trang Blog

tiendatguideTham gia: 20/11/2006
  • ĐÌNH -  CHÙA MIÊN NAM
    Du Lịch
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    ĐÌNH - CHÙA MIÊN NAM

    ĐÌNH CHÙA MIỀN NAM

    1.  Chùa Ông Bổn Sóc Trăng

    Một di tích nghệ thuật kiến trúc độc đáo

    Chùa Ông Bổn thị xã Sóc Trăng, trước tiên có tên Thất Phủ Miếu, được xây dựng tại làng Khánh Hưng (tổng Nhiêu Khánh), quận Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Vào năm Ất Hợi 1875 đến năm 1911, Thất Phủ Miếu được trùng tu lần 1, đổi tên thành Hòa An Hội quán được giữ nguyên trạng đến ngày nay. Đây là di tích nghệ thuật kiến trúc - điêu khắc văn hóa độc đáo của cộng đồng người Hoa Sóc Trăng và các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long.
    Trong cuốn “Chuyện xưa tích cũ của cố học giả Vương Hồng Sển- nhà văn hóa, khảo cổ lớn của miền Nam ghi lại: “ Vào thời điểm này, sau khi kinh xáng Maspéro khởi công và hoàn thành vào năm 1911-1920, chùa Ông Bổn nằm ở trung tâm chợ Châu Thành ở làng Khánh Hưng – cùng với chợ Bãi Xàu ở làng Mỹ Xuyên (Mỹ Xuyên) được phong là “thị tứ đệ nhất hạng” do nghị định đề ngày 15/10/1904 của thống đốc Nam Kỳ đặt ra….”
    Do có địa thế giàu tiềm năng kinh tế nên chùa Ông Bổn được người Hoa thời xưa xây dựng tổng thể kiến trúc theo hình chữ “ Phú ” – tượng trưng cho sự ấm no, phú quí theo quan niệm của người Hoa. Ngày nay, chùa Ông Bổn (Hòa An Hội quán) qua nhiều lần trùng tu vẫn giữ được nguyên hiện trạng cũ và tọa lạc ở địa chỉ số 09, đường Nguyễn Văn Trổi, phường 1, thị xã Sóc Trăng. Cách Bưu điện trung tâm tỉnh lỵ Sóc Trăng khoảng 700m. Di tích này rất thuận tiện cho du khách đến tham quan về đường bộ, cũng như đường thủy
    Chùa Ông Bổn được xây dựng cách đây 128 năm, với chất liệu hoàn toàn bằng đá, gỗ quí từ Trung Quốc chở qua. Ngôi chùa có mặt tiền chính diện hướng về hướng Nam, hai bên tả hữu tô đá rửa được nghệ nhân đắp nổi bằng xi măng rộng khoảng 1 thước là 2 đại tự : “ Tăng, Phước” – ngụ ý chúc bà con bá tánh hưởng thêm nhiều phước lộc - tạo thêm vẻ bề thế cho ngôi chùa. Ngoài ra, ở bên hữu khuôn viên chùa còn có ngôi miếu nhỏ thờ Thần Hoàng Bổn Cảnh tượng trưng cho thần thổ địa của địa phương. Quan sát từ đỉnh hương lớn đặt giữa khuôn viên khá rộng của ngôi chùa, tổng thể kiến trúc di tích này có toàn bộ phần chân cột, đá xanh viền nền “tam cấp” trong khu vực nội thất đến khung cửa chính của ngôi chùa…đều được các nghệ nhân người Hoa đời trước tạc bằng đá tảng của Trung Quốc. ngôi chùa được thợ xây dựng “phân kim tam cấp” qua thước “ Lỗ Ban – theo hình chữ “Phú” - tượng trưng theo quan niệm của người Hoa.
    Nghệ nhân điêu khắc Trần Văn Thanh nhận xét : : Kiến trúc ngôi chùa này được người xưa xây dựng 3 đôi mái ngói xanh kế tiếp nhau đến gian chính điện…”Đặc biệt qua đợt trùng tu sau này, ngôi chùa vẫn còn giữ nguyên hiện trạng đến 90% mái chùa lợp ngói ống âm dương màu xanh (ngói lưu ly) sản xuất ở Lái Thiêu. Đây là loại ngói cổ được người xưa rất ngưỡng mộ và kính trọng để lợp mái các ngôi đình, chùa, miễu… cùng với phần kiến trúc thẩm mỹ độc đáo bằng gốm tráng men màu của tượng “Bát Tiên hí võ”, “ Lưỡng Long tranh châu”, “ Mẫu đơn phụng”, hoa văn trang trí “Chỉ hoa cúc”… Ở tả hữu mái ngói trước tượng trưng âm dương hòa hợp, sung túc, no đủ nên càng tôn thêm vẻ tôn nghiêm cổ kính cho ngôi chùa.
    Theo nghệ nhân điêu khắc Nguyễn Chinh đã từng thi công nhiều công trình điêu khắc, kiến trúc các ngôi chùa lớn ở các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long – TP.HCM thẩm định giá trị nghệ thuật: “ Ngoài ý nghĩa cầu cho “quốc thái dân an”, “ mưa thuận, gió hòa”, “ chánh thần phù hộ ban phước lành cho nhân dân…” thì riêng các phần điêu khắc, chạm trỗ khuôn viền các biển bức hoành phi (chạm 3 lớp), kham thờ chánh điện, tượng gỗ đỡ giàn cột kèo gồm 6 bộ cột vuông, bộ cột tròn, bộ cột long trụ…đều do nghệ nhân Trung Quốc sáng tác. Và đây là những tác phẩm điêu khắc tinh xảo, độc đáo “có 1 không 2” so với các ngôi chùa cổ khác ở đồng bằng Sông Cửu Long. Các công trình trên buộc chúng ta tưởng nhớ đến hàng chục nghệ nhân ngồi đục đẽo ròng rã hàng năm trời. Cái khéo léo là những tác phẩm độc đáo này được lớp nghệ nhân đời trước tạo tác rất công phu, dáng vẻ sinh động, thoát tục, hướng vào tín ngưỡng tâm linh trong cuộc sống nhân gian.
    Ngoài ra, chùa Ông Bổn ở thị xã Sóc Trăng còn có nhiều cổ vật quí hiếm khác là tượng gỗ thờ Ông Bổn, Ông Phước Đức, Bà Thiên Hậu Thánh mẫu, sơn son thiếp vàng rực rỡ; bộ lư quỳ cổ hình thái tuế, 3 bộ lư vuông, cặp hạc rùa ngậm hoa sen bằng kim loại màu…các bộ bàn thờ (quý tự) bằng gỗ quý đều được các nghệ nhân chạm khắc 3 lớp và dát vàng rất tinh xảo. “ Đặc biệt hơn nữa là ngôi chùa kiến trúc theo hình chữ “Phú” với nghệ thuật chạm trổ tinh xảo độc đáo trang trí từ bên ngoài đến nội thất bên trong; nên chùa Ông Bổn thị xã Sóc Trăng được giới người Hoa ở Rạnh Giá (Kiên Giang) rất ngưỡng mộ. Họ mời các nghệ nhân ở Sóc Trăng đo đạc theo nguyên trạng ngôi chùa để thiết kế phần trang trí nội thất giống như khuôn mẫu di tích lịch sử văn hóa độc đáo này của người Hoa Sóc Trăng để xây dựng ngôi chùa mới tại quê hương mình…

    2.      Văn Miếu Trấn Biên

    Văn Miếu Trấn Biên Ðồng Nai

    nơi phụng thờ hào khí phương nam

    Văn Miếu Trấn Biên ở Ðồng Nai là sự tiếp nối truyền thống của Văn Miếu Quốc Tử Giám ở Thăng Long (Văn Miếu đầu tiên của nước ta, được xây dựng năm 1070) và là biểu tượng cho tinh thần hiếu học - trọng người tài. Văn Miếu Trấn Biên sừng sững uy nghi tọa lạc trên diện tích rộng 20 nghìn m2 tại phường Bửu Long, TP. Biên Hòa, tỉnh Ðồng Nai.
    Theo sách "Ðại Nam nhất thống chí" của Quốc sử quán triều Nguyễn, tuy ra đời sau Văn Miếu - Quốc Tử Giám ở Thăng Long - Hà Nội hơn 700 năm, nhưng Văn Miếu Trấn Biên được xây dựng sớm nhất ở miền nam, trước các Văn Miếu ở Vĩnh Long, Gia Ðịnh và ở kinh đô Huế. Văn Miếu Trấn Biên là nơi không chỉ thờ Khổng Tử mà còn thờ phụng các bậc vĩ nhân, danh nhân văn hóa, giáo dục của đất nước.
    Văn Miếu Trấn Biên được trùng tu năm 1794. Ðích thân chúa Nguyễn đến đây dâng lễ vào mùa xuân và mùa thu hằng năm. Từ năm 1802, vua nhà Nguyễn ủy nhiệm quan Tổng trấn thành Gia Ðịnh, quan tổng trấn Biên Hòa và quan đốc học đến hành lễ hằng năm thay nhà Vua. Thời đó, bên cạnh Văn Miếu Trấn Biên là trường học của tỉnh Biên Hòa. Gắn liền với Văn Miếu Trấn Biên là một nền giáo dục phát triển, đã sinh ra những danh nhân làm rạng rỡ miền đất phương nam như Võ Trường Toản, Trịnh Hoài Ðức, Nguyễn Ðình Chiểu, Ngô Nhân Tịnh và Lê Quang Ðịnh.
    Khi quân Pháp đánh chiếm Biên Hòa vào năm 1861, chúng đã tàn phá hoàn toàn Văn Miếu Trấn Biên nhằm dập tắt tinh thần yêu nước của người dân Nam Bộ. Văn Miếu Trấn Biên đã bị hủy hoại sau 146 năm tồn tại.
    Gần đây, Văn Miếu Trấn Biên đã được xây dựng lại trên nền đất cũ. Nổi bật giữa vùng không gian thoáng đãng là những vòm mái cong, lợp ngói lưu ly mầu xanh ngọc bằng gốm tráng men, những lầu bia uy nghi tráng lệ. Từ cổng vào lần lượt là nhà bia, Khuê Văn Các, hồ Tịnh Quang, cổng tam quan, nhà bia thứ hai và nhà thờ chính. Bia Tiến sĩ được khắc bằng đá xanh với dòng chữ lớn đầu tiên "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia".
    Nhà thờ chính xây dựng kiểu nhà ba gian hai chái, theo kiến trúc cổ, nền lát gạch tàu, có bàn thờ Bác Hồ ở gian giữa, trên tường có biểu tượng trống đồng tượng trưng cho nền văn hóa Việt Nam và Quốc Tổ Hùng Vương. Trong gian thờ này đặc biệt có trưng bày 18 kg đất và 18 lít nước mang về từ đền Hùng, biểu trưng cho 18 đời Vua Hùng, cội nguồn của dân tộc.
    Trong Văn Miếu Trấn Biên còn có các bàn thờ đức Khổng Tử, bàn thờ Quốc tổ và Lịch đại đế vương. Gian bên trái thờ các danh nhân Chu Văn An, Nguyễn Trãi và Lê Quý Ðôn. Gian bên phải thờ Võ Trường Toản, Ðặng Ðức Thuật và ba vị được tôn xưng là "Gia Ðịnh tam kiệt": Trịnh Hoài Ðức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Ðịnh.
    Phía trước hai bên nhà thờ chính còn có hai ngôi miếu, miếu bên trái thờ Tiên sư, miếu bên phải thờ Tiền hiền - Hậu hiền.
    Hiện nay, du khách đến thăm Văn Miếu Trấn Biên ngày càng đông do phong cảnh rộng thoáng, với vẻ đẹp vừa cổ kính vừa trang nhã. Văn Miếu là nơi bảo tồn, gìn giữ và tôn vinh các giá trị văn hóa-giáo dục xưa và nay của dân tộc và của đất Ðồng Nai. Nơi đây còn rất gần với khu du lịch văn hóa Bửu Long.
    Tại Văn Miếu Trấn Biên thường tổ chức các lễ viếng các bậc tiền nhân, các lễ báo công, tuyên dương tài năng trên các lĩnh vực, đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa-giáo dục, các hoạt động mang tính văn hóa dân gian như lễ hội, biểu diễn nghệ thuật, thả thuyền trên hồ... Văn Miếu Trấn Biên là nơi đón nhiều đoàn khách trong nước và quốc tế khi đến thăm Ðồng Nai.
    3. Chùa Kiến An Cung - Sa Đéc - Đồng Tháp

    Chùa Kiến An Cung hay còn gọi là chùa Ông Quách nằm ngay tại trung tâm thị xã Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp. Chùa được xây dựng do Hoa kiều ở tỉnh Phúc Kiến - Trung Quốc di cư sống tại Sa Đéc để thờ cúng tổ tiên và dạy dỗ con cháu.
    Chùa Kiến An Cung được bắt đầu khởi công xây dựng từ năm Giáp Tý (1924) đến mùa thu Đinh Mậu (1927) thì làm lễ khánh thành. Chùa gồm 3 gian, gian giữa là điện thờ (Kiến An Cung) gian bên tả là trụ sở tập hiền, gian bên hữu là trường. Chùa đã được sửa chữa 3 lần nhưng vẫn ở vị trí cũ.
    Chùa Kiến An Cung xây dựng theo kiểu chữ "Công" gồm có 3 gian. Bên tả và bên hữu bằng nhau. Gian giữa (điện thờ) rộng hơn. Mái ngói gồm 3 lớp, mặt trên ngói, giữa gạch, dưới là ngói. Ngói được lợp theo gợn sóng rồng, trải nền cho những ngọn sóng cong vút lên cao, tạo mái ngói theo kiểu "Ngũ hành". Mỗi đầu ngọn sóng là một cung điện thu nhỏ laiồ, bao gồm có 6 cung điện toàn bộ chùa không có kèo, chỉ có đòn tay ráp mộng lại chịu lực trên những cột gỗ tròn. Ơở mặt chính trên vách chùa có trang trí những cây cối, chim thú, tượng người ghép bằng mảng gốm màu thu nhỏ tạo thành những bức tranh nằm theo các đường gờ lắp kính 5mm. Mái trước cửa ra vào có 4 chậu hoa bằng gỗ sơn son thếp vàng đỡ 6 con sơn chạm trổ hoa lá, ở giữa có tấm hoành phi "Kiến An Cung", trang trí rồng, mây, nai, hạc. Trên cửa ra vào có 6 con lân gỗ thếp vàng đội 6 con sơn. Trên mặt của mỗi cánh cửa có vẽ cảnh sinh hoạt của vua quan. Hai bên cửa chính có hai câu đối trang trí hoa văn chạy xung quanh và nền chạm hóa mai và hạc thếp vàng. Trên cửa chính có tranh vẽ màu và trên cửa hai bên có chạm khắc bông sen, chim thú.
    Vào cửa là phần chính điện, trên mái ở gian giữa có treo một tấm hoành phi chạm trổ hoa lá sơn son thếp vàng. Dưới là một bức tranh vẽ màu hai mặt chạy dài suốt 3 gian. Phía dưới có một bao lam trang trí chim trĩ, công, bông sen, nho, sóc hai mặt giống nhau và thếp vàng. Hai câu đối cặp theo cột gắn với bao lam. Phần trên của mỗi câu đối có khắc đầu rồng, cành mai, phần dưới có khắc bát tiên.
    Đối diện với chính điện, trên các cột có gắn 2 câu đối thếp vàng, nền chạm trổ mai hạc, ở hai bên có hai câu đối nền sơn vàng và viền khung, bên cạnh có 2 bức tranh vẽ màu. Giữa các cột có gắn các đầu hình rồng đỡ những cây xà ngang có tranh vẽ màu. Trên xà ngang lại có 6 con sơn có tranh vẽ màu đội các cây xà dọc của mái.
    Gian bên phải có khắc đôi cá hóa long hai mặt giống nhau thếp vàng cặp sát theo góc cột thay thế con sơn. Ơở vách phải có 40 bích họa màu và ở vách đối diện có 30 bích họa màu. Phần vách ở dưới đều trang trí hoa văn màu xanh. Mặt sau của gian chính điện cũng trang trí giống như mặt trước của chính điện. Ơở 4 cột có gắn 4 câu đối. Phần trên của 2 câu đối có chạm hình con dơi, phần dưới chạm chậu hoa, hai câu đối chạm hoa lá bướm, chim thú.

    Phần mái hai bên có hai con lân đội hai con sơn. hai con sơn này lại đội xà ngang. Hai cột sát vách có gắn 2 câu đối bằng xi măng. Ơở 2 cột giữa có gắn hai câu đối của chính điện đối diện với hai câu đối của điện thờ.
    Phần giữa của chính điện và điện thờ có một khoảng để trống lấy ánh sáng, hai bên của phần này nối chính điện và điện thờ thành hai gian đối xứng nhau. Mỗi bên đều có 8 cánh cửa chạm trổ hoa lá, ong bướm, chim muông qua bên trái là trụ sở và bên hữu là trường học. 4 câu đối nền vàng viền đỏ gắn ở 4 cột đối diện với 2 gian nối.
    Phần điện thờ, mặt ngoài ở gian giữa có hai câu đối trang trí hoa sen, cành đào gắn ở cột, phía trên có một bức hoành phi "Bảo quốc an dân" trang trí hoa lá, chùm nho sơn son thếp vàng, dưới có một bao lam khắc khỉ, nai, chim phượng hai bên có hai câu đối chạm trổ rồng phượng gắn vào cột.
    Gian trái có bức hoành phi "Thanh thủy tể sư", gian phải có bức hoành phi "Bảo sanh đại đế". Trên các xà ngang có 4 con lân đỡ 4 con sơn. Ơở dưới xà ngang có 6 đầu rồng đỡ xà ngang gắn với cột.
    Phần dưới điện thờ có bao lam chạm nổi cuốn thư, hoa cúc, hoa sen, chim trĩ, chim sâu sơn son thếp vàng. Hai bên của mỗi bao lam đều có 2 bức họa chạm trổ gắn chặt bao lam với cột gỗ, đứng trên bệ đá. Trên hai cột đều treo hai câu đối trang trí hoa văn chữ "Vạn" và có điểm thêm hoa cúc. Hai đầu của các câu đối có trang trí cây cỏ, chim muông, thú vật. Đặc biệt chữ viết trên hai câu đối theo kiểu chữ "Hình lư hương".
    Phía ngoài, ở giữa có một bàn thờ hình chữ nhật. Hai bên có hai bàn thờ nhỏ. Trên các bàn thờ đều có lư hương bằng đồng, hai con hạc đồng, hai chân đèn bằng đồng, một bát hương bằng gốm.
    Bên ngoài có 3 bàn thờ hình chữ nhật bằng gỗ đặt ngang trên các bàn thờ đều có lư hương, 2 chân đèn đồng, 3 cây hương trượng, giữa các bàn thờ có 4 bộ bát bửu đặt xuôi theo cột. Hai vách của các gian này có bích họa, mỗi bên có 32 tranh vẽ.
    Phần điện thờ có 3 gian: Gian giữa có khám thờ Quảng Trạch Tôn Vương. Phần trên của khám trang trí 2 rồng tranh châu, hoa lá sơn son thếp vàng. Hai bên có khám thờ "Bảo sanh đại đế" bên trái thờ "Thanh thủy tể sư" cũng trang trí hoa lá rồng mây, sơn son thếp vàng.
    Trước các khám thờ có 3 bàn thờ hình chữ nhật bằng gỗ. Trên mỗi bàn có đặt một lư hương và hai hộp bằng đồng đựng đèn sáp. Riêng bàn thờ giữa có đặt thêm ba hộp kính đựng tượng.
    Phía ngoài điện thờ trên sát mái chùa có treo ba hoành phi đối diện với khánh thờ "Thanh Thủy Tể Sư", Quảng Trạch Tôn Vương, Bảo Sanh Đại Đế, đặt trên 6 đầu dư hình rồng nhô ra đỡ lấy các hoành phi, dưới các đầu dư hình rồng có 3 bức tranh vẽ màu trên gỗ.
    Ngoài Quảng Trạch Tôn Vương còn có hai vị thần được thờ ở hai bên trong gian chánh điện. Bên tả là Thanh Thủy Tể Sư, nguyên là thầy thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Bên hữu là Bảo Sanh Đại Đế, có nhiệm vụ bảo vệ sanh mệnh các vị vua chúa.
    Với lối kiến trúc mang đậm phong cách Trung Hoa, với một nền văn hóa truyền thống đặc sắc, Kiến An Cung đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia vào ngày 27/4/1990.

    4.              Chùa Tuyên Linh_Bến Tre

    Vị trí:Chùa Tuyên Linh ở xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.
    Đặc điểm: Chùa Tuyên Linh được công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 20/7/1994. Ngày 19/5 hàng năm, ở chùa đều diễn ra ngày hội với nhiều hoạt động giao lưu văn hóa và mít-tinh kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ.

    Chùa Tuyên Linh được xây năm Tân Dậu (1861), dưới triều Tự Đức năm thứ 14. Lúc đầu, chùa có tên là Tiên Linh do Hòa thượng Khánh Phong trụ trì và được làm bằng tre, lá để thờ bà Sầm.
    Năm 1907, nhà sư Lê Khánh Hòa, pháp danh là Thích Như Trí, quê ở xã Phú Lễ, huyện Ba Tri về trụ trì tại chùa này. Là một cao tăng rất tinh thông Phật học, Hòa thượng Lê Khánh Hòa đã thuyết giảng giáo lý nhà Phật, đào tạo môn sinh. Nhờ hiểu rộng, đi nhiều nơi, có vốn nho học lại biết cả chữ quốc ngữ nên ông được các tín đồ, cư sĩ Phật giáo tín nhiệm và có hơn 90% người dân địa phương theo đạo. Hòa thượng Lê Khánh Hòa còn là người sáng lập ra Nam kỳ Phật học hội và Lưỡng Xuyên Phật học hội quy tụ nhiều cao tăng, cư sĩ Phật giáo ở Nam kỳ lúc bấy giờ. Đồng thời nhà sư còn là chủ bút tạp chí Từ bi âm, Giám đốc Phật học tùng thư.
    Chùa Tuyên Linh là nơi mà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Bác Hồ, nhiều lần ghé lại tá túc. Thời gian cụ Phó bảng ở đây lâu nhất là từ năm 1927 đến 1929. Trong thời gian lưu trú tại chùa, cụ Phó bảng đã mở lớp dạy học, xem mạch bốc thuốc cho nhân dân trong vùng và cùng Hòa thượng Lê Khánh Hòa bàn việc dân, việc nước. Ở đây, cụ Nguyễn Sinh Sắc cũng gặp gỡ các ông: Trần Văn An, Huỳnh Khắc Mẫn, Lê Văn Phát, và trong số họ sau này có người trở thành lớp đảng viên đầu tiên của Đảng bộ Bến Tre. Năm 1929, cụ Phó bảng lâm bệnh và bị bọn mật thám Pháp theo dõi nên Hòa thượng Lê Khánh Hòa đã tìm cách đưa cụ về Đồng Tháp. Theo lời kể của những người lớn tuổi ở xã Minh Đức thì tên gọi Tiên Linh tự được nhà sư Lê Khánh Hòa đổi lại Tuyên Linh tự năm 1930 theo sự góp ý của cụ Phó bảng. Cụ giải thích rằng: Tuyên là tuyên truyền. Về phần mình, Hòa thượng Lê Khánh Hòa ngoài tụng kinh niệm phật ông luôn động viên các tín đồ Phật giáo tham gia hoạt động cách mạng và kháng chiến. Do tuổi già, bệnh nặng, Hòa thượng Lê Khánh Hòa mất ngày 19/6/1947. Trước lúc viên tịch, sư cụ tắm rửa sạch sẽ, thay đạo phục rồi quay mặt về hướng bắc nói những lời cầu mong nước nhà độc lập, chúc sức khỏe Hồ Chủ tịch, sau đó niệm phật rồi tắt thở.
    Trong 2 cuộc kháng chiến, chùa Tuyên Linh là nơi che giấu, nuôi dưỡng cán bộ cách mạng nên đã hai lần bị giặc dùng máy bay ném bom, phá hủy và đốt chùa. Chùa được trùng tu nhiều lần và được xây mới vào năm 1999 trên nền cũ rất khang trang. Tuy nhiên, những hiện vật gắn với quá khứ của chùa không còn nhiều. Đồng chí Việt Hùng, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Minh Đức, thành viên ban bảo vệ di tích chùa Tuyên Linh cho biết: “Chúng tôi đang có kế hoạch xin xây nhà bảo tàng ở tại chùa. Trước tiên sẽ tìm vận động, sưu tầm những hiện vật gắn với chùa trước đây và tôn tạo lại những bút tích của sư cụ Lê Khánh Hòa và cụ Nguyễn Sinh Sắc để trưng bày ở bảo tàng. Bên cạnh đó, sẽ xây dựng hệ thống giao thông để tạo sự đi lại dễ dàng cho người dân đến tham quan chùa”.

    5.              Chùa Đất Sét

    Vị trí:Chùa tọa lạc tại 163A, đường Lương Đình Của, thị xã Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
    Đặc điểm: Các tác phẩm tượng Phật, linh thú, đỉnh trầm, bảo tháp... được tạo ra từ đất sét, thoạt nhìn không ai có thể tin là thật.
    Chùa Đất Sét có tên chữ là Bửu Sơn tự. Nhìn bề ngoài nó giống như các ngôi nhà dân khác. Ngôi nhà không lớn, mái lợp tôn, vách ván, khung bằng gỗ dầu, gỗ đước. Gia đình họ Ngô lập am thờ này để tu tại gia qua nhiều đời, vì vậy chùa không có sư, chỉ có người trong gia đình quản lý.
    Bước vào bên trong, sau khi được giới thiệu tỷ mỷ ta mới cảm phục sức lao động bền bỉ, sáng tạo phi thường của ông Ngô Kim Tòng - người đã dồn hết sức lực trong suốt 42 năm dòng dã để tạo nên 1901 bức tượng Phật, trên 200 mẫu tượng thú, bảo tháp, lư hương... đều bằng đất sét.
    Đặc biệt trong chùa có 8 cây nến: 6 cây lớn chưa đốt và 2 cây nhỏ hơn đang cháy. Trọng lượng mỗi cây nến lớn khoảng 200kg, cao 1,6m, ước cháy liên tục khoảng 70 năm. Hai cây nến nhỏ đã cháy từ khi ông Ngô Kim Tòng qua đời, năm 1970, dự kiến thời gian cháy hết khoảng 35 năm, nhưng năm 2006 vẫn đang cháy và có thể cháy tiếp vài năm nữa. Tại đây còn có 3 cây hương (nhang) mỗi cây cao 1,5m chưa đốt.
    Chùa Đất Sét đang là một trong những điểm tham quan hấp dẫn nhất ở thị xã Sóc Trăng.

    ***

    Chùa Đất Sét còn có tên là Bửu Sơn Tựnằm ởkhu phố1, phường 5, thịxã SócTrăng.
    Chùa nổi tiếng bởi những vật được tao hình từđất sét. Từtháp ĐaBảo 13 tầng, tháp Bảo Tòa cao 2 mét, đến Lục Long Đăng. Tìm hiểu kỹthì đượcbiết toàn chùa có đến 1991 tượng phật và tất cảđều hoàn toàn làm bằng đất sét.Sau chi làm xong tất cảcác sản phẩm bằng đất sét đều được phủlên ngoài bằngnước sơn, Kim nhũvà dầu bóng nên trông giống nhưlàm bằng chất liệu đồng vậy.Chùa Đất Sét là mộtcông trình kiến trúc độc đáo ởViệt Nam.
    ỞSóc Trăng,phần lớn các ngôi chùa đều xây theo kiểu Khơ-me, duy có ngôi chùa người Việt cómột không hai ởnước ta, nổi tiếng từNam ra Bắc, đó là chùa ĐấtSét.
    Thuởban đầu chùa được cất bằng các loại cây bìnhthường ởđịaphương. Trải qua bao năm tháng nên đã bịhưmục khá nhiều và cũng đã được concháu trong dòng họtu sữa nhiều lần theo cấu trúc ban đầu. Mãi đến năm 1928,người con thứ5 của ông Ngô Kim Đính và ĐỗThịNgọc là Ngô Kim Tòng 22 tuổi đãdùng đấtsét tại chỗđểdựng ngôi chùa và nhiều tượng phật. Ông Ngô Kim Tòng(sinh 1909-1970) đã thực hiện một ý tưởng của mình là dùng chất liệu đất sét tạichỗđểdựng nên một ngôi chùa, tạc các tượng phật và sau 42 năm thì hoànthành.
    Đất sét phơi khô đập nhỏ,giã thành bột, rây bỏtạp chất, nhào vớichất keo đặc biệt gồm bột nhang và ô đước cộng với trí tưởng tượng phong phú,bàn tay tài hoa khéo léo của mình, ông Ngô Kim Tòng đã ra cột, kèo, phù điêu,tượng... thật kỳcông. Tổng cộng chùa có 1.991 tượng Phật lớn nhỏ, 2 ngôi tháp,1 tòa sen, 4 con thú linh thật lớn. Tháp Đa Bảo cao 13 tầng, mỗi tầng có 16 cửa,mỗi cửa có một tượng Phật. Tổng cộng tháp Đa Bảo có 208 cửa, 208 vịPhật và 156con rồng đỡcho 13 tầng tháp. Toàn bộtháp này cao chừng 4,5 mét. Kếđó Tháp BỏaTòa đểthờPhật cao chừng 2 mét, phía trên theo hình bát giác tượng trưng chobát quái: Càn - khảm - cấn - chấn - tốn - ly - khôn - đoài. Trên cùng của tháplà một tòa sen có 1.000 cánh, mỗi cánh có một tượng Phật ngự, hết thảy 1.000tượng Phật vớinhiều sắc thái biểu cảm khác nhau. Ngoài ra, ông Tòng còn tạohình các danh thú nhưKim Lân, Thanh Sư, Bạch Hổ, Long Mã, Bạch Tượng... có bacái đỉnh, mỗi cái cao 1,5 mét, bảy cái lưhương nhỏ.
    Tuy nhiên, điều gâyngạc nghiên và nểphục với khách tham quan chính là 4 cặp nến cao 2,6m trongchùa, sáp đểđúc đèn được mua từnăm 1940 vẫn còn nguyên khối. Sau một tháng đènthiệt khô mới dỡbỏkhuôn và đem những con rồng bằng đất trang trí xung quanh.Được biết, mỗi cặp đèn lớn đốt liên tục 70 năm mới hết. Ba cặp nến lớn, mỗi câynặng 200kg, bềngang bằng 1 vòng tay người ôm; còn cặp nhỏmỗi cây nặng 100kgđược đốt cháy liên tục suốt ngày đêm kểtừnăm 1970 khi ông Tòng mất. Hơn 30 nămmà cặp đèn cầy vẫn còn cao hai tấc và còn khảnăng cháy thêm 3 năm nữa, thậtlà chuyện xưa nay hiếm! Đó là chưa nói trong chùa còn 3 cây nhang lớn, mỗi cây nặng50kg chưa sửdụng, cao 1,5m, nếu thắp lên chắc vài năm mới tàn. Một chùm đèn gọilà Lục Long Đăng với sáu con rồng quay đầu ra chung quanh, đuôi chụm vào vớinhau, phía dưới là một bông sen đểcác bóng đèn.

    6.                                Chùa Quan Đế

    Vị trí:Chùa Quan Đế nằm ven sông Bạc Liêu, thuộc địa phận xã Vĩnh Trạch, Tx. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

    Đặc điểm: Chùa Quan Đế là một kiến trúc đình chùa mang đậm bản sắc dân tộc Hoa.
    Người Hoa ở Bạc Liêu coi Chùa Quan Đế như một biểu tượng văn hoá của dân tộc mình. Chùa được xây năm 1835, do ông chủ tô muối Châu Quai đứng ra vận động đóng góp. Bên trong chùa còn giữ được khá nhiều bức hoành lớn. Một số được các nghệ nhân người Hoa chạm khắc từ những năm 1865 - 1897. Ngoài ra chùa Quan Đế còn có một án thư quí giá.
    Chùa thờ Quan Vân Trường thời Tam Quốc. Trong điện thờ chùa Ông có bức tượng Quan Công mặc giáp trụ uy nghi, hai bên là Quan Bình và Châu Xương. Theo người Hoa ở Bạc Liêu, họ chọn thờ Quan Công bởi họ coi trọng chữ tín trong làm ăn buôn bán, Chùa Ông là nơi họ đến cầu khẩn, thậm chí giao kèo với nhau trong mua bán. Ngoài ra trong chùa còn thờ Thiên Hậu, Thần Tài. Chùa Ông là một trong những điểm tham quan ở thị xã Bạc Liêu.

    7.                                Chùa Thích Ca Phật Đài

    Vị trí
    Thích Ca Phật Đài là khu di tích kiến trúc Phật giáo của phái Nam tông, nằm trên triền núi Lớn, thuộc thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Men theo con đường Trần Phú, đi qua Bến Đá, Bến Đình, du khách sẽ trải qua nhiều cảm xúc khác nhau với cảnh quan tuyệt đẹp của nơi đây: ba phía là biển, thuyền tàu đầy bến, ban đêm rực ánh đèn.
    Lịch sử
    Trước đây, vùng đất này cây cối rậm rạp, không có người sinh sống. Năm 1957, ông Lê Quang Vinh, một công chức thời Pháp thuộc, bất mãn với chế độ nên đã bỏ lên đây dựng chùa để tu hành, gọi là Thiền Lâm tự. Năm 1962 Giáo hội Phật giáo nhận thấy Thiền Lâm tự toạ lạc ở một vị trí có khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, là vùng đắc địa tụ kết khí thiêng, lại thuận tiện giao thông đi lại cho chư tăng, Phật tử thập phương hành hương nên đã lập đồ án xây dựng quy mô Thiền Lâm tự thành Thích Ca Phật Đài. Công trình được khởi công ngày 20/7/1961. Sau hơn 19 tháng xây dựng, ngày 15 tháng 02 năm Quý Mão (1963), Thích Ca phật Đài được khánh thành.
    Kiến trúc – cảnh quan
    Chùa tọa lạc trong khuôn viên rộng khoảng 5ha, bao gồm hai khu vực: phía dưới là Thiền Lâm tự, phía trên là Thích Ca Phật Đài.
    Ngay dưới chân núi Lớn, sát đường đi du khách sẽ thấy một cổng tam quan to lớn với 4 trụ cột vươn lên vững chắc, thanh thoát. Trên cổng có biểu tượng pháp luân, tức bánh xe luân hồi trong pháp lý nhà Phật. Tám chiếc căm xe tượng trưng Trung đạo. Vòng ngoài có bốn núm tiêu biểu cho Tứ Diệu Đế. Trên bốn cột của tam quan là bốn búp sen biểu tượng cho sự trong sạch, tinh khiết, thanh cao của Nhà Phật.
    Qua cổng tam quan, men theo từng bậc đá quanh co trên sườn núi, du khách có thể vừa đi vừa thưởng ngoạn cảnh đẹp hai bên. Một bên vách núi nhẵn nhụi như tường thành, một bên là lũng sâu soải dài ra phía biển. Gần đến đỉnh là một khu rừng thưa ríu rít tiếng chim trong các tán cây.
    Cảnh tượng đầu tiên mà du khách nhìn thấy là toà Bảo tháp. Đây là nơi ghi nhớ và tưởng niệm người đã có công khai sơn tạo tự: nhà sư Giác Pháp tức quan phủ Lê Quang Vinh. Tiếp theo là khu Vườn tượng, ở độ cao 25m. Đây là khu vực của những công trình điêu khắc được xây dựng dựa theo những sự tích cuộc đời Đức Phật Thích Ca, từ khi Người ra đời đến khi nhập cõi Niết Bàn
    * Tượng Đức Phật Đản Sinh: diễn tả một chú bé đứng trên toà sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất. Truyền thuyết kể lại rằng Đức Phật là thái tử con vua ấn Độ được sinh vào năm 623 trước công nguyên. Nay sau khi chào đời thái tử bỗng vùng dậy và bước đi bảy bước, cứ mỗi bước của ngài có một bông sen nở ra đỡ láy bàn chân. Đứng trên bông sen thứ bảy, thái tử chỉ một tay lên trời, một tay xuống đất với ý nghĩa "Thiên thượng thiên ha hạ duy ngã độc tôn" (giữa trời và đất, chỉ mình ta cao nhất)

    * Tượng Cắt Tóc Đi Tu: là hình ảnh một chàng trai dùng kiếm cắt tóc diễn tả sựu tích: Năm 16 tuổi Thái tử lập gia đình và cứ thế cuộc sống trôi đi êm ả làm thái tử nhàm chán, chàng xin phép vua cha cho đi ngao du ngoài cung điện. Qua bốn lần ra khỏi hoàng thành bằng 4 cửa khác nhau, chàng đã chứng kiến 4 cảnh tượng khác nhau. Lần thứ nhất chàng thấy cảnh một đứa bé chào đời. Lần thứ hai là cảnh một bà già lụ khụ đi ăn xin. Lần thứ ba là cảnh một người bệnh và cuối cùng là một đám ma. Từ đó ngài đã biết được bức tranh toàn cảnh về đời sống con người từ lúc sinh ra đến lúc chết đi. Trái với cuộc sống cao sang của cung điện, đời sống của đa số nhân loại ngoài hoành thành đắm chìm trong nỗi cực khổ để tìm kiếm miếng cơm manh áo và chống trả với bệnh tật, đến khi chết đi vẫn là gánh nặng cho người thân. Điều này làm thái tử không khỏi day dứt, boăn khoăn. Chàng muốn tìm một con đường để giải thoát chúng sinh ra khỏi cái vòng lẫn quẩn đầy đau khổ của cuộc đời. Vào một đêm mưa to gió lớn, sau khi nhìn lần cuối người vợ thân yêu và đứa con trai bé bỏng. Thái tử lặng lẽ trốn ra khỏi hoàng cung trên lưng con ngựa Kanthala cùng dẫn theo tên hầu Chana. Đến một khu rừng hoang dã, chàng xuống ngựa dùng kiếm cắt tóc để biểu lộ quyết tâm sắt đá của mình bắt đầu cuộc sống tu hành.
    * Tượng Kim Thân Phật Tổ: là hình ảnh Đức Phật khi tu luyện và đắc đạo. Đức Phật ngự trên Đài hành lễ cao 4,5m. Đài được đúc bằng ximăng hình bát giác. Phía trên là bông sen cao 2m. Phật Thích Ca ngự trên tòa sen cao 5,lm. Tượng Kim Thân được thi công tại chỗ, riêng phần đầu được đặt đúc tại Sài Gòn. Ngày 20/07/1962 khi đem gắn đầu vào tượng, tương truyền lúc ấy nền trời xanh ửng lên một vầng hào quang quanh mặt Phật. Được biết trong pho tượng Kim Thân có tôn trí ba viên ngọc Xá Lợi của Đức Phật.
    * Vườn Lộc Giả: Sau khi thành Phật Thích Ca, Ngài đã truyền bá đạo Phật cho nhân loại. Ngài đến vườn Lộc Giả (lsipatanr) và giảng đạo Phật cho các vị đạo sĩ và đệ tử. Để ghi nhận quá trình này người ta đã dựng ở đây nhà Bát giác, tượng trưng cho Đức Phật chuyển Pháp luân. Bên trong có các nhóm tượng: Phật Thích Ca ngồi trên tòa sen cao l,2m; năm tượng đạo sĩ ngồi vây quanh nghe thuyết pháp, mỗi tượng cao 0,6m. Chung quanh ghi lại những lời dạy của Phật, nêu ra tám con đường cứu thoát cho nhân loại, còn gọi là Bát chánh đạo. Trên đỉnh toà nhà có đúc một ngọn "Đuốc Huệ" với ý nghĩa “Phật quang phổ chiếu”. Dưới "Đuốc Huệ" là 12 nấc "Thập nhi nhân duyên" nói lên 12 căn cơ con người sẽ vường mắc trong cuộc đời trần tục, dưới nữa được xây hình bốn mặt tượng trưng cho "Tứ diệu đế"
    * Tượng voi và khỉ dâng hoa cho đức Phật: Theo sự tích của nhà Phật thì trong số đệ tử của đức Phật có hai vị cao tăng thường hay tranh cãi lẫn nhau dần dần dẫn tới hiềm khích. Sau khi hoà giải không được. Đức Phật bèn bỏ vào rừng. Có lẽ thú vật cũng cảm ứng được giáo pháp của ngài nên hàng ngày voi và khỉ đều đến dâng quả. Sau này hai người ngộ ra được nên hoà thuận trở lại.
    * Tượng Phật Nằm: Quay mặt về hướng Tây trên một bệ ciment cao 4,2m (Phật thân cao 2,4m kề từ vai xuống), dài 12,2m. Phía trước có bốn tượng Tỳ kheo chấp tay cung kính. Phía sau có năm tượng Tỳ kheo ngồi chắp tay hướng về Đức Phật. Tượng diễn tả lúc đức Phật nhập Niết Bàn và các đồ đệ xung quanh. Năm ấy được các đồ đệ của Ngài gọi là năm Phật Lịch thứ nhất tức là năm 544 trước công nguyên
    * Tháp xá lỵ bát giác: Là một toà tháp cao 19m, bên trên có tôn trí 13 viên Xá Lợi Đức Phật, được đựng trong một hộp bằng vàng. Đây là niềm đại hạnh cho các phật tử Việt Nam nói chung và phật tử Vũng Tàu nói riêng. Lối lên Bảo tháp có đắp hình rồng, hai bên có đôi sư tử chầu tượng trưng cho Đại Hùng-Đại Lực. Dưới chân tháp có một thích án để thờ, trên khắc chữ: “Nam mô Bồn sư Thích Ca Mâu Ni Phật” (Hết lòng tôn kính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni). Dưới bốn cạnh chân Bảo tháp đặt bốn cái đỉnh lớn bên trong chứa bốn nắm đất thiêng được thỉnh từ 4 nơi ở Ấn Độ là: Lumbini (nơi Ngài Đản sanh), Buddha Caya Uruvfla (nơi Ngài thành đạo), Isipatana (nơi Ngài truyền đạo) và Kusinara (nơi Ngài nhập Niết Bàn)
    Toàn bộ khuôn viên Thích Ca Phật Đài được thể hiện trên triền núi như nửa vầng trăng, được chia thành ba cấp theo một hình tháp cao dần từ dưới lên. Từ vị trí của Thích Ca Phật Đài, nhìn chung quanh sườn núi lớn, biển hiện ra ở cả 3 phía. Từ đây có thể nhìn thấy mũi Cần Giờ, đảo Long Sơn và tổ hợp dàn khoan dầu khí ngoài khơi xa. Với địa thế thiên nhiên và cảnh quan hùng vĩ, khu vực Thích Ca Phật Đài đã trở thành điểm du lịch - văn hóa nổi tiếng có sức thu hút đông đảo du khách đến tham quan Vũng Tàu.

    8.                                Chùa Dơi - Sóc Trăng

    Nằm cạnh thị xã Sóc Trăng 3 km về phía Nam chùa Dơi theo tiếng Khmer gọi lá Serâytécbômahatúp có nghĩa là Do Phúc Đức Tạo Nên. Chùa Dơi ra đời cách đây gần 400 năm (chùa có tên là Mahatúc, sau nay người dân đọc chạy ra là Mã Tộc).
    Song điều đó cũng không phải là điều đặc biệt gì. Nét độc đáo của chùa này chính là nơi hội tụ hàng ngàn chú dơi. Bao bọc quanh chùa là cả một cánh rừng với đầy đủ các loại cây, song nhiều nhất vẫn là Sao, Dấu, có hàng vạn con Dơi tá túc ở khu vực này. Có những con lớn đến mức xải cánh dài đến cả mét treo đen kịt trên những nhánh cây.
    Khách du lịch đến chùa thích thú là ngắm nhìn dơi bay kín cả bầu trời mỗi khi hoàng hôn. Trong cái tịnh mịt của ngôi chùa cổ giữa rừng, tiếng vỗ cánh của đàn dơi có thể làm những ai yếu bóng vía phải giật mình.
    Cứ đến mùa mưa (tháng 5 – 6) là mùa sinh sản của dơi. Hầu hết dơi ở chùa đẻ mỗi lứa mỗi con song số lượng dơi không hề tăng lên mà có nguy cơ bị tụt giảm bởi rất nhiều người đến đây bằng cách giăng lưới hoặc lồng chụp. Mỗi ngày như thế, đám người nay có thể bắt hàng ngàn con.
    Các vị sư ở đây rất tích cực bảo vệ đám dơi ở đâu bởi họ cho rằng cái sự dơi đổ về chùa là phúc lành nhà phật cho ngôi chùa này.
    Cổng chùa mới được xây lại phía trên có hình tam giác, chạm trổ rất đẹp, trên đỉnh có gắn đuôi rắn cong vút. Giữa đỉnh mái có ngọn tháp nhỏ. Chùa Mã Tộc nếu không kể đến đàn dơi thì cũng tương tự giống như những chùa Khmer khác ở trong vùng: ngôi chánh điện, nhà sala, tăng thất và ngọn tháp.
    Chánh điện dài 15m, rộng 8m có hàng hiên bao quanh, cột cao đở bộ mái hai tầng, 1 chiếc cột cao bằng gạch được trang trí các hoạ tiết khmer rất đơn giản. Bàn thờ Phật được sơn xanh đỏ, bao lam được sơn son tiếp vàng chạm trổ rất công phu.
    Phía trước chính diện chùa Dơi là bảo tháp, đó là bảo tháp của Thạch Cả Lục Chia, người có công trùng tu chùa vào năm 1963. Mái chùa có 3 nếp, ở giữa có một trụ tháp cao, có một vị thần, thần Mahabun, có bốn mặt nhưng ba mặt thấy hình. Một lần truyền thuyết nói rằng: có một vị thần Mahabun đại diện cho Balamôn giáo, Pang nói rằng nếu phật giáo thắng thế thì Pang cắt đầu mình treo lên, và cuối cùng phật giáo đã thắng thế trên nền cũ Bàlamôn, do đó ông ta giữ lời hứa. Tiên nữ Kenna tiếp giáp giữa cột và mái chùa, cô gái có thân hình đẹp, có đôi đôi cánh che đỡ Đức phật. Cổng chính vào chùa có hình đức phật đắc đạo năm 35 tuổi, chung quanh có 5 vị đệ tử đầu tiên đi truyền bá phật pháp. Chung quanh chùa là có những bức tranh minh họa cuộc đời của đức phật.
    Pho tượng Phật Thích Ca đặt ở chính giữa cao hơn 1m. Chung quanh tường có vẻ hình cuộc đời đức Phật. Công trình này do một số khách nước ngoài và phật tử cúng dường để nhà chùa tu sữa lại chính điện.
    Nhà sala theo kiểu hiện đại nền cao 8 bậc. Ở đây có pho tượng tổ Thạch Chia làm bằng xi măng trong giống như người thật, đang ngồi thiền. Chùa còn 3 mẫu ruộng, các tu sĩ tự cày cấy để lo lương thực sinh sống.
    Bên sự độc đáo kỳ lạ kia, du khách cũng thỏa mãn với kiến trúc của một chùa cổ nay trong sự hòa đồng của nền văn hóa Việt – Miên thể hiện ở điêu khắc Ăngco với nhiều phù điêu và hoa văn trên hàng loạt cột trừ nơi chính điện. Nếu có biện pháp tốt để trùng tu và bảo vệ đàn dơi thì ngôi chùa nay chắc chắn trở thành điểm du lịch kỳ thú của Sóc Trăng.

    Vài nét về loài Dơi
    1. Dơi ăn gì và ở đâu:
    Những con dơi mà chúng ta bắt gặp ờ đồng bằng vào lúc hoàng hôn là loài dơi ăn muỗi, còn dơi ở chùa Dơi Sóc Trăng thì thức ăn chủ yếu của chúng là trái cây. Ngoài trái cây chúng còn ăn gì nữa? Những người dân ở đây cho biết họ chỉ bắt gặp chúng cho ăn những trái cây chín, chứ chưa nhìn thấy chúng ăn gì khác. Những chủ vườn cây ăn trái ở Bạc Liêu nói rằng họ chỉ nhìn thấy nhiều dơi ăn trái cây trong nhà mình
    2. Giờ đi ăn và về cùa Dơi:
    Khi bình minh là thời điểm đàn dơi đã có mặt đầy đủ trên các cành cây. Trước lúc mặt trời lặn thì chúng bắt đầu rời khỏi chồi bay đi kiếm ăn. Bao nhiêu năm nay thời gian đi và về của chúng luôn ổn định
    3. Dơi tự điều trị khi bị gãy xương:
    Một con dơi bị thương ở cánh trong lúc đi kiếm ăn. Nó sẽ cố gắn lếch về chòi và sà xuống một gốc cây. Người trông nom sẽ đưa nó vào một cái hộp có lót cỏ, chăm sóc chu đáo. Chỗ bị gãy đầu xương nhô hẳn ra ngoài. Ngoài việc cung cấp hoa quả tươi cho chú dơi bị thương. Dơi bị thương dùng mồn gấp bỏ chỗ đầu xương bị gãy. Người ta không hiểu vì sao chúng lại làm như vậy. Nhưng chỉ ít ngày sao chỗ xương bị gãy tự liền tuy nhiên bên cánh bị thương ngắn hơn cánh bên kia,
    Chuyện sinh sản và chăm sóc con của Dơi mẹ: Dơi cái ở độ tuổi sinh đẻ, một năm chỉ đẻ một lần, mỗi lần một con. Dơi con bú sữa mẹ khoảng chừng hai tháng thì rời mẹ, bước vào cuộc sống độc lập. Dơi vừa lạt lòng đã bấu vào ngực của dơi mẹ, dơi nẹ có hai vú ở bên nách. Khi chúng chuẩn bị bước vào cuộc sống độc lập, dơi con phải tập bay nhiều lần nếu không chúng sẽ bị rơi xuống đất.
    4. Truyền Thuyết Về Loài Dơi
    “Tại sao dơi đậu đưa đầu xuống đất, trổng mông lên trời”. Ngày xửa ngày xưa tất cả muôn thú đều biết nói chuyện với nhau, loài này nói với loài khác. Dơi không giống bất cứ loài nào: nó rất khác thường, có mắt, mũi, tai, răng, cánh lại có lông mao, chim thì không giống chim, thú thì không ra thú cho nên nó không thuộc đồng loại nào.
    Thế là một hôm con dơi cái bị chết vì sinh con do sức khỏe quá yếu. Vì thế trưởng làng gọi tất cả muôn thú đến để đem dơi đi an táng thì tất cả muôn thú đều đổ cho nhau và không một ai mang xác dơi đi chôn. Cuối cùng trưởng làng bảo gia nô mình đi an táng.
    Tất cả dơi con đều nghe thấy hết và nó than trách thượng đế rằng “ông đã tạo ra chúng tôi mà để chúng tôi phải chịu cuộc đời bất hạnh, đến khi chết mà vẫn không có người mang đi an táng” cho nên từ đó trở về sau khi đậu thì dơi trổng mông lên trời để tỏ ý phản kháng thượng đế.
    Cũng có Truyền thuyết khác nói rằng. Ngày xưa khi thượng đế tạo ra muôn loài ông đều cho mỗi loài một thức vũ khí để thích ứng với thiên nhiên; đến ngày thượng đế kêu chúng lại để tăng quà: chim thì được đôi cánh để bay; loài thú thì được đôi vú nhưng vì ham vui chơi nên dơi đến trễ; muôn loài ra về ai cũng bằng lòng với những gì mình có lúc này nghe được điều tin nó đến tìm thựơng đến; thựơng đế ơi! ai cũng có quà còn con thì sao? Lúc này những báo vật ông điều đã cho hết muôn loài chỉ còn duy nhất đôi cánh và cặp vú; lúc này nhận được quà rất mừng và chạy đi; dơi bay lại một đám chim đang chơi xin chơi cùng thì mọi người đồng ý nhưng khi thấy dơi có cặp vú thì đuổi đi; nó là động vật chứ đâu phải chim. Lúc này dơi buồn lắm; nó bay rong ruổi khắp nơi thấy được đàn hươu các bạn cho tui chơi với nha; lúc đầu thì hươu cũng đồng ý; nhưng nhìn thấy dơi có đôi cánh thì: chúng bay ơi nó có cánh đừng chơi với nó, nó có cánh đó; tức mình dơi bay đi tìm thượng để để hòi thì ông nói tại vì ta chỉ còn 2 báo vật đó thì cho người hết rồi, ta không còn món nào đâu. Tức mình với hình dạng của mình; để phản đối thượng đế, khi quay về trần gian lúc nào nghĩ ngơi thì những chú dơi cũng trổng mong lên để tỏ ý trách mắng thượng đế.

    Sự Tích Heo 5 Móng
    Tại sao nơi này có heo 5 móng? Theo những vị sư giải thích thì vào một buổi trưa, cô thiện quét lá đa trong chùa, đang nghĩ ngơi thì nghe tiếng vọng rằng ngày mai có người đến đây tu, sáng hôm sau cô ra ngoài chờ hoài không thấy, lúc ra sau vườn thì thấy một con heo 5 móng cô đuổi hoài nó không đi, sáng hôm sau cô thiện lại nghe tiếng vọng “có vị nhân tu đến đây tu sao nhà ngươi không nhận” thì cô báo lại cho sư phụ thì được giữ lại. Nhưng ở đây có 1 sự trùng hợp ngẫu nhiên, có 1 người sống và lớn lên ở TP.HCM nhưng vì theo chồng nên về Sóc Trăng sinh sống và có một người mẹ, chắc là kiếp trước sống không tốt lắm; nên khi qua đời lâu lắm rồi, thì người con vẫn thờ phụng bình thường, thì tối hôm đó bà báo mộng với con rằng ngày mai ở địa chỉ nọ ở TP.HCM thì họ sẽ làm thịt mẹ, mẹ khác với giới khác rằng mẹ có 5 móng chân, nếu con có thương mẹ thì lên cứu mẹ; thì trong giấc mơ khi tỉnh dậy, người ta nói “nghĩa tử nghĩa tận” cô cũng thử lên TP.HCM thử coi sao. Thì khi đến địa chỉ đó thì đúng thật họ chuẩn bị làm thịt một chú heo để đãi tiệc, thì cô đã mua con heo này vì để trong nhà không được nên cô đã gửi vào chùa.
    Theo thuyết của người Kh’mer: sống ở trên đời nếu như thất đức khi chết không thai đầu thai thành người mà phải đầu thai thành kiếp heo, muốn nhắc nhở ta phải ăn ở hiền lành. Đặc biệt trước đây không có chuồng trại thì buổi sống chúng đi ăn và đi rất trật tự con lớn đi trước; nhỏ đi sau không bao giờ phóng uế bừa bãi, và khi đến giờ tục kinh thì sẽ quay lại chùa.
    Ý nghĩa của truyện muốn nhắc nhở con người phải sống có đức với mọi người, tu tâm dưỡng tánh; đối với những ngưới thân thể không lành lặn thành phải che trở đùm bọc họ đừng bao giờ kì thị họ.
    Sau vườn là 4 ngôi mộ heo 5 móng theo người Khmer thì con heo này là hiện thân của ma quỷ. Vì thế trước đây thì người dân có heo 5 móng ở trong nhà thì họ thả cho nó đi ngoài đường chứ không giết và những con heo này vô tình hay hữu ý đã đi vào chùa và được chùa nuôi tới chi nó chết chứ không ăn thịt. Sau này ở nhà người dân Khmer nào có heo 5 móng thì họ đem vào chùa để gửi chùa nuôi.

    Một truyền thuyết lạ về chùa Dơi

    Chuyện truyền rằng, một đêm nọ của 15 năm trước, bà cụ Khiên - người chuyên quét dọn chùa - nằm mộng được báo rằng ngày mai sẽ có một nữ thí chủ đến quy y tại đây. Sáng ra, vừa quét dọn bà Khiên vừa ngó chừng ra cổng xem ai đến. Đến trưa người đâu chẳng thấy, chỉ thấy một heo cái 5 móng đang im lìm ngủ phía sau chùa, lay không dậy, đuổi không đi. Nhớ lại giấc mộng, bà Khiên sực tỉnh mau mau chuẩn bị chỗ cho heo.
    Theo nhiều người quanh chùa, "lão bà" 5 móng này mỗi ngày chỉ ăn một bữa đúng vào giờ ngọ. Heo lớn nhanh, nặng khoảng 400 kg. Sự hiện diện của heo 5 móng đã bùng thổi nhiều lời đồn đoán và một số người không dám gọi heo nữa mà thay vào đó là "cô Năm Hợi". Kể từ đây, xung quanh chùa nhà ai có heo 5 móng là cứ gửi đến nhập hội với "cô Năm Hợi". Cụ Thạch Thị Mao - người thay công việc cụ Khiên sau này - kể, khi còn sống "cô Năm Hợi" thường dẫn nguyên "đoàn anh chị em đồng liêu" vào thị xã để... dạo phố. "Đoàn" đi rất trật tự và đến giờ nhà chùa sắp tụng kinh thì quay về, ngày nào cũng vậy, bất kể mưa nắng.
    Lời cụ Mao chính xác cỡ nào thì chưa rõ song việc đàn heo 5 móng từ chùa đi hơn 3 cây số vào trung tâm thị xã không lạc thì rất nhiều người dân Sóc Trăng đã nhìn thấy. Chính những biểu hiện kỳ lạ này mà khi "cô Năm Hợi" chết, nhiều người đã đến cúng vái, nhà chùa đã cho khâm liệm và chôn phía hậu liêu. Anh Long nhà gần chùa cho biết, sự đồn thổi về "cô Năm Hợi" đã kéo nhiều tay chơi đề đêm đêm vào mộ khấn xin số. Trúng trật chẳng rõ.Điều kỳ thú nữa là "cô Năm Hợi" có mộ chí đàng hoàng và sau đó có đến 3 bậc hậu duệ "5 móng" khác cũng an giấc nghìn thu trong những ngôi mộ khá đẹp. Những người đứng ra xây mộ đều đến từ TP HCM. Bà Nguyễn Thị Tiếp ở quận 10 đã xây mộ cho "cô Năm Hợi" với số tiền 500.000 đồng từ hàng chục năm trước đây.
    Thượng tọa Kim Rêne, trụ trì chùa cho biết, xung quanh 4 ngôi mộ này còn có hơn chục mộ của những "cô, chú 5 móng" khác được chôn cất đàng hoàng chỉ có điều là không xây nấm mộ mà thôi. Nhà chùa hiện giờ có 5 "cô, chú 5 móng" khi nào chết sẽ được chôn tại đây.
    Không chỉ vì khung cảnh cổ kính, trang nghiêm của lối kiến trúc, của những tán cây cổ thụ mà ẩn đằng sau mỗi một ngôi chùa ở Sóc Trăng lại có không biết bao nhiêu chuyện lạ khiến nhiều du khách khám phá một cách thú vị.

    9.                                Chùa Phổ Quang Cổ Tự

    Vị trí
    Phổ Quang Cổ Tự, là một ngôi chùa cổ toạ lạc tại ấp Bình Thạnh, xã Bình Hoà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
    Lịch sử
    Chùa do Tổ đạo Tấn Thượng Trí Hạ Kim đời 36 lập nên vào năm 1657. Lúc đầu, chùa lợp bằng tranh tre, vách lá đơn sơ. Trải qua bao thế kỷ, Phổ Quang Cổ Tự, đã chứng kiến bao thăng trầm biến cố của lịch sử. Nhiều lần chùa bị bom đạn phá huỷ và được xây dựng lại. Ngày nay, tuy đã được trùng tu và sửa chữa, chùa vẫn giữ được dáng vẻ cổ xưa.
    Kiến trúc – cảnh quan
    Chùa nằm trên ngọn đồi cao 20m, trong một khuôn viên rộng khoảng 1ha, quay mặt về hướng Tây Bắc, mang phong cách kiến trúc kiều chùa chiền Huế. Chánh điện
    , gồm 24 cột gỗ được ốp liễn đối và chạm trỗ lộng lẫy. Các công trình khác như Tiền điện, Giảng đường, Hậu tổ đều được trang trí đẹp mắt. Trong chùa, còn lưu một bức hoành phi của vua Minh Mạng, cùng nhiều tượng Phật cổ như: tượng Di Đà, tượng Thập điện Minh Vương, tượng Quan Âm, tượng Di Lặc, tượng Hộ Pháp, tượng Tiêu Diện.
    Hoạt động
    Trong chiến tranh, chùa từng là cơ sở cách mạng. Ngày nay, chùa là một địa chỉ từ thiện trong vùng. Hằng năm, chùa tổ chức lễ trọng vào các ngày rằm tháng Giêng, rằm tháng Mười, lễ Vu lan, lễ Phật đản. Vào những ngày này, khách thập phương đến viếng chùa đông vô kể.
    Những ngày thường, Phổ Quang Cổ Tự, cũng là nơi được đông người lui tới. Người ta đến đây, không chỉ vì chùa là một thắng cảnh đẹp, một nơi thanh tu đắc đạo mà còn bởi những truyền thuyết ly kỳ được truyền tụng bấy lâu nay.
    Truyền thuyết
    Ở một hòn đá lớn cạnh chùa, có một vết chân rất to. Người ta gọi là vết chân tiên. Tuyên truyền, những ai hiếm muộn, đến đây ướm chân vào thì sẽ có con. Một truyền thuyết khác, là dưới giếng nước trong chùa có cặp lươn trắng tiết nước ra giếng làm cho giếng rất thiêng. Mỗi khi trẻ con bị bệnh, múc nước giếng này uống, thì sẽ khỏi. Khi dân làng đem chôn người chết lên ngọn đồi gần giếng, thì giếng sẽ cạn nước.

    10.                           Chùa Tây Tạng- Bình Dương

    Thật không ngoa chút nào, khi tạp chí Chùa cổ Bình Dương cho rằng, chùa Tây Tạng là "dấu ấn đầu tiên của Mật tông”.
    Muốn khám phá sự kiện quan trọng này, chúng ta hãy dở lại từng trang, cho dù là khái quát, cái mà các vị Phật tử của chùa yêu kính gọi là Nhật ký Sư ông, mà sau này, trong phần biên tập lại, các đệ tử của Ngài, sư ông - Hòa thượng Nhẫn Tế - đã ghi lại trong một cuộc du hành gian truân của mình về với tạng cội nguồn của Pháp: Sự tích tây du Phật quốc. Ta cũng có thể tìm thấy hành tích này trong Sơ thảo Phật giáo Bình Dương của T. Huệ Thông. Tuy nhiên, các mẫu chứng cứ rời rạc và không nhất quán trong tác phẩm biên khảo ấy, chỉ cho ta biết những nét đặc trưng của công cuộc đấu tranh trong thời kỳ đen tối của đất nước và một ít phát triển đơn điệu của các ngôi chùa ở đây.
    Cổng Chùa Tây Tạng-Bình Dương
    Lịch sử phát triển của một dân tộc, không chỉ là các cuộc xung đột giữa thiện và ác, giữa nô lệ và giải phóng, mà nó còn phải chuyển tải cho được hệ thống phát triển văn minh của mình như thế nào trong lòng cuộc đấu tranh như vậy, nếu ta cho rằng, Phật giáo là cốt tủy văn hóa không thể thiếu, nói chung, của nhân loại, nói riêng, ở chính Việt Nam. Tuy nhiên, công phu của tác phẩm biên khảo này vẫn đáng trân trọng. Lịch sử không chỉ là những con số thống kê, dù chỉ là thống kê sơ thảo, mà nó còn liên quan đến các lãnh vực xã hội, văn hóa, kinh tế và giáo dục, phong tục học..., nhất là, trong đó có vai trò tất yếu của Phật giáo.
    Sư ông thế danh Nguyễn Văn Tạo, tên thường gọi là ông Mười Tạo, sanh năm 1888, ở thôn An Thạnh (bây giờ là thị trấn Lái Thiêu, huyện Thuận An), tỉnh Bình Dương. Sư là bậc am tường Đông và Tây học, và là công chức của ngành y tế. Sư “đam mê” Phật giáo từ năm 16 tuổi, sau đó xuất gia với Hòa thượng Ấn Thành-Từ Thiện, chùa Thiên Tôn với pháp danh Chơn Phổ-Nhẫn Tế, thuộc về cây phả hệ của giòng thiền Lâm Tế đời thứ 40. Sở dĩ sư có thêm pháp danh Minh Tịnh là do cầu pháp học đạo với tổ Huệ Đăng và thụ giới với Hòa thượng Ngộ Định-Từ Phong. (Theo Sơ thảo Phật giáo Bình Dương, gọi tắt là ST). Thuận theo hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ thời bấy giờ, sư ông từng đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Hội Phật giáo cứu quốc Thủ Dầu Một do mặt trận Việt Minh hướng dẫn, và theo ST, thì Hội ra mắt tại chùa Hội Khánh vào ngày 23-3-1945 dưới sự chứng nhận của bác sĩ Trần Công Vị, Chủ tịch Ủy ban Hành chánh của tỉnh Thủ Dầu Một thời bấy giờ.
    HT Thích Nhẫn Tế
    Theo tôn giả Thế Thân, sự tồn tại của Phật giáo được cấu thành trên “đôi chân” của Giáo và Hành. Giáo, tức là những công trình tư duy, nghiên cứu, xiển dương... những gì vốn được bẩm thụ từ Phật dạy, và Hành, tức là sự nghiêm chứng của tự thân, trên cơ sở truyền thừa. Cả hai, là toàn khối văn minh xuất thế của Phật giáo và nhờ đó mà Thế pháp được tồn tại, nói cách khác, sự thanh bình của thế gian, luôn sở y trên khối thống nhất vi diệu ấy. Thế là chúng ta có một cuộc xuất dương của một trong những hành giả mộ Phật vào những ngày giữa đầu thế kỷ thứ 20. ST cho biết rằng, sư ông là một trong những vị đầu tiên mang Xá lợi của Phật về Việt Nam và được nghiêm thờ đến giờ tại chùa Thiên Thai, Bà Rịa, Vũng Tàu.
    Lên đường
    Nhật ký sư ông (gọi tắt là NK), cho ta biết là, công việc xuất dương của sư được hoàn tất hơn 15 ngày với bao thủ tục phiền hà của một đất nước bị trị - chế độ mật thám và “lý lịch chánh trị” - đúng vào ngày 17-4-1935, sư lên tàu trực hướng Ấn Độ, khoảng 5 giờ chiều cùng ngày, sau khi lễ Phật và tạm biệt thân bằng đạo hữu. Sư cho biết là, mình xin Phật để lại pháp phục "theo tục lệ nước nhà mà đi. Qua đến Tây Thiên sẽ tùy cơ ứng biến. Đó là đề phòng ngoại đạo, e biết pháp phục mà sinh khó”. Và, "mới một lần thứ nhất có cái hạnh phúc này, vì sao lại không vui, mà lại có sắc buồn bã là cớ sao?” (NK. tr.4).
    Tàu nhổ neo, bỏ Sài Gòn lại, chỉ còn sóng nước chập chùng, trùng dương viễn mộng. Bấy giờ là những ngày trăng tỏ, tháng ba Âm lịch, biển cả tịnh êm và như thế ta được hai khổ thơ tuyệt diệu như sau:
    Cửa sổ ngựa qua, đời mấy lát,
    Lỗ-bô tàu chạy cảnh thay liền.
    Hỏi thăm giả thiệt, cùng Hoàn vũ,
    Giấc mộng trả lời, dứt đảo điên

    Và,
    Gió êm, biển lặng bóng trăng lồng,
    Đáy nước, bầu trời, một Hóa công,
    Đuốc nguyệt, đèn soi trên dưới tỏ,
    Thiên, Long hội yến tiễn bần tăng.
    Thế đó, 8 ngày đã đi qua, 8 ngày trên đại dương mênh mông ảo hóa, bậc hành giả của chúng ta đã cảm nghiệm được "chân như" trong huyễn tượng, "thường tại" trong "cửa sổ ngựa qua, đời mấy lát", và rồi, tàu cũng thả neo khi đến tận bờ bên kia, nơi mà đức Phật hiện thân, đứa con của Bát nhã - Ấn Độ, Tây Thiên Trúc.

    Thế đó, du khách của chúng ta, trong 8 ngày, tự mình tham học tiếng Anh, tiếng người Nam Ấn, tức là tiếng Tamil, tham quan cảnh trí Singapore và nơi đây, ta lại một lần nữa, được lắng mình trong vài khổ thơ trầm mặc:


    Không kim, không cổ, vẫn quen nhau,
    Cảnh huyễn, mài bôi, ngũ thể màu,
    Mắt huệ toàn xem, nào có lạ,
    Nơi mô cũng gặp, ngảnh là sao?
    Là sao bỉ thử, buổi hôm nay?
    Ngũ dục tranh mồi, quên lửng ai;
    Nhượng hết cho đời, tay rũ sạch,
    Xin đừng chia rẽ, nói là hai.


    Rạng sáng ngày 25-4, tàu vào cảng Madras và hành giả lưu lại đây ba ngày, có khi thì cải trang thành đạo sĩ Bà La Môn, có khi thì cải dạng là đạo sĩ Hindu, nhờ vậy mà Ngài “xông pha” với họ một cách dễ dàng, “người bốn thổ [hay bốn châu thiên hạ], không lạ mắt như cái áo tràng”. (NK, tr.23). Bởi vì, ở đây, tuy người ta không sùng Phật, nhưng vẫn nể trọng kẻ xuất gia.
    8 giờ sáng, tàu hỏa rú còi rời Madras hướng đến Xá Vệ Quốc (Calcutta) và rạng sáng ngày 30-4 thì tàu đã đến nơi đây. Sau đó, khoảng 3 giờ chiều, hành giả làm thủ tục đi về Bénarés (Ba La Nại) bằng vốn liếng tiếng Bắc Ấn có được suốt ba ngày trên tàu hỏa, vì đôi chút tiếng Tamil đã học không sử dụng được nơi đây.
    Thủ bút của HT Thích Nhẫn Tế
    Nhập thành Ba La Nại
    Hướng về thành Ba La Nại, nơi mà giáo pháp đầu tiên vận chuyển và cũng là nơi mà năm anh em ông Kiều Trần Như đắc thánh quả. Nhật ký ghi rằng “mang gói ra đi, phú mặc cơ duyên, bần tăng chỉ vững lòng niệm Phật đi tới”. Chất văn bắt đầu từ tr.29 - tr.36 toát lên sự an ổn lạ kỳ, tuy đã vào nơi thánh địa, tuy gặp toàn ngoại đạo, nhưng lòng lữ khách vẫn không phân biệt, luôn kính ngưỡng, vẫn hướng lên phía trước cho đến khi nào chạm mặt Phật tích thì thôi. Suốt đêm thao thức nơi thành Ba La Nại, hành giả bỗng nhiên uất nghẹn, bao nhiêu tập khí muộn phiền ngàn xưa, bỗng đâu trút sạch và nghe trong hư không như có tiếng hộ trì.
    Vậy đó, hành giả đã lưu lại tại chùa ngoại đạo ngót cả hai tuần với tâm niệm “phép làm người tu hành trong đạo Phật, sở dĩ là tùy thuận, nhẫn nhục, là cái bài học cần yếu của nhà Thích tử”. Và ngày 31-4, bước chân hành giả đã nhập thành, tính ra trọn nửa tháng ròng mới thỏa ước mơ. "Có lẽ chí nguyện đạt thành từ đây”. (NK tr.34). Mãi đến ngày 14-5 "nghe nói có chùa Phật cách xa thành Xá Vệ tám ngàn cây số, xin cho người dẫn đi viếng chùa Phật”; và rồi "thẳng vào chánh điện thấy tượng Như Lai, phút chốc động lòng, sa nước mắt, vì từ 17 tháng Tư tới nay không đặng lễ bái thánh tượng”. Thì ra đây là chùa của hội Mahâ-Bodhi (Đại Bồ Đề) của Tích Lan, hội chúng đó đến đây để chấn hưng Phật giáo.
    Sáng hôm sau đó, hành giả chúng ta từ giã nhà thờ đạo Hindu, "quảy gói đi bộ tầm Tăng-già mà vào, phút gặp hai vị Sa-di Xiêm đạo hiệu là Mêta và Karnna,” (NK, tr.53) sau khi ra mắt nhau, nhờ huynh Mêta biết đôi chút tiếng Pháp, nên chuyện vãn, hành giả mới biết chỗ mình vừa đến chính là Lộc-giả-viên (Sarnath) và như thế là, sư ông xin gia nhập hội. Ở đây, hành giả an lòng học tiếng Anh và tiếng Hindi vừa đủ giao tiếp phổ thông với những đạo huynh cùng hội. Và cho đến tháng 11-1935, sư ông mới chính thức xin đến cội bồ đề, nơi Đức Thích Ca tọa thiền để lễ bái cúng dường.
    Giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 11-1935, NK không cho ta biết sư đã làm gì, nhưng ta cũng đoán ra rằng, đây là khoảng thời gian mà sư ông, bậc hành giả của chúng ta, buộc phải học bản ngữ Ấn Độ và nhất là tiếng Anh, sự kiện này, chính những lá thơ sau đó mà sư đã viết cho tòa Lãnh sự Anh v.v... và thời gian còn lại, là những thời gian, ta biết chắc rằng, sư ông dành hết cho tọa thiền và quán tưởng các chủng tự Phật, như các tiểu đoạn của tr.51-53 đã ghi, khi sư quán chữ (अ) hay là quán "mặt nhật ởmi gian của Phật tổ”, "chập lâu có đến 10 phút, tôi mới lấy mắt nhìn dòm người nơi mé sông, thì sắc diện ai cũng đặng màu kim sắc. Tôi toại nguyện bình đẳng quán”. (NK, tr.52).
    Kỷ vật của HT Nhẫn Tế từ Tây Tạng
    Đoạn nhật ký này dạy ta biết rằng, “Đại và Tiểu thừa” không có một ranh giới nào cả trong lòng của sư. Bởi vì, khi vào vườn Lộc Giả, chính sư đã xin gia nhập hội của chư sư người Tích Lan, tức là các vị Phật giáo Nguyên Thủy. Vấn đề ở đây, là “đứa con chung của một đấng cha lành - Đức Phật” và, người cha nào lại không muốn con mình “thành Phật” bao giờ. Sự kiện này cho ta biết rằng, với lòng thiết tha cầu Phật, với nơi nào có tháp tích, điện thờ Phật Đà, thì nơi đó luôn là Phật địa, luôn là bình đẳng địa, như phép quán mà sư ông từng thực hiện, cho những ai cầu pháp, và ta đã có một sư ông như vậy.

    Một sự kiện thật là quan trọng diễn ra trong khoảng thời gian đầu tháng Giêng năm 1936 (15 / janvier / 1936), là sư đã được tháp tùng cùng các vị Lama đi Népal để lễ Thánh tháp. Phái đoàn hành hương gồm có: sư (người Việt Nam), tì-kheo Phạm Ngộ người Hoa và, Losang Lama, Losang Kompo, Kolchch Tâmpa (ba vị sư Tây Tạng). Sau khi vuợt qua hàng ngàn cây số, đoàn hành hương cũng đã đến Tuyết Sơn, tức thắng địa Népal, lúc đó khoảng 4 giờ sáng, ngày 2-2-1936, tức ngày mùng 10-1-Bính Tý.
    Ta nói sự kiện này quan trọng, là vì, chuyến đi ấy, sẽ mở ra một nhân duyên cho việc tấn nhập Tây Tạng của sư mà mục đích duy nhất là: nếm tận nguồn pháp vị như vậy của cả hai pháp tu mà hành giả của chúng ta vốn đã thực hành, như ta biết, đó là: sư thực hành cả hai pháp tu, Thiền Mật như trong những trang nhật ký đã cho biết. Sự kiện này cũng nói lên rằng, lịch sử cụ thể của Thiền và Mật, trên dòng chảy của Phật giáo Việt Nam, nói chung, sư là vị được trực tiếp truyền trao, bởi vì, đúng như ST cho biết: “Ông nghiên cứu Phật giáo từ năm 16 tuổi, sau đó xuất gia với hòa thượng Ấn Thành-Từ Thiện, chùa Thiên Tôn với pháp danh Chơn Phổ-Nhẫn Tế, thuộc về dòng Lâm Tế đời thứ 40” và cũng đúng như bài viết của TS.
    Trần Hồng Liên, “Chùa Tây Tạng - dấu ấn Phật giáo Mật tông Tây Tạng” đăng trong tập san Khoa học Lịch sử Bình Dương, số 1, tháng 12-2005, và bài viết này được phát triển thành một tiểu luận, với tiêu đề: "Chùa Tây Tạng, Bình Dương: ngôi chùa duy nhất ở Nam bộ mang dấu ấn Mật tông Tây Tạng” đăng trong tập san Chùa cổ Bình Dương và đây là những gì mà ta đang đeo đuổi.
    Tuy nhiên, tại nhiều nơi trong NK, cho phép ta tuyên bố rằng, sư còn là một hành nhân Niệm Phật nữa. Chúng ta nên nhớ, giáo pháp dù là giáo pháp gì được Phật thuyết ra, chính là Sắc, bởi vì nó là phương tiện và cũng bởi vì, nó được thuyết ra cho ba cõi. Và, chính Đức Phật đã nhập Niết bàn trên sắc pháp này, tức là cảnh giới của Thiền thứ tư vậy. Do đó, trên cơ sở như thế, Đại thừa kiến lập học thuyết “Tam Thân”, là vì ngoài sắc, thì chúng sinh trong ba cõi biết dựa vào đâu - chúng ta có Bồ tát hạnh. Nghĩa rằng, cho dù “Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật”, thì “trực chỉ” vẫn phải luôn là Sắc trong mọi trường hợp, còn “kiến tính” thì hãy để cho hành nhân tự nghiệm bằng chính Phật tâm của mình.
    Theo chỗ tôi biết, chùa Tây Tạng, mỗi tháng vẫn hai ngày tổ chức lễ sám, mỗi chiều về viếng chùa, Phật tử luôn nghe chư sư tụng niệm Di Đà, Phổ Môn. Bởi vì, chúng ta, đôi khi đọc NK sư ông bằng cái tâm lạm phát (inflationary-mind) của mình nhiều hơn, cái mà thuật ngữ Phật giáo gọi là “ngã mạn - adhimàna”, cho nên ta làm sao mà hiểu được hành tích của sư ông, thế thì, có cái gọi là “tông môn”, “giáo phái” mới có cơ hội xuất sinh theo lẽ thường tình. Nói theo Duy thức, mọi thứ cưỡng danh, cũng chỉ là “danh ngôn tập khí - adhivacàna” mà thôi. Cái “phần mềm” của bất cứ giáo pháp nào, thì phải do ta tự nghiệm.
    Trở lại, 4 giờ sáng ngày 3-2-1936, đoàn đã đến chân núi Hy Mã Lạp Sơn, thuộc nước Népal, họ đã viếng thăm tháp "Sư tử, tẩy uế và lễ Phật, nhiễu tháp”. (NK, tr.60). Sau đó, bằng mọi phương tiện, trải qua 6 ngày gian khó, đoàn đã trực nhập Népal. Và ở đây, nơi tháp Bouddha-Narth, sư đã thỉnh đặng một số Xá lợi Phật, hiện đang trang nghiêm tại chùa Thiên Thai, Bà Rịa, Vũng Tàu, và một ít cũng đang được phụng kính nơi chùa Tây Tạng. NK ghi rằng: "Đó là bình Xá-lợi của Phật Thích-Ca, thầy mà lễ đặng món ấy cũng như chơn Phật thân...
    Nghe qua, bần tăng chưng hửng. Chập lâu, bèn thưa: nghe rằng, xưa kia Xá-lợi đã phân từ bửu bình, chia mỗi tháp một bình, mà đây sao lại nhiều bình? Ngài [thượng tọa quản tháp] rằng: phải, nhưng duyên cớ ấy có lẽ ông cũng hiểu, vì ông là Thích tử, lựa hỏi tôi làm chi? Bần tăng chắp tay bạch rằng: ở An Nam qua tới xứ này là thiên sơn vạn hải, thì có đâu đặng rõ biết duyên cớ ấy, xin Ngài hoan hỷ.
    Đoạn Ngài dẫn tích: xưa thì Xá-lợi Phật tổ ở tại tháp Niết-Bàn (Cu-thi-na-quốc), lúc binh Ăng-lê náo loạn, thì tổ sư bèn dời qua nước Niếp-ba-lê, thờ tại Sư-tử tháp này. Từ khi ngoại đạo thạnh hành, Phật đạo đã qua [bước sang] thời kỳ mạt pháp. Ông qua tới Thiên Trúc, ông có thấy những tháp tự tiêu tan hư sập chăng?... Bần tăng về cả ngày buồn bã, bữa ngọ biếng ăn. Cái tham tâm đã dậy động và nghĩ rằng, "Mình đi, mình thấy, mình đặng lễ bái, mà ngặt một điều là: thương thầy bổn sư [y chỉ sư], tuổi đã cao mà công cũng cao trong nền đạo hạnh, nhưng không đặng thấy và lễ bái.
    Trọn ngày đêm van vái vọng tưởng đức Như Lai, xin thương Nam-Việt chư Thích tử và chúng sinh xui sao cho đệ tử cầu đặng chút phần Xá-lợi đem về nước Nam (đó là cái tham tâm nó lộ là vậy: đã lễ bái được rồi muốn thấy, thấy rồi lại muốn cho đặng đem về xứ mà chia phước với chư Tăng và bá tánh)... vì Ngài cũng rõ, Xá-lợi là vật báu nhà Phật đạo, sáu đời hằng giữ chỗ này, chưa có ai đặng hồng phúc ấy... Thôi thôi, vì đạo đức của thầy, vì công đức khổ hạnh của thầy, vì chúng sinh, dầu tôi có bị khổ sau khi dâng cho thầy chút đỉnh Xá-lợi, thì tôi cũng cam tâm.
    Ôi! nghe qua dường như bệnh hấp hối mà gặp thuốc hồi dương, nên lễ nữa, ngài đỡ dậy và nắm tay kéo thẳng vào đại điện, lấy chìa khóa mở cửa tháp, vào vọng bái, quỳ lại, rồi đứng dậy, nói rằng: nhơn duyên bao nhiêu thì đặng bấy nhiêu, tôi không biết. Nói rồi, bưng bửu bình xuống, bảo bần tăng lấy một cái khăn vải vàng của bổn đạo cúng trên điện, để lên đầu, trải ra, ngài trút cả bình lên khăn, thì nghe có chút ít rớt vào khăn. Dở bình lên, bần tăng bèn túm lấy khăn, rồi lễ bái đi ra. Ngài căn dặn, cẩn thận, rồi ngài đưa ra cửa. Bần đạo kiếu luôn... lòng mừng khấp khởi”. (NK, tr.68-69).

    Qua đây, ta thấy rằng, mục đích Tây du của sư không chỉ vì sự ham muốn của cá nhân mình, mà chuyến hành hương ấy, còn mang theo cả tâm nguyện của mình cho toàn dân tộc Việt, cho hạnh phúc của chư Tăng và bá tánh nữa. Một lần nữa, ta học nơi đây, hạnh nguyện của một chúng sinh có tuệ giác. Do vậy, khi bước vào cổng của chùa Tây Tạng, ta bắt gặp ngay hai câu kệ khắc trên hai trụ đá của chùa:
    Ngọc thật của trời độc diệu từ Tây lại
    Chánh hương của đất chứa linh thiêng do Tạng sinh.
    TS. Trần Hồng Liên, cho rằng, “thiên chơn bửu” nhắm vào hai chùa Thiên Chơn và Bửu Hương (các ngôi chùa do sư kiến lập hoặc trùng tân) và “Tây” thì cho là Tây Tạng. Tất nhiên, để chứng minh cho bài viết của mình, ở góc độ lịch sử, nên ST đã quy như vậy, và đây cũng là một mẫu chứng cứ phổ biến, hợp lý (tiếc rằng, trong tiểu luận tạp san Chùa Cổ Bình Dương chữ 靈đ viế lộ thành 零. Nguyên văn làhàm linh [含靈],chỉ cho chúng sinh có tình thức).
    Tuy nhiên, 天真寶, còn có nghĩa là ngọc Như ý (maniratna), bản chất trong sáng đặc thù và 藏出, có nghĩa làxuất từ Như Lai Tạng hay gọi là xuất từ chủng tính Như Lai, cũng có nghĩa là, ‘pháp giới Tạng thân, gọi là A Di Đà Phật”, chớ không phải là bọn dị sinh hay prthak; còn “正香- chánh hương”, có nghĩa là: Định hương, Tuệ hương và Giới hương, ba yếu pháp làm nên đời sống xuất thế của Phật giáo và, 地, chỉ cho ThậpĐịa (dasabhùmi) của Bồ tát đạo; hàm linh (含靈), chỉ cho tính phương tiện Sắc châubiến hay phổ quát từ Phật tính; Tây (西) và Tạng (藏) ghép lạ, chỉcho chùa Tây Tạgtrong cách uyên thâm Nho họ củ sư Tóm lạ, hai câu trên, theo thiể ý có nghĩ la "ai cũg có thểtu thành Phậ cảvì sinh ra từTạng Như lai, nhưng pháp môn thù thắng nhất, phải là từTây lại".
    Tấ cả những điều đó sẽ có thể nên lý giải như thế nếu xét trên quan điểm triết học của Đại thừa. Song, trí phàm làm sao dõi được hành tướng củ bậc “vô vịc chân nhân” Thế nhưng, có một điều chắc chắn rằng, hạnh của sư phải là hạnh “vô công dụng hạnh”mới đúng, tức là thanh tịnh hạnh, hạnh không tư lợi, như ta bắt gặp bất cứ nơi đâu, trong toàn NK.
    Nếu chúng ta viếng chùa, trước khi vào chánh điện lễ Phật, ta sẽ gặp trước tiên là một cái tháp khiêm tốn có bốn tầng, tầng đầu có khắca họ hình của sư tầng kế là câu "từ Lâm tế pháp nhãn gia phong, húy như đi Pháp Minh, diệu vân yết ma vị?, viết bằng Hán tự tầng ba là bài chú “Om manipadme Hùmॐ?ण?प?्?ेह?ं- Om trong hoasen là ngọ Như ý Hùm”viết bằng tiếng Tây Tạng và tầng trên cùng là lục tự "Nam mô A Di Đà Phật” bằng Hán tự Tháp này do Hòa thượng Tịch Chiếu, tổ thứ nhì của chùa thực hiện. Đặc trưng cấu trúc của tháp này cho ta biết theo “tư kiến”là, sư không xiển dương, hay chủ trương bất cứ giáo pháp nào, cho dù, sư là mộ Lama đắc pháp chánh truyền từTây Tạng.
    Trở lại, vào ngày 7-2, đoàn khởi hành về Bồ Đề Đạo Tràng, ghé viếng đại học Nalanda, hồi tưởng đại sưHuyền Tránng khi xưa có lần ở đâ y học đạo, lễ bái thạch tòa đạo tràng, nơi Phật dừng chân khai hóa. Đàn trú nơi đây suốt ba tháng và thực hiện mọi công hạnh của một Thích tử như công quả cúng dường, chiêm bái khắp các thánh tích. Và rồi, sư xin phép Hội Đại Bồ Đề đi Tây Tạng.

    Nhập Lahsa, kinh đô Tây Tạng

    Đã vào thành Lahsa rồi, mãi đến 3-7-1936, sư mới được yết kiến và hành lễ với quan nhiếp chánh với tư cách là Quốc vương Bơdalama (tức là quan nhiếp chính của vương quốc Tây Tạng thời bấy giờ, bởi vì đức Dalai Lama, người kế vị chánh thức mới chừng 5 tuổi mà thôi), lúc bấy giờ Quốc vương (quan nhiếp chính) chỉ 27 tuổi. NK ghi rằng: “ Bữa điểm tâm cải salade chấm muối, không có giấm mà trộn salade. Đoạn 9 giờ, quan thừa tướng cho người lại bảo, giờ này đi đảnh lễ Quốc vương Bơdalama đặng; Bảo rằng: bần đạo phải đắp y bí-sô, chớ không nên bận đồ Tây Tạng đi yết kiến Quốc vương.
    Y theo lời dạy, rồi cùng huynh đệ của Samdhen, bốn người khuân lễ vật... Lén ngó, thấy Đại đức Bơda Lama Quốc vương (tuổi) tác còn thơ (hỏi lại thì mới 27 tuổi, thế ngôi Tả-lê lama Quốc vương tịch, đặng bốn năm), mặt mày sáng láng, ngồi nơi long đơn trải gấm Tây Tạng. Nội bọn, chỉ bần đạo đắp y vàng rực từ trên sấp dưới, làm cho Quốc vương chăm chỉ ngó ngay, các quan nội điện đều để mắt. Đoạn Samdhen đảnh lễ, bần đạo y theo, rồi Samdhen đem Anh-lạc long tợ dưng... các quan hầu mời bần đạo ngồi nơi đơn cao... Đến nay đi ra mắt Quốc vương thì thừa tướng đã tâu trước, lại đi với bọn tôi, đi con đường đến ngự điện, ai ai thấy cũng biết, nào ai dám nói.
    Lại thêm lúc về tuy nội bọn đi không có Lama quan dẫn đường, nhưng nhân dân quan lại xem thấy cái niệt điều trên cổ [tức là khúc vải vàng quấn cổ vua ban] cũng đủ biết ở trong ngự điện, hoàng thiền mà ra. Bần đạo nghe qua, niệm Phật và cảm oai linh Phật lực ủng hộ làm cho bần đạo an ổn các nơi vô chướng ngại”.
    Từ thời điểm này, sư chánh thức là một vị tu sĩ Tây Tạng, cho đến khi sư đắc thiền pháp và được Pháp danh là: Thubten Osall Lama (có nghĩa: Thubten là tên đức Tả-lê Lama Thái thượng hoàng đã băng hà. Thubten là vòng cứng bền chắc kim cương. Còn chữ Osall là: ánh sáng mặt trời, tên của đương kim quốc vương Lama, nên bần đạo biết là: Huệ nhật. (NK, tr.319-320) và pháp danh này được loan báo khắp nơi.
    Ngày 30-6-1937, lúc “ 7 giờ sáng sư về Sài Gòn, về tới am 11 giờ trưa”. (NK, tr.406). Đúng ra, sư còn phải ở Tây Tạng một thời gian nữa, nhưng, theo NK, các sư Tây Tang cho biết là đất nước mình sẽ trải qua binh biến, nên sư không thể lưu lại được. Ta thấy, “pháp nạn” của Tây Tạng, vốn đã được người Tây Tạng biết trước rồi. Và đây cũng là vấn đề lịch sử, xét trên thánh trí của các Lama.
    Theo NK, ta có thể chia ra làm hai phần: từ tr.13-tr.186, là quá trình chiêm bái Phật tích ở Tây Trúc và, từ yt.192-tr.317, là quá trình tu học tại Tây Tạng. Nghĩa rằng, sư đã thật sự “hóa thân” làm một Lama Tây Tạng với mọi công hạnh đặc thù của một Lama - học Tạng văn, thiền định, quán tưởng Tứ niệm xứ theo cách riêng của Phật giáo Tây Tạng, trì chú và các phương pháp Yoga mang tính vật lý đặc thù (của Tây Tạng)... - cho đến khi đắc pháp và thọ pháp danh.
    Với lối văn bình dị, khoa học và giàu lòng bi, NK dẫn ta đi vào chi tiết của lịch sử Phật tích ở Ấn Độ, các tập quán cũng như các phương thức tu hành Phật giáo cũng như của các ngoại đạo, lồng trong đó là các quan điểm trung thực và thắm đượm tình cảm của sư.
    Và rồi, bản văn dẫn ta vào đất nước Tây Tạng với các chuỗi gian truân trong quá trình cầu và đắc pháp. Có thể nói, vào những ngày giữa của phân nửa đầu thế kỷ XX, thì NK, không chỉ là một nhật ký, mà còn là một áng văn ký sự thiên tài, một vần thơ lộng lẫy của một nhà thơ giàu tình cảm, thấm đượm tính nhân bản và Phật bản. Hơn thế, NK còn thể hiện là một giáo pháp thực sự của một bậc chân tu. Nó chuyển tải hầu hết mọi thể nghiệm của “căn” và “cảnh”, một quá trình lịch nghiệm của một cá nhân. Xa hơn, NK đã trở thành kim chỉ nam cho cả hai mặt: lịch sử thuở “bình minh” của Mật giáo ở Việt Nam nói chung, và nói riêng tại Bình Dương, và lịch sử giáo chứng nữa.

    Như một điểm son, một vết chân trên dòng lịch sử còn nhiều khuất tất, bởi vì, chỉ hai chữ “truyền thừa” vốn đã mang lại biết bao xung đột hệ phái trong bất cứ tôn giáo nào, bất kể Phật giáo hay là không. NK sư ông là một dấu ấn lịch sử, nó chia phần mình cho giáo pháp và cho tất cả chúng sinh, như chính chân lý chia phần bình đẳng cho tất cả. Phật giáo, thật vậy, như con Rồng thần, người ta chỉ có thể thấy được phần “đuôi” của nó. Chùa Tây Tạng, cũng như, có thể còn biết bao nhiêu ngôi chùa như thể với dáng vẻ khiêm nhẫn của mình, đã chuyển tải nơi tự thân biết bao điều huyền nhiệm và điều này cần đến sự phê xét và nghiên cứu của những nhà sử học. Bởi vì, nói cho cùng, cả Mật và Thiền mà sự tồn tại của cả hai, phải luôn được sở y trên bình diện trực truyền đúng như bản thân của chúng.
    Nằm dưới rừng đại thọ đã thành lõi xám, chùa Tây Tạng ( “đã được nhiều lần trùng tu và ngày thêm trang nghiêm theo lối kiến trúc kết tân. Chánh điện thiết kế thờ phượng như một pháp hội khi Phật còn tại thế. Ở giữa điện thờ Phật Thích-Ca (tượng cao thiền tọa 2m3). Chung quanh gồm chư Phật ở các vị trí như tầng dưới thờ Địa Tạng, Di Lặc; tầng kế thờ Phổ Hiền, Văn Thù; tầng trên là Quan Âm, Thế Chí... Đặc biệt đích thân Hòa thượng trú trì (tức hòa thượng Tịch Chiếu, hiện còn tại thế, tuổi đã ngoài 95) cũng góp phần tham gia vào việc chỉnh sửa trong quá trình tạo tác một số ảnh tượng Phật như tượng Đức Bổn Sư... cho được hoàn mỹ hơn... Sau lần đại trùng tu vào năm 1992, chùa có dáng dấp gần giống như một ngôi chùa Tây Tạng. Chánh điện cấu trúc hình khối vuông, chính giữa là ngôi tháp (stupa), tứ giác có chiều cao trên 15 mét. Cách thiết kế tầng thượng ở mặt bằng nốc chùa... năm điện thờ năm vị gọi là ‘ngũ trí Như Lai’ (chiều cao mỗi vị 1m5)...

    Đặc biệt hơn cả, có lẽ Minh Tịnh là nhà sư Việt Nam đầu tiên ghi chép, lưu giữ được hình ảnh, sự kiện cuộc hành trình về đất Phật một cách chi tiết đầy đủ từng ngày từ Viêt Nam qua Ấn Độ - Népal - Tây Tạng và ngược lại. Cuốn nhật ký này, có thể xem như là tập “Tây Trúc - Tây Tạng ký” ghi rõ thời gian, các địa danh và Phật sự suốt cuộc hành trình từ khi ngài xuất hành từ Thủ Dầu Một, Bình Dương, rời bến Nhà Rồng (Sàigòn) vào ngày 17- 4-1935 cho đến lúc trở về Việt Nam vào ngày 30- 6-1937 (kéo dài 2 năm 2 tháng 13 ngày). Cuốn nhật ký ghi bằng thủ bút của Ngài với nét chữ nghiêng, đẹp, rõ ràng bằng chữ quốc ngữ, có xen lẫn ghi chú thêm bằng tiếng Pháp, Anh (Tây Tạng, Phạn...). Nhật ký có độ dày trên 300 trang khổ lớn, hiện còn lưu giữ cẩn thận tại chùa Tây Tạng”. Và, có thể nói “Ngài là một “tiểu Huyền Tráng của Việt Nam” ) vậy. (Theo tập san Chùa Cổ Bình Dương).
    Để kính tán công đức của sư đối với nước Việt nói chung và riêng đối với Bình Dương và rất riêng đối với người viết - bậc hành nhân sau khi đắc pháp từ Tây Tạng về, đã “mặc như lôi” cho đến khi thị tịch, nghĩa rằng, Phật giáo chỉ có thể tìm thấy nơi một vài vuông đất “thổ cư” khiêm tốn hơn là nơi hàng trăm mẫu đất “trồng cây ăn trái” hay “đất nông nghiệp” - đã có chút phước duyên đọc được NK này với “tư kiến” của mình. Cho nên, xin trích một bài chú thuộc hệ Bát Nhã nhằm quy mệnh dưới phẩm tính ấy. Chú viết:(Các linh tự như: Om, ā, ī, ū, là những linh tựphải đắc thành trong cách tịnh hóa ngũ căn.)

    11. Chùa Khải Tường & câu chuyện Nàng Hai Bến Nghé

    Chuyện trăm năm cũ
    Phật cũng thăng trầm (*)

    Riêng lòng son đó
    Ra ngoài sắc, không…

    Chùa Khải Tường được xây dựng vào thếkỷ18, nằmtrên gò đất cao thuộc trung tâm Bến Nghé xưa. Chùa thuộc ấp Tân Lộc, huyện BìnhDương, thành Gia Định.
    Chùa Khải Tường nguyên tọa lạc trên khu đất rộng ở góc đường Testard (sau này là Trần Quý Cáp, nay là Võ Văn Tần) và đường Barbé(nay là Lê Quý Đôn), tức ởvịtrí nay là Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, số28Võ Văn Tần, Quận 3, Thành phốHồChí Minh.
    Lịch sử
    Buổiđầu, Thiền sưPhật Ý-Linh Nhạc (1725-1821) vâng lời thầy, theo lớp người lưu dântừĐồng Nai xuống phía Nam. Trên đường đi, nhà sưgặp một tăng sĩkhông rõ họ tên, cùng lứa tuổi và họđã kết thành huynh đệ. Đến nơi ởmới là làng Tân Lộc,hai nhà sưcùng khai phá rừng và trước sau dựng lên hai am lá thờ Phật.
    Khi lưu dân ngày càng đông và cuộc sống của họcũng đã dần ổn định,Thiền sưPhật Ý-Linh Nhạc với sựhộgiúp của bạn và bổn đạo đã dỡbỏam tranh,cất thành hai ngôi chùa khang trang, có đủchính điện, nhà Tổvà phòngkhách...Đó là chùa Khải Tường và chùa TừÂn (nay tọa lạc tại số23 đường TânHóa, Quận 6, TP. HồChí Minh).
    Nhưng theo bài viết ''Những ngôi cổtựđãbiến mất'' của Huỳnh Ngọc Trảng (tr. 78), thì chùa Khải Tường do Thiền sưPhậtÝ-Linh Nhạc khai sơn khoảng 1744, còn chùa TừÂn do một nhà sưkết nghĩa huynhđệvới Phật Ý tạo lập vào khoảng năm Nhâm Thìn (1752).
    Vì thếkhi thực dânPháp tiến chiếm Gia Định, họgọi chùa Khải Tường là ''chùa Trước'' (PagodeAvancée) còn chùa TừÂn là ''chùa Sau''
    Tương truyền vào ngày 23 tháng 4năm Tân Hợi (25 tháng 5 năm 1791), thứphi Trần ThịĐang (Thuận Thiên Cao Hoànghậu) sinh Nguyễn Phúc Đảm (vua Minh Mạng) nơi hậu liêu chùa Khải Tường vào nămTân Hợi (1791),
    khi chúa Nguyễn Phúc Ánh đến đây trốn tránh quân Tây Sơn.Năm 1804, vua Gia Long (tức Nguyễn Phúc Ánh) nhớchuyện cũ, đểtạơn đức Phật đãche chởcho ông những tháng năm bôn tẩu, nên từHuế, nhà vua gửi vào dâng cúngchùa một tượng Phật lớn, ngồi trên tòa sen, cao 2,5 m bằnggỗmít, sơn son thếpvàng.
    Năm 1832, Minh Mạng cho trùng tu chùa, kỷniệm nơi sinh ra ông,vàng son tráng lệmột thời. Năm 1858, quân Pháp đánh phá cửa Hàn (Đà Nẵng). Nămsau (1859) lại vào tấn công Gia Định, Pháp chia quân đóng rải rác tại TrườngThi, đền Hiển Trung (Pagode aux Mares) và các chùa: Khải Tường (Pagode Barbé),Kiểng Phước (Pagode des Clochetons), Cây Mai v.v...
    Riêng chùa KhảiTường, viên quan ba Pháp tên Barbé nhận nhiệm vụdẫn quân vào chiếm giữ. Barbécho đem tượng Phật bỏngoài sân, cưỡng bức các sưsải phải rời chùa. Khi ấy,quan Kinh lược Nguyễn Tri Phương được triều đình cửvào Nam lập đại đồn Chí Hòachống Pháp, và đêm 7 tháng 12 năm 1860, quân Việt phục kích giết chết Barbé.
    Sau đó, chùa được dùng làm trường đào tạo sưphạm cấp tốc cho họcsinh người Việt, đểđưa đi dạy ởcác tỉnh Pháp chiếm được.
    Năm 1867, chùa bị Pháp cho tháo gỡ, tấm biển “Quốc ân Khải Tường tự” được chùa TừÂn gìn giữ. Cònpho tượng Phật kểtrên phải dời đi nhiều nơi, sau cùng được đem trưng bày trongViện bảo tàng Quốc gia Sài Gòn, nay là Bảo tàng Lịch sửViệt Nam - Thành phốHồ Chí Minh.
    Thời gian sau, trên nền chùa bỏhoang này, Pháp cho xây cất mộtdinh thựdành cho quan chức trong bộmáy cai trị. Trước năm 1963, dùng làm''Trường Đại học Y dược''. Sau khi chếđộNgô Đình Diệm bịlật đổ, các tướnglãnh cho các cốvấn quân sựđến trú đóng.
    Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cơsởtrên được dùng làm nhà ''Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh.
    Nàng Hai Bến Nghé
    Tên tuổi của chùa Khải Tường cùng viên quan ba Pháp, cònđược loantruyền qua câu chuyện Nàng Hai Bến Nghé. (Hai tác giảngười Pháp là LeVardier và De Maubryan ghi cô tên là '''ThịBa''', và họđã kểlại mối tình éole của cô gái trong tác phẩm ''Scènes de la vie Anamite - Khi Hoa'' (Nxb.P.Ollendorff, Paris 1884))
    Nàng Hai và Tri yêu thương nhau nhưng vì hoàn cảnh éo le nàng phải nhận lấy lãnh binh Sắc (''Scènes de la vie Anamite - KhiHoa'', Tri có tên đầy đủlà nguyễn Văn Tri và ông lãnh binh có tên là Nguyễn VănSất) làm chồng.
    Một lần thua trận, Sắc bịquan trên khiển trách, sẵn mang tâmtrạng buồn bực, nên khi nghe quân mật báo việc Tri thường có cửchỉthân mật vớivợmình, Sắc rất ghen tức. Thếlà Sắc cho người giảdanh vợmời Tri tới nhà bàncông việc gắp.
    Do dàn xếp tình huống nên Sắc nhanh chóng rời khỏi nơiẩnnấp bước ra tri hô, ghép đôi trai gái vừa gặp nhau vào tội lăng loàn và cho línhđóng bè thảtrôi sông cảhai người…
    Một hai hôm sau viên quan ba Barbé,đóng binh ởchùa Khải Tường đang đi săn, bất ngờgặp một bè chuối trôi trên đócó một người đàn ông và một người đàn bà. Theo dòng, hai con sấu lớn hung hãn,quẫy đuôi bám riết đuổi theo bè. Barbé liền nổsúng, sấu sợhãi lặn trốnmất.
    Khi bè được vớt lên, người con trai tức Tri bịsấu cắn cụt mất mộtchân, đã chết. Phần người con gái là nàng Hai còn thoi thóp thở. Sau khi đượcchăm sóc, nhan sắc cô gái ngày càng hấp dẫn trong đôi mắt Barbé. Nàng Hai khônkhéo dùng lời ngon ngọt đểxin trởvềnhà thu xếp việc riêng và hứa sẽsớm trở lại.
    Gặp nàng Hai về, Lãnh binh Sắc cho bắt cô với lời cáo buộc: tộithông đồng, mãi dâm với đối phương. Sắc cho giam nàng Hai dưới hốsâu, cho ănxương cá và cơm hẩm. May sao Quản cơTrương Định đi tuần ngang, lệnh cho đem côlên và nghe biết hết mọi chuyện oan trái này...

    Nơi chùa Khải Tường, hômđó trời vừa sụp tối, lính canh chạy vào báo tin có một cô gái khi nọxin vào gặpquan lớn. Barbé mừng rỡphóng ngựa một mình ra đón. Còn cách cô gái chừng mườithước, quân Việt mai phục hai bên đường ào ra. Ngựa bịgiáo dài đâm ngã quỵ, nóhất Barbé té xuống và đầu viên quan ba Pháp lìa ngay khỏi cổvào ngày 7 tháng 12năm 1860.(Nơi Barbé chết, có thểởngã ba Võ Văn Tần - Trần Quốc Thảo, quận 3,TP. HCM). Và theo ''Scènes de la vie Anamite - Khi Hoa'' thì một đêm nọcó mộtngười Việt, đến đồn tìm Barbé báo tin ThịBa đang lâm bệnh nặng và hiện đang nằmtại một ngồi chùa gần đó. Nghe vậy, Barbé lập tức đến thăm, nhưng đi được mộtquãng thì bịgiết chết.
    Hơn hai tháng sau, viện binh của Pháp từThượngHải (Trung Quốc) kéo đến Sài Gòn rầm rộ. Sau vài trận chiến ác liệt, đại đồn ChíHòa bịhạ.
    Sau những ngày mịt mù khói lửa ấy, không ai tìm thấy cô gáinơi đâu, chẳng biết sống hay đã chết. Nhưng trong dân gian còn truyền tụng mãihình ảnh người thiếu phụbịthảtrôi sông và đã góp công chống Pháp.
    Theo ''Scènes de la vie Anamite - Khi Hoa'', thì Lãnh binh Sất và ThịBa đều bịchếtđạn, khi quân Pháp tấn công vào bản doanh của nghĩa quân.
    Thông tin thêm
    Quan ba Barbé chết, quân Pháp rất tức giận. Bởi vậy, quân Pháp chiếmlấy tấm bia đá do vua TựĐức cho khắc bi văn do đại thần Phan Thanh Giản soạn vàcho chởtừHuếvềGò Công, đểdựng nơi mộông ngoại mình là Phạm Đăng Hưng, làmbia mộBarbé ởnghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (cũ). Mãi cho đến trung tuần tháng 7 năm1998, tấm bia mới được dựng lên mộPhạm Đăng Hưng, tính ra tấm bia đá mang tên hai người chết một Pháp một Việt này đã luân lạc đúng 140 năm.

    11.                         Giới thiệu chùa Phù Dung (Hà Tiên)

    Chùa Phù Dung hiện nay tọa lạc tại chân núi Bình San, phường Bình San, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, Việt Nam.
    Địa điểm hành hương & du lịch này hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp cổ kính, hài hòa với thiên nhiên mà còn bởi những câu chuyện bí ẩn gây tranh cải về lai lịch ngôi chùa.

    Giải thích tên Phù Dung
    Theo sách “Nghiên cứu Hà Tiên”(1), người Xiêm gọi núi là “Pù”; các người Xiêm, Khmer, Chăm, Lào đều gọi người Việt là “Youn”. Như vậy, ''Pù Youn'', mà sau này đọc trại thành Phù Dung, có nghĩa là “vùng núi của người Việt”.
    Ở bán đảo Hà Tiên, có rất nhiều đồi núi lớn nhỏ, mang tên chung là ''Phù Dung Vạn Sơn'', mãi đến thời Đô đốc Mạc Thiên Tứ, các ngọn núi mới có tên riêng bằng từ Hán - Việt, như: ''Bình San, Tô Châu, Thạch Động''...
    Và cái tên Phù Dung (Pù Youn) mà khi xưa dùng để tất cả các núi non vừa nói trên, chỉ còn được dùng để chỉ một ngọn núi cao 53 m, mà Trịnh Hoài Đức đã chép trong “Gia Định thành thông chí”:
    “Núi Phù Dung: cách trấn thự về phía tây bắc hơn 1 dặm. Ở đây hang hố xanh rậm lâu đời; chùa Phù Dung ở phía tây nam chân núi, tiếng chuông mõ pha trộn, tiếng kệ kinh lẫn tiếng ồn ào của phố thị, thật là cảnh nửa tăng nửa tục..”.
    Do vậy, tác giả sách ''Nghiên cứu Hà Tiên'', đã nói vui rằng tên chùa không có nghĩa “hoa sen” (2) hay giống hoa “tí ngọ” nào đó, như có người đã tưởng tượng.
    Chùa Phù Dung
    Căn cứ thông tin trong ''Gia Định thành thông chí'', trong ''Monogaphie de la povince de Ha Tiên'' tức ''Hà Tiên địa phương chí'' của Hội nghiên cứu Đông Dương ấn hành năm 1901 và qua khảo sát thực tế, thì chùa Phù Dung xưa ở tại hướng Tây Nam núi Phù Dung, còn chùa Phù Dung hiện nay tại phía bắc núi Bình san, cách chùa xưa trên 500m.
    Vì trước sau ở Hà Tiên, có hai chùa đều mang tên Phù Dung, và ngôi thờ nào tính đến nay cũng đều là cổ tự. Để dễ phân biệt, tạm gọi chùa có trước là “Phù Dung (cũ)” và chùa có sau là “Phù Dung (mới)”.
    Chùa Phù Dung (cũ)
    Núi Phù Dung mà ''Gia Định thành thông chí'' đã chép trên, ngày nay có tên là núi Đề Liêm hay Bát Giác Sơn (3) còn ngôi chùa vừa nói đến, hiện nay chỉ còn một nền chùa và một ngôi tháp cổ của Hòa thượng Ấn Đàm, đời thứ 36 dòng Lâm Tế.
    Tra sử liệu, thì từ khoảng năm 1820 - tức năm có sách “Gia Định thành thông chí” - trở về sau, trấn Hà Tiên đã trải qua ba cuộc tao loạn lớn, đó là:
    - Năm Quý Tỵ (1833): Năm Minh Mạng thứ 14 (1833) có biến Lê Văn Khôi, tỉnh thành (Hà Tiên) thất thủ, bị quân Xiêm xâm lăng dày đạp, có đại binh tấn tiễu mới dẹp được.
    - Năm Nhâm Dần (1842): Thiệu Trị năm thứ hai, 1842, tháng hai, Xiêm lại chia đường vào cướp phá, một do tỉnh Hà Tiên, một do kênh Vĩnh Tế. Vua sai Đoàn Văn Sách tiến theo đường thủy, Phạm văn Điển tiến theo đường bộ, hai đường cùng tiến đánh lui giặc Xiêm…
    - Năm Ất Tỵ (1845): Thiệu Trị năm thứ 5, tướng Xiêm Chất Tri sai tên Na lập kế để bắt Nguyễn Bá Hựu...giam lại. Viên thổ mục Cao Mên tên Liêm Đột, thân hành đến An Giang xin binh. Vua bèn sai Tổng đốc An Hà là Doãn Uẩn, Nguyễn Hoàng, Nguyễn Công Hoan, chia đường đi tiếp viện và trừ giặc…
    Theo nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, người Hà Tiên, thì chùa Phù Dung ấy bị quân Xiêm phá sập trong khoảng năm 1833-1834, tức lần tao loạn đầu tiên.
    Năm 1969, người ta phát hiện ra di tích này. Nền chùa có chiều dài 12m, rộng 9m. Với kích thước như thế, chùa xưa chỉ là một am tự. Khi đào sâu xuống nền đất khoảng 3 tấc, người ta bắt gặp rất nhiều vật dụng còn nguyên vẹn, như: cái lư hương bằng đồng, nhiều lọ sành sứ, một cái chum còn nguyên số gạo đã ẩm nát...Sự cố chùa bị sập với các loại gia dụng còn nguyên, cho thấy chiến tranh đã ập đến bất ngờ. Cạnh nền chùa là ngôi tháp cao 5m, dày 1m, hình bát giác (rất có thể vì vậy nên núi có tên Bát Giác Sơn) được xây bằng vật liệu phức hợp (vôi cát trộn với ô đước và đường ngào), vào khoảng thế kỷ 18. Tháp cổ còn nguyên tấm bia đá có khắc dòng chữ Hán: “Lâm Tế tam thập lục thế Ấn Đàm Lão Hòa Thượng chi tháp”. Nhà sư này sống thời với Mạc thiên Tứ.
    Và ở gần đó (hướng Tây Nam), bây giờ còn một giếng xưa gọi là giếng chùa Tiêu.
    Và ở gần đó (hướng Tây Nam), bây giờ còn một giếng xưa gọi là giếng chùa Tiêu.
    Điều này phù hợp với thông tin trong sách ''Monogaphie de la povince de Ha Tiên'' của Lê Văn An và Nguyễn Văn Hải, ấn hành năm 1951. Hai tác giả cho rằng chùa Phù Dung cổ mới đúng là Tiêu Tự, một trong mười cảnh đẹp của Hà Tiên lúc bấy giờ và đã được Mạc Thiên Tứ ca ngợi trong bài thất ngôn bát cú Tiêu Tự hiểu chung (theo Nghiên cứu Hà Tiên, trong Hà Tiên thập vịnh in năm 1737, bài thơ có tên Tiêu Tự hiểu chung. Khi họa vận mười bài thơ này vào năm 1753, Nguyễn Cư Trinh đổi tựa lại là Tiêu Tự thần chung ,. Và cũng theo sách này, Đại Nam nhất thống chí đã lầm chùa Phù Dung cổ tức Tiêu Tự là chùa Địa Tạng, sách đã dẫn, tr. 356 và tr. 447).


    Lác đác trời tàn nhạt ánh sao,
    Chuông chùa xa vẳng tiếng đưa vào.
    Mơ màng cõi tục người tiêu lẫn;
    Đồng vọng bờ cây bến nước xao.
    Hạc để tiếng vương cành gió thoảng,
    Quạ đưa lời gởi ngọn trăng cao.
    Gối nghiêng giấc tỉnh đêm mê mộng;
    Sớm giục canh gà tin khát khao
    .


    (trích Văn học Hà Tiên, tr. 199-200)
    Kiến trúc chùa Phù Dung (mới)
    Trải qua bao biến đổi, giờ đây trên nền đất cao ráo nơi chân núi Bình san, là một tự viện khá khang trang gồm một phần sân và hai phần thờ cách biệt.
    Phần sân có một đài cao. Trên đài là một pho tượng Phật Quan Thế Âm cao lớn bằng xi măng, tô trắng. Kế đến là ngôi Chính điện rộng được bài trí trang nghiêm. Chính giữa là tượng Thích-ca Mâu-ni, 2 bên là 2 đại đệ tử A-nan và Ca-diếp. Ở đây còn có 4 bức phù điêu lớn (mỗi tấm cao 1,3m, ngang 2,3m) minh họa 4 cảnh trong cuộc đời đức Phật Thích-ca Mâu-ni: đản sanh, xuất gia, thuyết pháp và nhập niết-bàn.
    Sau lưng ngôi Chính điện là một khoảng sân nhỏ, sau nữa là một tòa điện cao có tên gọi ''Ngọc Hoàng bửu điện'', thờ Ngọc Hoàng Thượng đế cùng hai vị Nam Tào và Bắc Đẩu.
    Một phần do thời gian tàn phá, một phần do ở nơi biên cảnh thường gặp nhiều bất ổn, nên chùa đã phải trùng tu nhiều lần.
    Đặc biệt, đứng ngoài nhìn vào, phía bên trái tự viện có một lối đi nhỏ men theo triền núi. Đi khoảng 20m, sẽ gặp một ngôi mộ cổ. Trên bia mộ có mấy dòng chữ Hán:
    Hoàng Việt
    Hiển tỷ Từ Thành Thục nhân Mạc phủ Nguyễn thị chi mộ.
    Dòng chữ bên trái bia:
    Nam Chú lập thạch.
    Dòng chữ bên phải bia:
    Long phi Tân Tỵ (tức 1761) trọng xuân kiết đán.
    Bên cạnh mộ, có một tấm bia đá khắc mấy dòng chữ Việt do người đời sau tạo dựng, ghi: “Lăng bà Phù Dung-Từ Thành Thục Nhơn-Nguyễn Thị Xuân (1720-1761)- Viên tịch rằm tháng 2 Âl- Hiệu Phù Cừ”.(7)
    Chuyện tình Phù Dung-Theo sách Nghiên cứu Hà Tiên
    Từ ''Monogaphie de la povince de Ha Tiên'' cho đến đời Tỉnh trưởng Hà Tiên Lê Văn An và Nguyễn Văn Hải (1951), đều không thấy chép chuyện.
    Mãi đến ngày 5 tháng 3 năm 1957, tác giả Trần Thêm Trung cho ra đời cuốn ''Hà Tiên địa phương chí'' mới thấy sách ghi chuyện này.
    Tiếp theo, năm 1958, nhà văn Sơn Nam viết ''Hà Tiên đất phương Thành'' đang ở báo Nhân Loại, nữ sĩ Mộng Tuyết viết ''Nàng Ái cơ trong chậu úp'', thi sĩ Đông Hồ nhắc lại chuyện trong ''Văn học Hà Tiên'', soạn giả kiêm nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà viết tuồng cải lương ''Áo cưới trước cổng chùa'', tác giả Mặc Tuyền chuyển kịch bản thành tiểu thuyết (1989), mới nhất là nhà văn Anh Động viết ''Chuyện tình Chiêu Anh Các'', tiểu thuyết đăng nhiều kỳ trên tạp chí Chiêu Anh Các của Hội Văn Học Nghệ Thuật tỉnh Kiên Giang...
    Trong ngần ấy tác phẩm và trong chuyện kể, nhân vật nữ này có rất nhiều tên, chẳng hạn: Phù Dung, Phù Cừ, Xuân Tự, Nguyễn Thị Xuân, Dì Tự. (8)
    Và theo ''Nghiên cứu Hà Tiên'' của Trương Minh Đạt thì: “rõ ràng bia mộ này ghi đủ các chi tiết của một người trần tục, tức có tên họ, phẩm vị, nơi làm vợ, con cái...Bia và mộ này không giống bia và mộ của một người tu hành. Vả lại, ngôi chùa Phù Dung (mới) chỉ mới được tạo lập vào năm 1846, tức sau khi “Từ Thành Thục nhân” chết đã 85 năm. Người trụ trì đầu tiên của chùa là Hòa thượng Tiên Giác Bửu Châu, nay còn tháp và bài vị thờ ở chùa. (9) Và ông Đạt cũng cho biết nữ sĩ Mộng Tuyết, vợ thi sĩ Đông Hồ, sáng tác chuyện ''Nàng ái cơ trong chậu úp'', dựa theo một giai thoại nhàn đàm, mà nhà văn Sơn Nam đã xác nhận: “Sư trụ trì chùa Phù Dung kể, năm 1958”. ấy là Sư ông Kiểu Ngọc (Thượng Phước Hạ Quang), trụ trì ở đây từ 1951 đến 1964. Khi còn sinh tiền, ông Trần Thiêm Trung cũng nói đã nghe vị sư này kể. Các vị sư vốn giỏi chữ Hán, nên nghe chuyện, ai cũng ngỡ là có sách, nhưng rõ ra chỉ là sự suy diễn từ hình dạng mộ bà Dì Tự, gần sau chùa, có núm xây hình tròn như chậu úp. Sư kể: “Khi sống bà bị nhốt, đến chết mộ xây vậy”. Sự suy diễn này, sau được triển khai thành câu chuyện khá thương tâm.
    Nói gọn, theo ông Đạt, câu chuyện Phù Cừ chỉ là tư duy sáng tác văn học của nữ sĩ Mộng Tuyết...và đây chính là "một trường hợp "lộng giả thành chân" trong nghiên cứu lịch sử…
    Theo truyền thuyết
    Theo câu chuyện kể được truyền tụng bấy lâu nay thì chùa do Đô đốc Mạc Thiên Tứ (1706-1780) sai dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18 cho nàng thứ cơ tên '''Phù Cừ''' (1720-1761) làm nơi tu hành.
    Tương truyền thứ cơ '''Phù Cừ''' tên thật là '''Nguyễn Thị Xuân''', thứ nữ của một di thần nhà Lê tên Nguyễn Đình, Khi nhà Mạc lên thay nhà Lê, ông cùng hai con vào cư ngụ tại Hà Tiên. Con trai tên Nguyễn Đính, giỏi kiếm thuật, ra giúp họ Mạc; còn em gái, giỏi thơ văn, gá nghĩa cùng Mạc Thiên Tứ, sau cuộc gặp gỡ tại tao đàn Chiêu Anh Các.
    Và chùa Phù Dung gắn liền với sự tích của người nằm trong ngôi mộ cổ vừa nói trên. Tuy lời thuật của mỗi người có ít nhiều khác biệt, nhưng cốt truyện vẫn khá giống nhau.
    Thi sĩ Đông Hồ kể:
    “Cảnh am tự này, ngôi mộ cổ này, ao sen này có một sự tích khá lâm ly…
    Truyền rằng: Mạc Lịnh Công (người kể chuyện kiêng húy, không dám gọi tên Mạc Thiên Tứ, nên gọi là Mạc Lịnh Công, Mạc Công hoặc chỉ là Công.) có một bà thứ cơ tên là bà Dì Tự. Thứ cơ sắc đẹp lắm và hay chữ lắm.''
    Mạc Lịnh Công, vì mê sắc đẹp, yêu tài thơ, đã từ chỗ sủng ái mà ra thiên ái. Hóa cho nên, khiến bà chính thất Nguyễn phu nhân ghen giận, lập mưu hãm hại bà thứ cơ.
    Một hôm, nhân Mạc Lịnh Công đi duyệt binh vắng, ở nhà, Nguyễn phu nhân (tức Thái phu nhân Nguyễn Hiếu Túc. Hiện mộ phần của bà ở trong khu mộ dòng họ Mạc tại lưng chừng núi Bình San, Hà Tiên.) đem nhốt thứ cơ vào lòng một cái chậu úp, cho ngột mà chết. Nhưng thừa ưa (có nghĩa tình cơ, bất thình lình), vừa lúc đó, trời bỗng đổ trận mưa to. Mạc Công cũng vừa về đến, thấy trời đang mưa, mà lạ, sao chậu to không ngửa lên hứng nước mà lại để úp. Công bèn truyền lịnh giở chậu ra, thì nàng ái cơ đang thi thóp sắp đứt hơi, nhưng may mắn thay, hãy còn cứu kịp.
    Nàng thứ cơ thoát chết, trở nên chán chường sự thế, xin Mạc Công cho nàng đi tu. Trước sự tình éo le đó, Mạc Công không biết làm sao khác, cũng đành chiều ý, cất một ngôi am tự cho thứ cơ tu hành.
    Bên am tự, cho đào ao, trồng hoa sen trắng, để kỷ niệm mối tình xưa. Cho đến khi thứ cơ mất, Công cho xây ngôi mộ kiên cố đẹp đẽ để tỏ lòng tưởng nhớ yêu thương người giai nhân đã vì Công mà oan khổ...”
    Nguồn cảm hứng cho thơ
    Câu chuyện tình chóng tan lìa này, là nguồn cảm hứng cho truyện, tuồng và thơ.
    Trích giới thiệu:


    Ngó lên Am tự Phù Cừ
    Thương cho người ngọc giã từ lầu son
    Về đây nương chốn thiền môn
    Tay lần chuỗi hạt cho mòn ngày xanh.
    Duyên xưa chẳng bận chi tình
    Bụi trần chi để vương cành hoa sen.
    Nước trong chẳng lựa đánh phèn
    Cửa thiền thanh tịch, não phiền sạch không.


    (Tác giả: Khuyết danh. Chép trong ''Nàng Ái Cơ trong chậu úp'' của nữ sĩ Mộng Tuyết, Nxb Văn hóa, 1996, tr. 120)
    Và:


    “Chuyện tình chùa Phù Dung”
    ..Ai ngày xưa chiều chiều
    Dừng cương bên sườn dốc
    Dõi bóng hình người ngọc
    Mắt nhìn lòng rưng rưng.
    Ngày xưa ai dâng hương
    Bước nương thềm điện ngọc
    Thổn thức thắt se lòng
    Nghe vời xa tiếng nhạc...
    …Ôi! Con người kỳ lạ
    Tình yêu và nỗi đau
    Và tình yêu thật lạ


    Năm tháng chẳng phai màu...(Hà Văn Thùy, sáng tác năm 1982, trích trong tập ''Thời gian gom lại'', Hội Văn nghệ và Thông tin Văn hóa Kiên Giang)
    Bùi Thụy Đào Nguyên, biên soạn.
    Chú thích:
    (1) Nghiên cứu Hà Tiên'' của Trương Minh Đạt. Sách do Nxb Trẻ và tạp chí Xưa & Nay cùng ấn hành, 2008.
    (2)Thi sĩ Đông Hồ và nữ sĩ Mộng Tuyết cho rằng Phù dung ở đây là loài sen hồng tức thủy phù dung, tên khoa học là Nelumbo nucifera. Có người, có thể vì thương cảm cho câu chuyện tình buồn thảm và chóng tan giữa Mạc Công và nàng "ái Cơ", nên thích hiểu tên chùa theo nghĩa của một loài hoa “sớm nở tối tàn”, tức Chi Dâm bụt (Chi Phù Dung). Đây là loài thân mộc, có tên khoa học là Hibiscus mutabilis. Thực tế, hoa phù dung giống hoa dâm bụt, nhưng chỉ có hoa phù dung mới có khả năng đổi màu. Hoa mới nở màu trắng, đến gần trưa chuyển sang hồng, tới chiều thì có màu đỏ (do anthrocyan bị oxy hoá dần khi tiếp xúc với không khí). Có thể vì đặc tính chóng đổi thay màu nên hoa có tên phù dung.
    (3) Núi Đề Liêm cao 49m. Sở dĩ có tên như vậy là vì tại chân núi ở phía Đông Bắc có ngôi mộ bằng gạch của Đề lại Đỗ Như Liêm.
    (4) Cùng năm này, Tổng đốc Doãn Uẩn cũng cho xây cất Đền thờ họ Mạc (Mạc Công miếu), nhưng ở nơi mới, tức không còn ở trong thành, gần ''chùa Tam Bảo'' nữa, mà dời đến chân núi ''Bình San'' (hay Núi Lăng), gần khu mộ dòng họ Mạc, cho đến hôm nay.
    (5) Đại nam nhất thống chí'' chép theo sách ''Hoàn Vũ ký văn - Thiên Nam dư địa khảo''. Sách ra đời năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) do Tĩnh Sơn Nguyễn Thu soạn. Ông là người xã Hương Khê (nay thuộc huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa). Trước tên Nguyễn Bảo sau đổi là Nguyễn Thu, đậu thi Hương năm Minh Mạng thứ 2 (1821) tại trường Thanh Hoa (Thanh Hóa), làm quan đến chức Thị Lang, được sung đi sứ Trung Quốc.
    (6) Trích bài Đề tựa trong sách ''Nàng ái cơ trong chậu úp'' của Mộng Tuyết (Nxb Văn hóa, 1996, tr. 9)
    (7) ''Mạc thị gia phả'' của Vũ Thế Dinh, chép: "các bà thê thiếp sanh trai gái thật đông đảo, số đến chín chục". Suy ra, Mạc Thiên Tứ có nhiều vợ và vị phu nhân này là một trong số ấy. Theo bia mộ thì bà có con trai tên là Chú.
    (8) Thi sĩ Đông Hồ giải thích: Bà dì có nghĩa bà thứ. “bà Dì ở Am Tự”, nói gọn là “bà Dì Tự”.
    (9) Hiện ở chùa có năm bài vị của các sư trụ trì từ khi có chùa cho đến nay, không có ai là nhân vật đang nói đến. Cách đây vài năm, vì một lý do nào đó một bàn thờ mới được lập ra, nói là bàn thờ bà Dì Tự. Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt nói bàn thờ này không có giá trị cổ tích, ngành chức năng cần nên xem xét lại...

    13.                                     Chùa Bửu Lâm – Di tích kiến trúc độc đáo của Tiền Giang

    Nhắc đến chùa ở Mỹ Tho không ai không biết đến chùa Vĩnh Tràng - một di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Tuy nhiên, Mỹ Tho còn có một ngôi chùa mà nếu xét về mặt lịch sử, cũng được xếp vào hàng chùa cổ của Tiền Giang, đó là chùa Bửu Lâm. Từ ngã ba Trung Lương đi vào thành phố Mỹ Tho, đi thẳng trên đường Ấp Bắc khoảng 4km, qua cầu Nguyễn Trãi 30m ta sẽ bắt gặp ngôi chùa này.
    Chùa Bửu Lâm tọa lạc tại số 162B, khu phố 7, đường Anh Giác, phường 3, thành phố Mỹ Tho. Theo các vị sư sãi kể lại: Vào những năm cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, Chúa Nguyễn di dân từ các tỉnh miền Trung vào miền Nam khai khẩn đất hoang để lập làng định cư, sinh sống. Trong đoàn người ấy có một vị ni cô (không rõ tên) am hiểu về cây thuốc nam đã đến xóm Dầu (nơi ngày xưa nhân dân sống bằng nghề ép dầu mù u) lập am nhỏ để tu niệm và trồng cây thuốc chữa bệnh cho nhân dân quanh vùng. Sau khi ni cô qua đời, không người kế vị, những cây thuốc quí không người chăm sóc, ngày một sinh sôi, nảy nở. Đến năm 1802, bà Phạm Thị Đạt - một phật tử giàu có và mộ đạo nhất trong vùng - đã rước Hòa thượng Tiên Hiện Từ Lâm về trụ trì. Bà bỏ tiền ra xây dựng lại ngôi chùa bằng các loại gỗ quí, có qui mô lớn và tồn tại đến ngày nay. Để tưởng nhớ đến công đức của vị ni cô sáng lập ra chùa đầu tiên và thấy nhiều cây thuốc quí mọc quanh chùa, Hòa thượng Tiên Hiện đặt tên chùa là "Bửu Lâm" với ngụ ý "báu vật nhiều như cây trong rừng"

    Chùa Bửu Lâm thờ Phật theo phật giáo Đại thừa thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông ở Nam bộ. Chùa được xây dựng gồm 3 phần: tiền đường, chánh điện và hậu tổ. Mái lợp ngói hình vảy cá gồm 2 lớp mái cách khoảng. Mặt dựng được trang trí hoa văn rất đẹp. Trên bệ thờ của ngôi chánh điện, tượng Phật ngồi cao lớn, gương mặt nhân hậu như đang nhìn xuống phật tử bên dưới, chung quanh có hàng chục tượng lớn nhỏ làm bằng nhiều loại vật liệu với dáng vẻ khác nhau. Gian chánh điện được trang trí 9 bộ bao lam với những họa tiết và đường nét tinh xảo. Bộ bao lam trước bàn thờ chánh điện chạm lộng công phu với bộ "Cửu Long phún thủy" và đôi long trụ "Cá hóa rồng" sơn son thếp vàng óng ánh. Các bộ bao lam còn lại được chạm khắc mai điểu, song phụng chầu cuốn thư, mẫu đơn, chim trĩ và các họa tiết tứ linh, tứ quí, sen... Bên cạnh đó, nghệ thuật chạm khắc gỗ còn được thể hiện trên 12 tấm hoành phi nền là một tấm gỗ dày 20cm, trên chạm 2 đến 3 lớp với hoa văn được thể hiện công phu, sinh động, xung quanh chạm tứ linh, lưỡng long tranh châu... Đó là những tác phẩm khắc chữ nổi rất độc đáo, thực hiện bởi các đôi tay tài hoa, khéo léo của những nghệ nhân chạm trổ cách đây trên 100 năm.
    Chùa Bửu Lâm là một di tích kiến trúc nghệ thuật thuộc loại hình kiến trúc tôn giáo. Giá trị nghệ thuật của các tượng, nét đẹp kiến trúc của chùa cùng với các triết lý, tín ngưỡng được con người gởi gắm, thờ phụng khiến cho chùa Bửu Lâm như một bảo tàng văn hóa, làm kích thích óc tò mò, trí tưởng tượng của khách phương xa khi có dịp đến thăm Tiền Giang.

    14.                                     phật thich ca

    Sự phục vụ của Đức Phật cho thế gian này.Đức Phật là sự hiện thân của tất cả những phẩm hạnh do Ngài thuyết giảng. Trong suốt 45 năm thực hiện thành công sứ mệnh và để lại những sự kiện quan trọng của Ngài, Ngài đã chuyển dịch tất cả những ngôn từ, lời nói của Ngài thành những hành động cụ thể thiết thực. Không có lúc nào mà Ngài không chỉ ra sự yếu đuối và nỗi đam mê thấp hèn của con người. Giới hạnh của đức Phật là tấm gương hoàn hảo nhất mà thế gian đã từng chứng kiến.
    Đức Phật thị hiện nơi cuộc đời này nhằm mục đích xua tan cái bóng tối của vô minh và chỉ cho nhân loại con đường đi đến sự đoạn tận của khổ đau
    Đức Phật là sự hiện thân của tất cả những phẩm hạnh do Ngài thuyết giảng. Trong suốt 45 năm thực hiện thành công sứ mệnh và để lại những sự kiện quan trọng của Ngài, Ngài đã chuyển dịch tất cả những ngôn từ, lời nói của Ngài thành những hành động cụ thể thiết thực. Không có lúc nào mà Ngài không chỉ ra sự yếu đuối và nỗi đam mê thấp hèn của con người. Giới hạnh của đức Phật là tấm gương hoàn hảo nhất mà thế gian đã từng chứng kiến.
    Hơn 25 thế kỷ, hàng triệu con người đã tìm thấy nguồn cảm hứng và sự khuây khoả nơi giáo lý của Ngài. Sự vĩ đại của Ngài vẫn còn toả sáng mãi cho đến ngày nay giống như mặt trời chói sáng rực rỡ hơn ánh sáng mờ đục của những vật sáng kém hơn. Giáo pháp của Ngài vẫn vẫy tay mời gọi phái đoàn hành hương mệt lã người đến nơi an toàn và cảnh giới an lạc của Niết-bàn. Không có một nhân vật nào ngoài Ngài đã hy sinh quá nhiều những thú vui vật chất của mình vì nỗi khổ đau của nhân loại.
    Đức Phật là bậc đạo sư đầu tiên trong lịch sử nhân loại khiển trách và chống lại nghi thức tế lễ động vật cho quỷ thần vì bất cứ một lý do nào khác và kêu gọi nhân loại không nên làm hại các loài sinh vật sống.
    Đối với đức Phật, tôn giáo không phải là một sự giao kèo trong mua bán mà là một con đường đưa đến sự giác ngộ. Ngài không muốn chư đệ tử Ngài tin một cách mù quáng mà Ngài muốn họ hãy suy nghĩ một cách tự do và thông thái.
    Toàn thể nhân loại trên thế gian này được ban phước bằng sự hiện hữu của Ngài.

    Chưa từng có khi nào đức Phật bày tỏ thái độ không thân thiện đối với một ai. Thậm chí đối với những địch thủ và kẻ thù xấu xa nhất của Ngài, Ngài cũng không bày tỏ thái độ không thân thiện đối với họ. Có một vài người mang đầu óc thành kiến muốn chống đối lại Ngài và tìm mọi cách giết hại Ngài; song đức Phật không bao giờ đối xử với họ như là kẻ thù. Có một lần đức Phật nói:
    “Ta như voi giữa trận,
    Hứng chịu cung tên rơi,
    Chịu đựng mọi phỉ báng,
    Ác giới rất nhiều người”. (PC-320)
    Trong biên niên sử thế giới, chưa có một nhân vật nào có thể được công nhận là đã tự hiến dâng quá nhiều cho những lợi ích của chúng sanh như đức Phật đã làm. Ngay từ giây phút giác ngộ cho đến lúc nhập diệt, Ngài phấn đấu không biết mệt mỏi để nâng cao địa vị con người. Ngài chỉ dành hai tiếng đồng hồ trong một ngày cho việc ngủ nghỉ của mình. Mặc dù 25 thế kỷ đã trôi qua kể từ khi bậc đạo sư vĩ đại này đã nhập diệt, song thông điệp về tình thương và trí tuệ của Ngài vẫn còn hiện hữu trong hình thức thuần khiết tinh khôi. Thông điệp này vẫn có ảnh hưởng quan trọng đối với vận mệnh của nhân loại. Ngài là bậc thầy từ bi nhất đã làm toả sáng thế gian này bằng tình thương và lòng nhân từ.
    Sau khi nhập Niết-bàn, đức Phật đã để lại một bức thông điệp bất tử vẫn còn gái trị đối với chúng ta. Ngày nay, chúng ta phải đương đầu với một sự đe doạ kinh hoàng về nền hoà bình của thế giới. Không có thời điểm nào trong lịch sử thế giới mà bức thông điệp của Ngài lại cần thiết hơn như hiện nay.
    Đức Phật thị hiện nơi cõi đời này nhằm mục đích xua tan đi cái bóng tối của vô minh và chỉ cho nhân loại cách chấm dứt khổ đau và bệnh tật, già và chết và tất cả những nỗi lo lắng và khổ sở của kiếp sống nhân sinh.
    Theo một số tôn giáo, một số vị thần linh thỉnh thoảng sẽ xuất hiện trên cõi đời này để tiêu diệt những con người ác độc và che chở cho những con người lương thiện. Ngược lại, đức Phật không thị hiện trên cõi đời này để tiêu diệt những kẻ ác mà là để chỉ cho họ con đường đi đúng đắn.
    Trong lịch sử thế giới mãi cho đến thời kỳ đức Phật, chúng ta đã từng nghe bất cứ một vị đạo sư nào có tấm lòng chan chứa tình yêu thương và nỗi cảm thông đối với nỗi khổ đau của nhân loại như đức Phật chăng? Đồng thời với đức Phật, chúng ta nghe một số triết gia thông thái tại Hy Lạp như: Socrates, Plato và Aristole và nhiều nhà hiền triết khác, song họ chỉ là những triết gia, những nhà tư tưởng và những nhà đi tìm chân lý; họ thiếu đi tình yêu thương cảm kích đối với nỗi khổ đau của nhân loại.
    Con đường cứu độ nhân loại của đức Phật là dạy cho họ cách làm thế nào để tìm được sự giải thoát, an lạc. Ngài không quan tâm đến việc làm dịu một vài trường hợp liên quan đến chứng bệnh về thân và tâm. Ngài quan tâm nhiều hơn với việc tiết lộ con đường mà tất cả mọi người có thể đi theo.
    Chúng ta hãy đem tất cả những triết gia, tâm lý gia, khoa học gia, nhà duy lý, những nhà cải cách xã hội, những tư tưởng gia vĩ đại và những vị đạo sư của các tôn giáo khác, với một tinh thần không thiên vị, so sánh sự vĩ đại, đức hạnh, tinh thần phục vụ và trí tuệ của chư vị đối với đức hạnh, lòng từ bi và sự giác ngộ của đức Phật. Chúng ta có thể hiểu được địa vị của đức Phật đứng ở đâu trong số tất cả những bậc vĩ nhân này.
    Nhân quyền và ngũ giới của Phật giáo
    Khái niệm nhân quyền xuất phát trong giai đoạn hiện đại. Chúng ta không tìm thấy một từ ngữ nào biểu thị khái niệm này trong ngôn ngữ Sanskrit hoặc Pàli. Thay vì nói quyền, những trách nhiệm được đề cao trong những nền văn hoá được tượng trưng bởi những thứ ngôn ngữ này. Đó không phải là một sự trùng hợp xa lạ rằng từ trách nhiệm, hoặc pháp trong cổ ngữ Sanskrit hoặc Pàli cũng tượng trưng cho chân lý. Nền tảng của triết học dường như đó là trách nhiệm đưa đến chân lý. Tuy nhiên, trong Anh ngữ, từ quyền (right) có hai nghĩa: đó là chân lý và yêu sách. Theo chức năng xã hội của nền triết học Đông phương, việc hoàn thành nhiệm vụ của một người nào đó đưa đến sự hoàn tất quyền của những người khác.
    Khi chúng ta so sánh sự ảnh hưởng về mặt xã hội của những trách nhiệm với những quyền, chúng ta bắt đầu nhận ra rằng một bầu không khí hài hoà và hợp tác lẫn nhau có thể thịnh hành trong một xã hội khi mà trách nhiệm được đề cao, trong khi đó có thể tính chất bất đồng và cạnh tranh sẽ không còn hiện hữu nếu mỗi người có thói quen khẳng định những quyền hạn của anh ta hoặc cô ta.
    Sự thiếu vắng một thuật ngữ đơn lẻ biểu thị những quyền của con người không có nghĩa những nền văn minh cổ đại ở Đông phương không có những phương thức bảo vệ nhân quyền. Nhân quyền ở đây được đi kèm với một lối diễn đạt vòng quanh tế nhị mà con người thậm chí không ý thức rõ ag rằng anh ta đang thụ hưởng những quyền nhất định như thế chính từ lúc mới sinh ra đời. Cơ chế là sự tình nguyện chấp nhận của mỗi người và mỗi một người phải tuân thủ giữ 5 giới cấm.
    Mỗi con người trong xã hội được mong đợi phát nguyện không sát hại sanh mạng. Sinh mạng hay sự sống là thiêng liêng và con người không nên vi phạm mà phải tôn trọng sự sống. Khi thái độ phi bạo lực này được lan truyền rộng rãi thì quyền được sống của mỗi cá nhân sẽ tự động được thoả nguyện. Hơn thế nữa, thái độ phi bạo lực này đảm bảo sự an toàn của mỗi con người, sự thân thiện và từ tâm trong xã hội, phát huy những mối quan hệ hài hoà giữa các cá nhân trong xã hội.
    Giới thứ hai mà con người phải tuân giữ là tình nguyện không nên trộm lấy những gì không cho. Nguyện không biển thủ là để bảo vệ quyền sở hữu tài sản của mọi con người. Yù thức về sự bảo vệ tài sản cho nhau tạo ra một bầu không khí của sự tin tưởng lẫn nhau trong xã hội. Một xã hội như thế là xã hội hoàn toàn tự do và dân chúng có thể tận tâm chính mình cho sự nghiệp theo đuổi những nghề nghiệp mà họ đã chọn lựa mà không cần bổn phận phải bảo vệ tài sản của họ với sự lo âu.
    Giới thứ ba cấm con người không nên quan hệ tình dục một cách trái với luật pháp. Giới này bảo vệ quyền của mỗi cá nhân chọn lựa một

    15.                         Lịch sử chùa diệu pháp

    Chùa Diệu Pháp được cố Hòa thượng Thích Tâm Khai khai sơn vào năm 1964 khi đất nước vẫn còn chiến tranh. Trong những năm gian khổ đó, Hòa thượng luôn là người ủng hộ tích cực mọi việc Ngài có thể làm để đất nước được thanh bình. Vì thế, chùa Diệu Pháp đã trở thành một nơi nuôi dưỡng những chiến sĩ đã hết mình đấu tranh vì hòa bình cho đất nước.
    Ban đầu chùa chỉ có mỗi khu chánh điện nhỏ và nhà ở, còn xung quanh chỉ là sông nước và cây cối um tùm. Những tưởng ngôi chùa có thể đứng vững để che chở cho những người con đất Việt, nhưng vào năm Mậu Thân 1968, đạn pháo chiến tranh đã “san bằng” chùa Diệu Pháp. Rất nhiều người đã hy sinh vào ngày đó và chùa chỉ còn là một đống đổ nát hoang tàn giữa đất trời Sài Gòn.
    Không nản lòng, Hòa thượng đã đi gom góp từng viên gạch, từng miếng ngói, từng bao xi măng để xây lại chùa Diệu Pháp. Và cũng nhờ trời Phật phù hộ, không lâu sau ngày bị ném bom, Ngài đã dựng lại được ngôi chùa năm nào đã đổ nát.
    Tuy được xây dựng lại kiên cố hơn, nhưng với sự hủy hoại của thế sự, chùa cũng đã bị phá hủy phần nào. Vì thế, vào năm 1972, Hòa thượng đã tiến hành trùng tu ngôi chùa lần đầu tiên.
    Chiến tranh qua đi, đất nước trọn niềm vui, nhưng những hậu quả của nó để lại thật to lớn và xót xa. Rất nhiều người đã hy sinh và những người mẹ Việt Nam đã trở nên bơ vơ khi con mình không về nữa. Xót xa trước hoàn cảnh đó, Hòa thượng đã quyết định sửa chữa lại chùa Diệu Pháp và xây thêm nhà để nuôi dưỡng các cụ già không nơi nương tựa vào năm 1992 lấy tên là "Mái Ấm Tình Người". Thời gian trôi qua, số cụ già được chùa nhận nuôi ngày càng đông, nhưng nhà ở lại quá chật hẹp. Mỗi khi trời mưa bão, nước lớn là Hòa thượng không ngớt lo âu cho sức khỏe cũng như an toàn của các cụ.
    Thế nên, Hòa thượng đã dự định sẽ xây dựng lại chùa Diệu Pháp sao cho rộng rãi và kiên cố để có thể chăm sóc thêm được nhiều cụ già nữa. Ngài đã vận động khắp nơi để thực hiện điều đó. Thế nhưng vì sức khỏe đã suy yếu bởi những vết thương của chiến tranh và bệnh tim mạch, Hòa thượng đã viên tịch khi những dự định của Ngài còn dang dở. Trưởng tử của Ngài là Đại đức Thích Nguyên Pháp đã nối tiếp tâm nguyện của Ngài, xây dựng một cơ sở mới rộng rãi và tiện nghi để tiếp tục chăm sóc cho các cụ già neo đơn.
    Gần nửa thế kỉ trôi qua, giờ đây, ngoài việc nuôi các cụ già neo đơn, chùa còn là nơi sinh hoạt và giúp đỡ cho các em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn nhưng hiếu học, phát gạo cho đồng bào nghèo hằng tháng và là nơi phục vụ những bữa ăn no dạ mát lòng cho những người nghèo và người có thu nhập thấp. Tuy nhiên, hiện nay chùa đã xuống cấp trầm trọng. Thầy Nguyên Pháp đã quyết định xây dựng lại chùa thật kiên cố và khang trang hơn để không còn phải lo âu những khi mưa gió bão giông và cũng nhằm phục vụ các công việc Phật sự được thuận lợi hơn.
    Chùa Diệu Pháp cho dù là tháng năm nào đi nữa cũng vẫn là nơi che chở cho những người nghèo khổ về vật chất lẫn tinh thần, là nơi trang nghiêm và linh thiêng cho Phật tử thập phương tu tập, lễ bái, cũng là nơi nương tựa cho những ai có duyên lành với Phật, mong cầu sự thanh tịnh nơi thân tâm và an lạc cho nhân loại.

    16.                         Chùa Ấn Quang

    Chùa tọa lạc ở số 243 đường Sư Vạn Hạnh, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.Vào năm 1948, Hòa thượng Thích Trí Hữu từ chùa Linh Ứng ở Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) vào lập ngôi chùa nhỏ bằng cây lợp lá, mang tên Ứng Quang.
    Đến năm 1950, Hòa thượng Thích Trí Hữu đã giao quyền quản lý ngôi chùa cho Hòa thượng Thích Thiện Hòa để hoằng dương Phật pháp. Hòa thượng Thích Thiện Hòa đã cho xây dựng ngôi chánh điện theo kiểu chùa Từ Đàm (Huế). Sau đó, Ngài cho xây tăng xá, giảng đường và nhà trù.
    Năm 1951, Hòa thượng Thích Thiện Hòa đã vận động các trường Phật học Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức và Ứng Quang hiệp nhất thành Phật học đường Nam Việt. Chùa Ứng Quang được đổi tên thành Ấn Quang, được chọn làm trụ sở của Phật học đường. Hòa thượng được bầu làm Tổng Giám đốc.
    Ngày 14 và 15 tháng 7 năm Quý Tỵ (1953), chùa Ấn Quang tổ chức đại lễ khánh thành.
    Năm 1955, Hòa thượng cho xây dãy lầu nhà Tổ và trai đường. Liên tục hai năm sau, Hòa thượng cho xây nhà in Sen Vàng, xưởng nhang Bồ Đề, thư viện, nhà xuất bản, nhà phát hành Hương Đạo. Năm 1959, Ngài cho xây lại dãy lầu giảng đường. Đến năm 1966, chánh điện được tôn tạo. Năm sau, lầu tăng xá, nhà trai được tái thiết. Kiến trúc chùa được xây dựng theo đồ án của kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thiện.
    Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Chính giữa tôn trí tượng đức Phật Thích Ca Mâu ni (do Phật tử Minh Dung tạc) và tháp Xá Lợi Phật. Phía sau đặt thờ hai tượng Hộ Pháp hai bên. Chùa có tượng Tổ sư Đạt Ma bằng gỗ và bộ tranh sơn mài Quan Âm, Văn Thù, Phổ Hiền do nghệ nhân Trương Văn Thanh (Đại đức Minh Tịnh) thực hiện.
    Trong hơn một phần tư thế kỷ, Hòa thượng Thích Thiện Hòa (1907-1978) đã dành trọn tâm trí và công sức để tôn tạo ngôi chùa, mở trường Phật học đào tạo lớp tăng tài cho Giáo hội. Ngài thế danh Hứa Khắc Lợi, quy y thọ giới với Tổ Bửu Sơn ở chùa Long Triều (Chợ Lớn) năm 15 tuổi, xuất gia tại Phật học đường Lưỡng Xuyên (Trà Vinh) năm 28 tuổi.

    Năm 1952, Ngài hướng dẫn phái đoàn Giáo hội Tăng già Nam Việt tham dự Đại hội Thống nhất Tăng già Việt Nam tại chùa Quán Sứ (Hà Nội), được suy cử làm Trị Sự Trưởng Giáo hội Tăng già Toàn quốc. Năm 1965, Ngài được bầu làm Tổng Vụ trưởng Tổng vụ Tài chánh Kiến thiết Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Năm 1973, Ngài được suy tôn Phó Tăng Thống cho đến ngày viên tịch. Chùa là một trung tâm đào tạo nhiều tăng tài cho Phật giáo Việt Nam hiện đại, là trụ sở của Giáo hội Tăng già Nam Việt, văn phòng Viện Hóa Đạo và Viện Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất trước đây.
    Hiện nay, chùa đặt văn phòng 1 Ban Trị sự Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh (văn phòng 2 đặt tại chùa Phổ Quang, quận Tân Bình). Chùa đã tổ chức trùng kiến xây dựng nhà Tổ và tăng xá vào ngày 07-3-2006. Trong khuôn viên chùa có phòng phát hành kinh sách và nhà tang lễ.
    Chùa là nơi đón tiếp đông đảo Phật tử, du khách đến sinh hoạt, tham quan, lễ Phật thường xuyên.

    17.                         Chùa Vĩnh Tràng - Tiền Giang

    Du khách đến Mỹ Tho mà không thăm chùa Vĩnh Tràng là một điều thiếu sót. Đây là ngôi chùa cổ danh tiếng và là một công trình kiến trúc tiêu biểu ở Nam Bộ. Chùa tọa lạc trên mảnh vườn cây ăn trái rộng gần 2 hecta, thuộc làng Mỹ Hóa, nay là xã Mỹ Phong, bên con rạch Bảo Định hiền hòa nước ngọt quanh năm.
    Vào nửa đầu thế kỷ XIX, chùa vốn là một thảo am do ông Tri Huyện Bùi Công Đạt phát nguyện xây cất để di dưỡng tinh thần sau khi về hưu. Ông thỉnh Hòa thượng Từ Lâm ở chùa Bửu Lâm về trụ trì. Sau khi ông Bùi Công Đạt qua đời, Hòa thượng Huệ Đăng dã vận động tín đồ xây dựng thành ngôi đại tự với tên Vĩnh Traøng, hoàn thành vào mùa hè năm Canh Tuất (1850).
    Lúc đầu mang tên LÀ Vĩnh Trường (sư muốn ngôi chùa mãi mãi trường tồn và vĩnh cửu theo thời gian) nhưng do nhiều ngươì miền Nam đọc trại đi thành Vĩnh Tràng. Kế vị trụ trì là hoà thượng Thích Thiện Đề. Khi ngài viên tịch thì ngôi chùa hương khói lạnh tanh. Năm 1890, bổn đạo đến chùa Sắc Tứ Linh Thứu thỉnh hòa thượng Quảng An-Chánh Hậu về trụ trì. Năm 1895, ngài đã tồ chức xây lại ngôi chùa. Chùa hư hỏng nặng vì trận bão năm 1905. từ năm 1907->1911, này đã khuyến giáo tín đồ đóng góp công của đại trùng tu ngôi chùa và mời điêu khắc gia Tài Công Nguyên đảm nhận phần trang trí và tạc các tượng trong chùa. Hòa thượng Chánh Hậu gốc người Minh Hương, sinh năm 1852 tại làng Điều Hòa tỉnh Định Tường cũ. Năm 1897, ngài quy y thọ giới với hòa thượng Thích Minh Phước tại chùa Bửu Lâm. Ngài được cử làm thủ thượng tọa chùa sắc tứ linh thou từ năm 1880, trụ trì chùa vĩnh tràng từ năm 1890 và đã thường xuyên mở các lớp gia giáo để đào tạo tăng tài. Ngài viên tịch năm 1923. hòa thượng Tâm Liễu –An Lạc(tức Minh Đàng, thế danh Lê Ngọc Xuyên) kế tục, cho xây cổng Tam Quan, mặt tiền chánh điện và nhà tổ.
    Chùa trải qua bốn lần trùng tu: lần trùng tu thou 1 vào năm 1907, hòa thượng Chánh Hậu đã trùng tu và tôn tạo lại mặt chùa. Mặt tiền chánh hậu được xây doing theo lối kiến trúc á, âu; lần trùng tu thứ 2 vào năm 1930; lần trùng tu thứ 3 là 1990; lần trùng tu thứ tư là 2004. hiện nay đang được trùng tu lần nữa.
    Trước cửa chùa có cổng tam quan rất tráng lệ do tốp người Huế thực hiện năm 1933 với sự tài trợ về kinh phí của 2 ông Hùynh Trí Phú và Lý Văn Quang. Cổng giữa làm bằng sắt theo kiểu Pháp; 2 cổng bên làm bằng xi măng vươn cao như 2 tòa lâu đài cổ, được ghép tòa những mảnh sành sứ tạo nên những bức tranh với màu sắc hài hòa, minh họa sự tích nhà phật, truyện tích nhân gian và các đề tài Tứ Quý, Tứ Linh, hoa lá…tầng lầu thượng của cổng Tam Quan có vòm cửa rộng, bên phải đặc tượng hòa thượng chánh hậu, bên trái đặt tượng hòa thượng Minh Đàng. Cả 2 tượng này đều đắp bằng xi măng giống như tượng thật, do điêu khắc gia Nguyễn Phi Hoanh thực hiện.
    . Mặt tiền chùa vĩnh tràng trang trí theo kiểu kết hợp đặc điểm kiến trúc cả Á, lẫn Âu. Ơ nay có những hoa văn theo thời phục hưng, vòm cửa theo kiểu La Mã, bông sắt Ấn Độ, gạch men nhật bản…những câu ngữ Hán viết theo lối thể chữ truyện cổ kính xen với chữ quốc ngữ viết theo lối chữ Gô-Tích. Từ xa trông vào du khách có thể hình dung ngôi chùa như đền Ăngkor có năm tháp. Theo truyền tụng của nhân dân địa phương thì hòa thượng Minh đàn và ông quỳnh trí phú từng du học sang xứ chùa tháp nên tiếp thu được cái trong kiến thức ngôi chùa tên đó, kết hợp với kiến trúc phương tây.
    Tượng có nhiều tay nhiều mắt gọi là chuan đề bồ taut, vị này là hiện thân của quan thế âm bồ taut có nhiều tay, nhiều mắt để cứu độ chúng sinh: nhiều mắt để thấy được nổi khổ của chúng sinh
    Trong chùa có chuông đồng một tấn do vua Tự Đức cho kinh phí đúc, chuông được làm sau năm giáp dần
    Ngày Giỗ Đình Vĩnh Tràng:
     


    18-1 Hòa Thượng Huệ Đăng™
     17-3 Hòa Thượng Pháp™Tràng
     1-5 Hòa Thượng Tú Long™
     21-6 Hòa Thượng Minh Đàn™
     30-7 Hòa™Thượng Trà Chánh Hậu.



    Ngòai ra, các ngày giỗ ra còn các ngày: thượng quân (15-1), trung quân(15-7), hạ quân(15->10). Đặc biệt ngày 15-4 Am Lịch còn có ngày lễ áng sanh của Phật Thích Ca.
    Ở chánh điện có các bao lam được chạm trổ công phu, trong đó có bộ phù điêu Bát Tiên cỡi thú do các nghệ nhân tại địa phương thực hiện vào khoảng năm 1907 - 1908. Trên bàn thờ có nhiều pho tượng Phật như A-di-đà, Thích-ca, La-hán và tượng các vị Bồ-tát. Hai bên bàn thờ là tượng chân dung Hòa thượng Chánh Hậu và người kế pháp là Hòa thượng Minh Đàn. Các Hòa thượng Huệ Đăng, Chánh Hậu, Minh Đàn đều thuộc Thiền phái Lâm Tế.
    Bộ tượng cổ nhất ở chùa Vĩnh Tràng là bộ Tam Tôn (Di-đà, Quan Âm, Thế Chí) bằng đồng. Tiếc rằng tượng Quan Âm đã bị thất lạc từ lâu. Sau này Hòa thượng Chánh Hậu phải thuê thợ làm tượng khác bằng gỗ thế vào cho đủ bộ. Tượng Ngọc Hoàng cũng bằng đồng, to gần bằng người thật, cùng phong cách với tượng Già Lam, Đạt-ma ở chùa Bửu Lâm. Khác với thông lệ xưa nay, Ngọc Hoàng ở đây không có Nam Tào, Bắc Đẩu cầm sổ sinh tử đứng hầu hai bên. Thay vào chỗ đó là Ông Thiện và Ông Ác.
    Hai bên tường chánh điện là bàn thờ Thập điện Minh Vương. Đặc biệt ở đây có bộ Thập bát La-hán là những tác phẩm chạm khắc gỗ độc đáo mà một số nghệ nhân ở Nam Bộ đã tạc vào năm 1907 theo sự chỉ đạo của Hòa thượng Chánh Hậu. Bộ tượng này bằng danh mộc, mỗi tượng cao khoảng 0,80m, bề ngang 0,58m, được đặt hai bên điện Phật gọi là sáu căn : mắt, tai, lưỡi, mũi, thân và ý; ở ba thời: quá khứ, hiện tại và vị lai. Các tượng La-hán này được tạo hình cân đối, sinh động, cỡi trên các con thú như trâu, bò, ngựa, lạc đà, hà mã, tê giác v.v.
    Trong khuôn viên chùa Vĩnh Tràng có nhiều chậu cây cảnh, hòn non bộ được chăm sóc thường xuyên. Dưới bóng cây, tháp Hòa thượng Chánh Hậu và gia đình được xây dựng bề thế có tường rào bao bọc.
    Nhìn chung, vẻ đẹp của chùa Vĩnh Tràng tập trung ở nghệ thuật tạo hình. Có ý kiến cho rằng có thể xem chùa Vĩnh Tràng là một bản tổng kết lịch sử mỹ thuật của đất Tiền Giang.
    Hiện chùa Vĩnh Tràng là nơi đặt văn phòng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo và trường Cơ bản Phật học tỉnh Tiền Giang. Chùa đã trở thành điểm du lịch và hành hương của tỉnh, thu hút du khách và Phật tử hàng ngày. Tết Tân Dậu (1982) nhà thơ Xuân Thủy đã đến viếng chùa và viết tặng một bài thơ :

    Đức Phật giàu tình thương
    Nên chùa tên Vĩnh Tràng
    Nhà sư vốn yên nước
    Lòng như sông Tiền Giang

    18.                         Chùa Tây An - An Giang

    Chùa Tây An toạ lạc tại ngã ba núi Sam thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang, cách thị xã Châu Đốc khoảng 5 km.
    Chùa Tây An mang dáng dấp của những ngôi chùa Ấn Độ, có kiến trúc hài hòa với cảnh trí thiên nhiên, tạo một vẻ đẹp lộng lẫy.
    Chùa Tây An nằm trong quần thể kiến trúc của Miếu Bà Chúa Xứ. Chùa Tây An do một vị quan triều Nguyễn đời Minh Mạng (1820) là tổng đốc Nguyễn Nhật An xây dựng theo lời nguyện của ông khi được triều đình phái đi Cao Miên. Theo lời nguyện này, nếu ông đi thành công, khi về sẽ dựng ngội chùa thờ Phật tại chân núi Sam. Cất chùa xong bằng tre, ông thỉnh vị hòa thượng đầu tiên là Nguyễn Văn Giác, pháp hiệu là Hải Tịnh đến trụ trì. Năm thiệu trị thứ 7 (1847), chùa lại thỉnh thêm một vị hoà thượng nữa tên là Đoàn Minh Huyền, Pháp hiệu là Pháp Tạng đến trụ trì. Vị hòa thượng này ngoài việc tu hành còn có tài làm thuốc trị bệnh cho nhân nhân rất hiệu quả nên sau khi ông mất, đồng bào đã suy tôn ông là Phật Thầy Tây An và danh hiệu này vẫn gọi đến ngày nay. Kể từ đời ngài Đoàn Minh Huyền (Phật Thầy Tây An) trụ trì tới nay đã trải qua 7 đời truyền thừa và đã được trùng tu nhiều lần.
    Đến năm 1958, hoà thượng Thích Bửu Thọ đứng ra vận động góp tiền xây dựng lại ba ngôi cổ lầu, mặt chính của chùa và sữa chữa lại ngôi chính điện tạo nét kiến trúc phương Tây kết hợp với kiến trúc Á Đông.
    Chùa được xây bằng gạch, xi măng và lợp ngói, nguy nga với ba ngôi lầu nóc tròn hình củ hành theo kiến trúc kiểu Ấn-Hồi, màu sắc rực rỡ nhưng hài hoà, nổi bật trên vách núi xanh thẩm.
    Chánh điện chùa cao 18m, thờ phật Thích Ca, còn hai bên là lầu chuông và lầu trống. Trước chùa có 3 vọng cửa: cửa giữa tam quan thờ Phật Quan Am, 2 cửa 2 bên có 2 bảng đề “Tây An cổ tự”, bên trong cửa tam quan là sân chùa có một cột phướn cao 16m. Vòm chánh điện đắp nổi hình rắn hổ mang 7 đầu. Sân chùa có hai tượng bạch tượng và hắc tượng bằng xi măng lớn như thật: con trắng 6 ngà, con đen 2 ngà, vai có đắp nổi hai vị thần tiên ngồi bên trên mặt trăng lưỡi liềm. Đặc biệt tượng hòa thượng Thích Bửu Thọ được tạc ngồi bên bàn viết như người thật. Chùa theo phái đại thừa, có khoảng 11.270 pho tượng Phật lớn, nhỏ bằng gỗ. Chùa có nhiều câu đối hoành phi do các nghệ nhân ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX chạm trổ công phu. Ngày rằm tháng giêng, rằm tháng 7 và tháng 10 âm lịch là ngày nhân dân đến cúng lễ đông nhất.

    Phật thầy Tây An (1807 - 1856)

    Tên thật của ông là Đoàn Minh Huyền, có người lại cho là Đoàn Văn Huyên. Ông sinh vào ngày rằm tháng 10 năm Đinh Mão (1807) tại làng Tòng Sơn, thuôc Cái Tàu Thượng, tỉnh Sa Đéc.
    Tục truyền, bình sanh ông cũng như bao người dân khác, chuyên cần cày cấy, sống bằng nghề ruộng rẫy. Nhưng đến năm 43 tuổi, ông không màng đến chuyện làm ăn nữa và hết ngày này sang ngày nọ nói toàn những chuyện hư hư thật thật, lúc phàm lúc thánh. Do vậy mà người đời cho ông đã hóa rồ, là người khật khùng.
    Không biết vì dân làng khinh bạc hay vì lý do nào khác, năm 1849, ông chèo chiếc xuồng con ngược theo dòng rạch Cái Tàu Thượng trở ra rạch Xẻo Môn đến làng Kiến Thạnh (tức làng Long Kiến, thuộc tỉnh Long Xuyên). Bấy giờ, ở đây bệnh thời khí hoành hành rất dữ. Số người mắc bệnh chết rất nhiều. Các lương y, rồi các vị pháp sư nổi tiếng cao cường thời ấy đều bó tay trước cơn dịch bệnh khủng khiếp chưa từng có này. Làng trên xóm dưới kẻ bệnh người chết nhiều không kể xiết…
    Trong cảnh dịch bệnh và tang tóc ấy, bỗng vào một buổi sáng tại đình làng Kiến Thạnh, ông Từ khi thắp nhang ở bàn thờ thần Thành Hoàng thấy một người ngồi sừng sững trên đó. Hốt hoảng, ông Từ vụt bỏ chạy và toan la làng thì người đó khoát tay và gọi ông ta trở lại. Ông Từ định tâm hỏi:
    - Ông là ai mà lại cả gan ngồi trên bàn thờ thần?
    Người ấy đáp:
    - Phật thầy giáng thế cứu đời là ta!
    Ông Từ càng ngạc nhiên hơn và hoàn toàn không tin những gì mà người đàn ông lạ mặt ấy phán bảo. Ông Từ lại hỏi:
    - Ông tự xưng là Phật Thầy giáng thế cứu đời thế thì dân chúng đang bị ôn dịch làm hại, ông có phương chi cứu họ?
    - Sao lại không! Đâu, ai đã mắc bệnh ôn dịch thì hãy đem lại đây, ta cứu cho!
    Tin này lan truyền khắp xóm. Kẻ kẻ đều hồ nghi. Lúc đó, người con trai của ông Hương cả bị bệnh thổ tả trầm trọng không còn cách nào chạy chữa nên người ta đã thử đem bệnh nhân đến nhờ vị Phật thầy ấy cứu chữa. Tục truyền, bệnh nhân sau khi uống “thuốc” của Phật thầy thì công hiệu ngay. Thế là khắp làng trên, xóm dưới, các gia đình có người mắc bệnh ùn ùn đưa người bệnh đến nhờ xin đức Phật thầy cho “thuốc”.
    Khi có người đến xin thuốc thì Phật thầy hỏi rõ tên họ rồi mới cho. Hễ ai mà thầy bảo bệnh có thể chữa trị thì mới phát thuốc, còn ngược lại, những bệnh nhân nào mà thầy cho là đã tới số thì chạy chữa thế nào cũng không thoát khỏi.
    Phật thầy ở nơi đình ba ngày thì dời đến cái cốc của ông Kiến, nơi mà sau này dựng nên chùa Tây An cổ tự, để tiếp tục trị bệnh, vừa truyền đạo. Số người đến xin trị bệnh càng ngày càng đông và trong số đó, nhiều người đã trở thành tín đồ của đạo gọi là Bửu Sơn Kỳ Hương. Cái cốc cũng được chỉnh đốn thành ngôi chùa và những nghi thức lễ bái, thờ phượng của đạo này cũng dần dần hình thành qui củ.
    Càng ngày, số lượng người sùng tín càng đông. Điều này không những khiến các pháp sư, các thầy bùa ganh ghét mà chức việc địa phương cũng phải để tâm đến. Mặt khác, vào khoảng năm 1841, ở Trà Vinh có nhóm người hợp với sư sãi nổi dậy chống lại quan quân nhà Nguyễn nên sự kiện Phật thầy Tây An trở thành vấn đề quan trọng mà các quan chức địa phương không thể bỏ qua được. Khi được tin báo có “gian đạo sĩ” phát trù bệnh, quan tỉnh An Giang sai đội nhì Bồng và Cai Nhứt Trung xuống tận làng Kiến Thạnh để bắt Đoàn Minh Huyền áp giải về tỉnh.
    Tục truyền, khi giải về tỉnh đường, quan tỉnh vồn vã chỉ bộ ván có trải chiếu bông mời mọc:
    - Mời chú đạo ngồi.
    Ông đáp:
    - Mời quan lớn ngồi trước. Tôi là chú đạo đâu dám vô lễ.
    - Không sao đâu! Tôi cho phép chú cứ ngồi.
    - Bẩm quan lớn! tôi nói không dám vô lễ là vô lễ với Phật vì tôi là chú đạo đâu dám ngồi trong lúc Phật nằm.
    - Chú nói mới lạ chứ…
    Đức phật thầy bước lại giở chiếu lên: lộ ra bức tượng Quan Âm mà quan tỉnh đã đặt bên dưới để lập mưu thử ông đạo này.
    Một hôm nhân ngày rằm, những người coi khám đường dọn cho ông một mâm cơm vừa chay vừa mặn, đơm sẵn thành tám chén. Họ đặt mâm cơm xuống và hỏi:

    - Hôm nay ông đang ăn chay hay ăn mặn?
    - Tôi ăn chay.
    - Vậy mời ông đạo dùng cơm.
    Đáp lời mời, ông ngồi xuống lần lượt ăn hết ba chén cơm liền một mạch, rồi lại bưng chén cơm thứ tư ăn tiếp và nói:
    - Các quan cho tôi ăn cơm chay thì tôi phải ráng ăn cho hết.
    Các viên chức ở khám đường có mặt trong vụ này đều kinh ngạc vì đúng bốn chén cơm mà ông đã ăn là cơm chay, còn bốn chén cơm còn lại đều có để mở heo dưới đáy.
    An xong chén cơm thứ tư, ông nói:
    - Các vị tính lừa tôi ăn mặn rồi thì trói đầu tôi chắc?
    - Ồ! chúng tôi đâu có ý vậy….
    - Thật không? Thế thì các vị chuẩn bị sẵn dây trói để làm gì?
    Nói dứt lời, ông thò tay giở nắp cái quả: trong đó có sợi dây trói để sẵn. Các viên chức ở khám đường càng kinh ngạc hơn. Tục truyền, từ đó, họ tỏ ra kính phục Đức Phật Thầy. Quan chủ tỉnh An Giang, làm tờ tâu vụ “gian đạo sĩ” này về triều với những lời tấu trình dè đặt hơn. Sau đó, theo chiếu chỉ của vua, Đoàn Minh Huyền phải xuống tóc và thọ giới như các nhà sư với sự chứng minh của vị hòa thượng sắc tứ. Khi cạo tóc xong, người ta toan cạo hết hàm râu thì ông cản lại:
    - Chiếu chỉ của triều đình dạy xuống tóc chứ đâu có dạy cạo râu mà các vị lại cạo.
    Các viên quan thi hành chiếu chỉ của triều đình đành phải chịu để lại hàm râu. Có lẽ đây là nhà sư để râu duy nhất trong lịch sử Phật Giáo! Sau đó, Đoàn Minh Huyn vào núi Sam lập một ngôi chùa bằng cây lá để tiếp tục truyền đạo. Công việc hoằng hóa giờ đây lại chú tâm đến việc an cư lạc nghiệp cho bổn đạo: ông đứng ra tổ chức việc khẩn hoang ở núi Thới Sơn và vùng Láng Linh để lắp hai trại ruộng. Ông muốn tín đồ phải dng sức cần lao để sinh sống, nuôi gia đình mà không dựa vào sự cúng dường của bá tánh.
    Tục truyền, Đoàn Minh Huyên ít ở chánh tức chùa Tây An ở núi Sam, mà thường lui tới thăm nom và động viên tín đồ hăng hái khẩn hoang và chí thú làm ăn.
    Về việc Đoàn Minh Huyên ít ở Tây An tự có giả thiết cho rằng ngôi chùa ấy, tuy là do ông lập ra, nhưng công việc quản lý và thực hành nghi lễ đều theo Phật giáo Phái Lâm Tế do các tăng sĩ của chùa Giác Lâm (Chợ Lớn) cử về đảm nhận. Ông lập các trại ruộng để truyền đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, một hệ phái có tôn chỉ và nghi thức thờ phụng đơn giản, không nặng nề “thinh âm sắc tướng”, chuông mõ như Phật giáo Phái Lâm Tế – một tông phái đang thống quản xứ Nam Kỳ. Tuy nhiên cũng có giai thoại kể rằng chính Đoàn Minh Huyên đã đích thân cày ruộng. Tục truyền, ở trại ruộng Thới Sơn, ông có nuôi hai con trâu, đặt tên là Sấm và Sét. Hai con trâu này chỉ chịu sự điều khiển của ông… Ngoài ông ra không ai có thể mắc chúng vào ách để cày được. Chính ở đây, Đoàn Minh Huyên đã qui tụ khá đông tín đồ, đặc biệt hàng đệ tử lớn có anh em ông Đình Tây, ông Đạo Xuyến, ông Đạo Lập ở Thới Sơn, Đức cố quản Trần Văn Thành ở Láng Linh. Về sau khi thực dân Pháp chiếm An Giang các trại ruộng là căn cứ kháng chiến quan trọng và các tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương là lực lượng nòng cốt của các phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
    Năm 1856, ông qua đời. Trước khi tịch, ông dặn dò đệ tử sau khi an táng không được đắp nấm mà phải phả bằng để lấy đất cày cấy trồng trọt. Các đệ tử làm theo lời ông dặn, tuy nhiên họ xây rào bao quanh giữ lấy di tích của vị tổ khai đạo để lưu truyền cho các thế hệ sau.
    Theo niềm tin tôn giáo, tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương cho rằng Đức Phật Thầy, sau khi tịch, vẫn “chuyển kiếp nhập thân vào những phàm nhân để tiếp tục hoằng hóa đạo pháp và cứu thế độ đời. Đức Phật Trùm, Đức Bổn Sư, Sư Vãi bán khoai là những trường hợp giáng thế như vậy. Trong thực tế, đây là những môn đồ kế tục việc xiển dương và truyền bá giáo thuyết Bửu Sơn Kỳ Hương theo phương thức và nội dung có sửa đổi ít nhiều để phù hợp với thực tế của mỗi giai đoạn lịch sử. Đặt biệt trong những thập niên mới thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX các môn đệ này đã ít nhiều gắn với công cuộc kháng Pháp lúc công khai lúc dưới các tổ chức Hội kín. Chính vì vậy, Đức Phật Trùm đã bị thực dân Pháp bắt đày ra hải đảo, Đức Bổn Sư Ngô Lợi bị giặc ruồng bố và truy nã liên tục và ông sư vãi bán khoai phải giả dạng làm phụ nữ bán khoai để làm việc đời việc đạo.

    Chùa Tây An và Đức Phật Thầy Đoàn Minh Huyên

    Chiều chiều én liệng non tây
    Cảm thương đức trọng Phật Thầy Tây An
    Câu ca dao truyền tụng trên đây nói về đức hạnh cứu dân, độ thế của đức Phật Thầy Tây An vào thế kỷ trước. Đại Nam Nhất Thống Chíđã trình bày ngôi chùa nầy như sau: Ở địa phận của thôn Vĩnh Tế, huyện Tây Xuyên, nguyên quan Tổng Đốc Mưu Lược Tướng Tu Tĩnh Doãn Uẩn đã kiến trúc nên ngôi chùa vào năm Thiệu Trị thứ 7 (1847).
    Chùa đứng trên núi, mặt trước trông ra phía tỉnh thành. Phía sau dựa theo vòm núi. Tiếng người vắng lặng, cổ thụ âm u. Cũng là cảnh Thiền lâm vậy…
    Trong bài bia Vĩnh Tế Sơn được dựng lên vào tháng tư năm 1828 của Thoại Ngọc Hầu cũng đã tả lại khung cảnh tươi đẹp của ngôi chùa TâyAn như sau:
    Rành rành chân núi trắng phau. Trơ trọi ngọn tre xanh ngắt. Cảnh núi trở nên tươi đẹp, sừng sửng vọt lên. Ngắm dòng nước biếc bên bờ cao, ruộng vườn bao quanh chận ly núi. Hơi tan tuôn cuốn lẫn khói cơm chiều. Chùa chiền trên chót, hương toả mây hồng. Thật không kém gì phong cảnh trung châu vậy…
    Về việc xây dựng chùa tháp miền Nam trong thời gian đó, những nhà nghiên cứu kiến trúc Phật Giáo Việt Nam đã viết như sau: Trong Nam Bộ, vùng đấy nầy (Châu Đốc) nổi tiếng sùng tín đạo Phật, chùa tháp mọc lên hàng loạt.
    Người các nơi đến để khai phá đất đai, họdựng lên chùa để cầu an, cầu phước, để gần nhau, giúp đỡ nhau, trong việc làm ăn sinh sống. Thành thử trong bước đầu việc xây của cốt là đáp ứng nhu cầu tâm linh của những người mới đến, những lưu dân đi khai phá.
    Rồi dần dà theo thời gian, ngôi chùa vươn lên, có ảnh hưởng cả toàn vùng. Tây An trong trường hợp đó. Trong thời gian ban đầu, ngôi chùa chưa có một quy mô và diện mạo kiến trúc như hiện nay, mà chỉ được xây dựng bằng tường gạch, nền cuốn đá xanh, mái lợp ngói nhưng không lớn lắm.
    Từ đó đến nay, qua bao nhiêu biến chuyển, chùa Tây An đã bị hư hỏng nhiều nhưng cũng đã kiến thiết kịp thời và những lời truyền tụng như trên đến nay vẫn còn nhiều ý nghĩa.
    Chùa Tây An đã hai lần được trùng tu đại quy mô: lần thứ nhất vào năm 1861, do Hoà thượng Nhất Thừa chủ trì trùng tu chánh điện và nhà Tổ rộng rãi thêm và có nhiều công trình điêu khắc trang nhã hơn; qua lần thứ nhì vào năm 1958, do công trình của thiền sư Bửu Thọ; những công trình chính trong giai đoạn sau gồm có: xây ba ngôi lầu cổ, xây tiền đường của chùa, xây dựng và trang trí lại ngôi chánh điện.
    Đầu tiên phải nói đến nơi tọa lạc của ngôi chùa. Chùa nằm trên ngã ba từ Châu Đốc vào núi Sam, mặt hướng về phía sông, tựa lưng vào núi. Điều nầy rất quen thuộc với những ngôi chùa Việt, vì không ít ngôi chùa nước ta đã được xây dựng trên núi hay dựa lưng vào núi như trường hợp chùa Phật Tích (Hà Bắc) chùa Đọi (Nam Hà)…
    Ngoài ra yếu tố địa lý cũng là nhu cầu thiết trí “tiền án, hậu chẩm, sơn triều, thủy tụ”. Ngọn núi nầy lại đột khởi trong vùng đồng bằng, núi Sam có vẻ đẹp đặc thù của nó.
    Hơn một trăm năm về trước, Thoại Ngọc Hầu đã ca ngợi vẻ đẹp vùng thiên nhiên nầy trong bia Vĩnh tế Sơn:
    “Rành rành chân núi trắng phau, trơ trọi ngọn tre xanh ngắt, cảnhnúi trở nên tươi đẹp, sừng sững vọt lên. Ngắm nhìn dòng nước biếc bên bờ cao, ruộng vườn bao quanh chân núi, hơi lam tuôn cuốn lẫnkhói nấu cơm, chùa chiền trên chót toả hương mây lồng, thật khôngkém gì phong cảnh trung châu vậy…”
    Qua những đường nét kiến trúc và điêu khắc, nền mỹ thuật nầy chịu ảnh hưởng của Ấn Độ và Hồi Giáo kết hợp lại. Du khách đến vãn cảnh hay lễ bái chùa phải lên 32 bậc thềm, vào cổng chùa, qua Đông môn hay Tây môn, trước khi đến tiền sảnh rộng thênh thang của ngôi chùa.
    Ngôi chùa được bố cục theo hình chữ Tam, chính giữa là chánh điện; bên phải là khu mộ tháp; bên phải là nhà Tây lang. Ngay ở cửa tam quan, đã trông thấy được tượng Phật Bà Quan Âm Thị Kính tay bế Thị Mầu. Đây là pho tượng Quan Âm Tống tử mà người bình dân thường quen gọi là Quan Âm Thị Kính.
    Pho tượng diễn tả tư thế của một phụ nữ đang bồng con, nét mặt của pho tượng cho thấy đây là một phụ nữ hiền thục, đượm vẻ buồn bả, ẵm đứa bé kháu khỉnh. Đường nét chạm khắc của pho tượng mềm mại, sinh động. Pho tượng nầy được trình bày theo sự tích Quan Âm Thị Kính được truyền bá sâu rộng trong dân gian. Theo những nhà nghiên cứu lịchsử nghệ thuật thì loại tượng nầy xuất hiện ở Việt Nam tương đối muộn, niên đại vào thế kỷ XVIII hay XIX về sau. Hình thức pho tượng nầy có thể xem là việc đổi mới của tượng Quan thế Âm Tọa Sơn, tuy nhiên khi thờ phụng thì hai tượng được thiếttrí đăng đối nhau.
    Tại chùa Mía (Hà Tây) pho tượng Quan Thế Âm Tống Tử được xem là đẹp nhất về đồ hoạ, màu sắc và thể dáng trong tất cả những pho tượng cùng chung thể tài nầy. Tượng to vừa phải bằng con người thực, dáng dấp của một thôn nữ hiền thục, phúc hậu, ngồi trên một mỏm núi, chân trái hơi co, còn chân kia duỗi thẳng, rất tự nhiên, hai tay đỡ một đứa bé (con của Thị Mầu). Bên cạnh có một con vẹt đậu, mà theo một số truyền thuyết (Quan Thế ÂmTruyền Kỳ - 1943) thì con vẹt biểu trưng cho Thiện Sỹ.
    Những chi tiết chạm khắc trên đã theo như tích truyện, mà trong đó đứa bé thì được hình dung hoá là “chúng sanh trong bể trầm luân”. Nhìn chung lại, những hình tượng đức Quan Thế Âm rất gần gủi với người bình dân Việt Nam, thường biểu hiện cho sự “cứu khổ, cứu nạn”, “viễn ly khổ ách”.
    Những ngôi chùa thuộc Phật Giáo Đại Thừa thường thiết lập tượng nầy trong nhiều kiểu dáng, có khi có đủ 5 kiểu nêu trên. Nét lạ của tam quan của chùa Tây An chính là ở chi tiết nầy; cả về phương diện kiến trúc, tam quan của chùa Tây An cũng có những nét khác biệt.
    Ở những ngôi chùa vùng châu thổ sông Hồng hay vùng Thanh Nghệ Tĩnh, tam quan thường là một căn nhà ba gian có ba cửa rộng, đều được coi như là 3 cửa chính tức là không quan, giả quan và trung quan. Cạnh tam quan về bên phải, thường có thêm một cổng, luôn mở trong ngày thường, trên cổng là gác chuông.
    Tam quan ở chùa Tây An thì không theo cách kiến tạo đó. lầu trống và lầu chuông được dởi lui về phiá sau. Cả ba lầu đều được thiết kế hình tròn, mang dáng dấp nghệ thuật Hồi Giáo, nhưng lại được Việt hoá. Trên vòm cao đó có những loại hình: lọ bút, đài thiêng, tượng trưng cho việc phát triển văn hoá của người xưa. Hai lầu chuông, lầu trống được thiết kế nhỏ hơn, thấp hơn; phía dưới vòm là tượng đức Phật Thích Ca, được đặt trong khung bát giác, trong tư thế đứng thoải mái.
    Pho tượng nầy được tạo dáng khá sinh động, tự nhiên, đầy thần sắc. Đây cũng một nét khác lạ của chùa Tây An trong việc bài trí tượng. Trong những ngôi chùa vùng châu thổ sông Hồng, tượng của đức Bổn Sư Thích Ca thường đuợc bày ở hàng thứ ba, sau Di Đà Tam Tôn và sau ba pho Tam Thế. Bên cạnh tượng đức Thích Ca là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát.
    Ngoài những loại tượng Quan Thế Âm kể trên, nhiều chùa còn có bộ tranh Thập Điện Diêm Vương đang xét xử những người từng gây nhiềutội ác trên dương thế; trong đó có cả cảnh đức Quan Thế Âm vào tận ngục thăm hỏi và cứu độ chúng sanh.
    Trước thềm của chùa có hai tượng voi: một con voi trắng có sáu ngà, một con voi đen có hai ngà. Chùa lợp mái chồng diêm hai cấp, lớp ngói kiểu đại ống; thỉnh thoảng có điểm xuyết hình tứ linh.Mái tam quan, cửa đông và cửa tây mang kiến trúc thuần túy dân dãViệt Nam, Mái lợp ngói âm dương có hai lớp như nhiều kiến trúc chùa chiền ở miền Bắc, nhằm thể hiện một quan niệm vũ trụ của Dịch học: “âm dương phải giao hoà trong ứng xử”.
    Trên mái che có trang trí hình sư tử, con vật thuờng được xưng tán là hiện thân cho sức mạnh siêu linh; hai con rồng tranh châu mang vẻ đẹp tượng trưng cho sự giao hoà của vũ trụ. Bên cạnh đó là những hoa văn thường gặp ở các ngôi chùa cổ như hoa cúc, hoa sen thường gặp ở các ngôi cổ tự miền Trung hay miền Bắc.
    Qua khỏi mái của tam quan, đông môn và tây môn vút lên cao, trông tựa “như vạch một tia chớp vào cõi thiên nhiên”. Qua những đường nét nầy cho thấy, ngay từ cửa tam quan, đông môn và tây môn, chùa Tây An đã không mang vẻ dị biệt gì so với các ngôi chùa khác trong toàn vùng.
    Tất cả những linh vật trang trí và chạm khắc, những nét hoa văn bao quanh… đều là sự phản ánh tâm hồn thuần túy dân tộc.
    Về điện thờ, chùa Tây An có những nét chung của đa số chùa chiền Nam Phần. Từ ngoài cửa đi vào, trước mặt của phần chánh điện là các pho tượng được bài trí theo lớp lang. Chùa thờ đức Phật A Di Đà cho nên lớp trong cùng cao nhất là tượng đức A Di Đà; sau đólần lượt là các tượng Phật khác. Ngay nơi cửa ra vào, bên trái có bàn thờ cô Hiên mà người dântrong vùng thường gọi là “Phật Cô hai”; bên trái là ban thờ Cửu Thiên Huyền Nữ; ở chính giữa thờ Thất Thánh có chúa Tiên mặc áo xanh, chúa Ngọc mặc áo nâu đứng hầu.
    Như thế, về phương diện tín ngưỡng, chùa Tây An là sự hỗn dung phối tự với nhiều tượng thờ của các tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau. Có thể thấy ngay sự hiện diện của một tín ngưỡng trong dân gian: đó là tín ngưỡng thờ Mẫu.
    Việc thờ Mẫu gắn liền với thờ Phật là trường hợp bình thường trong nhiều chùa chiền, đáp ứng với nhucầu tín ngưỡng bình dân. Tuy nhiên, ở chùa Tây An, tất cả tượng liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu, như bà Chúa Tiên, bà Chúa Ngọc, được thờ trong cùng một gian với các tượng Phật.
    Với kiểu dáng bài trí nầy, cho thấy rõ mô thức “tiền Mẫu, hậu Phật” (bên ngoài thì thờ Mậu, bên trong thì thờ Phật). Điều nầy cho thấy trọng tâm thờ phụng của chùa, mà các vị trụ trì đã chủ trương từ đầu, khác vớinhiều ngôi chùa miền Bắc (tiền Phật, hậu Mẫu).
    Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: Sự bài trí tượng thờ trong điện thần của chùa Tây An đã chứng tỏ sự hội nhập giữa tín ngưỡng thờ Mẫu đan xen giữa Đạo Giáo và Phật Giáo. Tất cả đều bài trí trong cùng một gian chính điện.
    Với tín ngưỡng thờ Mẫu ở đây, điều đáng nói nhất là những pho tượng thờ Mẫu xuất hiện ngay một nơi mà tục thờ Mẫu đã lựa chọn bà Chúa Xứ để phụng thờ trong một quy mô lớn lao. Hơn thế nữa, trong các bàn thờ Mẫu tại chùa Tây An, có một nhân vật được phụng thờ khác lạ; đó là nhân vật Cô Hai Hiên.
    Căn cứ theo truyện tích thì: đây là người con gái nhà Mân, làm nghề bán bánh lọt, bị chết chìm xuống sông, nên đã được lập thờ cùng với các bà Chúa Tiên, Chúa Ngọc, Cửu Thiên Huyền Nữ. Sự phụng thờ nầy càng làm nổi rõ tín ngưỡng thờ Mẫu đối với người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn không hề đứt đọan, cũng như sự tồn tại với người nông dân Việt Nam.
    Sức mạnh tín ngưỡng thờ Mẫu đã phát triển mạnh mẽ trong việc thờ cúng tại chùa Tây An, đã khiến cho việc bài trí trong chánh điện có vẻ rối rắm. Tuy nhiên, với ý niệm thờ cúng thì trong tư duy tín ngưỡng bình dân lại rất lớp lang hợp lý.
    Mặt khác, điện thần chùa nầy còn có khá nhiều các loại tượng. Có thể gặp ở đây từ tượng Thập Bát La Hán cho đến các loại tượng Tiên, tượng Thánh của Đạo Giáo với đủ các chất lịêu, kích cỡ khác nhau: lớn có, nhỏ có, bằng gỗ có, bằng đá có, bằng xi măng có, có những pho tượng bằng đồng mới kiến tạo trong thời gian gần lại đây nữa. Tính chung toàn bộ điện thờ có trên 200 pho tượng. Những nhà nghiên cứu nghệ thuật thường ca ngợi nghệ thuật tạo hình của những pho tượng gỗ của thế kỷ thứ XIX, mà không một ngôi chùa nào tại An Giang có đầy đủ những thể loại đa dạng và sinh động đến như vậy cả.
    Trong những công trình đồ tượng, điêu khắc, hoạ hình nầy, không thể không đề cập đến những ảnh hưởng của nghệ thuật Khmer chi phối. Ở phía những khung cửa, những đường viền chung quanh cổ lâu, những chim thần Garuda nối tiếp nhau do sự tiếp thu văn hoá Khmer của nền văn hoá Óc Eo trước đây.
    Tất cả những hiện vật thờ cúng nầy tuy đa dạng, nhưng nhìn chung vẫn thấy được sự hài hoà, đanxen vào nhau rất cân đối. Ngoài những điền thờ, bên ngoài chúng ta còn thấy được nhiều mộ tháp nằm phía bên phải của chùa.
    Năm ngôi tháp cổ, từ ngôi thápcủa Hoà thượng Hải Tịnh cho đến tháp của thầy Nguyễn Thế Mật nói lên lòng sùng kính của những bậc tu hành có công xây dựng, hoằng pháp tại đây.
    Phía sau chùa là khu mộ của Phật Thầy Tây An. Ngôi mộ nầy không đắp nấm, không lớn, bằng mặt đất, trồng hoa cúc và hoa mười giờ. Mộ được trùng tu vào năm 1936. Năm 1957, Hoà Thượng Nguyễn Thế Mật xây dựng long đình trên đầu ngôi mộ để thờ Phật. Năm 1985, Ban Quản Trị chùa Tây An đã xây thêm cổng tam quan trước ngôi mộ Phật Thầy.
    Trong bàn thờ chánh điện có nhiều tượng Phật (trên 200 pho tượng) trong nhiều tư thế khác nhau, làm bằng gỗ. Những nét chạm trỗ cực kỳ tỉ mỉ, công phu, nói lên tài năng vượt bực của những nghệ nhân miền Nam thế kỷ trước. Phía sau chùa có nhiều bửu tháp, trong đó có tháp của ngài Hải Tịnh và ngài Hoằng Ân.
    Đáng kể nhất là tháp Phật Thầy Tây An. Hằng năm đến ngày 12 tháng 8 âm lịch là ngày giỗ Phật Thầy Tây An; dân chúng đến chùa hành hương và lễ bái đông đúc.
    Đức Phật thầy Tây An chính danh là Đoàn Minh Huyên (có sách chép là Đoàn Văn Huyên) sanh ngày 15 tháng 10 âm lịch năm Đinh Mão (1807) năm Gia Long thứ sáu. Ngài quê tại làng Tòng Sơn, tổng An Thạnh Thượng, tỉnh Sadéc. Căn cứ theo những bậc bô lão thì đức Phật Thầy Tây An bỏ nhà ra đi từ lúc còn nhỏ tuổi lắm. Ngài đi đâu và làm gì thì không một chứng liệu nầo trình bầy đến. Lần hồi thì hình ảnh của ngài trong thời gian bấy giờ dường như bị quên lãng.
    Vào khoảng tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1849) Ngài quá giang với một chiếc ghe buôn từmiệt trong về. Khi về đến đình làng, gặp lúc có cây đa trốc cây ngã bật xuống sông, lấp cả đường nước, ghe xuồng không thể nào qua lại được dân trong làng họp nhau lại để kéo cây đa lên những không thể nào thực hiện nổi.
    Vừa kịp khi đức Phật Thầy ngang qua,thấy thế liền bảo dân làng: Các vị cột dây lại, tôi sẽ ra sức tiếp tay với các vị.
    Mọi người không tin, nhưng vẫn cứ thử xem. Với sức huyền diệu của đúc phật Thầy, cây đa từ từ xếp ngọn vào bờ dễ dàng. Họ định cám ơn nhưng đức Phật Thầy không thấy bóng dáng đâu cả. Từ đó dân chúng thường bàn tán sự kiện nầy.
    Ngài ra đi đến đình thần làng Tòng Sơn rồi ghé vào. Từ đó người ta thấy ngài ở lại ở mái sau tổ chức việc tu hành. năm đó, trong vùng bị bệnh dịch tả hoành hành ghê gớm. Viên chức trong làng lo sợ, giết heo bò để cúng tế cầu khẩn. Ngài thấy việc sát sinh là không nên, đã khuyên can. Dân trong làng phản kháng, tìm cách để tống xuất ngài.
    Khi từ giã, Ngài cho biết đã lưu lại cho dân làng “Cây thẻ năm ông” để trừ bệnh dịch. Đây là cây cờ ngũ sắc lưu lại trong sân đình. Dân chúng thử đem lá cờ hoà nước, đem uống quả nhiên bệnh tật tiêu tan. Khi cờ ngũ sắc đã dùng hết dân chúng đổ xô nhau đến tìm ngài nhờchữa trị. Họ đến vùng Trà Lư đã gặp được. Ngày giúp đỡ cho đồng thời cũng giảng dạy giáo lý từ bi cho mọi người. Ngài được dân làng giúp việc sửa sang lại cái cốc của ông Kiến để tiện việc tu hành; nơi đây chính là chỗ cất chùa Tây An ngày nay.
    Đức Phật Thầy tiếp tục cứu chữa cho những người dân trong vùng bị bệnh tật. Phương pháp chẫn trị chỉ dùng bùa và tàn nhang, nước lã, nhung rất hiệu nghiệm. Tiếng tăm của ngài lừng lẫy, tín đồ thập phương đua nhau đến nhờ Ngài chữa trị vô số; điều nầy đã khiến cho vị Tổng Đốc An Giang lo sợ có biến loạn liền cho người đến bắt để cật vấn điều tra. Nhưng sau khi tìm hết cách thử thách, nhà chức trách đem lòng khâm phục đức Phật Thầy, nhưng cũng tạm lưu giam để chờ lịnh của triều đình định đoạt.
    Theo đề nghị của quan Tổng Đốc An Giang, đức Phật Thầy được triều đình chính thức công nhận, để Ngài tự do hành đạo, nhưng buộc Ngài phải xuống tóc. Sau khi đức Phật Thầy được tha, để tránh sự hoài nghi của nhà cầm quyền, Ngài vào núi Sam ở chung một ngôi chùa sẵn có do Thiền Phái Lâm Tế lập ra và đã được triều đình chứng nhận.
    Chỉ trong một thời gian ngắn, đạo hạnh và tài năng của ngài đã khiến cho toàn thể tăng chúng mến phục và đồng xin tôn ngài lên làm bậc sư trưởng. Ngài từ chối, cho rằng vấn đề hình thức không đáng để câu nệ. Phật tử nghe tin ngài về đây cho nên đã đến xin thuốc men trị bệnh, cúng vái rất đông khiến cho ngôi chùa tại Xẻo Môn trở nên tấp nập lạ thường.
    Để thực hiện giáo pháp vô vi chân truyền của mình, đức Phật Thầy bắt đầu tìm những nơi hẻo lánh xa xôi để lập ra những cơ cấu tôn giáo ở những “trại ruộng”. Những trại ruộng, trại gỗ từ đó được lên lên quanh vùng Thất Sơn như ở Thới Sơn, Láng Linh.
    Ngài cũng phái các vị đại đệ tử của mình đến ở đó để chăm lo săn sóc mọi công việc hành đạo và truyền đạo. Nghi thức thờ phượng theo Kỳ Sơn Bửu Hương là thờ trần điều, cúng nước lã, bông hoa mà thôi, chứ không phải như tại núi Sam. Lúc nầy, tuy tiếng là ở núi Sam, nhưng Ngài thường vân du khắp nơi, tùy cơ phổ độ chúng sanh, Khắp vùng Thất Sơn không đâu là Ngài không bước đến.
    Thỉnh thoảng Ngài đến những trại ruộng để truyền dạy đạo pháp cho tín đồ; các ông Cố Quản, Đạo Xuyến, Đạo Lập, Đình Tây, Tăng Chủ, cậu Hai Lãnh… đều được ngài truyền cho bí pháp. Về sau những vị nầy đã kế thừasự nghiệp vững chắc. Bửu Sơn Kỳ Hương hay đạo Lành của Ngài là một “phong trào tôn giáo cứu thế” (mesianism) ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
    Ngài chủ trương: cứu dân, giúp đời. Ngài đã tự nhận :”Phật Thầy giáng thế cứu đời chính là ta!” Tiên đoán được những nguy cơ xáo trộn do nạn ngoại xâm và ảnh hưởng do thời cuộc điên đảo, Ngài đưa ra thuyết Tứ Ân (Trời Phật, quân vương, sự phụ, cha mẹ - theo G.Coulier) nhằm cứu dân cứu đời.
    Nhiều tác giả khi đề cập đến cuộc khởi nghĩa chống Pháp trong vùng Láng Linh - bảy Thưa của Trần Văn Thành lấy thuyết Tứ Ân làm cho dựa tinh thần; thành thử khi Pháp bình định được căn cứu nầy rồi, viên đo đốc Dupré đã ra lịnh cấm không cho người dân đi theo đạo Lành tức Bửu Sơn Kỳ Hương do Ngài sáng lập.
    Hiện nay, còn nhiều làng do Ngài và đệ tử của Ngài lập nên quanh vùng Thới Sơn, Nhơn hưng (huyện Tịnh Biên) Láng Linh, Cái Dầu (huyện Châu Phú) Bình Thạnh Đông (Phú Tân), Trả Bang (Rạch Giá) Tân Thành (Đồng Tháp).
    Ngài viên tịch vào giờ Ngọ ngày 12 tháng 8 năm Bính Thìn (1856) thọ 50 tuổi.

    TRUYỀN THUYẾT VỀ MIẾU BÀ CHÚA XỨ ( An Giang )

    Di tích và danh thắng núi Sam in dấu trên sử sách gần hai thế kỷ qua. Hình ảnh núi Sam đã thấm đậm trong tâm hồn người dân An Giang nói riêng, và miền Nam nói chung với ngày lễ hội Vía bà tháng tư. Miếu Bà Chúa Xứ nằm dưới chân triền đông núi Sam, mặt chính hướng về núi, mặt sau tiếp giáp cánh đồng bạt ngàn bờ kênh Vĩnh Tế. Từ cao nhìn xuống Miếu Bà như đoá sen xanh vươn lên khoe sắc trong vườn hoa kỳ lạ. Miếu bà là một di tích kiến trúc nghệ thuật có tiếng ở miền nam, cũng chính từ ngôi miếu này đã nảy sinh ra bao truyền thuyết và lễ hội mà người đời truyền tụng.
    Miếu Bà Chúa Xứ và khu danh thắng núi Sam hàng năm đón nhận hàng triệu lượt người trong và ngoài nước đến tham quan chiêm bái. Theo thông lệ hàng năm, Vía bà Chúa Xứ được tổ chức vào các ngày 23, 24, 25, 26 và 27 tháng tư âm lịch. Vía chính là ngày 25. Vì sao người xưa lại chọn ngày này? Có người cho rằng xưa kia dân làng phát hiện ra tượng Bà vào ngày đó. Có thuyết cho là sau khi sạ lúa thắng lợi, nên tổ chức hội hè ăn mừng và làm lễ cúng tạ ơn, lâu dần thành lệ.
    Các tác giả Thạch Phương- Trung Vũ, trong 60 lễ hội truyền thống Việt Nam chép rằng "Về nguồn gốc tượng Bà Chúa Xứ cũng như miếu bà được xây dựng từ bao giờ, cho đến nay vẫn chưa có tài liệu nào nói rõ. theo lời các cụ già kể lại, thì ngôi miếu Bà được xây dựng đầu tiên bằng cây lá vào khoảng những năm 1820- 1825.
    Còn về chung quanh lai lịch của tượng bà thì có nhiều truyền thuyết khác nhau:
    1. Có truyền thuyết kể rằng, một hôm dân địa phương vào núi đốn củi, tình cờ họ phát hiện tượng bà nằm ở giữa rừng, bèn về báo cho dân làng, sau đó dân làng đã cùng nhau đưa tượng về, lập miếu thờ.
    2. Một truyền thuyết khác kể rằng có một vị thần linh tự xưng là Bà Chúa Xứ Châu Đốc đã báo mộng cho dân làng; Hãy chọn 9 cô gái đồng trinh lên đỉnh núi Sam, đưa tượng ta về lập miếu thờ, ta sẽ phù hộ cho dân sống an lành và làm ăn phát đạt. Sau đó, 9 cô gái được chọn cử lên đỉnh núi tìm tượng đá và quả nhiên, họ đã gặp một tượng đá trong tư thế ngồi, mắt nhìn thẳng về phía trước, bèn khiêng về, kỳ rửa sạch sẽ, và lập miếu thờ. Từ đó, hằng năm dân làng lấy ngày tượng bà được "an vị" tại miếu làm ngày lễ Vía Bà.
    3. Một truyền thuyết khác nữa gắn với chiến công của Thoại Ngọc hầu và việc trùng tu ngôi miếu làm ngày lễ Vía Bà. Dưới triều Minh Mạng, khi Thoại Ngọc hầu giữ trọng trách trấn giữ biên giới tây nam, giặc ngoại xâm thường sang quấy nhiễu. Mỗi lần ông xuất quân, bà vợ thường đến khấn vái, mong Bà phù hộ Thoại Ngọc Hầu đánh thắng giặc, bảo vệ cuộc sống yên lành cho dân. Về sau, để tạ ơn những điều ứng nghiệm, vợ Thoại Ngọc Hầu đã cho xây cất lại ngôi miếu to và khang trang hơn. Lễ khánh thành được tổ chức trong 3 ngày 24, 25, 26 tháng 4 âm lịch. Từ đó về sau thành lệ, dân chúng lấy những ngày trên làm lễ Vía bà. Nếu chi tiết này có thật, thì đây cũng là một thông tin cho biết thêm rằng miếu Bà Chúa Xứ được xây dựng từ thời Minh Mạng.
    4. Lại có truyền thuyết gắn với lễ Vía bà với tập quán sản xuất nông nghiệp ở địa phương, cho rằng tháng tư là thời vụ bà con xuống giống làm mùa. Họ làm lễ cầu Bà, hy vọng mùa sẽ được bội thu. Nhân dịp này, dân chúng tổ chức những cuộc vui chơi, rồi lâu dần thành lệ. Từ một hội làng Vĩnh Tế mang đặc điểm lễ cầu mùa trong nông nghiệp đã dần biến thành lễ Vía bà, thu hút đông đảo khách thập phương từ các nơi ngày càng đông.
    Về nguồn gốc tượng, cho đến nay vẫn chưa xác định rõ xuất xứ cũng như niên đại. Tượng được tạc tại chỗ, hay từ nơi nào đưa đến? Vào thời kỳ nào và được vận chuyển đến núi Sam bằng phương tiện gì? Cần lưu ý thêm một điều là tượng được tạc bằng loại đá tốt, màu xanh (không giống loại đá ở vùng núi Sam) có hình dạng nam thần. Cánh tay bên phải bị gãy mất và được phục chế lại bằng một loại đá khác. căn cứ vào đường nét, phong cách thể hiện, một số nhà khảo cổ học cho rằng tượng thuộc loại nghệ thuật trung cổ Ấn Độ".
    Hồ Tường khi quan tâm đến lễ hội vía bà chúa xứ cũng viết "Chánh điện của miếu bà gồm hai lớp. Lớp trong cùng là nơi thờ bà Chúa Xứ núi Sam với tượng bà bằng đá đặt trên bệ cao, sát hai bên là hai con hạc trắng biểu tượng cốt cách tiên thánh của Bà. Bên phải tượng Bà là một linga cũng bằng đá đặt trên một hương án thờ, gọi là bàn thờ Cậu. Bên trái tượng Bà, là hương án thờ một tượng gỗ chạm hình nữ giới, gọi là bàn thờ Cô. Lớp thứ hai là bàn thờ Hội đồng, sát liền hai tượng chim phượng. Hai bên trái, phải của bàn thờ Hội đồng là bàn thờ Tiền hiền khai khẩn (ở bên trái) và bàn thờ Hậu hiền khai cơ (ở bên phải).
    Về pho tượng bà Chúa Xứ núi Sam Châu Đốc, khi bước vào khảo sát thực tế, thì pho tượng vốn là một pho tượng đá, thể hiện dáng hình một người đàn ông trong tư thế ngồi, chân trái của tượng xếp bằng tròn, mũi bàn chân giáp với chân phải; trong lúc chân phải để gập, co gối, chống thẳng bàn chân xuống mặt bệ đá. Tay trái của tượng ở tư thế chống nạnh, bàn tay xoải xuống mặt bệ đá, phía sau đùi trái. Tay phải tượng thả tự nhiên, bàn tay úp trên đầu gối phải. Tóc tượng uốn thành những búp xoăn, thả về phía sau. Trên mặt tượng có một vành ngấn, là nơi đặt mão lên đầu tượng. Trong vành ngấn này có những hoa văn hình móc câu, riêng ở phần vành nằm trước trán của tượng có một hình tròn, chung quanh là những hoa văn kiểu ngọn lửa. Trên cánh tay để trần của tượng có một vành đai, giống như cái vòng đeo tay. Toàn bộ dáng hình của pho tượng là dáng hình một người đàn ông tràn đẩy sức sống, với bộ ngực căng nở và chiếc bụng phệ. Trên ngực của tượng có một vành đai như vòng kiềng, trước ngực là hình mảnh trăng lưỡi liềm khá rộng. Toàn bộ pho tượng cao chừng 1,25m, được tạc liền một thớt đá cùng loại, với bệ tượng dày chừng 10cm. Về trang phục, tượng được tạc trong tư thế đang vận một chiếc khố. ở bắp cánh tay, gần bả vai của tượng, sát nách, nổi cộm một vòng đai có hình dạng như một chiếc vòng đeo tay. ở cổ tượng nổi cộm một vòng đai hình vòng kiềng, chỗ vòng nằm ngay ngực khá to bản, hình lưỡi liềm, có lẽ là một thứ vòng đeo cổ xưa.
    Thế nhưng từ lúc nào tượng được gọi là Bà Chúa Xứ núi Sam trong khi thực tế là một pho tượng đàn ông? Bộ sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn khi miêu tả lăng miếu, chùa chiền ở núi Sam cũng chỉ nói đến Tây An tự và lăng Thoại Ngọc hầu, mà không hề nói gì đến miếu bà Chúa Xứ núi Sam, trong khi miếu Bà hiện nay chỉ cách hai cơ sở nói trên chỉ một con đường. Điều này cho thấy vào thời điểm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, miếu Bà Chúa Xứ có thể còn quá nhỏ nhoi, chưa có người đến chiêm bái đông đảo, nên chưa được sự để mắt của các sử thần Triều Nguyễn. Ngay cả Sơn nam khi miêu tả chùa miếu vùng biên giới các tỉnh hậu Giang cũng không đề cập đến miếu Bà Chúa xứ núi Sam: "Vùng biên giới vẫn là nơi chùa miếu nhứt: đình thờ Nguyễn hữu cảnh, chùa Tây An (núi Sam), chùa Tây Sơn, đình thờ Thành Hoàng làng Vĩnh Ngươn (Châu Đốc), miếu họ Mạc, chùa Phù Dung, Tam Bảo, Địa Tạng, chùa Quan Công (Hà Tiên). Ban sơ, các chùa miếu đều lợp lá, đôi ba năm sau mới lợp ngói".
    Do vậy có thể nói rằng miếu bà Chúa Xứ núi Sam chỉ mới bắt đầu phát lên từ những năm 60 của thế kỷ XX, khi "ban trị sự miếu Bà có công hương chủ Phạm Văn Tiên có đề xướng tô điểm mặt mày hình tượng thật giống phái nữ. được tất cả hưởng ứng, ông đến Chợ Lớn thuê thợ đắp tượng có tay nghề tinh xảo về điểm xuyết khuôn mặt và gắn pha lê vào đôi mắt trở nên sống động. Du khách đứng phía nào, quay mặt đều nhìn thấy ánh mắt của tượng rọi thấu suốt. Để củng cố niềm tin vô biên, thiện nam tín nữ thường dâng lễ vật hiến tế cả y phục đắt tiền, đồ trang sức bằng kim loại quý".

    Tín ngưỡng Bà Chúa Xứ ở núi Sam

    Tín ngưỡng Bà Chúa Xứ đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống tinh thần của người Nam Bộ. Tín ngưỡng Bà Chúa Xứ đã thức tỉnh lương tri, lòng trắc ẩn của con người, giúp con người sống thiện hơn, tốt hơn.
    Núi Sam, ngọn tiền đồn của dãy Thất Sơn hùng vĩ, mang nhiều dấu ấn của thời khai hoang lập ấp. Ngọn núi mà hơn trăm năm trước đã được Thoại Ngọc Hầu, người có công khai phá miền Hậu Giang ca ngợi là tươi đẹp. “Từ ngày dọn cỏ dẹp gai trở đi, rành rành chân núi trắng phau, trại trại ngọn tre xanh ngắt, cảnh núi trở nên tươi đẹp, sừng sững”. Núi Sam không chỉ có lăng Thoại Ngọc Hầu, mà còn có miếu Bà Chúa Xứ, chùa Tây An, chùa Hang... Trong đó, lễ hội Bà Chúa Xứ luôn là tâm điểm thu hút đông đảo khách thập phương.
    Truyền thuyết về Bà chúa xứ
    Miếu Bà Chúa Xứ nằm dưới triền núi Sam, được lập vào năm 1820, có kiểu kiến trúc hình chữ “Quốc”. Lúc đầu, miếu được cất bằng tre, lá. Khoảng năm 1962, miếu được trùng tu và lợp ngói âm dương. Từ lâu, ngôi miếu này đã được nhân dân quanh vùng biết đến. Họ truyền tụng nhau về sự linh thiêng của Bà Chúa. Mỗi truyền thuyết là một câu chuyện kỳ bí, chính sự bí ẩn này đã tạo sức hút cho các nhà nghiên cứu đến đây tìm hiểu pho tượng Bà. Kết quả khảo sát của các nhà nghiên cứu đã chỉ ra: Bên ngoài, tượng Bà khoác nhung y rực rỡ, gương mặt được tô vẽ, thể hiện vẻ đẹp của người phụ nữ với nụ cười hiền từ, nhân hậu. Toàn bộ pho tượng cao 1,25m, được đúc liền với một thớt đá cùng loại.
    Với những đặc điểm trên, các nhà nghiên cứu đã khẳng định: Pho tượng này được tạc không theo phong cách của người Việt. Malleret, nhà khảo cổ học người Pháp cho rằng: Đây là loại tượng thần Visnu thường thấy ở ấn Độ, Mianma, Lào...; tượng tạc dáng người đàn ông ngồi nghỉ ngơi, vương giả. Cũng có ý kiến cho rằng, tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer bỏ quên lâu đời trên núi Sam. Người Việt đưa vào miếu, điểm tô lại nước sơn trở thành đàn bà. Mặc dù có những nhận định khác nhau, nhưng hầu hết các ý kiến đều khẳng định đây là pho tượng đàn ông. Đến đây, có một vấn đề đặt ra là, tại sao tượng đàn ông mà người dân Nam Bộ lại sơn phết thành đàn bà? Có thể điều này bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt.
    Nghi thức tế lễ
    Hằng năm, trước lễ hội một tuần, khách thập phương đã đổ về thị xã Châu Đốc (An Giang). Trong những ngày vào hội, suốt đoạn đường dài 7km từ thị xã đến núi Sam, “ngựa xe như nước áo quần như nêm”. Đây cũng là dịp để nam thanh nữ tú vui chơi, thi tài, giao lưu, tìm hiểu lẫn nhau.
    Thế nhưng, các cuộc vui dù hấp dẫn đến mấy vẫn không giữ chân được số người ngưỡng mộ Bà chen nhau hướng về buổi lễ đầu tiên được cử hành vào lúc 0 giờ đêm 23 rạng ngày 24 tháng 4, gọi là lễ Mộc dục (lễ tắm Bà). Mở đầu, hai ngọn nến to ở trước tượng Bà được thắp sáng, ông Chánh bái trong bộ khăn đóng, áo dài bước đến chánh điện cùng với các bô lão trong làng niệm hương, dâng rượu, trà. Một nhóm gồm bốn hoặc năm phụ nữ được chọn lựa sẵn bước vào phía trong màn, chuẩn bị để tắm Bà. Họ lần lượt cởi mão, áo đai để lộ toàn thân pho tượng bằng đá. Một chậu nước thơm ngâm hoa lài (nhài), quế, có pha thêm nước hoa được đặt nơi chân. Những cô gái được phân công việc tắm Bà lần lượt nhúng từng chiếc khăn mới vào chậu nước thơm, vắt ráo rồi lau tượng nhiều lần. Sau đó, họ dùng nước hoa xịt khắp bức tượng rồi chọn bộ đồ mới đẹp nhất khoác lên bức tượng, thắt chặt đai, chít khăn, đội mão, gắn lại những ngọn đèn màu trang trí như cũ. Thường thường lễ tắm Bà kéo dài khoảng một giờ, sau đó bức màn ngăn được kéo lên để cho khách tự do chiêm bái, dâng hương, hoặc xin lộc Bà.
    Lễ thứ hai mới là “chánh lễ”, còn gọi là lễ Túc yết, tổ chức vào nửa đêm 25 rạng sáng 26. Trước khi vào lễ, một đoàn người gồm các bô lão trong làng quần áo chỉnh tề, tiến từ miếu Bà sang lăng Thoại Ngọc Hầu để thỉnh sắc. Dẫn đầu có đội múa lân, các học trò lễ tay cầm cờ phướn đi hầu phía trước và sau chiếc kiệu sơn son thiếp vàng gọi là Long Đình. Đến điện thờ, ông Chánh bái làm lễ niệm hương, rồi thỉnh sắc đưa lên kiệu trở về miếu Bà. Ba chiếc bài vị mang tên Thoại Ngọc Hầu và tên bà vợ chánh Châu Thị Tế, bà vợ thứ Trương Thị Miệt được đặt trên bàn thờ ở chính điện. Bài vị thứ tư mang tên Hội đồng, ghi công lao các quan quân đã theo Thoại Ngọc Hầu xưa kia, được đặt riêng ở bàn thờ phía trước. Lễ vật dâng cúng gồm có: một con heo trắng, một đĩa huyết heo có kèm theo nhúm lông nhỏ. Một mâm trái cây, trầu cau, gạo, muối. Sau ba hồi chiêng, trống, nhạc lễ nổi lên, lễ dâng hương, dâng trà bắt đầu. Lễ Túc yết kết thúc bằng động tác của ông Chánh tế đốt bản văn tế cùng giấy vàng bạc.
    Tiếp theo lễ cúng Túc yết là lễ Xây chầu được tiến hành ở nhà võ ca. Sau phần cầu nguyện của ông Chánh bái, xin cho mưa thuận gió hòa, đất đai phì nhiêu, mùa màng bội thu, dân chúng khỏe mạnh, yên vui, các loài quỷ dữ bị tiêu diệt, lễ Xây chầu bắt đầu bằng ba hồi trống lệnh.
    Các nghi thức của lễ Chánh tế, lễ cuối cùng, được tổ chức vào tờ mờ sáng ngày 27, gần giống như nghi thức cúng Túc yết.
    Tín ngưỡng Bà Chúa Xứ đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống tinh thần của người Nam Bộ. Tín ngưỡng Bà Chúa Xứ đã thức tỉnh lương tri, lòng trắc ẩn của con người, giúp con người sống thiện hơn, tốt hơn. Đồng thời qua đó, tín ngưỡng Bà Chúa Xứ ở núi Sam còn góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của người dân Nam Bộ.

    Truyền thuyết Núi Sam

    In trang này Gửi cho bạn
    Trên con đường trải rộng cách thị xã An Giang chừng 60 km về hướng Tây, một buổi chiều nắng êm ả, tết Đoan Ngọ, tôi trở lại núi Sam. Những hàng sứ trắng đầu xuân đã nhường chỗ cho phượng vĩ tràn cả lối đi. Núi Sam như bừng sáng lên giữa “đám lửa” rực rỡ của mùa phượng vĩ nở hoa.
    Nơi núi Sam ngự trị
    Một góc núi Sam
    Người ta gọi là núi Sam. Núi có diện tích khoảng 280ha, với độ cao vừa phải 241m. Vào thời nhà Nguyễn, núi Sam thuộc thôn Vĩnh Tế, phủ Tuy Biên - ngày nay là xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đây là rặng núi lẻ loi cuối cùng của miền Nam Việt Nam. Khi đứng từ trên đỉnh cao nhất của núi Đá Dựng (cách đó khoảng 6km) ta sẽ nhìn thấy giữa cánh đồng xanh ngát là hình ảnh một con sam. Có nhiều câu chuyện truyền thuyết về loài sam từng sinh sống nơi đây.
    Vùng đất này thật trù phú, cả một đoạn đường dài một bên là biển, bên kia là những cánh đồng lúa xanh ngát, cây cối tươi tốt quanh năm. Thỉnh thoảng, xuất hiện những ngôi chùa mang đậm nét kiến trúc Campuchia (thờ đạo Phật – phái An Tông hoặc Tiểu Thừa, tăng ni thường mặc áo vàng và sống bằng cách đi khất thực). Nơi này khí hậu ôn hòa mát mẻ vì ngoài cánh đồng, núi Sam còn được bao bọc bởi hệ thống kênh rạch.
    Đường lên núi Sam
    Từ hai thế kỷ trước, qua ngòi bút của Thoại Ngọc Hầu (trong bia “Vĩnh Tế Sơn”) thì núi Sam đẹp như một bức tranh phong thủy. Trong vòng bán kính khoảng 10km đổ lại bên cạnh núi Sam còn có nhiều công trình kiến trúc, di tích lịch sử văn hóa đã được Nhà nước công nhận xếp hạng như: Chùa Tây An, Miếu Bà Chúa Xứ, Lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Hang... và nhiều thắng cảnh đẹp như đồi Bạch Vân, vườn Tao Ngộ...
    Tách khỏi dòng người đổ về viếng núi Sam trong ngày lễ, theo lời kể của một người dân địa phương, tôi men xuống sườn Đông núi Sam để tìm một ít lá giang. Nếu đã từng nhấm qua một lần cái hương vị của loại lá này, ta sẽ cảm nhận sự thú vị ở đầu lưỡi bởi vị chua thanh lẫn chút bùi bùi. Lá giang dùng nấu canh với thịt gà ăn rất ngon.
    Và lạ lắm, cùng một loài này nhưng nếu mọc ở sườn núi phía Tây hay phía Đông thì hương thơm, vị ngon và độ màu cũng khác nhau. Một người dân địa phương giải thích rằng, ở sườn phía Đông núi Sam đón nhận ánh nắng đầu tiên của mặt trời nên loài cây trái nào hương vị cũng thanh hơn.
    Những truyền thuyết in trên núi đá
    Hang Thủy Tề
    Chuyện về loài Sam vẫn chưa kết thúc. Tôi được thầy Ngọc Minh, một tăng sư đã có 15 năm gắn bó với ngọn núi thơ mộng kể cho nghe một truyền thuyết khác. Thầy đưa tôi đến một cái miệng hang hiện đã được lấp tạm thời bằng xi măng, phía bên trái cách lối đi vào chừng khoảng 3 mét, thầy bảo đây là đường đi xuống thủy tề. Tôi ngạc nhiên, thầy tiếp tục câu chuyện của mình...

    Phía bên trên miệng hang, nhìn thẳng lên vách núi dựng đứng có cái lỗ thông thiên, đường kính khoảng gần 1 mét vuông. Trước đây có một cái dây thừng thòng từ miệng hang xuống, nhưng vì du khách đến đây đu dây nhiều quá nên bị đứt một nửa. Năm 1978, Pôn Pốt tràn qua chiếm đóng vùng đất này, chính quyền địa phương đã cho lấp hang lại vì sợ chúng cất giấu vũ khí.
    Truyền thuyết kể lại đây chính là nơi ở của con đại bàng, nó đã bắt cóc công chúa và đi vào hang bằng lỗ thông thiên. Trên vách đá của hang in hình người màu trắng, trên vai quàng con vật hình thù như đầu chằn tinh, tay trái dìu công chúa, khiến người ta liên tưởng đây là ông Thạch Sanh.
    Bàn thờ Thủy Tề 200 tuổi
    Là chuyện từ cái hang này, sau khi Thạch Sanh giết đại bàng, giải thoát công chúa, Lý Thông muốn giành công nên gọi lính lấp miệng hang để giết Thạch Sanh. Không ra khỏi hang được, Thạch Sanh mới lần tìm lối đi khác, cuối cùng tìm ra cửa biển và gặp người có đuôi giống cá...
    Bên cạnh cái hang được gọi là “vương địa” đại bàng, qua một lối đi lớn sẽ gặp cái hang thứ hai. Trên miệng hang có bàn thờ Thủy Tề, phía bên trong hang có 3 lối đi nhỏ. Ở dưới hang có loài đá rất lạ, không phản chiếu ánh sáng, rọi đèn vào ánh sáng bị hút hết. Chỉ có đèn dầu mới thắp sáng được dưới này, nhưng đèn dầu mà không có không khí thì không cháy. Cho đến bây giờ cái hang kỳ lạ này vẫn chưa được khám phá.
    Người con gái trên đá
    Theo thời gian, những lớp đá canxi gặp mưa nhiều hút nước trương ra tạo thành những hình thù rất kỳ lạ. Ở một nhánh cửa hang phía Nam, cạnh phiến đá Đại Hồng Chuông khá nổi tiếng là khối đá hình con sử tử từ trên trời bay xuống. Trên đầu sư tử có hình Đức Phật. Theo kinh Pháp Hoa, nhân vật cưỡi sư tử là Bồ Tát Văn Thù - người có tiếng nói êm dịu - tượng trưng cho trí tuệ, phá đêm tối của vô minh. Tôi hỏi khối đá này đã xuất hiện tự khi nào thì được biết nó đã có từ khi thạch động xuất hiện và ngày càng lớn dần thêm.
    Chuông cổ
    Lại nói về Đại Hồng Chuông, nhìn kỹ sẽ thấy những khối đá rời, đá có tiếng kêu rất thanh. Nhưng đã nhiều năm trôi qua, kể từ ngày cái chui đánh chuông do người Miên khai phá mảnh đất này mang về xứ, ta có đẽo nhiều cái khác nhưng đánh vào chuông không kêu!
    Và cứ thế, những câu chuyện kéo dài mãi... Những truyền thuyết sao lại ứng với tạo vật của thiên nhiên lạ thường, càng khiến cho lời kể thêm hấp dẫn hơn. Mãi nghe, tôi vô tình đưa tay chạm vào một nhũ thạch (vú đá). Vào mùa mưa từ nhũ thạch này phun lên dòng nước trong vắt, mát lành. Có người nói uống nước này có thể chữa được bệnh.
    Chiều đã về rấtmuộn, chim yến gọi bầy quấn tổ, những du khách cuối cùng đã rời núi. Tiếng chuông chùa vọng lại xa xa. Từ biệt núi Sam, hẹn lòng sẽ quay trở lại vì còn nhiều truyền thuyết chưa kịp khám phá…

    19.                         Chùa Chén Kiểu - Sóc Trăng

    Sóc Trăng là một tỉnh có nhiều người Khmer sinh sống. Đặc biệt các ngôi chùa nơi đây ảnh hưởng rất rõ dấu ấn văn hóa của cộng đồng người Khmer. Chùa Chén Kiểu là một trong mhững nơi như thế
    Nằm trên quốc lộ 1A về hướng Bạc Liêu cách thị xã Sóc Trăng khoảng 12 km. Cột chùa chạm nhiều hoa văn, đường viền độc đáo. Hai bên cổng ngự hai con sư tử bằng đá trên bệ cao hướng ra lộ. Trên cổng xây ba ngôi tháp được chạm khắc đắp nổi biểu trưng cho văn hóa truyền thống Khơ-Me. Đặc biệt trong long tháp chính giữa lồng một tấm kính nổi bật tượng phật ngồi uy nghi như hiện hữu an lành ở chốn cảnh chùa. Cũng như các ngôi chùa của người Khmer mái nóc của Chùa Chén Kiểu có 3 nếp, nếp dưới cùng lớn và nhỏ dần chi vút lên cao. Nếp phía trên có hình tam giác, hai đầu đao mỗi bên cong nguy nga. Mỗi nếp trang trí họa tiết và các tượng Khmer mang ước vọng bình yên, siêu thoát. Mặt sau chính điện là một mảng tường đắp bổi bởi nhiều mảnh chén kiểu vỡ đẹp mắt và sắc sảo. Bước vào gian thờ chính điện sẽ thấy quần thể gồm 20 tượng phật lớn nhỏ đứng ngồi nhiều tư thế khác nhau. Tất cả được bố trí hợp lý không gian tôn nghiêm luôn thơm mùi nhang khói.
    Theo một vị sư trụ trì lâu năm tại đây thì Chùa Chén Kiểu trước kia được cất bằng lá, có tên Khmer là “Sà Lôn”. Chùa được xây cất vào năm 1815 trên nền đất rộng. Thập niên 60 chùa bị bom đạn phá hư hại và được xây lại như hiện trạng ngày nay. Phần say chính điện vì thiếu kinh phí nên được các nghệ nhân sử dụng mảnh vỡ chén kiểu đắp vào. Chùa có tên Chén Kiểu từ đó. Một lần vào vãn cảnh Chùa âu cũng là việc làm ý nghĩa để tinh thần hướng thiện hơn.

    20.                         Chùa Kh’Leang - Sóc Trăng

    Đây là ngôi chùa Khmer nổi tiếng nhất tỉnh sóc trăng và lại ở ngay trung tâm thị xã nên được nhiều người biết đến.
    Du khách đến Sóc Trăng, ngoài việc nghỉ ngơi thư giãn ở Hồ nước ngọt, chiêm ngưỡng chùa Dơi, ghé thăm chùa Đất Sét, chùa Chén Kiểu…. Không thể nào không đến chùa Kh’Leang, bởi đến đây du khách sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp uy nghi, lộng lẫy, kiến trúc độc đáo của ngôi chùa ở đây. Chính vì nét đẹp của lối kiến trúc mà ngôi chùa được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Chùa tọa lạc tại số 71, đường Lương Định Của (Mậu Thân cũ) phường 6,TP. Sóc Trăng. Đây là phía cổng chính, còn lối vào nữa ở bên đường Nguyễn Chí Thanh, nơi có trường Pô Thi. Khuôn viên chùa rất rộng và có nhiều cây cao bóng mát. Vẻ đẹp chính của ngôi chùa là những đường nét, kiến trúc thể hiện phong cách đặc trưng của người Khmer ở Nam Bộ.
    Trong thời kỳ kháng chiến, chùa là cơ sở nuôi chứa cán bộ hoạt động cách mạng và tham gia vận động đồng bào đấu tranh chống lại kẻ thù. Năm 1991 Bộ Văn Hóa Thông Tin công nhận chùa Kh’leang là di tích lịch sử văn hóa.
    Sóc Trăng là nơi tập trung đông đảo cư dân Khmer sinh sống. Đan xen cùng các dân tộc Việt, Hoa anh em. Cuộc sống của cư dân Khmer luôn gắn liền với chùa chiền, vì chùa là nơi để sinh hoạt tín ngưỡng, sinh hoạt văn hóa của cả cộng đồng, nên khu vực người Khmer sinh sống thường tập trung rất nhiều chùa phục vụ sinh hoạt tinh thần của họ. Do vậy, ngay từ buổi mở đất, cư dân Khmer xây dựng rất nhiều chùa chiền, cho nên ngày nay Sóc Trăng còn tồn tại rất nhiều ngôi chùa cổ gắn liền với sự sinh sống của cộng đồng người Khmer mà chùa Kh’Leang là một minh chứng.
    Chùa Kh’Leang là một ngôi chùa cổ ở Sóc Trăng, có tuổi thọ rất cao gần 500 năm được xây dựng vào khoảng năm 1533, gắn liền với truyền thuyết địa danh Sóc Trăng. Do lúc đầu cuộc sống còn nhiều khó khăn, các loại vật liệu, phương tiện chưa phổ biến nên chùa được xây cất bằng gỗ, lợp lá, rồi dần dần mới xây cất lại bằng gạch và lợp ngói, với cách trang trí, đường nét kiến trúc rất đẹp. Chùa nằm trên một sở đất rộng, không gian thông thoáng, xung quanh có nhiều cây xanh, tỏa bóng mát xuống khắp mặt sân, dưới mỗi góc cây có đặt những băng ghế đá dùng để nghỉ chân, tạo cho du khách một cảm giác hết sức thoải mái.
    Đặc biệt, trong khuôn viên chùa còn có trồng nhiều cây thốt nốt – loại cây tương tự như cây dừa, loại cây đặc trưng mà người Khmer thích trồng ở khu vực sinh sống của mình. Cổng chùa được trang trí nhiều hoa văn, hoạ tiết, màu sắc rực rỡ mang đậm phong cách Khmer. Trên cổng còn có ba ngôi tháp nhỏ, được trang trí đẹp mắt, hòa cùng nền trời xanh tạo nên gần gũi, liên kết, thành tâm giữa con người và trời đất, là sự giao hòa giữa cõi nhân duyên và miền cực lạc.
    Chùa gồm có chánh điện, nhà sala, tịnh xá, ám tự và nhà hội. Kiến trúc chính của ngôi chùa là tòa chính điện với lối kiến trúc phức tạp, sâu sắc thể hiện triết lý phương đông về nhân sinh thế sự. Chùa được xây cất rất cao so với mặt đất hơn 1m, với ba bậc sân tam cấp. Mỗi bậc được bao quanh bởi một vòng rào, tất cả đều bằng xi măng và rực rỡ màu sắc. Theo bốn hướng Đông-Tây-Nam-Bắc mỗi hướng có một cửa ra vào. Ở vòng rào ngoài cùng, cửa xây rất công phu có chạm trổ thật tỉ mỉ. Chùa được bao quanh bằng ba vòng rào, vòng rào ngoài lớn rồi nhỏ dần vào trong, khoảng cách giữa các vòng rào rất rộng, nên chùa chiếm diện tích rất lớn. Trong khuôn viên chùa còn có sáu tháp hình bầu dục nằm ở hai bên tả hữu, dùng để đựng xương cốt của các vị sư sãi và phật tử đã qua đời. Nếu kể từ Đại đức Thạch Sóc là vị tổ đầu tiên thì đã trải qua 21 đời truyền thừa. Vị sư trụ trì hiện nay là Đại đức Tăng Nô.
    Đứng dưới sân nhìn lên ngôi chánh điện thấy thật cao với lối kiến trúc khá phức tạp và độ đáo. Khung mái làm bằng gỗ quí.
    Bên trong ngôi chánh điện hình chữ nhật có khoảng 16 cột bằng gỗ cao vút, rất to phủ sơn mài đen bóng mượt và vẽ rồng, cá uốn quanh màu vàng lộng lẫy. Ở trước bàn thờ có một tấm bao lam cao vút với mái chạm trổ và sơn thếp vàng rất công phu, được thếp bằng vàng các hình ảnh nói về cuộc đời đức Phật, về sinh hoạt Phật Pháp. Trên trần và chung quanh được trang trí bằng rất nhiều nét vẽ về hình ảnh của đức Phật, thể hiện được sự hòa hợp giữa phật pháp và hội họa. Nơi chính điện thờ một pho tượng Phật Thích Ca rất to, được thờ ở chính giữa, phía trong cùng ngồi trên tòa sen lộng lẫy tạo nên sự uy nghiêm thanh thoát. Pho tượng cao 6m kể cả bệ. Sau lưng pho tượng có tấm bia bằng tiếng Khmer nội dung nói: “Đại Đức Liêu Luông, đời truyền thừa thứ 17, trụ trì từ 1893 – 1928, đã đứng ra lập tượng Phật vào năm Phật lịch 2460 (1919) với sự cúng dường của gia đình ông Lum Sun”. Xung quanh là những bày trí của các vị sư như hoa lá, cây trái và 20 pho tượng phật nhỏ khắc theo các tư thế khác nhau, vầng hào quang bằng điện lúc ẩn lúc hiện, tạo nên sự uy nghiêm thanh thoát và huyền ảo… Các cánh cửa ở chánh điện cũng được chạm trổ thật công phu. Trên khung cửa ra vào có trang trí một khuôn hình tam giác, ở giữa tạc hình Reahu (mặt người dữ tợn tay đang cầm Mặt Trời hay Mặt Trăng để nuốt vào bụng). Hai cánh cửa có chạm hình tiên nữ giao đấu với chằn. Tiên nữ mặc áo giáp, đầu đội mũ nhọn đứng trên mình con Reach Cha Sei. Tiên nữ biểu tượng cái thiện, chằn biểu tượng cái ác.
    Ngoài ra, trong chùa còn có một ngôi “Sa La” (nhà sàn) rất lớn, đó là nhà hội họp của các phật tử và sư sãi. “Sa La” là một căn nhà sàn bằng gỗ, mặt sàn cách mặt đất khoảng 1m, có một gian phòng thật rộng rãi, chung quanh không có vách, để cử hành dâng cơm và tổ chức những sinh hoạt theo nghi thức cổ truyền. Ngôi nhà này mới được sửa lại, có đúc thêm bê tông cốt sắt cho chắc chắn. Trong chùa còn trưng bày các vật dụng của người Khmer xưa như một cách bảo tồn và phát huy nét sinh hoạt văn hóa cổ xưa của dân tộc mình. Bộ mái chùa cũng được xây dựng theo thể thức tam cấp và mỗi cấp lại có 3 nếp. Nếp giữa lớn hơn nếp phụ ở hai bên và không có tháp nóc chùa. Hai mái trên cùng lợp thành một góc 600 ở hai đầu hồi: Hình tam giác ấy gọi là Hô Cheang. Cách thể hiện các họa tiết theo phép đối xứng qua một trục từ đỉnh xuống cạnh nằm đối diện. Có thể nói hai Hô Cheang là hai khuôn trang trí rất độc đáo và đầy sự sáng tạo của nghệ nhân Khmer. Trên đầu các góc mái đều có cặp một khúc đuôi rắn dài và cong vút. Xung quanh mái chùa được đắp phù điêu hình chim, thú cũng như những hình ảnh tượng trưng cho triết lý nhà Phật. Có thể nói toàn bộ mái chùa là một công trình kiến trúc độc đáo thể hiện quan niệm, triết lý về mối giao hòa giữa Phật – Con người – Trời của người Khmer.
    Hàng cột ở ngoài chánh điện, đều làm theo kiểu Hy Lạp. Ở phía trên chỗ tiếp giáp đầu cột với đuôi mái ngói có gắn hình người chim (Krud). Krud còn có tên Garuda là một loại chim thần, mình đầu người chim, chân chim, mỏ ngậm một viên hồng ngọc.
    Ở hai bên bậc thềm lối vào chánh điện có hai tượng chằn (Yeak), thể hiện qua hình dáng một người có bộ mặt dữ tợn, miệng to, răng nanh dài, mắt lồi, lông mày xếch. Mình mặt áo giáp, đầu đội mũ nhọn và tay cầm cái chày dài. Tượng chằn thường đặt đứng quanh chánh điện, phía trước các cửa ra vào để bảo vệ ngôi chùa.
    Chùa Kh’Leang được kể là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở Sóc Trăng và là một công trình kiến trúc khá độc đáo. Mặc dù đến nay đã trãi qua bao thời đại và đã được trùng tu nhiều lần, chùa vẫn giữ được những đường nét riêng biệt đáng được trân trọng đối với nền văn hóa Phật Giáo Khmer.
    Hằng ngày, chùa Kh’Leang đón rất nhiều du khách đến tham quan, đặc biệt là du khách nước ngoài, hết thảy đều choáng ngợp trước nét đẹp kiến trúc của ngôi chùa. Nếu có dịp đến Sóc Trăng, xin bạn hãy nán chút thời gian quý báo đến chiêm ngưỡng vẻ đẹp của chùa Kh’Leang để cảm nhận thêm vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống.
    Nơi đây cũng diễn ra những nghi lễ quan trọng nhất trong những ngày lễ truyền thống của dân tộc Khmer như :
    • Lễ Vào Năm Mời (Chol Chlam Thmay)
    • Lễ Cúng Ông Bà (Dônta)
    • Lễ Cúng Trăng (Ôk Bon Bok) Và Tổ Chức Đua Ghe Ngo.

    Bảo tàng Khmer

    Đối diện với chùa Kh’Leang tại thị xã Sóc Trăng bảo tàng Khmer x6y dựng theo kiểu kiến trúc của chùa Khmer, trong đó có khá nhiều hiện vật về đời sống văn hóa, tinh thần, vật chất là sự phát triển kinh tế – xã hội của dân tộc Khmer tại Sóc Trăng. Đây cũng là điểm du lịch của du khách gần xa.
    Bảo tàng Khmer xây dựng năm 1936 và hoàn thành năm 1941. nguồn vốn xây dựng từ những người hảo tâm gồm 3 dân tộc: Kinh, Hoa, Khmer đóng góp, trong đó có người Khmer ở Campuchia và quốc vương Sihanúc.
    Nội dung trưng bày của bảo tàng gồm ngôi chùa nhỏ của người Khmer, chùa không phải là nơi dành riêng cho việc tu hành mà còn là nơi tụ họp của nhân dân trong những ngày lễ hội, vui chơi theo phong tục theo các sinh hoạt cộng đồng. Ngoài ra nơi đây còn gìn giữ bảo tồn di sản văn hóa, sản phẩm nghệ thuật dân tộc đã được sáng tạo cách đây hàngthế kỷ. Tượng thần Baruruda với mình người đầu chim được làm bằng simăng hoặc gỗ gắn trên các hàng cột ngoài dưới mái hiên chùa, tượng đầu rắn thần Nara được gắn trên các mái chùa.
    Bia ghi công những người có công đóng góp xây dựng bảo tàng, đứng đầu là hòang thân Xihanúc. Các loại nhạc cụ của dân tộc Khmer những con thú được làm bằng gỗ giống như thật: rùa, rắn và các tượng thần Ấn Độ, nàng Sêđa xinh đẹp, quần áo các cô dâu, chú rễ trong ngày cưới, con dao dưới là để ông chủ hôn cắt hàng rào giả chi đến rước cô dâu, mô hình thu nhỏ của nhà sàn của người Khmer kiểu kiến trúc này ngày nay không còn nữa.
    Quan tài giành cho đại đức, chi qua đời có hoa văn mạ vàng rất đẹp và được làm rất công phu. Dụng cụ tôn giáo giành cho các nhà sư đựng nước thơm rắc lên đầu phật vào các ngày lễ, những cái quạt làm bằng lá thốt nốt dùng để quạt trong lúc nhà s7 làm lễ, các dụng cụ lao động nông nghiệp làm bằng lá thốt nốt như: giỏ, rỗ …. Và một số mô hình sinh hoạt văn hóa khác

    21.                         Long Tuyền Cổ Miếu - Cần Thơ

    Đình thuộc quận Bình Thuỷ, Tp Cần Thơ. Từ trung tâm Cần Thơ đi theo đường Nguyễn Trãi qua đường Cách Mạng Tháng Tám và Lê Hồng Phong là tới. Trước đình là con rạch Bình Thuỷ.
    Lịch Sử Hình Thành Long Tuyền Cổ Miếu:
    Long Tuyền Cổ Miếu ra đời trong bối cảnh năm 1852 trên dòng sông Hậu xảy ra một cơn cuồng phong dữ dội, trong lúc quan khâm sai đại thần huỳnh Mẫn Đạt đang tuần du gặp nạn, ông đã ra lệnh cho quân lính neo thuyền đậu nên cù lao cồn Linh tại vàm rạch Bình Thuỷ. Sau khi trời yên mây tạnh sóng gió qua đi quan khâm sai lên bờ nhìn cảnh làng quê sung túc, sông nước rầt êm đềm thơ mộng và cũng là nơi tránh gió rất tốt. Nhờ có cù lao này mà thuyền ông đã vượt qua kiếp nạn. Trước cảnh làng mạc quanh năm nước mát cây trái bốn mùa nên ông đặt cho làng cái tên là Bình Thuỷ
    Thoát được cơn cuồng phong năm đó ngày 29.11.1852. Huỳnh Mẫn Đạt đã tâu sớ lên triều đình và đã được vua Tự Đức sắc phong “Bổn Cảnh Thần Hoàng” cho Long Tuyền cổ miếu. Sau gần nữa thế kỷ tồn tại đình Bình Thuỷ đã xuống cấp.
    Năm 1904 tri phủ Nguyễn Đức Nhuận cho cất lại trên diện tích 2.9ha xây dựng chưa xong ông đã qua đời. Đến năm 1910 đình được hoàn thành do ông Nguyễn Doãn Cung xây dựng và ông Huỳnh Trung Trinh thiết kế. Có thể nói đây là một trong những ngôi đình có kiến trúc độc đáo nhất ĐBSCL còn tương đối nguyên vẹn qua 2 cuộc trường kỳ kháng chiến và được bảo tồn đến ngày nay .
    Nhìn theo thế phong thuỷ thì con rạch như giống như một con rồng (thế Minh Đường) có đủ 4 chân đang vờn lượn, ngoạm lấy viên ngọc là cồn Linh. Người dân ở đây tin rằng đình nằm trên địa thế đầu con rồng là vùng địa linh nhân kiệt, sẽ sản sinh nhiều người tài, là vùng đất an lành, sung túc. Vì vậy năm 1913 đình được đổi tên thành Đình Long Tuyền (con suối rồng) rồi dần dần gọi thành Long Tuyền Cổ Miếu như ngày nay.
    Kiến trúc: gồm 2 khu: khu đình chính và khu “lục ấp”.
    Cổng Tam Quan của đình làm theo lối cổ lâu. Trên có đề 4 chữ hán Long Tuyền Cổ Miếu, hai bên là hai vế đối :

    (Miếu cổ đứng tôn nghiêm, Bình Thuỷ nhân dân sùng hậu kiệt.
    Cửa nay thêm tráng lệ, Long Tuyền làm ấp xuất anh hùng )

    Qua khỏi cồng là tấm bình phong “tứ bất tường” (thế tiền án).
    Khu lục ấp: gồm một nhà hát và khu nhà chuẩn bị đồ cúng lễ. Cặp hai bên hông đình là 4 ngôi miếu. Hai miếu gần cổng thờ thần Phúng Thuỷ (khai kênh) và thần Khai Lộ (mở đường), còn lại thờ thần Nông và thần Hổ.
    Truyền thuyết về “Tứ Bất Tượng”; một con vật có hình dạng như Long Mã; còn 4 chân của con vật tượng chân cho thần long, thần hổ, thần phong thủy và khai lô; 4 chân của con vật là: ngựa, rồng, gà và hổ.
    Chân ngựa tượng trưng thần khai lộ, tức những bước chân Nam tiến của chiều Nguyễn vào tới trong này; thì đó là khai đường mở lối và tượng trưng của ngựa.
    Chân hổ tức là thần hổ ở vùng rừng thiên nước đọng này chỉ những con hổ này thường thống trị nên hổ luôn được người dân thờ để tránh những con hổ khác tới quấy phá dân lành.
    Chân gà tượng trưng cho thần nông, sự đào bới trồng trọt.
    Chân của con rồng tượng trưng cho thần phúng thủy, phúng ở đây có nghĩa là phun nước tạo ra mưa thuận gió hòa cho nhân dân.
    Kiến trúc bên trong của ngôi đình:
    Khu đình chính : gồm phía trước là khu tiền điện, giửa là khu trung điện (chính điện) và trong cùng là hậu điện được xậy dựng theo kiểu “Trùng Thềm Điệp Ốc”. Tiền điện có hai lớp mái, trung và hậu điện ba lớp mái chồng lên theo kiểu kiến trúc “Thượng Lầu Hạ Hiên” do vậy đình vừa rộng lại vừa cao.
    Trang trí: Trên nóc đình có gắn tượng người, kì lân, cá hoá rồng …. Bên trong trang trí những tác phẩm bằng gỗ như hương án, khánh thờ, đa số cấu đối chạm liền vào cột.
    Đình Bình Thuỷ được cấu trúc mô phỏng dạng số 8 với qui mô bề thế. Từ cổng chính bước vào bên phải là Đông Lang bên trái là Tây Lang. Phía sau hậu đình bên phải là miếu thần nông bên trái là miếu thiên quân.
    Long Tuyền cổ miếu là một công trình kiến trúc đứng biệt lập trên mặt đất mà không cần nền móng hệ thống kèo cột liên đới với nhau hết sức khoa học đó là nhờ vào kỷ thuật làm mộng âm dương thật tài tình của các nghệ nhân thời bấy giờ
    Đình Bình Thuỷ được xây dựng theo hệ thống mở thông thoáng, không gian bên ngoài rộng mái đình được lợp bằng ngói âm dương. Đình có 8 cửa ra vào với 84 cây cột được chạm trổ một cách tinh xảo. Cột đình được lấy từ những loại gỗ quí như: liêm, gõ, mật, thao lao… được chạm trổ theo nhiều chủ đề tứ linh, hoa lá, bầu rượu hay cuốn thư….. giàu tính ngẫu hứng được sơn son thiếp vàng
    Đình có kiến trúc với 3 gian chính gồm gian chánh điện thờ thần Thành Hoàng Bổn Cảnh do vua Tự Đức sắc phong ngày 29.11.1852 (nơi này chỉ dành cho các nghi lễ cúng tế). Gian kế dùng để mân bàn lễ vật gian sau cùng là nơi thờ Thiên Vương rồi đến trăm quan cựu thần, ngũ vị nương nương và những vị danh nhân tướng lĩnh kiệt xuất của dân tộc như Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Trung Trực..
    Nếu như ngày xưa cuộc sống quần cư đã biến ngôi đình là nơi quan trọng và tôn nghiêm nhất làng. Mỗi khi làng có viêc là Long Tuyền cổ miếu trở thành một triều đình thu nhỏ nơi dùng cho các bậc chức sắc của làng hợp lại mà việc của làng thì đủ thứ từ binh, công, luận tôị dân đen đến chuyện lập ra hương ước làng xã
    Ngày nay nhằm phát huy và giữ gìn những truyền thống quí báo của cha ông để lại người dân Bình Thuỷ hàng năm tổ chức 2 kỳ lễ hội là lễ hội thượng điền và hạ điềnđược cúng vào ngày 13,14,15 tháng 4 âm lịch và 14.12 âm lịch
    Nghi thức cúng ở dây có 3 lễ chính : Chánh tế, bài soạn và tích phước hay nói cách khác ban đầu là thỉnh sắc đi du ngoạn xong đến lễ tế thần nông để cầu cho đất đai được màu mỡ làm ăn trúng mùa tiếp theo là cúng đinh và cuối cùng là cúng Tiết
    Đến kì lễ hội đình Bình Thuỷ được nhiều người dân trong khắp vùng hưởng ứng v nó đã trở thành một ngày hội văn hoá của người dân ĐBSCL
    Có thể nói đình Bình Thuỷ là một công trình kiến trúc có giá trị của dân tộc Việt Nam và c là nơi sinh hoạt văn hoá tinh thần đông đảo quần chúng nhân dân trong những ngày hội truyền thống
    Ngày 5.9.1989 đình Bình Thuỷ được bộ văn hoá thông tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia.

    22.                         Chùa Sư Muôn - Phú Quốc

    Cách thị trấn huyện lỵ chừng 5km về hướng Đông, trên con đường Dương Đông, Hàm Ninh, rẽ sang tay phải, du khách bắt gặp ngôi chùa cổ kính, kiến trúc độc đáo đó là chùa Sư Muôn.
    Trong lúc rảo bước trên 60 bậc đá để đến chân rùa, xin được giới thiệu đôi nét về ngôi chùa cũng như người tạo dựng ra, để hầu du khách.
    Chùa có tên chữ là Hùng Long Tự, theo phái Tịnh độ cư sĩ, thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập bởi vị sư tên Nguyễn Kim Muôn.
    Nhà sư đạo hiệu Giai Minh (1892 – 1946). Người một thời được báo chí Sài Gòn nhắc nhiều và người Phú Quốc lớn tuổi hẳn còn nhớ ông rất rõ.
    Xuất thân là thư ký kế toán của Ngân hàng Đông Dương ông đã thử nghiệm cải cách nề nếp tu hành vận dụng đạo Phật trong tình hình xã hội hiện đại.
    Năm 1932, ông ra tận hòn Thổ Chu, hòn Thơm và sau cùng là đảo Phú Quốc, tìm nơi yên tĩnh để tự tạo dựng cơ ngơi tu hành. Được dân địa phương điềm chỉ, ông tìm đến núi Suối Đá cất thảo am. Dân chúng hay tin theo học rất đông.
    Năm 1946 ông mất, Chùa bị đạn bom tàn phá. Sau đó được đệ tử là Sư Minh Út trùng tu một lần cho đến nay.
    Khách đến chùa, cảm nhận đầu tiên là sự bình lặng. Chùa nằm trên lưng chừng núi, giữa rừng cây tịch mịt. Phong cảnh thật là kỳ mỹ. Sau chùa là núi có nhiều cây to cao vút. Nước từ khe cao chảy xuống chân chùa, chia làm nhiều ngách bao bọc quanh thềm, chảy vào sân sau. Ngách khác len lõi dưới rặng tre để xuống triền sim.
    Chánh điện được cất trên nền đá cao gần 3 mét bên trong thờ tượng Phật lớn, với đường nét điêu khắc sắc sảo. Xung quanh chánh điện có lang cang bao bọc. Đứng tựa lang cang nhìn xuôi triền núi, từ độ cao này cảnh đẹp làm hả dạ người viếng cảnh: phía tây bắc, nơi cỏ tranh xanh mướt, những vườn tiêu thắng tắp vuông từng khoảnh, từng chòm nổi lên giữa nền xanh đậm của vườn cổ thụ, những mái nhà ẩn hiện dưới bóng khói, bóng mây.
    Cơn gió núi thoảng qua, tiếng đưa cây kẽo kẹt, do khách đứng đó lòng không rửa mà trong, thân không có cánh mà nhẹ, ưỡn mình hứng làn gió mát tưởng mình xa hẳn cõi phàm trần.
    Mộng dù đã tỉnh mà hứng vẫn còn nồng. Nhưng cuộc vui nào cũng tàn, mời du khách xuống núi cùng đến Suối Tranh, con suối nổi tiếng cách chừng 4 cây số.

    23.                         Chùa Cao ( Cao Đài Hội Thánh) - Phú Quốc

    Chùa Cao, được gọi tắt từ tên đầy đủ là Cao Đài Hội Thánh, hay hiểu theo nghĩa chùa ở trên cao cũng đúng, vì chùa này được cất trên ngọn núi cao. Muốn đến chùa phải qua nhiều nấc thang trên con dốc cao dững đứng, phía sau đình thần Dương Đông.
    Chùa nằm trên một vị trí rất tốt, xung quanh cây cối xanh tươi mát mẻ. Cửa chùa nhìn xuống sông Dương Đông thơ mộng sau lưng nhìn ra biển cả mênh mông.
    Nơi đây trước kia là ngôi chùa Quan Am do ông Huỳnh Đăng Khoa và Đỗ Minh Châu (tức Cả Bổn) xây dựng. Về sau, ông Châu truyền chùa lại cho con là Đỗ Kim Cự, ông Cự lại truyền chùa cho Đỗ Văn Bồ (tức Tám Gia).
    Trong thời gian nhậm chức quận trưởng Phú Quốc ông Ngô Văn Chiêu thường đến đây cầu tiến. Tại đây ông nhận được điềm linh ứng của tiên ông. Truyền rằng: năm 1921 ông được Cao Đài Tiên Ông cho biết tên và chọn ông làm người khai sáng đạo, dạy vẽ Thiên Nhãn thờ. Nghĩa là những cơ cấu căn bản tối thiết của đạo đã được xác lập ở đây. Những yếu tố tối thiết đó gồm:
    - Giáo chủ: Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, tá danh Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.
    - Giáo đồ đầu tiên (vô vi): ông Nguyễn Văn Chiêu.
    - Giáo Pháp: tu đơn (tọa thiền).
    - Giáo tượng: thiên nhãn (mắt trái) tượng trưng cho tâm linh vũ trụ.
    - Giáo thuyết: Cao đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát thể hiện đường lối dung hợp tam giáo: Cao Đài biểu thị Nho Giáo, Tiên Ông biểu thị Lão giáo, Đại Bồ Tát Ma Ha Tát biểu thị Phật giáo.
    - Giáo điển: một số bài kinh dùng để cúng trước Thiên bàn vào các thời Tý Ngọ Mẹo Dậu. Hay nói cách khác, những sự kiện quan trọng của lịch sử khai đạo Cao Đài đã xảy ra tại chùa Quan Am. Từ đó đạo Cao Đài được lan truyền khắp nơi trên toàn Nam Bộ và phát triển qua nhiều khúc quanh mới, vượt ngoài tầm kiểm soát của người khai sáng.
    Sau mấy mươi năm thiếu người chăm sóc, chùa Quan Am suy sụp đỗ nát. Năm 1961, muốn giữ lại một diện tích ít nhiều có liên quan đến thời kỳ khai nguyên đạo, các tín đồ cho dựng trên nền cũ của Chùa Quan âm một ngôi chùa mới gọi là Cao đài Hội Thánh, để làm nhà kỷ niệm và thờ người khai sáng. Bên cạnh đó, cũng cất một am nhỏ, kỷ niệm chùa Quan Am.

    24.                         Chùa Sắc Tứ Tam Bảo - Kiên Giang

    Chùa Tam Bảo tọa lạc tại số 328, tổ 2, ấp Ao Sen, đường Phương Thành, thị xã Hà Tiên. Chùa có tên gọi là chùa Tam Bảo được xây dựng từ năm 1730.
    Trên địa bàn tỉnh Kiên Giang có 2 ngôi chùa Sắc Tứ Tam Bảo một tại Hà Tiên, một tại Rạch giá đều rất nổi tiếng.

    Theo Đại Nam Nhất Thống Chí: chùa Tam Bảo trước đây thuộc huyện Hà Châu do Mạc Cửu xây dựng cho mẹ là phu nhân Thái Thái tu hành vào những năm cuối đời. Khi Mạc Cửu lập nên thị trấn Hà Tiên, mẹ ông là Thái Thái tuổi đã ngoài 80 do nhớ con da diết, bà đã từ Lôi Châu vượt biển tới (cũng có tài liệu khác cho rằng khi Mạc Cửu đã thành danh mới đón mẹ từ Trung Quốc sang ở chùa này) Mạc Cửu phụng dưỡng mẹ rất chu đáo, làm trọn bổn phận của một người con hiếu thảo. Phu nhân vốn tánh mộ phật cho nên Mạc Cửu đã cho dựng chùa này để cho mẹ thể hiện lòng thành kính và ngày ngày chiêm bái, một hôm bà đang làm lễ trước phật điện, thì phu nhân đột nhiên qua đời nay trước bàn thờ Phật. Mạc Cửu theo nghi lễ chôn cất cho mẹ rất trang trọng, chu đáo và cho xây dựng mộ ở phía hậu viên của chùa. Mạc Cửu khi đó đúc tượng Di Đà họa theo mẫu thân của mình để thờ. Hiện nay tượng vẫn còn .
    Hình tượng ngôi chùa ngày xưa do Mạc Cửu xây dựng cho mẹ hiện nay không còn mà chỉ còn lại một chút dấu vết là những bước tường thành xung quanh chùa. Ngoài ra ông còn cho đúc một đại hồng chuông để khi nghe tiếng chuông mà tưởng nhớ đến thân mẫu của mình.
    Tại đây còn có một truyền thuyết kể lại rằng: Khi xây chùa xong, ngài Mạc Cửu nằm mộng thấy Rồng Vàng Ngậm Hoa Sen, ứng với việc hoà thượng Huỳnh Long tức Ấn Trừng Thiền Sư, thuộc dòng Lâm Tế thứ 35, từ Trung Quốc sang Hà Tiên. Khi Mạc Cửu gặp Hoà Thượng, thì ông không mở cổng chùa mà còn bảo :“làm sao vô được thì vô”, tức thì hoà thượng liền phi thân bay vào. Từ đó hòa thượng được gọi là Quốc Sư và là người đầu tiên trụ trì chùa Tam Bảo. Hiện Nay vẫn còn Bảo tháp của Quốc Sư. Trước đây chùa nằm trên vùng đất ngoài dinh trấn cách dinh trấn khoảng vài cây số. Năm 1771 chùa bị thiêu hủy và mãi đến năm 1799 thì con cháu Họ Mạc mới xây dựng lại chùa nằm phía trong dinh trấn, cho nên vòng thành tuy bị phá bỏ nhưng nhưng vẫn còn lưu lại dấu vết. Chùa Tam Bảo hiện nay là hoàn toàn mới xây lại do hoà thượng Phước Ân thuộc dòng lâm tế đời thứ 40 vào năm 1930.
    Thi sĩ đông Hồ Lâm Tấn Phác trong bài viết về Hà tiên, Mạc Thị Sử đăng ở tạp chí Nam Phong số 143 tháng 10 năm 1929 có ghi : « Tên chùa gọi là Tiêu Tự, tục gọi là chùa Tam Bảo »
    Chùa có khuôn viên khá rộng. Ở cổng vào có đôi câu đối

     (Đất Bồ đề không vương bụi tục
    Cửa Bát nhã có sẳn duyên lành)

    Ở sân trước có đặt tượng Quan Âm lộ thiên dưới bóng cây Bồ đề. Chánh điện đã được trùng tu lại. Mặt tiền có hai tập câu đối nhưng bên trong lại không có câu nào. Trên bàn thờ ở tầng trong cùng có tượng đức phật Di Đà bằng đồng đã được thếp vàng cùng với hai pho tượng quan Am và Thế Chí. Ở tầng dưới có tượng đức phật Thích Ca sơ sinh và hai pho tượng Thích ca thành đạo. Ngoài ra cũng còn có các pho tượng Hộ Pháp, địa Tạng, và ông Tiêu. Con có 4 bệ thờ do Thái Lan tặng
    Phía sau lưng bàn thờ phật là gian thờ Tổ. Ở đây có mấy câu liễn được treo trên cột. Chùa Tam Bảo đã trãi qua mười mấy đời truyền thừa . Vị trụ trì đầu tiên là hòa thượng An` trừng dòng Lâm Tế thứ 35. Tiếp theo là các Hoà thượng Minh Tâm, Minh Liêm, Minh Thông, Minh Chơn, Như Đức,Như Khả, Nhứt Huy, Thuần Hạnh,Phước Thành, Phước An, Phước Quang,Quãng Đức, Vĩnh Đạt, Thiện Giác và thích nử Như Hải. Từ năm 1974 chùa Tam Bảo trở thành ni tự.
    Phía sau chùa có ngôi nhà lầu dùng làm ni thất, kiến trúc hiện đại và khu mộ tháp. Nhà giám trai ở phía tay phải ngôi chùa gồm 3 gian. Nơi đây cũng có một số câu đối. Câu ở ngoài cùng ghi

    (Trời đất rất công, tích thiện tự nhiên được phức
    thánh hiền vẫn dạy, tu thân rồi mới tề gia)

    Chùa sắc tứ Tam Bảo là một ngôi chùa cổ, có lịch sử lâu đời trên 200 năm đã được các sách sử nói đến nên được nhiều người biết tiếng và đến tham quan khi có dịp ghé Hà Tiên

    Ý NGHĨA CỦA NHỮNG PHO TƯỢNG PHẬT:

    Trước khi phật sinh ra và viên tịch chỉ nhắc tới một điều! Khi phật sinh ra bước đi 7 bước thì có bảy hoa sen; tuyên truyền phật sinh ra từ nách chứ không phải như các cậu bé bình thường khác; nhưng điều đó chỉ do người ta thần thánh hóa lên; phật cũng như bao người khác. Khi phật vừa sinh ra thì phật bước 7 bước và hiện thân cho 7 hoa sen; 7 hoa sen thể hiện cho “thất tình”của con người: Tham, Sanh, Si, Hỷ, Nộ, Ai, Ố.
    Một tay Ông chỉ lên trời 1 chỉ dưới đất ông muốn nói “thiên thượng địa hạ di ngã độc tôn” đây là tiếng của mình dịch theo sách kinh của Trung Quốc; nhưng nghĩa của tiếng Phạn dịch ra không phải như chúng ta thường hiểu câu nói trên là: “trên trời cao dưới đất rộng có Ông ta sẽ phổ độ chúng sinh” nếu dịch kinh như vậy là không đúng; nếu dịch đúng thì phải là: “trên trời cao dưới đất rộng sợ nhất là bản ngã con người, tự cao tự đại sẽ giết chết chúng ta” điều sợ nhất là bản ngã con người không tự chủ bản thân.
    Trước khi phật viên tịch. Đa phần nơi nào có tượng phật Đản Sanh thì sẽ có hình thể ông sang thế giới vĩnh hằng; đầu thì luôn luôn tựa gối đá để suy nghĩ; vì người ta nói “con thiếu mẩu, gối trầm đoàn, lả lơi loan phượng” khi phật viên tịch mọi người chất củi để hỏa thiêu nhưng đốt hoài không cháy; bổng nhiên lửa Tam Mũi đốt cháy ông. Sau này xác ông biến thành 83.000 hạt xá lợi chia cho các chùa trên thế giới thờ phụng.
    Phật Quan Thế Âm Bồ Tát: phía trên có 3 lá bồ đề tượng trưng cho “Giác Ngộ”; điều này thể hiện cho thuyết Việt Nam “Thiên Địa Nhân”: Phật Bà Quan Âm sẽ phù hộ cho dân Hà Tiên nói riêng, Việt Nam nói chung “Thiên Thời Địa Lợi Nhân Hòa”. Đa phần các chùa đều thờ phật Quan Thế Âm Bồ Tát.
    Phía sau cây bồ đề là tượng Thích Ca Mô Ni, lúc này ông đã giác ngộ. Trước đây, Phật Thích Ca vào rừng tu ép sát; sau này được một người chăn dê cho uống sữa dê và cho một hạt kê lúc này ông đã tỉnh ra, phật do tại tâm chứ không phải nhịn ăn uống là trở thành phật được.
    Ngoài ra phía ngoài của chùa còn có khu mộ của 16 vị trụ trì. Đây là ngôi chùa cổ của Hà Tiên với lịch sử hơn 200 năm, gắn liền hình thành với quá trình hình thành thị trấn Hà Tiên và được nhắc đến nhiều trong các sách sử .
    Mạc thiên Tích là con của Mạc Cửu đã cảm tác 11 bài thơ về cảnh đẹp Hà Tiên, gồm một bài tổng vịnh và 10 bài vịnh thắng cảnh. Trong đó có bài vịnh Cảnh đẹp “Tiêu Tự Thần Chung” trong đó có câu thơ :

    “Chuông gióng chùa Tiêu tiếng tiếng cao”

    Tiêu ở đây có nghĩa là vắng vẻ. Tự là cảnh chùa. Thần là buổi sáng sớm và chung là tiếng chuông. Tiêu tự thần chung có nghĩa là tiếng chuông buổi sớm ngân vang cảnh chùa tĩnh mịch. Và theo một số người giải thích tên chùa gọi là tiêu tự tục gọi là Tam Bảo.

    25.                         Thắng cảnh chùa Hang - Kiên Giang

    Từ thị xã rãch Giá theo quốc lộ 80 qua thị trấn Kiên Lương rẽ đến ngã 3 hòn. Nơi đây rẽ phải đi về Hà Tiên còn rẽ trái thì đi về chùa Hang.
    Chùa Hang có từ thế kỷ 18 nằm trong dãy núi hòn chông. Từ ngoài bước vào chánh điện là tượng phật Thích Ca, tượng Bồ Đề Đạt Ma tượng phật nghìn mắt nghìn tay, tượng Đường Tam Tạng … Rẽ qua phải chính điện là đường dẫn vào hang. Lần theo con đường mòn tối ôm hai bên là vách đá ta sẽ bắt gặp trong hang có hai tượng phật tạc theo kểu Thái Lan do hai vị hoàng tử Chiêu Tuý và Chiêu Xí Xang con của vua Xiêm đắp trong lúc Mạc Thiên Tích cho lánh nạn tại đây .
    Lần theo vách chùa Hang ta thấy vỏ hến bám đầy trên vách. Hang này cả ngàn năm trước là một cái hòn chơ vơ giữa biển lâu dần bị sóng xâm thực bào mòn trên núi đục đẽo thành hang sau đó được nâng lên rồi phù sa bồi đắp đến nay đã nằm yên trong đất liền
    Trước của hang phía Nam có miếu bà chúa xứ chùa Hang. Đến cuối hang ra ngoài là bãi cát mịn màu mỡ gà, nước trong xanh nhìn ra xa xa là hòn phụ tử sừng sững mọc lên giữa biển
    Rời khỏi hang có một vách núi nhô ra biển gọi là mũi công chúa Ngọc Du chuyện kể rằng khi đoàn thuyền của Nguyễn Anh bị quân Tây sơn truy đuổi chạy đến đây, tướng Tây Sơn đuổi kịp nhảy lên thuyền của công chúa Ngọc Du thì đồng thời công chúa cũng gieo mình xuống biển. Sau đó Nguyễn Anh trở lại và lập đàn tế đặt tên là mũi công chúa Ngọc Du.
    Phía Bắc chùa là bọng nước tròn cở giếng nhỏ sát vách đá lúc nào cũng đầy nước chảy xuống từ khe đá trên núi được người dân sử dụng tưới cây, tắm giặt.
    Phía Đông chùa Hang là hang Gia Long. Đây là hang động ăn ra biển bị mưa và sóng biển xâm thực tạo thành, từ cửa hang tiếp giáp ra biển khá xa. Hang tối đen như mực vì thế mà Nguyễn Anh đã lẫn trốn quân Tây Sơn tại đây trong một thời gian dài. Trên vách đá có những hình thù kỳ lạ do đá vôi kết hợp với nước mưa tạo thành, đặc biệt là luôn rĩ nước có nơi nước chảy thành vòi. Tương truyền lúc Nguyễn Anh trốn trong hang đã lấy nước này cho quân sĩ uống và đặt tên là giếng tiên .
    Quan Thế Âm ông có pháp thuật rất là cao siêu; ở dâu nghe tiếng kêu của chúng sinh sự đau khổ thì ông ta sẽ đến giúp; nên ông ta có thể biến ra muôn hình vain dạng để cứu giúp.
    Theo truyền thuyết về phật Di Lạc. Bắt nguồn từ Tây Tạng nơi có ngọn Êvares; nơi đây xuất hiện một vị hòa thượng nhìn rất vô hình tướng lúc thì to con, lúc thì nhỏ con nhưng về sau không ai nhớ hình dạng của Ông như thế nào; nhưng chỉ nhớ là Ông luôn nở nụ cười và bụng ông rất to.
    Nhiệm vu, của Ông khi trời nắng Ông ta cột khúc gỗ và kéo để báo cho mọi người trời sẽ nắng và có hạn hán.
    Trời lụt hay trời mưa thì Ông sẽ nhúng giày của ông ta xuống nước để báo cho mọi người là trời sẽ mưa.
    Những đứa trẻ gặp bất hạnh thì Ông sẽ đổ túi vải Như Ý ra trong đó có đồ chơi để để giúp đỡ cho những đứa bé.
    Sau này, hòa thượng Thế Thử viên tịch; trước khi viên tịch ông luôn nói “di lạc, di lạc, tâm di lạc”. Lúc đó mọi người mới phát hiện ra đây là vị phật trong tương lai thì sau đó hội phối thờ theo phật Thế Thử .
    Ông này có miệng rất lớn: miệng lớn để cười mọi việc mà người đời không ai cười được; ví như trên đời có những việc đau khổ và Ông sẽ nhận những việc đau khổ đó để lại niềm vui cho chúng ta.
    Và lỗ tai ông rất lớn, lỗ tay của ông là hiện thân của Quan Thế Âm hiện thành, Quan Thế Âm là vị Phật nghe được mọi tiếng kêu của chúng sinh mà để phổ độ và lúc này tai của ông là của phật Quan Thế Âm; mọi tiếng kêu trên thế gian này ông sẽ sẵn sàng nghe và phổ độ.
    Bụng của Ông lớn, bụng lớn thể hiện sự giàu sang và phú quý; muốn con người sống ấm no, hạnh phúc; bụng Ông rất lớn còn thể hiện sự khoan dung mà người đời ai không thể làm được; tức là giữ lại cho chúng ta những gì tốt đẹp nhất.
    Và trong tương lai kinh phật dự định khoảng 6000 năm nữa chúng ta chỉ thờ một mình vị phật này thôi vì nhiệm vụ của những vị phật khác nhau đều quy tựu về vị phật Di Lạc hay còn gọi là phật Vị La.

    26.                         Chùa Phi Lai - An Giang

    Chùa Phi Lai nằm đối diện chùa Tam Bửu, cách núi Tượng 200m về hướng Đông. Chùa được tín đồ Hiếu Nghĩa dựng nên vào ngày 19.01.1877.
    Vào những ngày quân Pôn Pốt đánh phá ác liệt vào xã Ba Chúc, nhân dân trong vùng chạy vào chùa Phi Lai để tránh đạn pháo 3 giờ chiều ngày 18.04.1978 (16.03 âm lịch), quân Pôn Pốt tràn vào chùa Phi Lai và miễu An Định, chúng bắn bừa bãi tung lựu đạn giết trên 80 người. Những người còn sống sót chạy ra cửa chúng dùng cây đập đầu hoặc bắn chết trên 100 người nữa, xác nằm ngổn ngang xung quanh chùa. Riêng ở dưới bàn thờ Phật có 40 người đang ẩn trú. Bọn chúng dùng lựu đạn ném vào làm chết 39 người. Còn lại một phụ nữ nằm trong góc được sống sót. Hiện nay hầm còn dấu vết vụ thảm sát ấy.
    Sau ngày 30.04.1978 những người còn sống sót trở về tìm lại thân nhân mình, đã nhìn thấy nhiều bàn tay máu trên vách tường, hành lang chùa Phi Lai, mà nhiều nhất là các bàn tay máu của trẻ em. Phía bên tri trong chùa có một vòng máu búng lên tường cao 4m, bên phải có một đường dài 7m, cao 0.6m. Phía trước chánh điện máu và nước văng cao 0.2cm. Bà con xã Ba Chúc đã gánh trên 80 đôi nước để dội rửa.
    Các đội chữ thập đỏ lo thu gom xác người chết đốt lấy cốt tốn nhiều ngày mới hết. Chùa Phi Lai ngày nay còn giữ nguyên các dấu vết tội ác này.

    27.                         Miếu bà Chúa Xứ - An Giang

    Thuộc ấp Vĩnh Tế 1, thị xã Châu Đốc được lập vào thế kỷ 19, lịch sử của chúa Bà có hai truyền thuyết: miếu bà do dân xây dựng để cúng bái vì tin vào sự linh thiêng của bà.
    Trong miếu bà Chúa Xứ có một pho tượng bằng đá Sa Thạch cao gần 2m tạc hình một người đang trong tư thế nghĩ ngợi trầm tư. Đó là “bà Chúa Xứ” mà theo truyền tụng dân gian kể lại:
    Tượng bà đã có từ rất lâu đời cách đây khoảng 200 năm bà được dân địa phương phát hiện và được khiêng từ trên đỉnh núi Sam bởi chín cô gái đồng trinh tắm rửa sạch sẽ (theo lời dạy của Bà). Cũng có ý kiến cho đầu thế kỷ 19 Nguyễn Văn Thoại lãnh lệnh vua đi bình giặc ở biên giới phía Tây. Phu nhân ông ở nhà lo lắng ngày đêm khấn nguyện để ông bình yên trở về nếu được vậy bà lập miếu tạ ơn, vì vùng này vốn là rừng thiêng nước độc lắm dã thú, ai đi khó về. Nguyện ước đạt được ông đã trở về khi nghe bà bày tỏ ý nguyện, ông rất cảm động và nhớ lại những nguy hiểm mà ông đã đi qua. Ông liền cho xây dựng miếu để tạ ơn và thỉnh tượng bà từ trên núi về thờ.
    Nhà khảo cổ học người Pháp Malleret là người đã phát hiện ra di chỉ văn hóa Óc Eo (vùng Ba Thê núi sập). Năm 1941, sau khi nghiên cứu tượng Bà đã xác định đây là một pho tượng thần Visnu (một trong ba vị thần BàLaMôn giáo) được tạo vào khoảng thế kỷ thứ 6 đầu thế kỷ 7 sau công nguyên. Như vậy có thể nói rằng tượng Bà là một pho tượng đàn ông của người Khmer bỏ bên sườn núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miếu tô điểm lại thành phụ nữ.
    Do ảnh hưởng phật giáo, lão giáo cùng tín ngưỡng thờ mẫu của dân gian mà bà Chúa Xứ trở thành một dạng như “phật bà Quan Âm” và được tôn thờ thành kính. Có rất nhiều huyền thoại về sự linh thêng của Bà, trong miếu còn treo hai câu liễng đối nói về việc ban phúc, giáng hoạ của Bà:
    “ Cầu tất ứng, thi tất linh, mộng trung chỉ thị
    Xiêm khả kính, thanh khả mộ, ý ngoại nan lượng”
    Miếu bà Chúa Xứ kiến trúc theo kiểu chữ quốc, có bốn mái hình vuông, nóc lợp bằng ngói ống màu xanh, nhà để tượng trưng cũng có bốn mái hình vuông, trong miếu thờ tượng bà chúa được tọa lạc bằng đá xanh có giá trị nghệ thuật cao. Tượng tạc vào thế kỷ VI theo mô phỏng tượng thần Vitnu thường có ở các nước Lào, Campuchia, Ấn Độ, Hội Chùa Chúa xứ được tổ chức rất lớn hàng năm vào các ngày từ 23 đến 26 tháng 4 âm lịch hàng năm. Hàng vạn người đổ về đây dự lễ tắm tượng bà, lễ dâng hương cầu phúc lành…

    Miếu bà Chúa Xứ lúc đầu khoảng năm 1825 được dựng bằng tre lá sau đó được trùng tu nhiều đợt để trở thành một kiến trúc của phương đông khá đẹp: mái cong lợp bằng ngói xanh, tường bằng gỗ quý, chạm trổ công phu. Trên bậc thềm là hai con sư tử đá ngồi chầu, toà miếu ấy nằm trên vùng đất trũng quay lưng lên đường và dựa vào chân núi Sam ở hướng đông bắc, toàn cảnh núi Sam cũng góp phần tạo thêm khí thiêng cho miếu và làm cho không khí ngày hội nơi đây thêm huyền ảo cao khoảng 230m và chu vi chân núi khoảng 300m núi Sam trông giống hình con sam và ngày xưa từng là hòn đảo nhỏ trên biển (lúc biển còn bao phủ toàn vùng) rất nhiều sam bám vào đây sinh sôi nên nó có tên chữ học lãnh hơn (nghĩa là núi con sam) tọa lạc tại làng Vĩnh Tế thị xã Châu Đốc.
    Có người hỏi tượng Bà làm bằng đá gì? Có rất nhiều giả thuyết về điều bí ẩn này, có tác giả gọi là đá “Sa Thạch”, người khác gọi là đá “Son”, người khác gọi là đá “Xanh”. Nhưng những tên gọi ấy không kèm được chứng minh nào cả.
    Nhưng theo một nghiên cứu và có kết luận chính xác, tượng bà được tạc bằng một loại Nham Thạch có tên gọi là Diệp Thạch. Loại Nham Thạch này hình thành từ các hố đại dương, nên có cấu tạo nhuyễn hạt.

    Lễ hội Bà Chúa Xứ

    Hiện nay, lễ hội Bà Chúa Xứ là 1 trong 115 lễ hội quốc gia.
    Diễn ra vào ngày 24-4 âm lịch hàng năm, bao gồm các lễ:
    Lễ Mộc Dục (lễ tắm bà) diễn ra vào 12h khuya ngày 23-4, một tấm màn giăng ngang che kín tượng bà và hai phụ nữ được lựa chọn trước để vào tắm và thay y phục, phía ngoài là hàng trăm người đang quỳ làm lễ tay mỗi người đều cầm bông huệ trắng, nước tắm cho bà được nấu với quế và hương hoa sau khi tắm bà xong sẽ được phân phát cho khách trảy hội uống lấy phước đến nay hiện tượng này không còn nữa. Cũng vậy bộ y phục cũ của bà sẽ được cắt thành từng mảnh nhỏ phân phát cho mọi người để làm một thứ bùa hộ mệnh quý giá.
    Lễ Túc Yết: Ngày 25 tháng 4 âm lịch 4 giờ chiều lễ thỉnh sắc phong cho bà rước từ lăng Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà. Đoàn người rước được sắp xếp theo thứ tự với nghi trượng nghi vật rình rang và có đốt pháo múa lân. 12 giờ khuya lễ yết mời bà về dự lễ tiếp theo là lễ xây chầu (hát bội) với các nghi thức sau: trước hết chánh bái (người chủ trì cuộc lễ) dâng theo (tượng trưng bằng một đĩa huyết và một ít lông heo), sau đó dâng hương và rượu rồi đọc văn tế cuối cùng tiếp hai tuần rượu một tuần trà – tiếp theo chánh bái ca công (đại điện đoàn hát bội) bước vào làm lễ tay cầm nhánh dương vừa rải nước vừa đọc:
    “Nhất sái thiên thanh
    Nhị sái địa minh
    Tam sái nhân trường
    Tứ sái qủy diệt hình”
    Sau cùng là Lễ Xây Chầu. Ông Chánh Bái ca công niệm hương rồi nhúng cành dương vào tô nước vừa rải vừa đọc bài bái tế. Đọc xong ông đánh ba hồi trống và hô to: ca công tiếp giá. Lập tức chiêng trống nổi lên đoàn hát bội bắt đầu phục vụ.
    Lễ Chánh Tế tiến hành lúc 4h sáng 27/4 âl, các nghi thức và vật phẩm cũng giống như túc yết, chiều ngày 27 vào lúc 6h ban quản trị tổ chức lễ hồi sắc để đưa linh vị trở về lăng miếu, chấm dứt các nghi thức “vía Bà”.
    Miếu bà Chúa Xứ qua nhiều lần trùng tu ngày nay xứng đáng là một di tích nằm trong một thắng cảnh mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế hàng ngày không ngớt khách hành hương trong và ngoài nước lui tới viếng, là niềm tự hào cho dân bản xứ.
    Yếu tố độc đáo ấy còn chi phối toàn bộ suy nghĩ của chúng ta về những truyền thuyết quanh sự hiện diện của bà.

    Lễ Vía Bà hằng năm thu hút rất đông khách thập phương. Đến với lễ hội họ vừa được tham dự lễ hội dân gian phong phú để xin cầu tài cầu lộc, gia đình đầm ấm; Tại đây còn có tục “vay tiền bà” vẫn còn, nên hiện nay mỗi năm tiền khoảng 10tỉ/năm; thì tiền này sẽ được dùng vào việc xây dựng, tôn tạo kiến trúc; hoặc là mở đường từ thị xã Châu Đốc vào đây. Có người nói đùa: Bà là người phụ nữ kinh doanh giỏi nhất ở Nam Bộ.
    Đồng thời họ có dịp để du ngoạn, chiêm ngưỡng cảnh trí thiên nhiên ở An Giang.
    Diễn tiền lễ hội: ngày 24 tháng 4 âm lịch đúng 12 giờ khuya tiến hành làm lễ mộc dục (lễ tắm bà).

    28.                         Linh Sơn Trường Thọ- Bình Thuận

    NÚI TÀ CÚ

    Núi Tà Cú làOmột kỳ sơn thắng cảnh dẫm chân bằng dãy núi Liên Sơn thấp,khô khan, trơ trơ cành cây, hóc đá. Núi Tà Cú vươn cao sừng sững đón lấy những chòm mây đầy tuyết lạnh đổ xuống quanh vùng, tạo cho mình một vẻ riêng hùng vĩ mà những bức tranh đẹp nhất cũng chưa thể so với cảnh này.
     Núi Tà Cú nằm ven Quốc Lộ 1, thuộcOxã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam ( cách Phan Thiết khỏang 28 km ), ở độ cao 668m so với mặt biển. Đây là điểm leo núi hấp dẫn và là một trong những thắng cảnh kì thú của đất Bình Thuận.
     Để lên tới đỉnh ngọn núi nằm trong khu rừngOcấm, bạn sẽ phải vượt qua đọan đường 2.290 m cheo leo, dốc khúc khuỷu , mặc dù từ trên 30 năm trước đã được tạo thành những bậc đá cho dễ đi. Dọc ngang lối đi vô số những thân rễ cây bò xuôi ngược. Có khúc rễ giăng nhiều vòng ngoạn mục. Mùa nưa có nhiều đọan suối chảy vắt ngang đường nhưng không cản trở gì vì bạn chỉ cần nhảy qua vài bậc đá. Đoạn dốc mệt nhất có lẽ là dốc Bằng Lăng, nghiêng 450 , du khách cứ phải chúi mũi mà bò, chừng 10 bậc đá đã thấy mệt. Khúc này có rất nhiều thân bằng lăng cổ thụ rải đầy hoa tím lẫn với một loài hoa cánh trắng mảnh mai, trôi dạt trên dòng nước chảy men theo sườn núi. Khi đã đi được khoảng 1.000 m, bạn sẽ thấy đường đi không còn dốc ngược. Đến lúc này du khách có thể tà tà ngắm nghía trời xanh thoắt ẩn thoắt hiện qua tán rừng và thung lũng mờ ảo màn suơng bên dưới.
     Quanh năm không khí ở đây trong lành, mát mẻ. NhiệtOđộ trung bình từ 18 -> 220 C. Núi Tà Cú xưa kia là một ngọn núi lửa thuộc đệ nhất nguyên đại ( đỉnh núi cao 668 m ) nên trong đất có vàng sa khóang và sulfur. Trong nước suối có hoạt chất của các loại rễ cây thuốc như ngũ gia bì, thần xạ, đỗ trọng bắc…rất tốt cho những người bệnh gan hoặc bệnh ngoài da.
    Sẽ vô cùng thú vị nếu bạn ở lại qua đêm. Ngay từ 5 giờ chiều sương mù đã bắt đầu bảng lảng khắp thung lũng. Đêm xuống, những tấm sương dày đặc bao phủ khắp núi rừng. Bạn tưởng như mình đang lạc trong mây.

    CHÙA LINH SƠN TRƯỜNG THỌ

    Linh Sơn Trường Thọ nằm trên núi Tà Cú, ở độ cao 563 m. Nơi đây có bức tượng Phật nhập Niết Bàn tuỵêt đẹp.
    KIẾN TRÚC:
     Mặt chùa nhìn thẳng ra cửa Bể Hàm Tân, hai bên với hai dòng%suối uố quanh suốt năm, nước lúc nào cũng đầy ắp. Khi leo được đến chùa, được dội một gáo nước suối mát lạnh, bạn sẽ cảm thấy rất sảng khóai. Sau long chùa là một rừng cây cổ thụ chen với những tảng đá to. Ngôi chùa tuy đã xây đã lâu đến nay chẳng những không bị rêu phong đổ nát mà còn được trùng tu và kiến tạo thêm nhiều vẻ đẹp tân kỳ vĩ đại như : cảnh Song Lâm Thị Tịch ; cảnh Tịnh Độ Nhân Gian với những pho tượng khổng lồ xưa nay nước ta chưa từng có. Cứ mỗi độ xuân về hay váo ngày kỵ tổ khai sơn ( 5/10 ÂL ) là hàng trăm tăng ni, hàng ngàn phật tử khắp nơi về chiêm lễ.

    Trụ trì Thiện Thắng là người có công nhất trong vịệc%trùng tu Tổ Đình lần thứ nhất. Ông dùng đá chẻ xây tường Chánh Điện, nhà Đông, nhà Tây, lợp tòan ngói, khai thông con đường từ chùa xuống giáp cây số 28 quốc lộ 1 (Phan Thiết – Sài Gòn), sắm thêm Pháp khí trong chùa cho thêm phần trang nghiêm
     Cuộc chiến tranh giữa Pháp và Việt Nam đã làm cho chùa bị tàn%phá. Khi hiệp định Genève được ký kết. Trụ trì Vĩnh Thọ triệu tập tín đồ với mục đích trùng hưng chùa:
    • Sưu tầm văn khế của chùa bị thất lạc từ lâu
    • Gạch bản đồ điền thổ của chùa
    • Xây lại ngôi Tháp Tổ
    • Xây dựng và tu bổ ngôi Tổ Đình
     Năm 1958, ông phát nguyện kiến tạo một cảnh Tịnh Độ Nhân%Gian để làm chỗ quy hướng cho chúng sinh
    Về chánh đạo: gồm một pho tượng Đức Di Đà cao 7 mét, Quan Âm và Thế Chí cao 6m50 ( luôn cả tòa sen)
    Về y báo:sẽ tiếp tục làm như trong kinh Di Đà:
     Bảy lớp lang cang§
     Bảy§lớp lưới báu
     Bảy hàng cây báu§
     Có ao thất bảo và bảy loài chim nói§pháp…
     Năm 1962, ông phát nguyện tạo một pho tượng đức Thích Ca Niết Bàn%dài 49m và cảnh Sông Lâm Thị Tịch có chu vi 832m sẽ tượng trưng đủ hình tứ thánh lục phàm và bảy chúng Phật tử
    %Các vị trụ trì của chùa từ trước tới nay:
     Tâm Tố – hiệu Viên Minh§
     Nguyên Tiền – hiệu Minh Tước§
    §Đỗ Quảng Thành – hiệu Thiện Thắng
     Đào Bạch Cẩn – hiệu Vĩnh Thọ§
     NúiæTà Cú – chùa Linh Sơn Trường Thọ ngày nay trở thành một chốn đạo tràng trang nghiêm hướng dẫn bởi một lòng thương chân thật bao la, không phân biệt màu sắc, tôn giáo, không nhận đây là của riêng mình mà là của chúng sinh ở thời Mạt pháp

    NGƯỜI SÁNG LẬP CHÙA

    Nguyên quán của ông tại thôn Cần Lương, xã An Dân, quạn Tuy An, tỉnh Phú Yên. Sinh ra trong gia đình quí tộc, cha là Trần Thái Công, mẹ là Nguyễn Thị Từ, sinh giờ Tý, ngày 8 –2 năm Nhâm Thìn
    Thời thơ ấu, ông không ăn đồ cá thịt, ông chỉ ăn chay, luôn mạnh khỏe không đau ốm. Lên 10 tuổi ông theo thầy học tập, do được chỉ dạy tận tường công với sự thông minh sẵn có, ông đã sớm tinh từờng thi lễ. Năm 17 tuổi, cha mẹ ông lần lướt qua đời, ông đau sau đó thì xuất gia. Ông rời quê đi tìm thầy học đạo. Suốt 3 ngày liền tr3ên thuyền nan, đến ngày thứ tư thuyền cập vào bến Phan Thành ( Phan Thành ngày nay), ông đến chùa Phước Hưng, cầu Trí Chất Đại Sư – trụ trì thụ giáo. Ông có pháp danh là Thông Ân. Sau khi thầy mất, ông rời chùa đến xứ Bàu Trâm dựng ngôi Thảo Am, ngày đêm kiêm tu thiền định. Qua 3 năm tụ tập, tại đây Ngài đã cứu dân làng thóat khỏi nhiều bệnh tật nên dân vô vùng mến phục. Họ dựng lên một ngôi chùa hiệu là Kim Quang Tự. ông ở lại đây 30 năm hành đạo. Sau đó được Hòa thượng Bửu Tạng truyền trao Đại giới (250 giới) và phú pháp cho Ngài hiệu Hữu Đức. Không bao lâu Ngài đến xứ Bàu Siêu rồi lên tận đỉnh núi Tà Cú

    29.                         Chùa Ông(phường Tân An, Quận Ninh Kiều, Tp. Cần Thơ.)

    Vị trí:Chùa Ông nằm ở đường Hai Bà Trưng, phường Tân An, Quận Ninh Kiều, Tp. Cần Thơ.
    Đặc điểm: Chùa Ông là nơi sinh hoạt tín ngưỡng và văn hoá của người Hoa tại Cần Thơ. Chùa được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 1993.
    Chùa Ông có lối kiến trúc độc đáo được giữ gìn gần như nguyên vẹn từ thuở ban đầu.
    Chùa được xây dựng năm 1894 - 1896 trên một khu đất có diện tích chừng 532m². Mái chùa lợp ngói âm dương với các gờ bó mái bằng những hàng ngói ống men xanh thẫm, trên bờ nóc có vô số hình nhân đủ màu bằng gốm sứ, lưỡng long chầu nguyệt, cá hoá long, chim phụng. ở hai đầu đao là hai tượng người cầm mặt trời, mặt trăng. Trong chùa thờ Quan Công, một vị tướng thời Tam Quốc, tấm gương về lòng trung hiếu tiết nghĩa và các vị Quan Âm Nam Hải, Thái Bạch tinh quân, Thổ Địa, Đổng Vĩnh...

    30.             Chùa Hội Tôn(xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre)

    Chùa tọa lạc tại ấp 8, xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Chùa được Thiền sư Long Thiền (quê ở Quảng Ngãi) dựng vào giữa thế kỷ XVIII, dưới triều Chúa Võ Vương Nguyễn Phước Khoát (1738-1765). Vị trụ trì kế tiếp là Thiền sư Khánh Hưng, đời 36 dòng Lâm Tế đã trùng tu chùa vào đầu thế kỷ XIX, tôn tạo tượng Phật và pháp khí, đúc đại hồng chung năm 1805. Chùa còn được trùng tu vào các năm 1884, 1947 và 1992. Chùa hiện nay còn giữ một số bản gỗ khắc kinh (chữ Hán), nhiều tượng cổ. Trong vườn chùa có 15 bảo tháp các ngài Bảo Chất, Quảng Giáo, Tâm Định, Chánh Hòa ...31. Chùa Giồng Thành(xã Long Sơn, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang,)

    Chùa Giồng Thành thuộc xã Long Sơn, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, cách trung tâm tỉnh khoảng 75km về hướng Châu Đốc, cách huyện lỵ Tân Châu 3km.
    Chùa Giồng Thành là một trong những di tích ở An Giang được Nhà nước công nhận, xếp hạng quốc gia vào năm 1986.
    Chùa được hòa thượng Trần Minh Lý xây dựng lần đầu vào năm 1875 bằng vật liệu tre lá đơn sơ, đến nay trải qua 4 lần tu sửa lớn, lần sửa chữa gần nhất là vào năm 1970 nhưng vẫn tọa lạc trên nền cũ thuộc xã Long Sơn anh hùng (Phú Tân - An Giang).
    Nhìn từ bên ngoài, chùa mang dáng dấp kiến trúc Ấn Độ với mái tháp có hai tầng hình phễu, trang trí nhiều họa tiết hoa văn trang nhã nhưng về đại thể, chùa Giồng Thành là khối kiến trúc hài hòa theo phong cách Á - Âu với lối xây dựng theo hình chữ “song hỷ”, gồm 3 gian, mái lợp bằng ngói móc, trên cột chánh điện có vẽ hình rồng. Về tên gọi chùa Giồng Thành, theo một số tài liệu cho biết là xuất phát từ chỗ chùa được xây trên nền đất của hào thành triều Nguyễn.
    Chùa Giồng Thành được nhiều người biết đến như địa chỉ đỏ của phong trào yêu nước, chống giặc ngoại xâm. Tại đây vào những năm đầu thập niên 20 của thế kỷ 20, tổ chức Kèo Vàng, Kèo Xanh của Phan Xích Long đã nhóm họp để thu hút người yêu nước chống thực dân Pháp, mở đầu cho hàng loạt hoạt động yêu nước sau này mà đỉnh cao là việc nuôi dưỡng cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh - trong những ngày đi truyền bá chủ nghĩa yêu nước chân chính cho đồng bào (1928 - 1929). Trong những năm tháng chống Mỹ hào hùng, chùa Giồng Thành tiếp tục là cơ sở của Tỉnh ủy Châu Đốc, Huyện ủy Tân Châu và là điểm giao liên của Khu 8, Trung ương cục miền Nam. Đặc biệt nơi đây từng là chỗ trú ngụ an toàn cho nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước trong những năm tháng kháng chiến đánh chống Mỹ: Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt....
    Trước kia, hàng năm vào các ngày rằm tháng Giêng, tháng Bảy, tháng Mười (âm lịch), khách thập phương đến viếng và lễ chùa rất đông. Từ sau ngày miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước đến nay, ngày 19/5 hàng năm được xem như ngày hội của nhà chùa với nhiều hoạt động mang tính chất văn hóa truyền thống đặc sắc để kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

    31.                         Rực rỡ Monivongsa Bopharam

         Chùa Monivongsa Bopharam là ngôi chùa Kh’mer duy nhất tại thành phố Cà Mau. Với lối kiến trúc độc đáo, chùa Monivongsa Bopharam là nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của không chỉ người Kh’mer mà còn là trung tâm đoàn kết dân tộc với các tín đồ Phật tử người Kinh, Hoa anh em.
    Chùa Monivongsa Bopharam là một quần thể kiến trúc mang đậm nét văn hóa của người Kh’mer Nam Bộ được xây dựng năm 1964, do cố Hòa thượng Thạch Kên đặt viên đá đầu tiên. Từ đó đến nay đã qua 6 đời của 6 vị Tăng trưởng, trong đó có Thượng tọa Thạch Hà, Trưởng ban đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Cà Mau - người đã dày công tu học, một lòng vì đạo pháp, vì dân tộc, mới đây đã quyết tâm xây dựng cơ sở thờ tự mới để duy trì nền văn hóa chung trong cộng đồng người Việt, cũng là nơi hành lễ cho tín đồ phật tử.
    Chùa gồm có chánh điện, nhà hội của các sư sãi, nhà ở của các sư sãi, tháp để cốt, am... Chánh điện là nơi thờ tự chính trong chùa cao 32 mét, lối ra vào theo hướng đông và tây, được bao bọc bởi bốn bức vòng thành, nhiều vị tứ đại thiên vương quay mặt bốn hướng để hộ trì bốn phương thiên hạ. Mái chánh điện được cấu trúc thành nhiều tầng lớp chồng lên nhau, tạo ra khoảng không gian cao vút, hoà với đỉnh nhọn như một chóp tháp. Trên vách, trên trần và các cột chùa được trang trí bằng nhiều phù điêu bích hoạ màu sắc kể lại cuộc đời của đức Phật và chuyện Riêm-kê, tức trường ca Ra-ma-za-ma.
    Chánh điện chùa vững chắc, cao lớn, được đặt ở vị trí chính diện của khu đất theo lối cổ. Toàn bộ hoa văn chính điện và trên những cột đà bê-tông cốt sắt kiên cố đều được chạm trổ những nét hoa văn sự tích Phật giáo. Phía trên là những miếng ngói đỏ làm sáng ngời khu trùng tự và ba đỉnh chuông trên đỉnh tháp, tượng trưng cho việc bảo vệ, duy trì Kinh - Luật - Luận. Bên trong chánh điện, trên bốn vách tường là những hình họa như: cảnh động tâm, đảng sanh, xuất gia, thành đạo và nhập niết bàn cùng tiền sử của Đức Phật… Những hình ảnh đó làm cho chánh điện thêm phần cổ kính.
    Khuôn viên chùa rộng lớn với những hàng cây bao quanh, bên trong có bốn bức vòng thành được gắn liền những tượng chằng Yàsa gồng mình gánh nặng (có ý nghĩa quay đầu phục thiện, hối cải lỗi lầm). Bốn góc chùa là bốn bàn tọa thiên ngự để nghe kinh kệ thuyết pháp và hộ trì chư tăng tu học. Theo Thượng tọa Thạch Hà, trụ trì chùa Monivongsa Bopharam, để có được một ngôi chánh điện (xây dựng trên diện tích 230m2), các tín đồ phật tử đã bỏ ra nhiều công sức nhằm duy trì nền văn hóa chung trong cộng đồng người Việt, cũng là nơi hành lễ để duy trì các giá trị Chân – Thiện – Mỹ mà Đức Phật đã giáo truyền. Với dân tộc Kh’mer vốn được xem là có tính cộng đồng rất cao thì ngôi chùa là nơi thiêng liêng nhưng cũng rất gần gũi

    32.                         Những ngôi chùa cổđộc đáo ởTrà Vinh

    Chùa Âng
    Chùa cách trung tâm thị xã Trà Vinh 7km, ẩn mình trong rừng cây cổ thụ của Ao Ba Om. Chùa Âng tọa lạc trên khu đất rộng khỏang 4ha, thuộc phường 8 thị xã Trà Vinh. Với kiến trúc cổ độc đáo, hài hòa trong khung cảnh thiên nhiên, Chùa Âng được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cùng lúc với thắng cảnh Ao Bà Om.
    Ngôi chùa rợp bóng với hàng trăm cây sao, dầu cổ thụ, tuổi của các cây bằng tuổi của ngôi Chùa, do truyền thống tự trồng cây trong chùa ngay từ khi mới khởi công xây dựng. Chùa được xây dựng vào cuối thế kỷ thứ10 (năm 990), được trùng tu vào năm 1842. Cổng chùa được trang trí tượng chằn, tiên nữ, chim thần theo mô típ truyền thống. điểm khác biệt giữa chùa Âng so với các chùa khác là có hào nước bao bọc xung quanh và một tháp năm ngọn – đây là nơi giữ xương cốt của các vị trụ trì đã qua đời.

    Trong chùa các gò mái được tạc hình rắn Naga, đuôi cong vuốt tượng trưng cho sự dũng mãnh vĩnh cửu. Bên dưới là tượng người đầu chim Krud với 2 tay dang ra chống đỡ mái. Cửa chùa mở về 2 hướng đó là Đông và Tây. 6 cây cột trước chính diện có khắc hình tiên nữ và chim thần. Mái chùa lợp ngói có 3 tầng, được chống đỡ bở 12 cột bằng gỗ quý sơn son thếp vàng, có hình rồng. mái trên có cùng dốc và cao hơn hai mái kia.... Bên trong chính diện có phòng thờ Phật Tích Ca, là nơi tiến hành các nghi lễ tôn giáo. Tượng Phật Thích Ca cao 2,1 m, xung quanh có 50 tượng phật khác nhỏ hơn. Như hàng trăm ngôi chùa Khmer khác ở Trà Vinh, chùa Âng là nơi gửi gắm thi thể các sư sãi được hỏa thiêu sau khi mất. Hiện nay, tại chùa còn có phòng hốt thuốc nam, chữa bệnh cho người dân địa phương và khách phương xa.
    Chùa Hang
    Cách thị xã Trà Vinh 5km, thuộc ấp Tầm Phương xã Đa Lộc, huyện Châu Thành ( Trà Vinh) Chùa Hang có 300 tuổi (1637), tiếng khmer gọi là Mông Rầy hay Kamponynikrodle tức cây đa. Người ta quen gọi là chùa Hang, bởi vì cổng chùa được xây dựng như cái hang.
    Chùa tọa lạc trên 10ha đất được bao bọc bởi những cây cổ thụ: sao, dầu…xưa nơi đây là một vùng đất hoang vắng, có một cây đa bên cạnh bến đò. Dân trong vùng đóng góp công sức xây dựng nên ngôi chùa và gọi là chùa Cây Đa. Qua nhiều lần tu sửa chùa được xây dựng lại khang trang.
    Một điều hấp dẫn ở đây mà trong hầu hết 141 ngôi chùa Khmer ở Trà Vinh không có đó là những đàn chim đông đúc, đông nhất là họ nhà Cò và Bồ Câu. Bởi vì nhà chùa cấm nghiêm ngặt những ai có hành động phá hoại chim, cả trứng chim, tổ chim cũng không ai được bắt. Vì thế mà chùa Khmer thường là nơi đất lành chim đậu. sự tĩnh mịch của cảnh chùa với Đức Phật từ bi hàng ngày quyện chặt vào thời gian bởi tiếng chim ríu rít như bản nhạc độc nhất vô nhị của vùng đất hiếu khách này.
    Chùa Cò
    Người xưa thường có câu: “Đất lành, chim đậu”. Cùng với Chùa Dơi ở Sóc Trăng thì chùa Cò ở Trà Vinh cũng nổi tiếng với sự lưu trú của nhiều loại cò tạo cho chùa có cảnh quan thật hấp dẫn.
    Chùa Cò còn có tên gọi khác là chùa Nodol hay Giồng Lớn thuộc ấp Giồng Lớn, xã Đại An, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, cách thị xã Trà Vinh 40km về phía nam. Chùa được xây dựng năm 1677. Đây là nơi chùa cổ to lớn có nét kiến trúc đặc sắc của nền văn hóa Khmer Trà Vinh, bao gồm cổng chùa. Ngôi chính điện, tháp đựng cốt, nhà tăng, nhà hội… Khu chính điện với những mái uốn cong theo hình đuôi rồng, có những đỉnh tháp nhọn hình núi Xôme và những hình tượng quen thộc như tượng thần Riehu, thần 4 mặt Mhabrom, chim thần Kâyno… Chùa được bao bọc bởi những rặng tre, hàng cây sao, dầu…quanh năm tỏa bóng mát.

    MỤC LỤC

    ĐÌNH CHÙA MIỀN NAM


    1.      Chùa Ông Bổn Sóc Trăng

    2.      Văn Miếu Trấn Biên- Đồng Nai

    3.      Chùa Kiến An Cung - Sa Đéc - Đồng Tháp

    4.      Chùa Tuyên Linh_Bến Tre

    5.      Chùa Đất Sét( Sóc Trăng)

    6.      Chùa Quan Đế -Bạc Liêu

    7.      Chùa Thích Ca Phật Đài- Vũng Tàu

    8.      Chùa Dơi - Sóc Trăng

    9.      Chùa Phổ Quang Cổ Tự - Đồng Nai

    10.        Chùa Tây Tạng- Bình Dương

    11.        Chùa Khải Tường & câu chuyện Nàng Hai Bến Nghé-HCM

    12.  Giới thiệu chùa Phù Dung (Hà Tiên)

    13.  Chùa Bửu Lâm – Di tích kiến trúc độc đáo của Tiền Giang

    14.  phật thich ca

    15.  Lịch sử chùa diệu pháp-HCM

    16.  Chùa Ấn Quang- Q10.HCM

    17.  Chùa Vĩnh Tràng - Tiền Giang

    18.  Chùa Tây An - An Giang

    19.  Chùa Chén Kiểu - Sóc Trăng

    20.  Chùa Kh’Leang - Sóc Trăng

    21.  Long Tuyền Cổ Miếu - Cần Thơ

    22.  Chùa Sư Muôn - Phú Quốc

    23.  Chùa Cao ( Cao Đài Hội Thánh) - Phú Quốc

    24.  Chùa Sắc Tứ Tam Bảo - Kiên Giang

    25.  Thắng cảnh chùa Hang - Kiên Giang

    26.  Chùa Phi Lai - An Giang

    27.  Miếu bà Chúa Xứ - An Giang

    28.  Linh Sơn Trường Thọ- Bình Thuận

    29.  Chùa Ông(phường Tân An, Quận Ninh Kiều, Tp. Cần Thơ.)

    30.  Chùa Hội Tôn(xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre)

    31.  Chùa Giồng Thành(xã Long Sơn, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang,)

    32.  Rực rỡ Monivongsa Bopharam

    33.  Những ngôi chùa cổđộc đáo ởTrà Vinh


    ĐÌNH CHÙA MIỀN TRUNG

    1.     Phát hiện sắc phong gấm dài nhất VN

    Sáng 21-9, nhóm nghiên cứu thuộc phòng di sản Sở Văn hóa - thể thao và du lịch Hà Tĩnh và Bảo tàng Hà Tĩnh tiến hành khảo sát di tích đền thờ Nguyễn Văn Giai ở xã Ích Hậu, Lộc Hà (Hà Tĩnh) đã bất ngờ phát hiện một sắc phong gấm lụa vào thời Hoằng Định năm thứ 11 (1610), được cho là sắc phong dài nhất VN.
    Đạo sắc bằng lụa gấm trên có chiều dài 4,5m, rộng 0,5m, màu vàng, không có hoa văn, gồm 318 chữ, bố cục theo 63 hàng cột dọc, 5 hàng ngang, được viết trực tiếp lên lụa. Nét chữ viết rất mảnh, thẳng hàng, rõ và đẹp, phần ghi niên hiệu do nằm ở cuối của khổ vải đã bị sổ nên chỉ còn nửa phần ấn dấu của nhà vua.
    Kết quả khảo cứu ban đầu cho thấy sắc có niên hiệu Hoằng Định năm thứ 11, triều vua Lê Kính Tông. Nội dung đạo sắc là phong công cho ông Nguyễn Văn Giai, một vị quan đại thần của triều Lê, giai đoạn cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17.
    Sắc phong trên hiện đang được ông Nguyễn Văn Tân, xóm Ích Mỹ, xã Ích Hậu lưu giữ và bảo quản. Ngoài sắc lụa gấm đặc biệt đó hiện ông còn bảo lưu trên 40 đạo sắc, do thời gian đã lâu nên một số đã bị rách và đến nay chưa có điều kiện để phiên âm, dịch thuật, chưa được khai thác nội dung để phát huy giá trị.
    Trước đây, số sắc phong đó được bảo lưu tại đền thờ Nguyễn Văn Giai, nhưng do điều kiện bảo quản không đảm bảo nên vào khoảng những năm đầu thập niên 1970, hội đồng gia tộc Nguyễn Văn đã chuyển về gia đình ông Nguyễn Văn Tân để bảo quản.

    2.     Đền Cao Các

    Đền thờ thần Cao Các hay còn gọi là dinh Ông, nằm cạnh di tích thành Hồ, thuộc địa bàn xã Hoà Định Đông, huyện Phú Hoà, tỉnh Phú Yên. Theo các tài liệu ghi chép lại thì Cao Các là một viên tướng của Lương Văn Chánh, được ông Lương Văn Chánh trực tiếp giao quản lý dân và điều hành công việc khai hoang, tổ chức định cư. Trong tâm thức nhân dân bấy lâu nay vẫn tin Cao Các là một vị tướng có công lao lớn đối với quốc gia, dân tộc nên suy tôn thành thần và thờ phụng ông như bậc khai quốc công thần, hằng năm đều cúng tế linh đình, và hình bóng ông sống mãi trong lòng người dân như một huyền thoại anh hùng dân tộc.
    Như vậy truyền thuyết trong dân gian bấy lâu nay đã nhầm một Cao Các là vị nhiên thần giúp nước độ dân trở thành một vị tướng giỏi ở cuối thế kỷ XVI có công lao đánh giặc cứu nước đã ăn sâu vào tâm thức mọi người. Nhưng dẫu cho Cao Các là nhiên thần hay vị tướng tài ba thì ngàn đời sau ông vẫn còn mãi những hình ảnh đẹp trong lòng mọi người.

    3.     Chùa Long Hưng

    Vị trí
    Chùa Long Hưng (còn gọi là chùa Bốn Mặt) toạ lạc tại số 42A đường Điện Biên Phủ, phường 6, TX Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Chùa Long Hưng cùng với những danh lam thắng cảnh khác như chùa Dơi, chùa Đất Sét, Khu du lịch văn hoá Hồ Nước Ngọt, Bình An và hàng trăm ngôi chùa Khmer, Hoa, Việt khác ... với những nét kiến trúc văn hoá độc đáo của Sóc Trăng là những điểm du lịch lý thú hấp dẫn du khách bốn phương về thăm Sóc Trăng.
    Truyền thuyết
    Theo truyền thuyết của những người già kể lại rằng trong khu đất của dòng họ Châu khai phá canh tác trồng cây trái bốn mùa đều xanh tốt, bỗng một sáng nọ, trên miếng đất cao nhất, có khí vượng nổi lên một phật đá bốn mặt to bằng cái thúng úp, biết là điềm lành, dòng họ Châu đã bàn bạc thống nhất xây cất ngôi chùa bằng lá đơn sơ thờ phật bốn mặt, trải qua một thời gian, với địa thế chùa mọi người gọi là chùa Long Hưng và từ đó đến nay tên gọi được giữ mãi từ thế hệ này sang thế hệ khác. Long Hưng còn có nghĩa là Rồng thịnh, mảnh đất ấy có hình dáng của một con rồng, và hưng, theo giải thích của nhiều người vừa là sự thịnh vượng vừa là chữ cuối của làng Khánh Hưng xưa của thị xã Sóc Trăng. Chùa có niên đại hơn 200 năm nay, đầu tiên do dòng họ Châu quản lý, theo năm tháng đến nay trở thành chùa của các phật tử muốn tu hành, tụ điểm sinh hoạt tín ngưỡng của đông đảo đồng bào trong vùng.
    Kiến trúc
    Ngôi chùa được xây dựng theo lối kiến trúc chùa Khmer với hoa văn tinh xảo, thanh thoát. Ngoài những tượng Phật như các chùa Khmer khác, chùa Long Hưng còn có tượng bằng đá với bốn mặt Phật quay về bốn hướng. Nguồn gốc tượng Phật này được lưu truyền với bao truyền thuyết hấp dẫn và huyền bí.
    Trước năm 1975 hoà thượng Thích Hồng Chánh (Lý Công Khanh) cho xây thêm chùa Một Cột thờ Quan Âm trong nội khu chùa Long Hưng. Chùa Một Cột được xây dựng bằng bê tông cốt thép vững chắc nhưng vẫn giữ được nét mảnh mai mà uy nghi, có được những mô típ giống chùa Một Cột tại Hà Nội.
    Chùa “Một cột” ở chùa Bốn Mặt - Long Hưng vừa có những nét độc đáo riêng vừa có nét chung truyền thống. Chùa cao khoảng 8m (kể từ đáy hồ lên đỉnh), có 18 bậc lên xuống rộng 1m được nâng đỡ bởi một cột xi măng cốt thép chữ H sát bờ. Cả ngôi chính điện của chùa được chịu bằng một cột tròn âm xuống ao sen, có đường kính khoảng 2 m, xung quanh được bao bọc 3 vòng lớn của 4 chú rồng lớn, ngẩng đầu về 4 hướng, Phật Thích Ca ngồi thiền dưới bóng cây bồ đề toả mát, đó cũng là hướng chính của điện thờ chùa Long Hưng

    4.                             Miếu Trịnh Phong

    Vị trí
    Miếu Trịnh Phong còn gọi là miếu Cây Dầu, thuộc huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà. Miếu nằm bên gốc cây Dầu đôi, nơi đã chứng kiến những chiến công oanh liệt qua 2 cuộc kháng chiến của nhân dân Diên Khánh.
    Truyền thuyết
    Theo truyền thuyết, cách đây hơn 100 năm, có một người đàn bà đi qua cây Dầu đôi chợt nhìn thấy một đầu người treo trên cây. Không ai rõ lai lịch của cái đầu lâu ấy. Một buổi nọ, có người đàn ông đang cày đồng bỗng chạy một mạch đến Dầu đôi tự xưng mình là Trịnh Phong đã bị kẻ thù sát hại bêu đầu trên cây. Nói xong, người ấy lăn ra bất tỉnh, khi tỉnh lại thì đi đâu mất không ai rõ. Còn trong lịch sử, Trịnh Phong là người đã lãnh đạo nhân dân tham gia khởi nghĩa Cần Vương trong những năm đầu kháng Pháp.
    Kiến trúc
    Miếu quay mặt về phía Tây, trông lên đỉnh Hòn Dung cao ngất, xây dựng vào khoảng những năm 90 thế kỷ XIX, ban đầu là am thảo nhỏ. Đầu thế kỷ XX, dân làng xây lại miếu. Miếu hiện nay làm đơn giản, lợp mái tôn. Suốt một thế kỷ qua, mặc dù thờ Trịnh Phong, nhưng trong miếu không để bài vị thờ, bởi lẽ đối với chính quyền thực dân phong kiến, Trịnh Phong là kẻ thù không đội trời chung. Song tình cảm của nhân dân Diên Khánh đối với Trịnh Phong vẫn còn lưu truyền mãi mãi.

    5.                             Chùa Thiên Lộc: Danh thắng Khánh Hòa

    Chùa Thiên Lộc nằm ở thôn Phú Ân Nam, xã Diên An, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa. Đây là một ngôi chùa cổ đẹp, được liệt vào hàng danh thắng, hàng năm có cả chục ngàn khách du lịch tìm tới.
    Chùa đã được trùng tu nhiều lần. Không ai xác định được niên đại xây dựng chùa, nhưng những cổ vật có mặt trong chùa cho biết ngôi chùa đầu tiên đã được xây dựng cách đây hàng thế kỷ.
    Chùa được xây dựng trên một vị trí khá đẹp, mặt chùa hướng về dãy núi Chín Khúc (còn gọi là núi Hoàng Ngưu), bên cạnh chùa là dòng sông chỉ có nước vào mùa mưa lũ nên gọi là sông Cạn. Trong khuôn viên chùa có Miếu Ông Thạch thờ một tượng đá xanh, điêu khắc phần âm dương nam nữ (Yoni và Linga), đây là phiến đá cổ của người Chăm để lại với diện tích khoảng 1m2. Phần Linga nổi hẳn lên trên, phần Yoni khắc chìm xuống dưới rất khéo léo.
    Sau lưng chùa có Miếu Bà Sáu. Việc dựng thờ miếu Bà Sáu từ một câu chuyện huyền thoại do dân quanh vùng truyền tụng. Chuyện kể, Bà Sáu ăn ở tốt, nhưng đơn độc và sống rất nghèo trong một túp lều tranh dột nát... Một buổi tối, có bốn người khách lỡ đường được bà cho tá túc qua đêm chính là bốn con rắn do Long Vương sai đi lấy gỗ. Cảm kích trước lòng tốt của bà, họ đã cho nước dâng, kéo tới trước nhà bà một bè gỗ lớn để bà dựng nhà, nhưng bà đã tặng toàn bộ số gỗ này để dựng chùa. Vì thế chùa có tên là Thiên Lộc (lộc trời ban).
    Chùa Thiên Lộc nằm sâu trong một vùng đất làng quê, khá yên tĩnh và thơ mộng. Trước cửa chùa là một hồ sen hình bán nguyệt, nơi đó có một tượng Phật Bà Quan Âm. Trong sân chùa có 12 cây tùng được trồng rất hài hòa theo tích "Thập nhị nhân duyên".
    Trong chùa còn có hai cổ vật là Bảo chúng (chuông dùng báo thức chúng tăng) có từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Vật thứ hai là Cây Trính có khắc chữ cho biết chùa từng đã được trùng tu vào năm Tự Đức thứ 9 (1856). Riêng chiếc Đại Hồng chung của chùa được rót đồng đúc nên vào ngày 29-9-1966 nặng tới 340 kg, cao 1,6 m. Đây cũng là chiếc Đại Hồng chung lớn nhất nhì trong tỉnh Khánh Hòa với tiếng vang rất xa khi đánh lên.
    Sau chùa Thiên Lộc có một cây bồ đề to lớn, vòng ôm bốn người giang tay, cao 60m, tán xòe 40m. Theo các sư trù trì, cây được rồng vào năm 1959. Đây là cây bồ đề rất đẹp, trở thành điểm tham quan cho du khách và là nơi sinh hoạt của các em học trò quanh vùng vào các ngày nghỉ.

    6.                 Chùa cổ Giác Lương

    Đến thăm quần thể di tích kiến trúc nghệ thuật ở Thừa Thiên Huế nói chung, nhóm di tích kiến trúc nghệ thuật tôn giáo - kiến trúc chùa nói riêng, và về thăm làng rèn Hiền Lương, không thể không đến thăm chùa Giác Lương - một ngôi chùa được xếp hàng cấp quốc gia sớm nhất trong hệ thống chùa ở Thừa Thiên Huế

    Sau khi làng Hoa Lang được thành lập, vào đầu đời Lê Trung Hưng, với tư cách là một phật tử tu tại gia, bà Hoàng Thị Phiếu cùng hai người anh em trai, từ ngoài Bắc vào sinh sống tại làng này đã bàn bạc với các trưởng tộc trong làng lập ra chùa Giác Lưong, để tất cả con dân nơi quê hương mới có nơi gần gũi với đạo Phật. Bà Hoàng Thị Phiếu thọ giới Ưu Bà Di - nghĩa là người con gái tu theo đạo Phật, nhưng không ở chùa, khi chết bà Phiếu được chôn cạnh chùa.
    Chùa được xây ở vị trí nổi bật giữa cánh đồng của làng gọi là Cồn Bệ, dân làng cúng cho chùa 7 pho tượng gỗ sơn son, thiếp vàng gồm: 3 pho tượng Tam Thế Tôn; 1 pho tượng Hộ Pháp; 3 pho tượng Quan Công, Quan Bình và Châu Xương. Chùa Giác Lương cũng thờ tất cả các những vị thuỷ tổ các dòng họ đã có công lập ra làng như: họ Hoàng, họ Trương, họ Dương, họ Trần, họ Nguyễn, họ Trịnh, họ Hà, họ Lê, họ Đỗ, họ Phan, họ Võ...Sau một thời gian dài, do vấn đề đất đai, phong thuỷ nên ông Dương Phước Pháp và Dương Phước Dã đã cùng dân làng dời chùa đến dựng lại đơn giản, sườn toàn bằng gỗ, mái lợp ngói, tại phía tây xóm Phước Tự, cho đến ngày nay. Dân làng nhớ ơn công lao của ông Dương Phước Pháp, đã xây lăng mộ cho ông ở xóm Đồng Nhơn, và dựng miếu thờ trong khuôn viên chùa Giác Lương.
    Do thời gian và thiên nhiên khắc nghiệt, chùa Giác Lương bị hư hỏng nặng, năm 1806, dân làng phải trùng tu lại chùa. Ngày 18 tháng 3 năm Bính Dần (ngày 6 - 5 - 1806), làng dựng cột thượng lương, sau hơn hai tháng thi công hoàn thành vào ngày 8 tháng 6 (ngày 23 - 7 - 1806). Trong ngày khánh thành, dân làng tổ chức trai đàn chay tại chùa, đọc Điệp văn cầu nguyện chư Phật phù hộ độ trì cho dân làng sức khoẻ và thịnh vượng. Gần 120 năm sau, chùa Giác Lương lại được trùng tu lần nữa vào tháng 6 năm Khải Định thứ 9 (tháng 7 - 1924). Trong lần tu sửa này, có thay đổi kiến trúc của chùa từ ba gian xuống còn hai gian. Người phụ trách công việc tu sửa là ông Trương Như Trứ, giữ chức Khán thủ - thủ quỹ của làng Hiền Lương lúc bấy giờ. Thời gian tiếp theo, chùa Hiền Lương bị chiến tranh tàn phá hư hỏng khá nặng, nhất là trong chiến cuộc Xuân Mậu Thân 1968. Năm 1969, dân làng tu sủa nhỏ, mái lợp lại bằng tồn.
    Bất đầu từ lễ Vu Lan năm 1987, dân làng Hiền Lương đã sáng kiến thành lập ban vận động kêu gọi sự đóng góp của con em người làng Hiền Lương ở khắp mọi miền đất nước, ở nước ngoài để đại trùng tu ngôi chùa cổ của quê hương. Trong ba năm (1987 - 1990), nhờ sự hưởng ứng nhiệt tình của con dân Hiền Lương đóng góp kinh phí khá lớn, nên ngôi chùa đã được trùng tu khang trang cho đến ngày nay.
    Chùa Giác Lương quay về hướng Nam, mặt bằng kiến trúc chùa là hình chữ nhật dài 14.60m; rộng 11,48m, chùa gồm hai gian và bốn chái, sân vườn chùa rộng, xung quanh có la thành bao bọc dài 79m, rộng 55,20m, cao 1,20m, dày 0,50m. Mặt trước của la thành xây 4 trụ, hai cột cao ở giữa, hai cột thấp hai bên. Kiến trúc Tam Quan chùa Giác Lương rất đặc biệt, xây hai tầng với mái giả, quy mô đồ sộ, to lớn nhất trong các tam quan chùa ở Huế hiện nay. Sân chùa có cây sứ cổ - theo truyền tụng thì có tuổi trên dưới 200 năm. Nội thất chùa, từ bộ khung đến hệ thống liên ba, cửa bảng khoa đều trang trí, chạm nổi hình bát bửu, tứ linh, tứ thời, và các kiểu hoa văn tinh xảo. Trong chùa bài trí 8 án thờ, trong đó 3 án thờ chính là án thờ Phật, án thờ thánh Quan Công và án thờ "Nhị thập tôn phái". Trên các hàng cột đều có treo đối liễn xưa. Sau khi Văn chỉ làng Hiền Lương bị chiến tranh phá huỷ, dân làng đã rước ảnh đức Khổng Tử đến thờ ở gian tiền hữu. Chái sau khá rộng là nơi lưu giữ nhiều sắc phong và các tài liệu thư tịch cổ của chùa và của làng Hiền Lương. Ở chái trước, bên trái đặt giá treo chuông đồng, bên trên đặt giá treo trống, theo nguyên tắc "tả chung, hữu cổ".
    Chùa Giác Lương là một trong những ngôi chùa cổ được xây dựng khá sớm ở vùng Thuận Hoá, dưới thời Lê, đánh dấu một giai đoạn phát triển rực rỡ về văn hoá và xã hội của dân tộc Việt trên con đường mở đất, mở nước về phương Nam - xứ đàng Trong. Mặt khác, nó còn góp phần nghiên cứu những đặc điểm riêng biệt về kiến trúc, cách thức thờ tự của một ngôi chùa làng cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn ở vùng bắc Trung bộ. Và còn góp phần nghiên cứu lịch sử hình thành phong cách kiến trúc chùa xứ Huế, trong dăm dài của nền kiến trúc Phật giáo Việt Nam.

    7.                             Chùa Quốc Ân_ Huế

    Chùa Quốc Ân tọa lạc ở lưng chừng một quả đồi thấp thuộc phường Trường An, thành phố Huế. Du khách qua cầu Phú Cam ở đường Nguyễn Trường Tộ, đi khoảng 2km thì đến chùa.
    Chùa Quốc Ân do Thiền sư Nguyên Thiều khai sáng khoảng năm 1682 - 1685, đời vua Lê Huy Tông, lúc đầu mang tên chùa Vĩnh Ân.
    Thiền sư Nguyên Thiều hay Thọ Tôn, húy là Siêu Bạch, hiệu là Hoán Bích (1648 - 1728), thọ giới với Hòa Thượng Khoáng Viên ở Quảng Đông. Năm 1677 Ngài theo thuyền buôn sang Việt Nam, lập chùa Thập Tháp Di-đà ở Bình Định. Sau khi khai sơn chùa này, Thiền sư Nguyên Thiều đi khắp nơi truyền đạo, ra Huế dựng chùa Hà Trung ở Vinh Hà (Phú Vang) rồi lên khu vực núi Ngự Bình dựng chùa Vĩnh Ân. Đến năm 1689, Chúa Nguyễn Phúc Trân đã đổi tên chùa Vĩnh Ân là Quốc Ân, ban cho chùa tấm biển "Sắc Tứ Quốc Ân Tự" và chuẩn phê miễn thuế ruộng đất cho chùa.
    Vào thời Nguyễn, chùa Quốc Ân được trùng tu nhiều lần. Năm 1805, bà Long Thành (chị ruột vua Gia Long) đã cúng dường tiền bạc để trùng tu chùa. Nhưng lúc bấy giờ đây cũng chỉ là một ngôi chùa tranh tre đơn giản. Năm 1822, Hòa thượng Hoằng (Tăng cang chùa Linh Mụ) được vua Minh Mạng giao nhiệm vụ trùng tu chùa Quốc Ân. Năm1825, Hòa thượng viên tịch, tháp mộ được xây dựng trong vườn chùa. Năm 1837 và năm 1842, chùa lại được tiếp tục trùng tu. Từ năm 1846 đến năm 1863, vị Hòa thượng kế nghiệp cho xây cổng tam quan, hai miếu thờ Ngũ hành và Thiên Y A Na.
    Lối kiến trúc chùa Quốc Ân theo kiểu chữ khẩu truyền thống của xứ Thuận Hóa xưa. Chùa hiện lưu giữ được nhiều tượng khí và pháp khí xưa quý từ thời khai sơn cho đến nay. Như bộ tượng Tam Thế Phật, tượng Phật Thích Ca được chú tạo vào khoảng năm 1851. Gian bên trái thờ Bồ tát Quan Thế Âm, hai bên là Hộ pháp, phía trước thờ Bồ Đề Đạt Ma, gian bên phải thờ Quan Thánh (Quan Vân Trường), các tượng khí này đều do Tổ Nguyên Thiều mang đến từ Trung Hoa. Hậu liêu thờ chân dung Tổ Nguyên Thiều và nhiều long vị của chư tổ và chư vị trú trì kế thế... Ngoài ra, chùa còn lưu giữ chiếc khánh đồng có hoa văn rất đẹp đúc từ thời Minh Mạng và nhiều pháp bảo, pháp khí khác như đại hồng chung, bia ký...
    Trong chùa có nhiều hoành phi và câu đối với nét bút điêu luyện, chạm trổ tinh xảo.
    Ở sân trước chùa có dựng tấm bia khắc bài minh của Chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu vào năm 1729, ca ngợi đạo đức của Thiền sư Nguyên Thiều.
    Ngày nay, đến chiêm bái tham quan chùa Quốc Ân, chúng ta như đi vào một bảo tàng thu nhỏ trưng bày thờ tự nhiều tượng khí, pháp khí mang những dấu ấn văn hóa đặc trưng của Phật giáo xứ Đàng Trong nói chung và xứ Thuận Hóa nói riêng.

    8.                              PHÚ QUÍ HÒN ĐẢO CỦA NHỮNG DI SẢN PHẬT GiÁO

    Nằm ởvùng biển đông mênh mông sóng nước – đảo phú quí nhưcon cá thu khổng lồ đang trồi lên mặt nước chởtrên mình một bức tranh thiên nhiên với vốn di sản cổ xưa quí giá. Hòn đảo được hình thành là dấu tích của hoảdiệm sơn đã tắt quanhiều lớp phun thạch của miệng hoảsơn – chuỳtaọthành núi cao nhô lên khỏi mặtbiển với sựbồi tụcủa lượng cát biển hàng năm tạo thành một loại đất màu nâu ,vàng hay xám đen khiến ta liên tưởng đến nét rêu phong cổxưa của những ngôitháp cổsừng sửng giữa trời xanh biếc.

    Từxưa hòn đảo này đã có nhều têngọi khác nhau đối vói cộng đồng người Chăm đây là khu Kulau Koh Klong còn đốivới cưdân Qủang Nam – Đà Nẵng thường gọi là Thuận Tịnh, cù lao Khoai Xứhay cùlao Thu, tên gọi Phú Quí chỉxuất hiện vào thời Thiệu Trị thứ4 (1844) vì nơiđây có tầm quan trọng lớn đối với việc quan hệbuôn bán và khảnăng quânsự.
    Nền văn hoá hình thành khá sớm được đánh dấu bằng những di chỉcổxưamà nhân dân nơi đây tìm thấy nhưrìu, chum vò lớn, đồtrang sức bằng đá với kỷ thuật chếtác khá tinh sảo. Căn cứnhững di chỉtrên ta có thểđoán được chủ nhân của nền văn hoá phú quý thuộc văn hoá Sa Huỳnh tồn tại cách ngàynay từ3000– 4000 năm. Nói thếđểthấy con người đã khám phá ra hòn đảo này từrất sớm, cóthểnói tộc người Chăm từQủang Nam – Đà Nẵng trởlại thường gọi là thịtộc Dừahay từPhú Yên trởvào ( thịtộc này có tên gọi là Cau), có phải vì là nơi giaolưu hành hoá – văn hoá từkhu vực Đông Nam Á hay không mà dưâm Phật giáo cònảnh hưởng khá sâu sắc ởhòn đảo này. Từtínhcách đến tín ngưỡng, từviệc tếlễ đến sinh hoạt cộng đồng, đều mang âm hưởng tưtưởng Phật với bản sắc của ngưdânvùng biển.
    Tuy khiêm tốn vềdiện tích nhưng đảo Phú Qúi đã có trên 6ngôi chùa được xây dựng có nhiều ngôi chùa lâu năm nhưThạch Lâm, Linh Quang….
    Tiêu biểu cho 6 ngôi chùa trên Phú Qúi, đó là cùa Linh Quang Tự:xét vềthời gian chùa được xây dựng năm 1747 đời vua lê cảnh hưng thứ8 do cácnhà sưtheo các thương buôn từđất liền ra tạo lập. Ban đầu chỉlà mái tranhvách dứa nhưng do sựđóang góp nảo trì của nhiều phật tử, ngôi chùa ngày một xâydựn trang hoàng và tôn nghiêm hơn. Theo cách đánh giá của nhiều nhà sửhọc, đâylà chùa cổnhất của tỉnh Bình Thuận, ngoài những nét cấu trúc hài hoà, chùa cònlưu giữnhiều di vật cổcó giá trịnghệthuật dân gian rất lớn.
    Nhiềupho tượng cổvới thểloại và chất liệu khá phong phú nhưđá, đất nung, gỗ, cùngnhiều nét chạm khắc sắc sảo, tào hoa những nghệnhân đất đảo đã đểlại cho đờisau vốn giá trịnghệthuật lớn lao. Các pho tượng được thờởchùa Linh Quang phần lớn có niên đại vào thếkỷXVII, XVIII, XIX, đặc biệt những bức tượng đượcxem cóa niên đại sớm hơn nhưtượng Quan ThếAâm BồTát, Phật Nhiên Đăng…
    Xét vềđặc điểm nhân chủng, tượng phật được lưu giữtại chùa Linh Quanghầu nhưmang âmhưởng của tính cách tượng phật tìm thấy ởđại hữu, đồng dươngthuộc nguồn gốc phật giáo Đại Thừa Chămpa. Với khuôn mặt bầu tròn, môi dày mũitẹt, đôi lông mày gần giao nhau ùng với sựphóng khoáng mô típ tạc trong thế đứng hay ngồi đưa tay vềthiên hướng cảm thụngệthuật hơn là đểdùng trong việctôn thờđã cho ta thấy ảnh hưởng trong tâm thức tạc tượng Chămpa thật sựđanghiện diện trong vùng đảo xa khơi.
    Điều này là một trong những gợi hướngmởcho chúng ta hiểu thêm vềđời sống tín ngưỡng – tôn giáo của người dân đấtđảo và sựgiao thoa tuyệt vời của hai nguồn văn hoá Chămpa – Đại Việt mà ngôichùa Linh Quang là một biểu tượng cần được tìm hiểu. Một điều làm cho chúng tachú ý hơn là sựxuất hiện của tượng Phật Nhiên Đăng được tôn thờởđây nhưlàbiểu hiện rõ hơn vềcuộc sống ngưdân biển. Ngược lại đối với ngưdân khu vựcven biển miền Trung thường thấy rất ít khi xuất hiện quan nịêm thờhay tạc tượngĐức Phật Nhiên Đăng có lẽđây là nét biểu hiện rõ nhất vềphật giáo Chămpa cònlại.
    Đến phú quuý, đến tâm thanh nhìn lên trên đồi cao Linh Quang Tự đứng sừng sững oai nghiêm với cổng Tam Quan, với tầm vóc ngguy nga cho ta thấysựsùng tín đạo phật của người dân hun đúc tựbao đời. Hiểu được tầm vóc quantrọng đó nên vừa qua bộvăn hoá – thông tin đã công nhận chùa Linh Quang là disản văn hoá quốc gia và trước đó nhiều thếkỷvào thời Nguyễn các vua Nguyễn đãphong tặng gồm 10 sắc phong cho ngôi chùa này. Cuốn Thiền phả, loại văn tựcổ của chùa cũng đã ghi chép khá tỉmỉvềsựhình thành của chùa cũng nhưsựtruyềnbá và thịnh hành phật giáo trên đảo.
    Di tích đặc biệt liên hoan đến đặc tínhcủa Chămpa là đền thờBà Tàng Tranh. Theo truyền thuyết cho biết Bà vốn là côngchúa của vua Chămpa do sai phạm nên bịđày vềđảo này. Trong tìm thức người dânđảo vẫn cho rằng bà là ngưòi đầu tiên đặt chân khai hoang và sinh sống tại đảo,là tiền hiền vun đáp sựsống cho thếhệđến sau.
    Ngoài truyền thuyếtmang tính huyền bí vềcuộc đời của Bà, một đuềkhá lý thú là hầu nhưngưdânsống ởvùng đảo này đều xem Bà như là hiện thân của Quan ThếÂm BồTát. Trongmột lần trao đổi với chúng tôi Thượng ToạThích Thiện Tâm trụtrì chùa Đạt Ma làngười con đất đảo – đã đềcập đến những câu chuyện kì bí xung quanh Bà mang đậmtính chất phật giáo. Ngưdân mỗi lần ra hơi bịgiông tốập đến người ta hay chútâm cầu nguyện đến Bà.
    Thường thì Bà hay ấn thân đểgiúp đỡvà che chở.Trong một chuyến điền giảvào năm 1994 tại đảo Phú Quý chúng tôi đã tìm vềngôimộcũng là nơi thờtựBà. Điêu phát hiện khá trùng lặp, chính tại đây là một dichỉkhá phong phú vềgiai tầng văn hoá Sa Huỳnh – Chămpa nhưmảnh vỡcủa sànhsứ, các khí cụbằng sắt… nhưvậy cho chúng ta thấy rằng trước đó đã có cưdânChămpa sinh sống và hình tượng tôn thờBà Trang Tranh hiện nay chính là sựnốitiếp của tính tôn thờmẫu hệvà còn là điểm mốc đầu tiên đểtưởng nhớcưdân đitrước.
    Có được nhưngày hôm nay Phú Quý đã trải qua những biến suy rồihưng thịnh, nhiều thếhệvới những công sức to lớn đã góp nên một Phú Quý như hiện nay, bản sắc văn hoá được bảo tồn, đời sống kinh tếngày càng thêm ổn định.Tuổi trẻPhú Quý với tinh thần Phật sựđang được củng cốvà bồi đắp là nìêm tinchắc chắn là sựbảo trì vốn van hoá đặc sắc của quê hương mình góp chung vào nềnvăn hoá đa màu của dân tộc Việt Nam.

    9.                             Vai trò - vịtrí chùa TừĐàm theo dòng lịch sửxứHuế

    Chùa Từ Đàm theo dòng lịch sử xứ Huế

    Đó là một bài hát nổi tiếng của người Phật tử miền Trung xuất hiện sau biến cố 1963; một bài hát nói lên được nhưng nỗi niềm của mọi người con Phật miền Trung và ngay các tỉnh miền Nam đối với ngôi chùa mà họ hằng yêu dấu; nó ghi khắc sâu đậm dấu ấn lịch sử của các giai đoạn chuyển biến lớn của Phật giáo Việt Nam, đó là giai đoạn Chấn hưng Phật giáo của những thập niên 1930-1940, giai đoạn thống nhất Phật giáo 1951và giai đoạn chống đàn áp Phật giáo vào thời chính quyền Ngô Đình Diệm 1963.
    Như vậy thì vị trí và vai trò của ngôi chùa Từ Đàm đã ăn sâu vào tâm khảm của mọi người Phật tử miền Trung cũng như miền Nam, mà mỗi khi nhắc đến Phật giáo xứ Huế thì không ai không nghĩ đến ngôi chùa lịch sử này.

    I. VÀI NÉT LỊCH SỬ

    Cách đây hơn 300 năm, vào đời chúa Nguyễn Phúc Thái (1687-1691), không rõ chính xác vào năm nào trong khoảng 10 năm: từ 1683 đến 1693, một vị Tổ từ Trung Quốc sang, vào đất Thuận Hóa và đến tại Hoàng Long Sơn, cắm tích trượng, dựng một thảo am để hoằng hóa Phật giáo Thiền Lâm Tế. Vị tổ sư đó chính là ngài Minh Hoằng Tử Dung, và thảo am của Ngài lúc đó là Ấn Tôn thiền thất, địa vực là chùa Từ Đàm hiện nay. Đến năm Quý Vị (1703) niên hiệu Chính Hòa thứ 24 đời Lê Hy Tôn ở Bắc Hà, nhằm vào năm thứ 13 đời Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) thì thảo am đã được sắc tứ trở thành ngôi chùa có biển hiệu đề Sắc tứ Ấn Tôn Tự. Biển hiệu chùa hiện nay đang còn.
    Chùa Ấn Tôn có mặt trên đất Thuận Hóa cho đến 173 năm sau. Vào năm Thiệu Trị nguyên niên triều nhà Nguyễn (1841) có lẽ vì kỵ húy Hoàng gia, nên nhà vua đã hạ chỉ đổi tên chùa thành Từ Đàm Tự, biển hiệu này cũng đang còn treo tại nhà Tổ chùa Từ Đàm. Mãi đến năm 1938 thì chùa Từ Đàm được chư Sơn môn nhường lại cho An Nam Phật Học Hội làm chùa Hội quán và được tái thiết theo đồ án như ngôi chùa hiện ta đang thấy. Hiện tại, trước tiền đường chùa Từ Đàm còn có biển đề “An Nam Phật Học Hội - Thừa Thiên Tỉnh Hội” do “Ninh Thuận tỉnh, Phật Học Hội cúng dường” vào tháng hai năm Tân tỵ (1941). Vào các thập niên 50 cho đến cuối thế kỷ XX, GHPG Thừa Thiên đã kiến thiết thêm cổng chùa, nhà thiền, tăng xá, nhà khách, nhà bếp; phần khác là “giảng đường” và văn phòng Tỉnh Giáo Hội.
    Về cách thờ tự thì chùa Từ Đàm có nét đặc biệt từ năm 1940 đến nay là trong chùa chỉ thờ độc tôn một pho tượng đức Phật Thích-ca bằng đồng cao khoảng 1m30, ngự trên tòa sen, tay bắt ấn Tam-muội. Đây là công trình nghệ thuật của ông Mai Trang Nguyễn Khoa Toàn và nhà đúc tượng Nguyễn Hữu Tuân. Trong điện Phật có bức hoành đề Ấn Tôn tự; phía Tây sát chùa có nhà Tổ, trong nhà Tổ có một chân dung ngài Minh Hoằng Tử Dung là Tổ khai sơn Ấn Tôn tự và nhiều long vị khác của Chư Tổ, cũng như nhiều bài vị bằng chữ quốc ngữ của các đạo hữu quá cố của An Nam Phật Học Hội ngày xưa.
    Phía đông chùa có nhà thiền; trong vườn hoa trước thiền đường có một pho tượng bán thân của Bác sĩ Lê Đình Thám, người rất có công với cuộc chấn hưng Phật giáo Huế và miền Trung; tại văn phòng tỉnh GHPG Thiên Thiên Huế ở tầng dưới của nhà giảng có pho tượng bán thân của Ngài Thích Quãng Đức người đã vị pháp thiêu thân cúng dường mười phương chư Phật trong cơn pháp nạn 1963, tại ngã tư Phan Đình Phùng - Lê Văn Duyệt - Sài Gòn.
    Tại sân chùa Từ Đàm có một cây Bồ-đề thiêng rất lớn, chiết từ gốc Bồ-đề tại Bồ-đề đạo tràng Ấn Độ đem về trồng tại đây. Ngoài ra chùa Từ Đàm còn có một câu đối của nhà yêu nước Phan Bội Châu; một câu đối của Bác sĩ Lê Đình Thám hiện khắc ở các trụ trước mặt tiền đường...
    Tất cả những gì nói trên đây đều biểu hiện những nét đặc trưng trong kiến trúc và trong cách thờ tự; tuy mới thoạt nhìn thì có vẻ khác lạ, nhưng “nhìn” kỹ thì chùa Từ Đàm vẫn theo truyền thống tâm linh Châu Á và đặc biệt là Việt Nam ta có đầy đủ Phật, Tổ truyền Pháp đăng, có Hộ pháp.... một cư sĩ là B.S Lê Đình Thám, và một Tăng sĩ là Ngài Quảng Đức.... chuyển hiện vào thực tế chứ không phải chỉ là những pho tượng tượng trưng, và một cây thiêng có ý nghĩa đặc thù của Phật giáo.

    II.VỊ TRÍ TRONG TRUYỀN THỐNG THIỀN TÔN

    Nguồn suối Phật giáo Lâm Tế ở Nam Hà đã xuất sinh từ vùng đất thiêng của Ấn Tôn Tự vào cuối thế kỷ thứ XVII đầu thế kỷ thứ XVIII, tại Nam Hà có một vị Đại sư đã xả thân đi từ Phú Yên ra Thuận Đô [1] tìm cầu pháp học đạo. Vị Đại sư ấy sơ khởi tìm đến tham lễ Giác Phong Lão Tổ ở Báo Quốc thảo am xin cầu học, sau khoảng hơn mười năm, Ngài đến chùa Thiền Lâm thọ Sa-di với Thạch Liêm Hòa thượng (1695), hai năm sau, Ngài lên Từ Lâm xin thọ Cụ túc giới với Từ Lâm Lão Tổ (1697).
    Khi đã trở thành Tỳ-kheo, vị Đại sư tìm đến tham lễ cầu học với Tổ Minh Hoằng-Tử Dung ở Ấn Tôn thiền thất (1699). Năm Nhâm Ngọ (1702) Tổ trao công án cho Ngài tham: “Vạn pháp qui nhất, nhất qui hà xứ” (萬法歸一一歸何處). Mười năm sau, vào mùa hạ năm Nhâm thìn (1712) chư Tăng hai đạo Thuận Quảng về an cư kiết hạ tại Thiền Lâm viện, cung thỉnh Tổ Minh Hoằng Tử Dung làm thiền chủ. Trong kỳ an cư kiết hạ này, vị Đại sư trình kệ “Dục Phật” được Tổ ấn khả, truyền tâm ấn.
    Vị Đại sư người Đại Việt ở Nam Hà đắc đạo thiền Lâm Tế từ đó, và được kế truyền theo pháp kệ của tổ Minh Hoằng-Tử Dung, để có pháp danh là Thiệt Diệu, và pháp hiệu là Liễu Quán. Chính giờ phút này đạo mạch thuộc Ấn Tôn Từ Đàm tự ở Hoàng Long Sơn đã được trao truyền và tiếp nhận giữa sơ Tổ Tử Dung và đệ nhị tổ Liễu Quán để phát huy rực rỡ trên dải đất Nam Hà tức suốt từ Thuận Hóa vào Nam, từ thế kỷ thứ XVIII đến hiện nay.

    Bởi vì sau đó, Tổ Liểu Quán đã hoằng truyền giáo pháp và biệt xuất một dòng kệ 48 chữ: “THIỆT TẾ ĐẠI ĐẠO, TÁNH HẢI THANH TRỪNG, TÂM NGUYÊN QUẢNG NHUẬN, ĐỨC BỔN TỪ PHONG...” Tổ đã khai sơn chùa Thuyền Tôn, một Tổ đình lớn của Phật giáo Huế từ thời Lê Cảnh Hưng (1708) đến nay. Vào các năm Quý Sửu (1733), Giáp Dần (1734), Ất Mão (1735), tại Tổ đình Thuyền Tôn, và đến mùa xuân năm Nhâm Tuất (1742) tại chùa Viên Thông, Tổ đã khai bốn đại giới đàn truyền giới cho hàng vạn tín đồ. Trong số theo tu học với Tổ, có 49 Ngài cao đệ tử đắc pháp.
    Bốn mươi chín vị này đã tỏa ra, vân du hóa đạo khắp các tỉnh từ Thuận Đô vào tận vùng đất mới được các chúa Nguyễn tiếp nhận của Chăm-pa. Chỗ nào có dân mới từ Tiên Bình Thuận Hóa vào khai hoang lập ấp là dường như có các ngài đi theo để dắt dẫn, an ủi người dân mới tới nơi đất lạ xứ người. Riêng tại Thuận Đô, tức là xứ Huế hiện nay, thì sau khi Tổ Liễn Quán thị tịch vào mùa thu năm Nhâm Tuất (1742), có hai cao đệ tử nỗi danh ở lại Tổ đình để tùy duyên hóa độ nơi đây, đó là ngài Tế Mẫn Tổ Huấn và ngài Tế Hiển Trạm Quang; ba ngài ra Báo Quốc là Tế Ân Lưu Quang, Tế Nhơn Hữu Bùi và Tế Hiệp Hải Điện; sau ngài Tế Nhơn đã cùng với ngài Từ Chiếu vào Phú Yên.
    Riêng tại Huế thì ngài Tế Mẫn Tổ Huấn có hai đệ tử đắc pháp là ngài Đại Huệ Chiếu Nhiên và ngài Đại Nghĩa Trí Hạo. Ngài Đại Huệ Chiếu Nhiên truyền xuống cho hai đệ tử là Đạo Minh Phổ Tịnh, được bà Hiếu Khương Hoàng Thái Hậu mời ra trú trì Tổ đình Báo Quốc được đổi tên là Hàm Long Thiên Thọ Tự; và Ngài Đạo Tâm Trung Hậu ra trùng hưng tổ đình Ấn Tôn dưới thời Gia Long, dấu ấn của Ngài còn để lại trên quả chuông đồng thời Gia Long hiện chùa Từ Đàm đang bảo quản, từ ngài Đạo Minh Phổ Tịnh truyền xuống rất nhiều đệ tử đắc pháp, nỗi danh nhất là ngài Tánh Thiên Nhất Định khai sơn An Dưỡng Am, đến Tự Đức nguyên niên (1847) được xây dựng thành chùa và được Sắc tứ là Từ Hiếu Tự.
    Tổ Tánh Thiên Nhất Định có ba đệ tử sáng chói là các ngài Hải Thuận Lương Duyên, Hải Thiệu Cương Kỹ, Hải Toàn Linh Cơ [2]. Hằng trăm ngôi chùa Huế hiện nay, kể cả những ngôi chùa làng được tái thiết, đều do đệ tử hoặc pháp điệt của ba ngài này hoặc khai sơn, hoặc trùng kiến, hoặc kế thế trú trì, làm cho Phật giáo Huế long thịnh rực rỡ.
    Kể từ chư Tổ ngày xưa và nhiều thế hệ Tăng sĩ hiện nay đều có pháp húy theo dòng kệ của Tổ Liễu Quán, và đều hoằng hóa giáo pháp Lâm Tế Tử Dung - Liễu Quán vốn phát tích từ Ấn Tôn Từ Đàm vào thời các chúa Nguyễn.
    Phật giáo Lâm Tế Tử Dung Liễu Quán chẳng phải chỉ thực hiện việc tôn sư tuyền tâm ấn cho đệ tử mà thôi, mà Tổ Tổ tương truyền một nền giáo dục tại các chùa rất khác với nền giáo dục thời ấy; lại có nhiều điểm tương cận với giáo dục học hiện đại như dựa trên tâm sinh lý đối tượng để giáo huấn; tập động thân thể với khai mở trí tuệ quân bình không thiên về phần trí mà bỏ phần thể... chư Tổ và chư Tăng cũng đã đóng góp trong ngành kiến trúc chùa chiền, ngành mỹ thuật trong việc trang trí chùa tháp, đúc chuông chú tượng làm cho các ngành nề, mộc, sơn vẽ, chạm gỗ, chạm đá phát triển.
    Chư Tổ trong Phật giáo Huế cũng rất chú trọng đến kinh tế tự túc tự cấp. Tổ Đại Huệ Chiếu Nhiên đã thống suất tăng chúng chùa Thuyền Tôn về làm ruộng chùa ở xã Thần Phù; lúa dư ăn, còn nạp tô cho phủ chúa như là một hộ nông dân tập thể trong địa phương.
    Lần thứ nhất chùa Từ Đàm đã có vai trò trọng yếu trong việc làm phát sinh cả một Thiền phái của người Đại Việt ở Nam Hà vậy

    III. VỊ TRÍ TRUNG TÂM
    TRONG PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO

    Sử kiện đáng ghi nhớ là vào năm 1938 cho đến năm 1944, Vào lúc 10 giờ 30 sáng ngày 27 tháng 10 năm Bảo Đại thứ 13, nhằm ngày 18 tháng 12 năm 1938 T.L, An Nam Phật Học Hội làm lễ đặt đá để xây dựng chùa Từ Đàm theo đồ án còn lại cho đến nay mà hồi đó gọi là chùa Hội quán Hội Phật Học Thừa Thiên và cũng là trụ sở An Nam Phật Học Hội.
    Hội này được lập vào năm 1932, gồm có 5 vị Trưỡng Lão Hòa Thượng, mà Hòa Thượng Giác Tiên đứng đầu, và 17 vị cư-sĩ mà B.S Tâm Minh Lê Đình Thám đứng đầu, cuộc vận động chấn hưng Phật giáo đồng loạt xuất hiện khắp cả nước. Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật Học thành lập năm 1931, và đầu năm 1932 thì Hội này cho ra báo Từ Bi Âm; cũng trong năm 1932 này thì An Nam Phật Học Hội ra đời tại Huế và qua năm 1933, hội cho ra tạp chí Viên Âm để làm cơ quan ngôn luận truyền bá đạo Pháp theo đường hướng mới. Năm 1934 Hội Phật giáo Bắc Kỳ thành lập và năm 1935, hội cho xuất bản tạp chí Đuốc Tuệ làm cơ quan ngôn luận.
    Chúng tôi cần nói đến hai tiếng An Nam. Chữ này từ đời nhà Đường trở lui dùng để chỉ nước ta [3]. Nhưng từ khi Pháp lấy mất nước, thì chúng chia đất nước làm ba phần và gọi miền Bắc là Tonkin và dịch là Bắc Kỳ, miền Nam là Cochinchine và dịch là Nam Kỳ; còn An Nam chúng dành để chỉ miền Trung và dịch là Trung Kỳ. Như thế An Nam Phật Học Hội chính là Hội Phật Học của dải đất Trung Kỳ kể tử Thanh Hóa vào tới Bình Thuận.
    Vai trò của Chùa Từ Đàm lần này quan trọng không kém lần thứ nhất; vì chùa Từ Đàm từ đây (1938) là nơi phát tích nguồn chấn hưng Phật giáo cho cả 13 tỉnh suốt dải đất miền Trung. Đặc biệt, hai Nho gia Huỳnh Thúc Kháng và Phan Bội Châu là những chí sĩ yêu nước sôi nổi lúc bấy giờ cũng đã nhiệt tình cổ vũ cho công cuộc chấn hưng Phật giáo. Vì thế hai vế đối mà cụ Phan đề ở tiền đường chùa mang nhiều ý nghĩa của chủ trương này:
    “Nghiệp duyên bình hiệp, niên niên bạch phát thôi; đối diện tức không, ninh bả thiều hoa phó lưu thủy”
    “Thế sự kỳ phân, xứ xứ hoàng lương mộng; hồi đầu thị ngạn, nguyện phiên bối diệp xuất ưu đàm.”
    (Thân này bèo hợp, năm năm tóc trắng thêm; đối mặt liền không, há để tuổi xanh theo giòng nước?
    Thế sự bàn cờ, xứ xứ đều mộng ảo, quay đầu là bến, nguyện phiên kinh Phật tỏa hương Đàm.)
    Từ chùa Từ Đàm phát tích về cách kiến trúc kiểu mẫu kiến thiết chùa Hội quán và cách thờ tự độc tôn, việc chấn hưng Phật giáo lan truyền rất nhanh. Chỉ sau bốn năm hoạt động, tức là khoảng năm 1941 thì “.... ở Thừa Thiên cũng như khắp 13 Tỉnh Trung Kỳ, dân chúng tự động nhập hội, tự động cổ động tổ chức Hội ở khắp các địa phương...”[4].
    Kết quả khắp dãi đất miền Trung có đến 10 tỉnh Hội, 30 chi Hội và ngót một nghìn Khuôn Hội Tịnh độ. “Không đầy 20 năm mà toàn cõi Trung Việt, đâu cũng có Tỉnh hội, Tỉnh hội nào cũng có các Chi hội, Chi hội nào cũng có Khuôn hội Tịnh độ. Khuôn Tịnh độ hầu hết đều có Niệm Phật Đường” (Sách đã dẫn, trg 32).
    Về mặt tinh thần thì Hội Phật Học đã thiết lập Phật Học Đường từ 1932, xuất bản tạp chí Viên Âm (1933); lập Phật Học Tùng thư tại chùa Từ Đàm để phát hành, soạn và in ấn Kinh sách (1938) và đi diễn giảng lưu động.
    Đặc biệt là Trường Ni học đã được thiết lập tại chùa Từ Đàm vào năm 1932, về sau chuyển đến chùa Diệu Đức. Sư bà Diệu Hương làm Giám đốc trường này từ ngày đầu. Tất cả mọi đồ án kiến trúc “chùa Hội quán” nhất là Niệm Phật Đường của các Khuôn Hội thì đều theo mẫu chùa Từ Đàm; thiết trí cách thờ tự độc tôn theo cách thờ ở chùa Từ Đàm Huế.
    Nếu so sánh với cách thờ tự ở chùa làng thì ta thấy Niệm Phật Đường trong sáng, nhẹ nhỏm và thoáng hơn nhiều! Hội Phật Học đặt Hội quán ở chùa Từ Đàm đã cùng với Giáo Hội Tăng già lập ra Phật Học Đường Kim Sơn (1944). Và “tinh thần ảnh hưởng của Kim sơn bây giờ tỏa khắp mọi phương trời, mọi tổ chức, mọi Phật sự (....). Người của Kim Sơn (tức Tăng sĩ của Phật giáo được đào tạo ở Phật Học Đường Kim sơn) cùng khắp Trung Nam Bắc, đem Kim ngôn đức Phật truyền bá khắp nơi dưới tất cả hình thức...” (Sách đã dẫn, tr 33).
    Lại có nhiều học Tăng từ Phật Học Đường Long Xuyên ra theo học, về sau trở thành các vị cao Tăng của Phật giáo Miền Nam như các Hòa thượng Thiện Hoa, Thiện Hòa, Hiễn Thụy, Bữu Ngọc v.v... Trong dân gian toàn vùng Trung Bộ từ Thanh Hóa tới Bình thuận, lến tới các tỉnh Di Linh, Đồng Nai thượng đều có những kết quả trong đời sống như bỏ các tập tục mê tín, không đốt vàng mã nữa, dân sống hòa thuận với nhau, không kiện cáo như thời trước. Tỉnh nào cũng có một Ban Trị Sự Tỉnh Hội, mỗi năm về họp tại chùa Từ Đàm Huế một lần để bầu Ban Trị Sự Tổng Hội.

    Riêng với tuổi trẻthì từnăm 1940, ởHuếđã có Ban Đồng Ấu rồi có đoàn ThạnhNiên Phật Học Đức Dục của Bác sĩLê Đình Thám lập ra, tụhội được nhiều phần tử trí thức tân học thời đó đểdạy Phật pháp cho họ. Năm 1943, có Gia đình Phật HóaPhổra đời; đến năm 1951 đổi thành gia đình Phật tử. Đây là “một Tổchức giáodục thiếu nhi quan trọng và có sắc thái độc đáo, có thểnói đó là một trongnhững nét đặc biệt nhất của đạo Phật tại Việt Nam. Tại các nước Phật giáo trênthếgiới chưa có tổchức thiếu niên nào đông đảo và có tổchức khéo léo như thế...” (Nguyễn Lang, VNPGS luận III trg 256).
    Tổchức này đã đặt trụsở tại chùa TừĐàm, và lan rộng tới cảmiền Nam lẫn miền Bắc. Ngoài Bắc các cưsĩ Nguyễn Văn Nhã, Lê Văn Lãm, VũThịĐính đã tạo dựng cơsởđầu tiên cho GDPH Phổ tại Hà Nội và Hải Phòng. Trong Nam các cưsĩTống HồCầm và Nguyễn Văn Thục đãxây dựng các đơn vịGDPH Phổtrong phạm vi Hội Phật Học Nam Kỳ.
    Hiệnnay, bài hát “TừĐàm QuếHương Tôi” của Nguyên Thông nhưtrên đã nói. Bài hát đãnhắc nhởđến một sửkiện quan trọng từchùa TừĐàm Huếxuất phát ra: đó là cuộcHội nghịThống nhất Phật giáo Việt Nam vào năm 1951. Đây là một Hội nghịlớn màtầm quan trọng của nó thật vô cùng lớn lao.
    Năm mươi mốt (51) đại biểucủa sáu tập đoàn Tăng già và Cưsĩcảba miền đất nước vềhọp tại chùa TừĐàmHuếđểlàm việc chung trong bốn ngày ròng rã; lại có hơn 300 Phật tửgồm cónhiều vịtrong Giáo Hội Tăng Già Sơn Môn Thừa Thiên và các Khuôn Hội khắp tỉnhThừa Thiên vềdựthính. Giáo hội Phật giáo Thừa Thiênlo sắp xếp nơi ăn ngủ, nơilàm việc từng tiểu ban, và nơi họp Đại Hội đồng và lo chương trình nhiều khóa lễ tại chùa TừĐàm cho toàn Đại biểu dựĐại Hội. Sau thời gian bàn thảo, toàn Hộinghịđểthống nhất Phật giáo Việt Nam đã ra bản Quyết nghịnhưsau:
    “Chúng tôi Đại biểu của các tập đoàn Phật Giáo sau đây:
    Tăng già Trung Việt-- Tăng già Bắc Việt-- Tăng già Nam Việt, Hội Việt Nam Phật Giáo BắcViệt, Hội Việt Nam Phật Học Trung Việt- Hội Phật Học Nam Việt; hội họp tại chùaTừĐàm (Thuận Hóa) ngày 01, 02, 03, 04, 05 tháng TưPhật lịch 2514 tức là ngày6, 7, 8, 9, 10 tháng Năm, 1955 đồng công nhận Bản Điều LệHội Phật Giáo Việt Namrất hợp lý và biểu hiện sựthống nhất PGVN một cách cứu cánh. Đểthực hiện bảnĐiều Lệấy, chúng tôi cùng nhau quyết nghịnhững khoản sau:
    Khoản I.Cùng nhau lập một Tổng Hội y theo Bản Điều Lệtrên lấy tên là Hội Phật Giáo ViệtNam.
    Khoản II Cung thỉnh một ban chứng minh gồm có:
    1. Hòa ThượngMật Ứng (BV); Hòa Thượng TuệTạng (BV)
    2. Hòa Thượng Giác Nhiên (TV); HòaThượng Giác Tiên (TV)
    3. Hòa Thượng TuệChân (NV); Hòa Thượng Đạt Thanh (NV)
    Đểchỉđạo phần Đạo Pháp cho Tổng Hội, chứng minh các Đai lễvà các sách báocủa Tổng Hội.
    Khoản III: Bầu một Ban Quản TrịTrung Ương gồmcó:

    1. Hội chủ: Hòa Thượng Tường Vân Thích Tịnh Khiết.
    2. Phó hộichủ: Thượng Tọa Trí Hải; Đạo hữu Lê Văn Định.
    1 Tổng thưký; 2 Phó thưký; 1Chưởng quỹvà 1 Kiểm lý ngân sách 8 Ủy viên; 3 Ủy viên; 3 Ủy viên dựkhuyết (tấtcảđều có tên người giữchức vụnhưng đây lược bớt).
    Khoản VI. Gia nhậpHội Phật giáo Thếgiới.
    (Trích Viên Âm số104 (08-04 Tân mão) năm thứX,trang 3, 4, 5, 6, 7) Tây lịch là năm 1951.
    Sau khi Hội nghịbếmạc thìcó một bài hát của nhạc sĩLê Cao Phan, huynh trưởng trong Ban Hướng Dẫn GĐPTcấp tỉnh, đã vang lên nhữngcâu reo vui như: “Phật giáo Việt Nam thống nhất BắcNam Trung từđây... Tiến lên vì Đạo thiêng...” v.v... nói lên được ước nguyệncủa Phật giáo đồViệt Nam đã được các đại biểu ba miền thực hiện có thành quả tại dưới mái chùa TừĐàm Huế. Từđó Phật giáo khắp mọi miền đất nước đã sinhhoạt rất có qui cũvà chặt chẽ; và lá cờPhật giáo Quốc Tếcó 5 màu rực rỡđượctreo lên ởchỗnào có thờPhật là có cờPhật giáo tung bay; vì Phật giáo ViệtNam là một thành viên của Hội Phật giáo Quốc Tế. Và cũng từđó, Ban Quản Trị Trung Ương của Tổng Hội Phật giáo Việt Nam đóng trụsởtại chùa TừĐàm Huế.
    IV. VAI TRÒ BẢO VỆ ĐẠO PHÁP

    Một lần nữa ngôi chùa Từ Đàm Huế lại giữ vai trò xuất sinh của một sử kiện trọng đại: Bảo vệ Đạo Pháp. Sự kiện này tuy xảy ra trong vòng có mấy tháng; nhưng hậu quả vô cùng hệ trọng, làm đảo lộn cả chính trường miền Nam và đem lại cho toàn nhân loại trên Thế giới một nỗi lòng kính phục vô biên đối với Phật giáo Việt Nam nói riêng, và dân tộc Việt Nam nói chung.
    Vào ngày Phật Đản năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm từ Sài gòn điện ra khẩn cấp buộc dân Huế hạ cờ Phật giáo; sự việc xảy ra vào chiều ngày 07-05-1963.
    Sáng hôm sau Phật giáo đồ Huế vân tập về làm lễ Phật Đản tại chùa Từ Đàm. Tối hôm đó (08-05-1963) xảy ra cuộc đàn áp đẫm máu tại đài Phát thanh Huế, vì chính quyền Ngô Đình Diệm không cho phát đi chương trình buổi lễ lúc ban sáng, mà đã nhiều năm GHPG Thừa Thiên Huế đã được quyền làm như thế. Quần chúng Phật tử đấu tranh đòi hỏi, chính quyền đàn áp, bắt giết.
    “Ngày 10-05-1963 các vị Lãnh đạo Phật giáo họp tại Từ Đàm hoạch định đường lối và phương pháp tranh đấu bảo vệ Phật giáo và đòi hỏi công bình xã hội. Một bản Tuyên Ngôn được soạn thảo, nêu ra năm nguyện vọng của Phật giáo đồ. Bản Tuyên Ngôn này được gởi tới Tổng Thống Ngô Đình Diệm qua trung gian ông Đại biểu Chính Phủ Trung nguyên Trung phần”... (Nguyễn Lang, sđd. trang 346).
    Ngày 15-05-1963 tại chùa Từ Đàm, một Bản phụ đính của Tuyên Ngôn 10-05-1963 được công bố;
    Ngày 25-05-1963 cũng tại chùa Từ Đàm, một Phụ trương của Bản Phụ đính được công bố; dưới tờ phụ trương có chư ký của “Đại diện 5 cấp Trị sự Phật giáo: Toàn Quốc, Trung Phần, Thừa Thiên”.
    Từ đó, cuộc đấu tranh bảo vệ Đạo Pháp chuyển vào Sài gòn và đặt trung tâm tại chùa Xá Lợi. Khởi đi từ chùa Từ Đàm Huế, lan đến Sài gòn, nơi đóng Thủ đô của chế độ Ngô Đình Diệm; sau đó lan ra thế giới. Lúc đầu chỉ có Phật giáo đồ làm lễ với Chư Tăng ở chùa Từ Đàm, sau lan đến quần chúng: tiểu thương, binh lính; cuối cùng chuyển đến các trường Trung học và Đại học và trở thành cuộc đấu tranh của sinh viên toàn quốc đấu tranh cho chân lý và tự do tín ngưỡng.
    Chế độ quanh co chối cãi và cứ đàn áp, làm cho toàn xã hội miền Nam thời bấy giờ tê liệt, dẫn đến việc Liên Hiệp Quốc lập phái đoàn đến điều tra; chế độ Diệm đánh dẹp các chùa chiền vào khuya 20-08-1963 làm cho toàn dân, toàn quân phẩn nộ và quân lính nổi dậy làm binh biến vào ngày 01-11-1963, lật đổ luôn chế độ Ngô Đình Diệm.
    Sau hai biến cố trọng đại nêu trên, ngôi chùa Từ Đàm đã trở thành trung tâm của mọi người con Phật; và vì thế khi nói đến Phật giáo xứ Huế người ta thường nghĩ đến nơi đây như là một trung tâm của Phật giáo, thậm chí có người còn cho Huế là thủ đô của Phật giáo Việt Nam vậy.

    V. KẾT LUẬN

    Kể từ khi Tổ Minh Hoằng Tử Dung cắm tích trượng khai sơn Ấn Tôn thiền thất đến nay đã gần 300 năm. Lúc đầu là Ấn Tôn Tự rồi sau hơn 1 thế kỷ rưỡi trở thành Từ Đàm Tự. Khí thiêng sông núi un đúc, làm cho đạo mạch Ấn Tôn - Từ Đàm lưu trường. Tùy cơ duyên khế hợp của từng thời đại, chùa Từ Đàm đã thể hiện triết lý “Tùy duyên bất biến” của đạo Phật rốt ráo. Bởi vậy, nhìn theo góc độ tùy duyên bất biến ấy, ta thấy vai trò của chùa Từ Đàm thật là hệ trọng đối với mạng mạch Phật giáo Thừa Thiên Huế nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung.
    Tuy thời đại và hình thức có khác, song chiều sâu thì Từ Đàm vẫn là nơi phát xuất của những giai đoạn phát triển và bảo tồn Phật giáo. Vừa bảo tồn vừa phát huy Phật giáo Thừa Thiên Huế và nói rộng là cả miền Trung; chùa Từ Đàm rõ ràng đã đóng vai trò nơi chốn Tổ phát tích đạo mạch của vùng Hóa Châu xưa.
    Tuy không phải là nơi thắng cảnh vào hàng nhất nhì của chùa Huế, song khi chùa Từ Đàm đã làm trọn vai trò của mình hơn 300 năm, đã qua nhiều giai đoạn và dưới nhiều hình thức khác nhau cho hợp căn cơ của từng thời đại, thì lẽ dĩ nhiên chùa Từ Đàm đã, đang và sẽ có một vị trí tương xứng, nếu không nói là vị trí hàng đầu trong sự nghiệp truyền bá giáo pháp của đức Phật Thích-ca Mâu ni.
    Cho nên, chúng tôi xin kết luận bài này bằng một kết ý ngắn gọn là nếu ai đến Huế, muốn xem phong cảnh chùa tháp của Huế thì lên chùa Thiên Mụ, ở đó có đủ núi, sông, đồi, cây cao, chùa tháp cổ sái, bầu trời xanh có mây trắng nhẹ nhàng bay v.v... nhưng muốn hiểu vì sao người ta gọi Huế là “Thiền Kinh” tức là Kinh Đô chùa chiền, cũng tức là nói đến phong cách Phật giáo xứ Huế, tinh thần Phật giáo xứ Huế, thì nên về chùa Từ Đàm; nơi uyên nguyên dẫn xuất anh linh tú khí của cõi Hóa Chân xưa để giữ cho đạo mạch Phật giáo trong cõi lưu trường với thời gian vô tận vậy./.
    [1] Chữ trong bia ký tại tháp Tổ Liễu Quán
    [2] Thích Mật Thể, VNPGSL, bản đồ I, ở trang 219, Bản in của Minh Đức Đà Nẳng, 1960
    [3] Thực sự đây là chữ do người đô hộ Trung Hoa đặt ra gọi là An Nam độ hộ phủ; còn quốc hiệu do các triều vua độc lập đặt ra thì lại khác; nhưng không hiểu sao trong thông tục lại cứ gọi là An Nam!
    [4] Thích Kim Sơn, Viên Âm Nguyệt san số 89-90, số Đặc san về kỷ niệm lễ Vía Xuất gia và đệ Thập bát chu niên của Hội Việt Nam Phật Học, năm thứ 9 trang 27, Huế 1950

    10.                         Chùa Ưu Đàm

    Chùa quay mặt về hướng chính Nam, trước mặt lấy cánh đồng ruộng lúa xanh tươi bát ngát làm tiền án, sau lưng có con sông Ô Lâu huyền thoại ôm lấy làm hậu chẩm. Chùa được xây dựng từ thời nào đến nay chưa có sách sử nào ghi lại. Theo truyền thuyết của dân làng kể lại thì vào khoảng thế kỷ thứ 16, khi chúa Nguyễn vào Nam lập nghiệp, bình định và vỗ an dân chúng, hầu hết các làng xã đồng loạt xây chùa dựng tượng để con dân sinh hoạt tín ngưỡng, ổn định tinh thần mà chăm lo làm ăn, chùa Ưu Đàm cũng ra đời trong thời điểm đó.
    Nhưng theo sách Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An viết năm 1555 trong chương Phong Tục nhắc đến chùa Ưu Đàm một câu rằng “Am Ưu Đàm nở nhiều hoa Bát la” thì chắc chắn chùa nầy có trước thời chúa Nguyễn vào Nam lập nghiệp.

    Trải qua thời gian chiến tranh, chùa được tu sửa nhiều lần. Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí mục chùa quán thì đến năm Minh Mạng thứ 2, Tân Tỵ (1821) chùa được nhà vua ban chiếu, cấp bổng lộc để trùng tu. Năm 1954 chùa lại bị bom đạn làm hư hại và xuống cấp, con dân trong làng đã góp công góp của xây dựng lại bằng bê tông cốt thép theo mô hình kiến trúc kiểu chữ Công gồm tiền đường, chánh điện, và hậu liêu như mẫu chùa Từ Đàm cũ với chất liệu rất hiện đại kiên cố có diện tích mặc bằng khoảng 250m2 trên tổng diện tích vườn chùa khoảng 8000m2.
    Trong những năm trở lại đây, khi chùa đã xuống cấp, thêm vào đó nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của con dân trong làng ngày càng phát triển, nên đòi hỏi chùa phải có sự chỉnh trang cho phù hợp, các con dân trong làng đi làm ăn xa, cùng với những Việt kiều đồng hương đã thấu hiểu được gởi tiền về trùng tu.
    Tính từ năm 1995 cho đến nay, mặc dầu chùa không đại trùng tu, nhưng đã chỉnh trang, sửa chữa, làm mới một số hạng mục. Những công trình có giá trị như chánh điện, cổng tam quan, đài Quan Âm, Đoàn quán Gia đình Phật tử, nhà ở, tường thành...tất cả đã trở thành một hệ thống kiến trúc kiên cố và khang trang hơn rất nhiều.
    Nhưng cũng rất may, qua nhiều lần trùng tu, chùa vẫn bảo lưu được một số cổ vật, pháp bảo cũng như những di chỉ xưa quý rất có giá trị văn hoá và khảo cổ như bộ tượng Bồ tát Di Lặc và Quán Âm cổ Phật được nắn bằng đất sét nhồi trấu, nồng tre sơn thếp vàng rất đẹp. Đáng chú ý hơn hết là di chỉ Chăm-pa gồm một tượng nữ thần XiKa, bức phù điều vũ nữ cũng như trụ đá Linga và biểu tượng tiểu thực khí của Totem giáo... đã gây được sự chú ý và quan tâm của nhiều ban ngành của BTS cũng như của chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế.
    Để bảo quản tốt những di vật nầy, năm 1995 Ban Hộ tự đã cho quy tụ, và xây dựng tôn trí tượng và các phù điêu, cổ vật trên một ví trí khu đất 50m2 sát bên tả chùa, dân làng gọi đó là Am Bà Phật Lồi. Hằng năm, có các đoàn khảo cổ từ cấp trung ương đến cấp tỉnh cũng như các giáo sư tiến sĩ nước ngoài đến tìm hiểu khảo sát, đã có nhiều vị báo cáo lại với dân làng đó là Thánh địa Chăm lớn thế kỷ thứ nhất của Chiêm Thành có diện tích rộng chừng 2.000m2.
    Tất cả những cổ vật, pháp bảo xưa quý trên của chùa hiện vẫn còn rất nguyên trạng và được bảo quản tốt. Chỉ có tượng nữ thần XiKa đã bị biến dạng qua nhiều “sự cố”, nguyên tượng nầy được tạc bằng sa thạch, nhưng qua thời gian bảo quản, người ta đã cho sơn son thếp vàng, những năm 1975 đến 1980 những "đạo tặc" tưởng là vàng thật nên đã đến cưa tay, và thậm chí cưa đầu, nhưng may thay, tượng bằng đá nên đám ăn cắp đã đem trả lại cho chùa. Mặc dầu vậy, giá trị nguyên bản của pho tượng đã không còn.
    Ngoài tên chữ của chùa là Ưu Đàm, chùa còn có tên dân gian là chùa Bà Lồi, hay chùa Lồi. Giải thích về các tên này, dân làng kể lại đều có nguồn gốc từ một sự tích của pho tượng Bà Lồi, tức tượng nữ thần XiKa: Tên Ưu Đàm xuất phát từ một loài hoa Ưu Đàm bát (Udumbara) một loài hoa quý hiếm, tương truyền 3000 năm mới xuất hiện một lần, hoa xuất hiện thì kim luân vương xuất hiện.
    Các bô lão thủa ấy lấy cớ làng Ưu Đàm có Phật Lồi được ví như Phật xuất thế nên đặt tên làng và tên chùa là Ưu Đàm, và xuất phát từ câu chuyện tượng Bà Lồi nên chùa còn được dân gian gọi là chùa Bà Lồi, hàng năn vào mùa lũ lụt, con dân trong làng đều tập trung lên chùa để tránh lụt, họ phát hiện chùa chưa hề bị nước ngập và hình như nước càng lên thì chùa cũng nổi theo, nên từ đó chùa còn được gọi là chùa Lồi.
    Chùa Ưu Đàm ngày nay là một trong những ngôi chùa được xếp vào hạng di tích lịnh sử, đồng thời trên bảng đồ du lịch của sở Du lịch Thừa Thiên Huế đã có mô hình và bảng chỉ đường cho khách tham quan tìm đến. Hy vọng rằng, trong thời gian đến, chùa Ưu Đàm sẽ được con dân trong làng tiếp tục giữ gìn và bảo quản tốt.

    11.             Chùa Thiên Mụ

    Nói đến Huế, ngoài những lăng tẩm cung điện của triều Nguyễn phải kể đến những ngôi chùa nổi tiếng nhất trong số hàng trăm ngôi chùa cổ hiện nay ở cố đô Huế, đó là chùa Thiên Mụ. Đã hơn bốn trăm năm qua, trải qua bao vật đổi sao dời, chùa Thiên Mụ vẫn uy nghiêm bên dòng sông Hương thơ mộng. Tiếng chuông chùa Thiên Mụ từ bao đời nay đã được coi như một âm hưởng đặc trưng của xứ Huế.

    Xưa kia nơi đây là một quả đồi hoang thuộc làng An Ninh, huyện Hương Trà, nay là phường Kim Long, thành phố Huế. Đầu thế kỷ XVII để tránh sự kìm hãm của Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ đất Thuận Hóa để gây dựng cơ đồ riêng. Lúc đó trong dân gian đang lưu truyền một huyền thoại rằng trên đồi thường xuất hiện một bà già tóc bạc, áo đỏ, quần xanh nói rằng: “Rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến đây lập chùa thờ Phật để tụ linh khí”. Nguyễn Hoàng thấy mình đang được lòng dân nên tự nhận là chân chúa và cho xây chùa, đặt tên là chùa Thiên Mụ, đến đời Tự Đức đổi thành Linh Mụ nhưng tên gọi gốc thì vẫn được tiếp tục phổ biến cho đến bấy giờ.
    Dưới con mắt của các nhà phong thủy thì vị trí của chùa Thiên Mụ quả là nơi đắc địa hiếm có. Chùa nằm trên ngọn đồi có nhiều cây cối xanh tốt, phía sau là những dãy gò đống nối dài, trước mặt là dòng sông Hương như dải lụa ôm sát chân đồi tạo nên sự hài hòa thơ mộng giữa kiến trúc với thiên nhiên.
    Chùa có khuôn viên rộng tới gần 4 ha, được bao bọc bởi tường gạch chu vi hơn 800m, phía trước là tháp đình, phía sau là điện miếu, tất cả đều toát lên vẻ trang nghiêm, huyền ảo. Tháp Phước Duyên trước sân chùa, được coi là biểu tượng của chùa Thiên Mụ, xây năm 1844, có hình bát giác, cao hơn 21m gồm 7 tầng với những kiến trúc hoa văn độc đáo, mỗi tầng thờ một vị Phật ngồi trông ra cửa hướng Nam. Tầng cuối cùng có 3 pho tượng Phật bằng vàng nhưng năm 1942 đã bị quân Pháp lấy mất, phải thay bằng 3 tượng đồng.
    Bên cạnh tháp Phước Duyên là những công trình kiến trúc nhỏ nhưng cũng được xây dựng rất công phu là đinh bia bốn mặt có trù cửa cuốn, trong đó có bia khắc bài “Thiên Mụ chung thành” (Tiếng chuông Thiên Mụ). Ở đây còn có quả chuông lớn bằng đồng rất đẹp và quý được đúc từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu, chuông được treo trong tiểu đình lục giác, ai đến cũng khâm phục.
    Giữa tháp và điện là cổng chính, gọi là nghi môn. Vào nghi môn sẽ gặp những pho tượng thần linh cai nghiêm như các vị thiên thần. Sau nghi môn là lầu chuông và lầu trống. Chuông lầu được đúc năm 1815, tuy nhỏ hơn quả chuông trước sân nhưng đây lại là quả chuông thường được ngân lên hàng ngày theo nhịp thời gian. Làm xao động lòng người qua bao thế hệ. Ở Huế có câu: “Tiếng chuông Thiên Mụ Canh gà Thọ Xương” là đây. Mỗi người con xứ Huế dù có đi khắp bốn phương trời, cuộc đời có đổi thay thế nào chăng nữa, thì tiếng chuông Thiên Mụ chắc hẳn vẫn luôn vọng mãi trong tâm cang.
    Trung tâm của chùa Thiên Mụ là điện Đại Hùng nơi thờ Phật gồm 5 gian, hai chái, dài 30m, rộng 25 m, được bài trí rất tôn nghiêm, lộng lẫy. Qua thời gian, bão tố và những cơn binh lửa, kiến trúc ban đầu của chùa không còn nguyên vẹn. Nhưng qua những nền móng còn lại, vẫn thấy được nét độc đáo về kiến trúc của chùa. Ngoài những cổ vật có giá trị văn hóa nghệ thuật như tượng, chuông, hoành phi câu đối sơn son thiếp vàng…
    Tại chùa Thiên Mụ còn lưu giữ chiếc chiếc Khánh được đúc bằng đồng khá lớn, đây là một trong những kỷ vật hiếm hoi còn lại của chùa, ngoài ra; chùa là nơi lưu giữ chiếc ô tô do cố hòa thượng Thích Quảng Đức tự lái đến chỗ tự thiêu giữa Thành phố Sài Gòn để phản đối chế độ độc tài Ngô Đình Diệm cùng với những tư liệu lịch sử về cuộc đấu tranh của phật tử yêu nước thời đó.
    Lúc thanh bình, chùa là nơi để du khách vãng cảnh, thư giãn tinh thần, đáp ứng tâm linh. Khi thiên nhiên nổi giận, nước lũ trào dâng cao, với địa thế riêng của mình, chùa lại là nơi trú ngụ của chúng sanh, cứu vớt họ qua cơn hoạn nạn. cửa chùa đâu cũng thế, nơi thờ Phật vốn đã trang nghiêm thì với một vị trí và địa thế tương đối đặc biệt này là cho Thiên Mụ trỡ thành một ngôi chùa thoáng đảng và thanh thoát trang nghiêm hơn nữa. Có thể nói: Chùa Thiên Mụ xứng đáng được coi là danh lam thắng cảnh vào bậc nhất nhì trong nước Việt Nam chúng ta hiện nay.

    Chùa Thiên Mụ trong thắng cảnh Huế

    Năm 1609, chúa lại lập chùa Kính Thiên ở Thuận Trạch, Quảng Bình. Sau khi chúa dựng xong dinh Quảng Nam ở xã Cần Húc, chúa lại cho lập một ngôi chùa gần đó, gọi là chùa Long Hưng, ở về mé Ðông của trấn.
    Như vậy trong thâm ý của chúa Nguyễn, đạo Phật có thể làm nơi nương tựa tinh thần cho công trình lập quốc của dòng họ Nguyễn. Cũng vì vậy cho nên sau này, các chúa Nguyễn đều tỏ vẻ sùng thượng đạo Phật và nhân dân Ðàng Trong cũng nghênh đón các vị du tăng Trung Quốc với một tấm lòng chân thật, mặn nồng. Trong thời đại chuyển tiếp giữa hai triều Minh Thanh, nhiều cao tăng Trung Hoa đã tới Ðàng Trong hành hóa. Một phần quan trọng của những tổ đình hiện nay là do các thiền sư Trung Hoa sáng lập.
    Chùa Thiên Mụ là một danh lam thắng cảnh vào bậc nhất của cố đô Huế.
    Chùa được xây trên đỉnh một ngọn đồi cao ngay bên bờ sông Hương đối diện vùng đất Long Thọ. Trước cửa chùa có tháp kiến trúc theo hình bát giác, một kiểu bố cục theo hình bát quái. Tháp nầy gồm có 6 tầng đều nhau nhưng càng lên cao thì diện tích lại được thu nhỏ lại. Mỗi tầng có một mái nhỏ chìa ra với những đường nét trang trí khá tinh vi, đều đặn và sinh động lạ thường. Mỗi mặt có một cửa cuốn khá lớn hình chữ nhật nhưng chung quanh có nhiều mô hình long nguyệt. Trên cùng là một mái nhỏ 8 cạnh. Chính giữa có trang trí một hình nậm rượu có mũi nhọn. Chung quanh có những mô hình vân vũ.
    Nhiều vị cao tăng từng được mời về làm trụ trì từ trước đến nay cho nên chùa trở thành nơi quần tụ nhiều thiện nam tín nữ đến nghe thuyết pháp. Có nhiều huyền thoại chung quanh lai lịch của chùa Thiên Mụ được nhiều sách báo xưa nay đề cập đến.
    Một trong những mẫu chuyện đó đã kể lại như sau: Từ những năm tháng trước đó, dân chúng trong vùng nầy đêm đêm thường thấy một bà già mặc áo đỏ quần lục xuất hiện trên một ngọn đồi mà chùa toạ lạc hiện nay. Bà cho biết như sau: Sau nầy sẽ có một vị chân chúa đến lập chùa trong vùng nầy để tụ long khí để cho long mạch được bền vững. Sau khi nói xong thì bà ta biến mất.
    Từ đó ngọn đồi nầy được gọi là Thiên Mụ Sơn (tức là ngọn núi của bà Trời). Sau khi vào trấn thủ đất Thuận Hoá, chúa Nguyễn Hoàng (1558-1613) thường đi tìm những vùng địa thế đặc biệt có đến vùng nầy và được dân chúng kể lại như thế. Chúa Nguyễn tự nghĩ chân chúa đó chính là mình, cho nên đã khuyên dân nên xây chùa tại đây và đặt tên là Thiên Mụ Tự.
    Nhưng nhiều giả thuyết đã không xác định như thời điểm đó. Theo các giả thuyết nầy thì nhiều chứng tích cho rằng chùa đã được xây lên vào năm 1555, tức là khi chúa Nguyễn chưa ra đời.
    Trong sách Ô Châu Cận Lục của Dương văn An viết trong thời điểm đó cũng định cả đến tên của ngôi chùa này rồi. Cũng có thể thời đó ngôi chùa tuy được dựng lên, nhưng chỉ là một thảo am nhỏ, kiến trúc chưa có gì là quy mô, rộng lớn như sau nầy. Thời điểm chúa Nguyễn cho dựng lại chùa vào năm 1601 và quy mô rộng lớn khang trang hơn trước.

    Những triều Nguyễn đã cho xây dựng liên tiếp những phần còn lại trong quần thể chùa nầy. Năm 1665, ngôi chùa nầy cũng đã được chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu với những kiến tạo quy mô hơn. Cuối năm 1695, Hoà thượng Thạch Liêm (Thích Đại Sán) ở Quảng Đông được chúa Nguyễn Phúc Chu mời qua hoằng dương Phật Pháp tại ngôi chùa nầy. Tín đồ đến tham dự ngày càng đông đúc và chùa được nổi tiếng vang khắp nơi từ đó.
    Năm 1710, chúa Nguyễn cũng cho đúc một đại hồng chung và cũng đã viết một bài Ký để khắc trên chuông nầy. Năm 1714, Chúa sai Chưởng Cơ Tống Đức Đại đứng ra trông coi việc trùng tu và cũng đã mở rộng thêm ngôi chùa nầy. Trong dịp nầy, một chương trình trùng tu khá quy mô: chùa được xây thêm điện đài, nhiều đình viện chung quanh, nhà Tăng, nhà Tổ, vọng chuông.
    Theo những tài liệu ghi chép lại đã có 22 công trình xây dựng trong dịp nầy. Công tác chỉnh trang nầy kéo dài trên một năm trời vàcó đến 1012 người thợ và dân phu tham gia trong cuộc xây dựng lần nầy. Tất cả được mô tả là công trình khá hoành tráng. Sau khi sửa chữa xong, một lễ kỳ an kéo dài đến 3 ngày và chúa Nguyễn cũng cho khắc một bài Ký do chính mình soạn thảo để làm kỷ niệm.
    Nhà vua cũng nhờ 3 vị thiền sư Việt Nam sang Trung Hoa thỉnh hơn 1000 bộ kinh Phật Giáo nổi tiếng về tàng trữ tại ngôi chùa nầy để phát triển thêm tư tưởng Phật Giáo. Cho đến đời Tây Sơn nắm quyền hành (1786-1801) thì chùa Thiên Mụ đã bị nạn binh đao tàn phá rất nặng nề. Có đến 3/4 công trình đã bị hủy hoại.
    Theo tài liệu của Phan huy Ich, đã có thời kỳ triều đình Tây Sơn đã dùng ngôi chùa nầy làm đàn Xã Tắc để cúng tế cầu đảo hằng năm. Đời nhà Nguyễn, vào những năm 1815 và 1831, vua Gia Long và vua Minh Mạng đã sai quan Lễ Bộ Tham Tri đứng ra điều khiển việc tu sửa lại ngôi chùa danh tiếng nầy.
    Năm 1844, để kỷ niệm bà Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu (vợ của vua Gia Long) thọ 80 tuổi (Bát tuần Thánh Thọ), vua Thiệu Trị đã cử Thống Chế Hoàng Văn Hậu đứng ra điều khiển việc kiến trúc lại ngôi chùa nầy trên một quy mô rộng lớn: xây thêm tháp Phước Duyên, đình Hương Nguyện, dựng lại hai tấm bia ghi lại thơ văn nhà vua.
    Chùa Thiên Mụ cũng được chọn làm một trong 20 thắng cảnh nổi tiếng của đất Thần Kinh, qua bài Thiên Mụ Chung Thanh:
    Cao cương cổ sát trấn tiền xuyên, Nguyệt tướng thường viên tự tại nhiên. Bách bát hồng thanh tiêu bách kết, Tam thiên thế giới tỉnh tam duyên. Tăng hoằng ngọ nhật u minh cảm, Liêu lượng dẫn tiêu đạo vị huyền. Phân tích Thánh công thùy hải vũ, Thiện nhân tăng quả phổ cai diên.
    Nghĩa là:
    Gò cao chùa cổ bên sông, An nhiên nguyệt tướng, mặt vòng tròn gương. Niệm tan phiền no sầu thương, Ba ngàn thế giới, tỉnh đường ba sinh. Chuông rền cảm giới u minh, Ban mai tiếng tụng, hiển linh đạo huyền. Thánh công Phật Tích lưu truyền Nhân lành, quả tốt, khắp miền nước non. (Bản dịch của Nguyễn Quảng Tuân)
    Năm 1899, để đóng góp công đức cho chùa nhân dịp lễ Cửu Tuần Đại Tiết của bà Từ Dũ (vợ của vua Thiệu Trị), vua Thành Thái đã ra lệnh cho bộ Công tu bổ lại tháp Phước Duyên và dựng bia để kỷ niệm. Năm năm sau đó (1904) một trận bão dữ dội đã gây cho ngôi chùa nầy nhiều thiệt hại nặng nề, mà trong đó, đình Hương Nguyện đã bị sụp đổ. Mùa thu năm 1907 thì chùa được trùng tu lại.
    Tháng ba năm 1920, vua Khải Định lại cho dựng bia đá gần tháp Phước Duyên, để khắc một bài thơ ngự chế nội dung ca ngợi cảnh chùa. Đợt sau cùng, chùa Thiên Mụ đã được đại tu bổ vào cuối năm 1957. Trong đợt nầy, phần lớn những bộ phận kiến trúc trong điện Đại Hùng đều được thay thế bằng bê tông cốt sắt. Thiên Mụ trở thành một trong những danh lam nổi tiếng nhất của đất Thần Kinh.
    Thiên Mụ được nhắc nhở nhiều trong thi ca âm nhạc, hội họa nhiếp ảnh, để lôi cuốn du khách bốn phương cảngười nước ngoài.
    Không một tập Kỷ Yếu nào viết về Huế mà không có hình tháp của Thiên Mụ. Cơ quan UNESCO trong chương trình trùng tu Huế đã đưa Thiên Mụ lên hàng cao. Đại hồng chung Thiên Mụ là được liệt vào một trong những công trình kiến trúc và điêu khắc nổi tiếng củavùng đất Thần Kinh. Căn cứ theo những tài liệu lịch sử và kiến trúc đất Thần kinh thì công trình đúc chuông nầy là do chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1727) đề xướng.
    Năm 1710 việc đúc đại hồng chung nầy hoàn tất. Một đại trai đàn được tổ chức vô cùng trọng thể sau khi chùa xây xong. Tính ra thì chuông nặng trên 2000kg và chiều cao đến 2,5 mét đường kính của chuông là 1,4 mét. Trên mặt của chuông có khắc 8 chữ Thọ theo lối chữ triện; ở giữa thân chuông chia làm 4 khoảng, có khắc bài Minh của chúa Nguyễn Phúc Chu.
    Những hình long,vân, nhật, tinh được chạm nổi; phía dưới khắc hình bát quái và sóng nước. Chuông có chiếc quai rất lớn đúc bằng đồng, hình sóng nước. Thân chuông được phân chia ra nhiều phần trang trí khác nhau.
    Nhiều vòng song song được bố trí đều từ quai đến đáy chuông. Vòng thứ 1: Vòng trang trí hoa dây. Vòng thứ 2: Bốn đôi rồng chầu mặt nguyệt. Vòng thứ 3: Tám chữ Phúc. Vòng thứ 4- Vòng trang trí kỹ hà. Vòng thứ 5- Bài thơ của chúa Nguyễn. Vòng thứ 6 - Những đường song song trên có 4 vòng cao. Vòng thứ 7 - Hình hậu thiên bát quái. Vòng thứ 8 - Hình bát bửu. Vòng thứ 9- Hình sóng nước.

    Tháp Phước Duyên

    Tháp Phước Duyên nằm trong khu vực trước chùa Thiên Mụ Huế. Vào trung tuần tháng ba năm Giáp Thìn, niên hiệu Thiệu Trị thứ 4(1844), nhân ngày lễ bát tuần của Thái Hoàng Thái Hậu Nhân Tuyên Tử Khánh (tức Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu, bà nội của vua Thiệu Trị), cũng là người nuôi dưỡng vua Thiệu Trị, vì mẹ của vua mất sau khi sanh xong có 13 ngày. Vua cho lập chùa Diệu Đế (nơi vua Thiệu Trị sanh ra và sanh sống lúc còn nhỏ), đồng thời xây tháp bảy tầng trước Nghi Môn chuà Thiên Mụ; tháp được đặt tên là Từ Nhân và đình Hương Nguyện ở trước tháp nầy.
    Việc xây tháp Từ Nhân và đình Hương Nguyện được giao cho Hổ Uy Thống chế Huỳnh Văn Hậu làm Đổng Lý. Theo sách Đại Nam Thực Lục Chánh Biên có ghi chép về việc xây ngôi tháp nầy như sau:- Năm Giáp Thìn, Thiệu Trị thứ tư, tháng 3, lập Tháp bảy tầng ở chùa Thiên Mụ. Bắt đầu xây tháp bảy tầng chùa Thiên Mụ gọi là tháp Từ Nhân, trước tháp xây đình Hương Nguyện, giao cho Hổ UyThống Chế là Huỳnh Văn Hậu đổng lý mọi việc...
    Việc xây tháp Từ Nhân và đình Hương Nguyện có lẽ cũng do bộ Binh phái thợ và binh lính đến xây cất như trường hợp chùa Diệu Đế (Gia Hội). Hiện chưa biết rõ việc xây tháp nầy được tiến hành như thế nào, vì không còn tài liệu nào lưu trữ; chỉ được biết tháp và đình được hoàn thành vào tháng 7 năm Ất Tị (1845); vua Thiệu Trị cho đổi tên là "Bảo Tháp Phước Duyên". Sách Đại Nam Thực Lục ghi thêm các chi tiết:- Năm Ất Tị, Thiệu Trị thứ 5, tháng 7, đổi tên tháp Thiên Mụ: Tháp Từ Nhân xây xong, nhà vua đổi tên là "Phước Duyên bảo tháp", lấy ý nghĩa là: mười phương công đức phước duyên, muônviệc đều lành...Sau đó, lại mở trai đàn tại chùa Thiên Mụ; sai Thự Chưởng Vệ Tôn Thất Cung và Thị Lang Tôn Thất Hiệp đổng lý việc trai đàn nầy.Khi bảo tháp mới tạo thành, nhà vua và những người trong Hoàng tộc cùng một số văn quan trong triều đến vãn cảnh, đồng thời cũng đã làm thơ văn để lưu niệm việc xây tháp và đình Hương Nguyện. Sau khi tháp Phước Duyên được hoàn thành, các Hoàng tửchọn ngày mồng 6 tháng 7 năm đó (Ất Tị) cung nghinh kim thân Thế Tôn đưa vào bảo tháp và tụng kinh Chúc Hổ. Năm sau (1846) vuaThiệu Trị viết văn bia kể lại việc xây tháp Phước Duyên và bài thơ "Thiên Mụ chung thanh" khắc vào bia đá tại chùa nầy. Tháp Phước Duyên có 7 tầng, cao 5 trượng, 3 thước 2 tấc (21,2mét).
    Tháp xây theo hình khối bát giác (có 8 mặt) bên trong, từ tầng thứ 2 trở lên đỉnh có bực thang đi lên theo hình xoắn ốc. Bảy tầng nầy thờ 7 vị Phật khác nhau: Tầng thứ nhất thờ Phật quá khứ Tì Bà Thi; tầng thứ hai thờ Phật Thi Khi; tầng thứ ba thờPhật Thi Xá Phù; tầng thứ tư thờ Phật câu Lưu Tôn; tầng thứ năm thờ Phật Câu Na Hàm Mâu Ni; tầng thứ sáu thờ Phật Ca Diếp; tầng thứ bảy thờ Trung Nhiên Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật; đứng hầu hai bên Ngài là Tôn Giả Ca Diếp và Tôn Giả An Nan. Bảy tượng Phật nầy lúc trước bằng vàng y, tượng Phật ở tầng trên cao lớn hơn tượng Phật ở tầng thấp. Tượng Phật Tì Bà Thi ở tầng dưới cùng nặng 25kg, tượng Phật Thích Ca Mâu Ni ở tầng thứ 7 nặng đến 300kg.
    20 THẮNG CẢNH
    Thần kinh nhị thập cảnh, tức 20 thắng cảnh của đất Huế đã từng được vua Thiệu Trị xếp hạng và vịnh thơ hồi giữa thế kỷ XIX. Trải qua bao cuộc dâu bể, đến nay cả 20 thắng cảnh này hầu như đều đã không còn, hoặc giả còn thì cũng đã biến đổi rất nhiều. Trong công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị di sản của tiền nhân, nhóm nghiên cứu của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã có nỗ lực đáng kể qua việc sưu tầm, dịch thuật và giới thiệu về 20 thắng cảnh này qua công trình Thần kinh nhị thập cảnh - Thơ vua Thiệu Trị (Nxb Thuận Hóa, Huế-1997). Tuy nhiên, sự giới thiệu về Thần kinh nhị thập cảnh trong công trình trên chủ yếu mới nằm ở khâu khai thác tư liệu và phần bình thơ; những thông tin về tình trạng hiện nay của 20 thắng cảnh ấy cùng những dấu ấn còn lại vẫn còn thiếu khá nhiều. Đây cũng chính là phần mà chúng tôi muốn bổ khuyết trong bài viết nhỏ này.
    Theo sự bình chọn, sắp xếp của vua Thiệu Trị, 20 thắng cảnh của đất Thần kinh gồm những cảnh được sắp xếp theo thứ tự sau:
    1-Trùng Minh Viễn Chiếu (cảnh lầu Minh Viễn trong Tử Cấm Thành)
    2-Vĩnh Thiệu Phương Văn (cảnh vườn Thiệu Phương- trong Tử Cấm Thành)
    3-Tịnh Hồ Hạ Hứng (cảnh hồ Tịnh Tâm-Trong Kinh Thành)
    4-Thư Uyển Xuân Quang (cảnh vườn Thư Quang- Trong Kinh Thành)
    5-Ngự Viên Đắc Nguyệt (cảnh vườn Ngự -trong Tử Cấm Thành)
    6-Cao Các Sinh Lương (cảnh hồ Nội Kim thủy -trong Hoàng thành)
    7-Trường Ninh Thùy Điếu (cảnh cung Trường Ninh-trong Hoàng thành)
    8-Thường Mậu Quan Canh (cảnh vườn Thường Mậu-trong Kinh thành)
    9-Vân Sơn Thắng Tích (cảnh chùa Thánh Duyên trên núi Thúy Vân)
    10. Thuận Hải Qui Phàm (cảnh biển Thuận An)
    11. Hương Giang Hiểu Phiếm (cảnh sông Hương)
    12. Bình Lãnh Đăng Cao (cảnh núi Ngự Bình)
    13. Linh Quán Khánh Vận (cảnh quán Linh Hựu-trong Kinh thành)
    14. Thiên Mụ Chung Thanh (cảnh chùa Thiên Mụ)
    15. Trạch Nguyên Tao Lộc (cảnh đầu nguồn sông Hương)
    16. Hải Nhi Quan Ngư (cảnh phá Hà Trung)
    17. Giác Hoàng Phạm Ngữ (cảnh chùa Gíac Hoàng-trong Kinh thành)
    18. Huỳnh Tự Thư Thanh (cảnh trường Quốc Tử Gíam)
    19. Đông Lâm Dực Điểu (cảnh rừng Đông Lâm-huyện Hương Thủy)
    20. Tây Lãnh Thang Hoằng (cảnh suối nước nóng-huyện Hương Trà
    Kiêm Đạt


    Chùa Quốc Ân

    Dấu ấn văn hóa Phật giáo xứ Đàng trong

    Mặc dầu không danh tiếng như những quốc tự ở xứ Huế như chùa Thiên Mụ, Thánh Duyên, Diệu Đế, Giác Hoàng... nhưng chùa Quốc Ân lại là một trong những ngôi tổ đình danh tiếng và lâu đời bậc nhất tại cố đô. Đặc biệt là cho đến ngày nay, chùa Quốc Ân vẫn còn bảo lưu được nhiều dấu ấn văn hóa Phật giáo trong các thời kỳ từ Thuận Hóa đến Phú Xuân và Huế ngày nay.
    Theo sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, mục Chùa quán ghi về chùa Quốc Ân: “Ở ấp Lương Cải, xã Phú Xuân, huyện Hương Thủy. Tương truyền, chùa do Hoán Bích thiền sư dựng, bản triều Hiển Tông cho hai câu đối, phía tả câu đối khắc tám chữ “Quốc vương Thiên Túng Đạo Nhân ngự đề, nay vẫn còn. Phía dưới chùa có tháp Phổ Đồng, cũng do Hoán Bích thiền sư dựng. Đầu đời Gia Long, Mật Cương hòa thượng sửa lại”.
    Hoán Bích là pháp tự của Tổ sư Nguyên Thiều, người ở Triều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc sang hoằng hóa ở Việt Nam vào năm 1665 ở tại phủ Quy Ninh (nay là Bình Định) lập chùa Thập Tháp-Di Đà. Vào khoảng năm 1683-1684, dưới thời chúa Hiền Nguyễn Phước Tần (1648-1687) Tổ Nguyên Thiều ra Phú Xuân ở xứ Thuận Hóa dựng chùa Vĩnh Ân (nay là Quốc Ân) tại chân đồi Hòa Thiên phía trái núi Ngự Bình nay thuộc phường Trường An, Huế. Thời ấy, chùa Quốc Ân là một ngôi tổ đình danh tiếng bậc nhất và có vai trò lịch sử rất quan trọng đối với Phật giáo xứ Đàng Trong...
    Chùa trải qua nhiều lần trùng tu theo sự thăng trầm của thế cuộc. Vào năm 1786 chiến sự giữa nhà Nguyễn và Tây Sơn nổ ra, chùa Quốc Ân bị tàn phá rất nặng nề, trong đó đặc biệt nhất là ngôi tháp Phổ Đồng đã bị phá hủy hoàn toàn. Chùa chỉ lưu giữ được một số bia ký, văn khế và một số tượng khí, pháp khí. Đến năm 1806, khi Long Thành Thái trưởng công chúa cúng 300 quan tiền thì chùa mới được tu sửa. Minh Mạng năm thứ 3 (1822), Hòa thượng Mật Hoằng dâng sớ xin trùng tu chùa Quốc Ân được nhà vua cấp 500 quan tiền và các vật dụng. Trong đợt trùng tu này, chùa xây dựng lại chánh điện, chú tạo lại tôn tượng Phật A Di Đà, tổ đường và long vị chư Tổ... Năm 1851, Hòa thượng Từ Hòa-Liễu Triệt tiếp tục trùng tu và dựng cổng tam quan. Sau đó ít lâu, chùa được Thái trưởng công chúa cúng dường 400 quan tiền, Hòa thượng Liễu Chơn tu tạo tượng Phật Thích Ca và Di Lặc...
    Mặc dầu chùa Quốc Ân đã trải qua nhiều lần trùng tu, nhưng điều đặc biệt và đáng được quan tâm hơn hết là cứ mỗi lần trùng tu là mỗi lần để lại cho chùa những dấu ấn văn hóa Phật giáo tương ứng với các thời kỳ khác nhau của lịch sử. Vì vậy, chùa Quốc Ân ngày nay có thể nói là một trong những ngôi tổ đình ở Huế còn lưu lại nhiều dấu ấn văn hóa xưa quý nhất của Phật giáo xứ Thuận Hóa.
    Điển hình nhất là lối kiến trúc chùa Quốc Ân theo kiểu chữ khẩu truyền thống của xứ Thuận Hóa xưa. Chùa hiện lưu giữ được nhiều tượng khí và pháp khí xưa quý từ thời khai sơn cho đến nay. Như bộ tượng Tam Thế Phật, tượng Phật Thích Ca được chú tạo vào khoảng năm 1851. Gian bên trái thờ Bồ tát Quan Thế Âm, hai bên là Hộ pháp, phía trước thờ Bồ Đề Đạt Ma, gian bên phải thờ Quan Thánh (Quan Vân Trường), các tượng khí này đều do Tổ Nguyên Thiều mang đến từ Trung Hoa. Hậu liêu thờ chân dung Tổ Nguyên Thiều và nhiều long vị của chư tổ và chư vị trú trì kế thế... Ngoài ra, chùa còn lưu giữ chiếc khánh đồng có hoa văn rất đẹp đúc từ thời Minh Mạng và nhiều pháp bảo, pháp khí khác như đại hồng chung, bia ký...
    Ngày nay, đến chiêm bái tham quan chùa Quốc Ân, chúng ta như đi vào một bảo tàng thu nhỏ trưng bày thờ tự nhiều tượng khí, pháp khí mang những dấu ấn văn hóa đặc trưng của Phật giáo xứ Đàng Trong nói chung và xứ Thuận Hóa nói riêng. Cũng chính vì lẽ đó, ngày 8-10-1993 UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế đã ra quyết định số 1046 bảo vệ chùa Quốc Ân.

    12.                         Phật Viện Đồng Dương – Quảng Nam

    Di tích Phật viện Đồng Dương nằm trên địa phận làng Đồng Dương, xã Bình Định, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 65 km về phía Tây Nam. Theo nội dung tấm bia tìm thấy tại Đồn Dương, năm 875 vua Indravarman II đã cho xây dựng một tu viện Phật giáo và đền thờ vị Bồ Tát bảo hộ cho vương triều là Laskmindra Lôkesvara Svabhyada.
    Tính chất Phật giáo Đại thừa được thể hiện rõ qua nội dung bi ký cũng như các tác phẩm điêu khắc ở Đồng Dương. Dưới triều đại của Indravarman II, kinh đô của vương quốc Chămpa lại được dời từ vùng Panduranga trở ra vùng Amaravati, văn bia này cho biết tên của kinh đô mới là Indrapura, theo một số nhà nghiên cứu thì địa điểm xây dựng kinh đô Indrapura là khu vực làng Đồng Dương ngày nay.
    Đáng tiếc là khu di tích quan trọng vào bậc nhất của kiến trúc Phật giáo Champa đã bị tàn phá nặng nề bởi thiên nhiên và chiến tranh, hiện nay trong khu di tích này chỉ còn một mảng tường tháp mà nhân dân địa phương thường gọi là "Tháp Sáng", cùng với nền móng các công trình kiến trúc và một số đồ trang trí kiến trúc.
    Năm 1901, L.Finot, một học giả người Pháp, đã công bố việc phát hiện 229 hiện vật ở Đồng Dương, trong đó có một tượng Phật bằng đồng cao 108cm (hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh), tượng Phật đứng trên tòa sen, Phật mặc áo cà sa để hở vai bên phải, các nếp áo uốn cong xếp theo hình các luống cày, 2 tay bắt ấn đưa về phía trước. Theo các nhà nghiên cứu thì pho tượng này mang nhiều yếu tố của nghệ thuật Ấn Độ.
    Năm 1902, H.Parmentier đã khai quật khu Đồng Dương, ông đã tìm thấy khu kiến trúc chính của Thánh địa cùng với nhiều tác phẩm điêu khắc quí giá.
    Theo khảo tả của H.Parmentier, toàn bộ khu đền thờ chính và các tháp nằm lân cận phân bố trên một trục từ Tây sang Đông, dài khoảng 1.300m. Khu đền thờ chính nằm trong một khu vực hình chữ nhật, dài 326m, rộng 155m, chung quanh có tường gạch bao bọc, từ khu đền chính có một con đường dài khoảng 760m, chạy về phía Đông đến một thung lũng hình chữ nhật.
    Khu đền thờ chính gồm có 3 nhóm kiến trúc kéo dài theo trục Đông Tây, các nhóm này được phân cách nhau bởi những bờ tường xây bằng gạch :
    + Nhóm phía Đông : chỉ còn lại dấu vết nền móng của khu nhà dài mà các nhà nghiên cứu cho là tư viện Phật giáo (Vihara). Ngôi nhà dài này có mặt bằng hình chữ nhật với hai hàng cột song song theo trục Đông Tây, mỗi hàng có 8 cột xây bằng gạch, mái nhà có bộ khung gỗ và lợp ngói. Trong khu vực này có một bệ thờ lớn bằng sa thạch, được chạm trổ nhiều hình người và hoa văn rất tinh tế. Phía trên bệ thờ là một pho tượng Phật Thích Ca rất lớn, ngồi trên ghế, hai bàn tay để trên đầu gối, kiểu giống như vua Champa ngồi trên ngai vàng, hai chân buông thòng xuống, Phật khoác áo choàng phủ bên vai phải buông xuống cổ tay, đầu của pho tượng Phật này đang trưng bày tại Bảo tàng Guimet (Pháp), chiếc đầu trên pho tượng hiện nay ở Bảo tàng NTĐK Champa Đà Nẵng được làm bằng đất sét, không giống với nguyên bản.
    Trong khu vực này còn tìm thấy một số tượng Dharmapala (những vị thần bảo vệ giáo luật của đạo Phật) ở trên những bệ đá cạnh hai hàng cột gạch.
    Hiện nay tại BTĐK Champa Đà Nẵng đang trưng bày nhóm 3 tượng ký hiệu 3.5, 3.6, 3.7, gồm 2 pho tượng ngồi theo kiểu Java và một pho tượng đứng theo kiểu lệch hông. Những pho tượng này có gương mặt hơi nặng nề, lông mày giao nhau, cánh mũi lớn, bộ ria mép rậm trên đôi môi dày, bộ râu quai nón được tỉa ngắn. Đầu đội Mukuta có 2 tầng, được trang trí 3 đóa hoa lớn hình lá đề, đeo đôi hoa tai lớn. Y phục là loại sampot có thân lớn ở phía trước, được trang trí những hình hoa và sọc và xen kẻ. Theo H.Parmentier thì đây là những tượng thần Siva bởi giữa trán những nhân vật này có con mắt thứ ba hình thoi, nhưng theo J.Boisselier, đó là những Daharmapala với một urna hình thoi trên trán.
    + Nhóm giữa : chỉ còn lại dấu vết các chân tường, các bậc thềm của một ngôi nhà dài theo trục Đông Tây. Ngôi nhà này có tường gạch không dày lắm, cửa ra vào nằm ở hai đầu hồi, trên 2 vách tường có nhiều cửa sổ. Ngôi nhà này cũng được lợp ngói. Ở đây có 4 pho tượng Hộ pháp (Dvarapala) khá lớn, cao khoảng 2m, các nhà nghiên cứu cho rằng đó là những tác phẩm gây ấn tượng mạnh trong nghệ thuật điêu khắc Champa.
    + Nhóm phía Tây : gồm các đền thờ chính và các tháp phụ chung quanh, đền thờ này thuộc loại tháp truyền thống của kiến trúc Champa; với mặt bằng hình tứ giác, cửa ra vào ở hướng Đông, phía trước có tiền sảnh khá dài, quanh các mặt tường có trụ ốp tường được chạm những dải hoa văn cành lá cách điệu rậm rịt và xoắn xít như dạng vết sâu bò, đó là loại hoa văn đặc trưng của phong cách Đồng Dương.
    Quanh chân tháp trang trí những hình đầu voi và những hình tháp thu nhỏ nằm xen kẻ nhau. Trong đền thờ có một bệ thờ lớn bằng sa thạch, chạm trổ những dải hoa văn hình vết sâu bò, những cảnh sinh hoạt trong cung đình, một số cảnh trích đoạn về cuộc đời Đức Phật Thích Ca. Những đường nét thể hiện trên các tượng người ở Đồng Dương được thể hiện cường điệu quá mức, đàn ông có gương mặt gần như vuông, trán thấp, cung lông mày to rậm và giao nhau, mũi to, miệng rộng, môi dày, ria mép rậm. Tượng phụ nữ có gương mặt hơi thô và bộ ngực quá lớn.
    Năm 1978, nhân dân địa phương đã đào được một pho tượng Nữ thần làm bằng đồng thau, cao 114 cm, ở gần khu đền thờ chính. Đây là pho tượng Bồ Tát Laskmindra - Lokesvara, Nữ thần đứng thẳng, hai cánh tay để dọc theo thân, hai bàn tay cầm hai đóa sen đưa về phía trước, thân trên để trần, lộ ra bộ ngực lớn và tròn; thân dưới mặt một sarong dài chấm mắt cá chân, tấm choàng ngoài sarong xếp nếp hình luống cày, cuộn vào trong để lật một múi ra ngoài. Gương mặt Nữ thần mang đậm nét phong cách Đồng Dương; hai hàng lông mày rậm và giao nhau, cánh mũi to, môi dày; ở giữa trán Nữ thần có con mắt thứ 3 hình thoi, có lẽ được khảm bằng một hạt ngọc (đã bị mất từ lâu); mái tóc được búi cao hình chóp, phía trên có hình Phật A-Di-Đà. Pho tượng này không những là tượng đồng lớn nhất trong nghệ thuật Champa mà chúng ta đã biết, theo J.Boisselier, đây còn là một trong những tượng đồng Tara quan trọng nhất ở vùng Đông Nam Á. Các nhà nghiên cứu cho rằng trước kia pho tượng này được đặt trên bệ thờ của đền thờ chính.
    Phần lớn các tác phẩm điêu khắc ở Đồng Dươngduwowcj trưng bày tại Bảo tàng điêu khắc Champa Đà Nẵng. Những tác phẩm điêu khắc của thời kỳ này đã hình thành nên phong cách Đồng Dương nổi tiếng trong nghệ thuật Champa từ giữa đến cuối thế kỷ IX.
    Tháng 9/1996 Viện Khảo cổ học Việt Nam, trường Đại học Quốc gia Hà Nội và Bảo tàng Quảng Nam - đà Nẵng đã phối hợp khảo sát tại làng Đồng Dương. Các nhà khảo cổ đã nhận thấy, ngoài nhữngdấu tích kiến trúc của khu Phật viện, dấu vết cư trú của con người thời kỳ vương quốc Champa tại làng Đồng Dương không nhiều.
    Khu vực làng Đồng Dương khí hậu rất khắc nghiệt, đất đai khô cằn, lớp đất canh tác chỉ dày khoảng (40-50cm, có nơi chỉ dày 20cm, bên dưới là tầng đá ong, đây không phải là nơi thuận tiện để xây dựng kinh đô, có thể nói Đồng Dương chỉ tuần túy là khu Thánh địa Phật giáo của vương quốc Champa, còn kinh thành Indrapura phải là một khu vực rộng lớn hơn, nằm ngoài khu Phật Viện Đồng Dương.

    13.                         Chùa Linh Phước - Lâm Đồng

    Tọa lạc tại số120 TựPhước, Trại Mát, phường 11, thành phốĐà Lạt, cách trungtâm thành phốĐà Lạt khoảng 8km, bên quốc lộ20. Chùa được xây dựng vào năm 1049và hoàn thành năm 1952. Chùa đã quan 5 đời trụtrì là: Hoà thượng Thích Minh Thể (1951 – 1954), Hoà thượng Thích An Hòa (1954 – 1956), Thượng toạThích QuảngPhát (1956 – 1959), Hòa thượng Thích Minh Đức (1959 – 1985) và Đại đức Thích TâmVị(từ1985 đến nay).
    Ban đầu, chùa chỉlà một ngôi tựnhỏ, do một số tăng ni, Phật tửtừThừa Thiên – Huếđến xây dựng từnăm 1949. Năm 1990, Đại đứcThích Tâm Vịđã tổchức đại trùng tu ngôi chùa khang trang hơn và xây cổng tamquan ngay mặt đường đểkhách thập phương tiện đến lễbái. Sau khi trùng tu, diệntích ngôi chùa tăng gấp đôi và kiến trúc do các nghệnhân Huếthực hiện.
    Sân chùa có điện thờPhật Bà Quan Âm. Ngôi chánh điện có chiều dài 33m,chiều rộng 22m, được xây dựng quy mô. Trần nhà được đỡbằng 12 cột rồng khảmmảnh sành. Trong điện, bảo tượng đức Bổn sưThích Ca Mâu Ni uy nghi thiềnđịnhtrên tòa sen cao 4.9m được thếp vàng rực rỡ. Hai bên tượng đức Phật là hai bứcphù điêu Bồtát Văn Thù và Bồtát PhổHiền. Quanh tường lã những bức phù điêu kể lại lịch sửcủa Đức Phật, được khảm bằng miểng chén sứvới nghệthuật rất tinhvi và độc đáo.
    Mặt trước chánh điện là tháp Đa Bảo cao 27m. Hai bên tháplà hai lầu chuông và lầu trống. Trong bảo tháp có những bức phù điêu vềsựhóathân của Bồtát Quan ThếAm, nhưng bức phù điêu chạm nổi 500 vịLa hán. ỞlầuĐại Bi, có tôn trí bảo tượng BồtátQuan ThếÂm nghìn mắt nghìn tay.
    Bên phải bảo tháp là tổđường và vườn hoa. Cổng Văn Thù và Long Hoa viên ởbên tráingôi chánh điện. Ơđây có hòn giảsơn, hồnước, vườn hoa phong lan, cây kiểng vàđặc biệt là con rồng dài 49m, rộng 1,3m. Vẩy rồng được làm bằng 12.000 vỏchaibia. Đầu rồng vươn cao hơn 7m che phủtượng Bồtát Di Lặc ởhòn giảsơn dựa theotích Pháp hội Long Hoa. Điểm đặc biệt của chùa là cách thiết kếđộc đáo, trangtrí toàn bằng các loại chén kiểu, ly, những vỏchai bia… Do đó, chùa còn đượcgọi là Chùa Chén Kiểu.
    Ngoài những kiến trúc trên, chùa Linh Phước còncó một Đại hồng chung khổng lồcao 4,3m, rộng 2,2m và nặng gần 10 tấn được đúcnăm KỷMão 1999, đặt trong tầng một của một tháp cao 7 tầng. Việc đúc chuông cósựđóng vật lực, tài lực của Phật tửvà du khách từBắc chí Nam. Một nhóm nghệ nhân Huếđã có 3 đời đúc chuông được mời đến đã dành hơn 1 năm đểtạo khuôn, đúcvà chạm khắc những hình ảnh trên chuông, bao gồm các ngôi chùa nổi tiếng củanước ta, tượng Phật nghìn mắt nghìn tay, các thắng cảnh… Tháp này được gọi làLinh Tháp, cao 36m, được xem là bảo tháp cao nhất Đà Lạt hiện nay. Đây cũng lànơi thờPhật, tôn trí xá lợi và cũng là bảo tàng viện.
    Nhiều năm qua,Chùa Linh Phước đã trởthành một điểm tham quan không thểthiếu trong những tourdu lịch Đà Lạt. Thông thường ngươì thiết kếtour sẽđưa du khách đến chùa LinhPhước sau đó sẽđến khám phá thác Hang Cọp cách đó khoảng 8 km. TừĐà Lạt dukhách có thểđến chùa Linh Phước bằng xe lửa đểngắm nhìn cảnh quan núi rừng,vườn hoa, vườn rau chập chùng xen lẫn với rừng thông trên đoạn đường 7 km. Vì gađến cổng chùa chỉkhoảng 50m, nếu đi xe máy hoặc taxi thì quý khách mất khoảng15 phút. Khi đã đến Đà Lạt, bạn hãy đểdành một lời cầu khấn đểgửi gấm ởLinhPhước tựchắc bạn sẽđược toại nguyện. Nơi đây được đánh giá là một công trìnhvăn hóa nghệthuật mang đậm màu sắc Á Đông, là một danh lam thắng cảnh nổi tiếngcủa thành phốhoa.

    15. Thiền viện Trúc Lâm - Lâm Đồng

    Đây là ngồi chùa to nhất, bề thế nhất ở Đà Lạt hiện nay. Từ trung tâm thành phố Đà Lạt, đi về hướng núi Phượng Hoàng cách Đà Lạt 4km theo đường chim bay do hòa thượng Thích Thanh Từ khởi từ đầu thập niên 90; theo con đường uốn lượn giữa rừng thông bạt ngàn một màu xanh thẳm, Thiền viện Trúc Lâm toạ lạc trên đỉnh núi, trong một khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, được xếp hạng là đệ nhất thắng cảnh của thành phố Đà Lạt. Bên phải thiền viện là hồ Tuyền Lâm rộng lớn, mặt hồ trong xanh, soi bóng rặng núi bên hồ. Không gian yên tỉnh, cảnh sắc muôn màu xen lẫn những kiến trúc mang vẻ cổ kính, đậm đà bản sắc dân tộc.
    Thiền viện có diện tích 24,5ha do Hòa thượng Thích Thanh Từ khởi lập từ ngày 8/4/1993 và hoàn thành ngày 8/2/1994. Bản phác thảo đầu tiên có sự tham gia của kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Viết Thụ. Thiền viện là sự kết hợp hài hòa của kiến trúc kim cổ, trông nhẹ nhàng và thanh thoát. Thiền viện Trúc Lâm tuy không có vẻ đẹp cổ kính, nguy nga như các chùa chiền khác nhưng nơi đây lại ẩn chứa bao điều huyền nhiệm của thế giới tâm linh.
    Thiền viện có 4 khu vực riêng biệt: khu ngoại viện dành cho khách thập phương bá tánh; khu thiền thất của Hòa thượng Viện trưởng và thất của Chư Tôn Đức; khu nội viện tăng và Khu nội viện ni.
    Thiền viện Trúc Lâm được xem như là thiền viện lớn nhất trong cả nước về không gian lẫn quy mô tu tập. Đến năm 2000, thiền viện Trúc Lâm có 120 tăng, ni và là nơi tu học của các cư sĩ Phật giáo cả nước. Hằng ngày, các tu sĩ ở đây phải dậy vào lúc 3h sáng và phải ngồi thiền 3 “thời” trong một ngày. Mỗi thời là 2 giờ. Sau đó sám hối “Lục Căn” (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) theo “Khóa Hư Lục” của Trúc Lâm Đầu Đà (thượng hoàng Trần Nhân Tông) xưa biên soạn nhằm giải thoát cho chính mình. Thiền viện không tụng kinh bằng tiếng Phạn hay tiếng Hán như các chùa khác mà bằng tiếng Việt dễ hiểu. Thiền viện cũng không theo lễ nghi cúng tế hay đi tụng kinh đám ma, mà chỉ tập trung răn dạy tu sĩ và Phật tử phải “Thiền Định” để tự sửa mình. Các tăng ni muốn thành tu sĩ của thiền viện Trúc Lâm phải tốt nghiệp ít nhất lớp 12 và phải học qua trường Phật học căn bản, hoặc ít nhất có 3 năm tu học ở các chùa và được chính Hòa thượng Viện trưởng tuyển chọn. Tuổi đời được giới hạn từ 18 đến 55. Sau 2 năm tu học ở thiền viện mới được “Nhập Thất” toạ thiền từ 49 đến 90 ngày trong một căn phòng rộng 9m2 và mới có thể trở thành một thiền sư thực sự.
    Trong chánh điện thiền viện Trúc Lâm chỉ tôn trí một Tượng Phật Thích Ca tay cầm cành hoa sen đưa lên mỉm cười. Ngay phía ngoài là toà bảo tháp uy nghiêm, bên trong treo một đại hồng chung cao 1,98m, nặng 1,1 tấn được đúc ở Huế, trên có khắc bài thơ của Trúc Lâm Đầu Đà:

    Phải trái rụng theo hoa buổi sớm
    Lợi danh lạnh với trận mưa đêm
    Hoa tàn mưa tạnh non im vắng
    Xuân cỗi còn nguyên một tiếng chim

    ****

    Thiền Viện Trúc Lâm là thiền viện thuộc dòng Trúc Lâm Yên Tử chi nhánh thành phố Đà Lạt. Thiền viện cách trung tâm thành phố Đà Lạt 5 km, nằm trên núi Phụng Hoàng, phía trên Hồ Tuyền Lâm. Đây không chỉ là thiền viện lớn nhất Lâm Đồng mà còn là điểm tham quan hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước.
    Lịch sử
    Thiền viện bắt đầu được xây dựng vào năm 1993, đến năm 1994 thì hoàn thành, bản thiết kế do kiến trúc sư Vũ Xuân Hùng và Trần Đức Lộc vẽ và có sự tham gia thiết kế của kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Viết Thụ (người thiết kế Dinh Độc Lập - nay là Dinh Thống Nhất, thành phố Hồ Chí Minh). Thiền viện được chia ra làm 4 khu vực: khu vực ngoại viện, khu tịnh thất hòa thượng, hòa thượng viện trưởng, khu nội viện tăng và khu nội viện ni. Thiền viện do Hòa Thượng Thích Thanh Từ thành lập. Đây chính nơi mà hòa thượng Thích Thanh Từ hiện nay cư ngụ chính và thường xuyên đi giáo hóa và tu hành.
    Miêu tả
    Chánh điện thiền viện nhìn từ vườn hoaĐây là một công trình kiến trúc độc đáo bên cạnh hồ Tuyền Lâm. Đi lên từ phía Hồ Tuyền Lâm là một con đường dốc có 140 bậc thang bằng đá, hai bên là những rặng thông cao vút dẫn qua 3 cổng tam quan để vào chính điện. Chính điện có diện tích 192m2, bên trong thờ tự đơn giản, nhưng mang đầy ý nghĩa của nhà Phật. Giữa điện thờ tượng đức phật Bổn sư Thích Ca Mâu Ni cao khoảng 2m, tay phải cầm cành hoa sen đưa lên gọi là bức tượng Phật Thích Ca “Niên Hoa Vi Tiếu” – tức là bức tượng miêu tả theo điển tích “Niên Hoa Vi Tiếu” . Bên phải đức phật là Bồ Tát Văn Thù cưỡi sư tử. Bên trái là Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi voi trắng 6 ngà. Chung quanh phía trên chính điện là các bức phù điêu chạm khắc 8 tướng thị hiện của đức phật và các bao lam, án thờ bằng gỗ được chạm khắc rất công phu. Hành lang phía trước chính điện là hàng cột gồm bốn cột tròn giả gỗ. Trần được lợp bằng ngói tráng men sáng loáng, mái ngói uốn nhẹ toát lên nét khiêm cung của người Việt, nét thanh thoát của nhà thiền. Phía bên phải của chính điện là lầu chuông được chạm khắc phù điêu mang ý nghĩa sâu sắc của Phật giáo rất tinh xảo và đẹp mắt. Bên trong là quả đại hồng chung nặng khoảng 1,1 tấn, trên mình khắc chạm những bài kệ có ý nghĩa thanh thoát mang đầy đạo lý.
    Từ trên chính điện nhìn xuống là hồ Tĩnh Tâm, phong cảnh ở đây rất đẹp, hồ nước trong xanh in bóng rặng thông bên đồi Thanh Lương. Bên dưới lưng chừng đồi, gần hồ Tĩnh Tâm là nhà khách 2 tầng nằm gọn trên một ngọn đồi có khu vườn xanh mát. Đây là nơi những phụ nữ đến xin tập tu ngắn hạn tại thiền viện. Phía trước nhà là rừng trúc xanh tươi. Đứng trước sân nhà có thể thấy đỉnh núi voi phục soi bóng xuống hồ Tuyền Lâm hùng vĩ.
    Hoạt động của thiền viện
    Những lúc đông nhất, thiền viện có hàng ngàn tăng ni, phật tử đến theo học về thiền. Đây là một thiền viện nghiên cứu về Thiền tông lớn nhất ở Việt Nam hiện nay[1] với chủ trương khôi phục Thiền tông Việt Nam (có từ đời nhà Trần). Mỗi ngày, các tu sĩ ngồi thiền 3 thời trong ngày, mỗi thời 2 giờ đồng hồ và thời đầu tiên là từ lúc 3 giờ sáng. Chia làm 2 khu chính trong các hoạt động thiền.
    Nội viện tăng: Khu này nằm trong khu chính tham quan, du khách có thể tham quan, tuy nhiên, giờ thiền du khách không được phép vào.
    Nội viện ni: Nội viện ni nằm tách biệt với bên ngoài, đây là khu dành cho nữ tu, nên du khách không thể tham quan khu vực này.
    Các công trình phụ
    Điện Đạt Ma Sư Tổ
    Nằm phía sau chánh điện bằng đá trắng khá thanh tịnh. Khu vực này du khách có thể tham quan.
    Phòng tiếp khách
    Phòng này dành tiếp khách từ phương xa nên khá rộng lớn và trang trọng.
    Phòng phát hành kinh sách và hình ảnh lưu niêm của hòa thượng đi chu du và hướng hóa trong nước và trên thế giới và rất nhiều quà tặng của ni sư trong nước và thế giới dành cho ngài.
    Phòng phát hành kinh sách với các tác phẩm do chính người viết nên và các ấn phẩm Phật Giáo khác.
    Vườn hoa
    Có thể nói vườn hoa của thiền viện là một trong những điểm du khách không thể bỏ quia và là vườn hoa hiếm hoi sưu tập nhiều loại hoa lạ. Các giống hoa được các tăng ni ươm trồng và có hẳn một vườn ươm và cấy ghép. Các giống hoa được hòa thượng mang từ khắp nơi trên thế giới về ươm trồng. Nổi tiếng nhất là giống : Sim Tím, Cây Bông Gòn Úc, Phù Dung, v..v.
    Lịch sử dòng thiền Trúc Lâm:
    Trúc Lâm là tự hiệu của vua Trần Nhân Tông (1279 – 1293), huý là Khâm, con trai trưởng của vua Trần Thánh Tông. Ông có chí tu hành từ nhỏ. Năm 16 tuổi, đã xin với vua cha nhường ngôi thái tử cho em trai, nhưng vua cha không đồng ý. Khi đã lên làm vua, ban ngày, Nhân Tông bàn chính sự, ban đêm gõ mõ tụng kinh. Nhà vua thường cùng các cao tăng đương thời như Huyền Quang, Lý Đạo Tái thăm thú núi Yên Tử, nghe giảng Phật pháp. Năm 1293, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con trai là Thuyên (Trần Anh Tông) và lên làm Thái thượng hoàng. Năm năm sau lên núi Yên Tử, lúc ra đi Trần Nhân Tông bỏ lại tất cả nhưng khi đi được nửa đoạn đường thì ông nghe tiếng phụ nữ ; ông bèn hỏi mới biết đó là 40 người vợ đi theo hầu ông. Trần Nhân Tông sai binh lính cho họ tiền và kêu họ về quê làm ăn sinh sống ; đến 1 dòng suối họ bèn nhảy xuống suối này để tự vẫn, sau này tên suối được đặt là suối Giải Oan. Trần Nhân Tông tu ở Am Ngoạ Vân, lấy tự hiệu là Trúc Lâm đại sĩ, ngày đêm lo việc tu hành. Sau đó, ông bị bệnh và mất, thọ 51 tuổi. Lúc đưa nhục thân lên thiêu ở hỏa đàn, thu được 300 viên xá lỵ (phần cốt còn lại sau khi thiêu xác). Qua 8 năm xuất gia tu hành, nhà vua đã sáng lập dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử.
    Hòa thượng Viện Trưởng Thiền Viện Trúc Lâm Thích Thanh Từ chủ trương khôi phục dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, trên cơ sở dung hợp các phái thiền Tỳ Lưu Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, Lâm Tế. Đây chính là Thiền Tông nước ta, một bộ phận của Phật giáo Việt Nam với bản sắc văn hóa và phong tục tập quán Việt Nam. Tinh thần của dòng Thiền Trúc Lâm là: tự lực, tự chủ, đoàn kết dân tộc, hòa nhập cuộc sống với tâm thực được trở về nội tâm thanh tịnh.
    Hoàn thượng thích thanh từ, viện trưởng đầu tiên của thiền viện, năm nay ngoài 70 tuổi, vốn là người ‘‘Bác Cổ Thông Kim’’ đã từng đi nhiều nơi để sưu tầm tài liệu, đến từng phật tích, đọc từng văn bia, kiểm chứng và dịch giảng những kho tư liệu quý của thiền học phật giáo. Hiện nay, ngoài 1 số thiền viện nhỏ như : Linh Chiếu, Thường Chiếu, Viên Chiếu (ở Long Thành) ; Chân Không, Huệ Chiếu, Tịnh Chiếu (ở Bà Rịa-Vũng Tàu) ; Tuệ Quang (ở TP.HCM), thì Thiền Viện Trúc Lâm được xem là nơi thiền lớn nhất Việt Nam với ý nguyện khôi phục thiền tông thời Trần. Đây cũng chính là nơi các nhà nghiên cứu về thiền tông trong và ngoài nước đã không ít lần đaế để nghiên cứu và học tập.
    Du khách đến Thiền viện Trúc Lâm chỉ được phép tham quan khu ngoại viện gồm Chánh điện, Tham vấn đường, Tháp chuông, cổng Tam Quan, hồ Tuyền Lâm, đồi Thanh Lương. Các công trình như gắn kết và hoà nhập vào thiên nhiên.
    Ngoài ý nghĩa một ngôi chùa lớn, một viện thiền học; Trúc Lâm còn là một điểm tham quan lý tưởng ở cách thức điều hành trật tự, giữ gìn vệ sinh. Khách đến đây được gửi xe miễn phí (từ xe máy đến xe ô tô, đi vệ sinh không phải trả tiền như một số điểm du lịch ở quanh thành phố Đà Lạt.
    Do vị trí khá đẹp - nhìn ra hồ Tuyền Lâm, núi Voi và do đựơc tổ chức tốt nên chùa đã trở thành một điểm tham quan không thể thiếu của du khách khi đến với thành phố cao nguyên. Ngoài các chùa lớn trên, Đà Lạt còn có hàng chục chùa nhỏ khác như Linh Quang (đường Ngô Quyền), Trúc Lâm (đường Phạm Hồng Thái), Ngọc Tín (Sương Nguyệt ánh)... mà khi kết hợp lại có thể cho du khách một tour du lịch tín ngưỡng - tìm hiểu kiến trúc độc đáo.

    16.                   Chùa Long Sơn - Khánh Hòa

    Tọa lạc trên đường 23/10, thuộc làng Phước Hải, phường Phương Sơn, thành phố Nha Trang, chùa Long Sơn là ngôi chùa có quy mô lớn nhất trong số hơn 20 ngôi chùa ở Nha Trang. Chùa nằm ngay trong nội thành Nha Trang, bên quốc lộ 1A, dưới chân hòn Trại Thủy.
    Chùa được hòa thượng Ngộ Chí, người Phú Yên, cho xây dựng năm Bính Tuất 1886 tại đỉnh đồi Trại Thủy, có tên là Đằng Long tự. Ban đầu Chùa được kiến tạo bằng vật liệu nhẹ, mái lợp tranh vách đất. Đến năm Canh Tý 1900, chùa bị bão sập, hòa thượng Ngộ Chí dời chùa xuống chân núi, tại vị trí hiện nay, sửa sang và lợp bằng ngói âm dương, rồi đổi tên là Long Sơn Tự. Cũng trong thời gian này, chùa được sắc phong “Sắc Tứ Long Sơn Tự”.
    Về Núi Trại Thủy, dân gian gọi là Hòn Xưởng. Sách cũ ghi là Khố Sơn, tục danh là Hòn Kho. Những tên này biểu hiện mối liên hệ đến lịch sử. Núi Trại Thủy là một hòn đơn độc nằm ở địa đầu thành phố Nha Trang về phía Tây. Hòn núi này chỉ cao chừng 35m, dài độc 600m, giống một ngọn đồi dọc theo quốc lộ 1A, ở phía Bắc. Hình dáng giống như con dơi nằm xoè cánh, đầu hướng về phía Tây Nam. Người xưa gọi là “Ngọc bức hàm hoàn”. Triền phía sau có dốc ngược, toàn là đá hoa cương. Triền phía trước hơi lài, cũng bằng đá hoa cương nhưng có lẫn đất điệp. Trên núi không có cổ thụ và bàn thạch. Cảnh tượng khô khan, trơ trụi. Quang cảnh chung quanh núi rất đặc sắc. Đặc biệt là cảnh quan những vườn dừa nối liền nhau tưởng chừng như bất tận của các làng Lư Cấm, Ngọc Hội, Vĩnh Hội, Vĩnh Điền nổi bật dưới chân núi, trải một màu xanh mượt mà.
    Hòn Trại Thủy đứng giữa đất bằng nhưng không đơn độc. Theo các nhà địa lý, núi này thuộc hệ thống dãy Trường Sơn Tây nguyên. Còn các thầy phong thủy xưa cho rằng đây là Trấn Thủy khẩu của dãy núi Tây Diên Khánh. Long mạch phát khởi từ hòn Thị ở Diên Khánh, chạy ngầm dưới đất gần cửa sông Cù, đổi khởi thành cột trụ giữ linh khí cho cuộc đất Diên Khánh Vĩnh Xương.
    Khoảng giữa thế kỷ 18, nhà Tây Sơn thắng chúa Nguyễn, dinh Bình Hòa thuộc về nhà Tây Sơn. Đô đốc Trần Quang Diệu vào trấn Bình Hòa và nhận thấy Ninh Hòa không thể dụng binh bèn dời dinh Tổng trấn vào Diên Khánh, xây thành đắp lũy để chống với quân chúa Nguyễn ở mặt Nam, về đường bộ. Để chống giữ về mặt biển, Trần Quang Diệu lại cắt một đạo thủy binh xuống trấn miền duyên hai. Xét thấy Hoàng Mai Sơn (núi Trại Thủy) vị thế hiểm trở, bèn dùng làm căn cứ quân sự. Trên núi thì cất trại lính, dưới núi về mặt Bắc gần sông lại đóng xưởng cất thuyền, đóng kho chứa lương thực. Vì vậy, núi mới có tên là Trại Thủy hay Hòn Xưởng, Hòn Kho.
    Hòn Trại Thủy trước thời thực dân Pháp chiếm đóng là một hòn núi mọc toàn mai. Những khóm mai cổ thụ, cội cao tàng cả, mọc chen vào những tảng đá hoa cương to lớn. Mỗi lần xuân đến, hoa mai nở vàng cả núa. Hết mùa, lá mai đậm và láng trùm lên núi một màu xanh lục lìa và anh ánh. Sang đông, lá mai rụng hết, núi trở thành một hòn trọc màu xám in những nét đen nhạt của những cảnh khúc khuỷu, những cội u nần của những khóm mai già rắn rỏi.
    Năm Canh Thìn1940, chùa được đại trùng tu lại theo kiểu Á Đông gồm: tiền đường, hậu sảnh, Đông lan, Tây lan, tăng khách, tăng phòng, nhà bếp… Công trình này do đạo hữu Tôn Thất Quyền, hội trưởng Hội Phật học Khánh Hòa lúc bấy giờ chủ trương tổ chức. Năm Tân Hợi 1971, chùa tiến hành cuộc đại trùng tu lần 2 do Thượng toạ Thích Thiện Bình, Chánh đại diện Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa lúc bấy giờ chủ trương tổ chức theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Võ Đình Diệp. Đến năm 1975, công trình đã thực hiện được 60% so với đồ án đã thiết kế. Chiều ngang tiền đường chùa Long Sơn dài 44.5m, chiều dài từ tiền đường đến chân núi là 37.5m, chiều cao chánh điện là 17.5m.
    Trong điện thờ uy nghiêm bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng đồng lớn, nặng 700kg, cao 1.6m. Sau bức tượng là tấm gương lớn tượng trưng cho ánh sáng hào quang nhà Phật, và bức tượng Quan Am Chuẩn Đề có nhiều tay, mỗi tay cầm một vật mà các vị Phật hay cầm.
    Bên hôn trái chùa có đường lên núi Trại Thủy. Nơi đây, có tôn trí Kim Thân Phật Tổ là tượng Đức Phật Thích Ca tại đỉnh núi Trại Thủy. Tượng do Thượng toạ Thích Đức Minh và điêu khắc gia Bùi Văn Thêm, hiệu Phúc Điền, thực hiện vào 2 năm 1964 – 1965. Tượng quay về hướng Đông, có chiều cao từ mặt bằng lên 24m, phần tượng cao 14m, tư thế toạ thiền, uy nghi giữa nền trời. Từ đỉnh tượng đến sân trước cửa chùa cao chênh lệch 50m, nếu lên đến nơi tôn trí Kim Thân Phật Tổ phải leo 150 bậc thang ờ sau chùa.
    Năm Bính Tý 1936, chùa được cúng cho Hội Phật học tỉnh Khánh Hòa để làm Hội quán Tỉnh hội. Liên tiếp từ đó đến nay, chùa là trụ sở của Giáo hội Phật giáo Khánh Hòa. Trong khuôn viên chùa có sự phối hợp hài hòa giữa công trình kiến trúc với cảnh quan thiên nhiên góp phần tạo nên cho Nha Trang một danh lam thắng cảnh nổi tiếng.

    17.                   Chùa Bảo Phong

    Chùa Bảo Phong hay còn gọi là chùa Bửu Phong tọa lạc tại thôn Phong Ấp, xã Ninh Bình, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Chùa cất trên một ngọn núi đá thấp, hình giống như một con rùa đang vươn mình bò về phương Nam.
    Trên núi có chùa nên núi mang tên núi Chùa, núi nằm cách bờ Nam sông Dinh khoảng hơn 1 km và cách ga Ninh Hòa 500m. Đứng trước cổng tam quan nhìn về phía Đông thấy con đường sắt chạy qua cách chùa độ 100 m. Núi chùa còn nhiều cổ thụ nên thanh u, tĩnh mịch, cảnh chùa trang nghiêm. Trầm mặc, ẩn trên núi đá, nên tuy ở gần phố thị xóm làng mà chùa vẫn giữ được cảnh quan thanh thoát, độc đáo.
    Trước chùa là tượng Bồ Tát Quan Thế Âm lộ thiên cao khoảng 4 mét, phía sau tượng là hồ nước nhỏ thả hoa súng, trong hồ có non bộ, tiếp theo là cổng tam quan. Cổng thiết trí mộc mạc nhưng nghiêm cẩn, hài hòa, trên mỗi đầu trụ cổng đều có đính các hoa sen cách điệu trông khá xinh xắn. Tấm biển lớn trên cổng giữa cẩn bốn đại từ bằng mảnh bát xưa “Bát Nhã Môn Khai". Biển cổng bên phải đắp nổi ba chữ “Đại Từ Bi" và cổng bên trái là "Năng Hỉ Xả".
    Đứng ở sân nhìn chùa thì Bửu Phong Tự không cổ kính lắm, vì chùa đã được trùng tu nhiều lần và lần sau cùng vào năm 1953. Lần trùng tu này, các cụ trong làng đã cho thay ngói âm dương bằng ngói móc tuy đã rêu phong nhưng vẫn pha nét tân thời.
    Biển chùa treo trong hành lang trên đầu cửa chính được khắc vào năm Tự Đức thứ 23. Biển sơn son, đề ba chữ lớn: “Bửu Phong Tự", dòng lạc khoảng ghi câu" Tự Đức Nhị Thập Tam Niên Tuế Thứ Canh Ngũ, Trọng Xuân San". Như vậy, biển chùa được khắc từ năm 1870. Qua nghiên cứu chùa đã có rất xưa, trong khoảng từ năm 1688 đến năm 1705 đời vua Lê Hy Tông niên hiệu Chính Hòa (1680 – 1705). Chùa xây theo kiểu tam quan, hai nhà đông tây thấp hơn ngôi chánh điện và được bố trí theo lối đông tăng, tây tổ. Kết cấu gỗ bên trong chánh điện gồm rường, cột, kèo, vì vẫn giữ y nguyên kiến trúc cổ theo kiểu "Cối Gia Nguyên". Vì vậy, khi bước vào chánh điện ta có ngay cảm giác uy nghi, sâu lắng; vừa sợ sệt lại vừa thảnh thơi.
    Ngôi nhà phía tây chánh điện thờ Tổ Khai Sơn. Trong gian nhà này còn giữ được nhiều cổ vật, trong đó có các linh vị giúp ta tìm hiểu được lịch sử chùa và một phần nhỏ lịch sử của Phật Giáo Đàng Trong cũng như có thể hình dung được những bước chân của Tổ Tiên ta trên bước đường Nam tiến khi qua vùng đất Khánh Hòa ngày nay.

    18.                   Chùa Linh Sơn

    Tổ Ðình Linh Sơn Vạn Giã nằm tại Thôn Hiền Lương, Xã Vạn Lương, Huyện Vạn Ninh, Tỉnh Khánh Hòa.
    Thủy Tổ khai cơ Hòa Thượng Ðại Bửu (1740-1765), Pháp hiệu là Kim Cang Ðại Lão Tổ Sư. Ngài quán Quảng Nam băng ngàn vào Hiền Lương hoằng pháp. Năm Cảnh Hưng thứ 22, tức năm 1761 Dương Lịch mới lập Chùa đúc chuông, gây cơ sở vững chắc.
    Ban sơ chùa gọi là Sa Long Tự. Triều Tự Ðức, năm thứ 21 (1867) Chùa bị thất hỏa. Sau khi xây cất lại, cải tên là Linh Sơn Tự. Từ ấy đến nay, chùa đã được trùng tu nhiều lần. Kiểu thức cổ pháp, và hoàn toàn Việt Nam. Mái ngói tường gạch. Chánh điện ba gian, phía đông phía tây có tăng phòng, tịnh thất. Cách thờ phụng đơn giản nhưng trang nghiêm, đại khái cũng như các Chùa cổ ở Trung Việt. Vườn Chùa rộng rãi và có nhiều cây cối tươi mát. Phía trước có tường vôi và cửa Tam quan cổ kính. Trước mặt Chùa là đồng lúa bát ngát, có hồ sen sâu rộng, có sông Hiền Lương quanh co. Và xa xa núi cao chập chờn. Phong cảnh đăng quang nhưng thanh tịnh.

    Chùa Linh Sơn có tiếng linh thiêng. Việc quả hồng chung trở về Chùa làm cho các tín đồ thêm vững lòng tin mộ đạo. Lại một sự kiện nữa xảy ra thời Tiền Chiến, khiến người kém đức tin cũng phải tin rằng Chùa linh thiêng thật sự. Lúc bấy giờ Nhật đóng quân khắp lãnh thổ Việt Nam. Tàu bay Mỹ ngày nào cũng đến oanh tạc. Khánh Hòa cũng không thoát khỏi nạn bom rơi.
    Năm 1944, một quả bom hạng nặng rơi ngay trên nóc Chùa. Nhưng không nổ và cũng không lăn xuống đất. Ai cũng thấy làm lạ. Vì quả bom này nếu nổ thì Chùa bị tan tành, không nổ thì sức nặng cũng đủ chọc thủng nóc Chùa hoặc lăn theo mái Chùa để xuống đất bằng cho hợp lý. Cớ chi lại nằm chình ình trên nóc, mà tứ bề không có vật gì cản ngăn? Người Nhật nghe tin bom nằm trên nóc Chùa thì đến mang đi, chớ không một lời giải thích. Các ông già bà cả bảo rằng: Các vị thần giữ Chùa làm cho quả bom tắt ngòi. Rồi để cho người đời tin sự linh thiêng, các Ngài đem bom đặt trên nóc Chùa và giữ không cho rơi xuống đất. Người đã tin thêm tin, người không tin không biết sao mà cải.
    Chùa Linh Sơn là Tổ đình của hầu hết các chùa quận Vạn Ninh

    19.       Chùa Quan Thế Âm.

    Chùa tọa lạc ở thôn Sơn Thủy, xã Hòa Hải, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, trong khu vực Ngũ Hành Sơn, bên dòng sông Trường Giang.
    Chùa trước đây là ngôi tịnh thất do Hòa thượng Pháp Nhãn dựng lên bên động Quan Âm. Chùa được xây dựng từ năm 1960 đến năm 1962. Hàng năm, chùa có tổ chức lễ hội văn hóa vào ngày vía Bồ-tát Quan Thế Âm, 19 tháng 2 âm lịch. Động Quan Âm là động lớn được tìm ra vào năm 1956. Đường xuống động nằm cạnh chùa. Động có chiều dài khoảng 50m, rộng 10m, trần động có vô số thạch nhũ đầy màu sắc và hình dáng, nổi bật là pho tượng Quán Thế Âm cao 1,75m, một bức phù điêu thiên tạo kỳ diệu. Ở động còn có "chuông đá lớn" được gọi là Thạch Chung thiên cổ đó là tiếng chuông được phát ra từ một thạch nhũ to tròn như cây cột cao 5m và những âm thanh như tiếng trống, tiếng mõ, tiếng khánh... từ các thạch nhũ khác. Chùa đã đón tiếp hàng vạn du khách, Phật tử đến tham quan, chiêm bái, sinh hoạt hàng năm

    20.          Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang biểu tượng tâm linh của Phật giáo Quảng Trị.

    Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang là một ngôi tổ đình duy nhất của tỉnh Quảng Trị, tọa lạc tại Bàu Voi, thuộc thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong.
    Chùa được hình thành rất sớm, từ những ngày đầu tiên chúa Nguyễn Hoàng vào Nam lập nghiệp, với tên gọi ban đầu là am Tịnh Độ do Tổ sư Chí Khả làm ra, nhưng vào năm nào thì mãi đến nay vẫn chưa khảo cứu được. Nhưng có thể nói đây là một trong những ngôi tổ đình có mặt sớm nhất và có ảnh hưởng rất lớn đến Phật giáo và văn hóa của xứ Đàng Trong.
    Theo năm tháng, am Tịnh Độ ngày mỗi tô đắp, xây dựng, chỉnh trang để ngày mỗi khang trang, hoàn thiện qua các đời trụ trì tiếp nối như Thiền sư Tuyết Phong và Thiền sư Bảo Châu. Đến năm 1739 tức là năm Vĩnh Hựu thứ 5 đời vua Lê Ý Tông, tức vào năm thứ 2, chúa Nguyễn Phúc Khoát khi ngự giá ra Quảng Trị có ghé vào thăm chùa và đảnh lễ Phật; cảm khái với quang cảnh Phật đường nên chúa đã thân hành ngự bút đề tặng 5 chữ "Sắc tứ Tịnh Quang tự". Từ đó am Tịnh Độ đổi thành chùa Sắc tứ Tịnh Quang và trở thành danh thắng. Đến năm Đồng Khánh thứ 2 (1890) lại được trùng tu và ông Trần Chính Tịnh pháp danh Thông Quảng được chọn làm Hội trưởng. Thành Thái năm thứ 6 (1886) cho cải tạo lại chùa, dựng thêm nhà Tăng khang trang, rực rỡ, rồi mời Tiến sĩ Hoàng Bính viết bia vào năm Thành Thái thứ 7 (1895)...
    Ngày 15 tháng 11 năm 1991, Nhà nước đã chính thức xếp hạng chùa là di tích cấp quốc gia hạng A1 theo Quyết định số 2009/QĐ.
    Trải qua bao năm tháng với biết bao biến cố thăng trầm của lịch sử, chùa Sắc tứ Tịnh Quang vẫn là một ngôi tổ đình danh tiếng của Phật giáo xứ Đàng Trong, được xem là một mạch nguồn sản sinh, nuôi dưỡng và đào tạo biết bao danh tăng thạc đức như Tổ sư Nhất Định, khai sơn chùa Từ Hiếu, Huế; Tổ sư Phước Huệ, khai sơn Tổ đình Hải Đức, Huế… mà gần đây nhất là những người con cao quý của Tổ, của quê hương Quảng Trị: Đức Đệ nhị Tăng thống, cố Trưởng lão HT.Thích Giác Nhiên (chùa Thiền Tôn), cố HT.Thích Giác Hạnh (chùa Vạn Phước, Huế); cố HT.Thích Đôn Hậu (chùa Linh Mụ); cố HT.Thích Trí Thủ (chùa Báo Quốc, Huế và Già Lam, TP. HCM)…
    Từ năm 1970, chư tôn đức vốn xuất thân từ chốn Tổ đã trở về, cùng các bậc tôn túc tại địa phương thực hiện nguyện ước đại trùng tu chốn Tổ. Công việc đang tiến hành, thì đến năm 1972, chiến tranh đã diễn ra trên quê hương Quảng Trị, tổ đình chỉ còn lại đống gạch vụn, trơ trọi một bộ sườn bằng xi-măng cốt thép, cảnh tượng ấy tồn tại mãi cho đến những ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngôi tổ đình chỉ tạm bợ một gian nhà nhỏ để chư Tăng hôm sớm tụng kinh niệm Phật va đồng thời là nơi tiếp đón những người con của chốn Tổ trở về.
    Đến ngày 18 tháng 2 năm Đinh Sửu 1997, toàn bộ chư tôn Hòa thượng, chư Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni và đồng bào Phật tử đồng hương Quảng Trị trong và ngoài nước đã trở về chứng kiến buổi lễ đặt viên đá đại trùng tu. Công việc tiến hành đến ngày 18 tháng 2 năm Kỷ Mão (4-4-1999) thì tạm thời ổn định, Ban Tái thiết cho tổ chức lễ an vị tượng và giỗ Tổ khai sơn trọng thể. Đến ngày 18 tháng 2 năm Tân Tỵ (12-3-2001), công việc trùng tu được hoàn tất với chi phí xây dựng lên đến 2 tỷ đồng. Lễ khánh thành được đặt dưới sự chứng minh của chư tôn Hòa thượng Thích Thiện Siêu; Thích Khả Tấn; các ban ngành chính quyền tỉnh và đông đảo Tăng Ni Phật tử đồng hương Quảng Trị.
    Hiện nay, chùa do Thượng tọa Thích Phước Châu là giám tự, hàng tháng tại đây đều có tổ chức các khóa tu Bát quan trai cho đông đảo bà con Phật tử đến tu hành và tham vấn giáo lý. Chùa còn có một lễ hội giỗ Tổ hàng năm vào ngày 18 tháng 2 âm lịch với sự phối hợp tổ chức của BTS Tỉnh hội và Ban Tái thiết (đại diện Hội Tăng Ni Phật tử đồng hương chịu phần tài khoản). Lễ hội giỗ Tổ được tổ chức rất quy mô, đạt tầm mức một lễ hội lớn tại khu vực, quy tụ hàng ngàn Tăng Ni và tín đồ Phật tử đồng hương khắp mọi miền đất nước trở về cùng với Tăng Ni và hàng ngàn quần chúng Phật tử tại địa phương.

    21.                   Chùa Thiên Ấn.

    Chùa tọa lạc trên núi Thiên ấn, thuộc xã Tịnh ấn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, nằm phía Bắc sông Trà Khúc, cách thị xã Quảng Ngãi 3km. Chùa do Thiền sư Pháp Hóa dựng vào khoảng năm 1694.
    Các Thiền sư kế thế trụ trì là: Khánh Vân, Bảo Ân, Giác Tịnh, Hoằng Phúc, Diệu Quang . Gắn với chùa có sự tích quả đại hồng chung linh thiêng. Chuông được đúc cho chùa làng Chí Tượng nhưng đánh không kêu, Thiền sư Bảo Ân đã chú nguyện và sau đó đánh tiếng chuông ngân nga khắp vùng. Chùa được Chúa Nguyễn Phúc Chu ban biểu ngạch "Sắc tứ Thiên ấn Tự" năm 1716. Năm 1947, chùa bị hỏng hoàn toàn. Ngôi chùa hiện nay được xây dựng từ năm 1959, hoàn thành vào năm 1961. Chùa đã được trùng tu vào các năm 1992- 1993, còn bảo tồn được nhiều tượng cổ, chuông cổ. Thiên ấn là ngôi cổ tự danh tiếng của miền Trung

    22.                   Chùa Long Sơn

    Chùa Long Sơn hay còn gọi là Chùa Phật trắng trước có tên là Đăng Long Tự, tọa lạc ở số 22 đường 23 tháng 10, phường Phương Sơn dưới chân núi Trại Thủy ở Nha Trang. Ngôi chùa này được xây dựng cách đây hơn một trăm năm, trải qua nhiều lần trùng tu, và đến nay là ngôi chùa nổi tiếng nhất Khánh Hòa.
    Trên đồi Trại Thủy còn có 2 ngôi chùa khác, chùa Hải Đức ở phía trên và chùa Bửu Phong ở phía nam.
    Lịch sử
    Chùa Long Sơn do nhà sư Ngộ Chí (sinh năm 1856, pháp danh Phổ Trí, tên tục là Nguyễn Tám Văn Nghi, theo dòng Thiền Lâm tếđời thứ 39) lập năm 1886 với tên gọi là Đằng Long tự. Ban đầu chùa chỉ là một căn nhà tranh nằm tại đỉnh đồi Trại Thủy (nơi đặt tượng Phật trắng hiện nay). Năm 1900, chùa bị sập sau một cơn bão, nên nhà sư quyết định dời xuống chân núi và đổi tên chùa thành Long Sơn tự.
    Năm 1936, theo di nguyện của sư Ngộ Chí, chùa được tiến cúng cho Hội An Nam Phật học để làm trụ sở chấn hưng Phật giáo Khánh Hòa, đến nay vẫn là trụ sở của Giáo hội Phật giáo Khánh Hòa. Năm 1938 (năm Bảo Đại thứ 14), chùa được phong "Sắc tứ Long Sơn tự".
    Năm 1941 chùa được trùng tu với công lao chính của Hội trưởng Tôn Thất Quyền và Phật tử Võ Đình Thụy. Năm 1968, chùa bị sạt mái ngói do chiến tranh. Năm 1971, Thượng tọa Thích Thiện Bình đứng ra trùng tu chùa và cho đến năm 1975, việc trùng tu mới thực hiện được 60% theo bản thiết kế của kiến trúc sư Võ Đình Diệp
    Các đặc điểm của chùa
    Khuôn viên chùa có chiều rộng 44,5 m, chiều dài hơn 72 m. Bên cạnh chùa là giảng đường của Trường Trung cấp Phật học Khánh Hòa và trụ sở của Giáo hội Phật giáo Khánh Hòa. Chính điện rộng 1.670 m², có một tượng Phật Tổ bằng đồng đang ngồi thuyết pháp, cao 1,6 m, nặng 700 kg.
    Từ chùa, muốn lên đến đỉnh đồi Trại Thủy phải đi lên 193 bậc tam cấp. Tại bậc thứ 44 là tượng Phật Tổ nhập Niết Bàn dài 17 m, cao 5 m, đằng sau tượng là bức phù điêu mô tả cảnh 49 đệ tử túc trực niệm phật. Tượng được xây dựng năm 2003. Lên khỏi tượng Phật nằm 5 mét là tháp chuông với quả đại hồng chung cao 2,2 m, nặng 1.500 kg do phật tử tại Huế tặng năm 2002.
    Trên đỉnh đồi là bức tượng Kim Thân Phật tổ (còn gọi là tượng Phật trắng) ngồi thuyết pháp, tượng cao 21 m, đài sen làm đế cao 7 m, rất dễ nhìn thấy tại một khu vực rộng xung quanh Chùa. Tượng được xây từ năm 1963 do sự đóng góp của tăng ni phật tử của vùng lân cận. Xung quanh đài sen là chân dung bảy vị hòa thượng, đại đức đã tự thiêu để phản đối chính sách đàn áp Phật giáo của Ngô Đình Diệm trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 9 năm 1963. Dưới chân đài sen là bức tường chia thành những ngăn nhỏ để chứa hài cốt do các gia đình Phật tử gửi

    23.                     Chùa khải đoan

    Chùa Khải Đoan (Khải Đoan Tự) nằm ở Trung tâm Thành phố BuônMaThuột (tỉnh DakLak) trong khuôn viên xấp xỉ 7 sào Trung bộ thuộc địa phận Phường Thống Nhất. Tên chùa 'Khải Đoan' được ghép bởi hai từ đầu của vua Khải Định và vợ ông là Đoan Huy Hoàng Thái Hậu.

    Chùa Khải Đoan bắt đầu xây dựng từ năm 1951 với hai phần hậu tổ và nhà giảng, còn chính điện thì đến năm 1953 mới khởi công. Người có công lớn trong việc xây chùa này là Đoan Huy Hoàng Thái Hậu (vợ vua Khải Định) và chính bà đã đặt tên cho chùa này là 'Khải Đoan Tự'. Chùa được xây dựng bởi những bàn tay khéo léo của những người thợ cố đô Huế nên có kiến trúc nhà rường Huế xen lẫn với kiến trúc địa phương. Cổng chính theo hướng Tây Nam nhìn ra đường Quang Trung, hướng về thung lũng 'Suối Đốc Học'. Trước và sau cổng đều ghi 'Khải Đoan Tự'. Chánh điện là công trình chính của chùa với mặt bằng 320m2 được chia làm hai phần. Nửa phần trước mang dáng dấp nhà dài Tây Nguyên nhưng cấu trúc cột kèo theo kiểu nhà rường Huế. Nửa sau được xây theo lối hiện đại. Đáng chú ý nhất trong chánh điện là tượng Phật Thích Ca ở giữa và chiếc chuông đồng đặt ở gian bên phải. Tượng Phật Thích Ca bằng đồng cao 1,1m, đài sen bằng gỗ cao 0,35m được trang trí công phu, chiếc chuông đồng cao 1,15m, chu vi đáy 2,7m, nặng 380Kg được đúc tháng 01.1954 (tức tháng chạp năm Quý Tỵ).
    Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chùa Khải Đoan là nơi có phong trào Phật giáo yêu nước đấu tranh đòi hòa bình thống nhất Tổ quốc. Chùa còn là nơi đùm bọc, che chở cho nhiều quần chúng cách mạng hoạt động, chùa khải đoan chính là nơi nổ ra các cuộc đấu tranh chính trị góp phần quan trọng vào phong trào cách mạng của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Tháng 09.1959 gần 7.000 Phật tử đã tổ chức một cuộc biểu tình tại chùa Khải Đoan đòi Ngô Đình Diệm phải thi hành Hiệp định Giơ -Ne-Vơ. Tháng 07.1963, Đại Đức Thích Quảng Hương (chánh đại diện Phật giáo DakLak kiêm trụ trì chùa Khải Đoan) phát nguyện tự thiêu đúng vào lúc phái đoàn quốc tế đến thị sát tình hình, làm cho cuộc đấu tranh của Phật giáo DakLak bùng lên quyết liệt. Sáng 30.01.1968 (tức mồng một Tết Mậu Thân) gần 7.000 quần chúng Thị xã BuônMaThuột tập trung tại chùa Khải Đoan nghe tuyên truyền về chính sách mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, sau đó tuần hành trên đường phố.Cùng với Biệt Điện Bảo Đại, Đình Lạc Giao, Nhà đày BuônMaThuột, chùa Khải Đoan là một điểm tham quan du lịch hấp dẫn đồng thời cũng là di tích lịch sử văn hóa của tỉnh DakLak và của Thành phố Buôn Ma Thuột.

    24.                     Chùa Hang -chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ và độc đáo

    Vị trí: Chùa Cổ Thạch (Chùa Hang) tọa lạc ở xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, trên ngọn núi cao 64m, kề bên bãi biển Cà Dược. Chùa cách Tp. Phan Thiết 105km về hướng bắc.
    Đặc điểm: Chùa Hang được dựng trong hang đá lớn đã có từ hơn 100 năm nay, bên cạnh những bãi đá bảy màu tuyệt đẹp.
    Lúc đầu chùa chỉ là một thảo am nhỏ do Thiền sư Bảo Tạng khai sơn vào khoảng giữa thế kỷ 19. Về sau chùa được xây dựng lại khang trang với tên gọi chùa Cổ Thạch. Sau đó chùa lại nhập với chùa Bình Phước và được trùng tu mở rộng. Chùa được trùng tu nhiều lần từ 1956 đến 1964. Đứng trên chùa Hang, du khách có thể phóng xa tầm mắt chiêm ngưỡng cả vùng bãi biển mênh mông xanh biếc với rất nhiều tảng đá xếp chồng lên nhau tạo thành nhiều hình thù đẹp mắt.
    Cách chùa Hang không xa là Hang Gió. Từ đây nhìn ra biển, bạn có thể thấy được bãi Cà Dược, bãi sỏi bảy màu (những viên sỏi trơn nhẵn có nhiều màu sắc khác nhau: từ trắng muốt, đen tuyền, xanh, vàng nhạt đến xám, nâu, rồi tím sẫm) uốn cong theo bờ biển xanh. Một làng du lịch Cổ Thạch mới được dựng lên với nhiều ngôi nhà xinh xắn theo kiểu nhà sàn để đón du khách về viếng chùa và thưởng ngoạn thắng cảnh.
    Cổ Thạch là một vùng núi đá rộng, gồm hàng ngàn hàng vạn tảng đá lớn nhỏ, có tảng đá còn nguyên khối to như những ngôi nhà, có tảng giống như bàn Thạch, có những tảng đá chồng lên nhau úp vào nhau như có bàn tay người sắp đặt, bố trí, có những tảng đá có hình thù kỳ lạ đầy tính cách huyền bí và chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ độc đáo với nhiều hang động nguyên sinh luồn sâu vào trong núi.
    Trên là đá núi, cây rừng chen chúc nhau, dưới chân Cổ Thạch là biển trong xanh rầm rì sóng vỗ quanh năm, bãi tắm tự nhiên hình thành, cách đó không xa là bãi cá nhiều màu đã có từ hàng ngàn năm trước tạo cho Cổ Thạch đầy đủ những yếu tố sơn thủy hữu tình.
    Phong cảnh thiên nhiên yên tĩnh có nhiều hang động, cây rậm là điều kiện cho muông thú sinh sống từ bao đời, cũng là nơi phù hợp với việc lập chùa và tu hành của những thế hệ tu sĩ từ những thế kỷ trước. Việc chọn điểm, lập am, dựng chùa của các nhà sư xưa kia thật tuyệt diệu. Hàng chục công trình kiến trúc nối tiếp nhau trải rộng trên khu đồi núi đá rộng chừng 4 ha với cổng tam quan là điểm đặt chân đến đầu tiên ở Cổ Thạch Tự. Khu chính điệm xen kẽ với những hiến đá dựng lớn cao vút của thiên nhiên. Tiếp đến là các nhà tổ, gác chuông, lầu trống, nhà thiền, Từ đường... cùng hàng chục hang cốc ăn sâu vào núi, cuốn hút du khách trên một hành trình không biết mệt mỏi vì những điều kỳ diệu của thiên nhiên. Mỗi hang động có một vị trí, chức năng riêng do những thế hệ nhà sư trước dây quy định. Hang thờ Tổ khai lập Cổ Thạch Tự là nhà sư Bảo Tạng , có tượng nhà sư và nhiều bài vị của các nhà sư khác có công lao xây dựng chùa đã viên tịch. Hang thờ Phật Chuẩn Đề là một hang động bên trong tượng Phật có 8 tay và nhiều tượng cổ. Hang Tam Bảo thờ 23 pho tượng Phật cổ với nhiều kích thước và niên đại khác nhau, các hang động khác cũng được kiến tạo phù hợp với điều kiện thờ phụng. Bước vào những hang động chính trong khu vực để chiêm bái, lễ Phật để tận hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên, du khách có cảm giác như đang lạc vào những hang Phật, cửa tiên. Cổ Thạch Tự ngoài vẻ đẹp tự nhiên của hnag động kết hợp với sự sáng tạo của con người, ở đây còn lưu giữ nhiều di sản văn hoá lịch sử quý hiếm: Nhiều di sản văn hoá Hán Nôm, liên, đối, hoành phi và những tài liệu có từ ngày tạo lập chùa. một số cổ vật có giá trị lịch sử văn hoá khác như Đại Hồng chung, trống sấm đều có niên đại từ nửa đầu thế kỷ XIX. Cổ Thạch Tự hàng chục năm nay do Hoà Thượng Thích Minh Đức trụ trì là điểm du lịch chính của Bình Thuận, hàng chục vạn du khách từ mọi miền đất nước đến đây hàng năm để chiêm bài, lễ Phật và tham quan danh lam thắng cảnh độc đáo hiếm có ở đây. Những giá trị về thắng cảnh thiên nhiên và về lịch sử văn hoá, Cổ Thạch Tự đã được Nhà Nước xếp hạng di tích thắng cảnh cấp Quốc gia năm 1993.

    MỤC LỤC

    ĐÌNH CHÙA MIỀN TRUNG


    1.       Phát hiện sắc phong gấm dài nhất VN

    2.       Đền Cao Các- Phú Yên

    3.       Chùa Long Hưng- sóc Trăng

    4.       Miếu Trịnh Phong- Khánh Hòa

    5.       Chùa Thiên Lộc: Danh thắng Khánh Hòa

    6.       Chùa cổ Giác Lương-Huế

    7.       Chùa Quốc Ân_ Huế

    8.       PHÚ QUÍ HÒN ĐẢO CỦA NHỮNG DI SẢN PHẬT GiÁO

    9.       Vai trò - vịtrí chùa TừĐàm theo dòng lịch sửxứHuế

    10.   Chùa Ưu Đàm_Huế

    11.   Chùa Thiên Mụ_Huế

    12.   Chùa Quốc Ân_Huế

    13.   Phật Viện Đồng Dương – Quảng Nam

    14.   Chùa Linh Phước - Lâm Đồng

    15.   Thiền viện Trúc Lâm - Lâm Đồng

    16.   Chùa Long Sơn - Khánh Hòa

    17.   Chùa Bảo Phong_Khánh Hòa

    18.   Chùa Linh Sơn_Khánh Hòa

    19.   Chùa Quan Thế Âm._Đà Nẳng

    20.   Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang biểu tượng tâm linh của Phật giáo Quảng Trị.

    21.   Chùa Thiên Ấn_Quãng Ngãi

    22.   Chùa Long Sơn_Nha Trang

    23.   Chùa khải đoan_Đắc Lắc

    24.         Chùa Hang -chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ và độc đáo_Bình Thuận

    ĐÌNH - CHÙA MIÊN NAM