao là một Đại lễ Tôn giáo tầm cỡ Quốc gia lúc bấy giờ.
    Từ năm 1964 đến năm 1975, toàn bộ vùng đất này thuộc quyền kiểm soát của Chính quyền Cách mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Hầu hết giáo dân đi sơ tán về vùng Nam sông La Ngà và những nơi khác, nên tượng Đức Mẹ Tà Pao dường như bị lãng quên từ đó.
    Sau năm 1975, vào khoảng tháng 10 năm 1980, một số giáo dân thuộc vùng kinh tế mới xã Đức Tân và xã Huy Khiêm đã tiến hành tìm kiếm lại tượng Đức Mẹ Tà Pao. Vào mùa Phục Sinh năm 1989, một số giáo dân giáo xứ Nghị Đức và Huy Khiêm đến thăm viếng tượng Đức Mẹ Tà Pao và phát hiện phần đầu, tay, chân của tượng bị bể nát. Khoảng cuối tháng 6 năm 1991, nhân dịp lễ hai thánh Tông Đồ là thánh Phêrô và thánh Phaolô, những người này được sự cho phép và cổ vũ của Giám mục Nicolas Huỳnh Văn Nghi (giám mục giáo phận Phan Thiết bấy giờ) và sự khích lệ của linh mục Phanxicô Xaviê Đinh Tân Thời (quản xứ Duy Cần cũ nay giáo xứ Gia An) đã đến nhờ nhà điêu khắc Lê Phát đắp vá và sửa sang lại tượng Đức Mẹ Tà Pao. Công việc hoàn tất ngày 30 tháng 7 năm 1991.
    Hiện tượng về bức tượng Đức Mẹ Tà Pao
    Ngày 29 tháng 9 năm 1999, lễ các Chúa Thánh Thần, một số giáo dân vùng Phương Lâm và các vùng phụ cận, sau đó là các vùng Dốc Mơ, Gia Kiệm, Hố Nai, rồi Sài Gòn...tuôn đổ về vùng giáp ranh giữa Phương Lâm và Tánh Linh với ước muốn được tận mắt chứng kiến hiện tượng lạ như lời kể của ba em học sinh ở Phương Lâm trước đó. Các em cho rằng đã thấy Đức Mẹ hiện ra và bay về phía bên kia núi.
    Kể từ đầu năm 2000, nhiều đoàn người đổ xô về núi Tà Pao để hành hương... Và rồi từ đó đến nay, nhiều người Công giáo đã tường thuật lại nhiều câu chuyện lạ và ơn lạ xung quanh bức tượng Đức Mẹ Tà Pao.
    Hiện nay, tượng Đức Mẹ Tà Pao và khu vực khuôn viên đã được chính quyền tỉnh Bình Thuận cho phép Tòa Giám mục Phan Thiết tiến hành trùng tu với hai hạng mục: trùng tu xây dựng lễ đài và xây dựng đường tam cấp để lên núi. Lễ đài được xây dựng trên nền cũ với diện tích 200 m² còn đường tam cấp được xây mới dài 250 mét, rộng 2 mét nhằm mục đích phục vụ khách hành hương thuận tiện khi lên núi viếng Đức Mẹ. Công trình được khánh thành vào ngày 13 tháng 5 năm 2007 (ngày 13 hàng tháng vẫn thường có thánh lễ do giám mục giáo phận Phan Thiết cử hành trên núi) và hiện nay chính thức có tên gọi là Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ Tà Pao.
    Núi Tà Cú
    Chùa tọa lạc trên đỉnh núi Tà Cú ở độ cao 475 mét thuộc xã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam, cách thành phố Phan Thiết khoảng 30 km về phía Đông Nam. Chùa Núi được xây dựng từ thế kỷ XIX, năm 1879 nhưng trước đó nhiều năm đã có chùa thờ Phật bằng mái tranh vách đất. Chùa Núi do nhà sư Trần Hữu Đức trụ trì, nơi xây dựng chùa do nhà sư chọn, ở đó quanh năm có cây xanh, suối chảy, chim vượn ở ngay cạnh chùa. Về sau có nhiều lý do khác nhau, chùa tách thành hai, chùa cũ gọi là chùa Trên với tên gọi là Linh Sơn Trường Thọ và chùa Dưới có tên là Linh Sơn Long Đoàn, gọi chung là Chùa Núi.
    Chùa Núi Tà Cú kết hợp, xen kẽ với núi rừng làm nên khu danh lam thắng cảnh từ xưa. Toàn thể cảnh chùa là một tong thể kiến trúc bao gồm: cổng Tam Quan, điện thờ, tượng Phật, tháp mộ, hang Tổ...ẩn mình dưới rừng cây cổ thụ xanh tươi bốn mùa.
    Từ dưới chân núi, leo lên hàng trăm bậc tam cấp theo những con đường ngoằn ngoèo giũa rừng già mới đến chùa. Ở đây không khí trong lành, mát lạnh, hơi nước toát ra từ núi đá với không khí lạnh mát hấp dẫn trong mùa hè. Chùa Núi nổi tiếng cũng nhờ vao phong cảnh hùng vĩ nên thơ của núi rừng. Mặt khác, Chùa Núi còn có pho tượng Phật nằm khổng lồ: “Thích Ca nhập niết bàn” nằm ở vị trí cao nhất cách chùa khoảng 100 mét. Tượng Phật này thuộc vào pho tượng Phật hiếm có trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Tác phẩm do kiến trúc sư Trương Đình Ý chủ trì vào năm 1962.
    Cách Pho Tượng Phật nằm chừng 50 mét là nhóm tượng Tam Thế Phật: A Di Dà, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí. Cả 3 pho tượng có chiều cao khoảng 7 mét, với nét mặt hiền hòa đang nhìn bao quát thế gian như để sẵn sàng cứu nhân độ thế.Vào các mùa trong năm lúc nào cũng có khách thập phương đến viếng Phật, ngắm cảnh chùa và rừng núi, nhất là dịp Xuân về Tết đến có hàng vạn người kéo đến chùa.
    Huyền thoại Linh Sơn Tà Cú
    Vùng đất cực Nam Trung Bộ có nhiều di tích lịch sử văn hóa, nhưng với Linh Sơn Trường Thọ trên núi Tà Cú (thuộc huyện Hàm Thuận Nam) lại mang một bản sắc rất riêng. Từ cảnh quan thiên nhiên đến những truyền thuyết như hòa quyện vào nhau để Tà Cú càng thêm hoang sơ và quyến rũ. Thắng cảnh di tích Tà Cú nằm ở vị trí đầu mối các tuyến đường giao thông: từ thành phố Hồ Chí Minh ra và các nẻo đường từ Vũng Tàu đi qua Suối nước nóng Bình Châu, Dinh Thầy Thím (Hàm Tân), Mũi điện Khê Gà...rất thuận lợi cho lộ trình hành hương và những chuyến lữ hành du lịch sinh thái. Khách sẽ ngỡ ngàng khi đứng trước cảnh chùa cổ kính, tượng phật trầm tư và dấu thiêng của Tổ sư từ buổi khai sơn cách đây trên 130 năm. Không đợi đến ngày giỗ tổ Hữu Đức hàng năm (mùng 5 tháng mười âm lịch), hoặc Tết nguyên đán mà gần như thường xuyên đều có khách thập phương đến viếng cảnh. Những tốp người lặn lội leo hàng ngàn bậc đá của những đoạn dốc cao kéo dài 2.000 mét mới đến được một cõi an nhiên đầy bóng xanh của tán lá rừng, lẩn khuất màu mây.
    Đã có khá nhiều trang viết, bài báo nói về chùa Tà Cú, nhưng với tôi mấy lần lên xuống núi vẫn mang nặng bao điều băn khoăn xung quanh những câu chuyện tưởng chừng bí ẩn. Hỏi chuyện nhà sư trụ trì, rồi gặp những người cao tuổi từng sống dưới mái ngói rêu phong của tổ đình và đến tận chùa Pháp Bửu Đàn (Hàm Tân) để nghe sư bà nói về ngôi chùa tổ cội nguồn. Tôi cảm nhận ra những điều kỳ diệu ở buổi ban sơ mà nhà sư Hữu Đức và các chư hậu tổ đã dày công tạo dựng ngôi chùa, những tượng Phật hoành tráng giữa chốn non cao rừng thẳm.
    Giữa hoàn cảnh núi cao, khí hậu khắc nghiệt, cách biệt với cư dân thì nhà sư sẽ sống ra sao? Nhưng được lý giải từ những môn đồ kế tục rằng: nhờ pháp thuật cao siêu mà Tổ Hữu Đức thuộc dòng Lâm Tế chánh tông thứ 40 đạt được sức mạnh chuyển hóa vạn vật xung quanh. Biết bao huyền thoại về tổ Hữu Đức suốt 16 năm khai sơn với sự nhiệm màu của trí huệ, đại hùng. Theo nhiều người truyền tụng, có một bạch hổ luôn phủ phục bên hang Tổ, quấn quít theo chân Tổ bất cứ đi đâu. Mãi cho đến ngày Tổ tịch thì hổ cũng chết theo nên mới có ngôi mộ hổ ở vườn chùa. Trên cánh rừng cạnh chùa có cặp chim hồng hoàng cao cát với bộ lông rất đẹp, xuất hiện từ khi có Tổ. Tiếng chim hót lên cũng là báo hiệu có khách thập phương dưới chân núi sắp lên rồi bay lượn dẫn đường không sai một bước. Bữa ăn hàng ngày của Tổ là lá rừng, rau lũi hái ở vách núi bên hang, nước uống thì lấy từ khe đá. Có người kể về giai thoại của Tổ cho đến sau này, đó là khi xây pho tượng Phật nằm 49 mét, nhu cầu vận chuyển hàng trăm tấn sắt thép, xi măng lên núi đã khó trong khi khối lượng cát xây phải cần đến gấp chục lần lại giữa địa hình sườn núi đá phủ kín mà không phải đưa từ dưới núi lên. Trước ngày thi công theo thời gian của thợ hồ, sư trụ trì lúc ấy cho trữ nước vào các hồ, mái chứa rồi bít kín các lỗ mạch nước chảy hàng ngày, sáng ra từ các mạch nổi đã trào ra những đụn cát nhuyễn dùng được cho công trình.Vào năm Tự Đức thứ 33 (1880), Hoàng Thái Hậu là bà Từ Dũ lâm trọng bệnh, mắt mù lòa nhưng các ngự y, danh y tài giỏi ở triều đều bất lực. Nhà vua châu tri khắp thần dân trong nước kêu gọi ai cứu được mẫu hậu sẽ trọng thưởng. Bởi tiếng đồn về danh đức, pháp thuật của Tổ từ lâu, nay quan thủ hiến đầu tỉnh Bình Thuận lập tức viết biểu tâu lên vua. Vua Tự Đức hạ chiếu sai sứ xin rước Tổ về triều chữa bệnh cho Hoàng Thái Hậu. Nhưng vì đã nguyện không bao giờ xuống núi nữa mà Tổ chỉ trao cho sứ thần thảo dược cùng cách sử dụng. Quả là linh nghiệm, sau khi uống hết các chú chuẩn đề và thuốc, Hoàng thái hậu vượt qua căn bệnh hiểm nghèo, nhanh chóng bình phục. Vua Tự Đức tỏ lòng cảm phục Tổ ban sắc phong bốn chữ “Linh Sơn Trường Thọ” cho nơi Tổ sáng lập và tu tịnh.
    Lần theo vách đá xuống hang Tổ trong bóng tối âm u chỉ vài chục mét đã thấy hơi lạnh xông lên đến rợn người. Vậy mà Tổ Hữu Đức chọn làm nơi thiền tịnh. Người ta kể, quăng một trái bưởi xuống hang thì vài ngày sau sẽ tìm thấy trái bưởi đó trôi trên biển Khe Gà... Chui vào lòng tượng Phật nằm, len qua những gộp đá hoa cương ở lưng chừng núi mới thấy trí lực của những thiền sư đã khơi dậy sự mầu nhiệm đáp ứng nỗi khao khát của con người. Tà Cú với tiềm năng đa dạng được thiên nhiên ưu đãi nức tiếng linh sơn từ rất xa xưa gắn với những ngày khổ hạnh tu luyện của Tổ Hữu Đức. Nơi đây hiện là một trong những điểm du lịch khá nổi tiếng của Bình Thuận.
    Chùa Núi cùng với những cánh rừng trong khu Bảo tồn Thiên nhiên đã được Nhà Nước xếp hạng Thắng cảnh Quốc gia năm 1993.
    Thành phố Phan Thiết
    Phan Thiết thời kỳ mới thành lập
    Cuối thế kỷ XVII, đạo quân của Chúa Nguyễn do Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh chỉ huy được lệnh tiến sâu vào vùng đất cực Nam. Năm 1693, vượt qua con sông Mai Nương của xứ Pan Ran (Phan Rang) băng theo vùng gió cát ven biển Đông, các toán quân binh lần lượt tiến vào cửa biển Paric (Phan Rí) rồi đến cửa Ba Giai (Phố Hài). Cuộc hành quân đường bộ dài khoảng 150 km ấy tạm dừng lại ở một dải đất trũng khá rộng nằm dọc theo biển, đây đó nhấp nhô những đòi đất sỏi chen với các đụn cát vàng nối dài.
    Một dòng sông từ hướng Tây xanh mờ non núi, chảy về uốn khúc giữa lòng thung lũng rộng mở nối xuôi thẳng ra vùng sóng nước mênh mông. Hai bên bờ sông mọc đầy những cụm bần, mấm cạnh các khe lạch lớn nhỏ, rải rác đây đó là đầm ao chen giữa lau sậy um tùm. Được biết nơi đây có tên gọi lâu đời của người Chăm là Hamu Lithit (xóm có tên là Lithit). Mặc dù sớm có mặt vài nhóm cư dân bản địa cất chòi, dựng trại làm rẫy và đánh cá, toàn vùng vẫn chưa được khai phá mấy, cảnh vật còn rất hoang sơ.
    Ngoài mấy ngôi tháp cổ kính màu đỏ gạch nung trơ vơ trên một ngọn đồi về hướng Đông Bắc, các xóm nhà còn lại chẳng có gì đáng kể, đất đai đậm nét nghèo nàn. Trong khi đó, sự trù phú của biển bày ra trước mắt với cảnh sớm sớm mặt nước chao động mạnh bởi chớn sóng của các đàn cá mòi dày đặc nổi gần bờ, hay ngoài xa kia, từng bầy cá voi với thân hình bóng loáng đang chập chờn phun cao vòi nước...
    Lúc đầu, chưa ai có ý định đặt ngay cho vùng đất này một tên gọi mới bằng tiếng Việt. Vậy mà không biết bao giờ, cái âm cuối của địa danh Chăm Lithit lại được gắn liền với âm “Phan” tách từ phiên âm của tên hai vùng Phan Rang, Phan Rí mà thành ra Phan Thiết. Dù chẳng mang ý nghĩa gì đặc biệt, cái tên mới Phan Thiết nghe cũng khá thuận miệng với mọi người.
    Buổi đầu hình thành Phan Thiết
    Như sử sách đã nêu, vùng đất có tên Phan Thiết mở ra cùng một thời gian hình thành tỉnh Bình Thuận. Nhưng đáng nói là qua nhiều năm, Phan Thiết vẫn chưa xác định thuộc đơn vị hành chánh cấp gì, đặc biệt cũng chưa nói rõ địa giới của nó tới đâu. Phải đợi đến khi Bình Thuận từ một Trấn đổi thành Phủ năm 1697 rồi sau đó đặt làm Dinh, thì Phan Thiết mới chính thức được công nhận là một Đạo (cùng một lượt với các Đạo Phan Rang, Phố Hài, Ma Ly vùng Tam Tân Lagi). Đạo là cấp hành chính dưới Dinh và trực thuộc Dinh về mọi mặt, mặc dù đứng đầu nó có hai viên quan văn, võ lo việc cai trị. Nhưng Đạo không được coi tương đương với cấp huyện và càng không thể sánh với Đạo được lập ra sau này là một tỉnh nhỏ.
    Dưới thời phong kiến, bộ máy hành chính của tỉnh Bình Thuận thường không ổn định được lâu. Đạo Phan Thiết lập nhưng chẳng có văn bản nào chỉ rõ nó quản lý trên phạm vi gồm bao nhiêu thôn, xã. Chỉ biết 128 năm sau năm 1825 vào thời Minh Mạng, Đạo Phan Thiết được giảm bỏ, và ruộng đất này cho nhập vào huyện (năm 1854 vào thời Tự Đức, huyện này là huyện Tuy Lý) thuộc phủ Hàm Thuận từ khi Bình Thuận chính thức cải thành tỉnh.
    Dù vậy, trải qua bao nhiêu năm, Phan Thiết vẫn được mọi người từ trong Nam ra ngoài Bắc vào đều nhắc tới là chốn thị tứ quen thuộc, sầm uất ở cuối miền Trung. Và cũng không mấy ai quên nơi đây trước kia là một nơi thường diễn ra các cuộc giao tranh ác liệt giữa các lực lượng quân Nguyễn và quân Tây Sơn kéo dài từ năm 1773 đến năm 1801. Sức người, sức của của vùng duyên hải trù phú này đã bị vơ vét, chiếm đoạt tận cùng để phục vụ cho cuộc nội chiến. Tiếp đến vào giữa thế kỷ XIX khi giặc Pháp đánh chiếm Sài Gòn - Gia Định năm 1859 thì từ đó Phan Thiết trở thành nơi lui tới, tụ họp thường xuyên của các phần tử yêu nước chống Pháp xâm lược ở Nam Bộ.
    Hậu quả chiến tranh tàn phá nặng nề khiến nhà thơ Nguyễn Thông mấy mươi năm sau về sống ở Phan Thiết đã ngậm ngùi nhìn cảnh đất này bằng mấy câu thơ:
    “Địa kinh nhưng mã nhân yên thiểu,
    Tuế khốn chinh thâu vật lực cùng.”
    (Tạm dịch là: Đất đai trải qua chiến tranh, người ở thưa thớt, hàng năm khổ sở về sưu thuế, của cải cùng kiệt).
    Năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Thị lang Bộ hộ là Đào Tri Phủ được cử làm việc khám đạc, lập địa bạ tỉnh Bình Thuận để chuẩn định và tiến hành đánh thuế. Trong số trên 307 xã, thôn thuộc hai phủ, bốn huyện và mười lăm tổng của tỉnh Bình Thuận, đo đạc xong ước tính có khoảng chín địa điểm năm trong khu vực được coi là vùng Phan Thiết thuộc tổng Đức Thắng. Bên hữu ngạn sông, đó là các xã Đức Thắng, Nhuận Đức, Lạc Đạo và các thôn Thành Đức, Tú Long. Bên tả ngạn là xã Trinh Tường và các thôn Long Khê, Long Bình, Minh Long.
    Qua nhiều lần thay đổi các đơn vị hành chính, một số thôn nhỏ sáp nhập thành làng lớn, có những địa danh cũ biến mất hẳn, không tiện tra cứu sau này, như Minh Long, Long Bình (thuộc địa phận Bình Hưng hiện nay) hay Long Khê (thuộc địa phận Phú Trinh). Một số thôn, xã khác cùng Tổng Đức Thắng nh Phú Tài, Phú Hội, Xuân Phong, Đại Nẫm thì được xem là ngoại vi của Phan Thiết. Vào thời đó, một số địa danh quen thuộc ở khu vực Phố Hài như Tân Phú, An Hải, An Hoà, Tú Lâm, Sơn Thủy, Thiện Chính, Ngọc Lâm...thì thuộc về Tổng Hoa An (sau đổi lại là Lại An) của huyện Tuy Định. Xa hơn nữa về phía Đông Phan Thiết, một số thôn xã dọc bờ biển như Khánh Thiện, Thạch Long, Long Sơn (nay thuộc khu vực Rạng - Mũi Né) lại thuộc một Tổng khác, Tổng Vĩnh An của huyện Hoà Đa.
    Cuối thế kỷ XVIII, một cây cầu gỗ dài 41 trượng (khoảng 164 mét) bắc qua sông Phan Thiết, cách biển trên một dặm (khoảng nửa km), nối liền con đường cái quan. Cầu có tên Thắng Kiều do một trăm dân đinh ở xã Đức Thắng được tha bắt lính và đóng thuế để dựng nên. Từ năm 1809 vào thời Gia Long, đường cái quan được tu bổ, mở rộng có quân xá và trạm dịch chuyển công văn từ trong ra ngoài. Đoạn ngang qua đồng bằng Phan Thiết rộng từ 40 km đến 50 km với gần 6 km qua toàn ruộng muối đến Phố Hài, là khu vực sầm uất nằm giữa hai trạm Thuận Lý và Thuận Phan. Phía tả ngạn sông lúc đó có phủ trị Hàm Thuận đóng, hai bờ sông đều nhóm họp chợ sớm chiều. Nhìn đâu đâu cũng người qua kẻ lại dập dìu, trên bờ cửa nhà chen chúc còn dưới bến thì tấp nập ghe thuyền. Đi xa trên 15 kilômét nữa, gặp trạm Thuận Tỉnh (nằm trong khu vực Rạng - Mũi Né) đóng giữa một làng đánh cá trù phú có tới 400 nóc nhà ngói.
    Bằng đường biển, người ta đã dùng mấy chục chiếc ghe bầu chuyên chở nhiều sản phẩm hàng hoá của ruộng đồng, rừng núi, sông biển Bình Thuận vào Sài Gòn - Gia Định và đến tận Singapore buôn bán. Đó là muối, cá mặn, nước mắm, bông vải, đậu phộng, heo sống, da thú các loại...và các thứ quý hiếm như ngà voi, sừng tê giác, trầm hương... Kết hợp những chuyến hàng bán ra nước ngoài, ghe thuyền trở về không quên mua sắm các món vũ khí, súng đạn để phòng thủ đất nước chống ngoại xâm, nhất là khi giặc Pháp rục rịch xuất hiện. Cho nên không phải ngẫu nhiên vào thời kỳ đó, đã có nhận định rằng Phan Thiết và Phố Hài là hai cửa khẩu quan trọng bậc nhất trên tuyến từ Nam Định vào Sài Gòn.
    Tuy vậy, mài đến gần cuối thế kỷ XIX, Phan Thiết vẫn chưa được công nhận chính thức là một đơn vị hành chính của tỉnh Bình Thuận. Có lẽ sẽ lợi nhiều hơn cho việc hình thành và phát triển của Phan Thiết nếu ngay từ năm 1835, vua Minh Mạng chịu chấp nhận đề nghị của tuần vũ Dương Văn Phong cho chuyển tỉnh thành Bình Thuận lập từ thời Gia Long ở gần Phan Rí (huyện Hoà Đa) về đóng ở địa phận Phú Tài - Đại Nẫm, huyện Hàm Thuận. Phải đợi đến hơn 60 năm sau, tức là vào năm Thành Thái thứ muời (năm 1898), tỉnh lỵ Bình Thuận mới đổi chỗ, đặt tại làng Phú Tài ở ngoại vi Phan Thiết. Phan Thiết từ lâu vốn được dư luận xa gần coi là một châu thành, thì nay mới chính thức đặt thành thị xã (centre urban), tỉnh lỵ của Bình Thuận sau khi có đạo dụ của vua Thành Thái ra ngày 20 tháng 10 năm 1898 (cùng một ngày thành lập các thị xã Thanh Hoá, Vinh, Huế, Hội An, Quy Nhơn). Bộ máy thống trị của Pháp ở Bình Thuận do một tên công sứ (résident) đứng đầu cùng cơ quan làm việc - gọi tắt là “toà sứ” - đặt thường trực tại Phan Thiết. Công việc đầu tiên mà bọn cầm quyền Pháp phải làm là sắp xếp lại thị xã Phan Thiết. Vì bước sang đầu thế k XX - mãi đến năm 1905 - thị xã này vẫn chưa xác định rõ ranh giới.
    Theo Nghị định số 4 (tháng 11 năm 1910) của toàn quyền A.Klobukowski, Phan Thiết bao gồm 16 làng xã. Cụ thể bên hữu ngạn sông có: Đức Thắng, Thành Đức, Nhuận Đức, Nam Nghĩa, Lạc Đạo, Tú Long; bên tả ngạn sông có: Long Khê, Phú Trinh, Trinh Tường, Đảng Bình, Quảng Bình, Thiện Mỹ, Thiện Chánh, Xuân Hoà, An Hải, Sơn Thuỷ (năm làng sau trước đây thuộc khu vực Phố Hài). Nay có thêm mấy địa danh mới như Nam Nghĩa, Quảng Bình là do số dân Quảng Nam, Quảng Nghĩa, Quảng Bình di cư vào Phan Thiết ngày càng đông, hình thành các vạn, hộ trên địa bàn làng Thành Đức và làng Long Bình. Và do sự điều chỉnh, sáp nhập mới nên có vài tên làng rất xưa như Long Bình, Minh Long không tồn tại nữa. Tuy vậy cũng chưa ổn, vì chỉ tám năm sau, theo Quyết định ngày 6 tháng 1 năm 1918 của Khâm Sứ Trung Kỳ Charles thì Phú Hài (tên gọi mới của Phố Hài) phải tách ra khỏi Phan Thiết để nhập về tổng Lại An của huyện Hàm Thuận.
    Bộ máy chính quyền ở Phan Thiết được quy định: đứng đầu là viên công sứ Pháp ở Bình Thuận kiêm chức đốc lý (résident-maire) vừa là Chủ tịch Ủy ban thành phố (conmission municipale), Phó Chủ tịch Ủy ban là viên tuần vũ; các ủy viên do Khâm sứ Trung kỳ chọn; và Ủy ban chỉ có chức năng tư vấn. Bên dưới có một bang tá trực tiếp làm việc với quan Đốc lý Pháp và quan tỉnh của Nam triều. Mỗi phường có một phường trưởng thuộc quyền của bang tá. Ngoài phường trưởng còn có các hương chức khác thừa hành công vụ như của các làng xã ở phủ, huyện.
    Vào thời ấy, Phan Thiết có số dân chừng 25.000 người (trong tổng số trên 10 vạn dân của Bình Thuận). Bên cạnh đại đa số người Việt, có khoảng trên 700 Hoa Kiều và Minh Hương, 60 người Âu và một số ít người Ấn...
    Phan Thiết hôm nay
    Thành phố Phan Thiết là một Tỉnh lỵ của tỉnh Bình Thuận, là một thành phố trẻ rất năng động với tốc độ phát triển rất cao, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 200 km và nằm ở phía Nam của vịnh Cam Ranh là khu vực cuối cùng của miền Trung, nay thuộc miền Đông Nam Bộ. Tỉnh Bình Thuận là một trong những phần đất của Vương quốc Chăm cổ. Vào năm 1962, Nguyễn Phúc Chu đã chiếm được mảnh đất này và đặt tên là Phủ Bình Thuận.
    Mảnh đất Bình Thuận rất quan trọng trong chiều dài lịch sử Việt Nam, đây là nơi mà vào năm 1306 Vua Trần Nhân Tông đã đồng ý gã con gái là Huyền Trân Công Chúa cho Vua Jaya Shinavarman II của Vương quốc Chăm. Trong quá trình đất tranh chống Thực dân Pháp, Bình Thuận là nơi mà 2 nhà thơ yêu nước là Phan Chu Trinh và Trần Quý Cáp đã khởi đầu các cuộc đấu tranh của họ.
    Hơn thế nữa, theo ghi nhận được lưu trong tỉnh, Phan Thiết là nơi mà nhà thơ Hàn Mặc Tử đã trải qua quãng đời của mình tại đây để làm thơ và chờ đợi Mộng Cầm, một người đàn bà trong mộng của nhà thơ đã yêu suốt cuộc đời của mình.
    Là thành phố chính của tỉnh Bình Thuận với dân số ước tính là hơn 100.000 dân. Thành phố bắc qua dòng sông Cà Ty đã chi thành phố làm hai: Nam Phan Thiết và Bắc Phan Thiết và có khoảng 20 km bờ biển dành bãi tắm du lịch Đồi Dương và các tàu thuyền đánh bắt hải sản trong suốt mùa cá. Ngư nghiệp là ngành công nghiệp lớn của Phan Thiết.
    Theo thống kế trong tỉnh, hàng năm đánh bắt hơn 70.000 tấn cho hơn 100 loại cá khác nhau. Và sản phẩm nổi tiếng của Phan Thiết là nước mắm. Đây là sản phẩm đã được nhiều nước trên thế giới và các tỉnh bạn biết đến, đây cũng là một gia vị không thể thiếu trong bữa ăn của người Việt.
    Sông Cà Ty chảy qua Phan Thiết một cách yên bình, tạo cho Phan Thiết một nét đẹp nên thơ đầy quyến rũ. Hầu hết tất cả các công trình đều được xây dựng 2 bên bờ sông Cà Ty.Người dân Phan Thiết rất lịch lãm và mến khách vô cùng, đây là tính cách của những người dân xứ biển của Phan Thiết. Họ sinh sống bằng cách đánh bắt hải sản ở biển và chế biến hải sản.
    Hầu hết các du khách đến Phan Thiết đều bị lôi cuốn bởi mùi thơm của đặc sản rất riêng của Phan Thiết đó là mùi hương của nước mắm trong quá trình chế biến. Đây là qui trình chế biến rất công phu qua nhiều giai đoại khép kín từ việc đánh bắt cá, được rửa sạch cá và muối cá trong những thùng lều cao lớn.Toàn bộ qui trình chế biến nước mắm qua việc muối cá trong thùng lều với thời hạn từ 8 tháng đến một năm trước khi thành phẩm khi xuất hiện nước trong màu hơi đỏ chảy ra từ thùng lều, người ta gọi đó là nước mắm nhỉ, nước mắm nhỉ rất ngon và thơm. Sau đó người ta làm loãng đi rồi đóng chai.
    Nước mắm chế biến từ Phan Thiết xuất hiện trên khắp miền đất nước. Ngày nay, sản xuất hàng năm của nước mắm Phan Thiết từ 16 tiệu lít đến 17 triệu lít. Muối được dùng để làm nước mắm cũng là một trong những sản phẩm của Bình Thuận.
    Chùa hang Cổ Thạch
    Chùa Hang còn gọi là chùa Cổ Thạch, tọa lạc tại bờ biển xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, cách thành phố Phan Thiết 105 km về hướng Bắc. Chùa được xây dựng trong hang đá lớn do thiền sư Bảo Tạng lập vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Đường lên chùa Hang có xây bậc, lan can hai bên chùa đắp rồng. Trên núi đá nhỏ sát bờ biển có tượng Phật Quan Thế Âm Bồ tát. Trong chùa có tượng Đức Phật Thích Ca. Cạnh chùa là bãi đá Cà Được nhiều màu sắc chạy dọc bờ biển gần 1 km. Xung quanh chùa Hang cảnh quan tuyệt đẹp, một làng du lịch Cổ Thạch mới mọc lên với nhiều ngôi nhà xinh xắn được xây theo kiểu nhà sàn để đón khách phương xa về viếng chùa và thưởng ngoạn thắng cảnh.
    Cổ Thạch là một vùng núi đá rộng, gồm hàng ngàn, hàng vạn tảng đá lớn nhỏ, có tảng đá nguyên khối to như những ngôi nhà, có tảng giống như bàn Thạch, có những tảng chồng lên nhau, úp vào nhau, như có bàn tay con người sắp đặt, bố trí, có những tảng đá có hình thù kỳ lạ đầy tính cách huyền bí và chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ độc đáo với nhiều hang động nguyên sinh luồn sâu vào trong núi.
    Chùa Cổ Thạch ngoài vẻ đẹp tự nhiên của hang động kết hợp với sự sáng tạo của con người, ở đây còn lưu giữ nhiều di sản văn hóa lịch sử quý hiếm: nhiều di sản văn hóa Hán Nôm liên, đối, hoành phi và những tài liệu có từ ngày lập chùa. Một số cổ vật có giá trị lịch sử văn hóa khác như Đại Hồng chung, trống sấm đều có niên đại từ nửa đầu thế kỷ XIX.
    Chùa Hang hàng chục năm nay do Hòa thượng Thích Minh Đức trụ trì là điểm du lịch chính ở Bình Thuận, hàng chục vạn du khách từ mọi miền đất nước và du khách nước ngoài đến đây hàng năm để chiêm bái, lễ Phật và tham quan danh lam thắng cảnh độc đáo hiếm có ở đây. Những giá trị về thắng cảnh thiên nhiên và về lịch sử - văn hóa, Cổ Thạch Tự đã được Nhà nước xếp hạng di tích thắng cảnh cấp quốc gia năm 1993.
    Nhà máy nước suối Vĩnh Hảo
    Nhà máy nước suối Vĩnh Hảo thuộc xã Vĩnh Hảo huyện Tuy Phong, cách QL 1A 1 km. Trước 1975, nước suối Vĩnh Hảo là một trong những sản phẩm nổi tiếng trên thị trường Đông Nam Á. Dòng suối Vĩnh Hảo được xem là linh thiêng đối với người Chăm xưa.
    Năm 1301, thái thượng hoàng Trần Nhân Tông cùng đòan Chiêm Quốc du ngoạn, ông đã từng hứa gả con gái là Huyền Trân Công Chúa cho vua Chế Mân. Tháng 6 năm 1306, Chế Mân dâng hai Châu Ô và Lý để làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân. Trong thời gian sống ở Chiêm Quốc, Huyền Trân và Chế Mân thướng đi thưởng ngoạn ở dòng suối này. Do thấy phong cảnh hữu tình và dòng suối đẹp nên Huyền Trân đặt tên là Vĩnh Hảo để nói lên sự giao hảo bền chặt giữa hai nước Việt - Chăm.
    Năm 1928 được người Pháp khai thác gọi là Vichy giống như loại nước khoáng nổi tiếng bay giờ của Pháp. Nước suối Vĩnh Hảo được chính thức nghiên cứu năm 1945. Nước suối Vĩnh Hảo thực sự lớn mạnh khi trở thành một công ty cổ phần tài chính Sài Gòn hợp tác với công ty nước giải khát Tribeco với vốn ban đầu là 10 tỷ đồng.Sau đây là những cái nhất của tỉnh Bình Thuận:
    1. Vùng đồi cát Mũi Né đẹp nhất và hoạt động du lịch dã ngoại sôi động nhất.
    2. Bãi đá Cổ Thạch ở Tuy Phong nhiều hình hài màu sắc nhất.
    3. Ngọn đèn biển Khê Gà 100 m hơn trăm tuổi bằng đá cao nhất.
    4. Tượng Phật nằm lớn nhất dài 49 m nằm giữa rừng nguyên sinh trong khuôn viên chùa Linh Sơn Trường Thọ trên núi Tà kú thuộc Hàm Thuận Nam.
    5. Tháp nước đẹp nhất cao 32m, 70 tuổi ở trung tâm Phan Thiết (do Hoàng thân Xuvanuvông thiết kế).
    6. Đền thờ cá voi Vạn Thủy Tú lớn nhất, lưu giữ hơn 100 bộ xương cá voi ở Phan Thiết.
    7. Vùng trồng thanh long nhiều và ngon nhất, sò điệp nhiều và có giá trị nhất.
    8. Có nhiều cuộc thi dân gian độc đáo nhất như đua thuyền trên sông Cà Ty, leo núi Tà kú, chạy việt dã qua đồi cát. Quy mô hội thi và rước đèn Trung thu lớn nhất cho trẻ em.
    Vạn Thủy Tú
    Vạn Thủy Tú được ngư dân Thủy Tú thiết lập bắt đầu vào năm Nhâm Ngọ (1762) để thờ Ông (cá voi) với Chính điện, nhà thờ Tiền Hiền, Võ Ca bố trí theo hình chữ Tam mặt chính quay ra hướng Đông. Lúc mới xây dựng xong cửa Vạn sát ngay bờ biển, ngày nay bờ biển đã dời xa ra ngoài hơn 100 mét. Hiện nay Vạn Thủy Tú tọa lạc trên đường Ngư Ông, phường Đức Thắng, thành phố Phan Thiết.
    Chức năng của đình làng thường xây dựng để thờ Thành Hoàng làng và đình làng thường đi liền với các làng mạc nông nghiệp còn Vạn, Dinh lại thờ cá Ông (cá voi) và thường được xây dựng ngay sát bờ biển của các làng Ngư. Thờ cá Ông, mà theo họ đó là vị Thần thường cứu giúp ngư dân mỗi khi gặp nạn trên biển, là vị Thần thủy chung với ngư dân nên được ngư dân kính yêu và tôn trọng. Xuất phát từ những lễ nghi tín ngưỡng xưa của người Chăm, nên tín ngưỡng dân gian gắn với tín ngưỡng nghề nghiệp từ đời này qua đời khác theo phong tục và truyền thống của ngư dân.
    Vạn Thủy Tú từ ngày xưa dựng xong đến nay đã chứa gần 100 bộ xương cá voi và nhiều loài khác cùng họ. Quá nửa có niên đại trên 100 năm đến 150 năm, trong đó có những bộ xương to lớn được thờ phụng tôn nghiêm.
    Trong khuôn viên của Vạn có một doi đất rộng, dùng để mai táng cá Ông mỗi khi ông “lụy” và dạt từ biển vào. Mỗi lần mai táng xong, sau 3 năm mới được thương cốt, nhập tẩm theo phong tục. Trong số ngư dân hễ người nào trông thấy “Ông” trước là người đó được làm “con trưởng” của Ngài, và người này phải lo làm đám tang chu đáo, để tang sau 3 năm mới hết hạn ... Điều đó cho thấy những phong tục, cử chỉ của ngư dân đối với cá Ông theo tín ngưỡng gần như quan hệ giữa người với người.
    Vạn Thủy Tú là một trong những Dinh, Vạn cổ xưa nhất của nghề biển ở Bình Thuận, được ngư dân làm nghề biển coi như Thủy tổ nghề biển. Trong Vạn chứa nhiều di sản văn hóa Hán - Nôm liên quan đến nghề biển, thể hiện trong nội dung thờ phụng ở các khám thờ, tượng thờ, hoành phi, liên đối, trên văn khắc của Đại Hồng Chung. Vạn Thủy Tú là một trong những di tích cổ có số lượng lớn, sắc phong của các vị Vua Triều Nguyễn ban tặng để thờ cá Ông và các vị Hải Thần, vì trước đây trong chiến tranh phong kiến với nghĩa quân Tây Sơn, các tướng lĩnh nhà Nguyễn đã nhiều lần được cá Voi cứu nạn trên biển. Có 24 sắc phong của các đời vua: Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân, Khải Định, riêng Vua Thiệu Trị (1841 - 1847) đã ban tặng 10 sắc Thần là điều hiếm thấy so với các di tích khác. Vạn Thủy Tú đã được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1996.
    Do nhu cầu nghiên cứu, tham quan của các nhà nghiên cứu, của du khách và để bảo tồn bộ xương cá voi xưa nhất, lớn nhất ở Vạn Thủy Tú, hiện nay ở đây đang xúc tiến việc xây dựng một dãy nhà trưng bày và bảo quản, gắn với việc trùng tu tôn tạo lại các hạng mục của di tích.
    Bí mật của những bộ hài cốt “Ông Nam Hải”
    Người nổi tiếng “có duyên” nhất Vạn Thủy Tú là ông Nguyễn Sáu - thường gọi là ông Sáu Vẹo - một ngư phủ đã gặp “Ông” lụy không dưới 15 lần. Có lần kéo lưới lên, thấy “Ông” mắc lưới, ông Sáu đành bỏ mẻ cá ấy để đưa “Ông” ra; nhưng đến hai lần sau vẫn thấy “Ông” chui vào trở lại, ông Sáu cho rằng “Ông” sắp lụy nên đã chọn mình để ký thác xương cốt. Ông Sáu đành bỏ chuyến biển hôm ấy để đưa “Ông” vào bờ, lên Ngọc Lân thánh địa trong đình Vạn Thủy Tú nằm chờ chết.
    Ngọc Lân thánh địa là nghĩa trang chôn cất thi hài các vị hải thần mới chết, trước khi được bốc mộ rửa sạch xương cốt đưa vào thờ phụng trong đình. Đó là một khoảnh đất có hàng rào bao quanh nằm trước sân đình, bên trong có một am nhỏ để thắp hương và nhiều loại hoa được trồng xen giữa 24 ngôi mộ đắp đất. Hàng năm, đình Vạn Thuỷ Tú có 5 kỳ tế lễ vào các ngày âm lịch: ngày 20 tháng 2 (Tế Xuân); ngày 20 tháng 4 (Cầu ngư); ngày 20 tháng 6 (Chính mùa); ngày 20 tháng 7 (Chèo dọc) và ngày 23 tháng 8 (Mãn mùa, cúng giỗ Ông).
    Không chỉ những ngư phủ mới tin vào sự phù trợ của các vị hải thần như một tín ngưỡng dân gian mang tính truyền thống. Các vị vua nhà Nguyễn cũng ghi nhận công lao đó với 24 điệu sắc thần. Trong số đó, riêng vua Thiệu Trị ban tặng đến 10 điệu sắc thần, còn lại là của các đời vua Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân, Khải Định... Những điệu sắc thần viết trên giấy thủ công - trong đó, 10 bản đã có hơn 150 năm tuổi nhưng vẫn được giữ gìn cẩn trọng, nguyên vẹn trong ngôi đình Vạn 240 năm tuổi này. Đình Vạn Thủy Tú hiện còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị liên quan đến lịch sử hình thành và phát triển cộng đồng cư dân nghề cá vùng hữu ngạn cửa sông Phan Thiết do các bậc tiền bối để lại. Trong đó, có chiếc chuông đồng đúc vào năm Nhâm Thân (1872), đến nay đã được 130 năm; thân chuông có dòng chữ “Tự Đức nhị thập ngũ niên - Xuân quý giáo đáng - Thủy Tú Vạn - Bổn Vạn đồng ký”.
    Từ xa xưa, ngư dân duyên hải miền Trung có tín ngưỡng thờ cúng cá voi như vị thần hộ mệnh. Với sự tôn kính đặc biệt và nhớ ơn loài cá khổng lồ qua những truyền thuyết cứu nạn người đi biển khi gặp bão to sóng dữ, họ gọi cá voi là “Ông Nam Hải”.
    Khoảng sau năm 1693, theo chân những đoàn quân nhà Nguyễn, những ngư phủ vùng Nam, Ngãi, Bình, Phú...đã đưa gia đình lên thuyền xuôi về phương Nam, đổ bộ lên cửa biển Phố Hài lập nghiệp. Khi những cộng đồng ngư dân đã an cư, ngoài việc lập đình thờ Thành hoàng và chư vị tiên hiền như những làng xã chuyên sống bằng nghề nông, họ còn lập đền miếu thờ Ông Nam Hải. Trải qua bao dâu biển đổi thay, bên hữu ngạn cửa sông Phan Thiết ngày nay - thuộc phường Đức Thắng, thành phố Phan Thiết - có một ngôi đình toạ lạc tại số 20A đường Ngư Ông được xếp hạng di tích cấp quốc gia vào năm 1996 là Đình Vạn Thủy Tú.
    Đình được dựng lên vào năm Nhâm Ngọ (1762), mặt hướng ra biển Đông. Kiến trúc đình nhỏ và bình thường như những đình làng khác ở miền Trung, nhưng bên trong có nhiều điểm khác biệt. Hương án chính giữa đình Vạn Thủy Tú thờ Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Tôn Thần; bên trái thờ Thủy Long Thánh Phi Nương Nương Tôn Thần và bên phải thờ Thái Hiệu Tiên Sư Tôn Thần. Cạnh chính điện còn có miếu thờ đức Quan Thánh. Phía sau là những phòng lưu trữ, bảo tồn chừng 600 bộ hài cốt của các “Ông”, “Bà” và “Cậu” là những hải thần phò trợ, cứu mạng người đi biển theo quan niệm của ngư dân. Theo ông Nguyễn Xèng - một lão ngư 69 tuổi, gốc người Quảng Điền (Thừa Thiên Huế), ngư dân địa phương gọi cá Ông lớn là Ông Nam Hải, nhỏ là Cậu; gọi các loài rùa biển là Bà sống khến, Bà Năm, Bà Bảy... Những vị hải thần này thường tấp vào bờ để “lụy” (chết), cũng có khi chui vào lưới của các ngư phủ khi sắp “lụy”. Hàng năm, ngư dân Thủy Tú cũng vớt được “Ông” hoặc các “Bà” lụy, có năm tới từ 6 tới 7 trường hợp cả ven bờ và trên biển...
    Trong hàng trăm bộ hài cốt lưu giữ tại đình Vạn Thủy Tú có hai bộ xương cá voi rất lớn. Tài liệu cũ chép rằng: “Thuở mới lập Vạn xong, một hôm Ngài bị lụy ở ngoài khơi trôi về ngay trước cửa Vạn. Vì Ngài lớn quá (dài hơn 20 mét, nặng tới vài chục tấn) nên mãi hai ngày sau, với sự giúp sức của ngư dân các làng lân cận đến giúp mới tẩm liệm xong cho Ngài”. Ông Nguyễn Xèng lại kể rằng: “Khi Ngài lụy, bạn chài nhiều làng đang đánh cá cùng phát hiện và tranh nhau đưa về thờ phụng. Lúc ấy, Vạn Thuỷ Tú đông người, nhiều ghe nên đưa được Ngài về vùng nước cạnh hòn Lao (trước mặt đình Vạn) rồi đóng cọc buộc giữ xác ngài để thủy táng vì không có cách nào kéo lên bờ được. Sau ba năm mới đưa xương cốt Ngài vào đình bảo quản, thờ phụng”. Theo ông Xèng, bộ xương lớn nhất (dài 22 mét) có niên đại chừng 110 năm, bộ lớn thứ nhì (dài 14 mét) của Ông lụy năm 1953.
    Đình Vạn Thuỷ Tú là di tích văn hóa tín ngưỡng địa phương có niên đại sớm nhất ở Phan Thiết và cả tỉnh Bình Thuận - tính đến nay đã được 240 năm, gần bằng thời gian thành lập tỉnh Bình Thuận - là kiến trúc đánh dấu sự hình thành và phát triển nghề cá và cộng đồng ngư dân địa phương, một bộ phận quan trọng trong cơ cấu xã hội ở Phan Thiết, Bình Thuận.
    Về việc phục chế bộ xương cá voi ở Vạn Thuỷ Tú
    - Năm 1995, một bộ xương cá voi dài gần 18 mét đã được phục chế, lắp đặt tai Viện Hải Dương Học Nha Trang. Lúc ấy, bộ xương cá voi này được coi là có kích thước lớn nhất được phát hiện ở Việt Nam. Thực ra, bộ xương cá voi lớn nhất ở đình Vạn Thuy Tú đã được bảo quản, lưu giữ từ nửa sau thế kỷ 19 có kích thước lớn hơn nhưng chưa được các nhà quản lý và giới khoa học biết đến.
    Bộ xương ở Viện Hải Dương Học Nha Trang bị vỡ nhiều xương sườn và không có cặp ngà. Bộ xương ở Thuy Tú còn nguyên cặp ngà quý giá nhưng thiếu khá nhiều đoạn xương sống và xương đầu bị vỡ, sứt nhiều chỗ do quá trình dịch chuyển và chất những bộ xương khác chồng lên. Để khiêng bộ xương đầu ra khỏi hậu đình, đem ra nhà võ ca để phục chế, gần hai chục thanh niên lực lưỡng phải gồng mình hết sức mới nhấc lên nổi.
    - Bộ xương ở Vạn Thuỷ Tú thiếu: 14/63 đốt xương sống; 4/30 chiếc xương sườn; 4 đốt xương treo, 13 đốt xương chi trước và 8 xương móng, vi.
    - Công nghệ composite được dùng phục chế bộ xương cá voi ở Vạn Thuy Tú, có khả năng chịu đựng khí hậu vùng biển nhiệt đới tốt hơn thạch cao đã dùng cho bộ xương ở Viện Hải Dương Học Nha Trang. Toàn bộ khung đỡ, giá treo dùng inox. Bục đế hình chiếc thuyền bằng gỗ hương. Mặt sàn lót mica với hệ thống đèn chiếu tạo hình ảnh sóng biển. Thiết kế và thi công do Doanh nghiệp Tư nhân Lê Vũ (Nha Trang) đảm nhận với sự tư vấn về khoa học của các ông Đào Tấn Hỗ và Chu Anh Khánh (Viện Hải Dương Học Nha Trang).
    Mũi Né
    Nằm cách Thành phố Phan Thiết 22 km về hướng Đông Bắc. Mũi Né là tên của một làng chài và cũng là một điểm du lịch quen thuộc của Bình Thuận. Dọc theo quốc lộ 706 từ thành phố Phan Thiết đến Mũi Né là một dãy đồi cát thoai thoải và bãi cát ven biển rộng, thoáng mát với những rặng dừa tuyệt đẹp. Bãi biển nông, thoải, nước sạnh và trong, nắng ấm quanh năm, không có bão là nơi tắm biển, nghỉ ngơi lý tưởng dành cho du khách.
    Mũi Né có nhiều bãi biển hoang sơ, nguyên thủy, chưa có sự khai thác của con người, cảnh quan hùng vĩ, môi trường thiên nhiên trong lành như bãi Ông Địa, Bãi Trước và Bãi Sau. Đến Mũi Né, các bạn có thể tắm biển, nghỉ dưỡng, chơi thể thao, du thuyền trên biển, dã ngoạn kết hợp săn bắt, câu cá, chơi golf... Tại Mũi Né, còn có Đồi Cát, nơi mà bao năm qua trở thành đề tài sáng tác của nhiều nghệ sĩ nhiếp ảnh. Ngoài các bãi biển, cồn cát, khu vực này còn có nhiều cảnh đẹp như Suối Tiên, Lầu Ông Hoàng, Tháp Chăm Pôshanư. Dọc bãi các ven biển là các làng du lịch, khách sạn, biệt thự và nhiều công trình thể thao giải trí.
    Hầu hết các du khách đến Mũi Né đều bị lôi cuốn bởi mùi thơm của đặc sản rất riêng của Phan Thiết đó là mùi hương của nước mắm trong quá trình chế biến. Đây là qui trình chế biến rất công phu qua nhiều giai đoại khép kín từ việc đánh bắt cá, được rửa sạch cá và muối cá trong những thùng lều cao lớn.Toàn bộ qui trình chế biến nước mắm qua việc muối cá trong thùng lều với thời hạn từ 8 tháng đến một năm trước khi thành phẩm khi xuất hiện nước trong màu hơi đỏ chảy ra từ thùng lều, người ta gọi đó là nước mắm nhỉ, nước mắm nhỉ rất ngon và thơm. Sau đó người ta làm loãng đi rồi đóng chai.
    Nước mắm chế biến từ Phan Thiết xuất hiện trên khắp miền đất nước. Ngày nay, sản xuất hàng năm của nước mắm Phan Thiết từ 16 triệu lít đến 17 triệu lít. Muối được dùng để làm nước mắm cũng là một trong những sản phẩm của Bình Thuận.
    Mặc dầu ngư trường là ngành công nghiệp lớn tại Phan Thiết, xong nó vẫn là một nghề kinh tế gia đình của nhiều ngư dân ở vùng biển Mũi Né. Khi những người đàn ông ra biển đánh cá ngoài khơi thì ở nhà những người phụ nữ lại quán xuyến việc nhà, bán buôn, đan lưới, là trụ cột cho gia đình.
    Hầu hết địa hình của Mũi Né bao gồm đồi núi và cát nên ngành nông nghiệp rất ít phát triển chỉ một vài vụ mùa của một số cây trồng chịu sống được trên đất khô.
    Chỉ đi theo hướng Đông của Phan Thiết độ một vào kilômét là các bạn sẽ gặp một dãi bãi tắm chạy dọc theo bờ biển và có rất nhiều cảnh đẹp thuộc trong số những bãi biển đẹp nhất Việt Nam đó chính là Đồi Cát - Mũi Né.
    Một hàng hàng dừa thẳng tấp dọc hai bên đường như nghiên mình chào đón những du khách đến đây, và còn có những đồi cát rộng mênh mông với màu vàng, trắng hay đỏ tạo nên khung cảnh rất hùng vĩ và đẹp mắt mà tạo hóa đã ban cho mảnh đất Mũi Né.
    Vào khoảng giữa tháng 7 đến tháng 10 là mùa cá, đây cũng là giai đoạn đỉnh điểm của những ngư dân vùng biển Phan Thiết ra biển khơi đánh bắt cá.Vào đêm tối, ánh sáng phát ra từ những chuyếc thuyền của nhưng ngư dân đang đánh bắt xa bờ hiện lên phía chân trời ngoài biển khơi một màu lấp lánh trông rất đẹp và quyến rũ. Từ đất liền nhìn những ánh đèn đó tập trung với nhau trông giống như một thành phố nỗi đang lênh đênh trên biển.
    Hòn Rơm
    Người ta kể lại rằng, hàng năm vào mùa mưa, gặp điều kiện thuận lợi nên khu vực này có cỏ dại mọc rất nhiều. Khi mùa khô đến, dưới cái nắng chói chang, cỏ dại trờ nên vàng úa, nhìn từ xa trông giống như những đồng rơm khổng lồ, cái tên Hòn Rơm xuất phát từ đó.
    Hòn Rơm còn có bãi biển tuyệt đẹp, nằm còn có bãi tuyệt đẹp, nằm cạnh đồi Mũi Né, tạo nên cảnh sơn thủy hữu tình. Ngày nay, đến Hòn Rơm, ngoài ngắm biển đốt lửa trại du khách có thể ghé thăm Suối Hồng, chinh phục đồi cát Mũi Né, câu cá ngoài khơi. Được thưởng thức những con cá tươi - tặng vật của biển do công sức mình bỏ ra và ngắm cảnh quang thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ, quả không gì bằng.
    Bàu Trắng
    Nằm tại thôn Hồng Lâm, xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình (nằm trong tuyến dã ngoại Hòn Rơm kéo dài). Bàu Trắng là khu nước ngọt cách Phan Thiết khoảng 65 km về hướng Đông Bắc. Hình thành khá lâu đời, bàu này nằm giữa vùng đồi cát mênh mông xen lẫn nhiều khóm cây rừng thấp. Bàu có nhiều hoa sen nên được nhiều người gọi là Bàu Sen. Dân gian xưa gọi là Bàu Ông, Bàu Bàvì bàu chia làm hai phần được cắt ngăn bằng một ngọn đồi (và con đường đất đá đỏ mới mở rộng băng ngang qua). Nước trong hồ ngọt và trong, từ xa nhìn thấy một màu xinh mát dịu phủ lên những đồi cát trắng. Dù là một bàu nước do thiên nhiên tạo thành, nhưng vì ở vùng khô và nước biển mặn, dân gian vẫn tỏ lòng biết ơn do bàu cung cấp nguồn nước quí nuôi sống con người và những loài vật ở đây trong những ngày nắng hạn. Bàu này có nhiều loài cá lớn, hấp dẫn, cư dân trong vùng thả câu và kể cả những người thích đi câu từ những nơi khác cũng tìm đến. Sách xưa viết “Hồ Trắng có hai hồ, hồ trên và hồ dưới, ở phía Tây Nam huyện Hòa Đa, phía Tây Ba Động. Hồ trên chu vi 8 dặm lịch, hồ dưới chu vi 22 dặm lịch, nước trong, ngọt, bốn mùa không tăng, không giảm. Phía Tây Bắc là động cát, phía Tây nam là chân rừng, trên bờ phía Nam có đền chúa Động.”. Nơi sâu nhất của Bàu Trắng là 19 mét, cạn dần vào phía bờ. Quanh bờ có nhiều bông sen, vào mùa hè sen nở rộ, tô điểm thêm cho vùng cát trắng những màu sắc rực rỡ. Bàu Trắng là nơi có nguồn nước ngọt tự nhiên duy nhất ở xã Hòa Thắng, như một bầu sữa lớn nuôi nhân dân ở vùng này. Từ xa xưa, chung quanh Bàu Trắng có nhiều làng thôn của người Chăm sinh sống, đã sử dụng nước trong hồ. Người Chăm đã dựng đền thờ nữ thần Pô Nagar về phía Nam Bàu Trắng. Về sau, ngôi đền bị sụp đổ nhưng dấu tích vẫn còn. Vào năm 1867, cụ Nguyễn Thông đi ngang qua thấy cảnh đẹp kì lạ, đã gọi là Hồ Trắng và làm nhiều bài thơ vịnh để ca ngợi, trong đó có bài “Quá Bình Nhơn Sa Mạc” (qua bãi cát Bình Nhơn) và “Bạch Hồ Nhàn Hành” (dạo chơi Hồ Trắng). Với nguồn nước mát quanh năm, Bàu Trắng làm dịu không khí nóng bỏng của đồi cát mênh mông và làm cho cát ẩm ướt, đi không lún chân, cát ít tung bay như nhiều đồi cát khác, vì thế đồi cát ở đây được coi là kì diệu, một thắng cảnh tuyệt vời hiếm có, vừa hùng vĩ vừa dịu dàng.
    Tháp Pôshanư
    Nhóm đền tháp Chăm Pôshanư tọa lạc trên đồi Bà Nài thuộc xã Phú Hải về phía Đông Bắc cách thành phố Phan Thiết chừng 7 km được người Chăm xây dựng từ những cuối thế kỷ VIII đầu thế kỷ IX thuộc phong cách kiến trúc nghệ thuật Hoà Lai - một trong những phong cách nghệ thuật cổ của Vương quốc Chămpa mà hiện nay những ngôi tháp này còn lại rất ít như một số phế tích ở khu thánh điạ Mỹ Sơn, còn lại nhóm Hoà Lai (Phan Rang) nhóm Pô Dam (Tuy Phong - Bình Thuận) và tương đối nguyên vẹn là nhóm đền tháp Pôshanư.
    Nhóm tháp gồm có 3 tháp: tháp chính A hơi chếch về phía Nam, hai tháp phụ là B hơi chếch về phía Bắc và tháp C chếch về hướng Đông cạnh tháp A. Nội dung của việc xây dựng nhóm tháp trong giai đoạn lịch sử này để thờ thần Shiva (một trong những vị thần Ấn Độ giáo được người Chăm sùng bái, tôn kính) biểu hiện bằng bệ thờ Linga - Yôni bằng đá hiện còn lưu giữ tại tháp chính. Đến thế kỷ XV người Chăm tiếp tục xây dựng một số đền thờ dạng kiến trúc đơn giản để thờ công chúa Pôshanư, tương truyền là con vua ParaChanh được nhân dân yếu quý về tài đức và phép ứng xử của Bà đối với người Chăm đương thời. Những cuộc khai quật khảo cổ học từ năm 1992 đến năm 1995 đã phát hiện nhiền nền móng của những ngôi đền bị sụp đổ và bị vùi lấp hàng trăm năm nay, cùng với gạch ngói và một số hiện vật trong lòng các đền tháp có niên đại từ thế kỷ XV. Từ đây tháp có tên gọi là Pôshanư.
    Pôshanư là nhóm đền tháp Chăm có vai trò quan trọng trong số các di tích kiến trúc Chăm ở Bình Thuận, từ hình dạng kiến trúc đến kỹ thuật xây dựng và trang trí nghệ thuật trên thân tháp, các vòm cuốn, các cửa chính, cửa giả, trong lòng và lên đến đỉnh tháp. Riêng kỹ thuật xây dựng và trang trí nghệ thuật còn lại ở thân tháp đủ gợi lên yếu tố thẩm mỹ khá riêng biệt của phong cách Hoà Lai.
    Tháp chính A từ trong lòng tháp lên đến đỉnh cao 15 mét, cạnh đáy mỗi bề gần 20 mét, một cửa chính dài, hướng về phía Đông mà theo truyền thuyết Chăm hướng Đông là nơi cư ngụ của thần linh. Có 3 cửa giả ở những hướng Bắc, Tây, Nam. Trên vòm cuốn ở hướng Tây hiện còn những dãy chạm khắc dày đặc với những bông hoa và hình tượng kỳ lạ. Tháp có 4 tầng càng lên cao càng thu nhỏ lại và bớt đi những yếu tố kiến trúc của tầng dưới. Trên đỉnh tháp có 4 cửa sổ hình tam giác hướng về 4 phía, bên ngoài xây bít kín, dưới mỗi cửa sổ gạch có 4 lỗ lớn để thông gió ra ngoài.
    Tháp B nằm riêng chếch về hướng Bắc cao khoảng 12 mét, về cơ bản hình dáng kiến trúc giống tháp A nhưng đơn giản hơn. Trước đây trong tháp có thờ con bò thần Namdin nhưng sau đó không thấy nữa. Năm 1995 lúc khai quật dưới lòng đất đã tìm thấy một bàn chân và một tai bò thần bằng đá.
    Tháp C hiện chỉ còn lại với chiều cao hơn 4 mét, duy nhất một cửa mở về hướng Đông những kiến trúc và trang trí nghệ thuật bên ngoài đã bị thời gian bào mòn chỉ còn lại một số đường nét gốc.
    So với những tháp Chăm khác, đến nay di tích này hàng năm vẫn có đông đảo người Chăm từ các vùng lân cận đến làm lễ cầu mưa và những nghi lễ khác liên quan đến phong tục tập quán của họ. Một điều khá lý thú nữa là đối với ngư dân những vùng lân cận trước khi đi biển cũng đến đây cầu xin cho những chuyến đi biển được bình yên.
    Nhóm đền tháp Chăm Pôshanư đã được tu bổ, tôn tạo từ năm 1990 đến năm 2000 và hiện nay đã hoàn chỉnh việc tu bổ di tích. Di tích này đã được Nhà nước xếp hạng Di tích Kiến trúc Nghệ thuật Quốc gia năm 1991.
    Lầu Ông Hoàng
    Lầu Ông Hoàng bao gồm một quần thể đồi núi, sông, biển, chùa tháp tạo thành khu danh lam thắng cảnh nổi lên với ngọn núi Cố tương đối cao và 4 ngọn đồi nhấp nhô sát biển, đẹp nhất là núi Cố, đồi Bà Nài, cửa sông Phú Hài và bờ biển cùng những làng chài xưa cách thành phố Phan Thiết 7 km về hướng Đông Bắc.
    Năm 1911 một ông Hoàng người Pháp là công tước De Montpensier từ Pháp sang du lịch, săn bắn ở những ngọn đồi lân cận, thấy phong cảnh sơn thủy đẹp ở đây khiến ông nảy sinh ý định mua đất và xây dựng biệt thự, cũng để có nơi nghỉ nghơi trong các kỳ săn bắn và du lịch sau này. Nguyện vọng của ông đã được nhà cầm quyền pháp ở Bình Thuận (công sứ Garnier) đồng ý bán quả đồi Bà Nài. Ngày 21 tháng 2 năm 1911 biệt thự được khởi công xây dựng và gần một năm sau đó hoàn chỉnh, với diện tích rộng 536 m2 chia thành 13 phòng. Khu biệt thự được xây cách nhóm đền tháp Pôshanư gần 100 mét về phía Nam. Đây là khu biệt thự đẹp, đầy đủ tiện nghi, ban đêm có máy phát điện dưới biệt thự có nhiều hầm chứa nước mưa đủ cho những người trong biệt thự dùng trong một năm, được coi là hiện đại nhất Bình Thuận lúc bấy giờ. Từ đó nhân dân Phan Thiết quen gọi khu vực này là đồi “Lầu Ông Hoàng”. Vài chục năm sau thi sĩ Hàn Mạc Tử đã đến địa danh này và đã để lại nhiều kỉ niệm khiến cho Lầu Ông Hoàng càng có ý nghĩa. Hiện nay, Lầu Ông Hoàng là một quần thể du lich hấp dẫn bao gồm: nhóm Tháp Chăm Cổ, bên cạnh có chùa Bửu Sơn cổ kính, dưới chân đồi là bờ biển, cửa sông Phú Hài, núi Cố... Tất cả hợp thành một quần thể di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh của Phan Thiết.
    Sông Cà Ty
    Sông Phan Thiết xuất hiện từ năm Đinh Sửu (1679), thứ 6 đời Hiển Tông, Hiếu Minh Hoàng đế Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725). Lúc bấy giờ, do xếp đặt lại vùng đất mới để cai trị, triều Nguyễn đặt phủ Bình Thuận làm đơn vị hành chánh, dinh Bình Thuận làm cơ quan hành chính, trực tiếp quản lý 4 đạo (tương ứng cấp tỉnh): Phan Rang, Phố Hài, Phan Thiết, Ma Ly. Mỗi đạo đều có quan văn và quan võ. Trên bản đồ, nó được ghi là sông Cà Ty, bến của nó là nơi mọi người qua lại, tắm giặt, lấy nước của bà con Phú Hội và Phú Mỹ. Lên miệt trên, nó được gọi là sông Mường Mán. Đến thượng nguồn, nó là con sông Cái (con sông mẹ) vì nó là nơi tụ hội, hợp lưu của các con sông Mán, sông Rao Ết, sông Linh...và các con suối Vàng, suối Thi, suối Ya-U...nằm trong địa phận các thôn 1, 2, 3 của xã Hàm Cần, thuộc đồng bào dân tộc Rai và một số dân tộc Kho mà xưa kia gọi là xã Đăng Gia thuộc Tổng Cà Dòn. Đọc “Đại Nam Nhất Thống Chí” phần tỉnh Bình Thuận đã ghi rất rõ: “sông Phan Thiết ở phía Tây huyện Tuy Lý (tên Tuy Lý có từ năm 1854, Tự Đức năm thứ 7), phía Đông giáp Hòa Đa, Tây giáp Biên Hòa, chảy về phía Đông qua xã Phú Hội gọi là sông Bao Lân”. Sau này đổi tên thành sông Cà Ty dài 5 km, càng mở rộng về phía biển, thủy triều lên xuống thuyền bè tấp nập đông vui. Năm 1952, cầu Phan Thiết bị sập lại thêm sóng thần làm thành phố Phan Thiết bị lụt 3 ngày. Năm 1993, do mặt sông bị lấn chiếm, rác nhiều, lũ đến dòng chảy không có lối thoát tràn ngập vào chợ. Để đảm bảo đời sống của người dân, ta phải cải tạo hệ thống thủy lợi, quy hoạch lại hệ thống dân cư, tiến hành nạo vét...
    Tháp nước Phan Thiết
    Đài nước được xây dựng từ cuối năm 1928 đến năm 193

    Tháp nước Phan Thiết
    Đài nước được xây dựng từ cuối năm 1928 đến năm 1934 mới hoàn thành. Thiết kế tháp nước do Hoàng thân của Vương Quốc Lào, nguyên là Chủ tịch nước Cộng Hòa Nhân Dân Lào Suhanouvong là kỹ sư trưởng khu Công chánh Nha Trang. Thác nước có chiều cao từ sân tới đỉnh la 32 mét. Tháp nước có hai phần: phần trên là bầu dài (bồn nước) hình bát giác, phần dưới là thân dài. Tuy tháp nước được xây dựng đã 70 năm với sự tàn phá của khí hậu miền biển Phan Thiết và qua các trận bão lũ lịch sử nhưng tháp nước đến nay chất lượng vẫn còn tốt.
    Trường Dục Thanh
    Trường Dục Thanh được xây dựng năm 1907 (cùng năm xây dựng với Trường Đông Kinh Nghĩa Thục) tọa lạc trên địa bàn làng Thành Đức nay là số nha 39 đường Trưng Nhị, phường Đức Nghĩa, thành phố Phan Thiết, để hưởng ứng phong trào Duy Tân do cụ Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp và do các cụ Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh (hai người con nhà văn - thơ yêu nước Nguyễn Thông) thành lập. Mục tiêu của phong trào Duy Tân và của trường là mở mang dân trí, thức dậy ý thức dân tộc, nòi giống. Đây là trường tư thục có nội dung giảng dạy tiến bộ nhất ở Bình Thuận lúc bấy giơ.
    Nãm 1910 trên đường đi tìm đường cứu nước, thầy giáo Nguyễn Tất Thành (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) được cụ nghè Trương Gia Mô giới thiệu đã đến Phan Thiết và dừng chân dạy học ở trường Dục Thanh. Học sinh của trường có khoảng 60 người cùng 7 thầy giáo giảng dạy các bộ môn: Hán văn, Pháp văn, thể dục - thể thao...
    Thầy Thành dạy lớp nhì, chủ yếu là dạy quốc ngữ, Hán văn. Trong thời gian dạy học ở trường Dục Thanh ngoài nội dung được phân công giảng dạy thầy Thành còn bằng tình cảm người thầy, người anh đã truyền bá lòng yêu nước, nòi giống tổ tiên cho học sinh. Những giờ học ngoại khóa, những lúc rảnh rỗi Thầy Thành dẫn học sinh du ngoại cảnh đẹp ở thị xã Phan Thiết lúc bấy giờ như bãi biển Thương Chánh, động làng Thiền, đình làng Đức Nghĩa.
    Vào khoảng tháng 2 năm 1911, thầy Thành rời trường Dục Thanh và Phan Thiết vào Sài Gòn vượt đại dương đi tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc. Một vài năm sau, ông Nguyễn Trọng Lội qua đời, ông Nguyễn Quý Anh chuyển vào Sài Gòn, không còn người phụ trách và do nhiều lý do khách quan nên trường đóng cửa vào năm 1912.
    Ngôi trường xưa Bác dạy đã bị hư hỏng và dỡ bỏ từ lâu. Nhưng trong số học sinh thầy Thành dạy nãm xưa vẫn còn 4 người còn sống. Sau ngày quê hương được giải phóng, nguyện vọng của nhân dân là muốn phục chế lại ngôi trường Dục Thanh xưa để tỏ lòng biết ơn Bác Hồ kính yêu và giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ hiện nay và mai sau. Nhà Ngư được xây dựng từ năm 1906 và từ năm 1908 trở đi dùng làm nơi nội trú của học sinh cũng được khôi phục lại.Ngọa Du Sào là ngôi nhà được xây dựng từ nãm 1880 của cụ Nguyễn Thông. Vào những nãm cuối đời cụ Nguyễn Thông ở tại căn nhà này ngâm thơ, bình văn và luận bàn công việc với các sĩ phu yêu nước. Lúc ở trường Dục Thanh, thầy Thành đọc sách, soạn bài ở Ngọa Du Sào, ngôi nhà này cũng được tu bổ lại, hiện vật bên trong bị xáo trộn và mất mát khá nhiều.
    Cây khế, giếng nước gắn bó với cuộc đời làm thầy của Bác Hồ ở Dục Thanh nên nó cũng là điểm chính trong khu di tích.
    Những hiện vật gốc từ thời thầy Thành dạy học đến nay vẫn còn lưu giữ lại: một bộ trường kỷ, một bộ ván, chiếc án thư, nghiên mài mực, một chiếc tủ đứng, tráp vãn thư, ba chiếc ly nhỏ, một chiếc khay. Tất cả đều cũ kỹ nhưng được cất giữ bảo quản tốt. Đó là những kỷ vật thiêng liêng gắn liền với thời gian và lịch sử của những ngày dạy học ngắn ngủi ở Phan Thiết của thầy giáo Nguyễn Tất Thành.
    Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh tỉnh Bình Thuận
    Bảo tàng Hồ Chí Minh - chi nhánh Bình Thuận là một trong những chi nhánh của hệ thống bảo tàng về Bác Hồ kính yêu trên khắp mọi miền đất nước. Đây là công trình kiến trúc đẹp có khuôn viên rộng, chia làm hai phần: tượng đài và vườn hoa cùng với một khu nhà hai tầng. Khu nhà có diện tích 748 m2 được xây dựng từ năm 1986, bên trong là những gian phòng dùng làm nơi trưng bày các hiện vật quí về cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Bác, đặc biệt là những hiện vật gắn liền với thầy giáo Thành trong những ngày tháng lưu lại dạy học ở Phan Thiết đều được trưng bày tại đây. Đến đây, du khách sẽ có cơ hội tìm hiểu và biệt thêm về cuộc đời hoạt động của Bác, thấy được công lao to lớn của vị lãnh tụ kính yêu đối với dân tộc, với đất nước.
    5. Tỉnh Ninh Thuận
    Diện tích: 3.363,1 km2.
    Dân số (2006): 567.900 người.
    Tỉnh lỵ: thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.
    Các huyện: huyện Ninh Hải, huyện Ninh Phước, huyện Ninh Sơn, huyện Bác Ái, huyện Thuận Bắc.
    Dân tộc: Việt (Kinh), Chăm, Raglai, Hoa, Cơ Ho...
    Ninh Thuận nằm ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận và phía Đông giáp biển Đông.
    Ninh Thuận được bao bọc ba mặt là núi: phía Bắc và phía nNam tỉnh là hai dãy núi cao nhô ra sát biển, phía Đông là vùng núi cao của tỉnh Lâm Đồng. Địa hình có ba dạng: miền núi, đồng bang, vùng ven biển. Tỉnh có hai hệ thống sông chính: hệ thống sông Cái bao gồm các sông nhánh như sông Mê Lam, sông Sắt, song Ông, sông La, sông Quao...và hệ thống sông suối nhỏ phân bố ở phía Bắc và Nam tỉnh như sông Trâu, sông Bà Râu.
    Ninh Thuận nằm trong khu vực có vùng khô hạn nhất nước, khí hậu nhiệt đới gió mùa với các đặc trưng là khô nóng, gió nhiều và bốc hơi mạnh, không có mùa đông. Nhiệt độ trung bình năm 270C, lượng mưa trung bình 705 mm và tăng dần theo độ cao lên đến 1.100 mm ở vùng miền nui. Một năm ở đây có hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ 12 đến tháng 4 năm sau.
    Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm nằm trên giao điểm của ba trục giao thông chiến lược là đường sắt Bắc - Nam, quốc lộ 1A, đường số 11 đi Đà Lạt. Phan Rang - Tháp Chàm cách thành phố Nha Trang 105 km, Đà Lạt 110 km, thành phố Hồ Chí Minh 350 km và Hà Nội 1.382 km.
    Ninh Thuận đang hình thành các vùng sản xuất chuyên canh như: nho, thuốc lá, mía, đường bông, hành, tỏi và nuôi trồng thủy sản. Ninh Thuận là một trong số các ngư trường lớn của nước ta.
    Ninh Thuận là một bức tranh hài hòa giữa đồng bằng, đồi núi và biển cả. Nằm trong cụm du lịch quốc gia thuộc tam giác Đà Lạt - Nha Trang - Phan Rang, Ninh Thuận có vườn quốc gia Núi Chúa, nhiều thắng cảnh đẹp như bãi biển Ninh Chữ, bãi biển Cà Ná, đèo Ngoạn Mục, thủy điện Đa Nhim va nhiều di tích qúi như các tháp Chàm: Pôklong Garai, Pôrômê, Hòa Lai...hầu như còn khá nguyên vẹn. Đến thăm nơi đây du khách có thể tham gia nhiều loại hình du lịch: tắm biển, nghỉ dưỡng, du thuyền, leo núi, săn ban, tham quan các di tích lịch sử, hoặc tham dự các lễ hội của người Chăm.
    Bãi biển Cà Ná
    Hành trình trên quốc lộ 1A, khi đến đoạn giáp ranh Bình Thuận - Ninh Thuận, biển Cà Nà hiện ra bát ngát, bao la được mệnh danh là nàng công chúa ngủ quên. Biển xanh, cát trắng, ghềnh đá, núi non...cộng với các tuyến đường giao thông uốn luợn qua các eo biển, tạo cho Cà Ná một cảnh quan đầy ngoạn mục với khí hậu nắng ấm quanh năm. Cà Ná có đủ loại hình du lịch leo núi, khám phá những danh lam, di tích còn giữ nguyên nét hoang sơ, du lịch biển, hải đảo... Nước biển Cà Ná xanh thẳm, có độ mặn cao hơn các vùng khác từ 3% đến 40%, chỉ cần từ bờ lội ra khơi chừng 20 mét, với độ sâu chỉ khoảng từ 1 mét đến 1,5 mét, du khách có thể thỏa sức ngắm các rạn san hô rất đẹp ẩn sau tầng nước. Bãi tắm trải dài xa hút, cát trắng tinh anh, sạch sẽ. Những ghềnh đá hoa cương điểm xuyến thêm nét đẹp đặc trưng của Cà Ná. Chính những ghềnh đá này tạo nên nhiều hang động kỳ bí như: hang Ông Phật, ghềnh Ông Nồng, giếng Đục...
    Đến đây, du khách sẽ được đắm mình trong dòng nước xanh mát, chiêm ngưỡng những mỏm đá đủ loại hình thù nằm sát mép bờ, chụp ảnh lưu niệm hoặc tổ chức leo núi, thưởng thức các món ăn đặc sản, thăm các danh thắng, các công trình văn hóa đặc sắc, các làng nghề truyền thống của dân tộc Chăm thuộc huyện Ninh Phước, đi thuyền ra đảo Cù Lao Câu, tắm nước khoáng Vĩnh Hảo.
    Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm
    Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm (thường được gọi tắt là Phan Rang) là tỉnh lỵ của tỉnh Ninh Thuận. Vùng đất này từng là kinh đô Panduranga của Vương quốc Chămpa cổ. Thành phố Phan Rang cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km, cách Đà Lạt 110 km, cách Nha Trang 105 km và cách Hà Nội 1.388 km.
    Thành phố Phan Rang có diện tích: 79,3756 km² (2007) và dân số: 162.941 người (2007). Thành phố có 15 đơn vị hành chính bao gồm 12 phường: Bảo An, Đô Vinh Phước Mỹ, Phủ Hà, Thanh Sơn, Mỹ Hương, Kinh Dinh, Đạo Long, Tấn Tài, Mỹ Đông, Đài Sơn và Đông Hải và 3 xã: Văn Hải, Mỹ Hải và Thành Hải.
    Thị xã Phan Rang được thành lập theo đạo dụ của Khải Định ban hành ngày 4 tháng 8 năm 1917. Trước năm 1976, Phan Rang là tỉnh lỵ tỉnh Ninh Thuận. Từ 1976 đến 1991, khi tỉnh Ninh Thuận hợp nhất với tỉnh Bình Thuận (kể cả tỉnh Bình Tuy của Việt Nam Cộng hòa) thành tỉnh Thuận Hải thì Phan Rang không còn là tỉnh lỵ tỉnh Ninh Thuận.
    Tháng 4 năm 1977 thị xã Phan Rang bị hạ cấp xuống là thị trấn huyện lỵ huyện Ninh Hải, còn Tháp Chàm là thị trấn huyện lỵ huyện An Sơn. Năm 1992, tỉnh Thuận Hải được tách ra thành tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Bình Thuận. Khi tỉnh Ninh Thuận được tái lập, thị xã Phan Rang hợp nhất cùng với Tháp Chàm thành thị xã Phan Rang - Tháp Chàm, đồng thời trở thành tỉnh lỵ tỉnh Ninh Thuận.
    Đầu tháng 2 năm 2007, thị xã Phan Rang - Tháp Chàm trở thành thành phố theo Nghị định của Chính phủ. Tên Tháp Chàm được đặt theo cụm tháp Pôklông Glarai phía Bắc thành phố.
    Dân tộc Chăm
    Người Chăm còn có tên gọi là Chàm, Chiêm, Chiêm Thành... Người Chăm có dân số 98.971 người thuộc nhóm ngữ hệ Nam Đảo. Vương quốc Chămpa tồn tại từ thế kỷ II đến đầu thế kỷ XVII. Lãnh thổ kéo dài từ Quảng Bình đến Bình Thuận, số còn lại cư trú ở An Giang, Phú Yên, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Định, Tây Ninh. Vào thế kỷ XV sau những lần giao tranh với Đại Việt thất bại, một số người đã chay sang Campuchia. Đến thế kỷ XVII họ lại trở về. Vào những năm 1940 do chiến tranh họ lại di chuyển lên sống và định cư ở thành phồ Hồ Chí Minh.
    Làng của người Chăm gọi là Plây, xung quanh không có cây cối hoặc chỉ có vài cây me vì họ cho rằng ma quỷ trú ngụ trên những cây to. Nhà được xây dựng dựng về hướng Nam. Một gia đình sống trong khuôn viên có hàng rào bằng cây khô. Người Chăm sống theo chế độ mẫu hệ. Mỗi gia đình có những ngôi nhà xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: một căn nhà lớn cho cả nhà gọi là Thang Yơ, đến khi con gái lớn lấy chồng thì mọi người nhường căn nhà đó cho cô và cất căn nhà khác bên cạnh gọi là Thang Mưyân. Khi cô con gái thứ hai lấy chồng cô cả phải ra ở cạnh để nhường cho cô em. Cô con gái út được hưởng nhà đó và có nhiệm vụ giữ Chick Atâu - là một cái giỏ tre đựng đồ quý của gia đình để cúng giỗ gia đình.
    Người Chăm ăn cơm gạo được nấu trong nồi đất. Thức ăn gồm thịt, cá, rau củ do săn bắt, hái lượm, chăn nuôi. Ngưởi Chăm ở Bình Thuận, Ninh Thuận ăn bằng đũa. Người Chăm theo đạo Hồi không ăn thịt bò vì bò là vật linh thiêng. Họ cũng không ăn heo vì heo là con vật dơ bẩn. Họ có món canh Vabai nấu bằng là rừng trộn thịt, bột gạo rồi khuấy đều. Món cháo chua, bánh nhân chuối. Thức uống có rượu cần, rượu gạo.
    Lịch sử vương quốc Chămpa
    Vương quốc Chămpa ra đời vào cuối thế kỷ thứ II (năm 192), gồm hai bộ phận: Chăm phía Nam (từ Phú Yên, Khánh Hòa trở vào) gọi là Nam Chăm, một bộ phận ở phía Bắc là tiểu quốc Lâm Ấp gọi là Bắc Chăm, hai bộ phận này thường xảy ra tranh chấp.
    Khoảng từ năm 349 đến năm 361, Phạm Phật (phiên âm Hán Việt) có công thống nhất Bắc Nam Chăm lập ra vương quốc Chămpa, đây có thể là tên một loài hoa mà ta thường gọi là hoa Sứ - Michilia Champacca Lênaie. Phạm Phật có thể là ông vua Bhadravarman được biết đến đầu tiên trong các bia ký để lại.
    Vương triều Gangaragia: từ đầu thế kỷ thứ VI đến năm 734. Đây là thời kỳ cực thịnh của vương quốc Chăm, trải qua chín đời vua và chịu ảnh hưởng rất lớn của Ấn Độ Giáo, văn hóa Ấn Độ. Kinh đô lúc này là Trà Kiệu (gọi là thành Sư Tử) Sinhapura thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam và cách Thánh Địa Mỹ Sơn 28 km về phía Tây.
    Vương triều Panduranga : từ 734 đến giữa thế kỷ IX, lúc này Bắc Chăm có nhiều biến động nên trung tâm Chămpa chuyển vào Khánh Hòa, có sáu đời vua.
    Vương triều Đông Dương Indrapura: từ giữa thế kỷ IX đến thế kỷ X. Lúc này, kinh đô Chăm chuyển ra phía Bắc xây dựng tại làng Đông Dương, bên bờ sông Ly Ly, một nhánh của sông Thu Bồn, cách cố đô Trà Kiệu 15 km về phía Nam. Indrapura là thành phố chiếu đầy ánh hào quang. Trong thời kỳ này do ảnh hưởng của Phật Giáo nên Đông Dương là nơi tập hợp đền chùa và cung điện với hơn 30 công trình kiến trúc, có cả chùa Phật Giáo và Ấn Độ giáo. Vương triều này có chín đời vua.
    Vương triều Vijaya: Vua Yangpuku lên ngôi năm 999 quyết định dời đô về Vijaya, còn gọi là thành Đồ Bàn, với trung tâm là ngọn tháp Cánh Tiên, thuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Vương triều kéo dài khoảng năm thế kỷ với nhiều biến động, nhiều lần dời đô về phương Nam và lãnh thổ lúc này bị thu hẹp dần.
    Vương triều Paduranga: từ giữa thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVII. Sau khi thành Đồ Bàn thất thủ, vương quốc Chămpa bước vào giai đoạn cuối cùng của nó. Lúc đầu đóng đô ở KauHara (Khánh Hòa), sau đó chuyển về vùng Phan Rang. Cho đến 1693 nhà Nguyễn chiếm được Phan Thiết thì vương triều Chămpa mất hẳn độc lập, chỉ tồn tại như một thế lực bán tự chủ. Trong thời Minh Mạng, Chămpa trở thành một thành phần của dân tộc Việt Nam. Hiện nay tại xã Phan Thanh, huyện Bắc Ninh, tỉnh Bình Thuận có bà Thêm thuộc dòng dõi hoàng tộc Chăm, còn giữ một số châu báu của vua Chăm như vương niệm có trong lượng khoảng 1,5 kg vàng y.
    Nghĩa địa Chăm
    Theo các triết lý Bà La Môn, người Chăm Bà La Môn hỏa thiêu người chết, đem tro đổ xuống biển, sông, suối, ao, hồ. Theo các truyền thuyết, chỉ sau đời vua Pô Alloah (khoảng thế kỷ XI) tro cốt của vua chúa mới được chôn trong tháp, của quý tộc ở lăng tẩm còn thứ dân thì rắc bỏ dưới nước. Dần dần do nhu cầu tình cảm, muốn giữ lại di cốt người chết sau khi hỏa thiêu, Kút đã xuất hiện. Kút nghĩa là nghĩa địa, nơi chôn giữ chín mảnh xương trán của người chết xếp theo dòng tộc mẹ cuả người Chăm Bà La Môn. Theo suy đoán, có lẽ Kút xuất hiện từ thời Pôklông Garai. Ở làng Chăm Hữu Đức nơi có phế tích Pôklông Halâu, còn lại những đá Kút, người Chăm gọi là Kút Pôklông Halâu. Kế đến la một Kút cổ nằm kề Pôrômê. Anh Trương Đại Thọ, người bảo vệ tháp này cho biết dù đã khóa (không nhập thêm cốt vào) từ xa xưa nhưng Kút vẫn được người của dòng tộc thuộc xã Phước Thái chăm sóc hàng năm. Được tạo dựng từ lâu đời, phần bị thất tự, hầu hết các Kút cổ đều bị phế tán. Để giữ lại đá Kút của những Kút cổ, mới đây trung tâm nghiên cứu Chăm Ninh Thuận đã đưa về lưu giữ năm Kút cổ vô chủ. Kút thường được chọn đặt nơi vuông đất cách xa làng từ 1 km đến 2 km nhưng khi làng mở rộng đã có Kút nằm giữa làng. Kút Mu Khú Than của dòng họ Lưu Thị Pa Ga ở làng Mậu Sanh (Phước Hữu, Ninh Thuận) rộng không quá 250 m2, nằm ngay đầu làng. Kút của dòng họ Kà Đạ ở làng Chăm Mỹ Nghiệp nằm cuối làng, kế khu dân cư và trường học. Đây là một Kút khang trang và hiện đại. Người Chăm Bà La Môn không chôn di cốt của mỗi người thành một mộ phần trong Kút. Trên nền của Kút vồn không rộng đó - tối đa chừng 500 m2, chỗ đặt di cốt là bệ rộng không quá 200 m2 được định vị bởi những viên đá Kút, mặt trên để trống hoặc tráng xi măng, lát gạch. Dưới mỗi viên đá Kút có một hố nhỏ để đưa cốt nhập vào. Người ta không đưa cốt lẻ nhập Kút mà chờ tới khi trong dòng tộc có nhiều cốt mới rước vị sư cả về làm lễ nhập Kút một lần. Trong thời gian chờ nhập Kút, cốt được đặt ở một nơi kín đáo và dễ nhớ. Việc tìm đá Kút, định vị chúng trên nền Kút cũng theo một triết lý. Viên đá giữa tượng trưng cho Nữ thần của Kút (Pô Inư Nagar Kút) được chọn lấy từ biển. Viên đặt ở hướng Tây dành cho nữ, cầu cho sự sinh sản, viên đá phải có phần dưới (mông) to tròn, mập mạp và phải được tìm từ sông Cái trong vùng. Viên đặt ở hướng Đông dành cho nam, được tìm ở ngọn núi cao nhất trong vùng, cầu cho sự trường tồn, khang kiện, viên đá phải có phần giữa (ngực) nở nang. Không có ngày tảo mộ hàng năm. Khi thấy Kút bị cỏ dại cành cây che khuất (trong Kút thường trồng cây để tỏa bóng mát) thì người trong tộc sẽ đến làm lễ xin phép thổ thần để cùng nhau dọn dẹp.
    Người Chăm Bà Ni không hỏa thiêu người chết mà lại chôn cả thi thể người chết. Nghĩa địa của họ chung cho cả làng, trong đó phần của mỗi dòng tộc được xếp theo từng cụm. Khùn-rát (ghurrăk) được nối bởi hai từ: ghur là đụn, động cát và răk là nấm mồ trên đụn cát bởi ngưiời Chăm thường lập làng ven biển. Khùn-rát ở làng Phước Nhơn (Ninh Hải, Ninh Thuận) là vùng đất rẫy nằm ở mé Tây Bắc của làng. Chăm Bà Ni không phân biệt tuổi tác, trẻ con, người lớn đều được chôn trực tiếp trong nghĩa địa dòng tộc. Khùn-rát tốn rất ít đất bởi các mộ nằm ken xít nhau. Anh Thập Liên Trưởng, cư dân của làng, hiện là cán bộ nghiên cứu văn hóa Chăm Ninh Thuận cho biết làng Phước Nhơn của anh đã thành lập từ 1896, hiện có trên 6.000 nhân khẩu, 16 dòng tộc, vậy mà phần đất thật sự dành cho chôn cất chỉ chừng 3500 m2 trong tổng diện tích được bố trí làm Khùn-rát của làng rộng khoảng 3 hecta. Khùn-rát của làng Po Tầm mẹ anh với 127 mộ chiếm không đầy 200 m2. Đây sẽ là nơi yên nghỉ của rất nhiều người nữa trong dòng tộc mẹ anh.
    Người chết sau là con cháu có thể nằm chồng lên ông bà, cha mẹ bởi nằm giữa trái tim ông bà là điều tốt. Mộ không có nấm, dấu hiệu để nhận biết là hai viên đá táng đầu chân đặt cách nhau dưới 1 mét, đầu luôn nằm ở hướng Bắc. Khoảng cách giữa hai mộ thường đủ để trải chiếu nhỏ ngồi cầu nguyện trong ngày tảo mộ.
    Việc chọn đá tảng dựa vào những quy định: nếu người chết thuộc dòng tộc ở biển thì đá phải được tìm ở biển, nếu thuộc tộc núi thì đá phải tìm ở núi hoặc những dòng sông nơi chân núi. Đá đẹp phải là viên đá mịn, nhẵn tròn. Nếu người Chăm Bà La Môn đã cách tân Kút bằng cách xây tường thành cổng ngõ thì người Chăm Bà Ni cũng đã có những thay đổi như viên đá táng có thể là những viên đá được tìm với đủ kích cỡ, màu sắc, có thể tự tạc đẽo để có những viên đá hoa cương tròn, hoặc đá được đúc bằng ximăng, tô đá rửa. Có người còn khắc vào đá tên tuổi, ngày mất của người chết.
    Khùn-rát ngày nay giống như bãi nấm kỳ ảo, sinh động, thanh thoát chứ không nhuốm vẻ cô tịch. Người Chăm Bà Ni đi tảo mộ vào cuối tháng tám Hồi lịch (khoảng tháng 11 Dương lịch). Xong tảo mộ là lễ Ramưwan, mọi người mọi nhà lại một lần nữa cầu nguyện cho người đã khuất.
    Tháp Hoà Lai
    Cụm tháp Hòa Lai, còn có tên Ba Tháp, nằm ven quốc lộ 1A cách thành phố Phan Rang - Tháp Chàm 14 km về phía Bắc thuộc làng Ba Tháp, xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận được xây dựng từ đầu thế kỷ thứ IX. Cụm tháp đã từng được các nhà nghiên cứu phương Tây đánh giá là kiến trúc tháp cổ và đẹp nhất của Chămpa. Đáng tiếc là nay tháp chính đã bị sụp đổ chỉ còn lại tháp Bắc và tháp Nam nhưng cũng trong tình trạng hoang tàn. Di tích là thân tháp hình khối lập phương khỏe khắn nhô lên từ một phần bệ vuông và đỡ cả một hệ thống các tầng nhỏ dần vẫn còn những hoa văn điêu khắc rất tỉ mỹ rất đẹp trên vòm cửa, trên các trụ ốp, trên bộ diềm mái.
    Tháp Bắc có bốn trụ bổ tường, mỗi trụ được trang trí rất đẹp và hình tượng chim Garuda giang rộng cánh. Trên mỗi đầu các trụ bổ của các mái chìa có các diềm mũ để trang hoàng. Các cửa giả được trang trí với những vòng cung và những hình người được thể hiện trong tư thế ngồi. Hình thức trang trí ở tháp Nam đơn giản hơn, cũng có bốn trụ bổ tường với những đường nét bên dưới và những diềm mũ với các hoa văn trang trí ở mái chìa, các cửa giả được trang trí vòng cung lớn nhưng không tỉ mỉ như tháp Bắc. Tháp có ba tầng mái, mỗi tầng có một hốc giả tang trí bởi các vòng cung.
    Thế nhưng hiện nay ở Ninh Thuận và Bình Thuận lại không công nhận khu tháp Hòa Lai là của mình mà cho rằng các tháp đó là của người Khmer và lưu truyền truyền thuyết sau: “Một lần người Khmer xâm chiếm lãnh thổ Chiêm thành, Pôklông Giarai do ra điều kiện khi xây tháp, nếu ngài xay xong trước thì người Khmer phải rút quân về, nếu ngài thua sẽ nhượng đất cho họ. Ỷ vào số đông và tài xây tháp của mình, người Khmer nhận lời, Pôklông Giarai truyền cho dân chúng lấy tre làm khung, lấy giấy phet làm gạch chờ người Khmer sắp hoàn thành tháp của họ nhân đêm tối ông cho dựng mấy cây tháp bằng tre giấy lên, sáng sớm tinh sương người Khmer ngủ dậy thấy tháp của người Chăm sừng sững họ đành chịu thua và rút quân về nước.”
    Một điều mà cho đến nay vẫn chưa xác định được là chức năng thờ tự của tháp, bởi vì hầu như không phát hiện đồ thờ bằng đá hoặc kim loại nào cũng như không có dấu tích của một bia ký nào, tháp này không được thờ cúng, hiện nay chỉ còn hai tháp vì một tháp đã bị sập do hư hỏng.
    Làng gốm Bầu trúc
    Làng Bầu Trúc cách thành phố Phan Rang - Tháp Chàm (Ninh Thuận) khoảng 10 km, là nơi sinh sống của đồng bào dan tộc Chăm. Làng có hơn 80% số hộ gắn bó với nghề gốm và là một trong những làng cổ xưa nhất ở nước ta. Ngoài nghề làm ruộng, nghề gốm là nghề tạo ra nguồn thu nhập chính của địa phương.
    Truyền thuyết về nghề gốm Bầu Trúc
    "Chuyện xưa kể rằng, ngày ấy cách nay gần một thiên niên kỷ, trên vùng đất đầy nắng và gió cát có một cậu bé mục đồng nghèo khó tên là Pôklông Garai ngày ngày đi chăn trâu thuê cho chủ. Nghèo khó khiến cho cậu mình mẩy đầy ghẻ lác, phong hủi, da dẻ xù xì, xấu xí. Ngày nọ, một con trâu trong đàn bị lạc, cậu hớt hải đi tìm. Trên đường, cậu gặp Pôklông Chan, hai người kết nghĩa bạn bè. Tìm trâu không thấy, họ quyết định cùng trốn đi buôn trâu. Đến vùng Bầu Trúc (Palay Hamu Trok - nay là thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận) - vùng đất như chiếc lòng chảo nam giữa núi và biển thì Pôklông Garai quỵ ngã. Pôklông Chan hối hả đặt bạn nằm nghỉ, còn mình đi tìm người cứu. Đoàn người cùng Pôklông Chan quay lại thì thấy một cảnh tượng vô cùng kỳ lạ: một con rồng đang liếm tren thân thể Pôklông Garai. Rồng liếm đến đâu, ghẻ lác biến mất. Pôklông Garai trở thành chàng trai tuấn tú, tinh anh khác người. Pôklông Garai lên làm vua, mời Pôklông Chan làm cận thần, nhưng Pôklông Chan từ chối. Ông ở lại vùng đất có phù sa bồi tụ tạo nên hầm vàng (mỏ đất sét), hầm bạc (dải cát ven sông vào mùa nước cạn dòng, cát trắng mịn màng). Ông dạy người dân lấy những báu vật của thiên nhiên là đất sét và cát làm thành lu, khạp, chõ, nồi, niêu, trã... Dân làng Bầu Trúc tôn ông là sư tổ của nghề gốm và lập đền thờ cho đến ngày nay. Hàng năm, dân làng dâng vật cúng cầu xin tổ nghiệp ban cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, ngành nghề phát đạt, nhân khang vật thịnh.
    Nơi đây được coi là một trong hai làng gốm tối cổ còn lại ở Đông Nam Á bởi người thợ gốm làng Bầu Trúc giờ vẫn còn dùng "bàn gốm" là những hòn kê cố định chứ chưa sử dụng bàn xoay và vẫn dùng chân, tay để nhào đất."
    Người Chăm có thể làm được tất cả các sản phẩm theo nhu cầu của thị trường. Từ tượng nữ thần Apsara - biểu tượng cho vẻ đẹp thiếu nữ Chăm, hàng lưu niệm để phục vu khách du lịch đến các vật dụng thường ngày như nồi đất nấu lẩu, khuôn đổ bánh căn, lu đựng nước, ấm, nồi, chén... Nghề làm gốm ở đây cũng khá công phu. Để tạo ra cảc sản phẩm, người thợ phải thực hiện theo ba công đoạn đó là chuẩn bị đất, kỹ thuật tạo dáng và nung.
    - Đất sét lấy từ ruộng, đập thành những cục nhỏ, phơi khô loại bỏ những tạp chất rồi ngâm nước trong cái hố đất đã đào sẵn. Cát cũng được sàng lọc kỹ và luợng cát pha tùy thuộc vào hình dáng và kích thước của sản phẩm. Đầu tiên là dùng chân nhồi đất và cát mịn, cuộn thành từng lọn hình trụ và phủ kín bằng tấm vải ủ qua đêm. Người thợ còn phải nhồi và lăn lại đất bằng tay nhiều lần rồi vo tròn thành các cục đặt lên hòn kê để nặn.
    - Kỹ thuật tạo gốm gồm có nặn hình: tạo dáng gốm cơ bản ban đầu, sau đó nối những “lọn đất” vào miệng gốm, dùng “vòng quơ” chải quanh thành gốm. Chà láng gốm là dùng vải cuộn thấm nước, quấn vào tay chà láng thân gốm và tạo hình miệng. Trang trí hoa văn trên gốm là dùng que cây, vỏ sò...để tạo hình răng cưa, khắc vạch, sóng nước, hoa thực vật; có khi người ta dùng màu thực vật để nhuộm áo gốm.
    - Nung gốm là khâu cuối cùng của công đoạn làm gốm. Gốm được nung ngoài trời và trước khi nung phải phơi khô một ngày. Vật liệu đùng để nung là củi, phân trâu bò khô, rơm rạ, trấu... Người thợ gốm Bầu Trúc chỉ đốt lò vào buổi chiều ít gió hoặc gió nhẹ và đốt theo chiều ngược gió và nung trong khoảng từ hai giờ đồng hồ đến ba giờ đồng hồ.
    Sắc đỏ gốm nung như đã ăn vào máu thịt của bà con nơi đây. Với bàn tay khéo léo, người phụ nữ Chăm đã tạo nên những sản phẩm, độc đáo. Mỗi đường nét hoa văn đều mang những tâm tư, tình cảm của họ gửi gắm vào nên không thể lẫn được với gốm khác. Gốm ở đây cũng là loại đất sét đặc biệt, khi nung rất dẻo và bền. Vì thế, vật dụng gốm của Bầu Trúc nhất là lu đựng nước thường được người dân vùng khô và nắng ưa chuộng.
    Làng thổ cẩm Chăm Mỹ Nghiệp
    Lọt giữa hai khu du lịch biển Cà Ná và Ninh Chữ của Ninh Thuận, đó chính là làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp của đồng bào Chăm. Có lẽ do nằm ở ven quốc lộ 1A và thị trấn huyện Ninh Phước, vì thế mười năm qua, ngày càng có nhiều đoàn khách du lịch ghé thăm làng. Họ muốn mua tận tay những tấm thổ cầm nhiều hoa văn, màu sắc độc đáo của những cô gái Chăm tài hoa.
    Vài nét về lịch sử
    Cho đến bây giờ, các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định được nghề dệt thổ cẩm Chăm hình thành và phát triển như thế nào trong quá trình lịch sử. Truyền thuyết về Bà Chúa Xứ kể rằng: Po Inư Nưgar từ Trung Quốc trở về, đã đặt kinh đô Champa ở Nha Trang và dạy người Chăm - lúc đó còn trong thời kỳ mông muội - cày cấy, dệt vải, xây tháp, tổ chức hành chánh...
    Theo Lê Quí Đôn (Vân Đài Loại Ngữ ): “ Ở Lâm Ấp có trồng cây cát bối, khi chín hoa cây giống như lông ngỗ, kéo sợi làm chỉ dệt khăn không khác gì loại gai”. Còn theo G. Maspero thì dưới thời các vương triều Chămpa, người Chăm đã biết trồng dâu, nuôi tằm và dệt lụa. Trông suốt chiều dài lịch sử từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ XVIII, người ta tìm thấy các nét hoa văn được chạm trổ thật tinh vi trên các tượng đá (Shiva, Apsara...), vương mão (Po Mưh Taha - đầu thế kỷ thứ XVII) hiện vẫn còn được lưu giữ ở một làng Raglai tỉnh Ninh Thuận. Từ các cứ liệu này, chúng ta khẳng định rằng nghề dệt thổ cẩm Chăm đã hình thành từ rất sớm và đã phát triển đến mức tinh xảo.
    Người ta không rõ nghề dệt thổ cầm của Mỹ Nghiệp đã có từ bao giờ, chỉ biết từ xưa gia đình nào trong làng cũng có ít nhất một khung cửi vì thế mà các bé gái 6 tuổi, 7 tuổi đã tự nhiên mà biết dệt. Tự nhiên bởi có ai lại có thể dửng dưng, không ao ước tự tay dệt ra những hoa văn mê hoặc ấy.
    Ngày nay, người ta dệt bằng hai loại khung: khung ngắn dùng bảy cây go bằng tre để tạo hình hoa văn, hoàn thành trong ba ngày cho tấm thổ cẩm 0,9 mét x 3,4 mét; khung dài dùng bảy hòn go bằng đá san hô buộc bằng dây cho tấm thổ cầm ngang từ 2 cm đến 30 cm, dài từ 100 mét đến 120 mét, hoàn thành trong khoảng từ 25 ngày đến 30 ngày.
    Sản phẩm từ thổ cẩm như áo, khăn, túi xách...rất đẹp bán tại làng Mỹ Nghiệp với giá rất rẻ. Chỉ hơn phân nửa giá bán tại cửa hiệu ở thành phố Hồ Chí Minh.
    Làng Mỹ Nghiệp gồm có 485 hộ, 3.000 nhân khẩu. Người Chăm xưa trồng bông sợi và lấy cây lá làm thuốc nhuộm để dệt nên những tấm thổ cẩm bền, đẹp, màu sắc không phai. Bí quyết dệt vẫn còn gần như nguyên vẹn, nhưng kỹ thuật nhuộm và một số mẫu hoa văn đã bị thất truyền. Bù lại một số nghệ nhân tâm huyết đã dày công sưu tập, các mẫu hoa văn qua sách cổ, từ bốn loại hoa văn chín là bông mai, hình thoi chân chó và gùrek mà cách điệu lên thành nhiều mẫu hoa văn mới lạ làm tăng thêm sự phong phú cho sắc màu thổ cẩm. Sợi thì nhập khẩu từ Hungary để đáp ứng nhu cầu tăng nhanh của thị trường và để kinh tế hơn. Nhiều khách cho rằng thổ cẩm Mỹ Nghiệp nổi tiếng và ăn khách khắp trong Nam, ngoài Bắc và ra tận nước ngoài, chính là nhờ những đôi tay mềm mại, chăm chỉ và khéo léo của những thiếu nữ Chăm.
    Nhiều nhà nghiên cứu dân tộc và mỹ nghệ thủ công, khái quát rằng những hoa văn, sắc màu trên nền vải thô của Mỹ Nghiệp thực chất là ngôn ngữ giao tiếp, là “phương tiện” để nói với khách phương xa về một nền văn hóa tiềm ẩn trong từng viên gạch, mái nhà, núi đồi, suối thác của vùng đất cực nam Trung bộ. Do vậy, nhiều khách nước ngoài mừng như bắt được vàng khi tất bật quay phim, chụp ảnh và mua tận tay những tấm thổ cẩm do chính bà con làm ra.
    Cây bông vải
    Được trồng thư nghiệm ở Phan Rang ngày 19 tháng 11 năm 1945 nhưng hiệu quả kém, đến năm 1954 nhập giống bông từ hoa kỳ, năm 1973 nhập giống từ trung tâm khảo giống châu Phi nhằm cung cấp sợi bông cho các nhà máy dệt. Cây bông vải thuộc loại nếu đốn gốc thì mùa sau sẽ mọc lại nhưng dễ bị sâu bệnh và cho năng suất thấp, chu kỳ sinh trưởng cây bông vải gồm năm giai đoạn: giai đoạn mọc mầm, cây non, tăng trưởng, chưa có hoa), trổ hoa, đậu trái và trái chín. Thời gian từ lúc trồng đến lúc trái chín và cho bông trung bình 178 ngày, sau đó người ta đống bỏ, thường trồng xen canh với các loại cây khác như đậu nành và một số cây ngắn ngày.
    Bãi biển Ninh Chữ
    Nằm cách trung tâm thành phố Phan Rang - Tháp Chàm 6 km về phía Đông. Đây là một trong chín bãi tắm đẹp của Việt Nam, có chiều dài 10 km, bờ biển bằng phẳng hình vòng cung, cát trắng mịn, nước trong xanh, không khí trong lành quanh năm sóng vỗ rì rào.
    Xung quanh có rừng dương xanh ngút ngàn, những cánh đồng lúa bát ngát thoang thoảng hương thơm, Đầm Nại giàu tôm, cá, mực, núi Đá Chồng, núi Tân An, núi Cà Đú với những tảng đá lớn nhỏ xếp chồng lên nhau tạo thành một quần thể thiên nhiên hài hòa, hữu tình, khí hậu mát mẻ, nắng ấm quanh năm... Khách du lịch đến đây có thể tắm biển, leo núi, thăm chùa, đình cổ ở núi Đá Chồng (Dư Khánh), xa hơn nữa có thể du lịch dã ngoại ở Vĩnh Hy, săn bắn ở suối nước ngọt, đi ca-nô, mô tô nước quanh bờ biển Ninh Chữ, Đầm Nại, đến Hòn Thiên.
    Tháp Pôklông Garai
    Trong di sản văn hoá người Chăm hiện nay nổi bật nhất là hệ thống đền tháp, điêu khắc, tượng thờ, thành quách, bia kí... Hầu hết từ miền Trung cho đến Tây Nguyên, nơi nào có người Chăm sinh sống thì họ đều xây dựng đền tháp để thờ thần. Điều đó cho ta thấy tầm quan trọng đền tháp đối với người Chăm. Thế nhưng hiện nay, trong tổng số khoảng 250 di tích đã được người Pháp thống kê, chỉ còn 20 nhóm đền tháp với 40 công trình còn tạm đứng vững.
    Theo bia ký cho biết, ngay vào khoảng từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ VII người Chăm đã xây dựng đền tháp để thờ thần. Trước đó, tại thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam - Đà Nẵng) người ta đã tìm được dấu vết một ngôi đền bằng gỗ thờ thần Siva - Bhadravarman. Tiếp sau đó và kéo dài cho đến thế kỷ XVII các đền tháp Chămpa tiếp tục ra đời mang nhiều phong cách khác nhau như Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Bằng An, Chiên Đàng (Khánh Hòa), Pôklông Garai, Pôrêmê (Ninh Thuận), tháp Pôshanư, Pô Đam (Bình Thuận), Tháp Yang Pruang (Tây Nguyên)... Tất cả đền tháp Chăm được xây dựng để thờ ba vị thần chính: Siva, Vishnu, Brahma. Về sau tháp Chăm ngoài thờ thần Ấn giáo họ còn thờ các vị vua Chăm như tháp Pôklông Garai, Pôrêmê (Ninh Thuận).
    Những đền tháp Chăm đều có đặc điểm chung là một cụm kiến trúc bao gồm một tháp trung tâm hình vuông, mái thôn nhọn “tượng trưng cho ngọn núi Mêru - Ấn Độ, trung tâm vũ trụ nơi ngự trị của thánh thần”. Xung quanh tháp chính là những tháp chính là những tháp nhỏ nằm theo vị trí bốn hướng tượng trưng cho các lục địa và ngoài cùng là hào rãnh, biểu tượng của đại dương. Sơ đồ kiến trúc đó được xây dựng theo khái niệm vũ trụ luận của Ấn Độ.
    Tháp còn có một đặc điểm chung là xây bằng gạch, có bốn mặt hình vuông đối xứng nhau. Mặt trước hướng về phía Đông có cửa ra vào còn ba mặt còn lại ở ba hướng (Tây, Nam, Bắc) có ba cửa giả. Tháp Chăm thường có ba tầng được cấu trúc như nhau, mỗi tầng càng lên cao càng thu nhỏ dần và kết thúc bằng một Linga bằng đá trên nóc tháp. Kỹ thuật xây dựng và chất kết dính tháp Chăm như thế nào đến nay vẫn còn nhiều bí ẩn chưa giải mã được đối với những nhà nghiên cứu. Gần một thế kỷ trôi qua, ngày trong những năm đầu thế kỉ XX các nhà nghiên cứu người Pháp như G. Maspero (1928), J. Clayes, H. Pamertier (1948), Wawrenersk và Skibinski (1937)...đã đưa ra nhiều giải thiết, thể nghiệm về chất kết dính của các viên gạch trong kỹ thuật xây tháp người Chăm.
    Các ý kiến của tác giả nêu trên tựu trung lại thành bốn giả thuyết như sau:
    - Trong kĩ thuật xây tháp, người Chăm nung gạch toàn khối hoặc nhiều lần để các viên gạch tự kết dính với nhau.
    - Sử dụng chất kết dính (chất keo, phụ gia) trong việc xây gạch.
    - Mài gạch với mặt tiếp xúc để gạch tự kết dính với nhau.
    - Dùng kỹ thuật xếp gạch nung sẵn.
    Tất cả những giả thuyết trên, mặc dù hiện nay được hỗ trợ bằng phương pháp phân tích khoa học thực nghiệm hiện đại, tiên tiến nhưng kết quả về chất kết dính, về kỹ thuật xây dựng tháp Chăm vẫn chưa được làm sáng tỏ. Tiếp tục công việc nghiên cứu của các tác giả đi trước, sau năm 1975 các tác giả Việt Nam như Cao Xuân Phổ, Trần Kỹ Phương, Ngô Văn Doanh...cũng đã mất khá nhiều công sức nghiên cứu tháp Chăm nhưng chưa có gì mới hơn. "Hầu hết các giả thuyết" nghiên cứu sau năm 1975 gần như lặp lại các giả thuyết trước 1975 của các nhà nghiên cứu người Pháp. Tháp Chăm vẫn đang còn bí ẩn chưa được khám phá.
    Cùng với kiến trúc, điêu khắc Chămpa cũng thể hiện được vẻ đa dạng, độc đáo. Những đề tài điêu khắc Chăm là những tượng thờ Siva, Vishnu, Brahma. Ngoài những vị thần trên, vật thờ ở tháp Chăm phổ biến vẫn là cặp Linga - Yoni. Ngoài tượng thờ các vị thần chính, điêu khắc ở đền tháp Chăm còn trang trí bằng tượng thờ Vũ nữ (Apsara), người cưỡi ngựa đánh cầu; những con vật huyền thoại như Garuda, Kala, bò thần Nandin. Những cảnh chạm khắc trang trí ở các bệ thờ, điêu khắc Chăm phần lớn ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ. Chẳng hạn bệ thờ Trà Kiệu chạm khắc bốn cảnh quanh đài thờ kể chuyện trường ca Ramayana (chủ đề lễ cưới công chúa Sita). Bệ thờ Mỹ Sơn E1 diễn tả cảnh sinh hoạt lễ nghi tôn giáo của đạo sĩ Ấn và những cảnh trầm tư, giảng đạo múa hát, luyện thuốc chữa bệnh. Điêu khắc Chăm đã thể hiện nhiều đề tài phong phú, đa dạng. Một số tác phẩm đã trở thành kiệt tác mà tiêu biểu là tượng Vũ nữ Trà Kiệu (Apsara) được đánh giá là "đỉnh cao của nghệ thuật tạc tượng Chămpa và của cả miền Đông Nam Á".
    Nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc Chăm tuy có những nét ảnh hưởng văn hoá Ấn Độ, Indonesia, Khmer nhưng họ không tiếp thu, sao chép một cách nguyên vẹn mà luôn cải biên sáng tạo trên cơ sở văn hoá bản địa. Người Chăm một thời tôn thờ, đề cao Siva Ấn Độ nhưng Siva của người Chăm không giống Siva Ấn Độ, Siva Chăm vẫn hướng về nữ tính, gần gũi với tín ngưỡng thờ mẫu (Inư) của người Chăm và luôn kết hợp với Linga - Yoni (tín ngưỡng phồn thực). Về sau tục thờ Siva được gắn với tục thờ Vua - Thần (Mukha Linga). Điều đó thể hiện được tính bản địa - một cá tính riêng trong tục thờ thần của người Chăm. Cũng như các mẫu đề điêu khắc, kiến trúc Chăm luôn dựa vào mô típ của Ấn giáo để rồi biến hoá thành cái riêng mình. Chẳng hạn tháp Chăm chỉ xây bằng gạch, chứ không xây bằng đá như tháp Ấn Độ. Các tháp Chăm hướng về hình khối đơn giản, không qui mô bề thế như các tháp ở Ấn Độ, đền tháp Ăngko (Campuchia), tháp Borobudur (Indonesia). Tháp Chăm luôn hướng về tiểu phẩm cân xứng, đẹp mắt, vừa độc đáo vừa có cá tính, kĩ thuật, bí quyết riêng mà đến nay vẫn còn là một điều bí ẩn. Đó là thành tựu rực rỡ, là nét bản sắc riêng biệt, "thể hiện sự sáng tạo, tài ba độc đáo của những nhà kiến trúc, điêu khắc Chăm thời xa xưa".
    Hiện nay người Chăm ở Ninh Thuận còn tồn tại ba ngôi tháp, mang ba phong cách và niên đại khác nhau nằm trên ngọn đồi trầu (cơk hala) thuộc phường Đô Vinh, cách trung tâm thành phố Phan Rang - Tháp Chàm 9 km về phía Tây Bắc. Tháp Pôklông Garai là một tổng thể kiến trúc nghệ thuật bao gồm ba ngôi tháp: tháp chính (Kalan Po) cao 20,5 mét bên trong thờ một tượng vua Pôklông Garai bằng đá dưới hình thể Mukha Linga (Linga có gắn mặt vua) và một tượng bò thần Nandin bằng đá đặt ở lối ra vào; tháp cổng (Kalan tahah Libang) cao khoảng 8,56 mét; thap lửa (Sang Cuh Yang Apui) cao 9,31 mét. Ngoài ra ở phía sau tháp chính còn có một ngôi miếu nhỏ thờ một phiến đá. Xung quanh tháp được bao bằng một vòng thành. Tháp được người Chăm xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ XII đầu thế kỷ XIII để thờ vị vua Pôklông Garai (1151 - 1205) - một vì vua có công với dân, với nước, được người Chăm suy tôn thành thần thánh. Tháp Pôklông Garai là một cụm tháp hoàn mỹ, đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ trong nền nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chămpa. Tháp được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật vào năm 1979.
    "Theo truyền thuyết của dân tộc Chăm, có một cặp vợ chồng nông dân nhìn thấy một đứa trẻ sơ sinh nằm trên bọt nước, trôi từ thượng nguồn dòng sông Dinh (chảy qua địa phận huyện Ninh Sơn và qua thành phố Phan Rang - Tháp Chàm đổ ra bể). Tiếng khóc của đứa trẻ đã làm động lòng cặp vợ chồng làm rẫy gần đấy và họ đã đem bé về nuôi. Họ đâu biết, đứa trẻ này được bề trên phái xuống để thử lòng dạ người trần. Trời làm cho đứa bé bị ghẻ lở đầy người, mà các thầy thuốc giỏi trong vùng đều không thể chữa khỏi, cốt ý để xem cặp vợ chồng này đối xử như thế nào với đứa bé. Sau đó, trời cho rồng vàng xuống trần, liếm hết những vết ghẻ lở trên người của cậu bé đang chăn trâu rồi nằm nghỉ trưa ở ngoài đồng. Cậu bé sau đó trở nên khôi ngô tuấn tú khác thường... Sau khi vị vua trị vì mất, nghe lời của một vị chiêm tinh, cậu bé (sau này đã trưởng thành) được phong làm vua, lấy tên hiệu là Pôklông Garai..."
    Huyền thoại dân tộc Chăm ở Ninh Thuận còn gắn liền với sự nghiệp xây dựng tháp và giữ đất của vua Pôklông Garai khi người Tàu đến chiếm đất của người Chăm. Theo truyền thuyết, vua Tàu và vua Chăm đưa ra một cuộc thi xây tháp, bên nào xây xong tháp trước trong thời gian đã quy định thì bên ấy được ở lại giữ đất, ngược lại bên nào xây chậm hơn thì phải rút quân đi. Vua Tàu đốc thúc quân lính đào đất nung gạch, xây tháp suốt bốn tháng trời mà tháp vẫn chưa xong. Trong khi đó vua Pôklông Garai thì ung dung thong thả. Vào đêm cuối cùng của thời giao hẹn, Pôklông Garai mới cho quân dựng lên một khung tháp với chất liệu gỗ và trét phên tre lên rồi phủ thêm vải đỏ bên ngoài. Đến sáng ngày hôm sau quân Tàu từ xa đã trông thấy tháp của vua Chăm trụ sừng sững trên đồi mà không hiểu vua Chăm đã có phép lạ gì mà xây tháp nhanh như thế. Không biết mình đã bị lọt bẫy vì cái kế: "Xây tháp giả bằng gỗ" của Pôklông Garai. Cuối cùng, vua Tàu đành phải chấp nhận rút quân đi khỏi đất của người Chăm như đã giao kết.
    Thủy điện Đa Nhim
    Từ thành phố Phan Rang - Tháp Chàm (tỉnh Ninh Thuận), ngược quốc lộ 27 chừng 50 km, bạn sẽ đến một điểm du lịch hấp dẫn, là sản phẩm của sự kết hợp giữa bàn tay con người và thiên nhiên hùng vỹ: thủy điện Đa Nhim (còn gọi là Sông Pha).
    Từ xa, cách cả chục cây số, bạn có thể nhìn thấy hai ống thủy lực chạy song song, dài khoảng 2 km, dẫn nước từ trên núi xuống nhà máy nằm dưới chân đèo. Đa Nhim được xây dựng cách đây 40 năm và là một trong những công trình thủy điện lớn của Việt Nam.
    Đập ngăn nước của Đa Nhim cao 38 mét, dài gần l.500 mét, chứa 165 triệu m3 nước, với bốn tổ máy. Đến thăm nơi đây, du khách cần chú ý xin phép trước, hoặc phải có giấy giới thiệu của cơ quan.
    Đèo Ngoạn Mục
    Từ Phan Rang lên, du khách phải vượt qua đèo Ngoạn Mục để vào thành phố ngàn hoa. Tên Ngọn Mục được dịch từ tên Belle Vue ngày xưa do Pháp đặt, sau khi bác sĩ Yersin thám hiểm đến đây đầu tiên và sau đó tìm được cao nguyên Lang Biang.
    Đường đèo rất dốc, quanh co, vòng lên, vòng xuống. Lượn qua lượn lại nhiều lân, dài khoảng 30 km. Đỉnh đèo ở độ cao 1.000 mét. Tới đây, du khách cảm nhận được khí hậu á nhiệt đới rất mát mẻ.
    Đèo Ngoạn Mục là ranh giới hai tỉnh Lâm Đồng và Ninh Thuận. Ở dưới chân đèo phía Đông thuộc Ninh Thuận có nhà máy thuỷ điện Đa Nhim, với hai ống khổng lồ, từ độ cao 1.000 mét, đổ nước vào một hồ chứa nước lớn - hồ Đa Nhim, vào các tourbines, vận hành nhà máy phát điện. Hồ này có phần nằm trong địa phận tỉnh Lâm Đồng. Đây là sự hòa hợp "cộng tác chặt chẽ" của hai tỉnh Lâm Đồng - Ninh Thuận và đèo Ngoạn Mục với cảnh quan tuyệt đẹp, kỳ vỹ, cũng được coi là một điểm dã ngoại quan trọng trong tuyến du lịch về phía Đông của Đà Lạt.
    Đèo Ngoạn Mục cách Đà Lạt khoảng 40 km về phía Đong, cách thuỷ điện Đa Nhim 5 km về hướng thành phố Nha Trang và cách thành phố Phan Rang - Tháp Chàm 46 km, cách biển Đông 5 km. Đèo này còn được gọi là đèo Sông Pha vì dưới chân đèo có con sông Pha, một nhánh của Krông Panh, đổ từ thương nguồn phía Tây Trường Sơn ra miền duyên hải. Tiếng người dân tộc Krông có nghĩa là sông.
    Theo thổ ngữ địa phương, Đa Nhim có nghĩa là nước mắt. Sông Đa Nhim (Krông Pha, sông Pha) có lưu lượng nước dồi dào nằm trên một sườn núi dốc đứng. Do vị trí thuận lợi này, nhiều dự án đầu tư đã được một số kỹ sư thuỷ điện nổi tiếng soạn thảo thực hiện.
    Thủy điện Đa Nhim có từ khoảng thập niên 1960, cung cấp một phần điện cho Sài Gòn, và một số tỉnh miền Đông Nam Bộ. Vào ngày 13 tháng 5 năm 1995, Nhật Bản bồi thường chiến tranh cho Việt Nam và thoa thuận với chính phủ Việt Nam sử dụng tiền bồi thường ấy vào việc tu sửa lại và nâng cấp hệ thống thuy điện Đa Nhim theo dự án hợp tác với công ty Sogréah (Pháp) và công ty Nippon Kokei (Nhật) dể dẫn nước vào hồ Đa Nhim từ Đơn Dương thuộc Sông Pha với hai đường thành suối nước ở độ cao 800 mét. Sức mạnh của lưu lượng nước ở độc cao ấy làm quay các tourbines của nhà máy.
    Gần hồ Đa Nhim có nhiều cácnh rừng thông xanh mượt mà, phản chiếu trên mặt nước rất diễm lệ. Tại hồ này, du khách có thể câu cá hoac săn bắn. Đây là điểm dã ngoại lý thú.
    Tại hồ, du khách có thể thưởng ngoạn phong cảnh tuyệt mỹ ở xung quanh, trong đó có phong cảnh đèo Ngoạn Mục rất ngoạn mục đúng như tên gọi và xa về phía Đông, thấp thoáng miền duyên hải là những cánh đồng xanh gần như giáp với bờ biển Phan Rang.
    Các đền tháp Chăm cổ bao giờ cũng có một nhóm, một tổng thể hoàn chỉnh phản ánh vũ trụ quan Ấn giáo. Một nhóm có đền tháp chính, đền tháp phụ và các công trình phụ. Những tháp còn tồn tại hiện nay đa phần là các đền tháp chính, người Chăm gọi là Kalan.Chăm-pa - Di tích đền tháp
    1. Đặc điểm
    1.1. Quan niệm về vũ trụ
    Quan niệm Ấn Độ cổ cho là vũ trụ có hình vuông, chung quanh có núi và đại dương bao bọc, có một trục xuyên giữa vũ trụ đến mặt trời và trung tâm vũ trụ là núi Mê–ru, đỉnh núi là nơi ngự trị của thần linh.
    Các tổng thể đền thờ Ấn giáo thể hiện rõ quan niệm này với khuôn viên vuông vắn, tường bao quanh xây cao tượng trưng cho núi. Các công trình trong tổng thể được bố cục theo một đường trục chạy giữa; công trình chính nằm ở trung tâm. Hướng chính của các tổng thể thường là hướng đông, hướng đến mặt trời và là hướng của sự sinh sôi nảy nở.
    1.2. Bình đồ căn bản của khu đền tháp
    Một nhóm đền tháp Chăm phải có ít nhất 4 công trình là : đền tháp chính (kalan), tháp Hỏa (kosa grha), tháp Cổng (gopura) và tháp Nhà (madapa).
    Một vòng tường bao quanh đền tháp chính, vòng tường hình vuông, tượng trưng cho vũ trụ. Trung tâm là đền tháp chính tượng trưng cho núi Meru, có cửa chính quay về hướng đông.
    Phía trước bên phải đền tháp chính, cũng trong vòng tường bao, có công trình tên là kosa grha, có cửa hướng bắc – hướng về trục. Đây là kho lễ vật, có lúc kiêm chức năng nhà bếp nên còn có tên gọi Việt hóa là tháp Hỏa, tháp Bếp.
    Trong vòng tường còn có thêm một số đền tháp phụ được xây rải rác, là đền thờ các vị thần khác của Ấn giáo hoặc thờ các vị thần phương hướng, tiếng Chăm cổ là dikpalakas.
    Tại bức tường phía đông của tường bao quanh nhóm đền tháp, thẳng trục kalan là gopura – tháp Cửa. Công năng của kiến trúc này là cổng chính dẫn vào một khu đền thờ.
    Bên ngoài tường bao, đồng trục với kalan là madapa, một kiến trúc có mặt bằng hình chữ nhật. Kiến trúc này là nơi tĩnh tâm, cầu nguyện của tín đồ trước khi vào hành lễ ở kalan. Nhiều người gọi đây là tháp Nhà.
    Ở các nhóm đền tháp lớn, quan trọng, nhiều khi còn có thêm một công trình nữa mang tên posah (tháp Bia). Đúng như tên gọi Việt hóa, kiến trúc này có chức năng của một nhà che bia. Mặt bằng công trình có hình vuông, mở cả bốn cửa ra vào ở bốn mặt tường tầng một. Posah thường có kích hước nhỏ nhất trong số các đền tháp của một nhóm.
    1.3. Một số ngoại lệ của đền tháp Chăm–pa
    Có nhóm đền tháp Chăm cổ lại quay về hướng Tây Nam (Nhóm Pô tằm ở Tuy Phong – Bình Thuận); Một số nhóm ở Mỹ Sơn (Duy Xuyên – Quảng Nam) quay hướng Tây, trong đó kalan A1 có hai cửa ở mặt đông và tây. Một trong những nguyên nhân của việc đổi hướng được cho là do hạn chế của địa hình; ở Mỹ Sơn thì được cho rằng do chúng quay chầu về ngôi đền trung tâm của cả khu thánh địa là ngôi đền đá B1.
    Một số khu đền tháp có đến ba kalan có hình dáng như nhau, cùng nằm trên nền chung chạy dài theo trục nam – bắc. Do tính chất hướng tâm nên tháp giữa cao hơn một chút so với hai tháp bên (tháp nam và bắc). Ba đền tháp là ba ngôi đền thờ ba vị thần tối cao : Brahma, Visnu và Siva. Riêng tại khu tháp đôi Hưng Thạnh thì chỉ có hai Kalan, các nghiên cứu cho rằng tháp thứ ba (hướng bắc) đang chuẩn bị xây dựng thì bổng dừng lại không rõ nguyên do.
    2. Cấu trúc căn bản của một Kalan
    Trung tâm của nhóm đền tháp bao giờ cũng là một điện thờ lớn, nhiều tầng, tên là Chăm cổ là Kalan (đền thờ). Kiến trúc này có mặt bằng hình vuông, bốn hướng có bốn cửa, nhưng chỉ có một cửa ra vào mở ra theo hướng chính của cả nhóm đền tháp, các cửa còn lại là cửa giả xây nhô ra trên các mặt tường.
    Mỗi Kalan thường gồm ba phần: đế, thân và mái tượng trưng cho ba thế giới : Bhurloka (trần tục), Bhuvaloka (tâm linh), và Svarloka (thần linh).
    2.1. Đế tháp
    Phần chân đế được trang trí bởi các đồ án hoa lá; hình voi, sư tử; những vòm cuốn nhỏ chạm hình tượng thần thời gian kala, thủy quái makara hoặc các hoạt cảnh với các tiên nữ apsara, nhạc công gandhara. Trước thế kỷ X, các chân đế Kalan hoàn toàn bằng gạch. Những Kalan có niên đại muộn hơn thường được gắn ốp các thành phần bằng đá sa thạch.
    2.2. Thân tháp
    Phần thân tháp bề mặt ngoài thường được trang trí bằng những trụ áp tường. Thông thường trên mỗi mặt tường có 5 trụ áp tường, chiếc trụ chính giữa bị cửa giả che khuất. Trên cửa chính và cửa giả có trang trí vòm cuốn, nghệ thuật trang trí trên vòm cuốn và tường tháp là nghệ thuật đặc sắc của người Chăm. Bên dưới vòm cuốn bao giờ cũng có chạm nổi hình người đứng cầu đảo với hai tay chắp lại phía trước ngực, nhiều khi cầm một bông sen. Tiếp giáp giữa phần thân và phần mái là một diềm mái. Diềm mái là những đường gờ cong (lồi hoặc lõm) thường được chạm khắc bằng những hoa dây hoặc các trang trí áp tường. Bốn góc diềm mái gặp nhau lại được gắn những vật trang trí bằng đá chạm hình ngọn lửa hoặc tượng makara, apsara.
    2.3. Mái tháp
    Mái kalan gồm có ba tầng và một đỉnh. Tầng mái trên là thu nhỏ của tầng dưới với đầy đủ các thành phần như cửa giả, trụ áp tường, diềm mái: trên các tầng mái có đặt nhiều tượng, phù điêu bằng đá tạo hình các con vật cưỡi (vahàna) của các vị thần Ấn giáo (ngỗng thần hamasa, chim thần Garudda, bò thần Nadin…). Các góc của tầng thứ nhất và thứ hai dựng bốn tháp góc. Tầng cuối cùng không có tháp trang trí góc, đỡ một phiến đá, tiếng Chăm cổ gọi là àmalaka. Phiến đá có hình bát giác, tứ giác hay hình tròn, trên đó chạm mặt nạ thần Thời gian Kala, rắn thần Naga hoặc bò thần Nandin, hoặc tám vị thần hộ trì bát phương thiên giới Astadikpalakas ... [TKP]. Trước kia, các vua Chăm–pa thường dát bọc vàng, bạc lên các àmalaka này để chứng tỏ lòng thành kính và sự sang quý.
    2.4. Gian tiền điện
    Cửa vào kalan thường có phần nhô ra gọi là tiền điện. Với những đền tháp quy mô thì tiền điện là cả một cấu trúc hình tháp nối vào cửa chính của kalan. Tháp này có cấu trúc hệt như kalan nhưng chỉ có ba tầng, không có hình người đứng, hai bên tiền điện – bên ngoài có thêm hai cửa giả và đều có trang trí vòm cuốn. Phía trên lối vào có mi cửa là một bức chạm bằng sa thạch hình lá nhĩ, thường thể hiện những vị thần Ấn giáo, nhấn mạnh đến vị thần chính được thờ trong kalan.
    2.5. Gian chính điện
    Đền thờ Ấn giáo (các sikhara ở Ấn Độ, các prasat ở Khơmer và các kalan của Chăm–pa) có nội thất nhỏ kiểu mật thất. Tường kalan cũng như các đền tháp Chăm khác nói chung rất dày, khoảng trên dưới 1 mét. Mặt tường trong của phần thân xây phẳng, ba phía Bắc, Tây, Nam có những khám nhỏ để đèn; phần vòm mái của khám được hình thành bởi các viên gạch xây so le nhô dần ra để thu lại ở đỉnh góc. Kiểu mái vòm này có thể coi là một sáng tạo trong kết cấu gạch của người Chăm cổ. Nội thất kalan chỉ vừa đủ chỗ để đặt một đài thờ bằng đá ở chính giữa. Đài thờ có khi là hình tượng của một vị thần, nhưng phổ biến hơn là bộ linga – yoni. Đài thờ kiểu này gồm ba phần : đế, bệ yoni (sinh thực khí nữ) và linga (sinh thực khí nam); đó là biểu tượng chính của thần Siva).
    3. Cấu trúc một số công trình phụ
    3.1. Tháp Hỏa

    Tháp hỏa có mặt bằng hình chữ nhật, nội thất rộng rãi, có tường ngăn chia thành hai phòng. Cửa ra vào của kiến trúc này bao giờ cũng được mở ra hướng Bắc (hướng của thần Tài Lộc Kuvera) nhưng thường lệch về một phía (thường là phía Tây) chứ không ở chính giữa của mặt tường Bắc. Mặt tường Đông và Tây trổ hai cửa sổ có chấn song con tiện bằng đá. Mặt tường Nam của các kosa grha thường được xây kín, trang trí bằng các trụ áp tường (pilastres). Kosa grha chỉ có hai tầng, nhưng phần mái cong hình thuyền úp vươn cao và thường được trang trí đẹp khiến nó trở thành một kiến trúc dễ gây chú ý trong một nhóm đền tháp.

    3.2. Tháp Cổng
    Công trình có hai cửa đối diện theo hướng đông – tây, làm thành một lối ra vào. Gopura có hình thức tương tự như kalan nhưng giản lược hơn nhiều.
    3.3. Tháp Nhà
    Kiến trúc có nội thất rộng thoáng, hai cửa ra vào mở ra hai hướng Đông và Tây. Trên mặt tường Bắc và Nam trổ nhiều cửa sổ. Tất cả các madapa hiện còn đều không còn giữ được mái ngói, nhưng trên tường vẫn còn thấy các dấu vết của điểm đặt cấu kiện gỗ để lợp ngói. Cũng khá hiếm những viên ngói còn nguyên vẹn. Dẫu vậy, các mảnh vỡ cho thấy ngói Chăm cổ dài khoảng 20cm, rộng phổ biến 8 – 12cm, mũi ngói vuốt nhọn như mũi tên. Phần lớn các madapa nằm ngoài tường bao nhưng nhiều khi do mặt bằng hạn chế, người ta đã xây madapa ở giữa kalan và gopura (như trường hợp madapa H2 – Mỹ Sơn, madapa của nhóm Pô kloong Garai – Phan Rang).

    Ở nhóm Pô Narga Nha Trang có một madapa khá đặc biệt với những hàng trụ gạch đỡ mái không có tường bao và được xây ở một mặt bằng khác thấp hơn mặt bằng chung của cả nhóm đền tháp.
    4. Kỹ thuật xây dựng
    Ðền tháp Chăm–pa được xây theo kỹ thuật truyền thống của kiến trúc tôn giáo Ấn Ðộ; tính kiên cố của công trình được nhìn thấy bởi những hàng trụ–áp–tường theo chiều dọc kết hợp với các lanh–tô bằng đá hay bằng gạch theo chiều ngang.
    Các bức tường được liên kết bằng phương pháp kỹ thuật vòm giật cấp – corbel. Trong kỹ thuật này, những viên gạch được xếp chồng lên với nhau từng hàng một, thành những đường gờ giật cấp, nhô ra từng cấp một theo chiều ngang, tạo nên một khoảng trống giữa hai bức tường, rồi được thu hẹp dần dần cho đến khi nó có thể khép kín lại bằng một hàng gạch cuối cùng ở nơi cao nhất. Xử dụng phương pháp vòm giật cấp – corbel đã đem lại cho đền tháp Chăm–pa một vẻ đẹp bề thế và mạnh mẽ, phô bày qua những hàng trụ–áp–tường theo hàng dọc và các lanh–tô theo hàng ngang.
    Trong lòng–tháp, nhờ xử dụng kỹ thuật vòm giật cấp, người Chăm–pa đã tạo cho ngôi đền một không gian rộng rãi, vòm phía trên được tạo nên bởi những đường gờ giật cấp theo chiều ngang trông rất ngoạn mục. Khác với phương pháp vòm bán nguyệt – arch, có một viên đá/gạch chốt trên đỉnh vòm – keystone, được xử dụng phổ biến trong kiến trúc La Mã cổ điển, kỹ thuật này khó tạo nên một không gian rộng rãi trong lòng–tháp; trái lại, kỹ thuật vòm–giật–cấp của kiến trúc Ấn Ðộ đã dễ dàng tạo cho đền–tháp Chăm–pa một không gian nội thất thoáng đãng, tiện nghi cho việc thờ phượng dù chỉ là những kiến trúc thấp nhỏ.
    Tiến trình xây dựng gồm :
    – Sản xuất gạch (nhào đất, nắn hình và nung).
    – Xây cất bằng đá, gạch đã nung và chất kết dính.
    – Điêu khắc lên bề mặt gạch vừa xây xong.
    4.1. Chất liệu xây dựng
    Từ thế kỷ thứ IX trở đi, đền tháp Chăm–pa thường xây bằng gạch nung, ghép với những mảng trang trí và chịu lực bằng sa thạch như đỉnh tháp, chóp tháp, khung cửa, trụ cửa, lanh–tô, tym–pan, cóc–ních, đường diềm, vật trang trí góc, đế tháp v.v...
    Kiến trúc tôn giáo Chăm–pa không có truyền thống xây dựng đền thờ hoàn toàn bằng sa thạch so với các nền kiến trúc lân cận như Java (ngôi đền Bôrôbudur) hoặc Khmer (ngôi đền Angkor). Ðiều này có thể được lý giải bởi hai nguyên nhân sau :
    – (1) sa thạch là vật liệu khan hiếm tại địa phương nên không đủ cung cấp một khối lượng lớn để xây dựng các công trình quy mô.
    – (2) tâm thức thẩm mỹ của các vương triều Chăm–pa ưa chuộng xử dụng chất liệu gạch nung cho những công trình tôn giáo như để bảo lưu một truyền thống kiến trúc lâu bền. Vì, về phương diện kỹ thuật xây dựng, xử lý một công trình hoàn toàn bằng gạch nung hoặc bằng sa thạch bao giờ cũng dễ dàng hơn áp dụng kỹ thuật kết hợp hai loại chất liệu hoàn toàn khác nhau về sức bền và độ chịu lực này trên cùng một kiến trúc.
    4.2. Chất kết dính
    Ngày 01/10/2006, Trung tâm Quản lý di tích – di sản tỉnh Quảng Nam chính thức công bố thông tin : các nhà khoa học của Đại học Milan, Ý khi đang làm việc trùng tu nhóm tháp G – thuộc Thánh địa Mỹ Sơn đã xác định chắc chắn loại vật liệu kết dính để xây tháp Chăm–pa là loại keo được tinh chế từ cây dầu rái [WKP]. Loại keo này cũng là một thành phần của viên gạch và được trộn với bột gạch chưa nung để làm vữa xây tháp và có khả năng chống rêu mốc cao.
    4.3. Gạch Chăm
    Gạch trong kiến trúc đền tháp Chăm–pa, thông thường được nung nhẹ lửa (khoảng 1000 độ) nên không cứng lắm (ngoại trừ một ít viên bị nung thành sành/già lửa vì lý do kỹ thuật, thỉnh thoảng đã được tìm thấy ở một vài di tích), gạch có nhiều kích thước khác nhau, khoảng 30cm x 20cm x 10cm. Gạch làm từ chất liệu chính là một loại đất sét được làm sạch có pha chất kết dính, sau khi nung có độ đồng nhất tốt, cường độ chịu ép lớn, có độ xốp và mịn – thuận tiện cho việc điêu khắc trên gạch.
    5. Phân loại
    Xác định niên đại cho các di vật, di tích của nghệ thuật Chăm–pa là một vấn đề nan giải. Nguyên nhân chính của tình hình này là do thiếu tư liệu lịch sử. Các nhà Chăm–pa học đã phải dựa vào sự phát triển của nghệ thuật điêu khắc Chăm–pa. Đã có nhiều cách sắp xếp, phân loại khác nhau, tuy nhiên hầu hết các ý kiến đều thống nhất một khung niên đại giới hạn của nghệ thuật Chăm–pa là từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ XV. Sau đây là cách phân loại dựa trên những kết quả nghiên cứu mới nhất :
    5.1. Phong cách Trà Kiệu sớm (cuối thế kỷ VII)
    5.2. Phong cách An Mỹ (đầu thế kỷ VIII)
    5.3. Phong cách Mỹ Sơn El (thế kỷ VIII)
    5.4. Phong cách Hòa Lai (nửa đầu thế kỷ IX)
    5.5. Phong cách Đồng Dương (nửa cuối thế kỷ IX)
    5.6. Phong cách Khương Mỹ (đầu thế kỷ X)
    5.7. Phong cách Trà Kiệu muộn (cuối thế kỷ X)
    5.8. Phong cách Chánh Lộ (thế kỷ XI)
    5.9. Phong cách Tháp Mẫm (thế kỷ XII – XIV)
    5.10. Phong cách Yang Mun (cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV)

    6. Tỉnh Khánh Hoà
    Diện tích: 5.217,6 km2.
    Dân số (2006): 1.135.000 người.
    Tỉnh lỵ: thành phố Nha Trang.
    Các huyện thị: thị xã Cam Ranh, huyện Vạn Ninh, huyện Ninh Hòa, huyện Diên Khánh, huyện Khánh Vĩnh, huyện Khách Sơn, huyện Cam Lanh, huyện đảo Trường Sa.
    Dân tộc: Việt (Kinh), Ra Glai, Cơ Ho...
    Khánh Hòa là một tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, có quần đảo Trường Sa nằm ở biển Đông Việt Nam, nơi nhận được ánh ban mai sớm nhất nước, phía Bắc giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Lâm Đồng, phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận.
    Địa hình Khánh Hòa thấp dần từ Tây sang Đông với những dạng núi, đồi, đồng bằng, ven biển và hải đảo. Hai sông lớn nhất trải qua tỉnh là sông Cái (đổ ra biển tại Nha Trang) Và sông Dinh.
    Bờ biển Khánh Hòa dài 200 km, ngoài khơi 200 đảo lớn nhỏ. Trong đó huyện đảo Trường Sa quy tụ trên 100 đảo. Tỉnh có nhiều hải sản quý, đặc biệt là yến sào, sản lượng hàng năm trên 2,5 tấn. Khánh Hòa có 5 suối nước nóng với trữ lượng hàng triệu mét khối, có tác dụng chữa bệnh và khai thác nước uống.
    Khí hậu Khánh Hòa vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất của khí hậu đại dương nên tương đối ôn hòa. Nhiệt độ trung bình năm là 26,50C. Lượng mưa trung bình hàng năm trên 1.200mm.
    Khánh Hòa có nhiều cảng biển trong đó có cảng Cam Ranh thuộc vào loại cảng biển tốt nhất thế giới, có sân bay Nha Trang, sân bay quốc tế Cam Ranh tiện lợi cho du khách đến Khánh Hòa. Nằm trên trục giao thông quan trọng quốc lộ 1A, đường sắt xuyên Việt nối Khánh Hòa với các tỉnh miền Nam và miền Bắc, quốc lộ 26 nối Khánh Hòa với Đắk Lắk và các tỉnh Tây Nguyên.
    Khánh Hòa có cơ sở hạ tầng khá hơn nhiều địa phương trong vùng Nam Trung Bộ, trong thập niên 90 của thế kỷ trước và những năm gần đây, kinh tế Khánh Hòa có tốc độ phát triển nhanh so với nhiều tỉnh trong cả nước. Sản xuất nông - công nghiệp phát triển tương đối toàn diện, phong trào nuôi tôm phát triển mạnh cùng với đánh bắt cá xa bờ. Khánh Hòa có nhiều tài nguyên, trong đó nổi tiếng là lâm sản (gỗ, kỳ nam, trầm hương), hải sản (cá, tôm...) và đặc biệt là đặc sản yến sào, một loại thực phẩm cao cấp, không mấy được người sử dụng vì giá rất cao.
    Vịnh Cam Ranh
    Vịnh Cam Ranh thuộc thị xã Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Vịnh Cam Ranh được xem là một trong ba vịnh thiên nhiên tốt và đẹp nhất thế giới, với diện tích vùng vịnh kín tới 60 km² và độ sâu trung bình từ 18 mét đến 20 mét nước.
    Vịnh Cam Ranh với vẻ đẹp nguyên sơ mang trải dài như một dải lụa xanh thẳm, chỗ hẹp nhất khoảng 10 km, rộng nhất 20 km. Vịnh gần như khép kín bởi bán đảo Cam Ranh từ phía bắc chạy phủ kín cả phía đông, phía tây. Phía nam vịnh là đất liền, chỉ mở ra một cửa lớn - được ví như một cánh tay ôm lấy vịnh, tạo thành một vành đai nên mặt nước luôn êm đềm. Du thuyền trên vịnh như “đi trên thảm” bởi không có sóng lớn... Quanh năm nắng ấm chan hòa, bầu trời trong xanh tạo cho mặt vịnh một màu xanh rất dễ chịu.
    Thiên nhiên ở vịnh Cam Ranh đẹp gần như còn nguyên sơ: những bãi cát trắng vàng, trải dài mịn màng như chưa bao giờ có dấu chân người (cát ở Cam Ranh có hàm lượng silic và titan rất lớn, từng xuất khẩu sang Nhật Bản để chế tạo thủy tinh), dưới lòng vịnh có những rặng san hô và những đàn cá nhiều màu sắc rất đẹp mắt. Nhưng đẹp nhất vẫn là những quần thể ghềnh đá granit do sự xâm thực của gió, của nước biển đã tạo nên những hình thù chồng chất. Vịnh còn có nhiều bãi tắm hoang sơ tuyệt đẹp, bên cạnh những rặng dừa xanh cao vút, tạo nên nét đặc trưng của miền duyên hải Trung Bộ.
    Bán đảo Cam Ranh còn có một ưu thế lớn là trữ lượng nước ngọt đáng kể trong lòng đất (mặc dù ba phía là biển) khiến cho đất đai nơi đây trù phú, phủ kín bởi màu xanh tươi của cây trái. Nơi đây khi mùa xuân về, mai rừng nở rộ cả một khoảng trời. Bán đảo còn là nơi cư trú của nhiều loại thú rừng và không thể không kể đến những loại hải sản nổi tiếng xưa nay như: tôm hùm Bình Ba, sò huyết Thủy Triều...
    Vịnh Cam Ranh là nơi lý tưởng để tổ chức các loại hình du lịch biển quốc tế như: bơi thuyền, câu cá, lặn biển xem san hô, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, leo núi... Xung quanh có núi bao bọc làm cho vùng biển luôn kín gió. Cam Ranh chỉ cách đường hàng hải quốc tế 1 giờ tàu biển (so với Hải Phòng cách 18 giờ).
    Cảng thương mại trong vịnh Cam Ranh có tên là cảng Đá Bạc tại thị trấn Ba Ngòi, vì vậy còn có tên là cảng Ba Ngòi.
    Bãi Dài
    Từ khi con đường dài 21 km nối liền khu vực Nam Sông Lô, Nha Trang đến sân bay Cam Ranh được đưa vào sử dụng ngày 30 tháng 4 năm 2004, Bãi Dài trở thành một điểm du lịch hấp dẫn, đón khách trong cuộc hành trình Nam Bắc khi xe đưa họ đi trên con đường mới này. Theo quy hoạch, trong tương lai khu vực Bãi Dài sẽ trở thành khu du lịch trọng điểm phía Nam Khánh Hòa với tổng diện tích đưa vào sử dụng 200 hecta. Tại đây sẽ hình thành các khu du lịch 3 sao, 4 sao với những Resort đẹp vào hàng bậc nhất của cả nước. Bãi biển Bãi Dài uốn quanh dài trên 10 km, nhìn xa tít là những hòn đảo chắn biển. Hiện nay, vẻ đẹp hoang sơ của Bãi Dài đã làm nao lòng nhiều du khách khi tình cờ đặt chân đến hay qua lời giới thiệu của bạn bè mà tìm đến.
    Tính từ đầu cầu Bình Tân đến đường vào Bãi Dài, theo Đại lộ Nguyễn Tất Thành thì con đường chỉ có 10 km, cách sân bay Cam Ranh 12 km. Con đường vòng khi vừa đi hết đèo băng qua dãy núi Đồng Bò là một vòng tròn ôm cua. Tiếp tục đi theo con đường đất hơn 200 mét sẽ gặp bãi biển Bãi Dài, thuộc xã Cam Hải Đông, thị xã Cam Ranh. Hiện tại, đây có khoảng 30 nhà che tạm của người dân dùng để buôn bán phục vụ du khách. Đa phần những người buôn bán tại đây là dân Cam Hải Đông, Cam Hải Tây, thường thì họ ở lại cả ngày để buôn bán, kể cả những ngày mưa gió - vì dẫu mưa, Bãi Dài vẫn có du khách tìm tới. Những căn lều che tạm cũng có ghế xếp và cung cấp đủ mọi dịch vụ ăn uống cho du khách như mực tươi, ghẹ tươi, các loại cá biển với giá rẻ hơn so với các nhà hàng trong thành phố Nha Trang.
    Khu vực bãi biển Bãi Dài hiện đang được nhiều người tìm tới chỉ dài chừng 1 km, tính từ chân núi đến eo biển kế tiếp. Bãi cát ở đây mịn và rất sạch. Những ngày biển êm, triều rút xa, biển lộ ra cả một vùng cát rộng mênh mông (vì thế nơi này có tên gọi là Bãi Dài). Bãi tắm ở đây cạn, an toàn cho du khách, kể cả những người không biết bơi. Thú tắm biển ở Bãi Dài khác với thú tắm biển ở Nha Trang, vì du khách có cảm giác như biển ở đây gần như chưa có ai đến, và trong mênh mông sóng, du khách sẽ cảm nhận được tiếng vỗ của sóng, không hề bị chi phối bởi sự ồn ào của động cơ xe cộ. Điều lý thú là sát ngay bãi cát biển, mỗi hộ buôn bán đều đào một giếng nước ngọt với độ sâu chừng 2 mét. Nước ngọt ở đây được sử dụng không tính tiền.
    Chùa Long Sơn
    Tọa lạc trên đường 23/10, thuộc làng Phước Hải, phường Phương Sơn, thành phố Nha Trang, chùa Long Sơn là ngôi chùa có quy mô lớn nhất trong số hơn 20 ngôi chùa ở Nha Trang. Chùa nằm ngay trong nội thành Nha Trang, bên quốc lộ 1A, dưới chân hòn Trại Thủy.
    Chùa được hòa thượng Ngộ Chí, người Phú Yên, cho xây dựng năm Bính Tuất 1886 tại đỉnh đồi Trại Thủy, có tên là Đằng Long tự. Ban đầu Chùa được kiến tạo bằng vật liệu nhẹ, mái lợp tranh vách đất. Đến năm Canh Tý 1900, chùa bị bão sập, hòa thượng Ngộ Chí dời chùa xuống chân núi, tại vị trí hiện nay, sửa sang và lợp bằng ngói âm dương, rồi đổi tên là Long Sơn Tự. Cũng trong thời gian này, chùa được sắc phong “Sắc Tứ Long Sơn Tự”.
    Về Núi Trại Thủy, dân gian gọi là Hòn Xưởng. Sách cũ ghi là Khố Sơn, tục danh là Hòn Kho. Những tên này biểu hiện mối liên hệ đến lịch sử. Núi Trại Thủy là một hòn đơn độc nằm ở địa đầu thành phố Nha Trang về phía Tây. Hòn núi này chỉ cao chừng 35 mét, dài khoảng 600 mét, giống một ngọn đồi dọc theo quốc lộ 1A, ở phía Bắc. Hình dáng giống như con dơi nằm xoè cánh, đầu hướng về phía Tây Nam. Người xưa gọi là “Ngọc bức hàm hoàn”. Triền phía sau có dốc ngược, toàn là đá hoa cương. Triền phía trước hơi lài, cũng bằng đá hoa cương nhưng có lẫn đất điệp. Trên núi không có cổ thụ và bàn thạch. Cảnh tượng khô khan, trơ trụi. Quang cảnh chung quanh núi rất đặc sắc. Đặc biệt là cảnh quan những vườn dừa nối liền nhau tưởng chừng như bất tận của các làng Lư Cấm, Ngọc Hội, Vĩnh Hội, Vĩnh Điền nổi bật dưới chân núi, trải một màu xanh mượt mà.
    Hòn Trại Thủy đứng giữa đất bằng nhưng không đơn độc. Theo các nhà địa lý, núi này thuộc hệ thống dãy Trường Sơn Tây nguyên. Còn các thầy phong thủy xưa cho rằng đây là Trấn Thủy khẩu của dãy núi Tây Diên Khánh. Long mạch phát khởi từ hòn Thị ở Diên Khánh, chạy ngầm dưới đất gần cửa sông Cù, đổi khởi thành cột trụ giữ linh khí cho cuộc đất Diên Khánh Vĩnh Xương.
    Khoảng giữa thế kỷ XVIII, nhà Tây Sơn thắng chúa Nguyễn, dinh Bình Hòa thuộc về nhà Tây Sơn. Đô đốc Trần Quang Diệu vào trấn Bình Hòa và nhận thấy Ninh Hòa không thể dụng binh bèn dời dinh Tổng trấn vào Diên Khánh, xây thành đắp lũy để chống với quân chúa Nguyễn ở mặt Nam, về đường bộ. Để chống giữ về mặt biển, Trần Quang Diệu lại cắt một đạo thủy binh xuống trấn miền duyên hai. Xét thấy Hoàng Mai Sơn (núi Trại Thủy) vị thế hiểm trở, bèn dùng làm căn cứ quân sự. Trên núi thì cất trại lính, dưới núi về mặt Bắc gần sông lại đóng xưởng cất thuyền, đóng kho chứa lương thực. Vì vậy, núi mới có tên là Trại Thủy hay Hòn Xưởng, Hòn Kho.
    Hòn Trại Thủy trước thời thực dân Pháp chiếm đóng là một hòn núi mọc toàn mai. Những khóm mai cổ thụ, cội cao tàng cả, mọc chen vào những tảng đá hoa cương to lớn. Mỗi lần xuân đến, hoa mai nở vàng cả núa. Hết mùa, lá mai đậm và láng trùm lên núi một màu xanh lục lìa và anh ánh. Sang đông, lá mai rụng hết, núi trở thành một hòn trọc màu xám in những nét đen nhạt của những cảnh khúc khuỷu, những cội u nần của những khóm mai già rắn rỏi.
    Năm Canh Thìn 1940, chùa được đại trùng tu lại theo kiểu Á Đông gồm: tiền đường, hậu sảnh, Đông lan, Tây lan, tăng khách, tăng phòng, nhà bếp... Công trình này do đạo hữu Tôn Thất Quyền, hội trưởng Hội Phật học Khánh Hòa lúc bấy giờ chủ trương tổ chức. Năm Tân Hợi 1971, chùa tiến hành cuộc đại trùng tu lần hai do Thượng toạ Thích Thiện Bình, Chánh đại diện Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa lúc bấy giờ chủ trương tổ chức theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Võ Đình Diệp. Đến năm 1975, công trình đã thực hiện được 60% so với đồ án đã thiết kế. Chiều ngang tiền đường chùa Long Sơn dài 44,5 mét, chiều dài từ tiền đường đến chân núi là 37,5 mét, chiều cao chánh điện là 17,5 mét.
    Trong điện thờ uy nghiêm bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng đồng lớn, nặng 700 kg, cao 1,6 mét. Sau bức tượng là tấm gương lớn tượng trưng cho ánh sáng hào quang nha Phật, và bức tượng Quan Âm Chuẩn Đề có nhiều tay, mỗi tay cầm một vật mà các vị Phật hay cầm.
    Bên hông trái chùa có đường lên núi Trại Thủy. Nơi đây, có tôn trí Kim Thân Phật Tổ là tượng Đức Phật Thích Ca tại đỉnh núi Trại Thủy. Tượng do Thượng toạ Thích Đức Minh và điêu khắc gia Bùi Văn Thêm, hiệu Phúc Điền, thực hiện từ năm 1964 đến năm 1965. Tượng quay về hướng Đông, có chiều cao từ mặt bằng lên 24 mét, phần tượng cao 14 mét, tư thế toạ thiền, uy nghi giữa nền trời. Từ đỉnh tượng đến sân trước cửa chùa cao chênh lệch 50 mét, nếu lên đến nơi tôn trí Kim Thân Phật Tổ phải leo 150 bậc thang ờ sau chùa.
    Năm Bính Tý 1936, chùa được cúng cho Hội Phật học tỉnh Khánh Hòa để làm Hội quán Tỉnh hội. Liên tiếp từ đó đến nay, chùa là trụ sở của Giáo hội Phật giáo Khánh Hòa. Trong khuôn viên chùa có sự phối hợp hài hòa giữa công trình kiến trúc với cảnh quan thiên nhiên góp
    Viện Hải dương học
    Nằm trên đường Trần Phú, trên một khu đất cao ráo, rộng rãi, ngay cạnh cảng Cầu Đá, cách trung tâm thành phố 6 km theo hướng Đông Nam, Viện Hải dương học được thành lập vào năm 1923, đong thời với bảo tàng Hải dương học Nha Trang, là một trong những cơ sở nghiên cứu khoa học, viện nghiên cứu tiềm năng biển nhiệt đới, ra đời sớm nhất ở Việt Nam.
    Viện Hải dương học Nha Trang được xem là cơ quan lưu giữ hiện vật và nghiên cứu biển lớn nhất Đông Nam Á với trên 11.000 tiêu bản về hải sản. Ngày 14 tháng 9 năm 1922, Sở Nghề cá Đông Dương - tiền thân của Viện Hải dương học ngày nay đã được thành lập. Do nằm trên khu đất cao ráo, có vị trí rất thuận lợi để hình thành một viện nghiên cứu biển ở Việt Nam, bởi bờ biển Nha Trang thuộc loại sâu nhất, chứa đựng đầy đủ các tầng, các lớp và các loài động thực vật biển của vùng Đông Nam Á nên nơi đây được xem như là viện bảo tàng sinh vật biển, là nơi lưu trữ lớn nhất và đầy đủ nhất về các sinh vật biển ở Việt Nam. Tại đây có trên 20.000 mẫu vật của hơn 4.000 loài sinh vật biển và nước ngọt được sưu tầm, gìn giữ từ bao năm qua bên cạnh những sinh vật điển hình được nuôi thả trong bể kính.
    Trải qua hơn 80 năm hoạt động và phát triển, Viện Hải dương học đã đóng góp được một khối lượng lớn các công trình nghiên cứu cho công cuộc chinh phục khai thác và bảo vệ biển Đông, bao gồm 1.100 ấn phẩm đã được công bố, trong đó nghiên cứu về tính đa dạng sinh học chiếm 62,6%, về vật lý hải dương chiếm 11,6%, về sinh thái môi trường chiếm 7,6%, về địa chất địa mạo biển chiếm 5,4%, về hóa học biển và về hóa sinh chiếm 4,4%. Qua đó, có thể thấy được Viện hải Ddương Học Nha Trang đã góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu khoa học của đất nước.
    Viện Hải Dương học có một bộ xương cá voi khổng lồ dài tới khoảng 26 mét, cao 3 mét, với 48 đốt sống được phục chế nhằm mục đích nghiên cứu khoa học và phục vụ du khách tới thăm viếng. Bộ xương này được tìm thấy ngày 8 tháng 12 năm 1994 tại huyện Hải Hậu, tỉnh Hà Nam trong lúc đào mương làm thủy lợi và được đưa về trưng bày tại đây năm 1995. Bên cạnh đó, Viện còn trưng bày bộ xương bò biển (dugon) chết ngày 22 tháng 1 năm 1997 tại bãi Lò Vôi (Côn Đảo) và được vườn quốc gia Côn Đảo chôn cất, bảo quản. Bộ xương dài 273 cm, nặng 300 kg, được Ủy ban Nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và vườn quốc gia Côn Đảo tặng tháng 11 năm 1997.
    Một số loài cá trưng bày tại Viện Hải dương học Nha Trang.
    - Cá ngát: phân bố ở châu Phi, Ấn Độ, Hồng Hải, Malaysia, Philipin, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam. Kích thước tối đa là 32 cm. Cá tìm thức ăn trong nền đáy nhờ những gai xúc giác nhỏ trên râu. Trên vây lưng và vây ngực cá còn có những chiếc gai rất nhọn mang độc tố, khi chích sẽ gây ra vết thong song tấy và đau nhức. Cá sống thành đàn, khi gặp nguy hiểm, đàn cá cuộn lại thành một khối cầu to.
    - Cá sơn đá: gặp ở tất cả các vùng biển nhiệt đới, kích thước tôí đa là 32 cm. Đặc điểm: loài cá nay chỉ hoạt động vào ban đêm, ban ngày cá ẩn nấp trong những khe đá, hang hốc. Cá có thể phát ra những tiếng “click” rất rõ (có lẽ để liên lạc vơí nhau).
    - Cá chình: phân bố ở các vùng nhiệt đơí và ôn đới, kích thước tối đa là 3 mét. Đặc điểm: cá hoạt động vào ban đêm, ban ngày chúng chui rúc trong các hang hốc hay vùi mình trong cát. Những con lớn có răng rất sắc nhọn, có thể tấn công người.
    - Cá vệ sinh: phân bố ở Úc, Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, kích thước tối đa 14 cm. Đặc điểm: những loài cá dù to lớn hay hung dữ thế nao đi nữa thì đứng trước cá vệ sinh đều tỏ ra rất hiền lành, ngoan ngoãn. Chúng chuyên ăn các phần thịt thối rữa, làm sạch vết thương và ăn các loại ký sinh trùng bám trên mang, da, trong miệng các loài cá khác.
    - Cá bò hỏa tiễn: phân bố ở Úc, Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, kích thước tối đa là 60 cm. Đặc điểm: lớp da cá rất dày, miệng nhỏ nhưng có những chiếc răng rất khỏe nhờ đó có thể ăn được những sinh vật có vỏ cứng như cua, sò, cầu gai, vẹm... Lớp da dưới ngực cá có khả năng giãn ra làm cho kích thước cá tăng đáng kể để hăm dọa kẻ thù.
    - Cá nóc : phân bố ở biển Đỏ, Ấn Độ Dương, Thaí Bình Dương, kích thước tối đa là 90 cm. Đây là nguyên liệu chính để làm món “sushi fugu” rất được ưa thích tại Nhật. Tuy nhiên một số loài cá nóc mang độc tố tetrodotoxin cực mạnh, chỉ cần ăn phải một lượng rất nhỏ cũng có thể tử vong. Cá có thể phình to khi gặp nguy hiểm.
    - Cá mặt quỷ: phân bố ở Úc, Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, kích thước tối đa 35 cm. Cá có hình thức ngụy trang đặc biệt nên còn gọi là cá đá. Những chiếc gai trên lưng và hậu môn gây độc tố cực mạnh gây hôn mê thậm chí tử vong. Tuy nhiên thịt cá không có độc và lại rất ngon được xem là đặc sản.
    - Hải sâm: phân bố rất rộng, có thể tìm thấy ở tất cả các vùng biển, ở mọi độ sâu. Khi bị tấn công nó phun ra hầu hết các phần nội tạng làm thức ăn cho kẻthù, phần đã mất sẽ được tái tạo lại sau 20 ngày. Một số loài là thức ăn tốt.
    Tuy vậy, với nhiệm vụ nghiên cứu biển trong tương lai, Viện Hải dương học Nha Trang luôn luôn tăng cường đội ngũ cán bộ khoa học và cán bộ quản lý khoa học cả về hai mặt lượng lẫn chất với những trang thiết bị hiện đại nhất, để đáp ứng được nhiệm vụ hiện đại hóa đất nước.
    Viện Hải dương học được thành lập từ ngày 14 tháng 9 năm 1922 cho tới nay, qua gần một thế kỷ hoạt động và phát triển, Viện Hải dương học đã đóng góp được một khối lượng lớn các công trình nghiên cứu cho công cuộc chinh phục, khai thác và bảo vệ biển. Cùng với bao biến cố thăng trầm của lịch sử, các giai đoạn hoạt động và phát triển Viện có thể được chia như sau:

    Giai đoạn từ năm 1922 đến năm 1930.
    Sở Hải dương học Nghề cá Đông Dương: (Service Océanographique des Pêches de l'Indochine) là cơ quan tiền thân của Viện Hải dương học Đông Dương được thành lập theo quyết định của Ngài Baudoin, Toàn quyền Đông Dương ký ngày 14 tháng 9 năm 1922.
    Phương hướng nghiên cứu: nghiên cứu khảo sát các điều kiện tự nhiên và nguồn lợi cá để phục vụ cho nghề cá Đông Dương.
    Giám đốc: Tiến sĩ Armand Krempf, nhà nghiên cứu sinh học.
    Cán bộ nghiên cứu khoa học chính:
    Tiến sĩ Paul Chabanaud, nhà nghiên cứu ngư học.
    Tiến sĩ Constantin Nikolaevitch Dawydoff (người Nga) nhà nghiên cứu động vật không xương sống ở biển.
    Tiến sĩ Pierre Chevey nhà nghiên cứu ngư học.
    Tiến sĩ Henri Marcelet, nhà nghiên cứu hóa sinh học.
    Ông Nguyễn Công Tiêu, nhà nghiên cứu động vật giun nhiều tơ.
    Giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1952.
    Viện Hải dương học Đông Dương (L'Institut Océanographique de l'Indochine) được thành lập theo sắc lệnh của ngài Gaston Doumergue, Tổng thống nước Cộng hòa Pháp ký vào ngày 1 tháng 12 năm 1929.
    Giai đoạn từ năm 1952 đến năm 1975
    Từ năm 1952, Viện Hải dương học Đông Dương được đổi tên là Viện Hải dương học Nha Trang (L'Institut Océanographique de Nha Trang), về sau đổi thành Hải học Viện Nha Trang khi có quyết định của Chính phủ Pháp bàn giao cho Chính quyền miền Nam đương thời (1954). Tiến sĩ Raoul Sérène giữ nhiệm vụ vai trò cố vấn kỹ thuật cho đến tháng 3 năm 1961. Thời gian này, đất nước chưa thống nhất, việc nghiên cứu biển mang tính chất khu vực. Viện Hải dương học Nha Trang hoạt động khó khăn trong điều kiện có chiến tranh nên phương hướng nhiệm vụ của viện chú trọng vào việc đào tạo cán bộ nghiên cứu biển có trình độ trên đại học và đại học cộng đồng và tổ chức những chuyến khảo sát biển ven bờ, cù lao gần và tập trung vào cộng tác xác định mẫu vật sắp xếp lại theo bộ môn, viết báo cáo về các khảo sát có tính ứng dụng.
    Tham gia khảo cứu vùng biển vịnh Thái Lan và miền Nam Việt Nam với Viện Scripps (Institution of Oceanography California) Hoa Kỳ trên tàu Stranger trong chương trình NAGA (1959 - 1960) và tham gia chương trình CSK (Cooper ative Study of Kuro shivo) (1965 - 1977) nghiên cứu ảnh hưởng của dòng Kuroshio.
    Trong khi đó ở miền Bắc, để khảo sát khu vực biển vịnh Bắc Bộ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định thành lập các tổ chức nghiên cứu biển :
    - Năm 1959, thành lập Đoàn Khảo sát Biển vịnh Bắc Bộ (điều kiện tự nhiên và nguồn lợi cá tầng đáy và gần đáy).
    - Năm 1961, thành lập Trạm Nghiên cứu Biển Hải Phòng trên cơ sở của Đoàn Khảo sát Biển.
    -Năm 1967, thành lập Viện Nghiên cứu Biển Hải Phòng trên cơ sở Trạm Nghiên cứu Biển Hải Phòng.
    - Năm 1967, thành lập Viện Nghiên cứu Biển Hải Phòng trên cơ sở Trạm Nghiên cứu Biển Hải Phòng.
    Giai đoạn từ năm 1975 đến nay.
    Sau khi Việt Nam thống nhất, Viện Hải dương học Nha Trang, Viện Nghiên cứu Biển Hải Phòng được sát nhập thành một Viện thống nhat lấy tên là Viện Nghiên cứu Biển Nha Trang, trực thuộc Viên Khoa học Việt Nam, nay là Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia.
    Đến năm 1993, Viện Hải dương học (L'Institut Océanographique) bao gồm tất cả các cơ quan nghiên cứu biển trên toàn quốc, Viện được tổ chức thành một Viện chính ở Nha Trang và hai phân viện ở Hải Phòng và Hà Nội.

    Hòn Chồng
    Hòn Chồng là một thắng cảnh nổi tiếng của TP. Nha Trang, thuộc khóm Hòn Chồng, phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
    Trong tác phẩm "Xứ Trầm Hương", Quách Tấn đã viết:
    "Ở Nha Trang, muốn đến Hòn Chồng thì có hai đường. Hoặc đến xóm Bóng mướn con thuyền nhỏ bơi ra hướng Bắc, để khai vị thú trời biển bao la. Hoặc theo con đường quốc lộ 1A đi ra khỏi tháp Bà chừng một cây số rưỡi, rồi quẹo xuống ngõ rẽ qua xóm dừa nước ngọt bóng xanh, chỉ trong giây lát là đến Hòn Chồng."
    Cách Tháp Bà Pô Nagar khoảng 1.500 mét theo hướng Đông Bắc là một thắng canh thiên nhiên: Hòn Chồng - Hòn Vợ. Đó là hai khóm đá lớn, một nằm phía Bắc, nửa chìm nửa nổi được gọi là Hòn Chồng; một là nhóm nhỏ hơn, nằm dưới biển, ở chân đồi phía Đông là Hòn Vợ, thuộc phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
    Hòn Chồng là một quần thể các khối đá lớn nhỏ, đa hình đa dạng xếp chồng lên nhau như có bàn tay tạo hóa sắp đặt, tạo dựng trong một trò chơi xếp hình tinh nghịch. Có những khối đá rất lớn trên những khối đá nhỏ hơn, trông rất chênh vênh, hờ hững. Đá một màu xanh xám, lớp chìm dưới nước, lớp nổi lên mặt sóng, lớp nằm giăng hàng, lớp chồng lên nhau. Từ trong bờ, đá chạy lúp xúp ra ngoài khơi, đồi đột khởi lên một tảng đá vừa cao vừa rộng, trông như một cái gò, dáng bằng phẳng. Lạ nhất là trên tảng đá này lại có một khối đá lớn như một ngôi nhà cao tầng nằm trên mỏm cao nhất, bề mặt tương đối bằng phẳng hướng ra biển có in dấu một bàn tay khổng lồ hằn sâu trong đá, như thuở mới tạo sơn, đã có một bàn tay khổng lồ nào bấu vịn vào để lại dấu vết đến ngày nay.
    Trên đường xuống Hòn Chồng là một khối đá vuông ví như được ném xuống từ trời cao bị kẹt giữa hai khối đá khác, điều này vô tình tạo nên một chiếc cổng đá tựa như cổng thành cổ xưa và làm thành một khối đi lớn. Về dau bàn tay khổng lồ có đủ năm ngón ở mặt phía Đông của tảng đá, có một sự tích dân gian kể lại như sau:
    "Vào thời xa xưa, các tiên nữ trên trời thấy cảnh giới nơi này đẹp nên thường kéo nhau xuống chơi. Một lần, các tiên nữ xuống tắm ở suối, thích thú, đùa giỡn làm vang động cả một vùng. Khi ấy, có một người khỗng lồ từ phương xa đến xứ này ngoại cảnh, ông dừng lại say sưa ngắm nhìn, vô tình trượt chân ngã, ông vội bám víu vào những mô đá bên sườn núi. Sườn núi không chịu nổi sức mạnh của ông khổng lồ nên đổ sụp cả sườn núi. Đá núi ào ào sụp lở vả đổ văng ra tận cửa biện, tạo nên Hòn Chồng ngày nay. Khối đá lớn ông khổng lồ bám vào còn in hằn cả bàn tay. Dấu chân trượt ngã cũng với đủ năm ngón lún vào đá thì để lại dấu tích ở Suối Tiên."
    Truyền thuyết khác nói về Hòn Chồng:
    "Cụm đá lớn ở ngoài biển gọi là Hòn Chồng, gồm một khối đá lớn vuông vức nằm trên một tảng đá bằng phẳng và rộng hơn, phía mặt đá quay ra biển có một vết lõm hình bàn tay rất lớn. Tục truyền rằng, thuở xưa ông khổng lồ ngồi câu cá nơi đây, có một con cá cũng khổng lồ cắn câu lôi đi, ông phải kéo lại, tay cầm cần câu, tay tì vào tảng đá lấy đà khiến bàn tay ấn vào đá và để lại dấu như đã thấy."
    Lại cũng có thêm một truyền thuyết khác nói về Hòn Chồng:
    "Xưa kia, nơi đây vốn còn những vách đá cao và dựng đứng. Một ngày nọ, có một chiếc thuyền của đôi vợ chồng trẻ bị sóng to gió lớn đánh trôi dạt vào cửa biển này. Sóng xô thuyền đụng vào vách đá vỡ tung. Sóng lớn cuốn lôi người vợ ra xa. Người chồng vội lao ra kéo người vợ vào nhưng sóng càng lúc càng mạnh. Người chồng một tay dìu vợ, một tay bám được vào vách đá. Vốn đã chênh vênh muốn đổ, nay lại thêm sức mạnh của người chồng bám vào nên vách đá đổ ào xuống biển và nhấn chìm cả đôi vợ chồng trẻ bất hạnh. Họ chết đi nhưng dấu bàn tay của người chồng còn hằn sâu trong đá và giữ mãi với thời gian."
    Những tảng đá nơi Hòn Vợ cũng lớn chồng lên nhau, lớp giăng hàng như cảnh Hòn Chồng. Tại Hòn Chồng, đá thường bị sóng cọ mài nên phần nhiều trơn liền, tròn trịa. Còn đá nơi Hòn Vợ nhiều góc cạnh và phần nhiều hình khối lăng trụ. Đá Hòn Chồng thường nằm chồng lên nhau. Còn đá tại Hòn Vợ lại nằm khắng khít bên nhau một cách âu yếm.
    Tháp Bà Pô Nagar
    Tọa lạc trên một quả đồi khá cao tại làng Cù Lao, tổng Xương Hà, huyện Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hòa xưa (nay thuộc thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa), là khu di tích quan trọng của người Chăm - Tháp Pô Nagar. Khi người Chăm rút khỏi vùng Khauthara (tức vùng Khánh Hòa), ngôi đền thờ chính này của người Chăm được chuyển giao cho người Việt và trở thành tháp Bà hay tháp Thiên Yana Thánh Mẫu. Cho đến nay, người Việt quanh vùng, cứ đến ngày rằm, mồng một hoặc khi có chuyện riêng từ gì đo, đều lên tháp Bà thắp hương, cầu xin Bà phù hộ độ trì. Tại chân núi Tháp Bà, bên bờ sông Nha Trang (sông Cái), có hẳn một xóm của những người làm nghề cung văn, nhạc công, múa bóng chuyên nghiệp thường xuyên phục vụ các nghi lễ dân gian tại Tháp Bà. Xóm đó được gọi là xóm Bóng "Ai về xóm Bóng Hà Ra / Hỏi thăm điệu hát dâng Bà còn không?".
    Đối với người Chăm, tháp Pô Nagar là đền thờ vị nữ thần đáng kính nhất và quan trọng nhất của dân tộc mình: thần mẹ xứ sở - Pô Inư Nagar (Pô: Ngài, Bà; Inư: Mẹ; Nagar: xứ sở, đất nước, đô thị). Vì vậy, sau khi rút khỏi vùng Nha Trang, người Chăm đem nữ thần của mình về thờ tại một ngôi đền nhỏ ở làng Hữu Đức, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Hiện nay, cứ vào ngày thứ năm và thứ sáu của tuần đầu tháng giêng theo lịch Chăm hằng năm, người Chăm lại làm lễ Rija - Nưgar để cầu xin thần Mẹ xứ sở giúp những điều kiện tốt lành, mưa thuận gió hòa. Nữ thần Pô Nagar là nữ thần bản địa có vai trò rất quan trọng đối với đời sống của người Chăm.
    Pô Nagar không chỉ đầy huyền tích mà còn là một trong những tổng thể kiến trúc vào loại lớn nhất của vương quốc Chămpa xưa. Toàn bộ khu đền Pô Nagar nằm trên đồi Cù Lao, hướng mặt về phía biển, hướng ve phía Đông, chếch Bắc 70 và có cả ba tầng kiến trúc. Ở tầng trên cùng là hai dãy tháp, xung quanh có tường bao (hiện chỉ con dấu tích tường xưa ở mé Tây và Nam). Dãy tháp thứ nhất, từ Bắc xuống Nam, gồm ngôi tháp chính (theo truyền thuyết là tháp thờ thái tử Bắc Hải), ngôi miếu nhỏ (nơi thờ ông bà trồng dưa). Trên dãy tháp thứ hai phía sau, hiện chỉ còn một ngôi tháp mái dài hình cong như yên ngựa (mà truyền thuyết cho là nơi thờ hai người con của Thiên Yana). Thế nhưng có thể nhận thấy ở dãy tháp thứ hai dấu tích nền móng của hai ngôi tháp nữa. Đối diện với tháp thờ chính, hiện còn dấu vết của những tam cấp bằng gạch rất dốc nối liền tầng kiến trúc phía dưới (tầng thứ hai từ dưới lên) với tầng kiến trúc trên cùng. Trên mặt tầng thứ hai hiện còn hai dãy cột chính gồm 10 cột, mỗi dãy 5 cột, bằng gạch hình bát giác, rất lớn và cao, đường kính hơn một mét và cao khoảng 3 mét. Bao quanh 10 cột lớn, hiện còn hai hàng gồm 14 cột nhỏ và thấp hơn cũng bằng gạch và có hình bát giác như các cột lớn. Toàn bộ hệ thống cột đó dựng trên một nền gạch chữ nhật cao hơn 1 mét. Trên cơ sở những chiếc cột và tầng nền còn lại, các nhà nghiên cứu đã giải thiết rằng xưa kia, nơi đây là một toà nhà dài lớn, mái ngói, dùng làm nơi để mọi người chuẩn bị đồ lễ trước khi lên các tháp thờ ở phía trên. Ngôi nhà cột dài có cầu thang phía đông dẫn xuống tầng cuối cùng, nơi có ngôi tháp cổng. Thế nhưng, hiện nay, ngôi tháp cổng không còn nữa.
    Tháp thờ chính là một kiến trúc tháp bốn tầng kiểu truyền thống của Chămpa khá lớn (cao chừng 25 mét). Các mặt tường phía ngoài của thân tháp (trừ mặt đông là nơi có cửa ra vào) được trang trí bằng hệ thống các cột ốp, cửa giả và các đường gờ nằm giữa các cột ốp. Mỗi mặt tường có năm cột ốp cao thon thả và trang nhã. Tính thanh thoát của các cột ốp còn được nhấn bởi một đường rãnh dọc chạy giữa suốt cả thân cột. Thân các cột ốp đều có một hình áp có hai thân và hai trán hình ngọn lửa. Khoảng tường nằm giữa các cột ốp cũng được chạm khắc thành một đường rãnh lõm hình chữ nhật đứng để làm nổi lên đường gờ dài ở chính giữa. Cũng như các hình áp chân cột, các cửa giả nằm chính giữa các mặt tường là một cấu trúc lớn có hai thân nhô ra và vút cao như hình mũi giáo. Trên đỉnh của phần thân, nằm ngay trên đầu các cột ốp ở góc, là bốn hình tháp nhỏ; còn ở khoảng trống giữa các tháp góc đó nhấp nhô những hình trang trí giống các hình áp chân cột ốp. Ba tầng phía trên là những khối kiến trúc mô phỏng phần thân của tháp, lại có bố cục như hình lăng trụ tám mặt. Một torng những nét đặc trưng nhất của ngôi tháp thờ chính là sự có mặt của những con vật bằng đá trên mái: những con chim lớn trên mái bằng của thân chính, những con dê trên mái tầng một, những con hạc đang dang cánh trên mái tầng hai, những con voi đang bước, đầu quay lại ở tầng ba. Cửa ra vào phía đông là cả một cấu trúc hình tháp gắn vào mặt tường. Tháp cửa có hình dáng và cấu trúc hệt như tháp chính, nhưng chỉ có ba tầng, không có hình người đứng. Cửa ra vào tách khỏi tháp cửa thành một tiền sảnh. Ở lối vào có hai trục cửa bằng đá hình chữ nhật, khắc đầy bia ký, đỡ một mi cửa trơn. Bên trên là một trán cửa bằng gạch, hai thân, ôm lấy một phiến đá hình cung nhọn có hình nữ thần Durga múa giữa hai nhạc công. Đáng tiếc là mặt tiền của tháp chính đã hư hại nhiều và tuy được tu sửa, nhưng lại sửa không đúng. Do đó, muốn thấy rõ hình dáng và vẻ đẹp thực của ngôi tháp, phải đứng nhìn từ phía sau của tháp.
    Nằm ngay bên cạnh, về phía Nam của tháp chính là ngôi tháp lớn thứ hai, cao chừng 12 mét, trong toàn bộ tổng thể kiến trúc ở Pô Nagar. Mặc dầu phần thân tháp mang sắc thái của một tháp Chăm truyền thống - nghĩa là mặt tường bên ngoài được trang trí bằng các cột ốp - nhưng toàn bộ phần đỉnh lại không phải là các tầng thu nhỏ dần về phía chóp mà là một khối hình tháp hình cung nhọn được tạo bởi bốn mặt cong từ bốn mép tường khép vào với nhau. Điều đặc biệt nữa ở ngôi tháp lớn thứ hai tại Pô Nagar là khối chóp tháp bằng đá hình Linga nhô lên từ một khối bệ hình củ hành bốn múi được trang trí bang bốn hình đầu bò thần Nađin ở bốn góc. Cũng như ngôi tháp chính, cửa ra vào phía đông của tháp nhô hẳn ra thành một cấu trúc gồm gian tiểu sảnh ở phía trong và cửa ở phía ngoài, nhưng trán cửa là khối đá trơn chứ không có hình chạm khắc như của tháp chính.
    Nằm trên dãy thứ nhất, ở phía Nam của ngôi tháp hình chóp nhọn vừa mô tả trên đây, là một kiến trúc vừa nhỏ, vừa đặc biệt. Thân dưới của kiến trúc hình chữ nhật gồm ba mặt tường và cửa vào phía đông như mọi tháp Chăm khác, nhưng không có các tháp nhỏ ở bốn góc mái. Tầng thứ nhất có cấu trúc và hình dáng đơn giản như phần thân của kiến trúc. Phía trên tầng một, không còn cấu trúc theo kiểu tầng nữa, mà là một bệ mái cong hình yên ngựa phô ra hai đầu hồi hai hình cung nhọn có hai thân. Bên trong tháp chứa một linga không có bệ làm tượng thờ.
    Ngôi tháp thứ tư và là ngôi tháp còn nguyên vẹn nhất của Pô Nagar nằm về phía Tây Bắc trên dãy kiến trúc thứ hai. Xét về loại hình thì tòa kiến trúc này là một tháp tầng, nhưng số tầng chỉ có một và đỉnh nhọn được thay bằng bộ mái dài hình yên ngựa. Toàn bộ phần thân hình chữ nhật kéo dài theo hướng Bắc - Nam của tháp có cấu trúc và hình dáng như các tháp Chăm truyền thống khác, nhưng trong các ô cửa giả lại nổi lên các hình chạm khắc đặc biệt bằng gạch: hình chim thần Garuda ở mặt Nam, hình con sư tử trong tư thế tấn công với các móng vuốt của hai chân trước co lại sát thân ở mặt Bắc, một người cầm lao ở tay phải, cầm các góc, trên đầu các cột ốp ở góc tường nhô ra những hình trang trí thể hiện các tiên nữ Apsara như ở tháp chính (hình phía ngoài bằng đá, hình phía trong bằng đất nung). Các cột ốp góc tường đội bốn trang trí góc có hình như quả chuông bằng gạch, còn phần diềm mái nằm giữa các quả chuông gạch được trang trí bằng các hình áp lô nhô như răng cưa. Tầng trên là một khối kiến trúc mô phỏng phần thân và cũng chạy dài theo hướng Bắc - Nam. Mỗi mặt tường đều được trang trí bằng các cột ốp (mặt dài ba cột, mặt ngắn hai cột) và cửa giả ở chính giữa mỗi mặt. Toàn bộ đường diềm (phía trên) nhô ra, khá mạnh của tầng một có chức năng làm bệ cho bộ mái gạch hình yên ngựa phía trên. Hai mặt hồi hình vòm cung nhọn uốn vào phía trong phô ra hai trán nhà có chạm khách hình một vị thần nào đó đang ngồi dưới tán các đầu rắn Naga; còn hai chân mái phía đông và tây được tô điểm bằng các hình vòm nhấp nhô - mỗi mặt năm hình. Cửa tách ra khỏi mặt đông của thân thành một tiền sảnh ngắn có mái hình cung nhọn và một trán cửa kép. Chính phía dước nền của tháp Tây - Bắc, vào những năm đầu thế kỷ XX, trong khi tu sửa, người Pháp đã tìm thấy kho báu thiêng gồm những đồ cúng tiến bằng vàng bạc.
    Việc thờ phụng nữ thần Yan Pô Nagar đã có từ lâu và tồn tại liên tục trong nhiều thế kỷ ở tháp Pô Nagar. Điều lý thú và rất có ý nghĩa là: nếu bia ký được ghi bằng chữ Phạn thì nữ thần mang tên nữ thần của Ấn Độ Bhagavati (Sakti hay vợ của thần Siva), còn bia ký ghi bằng chữ Chăm cổ thì nư thần được gọi là Yan Pô Nagar (Thần Mẹ xứ sở). Rõ ràng, cái vỏ hay hình thức của Ấn Độ giáo đã trùm lên hay đã nhập vào việc phụng thờ Nữ thần mẹ Yan Pô Nagar. Điều này cũng được phản ánh rõ qua hình ảnh bức tượng đá nữ thần hiện còn được thờ trong ngôi tháp chính ở Pô Nagar.
    Bức tượng thờ bằng đá khá lớn, cao 2,6 mét, được tạc bằng đá hoa cương nguyên khối màu đen, ngồi trên bệ đá uy nghiêm hình đài sen thể hiện một nữ thần ngồi xếp bằng trước một tấm tựa hình chữ U ngược được chạm cả hai mặt: mặt trước là một vòng cung dạng Kala - Makara - Tôrana (đầu Kala nhìn thẳng ở chính giữa, hai đầu Makara nhìn nghiêng ở hai bên), mặt sau là kiểu trang trí hình lá nhọn to uốn ngược đầu lên (mỗi bên hai lá) hướng về hình lá đề to ở chính giữa. Nữ thần chỉ mặc chiếc váy ở phía dưới, còn toàn bộ phần trên để trần phô ra cặp vú to căng tròn, những nếp nhăn lớn ở bụng chứng tỏ đã trải qua nhiều lần sinh nở, bên dưới mặt một chiếc xà rông. Nữ thần có mười tay: hai bàn tay dưới đặt lên hai đầu gối và không cầm gì cả, bàn tay phải để ngửa, còn bàn tay trái cũng mở nhưng dựng đứng và hướng về phía trước. Các bàn tay khác đầu cầm các vật phụ thuộc: đoản kiếm, mũi tên, trùy và lao ở bên phải; chuông nhỏ, đĩa, cung và tù và ở bên trái. Đáng tiếc là đầu tượng đã mất, cái đầu hiện nay là đầu được gắn vào về sau. Tất cả các dấu hiệu, đặc biệt là các vật cầm tay cho biết tượng thờ chính ở Pô Nagar là tượng Mahisamardini – Nữ thần diệt trừ quỷ ác Drga - Sakti, hay vợ của thần Siva. Dựa trên các yếu tố phong cách, các nhà nghiên cứu xác định tượng thờ ở Pô Nagar có niên đại thế kỷ X. Do đó, có thể cho rằng pho tượng hiện nay đang được thờ ở tháp chính Pô Nagar là pho tượng bằng đá do vua Jaya Indravaman dựng lên vào năm 965 mà bia ký tại tháp đã nhắc tới. Hình tượng nữ thần cũng được thể hiện trên hình khắc trán cửa của ngôi tháp chính. Toàn bộ được đặt trên một Yoni lớn, gồm nhiều lớp đá chồng khích lên nhau, được đẽo gọt từ nguyên khối.
    Hình khắc đá trang trí trán cửa thể hiện một nữ thần bốn tay đang đứng trên lưng một con trâu con. Nữ thần cầm trong ba tay những vật phụ thuộc sau: tầm sét, bông sen, trùy, còn một tay dưới đưa lên ngực làm ấnquyết. Có thể dễ dàng xác định nữ thần trên trán cửa ở Pô Nagar cũng chính là Mahisamardini. Thế nhưng, tác phẩm điêu khắc này lại có niên đại muộn hơn - giữa thế kỷ XI.
    Ngoài tượng và hình khắc thể hiện nữ thần - đối tượng thờ phụng chính - ở khu vực tháp Pô Nagar còn có những tác phẩm điêu khắc bằng đá và bằng gỗ khác như: hai con voi gỗ, các Linga nhỏ- vật thờ trong các tháp phụ, tượng một phụ nữ quỳ, tượng Visnu và nhiều mảnh điêu khắc đá khác. Trong số đó, có những tác phẩm điêu khắc như tượng Visnu, tượng người phụ nữ có niên đại từ thế kỷ VIII đến thế kỷ IX thời Hoàn Vương.
    Mặc dầu không còn lại những dấu tích vật chất, nhưng các truyền thuyết, các địa danh mang tính thánh tích lại cho ta biết tục thờ nữ thần mẹ Yan Pô Nagar mà về sau, người Việt gọi là Thiên Y Thánh Mẫu có mặt gần như trên khắp lãnh thổ Chămpa xưa. Theo bài hát ca ngợi tại lễ cúng ở lăng Pô Inư Nagar thì “Thần có tên là Pô Yan Inư Nugar Taha, nữ thần vĩ đại của xứ sở. Thần còn có tên nữa là Muk Juk (Bà đen), là Patao Kumây (Chúa tể của phụ nữ). Thần sinh ra từ mây và bọt biển. Thần có 97 người chồng, mà nổi tiếng nhất là Pô Yan Amư (Ngài thần Cha). Thần sinh ra 38 cô con gái, trong đó có những cô con gái nổi tiếng như: Pô Nưga, Jạrạ, Pô Bia Tikuk, Pô Jạrạ Nai Anéthơ (Bà Jạrạ Nàng Nhỏ), Pô Sah Anethơ và Pô Nưgar Gahơlâu (Bà xứ Trầm)”.
    Về sau, từ thế kỷ X, khi Hồi giáo du nhập vào đất Chămpa, huyền thoại về nữ thần mẹ xứ sở Yan Pô Inư Nagar lại khoác lên bộ ao mới - bộ áo đạo Hồi, nhưng cốt lõi xưa vẫn không mất đi. Trong các sách cổ ít nhiều chịu ảnh hưởng của Hồi giáo thì nữ thần Pô Nagar của người Chăm, dù có bị gắn với đạo Hồi, vẫn hiện ra như trong những câu chuyện dân gian. Khi giải thích sự hình thành của thế giới, các bộ sách cổ đều nói tới bốn thời kỳ sáng thế lớn:
    "Lần đầu tiên, thế giới do Đại nữ thần Atmưhekat tạo ra vũ trụ từ hư không với 12 mặt trời và 12 mặt trăng. Ông thần phò tá Đại nữ thần là Mơmaisahaicadông đã dùng tên bắn vỡ hết mặt trời, mặt trăng để cho khí hậu bớt nóng. Thế là xảy ra tận thế lần đầu. Lần thứ hai, Đại nữ thần sai vị thần thân tín của mình là ông Cú đi tạo thiên lập địa. Nhưng khai thấy trời đất quá tối tăm, con người còn mông muội, ông Cú đành trở về. Lần thứ ba, Đại nữ thần lại sai ông Cú đi. Lần này, đi cùng ông Cú có thần Aulahú (Alla), thần Mưhamach (Môhamét) và nhiều thần Hồi giáo khác. Sau khi làm cho trời đất sáng sủa, vạn vật sinh sôi, ông Cú về trời nghỉ ngơi. Lần thứ tư, ông Cú sai con gái đầu của mình là Pô Inư Nagar xuống trần. Nữ thần Pô Inư Nagar lập ra nước Chămpa và tất cả các nước khác, sinh ra các vị giáo chủ (Nabi) cho người Chăm, sinh ra các vị vua đầu tiên của nước Chămpa... Tất cả các tinh tú, mặt trời, mặt trăng trên vòm trời là hình tượng cụ thể của Bà. Bà là mẹ sáng tạo ra muôn vật, sáng tạo ra văn hóa..."
    Đến thế kỷ XVII, vùng đất Chămpa, trong khu vực tỉnh Khánh Hòa hiện nay, trở thành đất của người Việt. Từ thời điểm đó đến nay, khu tháp Pô Nagar trên đỉnh Cù Lao ở vùng Khauthara xưa trở thành đền thờ của người Việt dưới tên gọi: tháp Bà hay tháp Thiên Y Thánh Mẫu. Để Việt hóa ngôi đền của người Chăm, những người chủ mới, dựa trên những huyền thoại và truyền thuyết xưa của người Chăm, đã sáng tạo ra một huyền thoại mới cho tháp Bà. Năm 1856, theo lời kể của dân địa phương (người Việt) quanh vùng tháp Bà, Phan Thanh Giản đã ghi lại truyền thuyết về ngôi tháp. Sau này, các quan địa phương đã khắc truyền thuyết đó lên bia đá, rồi dựng ở tháp Bà. Nội dung truyền thuyết tháp cổ Thiên Y như sau:
    "Tục truyền Thiên Y là một nàng tiên, nguyên sơ giáng xuống núi Đại Điền. Thuở ấy, có hai vợ chồng ông già ở trên núi, trồng dưa để sinh sống. Khi dưa chín, kẻ lạ thường đến hái. Ông già để ý rình. Một đêm, ông thấy một cô gái độ 13, 14 tuổi theo bóng cây, lần đến, lấy dưa vần chơi dưới bóng trăng. Ông đón cô gái, gạn hỏi thì ra chính cô gái này đã hái trộm dưa từ lâu. Nhưng thấy cô gái còn nhỏ, yếu ớt, ông bèn đem về nuôi. Cô gái, rõ ra là một người trời sinh, nên được vợ chồng ông rất yêu thương. Một ngày, mưa lụt bỗng tràn đến. Cô gái sực nhớ phong cảnh cũn ở Tam Thần Sơn, liền kiếm cây hoa, chất mảnh đá làm núi giả để chơi. Ông già thấy cô gái chơi như vậy nên nổi giận, rầy la. Trong lúc bị rầy la, thì cô gái thấy một cây già nam trôi theo nước lụt đến. Cô bèn biến hình, nhập vào thân cây ấy. Rồi cây ấy trôi theo nước lụt, dạt vào bờ biển phương Bắc. Người phương ấy thấy cây thơm lạ, rủ nhau khuân về nha, nhưng nặng quá không nhấc lên nổi. Một vị thái tử nghe chuyện bèn đến bờ biển xem, rồi xuống vớt cây, nâng lên tay, đem về để nơi điện các.
    Thái tử khi ấy vừa 20 tuổi, chưa vợ. Chàng thường ngày vỗ về cây già nam kia, lòng bồi hồi vơ vẩn. Có khi chàng chợt thấy dưới bóng trăng lờ mờ dường như có người thoảng đi đến, thái tử lấy làm lạ. Một đêm nọ, sau khi mọi người đều yên giấc, chàng tới chỗ từng thấy bóng người thì thấy một cô gái đẹp. Bị giữ lại gặng hỏi, cô gái đành phải nói rõ tông tích. Thái tử nửa mừng, nửa sợ, bèn tâu lên vua cha. Vua cha cho gieo quẻ và được quẻ tốt, bèn cho thái tử và cô gái kết hôn. Vợ chồng thái tử ăn ở với nhau được ít lâu thì sinh được một trai, đặt tên là Trí, và một gái, đặt tên là Quý.
    Một hôm, nhớ chốn cũ, nàng bèn dắt hai con nhập vào cây già nam, vượt biển về phương Nam, thẳng đến cửa Cù Huân, rồi tìm về chốn cũ tại triền núi Đại Điền. Khi ấy, vợ chồng người trồng dưa đã mất. Nàng bèn lập đền để phụng tự.
    Thấy dân vùng vợ chồng người trồng dưa từng sống khờ dại, thật thà, không biết việc làm ăn và phòng hoạn nạn, nàng bèn dạy bảo. Bà lại cho đục đá ở núi Cù Lao làm tượng truyền thần, rồi giữa ban ngày, bà phi thăng đi mất.
    Sau khi vợ về nam, thái tử không biết vợ đi đâu, bèn sai người đáp thuyền đi tìm. Khi đến Cù Huân, những kẻ tùy tùng theo lệnh thái tử đi tìm vợ hách dịch, hà hiếp dân sở tại và không kính trọng thần tượng. Bất thình lình, một trận cuồng phong nổi lên. Chiếc thuyền chở bọn người xấu kia bị lập úp xuống, hóa thành một cụm đá to.
    Từ đấy về sau, Bà hiển linh. Bà có khi cỡi voi trắng đi dạo trên đỉnh núi. Khi Bà xuất hiện, trong núi có ba tiếng nổ vang như súng lớn. Có khi Bà hiện thành dải lụa bay giữa không trung. Có khi Bà cỡi cá sấu trong vùng đảo Yến, núi Cù. Dân địa phương ngưỡng vọng, cho là thần, có cầu khẩn việc gì thì thường ứng nghiệm, bèn xây hai tháp trên núi Cù Lao: tháp phía tả thờ Chúa Tiên (Thần Thiên Y), tháp phía hữu thờ Thái Tử. Phía sau tháp dựng đền nhỏ thờ hai người con của Bà. Phía tả tháp lại xây một đền nhỏ nữa để thờ hai vợ chồng ông già trồng dưa."
    Mặc dù là truyền thuyết của người Việt và mang tính thần kỳ và sự tích, truyền thuyết Tháp Cổ Thiên Y vẫn còn giữ lại hạt nhân thần thoại của người Chăm:
    Nữ thần Thiên Y - anh hùng văn hóa và là nữ thần của cây trầm hương. Cái cốt lõi huyền tích đó còn là cơ sở để người Việt sáng tạo ra nhiều truyền thuyết về Thiên Y thánh mẫu cũng như những sự tích khác. Rất có thể truyền thuyết mà Phan Thanh Giản ghi lại được của người Việt là dị bản đã Việt hóa của truyền thuyết Nàng Mưjưk hiện còn được lưu truyền trong người Chăm ở Ninh Thuận - Bình Thuận. Nội dung truyền thuyết về Nàng Mưjưk như sau:
    "Ngày xưa, tại núi Lănggari thuộc xứ Nha Trang có vợ chồng nhà nọ, ăn ở phúc đức, nhưng hiềm một nỗi đến cuối đời vẫn không sinh được mụn con cho vui cửa nhà. Năm ấy, vợ chồng già trồng được một rẫy dưa cho rất nhiều trái. Đêm rằm tháng bảy, một cô gái, nhan sắc tuyệt trần, tuổi chừng 16, không biết từ đâu đến, đi vào rẫy dưa. Nàng điềm nhiên hái những trái dưa tốt rồi tung lên trời làm trò chơi. Sáng hôm sau, vộ chồng ông già vào thăm rẫy thì thấy dấu chân người và những trái dưa rơi rớt lung tung. Ông bà ngạc nhiên. Liền ba đêm đều như vậy. Đến đêm thứ tư, ông bà quyết định bắt cho được kẻ phá dưa. Vào khoảng nữa đêm, bỗng họ thấy một nàng tiên trên trời bay xuống hái dưa tung chơi. Vợ chồng ông già vừa sợ, vừa mừng. Họ nhủ thầm rằng có lẽ trời thương cảnh già hiu quạnh nên cho tiên nữ xuống đây. Thế rồi ông bà cùng chạy ra ôm cô gái và nói cho cô biết ý muốn của mình. Cô gái vui lòng ở lại và nhận ông bà làm cha mẹ nuôi. Ong bà yêu cô gái như con đẻ và đặt tên nàng là Mưjưk.
    Phía Nam nhà ông bà già có một con sông lớn chảy ra biển. Ngày ngày nàng Mưjưk thường ra sông tắm. Một hôm nàng thấy một cây trầm hương lớn độ một ôm, dài chừng ba sải đang lập lờ trôi theo dòng sông. Nàng liền bám vào cây trầm để tập bơi. Đột nhiên, một ngọn sóng lớn ập tới, kéo cây trầm cùng nàng ra biển.
    Tại một xứ nọ, dân chúng đang làm ăn yên ổn, bỗng dưng bị hạn hán liên miên. Đồng ruộng trở nên khô cằn, xóm làng tiêu điều. Nhà vua và triều đình cho lập đền cầu mưa, nhưng vẫn không có mưa. Các nhà thông thái cũng đành bó tay, không hiểu vì sao mà suốt bảy năm trời hạn hán liên miên như vậy. Bỗng có một đạo sĩ tâu với vua rằng ngoài cửa biển có một cây trầm hương từ phương xa dạt vào, muốn hết hạn thì phải vớt cây trầm hương đó lên.
    Lập tức, cả ngàn người được gọi ra cửa biển. Nhưng họ không tài nào kéo được cây trầm hương lên. Chuyện cây trầm kỳ lạ lọt đến tai thái tử. Chàng tới bờ biển và thử kéo cây trầm lên. Lạ thay, cây trầm trở nên nhẹ bỗng, và chàng vác cây trầm về cung. Từ khi cây trầm được vớt lên thì mưa thuận, gió hòa, nhân dân no đủ. Nhưng thái tử thì tại đổ bệnh, quên ăn, mất ngủ. Đêm đên, chàng ra ngồi cạnh cây trầm, và lập tức từ trong cây trầm phát ra tiếng kèn, tiếng sáo du dương.
    Một đêm trăng sáng, như thuờng lệ, chàng lại một mình ngồi bên cây trầm. Bỗng một nàng tiên xinh đẹp từ cây trầm bước ra. Chàng hỏi nàng là ai thì nàng e lệ cho biết: "Nhà em ở xa lắm, vì mải chơi nên trôi dạt tới đây. Cha mẹ vẫn gọi em là Mưjuk". Từ hôm đó, chàng không còn u sầu nữa. Một hôm, thái tử ướm lời muốn được cùng nàng kết tóc se tơ. Nàng lắc đầu "Em chẳng dám nhận lời, vì xa quê, xa cha mẹ, chàng lại là hoàng tử. Nếu chàng thật lòng yêu em thì phải được vua cha và mẫu hậu thuận tình". Hoàng tử vô cùng vui sướng, gặp ngay vui cha. Nghe hoàng tử nói, nhà vua vô cùng phẫn nộ và truyền rằng "Ta đường đường là một bậc vương giả, há lại đi cưới cho con ta một đứa con gái không cha không mẹ ư?". Lời của vua cha làm chàng rất buồn. Từ đó, chàng như người mất trí, cứ đêm đến, chàng lại lén ra cây trầm âu sầu than thở. Thấy vậy, nhà vua và hoàng hậu cho mời các danh y tới chữa bệnh cho hoàng tử. Nhưng bệnh của chàng ngày một nặng thêm. Sực nhớ tới vị đạo sĩ, người đã phát hiện ra cây trầm dạo nào, vua cho đón ông ta tới và hỏi nguyên nhân bệnh tật của hoàng tử. Vị đạo sĩ tâu “Bệnh của hoàng tử không có thuốc gì chữa khỏi. Số là hoàng tử và nàng tiên cây trầm hương có duyên nợ từ kiếp trước. Nàng tiên ấy chính là con của thượng đế, được sai xuống nước Chiêm Thành. Muốn cho hoàng tử khỏi bệnh, chỉ có cách cho hai người được kết duyên”.
    Không còn cách nào khác, vua và hoàng hậu thuận tình cho hoàng tử và nàng tiên trầm hương lấy nhau. Tiệc cước được tiến hành suốt một trăm ngày liền. Sau sáu năm chung sống, nàng Mưjưk sinh được hai người con trai khôi ngô, tuấn tú.
    Thấy chồng luôn đem quân đi cướp phá các nơi, nàng Mưjưk cố can ngăn nhưng không được. Một đêm, nàng biến mình vào cây trầm rồi bay về quê hương xứ sở. Về tới nơi, nàng dạy dân cày bừa, dệt vải, xây thành đắp lũy, rồi tự xưng là Pô Inư Nưgar.
    Được tin nàng Mưjưk đã bỏ về quê cũng và làm vua nơi ấy, hoàng tử vô cùng tức giận và quyết định cùng hai con đi gọi nàng về. Hôm đó, nhìn thấy một chiếc thuyền lạ tiến vào cửa biển Nha Trang, nàng Mưjưk biết ngay là người chồng tàn bạo của mình đã đến. Lập tức, nàng làm cho giông tố nổi lên, nhấn chìm chiếc thuyền xuống đáy biển. Hoàng tử và hai người con biến thành ba tảng đá. Ngày nay, tại cửa biển Nha Trang vẫn còn dấu vết của nhũng tảng đá đó."
    Trên cơ sở những thần thoại nguyên sơ về Nữ Thần Mẹ, người Chăm Bani (người Chăm theo đạo Hồi cũ) ở hai tỉnh Ninh Thuận và BìnhThuận lại sáng tác ra một câu chuyện mang tính pha trộn khá đặc biệt về Pô Nagar như sau:
    "Thuở khai sơ, vũ trụ có mười hai mặt trăng, mười mặt trời. Trời thì thấp, đất còn mỏng manh và chưa có người. Mãi tới giờ thứ ba, ngày thứ hai, tháng sáu, năm con Chuột theo lịch Chăm, bà Atmêhưcắt mới bắt đầu trông coi vạn vật. Vì nóng quá do nhiều mặt trời gây ra nên vạn vật không sinh nở được. Thánh Nơmaisơbaicadong bèn giương cung bắn tan tác các mặt trời. Thế là vũ trụ trở nên u ám, tối tăm.
    Đến ngày thứ hai, mồng sáu tháng năm, năm con Chuột, ông Auhahú thụ sắc của bà Atmêhưcắt, từ trong cõi hư tối ra đời. Sau mười năm tu luyện, ông đã thành công trong việc tạo thiên lập địa lại cho sáng sủa hơn. Ông hóa ra ông Mưhămmách. Ông Mưhămmách sinh ra ông Đibraiel. Ông Đibraiel lại sinh ra Ibarmamimbư trị vì đất đai của Auloahu. Lúc ấy, ông A Tầm và bà Hao Oa vì mắc tội, nên bị trời đày xuống trần gian. Hai ông bà sinh con đẻ cái, tạo ra loài người. Khi ông bà mất, thì tất cả tiêu tan hết, chỉ còn lại một cây Môsi vòi vọi, cao lớn.
    Ngày thứ ba, mồng sáu, tháng hai, năm con Trâu, Auloahú, tức ông Cú, lại từ trong cây Môsi ra đời. Ông lại lo khai quang trời đất và tái tạo muôn vật. Trước hết, ông làm ra loài cá và các loài vật sống dưới nước. Tiếp đến, ông làm ra cây cỏ và thú vật. Kế đến, ông làm ra ma quỷ và con người. Bấy giờ, vật và người sống lẫn lộn, có xác mà không hồn. Đến năm con Dê, ông Cú sai con gái đầu lòng tên là Mụ Dụ xuống trần gian thay ông cai quản vạn vật. Mụ Dụ chính là bà Nagar.
    Khi xuống trần (ngày 19 tháng 7 năm con Chuột), bà Nagar có các thần Aulóa, Giamư và Têpatathor phò tá. Lúc đầu, bà xuống hạt Hạ Ngâu, thuộc vùng Brama xứ Tuy Hòa ngày nay. Ở đó, bà dựng một xóm, đặt tên là Pallaisarioana (tức xóm Bà Lài ngày nay). Sau đó, bà lập đền đài ở xóm Palhucmarasam tại Pandaran (Phan Rang). Ít lâu sau, bà dời đến Chơcalâu (tức núi Đại An ở Diên Khánh, Khánh Hoà).
    Thấy vụ trụ xếp đặt chưa yên, bà Nagar sửa lại. Bà lấy một cái cân mà bầu trời là đĩa cây, đất là quả cân, các vì tinh tú là hoa cân giao cho các vị thánh. Sau đó, bà sắp xếp vũ trụ the hòinh thân thể của bà: đầu là phương tây, chân là phương đông, mặt trời - mặt trăng là hai mắt, sao Mai là trái tim, vòng sao Mỏ Cáy là cánh tay, vòng sao Bắc Đẩu là ống chân, sao Đế Thích là đầu gối. Khi bà hắng giọng lần đầu thì trời đất mở rộng ra một khoảnh. Bà liền hóa ra nắm gạo hồn, một thúng lúa và giao cho ông Giamư đem gieo ở chân trời. Rồi bà truyền cho ông săngcala (con ốc có hình như cái loa, để thổi báo hiệu) đem thổi. Trời đất, nhờ đó mà ngày càng sáng tỏ. Bà sai ông Aulóa làm ra thánh tự và sai hai vị thầy tu là Imun và Catíp lo việc thờ cúng. Đạo Islam từ đó ra đời. Bà lại sai ông Tepatathor lập một Pơcanơrai và tìm hai vị tu sĩ Pôthia và Paxê trông coi đạo Acaphiar (đạo Bàlamôn). Từ đó, tục hỏa táng ra đời.
    Bà Nagar hắng giọng lần thứ hai, trời đất nổi sấm sét. Lần thứ ba, đất gầm thét. Lần thứ tư, biển động, rừng rung. Tiếp đó, bà và ba vị thần thổi ra bốn luồng hơi: hơi của bà thành gió Bắc, của ông Aulóa thành gió Nam, của ông Giamư thành gió Tây, của ông Têpatathor thành gió Đông. Xong việc, ba vị thần phò tá bà được giao những việc khác. Ông Aulóa trông coi nưới Nôrơrioan ati chana - gồm các nước Chân Lạp, Chà Và, Chiêm Thành, Cao Miên và Việt Nam. Ông lập ra một thánh tự, giao cho hai vị thầy tu Imun và Catip lo việc truyền đạo Islam, lập nhiều chùa chiền để có nơi lễ bái, viết kinh sách để truyền dạy, lập ra lịch để mọi người biết tuổi tác, dạy dân cạo đầu và cử ngươi đi truyền đạo khắp nơi. Ông Giamư thì ở xứ Brama và lập đền đài ở vùng Chămrai (thượng du Phú Yên). Ông được bà Nagr giao cho cái săngcala để tạo ra vạn vật. Ông thổi săngcala lần đầu, làm cho trời đất quang đãng; thổi lần thứ hai, làm cho loài người sinh nở, cây cối đơm hoa, kết quả; thổi lần thứ ba, loài người biết cảm xúc, các vật biết kêu và chim biết bay; thổi lần thứ tư, trời sinh ra bốn phương; thổi lần thứ năm thì đủ tám hướng. Ông Giamư giao thóc cho loài người, dạy dân cách trồng lúc, lấy lá cây làm thuốc, đánh đá lấy lửa. Ông lại đặt ra tục lệ hàng năm. Ông sang Mơ Cá (thành La Méc) kết duyên với bà tiên, sinh ra các con: 50 người con gái cho xuống đồng bằng, 50 người con trai cho lên vùng thượng du. Ông Têpatathor thì ở vùng Pandurang. Ông lĩnh thánh tự của bà Nagar, giao cho hai thầy tu Pôthia và Paxe trông coi thờ phụng và truyền đạo Acaphiar. Sau đó, ông qua Trung Quốc dạy người Tàu cách kết tóc.
    Ông Aulóa truyền ngôi cho con là Nưpiloahu để sang Ả Rập tu hành. Vì Nưpiloahu có tội nên đất nước gặp nhiều tai ách, ma quỷ quấy phá, dân tình khổ cực. Bà Nagar động lòng, phải giáng trần, truất ngơi Nưpiloahu, bắt loài ma quỷ đày xuống âm ty và ban phước cho Nưpiloahu trấn áp chúng. Từ đó, âm dương cách biệt. Sau đó, bà Nagar cho Patao Patô lên làm vua. Được bà Smư, sứ giả của bà Nagar, giúp, Patao Patô cho sửa sang mọi việc và phân chia thành hai giống khác nhau. Ong Patao Patô trị vì được bảy mươi năm thì về trời. Bà Nagar bèn truyền cho ông Aulóa về làm vua. Các ông Giamư và Têpatathor cũng trở về phò tá. Ong Giamư coi về nghề nông và nghề cá. Ong Têpatathor coi về số mạng va sinh tử của loài người. Ông Aulóa chỉnh đốn lại lịch: mỗi năm chia làm 12 tháng, mỗi tháng chia làm 30 ngày, mỗi ngày chia làm năm giờ trong đó có hai giờ tốt và ba giờ xấu.
    Trong lúc mọi việc đang tiến hành thì xảy ra sự bất hòa giữa bà Nagar và ông Giamư, nên ông Giamư xây được cái gì thì bà Nagar lại thổi đi cho hỏng. Bà Nagar lại xoay chiều ánh sáng khiến trời đất mờ dần, đem vận mệnh nước Nơsơrinan Chanachá thắt làm ba nút. Ông Giamư chán nản, còn ông Aulóa, bà Smư và ông Giamư sang Mơ Cá tu hành. Ông Têpatathor sang Trung Hoa một thời gian rồi trở về Panchorang. Bà Nagar lại lên ngôi, trị nước. Bà lo xây dựng đất nước, dạy dân đóng cày cày ruộng, dùng xe trâu chuyên chở. Bà cũng đem thuần phong mỹ tục dạy bảo mọi người.
    Mặc dù Bà Nagar tận tình, nhưng vì bà lấy chồng trần nên phải chịu đọa đày, khiến dân chúng bị khổ lây. Thấy thế, ông Cú ra lệnh cho Patao Patô sai bốn vị thái tử con bà là Athun, Aly, Thun Prang và Pither xuống thay bà.
    Do làm được nhiều việc tốt cho dân, cho nước, nên bà Nagar được người Chăm đời đời sùng kính và thờ phụng. Hằng năm, vào dịp tế Katê và các dịp tế lễ khác, dân chúng đều mang nhang, đèn, hoa quả, cỗ bàn dến cúng lễ nơi đền của bà rất đông."
    Tất cả những tài liệu bia ký và điêu khắc đều cho chúng ta biết về lịch sử lâu đời cũng như tính phức hợp của đền Pô Nagar. Thế nhưng, bao giờ Pô Nagar cũng là đền thờ Nữ thần Mẹ Yan Pô Nagar của người Chăm. Người Chiêm Thành tôn hiệu Bà là Ana Diễn Bà Chúa Ngọc Thánh Phi. Triều Nguyễn ngay buổi đầu đã phong tặng Bà là Hồng Nhân Phổ Tế Linh Ứng Thượng Đẳng Thần và cắt dân làng Cù Lao ba người sung làm Từ Phu.
    Khu tháp Pô Nagar còn là nơi, sau thánh địa Mỹ Sơn, giữ lại được nhiều bia ký cổ của Chămpa nhất. Các bia ký ở PôNagar không chỉ cho chúng ta biết về lịch sử và vai trò của ngôi đền mà còn là những tài liệu vô giá và phong phú về vương quốc cổ Chămpa. Với tất cả những gì còn lại, từ kiến trúc tới điêu khắc, từ bia ký tới truyền thuyết, khu tháp cổ Pô Nagar hay tháp Bà ở Nha Trang quả là một di tích lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và danh thắng quan trọng mà người Chăm đã để lại cho đất nước ta.
    Vài Nét Về Thánh Địa Champa - Mỹ Sơn
    Là một quần thể di tích nằm trong thung lũng, rừng thông bao quanh bạt ngàn, di tích Mỹ Sơn thuộc tỉnh Quảng Nam, được một người Pháp tên là M.C Paris phát hiện năm 1898. Sau đó, các nhà khoa học của Viện Viễn đông Bác Cổ Pháp đã đến đây nghiên cứu các bia ký và công trình kiến trúc, điêu khắc.
    Từ những nghiên cứu này, người ta thấy rằng đây là khu di tích tôn giáo vĩ đại nhất của người Champa, được vua Bhadravarman (trị vì từ 349-362) cho khởi công xây dựng từ thế kỷ 4, và đến đầu thế kỷ 14 mới hòan thành (dưới triều vua Jaya Simhavarman III – Chế Mân).
    Do đặc tính lịch sử trên mà quần thể hơn 70 ngôi đền tháp tại Mỹ Sơn mang nhiều phong cách kiến trúc khác nhau, tiêu biểu cho từng triều đại. tuy nhiên, hầu hết các công trình, kiến trúc đều chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo. Các đền tháp phần lớn đều quay mặt về phương mặt trời mọc, là chỗ trú ngụ của thần linh, một vài đền tháp quay mặt về hướng tây, thể hiện tư tưởng hướng về thế giới bên kia của các vị vua sau khi chết.
    Những đền thờ ở Mỹ Sơn được xây dựng bằng vật liệu gạch nung và đá sa thạch. Bên trong đền chính thờ Linga – Yoni, biểu tượng của năng lực sáng tạo. bên cạnh tháp chính là các tháp thờ nhiều vị thần hoặc các vị vua đã mất. trải qua ngàn năm dâu bể, hiện nay cả khu di tích còn lại 32 đền tháp, trong đó chỉ có 20 công trình còn giữ được nét kiến trúc ban đầu.
    Đến Mỹ Sơn, du khách sẽ được hướng dẫn tham quan cụm di tích, chia thành các khu vực. nhu, khu A gồm một tháp chính và 4 tháp phụ nằm trên ngọn đồi phía đông; khu B có một tháp chínnh, 3 tháp phụ nằm trên ngọn đồi phía tây; khu C gồm các tháp và di tích nằm ở phía nam, chìa thành hai khu C1 và C2.

    Khu C1 phía đông được bao quanh bằng một con suối gồm có 16 kiến trúc, ngoài các tháp chính và tháp phụ còn có một số tượng điêu khắc bằng đá. Khu C2 phía tây, có 26 kiến trúc, tháp chính, tháp phụ cùng một số tượng phù điêu, các tác phẩm điêu khắc, bia ký bằng đá mang tính tôn giáo. Cuối cùng, khu D có 12 kiến trúc tháp và di tích nằm ở phía bắc.
    Bắt đầu từ trên đồi cao ở khu A, khách có thể nhìn thấy bao quát hết khu vực thánh địa Mỹ Sơn. ẩn nấp trong tán lá rừng là những ngôi tháp màu đỏ, lung linh và trầm mặc đầy vẻ bí hiểm. thời gian, chiến tranh, mưa nắng… đã để lại Mỹ Sơn những dấu vết tàn phá, mai một. những ngôi tháp không còn nóc, những pho tượng không có đầu, cây cỏ chen vai sát cánh với những tấm bia, tạo cho khách cảm giác bùi ngùi. Tuy nhiên, chính vì đặc điểm này mà Mỹ Sơn luôn thu hút sự tìm tòi khám phá của du khách.
    Khu C có lẽ là khu vực tiêu biểu nhất của Mỹ Sơn. Nơi đây các đền tháp, bia ký, tượng đài, phù điêu và các tác phẩm điêu khắc còn nhiều và rất đa dạng. đây cũng là khu vực có diện tích lớn nhất. một dòng suối uốn lượn quanh co làm cho nơi này trở thành điểm tham quan hấp dẫn nhiều du khách hơn hết.
    Bao nhiêu năm đã trôi qua, dù đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng Mỹ Sơn còn cất giữ nhiều điều bí mật với các nhà khoa học.
    Một lần đến với Mỹ Sơn, không chỉ để ngắm cảnh trí nên thơ, huyền bí mà nơi đây còn là chốn du khách có thể theo dòng lịch sử, khám phá sự sáng tạo vĩ đại trong kiến trúc, văn hóa của người xưa.

    Chợ Đầm
    Gọi tên chợ Đầm vì chỗ đất dựng chợ ngày nay trước kia vốn là một cái đầm từ cửa sông Cái ăn sâu vào đất liền, phía dưới Hà Ra. Đầm rộng khoảng hơn bảy hecta, hai bên bờ đầm là nhà ở của nhân dân, hầu hết là dân nghèo với những ngôi nhà lụp xụp, chen chúc nhau. Phía cuối đầm, giáp đầu đường Phan Bội Châu bây giờ là một ngôi chợ cũ được xây cất vào khoảng năm 1908, thường gọi là chợ Đầm hay chợ Cửa (chỉ nơi cửa sông). Dần dần với số dân gia tăng của thành phố, khuôn khổ chợ cũ không còn thích hợp, việc phát triển buôn bán và phát triển nhà ở ngày càng lộn xộn, chật hẹp kém mỹ quan và thiếu vệ sinh, thậm chí gây nhiều dịch bệnh cho thành phố. Trước tình hình đó, việc quy hoạch lại khu chợ này trở nên cấp thiết.
    Năm 1961, Ty Kiến thiết Khánh Hòa lập một dự án đại cương về quy hoạch lại khu vực chợ này, xây một ngôi chợ hình tròn thay thế cho chợ cũ. Đồ án sơ bộ này do Kiến trúc sư Lê Anh Kim phác họa.
    Năm 1964, Tổng nha Kiến thiết lập một đồ án khác do Kiến trúc sư Lê Quý Phong đề xuất, phần chính của đồ án là xây cất một ngôi chợ tròn có mái xếp và một nhánh hình cánh cung. Chính đồ án này được coi là cốt lõi cho việc xây cất ngôi chợ sau này.
    Cả hai đồ án chưa được thực hiện thì đêm 16 tháng 9 năm 1968 xảy ra vụ hỏa hoạn lớn chưa từng có: 126 ngôi nhà bị cháy rụi. Tình thế trở nên cấp bách: Một đồ án xây dựng khu vực chợ với quy mô mới, toàn diện hơn được hình thành, có sự phối hợp của nhiều ngành hữu trách: lấp toàn bộ đầm, xây cất ngôi chợ mới cùng hai thương xá và chung cư, làm lại đường sá, hệ thống cống rãnh thoát nước...
    Ngày 12 tháng 4 năm 1969 được coi là ngày khởi sự đầu tiên của kế hoạch này với việc chiếc xáng Bassa của Nha Thủy vận Sài Gòn bắt đầu thổi cát lấp đầm. Sau sáu tháng, đầm đã bị lấp hoàn toàn với khối lượng cát đã thổi là 350.000 m3. Tiếp theo là việc tạo móng, dựng nền và xây cất công trình, hàng nghìn cọc bê tông cốt sắt dài 20 mét đã được đóng xuống qua lớp sình lầy.
    Dựa theo đồ án của Kiến trúc sư Lê Quý Phong được thiết kế từ hơn bốn năm trước, các Kiến trúc sư Hồ Thăng, Võ Đình Hiệp, Kỹ sư Nguyễn Xuân Phương cải tiến và bổ sung thêm một số chi tiết. Ngôi nhà chính ở trung tâm chợ được xây cất theo hình tròn, mái xếp thành hình chữ V tượng trưng cho bông sen và những cánh sen, đường kính của ngôi nhà là 66,5 mét, có một tầng lầu hình vành khăn, lệch tâm. Diện tích cả tầng trệt và tầng lầu rộng tới 5.270 m2, có thể cùng lúc chứa được trên 3.000 khách ra vào mua bán. Hỗ trợ và phối cảnh với ngôi nhà tròn là hai tòa cao ốc bốn tầng A và B, tầng trệt là thương xá, các tầng trên là chung cư được xây cất theo đường lượn cong bao bọc vành ngoài ngôi nhà tròn, mỗi cao ốc đều có diện tích từ trên 2.500 m2 đến trên 2.800 m2, thiết kế thoáng, trang nhã. Hai cao ốc này được khởi công xây dựng đầu năm 1970 và hoàn thành vào cuối năm 1972. Ngôi nhà tròn và toàn bộ khu chợ được hoàn thành, đưa vào khai trương sử dụng năm 1974.
    Tiếc thay, thời gian sử dụng chưa được bao lâu thì những ngày cuối tháng 3 năm 1975, trước sức tiến công và nổi dậy của quân và dân ta, bọn tàn quân Ngụy rút chạy từ Tây Nguyên và các nơi khác đổ về đã ngang nhiên cướp phá chợ Đầm, phóng lửa đốt chợ. Ngôi nhà tròn như một bông sen lớn mới nở giữa lòng thành phố bị xám đen, sập đổ hư hỏng nặng, không sử dụng được nữa. Chợ Đầm vẫn tiếp tục nhóm họp nhưng mỹ quan và trật tự bị giảm sút nhiều. Một kế hoạch tu sửa lại toàn bộ ngôi nhà tròn và quy hoạch tổng thể khu chợ được xây dựng và triển khai với sự tham gia của Viện Thiết kế xây dựng và Ty Xây dựng tỉnh. Ngày 3 tháng 2 năm 1980, nhân kỷ niệm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và mừng xuân Canh Thân, lễ chính thức khai trương Cửa hàng Bách hóa tổng hợp Chợ Đầm với diện tích sử dụng là toàn bộ hai tầng của ngôi nhà tròn được sửa chữa lại khang trang và đẹp đẽ hơn xưa được tổ chức trọng thể với nhiều quan khách trong và ngoài tỉnh cùng hàng ngàn đồng bào tham dự.
    Ngày nay, ai đã có dịp đi trên máy bay từ thủ đô Hà Nội vào Nha Trang, từ trên nhìn xuống, cả thành phố như một lẵng hoa lớn đặt bên bờ biển xanh sẽ nhận ra trong lẵng hoa đó có một bông sen đang nở, đó chính là chợ

    ********

    Chợ Đầm Nha Trang
    Một khu chợ đông vui, lại có một công trình kiến trúc đẹp, khá độc đáo ở trung tâm chợ như chợ Đầm Nha Trang rất đáng được du khách bốn phương biết đến trước khi chia tay, tạm biệt thành phố biển xinh đẹp, mến khách này.
    Gọi tên chợ Đầm vì chỗ đất dựng chợ ngày nay trước kia vốn là một cái đầm từ cửa sông Cái ăn sâu vào đất liền, phía dưới Hà Ra. Đầm rộng khoảng hơn 7 ha, hai bên bờ đầm là nhà ở của nhân dân, hầu hết là dân nghèo với những ngôi nhà lụp xụp, chen chúc nhau. Phía cuối đầm, giáp đầu đường Phan Bội Châu bây giờ là một ngôi chợ cũ được xây cất vào khoảng năm 1908, thường gọi là chợ Đầm hay chợ Cửa (chỉ nơi cửa sông). Dần dần với số dân gia tăng của thành phố, khuôn khổ chợ cũ không còn thích hợp, việc phát triển buôn bán và phát triển nhà ở ngày càng lộn xộn, chật hẹp kém mỹ quan và thiếu vệ sinh, thậm chí gây nhiều dịch bệnh cho thành phố. Trước tình hình đó, việc quy hoạch lại khu chợ này trở nên cấp thiết.
    Năm 1961, Ty Kiến thiết Khánh Hòa lập một dự án đại cương về quy hoạch lại khu vực chợ này, xây một ngôi chợ hình tròn thay thế cho chợ cũ. Đồ án sơ bộ này do Kiến trúc sư Lê Anh Kim phác họa.
    Năm 1964, Tổng nha Kiến thiết lập một đồ án khác do Kiến trúc sư Lê Quý Phong đề xuất, phần chính của đồ án là xây cất một ngôi chợ tròn có mái xếp và một nhánh hình cánh cung. Chính đồ án này được coi là cốt lõi cho việc xây cất ngôi chợ sau này.
    Cả hai đồ án chưa được thực hiện thì đêm 16-9-1968 xảy ra vụ hỏa hoạn lớn chưa từng có: 126 ngôi nhà bị cháy rụi. Tình thế trở nên cấp bách: Một đồ án xây dựng khu vực chợ với quy mô mới, toàn diện hơn được hình thành, có sự phối hợp của nhiều ngành hữu trách: lấp toàn bộ đầm, xây cất ngôi chợ mới cùng hai thương xá và chung cư, làm lại đường sá, hệ thống cống rãnh thoát nước.
    Ngày 12-4-1969 được coi là ngày khởi sự đầu tiên của kế hoạch này với việc chiếc xáng Bassa của Nha Thủy vận Sài Gòn bắt đầu thổi cát lấp đầm. Sau 6 tháng, đầm đã bị lấp hoàn toàn với khối lượng cát đã thổi là 350.000m3. Tiếp theo là việc tạo móng, dựng nền và xây cất công trình, hàng nghìn cọc bê tông cốt sắt dài 20m đã được đóng xuống qua lớp sình lầy.
    Dựa theo đồ án của kiến trúc sư Lê Quý Phong được thiết kế từ hơn 4 năm trước, các Kiến trúc sư Hồ Thăng, Võ Đình Hiệp, Kỹ sư Nguyễn Xuân Phương cải tiến và bổ sung thêm một số chi tiết. Ngôi nhà chính ở trung tâm chợ được xây cất theo hình tròn, mái xếp thành hình chữ V tượng trưng cho bông sen và những cánh sen, đường kính của ngôi nhà 66,5m, có một tầng lầu hình vành khăn, lệch tâm. Diện tích cả tầng trệt và tầng lầu rộng tới 5.270m2, có thể cùng lúc chứa được trên 3.000 khách ra vào mua bán. Hỗ trợ và phối cảnh với ngôi nhà tròn là hai tòa cao ốc 4 tầng A và B, tầng trệt là thương xá, các tầng trên là chung cư được xây cất theo đường lượn cong bao bọc vành ngoài ngôi nhà tròn, mỗi cao ốc đều có diện tích trên 2.500 tới trên 2.800m2, thiết kế thoáng, trang nhã. Hai cao ốc này được khởi công xây dựng đầu năm 1970 và hoàn thành vào cuối năm 1972. Ngôi nhà tròn và toàn bộ khu chợ được hoàn thành, đưa vào khai trương sử dụng năm 1974.

    Tiếc thay, thời gian sử dụng chưa được bao lâu thì những ngày cuối tháng 3-1975, trước sức tiến công và nổi dậy của quân và dân ta, bọn tàn quân ngụy rút chạy từ Tây Nguyên và các nơi khác đổ về đã ngang nhiên cướp phá chợ Đầm, phóng lửa đốt chợ. Ngôi nhà tròn như một bông sen lớn mới nở giữa lòng thành phố bị xám đen, sập đổ hư hỏng nặng, không sử dụng được nữa. Chợ Đầm vẫn tiếp tục nhóm họp nhưng mỹ quan và trật tự bị giảm sút nhiều. Một kế hoạch tu sửa lại toàn bộ ngôi nhà tròn và quy hoạch tổng thể khu chợ được xây dựng và triển khai với sự tham gia của Viện Thiết kế xây dựng và Ty Xây dựng tỉnh. Ngày 3-2-1980, nhân kỷ niệm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và mừng xuân Canh Thân, lễ chính thức khai trương Cửa hàng Bách hóa tổng hợp Chợ Đầm với diện tích sử dụng là toàn bộ hai tầng của ngôi nhà tròn được sửa chữa lại khang trang và đẹp đẽ hơn xưa được tổ chức trọng thể với nhiều quan khách trong và ngoài tỉnh cùng hàng ngàn đồng bào tham dự.
    Ngày nay, ai đã có dịp đi trên máy bay từ thủ đô Hà Nội vào Nha Trang, từ trên nhìn xuống, cả thành phố như một lẵng hoa lớn đặt bên bờ biển xanh sẽ nhận ra trong lẵng hoa đó có một bông sen đang nở, đó chính là chợ Đầm Tròn và vị trí bông sen là điểm gần giữa đầm mấy chục năm về trước. Năm 1985, trong một cuộc triển lãm ảnh nghệ thuật với đề tài Nha Trang - Huế - Cần Thơ, di tích và thắng cảnh do Hội Văn nghệ của 3 địa phương phối hợp tổ chức, một trong những bộ ảnh được đông đảo người xem, đặc biệt là những người dân Nha Trang rất chú ý và được tặng thưởng của Ban tổ chức là bộ ảnh 3 chiếc chụp cùng ở một vị trí, góc độ nhưng ở ba thời điểm cách xa nhau: 1960, 1980 và 1985 của một nhóm tác giả chụp về quang cảnh chợ Đầm xưa và nay.
    Thành cổ Diên Khánh
    Từ thành phố Nha Trang, đường 23 tháng 10 chạy ngược về hướng Tây chừng 10 km, gặp đường Quốc lộ 1A tại ngã ba Thành, rẽ về hướng Tây Bắc 500 mét, ta đến địa phận khóm Đông Môn, thị trấn Diên Khánh (trước gọi là thôn Khánh Thành, xã Diên Toàn và xưa kia là thôn Phú Mỹ và Trường Thạnh, Phủ Diên Ninh). Vùng đất xanh um cây trái này đã chứng kiến biết bao sự kiện lịch sử, lưu lại trong lòng người nhiều giai thoại khó quên. Nổi bật nhất là Thành cổ Diên Khánh.
    Theo các thư tịch cổ, năm 1653 chúa Nguyễn Phúc Tần sai Cai cơ Hùng Lục Hầu cầm quân, mang quân đi đánh Chiêm Thành, chiếm được đất Kau thara, lập nên dinh Thái Khang (gồm hai phủ Thái Khang và Diên Ninh). Nhận thấy đất này liền núi, cạnh sông gần biển, chuá Nguyễn cho thiết lập đồn luỹ để tăng cường phòng thủ. Năm 1690, dinh Thái Khang đổi tên là dinh Bình Khang.
    Năm 1742 lại được đổi thành phủ Diên Ninh - thành Diên Khánh
    Năm 1773, nghĩa quân Tây Sơn khởi binh đánh bại quân chúa Nguyễn, mở rộng căn cứ ở Bình Định, rồi tiến vào phía Nam, chiếm thành Diên Khánh dùng làm lỵ sở của dinh Bình Khang.
    Năm 1774, Nguyễn Ánh sai Tống Phúc Hiệp và Nguyễn Khoa Thuyên từ Gia Định theo hai đường thủy bộ tiến ra đánh Bình Khang, nghĩa quân Tây Sơn rút về giữ phần đất Phú Yên và Bình Định.
    Sau những tranh chấp liên tục giữa nghĩa quân Tây Sơn và quân của chúa Trịnh, chúa Nguyễn, tháng 5 năm 1775 quân Trịnh tiến quân vào Quảng Nam trực tiếp uy hiếp nghĩa quân Tây Sơn ở phía Bắc. Thấy vậy, Nguyễn Ánh sai Tống Phúc Hiệp tiến ra đanh chiếm Phú Yên, kéo hơn sáu vạn quân ra Vũng Lấm - Xuân Đài, áp sát Quy Nhơn.
    Nghĩa quân Tây Sơn bị ép vào giữa hai gọng kìm và đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt. Khai thác mâu thuẫn giữa quân Trịnh - Nguyễn, với mưu lược và thiên tài quân sự của mình, Nguyễn Huệ đã đánh tan lực lượng quân Nguyễn do Tống Phúc Hiệp chỉ huy và liên tiếp tiêu diệt hai đạo quân Nguyễn Ánh tung ra phản công. Chiến thắng vang dội của Nguyễn Huệ không chỉ chiếm lại Phú Yên, Bình Khang, Diên Khánh và mở rộng vùng kiểm soát vào tận Bình Thuận mà còn tạo uy thế cho nghĩa quân, góp phần đẩy lùi quân Chúa Trịnh về Bắc. Phần đất Diên Khánh lại trở về với nghĩa quân Tây Sơn. Tháng 5 năm 1781, Nguyễn Ánh lại cho ba đạo quân tiến ra hướng Bình Khang. Nghĩa quân Tây Sơn đã tung đội tượng binh hùng mạnh vào chiến đấu, quân Nguyễn tháo chạy tán loạn. Âm mưu chiếm lại Diên Khánh của Nguyễn Ánh bị đập tan.
    Năm 1792, Nguyễn Huệ mất, nhà Tây Sơn suy yếu dần.
    Năm 1792, nhà Tây Sơn phái tướng Trần Quang Diệu đem quân vào tiến công thành Diên Khánh. Quân phòng thành của chúa Nguyễn do Hoàng tử Cảnh chỉ huy bị vây hãm vô cùng khốn đốn. Thấy nguy cơ bị tiêu diệt, Hoàng tử Cảnh phải cầu viện Nguyễn Ánh cho quân từ Gia Định ra giải vây. Quân Tây Sơn do Trần Quang Diệu chỉ huy lại đem đại quân vào quyết hạ thành Diên Khánh. Lúc này Võ Tánh chỉ huy quân Nguyễn đã cho thủy quân ra chặn đánh ngay trên bến Trường Cá. Nhưng lực lượng thủy binh hùng mạnh và thiện chiến của Tây Sơn đã đánh bại quân Nguyễn. Trần Quang Diệu thúc quân vây hãm thành Diên Khánh, hai bên giằng co quyết liệt nên một lần nữa Nguyễn Ánh phải điều quân ra giải vây.
    Thời gian này nội bộ nhà Tây Sơn có nhiều rối ren. Thái sư Bùi Đắc Trung (cha đẻ của nữ tướng Bùi Thị Xuân và là cha vợ tướng Trần Quang Diệu) bị Vũ Văn Dũng giết. Trần Quang Diệu cho rút quân về Phú Xuân. Thành Diên Khánh vẫn nằm trong tay quân Nguyễn và trở thành lỵ sở của phong kiến nhà Nguyễn tại dinh Bình Khang. Sau đó dinh Bình Khang đổi ra Bình Hòa rồi Khánh Hòa.
    Vào năm Qúy Sửu (1793),sau khi đánh thắng nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã cho xây dựng Diên Khánh thành một căn cứ vững chắc một công trình mang tính phòng thủ từ xa vừa là trụ sở mang tính chính trị. Thành Diên Khánh chính thức xuất hiện từ đó
    Thành Diên Khánh là một quần thể kiến trúc mang phong cách “vau ban” , kiểu thành trì quân sự phổ biến ở châu Âu từ thế kỷ VII đến thế kỷ VIII.Thành nằm trên một vùng núi cao thuoc điạ phận khóm Đông Môn - thị trấn Diên Khánh chung quanh đắp đất với tổng diện tích khoảng 36.000 m2. Tường thành hình lục giác dài 2.693 mét, sáu cạnh không đều nhau.
    Trên mỗi cạnh, tường thành lại chia ra nhiều đoạn nhỏ, uốn lượn nên các góc thành không nhô hẳn ra mà vẫn bảo đảm quan sát được hai bên. Tường thành đắp đất cao chừng 3,5 mét, mặt ngoài tường thành hơi dựng đứng. Mặt trong có độ thoải và được đắp thành hai bậc, tạo một đường vận chuyển thuận lợi ven thành.
    Tại các góc:
    - Về phía trong là một bãi đất khá rộng dùng làm nơi trú quân.
    - Trên mặt thành là pháo đài góc, đắp bằng đất, cao khoảng 2 mét (công sự đặt đại bác).
    - Bên ngoài góc được đắp hơi nhô ra có thể quan sát cả hai bên.
    Trên tường thành được trồng tre gai ken dày và các loại cây có gai khác vừa giữ độ bền cho tường thành vừa tăng chướng ngại cho đối phương như một hàng rào phòng ngự.
    Bên ngoài thành là hào nước sâu khoảng từ 3 mét đến 4 mét, có đoạn sâu tới 5 mét. Bề rộng mặt hào cũng không đều nhau, tại các góc thành thường hẹp hơn (chừng 15 mét) và rộng nhất là trước các cổng thành, chừng 40 mét, lòng hào thường xuyên đầy nước từ sông Cái dẫn vào. Bên ngoài hào nước đắp một đường đi - gọi là đường ngoài hào để tuần tra, vận chuyển, nhân dân gọi là đường quan phòng.
    Đặc biệt, mặt Bắc thành giáp sông Cái thường bị xói mòn vào mùa mưa lụt do nước thượng nguồn tràn về, dâng cao, chảy xiết nên những người xây thành đã trồng nhiều cây gỗ sao - một loại cây có khả năng giữ đất chống xói mòn, sụt lở. Sao trồng thành hàng dày, nên nhân dân thường gọi là Hàng Sao. Sau đó, sao phát triển thành bãi chi chít và tới nay bị hủy hoại nhiều chẳng còn mấy nhưng tên Hàng Sao vẫn giữ nguyên.
    Tên Hàng Sao không phai mờ trong lòng dân, khắc sâu vào tình cảm của mỗi người, lưu truyền qua bao thế hệ vì nơi đây bọn quan quân phong kiến và bọn ngoại bang cướp nước đã giết hại những người dân yêu nước, những chiến sĩ trong phong trào Cần Vương và đồng bào, đồng chí hoạt động cách mạng từ khi Đảng ta ra đời đến ngày toàn thắng 1975.
    Khi xây dựng xong (1793) thành Diên Khánh có sáu cửa, sáu cạnh tường thành. Hiện nay chỉ còn lại bốn cửa: Đông, Tây, Tiền (Nam), Hậu (Bắc). Năm 1823, cửa Tả và cửa Hữu đã bị lấp, tới nay không còn dấu vết gì, tuy vậy ta có thể dự đoán hai cổng cũng nằm trên hai cạnh tường thành Tây Nam và Đông Nam.
    Cổng thành là một công trình kiến trúc khối vuông vững chãi, xây bằng gạch nung cỡ 4,5 cm x 1,38 cm gồm hai tầng: tầng dưới gắn liền với tường thành, mặt ngoài rộng 16,8 mét, cao 4,5 mét, xây thẳng đứng, mặt trong xây tường gạch cao khoảng 2 mét, cách mặt ngoài 2,5mét để lèn đất vào giữa. Cổng vào ra rộng 3,2 mét, xây gạch kiểu vòm cuốn hình quả chuông, đỉnh cao nhất khoảng 3,5 mét, cánh cổng bằng gỗ lim dày. Mặt tường trong xây cấp bậc bằng gạch, rộng hơn 2 mét làm lối đi lên tầng trên. Tầng trên cao ngang mặt thành, hình tứ giác mỗi chiều 1,5 mét, cao gần 2 mét, xây cổ lầu mái uốn cong, lợp ngói âm dương. Hai bên xây ban công cao gần 1 mét. Đây có thể là nơi canh gác, quan sát trong, ngoài thành. Toàn bộ cổng thành không trang trí, tên cổng ghi bằng chữ Hán. Nhìn tổng thể, cổng thành mang dáng vẽ kiến trúc Á Đông thời ấy. Hiện nay, chỉ hai cổng Đông và Tây còn trọn vẹn.
    Theo các tư liệu lưu trữ và dấu tích còn sót lại, bên trong vòng thành có nhiều công trình kiến trúc độc đáo: qua khỏi cửa Tiền (cửa chính ở hướng Nam) dành riêng cho nhà vua, hoàng tộc và các đại thần là một cột cờ lớn. Sau cột cờ là hoàng cung - công trình có quy mô lớn nhất so với các công trình khác. Hoàng cung xây theo kiểu Điện Thái Hòa ở Huế, gồm ba gian rộng chừng 40 mét, xung quanh có hành lang rộng rãi, thoáng mát. Cột kèo được chạm trổ tinh tế, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Phần trên có cổ lầu, các mái và guột mái uốn cong thanh thoát. Trên nóc gắn hai con rồng chầu một quả cầu lớn.
    Trước hoàng cung là một sân gạch lớn - gọi là sân chầu - nơi các quan văn võ trong tỉnh đứng chầu khi có lễ lớn. Vị trí đứng được ghi vào cái bảng gỗ, đặt thành hai hàng hai bên, theo thứ tự từ cửu phẩm lên nhất phẩm. Giữa hoàng cung đặt một bệ gỗ lớn 3 tầng, mỗi tầng cao hơn 0,2 mét. Trên cùng đặt một ngai vàng.
    Bên trái hoàng cung là dinh Tuần vũ, sau đó là dinh Án sát, và sau nữa là dinh Lãnh binh, phía dưới là dinh quan Tham tri.
    Ngoài các dinh thự của các quan cai trị, trong thành còn có một dãy nhà kho đồ sộ chiếm hàng ngàn mét vuông và một nhà lao xây tường đá cao kiên cố. Tất cả các mái nhà đều lợp ngói âm dương.
    Từ khi xây xong cho đến cuối thơì pháp thuộc thành Diên Khánh là nơi đóng các cơ quan đầu não cuả cơ quan triều Nguyễn và là trung tâm kinh tế - văn hóa - chính trị cuả điạ phương. Trong phong trào Cần Vương (1885 - 1886) thành là tổng hành dinh của nghĩa quân vùng Khánh Hoà, Pháp đã nhiều lần nã pháo vào thành. Khi chiếm được thực dân Pháp cho san bằng hai mặt Bắc – Nam.
    Thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) thành Diên Khánh lại trở thành trụ sở bộ tư lệnh, quân dân Nha Trang - Diên Khánh đã phối hợp với nhau đã đánh thắng nhiều trận giòn giã trong cuộc chiến đấu 101 ngày đêm lịch sử từ cầu mới Nha Trang đến thành Diên Khánh. Từ năm 1975 đến nay thành Diên Khánh trở thành trụ sở cuả lãnh đạo huyện Diên Khánh.

    Văn miếu Diên Khánh
    Nói đến thành Diên Khánh không thể không nhắc tới Văn Miếu Diên Khánh đựơc dựng lên để thờ đức ca Khổng Tử .Văn miếu được xây dựng và trùng tu năm 1846 trên một cao ráo nhất trong vùng , có diện tích gần 1.500 m2. Văn Miếu có tấm bia đá khắc tên những người đỗ đạt cao trong các khoa thi.Những ông cử , ông tú thời đó như Nguyễn Khanh - Lê Thiện Kế - Lê Nghị - Lê Viết Tạo...ngoài việc lấy đạo làm người quân tử, nhiều ngươì đã đem lòng yêu nước, ủng hộ phong trào Cần Vương yêu nước đầu thế kỉ XX
    Với lịch sử hơn 200 năm thành Diên Khánh chứng kiến biết bao thăng trầm của xã hội thời kì phong kiến cũng như cuộc đấu tranh cuả nhân dân Khánh Hoa trong hai cuộc kháng chiến trường. Thành cổ Diên Khánh và Văn Miếu Diên Khánh đã trở thành một di tích lịch sử cấp quoc gia, một điểm du lịch càng thu hút nhiều khách tham quan.
    Văn Miếu Diên Khánh xây dựng trên một khu đất cao với diện tích gần 1.500 m2 thuộc địa phận thôn Phú Lộc, thị trấn Diên Khánh. Đây là một quần thể kiến trúc được xây để thờ đức Khổng Tử, người khai sáng đạo Nho ở Trung Quốc và vẫn đươc người đời tụng xưng là “Vạn thế sư biểu” (Người thầy của muôn đời).
    Theo bài chính văn được khắc bằng chữ Hán trong bia đá để tại bi đình hiện vẫn còn, cho biết về quá trình tạo lập Văn Miếu như sau: “Đền thờ được dựng lên để thờ tiên sư vậy. Châu tư từ trước đến nay chưa có. Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) tỉnh đường quan bố chính Ngô Văn Địch đại nhân, quan tri phủ Đặng Trọng Giám khởi xướng trước tiên, dựng đền thờ vọng khiến nơi nơi đều sùng thượng, thật vì nhân tâm mà phong tục vậy. Đến khi xây dựng lần thứ nhất chưa được tráng quan. Năm Tự Đức thứ 13 (1853), Thái thú châu ta hiện thăng Án sát, cẩn trai Đỗ Thúc Tỉnh đáo nhậm đất ta, cần cán, công liêm. Quan dân đều tín nhiệm, ái mộ, kiêm việc duyệt văn, lại hay về phong thủy, hội ý với quan giáo thọ hiện lãnh tri phủ Ninh Hòa Trương Đức Lân, triệu tập văn thân châu ta dời đỉnh thờ về dựng phía Đông phủ lỵ. Cẩn trai công lại làm tờ thông khuyên người trong hạt đóng góp tài lực, ra sức dựng xây. Trước mua đất tư tại nơi đây, nhóm họp thợ thuyền xây đắp nền mới, mái lợp ngói. Năm thứ 7 (1854) mùa Đông, đền thờ hoàn thành, có nơi tế tự, có nơi chiêm ngưỡng, văn vật nơi đây, pháp độ nơi đây. Nay sừng sững thành một nơi quan chiêm to lớn, đẹp đẽ, để lại về lâu dài, thật châu ta sĩ phu nhiều hân hạnh lắm. Từ nay về sau, phong khí văn học phát triển thông suốt khoa hoạn tốt đẹp. Đem thi hành công nghiệp không phải vì nơi này sao, bởi vậy phải khắc vào đá.”
    Văn Miếu Diên Khánh được xây trong khuôn viên khá vuông vức, phía trước có nhà bi đình, chính giữa có tòa tiền đường và chánh đường cao rộng, làm bằng gỗ xây tường gạch bao, các cột kèo được chạm trổ sơn son, thếp vàng đẹp đẽ và uy nghiêm. Ngăn cách giữa bi đình và tòa chánh đường là một sân gạch khá rộng, hai bên có hai dãy nhà tả vu và hữu vu. Bên dãy tả vu còn có nhà quan cư được bày trí đẹp, thường dùng làm chỗ tạm trú cho quan khách sử dụng trong những dịp tế lễ.
    Phía Tây Văn Miếu có một ngôi miếu nhỏ gọi là Khải Miếu thờ Khải Thánh Công Lương Ngột và bà Nhan Thị Trưng Tại là đức thân phụ và thân mẫu của đức Khổng Tử. Thường khi vào cuộc tế lễ, người ta thường tế đầu tiên ở ngôi Khải Miếu để tôn vinh người đã sinh ra Đức Ngài.
    Trước năm 1945, lệ cúng hàng năm ở Văn Miếu thường được tổ chức vào ngày “Đán” và ngày “Húy”, tức ngày sinh và ngày mất của Khổng Tử do Nhà nước đứng ra tổ chức, ngân sách do tỉnh đài thọ. Buổi tế được tổ chức rất trang trọng, đúng với những nghi lễ của triều đình đã quy định. Chính vì vậy, trong lễ cúng thường có mặt đông đảo quan lại, thân hào nhân sĩ trí thức trong phủ tham gia. Ngày nay, việc tế tự vẫn được duy trì vào những ngày trên và do Ban tế lễ Văn Miếu chuẩn bị chu đáo, phù hợp với hoàn cảnh hiện tại.
    Hiện trong Văn Miếu vẫn còn một tấm bia khắc tên những người trong phủ đã từng học hành và đỗ đạt cao trong các khoa thi thời phong kiến. Đặc biệt, trong đó có các ông Nguyễn Khanh, Lê Thiện Kế, Lê Nghị, Lê Viết Tạo, Nguyễn Lương sau này đều trở thành những danh tướng trong phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Khánh Hòa do Trịnh Phong lãnh đạo (1885 - 1886). Ngay sau khi nhân dân tỉnh nhà giành được chính quyền trong Cách mạng tháng tám 1945, Văn Miếu Diên Khánh là nơi luyện tập quân sự của thanh niên trong thôn và là địa điểm tập kết lương thực, thực phẩm để cung cấp cho chiến sĩ ta chiến đấu ở mặt trận Nha Trang. Trong kháng chiến chống Mỹ, đây là địa điểm liên lạc, nơi dừng chân của các chiến sĩ cách mạng trong những lần xuống đồng bằng. Với những giá trị tiêu biểu về nhiều mặt, ngày 15 tháng 10 năm 1998, di tích lịch sử văn hóa Văn Miếu Diên Khánh đã được Nhà nước ra quyết định công nhận là di tích quốc gia. Đặc biệt nhất là cổng thành hầu như còn nguyên vẹn. So với những thành quách xây dựng cùng thời, trừ thành Huế, thành Diên Khánh vẫn giữ được hình dáng từ gần 200 năm nay.
    Bác sỹ Alexandre Yersin (1863 - 1943)
    Ngày 22 tháng 9 năm 1863 Alexandre Yersin đã ra đời taị một vùng quê miền nuí ở Navanux - thuộc tổng Vaud - Thụy Sỹ.
    Năm 1865, vua Louis XIV huỷ bỏ chỉ dụ Nantes không còn đối xử bình đẳng với những người theo giáo phái Calvin như trước. Tổ tiên Yersin bị khủng bố phải rời bỏ vùng quê cha đất tổ vùng Languedoc (miền Nam nước pháp) di cư sang Thụy Sỹ.
    Cha cuả Yersin là một giáo viên sinh học. Mẹ quê ở Paris. Yersin là em trai trong gia đình có hai chị em.
    Với tính khiêm tốn trầm lặng thích sống ẩn dật, ông ít nói về đời mình nên hiện nay người ta ít biết về những ngày thơ ấy của ông .
    Năm 20 tuổi (1883) Yersin học ngành y tại Lausanne (Thụy Sỹ). Sau đó tiếp tục học tại Marbuorg (Đức) và tốt nghiệp Đại học Paris (Pháp).
    Từ năm 1886 ông làm việc tại viện Pasteur Paris và cộng tác với bác sĩ Roux tìm độc tố vi khuẩn bạch cầu.
    Năm 1890, ông được chuyển lại quốc tịch Pháp.
    Trong những năm miệt mài nghiên cứu tại viện Pasteur Paris ông đã chứng tỏ là một thiên tài hiếm có nmột con người giàu nghị lực ham tìm tòi học hỏi .Tương lai sáng mở ra trước mắt ông. Nhưng Yersin lại hướng về chân trời mới muốn tìm ra lối thoát khỏi cuộc sống hiện tại “tôi luôn luôn mơ ước khám phá đất lạ, thám hiểm khi còn trẻ ta luôn tưởng tượntg những đều kì lạ sẽ đến, không có gì là không có thể làm được”.
    Bác sĩ Vallerey - Radot cháu nội của nhà bác học Pasteur, đã nhận xét về Yessin: “Từ nhà ông nội tôi, tôi thấy ông ấy nhìn bản đồ hàng giờ”.
    Thế rồi Yersin bất ngờ rơì bỏ ngành vi trùng học - sống đơì thủy thủ và nhà thám hiểm - mở đầu một cuộc đời khác kéo dài 50 năm .
    Trước hết Yersin nhận lời làm bác sỹ cho một con tàu của công ty vận tải đường biển đến Viễn Đông. Sau sáu tháng hoạt động trên tuyến đường Sài Gòn - Manila (Philippin), Yersin chuyển sang làm việc trên tàu Sài Gòn chạy từ Sài Gòn đến Hải Phòng và ngược lại.
    Những tháng đầu tiên trong nghề hàng hải đối với Yersin thật quyến rũ! Yersin chưa từng tiếp xúc với biển cả nhưng trong thời thanh niên, Yersin đã quen với hồ Léman. Khi thuyền lênh đênh trên đại dương, Yersin nhìn lên bầu trời và học cách xác định toạ độ. Khi tàu cập bến, Yersin tập sự cùng kính thiên văn. Trong những năm sau, Yersin say mê thiên văn học và về sau tìm hiểu cả điện khí quyển, quang phổ mặt trời.
    Tàu chạy trên tuyến đường Hải Phòng - Sài Gòn, khi tiến lại gần bờ biển, lúc vượt sóng ra ngoài khơi. Dãy Trường Sơn hùng vĩ ở phía Tây hiện ra trước mắt Yersin gợi lên kỷ niệm tuổi học trò. Ngày ấy, Yersin đã cùng các bạn leo lên sườn núi Valais. Dãy Trường Sơn tuy không có những đường nét và màu sắc giống như dãy Alpes nhưng có những hấp dẫn kỳ lạ. Yersin muốn tìm lại những cảm giác thành thực và thân thiết khi khám phá được những điều bí ẩn, đặt chân lên miền đất lạ.
    Tháng 7 năm 1891, Yersin cập bến Nha Trang. Ông lên bờ, đi dọc miền duyên hải đến Phan Rí và theo các con đường mòn vượt qua một ngọn đèo cao 1.200 mét gần Di Linh. Từ Di Linh ông định băng rừng đến Sài Gòn tìm ra con đường bộ nối liền Nha Trang với Sài Gòn, nhưng không kịp chuyến tàu đi Hải Phòng nên ông đành bỏ cuộc hành trình, xuống Phan Thiết dùng thuyền buồm ra Nha Trang.
    Chuyến thám hiểm đầu tiên ngắn ngủi này đã giúp nhà thám hiểm 30 tuổi làm quen với những khó khăn trên miền núi vùng nhiệt đới - với gió núi - mưa rừng - chịu đựng những con vắt hút máu người - vượt qua những con suối nước chảy như thác đổ...lần tiếp xúc đầu tiên với núi rừng Tây Nguyên cũng đã kích thích Yersin ham muốn thực hiện những chuyến thám hiểm khác.
    Ngày 29 tháng 3 năm 1892, từ Nha Trang ra Ninh Hòa, tiến thẳng vế hướng Tây đến Stung-treng trên bờ sông MêKông.
    Nhờ sự giúp sức của Pasteur và bộ trưởng giáo dục Pháp; năm 1893, Yersin thực hiện nhiệm vụ thám hiểm vùng núi nằm giữ bờ biển miền Trung và sông Mêkông, vùng thượng nguồn sông Đồng Nai và Sêbangcan mà trước nay ít người biết đến. Rời Sài Gòn ông đã vượt qua thác Trị An đến Tánh Linh, vượt qua sông La Ngà đến Di Linh. Men theo một con đường mòn gần giống như con đường quốc lộ 20 hiện nay. Ngày 21 tháng 6 năm 1893, ông đến thác Prenn và sau đó đặt chân lên Lang Biang.
    "Trên đường đi, cao nguyên nhấp nhô cao từ 900 mét đến 1.200 mét khoảng từ 15 km đến 20 km trước khi đến chân núi. Tôi đứng trên một vùng hoàn toàn tơ trụi và cây cỏ. Đất đồi mấp mô khiến tôi cảm giác như đang đi rên một đại dương xao động vì những ngọn sóng khổng lồ. Núi Lang Biang đứng sừng sững ở giữa như moat hòn đảo và hình như ngày càng xa dần khi tôi đến gần. Dưới chỗ trũng, đất màu đen và đầy than bù. Những đàn nai lớn để yên cho chúng tôi đến gần vài trăm mét. Đàn nai vụt chạy ra xa rồi ngoái cổ lại tò mò nhìn chúng tôi."
    Cuối năm 1893, Yersin lại lên cao nguyên Lang Biang, thám hiểm cao nguyên Đắc Lắk - A Tô Pơ (Lào) và ngày 7 tháng 5 năm 1894 về Đà Nẵng.
    Năm 1890, bác sĩ Albelt Calmette thiết lập chi nhánh viện Pasteur ở Sài Gòn.
    Năm 1894, bệnh dịch hạch lan tràn trên khắp miền Đông Trung Quốc. Bác sỹ Calmette đề nghị Yersin đi Trung Quốc nghiên cứu tại chỗ bệnh dịch hạch.
    Ngày 15 tháng 6 năm 1894, Yersin đến Hồng Kông và gặp một đối thủ - bác sỹ Kitasatô đã đến Hồng Kông trước Yersin ba ngày. Bác sỹ người Nhật này nổi tiếng về công trình khoa học tìm ra vi trùng uốn ván.
    Yersin dựng một túp lều tranh bên cạnh bệnh viện và làm việc trong điều kiện thiếu thốn. Chỉ sau năm ngày làm việc, ngày 20 tháng 6 năm 1894, ông đã tìm ra vi trùng bệnh dịch hạch. Qua hệ thống bưu điện của Anh, ông đã gữi những ống nghiệm trực trùng sang Pháp. Trực trùng bệnh dịch hạch đến Pasteur Paris nguyên vẹn và được xác minh, mang tên Yersin (Yersins Pestis).
    Năm 1895, Yersin thành lập viện Pasteur ở Nha Trang và điều chế huyết thanh chữa bệnh dịch hạch.
    Moat năm sau, bệnh dịch tái phát ở trung quốc, Yersin lại sang trung quốc và cứu được nhiều người thoát khỏi căn bệnh hiểm nghèo đã giết 50 triệu người ở thượng cổ.
    Yersin trở về Nha Trang, một cuộc đời bắt đầu, nhiều vấn đề đặt ra. Nhận thấy thành phố Nha Trang xây dựng trên một vùng cát trắng không tiện mở rộng những cánh đồng cỏ để nuôi ngựa dùng cho việc điều chế huyết thanh, ông khai phá vùng suối Dầu - cách Nha Trang 10 km về hướng Nam, thành lập một trại chăn nuôi và trồng trọt.
    Theo gương các bậc tiền bối, ông lao vào nghiên cứu huyết thanh trị bệnh dịch hạch cho trâu bò. Từ đó, viện Pasteur nha trang nghien cứu vi trùng động vật và cá bệnh nhiễm trùng gia súc.
    Trong một chuyến dừng chân tại Malaixia Và Inđônêxia, Yersin rất chú ý đến trồng cao su. Năm 1897, ông bắt đầu trồng cao su ở suối Dầu và tám năm sau (1905), hãng Michelia (Pháp) nhận được 1.316 kg mủ cao su đầu tiên. Quan tâm đến phương pháp trồng, khai thác và chế biến cao su, ông đã thiết lập một phòng thí nghiệm nông hóa. Tại đây, những biện pháp chọn giống, cạo mủ và làm đông mũ cao su được nghiên cứu có hệ thống đã giúp rất nhiều cho những người trồng cao su ở Đông Dương.
    Thời gian trôi qua, tại trại chăn nuôi và trồng trọt tại suối Dầu ngày càng mở rộng, Yersin nhận chức viện trưởng hai viện Pasteur ở Sài Gòn và Nha Trang.
    Từ năm 1902 đến năm 1903, ông ra Hà Nội để thành lập trường đại học Yersin Đông Dương và làm hiệu trưởng đầu tiên.
    Năm 1924, ông giữ chức vụ Tổng Thanh Tra Các Viện Pasteur ở Đông Dương
    Năm 1933, ông làm viện trưởng danh dự viện Pasteur ở Paris.
    Trong thời gian sống ở xóm Cồn (nha trang), ông là một người hàng xóm đôn hậu, thường giúp những cụ già và những ngươì chài lưới, thươnng yêu trẻ con. Ông sống rất giản dị, giàu long nhân ái.
    Sau chuyến công du ở Ấn Độ, toàn quyền pháp Paul Doumer muốn xây dựng một nơi nghĩ dưỡng cho pháp kiều như những nơi nghĩ dưỡng ở Ấn Độ. Yersin đề nghị nên chọn Đankia - cách Đà Lạt hơn 10 km về phía Tây Bắc.
    Năm 1899, ông đã tháp tùng Paul Doumer lên Đà Lạt. Sau khi quan sát tại chỗ, Paul Doumer không chọn Đankia làm nơi nghĩ dưỡng nhưng chọn vị trí Đà Lạt hiện nay theo đề nghị của bác sĩ Emile Tardif vì:
    - Đà Lạt ở độ cao hơn Đankia.
    - Độ dốc của Đà Lạt thoai thoải - không khí của Đà Lạt hợp vệ sinh hơn ở Đankia - có những ngọn đồi nhỏ cách nhau bằng những thung lũng lầy lội.
    Khôn khí ở Đà Lạt mát lạnh và ít ẩm hơn ở Đankia vì Đankia nằm gần đỉnh Lang Biang - sườn núi hứng gió ẩm - nhận lượng mưa nhiều hơn - sương mú nhiều hơn (đến 10h sáng sương mới tan).
    - Về thực vật: phía Đankia chỉ toàn đồi nhỏ, trong khi Đà Lạt gần rừng thông, không khí vừa mát mẻ vừa thơm ngát hương thông.
    - Về giao thông vận tải: Đà Lạt thuận tiện hơn Đankia.
    Năm 1914, chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Lúc bấy giờ, Hà Lan chiếm độc quyền sản xuất Quinine - phương thuốc duy nhất chữa bệnh sốt rét. Yersin gieo thử hạt Canh Ki Na ở suối Dầu và Đankia. Ông gặp thất bại hoàn toàn ở suối Dầu, nhưng Đankia càng tốn thêm nhiều công sức.
    Năm 1917, Yersin trồng cây Canh Ki Na ở Hòn Bà - một ngọn núi gần suối Dầu. Lúc đầu cây tăng trưởng tốt nhưng về sau chết vì đất đai không thích hợp.
    Tháng 7 năm 1923 những cây Canh Ki Na tốt nhất ở Hòn Bà được đem lên trồng ờ Đran và thu được kết quả tốt. Ông tiếp tục trồng trên cao nguyên Lang Biang nhỏ và Di Linh.
    Năm 1936, cây Canh Ki Na được trồng quy mô lớn ở Lán Tranh và Di Linh - thu hoạch được 30 tấn vỏ với tỷ lệ Quinine Sunfat 7,42%.
    Năm 1938, thu được 21 tấn vỏ với tỷ lệ Quinine Sunfat cao hơn (8,5%).
    Ngày 28 tháng 6 năm 1935, trường trung học Yersin được khánh thành ở Đà Lạt. Yersin trở về Đà Lạt lần cuối cùng trước khi mất. Nhân dịp này, đáp lại lời phát biểu của moat học sinh, ông đã trình bày cảm tưởng khi đặt chân lên cao nguyên Lang Biang: “Không khí mát mẻ đã làm tôi quên đi mệt nhọc và tôi nhớ lại niềm vui được chạy hết tốc lực lên xuống những ngọn đồi như một học sinh trung học trẻ tuổi.”
    Trong những năm cuối đời, Yersin vẫn say mê nghiên cứu khoa học - ngành Thiên văn - Vô tuyến điện. Vài tuần trước khi mất, tuy bệnh ngày cành tăng, ông vẫn theo dõi mực thủy triều.
    Ngày 1 tháng 3 năm 1943, Yersin thanh thản qua đời, hưởng thọ 80 tuổi để lại niềm thương tiếc sâu sắc. Hàng ngàn người dân nha trang đã đưa linh cửu ông đến nơi an nghĩ cuối cùng ở suối Dầu.
    Đến Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIX và nửa đầu XX, Yersin đã làm việc trong bộ máy cai trị của thực dân pháp. Tuy nhiên, những công trình khoa học đa dạng - cuộc sống giản dị - lòng nhân ái và tình yêu Việt Nam của ông vẫn sống mãi trong tâm tư, tình cảm của người Đà Lạt - Nha Trang và trên hành tinh của chúng ta. Thủ đô Hà Nội - thành phố Hồ Chí Minh – thành phố Nha Trang đã đặt tên Yersin cho một con đường trong thành phố. Ở Đà Lạt, con đường dẫn đến trường trung học Yersin cũ hiện nay (trường Cao đẳng Sư phạm) được mang tên nhà bác học Pháp - người đã mang nặng nghĩa tình Việt Nam và để lại những kỷ niệm khó quên ở Đà Lạt: Alexandre Yersin!
    Ba khu tưởng niệm bác sĩ Alexandre Yersin:
    - Thư viện của Bác sĩ Yersin tại viện Pasteur Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
    - Chùa Linh Sơn, xã Suối Cát, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa (phòng làm việc của bác sĩ ở Suối Dầu trước đây).
    - Phần mộ của Bác sĩ Yersin, xã Suối Cát, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
    Năm 1891, ông đến Nha Trang xây dựng cơ sở nghiên cứu, thí nghiệm vi trùng học đầu tiên ở Việt Nam. Đầu năm 1899, nơi đây đã trở thành Viện Pasteur Nha Trang.
    Sau hơn 50 năm sống và làm việc vì khoa học ở Viện Pasteur Nha Trang (1891 - 1943) Yersin đã cống hiến cho khoa học 55 công trình nghiên cứu có giá trị.
    Các chức vụ ông đã đảm nhận:
    - Viện trưởng Viện Pasteur Nha Trang.
    - Viện trưởng Viện Pasteur Đông Dương.
    - Hiệu trưởng Trường Đại Học Y Khoa Hà Nội.
    - Tổng thanh tra các Viện Pasteur Đông Dương.
    - Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Pháp.
    - Chủ tịch danh dự Hội đồng Y khoa Viện Pasteur Paris.

    Hòn Tằm
    Vị trí: Phía Nam vịnh Nha Trang cách bờ 7km.
    Vùng đảo biển Nha Trang thật hấp dẫn với một loạt các hòn đảo như hòn Tằm, hòn Mun, hòn Dung, hòn Tre, hòn Miếu, hòn Thị, hòn Hèo, hòn Chồng và các đảo khác… Nằm trong vùng vịnh thuộc dự án khu bảo tồn biển Hòn Mun, hòn Tằm có lợi thế là khá gần với trung tâm thành phố Nha Trang. Từ bến tàu dưới chân biệt điện Bảo Đại, để đến đảo chỉ cần khoảng chưa đầy 15 phút bằng thuyền máy, và khoảng 5 phút bằng canô cao tốc. Có thể đi Hòn Tằm và trở về bất cứ lúc nào, kể cả trong đêm.
    Hòn Tằm có diện tích hơn 130ha. Tại đây không có dân cư sinh sống. Trong bất cứ mùa nào, hòn Tằm vẫn lặng gió, mặt nước biển êm như mặt hồ. Nơi đây còn nguyên vẹn vẻ hoang sơ của thiên nhiên với thảm rừng nhiệt đới tươi xanh rợp mát bốn mùa. Bờ cát dài uốn lượn như nàng tiên cá đang phô diễn nét mịn màng của tạo hóa bên ngàn trùng sóng vỗ êm dịu suốt ngày đêm. Phía dưới, những ghềnh đá nhấp nhô là làn nước xanh như pha lê với hàng trăm loài cá tụ tập thành đàn tung tăng trẩy hội len lỏi trong những rặng san hô trăm hồng nghìn tía đua nhau khoe sắc. Tất cả đều huyền ảo và vô cùng thơ mộng.
    Nhìn từ xa, Hòn Tằm tựa như một con tằm với “sân chơi” là cả một vùng biển được bao quanh bởi hòn Tre, hòn Một, hòn Miễu (có hồ cá Trí Nguyên) nên thuận gió và tương đối ít sóng, là nơi lý tưởng cho các loại hình vui chơi trên biển: dù bay, lướt ván, thuyền buồm, môtô nước, chèo thuyền, câu cá, phao chuối…
    Hiện nay, trên đảo có cơ sở dịch vụ du lịch được xây dựng tập trung thành hai khu: Khu A – được xây dựng trước – với nhiều dịch vụ, kể cả phòng nghỉ, giá cả có phần “mềm” hơn; Khu B – mới đưa vào kinh doanh từ năm 2001 – với một nhà hàng và các nhà nghỉ độc lập nằm dưới chân đảo, gần bãi tắm với cảnh quan đẹp, yên tĩnh, thích hợp cho các nhu cầu nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng.
    Đến đây, du khách được lắng mình trong một không gian yên tĩnh, chỉ có tiếng sóng biển ngày đêm rì rào ôm quanh bờ đảo, tiếng gió lướt trên các rặng cây và ghềnh đá cùng muôn vàn chim biển chao chát, chấp chới trong những buổi bình minh hay hoàng hôn. Thảm rừng nhiệt đới trên đảo xanh tươi bốn mùa không những phong phú về giống loài thực vật mà còn là nơi ẩn mình của khá nhiều loài chim muông. Dưới chân đảo là các bãi tắm đẹp có độ dốc thoai thoải, chạy dài 400 m và uốn lượn phô mình trong làn nước trong, xanh biếc một mầu.
    Hòn Tằm còn kỳ thú, lôi cuốn du khách bởi hệ động, thực vật biển phong phú. Tại mũi đảo, nơi những ghềnh đá nhấp nhô là rặng san hô. Hàng trăm loài cá đã quy tụ về đây thành từng đàn, tung tăng, len lỏi trong rặng san hô và thảm thực vật đại dương, tạo nên một cảnh sắc thật thơ mộng.
    Trong khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, các công trình kiến trúc du lịch được thiết kế hài hòa, phù hợp cảnh quan, chính là những điểm nhấn đặc sắc, làm tăng thêm vẻ đẹp của hòn đảo. Khuất dưới rặng cây xanh và những vườn hoa, hàng dừa là hệ thống nhà nghỉ cao cấp, hướng mặt ra biển đón gió trời và ánh sáng, đồng thời tạo tầm nhìn bao quát, giúp du khách chiêm ngưỡng phong cảnh bao la, bát ngát của biển, trời. Cạnh đó, dọc theo bờ biển là những chòi cá ẩn hiện, thấp thoáng cùng các nhà nghỉ được thiết kế bằng tre, nứa, lá cho du khách dừng chân và nếu thích thì có thể nghỉ lại qua đêm.
    Ngoài việc tham quan, tắm biển, nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe, đến khu du lịch Hòn Tằm, du khách còn có dịp được tham gia những hoạt động thể thao bóng đá, bóng chuyền trên cát hoặc các loại hình giải trí như leo núi, thám hiểm rừng cây, đi xe đạp vòng quanh đảo, chèo xuồng, bơi thuyền buồm, câu cá và theo ngư dân tham gia những tour săn bắt dưới nước. Khu du lịch mới khai trương các môn thể thao cảm giác mạnh thể hiện lòng can đảm: lướt ván, bay dù, mô-tô nước và lặn biển khám phá thế giới đại dương. Khi hoàng hôn buông xuống, du khách có thể hòa mình trong thiên nhiên với tour "Đêm trên đỉnh Hòn Tằm". Sau một buổi leo núi, khách thật sự sảng khoái bên đống lửa trại bập bùng, được ca hát, vui chơi giữa lồng lộng gió trời và tiếng sóng biển, cùng nhau thưởng thức những món ăn đậm hương vị mặn mòi của biển và vui bên ché rượu cần, trong tiếng nhạc, lời ca, điệu múa cổ truyền dân tộc.
    Trong mười năm trở lại đây, với vị trí thuận lợi, nằm giữa tuyến du lịch đảo của Khánh Hòa, lại được công ty cung ứng tàu biển thương mại và du lịch Nha Trang đầu tư xây dựng và tạo dựng các sản phẩm hấp dẫn, khu du lịch Hòn Tằm đã trở thành điểm dừng chân của hầu hết các tour thăm vịnh Nha Trang. Năm 2004, gần 300 nghìn lượt khách đã đến vui chơi tại đây, doanh thu đạt gần 12 tỷ đồng. Từ đầu năm đến nay, khu du lịch đón hơn 100 nghìn lượt du khách và số lượng khách quay trở lại chiếm tỷ lệ rất cao. Đây là kết quả của quá trình khai thác hiệu quả những tiềm năng thế mạnh biển đảo và tạo dựng nhiều sản phẩm vui chơi, giải trí cùng các loại hình dịch vụ chất lượng cao.
    Theo các nhà quản lý, sắp tới khu du lịch sẽ hoàn thiện một con đường vòng quanh núi để tạo một tour đạp xe địa hình bên cạnh tour leo núi đã có, đồng thời mở rộng mô hình chăn nuôi một số loài chim, thú để du khách săn bắn. Không ngừng sáng tạo và đổi mới, đó là phương châm để khu du lịch là điểm đến được du khách ưa thích nhất của Nha Trang - Khánh Hòa.
    Đến với khu du lịch Hòn Tằm chúng tôi một trong những điểm đến được hài lòng nhất năm 2004; do người tiêu dùng bình chọn. Bạn sẽ được phục vụ tận tình chu đáo.
    Chúng tôi có 3 nhà hàng đủ sức chứa 1.000 khách cùng một lúc với những món ăn từ dân dã đến hải đặc sản cao cấp. Bạn có thể lựa chọn cho mình 1 thực đơn hợp với khẩu vị với mức giá từ 25.000đ đến 200.000đ/khách. Nếu Bạn muốn tham gia trò chơi cảm giác mạnh - Chỉ với từ 120.000đ đến 200.000đ/người bạn sẽ được như ý cùng lặn thám hiểm biển, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Hòn Tằm từ trên cao trên những chiếc dù bay hoặc có thể đua tốc độ cùng với những con sóng trên chiếc Jestki. Bạn có thể chơi bóng chuyền bãi biển, đua xuồng Kayak, leo núi hoặc nằm dài trên những chiếc ghế ngắm mây trời và sóng biển.
    Liên hệ:
    Khu Du lịch Hòn Tằm
    Địa chỉ : 72 Trần Phú - Nha Trang
    Điện thoại : (84-58) 829100/ 821418; Fax: 829100/ 821418
    E-mail: hontamresort@dng.vnn.vn
    Website : http://www.hontamresort.com.vn

    Con Sẻ Tre
    Nằm trải dài ở phía Nam đảo Hòn Tre (Nha Trang), khu du lịch "Con Sẻ Tre" đang là nơi thu hút rất đông du khách đến tham quan nghỉ ngơi.

    Dưới bàn tay tài hoa của kiến trúc sư, những vật liệu thô sơ giản dị như tranh, tre nứa, lá đã trở thành những đường nét chấm phá độc đáo cho khu du lịch "Con Sẻ Tre". Từ quầy tiếp tân được thiết kế bằng nguyên liệu chính là tre đan xếp vào nhau, khu nhà trọ mái lợp lá cọ thoáng mát tới đường đi tất cả đều ẩn chứa nét thôn quê. Ngay lúc tàu du lịch cập bờ, chiêng trống đã dồn vang chào đón, các nhân viên trong trang phục mớ ba mớ bẩy, khăn xếp áo the niềm nở đón khách. Qua quầy lễ tân, men theo những con đường rải đá cuội, bạn sẽ được chiêm ngưỡng một bãi tắm khá đặc biệt với những lều tắm thiết kế theo hình ảnh 12 con giáp. Trên mỗi vách lều là những bức tranh Đông Hồ màu sắc tươi tắn: Hứng dừa, Đánh Ghen, Đám cưới chuột...sinh động trên nền giấy điệp. Bên cạnh đó, Ban quản lý khu du lịch còn tổ chức các trò chơi dân gian như: ô ăn quan, chọi gà, cờ tướng nhằm giới thiệu cho du khách nét sinh hoạt văn hóa của người Việt. Sau khi tắm biển, nghỉ ngơi thư giãn, du khách còn có cơ hội thưởng thức các món ăn dân dã như canh cua rau đay, cá kho tương, thịt kho tộ...điều đặc biệt là các món ăn này được trưng bày trong những chiếc bát, đĩa gốm Bát Tràng khiến bữa cơm của du khách thêm hấp dẫn.
    Thăm khu du lịch "Con Sẻ Tre", bạn sẽ được tận hưởng khung cảnh thôn quê thanh bình như lạc vào một ngôi làng cổ kính nhưng lại mang hơi hướm hiện đại của gió, nắng, biển xanh mát.
    Quả thật những thú vị liên tiếp diễn ra và không thể có những sự buồn chán tại thành phố biển này, bữa ăn tạo nên không khí ấm cúng với những tách trà nóng khiến cho chúng tôi quên đi cơn mưa vùa rồi, bữa ăn kết thúc cũng là lúc bọn tôi ùa ra tham quan chụp hình với những bụi tre trải dài dẹp như một giấc mơ. Sau đó chúng tôi rời đảo lên tàu trở lại bờ tham quan Viện Hải Dương Học với cái tên quen thuộc của người sáng lập bác sĩ Alexandre Yersin.
    Đồng Đế: Một trung tâm huấn luyện miền Trung của quân đội miền Nam được thành lập vào năm 1956, chuyên đào tạo các hạ sĩ quan bộ binh. Sau năm 1975, Đồng Đế trở thành doanh trại Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Đồng Đế nằm sau núi Cô Tiên.
    Đảo Khỉ: Trên đảo, trước kia người ta nuôi khỉ để thí nghiệm, điều chế vacxin hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô. Sau khi Liên Xô tan vỡ đàn khỉ bị bỏ hoang, không ai trông nom. Ngày nay, khỉ nuôi không còn dùng cho mục đích này nữa mà dành cho mục đích du lịch. Giờ khỉ sống trên đảo như một môi trường tự nhiên. Nếu có dịp tham quan trên Đảo khỉ hay Hòn Lao du khách sẽ thích thú với những màn xiếc thú vui nhộn, bãi biển sạch, không khí trong lành.
    Đèo Ro Tượng
    Qua cầu Suối Tre là tới đèo Ro Tượng. Đèo dài hơn 1km trước đây vua Quang Trung chọn nơi này làm nơi huấn luyện tượng binh trên đường tiến quân vào nam chinh phạt quân Nguyễn Ánh và bè lũ nên mới có tên là như vậy .
    Ngay đèo Cổ Mã quẹo phải đi vào 18 cây số chúng ta sẽ vào trong rừng Văn Phong, nơi đây có bãi tắm Xuân Đình vịnh Văn Phong , KDL Đầm Môn rất nổi tiếng.
    Ngã ba Ninh Hòa
    Đây là khu vực vựa lúc chính của tỉnh Khánh Hòa, nhưng cũng chính là nơi dễ bị ngập lụt nhất, đoạn đường này thường hay bị tắt nghẽn vào mùa mưa lũ. Đặc sản nổi tiếng là nem Ninh Hòa với chất xúc tác lên men là lá cây chùm ruột. Nếu rẽ trái là QL29 đi Buôn Ma Thuột dài 146km.

    Trường Sa
    Quần đảo Trường Sa nằm ở phía Đông Nam nước ta, ở giữa biển Đông trong khỏang từ kinh độ 111030’ đến 117020’ Đông và vĩ độ 605’ đến 120 Bắc. Toàn bộ quần đảo gồm trên dưới 100 hòn đảo và cồn, bãi trải rộng trên một vùng biển ước chừng 16 đến 18 vạn km2, trong đó có 23 hòn đảo và cồn, bãi thường xuyên nhô lên khỏi mặt nước.
    Từ Nha Trang ra thăm quần đảo Trường Sa thì hòn đảo đầu tiên nên đến là Song Tử Tây.
    Song Tử Tây cách bờ biển Khánh Hòa khoảng 450 km, được hải quân nhân dân Việt Nam giải phóng vào 4 giờ sáng ngày 14/4/1975. Đảo này dài khoảng 700m, rộng khoảng 300m.
    Bề mặt đảo được phủ một lớp sâm nam xanh mượt. Sâm nam thì gần như đảo nào cũng có đó là một loại cây bò trên mặt đất, ngọn cất cao, hoa lấm tấm màu vàng, nhỏ hơn hoa cải hạt như hạt vừng, khi già tách ra bay theo gió, nhân giống ra kín đáo.
    Củ sâm nam to, dài, phía cuối tẻ ra như đôi chân cắm vào lòng đất, thái móng, phơi khô, pha như nước chè. Tại trung tâm đảo có tấm bia chủ quyền mang cờ đỏ sao vàng cao hơn 2m.
    Hòn đảo thứ hai nên đến thăm là đảo Nam Yết, dài gần 800m, rộng 200m. Trên đảo có nhiều cây cối quanh năm không có bóng dáng mùa đông, chỉ có mùa thu mát rượi ban đêm và mùa hè nóng bức ban ngày.
    Đi giữa vùng cây trên đảo đâu đâu cũng gặp những cây cối quen thuộc. Đặc biệt có loài cây bàng biểu, tán xòe nhiều tầng như cái lọng, cành mọc ngang thường cao tới năm, bảy mét.
    Từ đảo Nam Yết đi về phía Đông Bắc chừng 18 hải lý là đảo Sơn Ca. Đây là một đảo nhỏ, nhiều cát, nổi lên giữa bãi san hô lớn, nên còn có tên là đảo Cát trên đảo có nhiều cây cối xanh tốt nhưng tán thấp. Bờ đảo phía trên là những dải cát trắng, phía dưới là bãi san hô ăn lan từ bờ ra ngoài biển tới ba bốn trăm mét. Khi có sóng thì bãi san hô bao quanh đảo đều nổi bọt sóng trắng xóa như bông. Cũng như nhiều đảo khác ở Trường Sa, đảo Sơn Ca thường có nhiều con vích, một loại rùa biển, lên đẻ trứng; thịt vích ngon như thịt bò.
    Nói đến chim thì trên đảo nào cũng có, nhưng không đâu nhiều bằng đảo Trường Sa. Đảo Trường Sa là một hòn đảo bằng phẳng dài gần 600m, rộng trên 200m và là hòn đảo nằm ở gần phía cực Tây của quần đảo Trường Sa. Trên đảo không có cây to, ven bờ đảo là bãi cát trắng, chung quanh đảo có những vành san hô, có nơi rộng tới gần ngàn mét.
    Trên đảo Trường Sa, đúng là thế giới của các loài chim. Buổi sáng, bước ra khỏi nhà, nhìn lên trời, thấy chim bay rào rào như một đám mây, nhìn dưới đất chim non la liệt. Cả đảo như một chuồng chim khổng lồ. Phân chim tích tụ hàng bao nhiêu đời, dầy cộm, nước mưa cuốn theo chất phốt phát hòa với san hô phong hóa, tạo thành những mỏ phốt phát vôi thiên nhiên lộ thiên. Theo các nhà địa chất thì khoan xuống độ sâu 3m. Tỉ lệ phốt phát cũng vẫn khá cao.
    Các thư tịch cổ ghi Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam. Thời thuộc Pháp, năm 1933 quần đảo này thuộc tỉnh Bà Rịa. Năm 1956, chính quyền Sài Gòn đưa về tỉnh Phước Tuy. Sau ngày giải phóng miền Nam, năm 1982 quần đảo Trường Sa được tổ chức thành huyện Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai. Đến nay, huyện Trường Sa được đưa về tỉnh Khánh Hòa.

    Đèo Rù Rì
    Ở về phía bắc của thành phố Nha Trang chỉ dài hơn 1km nhưng lại có nhiều đoạn quẹo chữ Z rất nguy hiểm. Rù Rì là do tên Rủy của viên kỹ sư Pháp làm đèo này xưa kia hình thành, cũng nằm trên QL1A.
    Bãi biển Đại Lãnh
    Nói đến bờ biển Khánh Hòa, không thể không nói đến bờ biển Đại Lãnh. Đại Lãnh nằm giữa hai đèo, đèo Cổ Mã phía Nam và đèo Cả phía Bắc, bãi tắm Đại Lãnh được cấu tạo thuần khiết với một thứ cát trắng mịn, đầm nét chặt chẽ, không hề gợn một cảnh san hô hay đá sỏi vụn, lại có độ thoai thoải lớn. Bãi tắm Đại Lãnh còn có một ưu điểm là ngay giữa khu vực bãi tắm lại có một nguồn nước ngọt chảy ra từ chân núi hoà vào biển cả, nước quanh năm mát lạnh, tinh khiết.
    Đại Lãnh từ xưa đã được vào hàng danh lam thắng cảnh của cả nước. Năm 1836, vua Minh Mạng đã cho chạm trổ cảng Đại Lãnh vào một Cửu Đinh đồng trang trí trước sân Thế Miếu của đất đế đô. Năm 1853, dưới thời vua Tự Đức, Đại Lãnh lại được giới thiệu trong “Tự điển quốc gia” do triều đình biên soạn.

    Đến Đại Lãnh, du khách có thể dọc theo dãy phố chính hoặc đi sâu vào làng chài, để tìm hiểu lối sống và cung cách sinh hoạt của người dân Đại Lãnh, hoặc mua hải sản khô làm quà. Ngoài ra du khách còn được thưởng thức các món hải sản tươi rói vừa được đánh bắt từ biển với cách chế biến phong phú và đâm đà hương vị địa phương.
    Huyện Vạn Ninh
    Huyện Vạn Ninh là một huyện địa đầu cực bắc của tỉnh Khánh Hòa, nằm phía ngang đèo Cả. Với diện tích tự nhiên là 550k2 trong đó ¾ diện tích là rừng, Vạn Ninh có 12 xã và 1 thị trấn với dân số là 125.118 người, mật độ dân số 229 người/ km2. Dân cư sống chủ yếu bằng nông nghiệp và lâm nghiệp. Thị trấn huyện lỵ là Vạn Giã cách Nha Trang 60km, có đường sắt xuyên việt chạy ngang huyện với các ga Đại Lãnh, Tu Bông … Vạn Ninh có nhiều danh lam thắng cảnh kỳ thú, nổi tiếng nhất là bãi biển Đại Lãnh. Tại nơi đây vua Minh Mạng đã chọn là nơi được khắc vào một trong chín đỉnh đồng đặt tại Thế Miếu. Phía nam Đại Lãnh có một vùng non nước kỳ thú được hiệp hội du lịch thế giới ( WTO ) và hiệp hội phát triển Liên hiệp quốc ( UNDP ) đánh giá là khu du lịch nhiệt đới phối hợp với bãi tắm Vân Phong là một trong những thắng cảnh quyến rũ nhất khu vực Châu Á và viễn đông. Vị trí nơi có phần đất vươn ra biển đông xa nhất nước. Có đặc tính của vùng vịnh kín, độ sâu trung bình khoảng 20 – 27 m, gần đường hàng hải quốc tế đã tạo ra một khả năng lớn để khai thác cảng biển, cảng chuyển tải quốc tế, dịch vụ thương mại. Vịnh Vân Phong còn là cảng biển lý tưởng của các cảng biển trên bán đảo Đông Dương và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, ngoài ra ở Vạn Ninh còn có cảng Đầm Môn là cảng sâu nhất miền Trung ( tàu 30.000 tấn ) có thể ra vào.
    Khoáng sản có cao lanh Xuân Tự, cát trắng Đầm Môn, sa khoáng imenit Vĩnh Yên, granit Tân Dân, vàng Xuân Sơn … trong đó cát trắng Đầm Môn và granit Tân Dân có trữ lượng khá lớn.

    Đèo Cả
    Đèo Cả là tên một dãy núi cao thuộc hệ thống núi đông Trường Sơn, có sườn phía đông dốc đứng và tiếp xúc thẳng với biển Đông. Trên đỉnh đèo Cả – nơi có QL1 chạy qua là ranh giới phân chia giữa hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa ( cách thành phố Nha Trang 90 km và thị xã Tuy Hòa 30 km). Đây là một địa danh rất nối tiếng được khách phương xa biết đến bởi dưới chân có Vũng Rô sâu thẳm và bãi biển Đại Lãnh được xếp vào loại đẹp nhất nước ta.
    Dãy đèo Cả có cấu trúc địa chất khá điển hình, đó là một phức hệ đá xâm nhập bao gồm hầu như một loại đá Granit ( đá hoa cương) kết tinh hạt rất thô, độ bền cực cao, mức độ nứt nẻ thấp và thường có những monolith (khối), kích thước lớn – một nguyên liệu thiên nhiên lý tưởng cho nghệ thuật tạo hình và cho công nghệ đá trắng lát. Phức hệ đá Granit đèo Cả được các nhà địa chất học điển hình hóa và lấy tên gọi chung cho tất cả các thành tạo xâm nhập được hình thành vào cuối thời cainozo, có cùng cấu tạo và thành phần ở suốt một dãy của Nam Trung Bộ – phức hệ đèo Cả.
    Đường thiên lý bắc nam uốn lượn khuất khúc, quanh co trên 10km lưng chừng đèo Cả. Đèo Cả thuộc địa phận tỉnh Phú Yên thì rất dốc. Sau những cánh đồng lúa bát ngát của Tuy Hòa là đột ngột núi cao xuất hiện với nhiều hẻm vực. QL1 lúc ẩn, lúc hiện trên lưng chừng đèo, cố gắng nâng dần bình độ đạt đến đỉnh cao, khiến cho du khách nhiều phen hồi hộp đến toát mồ hôi khi nhìn thấy những hẻm sâu thăm thẳm dưới chân đèo. Ở địa phận của tỉnh Khánh Hòa, dộ dốc của đèo tương đối thấp hơn, dưới chân là biển Đông, Vũng Rô xanh ngát một màu. Cuối đèo Cả là cánh cung Đại Lãnh, một làng chài, một bãi biển nức tiếng gần xa.
    Trên đèo Cả có đỉnh núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn) cao 706m, đứng sừng sững, uy nghi, sáng sớm và chiều chiều mây phủ tứ bề, khi ẩn khi hiện. Trong “Lịch triều hiến chương loạn chí” có ghi: “ Thạch Bi Sơn ở bờ biển là chỗ phân chia địa giới giữa các triều trước với nước Chiêm Thành”. Vua Lê Thánh Tông từng sai đục đá làm bia để giới hạn và lưu lại những tích. Tuy nhiên cho tới nay những nhà khảo cổ học đã dày công tìm kiếm xung quanh và trên tảng Đá Bia khổng lồ này, song vẫn chưa tìm thấy bút tích nói trên.
    Núi Đá Bia nhô hẳn mình ra biển Đông kéo dài tạo nên một bán đảo che chắn sóng gió cho Vũng Rô. Bởi vậy cảng Vũng Rô tuy có sâu, nơi sâu nhất có thể đạt mức nước là 16m mà quanh năm vẫn sóng yên biển lặng. Trước năm 1975 nơi đây từng là cảng quân sự của Mỹ – Ngụy, đảm bảo tiếp tế hậu cần cho những căn cứ quân sự kéo dài tới 20 km suốt từ Đà Nông đến Đông Tác. Và cũng thật thú vị khi du khách biết rằng chính nơi đây Vũng Rô cũng là nơi tiếp nhận vũ khí, đạn dược và các phương tiện chiến đấu từ miền Bắc vào chi viện cho chiến trường quân khu V, được chuyên chở bằng những con tàu không số của Hải quân Việt Nam, làm điên đảo những bộ óc chuyên tính toán bằng máy móc của Lầu Năm Góc – Hoa Kỳ. Biết bao tấn vũ khí đạn dược, muối, gạo, thuốc men đã được bốc lên từ Vũng Rô và vận chuyển trên những đọan đường này để tới tay các chiến sỹ giải phóng, các chiến sỹ cách mạng mật trong các căn cứ và đô thị. Ở Vũng Rô hiện nay vẫn còn xác một con tàu không số từ miền bắc vào bị lộ. Các chiến sỹ của ta tranh thủ bốc hết hàng, đặt bộc phá đánh đắm tàu, đặt thuốc nổ đánh sập cửa hang, không cho địch cướp toàn bộ vũ khí trong hang, sau khi đã chuyển được một phần lên căn cứ.
    Dừng chân trên đèo Cả, phóng tầm mắt ra xa, du khách sẽ có dịp ngắm toàn cảnh Vũng Rô hùng vĩ, núi Đá Bia uy nghi, những hòn đảo xa, gần quy tụ lại tạo nên một bức tranh sơn thủy tuyệt vời. Du khách còn biết lưu luyến và thương mến nơi đây hơn khi biết rằng Vũng Rô và Thạch Bi Sơn đã bao phen chững kiến những thăng trầm của lịch sử đất nước, tạo nên những điển tích vẫn còn lưu luyến đến ngàn đời sau.
    Truyền thuyết về tượng Hòn Vọng Phu trên đỉnh đèo Cả
    Ngày xưa có hai anh em sống cùng chung với nhau rất hòa thuận, người anh luôn dành hết những sự ưu ái của mình cho người em gái. Một ngày kia đang lúc vui đùa với nhau người anh vô tình làm người em gái bị ngã để lại một vết thương dài ở đầu. Nhưng rồi chinh chiến xảy ra, hai anh em thất lạc không biết được tông tích của người em gái. Thời gian dần trôi, người anh trở thành một người thương buôn giàu có; người em trở thành một thiếu nữ xinh đẹp đảm đang hiền thục, giỏi thêu thùa dệt vải. Ông trời thật trớ trêu, ông tơ bà nguyệt lại se duyên cho hai anh em này lại lấy nhau. Họ sống rất hạnh phúc trong sự đầm ấm thương yêu của nhau và có một bé trai rất kháu khỉnh. Một ngày nọ, người chồng mới lấy lược chải tóc cho vợ phát hiện một vết sẹo to trên đầu vợ mình, bèn sinh nghi, hỏi vợ về nguồn gốc vết sẹo. Nàng thật thà kể lại đầu đuôi câu chuyện! Trời như sập đổ đầu người anh! Người vợ bao nhiêu năm nay anh chung sống lại là người em thân yêu thất lạc lâu nay.
    Người anh bối rối không biết tính sao? Anh quyết định ra đi, ra đi vĩnh viễn không về đây là giải pháp tốt nhất để sự thật mãi im lặng. Người vợ thấy chồng đi đã lâu mà không về, ngày ngày bồng con lên núi mong ngóng chồng về, chờ mãi chờ mãi nàng đã hóa đá với nỗi niềm mong một ngày đoàn tụ.
    Tại Lạng Sơn cũng có Hòn Vọng Phu – nàng Tô Thị nhưng lại là chờ chồng đi chinh chiến mà vẫn không về nên hóa đá, mặt hướng về phía Bắc.

    Vũng Rô
    Trong chiến tranh Việt Nam đường mòn Hồ Chí Minh đã chi viện cho Việt Nam trên dãy Trường sơn , tuy nhiên để góp công vào sự chiến thắng cuả quân ta chống Mỹ cứu nước, một con đường khác góp phần không nhỏ và đã tạo nên thắng lợi đó là con đường Hồ Chí Minh trên biển.
    Bên tay phải là cảng Vũng Rô, là một cảng biển rộng, nơi sâu nhất có thể lên đến 15-16 m. Vũng Rô được chắn bởi núi Đá Bia hùng vĩ. Trước năm 1975, đây là cảng quân sự chiến lược đảm bảo cho việc tiếp tế hậu cần cho các căn cứ quân sự Mỹ và quân đội Sài Gòn. Đây đã từng là nơi để cho những con tàu thông số đi trên đường mòn Hồ Chí Minh trên biển cập vào đây chi viện hàng hoá, súng ống, đạn dược…phục vụ cho miền Trung cũng như miền Nam để giải phóng đất nước.
    Cảng Vũng Rô hiện nay rất kín gió do có hệ thống núi bao quanh , cho nên đó là một cảng rất tốt nên có rất nhiều bãi biển đẹp như: bãi biển cây Bàng …
    Tại cảng Vũng Rô, nơi tiếp nhận những con tàu thông số để di chuyển vũ khí, đạn dược từ ngoài Bắc vào. Tại nơi đây dẫn đến sự kiện do Mỹ-Ngụy đã phát hiện ra đường mòn Hồ Chí Minh là do Vũng Rô này. Nếu không có sự kiện Vũng Rô vào ngày 15-2-1965 thì đường mòn Hồ Chí Minh trên biển không bị lộ.
    Ở dưới đây còn rất nhiều một số xác của những con tàu thông số nằm dưới đây. Bắt đầu từ đó mà việc vận chuyển vũ khí trở nên khó khăn.
    Vừa qua năm 2005 người ta đã làm lễ cho những người tham gia trên con tàu thông số rất lớn.
    Mốc lịch sử năm 1954 sau khi Pháp bị chúng ta đánh tan buộc người Pháp phải ngồi vào bàn ký hiệp định Giơnevơ với các nước Đông Dương, trong đó có một điều khoản dành riêng cho Việt Nam chúng ta là nước Việt Nam chúng ta dự kiến tạm thời sau 2 năm tổng tuyển cử bầu ra một chế độ độc lập để thống nhất được 2 miền. Trong khoảng thời gian này có 2 tháng ai ờ ngoài Bắc, tất cả lực lượng của Pháp dồn hết dân tập kết vào miền Nam, lực lượng của miền Nam tập trung ra hết một phía. Cho nên một số người dân ngoài Bắc theo Pháp vào Nam đa phần là công giáo, một số người miền Nam những người theo cách mạng đi ra Bắc người ta gọi là tập kết ra Bắc. Miền Bắc sau naêm 1954 thực hiện những kế hoạch 3 năm, 5 năm tiến lên xã hội chủ nghĩa vững mạnh chi viện cho miền Nam. Ở miền Nam người Pháp đã xây dựng một chế độ cộng hoà, còn ở miền Bắc là xã hội chủ nghĩa, hay còn gọi là quá độ thời kỳ chủ nghĩa. Người Pháp đã đặt chế độ Ngô Đình Diệm lên và được Mỹ ủng hộ, cũng chính Ngô Đình Diệm lập ra bầu cử. Sau trận đánh Điện Biên Phủ do lực lượng nước ta còn non trẻ cho nên chỉ giải phóng được một nửa đất nước. Trong khoảng thời gian từ năm 1954 trải dài đến 1960 là thời kỳ chúng ta gần như không đánh trả.Vì vậy mà Pháp đã đưa ra nhiều bộ luật giết hại rất nhiều người dân, nhưng chúng ta không đánh trả vì như vậy là chúng ta đã sai hiệp định, cho đến năm 1960 nhân dân đã không chịu được sự áp bức bóc lột nên dẫn đến bùng nổ phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre. Khoảng năm 1958 bác Hồ cũng như đảng và nhà nước đã thấy được những âm mưu này và không thể nào hòa hoãn được, buộc chúng ta phải đánh bằng vỏ tre, và chúng ta đã thắng .
    Hiện tại Vũng Rô còn xác một con tàu không số từ miền Bắc vào bị lộ. Các chiến sĩ đã tranh thủ bốc dỡ hàng hóa và đặt mìn đánh đắm tàu.

    Mũi Kê Gà
    Dân địa phương còn gọi là Mũi Điện. Nằm trong cụm du lịch Đèo Cả-Vũng Rô, cách thành phố Tuy Hoà khoảng 40 km về phía Nam. Đây là điểm cực Đông trên đất liền Việt Nam, có tọa độ địa lý 12053’40” Vĩ độ Bắc và 109027’12” Kinh độ Đông. Trên mũi Đại Lãnh có tháp Hải Đăng được xây dựng cách đây 112 năm (1890). Đỉnh ngọn Hải Đăng cao 110 m so với mặt nước biển.
    Dưới chân núi Mũi Đại Lãnh có Bãi Môn rộng khoảng 16 ha, có con suối nước ngọt chảy từ trong núi ra, không bao giờ cạn, đây là bãi tắm rất lý tưởng, có thể hình thành khu nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí thể thao, cắm trại và tổ chức các hoạt động đón bình minh sớm nhất đất nước.

    Mũi Kê Gà nằm ở Huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Nếu đi từ QL1 thì đến cây số 43?, ngay chợ Hàm Minh rẽ phải đi khoảng 20km thì tới biển. Rẽ phải ngược lại hướng SG khoảng 10 km thì đến Mũi Kê Gà. Cũng có thể đi đường qua Thị xã La Gi nhưng đường hơi khó đi chút.

    Sở dĩ có tên gọi Kê Gà hay còn gọi là Khe Gà vì mũi đất có khe giống đầu mỏ của một con gà. Hòn đảo này rộng 5 ha, thuộc xã Thuận Quý, với hàng trăm cụm đá hoa cương vàng rực muôn hình muôn vẻ và hàng trăm cây sứ đại thụ. Hiện nay đèn biển ở đây được thắp sáng 24/24 bằng năng lượng mặt trời.

    Hải Đăng được người Pháp xây dựng từ năm 1897 và khánh thành năm 1899. Với 183 bậc, cao 65 m so với mặt nước biển, HĐKG là 1 trong những ngọn hải đăng cao và cổ xưa nhất Đông Nam Á.

    Ngay đỉnh ngọn hải đăng có rất nhiều tổ yến.
    Từng phiến đá được chế tác sẳn và khi xây dựng chỉ ghép lại với nhau. Dưới chân tháp dày hơn 1.6m và mỏng dần lên đến đỉnh còn khoảng 1m. Từ đỉnh tháp, ngọn đèn biển soi đường cho 1 phạm vi lên đến 20 hải lý.

    Hòn đá Dựng bên đảo Kê Gà, chính là Linga to nhất bằng đá trong tự nhiên ở đây.
    Lúc nước cạn có thể tự đi qua nhưng rất nguy hiểm. Chỉ một số ít người dân nơi đây mới biết đường đi qua. Thông thường, bạn cứ đến khu này và hỏi mấy người đánh ca buổi sớm. Mặc cả xong xuôi, họ dừng tay công việc hàng ngày và "ngoáy" một lúc là đã đưa chiếc thuyền thúng cập đảo. Nhớ đừng vội trả tiền vì còn phải "ngoáy" thêm 1 cái nữa mới về lại đất liền.

    Hải đăng trăm tuổi mũi Kê Gà    

    Ngọn hải đăng trăm tuổi trên đảo Kê Gà sừng sững giữa biển khơi đang là điểm đến hấp dẫn đối với du khách khi đến với Bình Thuận. Đứng trên ban-công ở đỉnh hải đăng, phong cảnh một vùng biển mở ra trước mắt du khách đẹp đến sững sờ, hiếm có...Từ thành phố Phan Thiết (Bình Thuận) đi xe máy hoặc xe buýt dọc theo bờ biển phía nam khoảng 25 km là đến địa điểm có ngọn hải đăng trăm tuổi này. Hải đăng Kê Gà (có người gọi Khe Gà) nằm trên mũi đất nhô ra bờ biển khoảng 500 m. Lúc nước thủy triều xuống, người ta có thể đi bộ ra mũi. Vùng biển này thường xuyên có tàu thuyền đi ngang, nhất là tàu buôn nước ngoài. Cũng bởi là vùng biển có vị trí hiểm trở, nhiều bãi đá ngầm, người Pháp đã cho xây dựng ngọn hải đăng tại đây để dẫn đường tàu thuyền đánh cá, cảnh báo nguy hiểm đối với tàu buôn. Kỹ sư người Pháp Chnavat là người thiết kế công trình này và được khởi công xây dựng vào tháng 2-1897, đến cuối năm 1898 hải đăng mới hoàn thành và đưa vào hoạt động vào năm 1900 - đến nay đã 108 năm.Tháp hải đăng hình bát giác được xây trên đỉnh cao nhất của đảo. Tại tháp đèn có những ô cửa kính dày bao bọc hai bóng đèn có công suất 2.000W, xoay được 360 độ. Vào lúc trời trong, nhìn từ xa 10km du khách đã có thể thấy ngọn hải đăng sừng sững giữa trời cao. Ban đêm, ánh đèn chiếu sáng đến 22 hải lý. Lối dẫn vào hải đăng là những bậc thang bằng bêtông, hai bên trồng hàng hoa sứ cổ. Người dân ở đây cho rằng những cây sứ được trồng ngay sau khi ngọn hải đăng được dựng lên nên gốc cây nào cũng to lớn. Vào bên trong hải đăng, du khách phải bước lên 184 bậc thang xoắn trôn ốc để lên đỉnh. Tại đây, một ban-công rộng rãi mở ra để du khách đứng ngắm biển xanh bao la. Những khu nghỉ dưỡng, bãi đá, bờ biển... trải dài hàng chục cây số đều thu gọn vào tầm mắt. Những mệt mỏi sau khi đi bộ lên các bậc thang cao 54 m sẽ được xua tan bởi cảnh đẹp của thiên nhiên và làn gió biển mát rượi khiến du khách cảm thấy phấn chấn. Thời điểm lý tưởng nhất trong ngày để lên đỉnh Kê Gà là lúc hoàng hôn. Những người mê biển thường  ở lại đảo qua đêm để câu cá, ngắm ánh trăng vằng vặc vào ban đêm bên ngọn lửa hồng và ngắm cảnh bình minh hùng vĩ hiện dần trên mặt biển... Dù đã có từ rất lâu nhưng hải đăng Kê Gà chưa được nhiều người biết đến. Phần lớn du khách đến Phan Thiết đi thẳng ra Mũi Né, nhưng từ khi Mũi Né bị “bao vây” bởi hệ thống các khu nghỉ dưỡng, nhà hàng, khách sạn thì những người yêu thiên nhiên miền biển có ý thích đi tìm những điểm dừng chân mới. Cuộc đổ bộ của du khách và các nhà đầu tư vào phía nam Phan Thiết bắt đầu từ đó. Nhiều khu nghỉ dưỡng đã mọc lên nhưng đều có phong cách kiến trúc tôn trọng thiên nhiên, tạo nên sự hài hòa giữa người và biển. Việc đưa người ra ngọn hải đăng tham quan hiện nay chưa nằm trong nhiều tour, tuyến của hãng lữ hành lớn nào mà chủ yếu do người dân địa phương làm theo kiểu tự phát. Lên xuống tàu để ra hải đăng và trở lại đất liền không được thuận tiện, nhất là với người lớn tuổi. Hai đầu bến vẫn chưa có cầu tàu. Du khách phải xắn quần lội nước để leo lên tàu... Nhưng chắc chắn trong thời gian không xa nữa, Kê Gà sẽ có tên nhiều hơn trong danh sách các tour du lịch và đây sẽ là điểm đến hấp dẫn với mỗi du khách khi đến Bình Thuận

    Mũi Đại Lãnhcòn có tên gọi khác là mũi Điện, mũi Nạy, mũi Diều, hay mũi Kê Gà, thuộc địa phận thôn Phước Tân, xã Hoà Tâm, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.Mũi Đại Lãnh là một nhánh của dãy Trường Sơn đâm ra biển, và do một tướng người Pháp tên Varella phát hiện ra, vì thế, trước đây, người ta gọi đó là Cap Varella. Điểm đặc biệt của địa danh này là ở chỗ nó như một ngọn núi, lại giống một hòn đảo vì có một suối nước ngọt tách nó ra khỏi đất liền, nhưng thực chất nó lại là đất liền...

    Mũi Đại Lãnh có vị trí quan trọng đối với an ninh quốc phòng, và có ngọn hải đăng lớn cho tàu thuyền trong khu vực. Hải đăng mũi Đại Lãnh được người Pháp xây năm 1890 gồm khối nhà cao 5m với diện tích 320m2, dưới nền nhà có bể ngầm chứa nước mưa, trần nhà đặt hệ thống pin mặt trời để cung cấp năng lượng để hải đăng chiếu sáng và điện sinh hoạt cho những người gác ngọn hải đăng này. Tháp đèn hải đăng mũi Đại Lãnh là một khối hình trụ thon đều, màu xám, cao 26,5m so với nền toà nhà và cao 110m so mặt nước biển, và có thể phát tín hiệu ánh sáng đi xa 27 hải lý. Bên trong hải đăng là cầu thang gỗ 110 bậc bóng loáng. Ngọn đèn biển hoạt động được 55 năm thì ngừng (năm 1945), đến năm 1961 mới hoạt động trở lại, nhưng do vùng Đại Lãnh - Vũng Rô là căn cứ cách mạng, trên biển là nơi tiếp nhận những chiếc tàu không số của những người cộng sản chở vũ khí từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam trong chiến tranh Việt Nam nên hải đăng bị hủy bỏ, đến năm 1997 mới được khôi phục, Mũi Điện trở thành một trong 45 đèn biển cấp một quốc gia.
    Núi Đá Bia
    Qua khỏi cua Đá Đen trên đèo Cả phía tỉnh Khánh Hòa, khách lữ hành dễ nhận ra Bên phía tay phải có Núi Đá Bia hay còn được gọi là Thạch Bia Sơn cao 65m rộng 27m; núi cao 706m, bởi trên đỉnh núi có một tảng đá rất lớn. Theo một tư liệu của Pháp (được ông Võ Liệu dịch, đăng trên tạp chí Giáo Dục Phổ Thông số 44, năm 1962), núi Đá Bia còn có một tên gọi khác lý thú do người Pháp đặt: “Ngón tay của Chúa”.
    Núi Đá Bia là một trong số nhiều đỉnh cao của quần sơn Đại Lãnh, nằm ở phía bắc Đèo Cả. Cái làm cho ngọn núi này trở thành linh sơn (núi thiêng) chính là một khối đá cao lớn, cách xa cả chục kilomet vẫn nhìn rõ, nhô cao trên đỉnh núi như một chiếc sừng tê giác khổng lồ. Theo sử cũ thì vào năm 1471, vua Lê Thánh Tông trong lần cử binh Nam tiến đánh Chăm Pa đã qua đây. Trước cảnh núi non hùng vĩ trùng điệp nhà vua đã cho dừng binh. Thấy tảng đá kỳ lạ nằm trên đỉnh núi như thế nhà vua đã chú ý. Sau khi chiến thắng Chăm Pa vua quyết định lấy đèo Cả làm giới tuyến tự nhiên giữa Đại Việt và Chăm Pa và để ghi nhận sự kiện này, vua đã cho người tìm đường lên tận đỉnh núi khắc vào một mặt của tảng đá một dòng chữ Hán như sau:
    “Chiêm Thành quá thử, binh bại quốc vong
    An Nam quá thử, tướng chu binh chiết”
    Có nghĩa là: Chiêm Thành qua đây, quân thua nước mất. An Nam qua đây, tướng chết binh tan. Đây như một lời thề không xâm phạm lẫn nhau của vua Lê Thánh Tông. Sau đó núi này được đặt tên là Thạch Bi Sơn. Ngày nay do thời gian tàn phá những chữ chạm khi xưa đã không còn nữa nhưng Thạch Bi Sơn vẫn sừng sững như thách đố thời gian và làm một điểm nhấn cho không gian dưới chân đèo Cả. Đến gần, tùy theo góc nhìn mà chiếc sừng tê giác khổng lồ này có những hình dạng rất khác nhau: một tấm bia đá khổng lồ, một con sư tử nằm xuôi theo sườn dốc, một thầy tu đang ngồi thiền hoặc một nhà sư đang xuống núi.
    Người Phú Yên còn gọi khối đá là chiếc Linga vĩ đại của tỉnh Phú Yên (Linga: cột đá thiêng hình sinh thực khí của giống đực, biểu tượng của thần Siva theo tín ngưỡng Chămpa). Không ít lần Đá Bia bị sét đánh làm cho màu đá càng trắng ra chứ không đổ.
    Đã từ nhiều đời nay, người Phú Yên chỉ cần nhìn Đá Bia là có thể dự báo đúng thời tiết: nếu mây phủ Đá Bia thì chắc chắn trời sẽ mưa. Sườn bắc của khối núi Đèo Cả là sườn hứng mưa, đặc biệt vào mùa chính của gió đông bắc (tập trung từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau). Vào mùa này trung bình cứ 3 ngày thì có đến 2 ngày mưa. Vùng núi Đồng Cọ thuộc xã Hòa Xuân Nam, huyện Tuy Hòa có kiểu mưa địa hình rất đặc biệt: đang nắng có thể mưa to ngay được, có khi mưa rách lá chuối đầu làng, nhưng cuối làng vẫn khô ráo. Người địa phương gọi kiểu mưa đặc biệt này là "Mưa Đồng Cọ".
    Khi có mưa Đồng Cọ ắt có gió Tu Bông. Tu Bông - tên chữ là Tụ Phong (họng gió) - là một địa điểm phía nam Đèo Cả thuộc huyện Vạn Ninh, Khánh Hòa, đối diện với Đồng Cọ qua một khe núi sâu. Sau khi trút mưa ở Đồng Cọ, gió đông bắc bị ép vào khe núi này, thoát ra Tu Bông thành một loại gió tố rất mạnh. Cây cối Tu Bông có thân cong như cánh cung. Khách bộ hành có thể bị gió xô xuống ruộng.
    Chế độ thời tiết lắm mưa nhiều mây đã làm cho khu rừng đặc dụng Bắc Đèo Cả có một hệ thực vật rất đặc biệt. Ngày trước, đây là vùng cung cấp trầm hương và kỳ nam nổi tiếng. Hiện nay vẫn còn một tập đoàn cây quý như cẩm, thị, sao, chò, dầu, kiền kiền, đặc biệt là cây đát và tuế lá dừa. Cây đát có hạt rất đặc biệt: khi bóc vỏ, hạt đát cho một cùi trắng trong, dẻo, không thể thiếu trong món chè trái cây nổi tiếng ở Nha Trang.
    Tuế lá dừa là một loại cây cảnh đẹp, có thể cao đến 6 mét, mọc dày trên sườn núi, nhất là phía Bắc Đèo Cả. Ngoài ra lau núi cuối năm nở hoa trắng xóa. Trong gió lạnh, những trảng bông lau dập dờn như làn sóng, tạo ra hình ảnh nên thơ của Đèo Cả suốt cả trăm năm qua.
    Thực ra tên Đèo Cả mới có từ thời Pháp thuộc, khi quốc lộ 1A được mở. Trước đó, đường thiên lý Bắc Nam là một tuyến đường núi nhỏ hẹp, hiểm trở, khó đi, nằm về phía tây đường Đèo Cả bây giờ, được gọi là đường Gia Long. Khối núi Đại Lãnh hiểm trở đã góp phần làm dừng bước chân nam tiến của Vua Lê Thánh Tông năm 1471. Nhà vua phải lập một tiểu vương quốc ở vùng đất Phú Yên bây giờ gọi tên là nước Hoa Anh, làm vùng đệm giữa Đại Việt và Chiêm Thành để tránh đụng độ quân sự trực tiếp giữa hai nước. Nhưng trên thực tế, quân đội Chiêm Thành do thông thạo những tuyến đường mòn xuyên qua khối núi Đại Lãnh, đã không ít lần đột nhập cướp phá nước Hoa Anh.
    Năm 1653, tuân lệnh chúa Nguyễn Phúc Tần, Cai cơ Hùng Lộc tấn quân đến tận Phan Rang, thâu tóm vùng đất Khánh Hòa này vào xứ Đàng Trong, chấm dứt vai trò biên giới của vùng núi Đại Lãnh suốt 182 năm không dứt tiếng gươm khua ngựa hí.
    Hơn 100 năm sau, địa thế chiến lược của vùng núi Đại Lãnh đã thu hút nhiều cuộc hành quân và giao chiến đẫm máu giữa hai nhà Nguyễn (Tây Sơn và Nguyễn Ánh) trong hơn 3 thập niên nội chiến (1771-1802).
    Tháng 1 năm 1947, chỉ 24 ngày sau lệnh toàn quốc kháng chiến, Đèo Cả trở thành chiến trường xung yếu, nơi trung đoàn 80 bộ đội địa phương kịch chiến với giặc Pháp, mở đầu cho hàng loạt trận đánh ác liệt trong suốt cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ sau này của quân dân Phú Yên và Khánh Hòa. Từ tháng 11-1964 đến tháng 2-1965, 4 chuyến tàu không số chở vũ khí chi viện cho miền Nam đã cập bến Vũng Rô - một vùng biển nước sâu, kín đáo và đẹp như tranh vẽ nằm ngay dưới chân Đèo Cả.
    Từng mét vuông ở vùng núi Đèo Cả như nhuộm đỏ máu trong suốt nửa thiên niên kỷ không ngớt giao tranh của lịch sử dựng nước và giữ nước.
    Ngày nay, với phong cảnh non xanh nước biếc, Đèo Cả - Vũng Rô - Đá Bia đã trở thành vùng du lịch nổi tiếng trên còn đường thiên lý Bắc Nam. Như thuở nào, Đèo Cả vẫn mù sương như muốn dấu lịch sử bi hùng dưới sắc xanh của tuế là dừa. Tuy nhiên, trong tiếng gào rít của gió Tu Bông, dường như vẫn âm vang lời thơ hào hùng của Hữu Loan những ngày đầu kháng chiến chống Pháp 1946:
    "Đèo Cả! Đèo Cả!
    Núi cao ngất
    Mây trời ai lao sầu đại dương
    Dặm về heo hút
    Đá Bia mù sương…"

    Ga Hảo Sơn
    Năm 1858 khi người Pháp nổ tiếng súng đầu tiên tại Đà Nẵng liên quân Pháp, Tây Ban Nha nhưng họ đã không thành công bởi vì gặp sự kháng cự của quân triều đình đặc biệt dưới sự chỉ huy của ông Nguyễn Tri Phương, thế là người Pháp buộc phải thay đổi chiến lược, thay vì đánh chiếm Đà Nẵng trước họ chuyển vào Sài Gòn và sau đó đánh dần vào 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ và 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Năm 1889 cơ bản là họ đã lập xong ách thống trị và đô hộ ở nước Việt chúng ta. Sau đó người Pháp bắt đầu khai thác kinh tế ở nước ta như khai thác dầu mỏ, cao su, sức người, sức của…để phục vụ cho việc khai thác này họ đã đặt ra con đường để vận chuyển những hàng hóa mà họ khai thác bằng con đường đầu tiên đó là con đường xe lửa. Đến cuối thế kỷ 19 người Pháp bắt đầu xây dựng đuờng ray, đường sắt và khi đường sắt hoàn thành thì người Pháp đã xây dựng từ Nam ra Bắc và ngược trở lại. Nơi 2 đường sắt gặp nhau rơi đúng ngay ga Hảo Sơn .

    *********

    *********************

    Tài Liệu Hướng Dẫn

    Bài Thuyết Minh Tuyến - Điểm tp.HCM-> Nha Trang

    (tập ll)

    Ngày 10/01/10. tp.Hồ Chí Minh

    Vũ Thúy Hường

    THUYẾT MINH ĐIỂM

    Lịch sử Khánh Hòa
    Tên gọi tỉnh Khánh Hòa được xác lập vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mệnh thứ 13; trải qua triều Nguyễn, thời thuộc Pháp, tỉnh lỵ đóng tại thành Diên Khánh, sau đó là dưới chính quyền ngụy Sài Gòn, tỉnh lỵ đóng tại Nha Trang.
    Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 29/10/1975, hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa được hợp nhất thành một tỉnh mới là tỉnh Phú Khánh.
    Ngày 30/3/1977, thị xã Nha Trang được nâng cấp lên thành Thành phố Nha Trang.
    Ngày 28/12/1982, Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ 4 đã quyết định sát nhập huyện đảo Trường Sa vào tỉnh Phú Khánh.
    Ngày 30/6/1989, Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 5 đã quyết định chia tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh mới là Khánh Hòa và Phú Yên.
    Nằm ở cực Nam Trung Bộ, có tuyến đường quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Bắc-Nam chạy qua; có sân bay Nha Trang, cảng biển Nha Trang, Ba Ngòi, Cam Ranh và đường biển ra hải phận quốc tế thuận tiện, Khánh Hòa thực sự là điểm hội nhập, trung chuyển kinh tế - văn hóa từ bao đời nay của Việt Nam và khu vực Đông Nam á.
    Ngược dòng thời gian, Khánh Hòa là vùng đất có bề dày lịch sử - văn hóa. Các cứ liệu khảo cổ học đã khẳng định ngay từ thời tiền sử, con người đã sinh sống ở đây. ở Hòn Tre trong vịnh Nha Trang từ đầu thế kỷ này, các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra nhiều công cụ bằng đá của "nền nông nghiệp dùng cuốc". Với việc phát hiện ra bộ đàn đá Khánh Sơn vào tháng 2/1979 trong địa bàn cư trú của tộc người Raglai, cho thấy chủ nhân của bộ đàn đá này đã sinh sống ở đây khoảng giữa thiên niên kỷ I trước Công nguyên.
    Sang thời đại kim khí, ở Khánh Hòa đã phát hiện có nền văn hóa Xóm Cồn (Ba Ngòi, Cam Ranh), cho phép khẳng định nền văn hóa thời đại kim khí có niên đại khoảng gần 4000 năm là nền văn hóa trước văn hóa Sa Huỳnh. Nằm trong địa bàn phân bố của văn hóa Sa Huỳnh, Khánh Hòa có nhiều di chỉ khảo cổ học về nền văn hóa này như: Diên Sơn (huyện Diên Khánh), Bình Tân, Hòn Tre (Thành phố Nha Trang), Ninh Thân (huyện Ninh Hòa) ...
    Khánh Hòa vốn là đất KauThaRa nơi sinh sống của bộ tộc Cau - một trong hai thị tộc chính của vương quốc Chămpa xưa. Hơn thế, nơi đây đã từng là Thánh đô của vương quốc Chămpa, với khu tháp thờ Bà mẹ xứ sở Ponagar - khu Tháp Bà (Nha Trang). Đến nay khu tháp cổ này vẫn sừng sững thách thức cả thời gian, là nơi thể hiện một phong cách kiến trúc tháp Chàm hoàn hảo và hùng tráng. Ngoài Tháp Bà (Nha Trang), ở Khánh Hòa còn có nhiều di tích văn hóa Chămpa như: Bia Võ Cạnh có niên đại khoảng cuối thế kỷ II đầu thế kỷ III, là tấm bia cổ vào bậc nhất nước ta và khu Đông Nam á; Thành Hời, miếu Ông Thạch, Am Chúa, ... Cùng với các di sản văn hóa hữu thể đó là những di sản văn hóa phi vật thể có bản sắc riêng trong dòng văn hóa dân tộc mà tiêu biểu là truyền thuyết về nữ thần Ponagar - Bà Mẹ Xứ sở, là lễ hội Tháp Bà, lễ hội Am Chúa, là điệu múa bóng dâng Bà đã đi vào câu ca:


    "Ai về Xóm Bóng quê nhà
    Hỏi thăm điệu múa dâng Bà còn không?"

    Dấu vết thành lũy Diên Khánh nay còn lưu lại chứng tích một công trình văn hóa vật thể, đã được cha ông ta xây dựng khi bắt đầu hình thành phủ Thái Khang và Diên Ninh trấn giữ vùng Nam Trung Bộ, khai điền, lập ấp, mở rộng bờ cõi cho sự phát triển phồn vinh của dân tộc về phương Nam. Hệ thống đình chùa, miếu mạo khắp các thôn làng trong vùng đất Khánh Hòa vẫn còn lưu giữ để tôn vinh thờ cúng những vị tiền hiền, hậu hiền đã có công giúp nhân dân làm ăn sinh sống. Hệ thống nhà thờ họ của người dân là biểu hiện của nỗi nhớ về cội nguồn quê hương đất nước, chim có tổ, người có tông, mà cùng nhau gìn giữ thanh danh truyền thống cho gia đình, dòng họ của mình, cùng nhau giáo dục làm điều thiện, tránh điều ác, làm rạng rỡ tông danh dòng họ, kẻ hậu sinh luôn nhớ về công đức của các bậc tiền bối. Hệ thống chùa chiền Phật giáo, nhà thờ Thiên Chúa giáo, Cao Đài, Tin Lành ... trải rộng khắp vùng lãnh thổ Khánh Hòa góp phần giáo dục con người làm điều hay lẽ phải, tránh điều dữ, điều ác, góp phần hoàn thiện con người trong xã hội hướng tới cái "Chân - Thiện - Mỹ ".
    Trân trọng quá khứ và với tấm lòng "uống nước nhớ nguồn", các thế hệ người Việt ở Khánh Hòa luôn nâng niu giữ gìn những di sản văn hóa quí báu của các bậc tiền nhân và sáng tạo nên nhiều giá trị văn hóa mới rất đáng tự hào.
    Khánh Hòa là một trong số ít tỉnh và thành phố trong cả nước củng cố, duy trì được đầy đủ các loại hình nghệ thuật dân tộc như: Nhà hát Tuồng, Đoàn dân ca kịch, Đoàn ca múa nhạc tổng hợp (gồm ca nhạc dân tộc và ca nhạc nhẹ) với nhiều chương trình biểu diễn ở nước ngoài: Lào, Campuchia, Nhật Bản, Thái Lan, Liên Xô (cũ) và phục vụ khách du lịch quốc tế.
    Công tác bảo tồn bảo tàng đã được quan tâm củng cố, hàng trăm hiện vật cổ cách đây hàng nghìn năm đã được sưu tầm, khai quật từ thời kỳ đồ đá (rìu đá) đến thời kỳ văn minh đồ đồng, đồ sắt, đồ gốm cổ. Nhiều hiện vật văn hóa có tính lịch sử trong chiến tranh giữ nước của nhân dân Khánh Hòa đã được giữ gìn trân trọng như những vật báu.
    Hệ thống tượng đài, bia tưởng niệm đã và đang được xây dựng khắp nơi trên đất Khánh Hòa. Biệt thự Cầu Đá, mộ Yersin. Trung tâm Văn hóa tỉnh Khánh Hòa 46 Trần Phú, hững công viên tráng lệ những tượng đài đầy ấn tượng sẽ góp phần vẽ nên bức tranh văn hóa vật thể hoành tráng trên vùng đất Khánh Hòa xinh đẹp, hùng vĩ, thơ mộng và giàu tiềm năng này.
    Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2001-2005 đã đề ra nhiều mục tiêu phát triển văn hoá - xã hội, xây dựng các chương trình, dự án kinh tế trọng điểm, nhằm khai thác tối đa mọi tiềm năng và nội lực để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu xây dựng Khánh Hòa trở thành một tỉnh phát tiển mạnh trong khu vực.

    Tổng Quan Về Khánh Hòa
    Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam. Tỉnh này giáp với tỉnh Phú Yên về hướng bắc, tỉnh Đắk Lắk về hướng tây bắc, tỉnh Lâm Đồng về hướng tây nam, tỉnh Ninh Thuận về hướng nam, và Biển Đông về hướng đông. Quần đảo Trường Sa nằm dưới sự quản lý của tỉnh Khánh Hòa, nhưng bị tranh chấp về chủ quyền bởi một số quốc gia khác.
    Diện tích năm 2006
    Tổng cộng 5.217,7 km²
    Tổng cộng 1135000
    Mã bưu chính: 57
    Mã điện thoại: 058
    Dân tộc: Kinh, Ra Glai, Hoa, Cơ Ho
    Bảng số xe: 79
    Website: http://www.khanhhoa.gov.vn/
    Tỉnh lỵ của Khánh Hòa là thành phố Nha Trang.
    Điều kiện tự nhiên
    Vị trí địa lý

    Bãi biển Nha Trang
    Khánh Hòa có diện tích tự nhiên là 5.197 km²[3], phần đất liền của tỉnh nằm ở tọa độ địa lý từ 12°52’15" đến 11°42’50" vĩ độ Bắc và từ 108°40’33" đến 109°27’55" kinh độ Đông[3]. Điểm cực Đông trên đất liền của Khánh Hòa nằm tại Mũi Đôi trên bán đảo Hòn Gốm, huyện Vạn Ninh cũng là điểm cực đông trên đất liền của Việt Nam[4]. Ngoài ra, Khánh Hòa còn có vùng biển, vùng thềm lục địa, các đảo ven bờ và huyện đảo Trường Sa. Tỉnh lỵ của Khánh Hòa là thành phố Nha Trang, cách Thành phố Hồ Chí Minh 447 km và cách thủ đô Hà Nội 1.278 km đường bộ

    Bờ biển
    Bờ biển tỉnh Khánh Hòa kéo dài từ xã Đại Lãnh tới cuối vịnh Cam Ranh, có độ dài khoảng 385 km (tính theo mép nước) với nhiều cửa lạch, đầm vịnh, với khoảng 200 đảo lớn, nhỏ ven bờ và các đảo san hô của quần đảo Trường Sa[3]. Dọc theo bờ biển từ Đại Lãnh trở vào đến Ghềnh Đá Bạc, Khánh Hòa có 6 đầm và vịnh lớn, đó là Đại Lãnh, vịnh Vân Phong, Hòn Khói, vịnh Nha Phu, vịnh Nha Trang (Cù Huân) và vịnh Cam Ranh. Trong đó có nổi bật nhất vịnh Cam Ranh với chiều dài 16 km, chiều rộng 32 km, thông với biển thông qua eo biển rộng 1,6 km, có độ sâu từ 18-20 mét[6][7], và thường được xem là cảng biển có điều kiện tự nhiên tốt nhất Đông Nam Á.
    Vịnh Cam Ranh là một địa thế quân sự quan trọng, được quân Pháp dùng làm căn cứ hải quân, quân Nga sử dụng vào Chiến tranh Nga-Nhật vào đầu thế kỷ 20, quân Nhật dùng để xâm chiếm Malaysia vào Đệ nhị thế chiến và được quân đội Hoa Kỳ phát triển thành một khu căn cứ quân sự trong thời Chiến tranh Việt Nam[6]. Sau chiến tranh, vịnh này được cho quân đội Liên Xô (sau này là Nga) thuê làm căn cứ đến năm 2004. Từ đó đến nay, cảng Cam Ranh không còn là cảng quân sự và đã được chính phủ khai thác để phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
    Địa hình
    Do bị một số dãy núi phân cắt, cho nên địa hình đồng bằng Khánh Hòa đã hình thành 3 vùng riêng biệt.
    Đồng bằng Vạn Ninh - Ninh Hòa: Diện tích khoảng 200 km², độ cao tuyệt đối 5-15 m, bề mặt địa hình nghiêng về phía Đông-Nam.
    Đồng bằng Diên Khánh - Nha Trang: Diện tích gần 300 km², phần phía Tây dọc sông Chò từ Khánh Bình đến Diên Đồng bị bóc mòn, độ cao tuyệt đối 10-20 m, phần phía Đông là địa hình tích tụ độ cao tuyệt đối dưới 10 m, bề mặt địa hình bị phân cắt mạnh bởi các dòng chảy.
    Đồng bằng Cam Ranh diện tích khoảng 200 km² bằng phẳng, ít phân cắt, độ cao tăng dần về phía Tây từ 20-30 m.
    So với cả nước, Khánh Hòa là một tỉnh có địa hình tương đối cao, độ cao trung bình so với mực nước biển của tỉnh Khánh Hòa khoảng 60m. Núi ở Khánh Hòa tuy hiếm những đỉnh cao chót vót, phần lớn chỉ trên dưới một ngàn mét nhưng gắn với dải Trường Sơn, lại là phần cuối phía cực Nam nên địa hình núi khá đa dạng, tạo ra nhiều cảnh đẹp.
    Phía Bắc và Tây Bắc tỉnh có dãy Tam Phong cùng với dãy núi Đại Lãnh làm thành ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa. Ngoài dãy Tam Phong, vùng này còn có các núi khác có độ cao trên 1.000 m như: núi Dốc Mõ, núi Đại Đa Đa, núi Hòn Chảo, Hòn Chát…
    Các núi thuộc đoạn giữa của tỉnh về phía Nam thuộc các địa phận Ninh Hòa, Nha Trang, Diên Khánh, Cam Ranh thường có độ cao kém hơn, có nhiều nhánh đâm ra sát biển, tạo nên nhiều cảnh đẹp nổi tiếng, gắn với những huyền thoại dân gian và di tích lịch sử, cách mạng của địa phương như núi Chúa, Hòn Ngang, Hòn Bà, Hòn Cù Lao, Hòn Chồng, Hòn Vợ, Hòn Dung, Hòn Dữ, núi Đồng Bò, núi Xưởng (đồi Trại Thủy), núi Sinh Trung, núi Chụt...
    Hai huyện miền núi phía Tây tỉnh là Khánh Sơn, Khánh Vĩnh núi rừng chiếm hầu hết diện tích, có nhiều núi cao hiểm trở, trong đó có các đỉnh núi cao trên 1.000 m như: Hòn Giao (2.062 m), núi Chư Tông (1.717 m), Chư Bon Gier (1.967 m), Chư Bon Giang (1.418 m), Hòn Tiêu Quang (1.743 m), Hòn Gia Lo (1.812 m)... Đỉnh núi cao nhất tỉnh là Hòn Giao, cao 2.062 m. Hòn Giao nằm trên địa phận huyện Khánh Vĩnh.
    Sông ngòi
    Sông ngòi ở Khánh Hòa nhìn chung ngắn và dốc, cả tỉnh có khoảng 40 con sông dài từ 10km trở lên, tạo thành một mạng lưới sông phân bố khá dày. Hầu hết, các con sông đều bắt nguồn tại vùng núi phía Tây trong tỉnh và chảy xuống biển phía Đông. Dọc bờ biển, cứ khoảng 5-7 km có một cửa sông.
    Mặc dù hướng chảy cơ bản của các sông là hướng Tây - Đông, nhưng tùy theo hướng của mạch núi kiến tạo hoặc do địa hình cục bộ, dòng sông có thể uốn lượn theo các hướng khác nhau trước khi đổ ra biển Đông. Đặc biệt là sông Tô Hạp, bắt nguồn từ dãy núi phía Tây của huyện Khánh Sơn, chảy qua các xã Sơn Trung, Sơn Bình, Sơn Hiệp, Sơn Lâm, Thành Sơn rồi chảy về phía Ninh Thuận. Đây là con sông duy nhất của tỉnh chảy ngược dòng về phía Tây.
    Hai dòng sông lờn nhất tỉnh là Sông Cái (Nha Trang) và sông Dinh (Ninh Hòa)
    Sông Cái Nha Trang (còn có tên gọi là sông Phú Lộc, sông Cù) có chiều dài 79 km, phát nguyên từ Hòn Gia Lê, cao 1.812 m, chảy qua các huyện Khánh Vĩnh, Diên Khánh và Nha Trang rồi đổ ra biển ở Cửa Lớn (Đại Cù Huân). Sông Cái Nha Trang có 7 phụ lưu, bắt nguồn ở độ cao từ 900 đến 2.000 m nhưng lại rất ngắn, thường dưới 20 km nên độ dốc rất lớn tạo nhiều ghềnh thác ở thượng lưu, sông Dinh chảy ngang qua huyện Ninh Hòa chảy cửa biển Hà Liên đổ vào vịnh Nha Phu
    Địa chất
    Cấu tạo địa chất của Khánh Hòa chủ yếu là đá granit và Riônit, đaxit có nguồn gốc mắc-ma xâm nhập hoặc phún xuất kiểu mới. Ngoài ra còn có các loại đá cát, đá trầm tích ở một số nơi. Về địa hình kiến tạo, phần đất của tỉnh Khánh Hòa đã được hình thành từ rất sớm, là một bộ phận thuộc rìa phía Đông-Nam của địa khối cổ Kom Tom, được nổi lên khỏi mặt nước biển từ đại cổ sinh, cách đây khoảng 570 triệu năm. Ở đại trung sinh có 2 chu kỳ tạo sản inđôxi và kimêri có ảnh hưởng một phần đến Khánh Hòa. Do quá trình phong hóa vật lý, hóa học diễn ra trên nền đá granit, riônit đã tạo thành những hình dáng độc đáo, rất đa dạng, phong phú, góp phần làm cho thiên nhiên Khánh Hòa có nhiều cảnh đẹp nổi tiếng.
    Khí hậu
    Khánh Hòa là một tỉnh ở vùng duyên hải cực Nam Trung bộ, nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa. Song khí hậu Khánh Hòa có những nét biến dạng độc đáo với các đặc điểm riêng biệt. So với các tỉnh, thành phía Bắc từ Đèo Cả trở ra và phía Nam từ Ghềnh Đá Bạc trở vào, khí hậu ở Khánh Hòa tương đối ôn hòa hơn. Thường chỉ có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng.
    Mùa mưa ngắn, từ khoảng giữa tháng 9 đến giữa tháng 12 dương lịch, tập trung vào 2 tháng 10 và tháng 11, lượng mưa thường chiếm trên 50% lượng mưa trong năm. Những tháng còn lại là mùa nắng, trung bình hàng năm có tới 2.600 giờ nắng.Nhiệt độ trung bình hàng năm của Khánh Hòa cao khoảng 26,7°C riêng trên đỉnh núi Hòn Bà (cách Nha Trang 30 km đường chim bay) có khí hậu như Đà Lạt và Sa Pa. Độ ẩm tương đối khoảng 80,5%.
    Từ tháng 1 đến tháng 8, có thể coi là mùa khô, thời tiết thay đổi dần. Những tháng đầu mùa, trời mát, nhiệt độ từ 17-25°C, nhưng từ tháng 5 đến tháng 8 trời nóng nực, nhiệt độ có thể lên tới 34°C (ở Nha Trang) và 37-38°C (ở Cam Ranh). Tháng 9 đến tháng 12, được xem như mùa mưa, nhiệt độ thay đổi từ 20-27°C (ở Nha Trang) và 20-26°C (ở Cam Ranh). Khánh Hòa là vùng ít gió bão, tần số bão đổ bộ vào Khánh Hòa thấp chỉ có khoảng 0,82 cơn bão/năm so với 3,74 cơn bão/năm đổ bộ vào bờ biển nước ta, các trận bão được dự đoán sẽ đổ bộ vào Khánh Hòa trong những năm gần đây thường lệch hướng vào Nam hoặc tan ngay khi gần vào bờ. Tuy vậy, do địa hình sông suối có độ dốc cao nên khi có bão kèm theo mưa lớn, làm nước dâng cao nhanh chóng, trong khi đó sóng bão và triều dâng lại cản đường nước rút ra biển, nên thường gây ra lũ lụt, tác hại đến sản xuất và đời sống của nhân dân.
    Các đơn vị hành chính
    Khánh Hòa có thành phố thuộc tỉnh, một thị xã và 7 huyện:
    Thành phố Nha Trang (tỉnh lỵ), Thị xã Cam Ranh, Huyện Cam Lâm, Huyện Vạn Ninh, Huyện Ninh Hòa, Huyện Diên Khánh, Huyện Khánh Vĩnh, Huyện Khánh Sơn, Huyện đảo Trường Sa
    Dân cư
    Tỉnh Khánh Hòa có khoảng 1.300.000 người (2006).

    Ngay từ thuở xa xưa, trên vùng đất Khánh Hòa đã có cư dân sinh sống. Bằng chứng về sự cư trú lâu đời của những cư dân này, dựa vào các di chỉ khảo cổ được phát hiện gần đây ở các địa phương trong tỉnh như: Dốc Gạo (thị trấn Tô Hạp, huyện Khánh Sơn), Xóm Cồn (phường Cam Linh, thị xã Cam Ranh), xã Diên Sơn (huyện Diên Khánh), đảo Hòn Tre (TP. Nha Trang) và một số nơi khác đã tìm thấy dấu vết những cư dân đầu tiên sống cách đây khoảng từ 4.500 đến 5.000 năm.
    Hiện nay có 32 dân tộc đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, trong đó dân tộc Kinh chiếm 95,3%, dân tộc Ra Glai chiếm 3,4%, dân tộc Hoa chiếm 0,86%, dân tộc Cơ-ho chiếm 0,34%, dân tộc Ê-đê chiếm 0,25%... Ngoài ra, còn có các dân tộc Tày, Nùng, Mường, Chăm...
    Tính đến năm 2002, Tỉnh đã phổ cập giáo dục tiểu học cho 8 huyện, thị xã, thành phố, tỷ lệ người biết chữ chiếm 89%.Về Y tế bình quân có 10 y bác sỹ trên 1 vạn dân.
    Lịch sử
    Các cứ liệu khảo cổ học đã khẳng định ngay từ thời tiền sử, con người đã sinh sống ở đây. ở Hòn Tre trong vịnh Nha Trang từ đầu thế kỷ này, các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra nhiều công cụ bằng đá của một nền nông nghiệp dùng cuốc. Với việc phát hiện ra bộ đàn đá Khánh Sơn vào tháng 2 năm 1979 trong địa bàn cư trú của tộc người Raglai, cho thấy chủ nhân của bộ đàn đá này đã sinh sống ở đây khoảng giữa thiên niên kỷ I trước Công nguyên.
    Sang thời đại đồ sắt, các di chỉ đã phát hiện của nền văn hóa Xóm Cồn (Ba Ngòi, Cam Ranh) cho phép khẳng định nền văn hóa thời đại đồ sắt ở Khánh Hòa có niên đại khoảng gần 4000 năm sớm hơn văn hóa Sa Huỳnh.
    Nằm trong địa bàn phân bố của văn hóa Sa Huỳnh, Khánh Hòa có nhiều di chỉ khảo cổ học về nền văn hóa này như: Diên Sơn (huyện Diên Khánh), Bình Tân, Hòn Tre (Thành phố Nha Trang), Ninh Thân (huyện Ninh Hòa).
    Khánh Hòa vốn là tiểu vương quốc Kauthara nơi sinh sống của bộ tộc Cau - một trong hai thị tộc chính của vương quốc Chăm pa xưa. Khu tháp thờ Bà mẹ xứ sở Ponagar (Nha Trang) đến nay vẫn còn, là nơi thể hiện một phong cách kiến trúc tháp Chàm hoàn hảo và hùng tráng nhất. Ngoài Tháp Bà (Nha Trang), ở Khánh Hòa còn có nhiều di tích văn hóa Chămpa như: Bia Võ Cạnh có niên đại khoảng cuối thế kỷ thứ 2 đầu thế kỷ thứ 3, là tấm bia cổ vào bậc nhất Việt Nam và khu Đông Nam á, Thành Hời, miếu Ông Thạch, Am Chúa,...
    Vào năm 1653 chúa Nguyễn Phúc Tần sai quân vào tận Phan Rang đánh chiếm đất. Vua Chăm là Bà Tấm đầu hàng và nhượng đất từ phía đông sông Phan Rang đến Phú Yên cho chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn chấp thuận và đặt dinh Thái Khang và chia khu vực thành hai phủ: Thái Khang và Diên Ninh.
    Tên tỉnh Khánh Hòa được đặt vào năm 1832 thời vua Minh Mạng, chia thành 2 phủ và 4 huyện: Phủ Diên Khánh gồm các huyện Phước Điền và Vĩnh Xương; Phủ Ninh Hòa gồm các huyện Quảng Phước và Tân Định.
    Trong thời Pháp thuộc sau triều Nguyễn, tỉnh lỵ được đóng tại thành Diên Khánh, nhưng được chuyển đến thị xã Nha Trang vào năm 1945.
    Sau khi thống nhất đất nước, chính phủ mới hợp nhất hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa vào ngày 29 tháng 10 năm 1975 thành tỉnh Phú Khánh. Vào năm 1977, thị xã Nha Trang được nâng cấp thành Thành phố Nha Trang.
    Quốc hội quyết định sát nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Phú Khánh vào năm 1982. Vào ngày 30 tháng 6 năm 1989, Quốc hội lại chia tỉnh Phú Khánh thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa.
    Kinh tế
    Có thể nói ngành mũi nhọn của tỉnh là du lịch và dịch vụ. Với hàng loạt danh lam thắng cảnh mà thiên nhiên ban tặng, Khánh Hòa phát triển khá mạnh về du lịch và kéo theo hàng loạt dịch vụ. GDP đầu người năm 2008 của tỉnh Khánh Hòa là 1.200 USD, tăng 11,3% so với năm 2007.

    Nông nghiệp: Người nông dân Khánh Hòa chủ yếu trồng lúa. Tuy nhiên nông nghiệp không phải là thế mạnh của tỉnh nên hầu như sản lượng không đáng kể.
    Công nghiệp: Công nghiệp Thủy sản và đóng tàu. Khánh Hòa còn có nhiều tiềm năng về công nghiệp khai khoáng: nhiều bãi cát trắng ở Đầm Môn (Ven Vịnh Vân Phong) dùng để chế tạo thủy tinh, pha lê, cáp quang... Dưới các bãi cát này có khoáng sản Titan-kim loại ít bị oxi hóa có thể dùng chế tạo vỏ của tàu vũ trụ.
    Khánh Hoà có ba khu vực phát triển kinh tế trọng điểm:
    Phía bắc là vịnh Vân phong nằm ở toạ độ địa lý cực đông của Việt Nam, cách hải phận quốc tế 14 km, gần ngã ba các tuyến hàng hải quốc tế. Vân phong là vịnh lớn với 41.000 ha măt nước, có độ nước sâu từ 20-30 m, tương đối kín gió. Với điều kiện và tiềm năng đó, Chính phủ đã quy hoạch xây dựng tại khu vực này Cảng trung chuyển Container Quốc tế và khu kinh tế tổng hợp đa ngành gồm: thương mại, công nghiệp, du lịch… Cảng trung chuyển container quốc tế Vân Phong, liên kết thuận lợi với đường bộ, đường sắt, hàng không, kín gió, an toàn, có đủ khả năng để có thể cạnh tranh với các cảng trung chuyển container đang hoạt động ở khu vực như: Singapore, Hồng Công, Cao Hùng… Tiềm năng phát triển cảng trung chuyển container quốc tế Vân Phong có thể đạt tới 17,5-17,8 triệu TEU/năm. Bên cạnh đó, Vân Phong có khí hậu tương đối ôn hoà, cảnh quan môi trường đẹp là nơi có tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái, là nơi có điều kiện lý tưởng để phát triển kinh tế thủy sản...
    Ở giữa là vịnh Nha Trang, được công nhận là một trong các vịnh đẹp nhất thế giới. Nha Trang với điều kiện thiên nhiên ưu đãi cả về vị trí, cảnh quan, khí hậu, cùng với nền tảng về lịch sử, nhân văn của mình, Nha Trang đã trở thành một trung tâm du lịch mang tầm cỡ quốc tế với nhiều loại hình du lịch đa dạng.
    Phía nam là vịnh Cam Ranh có vị trí hết sức quan trọng về quốc phòng an ninh và phát triển kinh tế. Sân bay quốc tế Cam Ranh nằm ở trung tâm bán đảo Cam Ranh, là một trong số ít sân bay có đường băng lớn và dài ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời có cảng Ba Ngòi là một trong những cảng quan trọng trong hệ thống cảng biển của vùng Nam Trung Bộ, tạo điều kiện thụân lợi để phát triển giao thương giữa Khánh Hoà với các vùng trong nước và quốc tế.
    Khoa học và Giáo dục
    Khánh Hòa là một trong 10 tỉnh của cả nước có số lượng trí thức lớn. Trên địa bàn tỉnh hiện có 40 đơn vị nghiên cứu khoa học công nghệ, hơn 20.500 cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học và trên 200 cán bộ có trình độ trên đại học. Tỉ lệ lao động được đào tạo nghề chiếm trên 25%.
    Tỉnh Khánh Hòa có 3 trường đại học chính quy là: Đại học Nha Trang (trước đây là Đại học Thủy sản Nha Trang, đổi tên vào ngày 25 tháng 7 năm 2006, theo quyết định số 172/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) là một trường đại học đa ngành, đa cấp học với các chuyên ngành thủy sản truyền thống là mũi nhọn và thế mạnh.
    Học viện Hải quân chuyên đào tạo sĩ quan chỉ huy hải quân cấp phân đội và chỉ huy tham mưu hải quân cấp chiến thuật- chiến dịch trình độ đại học quân sự, sau đại học.
    Trường Sỹ quan không quân có nhiệm vụ mới là đào tạo cán bộ, sỹ quan không quân có trình độ đại học.
    Hệ thống các trường Cao Đẳng gồm:
    Cao đẳng sư phạm Nha Trang
    Cao đẳng văn hóa nghệ thuật du lịch, Cao đẳng Y tế
    Cao đẳng Mẫu giáo Trung ương 2
    Trường Cao Đẳng Nghề Nha Trang
    Khánh Hòa còn có nhiều cơ sở nghiên cứu Khoa Học lớn mang tầm cở quốc gia như: Viện Paster Nha Trang, Viện Paster Nha Trang, Viện Hải dương học Nha Trang, Viện Vắc-xin Nha Trang

    Giao thông-Đường bộ
    Khánh Hoà có hệ thống cơ sở hạ tầng về tương đối phát triển, nằm trên các trục giao thông quan trọng của cả nước:
    Quốc lộ 1A chạy dọc ven biển từ Đèo Cả đế Gềnh Đá Bạc nối liền với các tỉnh phía Bắc và phía Nam, Quốc lộ 26 nối Ninh Hòa với Đăk Lăk và các tỉnh Tây Nguyên.
    Toàn tỉnh hiện có 2.086 km đường giao thông. Trong đó, đường do trung ương quản lý dài 224,38 km, chiếm 10,75%; đường do tỉnh quản lý dài 254,95 km, chiếm 12,21%; dường do huyện quản lý dài 327,47 km, chiếm 15,69% và đường do xã quản lý dài 1.566,97 km, chiếm 75%. Chất lượng đường bộ: Ðường cấp phối, đường đá dăm dài 399,52 km chiếm 19,14%; đường nhựa dài 362,77 km, chiếm 17,38% còn lại là đường đất. Tất cả các xã đã có đường ô tô đến tận trung tâm xã.
    Đường sắt
    Khánh Hòa nằm trên tuyến đường sắt Bắc Nam thuận lời cho việc liên kết với cả nước
    Ga Nha Trang là một trong những ga lớn trên tuyến đường sắt Bắc Nam của Việt Nam. Tất cả các tuyến tàu lửa đều dừng ở đây. Ngoài các tàu Thống Nhất, còn có các chuyến tàu SN1-2, SN3-4 và gần đây có thêm chuyến tàu 5 sao đầu tiên chạy tuyến Sài Gòn-Nha Trang.
    Đường thủy
    Khánh Hoà có 5 cảng biển chính bao gồm:
    cảng trung chuyển container quốc tế ở Khu kinh tế Vân Phong
    cảng kho xăng dầu ngoại quan Mỹ Giang (huyện Vạn Ninh)
    cảng Hòn Khói (huyện Ninh Hoà)
    cảng Nha Trang (Nha Trang)
    cảng Ba Ngòi (thị xã Cam Ranh)
    Hàng không
    Sân bay quốc tế Cam Ranh được nâng cấp ngày 16 tháng 8 năm 2007 tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu trong nước và quốc tế của tỉnh Khánh Hòa cũng như khu vực Nam Trung Bộ
    Danh lam thắng cảnh
    Khánh Hòa là tỉnh có nhiều danh lam thắng cảnh nhờ có bờ biển dài, khí hậu ôn hòa và nhiều di tích lịch sử của vương quốc Champa.
    Tháp Chàm
    Tháp Bà một tháp thờ bà mẹ xứ Ponagar, Thành Hời, miếu Ông Thạch, Am Chúa, Bia Võ Cạnh
    Vịnh Nha Trang là một trong số 29 vịnh biển đẹp nhất thế giới với nhiều danh lam thắng cảnh như
    Vịnh Nha Trang, Hòn Chồng-Hòn Vợ, Hòn Đỏ, Hòn Nội (Đảo Yến), Hòn Ngoại, Hòn Miễu (Thuỷ cung Trí Nguyên), Hòn Tre (Vinperl land), Hòn Tằm, Hòn Mun (Khu bảo tồn biển đầu tiên của Việt Nam), Hòn Lao (Đảo Khỉ), Hòn Thị (Suối Hoa Lan), bãi Tiên, cồn Ngọc Thảo, Bờ biển Nha Trang
    Ngoài ra Nha Trang còn có những danh lam khác như
    Tượng Kim Thân Phật Tổ chùa Long Sơn, biệt thự Bảo Đại, chùa Long Sơn, tượng Kim Thân Phật Tổ, đồi La-San (Đại học Nha Trang), Suối khoáng Tháp Bà, Chợ Đầm, Chùa Trúc Lâm, Nhà thờ Núi, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Hải dương học Nha Trang, Diamond Bay (Wonderpark Resort), Chiến khu Đồng Bò-Mật khu Đá Hang, Chùa Trúc Lâm (Hòn Tre), Nhà thờ Núi
    Ngoài Nha Trang tỉnh còn nhiều thắng cảnh khác như
    Dốc Lết, Thành Diên Khánh, Văn miếu Diên Khánh, Vịnh Vân Phong, Vịnh Cam Ranh, Suối nước nóng Dục Mỹ (Ninh Hòa), Đầm Nha Phu, Lăng Bà Vú, Nhà cổ Khánh Hòa (Diên Khánh và Nha Trang), Mũi Đôi (Cực Đông của Việt Nam), Đầm Bấy, Thác Tà Gụ, Suối Đá, Suối Tiên, Hòn Bà, Thác Yangbay, Bãi Dài (Bắc bán đảo Cam Ranh), Đầm Môn, Dốc Lếch
    Alexandre Yersin, một nhà bác học người Pháp đã gắn bó hơn nữa đời ở Nha Trang cũng đẻ lại cho Nha Trang nhiều công trình tưởng niệm như: Khu tưởng niệm bác sĩ Alexandre Yersin, Thư viện Yersin, Viện Paster Nha Trang, Hòn Bà, Mộ Yersin (Suối Dầu)
    Khánh Hòa có khu nghỉ dưỡng đẳng cấp cao nhất Việt Nam là Evason Hideway tại Ana Mandara (huyện Ninh Hòa) vừa được tờ báo Sunday Times bầu là một trong 20 khu nghỉ tốt nhất thế giới.
    Đặc sản
    Yến sào, một món ăn chế biến từ tổ chim yến
    Trầm hương, một loại hương liệu dược liệu quý hiếm từ cây Dó Bầu
    Ngoài ra, cùng với tỉnh bạn Phú Yên, Khánh Hòa là tỉnh có số lượng lồng nuôi tôm hùm lớn nhất nhì Việt Nam.
    Ngoài những đặc sản trên Khánh Hòa còn nổi tiếng với món Nem - Nem Ninh Hòa.

    ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
    Vị trí địa lý
    Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ của nước ta, có phần lãnh thổ trên đất liền nhô ra xa nhất về phía biển Đông. Phía bắc giáp tỉnh Phú Yên, điểm cực bắc: 12052'15'' vĩ độ bắc. Phía nam giáp tỉnh Ninh Thuận, điểm cực nam: 11042' 50'' vĩ độ bắc.
    Phía tây giáp tỉnh Đăk Lắk, Lâm đồng, điểm cực tây: 108040’33'' kinh độ đông.
    Phía đông giáp biển đông, điểm cực đông: 109027’55'' kinh độ đông; tại mũi Hòn Đôi trên bán đảo Hòn Gốm huyện Vạn Ninh, cũng chính là điểm cực đông trên đất liền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
    Ngoài phần lãnh thổ trên đất liền, tỉnh Khánh Hòa còn có vùng biển, vùng thềm lục địa, các đảo ven bờ và huyện đảo Trường Sa. Bên trên phần đất liền và vùng lãnh hải là không phận của tỉnh Khánh Hòa.
    Hình dạng - diện tích
    Tỉnh Khánh Hòa có hình dạng thon hai đầu và phình ra ở giữa, ba mặt là núi, phía đông giáp biển. Nếu tính theo đường chim bay, chiều dài của tỉnh theo hướng bắc nam khoảng 160km, còn theo hướng đông tây, nơi rộng nhất khoảng 60km, nơi hẹp nhất từ 1 đến 2km ở phía bắc, còn ở phía nam từ 10 đến 15km.
    Diện tích của tỉnh Khánh Hòa là 5.197km2 (kể cả các đảo, quần đảo), đứng vào loại trung bình so với cả nước. Vùng biển rộng gấp nhiều lần đất liền. Bờ biển dài 385km, có khoảng 200 hòn đảo lớn nhỏ ven bờ và các đảo san hô trong quần đảo Trường Sa.
    Tỉnh Khánh Hòa nằm ở vị trí thuận tiện về giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không. Thành phố Nha Trang, trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa của tỉnh Khánh Hòa, là đô thị loại II, một trung tâm du lịch lớn trong cả nước.
    Việc giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Khánh Hòa và các tỉnh trong Nam, ngoài Bắc thuận lợi nhờ đường sắt xuyên Việt và quốc lộ 1A xuyên suốt chiều dài của tỉnh.
    Về phía tây, tỉnh Khánh Hòa tựa lưng vào Tây Nguyên, là cửa ngõ thông ra biển của một số tỉnh Tây Nguyên qua quốc lộ 26.
    1. Nghị quyết của Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ tư, ngày 28-12-1982, đã sáp nhập huyện Trường Sa vào tỉnh Phú Khánh. Hiện nay, Trường Sa là một huyện của tỉnh Khánh Hòa.
    2. Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12-5-1977 về vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: ''Vùng biển ấy có độ rộng bao gồm: vùng nội thủy (từ đường bờ biển đến đường cơ sở), vùng lãnh hải rộng 12 hải lý (tính từ đường cơ sở trở ra); vùng tiếp giáp lãnh hải rộng 12 hải lý (từ mép ngoài đường lãnh hải trở ra), vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý (kể từ đường cơ sở trở ra)'' (một hải lý tương đương 1.852m). Vùng biển tỉnh Khánh Hòa là một bộ phận vùng biển của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
    Tỉnh Khánh Hòa có nhiều cảng biển, đặc biệt Cam Ranh và một cảng thiên nhiên vào loại tốt nhất trong nước và thế giới.
    Về đường hàng không, thành phố Nha Trang và vùng phụ cận có thời tiết thuận lợi để phát triển ngành hàng không, đồng thời là, một trạm tiếp vận thuận lợi cho các đường bay trong và ngoài nước.
    Vị trí địa lý của tỉnh Khánh Hòa có ảnh hưởng lớn đến các yếu tố tự nhiên khác như: khí hậu, đất trồng, sinh vật. Vị trí địa lý của tỉnh Khánh Hòa còn có ý nghĩa chiến lược về mặt quốc phòng, vì tỉnh Khánh Hòa nằm gần đường hàng hải quốc tế, có huyện đảo Trường Sa, cảng Cam Ranh và là cửa ngõ của Tây Nguyên thông ra biển Đông.

    Đồi Trại Thủy, một địa danh nổi tiếng của tỉnh Khánh Hòa

    Đồi Trại Thủy có các tên khác là: Khố Sơn (núi Kho), hòn Xưởng, hòn Trại Thủy; còn người dân địa phương quen gọi nơi đấy là Đồi Trại Thủy hoặc núi chùa Hải Đức.
    Đồi này thuộc tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam, khi xưa từng là nơi chiến địa, nhưng ngày nay hòn được nhiều người tìm đến để tham quan & hành hương, nhờ có những tự viện danh tiếng.
    I. Giới thiệu sơ lược:
    Đồi Trại Thủy nằm ngay ở địa đầu thành phố Nha Trang về hướng Tây. Ngọn đồi cao hơn 30 mét, dài hơn 500 mét, chạy dọc theo Quốc lộ 1A.
    Hình dáng đồi giống một con dơi, nằm sè đôi cánh. Và nơi đầu đồi có một ao nước hình tròn (nhưng ngày nay đã bị dân lấp mất để làm nhà) nên người xưa gọi là "ngọc bức hàm hoàn" (dơi ngọc ngậm vòng ngọc).
    Theo các nhà chuyên môn về địa lý học thì đồi Trại Thủy thuộc hệ thống dãy Trường Sơn. Sơn mạch phát từ hòn Thị ở Diên Khánh, chạy ngầm dưới đất, đến gần cửa sông Cù Giang thì đột khởi thành đồi Trại Thủy.
    Theo các nhà phong thủy thì Trại Thủy là Trấn Thủy Khẩu của dãy Tây Diên Khánh, tức là một cột trụ quan trọng giữ long mạch cho cuộc đất Diên Khánh & Vĩnh Xương...Ngoài ra, núi sông Khánh Hòa còn thể hiện nét đặc trưng “tứ thủy triều quy, tứ thú tụ”, nghĩa là bốn mặt có nước bao bọc. Hai nhánh của con sông Cái Nha Trang: nhánh phía Nam chảy ra Cửa Bé, nhánh phía Bắc chảy ra Cửa Lớn (Xóm Bóng) như vòng tay ôm choàng lấy cuộc đất và phía Đông là biển khơi. Còn “tứ thú tụ” là mượn bốn hòn núi tượng hình nên bốn con thú tụ họp lại để giữ gìn anh khí. Đó là núi Cảnh Long ở Chụt là con rồng, hòn Sinh Trung ở Hà Ra là con voi, đồi Trại Thủy là con dơi, hòn Hoa Sơn (núi Một) là con rùa.
    Đại Nam nhất thống chí chép:
    Khố Sơn ở phía Đông huyện Vĩnh Xương độ hai dặm. Phía Đông Nam có nền cũ kho Phước Sơn nên đặt như thế. Phía Bắc gần sông Ngư Trường. Năm Ất Mão đầu lúc Trung Hưng (1795) đại binh đánh phá tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu ở bảo Khố Sơn tức là chỗ này. Trên núi có đền Quan Công và miếu Ngũ Hành.
    II. Những trang sử liên quan.
    2.1 Năm Quý Tỵ 1653:
    Vua Chiêm Thành là Bà Thấm đưa quân sang quấy nhiễu vùng đất Phú Yên. Chúa Nguyễn Phúc Tần (1620-1687) sai Cai cơ Hùng Lộc dẫn ba ngàn quân vượt đèo sang đánh, vua Chiêm đại bại dâng thư xin hàng và cắt châu ''Kaut Hara'' (Cù Huân) từ sông Phan Rang ra đến đèo Cả dâng cho...Được đất, chúa Nguyễn liền cho dựng ở làng Phước Sơn một cái kho dành chứa lương thực. Vì vậy, theo sử nhà Nguyễn đã dẫn: ''Khố Sơn ở phía Đông huyện Vĩnh Xương độ hai dặm. Phía Đông Nam có nền cũ kho Phước Sơn nên đặt (tên) như thế''.
    - Năm Giáp Ngọ 1774:
    Chúa Nguyễn Phúc Thuần (1754-1777) bị tướng chúa Trịnh là Hoàng Ngũ Phúc (1713–1775) và ba anh em nhà Tây Sơn là Nguyễn Nhạc 1778-1793), Nguyễn Huệ (1753-1792) và Nguyễn Lữ (?-1787) cùng đánh đuổi, phải bỏ thành Phú Xuân chạy vào Nam, thì đất đai từ Quảng Nam trở vào đến [[Bình Thuận đều thuộc quyền cai trị của nhà Tây Sơn. Nhưng mùa thu năm ấy, viên lưu thủ đất Long Hồ là Tống Phước Hiệp (?-1776) cử đại binh cùng Nguyễn Khoa Toàn ra đánh Tây Sơn.
    Theo Quách Tấn & Quách Giao trong sách Nhà Tây Sơn, thì:
    ...Quân Nguyễn đánh chiếm Bình Thuận. Tống Phước Hiệp để Nguyễn Khoa Toàn ở lại, còn mình kéo binh ra đánh chiếm Diên Khánh. Chiếm được, Tống Phước Hiệp chia binh làm hai đạo kéo ra Phú Yên...rồi đưa thư ra Quy Nhơn đòi Tây Sơn Vương (Nguyễn Nhạc) trả Ðông cung Nguyễn Phúc Dương (?-1777).
    Tây Sơn Vương muốn giữ kỹ Nguyễn Phúc Dương để làm con bài phòng khi dùng đến, bèn truyền Nguyễn Huệ xuống Quy Nhơn để lo việc Nam chinh. Năm 1775, Nguyễn Huệ giao vùng Tây Sơn cho Bùi Thị Xuân (?-1802) và Võ Ðình Tú cùng quản đốc, rồi kéo đạo binh người Thượng mới tuyển mộ xuống Quy Nhơn, vượt đèo Cù Mông vào Phú Yên.
    Nguyễn Huệ báo tin cho Nguyễn Văn Lộc và Lê Văn Hưng biết để hợp lực công địch. Quân Tây Sơn cắt đứt liên lạc giữa thủy binh và bộ binh của địch, rồi chia quân làm hai cùng lúc đánh Xuân Ðài và Lãnh Úc. Tống Phước Hiệp bị đánh úp, không kịp trở tay, cả thủy lẫn bộ đều bị tiêu diệt. Phước Hiệp tẩu thoát về Nam. Quân Tây Sơn tiến đánh, lấy lại Diên Khánh và Bình Thuận. Nguyễn Huệ giao việc phòng thủ cho Nguyễn Văn Hưng và Lê Văn Lộc rồi kéo đạo binh người Thượng trở về Quy Nhơn.
    Để có thêm thuyền chiến, Nguyễn Huệ đã cho lập xưởng đóng thuyền tại Khố Sơn và cho đóng quân ở đó để giữ yên mặt biển. Kể từ đấy, Khố Sơn mang thêm tên hòn Xưởng.
    - Năm Quí Sửu 1793:
    Chúa Nguyễn Phúc Ánh (1762-1820) cùng Nguyễn Văn Trương (1740-1810), Võ Tánh (?-1801) đem thủy quân ra đánh Diên Khánh và Bình Khang. Cùng phối hợp có các tướng Tôn Thất Hội, Nguyễn Huỳnh Đức (1748-1819), Nguyễn Văn Thành (1786-1817) được lệnh đem bộ binh ra đánh Bình Thuận.
    Đoàn thuyền chiến của chúa Nguyễn vào cửa Nha Trang, tiến lên Diên Khánh, nhưng vừa đến bến Trường Cá (Ngư Trường, tức Phường Phương Sài bây giờ) thì bị quân Tây Sơn đóng ở hòn Xưởng chận đánh, không sao tiến được.
    Đang lúc thắng thế, thì có tin cấp báo bộ binh Nguyễn đã chiếm được thành Bình Thuận, nên quân Tây Sơn buộc phải rút về trấn giữ Phú Yên. Chúa Nguyễn chiếm cứ được hòn Xưởng, liền cho xây thành đắp lũy nơi phủ lỵ để làm tổng hành dinh, cho lập trại ở dưới chân núi gần bến Trường Cá để đóng quân thủy, cho mở thêm cơ sở ở hòn Xưởng để đóng thêm tàu chiến. Kể từ đó, hòn Xưởng có thêm một tên nữa là hòn Trại Thủy.
    Năm Giáp Dần 1794:
    Nơi hòn Trại Thủy đã xảy ra một trận ác chiến nữa, lược thuật theo Quách Tấn:
    Tháng giêng năm Ất Mão (1795), tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu (1746-1802) lại kéo thủy binh & bộ binh vào đánh Diên Khánh. Thủy binh Tây Sơn bị quân của Võ Tánh, đang trấn giữ ở hòn Trại Thủy, chận đánh tại bến Trường Cá. Trận đánh hết sức kịch liệt. Quân Nguyễn bị giết chết nhiều và chiến thuyền của quân Nguyễn bị phá nát không còn một chiếc. Xác chết và ván thuyền cản dòng nước phải đứng lại. Võ Tánh thất kinh phải đóng chặt cửa thành Diên Khánh cố thủ...
    * Và tháng năm năm Ất Dậu 1885:
    Thực dân Pháp chiếm kinh đô Huế, vua Hàm Nghi (1871-1943) chạy ra Quảng Trị xuống chiếu Cần Vương. Các ông Trịnh Phong, Lê Nghị, Nguyễn Khanh ở phủ Diên Khánh; Trần Đường, Phạm Chánh, Lê Sum ở phủ Ninh Hòa cùng đông đảo nhân dân ở hai phủ trên đều hăng hái hưởng ứng. Lễ tế cờ cử hành vào khoảng cuối tháng bảy năm 1885 tại cánh đồng dưới chân núi Xuân Sơn (Diên Khánh).
    Theo kế hoạch, Khánh Hòa được chia làm hai khu chiến đấu: khu Bắc do Trần Đường làm Tổng trấn, khu Nam do Trịnh Phong làm Bình Tây Đại tướng quân.

    Ở khu Nam, Trịnh Phong cho đóng quân tại hòn Trại Thủy. Khoảng cuối mùa thu năm đó, quân Pháp do De Lorme đổ bộ lên bờ biển Nha Trang đóng quân tại Xóm Cồn...
    Đến cuối tháng mười cùng năm thì xảy ra trận đánh ác liệt trên hòn Trại Thủy. Lợi dụng đêm tối, một viên đội đào ngũ tên Lê Kim Giám đã hướng dẫn quân Pháp kéo lên đánh úp. Trước súng trường và đại bác, quân Việt bị thảm bại đành phải rút chạy về thành Diên Khánh...(Quách Tấn, Bước lãng du, Nxb Trẻ, 1996, tr. 461-466)
    III. Các danh lam:
    Không kể những ngôi chùa tư nho nhỏ ở dưới chân núi bên nhánh phía Tây, năm 2008, đồi Trại Thủy có bốn ngôi chùa lớn, đó là:
    3.1 Chùa Hải Đức:
    Chùa Hải Đức ở nhánh phía Tây, trên đỉnh đồi. Chùa do Viên Giác Thiền Sư, pháp danh Đạt Khương, tục danh Tô Văn Danh, quê quán làng Vạn Thạnh (Nha Trang), cho xây dựng & trụ trì từ năm 1847 đến 1883 dưới triều vua Tự Đức (1829-1883)
    Ban đầu đặt tên là Duyên Sanh Tự, đến năm Thành Thái thứ ba (1891), mới đổi tên là Hải Đức Tự.
    Trước đây, chùa Hải Đức là cơ sở của Viện Phật học miền Trung và hiện nay tự viện vẫn là một Đại Tòng Lâm đẹp nhất của Khánh Hòa, với nhiều tăng phòng, tịnh thất khá đầy đủ tiện nghi nhằm phục vụ cho tăng chúng khắp nơi tụ về tu học.
    Phía sau lưng chùa có xây một tiểu đình để treo một Đại Hồng Chung, cao 1,70 mét, đường kính 1,10 mét, nặng 1009 Kg. Trước 1975, có người đề thơ rằng:
    Trăng lên đồi Trại Thủy,
    Chuông khuya ngời âm ba.
    Bồi hồi mây khóa viện,
    Sân Bồ đề sương sa.
    3.2 Chùa Bửu Phong:
    Chùa Bửu Phong, còn gọi là Linh Phong, người địa phương thường gọi là Chùa Núi. Chùa cũng ở trên đồi Trại Thủy, nơi đầu nhánh phía Nam, cạnh đường quốc lộ 1A.
    Chùa này do người Trung Hoa lập, từ đời Hậu Lê. Trong chùa hiện còn một quả Đại Hồng Chung, có khắc tên ''Bửu Phong Tự'' và năm chú tạo “Tuế Thứ Quí Dậu Niên Tứ Nguyệt Cát Nhật” tức là năm Cảnh Hưng thứ 14 (1753).
    Chùa thờ Quan Thánh tức Quan Vân Trường đời Tam Quốc.
    Nhiều năm không có người phụng tự, chùa trở thành chùa làng (làng Phước Hải). Làng vẫn thờ ngài Quan Thánh, nhưng gian bên trong thờ thêm Bà Thiên Y A Na.
    3.3 Chùa Long Sơn:
    Chùa Long Sơn, trụ sở Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Khánh Hòa, còn gọi là Chùa Phật trắng, trước có tên là Đăng Long Tự, tọa lạc ở số 22 đường 23 tháng 10, phường Phương Sơn dưới chân núi Trại Thủy. Ngôi chùa này được xây dựng cách đây hơn trăm năm, trải qua nhiều lần trùng tu, đến nay đã là một tự viện đẹp đẽ và trang nghiêm nổi tiếng của Khánh Hòa. Mỗi năm chùa Long Sơn tiếp đón hàng chục ngàn lượt du khách đến tham quan và lễ bái.
    Chùa Long Sơn do Hòa thượng Thích Ngộ Chí (1856-1935) pháp danh ''Phổ Trí'', lập năm 1886 với tên gọi ban đầu là Đăng Long Tự. Ban đầu chùa chỉ là một căn nhà tranh nằm tại đỉnh đồi Trại Thủy (nơi đặt tượng Phật trắng hiện nay). Năm 1900, chùa bị sập sau một cơn bão, nên nhà sư quyết định dời xuống chân núi và đổi tên chùa thành Long Sơn Tự.
    3.4 Chùa Lôi Am:
    Chùa Lôi Am tọa lạc ở phần cuối của đồi Trại Thủy, hướng về phía Đông, nằm phía trước bồn chứa nước thành phố và kim thân Phật Tổ. Chùa Lôi Am do Phật Hội Pháp Hoa Việt Nam xây dựng từng phần vào năm 1966...
    IV.Thơ đề vịnh:
    Trong tác phẩm Bước lãng du của thi sĩ Quách Tấn có đoạn, đại để là:
    Năm 1802, tiêu diệt được nhà Tây sơn, chúa Nguyễn lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long. Năm mươi sáu năm sau (1858), tàu chiến của thực dân Pháp nả đại pháo vào cửa Đà Nẵng, rồi lần hồi đặt nền thống trị trên toàn cõi nước Việt, thì cái tên Trại Thủy được chính thức ghi trên bản đồ và trên giấy tờ của nhà cầm quyền. Nhưng kể từ ấy, những gì đã dựng lên trên và chung quanh hòn Trại Thủy đều lần lượt hư nát.
    Thời tiền chiến, Thi Nại Thị lên chơi Trại Thủy có mấy câu cảm khái rằng:
     

    Bước chân lên hòn Trại Thủy,
    Dừng chân anh nghỉ,
    Anh nghĩ chuyện đời xưa:
    Lầm chữ Trung bao kẻ bị lừa,
    Bọc thây da ngựa để dựng cơ đồ cho ai?
    Vơi vơi bể rộng sông dài,
    Đống xương vô định ai người khói hương?
    Thêm thương đoàn nghĩa sĩ,
    Dù khuất vẫn treo gương...
    Cuộc đời dù nắng dù sương,
    Nghìn thu vững chí tự cường cùng non.

    Nha Trang - Những mốc lịch sử

    So với lịch sử mở đất hơn 350 năm của Khánh Hòa, Nha Trang vẫn là vùng đất non trẻ. Từ năm 1653 đến giữa thế kỷ XIX, Nha Trang là khu vực hoang vu nhiều thú dữ thuộc phủ Diên Khánh. Nhưng từ đầu thế kỷ XX, bộ mặt Nha Trang đã thay đổi nhanh chóng.
    Tới năm 1924, Nha Trang trở thành một thị trấn được nâng lên từ các làng cổ Xương Huân, Phương Câu, Vạn Thạnh, Phương Sài, Phước Hải. Thời Pháp thuộc, các cơ quan chuyên môn của chính quyền thuộc địa như Tòa Công sứ, Giám binh, Bưu điện… đều được đặt tại Nha Trang, tuy nhiên, các cơ quan Nam triều vẫn đóng ở Thành Diên Khánh (cách Nha Trang 10km về phía Tây Nam và nằm trên đường Thiên lý Bắc - Nam).
    Năm 1937 Nha Trang được nâng lên thị xã.
    Ngày 27/1/1958, chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành Nghị định 18-BNV bãi bỏ quy chế thị xã, chia Nha Trang thành 2 xã là Nha Trang Đông và Nha Trang Tây thuộc quận Vĩnh Xương.
    Năm 1970, thị xã Nha Trang được tái lập, đóng vai trò là tỉnh lỵ tỉnh Khánh Hòa, gồm 2 quận: quận 1 và quận 2.
    Năm 1971, thị xã Nha Trang được chia thành 11 khu phố, trong đó, quận 1 có các khu phố Vĩnh Hải, Vĩnh Phước, Ngọc Hiệp, Vạn Thạnh, Duy Tân; quận 2 có các khu phố Vĩnh Nguyên, Vĩnh Trường, Phương Sài, Tân Phước, Tân Lập, Phước Hải. Đến tháng 8/1972, các khu phố này được đổi thành phường.
    Ngày 2/4/1975, Nha Trang hoàn toàn giải phóng.
    Tháng 9/1975, quận 1 và quận 2 được hợp nhất thành thị xã Nha Trang.
    Ngày 30/3/1977, thị xã Nha Trang được nâng lên cấp thành phố trực thuộc tỉnh và là tỉnh lỵ tỉnh Phú Khánh (bao gồm hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa hiện nay). Phần đất 7 xã của huyện Vĩnh Xương cũ trước đây là Vĩnh Thái, Vĩnh Ngọc, Vĩnh Hiệp, Vĩnh Lương, Vĩnh Trung, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Phương được cắt ra khỏi huyện Khánh Xương sáp nhập vào Nha Trang. Năm 1978, thành lập xã Phước Đồng thuộc Nha Trang.
    Ngày 1/7/1989, tái lập tỉnh Khánh Hòa từ tỉnh Phú Khánh cũ, Nha Trang là tỉnh lỵ tỉnh Khánh Hòa.
    Ngày 22/4/1999, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định công nhận Nha Trang là đô thị loại 2.
    Ngày 22/4/2009, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định công nhận thành phố Nha Trang là đô thị loại 1.

    Hòn Tằm

    Hòn Tằm nằm ở phía Nam vịnh Nha Trang thuộc thành pho Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Hòn Tằm là một điểm du lịch sinh thái biển đảo hấp dẫn, nơi đây vẫn còn lưu lại vẻ hoang sơ của thiên nhiên với thảm rừng nhiệt đới xanh mướt, bờ cát dài lãng mạn.
    Hòn Tằm là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất của tỉnh Khánh Hòa. Bàn tay con người đã làm cho vẻ đẹp hoang sơ ấy càng trở nên hấp dẫn hơn.
    Có một con đường nhỏ bao quanh đảo, giúp cho du khách thích đi dạo sẽ có dịp ngắm nhìn trời mây non nước... Những chòi lá e lệ nằm dọc bờ cát trắng mịn cùng những tòa nhà thấp thoáng trong rặng cây khiến du khách vô cùng thích thú, và mong muốn được ngả mình nghỉ ngơi dưới bóng mát của những chòi lá ấy. Và trong làn nước biển trong xanh, khách có thể ngắm nhìn đàn cá bơi lội tung tăng, gần đến nỗi tưởng như chỉ đưa tay xuống nước là có thể bắt được.
    Đến hòn Tằm, du khách được lặn thám hiểm biển, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của hòn Tằm từ trên cao trên những chiếc dù bay hoặc có thể đua tốc độ cùng với những con sóng trên chiếc Jestki...có thể chơi bóng chuyền bãi biển, đua xuồng Kayak, leo núi...hoặc nằm dài trên những chiếc ghế ngắm mây trời và sóng biển. Sẽ chẳng có gì thú vị hơn khi được ngả người trên bãi cát ngắm hoàng hôn đỏ rực ráng chiều trên đảo mãi đến khi chúng chìm vào bóng tối.
    Hơn thế nữa, hòn Tằm đã có những dịch vụ chuyên nghiệp và cao cấp, những phòng ngủ sang trọng có truyền hình vệ tinh, điện thoại. Phòng hội nghị có thể tổ chức được các cuộc họp khoảng 100 khách. Những trò chơi mới lạ, hấp dẫn luôn được khám phá, tìm tòi để đổi mới và đổi mới liên tục, đáp ứng yêu cầu của du khách.
    Ở hòn Tằm có dịch vụ lửa trại dành cho du khách muốn nghỉ đêm trên đảo. Khu dã ngoại này có 200 chiếc lều rực rỡ xinh xắn. Tham gia đêm lửa trại, du khách sẽ được uống rượu cần, ăn đồ nướng, và hát hò suốt đêm.

    Suối nước nóng Trường Xuân

    Khánh Hòa có nhiều suối khoáng nóng nằm dọc theo bờ biển: Tu Bông, Vạn Giã, Ninh Hoà, Nha Trang, Đảnh Thạnh, Cam Ranh. Nơi nào cũng có thể xây viện điều dưỡng làm phong phú loại hình du lịch nghỉ mát, du lịch nghỉ dưỡng. Nằm ở Dục Mỹ, xã Ninh Tây, huyện Ninh Hòa, cách Nha Trang khoảng 50 km về phía Tây Bắc. Suối nước nóng Trường Xuân có độ nóng tới 760C và khá tinh khiết, chứa các khoáng chất rất cần cho cơ thể con người, lại là nơi phong cảnh hữu tình, rất gần với quốc lộ. Du khách đến thăm nguồn nước khoáng có thể đi dạo cảnh, tìm hiểu phong tục, tập quán và sinh hoạt của đồng bào hai dân tộc Êđê và RắcLây, dân cư chính ở đây.

    Suối nước nóng Trường Xuân

    Truyền thuyết
    Về tên gọi Trường Xuân, tương truyền rằng có nguồn gốc từ câu chuyện tình của một đôi trai gái Buôn Đung. Cô gái tên Hà Xuân, chàng trai tên Y Trường. Hai người yêu nhau tha thiết, nhưng chẳng may cô gái mang chứng bệnh ngoài da rất nặng mà chẳng có thuốc gì để chữa. Họ hẹn nhau đến dòng suối này để nguyên sinh. May mắn thay đã được cứu sống và điều kỳ lạ đã xảy ra, dòng nước suối đã làm da cô lành bệnh. Họ lấy nhau và sống hạnh phúc. Từ đó suối có tên gọi Trường Xuân.
    Cảnh quan
    Cảnh quan nơi đây rất đẹp. Dòng suối chảy tràn trên những phiến đá được xếp nối tiếp nhau mỗi chiều dài khoảng 30m, ngay chính giữa có một phiến đá trông giống như con rùa, tại đầu rùa có một lỗ trủng giống như cái thau, tại nơi đây nước nóng từ 75 ºC đến 80 ºC cứ trào lên liên tục bốc hơi trắng xóa và có mùi diêm sinh thoang thoảng. Tại đây, du khách luộc trứng gà, nhưng vì không đủ 100 ºC nên trứng gà chỉ chín lòng trắng mà không chín được lòng đỏ.
    Năm 1960, Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho xây tại Suối Nước Nóng một Khu Du lịch và Điều dưỡng Trị bệnh bằng phương pháp thiên nhiên, có nhà trọ, phòng tắm, hệ thống dẫn nước tối tân, nhưng sau năm 1963 chiến tranh lan tràn du khách dần dần vắng bóng, rồi theo thời gian cả một công trình xây dựng chỉ còn là đóng gạch vụn. Ngày nay, Suối Nước Nóng Trường Xuân Dục Mỹ là một Trung tâm Du lịch của tỉnh Khánh Hòa đã thu hút một số lượng du khách đáng kể ở trong và ngoài nước.

    Thác Tà Gụ

    Thác Tà Gụ với vẻ đẹp hoang sơ đầy quyến rũ, là điểm du lịch dã ngoại tuyệt vời trong quần thể du lịch sinh thái Khánh Hòa. Tuy nằm trong không gian hùng vĩ nhưng dòng nước không ồn ào, gào thét mà trầm lắng kín đáo.

    Từ trung tâm huyện Khánh Sơn đi ngược về hướng Tây Nam khoảng 15 km đường bộ là đến địa phận xã Sơn Hiệp. Nơi đây du khách dễ dàng nhận ra cảnh núi non hùng vĩ ở độ cao khoảng 1.300 mét so với mặt biển, có không khí trong lành hòa quyện trong vùng rừng núi với các loại cây nhiều tầng, nhiều tán.
    Xét về mặt địa lý, vẫn có thể coi Khánh Sơn là một cao nguyên rộng lớn của tỉnh Khánh Hòa. Do có vị trí lân cận với Lâm Đồng nên khí hậu nơi đây cũng có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Quá trình tái tạo của vỏ trái đất đã tạo ra những cơn địa chấn cách ngày nay hàng tỷ tỷ năm làm cho điều kiện tự nhiên của vùng núi Sơn Hiệp này có cấu hình khác biệt so với các nơi khác. Chính nơi đây thiên nhiên đã ban tặng cho vùng núi non hùng vĩ Sơn Hiệp dòng thác Tà Gụ.
    Thác Tà Gụ có thể được coi là một trong những thác đẹp nhất hiện nay đã tìm thấy ở Khánh Hòa. Từ ngọn núi Chalo đã tích tụ được những giọt nước xanh mát lạnh tạo thành một dòng chảy êm dịu, nhẹ nhàng đầy quyến rũ. Trước đây thác Tà Gụ được người dân bản địa gọi là thác Ngà. Bởi lẽ, từ xa nhìn thác như một chiếc ngà voi dài buông thõng xuống. Do dòng thác chảy vào suối Tà Gụ nên về sau nó được gọi là thác Tà Gụ.
    So với thác Đatanla hay thác Hang Cọp ở Đà Lạt thì thác Tà Gụ có nhiều điểm ưu việt hơn, tuy nằm trong không gian hùng vĩ nhưng dòng nước không ồn ào, gào thét mà trầm lắng kín đáo trong mọi hoàn cảnh nhờ sự đồng cảm, chia sẽ dòng nước mát lạnh của lòng hồ nằm ôm lấy chân thác. Nước hồ trong xanh, mặt hồ rộng gần 200 m2 nên du khách có thể bơi lội thỏa thích. Nằm về phía bên phải dòng thác khoảng 70 mét, một mỏm núi tách đôi lộ ra một dòng thác phụ đầy vẻ quyến rũ, hùng vĩ và huyền bí.
    Dòng thác Tà Gụ cũng là nơi cung cấp nguồn nước tưới tiêu cho khu vực Tây Nam huyện Khánh Sơn. Dòng nước trải dài từ lòng hồ về xuôi tạo ra một con suối tuyệt đẹp. Dọc theo hai bờ suối gần 1 km đều có chỗ lý tưởng cho du khách dừng chân hoặc dựng trại trước khi tiến lên chinh phục đỉnh thác.
    Du khách đến Khánh Sơn không chỉ khám phá vẻ đẹp của thác Tà Gụ mà còn được tiếp xúc, tìm hiểu về đời sống vật chất, tinh thần của dân tộc Ra Glai, một dân tộc sống mộc mạc, thật thà mà kín đáo.

    Thác Tà Gụ

    Truyền thuyết
    Theo truyền thuyết, ngày xửa, ngày xưa khu rừng này có rất nhiều trăn, có con to như cây Tô Hạp 100 tuổi. Một buổi sáng mùa khô, trời mát mẻ, một bầy trăn từ dưới chân núi bò lên đỉnh kiếm mồi, chúng gặp một con voi lạc mẹ đứng ngơ ngác, một con trăn đầu đàn to khỏe lao tới quật ngã con voi. Cả hai con vật vùng vẫy làm gãy nát cây cối, cuối cùng cả hai rớt xuống vực thẳm, thân hình nát vụn. Voi mẹ mất con đi tìm nhìn thấy con mình đã chết nằm dưới vực sâu, voi mẹ thương tiếc con đứng trên đỉnh núi cao khóc than suốt đêm ngày rồi bỗng dưng hóa đá. Hai dòng nước mắt của voi mẹ hóa thành hai dòng thác.
    Truyền thuyết khác kể rằng, từ thời xa xưa Tà Gụ là một dòng suối trong, tinh khiết, hàng năm vào mùa xuân cây cối xanh tốt nở đầy hoa trái, chim muông tụ hội về hót vang rừng, khí trời ấm áp. Các tiên nữ ở trên trời bay xuống tắm dưới suối Tà Gụ rồi lên đỉnh núi cao xõa tóc dài hóng gió. Một lần có một tiên nữ xuống tắm rồi lên đỉnh núi chải tóc, bầy chim muông thấy tiên nữ đẹp quá rủ nhau bay tới múa hát líu lo. Nàng tiên thích thú vui đùa với chim muông quên mất thời hạn thiên đình cho phép xuống trần. Khi nhớ ra vội bay về trời thì cổng trời đã khép. Nàng tiên nọ đành trở lại, sống mãi dưới trần gian, rồi hóa thành thác Tà Gụ. Mái tóc nàng là hai dòng nước chảy. Từ đó thác Tà Gụ còn có tên là thác Nàng Tiên.
    Cảnh quan
    Nếu đứng ở chân thác nhìn lên thấy 2 dòng nước trắng xóa đổ xuống giống như một thiếu nữ đang đứng cúi đầu xõa mái tóc dài hóng gió. Còn từ trên đỉnh nhìn xuống, thác Tà Gụ giống như hai chiếc ngà voi to, khỏe, trắng muốt trút dài xuống lòng suối.
    Dưới chân thác là hồ nước trong xanh, rộng gần 200m2 nên du khách có thể bơi lội thỏa thích. Nằm về phía bên phải dòng thác khoảng 70m, một mỏm núi tách đôi lộ ra một dòng thác phụ đầy vẻ quyến rũ, hùng vĩ và huyền bí.
    Thác Tà Gụ là điểm du lịch lý tưởng dành cho tất cả mọi người. Người lớn tuổi, lên Tà Gụ sẽ thấy thư giãn, ngồi trên những tảng đá lớn bằng phẳng bên dòng suối ngắm những cây Tô Hạp to khỏe, cao vút; nghe tiếng chim hót líu lo và uống ruợu cần vịnh thơ thì tuyệt vời. Còn đối với tuổi trẻ thích ấn tượng mạnh thì leo lên đỉnh thác thả hồn theo mây gió trong không khí mát lạnh ở độ cao hơn 500m so với mặt biển thì hẳn có nhiều điều thú vị. Ngoài ra, du khách đến Khánh Sơn không chỉ khám phá vẻ đẹp của thác Tà Gụ mà còn được tiếp xúc, tìm hiểu về đời sống vật chất, tinh thần của dân tộc Raklai, một dân tộc sống mộc mạc, thật thà mà kín đáo.

    TRUYỀN THUYẾT SUỐI HOA LAN

    Nói đến suối Hoa Lan là người ta nói đến chiến khu Hòn Hèo - căn cứ địa cách mạng ở chiến trường Nam Trung bộ trong hai cuộc chống Pháp và chống Mỹ mà ngày 16-7-1930 đã đi vào lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Khánh Hòa một cách oai hùng và âm hưởng của nó vẫn còn vọng mãi đến mai sau…
    Suối Hoa Lan nằm trong dãy núi Hòn Hèo, cách Nha Trang khoảng 18km về phía Bắc. Suối dài khoảng 6km, được hình thành từ nhiều suối nhỏ của những ngọn núi trong dãy Hòn Hèo. Dọc suối có đủ loại cây rừng mọc quấn quýt bên nhau thành tầng thành lớp. Đặc biệt, suối có rất nhiều hoa phong lan. Sau khi chảy qua những ghềnh thác cheo leo, suối Hoa Lan đổ nước trực tiếp vào đầm Nha Phu. Nối đầm Nha Phu với dãy Hòn Hèo là một khoảng đất bằng, diện tích khoảng 20 ha, nghĩa là chỉ trong một khoảng không gian không rộng lắm nhưng KDL suối Hoa Lan đã trải mình qua cả 3 hình thế: núi cao, đồng bằng và biển cả.
    Chuyện kể rằng cách đây rất lâu, lâu lắm rồi bên đầm Nha Phu có một đôi trai gái yêu nhau say đắm, nhưng không thể nào tiến tới hôn nhân được chỉ vì lý do duy nhất là chàng trai quá nghèo. Cha mẹ cô gái ra điều kiện bất cứ ai muốn cưới con mình về làm vợ thì trước hết phải có năm chục ký yến sào và một trăm ký trầm hương để làm vật sính lễ. Không còn sự lựa chọn nào khác, cô - cậu đều hạ quyết tâm bí mật dắt nhau lên núi Hòn Hèo tìm trầm hương rồi sau đó tiến ra biển để hái yến sào. Như bị lạc vào nơi ốc đảo “không một dấu chân người”, họ cứ đi đi mãi mà vẫn không thấy trầm hương đâu - cho đến khi màn đêm buông xuống lúc nào không hay. Vừa mệt, vừa đói lại vừa khát nước, cả hai thiếp đi trong giấc ngủ. Khi tỉnh dậy thì không còn thấy người yêu đâu cả, cô gái đau đớn lần theo dấu vết từng giọt máu, nhưng bóng dáng người bạn trai thân yêu của mình vẫn “biệt vô âm tín”. Và tiếng khóc của người con gái cũng lịm dần đi trong sự tuyệt vọng, chỉ có nước mắt là vẫn chảy, chảy mãi theo các khe đá như dòng nước trong lành - hễ nước mắt thấm vào đâu là chỗ có vết máu của chàng trai lại hiện lên những chùm phong lan rực rỡ sắc màu, đung đưa trong gió…
    Không biết cái tên “suối Hoa Lan” ra đời có giống như câu chuyện tình đầy nước mắt vậy không? Nhưng dù sao cũng “khen ai đã khéo đặt tên” - vừa thực, vừa mộng, vừa có ấn tượng về một vùng đất huyền thoại. Nó góp thêm vào bộ sưu tập “suối” của tỉnh Khánh Hòa càng thêm phong phú. Đó là suối Đổ, suối Ngỗ, suối Ồ Ồ, suối Ba Hồ, suối Đá Xẻ, suối Cát và suối… Hoa Lan. Có thể nói, ở duyên hải miền Trung chưa có một hòn đảo hay bán đảo nào có dòng nước ngọt tuyệt vời hơn suối Hoa Lan. Có lẽ bán đảo Hòn Hèo (suối Hoa Lan) giống như một con khủng long rúc đầu vào núi và duỗi cái đuôi ra biển. Nhờ vậy mà hệ thống mạch ngầm từ dãy Trường Sơn dồn về tắm mát quanh năm, tạo độ ẩm cho các loài thực vật phát triển. Nơi đây là thế giới của lan rừng. Ngày trước lan rừng nhiều lắm - là nơi hội tụ của nhiều giống phong lan như: từ vũ nữ, phượng hoàng, tai trâu, đuôi sóc, đuôi chồn, đuôi gà, tiên nữ, quế hương…. Nó mọc ra từ thân cây cổ thụ hoặc bám vào vách đá, đến đây lúc nào cũng gặp hoa nở, cùng với tiếng chim rừng vang hót líu lo. Người ta còn tận dụng nguồn nước ngọt trời cho này để xây bể nuôi hàng nghìn con cá sấu. Những chú voi con từ bản Đôn đưa về đây còn tinh nghịch thập thò cái vòi bé bỏng ra câu nhử cá sấu làm trò vui cho du khách.

    Sự tích về hòn đảo màu đen (Hòn Mun)

    Ấn tượng đầu tiên về Hòn Mun là sự tương phản sắc màu giữa biển và đảo. Nổi bật giữa màu xanh rất lạ của nước biển là màu đen của hòn đảo, trông chẳng giống đảo chút nào. Có gì mà ở đây lại thu hút nhiều du khách thế nhỉ?!
    Hòn Mun cách thành phố Nha Trang 1giờ 30 phút đi bằng canô
    Đây từng là ngọn núi lửa phun phún thạch. Theo thời gian, bề mặt đổi màu, tạo thành hòn đảo với chiếc áo đen. Địa danh này càng trở nên đặc biệt khi được thổi vào hơi thở của những câu chuyện cổ xưa.
    Tương truyền, có ông tiên nhìn trộm các nàng tiên tắm. Không may, ông bị phát hiện. Tức giận, các tiên nữ về tâu ngọc hoàng. Ông tiên nọ bị đày xuống trần, chỗ Hòn Mun bây giờ, làm công việc đẽo đá. Ông bắt đầu đẽo từ hướng Đông và Đông Nam, bổ rìu từ trên đỉnh xuống, lấy rẻo đá quẳng sang phía Tây, tạo nên hình dáng đảo bây giờ: hướng Đông là vách đá dựng đứng, còn phía Tây toàn là đá tảng.
    Sau một thời gian, thấy ông tiên làm việc chăm chỉ, các tiên nữ động lòng, xin ngọc hoàng xóa lệnh phạt, cho "người trót dại" về nhà trời.
    Ngày nay Hòn Mun là khu bảo tồn biển quốc gia, nơi bạn có thể lặn ngắm hàng nghìn sinh vật biển cả ngày không chán

    Chùa Hang và Giếng Phật


    Trong các cuốn cẩm nang du lịch, du khách sẽ không tìm thấy tên của chùa Hang (TP.Nha Trang). Nhưng, có thử một lần tận mắt ngắm nhìn từng tảng đá khóm hoa, và tận tai nghe kể về những câu chuyện kỳ ảo của ngôi chùa này từ ngày khai sơn lập tự đến nay, du khách mới thấy ra đây quả là một chốn thiền môn huyền diệu của xứ trầm hương.
    Đi theo con đường chạy bọc phía sau lưng Tháp Bà, sừng sững trên triền núi xanh, chùa Hải Ấn nổi bật lên với tường màu vàng nhạt và những vòm mái cong cong màu đỏ. Dân quanh vùng cũng thường gọi bằng hai tiếng thân quen đầy cung kính: Chùa Hang. Trong chùa có một cái hang ăn sâu lên trên đỉnh núi, dân kể rằng xưa đó là một "hổ huyệt". Trong chiến tranh chống Mỹ, quân đội Đại Hàn đến chiếm đóng đã san bít đường từ hang lên đỉnh núi. Vào năm 1968, ni sư Chánh Lượng đến đây lập một am thờ Phật ngay trong hang, ở suốt trong hai năm liền, "nhất bộ nhất bái" (mỗi bước một lạy) trì kinh Pháp Hoa để cầu nguyện được lập nên một ngôi chùa. Chùa được xây phía bên ngoài cạnh hang động, đến năm 1971 thì hoàn thành.
    Hang động nay vẫn còn đó, nép bên chánh điện nguy nga, hai bên cửa hang có bộ tượng "Khuyến Thiện - Trừng Ác" trấn giữ, vào bên trong hang không khí khác hẳn, im ắng, chừng như nghe được tiếng thì thầm của những tảng đá trắng nhám sần sùi vô tri. Trong hang nay có thờ những tượng Phật, Bồ Tát, và tổ khai sơn. Từ khi ni sư khai sơn viên tịch, chùa vẫn được tu bổ xây dựng thêm rất nhiều công trình tạo nên một chốn thiền môn đầy hoa sắc, rộng rãi hơn, tráng lệ hơn...
    Đặc biệt là giếng nước trong chùa. Giếng nằm bên ngoài phía trước dãy nhà trù, trên một tảng đá xanh rì. Xưa, ni sư khai sơn đã cho đào thử nhiều giếng nước, nhưng nước bị nhiễm mặn nên không sử dụng được như tất cả các giếng nước quanh vùng vì ở gần cửa biển. Không đầu hàng, ni sư phát nguyện trì kinh "Ngũ Bách Danh" (năm danh hiệu Phật, cứ mỗi lần xưng tán một danh hiệu Phật thì phải đành lễ một lạy), để cầu tìm nguồn nước ngọt cho chùa, cũng như cho dân trong vùng.
    Rồi ngày nọ, ni sư đã chỉ cho đám thợ khoan giếng địa điểm để lấy nguồn nước: Ngay bên trên tảng đá khổng lồ. Ban đầu, thợ khoan giếng không dám nhận công việc này, vì họ sợ làm hao tài tốn của nhà chùa mà sẽ không được gì, nhưng sự quả quyết của ni sư đã thuyết phục được họ, vậy là họ khoan xuống tảng đá xanh cứng. Thật kỳ diệu, khoan sâu xuống lòng đá hơn mười mét thì gặp trúng mạch nước ngọt mát lạnh và trong vắt. Giếng nước ngọt được tìm thấy, nguồn nước tràn trề quanh năm, người dân quanh khu vực ngày đêm quẩy gánh xách thùng đến xin nước về dùng từ đó đến nay, và dân chúng nghiêng mình cung kính gọi đó là giếng Phật.
    Ni sư trụ trì chùa hiện nay đang có dự định xây dựng những dãy bậc cáp tận phía trên đỉnh núi cho hợp với nghĩa "du sơn", cả ngọn núi phía sau lưng chùa sẽ mọc lên những tượng đài, gác chuông... tạo nên một cảnh quan kỳ thú...

    Khu du lịch sinh thái Tiếng Đá


    Để góp một tiếng nói tôn vinh đàn đá, ông Mà Dá A, dân tộc T'ring, Khánh Vĩnh, Khánh Hòa đã có sáng kiến tổ chức du lịch sinh thái tại xã Gianh Ly. Địa chỉ này cách thành phố Nha Trang hơn 40km.
    Là huyện miền núi phía tây tỉnh Khánh Hoà, Khánh Vĩnh được thiên nhiên ban tặng một nguồn tài nguyên với thảm thực vật rất phong phú. Nơi đây lại có nhiều dân tộc chung sống như: Kinh, Rag Lai, Ê Đê, T'ring, Tày... trong đó dân tộc Rag Lai chiếm đến 50%.
    Đồng bào các dân tộc Khánh Vĩnh có những sinh hoạt văn hoá phong phú mang tính cộng đồng như lễ mừng lúa mới, lễ bỏ mả, lễ đâm trâu... Đặc biệt, họ là chủ nhân của một loại nhạc cụ độc đáo - đàn đá. Họ còn chế tạo ra các dàn đá bên cạnh nguồn nước suối phát ra tiếng kêu để đuổi thú rừng mà giữ nương rẫy. Hằng ngày, tiếng đàn đá hoà cùng tiếng suối tạo nên khúc nhạc trầm bổng, độc đáo của núi rừng, điểm tô thêm cho đời sống văn hoá của đồng bào...
    Đến nay, trên địa bàn huyện Khánh Sơn và Khánh Vĩnh tỉnh Khánh Hoà người ta đã tìm được hàng chục bộ đàn đá có niên đại cách ngày nay khoảng trên 2.000 năm. Để góp một tiếng nói tôn vinh loại nhạc cụ độc đáo của núi rừng, ông Mà Dá A, dân tộc T'ring, nguyên Chủ tịch xã Giang Ly, Khánh Vĩnh đã có sáng kiến tổ chức du lịch sinh thái núi - rừng - suối - đá tại xã Gianh Ly (cách trung tâm thị trấn huyện Khánh Vĩnh 14 km về phía tây và cách thành phố Nha Trang trên 40 km). Điểm du lịch này cũng chính là nương rẫy của gia đình ông, nằm cạnh một con suối, giữa một khu rừng có nhiều tán cây râm mát, nhiều tảng đá lớn và đẹp.
    Ông Mà Dá A đã lên tận huyện miền núi Khánh Sơn, quê hương của những bộ đàn đá nổi tiếng, tìm về 7 thanh đá có 7 thanh âm khác nhau để thiết kế một bộ đàn đá như bộ đồng bào miền núi vẫn dùng làm công cụ để đuổi thú rừng, chim chóc. Ông treo các thanh đá theo thứ tự từ thanh trầm đến thanh cao dần rồi lợi dụng sức nước chảy gõ lên các thanh đá phát lên những âm thanh trầm bổng, dồn dập. "Dàn nhạc đá" này thực sự là một loại đàn tự động của thiên nhiên, tạo ra những bản nhạc vui tai suốt ngày đêm, đem đến cho khách du lịch niềm vui không dứt.
    Khu du lịch của ông mới hoạt động được hơn một năm nay. Mọi thứ vẫn mang vẻ nguyên sơ với những túp lều mái tranh, vách lồ ô làm nơi cho khách nghỉ qua đêm. Đến đây du khách sẽ được thưởng thức những sản vật của đồng bào miền núi: các món gà nướng, luộc, gà nấu canh chua lá giang hoặc cơm gạo lúa rẫy cùng với những ché rượu cần nồng say.

    Hướng dẫn du lịch Nha Trang

    Sơ lược
    Là một thành phố ven biển và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, du lịch của tỉnh Khánh Hòa. Nơi đây còn được biết đến như một thành phố của lễ hội: Festival Biển, Hoa hậu Hoàn Vũ 2008, Hoa hậu Thế giới 2010,… Các bãi biển đẹp của thành phố này đã biến nơi đây trở thành một danh lam thắng cảnh thu hút khá nhiều du khách đến nơi đây.
    Nơi đây có khí hậu ôn hòa, giao thông thuận lợi cả về đường thủy, đường bộ, đường hàng không và đường sắt. Đặc biệt ở Nha Trang có nhà ga lớn nhất trong tuyến đường sắt Bắc Nam của Việt Nam. Tất cả các tuyến tàu lửa đều dừng ở đây. Ngoài các tàu Thống Nhất, còn có các chuyến tàu SN1-2, SN3-4 và gần đây có thêm chuyến tàu 5 sao đầu tiên chạy tuyến Sài Gòn-Nha Trang.
    Nha Trang với điều kiện thiên nhiên ưu đãi cả về vị trí, cảnh quan thiên nhiên, khí hậu, cùng với nền tảng về lịch sử và nhân văn tạo dựng nên một Nha Trang có khả năng phát triển nhiều loại hình du lịch đa dạng.
    Đi những đâu?
    Nhìn về hướng Ðông - Nam Nha Trang có một cụm đảo nằm liền nhau, lớn nhất là Hòn Tre rộng gần 25km2. Ra đảo bằng thuyền buồm mất 2 giờ đồng hồ trong khi đi thuyền máy khoảng 20 phút. Hòn Tre là đảo lớn nhất nằm trên vịnh Nha Trang cách thành phố Nha Trang 5km về phía Đông và cách cảng Cầu Đá 3,5 km. Từ đây nhìn thẳng ra khơi còn một số đảo nhỏ nữa. Chính những đảo này với ưu thế biển kín, sạch làm thành những bãi tắm yên tĩnh, đẹp tuyệt vời cho Nha Trang. Khi tham quan đảo du khách sẽ càng ngạc nhiên hơn nữa với tuyến cáp treo vượt biển dài nhất Đông Nam Á qua đảo Hòn Tre nối liền khu du lịch Vinpearl với cảng Cầu Đá.Ở vùng phía Tây Nha Trang là đồi núi bạt ngàn với những đỉnh cao trên dưới 1000m, có nhiều thú, chim. Du khách có thể tham gia những buổi đi săn lý thú.
    Một nơi nữa cũng nổi tiếng không kém đảo Hòn Tre đó là đầm Nha Phu, là một trong hai đầm lớn nhất Khánh Hòa. Đầm Nha Phu nằm dưới chân Hòn Hèo cách thành phố Nha Trang khoảng 15km, đầm chạy dài khoảng chục cây số và rộng khoảng 1500 ha.Nơi đây đã mọc lên nhiều khu nghỉ mát lý tưởng, mang đến cho du khách dấu ấn khó phai: Hòn Lao, Hòn Thị, Suối Hoa Lan và khu nghỉ mát Ninh Vân với những nếp nhà gỗ nằm sát mép nước

    Đầm Nha Phu

    Đến Nha Trang muốn ra thăm đảo mà ngại đi ra quá xa thì ghé qua Hòn Miễu thuộc vịnh Nha Trang. Hòn Miễu là đảo gần bờ nhất trong số các hải đảo ở Nha Trang, chỉ mất hai mươi phút bằng thuyền máy là đến nơi. Trên đảo có hai địa điểm tham quan du lịch là hồ cá Trí Nguyên và bãi tắm Bãi Sỏi. Thủy cung Trí Nguyên là bộ sưu tập các loài cá biển và thực vật biển , sinh vật biển theo mô hình mở. Nằm cách hồ cá Trí Nguyên chừng vài trăm mét bằng cách băng ngang qua đảo. Gọi là Bãi Sỏi vì bãi tắm ở đây không hề có cát mà chỉ thấy toàn sỏi đá, tròn vo, nhẵn thín từ bờ chạy ra biển nước trong xanh nhìn thấy đáy. Bãi Sỏi còn giữ được nguyên vẻ hoang sơ, trước mặt là biển, sau lưng là khu rừng nguyên sinh với nhiều đại thụ và dây leo chằng chịt. Một nơi cũng quen thuộc gắn liền với cái tên Nha Trang khi mà người ta nhắc đến là Hòn Chồng. Một thắng cảnh tự nhiên ở thành phố Nha Trang, thuộc khóm Hòn Chồng gồm 2 cụm đá lớn nằm bên bờ biển dưới chân đồi Lasan. Khu vực này là một bãi đá được xếp chồng lên nhau một cách tự nhiên. Ngoài ra còn có Hòn vợ ở gần đó và Hội quán vịnh Nha Trang có dạng nhà rường Huế được xây ở phía trên.
    Tham quan biệt thự Cầu Đá- Lầu Bảo Đại cách trung tâm thành phố 6km, là một di tích lịch sử văn hoá, một cụm khách sạn biệt thự nổi tiếng của thành phố Nha Trang.Và đây cũng là một công trình kiến trúc đẹp, có sự kết hợp hài hòa giữa phong cách kiến trúc Pháp với nghệ thuật hoa viên Phương Đông. Đây từng là nơi nghỉ mát của vua Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu. Nó được xây dựng trên 3 ngọn đồi nhô ra sát biển của ngọn núi Chụt (núi Cảnh Long), thuộc khóm Cầu Đá. Đến đây, du khách không chỉ được tận hưởng không khí trong lành mà còn có cơ hội nhìn ngắm vẻ đẹp của thành phố biển Nha Trang.

    Bạn đã từng biết đến tháp Chàm ở Quảng Nam, Ninh Thuận thì ở Nha Trang cũng nổi tiếng không kém bởi tháp Bà một di tích của người Chăm vẫn còn tồn tại nơi đây. Dường như du khách nào đến Nha Trang cũng đi thăm tháp Bà. Quần thể tháp Bà Nha Trang đã tồn tại trên thế kỷ, gồm có 4 tháp công trình này đã từng bị tàn phá bởi chiến tranh và đã được xây dựng lại nhiều lần.

    Tháp Bà

    Đi lần vào trong tháp chính du khách sẽ được chiêm ngưỡng tòa tháp cao 22,48m đặt tượng nữ thần Ponagar bằng đá mà trước kia được là bằng vàng đã bị đánh cấp. Tượng cao 260cm có 10 tay ngồi trên một Yoni vuông vức cạnh 150cm. Tới đây, du khách thường cúng bái, xin quẻ cầu mang lại may mắn, cầu tài cho gia đình. Du khách sẽ có cơ hội tham gia những lễ hội đặc sắc diễn ra hằng như lễ hội thay áo và tắm bà.
    Đi khoảng 45km nữa, du khách sẽ đến được thác Yangbay nằm lọt sâu trong rừng nguyên sinh màu mỡ và những dãy núi, ở độ cao 100m so với mực nước biển. Khi đến đây rồi thì bạn sẽ được tận hưởng không khí trong lành mát dịu của vùng bán đảo sơn địa, khung cảnh núi rừng, thác hòa quyện nhau với nhau. Sau đó ghé sang thác nhân tạo Yangkhang(Yangbay1) du khách sẽ tha hồ đằm mình trong thác nước trong, mát lạnh.
    Rời thác Yangbay đến đảo Khỉ như một Hoa Quả Sơn với vài ngàn con khỉ. Ở đây, không chỉ có khỉ mà còn có đáy biển rất đẹp. Lặn sâu dưới đáy là những thủy cung : những đám hải quỳ như thảm hoa xao động, từng đàn cá đầy màu sắc bơi lượn trong những đám san hô, những đám san hô nở toe như những hoa hồng đại dương. Nhưng du khách nào “ghiền” độ cao sẽ leo lên những vách núi cheo leo để thử sức hay thám hiểm hang động sâu dưới hang nước. Du khách có thể đứng trên mỏm đá cao nhất của Hòn Chồng để ngắm cảnh biển, nhìn bầu trời xanh. Nhìn xa xa là Hòn Yến, cảng Cầu Đá, những hàng phi lao.
    Đến thăm ngôi chùa Long Sơn hay còn gọi là chùa Phật Trắng tọa lạc dưới chân núi Trại Thủy-Nha Trang. Chùa được xây dựng cách đây hơn một trăm năm và bây giờ là một trong những ngôi chùa nổi tiếng nhất ở Khánh Hòa. Tọa lạc trong một khuông viên rộng 44.5m, dài 72m. Bên cạnh chùa là Giảng đường của Trường Trung cấp Phật học Khánh Hòa và trụ sở của Giáo hội Phật giáo Khánh Hòa. Chính điện rộng 1.670 m², có một tượng Phật Tổ bằng đồng đang ngồi thuyết pháp, cao 1,6 m, nặng 700 kg. Chùa có bức tượng Kim Thân Phật Tổ (còn gọi là tượng Phật Trắng)được xếp vào sách kỷ lục Guiness Việt Nam : “Ngôi chùa có bức tượng Phật ngoài trời lớn nhất Việt Nam” tượng cao 21 m, đài sen làm đế cao 7 m. Xung quanh đài sen là chân dung bảy vị hòa thượng, đại đức đã tự thiêu để phản đối chính sách đàn áp Phật giáo của Ngô Đình Diệm.
    Du khách không những được vui chơi, tham quan nhiều thắng cảnh đẹp mà đến đây còn được thưởng thức những món ăn đậm chất Nha Trang. Với món bánh canh không giống bất kỳ ở một địa phương nào hết, chất ngọt của cá ở nơi đây cộng với bột bánh canh tạo nên một hương vị khó quên cho những ai đến đây.

    Suối Ba Li

    Cách trung tâm TP. Nha Trang khoảng 30km về phía Nam, suối Ba Li nằm trên địa bàn 2 xã Cam Tân và Cam Hòa, huyện Cam Lâm (trước kia thuộc thị xã Cam Ranh).
    Suối Ba Li bắt nguồn từ núi Chiến, là một trong hệ thống các suối Tranh, suối Thượng (núi Chà Pau), suối Rích, suối Cóc (núi Nhọn)… đổ nước về hồ chứa nước Cam Ranh. Người dân địa phương gọi tên hồ này theo tên con suối gần nó nhất là hồ Ba Li. Đây là một trong những hồ chứa nước lớn của miền Trung và Tây Nguyên. Trước khi có hồ chứa nước này, toàn bộ các suối trên đổ về sông rồi chảy vào đầm Thủy Triều, Cam Ranh.
    Hồ Ba Li được xây dựng năm 1993 và hoàn tất năm 1997. Với diện tích lưu vực 59,4km2, đập cao 23,2m, hồ chứa 22,1 triệu m3 nước, cấp nước sinh hoạt cho 70.000 hộ dân và năng lực tưới tiêu theo thiết kế là 2.300 ha. Huyện Cam Lâm và thị xã Cam Ranh là vùng bán sơn địa, trên địa bàn hầu như ít có sông suối nào chảy qua nên toàn bộ điều kiện tưới tiêu phụ thuộc vào hồ chứa nước, nguồn nước từ các suối đổ về.
    Suối Ba Li là điểm du lịch nổi tiếng của huyện Cam Lâm. So với các suối khác, đây là nơi thuận tiện đi lại, vui chơi cắm trại và vẫn còn tương đối hoang sơ nên đảm bảo được yêu cầu sinh thái, nghỉ ngơi, dã ngoại…
    Có nhiều đường đi đến suối Ba Li. Từ trung tâm TP.Nha Trang theo đường 23/10, đi thẳng Quốc lộ 1A, đến địa phận huyện Cam Lâm, qua đường nhíp khoảng 1 km, có tấm bảng lớn chỉ đường vào Làng xã hội Cam Tân. Rẽ theo đường này đi khoảng 3km là đến suối Ba Li. Đường vào suối được láng nhựa, qua làng mạc, ruộng đồng, cảnh thôn quê đẹp, thanh bình, yên ả. Gần đến khu vực suối sẽ thấy hồ Ba Li. Không khí bắt đầu mát mẻ có lẽ do mặt thoáng của hồ rộng chăng? Từ đập tràn, mặt nước xanh mênh mông, lấp lánh, nhìn ngút mắt. Con đường chạy dài dọc theo hồ đi lên suối. Bên kia hồ là cánh rừng dày đặc, xanh um. Càng đi lên, không khí càng dịu. Vào địa điểm gửi xe máy, khách bắt đầu thả bộ xuống đập tràn, từ đây có nhiều con đường mòn rẽ nhánh lên suối. Đi theo những con đường mòn này vào rừng, chưa đến một cây số là có nơi để cắm trại.
    Cái khác biệt của suối Ba Li so với nhiều suối khác đã đưa vào khai thác du lịch là dòng suối này có nhiều đường nhánh rẽ, do đó muốn qua bờ bên kia để cắm trại, khách phải lội qua các dòng nước này. Điểm đặc biệt nữa mà ở những nơi khác không thấy là ở đây có nhiều bãi cát (dạng bãi bồi) cho khách cắm trại, gần sát với mặt nước, tạo cho khách cảm giác giống như cắm trại bên bờ sông mà lại nghe tiếng nước đổ từ trên cao xuống.
    Chọn một bãi cát bên kia suối, khách bắt đầu xắn quần lội qua. Tuy khoảng cách chỉ có 2m nhưng rất khó qua vì đá có nhiều rêu, dễ trơn trợt. Tuy nhiên, nước bên dưới không sâu lắm, chỉ đến quá đầu gối một chút. Chịu ướt thì qua cái một, còn không thì nhón nhén trên đá cho đồng đội kéo qua.
    Bên kia “bãi bồi”, dưới một tán cây to, bóng nắng hầu như chỉ xuyên qua lốm đốm. Nắng nhẹ và nhạt nên không sợ “cháy” da. Trải tấm bạt, đội hậu cần bắt đầu chuẩn bị. Gà làm sẵn, lấy gia vị ra ướp. Một nhóm khác đi kiếm củi khô. Trong chốc lát một con gà được nằm trên giàn nướng. Bếp ga mini nấu nồi lẩu gà lá… me hái trong rừng. Đồ ăn nguội mang theo… Thế là có bữa trưa đơn giản mà ngon!
    Ăn xong, du khách có thể nằm lơ mơ trên đá một chút, hoặc thơ thẩn đâu đó xong tắm suối, chơi trò chơi, hay thám hiểm rừng… Rừng ở đây có một loài hoa màu trắng nhỏ xíu, mọc thành từng vạt, lấp lánh trong nắng, rất đẹp! Thậm chí bạn chỉ cần nằm trên một tảng đá và ngắm mây trời, nghe tiếng suối róc rách, tiếng chim hót bên tai… cũng đã là một sự thư giãn tuyệt vời!
    Hãy thử vui chơi suối Ba Li vào một ngày cuối tuần để tận hưởng những gì thiên nhiên ban tặng cho con người!

    Hồ Tiên

    Hồ và suối cùng nhau tạo thành một thắng cảnh nổi tiếng thu hút khách đến tham quan. Biết bao giai thoại đã có ở vùng hồ suối này.
    Nhà thơ Đinh Phong đã cảm tác cảnh vật với huyền thoại tại đây như sau:

    “Suối Tiên nước chảy lững lờ,
    Tiên đi đâu để bàn cờ rêu phong?
    Mây trôi ngày tháng theo dòng,
    Bền gan đá vẫn ngày mong đêm chờ.
    Chờ mong sắp sửa cuộc cờ.
    Thú vui chung cả đôi bờ Bắc Nam.
    Động tiên chưa bén gót phàm.
    Hồ tiên sóng vẫn gợn chàm long lanh.
    Cây cao hoa lá sum cành,
    Ráng mây nỡ để nặng tình nhớ thương.”


    Sở dĩ gọi bằng hồ Tiên vì nhân gian có lời truyền rằng ngày xửa ngày xưa tại nơi đây có tiên xuống tắm mát. Thực tế hồ có cảnh quan vừa trữ tình, vừa tuyệt mỹ cũng đáng gọi là hồ Tiên rồi, chẳng cần rõ ngày xưa kia có tiên xuống tắm thật hay không.
    Nước hồ trông thấy tận đáy, có cát trắng phau. Chỉ cần nhìn thấy đã thích, không cần đợi tới việc bơi lội, vùng vẫy trên mặt nước.
    Ở vùng hồ suối này còn có những điểm đặc biệt khác:
    - Trên một tảng đá rộng lớn và bằng phẳng nữa nằm dưới nước nữa ở trên bờ, có in chữ “điền” và chữ “khẩu” Hán tự, nét đã mờ rêu. Chung quanh có một ít đá vụn vỡ hình tròn do mưa gió mài mòn. Người ta bảo rằng đây là bàn cờ Tiên.
    - Ở suối phía trên, nhiều hòn đá chồng chất lên nhau tạo thành hang động, nhiều chỗ có thể dùng làm chỗ ngồi nghĩ chân, thư giãn. Chung quanh có nhiều cây rậm mát và hoa rừng toả mùi hương thoang thoảng dễ chịu. Người ta cũng nói rằng đây là động Tiên.
    Vì đã có động Tiên, bàn cờ Tiên, hồ Tiên cho nên gọi con suoi đẹp mỹ miều kia là suối Tiên cũng phải.Có một giai thoại lí thú:
    “Người ta nói rằng thuở xưa các tiên ông, tiên bà, tiên cô xuống chơi ở vùng này. Tiên ông ngồi đánh cờ, tiên bà ngoạn cảnh. Ai mỏi mệt thì vào động nghĩ ngơi.
    Một hôm có một tiên ông vì quá chén ngủ quên trong hang động, lúc tỉnh dậy một mình đi xuống suối. Bất ngờ lúc ấy có nhiều tiên nữ đang tắm phía dưới.
    Tiên ông khoái mắt, cũng như người trần tục, phá lên cười một cách thoả thích. Các tiên nữ giật mình hổ thẹn, vụt bay vút lên trời, bỏ lại cả xiêm y trên bờ hồ. Những xiêm y này biến thành mây ngũ sắc bay vờn trên các cây cổ thụ...”

    Còn một truyện khác cũng thường được nhắc đến trong các tour dã ngoại tới đây:
    “Trong thời kì các tiên còn đến chơi vùng suối hồ này, có ông khổng lồ đến ngoạn cảnh. Ông bước chân lên những tảng đá đầy rong rêu, vì lơ đễnh nên bị trượt chân. Ông giật mình, chân bấm vào đá, tay bấu vào vách đá cho khỏi té ngã. Ông khổng lồ chống quá mạnh đến nỗi bàn tay lún vào đá, một khoảnh vách bị bể vỡ văng ra tận mé cửa biển Cù Lao, hóa thành hòn chồng Đực, hòn chồng Cái. Vì đó mà có dấu tay trên hòn đá chồng cho đến ngày nay. Còn chân ông bấu cũng mạnh quá, đến nỗi lưu dấu mãi mãi ở suối Tiên.”

    Cụm thắng cảnh du lịch Vân Phong - Đại Lãnh - Vũng Rô

    Cách Nha Trang khoảng 80km về hướng bắc là cụm du lịch liên hoàn Vân Phong - Đại Lãnh - Vũng Rô, một trong những thắng cảnh nghỉ ngơi đẹp nhất khu vực châu Á, vượt hẳn biển Phuket ở Thái Lan và có thể sánh với những thắng cảnh tuyệt vời trên thế giới. Đó là niềm tự hào và vinh hạnh cho du lịch nước ta được tổ chức du lịch thế giới đánh giá cao như thế.

    Hấp dẫn danh thắng Đại Lãnh
    Phong cảnh Đại Lãnh được liệt vào hàng danh thắng của đất nước từ thời vua Minh Mạng được chạm vào một trong cửu đỉnh ở Huế. Biển Đại Lãnh là bãi biển đẹp vào bậc nhất ở nước ta, trong số 3.000km bờ biển Việt Nam chỉ có bãi tắm Đại Lãnh là sạch và xanh nhất nước, do nơi đây còn nguyên sơ không bị ô nhiễm của công nghiệp, vì xa nơi dân cư. Bãi tắm Đại Lãnh cát trắng mịn màng, nước biển trong xanh, độ thoai thoải ra xa, có nhiều nguồn suối từ núi đổ xuống quanh năm, mát lạnh nằm ẩn mình trong rừng thùy dương, tạo khung cảnh thơ mộng mê hồn.


    Từ hừng đông sáng, không khí Đại Lãnh tĩnh mịch, yên ả chỉ nghe tiếng hàng dương tấu nhạc, vi vu, tiếng sóng vỗ rì rào. Buổi trưa, biển đậm nét xanh rì, nắng chói chan, bầu trời như trải rộng. Buổi chiều, chuyển sang màu xanh nhạt, gió từ đại dương thổi vào mát dịu. Hoàng hôn buông xuống cảnh núi non, biển cả như hút hồn người khiến lữ khách phải xao xuyến. Đây là điểm tắm biển rất quyến rũ.

    Vũng Rô kỳ tích


    Toàn cảnh Vũng Rô có núi Đá Bia - Thạch Bi Sơn, là một nhánh của dãy Trường Sơn, núi Đá Bia nhô hẳn ra biển Đông, kéo dài tạo thành bán đảo che chắn gió cho Vũng Rô. Vì thế, cảng Vũng Rô có độ sâu 15 - 16m mà quanh năm sóng yên, biển lặng. Trước năm 1975, nơi đây từng là cảng tiếp tế hậu cần cho hàng loạt căn cứ quân sự kéo dài cả 20km. Chính Vũng Rô là bến cảng tiếp nhận vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến đấu từ hậu phương lớn miền Bắc chi viện cho chiến trường Quân khu 5. Nhiều tấn vũ khí, đạn dược, muối gạo, thuốc men đã bốc lên từ cảng Vũng Rô và vận chuyển đường này để đến tay các chiến sĩ giải phóng, cán bộ hoạt động bí mật trong các căn cứ cách mạng và đô thị miền Nam. Tại đây, còn xác con tàu không số từ miền Bắc chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực vào tiếp tế bị lộ, nên các chiến sĩ ta đặt chất nổ đánh đắm tàu không cho địch cướp vũ khí.Đứng trước lưng chừng Đèo Cả phía Nam, du khách dừng chân phóng tầm mắt ra xa, nhìn toàn cảnh Vũng Rô hùng vĩ, núi Đá Bia uy nghi, những đảo xa, đảo gần tập kết tạo nên bức tranh hoành tráng đẹp cực kỳ với trời cao, biển rộng bao la để tưởng nhớ Vũng Rô - Thạch Bi Sơn đã bao phen chứng kiến những bước thăng trầm của lịch sử đất nước tạo nên những kỳ tích còn lưu dấu để hậu thế soi chung.
    Đến Nha Trang - Phú Yên mà không đến cụm du lịch Vân Phong - Đại Lãnh - Vũng Rô là điều vô cùng thiếu sót. Du khách đến tắm biển một lần là nhớ đời và không quên hẹn sẽ tái ngộ lần sau.

    Bãi biển Bình Ba

    Bãi biển Bình Ba (xã Cam Bình - thị xã Cam Ranh) tuy không dài, rộng nhưng có những bãi cát mịn màng, đủ để níu chân những du khách yêu thích vẻ hoang sơ của biển. Du khách có thể ngồi trên những mỏm đá, lắng nghe tiếng sóng vỗ và ngắm mặt trời lặn…
    Rời bến đò Cảng Ba Ngòi - Cam Ranh, Bình Ba đón bạn trong không khí nhộn nhịp của một bến tàu gần khu dân cư. Tuy nhiên, phía sau khu dân cư tấp nập lại là một không gian tĩnh lặng đến bất ngờ của những bãi biển.
    Nơi tôi đặt chân đến đầu tiên là bãi Nồm. Bãi Nồm tuy không dài, rộng như những bãi biển lớn nhưng sự mịn màng của bãi cát trắng thoai thoải đủ để níu bạn dừng chân. Gió mát rười rượi, không gian yên tĩnh. Nước biển trong vắt, ôm lấy những mỏm đá nhiều kiểu dáng.
    Ngồi trên những mỏm đá ấy, nghe tiếng sóng rì rào vọng vào vách núi bên cạnh, bạn sẽ cảm nhận được bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp của bãi Nồm. Dân địa phương cho biết, vào mùa hè, bãi Nồm trở thành bãi tắm của ngư dân trên đảo. Những đêm có trăng, phong cảnh đẹp hơn nhiều, du khách ở thị xã Cam Ranh qua đảo thường tụ tập ở đây ngắm biển đêm và sinh hoạt vui chơi đến tận sáng.
    Rời bãi Nồm, men theo con đường mòn đầy cây và hoa dại, bạn sẽ đến bãi Chướng. Do cách xa nhà dân nên bãi Chướng còn rất hoang sơ. Bãi Chướng hấp dẫn du khách không phải bởi cát mịn như bãi Nồm, mà bởi những vỏ ốc ngũ sắc rất đẹp, bởi những khối đá nhấp nhô dưới ghềnh, tung bọt trắng xóa, những vách đá dựng đứng cùng một số hang động gợi trí tò mò.
    Người thích mạo hiểm, có thể men theo sườn núi khám phá các di tích đã hoang phế như ụ đại pháo, lô cốt phòng thủ…, nguyên là khu vực đồn trú của quân Pháp trước đây, hay trèo lên những chóp đá cao ngắm sóng, thưởng thức vẻ đẹp của núi và biển lúc hoàng hôn, hoặc khám phá vẻ đẹp của san hô cùng nhiều loài sò, ốc, hến ngũ sắc sinh sống ở biển.
    Bình Ba còn có nhiều bãi biển hoang sơ khác như: Bồ Đề, Nhà Hành, Cây Me, Hòn Cò…, nằm khuất giữa những eo núi và biển mà con người khó đặt chân tới. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Ân - Phó Chủ tịch UBND xã đảo Cam Bình, trong tương lai, sẽ có một đường giao thông chạy quanh đảo, nối các bãi biển với nhau thành một vòng du lịch khép kín. Đây cũng là ý tưởng mà các nhà làm du lịch hướng tới sau nhiều lần đến đây khảo sát địa hình.
    Ở đảo Bình Ba, người dân sống rất hiền hòa, thân thiện. Gần 700 hộ dân đều theo nghề biển, nuôi tôm hùm. Bình Ba vốn nổi tiếng với đặc sản duy nhất là cháo tôm hùm. Buổi trưa, du khách có thể len lỏi qua các con đường nhỏ hẹp, đến thưởng thức món bánh canh, bánh cuốn nhân hải sản trong khu dân cư, hoặc uống cà phê và hát karaoke khi đêm xuống.
    Ở đảo, không có quán ăn hay dịch vụ phòng nghỉ nên du khách cần nhớ mang theo hành trang khi dã ngoại. Bạn có thể thoải mái nhóm một đống lửa rồi nghỉ qua đêm ngoài trời tại bãi Nồm. Bạn cũng có thể dễ dàng nghỉ nhờ qua đêm ở nhà dân, bởi người Bình Ba rất hiếu khách. Đây cũng là cơ hội để bạn khám phá phong tục, tập quán của cư dân ở vùng đất giàu tiềm năng du lịch này

    Xá sùng: Món ngon mà lạ ở Cam Ranh (Khánh Hòa)

    Đặc sản này được chế biến khá cầu kỳ và có hương vị vô cùng hấp dẫn. là có tiếng hơn cả. Con xá sùng chính là con giun biển, lớn hơn giun đất, đẹp đẽ hơn. Nó sống ở các đụn cát ven biển (nơi giao lưu giữa sông và biển). Xá sùng ngày càng có giá do được dân nhậu yêu thích.
    Việc phát hiện ra con xá sùng và đưa vào làm món ăn, lúc đầu chỉ với mục đích để nhậu chơi cho vui. Không ngờ sau đó, món ăn này được dân nhậu đồn xa, các nhà hàng đi tìm tới nơi đặt mua. Thế là đến nay, giá mỗi ký xá sùng đã lên tới 70.000 đồng, còn một đĩa xá sùng lèo tèo cũng đã 30.000 đồng.
    Xá sùng loe ngoe không có gì hấp dẫn. Người đầu bếp cắt khúc, lộn lại cho sạch ruột như lộn ruột heo non, chẻ ra rồi xát muối cho khỏi tanh. Thế là con xá sùng trở nên trắng nõn, dễ thương. Người nhậu nếu thấy con xá sùng lúc còn sống, trườn trong đất chắc không dám ăn. Nhưng xá sùng nướng lên thì thơm và ăn rất ngọt.

    Nước mắm Cửa Bé: Đặc sản của thành phố biển Nha Trang

    Khách du lịch mỗi khi có dịp đến thành phố biển Nha Trang đều cố gắng tìm cho được vài chai nước mắm Cửa Bé, niềm tự hào của người dân nơi đây, để dùng dần hoặc làm quà cho bạn bè, người thân.
    Cửa Bé là làng chài ven biển (nay thuộc phường Vĩnh Trường), cả trăm năm nay bà con sinh sống chủ yếu nhờ nghề chế biến nước mắm. Đi qua đường Võ Thị Sáu đến bến cá Vĩnh Trường, lúc nào cũng thấy người mua kẻ bán, nhất là khi tàu cá trở về sau chuyến đi biển thắng lợi. Tại đây, mùi nước mắm trộn trong không gian, thậm chí còn thấm vào quần áo. Người ta gọi đây là con đường nước mắm quả không sai.
    Nước mắm Cửa Bé trở thành tên gọi quen thuộc từ khi người dân làng chài đựng mắm trong những thùng gỗ, chở xe đạp đến từng ngõ, từng nhà rao bán. Hiện thứ nước chấm này đã trở thành thương hiệu nổi tiếng, được người tiêu dùng khắp nơi ưa chuộng. Cả làng có hơn 200 hộ chuyên làm nước mắm, nhiều hộ đã đăng ký nhãn hiệu hàng hóa như Nha Trang, Hải Việt, Ngọc Hoài, Ngọc Hải...
    Để làm được loại nước mắm này thì ta phải chọn loại cá cơm ngoài khơi, biển Nha Trang có một bãi cát mênh mông, là nơi sinh sống của loài cá cơm, nguyên liệu tốt nhất để làm nước mắm. Cũng là cá cơm nhưng cá ở đây có mùi thơm kỳ lạ, tạo nên vị đặc trưng cho nước mắm Cửa Bé.
    Cá cơm sau khi đánh bắt ở biển về thường để cho ươn rồi mới chế biến nước mắm bằng cách trộn với muối theo tỉ lệ 1/1. Ngày xưa, các nhà làm nước mắm (còn gọi là nhà thùng) ướp cá trong các thùng bằng gỗ, mỗi thùng chứa vài trăm kg rồi dùng vỉ tre nén chặt, đậy nắp cho cá ngấu (chín rục cùng với muối).
    Từ lúc chèn cá đến khi cho ra loại nước mắm đầu tiên (gọi là nước mắm sống) phải mất khoảng 6 tháng. Sau khi lấy nước mắm sống, người ta cho muối vào thùng cho đến khi mắm có màu trong vàng, lúc này gọi là nước mắm nhĩ. Nước mắm nhĩ có độ đạm cao (trung bình 36%) dành để ăn sống, nghĩa là không pha chế. Sau giai đoạn lấy mắm nhĩ, người ta tiếp tục đổ muối vào để làm nước mắm loại hai. Khâu cuối cùng là dùng xác cá nấu với muối, pha thêm nước màu đường để làm loại nước mắm dùng chế biến món ăn.
    Hiện kỹ thuật chế biến nước mắm đã thay đổi khá nhiều. Nhà sản xuất thay thùng gỗ bằng thùng hoặc hồ xi măng, thời gian ủ cũng rút xuống còn bốn tháng nhưng hương vị nước mắm Cửa Bé vẫn không thay đổi. Hình ảnh các nhà thùng chở nước mắm đến từng gia đình rao bán đã trở thành quá khứ, thay vào đó là máy bơm, ống hút đổ vào bình nhựa hoặc dùng máy móc đóng chai, dán nhãn. Nghề làm nước mắm phát triển góp phần giúp cuộc sống của người dân làng chài no ấm, đủ đầy hơn.

    Tắm bùn Nha Trang - những điều cần biết

    Được mệnh danh là "Địa trung hải của Việt Nam", "Thành phố Rio de Janeiro của miền Trung Việt Nam", thành phố biển Nha Trang (Khánh Hòa) giống như một "chiếc boong tàu đầy nắng" với các điểm và cụm du lịch hấp dẫn: Tháp Bà, Hòn Tằm, Hòn Lao, Hòn Mun, Hòn Hèo, suối Hoa Lan, Vịnh Nha Trang (mới được công nhận là một trong những vịnh đẹp nhất thế giới)..

    Đặc biệt, ngoài các ngọn núi, bãi biển, cầu cảng..., du khách còn được thưởng thức một "đặc sản" mới lạ: tắm bùn. Tắm bùn được chia thành 8 giai đoạn, chủ yếu gồm những công đoạn chính sau đây:
    * Sau khi thay đồ tắm, du khách được hướng dẫn làm sạch cơ thể bằng nước khoáng nóng trong một cái sân với nhiều vòi nước phun lên từ mặt đất.
    * Sau đó là công đoạn chính: tắm bùn, thoa bùn lên mặt, lên tóc và dội khắp thân thể.
    * Sau 15 phút ngâm bùn, bạn được hướng dẫn công đoạn thứ ba là phơi nắng, để da có thời gian hấp thụ những khoáng chất trong bùn.
    * Phơi nắng xong, nhân viên hướng dẫn lại yêu cầu mọi người tắm cho sạch bùn, sau đó ngâm người trong hồ chứa nước khoáng nóng, hồ bơi, thác nước, cuối cùng là khâu "ôn tuyền thuỷ liệu pháp". Điều đặc biệt là cứ hết một công đoạn nước lạnh lại đến một công đoạn nước nóng, xen kẽ nhau như vậy đúng 4 lần.
    Thác nước khoáng ấm và "ôn tuyền thuỷ liệu pháp" là hai dịch vụ mới của Trung tâm Du lịch suối khoáng nóng Tháp Bà. Đây thực chất là hình thức massage, xoa bóp, nhưng là massage, xoa bóp bằng nước. Ở thác nước khoáng ấm, nước từ trên thác chảy xuống mạnh và "nặng" như những động tác đấm bóp bằng tay khiến bạn quên đi mệt mỏi. Còn với "ôn tuyền thuỷ liệu pháp", bạn sẽ được xoa bóp toàn thân với hàng ngàn tia nước ấm phun rất mạnh từ hai bức tường đá xây song song và cách nhau khoảng 1m. Ngoài hai công đoạn bị giới hạn thời gian: ngâm bùn (15 phút) và ngâm nước khoáng nóng (40 phút), du khách có thể thỏa sức ngâm, tắm mà không thấy chán.
    Có một điều chú ý nhỏ dành cho du khách khi đến tắm bùn để chữa trị những bệnh lý hay chỉ để thư giãn sau những ngày làm việc mệt nhọc, để tác dụng của việc tắm bùn thật hiệu quả bạn không nên tắm lại bằng nước lạnh, và nhất là tắm lại bằng xà phòng (bao gồm các lọai xà phòng có chất tầy rửa cao hay thấp đều không nên), vì khi tắm lại bằng xà phòng bạn sẽ làm trôi đi lớp khoáng chất của bùn còn lại trên da làm giảm bớt tính hiệu quả của bùn.
    Lưu ý khi đi tắm bùn khoáng nóng ở những người suy tim cấp, khi ngâm tắm toàn thân có thể gây nên các phản ứng như mệt mỏi, căng thẳng, mất ngủ, choáng váng. Cần chú ý nhiệt độ, thời gian tắm khác nhau của mỗi người. Sau mỗi lần tắm ngâm toàn thân phải lau khô người và nằm nghỉ 10-20 phút.

    Sông Dinh (sông Ninh Hòa)

    Bắt nguồn từ núi Vọng Phu (cao 2.051 mét), núi Đa Đa (cao 1.709 mét), có độ dài 51 km. Cách đây 300 năm, tỉnh Khánh Hòa xưa có tên là dinh Thái Khang, cơ quan cai trị đóng tại địa phận Ninh Hòa ngày nay, vì con sông chảy qua trước dinh quan Thái Thú nên dân gọi là sông Dinh. Sông Dinh có ba phụ lưu là: sông Cái dài khoảng 43 km, sông Đá dài khoảng 30 km và sông Lốt (Đá Bàn) dài khoảng 37 km. Vào mùa lụt nước sông Cái đỏ ngầu chảy cuồn cuộn. Do dòng chảy dài trên vùng đồi núi, sông Dinh đã kiến tạo một số hồ, thác đẹp, thơ mộng và các vùng rừng đa dạng có cảnh trí thiên nhiên tuyệt đẹp hai bên bờ.

    ẩm thực Nha trang - Khánh Hòa ^^

    Gà "chỉ" Cam Ranh-nét đặc trưng ẩm thực mới cho dân sành ăn
    Cũng giống như cái tên quán " chè hé" ở đường 3/2 Đà Lạt- nghĩa là cái quán này bán chè cánh cửa lúc nào cũng mở he hé, không đưa bảng hiệu thành ra 1 cái tên chết của quán luôn.
    Gà "chỉ" Cam Ranh, nghĩa là khách đến quán bước ra vườn tự tay chọn lựa gà. Khách chỉ con nào, chủ quán bắt con ấy. Muốn chế biến món gì, chủ quán sẽ làm. Nếu không phải dân "sành ăn", có thể nhờ chủ quán “tham mưu”:Làm món gì- gà hấp, nướng, nấu lá giang, luộc, bóp gỏi, chiên mắm, nấu cháo… Thích gà mái hay gà trống?..........
    Chú ý: Gà mái luộc mau mềm, còn gà trống nặng cân, xương cứng nên thường được ăn nướng. Nhà bếp mau chóng cắt tiết, làm lông tại chỗ.
    Điều khác biệt làm nên tiếng ngon đồn xa cho món gà chỉ Cam Ranh là nhờ chủ quán lấy gà của người dân tộc vùng núi, lông đen, chân nhỏ, được thả rong nên thịt săn chắc, không mỡ, không bệu, chân vàng...
    Chỉ trỏ chọn lựa xong, rửa tay rửa mặt, ngồi thư giản dưới bóng cây, chờ món ăn dọn lên
    Bánh tráng chấm mắm ruốc
    Cách đây vài năm dọc đường Trần Phú bán đầy rẫy, nhưng vì văn minh cho Nha Trang trong mắt du khách, nên các hàng quán "bánh tráng chấm mắm ruốc" di dời vào Công viên Yến Phi, đường Nguyễn Chánh xung quanh trường CĐSP...
    Đã là người Nha Trang sống ở NT hay đi đâu xa cũng không bao giờ quên
    nỗi hương vị món ăn đơn sơ, giản dị " bánh tráng chấm mắm ruốc" này.
    Bún sứa Nha Trang
    Buổi sáng, điểm tâm món bún sứa với chả cá (hoặc cá dầm) nóng hổi, kèm theo giá sống và bắp chuối non xắt mỏng, trong cái gió biển hây hây thì còn gì bằng. Món bún sứa Nha Trang phong phú sắc màu và đậm đà hương vị.
    Món sứa là nguyên liệu chính trong tô bún nóng hổi
    gồm có sứa, tôm, cua, thịt ba chỉ, chả cá hấp hoặc chả cá viên có điểm
    thêm mùi thơm của đậu phụng rang, vài lát ớt cay và không thể thiếu vị
    mặn nồng nàn của mắm ruốc. Thịt sứa mát và giòn, nhất là chân sứa, mùi
    vị đặc biệt khó quên dù trộn chung với thịt, cua, tôm...
    Đến thành phố biển Nha Trang, bạn đừng quên thưởng thức món bún sứa.
    Những người xa Nha Trang, khi trở về thăm thành phố cũ, thường không
    quên ghé lại quán bún sứa bên đường để thêm một lần thưởng thức món ăn
    đượm đầy mùi vị quê hương.
    Bánh canh chả cá Nha Trang
    Bánh canh chả cá Nha Trang là món ăn đặc sản mà khách đến vùng biển này phải tìm ăn bằng được. Có hai loại chả cá: Chả hấp và chả chiên, đều có vị ngọt thơm, hấp dẫn như nhau.
    Chả cá Nha Trang nổi tiếng ngon do làm từ cá tươi, từng đĩa chả cá chiên vàng, được bày trên bàn các hàng bánh canh, bún cá buổi chiều rất hấp dẫn. Cá để làm chả thường là các loại cá ngon: cá mối, cá thu, cá thửng, cá rựa, cá nhồng, cá chuồn, cá cờ v.v... nhưng ngon nhất để làm chả là cá thu, cá mối, cá rựa. Chả cá có hai loại chả hấp và chả chiên, có người thích ăn chả chiên vì nó thơm, có người thích ăn chả hấp vì nó ngọt. Dù là chiên hay hấp, chả cá luôn có một vị đặc trưng giống nhau: dai, mềm, ngọt vị cá, đậm đà hơn nếu chấm một chút xíu nước mắm tỏi ớt đậm đặc.
    Làm chả cá rất đơn giản, tuy có hơi nhọc công bởi khâu giã cá: cá tươi, rửa sạch, nạo lấy thịt. Hành, tỏi tiêu, gia vị giã nhuyễn, bỏ cá đã nạo vào cối quết thật nhuyễn, món chả cá càng quết nhuyễn thịt càng dai, quết đến khi thật nặng tay thì thôi. Chả được vê lại thành vê để chiên. Nếu là chả cá hấp thì cho thêm ít mỡ khổ xắt hột lựu, một ít nấm mèo xắt nhỏ trộn đều, hấp đến khi gần chín đập vào một cái trứng cho bề mặt có mầu vàng.
    Chả cá là nguyên liệu chính của món bánh canh hay bún cá. Cá sau khi đã lóc hết thịt, lấy xương, xương ninh lấy nước, nồi nước ngọt bởi xương cá, nêm gia vị tùy theo bánh canh hay bún cá. Nếu bún cá thì khi ăn cho vào ít hành tây, cà chua và ăn kèm với rau sống. Bánh canh thường có ba loại: bánh canh bột gạo, bánh canh bún và bánh canh bột lọc. Bột lọc được làm bằng bột mì hay bột năng và bánh canh bột lọc thường phải nấu với cua. Bánh canh bột gạo làm như làm bánh phở; bánh canh bún là một loại bún cọng to.
    Buổi xế chiều từng hàng bánh canh, bún cá được dọn ra, trên bàn là đĩa chả cá chiên vàng, một khay chả cá hấp mầu vàng óng, một thau nhỏ vừa hành lá xắt nhỏ, vừa hành củ được chẻ thành sợi, một hủ hành khô phi vàng, cạnh đấy là đĩa chanh được cắt thành từng miếng nhỏ và tô nước mắm ớt tỏi đậm đặc. Bà bán hàng múc tô bánh canh nghi ngút khói, bỏ vào một nhúm chả cá chiên đã xắt thành từng miếng nhỏ, cho vào một ít hành lá, một ít hành củ, rưới thêm tí tiêu, bỏ thêm ít hành phi...
    Thực khách vắt vào tô bánh canh một miếng chanh, cho thêm chút mắm ớt, tỏi, xì xà, xì xụp húp, kêu thêm một đĩa chả cá hấp, bên trên phủ một lớp hành tây thái mỏng, chấm với nước mắm ớt tỏi đậm đặc. Chỉ có năm ngàn đồng một tô bánh canh, đĩa chả cá hấp một ngàn đồng. Ăn xong thực khách hài lòng với món ăn dân dã mà đầy hương vị.
    Bonus: các địa điểm bánh canh ngon ở Nha Trang :
    - Bánh Canh bà Thừa trên đường Yersin.
    - Bánh canh ở sát bên tòa án Thành Phố, đường Nguyễn Trãi.
    - Bánh canh Đầu cá thu đầu đường Vân Đồn.
    - Bánh canh cửa bé.
    ..... và còn rất nhiều địa điểm khác nữa.

    Bánh ướt Ninh Hòa - Món ăn dân dã và nổi tiếng.
    Ninh Hòa không chỉ nổi tiếng vì phong cảnh non nước hữu tình, mà còn nổi tiếng với các món ăn như: Nem chua, bún lá cá dằm (Ninh Quang), đặc biệt là món bánh ướt ở Ninh Bình…
    Có thể nói, bánh ướt Ninh Hòa là một món ăn dân dã nhưng rất ngon
    miệng. Nó không chỉ được người trong tỉnh biết đến mà còn thu hút đông
    đảo khách ở các địa phương khác.
    Nem nướng Ninh Hòa
    Mọi người biết đến Ninh Hòa, Khánh Hòa bởi món nem chua. Nhưng có một món nem khác chẳng chua tí nào nhưng đã thuộc vào hàng danh thực, trở hành món ăn không thể thiếu đối với người dân Khánh Hòa cũng như khách du lịch đến với thành phố biển.
    Ăn nem nướng Ninh Hòa tại Nha Trang sẽ thấy
    không có gì khác biệt từ quê gốc của nó cách Nha Trang 34 cây số. Cách chế biến,
    pha chế nước mắm, cũng đều theo cách của cả gần mấy chục năm nay.
    Trước
    khi giới thiệu "đặc sản nem nướng", xin dẫn dắt đôi dòng về cách chế biến
    nem.
    Nem chua chủ yếu làm bằng thịt đùi còn nóng ở những con heo lớn dùng
    chày hoặc máy xay giã (hoặc xay) nhuyễn rồi giã sơ lại, sau đó trộn gia vị tỏi,
    tiêu, da heo thái nhỏ. Để cho nem lên chua chỉ có hai loại lá là chùm ruột và
    vông nem. Lá chùm ruột làm nem ngon hơn, lại có rất nhiều ở Khánh Hòa. Vị chua
    của nem nhờ lá chùm ruột rất lạ khác xa với nem chợ Huyện (Bình Định) làm bằng
    lá ổi hoặc nem Thủ Đức (TP. Hồ Chí Minh) làm bằng lá vông nem.
    Thường khi
    khách vào quán nem, ngoài phần nem nướng đã gọi, trên bàn luôn có sẵn một đĩa
    nem chua và chả lụa để cho khách ăn chơi. Nem chua ăn kèm với tỏi và nước chấm
    gồm ớt, tỏi, đường, nước mắm pha sệt. Vị nước mắm ngọt cay ăn với nem rất hấp
    dẫn.
    Hiện nay, tại địa bàn Nha Trang có khoảng hai chục
    tiệm bán nem phục vụ vào buổi chiều đến tối như các quán nem nằm trên đường
    Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Lợi, Hoàng Văn Thụ, Lê Thành Phương, Trần Đường...,
    nhưng đông khách hơn cả là quán Đặng Văn Quyên và Ngọc Tiên.
    Làm nem
    nướng thì gồm có thịt xay nhuyễn hoặc bằm nhỏ nướng lụi, bánh tráng chiên giòn
    (bánh tráng cuốn nhỏ, bỏ vào chảo dầu cho phồng lên).
    Một phần nem nướng
    khá cầu kỳ gồm khoảng 6-8 miếng thịt băm lụi, cũng số lượng đó miếng bánh
    tráng chiên giòn. Ăn kèm với món nem chính là các loại rau. Rau ăn nem nướng
    không phức tạp, nhưng cũng có cả chục loại đủ mùi cay, chua, chát... Tùy theo
    mùa rau có thể được bày ra gồm: dấp cá, hẹ, húng quế, tần ô, xà lách, dưa leo,
    chuối chát, khế (hoặc xoài sống)... , có nơi có thêm dưa chua và hành
    chua.
    Sự thành công hay thất bại của quán lại rơi vào món nước chấm.
    Nước chấm là loại nuớc lèo pha chế với công thức riêng của nơi bán. Khi ăn,
    dùng bánh tráng nem (sản xuất tại làng Diên Thủy, Diên Khánh, Khánh Hòa). Bánh
    tráng không nhúng nước, bỏ rau vào, bỏ thịt lụi, bánh tráng chiên giòn vào,
    cuốn lại, chấm nước lèo mà ăn. Rất ngon!

    Bánh mì Nha Trang

    Thật là thiếu sót khi bạn đã từng đến Nha Trang (Khánh Hòa)mà chưa ăn thử một ổ bánh mì ở đây. Ăn rồi mới thấy, bánh mì Nha Trang không giống với bánh mì ở bất cứ nơi nào!
    Cái khác trước nhất là độ giòn và đặc ruột. So với bánh mì Sài Gòn xốp và thơm mùi bơ, bánh mì Nha Trang hoàn toàn khác hẳn. Độ giòn của bánh mì Nha Trang có lẽ khiến người ta ăn một lần nhớ mãi, mùi thơm đặc trưng của bột nướng, không bơ khiến ổ bánh mì ăn không thấy ngán. Cái khác thứ hai nữa là về hình thức, bánh mì Nha Trang đặc biệt có hai đầu nhọn, nhiều người bị “ghiền” phần này, cầm đến ổ bánh mì là bẻ hai cái chóp “thanh toán” trước tiên!
    Có người cho rằng, người Pháp đã đem vào Việt Nam món bánh mì, nhưng khi người Việt tiếp thu cái công nghệ bánh mì này, họ đã làm cho nó hoàn thiện hơn, Việt Nam hơn và… ngon hơn cả bánh mì của Pháp. Nhiều người còn cho rằng, bánh mì Nha Trang hơi giống với bánh mì baguette của Pháp. Tuy nhiên, nói không quá, đã “kết” bánh mì Nha Trang rồi, chắc có lẽ bánh mì baguette cũng không “xi-nhê”! Bánh mì Nha Trang ngon nhất là khi vừa mới ra lò. Bánh giòn mềm, nóng hổi; ngồi nói chuyện chơi, có khi ăn hết một ổ hồi nào không hay. Chính vì không có mùi bơ mà bánh mì Nha Trang ăn với gì cũng ngon: chấm với sữa đặc có đường, chấm với đường, quết bơ, ăn với trứng ốp-la… Thậm chí, nhiều người còn khoái ăn bánh mì chấm với… xì dầu hoặc nước mắm ớt tỏi!
    Nếu chỉ tính bánh mì ổ, không tính những tiệm bánh lớn như Thiên Hòa, Đức Phát bán chủ yếu bánh mì mềm sandwich thì, 2 “tập đoàn” bánh mì có tiếng ở Nha Trang chính là “Ba Lẹ” và “Nguyên Hương”.
    Bánh mì Ba Lẹ nổi tiếng với nhân thịt nguội (chả lụa, pâte, jambon…) và đặc biệt là nhân cá. Cá ở đây là cá bò hay cá ngừ, nhưng được chế biến ngon không thua gì cá hộp. Bí quyết riêng của Ba Lẹ không chỉ chế biến từ cá mới đánh bắt tươi xanh mà còn là những gia vị mà có lẽ khó có nơi nào bắt chước được. Một ổ bánh mì 6.000 đồng, kèm với ly cà phê sữa cho buổi sáng là vừa túi tiền của giới công chức hay người lao động.

    Bánh mì Nguyên Hương không cầu kỳ với đủ thứ nhân như Ba Lẹ nhưng có cái ngon kiểu khác, thanh tao hơn, thích hợp cho những người không thích nhiều gia vị. Một gắp hành lá chẻ sợi, miếng dưa leo xắt mỏng, dài đặt dọc theo ổ bánh rồi sau đó hàng loạt miếng chả lụa, chả quế sắp theo, xịt chút xì dầu, rưới tí muối tiêu, thêm vài lát ớt là xong. Cái ngon của bánh mì Nguyên Hương là không quá béo, ăn vừa miệng, không ngán, rất thích hợp cho những chuyến đi chơi xa, dã ngoại. Nhiều người thích bánh mì Nguyên Hương bởi ở đây chỉ bán bánh mì mới ra lò, không qua hơ lửa. 5.000 đồng một ổ đáp ứng nhu cầu cho đa phần dân chúng ở đây và cho cả khách du lịch muốn thưởng thức món ẩm thực đạm bạc, bình dân!
    Bánh mì Nha Trang hiện diện trong bữa ăn sáng, ăn trưa hay trên cả bàn tiệc sang trọng tùy theo món chấm đi kèm với nó. La-gu, cà-ri, bò sốt vang, bò kho, bao tử nấu tiêu… ăn với bánh mì đều ngon. Bình dân nhất ở các hàng bánh canh, bún cá đều kèm theo bánh mì (hàng bún cá mà không có bánh mì quả là điều thiếu sót lớn!). Bánh mì có thể chấm với nước lèo bánh canh, bún cá. Đặc biệt hơn, bánh mì bỏ nhân chả cá, chế thêm chút nước mắm ớt ngọt đặc sệt vào mới ngon. Đặc biệt nữa, ở các hàng bún cá thường có thêm món bánh mì xíu mại. Viên xíu mại mềm, đậm đà, vừa miệng, ăn với bánh mì mới ra lò ngon hết ý!
    Mấy năm sau này, khi phố Tây Nha Trang bắt đầu hiện diện trong các cuốn guidebook thì ở đường Hùng Vương xuất hiện hàng loạt hàng bánh mì bò né. Làm nên thương hiệu cho một con phố hẳn hoi, đúng kiểu bò né Nha Trang với giá cả khá mềm và đảm bảo ngon. Không chỉ khách du lịch trong nước ưa thích mà đa phần khách Tây cũng ưa chuộng.
    Chính trạng thái giòn giòn rất riêng của bánh mì Nha Trang mà có cửa tiệm chỉ bán bánh mì với khoảng 18 món, lấy tên là GIÒN (đường Lê Thành Phương). Với cách bài trí trẻ trung, sinh động, GIÒN đã làm tăng thêm sự ngon miệng cho thực khách khi thưởng thức món bánh mì!
    Bánh mì Nha Trang vừa rẻ mà ngon, được nhiều người ưa chuộng. Ở Nha Trang, lúc nào bạn cũng có thể kiếm được ổ bánh mì mới ra lò bất kể sáng, trưa, chiều, tối. Có thể là ổ bánh mì mua ở xe dọc đường hay ở các quán bún cá, bánh canh và ngay cả trong các nhà hàng sang trọng. Bánh mì Nha Trang đã thành thương hiệu của người Nha Trang, ai đi xa cũng thấy nhớ...

    Nem nướng Ninh Hòa

    Nhiều người biết đến Ninh Hòa bởi có món nem chua. Nhưng còn một món nem khác, chẳng chua tí nào mà vẫn thuộc vào hàng “danh thực”, trở thành món ăn không thể thiếu với người dân Ninh Hòa và Nha Trang, đó là nem nướng. Khách du lịch, khi đến thành phố biển, trong thực đơn của mình, cũng có cả một buổi thưởng thức nem Ninh Hòa. Điều lạ là món nem nướng tuy xuất xứ từ Ninh Hòa và tại Ninh Hòa hiện vẫn có những tiệm bán nem trên đường Trần Quý Cáp hoặc trong chợ Ninh Hòa, nhưng nem Ninh Hòa khi dời vào Nha Trang cả 20 năm nay, treo bảng “nem Ninh Hòa” lại trở nên nổi danh hơn ở ngay tại xứ sở Ninh Hòa của nó. Ăn nem nướng Ninh Hòa tại Nha Trang sẽ thấy không có gì khác với ở quê gốc của nó cách Nha Trang 34 cây số. Cách chế biến, pha chế nước mắm, cũng đều theo cách mà gần mấy chục năm nay vẫn làm, không thay đổi.
    Nem chua chủ yếu làm bằng thịt đùi còn nóng của những con heo lớn, dùng chày giã hoặc máy xay xay nhuyễn rồi giã sơ lại, sau đó trộn tỏi, tiêu, da heo thái nhỏ. Để cho nem lên chua, chỉ có 2 loại lá là chùm ruột và vông nem. Lá chùm ruột làm nem ngon hơn, lại có rất nhiều ở Khánh Hòa. Vị chua của nem nhờ lá chùm ruột rất lạ, khác xa với nem chợ Huyện (Bình Định) làm bằng lá ổi hoặc nem Thủ Đức (TP. Hồ Chí Minh) làm bằng lá vông nem. Thường khi khách vào quán nem, ngoài nem nướng đã gọi, trên bàn luôn có sẵn một đĩa nem chua và chả lụa để cho khách ăn chơi. Nem chua ăn kèm với tỏi và nước chấm gồm ớt, tỏi, đường, nước mắm pha sệt. Vị ngọt cay của nước mắm ăn với nem rất hấp dẫn.
    Hiện nay, tại địa bàn Nha Trang có khoảng 20 tiệm bán nem phục vụ từ chiều đến tối, nằm trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Lợi, Hoàng Văn Thụ, Lê Thành Phương, Trần Đường… Nhưng đông khách hơn cả là quán Đặng Văn Quyên và Ngọc Tiên. Làm nem nướng cần có thịt xay nhuyễn hoặc bằm nhỏ nướng lụi, bánh tráng chiên giòn (bánh tráng cuốn nhỏ, bỏ vào chảo dầu chiên phồng lên). Một phần nem nướng khá cầu kỳ gồm khoảng 6 - 8 miếng thịt băm lụi, cũng từng đó miếng bánh tráng chiên giòn. Ăn kèm với món nem chính là các loại rau. Rau ăn nem nướng không phức tạp, nhưng cũng có cả chục loại đủ mùi cay, chua, chát… Tùy theo mùa, rau có thể được bày ra gồm: dấp cá, hẹ, húng quế, tần ô, xà lách, dưa leo, chuối chát, khế (hoặc xoài sống)… có nơi có thêm dưa chua và hành chua. Sự thành công hay thất bại của quán lại rơi vào món nước chấm. Nước chấm là loại nuớc lèo pha chế với công thức riêng. Khi ăn, dùng bánh tráng nem (sản xuất tại Diên Thủy, Diên Khánh), bỏ rau, thịt lụi, bánh tráng chiên giòn vào, cuốn lại, chấm nước lèo mà ăn. Rất ngon.
    Hiện nay một phần nem nướng là 20.000 đồng cho một người ăn, nếu đi 3 người chỉ cần kêu 2 phần là đủ. Quán Đặng Văn Quyên trên đường Hoàng Văn Thụ (Nha Trang) bán với giá 10.000 đồng/chục cuốn nem to, dai và ngon. Chủ quán Đặng Văn Quyên gốc Ninh Hòa, cũng là người tiên phong trong việc mở quán nem tại Nha Trang. Vào mùa du lịch, khách mua nem đem về tặng bà con nhiều đến nỗi nem chỉ mới vừa gói xong đã bán, chủ quán phải dặn khách để 3 ngày sau cho nem “chín” mới ăn được.

    Ngắm cá voi trong bảo tàng Hải Dương học

    Bảo tàng Hải dương học Nha Trang (thuộc Viện Hải dương học) thường được du khách chọn là điểm đến đầu tiên khi du lịch Nha Trang. Đây là thế giới với nhiều loài cá biển đa dạng, nhiều mẫu vật biển và các công trình nghiên cứu khoa học về biển. Thành lập từ năm 1923, đến nay, Bảo tàng của Viện Hải dương Học Nha Trang đã có một bộ sưu tập phong phú với trên 20.000 mẫu vật của hơn 4.000 loại sinh vật biển và nước ngọt.
    Trong khuôn viên Bảo tàng, khu vực trưng bày các mẫu vật rộng 250m2, phần lớn diện tích trưng bày những hình ảnh về cá voi. Đối với ngư dân Việt, những câu chuyện về cá voi đã trở thành huyền thoại, đến mức cá voi còn được gọi tên là cá Ông (ông Nam Hải). Tại khu vực này, ấn tượng đầu tiên của du khách chính là bộ xương cá voi lưng gù khổng lồ với chiều dài 19m và nặng gần 1 tấn. Trong quá trình đào mương làm thủy lợi, ngày 5-13-1994, người dân xã Hải Hậu, tỉnh Nam Hà đã phát hiện bộ xương cá voi nằm ở dưới lớp đất sâu 1,2m. Địa điểm phát hiện cách biển 4km theo đường chim bay. Việc di chuyển bộ xương cá voi và khôi phục toàn vẹn mẫu vật để trưng bày như hiện nay là quá trình công phu của các cán bộ Viện Hải dương học Nha Trang. Tại Bảo tàng còn có bộ xương bò biển Dugong. Dugong bị chết ngày 22-1-1997 tại Lò Vôi, vườn Quốc gia Côn Đảo, Vũng Tàu và được nơi đây tặng lại cho Viện Hải dương học Nha Trang vào tháng 11-1997. Bộ xương dài 273cm và nặng gần 300km.
    Ngoài bộ xương cá voi nói trên, Bảo tàng Hải dương học còn trưng bày nhiều hình ảnh giới thiệu về những bộ xương cá voi khác. Đó là bộ xương cá voi chết năm 1995 tại đảo Thổ Chu của Bảo tàng Quảng Ninh, hiện đã được phục chế; bộ xương cá voi chết và dạt vào huyện Tiền Hải tháng 5-1995 của Bảo tàng tỉnh Thái Bình. Bộ xương dài 13,5m, gồm 13 đôi xương sườn. Ở Bảo tàng biển Đồ Sơn - Hải Phòng còn có bộ xương cá voi Bắc Cực dài 15m. Một bộ xương cá voi khác thuộc loại “tên tuổi” hiện đang được lưu giữ tại Vạn Thủy Tú (Phan Thiết) có chiều dài 20m, được phát hiện từ năm 1850, thuộc loại cá voi vây.
    Bên cạnh việc giới thiệu các bộ xương cá voi đang được lưu giữ tại nhiều nơi trên đất nước, khu trưng bày còn sử dụng máy chiếu để giới thiệu về đời sống của các loài cá voi trên thế giới. Như con cá voi lưng gù đang là loài quý hiếm, hiện chỉ còn 2.500 con. Cá voi lưng gù là loài cá voi răng lược có kích thước đạt đến 19m, con mới sinh có thể nặng 1,4 tấn. Chúng có thể di chuyển một hành trình dài 8.000 km. Cá voi đầu bò phương Bắc cũng nằm trong “sách đỏ”. Chúng có chiều dài 18 - 20m, nặng từ 30 - 80 tấn và hiện cũng chỉ còn chưa tới 300 con trên toàn thế giới.
    Khu trưng bày còn giới thiệu nhiều loài cá voi khác như: cá voi Đê Ni, thường sống tập trung ở vịnh California, cá voi vây, cá nhà táng, cá voi đầu bò phương Nam, cá voi nhỏ… Hấp dẫn nhất chính là hình ảnh giới thiệu về con bò biển huyền thoại, được coi là Mỹ nhân ngư trong các câu chuyện thần thoại của người Hy Lạp. Bò biển khi hú lên giữa đại dương giống như tiếng hát của người phụ nữ.
    Khu trưng bày cá voi tại Bảo tàng Viện Hải dương học Nha Trang ngoài việc cho người xem một cái nhìn khá tổng quát về loại cá khổng lồ của đại dương còn giúp nâng cao ý thức bảo vệ loài sinh vật biển đang có nguy cơ diệt chủng này.

    Suối Hoa Lan - Khu du lịch sinh thái hấp dẫn

    Cùng với Hòn Thị và Hòn Lao, suối Hoa Lan là một trong những khu du lịch (KDL) nổi tiếng của Công ty Cổ phần Du lịch Long Phú. Hàng năm, suối Hoa Lan đã thu hút hàng trăm ngàn lượt khách đến thưởng ngoạn và vui chơi.
    Suối Hoa Lan nằm trong dãy núi Hòn Hèo, cách Nha Trang khoảng 18km về phía Bắc. Suối dài khoảng 6km, được hình thành từ nhiều suối nhỏ của những ngọn núi trong dãy Hòn Hèo. Dọc suối có đủ loại cây rừng mọc quấn quýt bên nhau thành tầng thành lớp. Đặc biệt, suối có rất nhiều hoa phong lan. Sau khi chảy qua những ghềnh thác cheo leo, suối Hoa Lan đổ nước trực tiếp vào đầm Nha Phu. Nối đầm Nha Phu với dãy Hòn Hèo là một khoảng đất bằng, diện tích khoảng 20 ha, nghĩa là chỉ trong một khoảng không gian không rộng lắm nhưng KDL suối Hoa Lan đã trải mình qua cả 3 hình thế: núi cao, đồng bằng và biển cả.
    Suối Hoa Lan không chỉ là nơi có cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp mà còn là nơi ghi lại dấu tích của người Chăm từ thuở xa xưa. Trên tảng đá dưới chân suối còn nguyên dòng chữ Chăm cổ được khắc sâu rất đẹp, ghi dấu sự kiện một vị vua người Chăm ngày trước đã từng hành hương đến suối Hoa Lan. Nơi đây cũng là căn cứ cách mạng của 2 cuộc kháng chiến. Lần theo những dấu tích thuở xưa, chúng ta sẽ bắt gặp những ghềnh đá kỳ vĩ và nhiều ngọn thác. Núi Hòn Hèo cao trên 700m, ngọn thác cao nhất ở đây là 350m, mỗi thác có một dáng hình, một vẻ đẹp. Nhờ những ưu thế về địa hình, KDL suối Hoa Lan đã thu hút được rất nhiều du khách, nhất là các bạn trẻ và khách du lịch nước ngoài. Họ đặc biệt yêu thích không khí trong lành của rừng, của thác nước nơi đây.
    Những năm qua, Công ty Cổ phần Du lịch Long Phú đã đầu tư vào KDL suối Hoa Lan nhiều công trình và các dịch vụ du lịch để phục vụ du khách. Đó là vườn hoa phong lan với nhiều giống lan quý hiếm được sưu tập trong và ngoài nước; Mê Cung trận đồ với những đường đi lắt léo giữa rừng dương xanh ngắt; khu vui chơi giải trí thể thao dưới nước; nhà hàng 400 chỗ ngồi; khu vui chơi giải trí dành cho thiếu nhi, khu vực xiếc thú, nhà nghỉ… Đặc biệt, Công ty vừa hoàn thành một khu vực cắm trại với sức chứa hơn 800 người dành cho những du khách yêu thích dã ngoại… Bên cạnh đó, KDL còn có những dịch vụ khác khá hấp dẫn như tham quan suối Hoa Lan bằng thuyền Kayak. Du khách sẽ tự chèo thuyền từ suối Hoa Lan qua suối Mộng Mơ rồi ra cửa biển, tham quan phong cảnh đặc trưng của đảo Hoa Lan với những nét đẹp nguyên sơ của nó.
    Để đến KDL suối Hoa Lan, bạn có thể mua tour của Công ty Cổ phần Du lịch Long Phú. Nếu bạn đi tour du ngoạn trên đầm Nha Phu, bạn sẽ được tham quan cả Hòn Thị, Hòn Lao và suối Hoa Lan với chương trình tour được bố trí hài hòa rất lý thú. Giá trọn gói của tour này là 170.000đ/người lớn và 85.000đ/trẻ em. Đặc biệt, chương trình tour này được thực hiện trong mọi điều kiện thời tiết. Còn nếu chỉ muốn đến suối Hoa Lan, bạn chỉ cần bỏ ra 55.000đ/người lớn và 25.000đ/trẻ em là đã có được một ngày nghỉ tuyệt vời tại KDL suối Hoa Lan.

    Khu du lịch Dốc Lết-Ninh Hòa

    Vị trí: Khu du lịch Dốc Lết nằm ở địa phận bờ biển Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, cách thành phố Nha Trang chừng 50km về phía bắc.
    Ðặc điểm: Dốc Lết có những cồn cát trắng tinh chạy dài, cao hàng chục mét phía trên hàng dương, ngăn cách đất liền với biển.
    Đi từ thành phố Nha Trang theo quốc lộ 1A, đến ngã ba rẽ phải chừng 14km thì vào đến khu du lịch Dốc Lết. Từ đất liền, muốn ra được biển phải vượt qua cồn cát. Khi vượt khỏi cồn cát, du khách sẽ được đặt chân lên một bãi biển tuyệt vời với bờ cát trắng mịn, phẳng lì chạy dài ven biển dài gần 10km với nước biển trong xanh, tinh khiết với muôn ngàn lớp sóng nhẹ vỗ bờ chào đón.
    Từ bờ đi ra khoảng 100-110m, mực nước cũng chỉ tới ngực, thoai thoải ra xa dần, không sâu như các bãi biển khác, mặt nước chỉ lăn tăn gợn sóng thật êm ả. Nước biển trong xanh và thật sạch bởi khu vực này không có con sông nào đổ vào.
    Sau những giờ nô đùa, vẫy vùng ngoài biển, du khách có thể nghỉ giải lao ở những căn chòi lộng gió, thưởng thức những món hải sản tươi như: tôm, ghẹ, cua biển, ốc nhảy, tôm tích biển, ốc gai, sò lông biển, sò dương...
    Ban đêm ở đây thật yên tĩnh, du khách có thể tản bộ một vòng trên bờ biển cát trắng lung linh, xem ngư dân đánh cá, thẻ mực, câu ghẹ, bắt nghêu và thử tài làm ngư phủ.
    Cảnh quan thiên nhiên trên bờ, vùng biển trước mặt của Dốc Lết đều hấp dẫn du khách. Nơi đây cũng rất gần vịnh Văn Phong nổi tiếng, một trong những điểm du lịch quốc tế đã tiến hành khảo sát và đánh giá rất cao về tương lai phát triển du lịch của vùng này.
    Đến Dốc Lết, ngoài khu du lịch bờ biển, du khách có thể đi thăm làng chài, đồng muối Hòn Khói, vùng Hòn Hèo.
    KHU DU LỊCH BIỂN DỐC LẾT
    Ninh Hải - Ninh Hòa - Khánh Hòa - Việt Nam
    Tel: 84.58.849152 - 849067 Fax: 84.58.849506
    Email: docletresort@dng.vnn.vn
    Dốc Lết - Cách trung tâm thành phố biển Nha Trang 49km dọc theo Quốc lộ Bắc, Dốc Lết như được đánh thức một tiềm năng thiên nhiên sẵn có và đang trở thành một nơi nghỉ dưỡng lý tưởng và du lịch biển kỳ thú. Khu nghỉ mát tuyệt vời bên bãi biển mang đậm phong cách Việt Nam.
    - Quý khách sẽ được nhân viên lịch sự lành nghề đón tiếp nồng hậu.
    - Tất cả phòng ngủ tọa lạc tại khu tĩnh lặng, trông ra biển và dấu mình trong khu rừng hoang sơ.
    Giá công bố các loại phòng & Chính sách giá: Có 54 phòng
    Loại phòng Số lượng Phòng Đơn/Đôi
    (VND) Phòng ba
    (VND) Phòng bốn
    (VND)
    Nhà sàn (số lượng 44).Các giá phòng: 380.000đ, 380.000đ, 410.000đ.
    Phòng loại 1 (số lượng 10).Các giá phòng: 150.000 ,170.000, 190.000 (tính theo VND).
    - Giá niêm yết trên tính theo đơn vị tiền Việt và có thể thay đổi mà không cần báo trước.
    - Giá đã bao gồm thuế GTGT, phí phục vụ.
    - Trẻ em dưới 12 tuổi ngủ chung với bố mẹ được miễn phí.
    - Giờ trả phòng quy định lúc 14:00 chiều.
    - Giảm giá đặc biệt cho khách ở dài hạn và khách có hợp đồng trước.
     

    - Tivi màu vệ tinh.
    - Giặt ủi trong ngày.
    - Thu đổi ngoại tệ.
    - Điện thoại & fax gọi trực tiếp quốc tế.
    - Nhà hàng Á.
    - Quầy bar rượu Dốc Lết.

    - Phòng Karaoke.
    - Sân tennis.

    - Bãi đậu xe rộng thoáng.
    - Bi da các loại.
    - Dịch vụ Internet & thư điện tử.
    - Massage & tắm hơi.
    - Quầy bán hàng lưu niệm.
    - Cho thuê xe du lịch.

    Các dịch vụ vui chơi giải trí trên biển:
    - Tắm nước ngọt.
    - Ghế bố.
    - Giường nằm phơi nắng.
    - Chiếu.
    - Võng.
    - Bạt.
    - Ki ốt.
    - Dù che nắng.
    - Phao bơi. - Áo phao.
    - Gương lặn.
    - Bóng đá, bóng chuyền.
    - Đồ tắm.
    - Gởi đồ.
    - Thúng chai.
    - Bóng chuyền bãi biển.
    - Đưa khách tham quan đảo.

    Biệt thự Cầu Đá (Lầu Bảo Đại)

    Biệt thự Cầu Đá là một công trình kiến trúc đẹp, có sự kết hợp hài hòa giữa phong cách kiến trúc Pháp với nghệ thuật hoa viên Phương Đông. Đây từng là nơi nghỉ mát của vua Bảo Đại và Nam Phương hoàng hậu.
    Biệt thự Cầu Đá (hiện nay thuộc Khu du lịch Bảo Đại) được xây dựng trên ba ngọn đồi nhô ra sát biển của ngọn núi Chụt (núi Cảnh Long), thuộc khóm Cầu Đá, phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang. Biệt thự được xây dựng ở một vị trí đẹp; không gian thoáng, thơ mộng. Nhìn từ xa, núi Chụt chạy dài theo bờ biển giống như con rồng xanh khổng lồ ôm lấy Nha Trang, ba ngọn đồi trên mỏm núi giống như đầu rồng đang giỡn nước. Đến đây, du khách không chỉ được tận hưởng không khí trong lành mà còn có cơ hội nhìn ngắm vẻ đẹp của thành phố biển Nha Trang.
    Lịch sử hình thành của biệt thự Cầu Đá gắn liền với sự ra đời của Viện Hải dương học Đông Dương (nay là Viện Hải dương học Nha Trang). Vùng biển Nha Trang nằm gần trung tâm điểm của biển Đông, nơi hội tụ các quần thể sinh vật biển đa dạng, vì vậy người Pháp đã chọn Nha Trang làm nơi đặt cơ sở nghiên cứu khoa học biển. Người Pháp khai phá ngọn núi Chụt hoang vu để xây dựng nên năm ngôi biệt thự làm nơi ở cho các nhà khoa học Pháp đến làm việc tại Viện Hải dương học Đông Dương. Năm 1923, ông A.Crem - nhà khoa học người Pháp (gốc Đức) đã chỉ huy thực hiện đồ án thiết kế năm ngôi biệt thự trên đỉnh đồi và ba ngôi nhà làm việc, nghiên cứu thực nghiệm khoa học ở dưới chân đồi sát biển. Người Pháp đặt tên (bằng tiếng Pháp) cho các ngôi biệt thự theo tên các loài cây, hoa trồng quanh vườn: biệt thự thứ nhất ở ngọn đồi cuối cùng của mỏm núi Chụt nhô ra biển xa nhất là “Les Agaves” - Xương Rồng, biệt thự thứ hai ở ngọn đồi tiếp theo là “Les Frangipaniers” - Bông Sứ; ba biệt thự còn lại nằm trên ngọn đồi thứ ba là: Les Bouguinvillés” - Bông Giấy, “Les Flamboyants” - Phượng Vĩ, “Les Badamniers” - Cây Bàng.
    Người đầu tiên ở biệt thự Xương Rồng là Tiến sĩ A.Crem - Giám đốc Viện Hải dương học Đông Dương. Đến năm 1926 khi Bảo Đại lên ngôi hoàng đế, vì yêu cầu chính trị có lợi cho thực dân Pháp, người Pháp đã chuyển giao hai biệt thự Xương Rồng và Bông Sứ cho vua Bảo Đại. Vị vua cuối cùng của triều Nguyễn đã dùng hai ngôi biệt thự này làm nơi nghỉ mát cho ông và hoàng hậu Nam Phương (vì thế biệt thự Cầu Đá còn được gọi là lầu Bảo Đại). Trước đây, người dân Nha Trang thường gọi biệt thự của vua Bảo Đại là lầu Thừa Lương. Sau năm 1954, biệt thự Xương Rồng được đổi tên thành Nghinh Phong, Bông Sứ đổi thành Vọng Nguyệt. Các tên gọi đó được giữ đến ngày nay.
    Năm ngôi biệt thự ở Cầu Đá có kiểu dáng kiến trúc khác nhau nhưng đều hài hòa với cảnh sắc thiên nhiên xung quanh. Trong đó, hai ngôi biệt thự Nghinh Phong và Vọng Nguyệt đẹp nhất nên mới được chọn làm nơi nghỉ mát của vua Bảo Đại và hoàng hậu Nam Phương. Cả hai ngôi biệt thự này đều được xây dựng theo nghệ thuật kiến trúc cổ điển Pháp có sự kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật hoa viên và nghệ thuật xây dựng cung điện.
    Biệt thự Nginh Phong có dáng hình hộp chữ nhật, cao hai tầng, cửa chính của biệt thự quay về hướng Đông. Từ sân trước của biệt thự có hai đường vòng theo hai hướng xuống chân đồi. Đường vòng hướng Tây trải nhựa men theo sườn đồi đi xuống. Đường vòng hướng Nam là đường bậc thang dẫn đến bãi tắm “Hoàng hậu”, giữa đường này nơi gành biển có hòn đá tảng to là nơi vua Bảo Đại thường ngồi tận hưởng thú vui câu cá.
    Biệt thự Vọng Nguyệt nằm ở đồi thứ hai cũng cao hai tầng và có dáng hình hộp chữ nhật. Khi vua Bảo Đại còn ở đây, tầng trệt được dùng làm phòng họp, chiêu đãi quan khách; tầng trên là nơi nghỉ ngơi của vua và hoàng hậu. Phía trên sân thượng là nơi vua và hoàng hậu đón gió, ngắm trăng lên. Mặt tiền biệt thự quay về hướng Bắc, nên đứng ở đây có thể nhìn rõ toàn cảnh Nha Trang. Cửa hướng Đông của Vọng Nguyệt có đường đi sang Nginh Phong được tạo dáng thành hoa viên.
    Bao quanh hai ngôi biệt thự có nhiều cây cổ thụ như me, bàng, phượng, sứ...xòe tán rộng phủ mát một vùng. Cây cảnh, hoa, cỏ xanh đều được bố trí thành từng mảng lớn, bố cục chặt chẽ, tính thẩm mỹ cao.
    Hiện nay, biệt thự Cầu Đá đã trở thành Khu du lịch Bảo Đại, một điểm du lịch thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghỉ dưỡng.

    Thắng cảnh lầu Bảo Đại ở Nha Trang

    Biệt thự Cầu Đá (còn gọi Lầu Bảo Đại) tọa lạc trên đỉnh núi Chụt, là một di tích lịch sử văn hóa khá nổi tiếng, nằm cách trung tâm thành phố Nha Trang khoảng 6km. Đây là một công trình kiến trúc độc đáo, có sự kết hợp hài hòa giữa phong cách kiến trúc phương Tây với nghệ thuật hoa viên phương Đông. Cụm di tích này từng là nơi nghỉ dưỡng của vua Bảo Đại và Nam Phương hoàng hậu mỗi khi đến phố biển Nha Trang.
    Biệt thự Cầu Đá được xây dựng trên ba ngọn đồi của núi Chụt, nhô ra giữa biển xanh, thuộc phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang. Khu biệt thự này nằm ở vị trí đắc địa nhất vịnh biển Nha Trang. Từ xa, núi Chụt chạy dài theo bờ biển giống như con rồng xanh khổng lồ ôm lấy phố biển, ba ngọn đồi nhô lên mỏm núi giống như đầu rồng đang vươn ra giữa biển xanh.
    Biệt thự Cầu Đá gắn liền với sự ra đời của Viện hải dương học Đông Dương (hiện là Viện hải dương học Nha Trang). Năm 1923, người Pháp đã xây dựng một cụm biệt thự trên núi Chụt để làm nơi ăn ở cho các nhà hải dương học đến nghiên cứu vùng biển Đông Nam Á, bởi Nha Trang gần trung tâm điểm của biển Đông, nơi hội tụ các quần thể sinh vật biển đa dạng và phong phú. Từ đó, núi Chụt hoang sơ đã dần mọc lên năm ngôi biệt thự trên đỉnh đồi và ba nhà làm việc, nghiên cứu thực nghiệm khoa học dưới chân đồi, sát mé biển. Người Pháp đặt tên cho các ngôi biệt thự này theo tên các loài cây và hoa trồng xung quanh. Lần lượt từ mỏm núi trở vào là biệt thự Xương Rồng, Bông Sứ, Bông Giấy, Phượng Vĩ, Cây Bàng. Chủ nhân đầu tiên của biệt thự Xương Rồng là tiến sĩ A.Crem, người Đức. Ông là vị giám đốc đầu tiên của Viện hải dương học Nha Trang.
    Từ năm 1940 đến 1945, hoàng đế Bảo Đại và hoàng hậu Nam Phương thường đến nghỉ ngơi ở biệt thự Xương Rồng, lấy việc câu cá, ngắm biển làm thú tiêu khiển nên cái tên Lầu Bảo Đại có từ đó. Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, gia đình tổng thống Ngô Đình Diệm là chủ nhân mới của hai khu biệt thự Xương Rồng và Bông Sứ. Bà Trần Lệ Xuân - phu nhân cố vấn Ngô Đình Nhu - đã đặt tên mới cho biệt thự Xương Rồng là Nghinh Phong và Bông Sứ là Vọng Nguyệt. Từ sau năm 1975, Lầu Bảo Đại đã mở cửa đón và phục vụ khách tham quan du lịch.
    Năm tòa biệt thự được xây dựng theo kiến trúc của Pháp trong khuôn viên rộng 12ha, ẩn mình dưới những tán cây bàng tỏa bóng mát quanh năm. Kiến trúc và cảnh quan hài hòa tạo cho du khách cảm giác thoải mái, phiêu bồng mỗi khi ghé thăm. Tại những tòa biệt thự này, du khách có thể nhìn ra biển xanh với những hòn đảo lớn nhỏ nhấp nhô.
    Khuôn viên Lầu Bảo Đại ôm một vòng cung tạo ra eo biển nhỏ với những rặng dừa, biển xanh cát trắng nắng vàng. Đến Lầu Bảo Đại vào mùa hè, các loài hoa đua nhau khoe sắc, đặc biệt là phượng vĩ. Từ Lầu Bảo Đại, du khách có thể thả tầm nhìn ra xa, ngắm toàn bộ thành phố biển Nha Trang với những cảnh quan tuyệt đẹp. Hiện nay, biệt thự Cầu Đá trở thành khu du lịch Bảo Đại, một điểm du lịch thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghỉ dưỡng.

    Thắng cảnh du lịch

    Thắng cảnh du lịch Vân Phong - Đại Lãnh - Vũng Rô

    Cách Nha Trang khoảng 80km về hướng bắc là cụm du lịch liên hoàn Vân Phong - Đại Lãnh - Vũng Rô, một trong những thắng cảnh nghỉ ngơi đẹp nhất khu vực châu Á, vượt hẳn biển Phuket ở Thái Lan và có thể sánh với những thắng cảnh tuyệt vời trên thế giới. Đó là niềm tự hào và vinh hạnh cho du lịch nước ta được tổ chức du lịch thế giới đánh giá cao như thế.
    Hấp dẫn danh thắng Đại Lãnh
    Phong cảnh Đại Lãnh được liệt vào hàng danh thắng của đất nước từ thời vua Minh Mạng được chạm vào một trong cửu đỉnh ở Huế. Biển Đại Lãnh là bãi biển đẹp vào bậc nhất ở nước ta, trong số 3.000km bờ biển Việt Nam chỉ có bãi tắm Đại Lãnh là sạch và xanh nhất nước, do nơi đây còn nguyên sơ không bị ô nhiễm của công nghiệp, vì xa nơi dân cư. Bãi tắm Đại Lãnh cát trắng mịn màng, nước biển trong xanh, độ thoai thoải ra xa, có nhiều nguồn suối từ núi đổ xuống quanh năm, mát lạnh nằm ẩn mình trong rừng thùy dương, tạo khung cảnh thơ mộng mê hồn.
    Từ hừng đông sáng, không khí Đại Lãnh tĩnh mịch, yên ả chỉ nghe tiếng hàng dương tấu nhạc, vi vu, tiếng sóng vỗ rì rào. Buổi trưa, biển đậm nét xanh rì, nắng chói chan, bầu trời như trải rộng. Buổi chiều, chuyển sang màu xanh nhạt, gió từ đại dương thổi vào mát dịu. Hoàng hôn buông xuống cảnh núi non, biển cả như hút hồn người khiến lữ khách phải xao xuyến. Đây là điểm tắm biển rất quyến rũ.
    Vũng Rô kỳ tích
    Toàn cảnh Vũng Rô có núi Đá Bia - Thạch Bi Sơn, là một nhánh của dãy Trường Sơn, núi Đá Bia nhô hẳn ra biển Đông, kéo dài tạo thành bán đảo che chắn gió cho Vũng Rô. Vì thế, cảng Vũng Rô có độ sâu 15 - 16m mà quanh năm sóng yên, biển lặng. Trước năm 1975, nơi đây từng là cảng tiếp tế hậu cần cho hàng loạt căn cứ quân sự kéo dài cả 20km.
    Chính Vũng Rô là bến cảng tiếp nhận vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến đấu từ hậu phương lớn miền Bắc chi viện cho chiến trường Quân khu 5. Nhiều tấn vũ khí, đạn dược, muối gạo, thuốc men đã bốc lên từ cảng Vũng Rô và vận chuyển đường này để đến tay các chiến sĩ giải phóng, cán bộ hoạt động bí mật trong các căn cứ cách mạng và đô thị miền Nam. Tại đây, còn xác con tàu không số từ miền Bắc chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực vào tiếp tế bị lộ, nên các chiến sĩ ta đặt chất nổ đánh đắm tàu không cho địch cướp vũ khí.
    Đứng trước lưng chừng Đèo Cả phía Nam, du khách dừng chân phóng tầm mắt ra xa, nhìn toàn cảnh Vũng Rô hùng vĩ, núi Đá Bia uy nghi, những đảo xa, đảo gần tập kết tạo nên bức tranh hoành tráng đẹp cực kỳ với trời cao, biển rộng bao la để tưởng nhớ Vũng Rô - Thạch Bi Sơn đã bao phen chứng kiến những bước thăng trầm của lịch sử đất nước tạo nên những kỳ tích còn lưu dấu để hậu thế soi chung.
    Đến Nha Trang - Phú Yên mà không đến cụm du lịch Vân Phong - Đại Lãnh - Vũng Rô là điều vô cùng thiếu sót. Du khách đến tắm biển một lần là nhớ đời và không quên hẹn sẽ tái ngộ lần sau.

    Làng cổ Nha Trang

    Trong quá trình hình thành Khánh Hòa, trước khi Nha Trang chính thức trở thành thành phố thì miền đất này đã tồn tại hơn 300 năm. Chính vì thế mà trải qua bao nhiêu thăng trầm thời cuộc, trong lòng thành phố biển xinh đẹp này vẫn còn giữ lại một làng cổ với những gì rất riêng của một làng quê Trung Bộ.
    Làng cổ nằm ở xã Vĩnh Thạnh, Nha Trang. Đây được đánh giá là vùng quê lý tưởng nằm cách Nha Trang chừng 4 cây số, có một con đường chính ôm bọc lấy làng quê là Hương lộ 45. Ưu thế thứ hai là làng quê dựa sát dòng sông Cái xinh đẹp cho khách sau khi tham gia chuyến du lịch đường sông ghé qua.
    Trong khu vực làng cổ còn tồn tại rất nhiều ngôi nhà cổ theo kiến trúc miền Trung. Người dân ở đây quen gọi đó là cách xây dựng Bát căn dần (ba gian có 36 cột ). Đa phần các nhà đều xây dựng cách đây hơn 100 năm, cửa gỗ và rường cột có chạm khắc. Những nhà cổ ở Nha Trang đều còn đậm nét nhà quê với sân vườn. Cửa nhà là những tấm gỗ khá cầu kỳ.
    Để thực hiện chuyến du hành làng cổ, thường du khách đi từ bến đò dưới chân Tháp Bà hay ngay bãi thuyền bên chân cầu Hà Ra. Từ đây thuyền sẽ chở khách dạo quanh sông Cái để ngắm cồn Dê, vườn dừa Ngọc Thảo, cầu gỗ Vĩnh Phương cũng như nhìn những đàn vịt bơi trên sông và thuyền bè xuôi ngược đi về. Sau đó thuyền sẽ dừng lại ở bến sông là nhà của ông Nguyễn Xuân Hải. Từ bến sông khách sẽ thưởng thức cảm giác đi bộ trong vườn quê, hoàn toàn không có sự ồn ào thường thấy của tỉnh thành.
    Để đi thăm nhà cổ, xe sẽ đón khách đi thăm một số ngôi nhà cũng nằm trong vòng ôm của xã Vĩnh Thạnh. Thường thì tất cả những ngôi nhà ở đây đều có vườn trước nhà với nhiều cây trái khác nhau. Nhà nằm lọt giữa vườn và thường có sân phơi trước nhà. Điểm độc đáo ở chỗ là hàng rào ngăn cách làm bằng cây hoa râm bụt hoặc cây duối. Con đường từ cổng vào nhà thường trồng hai loại cây chủ lực là hoa mai và cây cau.
    Sau khi đi thăm các nhà cổ, khách sẽ trở lại nhà ông Nguyễn Xuân Hải để cảm nhận được một ngôi nhà cổ gần như còn nguyên sau 200 năm xây dựng. Đây cũng là một ngôi nhà khá độc đáo nằm trong một khu vườn khá lớn với nhiều chủng loại cây ăn trái. Trong vườn nhà ông Hải, khách được mời uống trà trong những chiếc tách gỗ xinh xinh, ngồi trên bộ bàn ghế làm bằng rễ cây. Khách cũng có thể ngắm nhìn đàn gà đang dắt con đi kiếm ăn hay thăm vườn cây trong ánh nắng chen trên cành lá.
    Kiến trúc nhà cổ của ông Hải khá đẹp. Nơi đây còn là một “bảo tàng tư nhân với rất nhiều "đồ cổ như chén bát, tủ thờ, liễn, câu đối". Cái thú của khách còn chính là nhìn thấy cách sinh hoạt của một gia đình làng quê như nấu cơm bằng bếp "kiềng ba chân” và củi đun chính là những nhánh cây khô trong vườn. Gáo múc nước bằng gáo dừa làm trong vườn nhà. Khách cũng có thể tò mò mua vài chiếc gáo dừa hoặc bộ bình nước pha trà bằng trái dừa khô tạo nên.
    Dạo chơi trên đường quê bằng xe ngựa là cái thú rất lạ, nếu không nói đó là một cảm giác hoàn toàn mới. Cứ hai khách leo lên một chiếc xe ngựa. Người lái xe ngựa đã có hơn 30 năm điều khiển chiếc xe “thế kỷ” sẽ đưa bạn đến thăm làng nghề dệt chiếu và làng nghề se nhang.
    Sự hấp dẫn của chuyến đi dạo làng cổ Nha Trang chính là sự ẩn hiện đến lạ kỳ của một miền quê với "hàng cau phía trước, bụi chuối phía sau”, còn là bắt gặp cổng làng chơ vơ trên con đường mòn băng qua những bờ ruộng theo cách nhà văn Lỗ Tấn nói "Người ta đi mãi mà thành đó thôi".

    Hang Ông Già

    Đây cũng là điem giã ngoại tại Nha Trang, hang này nằm về phía Nam Bãi Miếu trên gành đá Bàn Than, cách hang ông Bưởi chừng 8 km về phía Bắc. Hang ăn sâu vào gành, miệng rộng khoảng 6 mét, dài trên 10 mét, là một hang nước vì một nửa ngập dưới nước. Muốn vào du khách phải dùng xuồng di chuyển vào ra dễ dàng.
    Vách cuối hang có một hóc nhỏ, sâu chừng 2 mét, đây rong rêu tua tủa. Đứng ngoài miệng hang nhìn vào, người ta thấy giống như một ông già đứng canh đứa cháu gái xoã tóc, vì vậy hang đươc gọi là hang Ông Già. Bên trong hang đã có dáng vẻ kì lạ, nhưng quang cảnh bên ngoài cũng đáng thích thú. Cửa hang mở ra, trông xuống vịnh Nha Phu. Mặt Bắc có núi Phước Hà. Mặt Nam có núi Rù Rỳ như là hai cánh cửa chắn gió.
    Mặt nước biển đằng xa bị thu hẹp. Gành Bàn Than có đá lởm chởm, nơi thấp nơi cao, chỗ lồi, chỗ trũng, từ Lương Sơn đến Rù Rỳ. Trên đầu gành là thảm thưc vật xanh mượt, còn dưới chân gành, sóng bạc đầu luôn vỗ bờ đá nhấp nhô. Ở Bãi Miếu, cát trắng phau và mịn, trải dài từ mặt Bắc đến gành Bàn Than. Tại đây sóng biển hiền hoà, lúc nào cũng nhẹ nhàng, chầm chậm rất trữ tình.
    Gành và bãi Bàn Than nổi danh, quyến rũ được du khách từ lâu, nhờ đó hang Ông Già trở nên là nơi khám phá, tìm đến của mọi người thích ngao du, tản mạn... Có thể nói, ở vùng biển này, gành bãi và hang đã bổ túc cho nhau, tạo thành một điểm du ngoạn rất lí thú, hấp dẫn.

    Thắng cảnh hang Ông Già, Nha Trang

    Từ trung tâm thành phố Nha Trang, bạn nên xuất phát từ sớm nếu như nhóm của bạn di chuyển bằng xe đạp, theo đường 2 Tháng 4 xuôi hướng bắc chừng 4km gặp bưu điện Đồng Đế – đối diện là đường Mai Xuân Thưởng. Cứ theo đường này sẽ đến đúng nơi cần đến, nếu sợ lạc cứ hỏi cư dân địa phương đường đến bãi Tiên, họ sẽ chỉ dẫn cho bạn một cách tường tận.
    Không biết từ lúc nào hầu hết các nhóm đều chọn nơi tượng đài Đức Kitô Vua trước nhà thờ giáo xứ Ba Làng làm trạm dừng chân chờ nhau và cũng là để kiểm tra hành trang lẫn phương tiện trước khi tiếp tục hành trình. Từ đây sẽ đi qua thôn Ba Làng, thôn Đường Đệ. Quãng đường từ thôn Đường Đệ đến bãi Tiên dài gần 2km nhưng là quãng đường nguy hiểm nhất với lối đi nhỏ, mặt đường lô nhô đá, một bên là vách đá thẳng đứng cheo leo chằng chịt cây dại và một bên là vực thẳm mênh mông một màu xanh thẳm với những ghềnh đá. Đến bãi Tiên gởi xe và đi bộ chừng 30 phút rồi leo qua ngọn núi cao độ khoảng 30m bằng đường mòn của những người đi rừng săn bắt động vật hoang dã và đi câu “mở ra”. Đó là hình ảnh ký ức của một hành trình đi đến hang Ông Già của mười năm trước đây, nay thì có khác.
    Ngày nay, đến hang Ông Già rất dễ dàng với chiều dài quãng đường gần 7km chạy dọc theo bờ biển của vịnh Nha Trang mà người Nha Trang gọi là “con đường vàng”. Từ tháp Trầm Hương ở quảng trường 2 Tháng 4 đi theo đường Trần Phú ra hướng bắc vượt cầu Trần Phú rồi theo đường Phạm Văn Đồng trực chỉ ra tận chân núi của mũi Kê Gà với thời gian 15 phút và cũng chỉ tốn 10 phút để trèo núi qua hang Ông Già. Đường qua hang cũng dễ dàng hơn với các bậc tam cấp rộng rãi được lát bằng đá và hai bên là những hàng bạch đàn xanh rì màu lá che nắng cho du khách tìm đến hang cùng những rẫy chuối chen chúc nhau. Tuy đường đến hang đã đẹp hơn, rộng rãi hơn nhưng vì vậy cũng mất đi những ghềnh đá đẹp, giờ đây đoạn bờ biển từ thôn Đường Đệ ra đến bãi Tiên cũng không còn chỗ để du khách thưởng lãm vì người ta đã thâu tóm… để mở nhà hàng.
    Bạn sẽ thấy gì ở hang Ông Già? Đó là một thắng cảnh hùng vĩ với những ghềnh đá, hang đá nối dài với nhau như một vịnh Hạ Long thu nhỏ được tái tạo ở Nha Trang. Nổi bật nhất vẫn là hang với nhiều điều kỳ bí bên trong, một đường nhỏ ngoằn nghèo hình chữ Z dẫn sâu vào trong hang. Bên trong hang có một hồ tròn có thể tắm cùng lúc chục người và khi thuỷ triều xuống lúp xúp dưới mặt nước là những hòn đá cuội tròn đều đủ màu sắc óng ánh do nguồn sáng từ trên đỉnh hang rọi xuống. Xung quanh bên ngoài hang là những dãy san hô với muôn vàn loài cá, ốc các loại… thích hợp cho những tay câu sát cá, can đảm hơn bạn có thể lặn với dụng cụ lặn đơn giản để tìm những chú ốc mặt trăng, ốc ngựa, vú nàng làm món nướng nhâm nhi với bạn bè. Xung quanh hang còn rất nhiều bãi cát trắng, bãi sỏi rộng thích hợp cho các sinh hoạt tập thể cho nhóm 30 người trở xuống.

    Tháp Bà Pô Nagar

    Tháp Bà Pô Nagar nằm trên một ngọn đồi nhỏ, bên cửa sông Cái và quốc lộ 1A, thuộc phường Vĩnh Phước, phía bắc thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Tháp Bà Pô Nagar là một công trình tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc dân tộc Chăm, đã tồn tại trên 10 thế kỷ.
    Tháp Bà Pô Nagar cách trung tâm chưa đầy hai cây số, nằm nép mình bên dòng sông Cái xinh đẹp, sát bên cầu Xóm Bóng, lại ở nơi khu thị tứ đông dân. Dường như bất cứ du khách nào đến Nha Trang cũng được đưa đi thăm Tháp Bà đầu tiên trong cuộc hành trình khám phá thành phố biển này.
    Nằm ở ngọn đồi Cù Lao cao trên 20 mét, theo tài liệu của các nhà nghiên cứu, thì trước đó dưới vương triều Panduranga, cuộc di chuyển kinh đô đã diễn ra, việc xây dựng cụm tháp gồm 5 tháp lớn nhỏ khác nhau, hiện nay có một tháp đã bị mất dấu vết, và những tháp xây dựng đầu tiên đã bị tàn phá do chiến tranh.
    Năm 774, cụm tháp được vua Satysuaman tiến hành xây dựng lại và tiếp tục bị tàn phá. Cụm tháp hiện tại được xây dựng vào năm 965 bởi chính vua Jaya Indravarman I. Trong tháp chính cao 22,5 mét và đặt tượng nữ thần Pô Nagar bằng đá, đó là mẫu tượng trước kia làm bằng vàng đã bị cướp bóc. Tượng cao 2,6 mét có 10 tay ngồi trên một Yoni lớn vuông vức cạnh 1,5 mét.
    Do kỹ thuật xây dựng 10 thế kỷ trước mà cho đến nay chính những nhà nghiên cứu, chuyên môn vẫn chưa hiểu được là người Chăm đã làm cách nào để những viên gạch kích cỡ 20 cm x 20 cm cứ chồng khít lên nhau mà không cần một chất kết dính nào? Sự bền vững của cả 10 thế kỷ ấy dẫu có bị lung lay bởi sự tàn phá của thiên nhiên nhưng không bị sụp đổ là điều đáng ghi nhận.
    Việc trùng tu Tháp Bà kéo dài từ năm 2000 đến năm 2003 đã hoàn tất, Tháp Bà đã trở thành một điểm nhấn văn hoá và là một nơi khách du lịch dừng chân khi đến Nha Trang.
    Bên cạnh đó, một con đường nội bộ đã thi công dưới chân Tháp Bà, nhằm giúp cho khách tham quan có thể dạo chơi, ngắm nhìn sông Cái và đi trọn một vòng quanh tháp. Bên cạnh đó, hệ thống tường rào quanh tháp cũng vừa hoàn tất, những bậc thang lên tháp chính trong nhiều năm không sử dụng cũng đã được phục hồi. Tháp Bà là một điểm du lịch tháp Chăm độc đáo nằm ngay cửa ngõ thành phố Nha Trang.

    Tháp Po Nagar

    Po Nagar hay Tháp Bà là ngôi đền nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ cao khoảng 50 mét so với mực nước biển, ở cửa sông Cái (sông Nha Trang) tại Nha Trang, cách trung tâm thành phố khoảng 2 km về phía bắc, nay thuộc phường Vĩnh Phước. Tên gọi "Tháp Po Nagar" được dùng để chỉ chung cả công trình kiến trúc này, nhưng thực ra nó là tên của ngọn tháp lớn nhất cao khoảng 23 mét. Ngôi đền này được xây dựng trong thời kỳ đạo Hindu (Ấn Độ giáo) đang cường thịnh khi Chăm pa trong giai đoạn có tên gọi là Hoàn Vương Quốc, vì thế tượng nữ thần có hình dạng của Umar, vợ của Shiva.
    Truyền thuyết
    Nữ vương Po Nagar - còn gọi là Yan Pu Nagara, Po Ino Nagar hay Bà Đen (nguời Việt Nam gọi là Thiên Y Thánh Mẫu Ana) - là vị nữ thần được tạo nên bởi áng mây trời và bọt biển, người tạo dựng ra trái đất, sản sinh gỗ quí, cây cối và lúa gạo. Bà có 97 chồng, trong đó chỉ một mình Po Yan Amo là người có uy quyền và được tôn trọng hơn cả. Bà có 38 người con gái, tất cả đều hóa thân thành nữ thần, trong đó có ba người được người Chăm chọn làm thần bảo vệ đất đai và còn thờ phụng cho tới ngày nay: Po Nagar Dara, nữ thần Kauthara (Khánh Hòa); Po Rarai Anaih, nữ thần Panduranga (Ninh Thuận) và Po Bia Tikuk, nữ thần Manthit (Phan Thiết).
    Tương truyền, tượng bà Thiên Y Thánh Mẫu Ana theo tín ngưỡng phồn thực của người Chăm, không có quần áo. Po Nagar hiện nay được người Việt Nam sử dụng, nhưng đã cho nữ thần ăn mặc theo kiểu Phật. Ngôi đền này cũng nổi tiếng đối với các du khách.
    Để tìm hiểu thêm về ảnh hưởng tôn giáo của vị nữ thần này, có thể xem thêm "The Vietnamization of Po Nagar" của Nguyễn Thế An, trong loạt bài giảng về quá khứ Việt Nam, được chỉnh sửa bởi K.W. Taylor và John K. Whitmore, chương trình Đông Nam Á, Đại học Cornell, Ithaca, NY 1995

    Lịch sử
    Ngôi tháp bằng gỗ trước kia thờ nữ vương Jagadharma (công chúa Tchou Koti hay Thiên Y Thánh Mẫu) (cai trị Lâm Ấp từ năm 646 đến năm 653) được Prithi Indravarman cho xây dựng lại bằng vật liệu cứng tại Aya Tră (Nha Trang), trên một ngọn đồi cao cạnh cửa sông Cái (Xóm Bóng), để thờ tượng nữ thần Bhagavati (bằng vàng). Năm 774, quân Nam Đảo (Java, Indonesia) vào cướp phá. Đền Po Nagar, bị quân Nam Đảo phá hủy, sau đó được Satyavarman cho dựng lại bằng gạch, năm 784 thì hoàn thành và tồn tại cho tới ngày nay, nhưng cũng đã bị hủy hoại một phần đáng kể. Sau này quốc vương Harivarman I và con trai ông là Vikrantavarman III sau này có thể đã lần lượt xây dựng thêm 5 tháp nữa.
    Những cấu trúc xây dựng còn sót lại có niên đại sớm nhất, theo Trần Kỳ Phương là mandapa?? - nó đã được xây dựng vào thời gian nào đó trước khi có câu khắc trên bia vào năm 817, có nói tới nó. Trần Kỳ Phương cho rằng tháp nhỏ ở phía tây bắc có niên đại khoảng thế kỷ 10, và ngôi tháp chính có niên đại khoảng thế kỷ 11.
    Những bia ký còn sót lại ở Po Nagar cho người ta thấy được dấu vết của một quốc gia hùng mạnh đã từng tồn tại trong quá khứ.

    Kiến trúc

    Tổng thể kiến trúc của Po Nagar gồm 3 tầng, đi từ dưới lên trên.
    Tầng thấp: Ngang mặt đất bằng là ngôi tháp cổng mà nay không còn nữa. Từ đấy có những bậc thang bằng đá dẫn lên tầng giữa.
    Tầng giữa: Nơi đây hiện chỉ còn hai dãy cột chính bằng gạch hình bát giác, mỗi bên 5 cột có đường kính hơn 1 mét và cao hơn 3 mét. Ở hai bên các dãy cột lớn có 12 cột nhỏ và thấp hơn, tất cả lại nằm trên một nền bằng gạch cao hơn 1 mét. Dựa vào cấu trúc này người ta cho rằng đây vốn là một tòa nhà rộng lớn có mái ngói, là nơi để khách hành hương nghỉ giải lao và sắm sửa lễ vật trước khi lên dâng cúng ở các điện bên trên. Từ tầng giữa này, lại có một dãy bậc thang bằng gạch dốc hơn dẫn lên tầng trên cùng.
    Tầng trên cùng: Là nơi các tháp được xây dựng, ngay trước mặt ngôi tháp chính. Những bậc thang này từ lâu đã không hề được sử dụng. Bậc thang bằng đá ong thấy hiện nay ở phía nam tháp Bà rộng lớn hơn được xây vào thập niên 1960 do nhu cầu du lịch gia tăng.
    Ở tầng trên, có hai dãy tháp được bao quanh bởi bốn bức tường đá mà nay chỉ còn lưu lại tường phía tây và nam mà thôi. Dãy tháp phía trước có 3 ngôi, và dãy phía sau vốn có dấu vết của 3 ngôi tháp khác, thế nhưng nay chỉ còn 1, chúng chạy song song với nhau. Cả 4 tháp còn lại được xây dựng theo kiểu tháp của người Chăm, gạch xây rất khít mạch, không nhìn thấy chất kết dính. Lòng tháp rỗng tới đỉnh, cửa tháp quay về hướng đông.
    Mặt ngoài thân tháp có nhiều gờ, trụ, đấu. Trên đỉnh các trụ, thường đặt gạch trang trí hoa văn hình vòm tháp, trông như chiếc tháp nhỏ đặt lên một tháp lớn. Trên thân tháp còn có nhiều tượng và phù điêu bằng đất nung, trong đó có hình Po Nagar, thần Tenexa, các tiên nữ, các loài thú: nai, ngỗng vàng, sư tử...
    Tháp thờ chính ở dãy trước khá lớn và cao khoảng 23 mét, là tháp Po Nagar, mà ta hay gọi là tháp Bà. Nguyên thủy chính là tháp thờ thần Parvati, vợ của Shiva. Tháp chính thờ thần Po Nagar (Umar), vợ của thần Siva. Tháp Bà xây 4 tầng, mỗi tầng đều có cửa, tượng thần và hình thú bằng đá, ở 4 góc có 4 tháp nhỏ. Bên trong là tượng nữ thần (cao 2,6 m) tạc bằng đá hoa cương màu đen (trước đó là gỗ trầm hương, và xa hơn nữa là bằng vàng) ngồi trên bệ đá uy nghiêm hình đài sen, lưng tựa phiến đá lớn hình lá bồ đề. Đây là một kiệt tác về điêu khắc Chămpa, là sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật tượng tròn và chạm nổi. Người Pháp đã lấy mất đầu tượng, nay chỉ còn đầu tượng bằng xi măng vẽ mặt. Rải rác quanh di tích còn có một số tượng người, tượng thú...
    Trên đỉnh tháp có tượng thần Shiva cỡi ngưu thần Nandin, và các tượng linh vật như chim thiên nga, dê, voi v.v. Mặt ngoài tường tháp lại được trang trí bởi những hình điêu khắc vào đá như những vũ công, người chèo thuyền, xay gạo hay đi săn với cung tên. Cửa chính ở phía đông dẫn vào một tiền sảnh, ở hai bên cửa có hai trụ đá được khắc truyền ký, đỡ một phiến đá hình thuẫn có khắc hình nữ thần Durga đang múa giữa hai nhạc công. Bên trong tháp tối và lạnh. Cuối tháp có một bệ thờ bằng đá bên dưới tượng Bà Po Nagar với mười cánh tay. Hai bàn tay dưới đặt trên hai đầu gối, các bàn tay khác thì cầm những vât dụng như đoản kiếm, mũi tên, chùy và cây lao ở bên phải và chuông, đĩa, cung và tù và ở bên trái.
    Các tháp khác thờ: thần Siva (một trong ba vị thần tối cao của Ấn Độ giáo), thần Sanhaka, thần Ganeca (theo truyền thuyết là con trai thần Siva). Bên cạnh tháp chính về phía nam khoảng 20 mét là một ngôi tháp khác nhỏ và ít trang trí điêu khắc hơn, cao chừng 12 mét, có thể là tháp thờ thần Shiva.
    Cách tháp này cũng về hướng nam là một tháp còn nhỏ hơn. Bên trong tháp không có bệ thờ mà chỉ có một linga (thạch trụ), và đây là tháp thờ thần Ganesa, thân người đầu voi, con của Shiva. Nhiều tác giả cho rằng linga là linh tượng có hình thù dương vật tượng trưng cho Shiva, dựa theo sự diễn dịch của phương Tây hơi thiên về tình dục. Thực ra, linga tiêu biểu là một trụ đá thấp có ba phần khác nhau tượng trưng cho ba linh thể: phần dưới là hình vuông tượng trưng cho Brahma, phần giữa hình bát giác tượng trưng cho Vishnu, và phần trên cùng hình tròn tượng trưng cho Rudra (hay còn gọi là Shiva). Vì thế gọi là "linh thạch trụ" thì thích hợp hơn.
    Ở dãy tháp phía sau có một ngôi tháp, tương đối ít hư hại nhất ở mạn bắc, với mái dài hình yên ngựa. Kiểu mái này chỉ thấy bắt đầu ở những tháp vùng Đồ Bàn - Vijaya (Bình Định ngày nay) sau khi kinh đô được dời xuống từ Mỹ Sơn, Trà Kiệu ở thế kỷ 11. Ở tường có những hình điêu khắc như thần điểu Garuda, sư tử, các tiên nữ Apsara, rắn thần Naga. Chính dưới nền của tháp này trong khi tu sửa đầu thế kỷ 20, thực dân Pháp đã khám phá và lấy mất một kho tàng được cất dấu gồm những vật cúng dường bằng vàng và bạc.
    Ngày nay 2 tháp khác ở phía tây nam là tây đã bị phá hủy. Sự phân bố này làm cho người ta có sự so sánh thú vị với các tháp gạch ở Lolei, gần Angkor Wat tại Campuchia, đã được xây dựng vào thế kỷ 8.
    Nhóm tháp Chàm được xây dựng và tu bổ qua nhiều thời kỳ từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 12. Tháp Bà có thể do quốc vương Hoàn Vương Quốc là Harivarman I xây dựng vào khoảng những năm 813-817. Trải qua mưa nắng của thời gian, tháp bị hư hại. Thời Pháp thuộc, trường Viễn Đông Bác Cổ đã tổ chức tu sửa: dùng gạch xây lại nhiều phần và đắp một số tượng lên thân tháp. Trong thời kỳ chiến tranh, nhiều hiện vật bị mất cắp.
    Các bia ký
    Tháp Bà còn lưu lại nhiều bia ký cổ nhất của người Chăm. Bergaigne, một nhà khảo cổ học người Pháp đã liệt kê các bia ký theo thời gian như sau:
    Nhóm A: Trên bia đá hình lục giác, do vua Satyavarman dựng năm 781 ghi chuyện tháp bị giặc biển đốt phá năm 774, việc xây dựng tượng thần Sri Satya Mukhalinga vào năm 784.
    Nhóm B: Do vua Vikrantavarman III ghi lại công lao xây dựng của các tiên vương.
    Nhóm C và nhóm D: Do vua Vikrantavarman II ghi các lễ vật dâng cúng chư thần.
    Nhóm E: Ghi việc vua Indravarman II dựng pho tượng Bhagavati (tức Po Nagar) bằng vàng vào năm 918; pho tượng này về sau bị người Khmer xâm lăng cướp đi, và đã được thay thế bằng tượng bằng đá vào năm 965.
    Bia đá ở hai bên cửa của tháp chính ghi việc cúng ruộng và dân công nô lệ cho nữ thần. Bia ở phía nam của tháp chính ghi việc vua Jaya Harivarman I ca tụng thần Yang Po Nagar vào năm 1178. Bia ở phía bắc tháp chính ghi việc dựng đền thờ thần Bhagavati Matrilingesvara vào năm 1256. Ngoài ra còn bia đá dựng năm 1050 của vua Paramesvaravarman I ghi việc tái lập tượng Bà, việc dâng cúng ruộng đất và nô lệ đủ sắc tộc: người Campa (Chăm), Kvir (Khmer), Lov (Tàu), Pukan (Mã), Syam (Xiêm) vv... Bia của vua Rudravarman III (Chế Củ) dựng năm 1064 ghi việc xây cổng tháp rất tốn kém, và liệt kê những cống phẩm quí giá. Bia năm 1143 ghi lời xưng tụng Bà.
    Bia năm 1165 của vua Indravarman IV ghi việc dâng cúng một kim mão cho nữ thần Bhagavati Kautharesvati (Dựa vào lời ghi này có thể tạm dịch là "Đức thánh mẫu vùng Kauthara" và so sánh với các bia khác, có thể đoán là người Chăm chỉ thờ thần Parvati như Thánh Mẫu của từng địa phương; ví dụ ở Phú Yên và Ninh Thuận cũng có tháp thờ Thánh Mẫu của vùng đó, chứ chưa hẳn là ở mức độ toàn xứ Chiêm Thành). Các bia sau cùng ở thế kỷ thứ 13 hay 14 tiếp tục ghi những vật dâng cúng Bhagavati.
    Lễ hội
    Lễ hội Tháp Bà diễn ra từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 3 âm lịch hàng năm. Lễ hội này đã được Bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam xếp hạng là một trong 16 lễ hội quốc gia vào năm 2001. Những năm gần đây, Lễ hội Tháp Bà được tỉnh Khánh Hòa giao cho Sở Văn hóa Thông tin tổ chức.

    THÁP BÀ NHA TRANG VÀ LƯỢC SỬ CHIÊM THÀNH

    Nói đến Nha Trang, "phố biển hiền hòa", "miền thùy dương cát trắng", nằm cách Huế khoảng 624 cây số về phía nam và cách Sàigòn khoảng 442 cây số về phía bắc; không ai lại quên nhắc đến một thắng cảnh độc đáo và cũng là một thánh tích quan trọng, đó là Tháp Bà Nhatrang hay Tháp Po Nagar.
    Tháp Po Nagar
    Tháp Bà hiển nhiên là một kiến trúc tôn giáo đặc thù của người Chàm (hay Chăm, hay Champa) được họ gọi là Klmer. Người Chàm là cư dân bản địa xa xưa đã bị lịch xử oan khiên xóa nhòa trước đà Nam tiến của giống Việt càng ngày càng phát triển. Âu cũng là nạn nhân của luật đào thải, mạnh được yếu thua, thế nhưng thói thường thì kẻ xâm chiếm lại quay ra tôn sùng những thần linh, và tiếp thu dễ dãi văn hóa và tín ngưỡng của dân bị diệt vong. Nhiều nét của văn hóa Chàm từ ngôn ngữ, trang phục, ca dao, truyện cổ, âm nhạc, ca vũ, vv... đã thấm nhập êm ả vào đời sống của dân tộc Việt.
    Tháp Bà nằm ở phía bắc thành phố Nhatrang khoảng 4, 5 cây số, trên một ngọn đồi cao cách mặt bể độ chừng 50 thước, được gọi là núi Cù Lao cạnh cửa sông lớn đổ ra biển Đông. Con sông này vốn mang khá nhiều tên theo thời gian là sông Cái, sông Ngọc Hội và cuối cùng là sông Nhatrang. Nhatrang mà thành phố biển này mang tên có nguồn gốc từ tiếng Chàm Eatran hay Yatran mà ra. "Ea" hay "Yja" hay "Ya": có nghĩa là nước là sông; còn "tran": là lau sậy, vì hai bên bờ sông toàn là lau sậy. (Có lẻ dân ta về sau biến chữ "tran" thành "trảng" như trảng bom, trảng bàng vv... chăng?)
    Như thế Eatran hay Nhatrang có nghĩa là "con sông sậy", thuộc vùng Kauthara của Chiêm thành mà tổ tiên ta tiếp thu vào năm 1653. Một điều đáng ghi nhận là hiện nay đồng bào thượng Rhadé hay Êđê vùng Ban Mê Thuột vẫn dùng nhiều từ ngữ gốc Chàm và vẫn gọi nước hay sông là Ea. Như thế cho thấy sự liên hệ của họ với người Chàm xưa cũng gần gũi lắm.
    Dưới chân núi Cù Lao về phía đông, cạnh quốc lộ số 1 vốn là bến xe ngựa ở thời Pháp thuộc cho đến thời đệ Nhất Cộng hòa, về sau theo sự tăng tiến kỹ thuật trong đời sống, xe ngựa được thay thế bằng xe lam rồi xe buýt Renault.
    Bên kia quốc lộ là Xóm Bóng hay Xóm Chài, vì xóm này nguyên được lập nên bởi những người chuyên làm nghề đồng bóng ở tháp Bà (tiếng Chàm gọi là patjao), và về sau ngư phủ người Việt tập trung sinh sống quanh đấy càng ngày càng đông. Vào thời cao điểm của cuộc chiến vào khoảng năm 1969, công binh quân đội Đại hàn làm một xa lộ mang tên là "Cải lộ tuyến" hay "xa lộ Đại hàn" đi tắt từ phía bắc đèo Rù Rì đến Thành, và từ đó các chuyến vận tải xuyên Việt không còn phải chạy cạnh chân Tháp Bà, qua cầu Xóm Bóng, cầu Hà Ra để vào thành phố như trước.
    Trong những năm cuối của thời Pháp thuộc, vùng phía bắc của Tháp Bà như Đồng Đế, Ba Làng vv.. vẫn còn hoang vu lắm. Việc đi thăm hay cắm trại ở Hòn chồng, bãi Dương là những dịp hãn hữu; còn việc lễ bái ở tháp thì chỉ náo nhiệt nhất là vào dịp tết âm lịch. Lý do dễ hiểu là thời ấy thành phố Nhatrang còn bé và việc đi lại còn lắm khó khăn, và chẳng ai có nhu cầu gì để phải đi xa như thế. Có lẻ nguồn giải trí lành mạnh của dân Nha thành vừa tiện lợi và ít tốn kém vẫn là bãi biển cát trắng và nước biển trong xanh bên cạnh.
    Toàn bộ Tháp Bà được xây dựng khoảng từ đầu thế kỷ thứ 8, thời mà dân Việt vẫn còn bị Tàu đô hộ (dựa vào niên đại những bia ký dựng ở tháp) và tiếp tục được phát triển và trùng tu cho đến thế kỷ thứ 13. Thế kỷ thứ 8, cũng là thời kỳ vua Chàm ở phía bắc là Vikrantavarman II thôn tính vùng Kauthara (Khánh hòa) của các tiểu vương Chàm ở phía nam, nhưng vẫn chưa tiến chiếm hết vùng Panduranga (Ninh và Bình thuận).
    Mặt tiền của các tháp đều hướng ra biển Đông. Tổng thể kiến trúc gồm ba tầng, đi từ dưới lên trên. Tầng thấp ngang mặt đất bằng là ngôi tháp cổng mà nay không còn nữa. Từ đấy có những bậc thang bằng đá dẫn lên tầng giữa, nơi đây hiện chỉ còn hai dãy cột chính bằng gạch hình bát giác, mỗi bên 5 cột có đường kính hơn 1 thước và cao hơn 3 thước. Ở hai bên các dãy cột lớn có 14 cột nhỏ và thấp hơn, và tất cả lại nằm trên một nền bằng gạch cao hơn 1 thước. Dựa vào cấu trúc này người ta cho rằng đây vốn là một tòa nhà rộng lớn có mái ngói, là nơi để khách hành hương nghỉ giải lao và sắm sửa lễ vật trước khi lên dâng cúng ở các điện bên trên. Từ tầng giữa này, lại có một dãy bậc thang bằng gạch dốc hơn dẫn lên tầng trên cùng, cũng là nơi các tháp được xây dựng, ngay trước mặt ngôi tháp chính. Những bậc thang này từ lâu đã không hề được xử dụng. Bậc thang bằng đá ong mà ta thấy hiện nay ở phía nam tháp Bà rộng lớn hơn được xây vào thập niên 60 do nhu cầu du lịch gia tăng.
    Ở tầng trên, có hai dãy tháp được bao quanh bởi bốn bức tường đá mà nay chỉ còn lưu lại tường phía tây và nam mà thôi. Dãy tháp phía trước chỉ có 3 ngôi, và dãy phía sau vốn có dấu vết của 3 ngôi tháp khác, thế nhưng nay chỉ còn một. Tháp thờ chính khá lớn và cao khoảng 23 thước, là tháp Po Nagar, mà ta hay gọi là tháp Bà. Nguyên thủy chính là tháp thờ thần Parvati, vợ của Shiva (hay Xiva). Trên đỉnh tháp có tượng thần Shiva cỡi thần ngưu Nandin, và các tượng linh vật như chim thiên nga, dê, voi vv. Mặt ngoài tường tháp lại được trang trí bởi những hình điêu khắc vào đá như những vũ công, kẻ chèo thuyền, kẻ xay gạo hay kẻ đi săn với cung và tên.
    Cửa chính ở phía đông dẫn vào một tiền sảnh, ở hai bên cửa có hai trụ đá được khắc truyền ký, đỡ một phiến đá hiønh thuẩn có khắc hình nữ thần Durga đang múa giửa hai nhạc công. Bên trong tháp thì âm u và mát lạnh. Cuối tháp có một bệ thờ bằng đá bên dưới tượng Bà Po Nagar với mười cánh tay. Hai bàn tay dưới đặt trên hai đầu gối, các bàn tay khác thì cầm những vât dụng như đoản kiếm, mũi tên, chùy và cây lao ở bên phải và chuông, đĩa, cung và tù và ở bên trái.

    Từ Yang Po Inư Nagar đến Thiên Y A-Na

    Trên các bia ký lưu lại ở tháp, nếu ghi bằng chữ Phạn cổ thì tên của Bà là Bhagavati Kautharesvati, và ghi bằng chữ Chàm thì gọi đầy đủ là Yang Po Inư Nagar, theo đó thi "Yang" là Thần; "Pô" là tôn kính, là ngài; Inư là mẩu, là mẹ; và Nagar: xứ sở, đất nước. Người thượng tây nguyên vẫn còn duy trì những lễ cúng "Yang" (mà ta hay gọi là cúng Ông Giàng: có nghĩa là Thần đất, thần rừng) rất công phu tốn kém hằng năm.
    Nói gọn lại là Đức Thần Mẹ Đất Nước. Như thế Bà được tôn thờ vừa là Thổ mẫu, vừa là Nông thần vì đã dạy dân biết cách trồng trọt và làm ruộng. Tượng thờ của thần Po Nagar thực ra cứ bị quân xâm lăng tàn phá hoặc đánh cắp mãi. Bia đá ở tháp Bà còn ghi năm 918 vua Indravarman II dựng pho tượng Bhagavati (tức Po Nagar) bằng vàng; pho tượng này về sau bị người Chân Lạp (Khmer) xâm lăng cướp đi vào năm 950, và đã được thay thế bằng tượng bằng đá. Năm 1203 tháp Po Nagar lại bị quân Chân Lạp chiếm đóng tàn phá lần nữa, và 7 năm sau vua Paramesvaravarman II mới giải phóng được Chiêm thành cho trùng tu lại.
    Nhưng rồi loạn lạc vẫn tiếp diễn liên miên, cho đến gần đây pho tượng Bà vốn được tạc từ gỗ trầm hương, lại bị người Pháp cướp đi vào năm 1946, về sau được dân địa phương thay thế bằng một tượng khác mang màu sắc Việt, còn được gọi là Thánh mẫu Thiên Y A Na.

    Những Tháp Thờ Khác

    Bên cạnh tháp chính về phía nam khoảng 20 thước là một ngôi tháp khác bé và ít trang trí điêu khắc hơn, cao chừng 12 thước, có lẻ là tháp thờ thần Shiva. Cách ngôi này cũng về hướng nam là một tháp còn nhỏ hơn.ngôi thứ hai. Bên trong tháp không có bệ thờ mà chỉ có một linga (thạch trụ), và đây là tháp thờ thần Ganesa, thân người đầu voi, con của Shiva.
    Nhiều tác giả cho rằng linga là linh tượng có hình thù dương vật tượng trưng cho Shiva, dựa theo sự diễn dịch của Tây phương hơi thiên về tình dục. Điều này là một sự ngộ nhận đáng tiếc. Thực ra linga tiêu biểu là một trụ đá thấp có ba phần khác nhau tượng trưng cho ba linh thể: phần dưới là hình vuông tượng trưng cho Brahma, phần giữa hình bát giác tượng trưng cho Vishnu, và phần trên cùng hình tròn tượng trưng cho Rudra (hay còn gọi là Shiva). Vì thế ta nên gọi là "linh thạch trụ" thì thích hợp hơn.
    Ở dãy tháp phía sau có một ngôi tháp tương đối ít hư hại nhất ở mạn bắc, với mái dài hình yên ngựa. Kiểu mái này chỉ thấy bắt đầu ở những tháp vùng Đồ Bàn - Vijaya (Bình định ngày nay) sau khi kinh đô được dời xuống từ Mỹ sơn, Trà Kiệu ở thế kỷ thứ 11. Ở tường lại có những hình điêu khắc như thần điểu Garuda, sư tử, các tiên nữ Apsara, xà thần Naga. Chính dưới nền của tháp này trong khi tu sửa đầu thế kỷ 20, thực dân Pháp đã khám phá và cuổm mất một kho tàng được cất dấu gồm những vật cúng dường bằng vàng và bạc.

    Huyền Thoại Việt Về Po Nagar

    Có khá nhiều huyền thoại về nữ thần Po Nagar tùy theo ảnh hưởng cương thịnh từng thời. Khi tháp Bà rơi vào thay người Việt và biến thành Thiên Y Thánh Mẫu thì vào năm 1856 Phan Thanh Giản cho khắc một truyền thuyết đầy màu sắc Việt lên bia đá được dựng ở tháp, và toàn văn bài bia Tháp cổ Thiên Y đã được chép lại vào sách Đại Nam Nhất Thống Chí.
    Theo đó xin được tóm tắt đại khái như sau: Xưa trong vùng Đại Điền có hai vợ chồng già trồng dưa hấu sinh sống. Khi dưa chín thì về đêm cứ bị phá trộm. Ông lão rình và thấy một cô gái mới lớn dùng dưa để đùa giởn dưới trăng. Ông lão vặn hỏi thì biết là trẻ mồ côi bèn đem về làm con nuôi, và hai vợ chồng rất thương yêu cô gái. Một ngày mưa lụt lớn, nhớ chốn cũ ở Tam thần Sơn, cô nhập vào một khúc gổ kỳ nam đang trôi về phương bắc. Dân phương bắc thấy gổ thơm trôi giạt đua nhau gắng sức kéo về nhưng không nổi. Thái tử đang ở tuổi 20, con của vua cai trị nghe tin liền tiøm đến bải biển và lạ thay một mình khuân được gổ về cung. Từ đấy thường vổ về cây kỳ nam và bồi hồi ngẩn ngơ.
    Bỗng một đêm thấy có bóng một cô gái diễm kiều hiện ra, thái tử vội nắm tay giử lại gặn hỏi và biết được sự tích. Thái tử tâu rõ mọi chuyện với vua cha và được vua cho kết hôn. Hai vợ chồng sinh được hai đứa con, trai tên là Trí và gái là Quý. Một thời gian sau lại nhớ chốn cũ ở phương nam, vợ thái tử dắt hai con nhập vào gổ kỳ nam trôi về cửa Cù Huân, rồi lần về núi Đại Điền nhưng ông bà lão trồng dưa đã qua đời. Bà liền lập đền thờ. Từ đó bà dạy dân trong vùng biết cách trồng lúa. Về sau Bà còn cho đục đá ở núi Cù Lao tạc tượng bà, rồi giửa ban ngày bà thăng thiên biến mất.
    Thái tử mãi sau cho người kéo thuyền đi tìm vợ, nhưng bọn người này khi đến cửa Cù Huân lại hiếp đáp dân lành và khinh miệt linh tượng, nên chợt có một trận cuồng phong nổi lên đánh úp thuyền biến thành một tảng đá to. Từ đó dân làng thấy Bà hiển linh thường cỡi voi trắng đi dạo trên đỉnh núi với tiếng sấm vang động. Có khi bà cỡi tấm lụa bay giữa không trung hay cỡi cá sấu trong vùng dảo Yến, núi Cù. Dân trong vùng bèn xây tháp thờ trên núi Cù Lao, cầu khấn việc gì cũng linh ứng. Tháp giửa thờ Chúa Tiên (tức Thần Thiên Y), tháp bên trái thờ vợ chồng lão trồng dưa, bên phải thờ thái tử. Phía sau lập đền nhỏ thờ hai ngừơi con. Người Chàm tôn Bà là Ana Diễn Bà Chúa Ngọc Thánh Phi. Triều Nguyễn phong tặng Hồng Nhân Phổ Tế Linh Ứng Thượng Đằng Thần và cử ba người dân làng Cù Lao làm Từ phu.
    Câu chuyện trên của cụ Phan cốt để giải thích một cách thi vị các nhân vật được thờ ở tháp Bà, và nó cũng tương tự như truyền thuyết nàng Mưjưk của người Chàm hiện đang được truyền tụng ở vùng Ninh thuận và Bình thuận. Khi ảnh hưởng Hồi giáo phát triển vào các thế kỷ 14 và 15 thì các huyền thoại về Thánh Mẫu lại biến đổi theo màu sắc Muslim với tên là Đại nữ thần Mơ-mai-sahai-cadông.

    Các Bia Ký Lịch Sử

    Khu tháp Bà còn lưu lại nhiều bia ký cổ nhất của người Chàm. Bergaigne, một nhà khảo cứu người Pháp đã liệt kê các bia ký theo thời gian như sau: Nhóm A: trên bia đá hình lục giác, do vua Satyavarman dựng năm 781 ghi chuyện tháp bị giặc biển đốt phá năm 774, việc xây dựng tượng thần Sri Satya Mukhalinga vào năm 784.
    Nhóm B: do vua Vikrantavarman III ghi lại công lao xây dựng của các tiên vương. Hai nhóm C và D: do vua Vikrantavarman II ghi các lễ vật dâng cúng chư thần. Nhóm E ghi việc vua Indravarman II dựng pho tượng Bhagavati (tức Po Nagar) bằng vàng vào năm 918 (thực ra chữ Bhagavati chỉ là tiếng xưng tôn kính, chứ chẳng phải là tên thần, mà tác giả Ngô Văn Doanh ở trong nước hiểu nhầm); pho tượng này về sau bị người Khmer xâm lăng cướp đi, và đã được thay thế bằng tượng bằng đá vào năm 965. Bia đá ở hai bên cửa của tháp chính ghi việc cúng ruộng và dân công nô lệ cho nữ thần. Bia ở phía nam của tháp chính ghi việc vua (Jaya) Harivarman I ca tụng thần Yang Po Nagar vào năm 1178. Bia ở phía bắc tháp chính ghi việc dựng đền thờ thần Bhagavati Matrilingesvara vào năm 1256.
    Ngoài ra còn bia đá dựng năm 1050 của vua Paramesvaravarman I ghi việc tái lập tượng Bà, việc dâng cúng ruộng đất và nô lệ đủ sắc tộc: người Campa (Chàm), Kvir (Khmer), Lov (Tàu), Pukan (Mã), Syam (Xiêm) vv... Bia của vua Rudravarman III (Chế Củ) dựng năm 1064 ghi việc xây cổng tháp rất tốn kém, và liệt kê những cống phẩm quí giá. Bia năm 1143 ghi lời xưng tụng Bà.
    Bia năm 1165 của vua Indravarman IV ghi việc dâng cúng một kim mão cho nữ thần Bhagavati Kautharesvati (Dựa vào lời ghi này ta có thể tạm dịch là "Đức thánh mẫu vùng Kauthara" và so sánh với các bia khác, có thể đoán là người Chàm chỉ thờ thần Parvati như Thánh Mẫu của từng địa phương; ví dụ ở Phú Yên và Ninh thuận cũng có tháp thờ Thánh Mẫu của vùng đó, chứ chưa hẳn là ở mức độ toàn xứ Chiêm thành, như tác giả Ngô Văn Doanh quyết đoán). Các bia sau cùng ở thế kỷ thứ 13 hay 14 tiếp tục ghi những vật dâng cúng Bhagavati.

    Nguồn Gốc Và Văn Hóa của Người Champa

    Như thế thì tháp Bà có một lịch sử rất lâu đời. Nhìn ngắm những công trình xây dựng uy nghi thanh nhả đứng trơ gan cùng tuế nguyệt hằng bao thế kỷ, không khỏi làm kẻ lãm du chợt dậy một mối hoài niệm bồi hồi cho một dân tộc suy vong. Vậy người Chàm là ai?
    Thực khó mà định được niên đại những giống dân cổ đã từng sinh sống ở giải giang sơn miền trung và nam Việt hiện nay. Năm 1909, người ta đào được khoảng 200 hũ cốt ở Sa Huỳnh, phía nam Đà Nẵng, và tiếp đến ở hơn 50 địa điểm khác gần đấy. Dùng phương pháp định tuổi theo phóng xạ Carbon, người ta thấy là nhóm cư dân thuộc văn hóa Sa huỳnh (từ Nghệ tỉnh đến Biønh định) hay là thời kỳ tiền-Champa, biết chế tạo đồ gốm và kim khí cùng thời với các nhóm thuộc văn hóa Đông sơn, tức khoảng 1500 năm trước CN.
    Không chừng hai nền văn hóa này có cùng một nguồn gốc từ lâu đời, nhưng hậu duệ của văn hóa Đông sơn đã chịu ảnh hưởng của Trung hoa quá sớm, có lẻ do sự xâm lược chiếm đóng của nước này, và cư dân ở phía nam lại chịu ảnh hưởng của Ấn bằng hòa nhập qua thương mãi. Mãi đến thế kỷ thứ 2, sử Tàu mới ghi nhận có nước Lâm Ấp với giống Chàm, hậu duệ của nền văn hóa Sa Huỳnh cư ngụ ở đấy.
    Họ có lẻ là dân thuộc các hải đảo vùng Đông Nam Á trôi dạt vào đất liền định cư, và đã tiếp nhận nền văn hóa và tín ngưỡng Ấn độ. Ngôn ngữ của họ thuộc nhóm Mã-Hải đảo (Malayo-polynesian). Chữ viết của họ dựa vào tiếng Bắc Phạn (Sanscrit) cổ cho mãi đến giữa thế kỷ 16 lại được canh tân với văn phạm Ả rập khi ảnh hưởng đạo Hồi bắt đầu lấn át các tôn giáo cũ, chữ Chàm được gọi là Khâr-Tapuk. Đơn cử một từ mà ta hay nói về đảo nhỏ là "cù lao"; nó lại bắt nguồn từ chữ Pulao (ví dụ Pulao Bidong).
    Văn hóa Ấn anh hưởng rất sớm và khá sâu đậm trên xã hội Chàm và các kiến trúc tháp cổ. Cao điểm của sự du nhập nền văn hóa này có lẽ từ cuối thế kỷ thứ 6 do sự hùng mạnh của vương quốc Sri-Vijaya ở Java và Sumatra, và đế quốc này đã khống chế đường hàng hải huyết mạch ở vùng Đông Nam Á trong suốt 700 năm (từ thế kỷ thứ 7 đến 13). Người Chàm thờ phụng những thần linh của đạo Bà La Môn (Brahman), trong đó nổi bậc nhất là 1) Phạm Thiên (Brahma) là đấng sáng tạo ra những cảnh giới. Phạm Thiên có bốn tay và bốn mặt tượng trưng cho bốn hướng, thường cỡi con thiên nga Hamsa. Vợ của ngài là Saravasti. 2) Vishnu: Thần bảo bọc; thần có bốn tay mỗi tay cầm một khí cụ, thường cỡi thần điểu Garuda.
    Vợ ngài là Laksmi, nữ thần của sắc đẹp. Ngoài ra còn có ảnh tượng của những thần khác như Ganesa: thần thông minh, Indra: thần mưa, hay thần sấm, Kama: thần tình yêu, Apsara: đoàn vũ nữ thiên giới, và xà thần Naga. 3) Shiva (hay Xiva), thần hủy diệt (nói rõ hơn là diệt vô minh), có lúc cũng nhân ái và dâm dật. Shiva có nhiều tay, nhiều mặt và thêm một mắt ở giữa trán, thường cởi thần ngưu Nandin. Thần có nhiều vơ (nói đúng hơn là thần thể hiện ra năng lực chuyển động dưới dạng nữ tính - shakti), trong đó phải kể đến Parvati hay Uma: thổ mẫu; và Durga hay Kali: thần chiến đấu. Theo cách thờ phượng của người Chàm thì họ cò lẻ theo phái Sakta của Ấn độ giáo đã nâng thần Parvati lên cao cả hơn hết, trong khi phái chính thống thì chỉ cho là thứ yếu.
    Vào thế kỷ thứ 8 và 10 (từ 758- 915), ảnh hưởng của Phật giáo lại thịnh hành, nhất là trong thời Hoàn Vương. Một tấm bia tại Đồng Dương (xưa chính là kinh đô Indrapura, thuộc huyện Thăng biønh, tỉnh Quảng nam ngày nay) được vua Chiêm Indravarman II dựng lên vào năm 875 đã ghi: "do lòng tin vào Phật, vua đã cho dựng lên một tu viện Phật giáo và đền thờ Laksmindra Lôkesvara Svabhayada". Cũng ở Đồng dương, vào năm 1901người Pháp đã đào được nhiều cổ vật mà đặc sắc nhất là một tượng Phật bằng đồng cao hơn 1 thước, mang nhiều nét vẻ của tượng Phật Amaravati ở Ấn độ. Một bia đá khác gọi là Ròn hay bia Bắc Hạ gần đèo Ngang ghi năm 889, vua Indravarman II xây dựng một tu viện Phật giáo thờ Bồ tát Avalokitesvara.
    Do đó có thể nói Phật giáo Đại thừa đã một thời rất hưng thịnh tại Indrapura (thành của thần Indra), đến nổi các vua Chiêm đặt tên cho lãnh thổ này là Amaravati. Sau khi người Chàm thiên đô về Đồ Bàn, cũng cùng lúc đế quốc Sri-Vijaya bắt đầu suy vi nhường chỗ cho các thế lực Hồi giáo phát triển, mạnh nhất là khoảng thế kỷ thứ 15 trở về sau, vì thời ấy nước Chiêm Thành giao thương nhiều với các vương quốc vùng Indonesia và Mã Lai, là những nước bắt đầu chuyển theo Hồi giáo từ thế kỷ 13.
    Đế quốc Hồi giáo Malacca sau rốt sụp đổ vào cuối thế kỷ 16, do sự xuất hiện của người Tây phương, nhất là người Bồ Đào Nha và người Hòa Lan. Theo thống kê trước năm 1975 thì hai phần ba người Chàm theo Ấn Độ giáo ở miền Trung, còn một phần ba theo Hồi giáo thì ở Nam phần.

    Lược Sử Champa

    Lịch sử Chiêm thành đầy rẩy can qua chinh chiến với các lân bang từ khi lập quốc. Xem lại sử ta thấy rằng năm 111 trước CN vua Vũ-đế nhà Hán sai Lộ Bác Đức và Dương Bộc sang diệt nhà Triệu lấy nước Nam Việt đổi lại thành Giao chỉ bộ, và chia ra làm 9 quận mà 3 quận phía nam là Giao-chỉ, Cửu-chân và Nhật-nam bao gồm đất Bắc Việt và bắc Trung Việt ngày nay, mở đầu thời kỳ Bắc thuộc của nước ta. Sách Khâm Định Việt Sử chép rằng phía nam quận Nhật-nam có huyện Tượng-lâm (khỏang Trà Kiệu, tỉnh Quảng Nam bây giờ), vào năm 102 đời vua Hòa-đế nhà Đông Hán, người huyện ấy cứ hay sang cướp phá quận Nhật-nam.
    Đến cuối đời nhà Hán, khoảng năm 192 ở huyện Tượng lâm có người tên Khu-Liên giết huyện lệnh đi rồi tự xưng làm vua, đặt tên nước là Lâm Ấp (Lin Yi: Ấp của dân Tượng lâm). Thực ra chữ Khu-Liên không phải là tên, mà là tiếng xưng tụng như "thủ lãnh". Dòng dõi Khu-Liên thất truyền nên cháu ngoại là Phạm-Hùng (ta dịch âm từ Fan Hiong trong sử Tàu; mà Fan lại âm theo Varman của tiếng Chàm) lên nối nghiệp.
    Ban đầu thiø lãnh thổ Lâm Ấp còn gọi là Indrapura, là vùng từ phía nam đèo Ngang, cạnh sông Gianh, đến hết vùng Amaravati (Quảng nam ngày nay). Tiếp đến trở xuống là các vùng tự trị của các tiểu vương như Vijaya (Bình định), Aryaru (Phú yên), Kauthara (Khánh hòa) và Panduranga (Bình và Ninh thuận). Có nhiều tác giả cho là lãnh thổ của Lâm-Ấp bấy giờ chỉ đến đèo Hải Vân mà thôi.
    Điều này không đúng, bởi vì những bia ký ở thánh địa quan trọng Mỹ sơn - Srisanabhadresvara (nằm cách Đà nẵng hiện nay về hướng tây nam khoảng 70 km) đã ghi là thánh địa thờ thần Bhadresvara, là thần chủ giang sơn Chàm, do vua Lâm Ấp là Phạm Phật (Bhadravarman, trị vì từ 349 - 361) dâng cúng. Nhiều bia đá ở Mỹ Sơn đã cho biết khá nhiều về giai đoạn lịch sử ban đầu của Lâm Ấp.
    Theo thời gian, Phù Nam (Fu-nan), một vương quốc ở phương nam hoàn toàn theo văn minh Ấn Độ - tồn tại từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ 6 tại vùng đồng bằng sông Cữu Long bây giờ, đã từng triều cống Trung Hoa trong khoảng thời gian từ năm 253 đến năm 519, và có cảng Óc Eo rất nhộn nhịp - mạnh dần và thôn tính Kauthara (Khánh hòa) và Panduranga (Bình và Ninh thuận). Còn Vijaya (Bình định) thì thuộc về Lâm Ấp. Vùng Aryaru (Phú yên) trở thành vùng trái độn.
    Suốt thời Tam quốc sang đến nhà Tấn người Lâm ấp vẫn thường sang quấy nhiễu quận Nhật nam, có khi tiến đánh đến quận Cửu chân nữa. Năm 353 đời vua Mục đế nhà Đông Tấn sai quan thứ sử Giao châu là Nguyễn Phu đánh bại vua Lâm Ấp là Phạm Phật (Bhadravarman) phá hủy hơn 50 đồn lũy. Năm 399 vua Lâm Ấp là Phạm Hồ Đạt lại đánh phá đến tận Giao chỉ bị quan thái thú Đỗ Viện đánh đuổi. Năm 413 lại tái diễn, nên năm 420 con của Đỗ Viện là Đỗ tuệ Độ phải kéo quân sang tiểu trừ tận đất Lâm Ấp, từ đó ngưới Lâm Ấp mới chịu hàng phục cống tiến Trung hoa hàng năm.
    Sang đến thời loạn lạc Nam Bắc triều ở Tàu (420-588) thì nhà Nam Tống cai trị đất Giao châu. Năm 433 vua Lâm Ấp Phạm Dương Mại cho sứ sang Tàu xin làm chủ đất Giao châu, vua Tống không thuận, nên quân Lâm Ấp luôn sang quấy phá Nhật nam và Cửu chân. Vua Tống sai quan thứ sử Đàn hòa Chí đem quân sang đánh Lâm Ấp, tàn phá kinh đô Trà Kiệu (Đồng dương, Quảng nam bây giờ) và lấy được vô số vàng bạc châu báu. Sử chép Đàn Hòa Chí thu được một tượng bằng vàng nặng đến nổi mấy người khuân không xuể.
    Cuối thế kỷ thứ 5 ảnh hưởng của Lâm Ấp mở rộng về phía tây đến Nam Lào (Champassak), nhưng đầu thế kỷ thứ 6 thì vùng này lọt vào tay người Khmer (Chân lạp), lãnh thổ Lâm Ấp bành trướng đến đèo Cù mông (Phú yên). Người ta đã tìm thấy tấm bia Vat Luang Kau gần chùa Vat Phou (Champassak, nam Lào), cho biết là vào thế kỷ thứ 5, biên giới Chiêm Thành mở rộng đến bờ sông Mekong.
    Vào giửa thế kỷ thứ 6, nước Phù nam lại bị người Khmer thôn tính, trở thành Thủy Chân lạp. Vị vua cuối của Phù Nam được sử Tàu nhắc đến là khoảng năm 550. Nước Chân lạp (Chen-la hay Zhenla) được hình thành vào khoảng thế kỷ thứ 5, mà truyền thuyết thần thoại theo văn minh Ấn kể rằng thần Shiva kết hợp đạo sĩ Kambu Svayambhuva ở xứ Kambujadesha (nên mới có chữ Kampuchea hay Cambodia bây giờ) với tiên nữ của Đại hồ tên là Mera, từ đó có giống Khmer (do hai chữ Kambu và Mera ghép lại).
    Năm 539- 577, dưới triều vua Rudravarman khu Mỹ sơn lại bị đốt phá, và đã được vua Sambhuvarman (mất năm 629) trùng tu lại. Đến đời nhà Tùy, năm 602 vua sai tướng Lưu Phương kéo quân sang Giao Châu dẹp cuộc nổi dậy của Lý Phật Tử, sau khi bình định xong Lưu Phương tiến xuống đánh Lâm Ấp để cướp của, vua Lâm Ấp là Phạm Phạm-Chí (Cambhuvarman) thất trận chạy thoát. Sau khi Lưu Phương vào kinh đô Trà Kiệu gom góp được vô số của cải, đã lấy đi 18 tấm miếu chủ đúc bằng vàng. Lâm Ấp từ đấy lại xin triều cống như cũ.

    Đến đời nhà Đường có ba sự kiện đáng ghi

    1) Vào đời Thái tông, nước Lâm Ấp đổi quốc hiệu là Hoàn Vương (?). Cụ Trần trọng Kim chép trong Việt nam sử lược trang 60: "Đến quãng năm Trinh-quan đời vua Thái tông nhà Đường, (tức khoảng từ năm 627 đến 630) vua Lâm Ấp là Phạm Đầu Lê mất, con là Phạm Trấn Long cũng bị người giết, người trong nước lập một người con của bà cô Phạm Đầu Lê, tên là Chư Cát Địa (? Vikrantavarman I) lên làm vua. Chư cát Địa đổi quốc hiệu là Hoàn Vương quốc." Họ Chư lại kéo quân sang đánh Giao châu và chiếm giữ châu Hoan và châu Ái.
    Nhưng có tác giả lại viết là từ năm 758, sử Trung Hoa không còn gọi nước nầy là Lâm Ấp mà đổi tên gọi là nước Hoàn Vương (Huan Wang). Dựa vào các bia đá ở Mỹ Sơn thì năm 758 là triều vua Vikrântavarman II kế vị.
    Vikrântavarman II là thái tử Prakasadharma, con của một hoàng thân Chàm tên là Jagadharma đã sang Chân Lạp cưới công chúa Carvâni (con của vua Icanavarman). Về sau chính vua Chàm ở phía bắc Vikrantavarman II này (của bộ tộc Dừa - Narikelavamsa) đã thôn tính vùng Kauthara (Khánh hòa) của các tiểu vương Chàm ở phía nam (của bộ tộc Cau - Kramukavamsa). Như thế thì chưa rõ thuyết nào đúng về niên đại của sự đổi tên Hoàn Vương Quốc.
    2) Năm 679 vua Đường Cao tông (Phụ chú: là ông vua yếu đuối đa tình đã tằng tịu với Võ Tắc Thiên, cung tần của vua cha và đã đưa bà lên ngôi Hoàng hậu. Vào năm này Cao tông đã ngã bệnh liệt giường, có lẽ bởi tai biến mạch máu não do chấn động sau cái chết đột ngột của Thái tử Lý Hoằng. Mọi việc triều chính đều do Võ hậu quyết định cả, và người ta nghi chính Võ hậu đã đầu độc con trai trưởng của miønh bởi vì sợ vai trò của bà bị đe dọa), ra lệnh chia đất Giao chỉ bộ ra làm 12 châu và đặt chức An nam đô hộ phủ, và từ đó có tên An nam.
    3) Nạn giặc biển từ Java và Sumatra mà Sử chép là "Năm 767 có quân Côn lôn và quân Đồ bà từ hải đảo kéo vào cướp phá đất Giao châu. Quan kinh lược sứ Trương Bá Nghi (Tchang-po Yi) cho đắp La-thành để chống giữ."
    Thành Đại La về sau trở nên thành Thăng Long. Thực ra quân hải đảo là lực lượng hải thuyền của một vương quốc hùng mạnh Sri-Vijaya ở Sumatra lúc bấy giờ (đã từng khống chế đường hàng hải huyết mạch ở vùng Đông Nam Á trong suốt 700 năm (từ thế kỷ thứ 7 đến 13). Quân này không những đánh phá riêng Giao châu mà liên tục tàn hại dân Chàm ở ven biển như Eatran (Nhatrang ngày nay) năm 774 và Panra (Phan Rang ngày nay), vào năm 787. Một bia ký ở tháp Bà còn ghi lại nổi kinh hoàng này của năm 774. Nếu giả thử quân của đế quốc Sri-Vijaya chiếm đóng thành công vùng duyên hải Đông dương thì lịch sử khu vực này đã chắc không như bây giờ.
    Vào đầu thế kỷ thứ 9, năm 802 vua Hoàn Vương là Harivarman I lại đem thủy quân lên đánh phá một số tỉnh Trung Hoa, và liên tiếp các năm 803 và 806, còn kéo quân xâm lấn Giao Châu. Để trừng phạt, năm 808 quan đô hộ Giao Châu là Trương Chu đem binh thuyền vào tàn sát dân quân Chàm làm cho vua Hoàn Vương phải dới kinh đô xuống vùng Bằng An ngày nay, còn gọi là Vệ thành (thuộc xã Thăng Bình, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, mà vết tích thành cũ nay không còn nữa - theo Sách Đại Nam Nhất Thống Chí). Để tránh áp lực từ phương bắc, các vua Chàm Saktivarman và Bhadravarman II bành trướng lãnh thổ dần về phía nam và phía tây, thâu gồm Panduranga (Ninh và Bình thuận) và vùng tây nguyên thành một vương quốc mới được gọi là Chiêm thành (Champapura - Champa: hoa sứ; pura: thành, hay quốc gia).
    Trong thời kỳ này việc bang giao giữa Hoàn Vương và Chân Lạp trở nên căng thẳng và đưa đến cuộc tương tranh tàn phá lẫn nhau trong khoảng hai thế kỷ. Khởi đầu vào năm 810, không rõ vì lý do gì tướng Chiêm Senapati Par đem quân tấn công Chân Lạp, mà bia ký ở tháp Bà Po Nagar còn ghi chiến tích.
    Năm 877 dưới đời vua Indravarman II Chiêm thành lại xin triều cống Trung quốc như xưa. Những bia đá ở đền Kok Klor trong thung lũng Bla trên miền cao nguyên gần Kontum đề năm 914 ghi việc một tộc trưởng là Mahindravarman xây dựng tháp thờ Bồ tát Mahindra-Lokesvara.
    Thời kỳ này sự giao hảo giữa Chiêm Thành và đế quốc Sri-Vijaya rất là mật thiết. Một bia đá ở Nhan Biểu (thuộc tỉnh Quảng trị) ghi chuyện một vị hoàng thân tên là Rajadvara đã dựng hai ngôi tháp vào các năm 908 và 911, và đã hai lần đi hành hương thánh tích Phật ở Yavadvirapura (tức Java ngày nay).
    Năm 950, Chân Lạp dưới quyền vua Rajendravarman sang đánh phá vùng Kauthara (Khánh hòa) của Chiêm Thành vào thời vua Indravarman III, và đã cướp đi tượng Bà bằng vàng do nhà vua dựng lên ở Po Nagar vào năm 918. Nhưng bia ký của Chân Lạp tại Pre Rup lại ghi rõ hơn là thành Kauthara bị phá hủy san bằng, vua Chiêm bị bắt và sau khi bị hành hạ đã bị tế sống cho thần Harisvayambhu trên bờ sông Visnupadi.
    Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế đổi tên nước ta là Đại Cồ Việt, sau khi An nam dành dược độc lập với Ngô Quyền xưng vương tại Giao Châu năm 939. Năm 979, Lê Hoàn kế vị xưng là Đại Hành Hoàng Đế, sai Từ Mục và Ngô Tử Canh đi sứ sang Chiêm Thành giao hảo. Vua Chiêm là Paramesvaravarman I, vốn liên kết với một trong 12 sứ quân thời hậu Ngô Quyền nhưng bất thành, đang đóng đô tại Indrapura (Đồng Dương, Quảng Nam) gần thánh địa Mỹ Sơn, bắt giam sứ giả. Năm 982 sau khi đuổi quân Tống, Lê Đại Hành bèn thân chinh đem quân đánh trừng phạt Chiêm, vua Chiêm bị giết ngay trong trận, vua Lê tiến vào kinh đô, đốt phá đền đài và lấy được rất nhiều của cải rồi rút về. Từ năm 983 kẻ kế vị ngôi Chiêm là (?) Lưu Kỳ Tông xin triều cống vua Lê và chịu làm chư hầu.
    Để tránh áp lực ngày càng lớn của nước Đại Cồ Việt mới tự cường, nên năm 1000 vua Chiêm Thành Sriharivamadeva một năm sau khi lên ngôi đã dời đô từ Indrapura (Đồng Dương, Quảng Nam) xuống Vijaya (có nghĩa là chiến thắng, mà ta âm là Đồ Bàn hay Chà Bàn) ở vùng Bình Định ngày nay. Từ đó các bia ký ở Mỹ sơn gọi các vua mới là vua của Vijaya (hay Vijaya Sri), và vua Sriharivamadeva sau khi qua đời đã được thần hóa là Yang Pu Ku.

    Năm 1068, vua Chiêm là Rudravarman III (Chế Củ), kế vị vua Harivarman II, đem quân xâm lấn đất Việt ở phía bắc. Bấy giờ vua Lý Thánh Tông, người đã dời đô về thành Đại la, cải danh là Thăng Long thành và đổi quốc hiệu ra Đại Việt khi mới lên ngôi, đã quyết định thân chinh xuống đánh Đồ Bàn năm 1069, bắt và giải Chế Củ về Thăng Long. Để đổi lấy tự do, Chế Củ xin dâng đất ba châu phía bắc Chiêm Thành là Bố Chánh (Hà Tĩnh và bắc Quảng Bình), Địa Lý (trung và nam Quảng Bình), và Ma Linh (bắc Quảng Trị).
    Đến năm 1074, hoàng thân Than lên ngôi xưng là Harivarman IV (1074- 1080), nước Chiêm Thành hưng thịnh trở lại và vua Harivarman IV cho trùng tu khu thánh địa Mỹ sơn. Sau khi hòa hoãn với Đại Việt, vua Harivarman IV xua quân đánh Lục Chân Lạp, chiếm Sambor (bắc Phnom Penh và đông hồ Tonle Sap), giết vua Harshavarman III, tàn phá kinh thành Somesvara (Angkor), bắt nhiều người Chân Lạp làm tù binh.
    Năm 1145, vua Suryavarman II của Chân Lạp phục thù, đánh Chiêm Thành chiếm Đồ Bàn, tàn phá khu thánh địa Mỹ sơn. Mãi đến năm 1149 vua Chiêm mới đuổi được quân xâm lược. Khi tu bổ Mỹ sơn vua Harivarman IV cho dựng bia đá ghi lại cuộc tàn phá thánh địa này.
    Năm 1166, vua Indravarman IV, một vị vua Chiêm Thành rất anh dũng lại xua đại quân xâm lăng Chân Lạp cướp được nhiều của cải. Sử Miên còn ghi "Jaya (vua) Indravarman IV, vua Chàm, có tính tự phụ như Râvana, đã vận chuyển quân trên những chiến xa, tiến đánh xứ 'Kam Bu".
    Mười năm sau, năm 1177, Indravarman IV lại gởi thuỷ quân xuống phía nam, vào cửa sông Cửu Long, tiến ngược dòng lên đánh thành Angkor, tàn phá kinh đô, giết vua Tribhuvanadityavarman và chiếm đóng Chân Lạp. Sau trận này vua Chiêm cũng thu đoạt được vô số châu báu, viø thế vua Indravarman IV đã dâng cúng nhiều vàng bạc cho các ngôi tháp ở Mỹ sơn. Mãi đến năm 1181, Hoàng thái tử Chân Lạp mới đẩy lui được quân Chiêm Thành, và lên ngôi vua là Jayavarman VII nuôi chí phục thù.
    Năm 1190 vua Chân Lạp Jayavarman VII sai các tướng đem một hoàng thân Chiêm lưu vong tên là Vidyanandana về đánh Chiêm thành, chiếm đóng Đồ Bàn và cướp hết các linh tượng, bắt và giải vua Indravarman về Chân Lạp, chia nước Chiêm Thành làm hai chư hầu: tiểu quốc Vijaya (Đồ Bàn) do người em vợ của vua Chân Lạp cai trị với vương hiệu là Suryavarmadeva, và tiểu quốc Pandaranga (Phan Rang), do một hoàng thân Chiêm Vidyanandana cai trị, nhưng tùy thuộc vào Chân Lạp. Không lâu sau, một hoàng thân Chiêm tên là Rasupati nổi lên đánh đuổi quân Chân Lạp, lên ngôi là Indravarmadeva ở Vijaya nhưng lại không tồn tại lâu, và bị quân Chân Lạp quay lại bắt giết vào năm 1192. Vua Suryavarmadeva được tái lập nhưng lại quay ra không phục tùng Chân Lạp, mà bang giao với Đại Việt và Trung quốc.
    Vua Chân Lạp Jayavarman VII liền tấn công Chiêm Thành trong các năm 1192 và 1193 nhưng đều thất bại. Mãi đến năm 1203, vua Chân Lạp mới chiếm được Vijaya, và biến Chiêm Thành thành một lãnh địa của Chân Lạp. Nhưng sau khi Jayavarman VII chết quân Chân Lạp phải rút quân, và Chiêm Thành mới giành lại được độc lập năm 1220 dưới thời vua Paramesvaravarman II, khi Chân Lạp bận rộn đối phó với những cuộc xâm lăng của Xiêm La. Từ đó chấm dứt cuộc tương tranh giữa Chiêm Thành và Chân Lạp đã kéo dài 32 năm.
    Vì cứ can qua chiến tranh liên tục nên Chiêm thành trở nên suy yếu. Khi vua nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt (Qubilai) sai tướng Toa Đô (Sogatu) cầm thủy quân xuống đánh Chiêm Thành năm 1282, quân Chiêm chống cự không nỗi nên quân Nguyên vào Thị Nại, tàn phá kinh đô Đồ Bàn và chiếm đóng nước Chiêm trong vòng 5 năm, Chiêm vương Indravarman V, cùng thái tử Bổ Đích (Harijit) thoát lên vùng cao nguyên và cầu cứu Đại Việt.
    Vua Trần Nhân Tông gởi hai vạn quân và 500 chiến thuyền sang giúp. Đến khi quân Việt đánh bại được quân Mông năm 1287, cũng giải phóng luôn nước Chiêm, nên năm 1307 tân vương Simhavarman III (Chế Mân) tặng vua Trần anh Tôn 2 châu Ô và Lý để làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân.
    Vua Chế Mân cũng xây dựng thêm nhiều ngôi tháp thờ phượng thần linh ở vùng Mỹ Sơn. Ba năm sau khi Chế Mân mất, vua Chế bồng Nga (Pô Bin Swơr) từng nuôi chí phục thù nên năm 1370 đã kéo quân thủy bộ đánh phá vào tận kinh đô Thăng Long, nhưng đến năm 1382 lại bị tử trận. Tuy vậy các vua Chiêm kế tiếp vẫn luôn gây chiến với nước Việt.
    Vào thời kỳ này, lãnh thổ Chiêm thành khá rộng. Lảnh thổ Chiêm Thành trải dài từ các bình nguyên duyên hải nhỏ hẹp cho đến vùng rừng núi Trường Sơn cũng như các cao nguyên nam Trung phần ngày nay. Người Chiêm Thành không chỉ là người Chàm ở duyên hải là đa số mà còn gồm những nhóm dân thiểu số khác như giống Jarai, Rhade, Churu, Raglai, Stieng hiện vẫn còn sinh sống ở vùng Tây nguyên mà những câu tục ngữ vẫn còn lưu truyền như "Chăm anh, Raglai em" (Cam saai, Raglai adei), hoặc "Chăm với Raglai như hai anh em ruột" (Cam saung Raglai yơu adei ai sa tiam).
    Ngoài ra lịch sử Chàm còn cho thấy đầu thế kỷ 14, quốc vương Jaya Simhavarman III (Chế Mân) xây đền Yang Prong ở lưu vực sông Se San. Đền Yang Mun (gần Cheo Reo) ở lưu vực sông Ba và đền Phú Thọ gần Pleiku được xây dựng vào cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15. Vua Po Romê (mà bia ở tháp thờ tại Ninh thuận ghi là Pa Rrame) là người sắc tộc Churu, trị vì Chiêm Thành từ 1627 đến 1651, mở đầu một triều đại gồm 14 quốc vương kéo dài cho đến 1786.
    Năm 1402, Hồ Quý Ly xâm lăng Chiêm thành ép vua Campadhiraya (Ba Đích Lại) nhường đất Indrapura - Chiêm động hay Đồng dương (Phủ Thăng biønh, Quảng Nam) và đất Amaravati - Cổ lụy (Quảng Nghĩa), rồi cải thành bốn châu là Thăng, Hoa, Tư và Nghĩa, đặt quan An phủ sứ cai trị và di dân vào khai khẩn. Khi quân Minh xâm lăng nước ta năm 1407, Chiêm Vương liền đánh chiếm lại vùng đất đã nhường năm năm trước.
    Đến thời Hậu Lê: Dưới đời Nhân tông viø vua Chiêm là Ma Ha Bí Cái (Maha Vijaya) gây hấn đánh Hóa châu năm 1444, nên hai năm sau các tướng Lê Thụ và Lê Khả cầm quân đánh phá Đồ Bàn, bắt Bí Cái, đưa người khác lên thay, rồi rút quân về. Đến đời Thánh tông, vua mới của Chiêm Thành là Trà Toàn lại xua quân hai lần xâm lấn Hóa châu vào những năm 1468 và 1469, vua Thánh tông phải thân chinh kéo quân đánh dẹp và chiếm Đồ Bàn năm 1471 bắt giải Trà Toàn về giam ở Thăng Long.
    Vua Lê lấy vùng Amaravâti (Quảng Nam, Quảng Ngãi) và Vijaya (Bình Định) đặt thành "Quảng Nam thừa tuyên đạo" lấy đèo Cù Mông làm ranh giới, và chia phần đất Chiêm Thành còn lại làm ba nước nhỏ là Hóa Anh (Phú Yên, Khánh Hòa), Chiêm Thành, chỉ còn lại từ Phú yên đến mũi Kê gà (Phan Rang - Bình thuận), và Nam Phan (Gia Lai, Kontum, Darlac).
    Theo những tài liệu Mã Lai, khi Chiêm Thành bị Lê Thánh Tông tấn công năm 1471, một số quan chức triều điønh Chiêm Thành bị bắt, một số bỏ trốn qua Chân Lạp, Mã Lai tỵ nạn.

    Vào thế kỷ thứ 16, người Chiêm Thành thường buôn bán với người Bồ Đào Nha ở Macao (Trung Hoa). Người Bồ Đào Nha hay ghé đến vùng Panduranga (Cam Ranh và Phan Rang ngày nay) và tài liệu của người Bồ Đào Nha đã ghi nhận sự hiện diện của thương thuyền Chiêm thành ở cửa khẩu sông Maenam (Menam), là cửa khẩu chính của nền ngoại thương Xiêm La.
    Qua thế kỷ thứ 17, thời chúa Nguyễn: Năm 1611, nhân các bộ tộc người Chàm liên kết lại cùng đánh phá vùng biên giới phía nam, Nguyễn Hoàng sai chủ sự Văn Phong đem quân vượt đèo Cù Mông tiến chiếm vùng Phú Yên ngày nay, giữa Vijaya và Kauthara, đổi thành hai huyện Đồng xuân và Tuyên hóa. Sau đó không lâu vì thấy thuyền bè các nước Tây phương như Bồ Đào Nha và Hòa Lan đang lân la đến các hải cảng của Chiêm Thành.
    Sãi Vương Nguyễn Phúc Chu rất lo ngại, nên năm 1631 đã gả người con gái thứ ba là Nguyễn Phúc Ngọc Khoa cho vua Chiêm là Pô-Rômê để tạo sự hòa hiếu với Chiêm Thành. Sau năm 1639 thì cuộc giao thương giữa Chiêm Thành và người Bồ Đào Nha hầu như chấm dứt và người Chàm quay sang buôn bán với người Hòa Lan sau khi người Hòa Lan làm chủ Malacca vào năm 1641 và làm chủ con đường buôn bán hồ tiêu qua eo biển Malacca.
    Năm 1653, vua Chiêm là Bà Thấm, vốn là hậu duệ của hoàng gia Chân lạp, đem quân đánh phá Phú Yên nên chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần bèn sai cai cơ Hùng Lộc vượt đèo Cả sang trừng trị. Bà Thấm thất trận dâng thư xin hàng. Chúa Hiền lấy hẳn vùng Kauthara, lập thành phủ Thái Ninh, sau đổi thành phủ Diên Khánh, trong đó có thánh tích Chiêm là Po Nagar (Tháp Bà, Nha Trang ngày nay).
    Chiêm Thành chỉ còn lại vùng Panduranga, phía nam sông Phan Rang. Khi rút về vùng Panduranga, người Chàm tiếp tục lập thờ Thánh Mẫu Po Nagar ở một ngôi đền nhỏ ở làng Hữu Đức, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh thuận ngày nay.
    Khoảng thời gian từ 1675 đến 1685, theo sử liệu của Thái lan đã cho biết một người anh em của quốc vương Chiêm Thành đến viếng triều điønh Xiêm La, có lẽ để cầu viện; và năm 1680 vua Chiêm còn gởi hai phái bộ đến Batavia (tức Jakarta, Indonesia ngày nay) để liên lạc ngoại giao.
    Năm 1692, vua mới là Bà Tranh tự bỏ lệ triều cống. Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh (hay Kính) kéo quân xuống hỏi tội và đánh bắt được Bà Tranh và giải về Phú Xuân. Chúa Nguyễn lấy đất Chiêm Thành còn lại đặt ra Thuận phủ, năm sau lại đổi ra Thuận thành trấn. Đến năm 1697 chúa Nguyễn đặt ra Phủ Biønh thuận, lấy đất Phan lang, Phan lý làm huyện Yên phúc và huyện Hòa đa. Từ đó nước Chiêm thành mất hẳn, tuy vậy chúa Nguyễn vẫn cho người Chiêm còn lại được tự trị một vùng đất ở Bình Thuận cho mãi đến năm 1832, khi vua Minh Mạng ra lệnh bãi bỏ vùng tự trị.
    Người Chàm nổi dậy chống đối nhưng hai cuộc khởi nghĩa do Katip Sumat lãnh đạo từ 1833 đến 1834 và Ja Thak Va cầm đầu từ 1834 đến 1835 đều bị quan quân dẹp yên nhanh chóng. Trước kia những người Chàm theo Hồi giáo di tản sang định cư ở Ayudhya (bắc Bangkok, Xiêm La) đã tham gia vào một âm mưu lật đổ quốc vương Xiêm La và thay thế bằng người em của ông ta, vì thế triều đình Xiêm La cho phép những người Chàm tị nạn về sau, đến định cư ở vùng Bangkok. Con cháu những người nầy hiện vẫn sống tại đó.
    Tuy nước Chiêm thành đã bị xóa nhưng cuộc nam tiến của dân Việt vẫn tiếp tục cho mãi đến năm 1714 sau khi thôn tính luôn vùng Thủy Chân lạp.

    Lời Kết

    Tóm lại, tháp Bà Nhatrang là chứng tích lịch sử tương đối còn nguyên vẹn nằm cạnh sông Eatran thuộc vùng Kauthara của nước Chiêm thành xưa. Dân tộc Chàm lập quốc rất sớm và kéo dài hơn 15 thế kỷ, từ năm 192 TL. cho đến lúc vong quốc vào năm 1697, với nhiều quốc hiệu từ Lâm Ấp, đến Hoàn Vương và sau cùng là Chiêm thành.
    Người Chàm đã có một nền văn hóa khá rực rỡ nhưng vì cứ mãi lâm vào vòng chinh chiến nên kiệt quệ dần. Riêng vùng Kauthara đã bị Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần xáp nhập vào đất Việt vào năm 1653. Với ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Ấn độ, khu tháp Bà ban đầu được người Chàm xây dựng để thờ các vị thần Brama, Vishnu và Shiva của Ấn Độ giáo; nhưng họ lại đặc biệt tôn thờ các thần Parvati hay Uma là những biến tướng nữ của thần Shiva, được xưng tụng là Po Nagar (Thánh Mẫu) để cầu mong Bà che chở cho dân tộc Chàm. Đến khi người Việt làm chủ vùng này thì Bà được Việt hóa thành Thiên Y Ana.
    Ngẫm cũng bồi hồi cho thế sự, thần linh cao cả rốt lại cũng không bảo vệ được cho một dân tộc luôn tôn thờ cầu khẩn khỏi bị diệt vong. Rồi một khi nước mất nhà tan, tín đồ phát tán để thần linh ở lại bơ vơ với kẻ lạ, cả tên cũng bị đổi. Thương thay!

    Nếu như tại TP.Hồ Chí Minh người dân và nhiều du khách Quốc Tế đã quá quen thuộc với một khu phố mà người ta vẫn quen gọi nó là “Phố Tây” hay khu “Tây ba lô” nằm trên đường Phạm Ngũ Lão thì tại TP biển Nha Trang cũng có một con đường mà người ta cũng thường gọi là “Phố Tây”.
    Toạ lạc trên một con đường tương đối ngắn, dài
    chưa đến 1 kilomet, cắt con đường đẹp nhất và được xem là bộ mặt của TP
    Nha Trang – Con đường Trần Phú. Đường có tên là Biệt Thự, thoạt nghe
    thì du khách sẽ nghĩ rằng đây có lẽ là con đường sở hữu những ngôi biệt
    thự đẹp và nổi bật của TP. Tuy nhiên khi đến đây du khách mới cảm nhận
    hết được cái nét riêng của nó mà từ khi kỹ nghệ du lịch đã “đánh bóng”
    nó trở thành địa chỉ nổi tiếng như hôm nay. Là một con phố ngắn như thế
    nhưng nơi đây sở hữu hàng trăm tụ điểm phục vụ cho du khách, bao gồm
    khách sạn, quán bar, các nhà hàng phục vụ những món ăn đặc trưng, nổi
    tiếng của Việt Nam và một số nước trên thế giới như Nhật bản, Hàn Quốc,
    Thái Lan, Ấn Độ…
    Và một điều mà du khách Việt Nam có thể cảm nhận được rằng đây chính là
    một khu “Phố tây” thật sự chính là sự xuất hiện của các lữ khách đến từ
    nhiều quốc gia trên thế giới với đủ màu da hội tụ vế con phố này. Và
    khi thành phố đã bắt đầu chìm vào giấc ngủ thì có lẽ đây chính là nơi
    tập trung đông đúc và hoạt động sôi nổi nhất. Từ tiền sảnh của các
    khách sạn, các nhà hàng, quán bar cho đến những quán cóc ở vỉa hè thì
    mọi thứ đều diễn ra một cách bình thường cứ như thể đây là một “Thành
    phố không ngủ”.
    Quê của meodienla ở NT đó, bạn nào đã 1 lần tới NT thì k thể bỏ qua điểm tham quan này được!!! đặc biệt là trên khu vực "Phố Tây" này có bar CRAZY KIM, bạn nào có dịp đi travel NT vui chơi in 1time ngắn, nếu có freetime thì vào tại bar này để check và nâng cao thêm vốn TA của mình nè,! Tất cả hoàn toàn free lun, GV là những Tình nguyện viên ở các nc như: Anh, Mỹ, Aus, Séc, Japan, Korea....họ đến đây là để góp 1 chút ít knowledges n abilities của mình để nâng cao trình độ ngoại ngữ của chúng ta đấy! theo mèo đc bít thì chỉ có ở Hà Nội và Nha Trang có club nì thui, ở SG mèo tìm hoài k thấy (ai vui lòng bít có club nì ở SG mà thuộc hệ thống CRAZY KIM Bar thì nói mèo nha, thx mọi ng` nhiu` nhìu!!! ^^)

    Xóm Bóng

    Xóm Bóng là xóm dân cư ở trước tháp Bà, thuộc làng Cù Lao, nổi tiếng vì có nhiều “Cô bóng, bà bóng” chuyên trình diễn múa hát vào các dịp lễ cúng vía bà. Xóm Bóng nay trở thành một địa danh và cũng được đặt tên cho cây cầu đúc dài bắt qua cửa sông Nha Trang, dười chân đồi Cù Lao, Tháp Bà.
    Tác giả sách Xứ Trầm Hương, thi sĩ Quách Tấn thuật lại:
    “Điệu múa bóng là điệu múa của Chiêm Thành truyền lại. Người múa toàn là gái. Áo xiêm rực rỡ; đầu đội, người cỗ hoa tươi, kẻ đèn lồng ngũ sắc. Đèn và hoa chồng cao như ngọn tháp. Vũ nữ múa theo điệu đàn, điệu trống, đoanh lộn nhịp nhàng dưới ánh đuốc, ánh đèn hừng hẫy. Họ múa rất khéo và rất tài.
    Chẳng những đôi tay, đôi chân luôn cử động vừa dẻo vừa mềm, mà đầu và thân cũng luôn ngửa nghiêng uốn éo theo bước chân, nhịp tay, rộn ràng đều đặn. Thế mà đèn và hoa đội trên đầu, không vịnh không đỡ mà cũng không hề lay, không hề dịch, dườn như có những bàn tay vô hình đỡ nâng. Cảnh tượng vô cùng ngoạn mục.
    Tổ chức múa bóng do người ở xóm trước tháp phụ trách. Những vũ nữ phần nhiều là người trong xóm. Trường dạy múa cũng ở trong xóm. Cho nên xóm mệnh danh là xóm Bóng, thuộc làng Cù Lao.”

    Lệ múa Bóng ngày vía bà đã được bỏ từ thời Bảo Đại, trước Đệ nhị thế chiến. Nhân đó có câu hát:

    “Ai về xóm Bóng thăm nhà,
    Hỏi xem điệu múa dâng Bà còn chăng?
    Thế thường tre lụn còn măng.
    Lẽ đâu tham đó bỏ đăng cho đành.”

    Lệ múa Bóng tuy bỏ nhưng vía bà vẫn tổ chức long trọng. Người đến dâng hương xin xăm chật trong, chật ngoài...
    Thật ra, sau đệ nhị thế chiến, múa bóng dù không tập trung được nữa, những “nghệ nhân nữ” đã đi dần, hành nghề tại nhiều vùng Nam bộ, có mặt hầu hết tại các lễ hội vía Bà (Bà Đen, Bà Chúa Xứ, Năm Bà Ngũ Hành) và các lễ kỳ yên (cầu quốc thái dân an) chẳng những ở thành thị mà còn ở các vùng thôn quê miền Đông và miền Tây Nam bộ.
    Do vậy, cho tới nay, múa Bóng vẫn cón tồn tại, được coi là một loại hình văn hoá dân gian trong các lễ hội địa phương theo truyền thống tín ngưỡng của quần chúng, và Xóm Bóng được kể là cái nôi cùa loại hình văn hoá nghệ thuật này, dành riêng cho những người “bán nam, bán nữ”.

    Văn miếu Diên Khánh

    Văn miếu Diên Khánh tọa lạc tại khóm Phú Lộc Tây, thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Công trình được xây dựng theo truyền thống nho giáo trước đây, nhằm ghi nhận công lao của những người có tài, học giỏi, đã được đỗ đạt.
    Năm 1803, vua Gia Long ra chỉ dụ lập Văn Miếu tại xã Phú Lộc, huyện Hoà Châu - thị trấn Bình Hoà, nay thuộc khóm Phú Lộc Tây - thị trấn Diên Khánh - tỉnh Khánh Hoà.
    Văn Miếu được xây dựng với quy mô lớn từ năm 1853 và đến năm sau thì cơ bản hoàn thành: phía trước có nhà bi đình, chính giữa có tòa tiền đường và chánh đường cao rộng, làm bằng gỗ xây tường gạch bao, các cột kèo được chạm trổ sơn son thếp vàng đẹp đẽ, uy nghiêm.

    Cùng với sự thay đổi của thời gian, khu Văn Miếu đã trải qua bốn lần tu bổ vào các năm 1892, 1904, 1941, 1959, nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc ban đầu.
    Hiện tại, Văn Miếu chỉ còn giữ được hai tấm bia đá năm Tự Đức thứ 11 (1858) giúp ta hiểu biết hơn về lịch sử, văn hóa, sinh hoạt của nhân dân Khánh Hoà và quá trình hoàn thiện khu Văn Miếu năm 1854. Ngoài ra còn có một Bài minh ở Bái Đường nói rõ hơn về sự đỗ đạt của các vị văn võ, khoa bảng, hào mục, chức sắc và các học sinh địa phương từ đầu triều Nguyễn đến thời Tự Đức.
    Với bề dày lịch sử, khu Văn Miếu mang giá trị to lớn về quá trình học tập, tiếp nhận tri thức và biểu hiện sự tôn sư trọng đạo, làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hoá dân tộc. Di tích lịch sử Văn Miếu Diên Khánh đã được Nhà nước công nhận di tích quốc gia, là niềm tự hào về truyền thống văn hiến và lịch sử của nhân dân Diên Khánh.

    Thành cổ Diên Khánh

    Thành cổ Diên Khánh tọa lạc tại thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.Thành cổ Diên Khánh được chúa Nguyễn Ánh xây dựng năm 1793, diện tích khoảng 36.000 m2, là một quần thể kiến trúc quân sự theo kiểu Vauban, một hình mẫu thành quân sự phổ biến từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII ở Tây Âu.
    Tương thành hình lục giác, 6 cạnh không đều nhau, được đắp bằng đất, tường thành chạy uốn khúc theo hình lục giác dài khoảng 2.694 mét và cao 3,5 mét. Mặt ngoài thành được đắp hơi thẳng đứng, mặt trong được đắp thoai thoải gồm hai bậc thang dùng làm đường đi. Các góc thành được đắp nhô ra ngoài, có khả năng quan sát được hai bên. Bên trong mỗi góc được đắp thành một khoảng đất rộng dùng làm nơi trú quân. Mỗi góc thành đều đắp một ụ đất cao khoảng 2 mét dùng để đặt súng đại bác gọi là pháo đài góc, trên thành được trồng nhiều tre hoặc cây có gai. Bên ngoài thành có đào hào sâu từ 3 mét đến 5 mét, rộng hẹp không đều nhau, tùy theo địa hình. Dưới lòng hào thường xuyên có nước dẫn từ sông Cái vào và có nhiều chướng ngại vật.
    Ban đầu thành có 6 cửa (cổng thành), hiện nay chỉ còn 4 cửa Đông - Tây - Tiền (phía Nam) - Hậu (phía Bắc). Trước đây trong thành có Hoàng cung, bên trái là dinh Tuần Vũ, phía sau là dinh Án Sát, sau nữa là dinh Lãnh Binh, phía dưới là dinh Tham Tri, có nhà kho, nhà lao kiên cố.
    Trải qua bao thời kì chiến tranh điêu linh toàn bộ cơ sở của thành cổ Diên Khánh bị suy sụp và trong dân gian cổ thành nổi tiếng có nhiều ma với nhiều giai thoại: ma đùa, ma phá, tình người duyên ma như truyện Liêu Trai.
    Cổ Bàn Nhân thi sĩ có mấy vần thơ cảm tác:

    "Thành cũ điều hiu vách nắng mưa
    Phong quang một mảnh bể dâu thừa.
    Cờ lau phất gió cung rồng lắp,
    Búa nguyệt mài sương ngục thép lưa!
    Theo mới bụi lầm xe ngựa mới,
    Tìm xưa tro lạnh thiếu am xưa!
    Bên hào sen lung chân dừng bước.
    Tiếng địch chiều thu trận cúc đưa."

    Thành cổ Diên Khánh là một trong những di tích quí để nghiên cứu về thành lũy cổ và được Nhà nước công nhận là di tích quốc gia.

    Thành cổ Diên Khánh

    Thành cổ Diên Khánh tọa lạc tại thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.Thành cổ Diên Khánh được chúa Nguyễn Ánh xây dựng năm 1793, diện tích khoảng 36.000 m2, là một quần thể kiến trúc quân sự theo kiểu Vauban, một hình mẫu thành quân sự phổ biến từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII ở Tây Âu.
    Tương thành hình lục giác, 6 cạnh không đều nhau, được đắp bằng đất, tường thành chạy uốn khúc theo hình lục giác dài khoảng 2.694 mét và cao 3,5 mét. Mặt ngoài thành được đắp hơi thẳng đứng, mặt trong được đắp thoai thoải gồm hai bậc thang dùng làm đường đi. Các góc thành được đắp nhô ra ngoài, có khả năng quan sát được hai bên. Bên trong mỗi góc được đắp thành một khoảng đất rộng dùng làm nơi trú quân. Mỗi góc thành đều đắp một ụ đất cao khoảng 2 mét dùng để đặt súng đại bác gọi là pháo đài góc, trên thành được trồng nhiều tre hoặc cây có gai. Bên ngoài thành có đào hào sâu từ 3 mét đến 5 mét, rộng hẹp không đều nhau, tùy theo địa hình. Dưới lòng hào thường xuyên có nước dẫn từ sông Cái vào và có nhiều chướng ngại vật.
    Ban đầu thành có 6 cửa (cổng thành), hiện nay chỉ còn 4 cửa Đông - Tây - Tiền (phía Nam) - Hậu (phía Bắc). Trước đây trong thành có Hoàng cung, bên trái là dinh Tuần Vũ, phía sau là dinh Án Sát, sau nữa là dinh Lãnh Binh, phía dưới là dinh Tham Tri, có nhà kho, nhà lao kiên cố.
    Trải qua bao thời kì chiến tranh điêu linh toàn bộ cơ sở của thành cổ Diên Khánh bị suy sụp và trong dân gian cổ thành nổi tiếng có nhiều ma với nhiều giai thoại: ma đùa, ma phá, tình người duyên ma như truyện Liêu Trai.
    Cổ Bàn Nhân thi sĩ có mấy vần thơ cảm tác:

    "Thành cũ điều hiu vách nắng mưa
    Phong quang một mảnh bể dâu thừa.
    Cờ lau phất gió cung rồng lắp,
    Búa nguyệt mài sương ngục thép lưa!
    Theo mới bụi lầm xe ngựa mới,
    Tìm xưa tro lạnh thiếu am xưa!
    Bên hào sen lung chân dừng bước.
    Tiếng địch chiều thu trận cúc đưa."

    Thành cổ Diên Khánh là một trong những di tích quí để nghiên cứu về thành lũy cổ và được Nhà nước công nhận là di tích quốc gia.

    Làng cổ Phú Vinh

    Làng cổ Phú Vinh thuộc xã Vĩnh Thạnh, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Làng cổ Phú Vinh có lịch sử trên 200 năm và còn lưu lại trong lòng mình khá nhiều ngôi nhà cổ, mang đậm nét miền Trung.
    Hiện nay, làng cổ Phú Vinh có 6 ngôi nhà cổ được chọn làm điểm thăm quan đều nằm trên trục đường vòng cung của xã Vĩnh Thạnh. Trong đó, phải nói đến ngôi nhà cổ gần như nguyên trạng của ông Nguyễn Xuân Hải (64 tuổi). Ngôi nhà này đã trải qua sáu đời nhưng gần như chưa hề sửa chữa lần nào. Nhà cổ của ông Hải khá độc đáo ở chỗ nằm lọt trong một khu vườn trên 4.000 m². Nhà được xây dựng ba gian, năm chái nối liền nhau và có 36 cột gỗ. Đặc biệt là không khí nhà cổ xưa còn nguyên tại nơi này với những câu liễn xa xưa, thậm chí cả bàn thờ, tủ thờ và cột kèo hay vật dụng gia đình. Ngói âm dương trên mái cũng đã có tuổi đời trên 200 năm và trước sân nhà vẫn còn thềm gạch với những viên gạch cổ được lát cách đây 6 đời người.
    Bước chân vào ngôi nhà cổ còn giữ trọn vẹn quá khứ này khách có cảm giác rất thú vị vì không chạm vào bất cứ một thứ gì giả tạo. Bên cạnh đó, vườn cây ăn trái với rất nhiều loại cây trái được trồng như chôm chôm, sầu riêng, nhãn, mít, ổi, mãng cầu. Khu vườn của ông Hải còn có hai cây mai 100 tuổi. Gặp chúng vào mùa xuân sẽ thấy hai cây mai nở rực thắm hoa vàng.
    Đến với làng cổ Phú Vinh, du khách sẽ được đi xe ngựa thăm làng nghề. Cả Nha Trang gần như chỉ ở Vĩnh Thạnh là còn xe ngựa. Khách sẽ tận hưởng đúng cảm giác leo lên một chiếc xe ngựa cũ kỹ. Vó ngựa khoan thai bước trên đường đưa khách đến nơi dệt chiếu truyền thống, nơi se nhang. Có khi cho khách bước chân qua chiếc cầu gỗ để khách biết thế nào là chông chênh sông nước.
    Đến làng cổ Phú Vinh du khách sẽ có một cuộc hành trình êm ái trong nhà cổ, giữa mùi rơm rạ, mùi cây cỏ trộn tiếng gà, tiếng trâu kêu. Nơi đây vắng bóng xe cộ và những âm thanh ồn ã đô thị và chẳng có bóng dáng nhà cao tầng. Khái niệm hàng rào bằng hoa dâm bụt càng khiến cho nhiều khách nước ngoài ngạc nhiên.

    Chiến khu Đồng Bò

    “Mật khu Đá Hang”, tên gọi đầy vẻ bí hiểm, đã gây bao nỗi kinh hoàng cho bọn địch ở Nha Trang, Khánh Hòa suốt trong nhiều năm và chúng đã liệt kê vào danh sách “Mật khu số I” trong các loại mật khu quan trọng nhất của “Việt cộng” ở vùng này. Sở dĩ được đứng đầu bảng, bởi nó sừng sững đối diện với căn cứ quân sự Vùng 2 chiến thuật của địch ở Nha Trang, chỉ cách nhau từ 5 km đến 7 km đường chim bay mà chúng không sao tiêu diệt nổi.
    Ngày nay muốn thăm lại chiến khu Đồng Bò, từ trung tâm thành phố Nha Trang, du khách xuôi về phía Nam theo Quốc lộ 1A, tới xã Vĩnh Hiệp thuộc ngoại thành thì rẽ trái theo con đường trải đá sơ sài, thuộc địa phận xã Vĩnh Thái, tiến về phía núi. Đi được một đoạn đã thấy hiện ra cảnh đường rừng: nhà cửa thưa dần, khe suối xuất hiện, đường mỗi lúc một thu hẹp, xe cứ phải rẽ những tán lá hai bên đường mà đi.Đến Trảng É là địa điểm dừng xe. Dãy núi Đồng Bò đã gần kề, sừng sững án ngữ phía tay trái. Từ đây, du khách bắt đầu hòa nhập với không khí của những ngày kháng chiến, theo bước chân thoăn thoắt của cô giao liên tìm về căn cứ của cách mạng. Cứ theo lối mòn, rẽ cây vạch lá mà đi, khoảng trên dưới một giờ đồng hồ là đến chân núi hiểm trở, bạn sẽ gặp một dòng chữ lớn biết bằng sơn trắng trên khối đá đồ sộ trước mặt: “Di tích Suối Lùng cách đây 1.000 mét” và mũi tên chỉ hướng. Không có đường, cũng không còn nhận ra lối mòn nữa, từ đoạn này trở đi, toàn men theo vách đá hiểm trở, khi dựng đứng lúc uốn lượn theo sườn núi, cây cối um tùm, khí đá tỏa mát lạnh, tiếng chim kêu, vượn hú khi gần, khi xa... Gộp Suối Lùng đây rồi. Đó là một hang đá lớn nằm ngang sườn núi, địa thế vừa cao ráo, sạch sẽ vừa kín đáo, hiểm trở.
    Phần đá núi phía trên nhô ra như một mái nhà lớn vừa chắn mưa gió vừa che đi phần rộng lớn, sâu thẳm của lòng hang. Nơi đây chính là một trong những căn cứ địa của cơ quan đầu não liên huyện thị Vĩnh Xương - Nha Trang trong kháng chiến. Đúng ra đây không chỉ là một, mà là cả hệ thống gộp đá liên hoàn ẩn mình dưới cây rừng đá núi, nhiều gộp đá cửa vào xa nhau nhưng có đường luồn trong lòng núi để đến với nhau. Có những miệng hang rất kín đáo, khuất nẻo, người lạ mới đến hang này không thể biết có hang khác rất gần đó. Trụ sở văn phòng liên huyện thị, cơ quan Ban Tuyên huấn, nơi làm việc của Thường vụ liên huyện thị, cơ quan quân sự, kinh tài, thanh niên, y tế, an ninh cơ yếu Vĩnh Trang... mỗi bộ phận công tác có một gộp đá và khu vực riêng, biệt lập mà vẫn rất gần gũi, gắn bó, có thể liên lạc với nhau trong bất kỳ tình huống nào hoặc hợp đồng chiến đấu khi cần thiết. Có lần trực thăng địch đã “treo chuông” trên đầu, nã cối liên tiếp vào cửa hang, cho quân đổ bộ xuống lùng sục, nhưng rồi chúng cũng đành bất lực, thất bại trở về. Căn cứ cách mạng vẫn tiếp tục được giữ vững trong lòng núi ngay cả trong những ngày tháng gian khổ nhất. Chính ở nơi đây, nơi “Mật khu Đá Hang” này, các lực lượng chính trị, vũ trang ta ngày đêm bung ra hoạt động, đánh địch trên khắp các địa bàn Nha Trang, Vĩnh Xương và một phần Diên Khánh. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đánh vào Nha Trang, một bộ phận quan trọng lực lượng vũ trang của ta đã tập kết tại nơi đây, trước khi xuất phát tiến công vào thành phố. Cũng chính vì vậy, sau đòn nặng nề của cuộc tập kích chiến lược này, kẻ địch hoang mang, cay cú đã tập trung lực lượng càn quét suốt 12 ngày đêm hy vọng có thể quét sạch lực lượng ta ở “Mật khu Đá Hang”. Trong trận càn lớn do chính tên Thiếu tướng Đoàn Văn Quảng, Tư lệnh lực lượng đặc biệt Khánh Hòa chỉ huy, chúng đã dùng chiến thuật “trực thăng vận” đổ lực lượng biệt kích ngụy phối hợp với quân Đại Hàn của Sư đoàn Bạch Mã nổi tiếng thiện chiến và ác ôn, giở những ngón đòn ác hiểm nhất vẫn không sao tiêu diệt được căn cứ địa thần thánh của cách mạng ngay trước mũi chúng.
    Thăm lại chiến khu Đồng Bò hôm nay, ta vẫn xúc động gặp lại những di vật và hình ảnh hình như còn nguyên vẹn của những ngày kháng chiến gian khổ, anh hùng ấy: những cây gỗ lớn dùng làm cột chống hay bắc làm lối đi, có những dấu mòn vẹt, sạp tre, gỗ làm giường nằm trong lòng hang hay ken dày thành sàn lớn trước cửa hang chính dùng làm nơi hội họp, biểu diễn văn nghệ, những phiến đá dùng làm ghế ngồi, bàn viết, cối giã gạo, đường ống tre dẫn nước từ suối vào hang, những vệt khói trên vách đá, “nhà nuôi quân” như còn tỏa mùi thơm và hơi ấm... Và đây đó, trên vách đá, khe sâu trong những gộp đá lặng thầm kia vẫn còn cất giữ nhiều hiện vật vô giá khác: những cuốn sổ ghi chép, nhật ký, một bài văn, bài thơ, một bức thư gửi người thân, một tấm khăn thêu dở, một kỷ vật của tình yêu được gói kín nhiều lần trong những túi nhựa...mà chủ nhân của nó đã đi xa chưa có điều kiện trở về tìm lại, hoặc đã vĩnh viễn nằm lại ở một nơi nào đó. Thanh niên Nha Trang trong chiến dịch “Hành quân theo bước chân những người anh hùng” cũng đã tổ chức thành những đoàn lên thăm lại gộp Suối Lùng và chiến khu Đồng Bò.
    Thật hiếm có một căn cứ cách mạng và kháng chiến nào tưởng như giữa rừng sâu, núi thẳm nhưng đến nay còn giữ được hầu như nguyên vẹn, lại gần kề ngay bên thành phố và có thể tới viếng thăm dễ dàng đến thế.

    Viện Hải dương học

    Viện Hải dương học nằm trên một khu đất cao ráo, rộng rãi tại số 1, đường Cầu Đá, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Viện Hải dương học được thành lập năm 1923, là một trong những cơ sở nghiên cứu khoa học được ra đời sớm nhất ở Việt Nam và được coi là cơ sở lưu trữ hiện vật và nghiên cứu về biển lớn nhất Đông Nam Á.
    Đến thăm Viện Hải dương học, du khách sẽ được tận mắt xem Bảo tàng sinh vật biển với trên 20.000 mẫu vật của hơn 4.000 loại sinh vật biển và nước ngọt đã được sưu tầm, gìn giữ từ nhiều năm, bên cạnh những mẫu vật sống được nuôi thả trong những bể kính.
    Nói đến Viện Hải dương học, người ta không thể không nhắc đến một bộ phận hữu cơ của nó là Bảo tàng Hải dương học - vốn rất nổi tiếng từ những năm 30 của thế kỷ trước với cái tên dân dã là “Hồ cá Hải học viện Nha Trang”.
    Hiện nay, Bảo tàng Hải dương học được tập trung đầu tư nâng cấp, mở rộng và phát triển thành một quần thể liên hoàn bao gồm các bể nuôi sinh vật biển phục vụ nghiên cứu, tham quan cũng như giáo dục cộng đồng, và một hệ thống nhà lưu trữ mẫu sinh vật biển lớn nhất nước. Có rất nhiều mẫu vật đã được gửi đến nhiều phòng thí nghiệm khác nhau ở nước ngoài, nhiều bảo tàng trên thế giới.
    Đến tham quan bảo tàng, ngoài việc chiêm ngưỡng vẻ đẹp của hàng trăm loài sinh vật biển nhiệt đới, khách tham quan còn có thể xem xét tìm hiểu hơn 10.000 loài sinh vật ở biển Đông đang được lưu trữ. Bộ mẫu sinh vật biển bao gồm các loài hiện hữu ở biển Việt Nam, Campuchia và các vùng nước lân cận, trong đó có các loài thú biển quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng như bò biển (Dugong). Đặc biệt, bảo tàng đang lưu giữ, bảo quản trưng bày bộ xương cá voi khổng lồ dài gần 26 mét, cao 3 mét đã bị chôn vùi trong lòng đất ở đồng bằng sông Hồng ít nhất hơn 200 năm. Đây thực sự là một di vật lịch sử tự nhiên vô cùng quý giá. Bảo tàng còn giới thiệu với du khách các đặc điểm tự nhiên của vùng biển Đông, giới thiệu những khoáng sản, tài nguyên quý giá, những cảnh quan môi trường vùng biển ven bờ, các hệ sinh thái giàu có như rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển - để lưu ý nhắc nhở mọi người hãy nâng cao ý thức bảo vệ cảnh quan môi trường, nguồn lợi vì lơi ích của con cháu mai sau. Bảo tàng Hải dương học đang trở thành trung tâm trưng bày giới thiệu và giáo dục truyền thống chinh phục khai thác và bảo vệ biển Đông của người Việt. Đây thực sự là một trung tâm di sản văn hóa biển rất đáng quý, cần phai bảo quản và phát triển.
    Viện Hải dương học đã được bình chọn là một trong 10 điểm du lịch lịch sử - văn hóa hấp dẫn đạt danh hiệu “Điểm du lịch được hài lòng năm 2005”.

    Khu tưởng niệm bác sĩ Alexandre Yersin

    Tỉnh Khánh Hoà có ba khu tưởng niệm bác sĩ Alexandre Yersin tại thành phố Nha Trang và huyện Diên Khánh. Khu tưởng niệm bác sĩ Alexandre Yersin là công trình xây dựng để tưởng niệm nhà bác học tài ba - Alexandre Yersin (1863 - 1943), người đã sống và cống hiến hết mình cho khoa học của nhân loại.
    Ba khu tưởng niệm bác sĩ Alexandre Yersin:
    - Thư viện của Bác sĩ Yersin tại viện Pasteur Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
    - Chùa Linh Sơn, xã Suối Cát, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa (phòng làm việc của bác sĩ ở Suối Dầu trước đây).
    - Phần mộ của Bác sĩ Yersin, xã Suối Cát, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
    Năm 1891, ông đến Nha Trang xây dựng cơ sở nghiên cứu, thí nghiệm vi trùng học đầu tiên ở Việt Nam. Đầu năm 1899, nơi đây đã trở thành Viện Pasteur Nha Trang.
    Sau hơn 50 năm sống và làm việc vì khoa học ở Viện Pasteur Nha Trang (1891 - 1943) Yersin đã cống hiến cho khoa học 55 công trình nghiên cứu có giá trị.
    Các chức vụ ông đã đảm nhận:
    - Viện trưởng Viện Pasteur Nha Trang.
    - Viện trưởng Viện Pasteur Đông Dương.
    - Hiệu trưởng Trường Đại Học Y Khoa Hà Nội.
    - Tổng thanh tra các Viện Pasteur Đông Dương.
    - Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Pháp.
    - Chủ tịch danh dự Hội đồng Y khoa Viện Pasteur Paris.

    Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa

    Địa chỉ: số 16, đường Trần Phú, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
    Điện thoại: (058) 813 654.

    Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa hiện đang bảo quản gần 10.000 hiện vật gốc, hơn 5.000 tư liệu hình ảnh thuộc về các thời kỳ lịch sử khác nhau, trong đó có nhiều hiện vật thuộc loại quý hiếm.
    Bảo tàng tỉnh Phú Khánh (nay là Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa) được thành lập theo Quyết định số 1329/UB - TC, ngày 13/6/1979 của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Khánh (cũ).
    Bảo tàng đã sưu tập được nhiều hiện vật tiêu biểu như sưu tập rìu đá, đồ trang sức bằng đá thuộc văn hóa Xóm Cồn (cách ngày nay khoảng 3.500 năm); trống đồng Nha Trang (niên đại cách đây 2.000 năm); điêu khắc đá Chămpa (thế kỷ IX đến thế kỷ XIV); tiền cổ (từ thế kỷ IX đến thế kỷ XVIII); đồ gốm thương mại (từ thế kỷ IX đến thế kỷ XVIII); sưu tập vũ khí trong thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ...
    Hệ thống trưng bày đang giới thiệu các chuyên đề: các văn hóa cổ ở Khánh Hòa; truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Khánh Hòa, giai đoạn 1930 - 2002; thân thế và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 1969); chuyên đề các Bà mẹ Việt Nam anh hùng tỉnh Khánh Hòa.
    Mỗi năm Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa đón tiếp hơn 20.000 lượt khách tham quan trong nước và quốc tế, đồng thời đã xuất bản nhiều công trình nghiên cứu có giá trị như bộ sách nghiên cứu nhiều tập: Khánh Hòa - diện mạo văn hóa một vùng đất, Văn hóa Xóm Cồn...được giới khoa học trong nước đánh giá cao.

    Chùa Từ Vân

    Chùa được xây dựng từ năm 1968, trải qua những biến cố lịch sử của đất nước trong những năm tháng chiến tranh, chùa Từ Vân không chỉ là chốn tu hành thanh tịnh của các nhà sư, mà đã trở thành những danh lam thắng cảnh, thu hút đông đảo phật tử và du khách tham quan đến từ nhiều vùng miền của đất nước.
    Chùa Từ Vân nằm trên địa bàn thị xã Cam Ranh, cách trung tâm thành phố Nha Trang khoảng 60 km. Cũng như các chùa nổi tiếng khác như: chùa Long Sơn ở Nha Trang, chùa Giác Hải ở Vạn Ninh, ngôi chùa Từ Vân Đây là một trong những ngôi chùa nổi tiếng, là những điểm du lịch văn hóa trong tỉnh Khánh Hòa.
    Một trong những điểm độc đáo của Chùa Từ Vân - Cam Ranh thu hút khách thập phương là cảnh quan của chùa, một ngôi chùa mang đầy phong vị của biển cả. Đó là các kiến trúc tòa tháp, vườn hoa, đều được xây dựng từ những viên đá san hô và những vỏ sò, vỏ ốc. Cảnh quan ở đây tạo nên một không gian yên bình và lạ mắt, đối với thú thưởng ngoạn của du khách, khi ngắm nhìn các công trình tòa tháp, do tự tay các nhà sư thiết kế và xây dựng nên.
    Khi bước vào chùa Từ Vân, du khách sẽ có một cảm nhận rằng, bất cứ nơi nào cũng có những họa tiết, những hình tượng, được trang trí bằng san hô, vỏ sò, vỏ ốc, đặc biệt là Tháp Bảo Tích, một công trình khá công phu do các nhà sư ở chùa xây dựng nên. Do đó, cái tên chùa Ốc được người dân nơi đây dùng nhiều hơn để nói về chùa Từ Vân ở Cam Ranh, tháp Bảo Tích được xây dựng từ năm 1995. Nhưng để hoàn thành, các nhà sư ở chùa phải mất năm năm xây dựng, từ việc thiết kế, thu gom và mua nguyên vật liệu, đến việc xây cất tòa tháp, với độ cao 39 mét. Điều đặc biệt là với độ cao của một tòa tháp như thế, các nhà sư ở đây không có sự hỗ trợ của các máy móc, thiết bị chuyên dụng trong ngành xây dựng, tất cả đều làm thủ công, sự dẻo dai và bền bỉ của sức người. Theo chủ ý của Hòa thượng Thích Thông Anh, trụ trì chùa Từ Vân thì làm công trình này vừa để rèn luyện khí lực, trí lực, thể lực, tâm lực cho các nhà sư, vừa tạo ra một công trình lạ mắt, hấp dẫn do du khách thập phương khi đến vãng cảnh chùa.
    Bên cạnh tháp Bảo Tích, du khách khi đến tham quan chùa Từ Vân không thể nào bỏ qua hành trình xuống 18 tầng địa ngục. Trên suốt chặng đường hầm tối đen, ẩm thấp, khúc khuỷu, bước qua từng cửa ngục, du khách sẽ biết được những lời giáo huấn, đối với từng tội danh khác nhau. Vừa chinh phục đường hầm giống như vào địa đạo Củ Chi để tìm một chút cảm giác mạo hiểm, vừa nhắc nhở mình không làm những việc sai trái ở đời, đó là cách làm hay của các nhà sư ở đây.

    Chùa Long Sơn

    Chùa Long Sơn nằm ngay trong nội thành Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, bên quốc lộ 1A, dưới chân Hòn Trại Thủy. Chùa được khai sơn vào cuối thế kỷ XIX và được xây dựng mới vào năm 1940 với nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc mang đậm dấu ấn thời hiện đại.
    Chùa được cất trên một khu đất cao, thoáng mát, cây cối xanh tươi, gần kề ngay đường giao thông và khu phố đông đúc mà vẫn giữ được vẻ thâm u, tĩnh mịch, uy nghiêm, huyền bí, cao siêu nơi cửa Phật nhờ có sự phối hợp tuyệt vời giữa công trình kiến trúc với cảnh quan thiên nhiên và những phần tạo dựng do con người.
    Đây là một trong những ngôi chùa vào loại lớn nhất và cũng ở vào một địa thế trang nghiêm, đẹp nhất trong các ngôi chùa còn lại ở Khánh Hòa đến nay và cũng là một trong những thắng cảnh nổi tiếng của Nha Trang.

    Chùa Hải Ấn (chùa Hang)

    Trong các cuốn cẩm nang du lịch, du khách sẽ không tìm thấy tên của chùa Hang tại thành phố Nha Trang. Nhưng, có thử một lần tận mắt ngắm nhìn từng tảng đá khóm hoa, và tận tai nghe kể về những câu chuyện kỳ ảo của ngôi chùa này từ ngày khai sơn lập tự đến nay, du khách mới thấy ra đây quả là một chốn thiền môn huyền diệu của xứ trầm hương.
    Đi theo con đường chạy bọc phía sau lưng Tháp Bà, sừng sững trên triền núi xanh, chùa Hải Ấn nổi bật lên với tường màu vàng nhạt và những vòm mái cong cong màu đỏ. Dân quanh vùng cũng thường gọi bằng hai tiếng thân quen đầy cung kính: Chùa Hang. Trong chùa có một cái hang ăn sâu lên trên đỉnh núi, dân kể rằng xưa đó là một “hổ huyệt”. Trong chiến tranh chống Mỹ, quân đội Đại Hàn đến chiếm đóng đã san bít đường từ hang lên đỉnh núi. Vào năm 1968, ni sư Chánh Lượng đến đây lập một am thờ Phật ngay trong hang, ở suốt trong hai năm liền, “nhất bộ nhất bái” (mỗi bước một lạy) trì kinh Pháp Hoa để cầu nguyện được lập nên một ngôi chùa. Chùa được xây phía bên ngoài cạnh hang động, đến năm 1971 thì hoàn thành.
    Hang động nay vẫn còn đó, nép bên chánh điện nguy nga, hai bên cửa hang có bộ tượng “Khuyến Thiện - Trừng Ác” trấn giữ, vào bên trong hang không khí khác hẳn, im ắng, chừng như nghe được tiếng thì thầm của những tảng đá trắng nhám sần sùi vô tri. Trong hang nay có thờ những tượng Phật, Bồ Tát, và tổ khai sơn. Từ khi ni sư khai sơn viên tịch, chùa vẫn được tu bổ xây dựng thêm rất nhiều công trình tạo nên một chốn thiền môn đầy hoa sắc, rộng rãi hơn, tráng lệ hơn...
    Đặc biệt là giếng nước trong chùa. Giếng nằm bên ngoài phía trước dãy nhà trù, trên một tảng đá xanh rì. Xưa, ni sư khai sơn đã cho đào thử nhiều giếng nước, nhưng nước bị nhiễm mặn nên không sử dụng được như tất cả các giếng nước quanh vùng vì ở gần cửa biển. Không đầu hàng, ni sư phát nguyện trì kinh “Ngũ Bách Danh” (năm danh hiệu Phật, cứ mỗi lần xưng tán một danh hiệu Phật thì phải đảnh lễ một lạy), để cầu tìm nguồn nước ngọt cho chùa, cũng như cho dân trong vùng. Rồi ngày nọ, ni sư đã chỉ cho đám thợ khoan giếng địa điểm để lấy nguồn nước: ngay bên trên tảng đá khổng lồ. Ban đầu, thợ khoan giếng không dám nhận công việc này, vì họ sợ làm hao tài tốn của nhà chùa mà sẽ không được gì, nhưng sự quả quyết của ni sư đã thuyết phục được họ, vậy là họ khoan xuống tảng đá xanh cứng. Thật kỳ diệu, khoan sâu xuống lòng đá hơn mười mét thì gặp trúng mạch nước ngọt mát lạnh và trong vắt. Giếng nước ngọt được tìm thấy, nguồn nước tràn trề quanh năm, người dân quanh khu vực ngày đêm quẩy gánh xách thùng đến xin nước về dùng từ đó đến nay, và dân chúng nghiêng mình cung kính gọi đó là giếng Phật.
    Ni sư trụ trì chùa hiện nay đang có dự định xây dựng những dãy bậc cáp tận phía trên đỉnh núi cho hợp với nghĩa “du sơn”, cả ngọn núi phía sau lưng chùa sẽ mọc lên những tượng đài, gác chuông...tạo nên một cảnh quan kỳ thú.

    Lăng Bà Vú

    Lăng Bà Vú nằm ở thôn 3, thị trấn Ninh Hoà, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Lăng Bà Vú là một công trình kiến trúc chứa đựng nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa tiêu biểu và đặc sắc, trong đó yếu tố mỹ thuật chiếm vai trò chủ đạo. Một số yếu tố nghệ thuật cung đình và dân gian đầu thế kỷ XIX đã được thể hiện ở đây khá rõ nét.
    Truyền thuyết của nhân dân trong vùng kể lại rằng:
    "Thuở trước, khi chúa Nguyễn Ánh đang lúc gian nan và khốn khó, một lần bị quân Tây Sơn đánh bại và truy đuổi gắt gao, quân lính theo hầu không còn mấy người, lương thực cạn kiệt, những tưởng rằng phải bỏ xác lại nơi này, may sao, có một người phụ nữ nhà khá giả ở thôn Mỹ Hiệp (Ninh Hòa) thương tình cho ăn, lại chỉ đường cho trốn chạy thoát được vào Nam. Nhiều năm sau, khi đã chiến thắng được triều Tây Sơn và lên làm vua, nhớ lại công ơn của người đã cứu giúp năm nào, nhà vua bèn sai người về báo đáp thì người xưa đã không còn nữa. Để ghi nhớ công ơn của bà, nhà vua xuống chiếu phong tặng cho bà là Nhũ mẫu, đồng thời truyền thợ giỏi đang xây dựng cung điện ở Huế và thợ khéo ở Khánh Hòa đến thôn My Hiệp để xây lăng cho bà."
    Lăng Bà Vú được xây dựng trong hai năm, đến năm 1804 thì hoàn thành. Lăng được xây dựng trên gò đất cao phía cánh đồng, có không gian rộng, uy nghiêm, các yếu tố phong thủy đã được kết hợp và xử lý một cách hài hòa với không gian xung quanh. Tổng thể lăng được xây dựng theo hình chữ quốc, mặt xoay hướng đông nam có hồ sen rộng hình chữ nhật bằng vôi cát, lăng có ba lớp thành xây bằng vôi, cát, gạch. Thành ngoài dài 20 mét, rộng 14 mét, cao 1,5 mét tạo thành khuôn viên bao bọc, có cửa nhỏ ra vào, 2 bên có hai con sư tử đắp bằng vôi, cát tô màu hồng rất đẹp. Tiếp theo có án phong, có thành nội bao bọc khu mộ dài 12 mét, rộng 0,9 mét, cao 1,2 mét hình vòm cung. Hai bên cửa có hai con kỳ lân thể hiện khá tinh xảo. Ngôi mộ nằm chính giữa có bia đá khắc chữ Hán ghi lại sự tích cong đức của Bà Vú.
    Điều đáng lưu ý ở công trình là những hình trang trí đắp nổi trên những bức tường của lăng có từng chủ đề riêng biệt theo các tích xưa như: Nhị thập tứ hiếu, Trúc Lâm thất hiền, Ngư Tiều Canh Mục, Bát tiên, Chiêu Quân cống Hồ...cùng với một số biểu tượng của người quân tử theo quan niệm của đạo Nho như: tùng, cúc, trúc, mai. Hoặc là những biểu tượng quen thuộc của đạo Lão như: thư, kiếm, phong, vân, tùng, đình, nai, hạc... Chất liệu chính để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật bích họa này chỉ là vôi, cát cùng với màu sắc trộn với nhau và được đưa lên tường, song ở mỗi bức tranh các nghệ nhân xưa đã thể hiện một cách trau chuốt đến từng chi tiết cũng như toàn bộ bố cục của mỗi khung hình. Lăng Bà Vú được xem như một di tích kiến trúc nghệ thuật của Việt Nam.
    Vì Bà không có con cái gia đình tế tự cho nên vua đã cấp một khu đất rộng cho dân trong vùng cày cấy, không phải nộp thuế để lo nhang khói. Tương truyền ngày giỗ của Bà vào ngày 16 tháng chạp hàng năm.

    Đình Phú Cang

    Đình Phú Cang nằm trên địa phận xã Vạn Phú, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Đình toạ lạc trong một khuôn viên rộng, thoáng, có diện tích 1.700 m2, và bài trí nội thất theo kiểu thường thấy ở các đình quê.
    Quá trình hình thành ngôi đình gắn với thời kỳ đầu người Việt khai khẩn, lập làng từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII. Ngôi đình chính dài 8 mét, rộng 9 mét gồm ba gian, kết cấu theo kiểu tứ trụ với 16 cột gỗ, phân bố bốn hàng, vị trí đều nhau. Đình có bàn thờ thần, bàn thờ bà Thiên Y A Na và bài vị phó tướng Trần Đường - người tập hợp nhân dân theo lời hiệu triệu của vua Hàm Nghi đánh Pháp trên địa phận tỉnh Khánh Hoà.
    Mặt trước đình, phần trên cửa có chạm khắc nổi hình linh vật và nhiều hoa văn tinh xảo, trên cửa chính gắn tấm đại tự lớn bằng gỗ chạm ba chữ: "Phú Cang Đình".
    Đình được tặng nhiều sắc phong, tặng vật quý trong đó có sắc phong Thượng Đẳng Thần ghi nhớ công đức của vị Thành Hoàng; một quả chuông cổ và một chiếc trống lệnh.

    Di tích Am Chúa

    Am Chúa được xây dựng trên một ngọn núi có tên là núi Đại An (hoặc núi Dưa), thuộc xã Diên Điền, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Đây là nơi thờ Thiên Y Ana Thánh Mẫu, một vị phúc thần rất được kính trọng ở Khánh Hòa.
    Theo sự tích được ghi lại trong một tấm bia đá từ năm 1856 ở Tháp Bà, Am Chúa được coi là nơi phát tích của Bà lúc ấu thơ sống với cha mẹ nuôi, còn Tháp Bà Nha Trang là nơi thờ Bà khi đã hiển thánh. Bởi vậy, ngay từ đầu triều Nguyễn, Thiên Y Ana đã được sắc phong là Hồng Nhơn Phổ Tế Linh Ứng Thượng Đẳng Thần và tại Am Chúa mỗi khi tế lễ thường được tổ chức theo nghi lễ quốc tế do quan đầu tỉnh làm chủ tế. Qua nhiều lần tu sửa, hiện nay ngôi miếu đã khang trang.
    Hàng năm vào ngày mùng một, mùng hai và mùng ba tháng ba âm lịch tại Am Chúa tổ chức lễ hội rất long trọng, đông vui, thu hút khách thập phương xa gần, cả người Chăm và người Việt về dự. Có thể khẳng định, lễ hội Am Chúa là nơi còn bảo lưu được nhiều nhất những nghi thức lễ hội cổ truyền của người Việt ở Khánh Hòa.

    Thác Giang Ly

    Thác Giang Ly - còn gọi là thác Ê-Thu nằm cách huyện Khánh Vĩnh 17 km (cách thành phố Nha Trang 57 km). Đây là khu vực có đến 90% là người dân tộc thiểu số sinh sống, vì thế thác suối này vẫn mang đậm nét hoang sơ, hùng vĩ với cánh rừng nguyên sinh xung quanh thác.
    Nước từ trên chảy xuống thẳng đứng, dọc theo rừng cây xanh ngát, với những cánh lan rừng đầy nét quyến rũ, những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi ngút ngàn… Với chiều cao khoảng 30 mét, nhìn từ xa thác như một dòng bạc đổ xuống, bọt trắng xóa, bụi nước tung tóe trông thật hùng vĩ, nên thơ. Suối chảy qua những khu rừng chập chùng huyền ảo. Tại đây du khách có thể tắm, nô đùa với dòng thác mãi không chán, sau đó mua các đặc sản rừng dùng tại chỗ và đồ lưu niệm của người dân sinh sống ở đây.
    Đây là một trong những suối thác đẹp nhất của huyện Khánh Vĩnh, có nhiều ưu điểm: đường đi thuận tiện, còn nguyên nét hoang sơ, rất phù hợp cho các chuyến dã ngoại, khám phá mới. Nếu được đầu tư thích đáng, thác Giang Ly sẽ trở thành một điểm du lịch sinh thái lý tưởng trong tương lai.

    ThácYang Bay

    Thác Yang Bay nằm trong khu vực buôn Y Bay, xã Phước Thượng, huyện miền núi Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa. Thác Yang Bay nằm ở độ cao 600 mét so với đất liền, ngọn thác này được coi như là thượng nguồn của một nhánh sông từ trên cao nguyên đổ về sông Cái, Nha Trang.
    Yang Bay theo cách gọi của người dân tộc Ra Glai có nghĩa là “thác trời”. Từ Nha Trang, đi theo đường đến huyện Khánh Vĩnh, còn 4 km tới thị trấn thì gặp xã Sông Cầu, theo con đường rẽ trái tiếp tục đi gần 5 km nữa thì đến thác Yang Bay. Hiện nay, gần như không có một phương tiện công cộng nào đến thác ngoài xe hai bánh.
    Để mở con đường đến thác, có đoạn phải xẻ đôi núi ra khiến quang cảnh chung quanh thêm hấp dẫn. Thác từ trên cao, chen trong cánh rừng đại ngàn tạo ra những dốc thác khác nhau, mỗi dốc thác lại có nhiều hồ lớn nhỏ, nước trong veo, cá hồn nhiên bơi lội. Kết thúc cuộc hành trình của thác là một thác nhỏ với độ cao 10 mét trải dần xuống, chân thác là một hồ nước cạn, rộng mênh mông, có thể nhìn thấy lớp cát đá bên dưới.
    Nhưng sự hấp dẫn của Yang Bay còn ở ý tưởng chinh phục. Nhiều người đi trước đã tạo ra con đường nhô lên cao dần, phải vượt qua những mỏm đá cheo leo để đi lên đỉnh. Những người ít thích mạo hiểm thì không vượt thác mà vượt qua “hồ của thác”. Hồ nước sạch, nước chỉ lưng chừng nửa mét. Xắn quần vượt qua là bước vào thế giới của đại ngàn bờ bên kia. Nơi đó có những cây đại thụ che rợp mát, dưới bóng cây là thảm lá rụng.
    Hiện nay, một đập tràn dài 30 mét đã được xây xong, tạo con đường băng qua thác và tạo ra một hồ bơi khá lý tưởng với độ sâu trung bình 1,2 mét, đảm bảo an toàn cho những ai chưa biết bơi. Ngoài ra cánh rừng bên kia thác cũng được chăm sóc để đẹp hơn và an toàn hơn cho những chuyến dã ngoại của du khách.

    Núi Trại Thủy

    Dân gian còn gọi đây là Hòn Xưởng, sách cũ ghi là Khố Sơn, tục danh là Hòn Kho. Những tên này đã biểu hiện liên hệ với lịch sử. Núi Trại Thủy là một hòn đơn độc nằm ở địa đầu thành phố Nha Trang về phía Tây. Hòn núi này chỉ cao khoảng 35 mét và dài khoảng 600 mét, giống như một ngọn đồi mọc dọc theo quốc lộ 1A ở phía Bắc. Hình dáng giống như con dơi nằm sè cánh, đầu hướng về phía Tây Nam. Người xưa gọi là “Ngọc búc hàm hoàn” có nghĩa là dơi ngọc ngậm vòng. Triền phía sau có dốc ngược, toàn là đá hoa cương. Triền phía trước hơi lài, cũng bằng đá hoa cương nhưng có lẫn đất điệp.
    Trên núi không có cổ thụ và bàn thạch, cảnh tượng khô khan, trơ trọi. Xưa chỉ có miếu thờ Quan Công và miếu Ngũ Hành ở đầu “con dơi”, nhỏ hẹp. Trước năm 1943, hòa thượng Giác Phong lập ngôi chùa Hải Đức. Một bậc cấp ở sau chùa Long Sơn được xây với chức năng đường thứ hai giành cho Phật tử và du khách lên chiêm ngưỡng Kim thân Phật tổ. Có nhiều bóng mát, cây xanh xung quanh tượng.
    Hòn Trại Thuy nhờ đó được thanh lịch với dáng vẻ vừa thoải mái, vừa thanh thoát, thoải mái, thích hợp với yêu cầu thư giãn, tịnh tâm của con người.
    Quang cảnh xung quanh núi rất đặc sắc. Đặc biệt cảnh quan những vườn dừa nối liền nhau tưởng chừng bất tận của các làng Lư Cấm, Ngọc Hội, Vĩnh Hội, Vĩnh Điểm nổi bật dưới chân núi, trải một màu xanh mượt mà. Trước mặt núi Trại Thuỷ có vườn rau xanh, đồng lúa khi giăng lục, lúc trải vàng, những xóm làng ẩn hiện dưới bóng cây săn quằn trái mọng chín, sớm chiều điểm những cánh cò trắng chao liệng...
    Hòn Trại Thuy đứng giữa đất bằng nhưng không phải đơn độc như nhiều người thường nghĩ. Các nhà địa lý quan niệm rằng núi này thuộc hệ thống dãy Trường Sơn Tây Nguyên. Còn các nhà phong thuy xưa cho rằng đây là Trấn Thủy khẩu của dãy núi Tây Diên Khánh. Long mạch phát từ hòn Thị ở Diên Khánh, chạy ngầm dưới đất gần cửa sông Cù, đột khởi làm cột trụ giữ linh khí cho cột đất Diên Khánh Vĩnh Xương.
    Thành Diên Khánh lấy hòn Thị ở phía Tây làm hữu bật, lấy hòn Trại Thủy ở phía Đông làm tả phù. Bởi đó, về mặt phong thuỷ, hòn Trại Thuỷ là một trong những vùng núi quan trọng của vùng này.
    Vào thời Pháp, Thi Nại Thị lên chơi Trại Thủy, cảm khái:

    “Bước lên hòn Trại Thủy,
    Dừng chân đứng nghĩ.
    Nghĩ chuyện đời xưa:
    Lầm chữ trung bao kẻ bị lừa
    Bọc thây da ngựa để dựng cơ đồ cho ai?
    Vơi vơi biển rộng sông dài,
    Đống xương vô định ai người khói hương?
    Và rồi người tranh bá,
    Và rồi kẻ đồ vương,
    Sướng tay chẳng giữ mối giường.
    Non sông đem gán cho phường sài lang!
    Cả thương đoàn nghĩa sĩ,
    Gan rèn đá,
    Dạ trui vàng,
    Mật thù thấm vị gian nan,
    Quyết đem xương máu lắp đàn xâm lăng.
    Gươm mài trăng dẫu khuất.
    Gương rửa nhục còn treo.
    Nước sông Trường Cá trong veo,
    Nghìn thu suy thịnh thủy triều xuống lên.”

    Quách Giao trong bài “Hòn Trại Thủy trước thời Pháp thuộc” đã giải thích các tên của hòn núi nhỏ này và mô tả cảnh quan xưa như sau:
    "...Núi còn một tên nữa rất ít người biết là Hoàng Mai Sơn, gọi tắt là Mai Sơn, gọi nôm na là Non Mai. Tên này có trước những tên Trại Thuỷ, Hòn Xưởng, Hòn Kho... Tên của khách văn chương đặt cho núi và vốn coi mặt đặt tên.
    Hòn Trại Thủy trước thời Thực dân Pháp chiếm đóng là một hòn núi mọc toàn mai. Những khóm mai cổ thụ, cội cao tàng cả, mọc chen vào những tảng đá hoa cương to lớn. Mỗi lần xuân đến hoa mai nở vàng cả núi. Hết mùa hoa mai thì lá mai đậm và láng trùm lên núi một màu xanh lục lìa và anh ánh. Sang đông lá mai rụng hết núi trở thành những hòn trọc màu xám in những nét đen nhạt của những cành khúc khuỷu, những cội u nần của những khóm mai già rắn rỏi... Cảnh sắc mùa nào cũng đẹp đẽ nên thơ.
    Tên “Hoàng Mai Sơn” đã đẹp, núi còn một tên nữa cũng đẹp không thua đó là “Ngọc Bức” tức là “Con dơi ngọc”. Mệnh danh như thế là vì đứng ở phía Nam, xa xa nhìn thấy núi giống hình một con dơi nằm sải cánh, đầu hướng về Nam và trên núi có những tảng đá hoa cương nhấp nháy ánh sáng."

    Để vịnh Hoàng Mai Sơn, người xưa có câu:

    “Hoàng Mai Sơn hạ La Phù Mộng
    Ngọc bức danh trung Hiệp phố tình.”

    Nghĩa là:
    "Dưới núi Hoàng Mai chợp được giấc mộng La Phù, trong tiếng Ngọc Bức có ngậm chứa tình Hiệp Phố.
    Núi ở mặt ngoài thật thanh nhã, ngờ đâu ở bên trong lại có thế dụng binh."

    Khoảng nửa sau thế kỉ thứ XVII, nhà Tây Sơn thắng chúa Nguyễn, dinh Bình Hoà thuộc về nhà Tây Sơn. Tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu vào trấn Bình Hoà nhận thấy Ninh Hoà không thể dụng binh bèn dời dinh Tổng trấn vào Diên Khánh, xây thành đắp luỹ để chống với quân chúa Nguyễn ở mặt Nam, về đường bộ.
    Để chống giữ lại mặt biển Trần Quang Diệu lại cắt một đạo thuỷ binh xuống trấn miền duyên hải. Xét thấy núi Hoàng Mai Sơn địa thế hiểm trở, bèn dùng làm căn cứ quân sự.
    Trên núi thì cất trại lính, dưới núi về mặt Bắc gần sông lại đóng xưởng cất thuyền, lại đóng kho chứa lương thực. Vì vậy, núi mới có tên là Trại Thủy hay Hòn Xưởng, hòn Kho.

    Núi Sinh Trung

    Đây là một hòn núi đá đơn độc, sừng sững ở cạnh đầm Xuân Hương, cạnh bến Hà Ra của sông Cù, giữa thành phố Nha Trang. Núi không cao, không lớn so với thành phố, núi giống như hòn non bộ giữa vườn hoa kiểng, thoáng ngoài xem ra không có gì đặc sắc. Tuy nhiên, khi đứng ở trên đỉnh du khách hướng về phía Bắc, phía Đông thì sẽ nhận ra toàn cảnh hấp dẫn ở dưới chân với những nét hỗn hợp sinh động của đầm nước, cồn nổi và biển giả. Xen lẫn có bóng cây in soi mặt nước, bóng mây lững lờ trên dòng sông, lầu tháp trơ gan ven bờ và tàu thuyền neo đậu hay xê dịch trên sóng nước. Về mặt Tây và hướng Nam, phố phường đồng ruộng le lói, lững lờ những làn khói trắng, một dáng vẻ bát ngát và mênh mông rộng. Về mặt Tây Nam Bắc, dãy trường thành núi non trùng điệp xanh ngắt bao che vùng duyên hải và thành phố biển. Còn ở mặt Đông, bình minh luôn đến với đất nước khá sớm, bóng bạt đầu reo vui triền miên không dứt như đem đến nguồn vui sinh khí bất tận cho người ở Nha Thành. một dáng vẻ bao la ngoạn mục không hề phai.
    Các thầy địa lí xưa gọi núi này là “Bạch tượng quyện hồ” (voi trắng - với ý niệm vua voi giỡn nước trong hồ). Trên đỉnh núi có miếu thờ các vị công thần của nhà Nguyễn hi sinh lúc Trung Hưng. Miếu này trước gọi là Tinh Trung, sau đổi thành Linh Trung, tên núi do tên miếu mà thành, cư dân địa phương gọi là núi Hà Ra. Hà Ra do tiếng Chăm là Hara có nghĩa là khu vực, lãnh thổ, lãnh địa; sách xưa chép là Ala.
    Núi Sinh Trung cùng với đầm Xương Quân có một truyền thuyết:
    "Thuở xa xưa, nơi đây chẳng có đầm núi. Vào lúc nữ thần Pô Nagra giáng thế, sấm trời nổi dậy ầm ỉ như báo tin cho muôn loài hay biết. Một con cù được sinh từ lúc khai thiên lập địa ngủ quên trong lòng đất, giật mình thức giấc, vùng dậy. Những lớp đất đá phủ trên lưng cù bị hất tung lên biến thành núi. Nơi cù nằm bị trũng xuống trở thành đầm. Vì đó, đầm có tên là Cù Đàm và núi có tên là Cù Lĩnh."
    Đầm và núi bổ sung cho nhau, kiến tạo một khung cảnh thiên nhiên mỹ quan từ ngàn xưa: đầm ôm chân núi, núi đứng soi bóng vào lòng đầm, trang điểm, điểm trang cho nhau như âm dương hợp phối muôn đời và mãi mãi với thời gian.
    Vào những đêm trăng sáng vằng vặc, mặt hồ im lặng như tờ giấy bạc trãi thẳn và vầng trăng đứng sựng phía trên núi như quả ấn trân châu. Đúng là một bức tranh tuyệt thú:

    “Sóng lặn tăm cù non gời bóng
    Thu lồng gương quế, nước in châu.”

    (Trường Xuyên)

    Núi Cù Lao

    Núi Cù Lao là một vùng núi thấp gồm 5 hòn lớn nhỏ liền nhau, bị Quốc lộ 1A cắt chia thành hai phan Đông Tây, núi không cao và không có cây lớn. Phong cảnh trữ tình thanh lịch nhờ các yếu tố thiết trí hỗn hợp của thiên nhiên và bàn tay con người.
    Phía Tây núi có sông, phía Đông núi có biển, trên núi có tháp Bà Pô Nagra. Dưới có nhiều kiến trúc tân tạo của đạo Thiên Chúa và Tin Lành dàn thành một dãy với nhà cửa của cư dân chen chúc ở chân núi.
    Đứng tại Nha Trang trông qua vào lúc trời trong sáng, nhất là khi bình minh ló dạng và bóng chiều đã ngã về phía Tây, du khách sẽ nhìn rõ được vẻ đẹp của ngọn núi này. Sắc núi trong xanh dù không rậm rạp cây cối, không cao vút mà lô xô như những đợt sóng cồn với những đường nét sắc bén. Những đốm chấm phá các màu đỏ, xám của gạch ngói, màu trắng màu đen của vôi và đá tại khu cư dân và nhà thờ Thiên Chúa giáo tạo thành một bức tranh màu lục sinh động hoàn mỹ. Bối cảnh phía sau dãy núi là màu xanh nhạt và nền trời cao vòi vọi.
    Sự quyến rũ của cảnh quan còn được tăng thêm nhờ có tháp Bà Pô Nagra huyền bí với những truyện tích khá hấp dẫn của người Chămpa xưa chân chất và người Việt giàu tình cảm.
    Núi Cù Lao nằm trên Bắc ngạn con sông Nha Trang, tức là con sông Cù phía Nam, đối diện và cùng dãy có hòn núi Sinh Trung và núi Trại Thủy đầy sự tích.

    Hang động ông Bưởi

    Ở phía Bắc ngạn sông Nha Trang, dưới bóng cây sát chân núi có một cụm đá xanh với hòn to lớn nằm chồng lên nhau trong khá đồ sộ, vững vàng, chắn ngang đường lên xuống. Nơi này có một hang rộng, cách tháp Bà chừng 1 km, nhưng du khách đi từ cầu xe lửa Ngọc Hội xuống thì chỉ xa có khoảng 400 mét.
    Đây cũng là một điểm du lịch khám phá của giới trẻ hoặc của những người ngoạn cảnh thích tìm hiểu truyện tích địa phương. Vì sao gọi là ông Bưởi?
    Truyện tích hang động này cho biết:
    “Xưa kia có một nhà sư vô danh, sống vào thời kì đầu nhà Nguyễn Trung Hưng đã đến tu tại hang này. Không biết ông từ đâu tới, vì thấy ông chỉ ăn bưởi thay cơm để sống nên mới gọi như vậy.
    Cùng đến hang với ông có một con cọp đen và một con vượn trắng. Ông là một nhà tu dị thường, không đọc kinh kệ, không khua chuông gõ mỏ mà cũng không lần tràng hạt, cứ ngồi tham thiền im liềm từ sáng tới tối. Trưa, đúng ngọ ông chỉ ăn có một múi bưởi do con vượn trắng tìm được đem đến dâng cho ông.
    Con vượn này luôn luôn đứng hầu bên cạnh ông, còn con cọp thì nằm phục ở cửa hang để canh chừng. Ông ít khi ra khỏi hang. Nếu có đi đâu, thì ông cưỡi cọp phóng đi nhanh như làn gió thoảng.
    Vào ban đêm, hang tỏa sáng như ánh trăng. Có tiếng đồn rằng ông đã đắc đạo nên phát hào quang. Nhiều người lại nói chắc rằng hào quang ấy đã phát ra từ bộ nút bằng hạt “dạ minh châu” trên áo cà sa của ông. Một số người muốn tìm hiểu sự thật nhưng không ai dám lại gần ông vì sợ cọp. Do đó, hang trở thành bí hiểm. Dầu vậy, có một số người lòng dạ bất chính mưu toan chiếm đoạt những hạt dạ minh châu đó.
    Một ngày nọ, nhân thấy con vượn và con cọp rời khỏi hang vào rừng tìm trái cây, họ liền hùa nhau xâm nhập vào hang. Lúc bấy giờ, ông Bưởi vẫn choàng tấm vải nâu không có đường may kết mà cũng chẳng có nút. Ông ngồi như một pho tượng. Gọi hỏi gì ông cũng không trả lời. Có người nghịch ngợm thọc lét ông, nhưng ngón tay vừa thò vào nách ông đã giật lại, người ấy gợn lạnh gáy vì cảm thấy như đang mó vào xác chết. Một người khác dùng chân đạp mạnh, ông vẫn ngồi trơ ra. Cả bọn hè nhau xúm lại xô, ráng hết sức lực cũng không lay chuyển được ông. Một kẻ thô bạo ngu xuẩn rút dao nhọn đâm mạnh vào bắp vế ông. Lưỡi dao lút quá nửa, nhưng ông dường như chẳng hay biết gì, và con dao chợt bắn ra, ghim sâu vào vách đá. Cùng lúc, một vòi máu nóng từ vết thương bắn mạnh vào mặt bọn người tham lam, thô bạo. Bọn chúng kinh hoàng dội ngược lại, xô lấn nhau chạy thoát thân. Từ dạo ấy, không còn ai dám bén mảng đến gần cửa hang.
    Ông Bưởi tu ở hang này trải qua một khoảng thời gian khoảng mười năm. Vào những lúc cư dân quanh vùng bị đói kém hay bị bệnh thiên thời, ông Bưởi thường đem gạo, thuốc (không hiểu do đâu mà ông có được những thứ này) đặt tại ngã ba đường để cứu trợ. Mọi người trong vùng coi ông Bưởi như là Phật sống.
    Quan sở tại nghi ông có tà thuật, thấy cư dân địa phương càng ngày càng thêm sùng bái ông, sợ để lâu sinh giặc, sinh biến nên ra lệnh trục xuất ông ra khỏi vùng trách nhiệm. Nhưng lệnh quan không được dân chúng đồng tình và ông Bưởi vẫn ngồi ỳ trong hang động. Quan dẫn quân đến vây bắt, khi quan quân đến gần miệng hang thì cọp gầm lên như sấm, còn con vượn trắng thì hú vang động cả đất rừng nghe rợn người, không ai có gan bước tới nữa.
    Quan sở tại ra lệnh chất củi ở miệng hang và quanh hang để đốt, lửa bừng cháy rất dữ dội. Thế hỏa công rất ác liệt, mọi người đều tưởng cả ông Bưởi lẫn hai con vật tuỳ tùng đều đã bỏ mạng, không ngờ ngọn lửa đang bùng lên cao thì đã rẽ hai, ông Bưởi cưỡi cọp, dắt vượn từ trong hang đi ra, rồi cả ba vụt chạy thẳng lên núi bạt tăm, từ dạo ấy hang bỏ trống.”

    Người đời sau gọi nơi này là hang hoặc là động ông Bưởi và cũng nói là chùa ông Bưởi. Ở đây không có gì gọi là tuyệt mỹ, nhưng những điều khác gợi sự tò mò của những người trong tuyến du lịch dã ngoại, tìm hiểu thiên nhiên tại Nha Trang.
    Hang chỉ cao rộng vùa đủ một người đi thẳng lưng, sâu chừng 15 mét. Nền bằng phẳng, vách hóc lồi lõm, vòm trần rộng lớn phẳng phiu, nằm ngang như trần nhà. Miệng hang hướng về phìa Đông.
    Lòng hang sáng sủa, mát mẻ nhờ cửa hang rộng và đầu hang ở phía Tây có kẻ hở để người ta có thể lách mình ra vô. Vào lúc trưa hè, du khách có thể đến thư giãn tới chiều tối, sẽ cảm thấy mình được khoẻ khoắn. Bởi lẽ, lúc nào cũng có gió biển thổi luồn vào hang, vừa đủ mát, dù rằng bên ngoài trời nắng chang chang đổ lửa.
    Chung quanh hang luôn im ắng, không một tiếng động và bóng người. Chỉ có tiếng chim trên đỉnh núi xa vọng lại giọng cao vút và vui tai. Thỉnh thoảng mùi hoa rừng bay theo gió thoảng, cũng có thể khiến cho du khách thú vị, ngất ngay. Vào chiều tắt nắng, du khách leo lên mái gie của hang để ngoạn cảnh thật là tuyệt. Cả một khung cảnh sắc màu, linh động của con sông Cù, của thành phố biển lung linh và cửa biển Nha Trang phản chiếu ánh tà dương thật là tuyệt diệu.
    Khi trời nhá nhem tối, du khách lại thích thú với cuộc sống tự nhiên ở chốn hoang dã. Sóc và kì nhông xuất hiện từng bầy, nhiều con lớn bằng cườm chân. Chúng ra dạn dĩ với con người khi chúng nhận thấy không có gì nguy hiểm đến với chúng.
    Xưa kia một nhà thơ đến đây (vào năm 1939), có là một bài thơ cảm tác:

    Vách đá cheo leo chắn bợn trần,
    Tình riêng với cảnh với giai nhân.
    Gió lồng cửa động không trời hạ,
    Trăng vẽ mày ai, sắc nước xuân.
    Đạo hạnh xưa thầy riêng một cõi,
    Phong lưu nay tớ vẹn mười phân.
    Nhắn cùng anh chị yêu non nước,
    Đây của mình đây chớ ngại ngần.”

    Về sau, có thêm một am thờ phật dựng trước cửa hang, do đó có thêm một bài thơ của thi sĩ Trường Xuyên:

    Mây qua ráng lại chẳng ngăn ngừa,
    Mượn cửa am rào nẻo đón đưa!
    Sắc gấm dẫu lòng thơ vách đá,
    Bụi đời e nhiễm gió ban trưa.
    Thăm thầy viếng cảnh chi thêm bậm,
    Trách nắng than sương nghĩ cũng thừa!
    Đành gởi nhớ thương chương kí ức,
    Nghìn sau khỏi nhạt mối tình xưa.”

    Suối Ồ Ồ

    Ồ Ồ nguyên là âm tiếng chỉ dòng nước từ trên nguồn chảy đổ mạnh và mau xuống gành, khác hẳn với các dòng suối chảy róc rách hay ào ào, hoặc rì rào như tiếng động của lá cành. Tên suối Ồ Ồ có được nhờ đặc tính này.
    Suối Ồ Ồ nằm ở phía Tây suối Ngổ thuộc địa phận thôn Đại Điền Trung, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
    Khởi phát từ trên dãy núi cao nằm tại ranh giới hai huyện Ninh Hòa, Diên Khánh con suối có hai nguồn chảy song song ở giữa ba nhánh núi thấp, từ Bắc vô Nam.
    Nguồn phía Tây được gọi là suối khô vì trong mùa nắng, mạch thường bị đứt. Nguồn phía Đông được gọi là suối Chà Vông, do hai bên bờ nhiều cây chà vông mọc um tùm.
    Ra khỏi núi, hai gành nước đổ xuống một gành đá đứng thẳng như tấm vách cao chớn chở. Dưới chân gành này, nước xói đá mòn thành hồ bán nguyệt, rộng trên một sào và sâu chừng ba sải tay. Nước hồ tràn ra, trở lại thành suối lượn quanh co một khoản dài đến khoản 4 km, tới vùng ruộng đồng. Quang cảnh chung quanh hồ là đá chập chùng và cây xanh chen chúc, thật âm u và yên ả.

    Kể từ hồ này, suối mang tên Ồ Ồ biểu tỏ đặc tính tuôn trào của dòng nước đổ mạnh. Âm thanh vọng ra như tiếng thác lớn dài vài trăm mét. Cư dân địa phương gọi gành đá đổ nước mạnh xuống hồ là sòng Tát.
    Hai bên đầu gành có nhiều vết lõm xuống trông gần giống dấu chân người. Trên mặt gành có một con đường dài như dãy lụa giăng ngang.
    Cư dân đồn đại rằng hồ bán nguyệt không bao giờ cạn, có tiên thường đến tát nước về nguồn. Những dấu chân bên gành là dấu chân tiên, còn dấu dài dài ở mặt gành là dấu dây lưng của tiên phơi khi tát nước.
    Còn đặc điểm nữa, hồ và suối Ồ Ồ có nhiều cá lớn, rất dạn dĩ, dễ câu. Đây cũng là một môi trường giải trí khá tốt cho du khách.

    Suối khoáng nóng Tháp Bà

    Suối khoáng nóng Tháp Bà nằm tại tổ 25, khóm Ngọc Sơn, phường Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Đây là một loại hình dịch vụ chăm sóc sức khoẻ độc đáo, lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam: ngâm tắm bùn khoáng, ngâm tắm khoáng nóng, hồ bơi khoáng ấm và hồ phun mưa khoáng nong.
    Nước khoáng nóng cũng như bùn khoáng Silic đã được công nhận về mặt y tế là có tác dụng rất tốt cho sức khoẻ. Ngoài tác dụng thư giãn, kích thích sự hoạt động của hệ thần kinh ngoại biên, nước khoáng nóng cũng như bùn khoáng còn có tác dụng tích cực đối với làn da, chữa được một số bệnh ngoài da thông thường và làm cho da mịn màng, sáng đẹp hơn.

    Suối Ngổ

    Suối Ngổ nằm ở phía Đông Bắc cổ thành Diên Khánh, địa phận thôn Xuân Phong, dưới chân Hòn Én. Muốn tới nơi này du khách khởi hành từ thành Diên Khánh hay từ trụ sở Vĩnh Xương đi lên.
    Khi đến vùng miễu Quá Quan, dưới chân hòn Đá Lố, theo một con đường nhỏ xiên xiên lên hướng Tây Bắc. Phải đi bộ, có nhiều cây gai và dốc. Vượt qua khoảng 500 mét, du khách phải băng qua ba cụm gò sỏi đá, không cao nhưng chồng chềnh, khúc khuỷu.
    Đi chuyển được một chặng đường, du khách sẽ gặp một một vũng nước nhỏ ở dưới chân núi. Nước từ trong vách núi nhỏ gịt ra đọng lại thành vũng. Vũng nằm trong những khói đá và trên đá, sâu chừng 0,2 mét nước trong tinh khiết, rất mát và có vị ngọt. Du khách có thể dùng nước này để giải khát, không bao giờ cạn, dù trong mùa khô và có bao nhiêu người múc nhiều đi nữa. Người địa phương gọi là giếng Cậu, con cháu của bà chúa Ngọc Thiên Y A Na.
    Đi tiếp một chặng đường nữa du khách tới sườn núi có đá mọc lởm chởm, chỗ lồi chỗ lõm, nơi đen nơi trắng, từ xa trông như mặt vằn vện của ông thầy bùa, thầy phù thuỷ. Cư dân gọi là đá mặt quỉ. Du khách sẽ cảm thấy ngồ ngộ, thích thú.
    Vượt qua vùng này có con đường đi luồn trong vùng cây gai, chừng 300 mét tới suối. Cảnh quan sầm uất, khá thâm u.
    Một tảng đá hoa cương cao hơn 2 mét, chu vi khoản 20 mét, nằm chắn ngang lối vào, có một cây gáo gốc lớn chừng bốn người ôm mới giáp, mọc ở bên cạnh. Cây gáo cổ thụ này thân cao, tàng rộng, rễ nổi lên từng vòng giống những con rắn khổng lồ bò uốn khúc.
    Du khách phải đi vòng qua tảng đá và cây gáo cổ thụ vào phía bên trong, nơi có hồ nước rộng chừng 80 m2. Phía Bắc là sườn núi, còn ba mặt kia, đá tảng lớn nhỏ đứng nằm ngổn ngang. Xen kẽ, cây cối dày như rừng già che chắn gió và ánh sáng mặt trời. Rêu mốc xanh ở khắp nơi.
    Hồ này do một dòng suối ở trên núi cao chảy nước xuống đọng lại. Dòng suối này phát xuất từ đỉnh núi Én, chảy lượn theo sườn núi, ẩn mình sau rừng cây, vách đá tới một nơi cách chân núi chừng 10 mét mới ló dạng, nước tuôn xuống hồ. Đứng ở bên dưới hồ, trông ra con suối như dãy lụa trắng.
    Lòng suối chỉ rộng chừng 1,5 mét. Nước đổ không mạnh do các tảng đá ngăn chặn, âm thanh róc rách lẫn vào tiếng gió thoảng rừng bàng lúc mùa thu đông.
    Ở hai bên bờ suối và xung quanh hồ có rau ngổ mọc dày đặc, mùi hương thơm ngát, một nguồn lợi tự nhiên cho cư dân địa phương nên con suối mới có tên là Ngổ. Du khách tắm mát ở hồ thật khoái thích. Có thể bơi lội vì nước hồ trong, sâu khoản 2 mét.
    Ở chân núi và cạnh hồ có một trảng rộng, ổi mọc hoang, tới mùa chín, mùi hương nồng nặc cả vùng, át cả múi hương rau ngổ. Nơi đây rất hoang dã.
    Suối ngổ còn nổi danh với một ngôi chùa lâu năm, tục gọi là chùa suối Ngổ, nhưng được sắc tứ là Chí Linh Sơn Tự. Chùa này toạ lạc ở triền núi, ở bên phía Đông dòng suối, mặt tiền hướng vào nam. Quy mô không lớn, kiểu dáng không lấy gì đặc sắc, nhưng có tiếng là linh thiêng. Vì vậy được gọi là chùa núi rất linh ứng (Chí Linh Sơn Tự). Có nhiều lời đồn đại khác nhau về sự linh thiêng của chùa. Do đó tên chùa suối Ngổ được nhiều người phương Nam biết đến và là một điểm hành hương kết hợp du lịch của đông đảo quần chúng phía Nam đất nước. Tên chùa cũng không thể lẫn lộn với các cổ tự khác.
    Dân gian kể lại rằng:
    “Trước kia trên núi có một con cọp đen tu, rất hiền, gặp người luôn luôn tránh mặt. Vì thế trước chùa có một miếu nhỏ thờ “Sơn Lâm Chúa Tướng”. Thỉnh thoảng cọp đen này về nằm ngơi nghĩ ở đây. Cư dân nói rằng con cọp này cai quản tất cả các thú rừng vùng núi suối Ngổ. Các giống cọp khác mình vằn vện, màu xám tro hay màu tàu cao không dám bén mảng tới gần, vì nó là vua loài cọp tại vùng này.”
    Chùa suối Ngổ còn nổi tiếng thêm với hai truyện truyền khẩu sau đây trong dân gian:
    - Cọp chúa bảo vệ chùa:
    “Xưa kia, chùa làm chay một năm hai lần. Một lần nọ, sau khi làm chay xong, mọi người đều an giấc, nửa đêm trộm vào chùa dọn lấy cắp hết đồ đạc. Khi mọi người thức dậy đi tìm đồ mất mát, thì từ ngoài ngõ, một nhóm người kiêng gánh đi vào. Họ kể lại rằng chính họ là những người đã lấy trộm, nhưng khi xuống núi, bị cọp đen chận lại. Cọp đứng dựng hai chân sau và hai chân trước đưa lên trời như cản ngăn, miệng gầm rừ ra oai nhưng vẫn giữ nguyên một chỗ, chân không nhúc nhích tỏ vẻ không muốn hãm hại người. Cọp đen ra dấu bằng chân trước chỉ về hướng chùa. Những người này biết ý bảo phải trả đồ vật trộm được lại cho chùa. Do đó, họ kiêng đồ quay trở lại và xin được lạy phật, lạy sư để sám hối.”
    Truyện đồn này càng làm cho chùa và suối Ngổ thêm nổi tiếng.
    - Kỳ nam trên núi Ngổ: đây là truyện khả tin vì trầm hương, kỳ nam là lâm sản của vùng Nha Khánh.
    “Trên núi Ngổ có nhiều cây gió là loại cây thường sinh ra trầm hương và kỳ nam. Cư dân địa phương biết rõ trên núi có kỳ nam nhưng không ai dám tìm kiếm vì tin rằng có quỷ thần núi và linh điểu canh giữ nghiêm ngặt.
    Linh điểu, không ai thấy rõ hình dáng bao giờ cho nên không hiểu nhiều hay ít, mà chỉ nghe tiếng kêu khá kì dị, đáng sợ. Ban ngày thì tiếng kêu ấy nghe như tiếng mõ còn ban đêm thì như tiếng chuông ngân vang. Tiếng kêu nổi lên từng chập, mỗi chập ba lần, ngưng nghĩ trong giấy lát rồi nổi lên, như vậy cứ liên tục lập đi lập lại suốt ngày đêm. Hai thứ tiếng kêu khác nhau ấy giống như chỉ do một con linh điểu, nhưng cư dân nói rằng thật ra có nhiều con thay phiên nhau, mỗi lần chỉ có một con kêu thôi.
    Cư dân từ xưa kể lại: sở dĩ hiểu được điều này là vì hễ lúc nào có kể gian đến gần cây kỳ nam thì tiếng kêu “chuông mõ” nổi lên liên hồi, giống như chuông mõ cấp báo khi có lửa cháy.
    Vào lúc ấy, rắn độc và thú dữ kéo nhau đến đánh đuổi kẻ gian. Nếu kẻ gian không chạy kịp sẽ bị cọp chụp, rắn mổ. Kẻ nào may mắn mà thoát được về nhà cũng không sống được yên lành.”

    Suối Mấu

    Suối Mấu chảy qua địa phận xã Khánh Thượng, huyện vùng cao Khánh Vĩnh (Khánh Hòa). Tìm thấy suối Mấu ở độ cao khoảng từ 700 mét đến 800 mét so với mực nước biển cũng là tìm thấy một thác nước bốn tầng có chiều cao gần 30 mét ở cách ngã ba đường mới mở từ Khánh Lê đi Đà Lạt 6 km và cách Nha Trang 59,5 km. So với các thác đã được biết đến và đã đưa vào khai thác du lịch ở Khánh Hòa như suối Tiên, Giăng Mây (Diên Khánh), Ba Hồ, Đá Bàn, Hoa Lan (Ninh Hòa), Tà Gụ (Khánh Sơn), Suối Đá Trải, BaLi (Cam Ranh), suối Thơm, Hosho, Yang Bay (Khánh Vĩnh) thì thác suối Mấu hiện chưa có “đối thủ” nào, nên nó có thể được coi là “đệ nhất thác” ở Khánh Hòa.
    Với nguồn nước đổ xuống rất trong và dồi dào ngay trong mùa khô, cùng thảm thực vật phong phú nhiều chủng loại, với rất nhiều giống phong lan bám trên thân cây đang mùa nở hoa, hình dáng như thiếu nữ nhảy múa với sắc đỏ sậm viền hồng hay vàng chanh viền nâu, lại có hoa mang hình dáng như chiếc kèn nhưng viền cánh hoa tua tủa đầu nhọn như cánh sao và có sắc hồng đốm trắng...
    Chạy dọc theo hai bên bờ đá của thác dày đặc cây lồ ô, mỗi khi gió thổi mạnh thân cây cọ xát vào nhau tạo nên những giai điệu rất du dương. Dưới suối là cá tràu, cá lóc và đặc biệt là loài ếch da xanh coi đáng sợ!
    Giữa các tầng thác là các hồ với độ sâu khác nhau được bao bọc bởi những vách đá thẳng đứng, trong đó có một hồ rộng chừng 150 m2 thả sức cho bạn bơi lội vẫy vùng cũng như ngắm nhìn loài cây ký sinh có lá hình tròn trang trí trên vách đá. Nhiều khoảng trống dọc hai bên thác với diện tích mặt bằng khá rộng, đủ cho nhóm đến 30 người sinh hoạt dã ngoại...

    Suối đổ

    Suối đổ cũng nằm trong tuyến dã ngoai ở Nha Trang cùng với hồ Tiên, động Tiên và suối Tiên. Suối này còn có tên là suối Nước Đổ, thuộc địa phận làng Phước Trạch gần làng Cư Thạnh, phía Tây dãy núi Hoàng Ngưu.
    Suối đổ từ trên cao, gọi là hòn Chùa, chảy xuống tạo thành ba hồ nước khá rộng. Hồ thứ nhất nằm trên lưng chừng núi, dưới một thác nước đổ mạnh. Nước hồ lại chia ra làm hai nhánh, chảy quanh co xuống triền núi chừng 30 mét, lại đổ vào hai hồ khác nằm gần nhau, sau đó nhập vào thành một dòng chảy xuống núi.
    Cát trắng tinh ở dưới đáy hồ. Quanh hai bên bờ suối và ở cả dưới đáy có đá xanh chồng chất lên nhau. Cây cỏ xanh tươi rậm rập chen lẫn với đá.
    Ở hồ thứ nhất, ngoài những đống đá dựng thành tường vách còn có một tảng hoa cương to lớn, bằng phẳng như tấm ván, do gọt đẽo tỉ mĩ của thiên nhiên.
    Người ta nói rằng, vào những lúc vân du bà Thiên Y A Na đã đến ngồi nghĩ chân hoặc hóng gió tại đó. Những lúc bà đến, có ba tiếng sấm nổ vang rền. Một luồng ánh sáng dài và xanh như một dãy lụa bay tới từ phía hòn núi Chúa hoặc phía hòn Bà, đáp xuống. Đó là hiện tượng di hành cùa bà.
    Ở sâu trong núi từ xưa có vườn cam, quít sai trái nặng oằn. Người nào bẻ ăn tại chỗ cũng được nhưng đừng khen chê, cũng không nên đem về nhà. Nếu không y theo lệ này thì sẽ mang tai hoa.
    Cách hồ thứ nhất 100 mét, xưa kia có một cây kỳ nam to thân đến bốn người ôm mới giáp vòng, ngã nằm ngang qua suối dài đến 10 mét, từ đằng xa, người ta cảm nhận được một mùi hương thoang thoảng nhưng kì lạ là khi đến gần, chẳng có gì hết. Trong cây có một cặp rắn đen to lớn giữ gìn không cho ai mon men lại khuân lấy đi, theo lời truyền của dân gian.
    Người ta kể lại rằng vào thời Pháp chiếm đóng, một viên chánh tổng tìm thấy cây kỳ nam này, đem lễ vật đến cúng kiến rồi dùng dây buộc vào gốc, kéo dài ra cho tận chân núi, kỳ lạ thay cây kỳ nam biến mất, mối dây cột lại nằm ở chỗ khác...
    Tuy thế, ngày nay vẫn theo lời thuật của những người đốn củi, mùi hương kỳ nam vẫn còn thoang thoảng.
    Ở hồ thứ hai, phía dưới, có đền thờ Bà luôn có khói hương.

    Suối Ba Hồ

    Suối Ba Hồ ở huyện Ninh Hòa, bắt nguồn từ đỉnh hòn Son, cao trên 660 mét, chảy giữa hai triền núi đá xuống thôn Phú Hữu ở phía Bắc, rồi vượt qua một cánh đồng rộng để xuống vũng Nha Phu. Suối này cách Nha Trang chừng 26 km.
    Gọi là Ba Hồ vì phía đầu nguồn trên đường vượt núi băng rừng xuống biển có ba lần suối mở rộng ra ngay lưng núi, tạo liên tiếp thành ba cái hồ với quang cảnh thiên nhiên thật kì thú. Mỗi hồ có một dáng vẻ khác biệt hẳn.
    Muốn đến suối Ba Hồ, du khách phải hành trang dã ngoại với tinh thần leo núi, vì từ hồ Nhất tới hồ Nhì phải men theo bờ suối dóc cheo leo với khoản chừng 1 km. Từ hồ Nhì tới hồ Ba gần hơn với khoản 400 mét, nhưng lau lách um tùm, đá dựng cheo leo.
    Có một du khách là thi sĩ Đinh Phong đã cảm tác một bài thơ khi đến thưởng lạm cảnh sắc Ba Hồ:

    “Hỡi mưu thần đất Việt,
    Hỡi người đẹp Cô Tô.
    Năm hồ mây nước là mô
    Mà đây chỉ thấy ba hồ đá xây?
    Đá lẫn cùng cây.
    Mây xây cùng đá.
    Suối tuôn lã chã,
    Bóng ngã hình nghiêng,
    Ai người luyện thạch bổ Thiêng?
    Nghìn năm núi chất còn nguyên đến giờ.”

    Sông Cái

    Một số công ty du lịch địa phương tổ chức những tour ngoạn cảnh đặc biệt như du ngoạn về đêm, để quan sát các hoạt động của thuyền câu mực của ngư dân Nha Khánh; đi câu cá, câu tôm, câu mực; du ngoạn trên dòng sông.
    Du ngoạn trên sông Nha Khánh cũng là một loại hình dã ngoại thú vị được thực hiện bằng thuyền máy, khởi hành từ 9h sáng đến 16h30 chiều hàng ngày, chương trình thăm viếng bao gồm các làng làm đồ gốm với mỹ thuật, kỹ thuật dân gian, làng đánh cá và bắt thuỷ sản, chùa, hang động, cồn dừa và tháp Bà.
    Con sông chảy qua thành phố Nha Trang là sông Cái, cũng gọi là sông Nha Trang. Có nhiều cá, nhiều nhất là cá đục. Cá đục ở đây khá đặc biệt, chẳng những thịt ngọt mà còn thơm nữa, người Nha Trang có câu:

    “Sông Nha Trang,
    Cát vàng nước lục.
    Thảnh thơi con cá đục,
    Lội dọc lội ngang.
    Đã nguyền cùng em giữ dạ đá vàng.
    Quý chi tách cà phê đen, ly sữa bò trắng.
    Anh nỡ phụ phàng nước non

    .”

    Sách xưa gọi sông Nha Trang, tức sông Cái là Cù Giang (sông Cù, Cù do tiếng Kaut của người Chiêm Thành xưa), bề ngoài, nhìn thoáng qua, tưởng không đặc sắc là mấy nhưng tiềm tàng nhiều thú vị về phong cảnh, về truyền thuyết.
    Nha Trang còn có một con sông không sâu lắm nên được gọi là sông Cạn, sách xưa gọi là Hạc Giang. Con sông này bắt nguồn từ sông Cái ở phía Nam, nhưng nước ở sông Cái chỉ khi nào dâng lên mới tràn vào sông Cạn.
    Tour du ngoạn trên sông được thực hiện theo dòng sông Cái yên bình. Khởi hành từ đầu Hà Ra, tức cầu Xóm Bóng hoặc sau tháp Bà (khu du lịch Hải Đảo), thuyền máy sẽ đưa du khách di chuyển qua bến đậu của những con tàu đánh cá ven bờ hay xa miền rồi ngược về thượng lưu của con sông.
    Du khách sẽ băng qua 9 km đường sông có cảnh quan êm đềm, hữu tình bao gồm làng ấp, cỏ cây đầy sắc màu, dáng vẻ ở hai bên bờ. Sau cùng du khách đến thành cổ Diên Khánh. Tại đây, du khách được hướng dẫn tham quan di tích lịch sử. Một bữa cơm trưa được tổ chức tại vườn dừa Ngọc Thảo với những món ăn hấp dẫn kéo dài chừng 1h đồng hồ trong không khí thoải mái, trong lành.
    Đây là tour có tính cách du lịch xanh, thư giãn tãi Nha Trang; đông đảo du khách nước ngoài rất ưa thích và nhiều bạn trẻ trong nước cũng khoái tham gia trong tinh thần dã ngoại khám phá.

    Hòn Yến

    Còn gọi là hòn Nội, hòn Ngoại. Cách Nha Trang chừng 300 km. Như tên gọi, hòn Yến là trú quán, nơi sinh sản của loài chim yến và cũng là nơi khai thác nguồn lợi yến sào của dân “sào chỉa”, người chuyên đi lấy tổ yến (thường gọi là ăn yến). Có một công ty chuyến trách, tổ chức khai thác nguồn tài nguyên này tại đảo Yến và nhiều nơi khác thuộc tỉnh Khánh Hòa, đó là công ty yến sào Khánh Hoà.
    Quang cảnh hòn Yến vừa hùng vĩ, vừa vui nhộn trữ tình. Có nhiều hang ngách treo leo trên cao và ở sát mặt nước biển luôn luôn nhấp nhô, sóng vỗ bờ đá rào rạt. Cảnh trí trong hang khác biệt hẳn với bên ngoài về màu sắc lẫn âm thanh. Không ngột ngạt. Gió luồn thổi không ngừng dứt. Có người ở Nha Trang tên là Bạch Vân đi chơi trong hang yến hòn Ngoại đã vịnh:

    “Hòn Yến lâu nay ngỏ ý mời,
    Giông thuyền lướt sóng đến xem chơi.
    Quanh co đường nước xuyên gành đá
    Thăm thẳm lòng hang khuất dạng khơi.
    Chi trỗi tiếng vàng hoà nhạc biển
    Tổ treo giá ngọc rựng sao trời.
    Cho hay Cù Hải giàu sang thật.
    Ngọc chứa vàng chôn khắp mọi nơi.”

    Hòn Thị

    Tiếng gọi tắt tên chữ Hán là Thị Sơn, ở phía Đông có bán đảo Phước Hà che chắn, phía Tây có nhiều đảo nhỏ túm tụm là hòn Nứa, hòn Rêu, hòn Trồng, hòn Sấm. Nằm trong vịnh Nha Phu gần đảo khỉ, tuy nhiên diện tích hòn Thị lớn hơn nhiều. Tại đây có khu du lịch nuôi thú hoang dã để phục vụ du khách.
    Theo thi sĩ Quách Tấn viết trong sách “Xứ Trầm Hương”, trước kia có tên là hòn Trẻ, cũng còn gọi là đảo Đàm Mông, cách bờ biển chừng 3 km. Đây là hòn đảo lớn, nứt nhiều nhánh, xa trông như những con cá sấu bò xuống nước. Quách Tấn giải thích: “Đàm Mông là đứa trẻ nhỏ của đầm cho nên dịch ra là hòn Trẻ.”
    Sở dĩ bản đồ cũ mới chừng vài mươi năm nay ghi hòn Tre (dịch Anh văn gọi là Bambo Island) là do theo bản đồ Pháp xưa kia mà chữ Pháp thì không có dấu.
    Trên đảo có nhiều núi, hai ngọn núi cao nhất là hòn Trẻ (482 mét) và hòn Lớn (414 mét), vì vậy đảo này có khi gọi là hòn Trẻ mà cũng có lúc gọi là hòn Lớn.
    Trên đảo có thôn Bích Đầm đông đúc người ở. Hòn đảo này lớn nhất trong các hòn đảo thuộc vùng, có bãi tắm đẹp, cát trắng mịn, nước trong xanh.

    Hòn Ông

    Hòn Ông là một đảo nhỏ nằm trong vịnh Văn Phong thuộc huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Hòn Ông - điểm du lịch của Khánh Hòa vẫn giữ được vẻ hoang sơ với những dải cát trắng mịn bên bờ biển xanh tinh khiết.
    Biển ở đây sạch và xanh đến lạ kỳ. Nếu đến đây vào khoảng giữa tháng 2 và tháng 5 (mùa ruốc) hoặc sứa sinh sản, du khách sẽ được chứng kiến cảnh đàn cá voi tung tăng đùa giỡn gần bờ để săn mồi chúng yêu thích. Dải cát trắng mịn thoai thoải theo triền các gờ đá nổi lô nhô tạo nên một phong cảnh nên thơ, êm ả. Hương biển tinh khiết quyện với hơi gió mặn mòi phả vào mặt đem lại cho ta cảm giác dễ chịu khó quên.
    Sau khi đắm mình trong thiên nhiên, tận hưởng thú du ngoạn thuyển buồm, bơi lặn, câu cá...bạn có thể lên núi thăm nhà sàn dân tộc với kiểu kiến trúc độc đáo ngay trên đảo, thưởng thức những món ăn hải sản tươi rói như: tôm hùm hấp, rắn biển chiên, xào, sò nướng mỡ hành thơm nức mũi...
    Thú vị nhất là được tắm biển sớm, ngắm bình minh lên giữa bầu không khí trong lành. Nghỉ ngơi một chút lại có mặt trên thuyền ra khơi tham quan thế giới san hô đủ màu sắc có những bầy cá hiền hòa bơi lội xung quanh.

    Hòn Ông nhỏ nhắn phủ đầy một màu xanh, trông xa chỉ thấy hàng dừa vươn cao lá, nghỉ ngơi tại đây để có giây phút bình yên sau những tất bật mệt nhọc của đời thường.

    Hòn Mun

    Hòn Mun nằm ở phía Nam vịnh Nha Trang thuộc thành pho Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Nơi đây được gọi là hòn Mun vì phía Đông Nam của đảo có những mỏm đá nhô cao, vách dựng hiểm trở tạo thành hang động, đặc biệt đá ở đây đen tuyền như gỗ mun, rất hiếm thấy ở những nơi khác.
    Hòn Mun là nơi có rạn san hô phong phú và đa dạng nhất Việt Nam. Nó có tầm vóc quốc tế vì nó có số loài tương tự như ở trung tâm thế giới ve đa dạng san hô ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương. Và người ta cũng đã tìm thấy 340 trong tổng số hơn 800 loài san hô cứng trên thế giới.
    Trong những hang động đá đen của hòn Mun hàng năm có chim yến về làm tổ. Do địa thế của đảo rất gần với dòng hải lưu nóng từ phía xích đạo đưa tới nên thích hợp với điều kiện phát triển của san hô và nhiều loại sinh vật biển nhiệt đới cũng về đay quần tụ, đáy biển vùng hòn Mun là một tập hợp quần thể sinh vật biển phong phú, đa dạng, là nơi quan sát, nghiên cứu rất lý thú, bổ ích cho các nhà nghiên cứu sinh vật biển, hải dương học và du khách muốn tìm hiểu về biển. Đến hòn Mun, du khách có thể lặn biển hoặc đi tàu đáy kính để ngắm nhìn các rạn san hô nhiều màu sắc với nhiều loài sinh vật biển tung tăng bơi lội.

    Hòn Miếu

    Chỉ cách đất liền có 20 phút di chuyển bằng ca-nô thường, đứng tại Cầu Đá du khách cũng thấy rõ. Trên đảo có nhiều phương tiện giải trí, nghĩ dưỡng, rất thích hợp hoạt động thanh niên dã ngoại. Tên chữ Hán trước đây còn gọi là Bồng Nguyên đảo. Trên đảo có thôn Trí Nguyên.

    Hòn Hèo

    Cũng còn gọi là hòn Đỏ và đảo Hoa Lan nằm cách bờ biển Nha Trang gần hai giờ đi ca-nô thường. Tại đây có rừng, có núi và bãi biển kết hợp thành một cảnh quan hấp dẫn. Trú ngụ trong những ngôi nhà có dạng nhà rông Tây Nguyên. Các dịch vụ du lịch thiên nhiên giúp du khách thích thú với các loại hình vui chơi như bơi thuyền buồm, săn bắt hải sản

    Hòn Dung

    Sách “Xứ Trầm Hương” cùa thi sĩ Quách Tấn viết, xưa kia gọi hòn này là hòn Dụm, còn gọi là hòn Bút Sơn, hình giống một chiếc nón Huế úp sấp. Pháp gọi là Pyramide, trên đảo cò yến sào.
    Hòn Dung theo sách du lịch ngày nay ghi rõ nằm bên cạnh hòn Yến như người bạn đời thuỷ chung. Cũng là một hòn đảo xinh đẹp cách thành phồ Nha Trang chỉ có một giờ di chuyển bằng ca nô chạy nhanh (cách bờ Nha Trang 17 km).
    Ca dao vùng Nha Khánh (Nha Trang - Khánh Hoà) có câu:

    Anh đứng hòn Chồng,
    Trông sang hòn Yến.
    Lên thăm tháp Bà,
    Về viếng Sinh Trung.
    Non xanh nước biếc chập chùng,
    Biết bao liệt nữ anh hùng em ơi!
    Em hãy nhận lời,
    Cùng anh kết ngãi.
    Đầu nguồn cuối bãi,
    Ta hãy nương nhau.
    Biển Cù nước mãi còn sâu,
    Công linh chẳng trước thời sau cũng thành.”

    Cảnh tượng trong bài này là cảnh quan trong phạm vi vịnh Cù Huân (có cửa biển Nha Trang), và hòn Yến nói ở đây là hòn Dụm, hòn Bút Sơn tức hòn Dung ngày nay.

    Hòn Chữ

    Đây là một tảng đá lớn có những tảng nhỏ sát cạnh nằm ở cửa sông Cù, chu vi chừng 100 m2, cao từ mặt nước lên khoảng vài mét, thường làm chú ý du khách khi đi dọc theo cầu xóm Bóng hay từ trên khuôn viên tháp Bà nhìn xuống Đông Nam.
    Còn gọi là hòn đá Chữ, vì trên đá có in khắc chữ, một lối chữ hình giống như những con nòng nọc nối đuôi nhau, cũng giống như lối trùng văn khắc ở các bia, cửa tháp Pô Nagar có lẽ đây là chữ cổ của người Chiêm Thành xưa, ngày nay chẳng ai đọc hiểu được, kể cả người Chămpa và những chuyên viên khảo cổ ngữ học thế giới đã từng đến Nha Trang.
    Người ta đoán định có lẽ vua quan Chiêm Thành xưa đã khắc với một mục đích nào đó, không phải là lối chơi ngông lúc cao hứng của người chẳng biết phải làm gì lúc dư thừa thời gian.
    Dấu chữ đã bị sóng mài mòn, chỉ còn lờ mờ đường nét. Các nhà khảo cổ ngờ rằng tảng đá này từ trên đồi tháp Pô Nagar lăn xuống.
    Cư dân địa phương cho rằng tảng đá đã đánh đắm những chiếc thuyền của giặc dữ đến từ biển khơi. Người xưa đã chạm khắc chữ làm bia để đời.
    Trên tảng đá lớn có một ngôi miếu nhỏ, cạnh một cây gòn khẳng khiu. Giống như một hòn non bộ giữa một bể cạn ở vườn cây kiểng.
    Vùng Nha Khánh có những câu hát nhân gian thấm tình nhắc tới hòn Chữ như:

    “Ai về xóm Bóng, Hà Ra
    Đi ngang hòn Chữ cho ta nhắn lời.
    Nhắn ai nuôi chí vá trời.
    Lòng trung tạc đá, muôn đời còn bia.”


    Và:

    “Ai đứng Nha Trang
    Trông sang xóm Bống
    Trăng sáng lờ mờ, lượn sóng lăn tăn.
    Gần nhau chưa kịp nói năng,
    Bây giờ sông cách biển ngăn ngại ngùng!
    Biển sâu con cá vẫy vùng,
    Sông sâu không dễ mượn lòng đưa thư.
    Anh nguyền cùng em:
    Bao giờ hòn Chữ bể tư
    Biển Nha Trang cạn nước,
    Anh mới từ duyên em.”

    Hòn Chồng

    Là một thắng cảnh nổi tiếng của thành phố Nha Trang, thuộc khóm hòn Chồng, phường Vĩnh Phước. Hòn Chồng gồm hai cụm đá lớn nằm bên bờ biển dưới chân đồi Lasan.
    Dưới chân đồi là bãi đá ngổn ngang có thể là do sự xâm thực của thủy triều lên ngọn đồi này. Cụm đá lớn ở ngoài biển gọi là hòn Chồng, gồm một khối đá lớn vuông vức nằm trên một tảng đá bằng phẳng và rộng hơn, phía mặt đá quay ra biển có một vết lõm hình bàn tay rất lớn. Tục truyền rằng, thuở xưa ông khổng lồ ngồi câu cá nơi đây, có một con cá cũng khổng lồ cắn câu lôi đi, ông phải kéo lại, tay cầm cần câu, tay tì vào tảng đá lấy đà khiến bàn tay ấn vào đá và để lại dấu như đã thấy. Đi giữa bãi đá còn nhiều tảng đá chồng chất kỳ lạ như cảnh hai hòn đá dựng đứng, giữa có chẹt một hòn đá lớn như cái cổng qua một cụm đá khác. Cụm đá thứ hai có hình dáng một người phụ nữ ngồi trông ra biển - được đặt một cái tên có ý nghĩa gần gũi với hòn Chồng - đó là hòn Vợ, cụm đá này ít được du khách để ý hơn.
    Đứng trên hòn Chồng nhìn ra là bầu trời xanh, biển biếc bao la, xa xa là Hòn Yến. Quay về bên phải xa tít là cảng Cầu Đá, hòn Tre và bờ biển Nha Trang dài tới 6 km với hàng dừa, hàng phi lao xanh ngát trên bãi cát trắng phau. Khuất bên mũi đồi Lasan, nhô ra biển là cửa sông Nha Trang, bến cá Cù Lao sầm uất.

    Hòn Bà

    Hòn Bà thuộc huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa, cách thành phố Nha Trang 37 km về phía Tây Nam. Hòn Bà là một khu rừng nguyên sinh để tận hưởng khí hậu của vùng ôn đới. Từ quốc lộ 1A (hướng thành phố Hồ Chí Minh) rẽ vào chân núi dài 17 km và cuộc hành trình chinh phục hòn Bà thật sự bắt đầu khi du khách leo lên ngọn núi với chiều dài gần 10 km.
    Một cuộc hành trình hòa mình với thiên nhiên, chinh phục được độ cao 1.574 mét. Sự hấp dẫn của việc chinh phục hòn Bà chính là sự thay đổi cảm giác khi bước chân cứ vượt qua độ cao của núi cho đến khi chạm đến bình nguyên - nơi mà ngày xưa bác sĩ Yersin đã dựng nhà để ở và trồng cây canh ki na. Theo tài liệu còn lưu giữ thì vào năm 1915, bác sĩ Yersin khi đó đang làm việc ở Nha Trang, sau nhiều lần khảo sát nhận thấy khí hậu ở hòn Bà tương đương với Đà Lạt nên có thể thích hợp để trồng cây canh ki na được dùng làm nguyên liệu chế ra thuốc ký ninh trị bệnh sốt rét. Còn những người làm du lịch ở Nha Trang lại chọn hòn Bà để biến nơi này thành một “Đà Lạt” bên thành phố biển bằng cách cho mở đường lên tận đỉnh núi. Hiện nay hòn Bà đã trở thành một khu du lịch với nhà nghỉ, rừng hoa cũng như hệ thống cáp treo phục vụ du khách.
    Việc chinh phục hòn Bà mang lại một cảm giác mạnh khiến cho không phải ai cũng có thể đi được. Trong cuộc hành trình này, cảnh quan thay đổi liên tục, rừng đại ngàn, rừng lồ ô rồi tới rừng lá, cả những loại cây rất sắc. Vượt qua hai con dốc sẽ gặp con đường bằng bám theo vách núi là nơi mặc sức cho dương xỉ và phong lan chen mọc. Từ đây có thể nhìn thấy thành phố Nha Trang bên dưới. Đi vào mùa xuân thì cảnh quan càng lộng lẫy hơn. Chính cảnh quan và sự thay đổi khí hậu đã khiến cho bao nhiêu mệt mỏi trong lòng du khách dường như tan biến hết và cảm giác đọng lại trong họ là được nằm ngủ trong sương, giữa trùng cỏ xanh, trong không gian như nhìn thấy bên kia là Đà Lạt.

    Vịnh Vân Phong

    Vịnh Vân Phong thuộc huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, cách thành phố Nha Trang khoảng 80 km về phía Bắc. Đây thực sự là một kỳ quan thiên nhiên với khí hậu ôn hoà, bãi biển đẹp, cát mịn, núi đồi hùng vĩ bao quanh.
    Có một ngọn đồi cát dài 18 km nằm giữa đất liền và hai hòn đảo, tạo ra vịnh Vân Phong với phong cảnh tuyệt đẹp. Cùng với những cánh rừng nhiệt đới hầu như còn nguyên vẹn, những rạn san hô đa sắc, đẹp sững sờ, có dấu tích sinh tồn của một khu rừng ngập mặn, hàng trăm sinh cảnh, muông thú đặc chủng và hàng chục ngàn loài thuỷ, hải sản quý là những ưu thế giúp Vân Phong có thế mạnh phát triển du lịch sinh thái rõ nét.
    Tổng cục Du lịch Việt Nam đã xếp Vân Phong vào “Vùng du lịch trọng điểm phát triển” trong kế hoạch dài hạn của ngành đến năm 2010. Vịnh Vân Phong cũng được Hiệp hội Biển thế giới công nhận là một trong bốn vịnh có vị trí du lịch biển lý tưởng nhất hiện nay. Nơi đây có thể tổ chức nhiều loại hình du lịch thể thao dưới nước và trên núi (lặn, lướt ván, thuyền buồm hoặc đi săn, leo núi, tắm nước khoáng...).

    Vịnh Cù Huân

    Khám phá thế giới dưới đáy biển và săn bắt hải sản là mô hình du lịch đặc sắc hấp dẫn tại Nha Trang. Mô hình này mới phát triển trong những năm gần đây, riêng dành cho các bạn trẻ thích thú khám phá, có óc mạo hiểm lẫn tâm hồn lãng mạn lấy môi trường biển làm cơ sở phát triển mọi hoạt động thể lực của mình. Mô hình này thu hút cả nam lẫn nữ, chẳng những du khách nước ngoài, các bạn thanh niên sinh viên Việt Nam cũng tham gia rất hào hứng.
    Từ đất liền, sau một hai giờ di chuyển bằng tàu có trang bị đầy đủ tiện nghi, các bạn đến những vùng có thể bơi lặn thoã thích và khám phá được những bí ẩn và màu sắc tiềm tàng dưới đáy biển. Nếu là du khách chỉ có khả năng bơi giới hạn, thậm chí kể cả thiếu nhi bạn sẽ được hướng dẫn viên du lịch địa phương chỉ dẫn kỹ thuật và bảo vệ trong phạm vi ấn định tại Hòn Mun và Hòn Tằm.

    Trong trường hợp du khách có khả năng lặn sâu từ 4 mét đến 10 mét, kỹ thuật viên bơi lặn sẽ kèm sát theo một bên và hướng dẫn thám hiểm quan sát một thế giới vô cùng huyền ảo, một chốn thuỷ cung thực thể, rực rỡ diệu kì hơn cả mô tả trong sách vở hay mộng tưởng.
    Du khách sẽ lạ lùng không chỉ với loài san hô lung linh sống động mà còn với cả các loài cá chưa từng thấy với muôn màu, muôn vẻ, lớn nhỏ nhởn nhơ từng đoàn không sao đếm hết được.

    Vịnh Cam Ranh

    Vịnh Cam Ranh thuộc thị xã Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Vịnh Cam Ranh được xem là một trong ba vịnh thiên nhiên tốt và đẹp nhất thế giới, với diện tích vùng vịnh kín tới 60km² và độ sâu trung bình từ 18 mét đến 20 mét nước.
    Vịnh Cam Ranh với vẻ đẹp nguyên sơ mang trải dài như một dải lụa xanh thẳm, chỗ hẹp nhất khoảng 10 km, rộng nhất 20 km. Vịnh gần như khép kín bởi bán đảo Cam Ranh từ phía bắc chạy phủ kín cả phía đông, phía tây. Phía nam vịnh là đất liền, chỉ mở ra một cửa lớn - được ví như một cánh tay ôm lấy vịnh, tạo thành một vành đai nên mặt nước luôn êm đềm. Du thuyền trên vịnh như “đi trên thảm” bởi không có sóng lớn... Quanh năm nắng ấm chan hòa, bầu trời trong xanh tạo cho mặt vịnh một màu xanh rất dễ chịu.
    Thiên nhiên ở vịnh Cam Ranh đẹp gần như còn nguyên sơ: những bãi cát trắng vàng, trải dài mịn màng như chưa bao giờ có dấu chân người (cát ở Cam Ranh có hàm lượng silic và titan rất lớn, từng xuất khẩu sang Nhật Bản để chế tạo thủy tinh), dưới lòng vịnh có những rặng san hô và những đàn cá nhiều màu sắc rất đẹp mắt. Nhưng đẹp nhất vẫn là những quần thể ghềnh đá granit do sự xâm thực của gió, của nước biển đã tạo nên những hình thù chồng chất. Vịnh còn có nhiều bãi tắm hoang sơ tuyệt đẹp, bên cạnh những rặng dừa xanh cao vút, tạo nên nét đặc trưng cua miền duyên hải Trung Bộ.
    Bán đảo Cam Ranh còn có một ưu thế lớn là trữ lượng nước ngọt đáng kể trong lòng đất (mặc dù ba phía là biển) khiến cho đất đai nơi đây trù phú, phủ kín bởi màu xanh tươi của cây trái. Nơi đây khi mùa xuân về, mai rừng nở rộ cả một khoảng trời. Bán đảo còn là nơi cư trú của nhiều loại thú rừng và không thể không kể đến những loại hải sản nổi tiếng xưa nay như: tôm hùm Bình Ba, sò huyết Thủy Triều...
    Vịnh Cam Ranh là nơi lý tưởng để tổ chức các loại hình du lịch biển quốc tế như: bơi thuyền, câu cá, lặn biển xem san hô, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, leo núi... Xung quanh có núi bao bọc làm cho vùng biển luôn kín gió. Cam Ranh chỉ cách đường hàng hải quốc tế 1 giờ tàu biển (so với Hải Phòng cách 18 giờ).
    Cảng thương mại trong vịnh Cam Ranh có tên là cảng Đá Bạc tại thị trấn Ba Ngòi, vì vậy còn có tên là cảng Ba Ngòi.

    Đầm Nha Phu, Hòn Lao, Hòn Thị

    Khu du lịch sinh thái đầm Nha Phu, Hòn Thị, Hòn Lao thuộc địa phận huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, cách thành phố biển Nha Trang 15 km về phía Bắc. Vịnh Nha Phu quanh năm sóng lượn êm đềm, giữa biển trời trong xanh, cụm đảo thơ mộng như những cánh buồm no gió lao ra biển khơi xa.
    Ở đây có Hòn Lao, Hòn Thị - đã trở thành khu du lịch sinh thái hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước khi đến xứ Trầm Hương. Hòn Lao còn có tên “Đảo khỉ” bởi ở đây có hàng trăm con khỉ sống theo tập tục bầy đàn trong khu rừng còn hoang sơ, có khỉ Chúa, Hoàng Hậu...và chúng rất thân thiện với con người.

    Bán đảo Đầm Môn

    Đầm Môn nằm trong vịnh Vân Phong, thuộc xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, cách thành phố Nha Trang khoảng 80 km theo quốc lộ 1A về phía bắc (cách 45km theo đường biển). Bán đảo Đầm Môn hấp dẫn bởi những cồn cát chạy dài, khoảng 20 đảo lớn nhỏ có rừng nguyên sinh, những điều lạ, độc đáo ở làng chài Đầm Môn...

    Bán đảo Đầm Môn có diện tích tự nhiên 128 km², là một trong những điểm du lịch mà Tổ chức Du lịch thế giới đã tiến hành khảo sát và đánh giá rất cao. Ở đây có đầy đủ mọi điều kiện tự nhiên tối ưu cho sự phát triển du lịch sinh thái: khí hậu, bờ biển, rừng núi, cảnh quan, môi trường sinh thái, cảng biển, nguồn cung cấp hải sản...tất cả hầu như còn nguyên vẹn.
    Tháng 6 tháng 2002, một con đường được làm dài 18,5km bắt đầu từ dưới chân đèo Cổ Mã chạy suốt đến Đầm Môn, mở đầu cho việc phát triển khu du lịch vịnh Văn Phong. Đi trên con đường mới mở này, xuyên suốt vùng bán đảo, du khách có thể nhìn thấy những ngôi nhà như bị chìm trong cát, những cồn cát mênh mông, trắng xóa chạy dài, chung quanh không một bóng nhà, một bóng người, khiến có cảm giác như con đường đang băng qua một sa mạc rộng lớn. Hết khu vực cồn cát sẽ hiện ra con đường chạy dọc ven biển kéo dài từ Đầm Môn đến tận Đại Lãnh. Và điểm cuối cùng của hành trình sẽ là một làng chài nhỏ nằm trong vịnh, kín đáo, quanh năm xanh rợp bóng dừa: Đầm Môn. Đầm Môn có ba thôn: Đầm Môn Hạ, Đầm Môn Thượng và Xuân Đừng.
    Ở làng chài nhỏ này du khách sẽ thấy người ta không mang dép và có thể ngồi hay nằm dài trên cát bất kể nơi nào. Đầm Môn Thượng có đồi cát cao, nơi du khách có thể leo lên ngắm biển xanh thẳm ngoài xa. Ở thôn Xuân Đừng, chỉ cần đào một gang tay sẽ tìm thấy nước ngọt ngay cạnh bờ biển. Tại đây có một làng người dân tộc thiểu số có tên là Đàng Hạ, nay dù không còn tên trên bản đồ phân bố dân cư Việt Nam, nhưng vẫn còn ton tại trong vịnh Văn Phong.

    Bãi Trũ

    Bãi Trũ nằm trên đảo Hòn Tre thuộc phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Đây là một trong những bãi tắm tự nhiên vào loại lý tưởng và đẹp nhất của tỉnh Khánh Hòa, đặc biệt là độ tinh khiết của nước biển, của bờ cát cùng môi trường xung quanh.
    Bãi tắm trên đảo nhưng sóng thường không lớn vì hướng về đất liền, phía sau là núi Hòn Tre như bức tường thành sừng sững ngăn sóng gió đại dương.
    Cách bãi tắm chính dành cho du khách không xa có một xóm chài nhỏ nằm khiêm nhường dưới chân núi, khách có thể thăm và tìm hiểu về phong tục làng chài, thưởng thức những trái dừa, hoa quả tươi ngay trên đảo.

    Bãi Dài

    Từ khi con đường dài 21 km nối liền khu vực Nam Sông Lô, Nha Trang đến sân bay Cam Ranh được đưa vào sử dụng ngày 30 tháng 4 năm 2004, Bãi Dài trở thành một điểm du lịch hấp dẫn, đón khách trong cuộc hành trình Nam Bắc khi xe đưa họ đi trên con đường mới này. Theo quy hoạch, trong tương lai khu vực Bãi Dài sẽ trở thành khu du lịch trọng điểm phía Nam Khánh Hòa với tổng diện tích đưa vào sử dụng 200 hecta. Tại đây sẽ hình thành các khu du lịch 3 sao, 4 sao với những Resort đẹp vào hàng bậc nhất của cả nước. Bãi biển Bãi Dài uốn quanh dài trên 10 km, nhìn xa tít là những hòn đảo chắn biển. Hiện nay, vẻ đẹp hoang sơ của Bãi Dài đã làm nao lòng nhiều du khách khi tình cờ đặt chân đến hay qua lời giới thiệu của bạn bè mà tìm đến.
    Tính từ đầu cầu Bình Tân đến đường vào Bãi Dài, theo Đại lộ Nguyễn Tất Thành thì con đường chỉ có 10 km, cách sân bay Cam Ranh 12 km. Con đường vòng khi vừa đi hết đèo băng qua dãy núi Đồng Bò là một vòng tròn ôm cua. Tiếp tục đi theo con đường đất hơn 200 mét sẽ gặp bãi biển Bãi Dài, thuộc xã Cam Hải Đông, thị xã Cam Ranh. Hiện tại, đây có khoảng 30 nhà che tạm của người dân dùng để buôn bán phục vụ du khách. Đa phần những người buôn bán tại đây là dân Cam Hải Đông, Cam Hải Tây, thường thì họ ở lại cả ngày để buôn bán, kể cả những ngày mưa gió - vì dẫu mưa, Bãi Dài vẫn có du khách tìm tới. Những căn lều che tạm cũng có ghế xếp và cung cấp đủ mọi dịch vụ ăn uống cho du khách như mực tươi, ghẹ tươi, các loại cá biển với giá rẻ hơn so với các nhà hàng trong thành phố Nha Trang.
    Khu vực bãi biển Bãi Dài hiện đang được nhiều người tìm tới chỉ dài chừng 1 km, tính từ chân núi đến eo biển kế tiếp. Bãi cát ở đây mịn và rất sạch. Những ngày biển êm, triều rút xa, biển lộ ra cả một vùng cát rộng mênh mông (vì thế nơi này có tên gọi là Bãi Dài). Bãi tắm ở đây cạn, an toàn cho du khách, kể cả những người không biết bơi. Thú tắm biển ở Bãi Dài khác với thú tắm biển ở Nha Trang, vì du khách có cảm giác như biển ở đây gần như chưa có ai đến, và trong mênh mông sóng, du khách sẽ cảm nhận được tiếng vỗ của sóng, không hề bị chi phối bởi sự ồn ào của động cơ xe cộ. Điều lý thú là sát ngay bãi cát biển, mỗi hộ buôn bán đều đào một giếng nước ngọt với độ sâu chừng 2 mét. Nước ngọt ở đây được sử dụng không tính tiền.

    Bãi biển Xuân Đừng

    Bãi biển Xuân Đừng thuộc huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Đây là một trong những bãi biển còn hoang sơ với nước biển trong nhìn gần suốt đáy, và không hề có sóng, rất an toàn cho trẻ em và những ai không biết bơi, mặt nước êm như mặt hồ.
    Từ đảo Đầm Môn, du khách đi thuyền sang bãi biển Xuân Đừng. Bãi biển đẹp như tranh và thật sạch, có lẽ vì ít có người lui tới. Lạ một điều là có nước ngọt ở sát mực nước mặn, từ biển, bước vào ít bước, đào cát lên (cách ranh giơi nước mặn chừng nửa thước), là đã thấy dòng nước ngọt rồi. Từ bãi Xuân Đừng, du khách còn được đưa thuyền đi thăm bãi Lách, nơi đây có rất nhiều rạn san hô, gành đá tuyệt đẹp.

    Bãi biển Đại Lãnh

    Bãi biển Đại Lãnh thuộc địa phận huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, nằm bên quốc lộ 1A, cách Nha Trang khoảng 80 km về phía Bắc. Đại Lãnh là một trong những bãi biển đẹp nhất miền Trung với dải cát dài trắng mịn và những hàng phi lao chạy dài.
    Từ xưa, Đại Lãnh đã được liệt vào những danh lam thắng cảnh của đất Việt. Vua nhàNguyễn đã từng cho khắc danh thắng Đại Lãnh vào một trong cửu đỉnh bày trước sân Thế Miếu ở Huế.
    Biển Đại Lãnh xinh đẹp, hiền hoà với làn nước trong xanh, trải dài cát trắng... chứa đựng đầy tiềm năng văn hóa, du lịch luôn thu hút du khách bốn phương.

    Tiềm năng kinh tế - du lịch tại nha trang

    Khánh Hoà có ba khu vực phát triển kinh tế trọng điểm:
    Phía nam là vịnh Cam Ranh có vị trí hết sức quan trọng về quốc phòng an ninh và phát triển kinh tế. Sân bay Cam Ranh nằm ở trung tâm bán đảo Cam Ranh, là một trong số ít sân bay có đường băng lớn và dài ở Việt Nam hiện nay, sắp tới sẽ được đầu tư xây dựng nâng cấp để trở thành sân bay quốc tế. Đồng thời có cảng Ba Ngòi sau khi được nâng cấp mở rộng sẽ là một trong những cảng quan trọng trong hệ thống cảng biển của vùng Nam Trung Bộ, tạo điều kiện thụân lợi để phát triển giao thương giữa Khánh Hoà với các vùng trong nước và quốc tế.
    Phía bắc là vịnh Vân phong nằm ở toạ độ địa lý cực đông của Việt Nam, cách hải phận quốc tế 14 km, gần ngã ba các tuyến hàng hải quốc tế. Vân phong là vịnh lớn với 41.000 ha măt nước, có độ nước sâu từ 20-30 m, tương đối kín gió. Với điều kiện và tiềm năng đó, Chính phủ đã quy hoạch xây dựng tại khu vực này Cảng trung chuyển Container Quốc tế và khu kinh tế tổng hợp đa ngành gồm: thương mại, công nghiệp, du lịch…Cảng trung chuyển Container Quốc tế Vân Phong, liên kết thuận lợi với đường bộ, đường sắt, hàng không, kín gió, an toàn, có đủ khả năng để có thể cạnh tranh với các cảng trung chuyển Container đang hoạt động ở khu vực như: Singapo, Hồng Công, Kaohsiung…Tiềm năng phát triển cảng trung chuyển Container Quốc tế Vân Phong có thể đạt tới 17,5-17,8 triệu TEU/năm. Bên cạnh đó, Vân phong có khí hậu tương đối ôn hoà, cảnh quan môi trường đẹp là nơi có tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái, là nơi có điều kiện lý tưởng để phát triển kinh tế thủy sản…
    Ở giữa là vịnh Nha Trang, được công nhận là một trong các vịnh đẹp nhất thế giới. Nha Trang với điều kiện thiên nhiên ưu đãi cả về vị trí, cảnh quan, khí hậu, cùng với nền tảng về lịch sử, nhân văn của mình, Nha Trang –Khánh Hoà có khả năng phát triển nhiều loại hình du lịch đa dạng.

    Khánh Hoà cách Hà Nội 1.280km, cách TP. Hồ Chí Minh 448 km, được thiên nhiên ưu đãi có khí hậu ôn hoà lại nằm trên trục giao thông Bắc Nam, thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và đường hàng không, là cửa ngõ lên Tây Nguyên và là tỉnh có nhiều vịnh, cảng gần tuyến hàng hải quốc tế nhất ở Việt Nam. Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo nghiên cứu xây dựng đường hầm qua Đèo cả, tuyến đường sắt nối từ Tây nguyên qua Phú Yên xuống Vân phong, nâng cấp sân bay Đông Tác Phú Yên và sân bay Cam Ranh để khai thác lợi thế của vịnh Vân Phong và phục vụ cảng trung chuyển Container quốc tế Vân phong.
    Định hướng phát triển giao thông vận tải Khánh Hoà là tận dụng lợi thế của 3 vịnh Vân Phong, Nha Trang và Cam Ranh nằm trên trục đường hàng hải Quốc tế Nam- Bắc á, với xu thế vận tải biển bằng phương thức Container để đầu tư xây dựng cảng biển, khai thác hoạt động dịch vụ hàng hải, phát triển công nghiệp tàu thuỷ... Ðồng thời đầu tư phát triển hệ thống đường giao thông nông thôn để giải quyết tốt nhiệm vụ luân chuyển hàng hoá của vùng ven biển. Đến nay đã có 44/45 xã, phường đã có đường đến trung tâm xã, đã căn bản khắc phục được tình trạng ngập úng trong mùa mưa bão, phục vụ tốt cho dân sinh và an ninh quốc phòng.
    Những năm qua, Khánh Hoà đã huy động nhiều nguồn vốn đầu tư trong nước và ngoài nước với chính sách ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Tổng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh từ năm 1995 đến năm 2004 là 18.832 tỷ đồng; riêng năm 2004 huy động được 3.300 tỷ đồng. Trong đó nguồn vốn trong nước chiếm tỷ lệ cao và tăng nhanh, bình quân hàng năm tăng 18%. Kết quả đầu tư trong những năm qua đã cải thiện đáng kể cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội, làm thay đổi căn bản bộ mặt kinh tế-xã hội đô thị, nông thôn và miền núi của tỉnh, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh và cải thiện đời sống của nhân dân. Hàng trăm công trình xây dựng cơ sở hạ tầng trên các lĩnh vực giao thông, công nghiệp, điện, nước, nông nghiệp, thủy lợi, dịch vụ, du lịch, văn hoá, thông tin, giáo dục , y tế, thể thao, chỉnh trang đô thị…được đầu tư xây dựng hoàn thành và đưa vào sử dụng. Mạng lưới cấp điện, cấp nước, giao thông, liên lạc, ngân hàng, tài chính, y tế, dịch vụ công cộng phát triển mạnh đáp ứng cơ bản nhu cầu đầu tư. Nhiều dự án cơ sở hạ tầng trọng điểm, có tầm cỡ và quy mô đầu tư lớn đã hoàn thành đưa vào sử dụng, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển. Hiện nay tỉnh đang xúc tiến triển khai xây dựng tuyến đường từ tỉnh Khánh Hoà lên tỉnh Lâm Đồng với chiều dài 70 km; đây sẽ là con đường huyết mạch quan trọng để phát triển kinh tế giữa Khánh Hoà với các tỉnh Miền trung và Tây nguyên .
    Với vị trí địa lý, điều kiện thiên nhiên ưu đãi, hệ thống giao thông vận tải thuận lợi, dịch vụ phát triển, tài nguyên phong phú, nguồn nhân lực dồi dào; Khánh Hoà đã
    và đang có các chính sách ưu đãi để thu hút vốn đầu tư vào sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp công nghệ cao, hướng sản xuất hàng xuất khẩu thay thế hàng nhập khẩu, công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ, hải sản; tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông, dịch vụ cao cấp...Khánh Hoà sẽ là nơi đầu tư an toàn và phát triển.

    Những điều cần biết khi đi tham quan Nha Trang

    1. Hành lý cá nhânĐi máy bay:
    - Mang theo CMND gốc hoặc hộ chiếu, trẻ em có bản chính hoặc bản sao giấy khai sinh có chứng thực.
    - Trong hành lý xách tay qua cửa khẩu không để rượu (chai) các loại dao kéo hoặc đồ dùng sắc nhọn như dao ăn, cắt móng tay... (những vật dụng bằng kim loại cứng).
    Đi tàu hoả:
    - Khi đi mang giấy tờ cá nhân, chứng minh nhân dân gốc
    - Mặc dù hệ thống an ninh trên tàu đã được cải thiện nhiều nhưng quý khách lưu ý cất giữ đồ đạc cá nhân cẩn thận.
    2. HÀNH LÝ - THỜI TIẾT
    - Hành lý gọn nhẹ, không cồng kềnh
    - Mang theo một số thuốc men đặc trị của riêng mình.
    - Mang theo đồ dùng cá nhân: máy cạo râu, máy sấy tóc, đặc biệt là bàn chải và kem đánh răng
    - Mang thêm giày dép nhẹ khi đi thăm quan
    - Các thành viên nên mang theo quần áo, phù hợp với khí hậu và thời gian và các điểm tham quan
    - Nhiệt độ trung bình
    Tại Nha Trang từ 22oC đến 30oC.
    Tại Đà Lạt từ 12oC đến 23oC.
    Tại Sài Gòn từ 24oC đến 34oC.
    - Mang theo đồ bơi khi đi tắm biển: dép thoáng, kính bơi, đồ bơi
    3. MUA SẮM - ĐI CHƠI - VÀ THƯỞNG THỨC ĐẶC SẢN
    - Khi đi mua sắm tại các chợ nên cẩn thận tiền và ví tiền, túi sách, điện thoại
    - Mang theo quần áo mùa hè mát mẻ
    - Mang theo dép thoáng, kính bơi, đồ bơi khi ra đảo tắm biển Hòn Tằm, Dốc Lết và đi tắm bùn
    - Đi chợ Đầm Nha Trang mua đặc sản biển (đồ khô như mắm, cá mực...)
    - Buổi tối có thể ăn hải sản các quan dọc đường Trần Phú, đi bộ bạo biển hoặc thuê xích lô đi chơi phố
    - Mua đồ lưu niệm được làm từ các động thực vật biển: San hô, ốc, trai...
    - Đặc sản Nem Ninh Hòa

    Tắm bùn Nha Trang - những điều cần biết


    Được mệnh danh là "Địa trung hải của Việt Nam", "Thành phố Rio de Janeiro của miền Trung Việt Nam", thành phố biển Nha Trang (Khánh Hòa) giống như một "chiếc boong tàu đầy nắng" với các điểm và cụm du lịch hấp dẫn: Tháp Bà, Hòn Tằm, Hòn Lao, Hòn Mun, Hòn Hèo, suối Hoa Lan, Vịnh Nha Trang (mới được công nhận là một trong những vịnh đẹp nhất thế giới)... Đặc biệt, ngoài các ngọn núi, bãi biển, cầu cảng..., du khách còn được thưởng thức một "đặc sản" mới lạ: tắm bùn. Tắm bùn được chia thành 8 giai đoạn, chủ yếu gồm những công đoạn chính sau đây:

    Suối khoáng nóng Tháp Bà

    ·                     Sau khi thay đồ tắm, du khách được hướng dẫn làm sạch cơ thể bằng nước khoáng nóng trong một cái sân với nhiều vòi nước phun lên từ mặt đất.

    ·                     Sau đó là công đoạn chính: tắm bùn, thoa bùn lên mặt, lên tóc và dội khắp thân thể.

    ·                     Sau 15 phút ngâm bùn, bạn được hướng dẫn công đoạn thứ ba là phơi nắng, để da có thời gian hấp thụ những khoáng chất trong bùn.

    ·                     Phơi nắng xong, nhân viên hướng dẫn lại yêu cầu mọi người tắm cho sạch bùn, sau đó ngâm người trong hồ chứa nước khoáng nóng, hồ bơi, thác nước, cuối cùng là khâu "ôn tuyền thuỷ liệu pháp". Điều đặc biệt là cứ hết một công đoạn nước lạnh lại đến một công đoạn nước nóng, xen kẽ nhau như vậy đúng 4 lần.

    Thác nước khoáng ấm và "ôn tuyền thuỷ liệu pháp" là hai dịch vụ mới của Trung tâm Du lịch suối khoáng nóng Tháp Bà. Đây thực chất là hình thức massage, xoa bóp, nhưng là massage, xoa bóp bằng nước. Ở thác nước khoáng ấm, nước từ trên thác chảy xuống mạnh và "nặng" như những động tác đấm bóp bằng tay khiến bạn quên đi mệt mỏi. Còn với "ôn tuyền thuỷ liệu pháp", bạn sẽ được xoa bóp toàn thân với hàng ngàn tia nước ấm phun rất mạnh từ hai bức tường đá xây song song và cách nhau khoảng 1m. Ngoài hai công đoạn bị giới hạn thời gian: ngâm bùn (15 phút) và ngâm nước khoáng nóng (40 phút), du khách có thể thỏa sức ngâm, tắm mà không thấy chán.

    Có một điều chú ý nhỏ dành cho du khách khi đến tắm bùn để chữa trị những bệnh lý hay chỉ để thư giãn sau những ngày làm việc mệt nhọc, để tác dụng của việc tắm bùn thật hiệu quả bạn không nên tắm lại bằng nước lạnh, và nhất là tắm lại bằng xà phòng (bao gồm các lọai xà phòng có chất tầy rửa cao hay thấp đều không nên), vì khi tắm lại bằng xà phòng bạn sẽ làm trôi đi lớp khoáng chất của bùn còn lại trên da làm giảm bớt tính hiệu quả của bùn.
    Lưu ý khi đi tắm bùn khoáng nóng ở những người suy tim cấp, khi ngâm tắm toàn thân có thể gây nên các phản ứng như mệt mỏi, căng thẳng, mất ngủ, choáng váng. Cần chú ý nhiệt độ, thời gian tắm khác nhau của mỗi người. Sau mỗi lần tắm ngâm toàn thân phải lau khô người và nằm nghỉ 10-20 phút.

    Những điều cần thiết để "bụi" Nha Trang

    Bạn là những người trẻ yêu thích du lịch nhưng lại ít tiền, vài điều dưới đây sẽ giúp bạn có chuyến du lịch "bụi" vui vẻ trong dịp tết này
    -Phòng
    *Theo mùa: giá phòng tăng trong đợt cao điểm, để tiết kiệm chi phí nên đi những trước đó 1 tháng hay tránh những tháng cao điểm (tháng 6,7).
    *Địa điểm : Trần Phú và các đường gần biển thưòng giá cao. Khách sạn trên những con đường nhỏ hay phòng trọ thì giá mềm hơn khoảng 60.000 - 100.000 đồng/ngày. Cụ thể là đường Hoàng Diệu, Bạch Đằng, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai, Đinh Tiên Hoàng...
    Vào ngày tháng vắng khách có thể thương lượng khách sạn giảm giá đôi chút. Nếu ở dài ngày thì thuê luôn một phòng trong tháng khoảng 500- 700.000 đồng/ tháng, tiết kiệm chi phí.
    Nếu đi tìm phòng từ trung tâm dịch vụ nhà đất tốn khoảng 50.000đồng. Bạn cũng có thể tự đi tìm và hỏi dò giá một vài chỗ rồi quyết định.
    Nếu "bụi" hơn có thể thuê ghế bố một đêm 10.000 đồng/ ngày tại bến xe. Bạn cũng nên tránh trung gian "cò" như taxi, xe thồ, xích lô.
    - Phương tiện
    Xe máy: Để chủ động cho cuộc hành trình thì chiếc xe máy là tốt nhất, đường phố Nha Trang rất gần, có thể đi bất cứ đâu tham quan.
    Có thể thuê xe, trung bình 50.000-80.000 đồng/ ngày tuỳ loại xe tại các đường Hùng Vuơng, Nguyễn Thiện Thuật.
    Nếu nhờ nhân viên khách sạn thuê xe cao hơn giá thực 10.000 đồng/ngày ko cần để lại giấy tờ tuỳ thân.
    Tại Nha Trang, cà phê, quán ăn, bưu điện giữ xe miễn phí. Giá các điểm công cộng là 1000 đồng.
    Xe bus : 4.000 đồng/người
    - Ăn và uống: (sáng, trưa, chiều, tối)
    * Ăn sáng : Vỉa hè Nha Trang phục vụ ăn sáng giá rất rẻ như bún cá, bánh canh, bún bò, phở, bánh xèo ở đường Hồng Bàng, bánh căn ở ngã tư Thống Nhất, bánh mì...Trên đường Ngô Sĩ Liên, Nguyễn Thiện Thuật, Phương Sài, Yersine.
    * ăn trưa: Một phần cơm giá cũng tương đối khoảng 15.000-18.000dồng/ phần, mua hộp là 6.000-10.000đ/ hộp, thức ăn phù hợp với khẩu vị của nhiều người trên các đoạn đường chợ Bình Tân, chợ Xóm Mới, ga xe lửa, đường Nguyễn Thị Minh Khai...
    * Ban đêm thưởng thức các loại xôi ở ngã tư Mã Vòng. Hay nhậu chân già nướng dọc đường Lê Thánh Tôn. Lẩu hải sản từ 30.000đồng/ lẩu đường Nguyễn Thị Minh Khai
    * Đặc sản: Nem nướng Ngọc Liên ở Lê Thành Phương hoặc quán nem Đặng Văn Quyên ở số 2 Lê Lợi
    * Một đặc sản khác nữa quán cà phê ở phố biển rất nhiều và đẹp. Ngồi ở các quán gần sát bờ biển vừa nhâm nhi ngụm cà phê vừa ngắm biển.
    * Các địa điểm tham quan không tốn chi phí: Với chuyến xe máy chủ động cho cuộc hành trình khám phá thành phố biển này.
    -Địa điểm đầu tiên là con đường Trần Phú-còn gọi Con Đường Vàng sẽ cảm nhận được cái thú dạo biển của người Nha Trang bằng xe máy, xe đạp hay đi bộ.
    - Bảo Tàng trên đường Trần Phú
    - Nhà Thờ Núi ở đầu đường Nguyễn Trãi
    - Chùa Long Sơn đường 23 tháng 10
    - Làng cổ Phú Vinh cách Thành Phố khoảng 4 cây số.
    * Các địa điểm tham quan trong thành phố có bán vé giá từ 10.000-20.000
    - Viện Hải Dương Học
    - Lầu Bảo Đại
    - Tháp Bà
    - Hòn Chồng
    * Mạo hiểm với các chuyến tham quan thác suối bằng xe máy cũng khá thú vị : Suối Tiên cách thành phố 30km, thác Giang Bay khoảng 60km, các bãi tắm Dốc Lết, Đại lãnh rất đẹp và ấn tượng.
    Còn các tuyến đi biển đảo thì nên đi theo tour hay thuê tàu. Tuyến phía Bắc thì xa hơn là Đầm Nha Phu, tuyến phía Nam ngay bến cảng.

    danh lam thang canh

    ·                     Đi thuyền trên sông Cái, lặn biển, đi vòng quanh các đảo hay thăm thác Ba Hồ.

    ·                     Dinh Bảo Đại

    ·                     Suối khoáng nóng Tháp Bà:

    ·                     Đầm Nha Phu

    ·                     Suối Hoa Lan

    ·                     Đảo Khỉ: năm 2006 có trường đua ô tô loại nhỏ.

    ·                     Bãi Sạn

    ·                     Hòn Chồng

    ·                     Hòn Tằm

    ·                     Hòn Mun

    ·                     Hòn Con Sẻ Tre

    ·                     Hòn Ông

    ·                     Đảo Yến

    ·                     Hòn Tre (VinpearLand-Hòn Ngọc Việt, khu resort và giải trí được mệnh danh là hòn ngọc Việt Nam)

    ·                     Thác Yangbay

    ·                     Tháp Bà Ponagar Nha Trang

    ·                     Chùa Long Sơn (chùa Phật trắng)

    ·                     Viện Bảo tàng Hải dương học: viện nghiện cứu biển lớn nhất Đông Dương với hàng chục ngàn mẫu sinh vật biển, cùng một thư viện sách khoa học quí hiếm bậc nhất Việt Nam.

    ·                     Nhà thờ Chánh Tọa (nhà thờ núi)

    ·                     Viện Pasteur Nha Trang

    ·                     Thủy Cung Trí Nguyên

    ·                     Bãi Dài (Cam Ranh), nằm trên đại lộ Nguyễn Tất Thành, nối liền sân bay Cam Ranh và thành phố Nha Trang

    ĐẢO NGỌC vinpearl land

    Tọa lạc trên đảo Hòn Tre xinh đẹp giữa biển khơi và bãi biển trong xanh quanh năm tươi tắn, khu du lịch và giải trí Vinpearl Land được biết đến như “thiên đường của miền nhiệt đới” có thể níu chân bất kỳ du khách nào. Nơi đây đã trở thành điểm đến của nhiều du khách nội địa và quốc tế.
    Khởi công xây dựng từ tháng 4-2002, đến tháng 12-2003 khách sạn Sofitel Vinpearl Resort & Spa là một trong những khu nghỉ dưỡng 5 sao hàng đầu trong khu vực, mang đến cho du khách rất nhiều sự lựa chọn mà không cần đi đâu khác. Khu nghỉ dưỡng sang trọng này dành cho cả khách thương gia và khách du lịch. Nơi đây cũng là điểm đến du lịch quanh năm vì mỗi năm có tới 300 ngày có ánh nắng mặt trời với một nền nhiệt độ trung bình rất dễ chịu vào khoảng 26.5 độ C. Đến với khu nghỉ dưỡng, du khách có thể thoải mái nghỉ ngơi trong hệ thống bể bơi có diện tíchh ấn tượng 5000 mét vuông và một khu vườn nhiệt đới trù phú. Với 500 phòng nghỉ có kiến trúc tuyệt đẹp, 17 phòng hạng sang và 2 phòng Tổng thống, khu resort có thể làm hài lòng những vị khách khó tính nhất bằng cách mang lại cho họ sự thoái mái, riêng tư và tiện nghi. Một loạt các nhà hàng quốc tế phục vụ du khách đầy đủ các món ăn Á Âu, trong nhà và ngoài trời. Đối với nhu cầu tổ chức các cuộc họp và hội thảo, khu resort có một phòng lớn với sức chứa 700 người, được trang bị đầy đủ các thiết bị hỗ trợ công việc và thông tin liên lạc. Bên cạnh đó, những khu vườn tuyệt đẹp mang trong mình một ốc đảo xanh sẽ rất thích hợp cho những buổ