trang Blog

THIỀNTham gia: 11/05/2011
  • THIÊN TRƯỜNG VÃN VỌNG, SỰ GIAO DUYÊN GIỮA THƠ VÀ THIỀN
    Sáng Tác
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    THIÊN TRƯỜNG VÃN VỌNG, SỰ GIAO DUYÊN GIỮA THƠ VÀ THIỀN

    Đến với thơ Trần Nhân Tông là đến với sự hoà điệu giao duyên giữa thơ và Thiền, “dĩ thi ngụ thiền, dĩ Thiền thuyết thi” (Dùng thơ để ngụ Thiền, dùng Thiền nói thơ), một hồn thơ hồn hậu đầy cảm xúc trước thiên nhiên tạo vật. Tất cả những vẽ đẹp của ngoại giới trong thơ Trần Nhân Tông đều có sự tương thông với tâm Thiền nên thấm đẫm Thiền vị. Thiên Trường vãn vọng  là một trong những bài thơ tiêu biểu cho đặc điểm này của thơ Trần Nhân Tông.

    Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,

    Bán vô bán hữu tịch dương biên.

    Mục đồng địch lí ngưu quy tận,

    Bạch lộ song song phi hạ điền.

    Dịch nghĩa:

    Sau thôn trước thôn đều mờ mờ như khói phủ

    Bên bóng chiều (cảnh vật) nửa có nửa như không

    Trong tiếng sáo, mục đồng dẫn trâu về hết

    Từng đôi cò trắng hạ cánh xuống đồng.

    Dịch thơ:

    Trước xóm sau thôn tựa khói lồng

    Bóng chiều man mác có dường không

    Mục đồng sáo vẳng trâu về hết

    Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.

    (Ngô Tất Tố dịch, trong Thơ văn Lí - Trần, tập II, NXB Khoa học xã hội, 1989)

    Câu thơ mở đầu với cấu trúc đối ngữ đoạn ấn tượng đã khắc hoạ một không gian toàn cảnh:

    Thôn hậu >< thôn tiền  /  đạm tự yên

    Với sự tương tác của hai từ trái nghĩa “tiền” – “hậu” trong cấu trúc đối đã tạo ra hiệu quả nghệ thuật: Tạo dựng không gian có sự mở rộng biên độ về hai phía, một bức tranh đồng quê rộng lớn. Bức tranh này lại được quan sát từ khoảng cách xa nên có độ “nhoè”, nhoà nhạt như khói phủ. Phải chăng lúc này sương đã xuống nhiều nên cảnh vật “đạm tự yên”. Câu thơ khéo ở thủ pháp gợi, không nói tới sương chiều mà người đọc vẫn cảm nhận được sương chiều đang dần phủ kín không gian. Sự liên tưởng này của người đọc có căn cứ hơn khi tác giả tiếp tục khắc hoạ:

    Bán vô bán hữu tịch dương biên

    Câu thơ tiếp tục sử dụng thủ pháp đối trong ngữ đoạn với hai yếu tố đối lập “vô” – “hữu”. Với sự cộng hưởng của ánh chiều, bức tranh đồng quê đã trở nên mờ ảo hơn  nhạt nhoà hơn. Câu thơ dịch của Ngô Tất Tố vô tình đã là sai lệch đối tượng chính được miêu tả “Bóng chiều man mác có dường không”. Theo câu thơ dịch thì bóng chiều là đối tượng thẫm mĩ chính yếu trong câu thơ. Thế nhưng xét kĩ ta thấy nguyên nghĩa của câu thơ là: Bên bóng chiều (cảnh vật) nửa như có nữa như không. Bóng chiều, với sự trợ nghĩa của từ “biên”: bên, chỉ đóng vai trò là yếu tố không gian góp phần làm bật nổi bức tranh đồng quê. Do vậy tính chất “bán vô” – “bán hữu” là tính chất của cảnh vật (đã bị tĩnh lược) chứ không phải là tính chất của bóng chiều. Câu thơ chứa hai yếu tố “hữu – vô”, hai khái niệm cơ bản của Thiền học. Khi giải thích bản thể của vũ trụ, Lão Tử đã sáng tạo ra cặp phạm trù Hữu - Vô và nó đã trở thành cặp phạm trù cơ bản nhất của lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại: “Thiên hạ vạn vật sinh ư hữu, hữusinh ư (vạn vật trong thiên hạ đều sinh ra từ hữu, hữu sinh ra từ ). Như vậy cảnh vật ở đây như không tồn tại “vô” (bởi sự che phủ của sương chiều) nhưng thực chất cảnh vật vẫn đang tồn tại “hữu”. Trong cái “vô” có cái “hữu”; trong cái “hữu” lại có cái “vô”. Điều này làm ta nhớ đến bài thơ của Đạo Hạnh, bài Hữu không :

    Tác hữu trần sa hữu

    Vi không nhất thiết không

    Hưu không như thuỷ nguyệt

    Vật trước hữu không không

    (Bảo là có thì hạt cát mãy bụi đều có – Cho là không thì hết thảy là không – Có và không như là ánh trăng dưới nước – Đừng bám vào cái có cũng đường cho cái không là không).

    Lẽ “hữu - vô” của tạo hoá luôn huyền diệu ! Cảnh vật được nhìn qua cảm quan của Thiền nhân nên thấm đẫm Thiền vị.

                Từ viễn cảnh, thi nhân lại quay về với những đường nét ở cận cảnh:

    Mục đồng địch lí ngưu quy tận,

    Bạch lộ song song phi hạ điền.

    Với câu chuyển, SGK Ngữ văn 7 dịch nghĩa : “Trong tiếng sáo mục đồng dẫn trâu về hết”. Thiết nghĩ dịch như thế là chưa thể làm rõ được ý nghĩa của câu thơ. Ta thử xét cấu trúc trong câu thơ nguyên tác:

     Mục đồng địch lí    /   ngưu    /    quy tận

           (Trạng ngữ)      (Chủ ngữ)    (Vị ngữ)

    Thế nên câu thơ trên có thể dịch thành “Trong tiếng sáo của trẻ chăn trâu, trâu đã về hết”.

    Như vậy trong bức tranh đồng quê rộng lớn đã xuất hiện điểm nhấn, hình ảnh đàn trâu và mục đồng thổi sáo. Cái tinh diệu của câu thơ ở chổ, nếu như xem câu thơ này là kết quả của những sáng tạo dựa trên cơ sở hình ảnh hiện thực thì đây sẽ là những nét vẽ hết sức tinh tế về cảnh sắc thôn quê bình dị với đàn trâu thong thả về chuồng trong điệu sáo dặt dìu thấm đẫm tình quê của những đứa trẻ chăn trâu hồn nhiên. Nhưng nếu như tiếp cận câu thơ trong mối tương quan với cảm hứng Thiền thì câu thơ lại mang một ý vị khác. Hình ảnh con trâu trong thơ Thiền gắn liền với một điển cố trong Thiền học. Theo Truyền đăng lục, một hôm Động Sơn hỏi hoà thượng Long Sơn rằng: “Hoà thượng thấy đạo lí gì mà trụ trì ở đây ?” Long Sơn đáp “Ta chỉ thấy hai con trâu bùn đánh nhau rồi chạy xuống bể. Từ bấy đến nay vẫn không thấy tin tức gì”. Điển cố này dùng ngụ ý con người cũng như vạn vật đều có cái Chân Tâm nhưng vì mê lầm nên nhiều người đã đánh mất nó, mãi không tìm lại được.Quay lại với với câu thơ ta thấy, nếu như tiếng sáo của mục đồng biểu trưng cho cái tâm hồn nhiên bình lặng, trong sáng không bị vẫn đục bởi những mê kiến, vọng kiến thì hình ảnh đàn trâu quay về (ngưu quy tận) chẳng phải chính là nẻo về của Chân tâm đó sao ?

    Câu thơ cuối, với hình ảnh từng đôi cò trắng hạ cánh xuống đồng, thi nhân đã hoàn thành bức tranh của đồng quê tuyệt đẹp của mình. Nếu như ta đã bắt gặp những cánh cò trong thi văn cổ điển Trung Quốc chúng thường bay thật cao lên trời xanh

    Nhất hàng bạch lộ thướng thiên thanh(Tuyệt cú - Đỗ Phủ)

    (Một hàng cò trắng bay vút lên trời xanh)

    Lạc hà dữ cô lộ tề phi  (Đằng Vương các - Vương Bột)

    ( Cánh cò bay cùng với ráng chiều)

    Nhưng ở đây cánh cò của Trần Nhân Tông lại bay hẳn xuống cánh đồng của quê hương“phi hạ điền”. Để có được chữ “hạ” ấy, cánh cò của Trần Nhân Tông ắt hẳn phải thiết tha với ruộng đồng lắm, nặng nghĩa tình đời lắm? Một ông vua mà lại có cái nhìn như thế thật đáng quý biết bao nhưng cũng thật hiếm hoi biết bao!

    Có thể nói bài thơ đã tạo dựng bức tranh thấm đẫm tình đời, tình người bằng nhãn quan của thi nhân, Thiền nhân Trần Nhân Tông với tâm hồn khát khao hoà nhập vào thiên nhiên, vào cuộc sống. Đồng thời thi nhân đã gửi gắm vào đó những chiêm nghiệm về lẽ vô thường của con người trước cái hằng thường của vũ trụ. Đó là chẳng phải là cái nhìn mang cảm hứng Thiền, tâm trạng Thiền, ý vị Thiền nhưng cũng thấm đẫm chất thế sự với những cung bậc tình cảm hết sức phong phú của con người đời thường đó sao?

    Tài liệu tham khảo

    Đoàn Thị Thu Vân, Khảo sát đặc trưng nghệ thuật thơ thiền Việt Nam từ thế kỉ thứ X - thế kỉ thứ XIV, Trung tâm nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, Hà Nội

    1. Nhiều tác giả ,Về thi pháp thơ Đường, NXB Đà Nẵng – 1997
    2. Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) - Ngữ văn 7 (Tập 1) – NXB Giáo dục – 2003

    Trầm Thanh Tuấn

    GV: Trường THPT Long Hiệp - Huyện Trà Cú - Tỉnh Trà Vinh

    THIÊN TRƯỜNG VÃN VỌNG, SỰ GIAO DUYÊN GIỮA THƠ VÀ THIỀN