trang Blog

Số mệnh Tứ trụTham gia: 27/11/2011
  • Lịch pháp, Tiết khí, 4 mùa.
    Đời Sống
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Lịch pháp, Tiết khí, 4 mùa.

                  LỊCH  PHÁP  liên quan.    Hoàng đạo và 12 cung Tiết khí.     4 Mùa.

    1. Hoàng đạo, các cung Tiết khí, 4 Mùa.

    - Hoàng đạo, và Các điểm chia 4 mùa khí hậu:       

         Người xưa quan sát thấy vào lúc hoàng hôn, chỗ mặt trời (MT) vừa lặn thì ở ngay đó sẽ có 1 chòm sao, cứ từng khoảng thời gian lại có chòm sao khác thay vào rồi lặp lại chu kỳ trong một năm MT.       Qua đó, phát hiện ra vòng Hoàng Đạo: là con đường “sáng”, là đường đi của MT giữa các vì sao, một vòng hoàng đạo thể hiện cho một năm Dương lịch.     Thiên văn học hiện đại gọi hoàng đạo là chuyển động biểu kiến của MT.      Biểu kiến tức là chuyển động mắt thấy ở vị trí quan trắc là trái đất (TĐ) chiếu lên bầu trời “thiên cầu” chứ không phải là chuyển động thực, và ở đây đã có 2 hệ quy chiếu.      Nếu lấy TĐ làm hệ quy chiếu (tức coi như TĐ đứng yên) thì "biểu kiến" thấy vòng hoàng đạo là MT di chuyển trên nền trời sao quay xung quanh TĐ, còn nếu lấy MT làm hệ quy chiếu thì vòng hoàng đạo đó lại chính là "ảnh" của quỹ đạo TĐ quay xung quanh MT.

         Ngày nay ai cũng biết chuyển động thực là TĐ quay xung quanh MT.      Chỉ xét riêng quỹ đạo TĐ thì chưa đủ giải thích hiện tuợng 4 mùa và các đới khí hậu.       4 mùa và các đới khí hậu là do TĐ vừa di chuyển xung quanh MT lại vừa duy trì trục tự quay (nam - bắc cực) luôn ngiêng một góc 23,5 độ (chính xác là 23 độ 27 phút) trên mặt phẳng quỹ đạo và hướng ngiêng của trục thì cố định không thay đổi.       Ta sẽ có một mặt phẳng chứa xích đạo TĐ (thiên xích đạo) và mặt phẳng kia là vòng tròn hoàng đạo chiếu lên thiên cầu.

         Biểu kiến, người ta xác định được 2 điểm cắt nhau của hoàng đạo với thiên xích đạo là các điểm Xuân Phân và Thu Phân (giữa xuân & giữa thu, rơi vào xung quanh ngày 20 tháng 3 và 23 tháng 9 dương) cho mỗi bán cầu TĐ, tại các điểm này thì đêm và ngày dài bằng nhau.      Còn 2 điểm lệch cực đại (lệch góc lớn nhất: 23,5 độ) giữa hoàng đạo và thiên xích đạo sẽ là Hạ Chí và Đông Chí (giữa hạ, giữa đông, rơi vào xung quanh ngày 22 tháng 6 và 23 tháng 12 dương) cho mỗi bán cầu.     Trong mỗi điểm đó thì hạ chí là của phần bán cầu hướng về MT nhiều nhất còn đông chí là của phần bán cầu còn lại.       Tại điểm hạ chí cho bán cầu này thì đêm ngắn nhất đồng thời đấy cũng là đông chí cho bán cầu kia sẽ có đêm dài nhất (độ dài chênh lệch đêm ngày ở thời điểm đó là: 2h10p (13 giờ 5 phút / 10 giờ 55 phút). 

         Ở đây cũng cần phân biệt các điểm cận nhật và viễn nhật (ngày 3 tháng 1 và 4 tháng 7 dương) thường dùng để lấy góc lượng giác thị sai lớn nhất đo độ xa của các ngôi sao tương đối gần, các điểm “cận” ấy thì chủ yếu do hiện tượng “tuế sai” (chu kỳ khoảng 25.800 năm) nên không trùng với các điểm “đông và hạ chí”.

         Vòng hoàng đạo là 360 độ, điểm Xuân phân là 0 độ thì 180 độ sẽ là điểm Thu phân, 90 độ là điểm Hạ chí- cực bắc của hoàng đạo, còn 270 độ là  điểm Đông chí- cực nam của hoàng đạo.       Từ 4 điểm (chí và phân) ấy người ta lại chia ra từng 3 khoảng một (30 độ) thành tổng 12 điểm khí (trung khí).       Chia giữa 2 khí kề nhau là “tiết” nên cũng sẽ có 12 điểm tiết.       Tất cả thành ra 24 cung tiết khí của vòng hoàng đạo.       Cứ 3 tiết là 1 mùa, và các điểm xuân thu phân, đông hạ chí là các điểm giữa mùa.        Quỹ đạo TĐ là một hình Elip tương đối tròn, có một đầu elip to hơn mà MT thiên vị ở lệch tâm về phía đầu elip lớn.      Như vậy sẽ dẫn tới các mùa, các cung thì sẽ không dài chằn chặn bằng nhau, mà có sự hơn kém nhau chút ít, mùa thì dài từ 90 - 92 ngày trong đó mùa hạ là dài nhất. 

         Do trục TĐ luôn ngiêng 23,5 độ khi di chuyển trên quỹ đạo xung quanh MT nên tạo ra 4 mùa khí hậu.       Các mùa thì Bắc và Nam bán cầu phải đối ngựợc nhau như: Hànội, Matxcova, Pari, Toronto, bắc Mỹ nếu là mùa hạ thì Úc, Namphi, Brazin, nam Mỹ lại là mùa đông và ngược lại. 

         Thiên văn học hiện đại lấy mốc Xuân phân trên vòng hoàng đạo để tính năm MT nên gọi là năm Xuân phân.    

    - 12 Tiết khí & năm Lập xuân trong môn TT:

         Các môn cổ học Trung quốc cũng sử dụng các điểm chia 24 khí tiết của vòng hoàng đạo, nhưng lấy mốc năm là điểm Lập xuân như áp dụng trong môn TT cho nên gọi là năm Lập xuân.       Theo đó, năm TT bắt đầu là tiết Lập xuân - tháng Dần, tiếp theo là Kinh trập - tháng Mão v.v. cho vừa đủ 12 cung tháng, trong đó cứ 3 tiết là 1 mùa.       Còn các điểm “khí” thì thuộc về giữa “tháng”, riêng các điểm xuân thu phân và đông hạ chí thì đồng thời là các điểm khí lại kiêm thêm là các điểm giữa mùa.

    2. Đới khí hậu:

         Cũng do trục tự quay của TĐ luôn ngiêng góc 23,5 độ trên quỹ đạo xung quanh MT mà tạo ra sự phân chia các đới khí hậu của bề mặt TĐ.       Quy ước xích đạo là 0 (không) độ tiến về phía 2 cực TĐ là 90 độ, xích đạo chia TĐ ra 2 nửa bán cầu bắc và nam.    Nhiệt đới: là vùng trải dài trên dưới 2 phía đường xích đạo 23,5 độ vĩ bắc nam và người ta còn gọi các đường vĩ này là các đường chí tuyến bắc hoặc nam do đường này sẽ được MT chiếu thẳng vuông góc vào thời điểm Hạ hoặc Đông chí.      2 vùng Hàn đới là khu vực 2 cực TĐ, mỗi vùng hàn đới rộng 23,5 độ, (tại đúng vùng cực của TĐ thì các điểm Chí là ranh giới chia ra 6 tháng ban ngày hoặc ban đêm).        Còn ở giữa vùng Nhiệt đới và Hàn đới thì là 2 vùng Ôn đới cho mỗi bán cầu.

         Về khoa học địa lý tự nhiên thì các vùng Ôn đới có khi còn được chia nhỏ ra thành 3 phân vùng theo các đường vĩ thành: vùng khí hậu có tính chất đại dương, vùng hanh khô và vùng khí hậu lạnh.       Cũng còn một cách chia vùng miền khí hậu bề mặt TĐ theo đồng thời 3 yếu tố: nhiệt độ bình quân năm (đường đẳng nhiệt), thảm thực vật và lượng giáng thuỷ (nước mưa), theo cách chia này sẽ có các vùng nhiệt đới sa mạc hoặc ôn đới có thảm thực vật phong phú v.v.

    3. Các đại lượng căn cứ làm Lịch:    

    - Có 3 đại lượng thời gian để làm lịch:

          Ngày TĐ: 24 giờ.       Năm MT (hoàng đạo) dài: 365,242199… ngày.       Tháng Mặt trăng dài:  29,530598… ngày.     Và 3 đại lượng thời gian ấy lại không bao giờ thông ước với nhau gây khó khăn cho lịch pháp, như năm dương lịch MT sẽ dài khoảng 12,3682… tháng Trăng tức là bằng 12 tháng trăng cộng thêm khoảng 10,0830… ngày (hơn 10 ngày một chút).

    - Có rất nhiều kiểu lịch:

         Có rất nhiều kiểu lịch của các vùng dân tộc, từ cổ xưa đến nay người ta ngày càng cải tiến đến hoàn thiện cách làm lịch.        Phổ biến hiện nay là 2 loại lịch: Dương lịch (năm MT, hoàng đạo) dùng làm công lịch quốc tế cho mọi quốc gia.        Âm dương lịch (lịch tháng mặt trăng đã điều chỉnh số tháng cho phù hợp tương đối với năm dương lịch) còn gọi tắt lịch này là “âm lịch”, dùng để tính thuỷ triều và xác định các ngày lễ hội tập tục gắn với đêm trăng hoặc không trăng của các dân tộc ở khắp nơi trên thế giới.

    4. Lịch sử phát triển & hoàn thiện của Dương lịch.         

         Ai Cập cổ đại với các Kim tự tháp hơn 3.000 năm trước, đã quan sát thiên văn chờ cho đến khi thấy sao Thiên Lang (sirius) xuất hiện vào buổi sáng giao thời lúc MT mọc, ngày hôm sau tia sáng của sao sẽ biến đổi khi MT mọc, thì sẽ phát lệnh báo động tránh lũ cho dân vì vài ngày tiếp theo nữa sẽ thấy nước lụt sông Nil tràn bờ.       Lặp lại như vậy nhiều năm cho phép người ta phát hiện ra chu kỳ 365 lẻ gần 1 /4 ngày của năm mặt trời.     Và Thoth người Ai cập đã làm lịch theo chu kỳ này.

         Moses - 1.500 TCN (trước công nguyên) - dân tộc Ixraen cũng làm lịch chu kỳ ngày và năm như lịch Thoth, lấy mốc Xuân phân để định năm và thêm tuần lễ có 5 ngày.      Đồng thời làm thêm lịch Trăng sáng (lịch âm) để xác định lễ Sabbath kỷ niệm ngày phục hưng dân tộc, lễ Sabbath đến vào ngày trăng tròn đầu tiên sau Xuân phân.        Cả lịch Thoth và lịch Moses đều lấy năm 12 tháng với mỗi tháng 30 ngày, dư 5 ngày cuối năm không tính số, và trong  mỗi 4 năm thì năm nào có số năm chia hết cho 4 sẽ là năm nhuận dư thêm 1 ngày.

         Lịch La mã Julius Ceasear - người dân tộc Ý: sau khi đã bình định xong Hy Lạp, Ai Cập và đưa nữ hoàng Cleopatra lên ngôi, Ceasear nhận thấy chỗ không hợp lý là những ngày không tính số của lịch Thoth và lịch Moses nên năm 47 TCN đã ra lệnh nghiên cứu làm lịch mới.       Augustus (cháu của Ceasear) kế vị Ceasear, chính thức sửa rồi ban hành lịch mới.      Lịch Ceasear - Augustus điều chỉnh  này về các tháng ngày của một năm chính là bản công lịch quốc tế hiện nay chúng ta đang dùng.       Cũng lịch này, về sau Giáo hội Thiên Chúa Giáo bổ sung thêm tuần lễ có 7 ngày để hình thành ngày nghỉ trong tuần lao động.

         Sự điều chỉnh của Gregory:       Ngay từ thời Ai cập với lịch Thoth người ta đã biết năm thật sự dài 365, 242199… ngày trong khi mọi căn cứ làm lịch đều lấy năm dài 365 chẵn 1/ 4 ngày, sai biệt này trong 1 năm lên đến 11 phút 44 giây và sau 128 năm thì sai biệt chẵn 1 ngày tròn.      Vậy cũng lịch trên nhưng cần thiết mỗi 128 năm phải bỏ bớt đi 1 năm nhuận.       Ceasear cũng lấy lịch năm dài 365,1/ 4 ngày nhưng lại không chú ý điều chỉnh sự sai biệt trên, điều này dẫn tới đến thế kỷ XVI thì lễ Phục Sinh của Thiên Chúa giáo quy ước diễn ra vào ngày chủ nhật đầu tiên sau ngày trăng tròn ngay sau tiết Xuân phân lại chuyển dần lên về phía mùa hè.       Khi đó, tháng 10 - 1582, Giáo Hoàng thứ XIII Gregory lãnh đạo giáo hội La Mã đã ban hành sắc lệnh (ngày nay gọi là sự điều chỉnh của Gregory) là:       “Bỏ đi 10 ngày, ngày kế tiếp ngày 4 tháng 10 năm 1582 sẽ là ngày 15 tháng 10.    Từ đây, để duy trì sự phù hợp chính xác hơn trong tương lai, 3 của mỗi 4 năm trong năm thế kỷ chẵn (năm có 2 số 0 ở cuối) sẽ được coi như những năm thường thay vì (trước kia) là năm nhuận, trong đó chỉ các năm của thế kỷ chẵn chia hết được cho 400 mới được coi là năm nhuận”.        Như thế, các năm 1600, 2000, 2400 … sẽ là năm nhuận còn các năm 1700, 1800, 1900, 2100, 2300 … thì không còn là nhuận nữa.

         Sự điều chỉnh của Gregory kết quả cũng giống như lịch Ceasaer đã bỏ đi 1 năm nhuận sau mỗi 128 năm, và sự sai biệt còn lại sau điều chỉnh chỉ là 1 ngày trong mỗi 3.322 năm, vậy coi như đủ độ chính xác mà ta đang dùng lịch này trong thực tế.

         Liệu có một cuốn lịch mới trong tương lai hay không.        Năm 1930 có một cuốn lịch mới được hình thành:       Lịch hiện nay được thay đổi bằng cách mỗi mùa có 1 tháng dài 31 ngày và 2 tháng còn lại dài 30 ngày, thêm 1 ngày vào năm thường và thêm 2 ngày vào năm nhuận, những ngày thêm này sẽ không thuộc về tuần lễ nào cũng như không thuộc về tháng nào, cái ngày “không” ấy thì một ngày được xếp vào cuối năm còn ngày kia được xếp vào cuối nửa năm.        Như vậy, người ta có thể phát hành lịch này 1 lần nhưng dùng được cho nhiều năm.       Cuốn lịch đã được hiệp hội lịch thế giới (thành viên là các nước tây Âu và châu Mỹ) tán thành trình lên Liên hiệp quốc vào năm 1959, nhưng Liên hiệp quốc vì những lý do tế nhị đã để đó không đưa ra bàn thảo.

    5.  Âm lịch & hệ Can chi gi trên âm lịch, vài hiện tượng liên quan đến Mặt trăng (Mt):

    - Âm lịch:

         Là “âm lịch” hiện nay chúng ta đang dùng.    Chính xác hơn thì gọi đó là âm dương lịch: do lịch thể hiện chu kỳ tháng Trăng nhưng số tháng sẽ là 12 hoặc 13 (tháng âm nhuận) nhằm cho lịch theo được gần sát với chu kỳ khí hậu của năm dương.    Trung quốc cổ, khoảng 500 năm TCN đã hoàn thiện lịch này đồng thời đưa thêm vào hệ can chi đo đếm thời gian.      Ngày nay chúng ta vẫn dùng âm lịch để xác định các ngày tuần tiết lễ hội tập tục liên quan đến đêm trăng hoặc không trăng và tính các con nước thuỷ triều.

         Tháng tuần trăng lấy cơ sở là ngày mồng 1 bắt đầu cho tháng còn gọi là ngày “sóc” hoặc ngày giao hội chứa điểm sóc là sự thẳng hàng lần lượt của: TĐ - Mt - MT cho đến ngày “sóc” kế tiếp, tháng này như đã nói dài hơn 29,530598... ngày, như vậy ngày sóc là ngày “không trăng”.     Về mặt số số học ngày âm lịch chỉ là phản ánh chu kỳ trăng mà thôi, rộng ra thì cả số số học tháng âm lịch cũng sẽ chẳng phản ánh gì về khí hậu 4 mùa cả.     Nhưng để theo được gần đúng với mùa màng khí hậu của năm dương thì phép làm lịch âm đã đặt ra các tháng năm âm nhuận có 12 hoặc 13 tháng Mt.

         Năm âm có 13 tuần trăng gọi là năm nhuận.     Trong đó quy ước cứ tháng trăng nào mà không có trung khí (khí giữa 2 tiết lệnh) thì được coi là tháng nhuận, trường hợp nhiều tuần trăng không có trung khí thì chọn tuần trăng không có trung khí kề trước Đông chí làm tháng nhuận, cũng trên quy ước tháng có khí đông chí là tháng 11 âm và các tháng 11, 12, 1 âm thì không lấy nhuận.    Thấy rằng cứ 19 năm Dương thì có gần khớp với 235 tháng tuần trăng, vậy 19 năm dương ấy cũng sắp xếp được thành 19 năm âm trong đó có 7 năm âm nhuận.     Thiên văn, người ta xác định tính trước từng “sóc” trước Đông chí này đến “sóc” trước Đông chí kề sau, nếu thời gian đó > 365 ngày thì là năm âm nhuận còn < 365 ngày thì là năm âm không nhuận.     Trong 19 năm âm & dương đó thì các năm âm nhuận thường là các năm: 3, 6, 8 hoặc 9, 11, 14, 17, 19.     Tuy nhiên để phù hợp hơn nữa với năm dương thì thứ tự ấy cũng có chu kỳ thay đổi là cứ 342 năm (18 lần của 19 năm) thì cần phải bớt đi một năm âm nhuận.

    - Nhật Nguyệt thực & hiện tượng Thuỷ triều.     Trăng tròn trăng khuyết.     Và tại sao chúng ta chỉ nhìn thấy 1 phía của mặt trăng:

         Ngày giao hội chứa điểm sóc (như đã nói) là sự thẳng hàng lần lượt của: TĐ - Mt - MT & như vậy ngày sóc là ngày “không trăng”, trong một chu kỳ sóc (tháng Mt) ấy thì cũng còn một ngày giao hội không chứa điểm sóc là sự thẳng hàng lần lượt của: MT - TĐ – Mt và đấy là ngày trăng tròn.

         Hoàng đạo và bạch đạo (quỹ đạo Mt) lệch nhau khoảng 5 độ, bạch đạo lại giao động với biên độ rất lớn (đến 20 độ, do sự nhiễu loạn của lực hấp dẫn và từ trường các hành tinh khác), nên sự thẳng hàng giao hội ở trên hầu hết chỉ là thẳng hàng tương đối.     Góc nhìn (biểu kiến) MT và Mt thì gần bằng nhau (ta nhìn thấy chúng to như nhau) nên xung quanh ngày sóc “không trăng” nếu xảy ra giao hội thẳng hàng tuyệt đối thì ta có hiện tượng Nhật thực do Mt che khuất làm ánh sáng MT không đến được TĐ.    Ngược lại xung quanh ngày Trăng tròn cũng có sự giao hội là sự thẳng hàng của MT - TĐ - Mt và nếu sự thẳng hàng ấy là tuyệt đối thì ta có hiện tượng Nguyệt thực do TĐ che khuất ánh sáng MT và in bóng mình lên Mt.

         Không chỉ Mt chịu sức hút của TĐ để trở thành vệ tinh của TĐ mà TĐ cũng phải chịu sức hút hút lại của Mt tác động lên lớp nước đại dương.     Vào xung quanh các ngày giao hội (mồng 1 và ngày rằm của tháng trăng), do sức hút tổng cộng của MT và Mt đặt lên TĐ là lớn nhất nên các ngày đó sẽ có triều cường đồng thời triều kiệt xảy ra.

         Sức hút của TĐ ảnh hưởng rất lớn đến Mt làm cho Mt trở thành hành tinh riêng của TĐ.     Không những thế mà sức hút của TĐ còn làm cho chu kỳ tự quay quanh trục của Mt trở thành đồng bộ với thời gian chu kỳ nó quay quanh TĐ là 27,32166… ngày, khiến cho từ TĐ nhìn lên ta chỉ thấy được một phía của Mt mà thôi.     Trong thời gian 1 chu kỳ quay quanh TĐ, Mt vẫn phải tiếp tục theo cùng TĐ trên quỹ đạo TĐ nên phải cộng thêm một thời gian nữa mới đủ đến điểm giao hội “sóc” (là ngày mồng 1 âm) và như vậy sẽ lập ra trật tự ra chu kỳ tháng tuần trăng có 29,530598… ngày.

         Mt cũng tự quay quanh trục của nó nên tất nhiên các mặt (phía) của nó cũng lần lượt được MT chiếu sáng với chu kỳ “ngày” Mt gấp 27, 32166… lần ngày TĐ & ngày của Mt dài đến như vậy nên nhiệt độ chênh lệch ngày đêm của nó lên đến 2600 C (trung bình ngày 1070 & đêm là âm 1530).      Cũng do các mặt của Mt lần lượt được MT chiếu sáng nhưng biểu kiến của nó lại luôn chỉ hướng một mặt về TĐ nên ở TĐ ta sẽ chỉ thấy 1 bề mặt Mt duy nhất ấy sẽ có hiện tượng: trăng lưỡi liềm rồi trăng tròn & trăng khuyết.

    - Can chi được gép vào tháng trăng âm lịch & năm âm lịch:

         Đó là sự gán gép khiên cưỡng nhằm quy định các ngày lễ hội liên quan đến đêm trăng hoặc không trăng và phục vụ tập tục chọn ngày, ngoài ra không còn ý nghĩa nào khác.

    6. 24 cung tiết khí của Hoàng đạo ứng với 12 cung tháng & 4 mùa khí hậu.

         Tra cứu trên các lịch tính sẵn, Hoàng đạo đã được phân chia thành 24 tiết khí, tiết và khí thứ tự xen nhau: giữa các tiết là các khí, các tiết thì ứng với 12 cung tháng.        Á Âu đều phân định cứ 3 tiết là một mùa với tiết Lập xuân là bắt đầu của mùa xuân, Lập hạ bắt đầu cho mùa hạ, Lập thu bắt đầu mùa thu, Lập đông bắt đầu cho mùa đông.

         Trung Quốc cổ học như các môn TT, Bát quái v.v đều gép 12 cung tiết tháng vào 4 mùa.      Theo đó, tiết Lập xuân là bắt đầu cho tháng Dần, rồi thứ tự đến các tiết khác cho các tháng còn lại, như vậy mùa xuân gồm các cung tiết tháng Dần mão thìn, mùa hạ là các tiết tháng Tỵ ngọ mùi, thu là các tiết Thân dậu tuất, đông: Hợi tý sửu.    Như vậy, các môn cổ học sẽ lấy thời điểm Lập xuân là mốc cho 1 năm mới, chứ không phải quan niệm đơn thuần ngày mồng 1 tháng "giêng" (tết Nguyên Đán) theo lịch tuần trăng là "năm mới". 

         Về mùa "tương ứng với ngũ hành" thì:      Mùa xuân thì khí hậu còn ẩm lạnh nhưng cây cối đâm chồi nảy lộc rồi tràn ngập lá xanh, mùa hạ thì nhiệt nóng nhất, mùa thu mát mẻ dễ chịu đến cuối mùa là lá cây rụng về cội gốc, mùa đông hanh khô hàn lạnh nhất mà cây cối chỉ còn trơ trọi những nhánh cành nằm im đợi mùa xuân.

    7. Khí hậu miền Bắc phản ánh tương đối 4 mùa. 

        Đây là bảng số liệu: cột hàng ngang thứ 2 là nhiệt độ C trung bình cao và trung bình thấp, cột hàng ngang cuối là lượng giáng thuỷ mm nước, của các tháng ở Hà Nội năm 2008.     Trong bảng, chủ quan sắp xếp bắt đầu là tháng 2 dương (do tháng 2 thì luôn có chứa tiết Lập xuân tức là tháng Dần) rồi đến các tháng khác, cứ 3 tháng là 1 mùa sẽ tương ứng với 4 mùa theo tiết lệnh để tiện so sánh:

                    Xuân                               Hạ                                Thu                               Đông

     tháng 2

      "dần

        3

      mão

        4

      thìn

       5

       tỵ

       6

      ngọ

       7

      mùi

        8

      thân

       9

      dậu

      10

     tuất

      11

      hợi

      12

       tý

        1

      sửu"

    19 độ c

    16 độ c

      22

      18

     27

     22

      31

      25

      32

      27

      32

      27

      32

      27

      31

      26

      28

      23

      24

      19

       22

      16

      19

      14

     30 mm

      40

      80

     195

     240

      320

      340

      255

      100

      40

      20

      20

         Sẽ thấy ở Hà Nội, có thể phân chia các lệnh tháng “nhiệt nóng nhất nhưng lại kèm lượng giáng thuỷ cao nhất” là: Tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu.       Các lệnh tháng “hàn lạnh nhất kèm lượng giáng thuỷ thấp nhất” là: Hợi, tý, sửu, dần, mão.        Còn lại 2 lệnh tháng giao thời: không nhiệt nóng hoặc hàn lạnh quá với lượng giáng thuỷ trung bình là: Thìn, tuất.

         Bảng số liệu trên chỉ phản ảnh được một phần biểu tượng ngũ hành  hoả nhiệt và hàn lạnh thuỷ mà nếu chỉ xét riêng các biểu tượng ấy thì rõ ràng chúng làm đảo lộn tượng khí Ngũ hành của 4 mùa (ngũ hành 4 mùa sẽ nói sau).       Điều đó có lẽ do Hà Nội thuộc vùng Nhiệt đới có khí hậu đại dương sẽ có những điểm khác so với Bắc Kinh thuộc vùng Ôn đới khí hậu lạnh ẩm.

         Cũng ở khu vực Hà Nội, nếu chịu khó quan sát thêm các ngũ hành khác như Mộc, ta sẽ thấy vào tiết Lập xuân dù trời vẫn còn đang vô cùng hàn lạnh nhưng đã thấy mầm non của cây cối trong tự nhiên đồng loạt nhú mầm đâm chồi báo hiệu tiết xuân.      Trung Quốc, người ta có lẽ “đạp tuyết tìm mai” là vậy.

         Khi học và nghiên cứu lý thuyết âm dương ngũ hành ta có thể lấy vùng kinh tuyến thuộc HN - Bắckinh mà phân ra vùng nhiệt đới thì mộc hoả thổ thịnh vượng, vùng ôn đới thì thổ và kim thịnh, vùng hàn đới thì hàn thuỷ thịnh.     Lãnh thổ VN thì nằm trọn trong vùng nhiệt đới, còn TQ là vùng ôn đới.

    Lịch pháp, Tiết khí, 4 mùa.