Bạn vui lòng Đăng nhập nếu đã có tài khoản tại Yume.vn
Hoặc Đăng ký tài khoản miễn phí.
27/2 Ngày “Lương y phải như từ mẫu”
26/02/2009 20:08 | 1,504 lượt xem
Lấy mốc là ngày bức thư này được gửi, từ năm 1955, ngày 27 tháng 2 được chọn làm ngày Thầy thuốc Việt Nam.
&&&&&&&&&&&&
Năm 1986, Mấy anh bạn Bác sỹ biệt phái cùng tôi lên nhận công tác ngày đầu thành lập huyện miền Núi Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam. Các anh đã thuyên chuyển về thành phố Đà Nẵng - Tam Kỳ từ lâu(riêng viethu còn ở lại đến hôm nay hix). Hôm nay Bệnh viện Đa Khoa huyện tổ chức gặp mặt nhân ngày thầy thuốc VN, tri ân những người có công gây dựng cơ ngơi ngay từ đầu, dù tôi trái nghề, không là thầy thuốc, nhưng đối với bệnh viện Đa Khoa Huyện, hầu như đều có mặt tôi trong những tháng năm khó khăn ấy. Các anh điện thoại tới tấp mời tôi về dự họp mặt cho bằng được.... Đang dự đám hỏi của cô cháu gái, tôi phải xin phép họ hàng đến dự cho các anh vui lòng.
Gặp nhau, tay bắt mặt mừng... Kỷ niệm 23 năm vui buồn trôi qua, nhưng mãi không bao giờ tôi quên được!
Bác sỹ Lê Quang Thông nổi tiếng về Siêu Âm chẩn đoán, người bạn tri kỷ... của viethu! Anh có viết một tự truyện về cuộc đời làm nghề Y - viethuvn trích đăng một phần như sau :
.................................

Đường về Hiệp Đức ngày nay

BS Lê Quang Thông - đi về Hòn Kẽm Đá dừng một thắng cảnh của Hiệp Đức
Năm 1985 cơ duyên hay số mệnh đã có một người cộng sản chân chính - thanh liêm, quang minh chính đại -người này đã giúp tôi trở lại ngành Y vô vụ lợi sau những năm dài lang thang từ Bệnh viện Lao, bán sách cũ…mất bảy năm dằng dặc…sau khi tốt nghiệp năm 1978. Người đó là Bs Hòang Thao - Giám đốc Sở Y tế Quảng nam - Đà nẵng lúc chưa tách tỉnh- Bs Hòang Thao sau khi công tác Campuchea về, ông biết tôi là Bác sĩ thất nghiệp sau sự cố mâu thuẫn tại Bệnh viện Lao, hiện đang bán sách,báo cũ ở vỉa hè…ông xem lại các đơn tôi đã nộp nguyên vọng xin bổ nhiệm huyện nào cũng được miễn là đúng công tác chuyên môn mà các tiền nhiệm trước đó như Bs Trần minh Tuấn, Bs Nguyễn văn Sâm… chẳng đóai hòai tới, dù tôi đã mấy chục lần có khi đứng dưới mưa chờ hàng đêm tại tư gia… cũng thông cảm cho họ thôi vì lý lịch con “sĩ quan Ngụy” quá nặng nề không ai thèm lưu tâm…không khéo liên lụy…và tôi cũng tưởng bỏ nghề…thì may thay…
1986 Ngài Tổng bí thư Nguyễn văn Linh đề xuất“Đổi mới” Bs Hòang Thao là con người đi trước Đổi mới,1985 ông đã có chính sách trọng dụng tất cả mọi chất xám dù đào tạo chế độ
nào…và để xoa dịu “cánh bảo thủ” ông đề ra chính sách đi huyện miền núi 2 năm sẽ về lại thành phố, một số bác sĩ thất nghiệp như tôi, Bs Đỗ Diệu Quê, Bs Lê văn Phú…lần lượt vào lại ngành Y và tôi vui vẻ “phiêu lưu” lên huyện miền Núi mới
thành lập “với lòng phơi phới dậy tương lai”,lúc đó lời hứa 2 năm sau sẽ về thành phố tùy thuộc vào người lãnh đạo còn tại chức hay không,người khác lên thay chính sách thay đổi,
anh sẽ chôn chân trên huyện miền núi xa xôi này…vĩnh viễn.
Bs Hòang Thao con người chân chính ấy khó trụ vững trước cơn giông bão của “cánh bảo thủ”, “chủ nghĩa cơ hội” và tranh dành đọat chức,ông bị mất chức giám đốc Sở Y tế nhưng cả cuộc đời ông được tất cả mọi đồng nghiệp yêu thương, những lần ông về Đà nẵng nằm viện vì tuổi già đau yếu, lượng người thăm ông nườm nượp đã nói lên tình cảm của nhưng người mến mộ ông…trong khi có những quan chức ra đi không một nén hương của vài người tiễn biệt…
Bs Hòang Thao thôi chức lúc tôi đang còn công tác Hiệp Đức…tôi không bỏ về vì không muốn ông liên lụy và cũng muốn chứng tỏ ông dùng đúng người, và thời gian sau trong hòan cảnh đổi mới của đất nước và những ngày gian khổ tại Hiệp Đức không ai nỡ ngăn đường về TP Đà nẵng của tôi khi hai năm ở miền núi… bằng mười năm đồng bằng?
Lúc đó các bạn đồng nghiệp nhìn tôi ra đi với ánh mắt ái
ngại thương cảm…vì xem như “lưu đày…biệt xứ”…nào ngờ “họa trung hữu phúc”…Hiệp Đức đã giúp cho tôi sống hiên ngang, tự tin và chân giá trị của một thầy thuốc chân đất đúng
nghĩa. Ngày tôi lên Hiệp Đức có một người rất mừng rỡ đó là
anh BS Bùi Quy Cương,anh biết tôi sẽ thế chỗ của anh và anh về lại Đà nẵng, ảnh tưởng chôn chân nơi miền đất núi rừng này rồi như anh Thân Trọng Cư Quế sơn đấy thôi! Anh Cương trên tôi hai lớp người nóng tính nhưng tính tình hào phóng bộc trực, chuyên môn giỏi,tửu lượng cũng khá, tôi ví anh như một trong hảo hán Lương Sơn bạc, anh đã làm cho nhân dân và huyện ủy Hiệp Đức tin cậy yêu thương khiến tôi bị cái bóng của anh qúa lớn tôi khó vượt qua anh, nhưng chính nhờ anh tôi đã bắt buộc tạo “danh” cho mình để tồn tại
và sống giữa lòng nhân dân Hiệp Đức như anh…
Nhân dân Hiệp đức xem anh Cương như “thánh” các câu chuyện bên bàn nhậu kể về anh mổ ruột thừa trong mùng bằng dao lam và khâu bằng chỉ may trong ánh sáng chập chùng của đèn dầu…đã tạo cho anh biết bao huyền thọai…(vụ này viethuvn cũng tham gia từ đầu đến cuối, đứng cầm đèn PIN soi cho anh Cương mổ) ...
Ngày đó nội khoa tôi đã vững, ngòai những năm tháng tại trường Y sau giải phóng, bác sĩ thiếu nên Y6 (nội trú) có nhiều quyền hạn trong điều trị và những tháng ngày thất nghiệp ,nghề bán sách rảnh rỗi chẳng biết làm gì ngòai đọc đủ các lọai sách kể cả sách y học sau giải phóng…bán rất rẻ…Tôi đã điều trị nhiều ca nội khoa sốt rét ác tính,viêm gan siêu vi, hồi sinh sét đánh…ngọan mục, đỡ đẻ ngôi thuận, ngôi ngược…dạy các nữ hộ sinh thủ thuật Mauriceau trong ngôi
ngược,đặt forcep làm tất tần tật…Nhưng đối với quần chúng nhân dân nghe mổ xẻ hay tí máu me họ mới nể,mới tin… những người dân tại đây bao năm bị chiến tranh, trình độ giới
hạn cứ nghĩ bác sĩ là làm được tất cả, cho nên chúng tôi phải nhổ hết ba cái răng gần rụng của các cụ già chỉ cần cột sợi chỉ giật mạnh như lang vuờn là xong, nhưng phải gây tê, dùng kềm mới oai…các cụ mừng lắm khỏi phải về Đà nẵng xa xôi…cắt amiđan bằng kềm Sluder như chớp dưới đèn pha của xe Simpson Đông Đức…và từ đó nhân dân truyền tụng bác sĩ đa tài nhổ răng, cắt amiđan không đau cứ râm ran…lan truyền…
Một ngày nọ cơ duyên đã đến… sản phụ Mạc thị Bưởi 35t uổi, băng huyết nhập viện trong tình trạng huyết áp 90/60, tôi đeo găng và khám biết ngay nhau tiền đạo…với “nhị dương chỉ”
tiếp xúc với cảm giác mềm mềm của bánh nhau trong cổ tử cung đã hé mở… bệnh nhân này chỉ cần chuyển đi vài cây số mất máu là chết ngay,lúc đó huyện lộ Hiệp Đức là đường đất sình lầy,xe gỗ cày nát tòan ổ voi… đi lại rất khó khăn…nếu chuyển thì lỡ có chết dọc đường cũng không sao, đổ lỗi bệnh
quá nặng ngòai khả năng cứu chữa, mổ thì có thể cầm máu cứu sống như sách vở và thực tế đã dạy, nhưng lỡ chết thì…”thân bại danh liệt”…tôi nhớ anh Văn Quảng đã dạy tôi mổ năm xưa… tôi rất cương quyết và trong thâm tâm tôi chỉ nghĩ một điều tại sao ta có thể cứu được người mà không làm? Cần gì thanh danh…”Tiến thóai lưỡng nan, đi về lận đận,ngày xưa lận đận,tiến thóai lưỡng nan” Trịnh công Sơn nhắc nhở rồi đấy, hãy quyết định đi… Tôi hỏi ý kiến Y sĩ Nguyễn văn Thỏa lúc đó là giám đốc,tuổi nhỏ hơn tôi, anh ta ái ngại hỏi tôi có chắc cứu được không, vì mổ mà tử vong ở huyện thì…”suốt đời lận đận”. Tôi rất tự tin và bắt chặt tay Thỏa cương quyết mổ tại đây,Thỏa là người trẻ nhưng rất hay…tuy chức vụ cao hơn nhưng luôn khiêm tốn học hỏi chuyên môn và kính nể tôi, nhất là niềm tin “tuyệt đối” của anh trong trường hợp này… Khi nghĩ về những năm tháng ở Hiệp Đức tôi luôn nhớ ơn anh đã tạo cho tôi những điều dễ
dãi trong lúc “hàn vi” kiếm sống nuôi vợ con…vài năm sau Thỏa học ra Bác sĩ hiện nay đang công tác tại Quảng nam, Anh Thỏa là gương hiếu học phấn đấu không ngừng, ở cương vị chỉ huy anh biết dùng người xứng đáng là người lãnh đạo… đến nay thỉnh thỏang anh em rất thâm tình…thường nhắc lại chuyện xưa với những tình cảm thân thương…người tốt lúc nào cũng được điều tốt! Phòng mổ lúc này khá hơn thời anh BsCương,có y sĩ gây mê,máy phát điện…Cả bệnh viện khẩn trương theo quyết định của tôi,điện sáng chuyển bệnh nhân phòng mổ(chẳng vô trùng gì cả,đó là phòng tiểu phẩu, cửa sổ đóng lưới).Tôi bảo Y sĩ Tuấn tiêm liều Ketalar tĩnh mạch(lọai thuốc mê duy nhất bệnh viện có) sau khi tiêm Tuấn báo tôi Huyết áp 60/40…máu làm gì có…phải làm nhanh thôi, mổ thân tử cung rất lẹ…lẹ đến nổi đem cháu bé trai kháu khỉnh vẫn còn kịp cất tiếng khóc chào đời không bị ảnh hưởng thuốc mê, Y sĩ Thỏa và các nữ hộ sinh vui mừng chăm sóc đứa bé… còn tôi biết phải tiêp tục làm gì để ngăn chận nguyên nhân mất máu…bóc nhau lẹ…tiêm ocytocin và khâu…móc chỉ,cột …khâu nhanh, nhanh …huyết áp lên dần…tử cung go tốt…ngòai kia bình minh hừng sáng, tiếng chim hót…như reo vui với tất cả chúng tôi thành công ca mổ đẻ đầu tiên tại huyện mới thành lập “mẹ tròn con vuông”…Tôi nghĩ, một phần nhờ trời… “may thầy phước chủ”…(Vụ này viethu cũng có mặt tích cực giúp đỡ, lăng xăng chụp ảnh nhưng rất tiếc ảnh trắng đen , tự in tráng nên đến giờ bị hư hết hic hic .......)
Thời kỳ mới thành lập huyện ngòai anh Cương, còn có Ys LêSơn (hiện nay là Bs Trưởng khoa Phục hồi Chức năng BV Đà nẵng),Bs Nguyễn Sơn(nay là Phó Trưởng Khoa Nhi BV Đànẵng). Sau đó có Bs Nguyễn Quốc Đạt(nay làTiến sỹ Phó Giám đốc Bệnh viện Mắt Đà Nẵng) mới tốt nghiệp theo chính sách Bs Hòang Thao “lên núi tu luyện” trước rồi về thành phố…,có Bác sĩ Lê Kỳ(nay nghỉ hưu), được bổ nhiệm Phó Giám đốc huyện Hiệp Đức để chuẩn bị cho YS Thỏa đi học bác sĩ…và nhiều bác sĩ trẻ sau này nữa ! Phát huy từ kết quả ban đầu thành công, các Bs mạnh dạn tiếp tục triển khai phẩu thụât tại huyện…có khi buồn vì mổ ít quá,anh em chúng tôi đi lùng các ca thóat vị bẹn người già và trẻ em về mổ… Từ đó uy tín đối với nhân dân Hiệp đức nâng cao…bây giờ hơn 20 năm rời khỏi Hiệp đức nhân dân và lãnh đạo vẫn còn nhắc đến anh em chúng tôi…với lòng thương mến… thật là niềm hạnh phúc vô biên cho người thầy thuốc…
Gần đây khi trở lại Hiệp đức trao tặng máy Siêu âm do một người giàu lòng nhân ái là anh Thân Đức Nam - tài trợ đội ngũ thầy thuốc bây giờ quá hùng mạnh kể cả lượng và chất, mổ nhiều ca ngọan mục hơn chúng tôi thời ấy bấy giờ…chúng tôi chỉ là những kẻ tiên phong lúc gian khó,nay Hiệp đức đã vươn lên như Phù Đổng…thật chẳng bỏ công anh em chúng tôi tổn bao tâm huyết xây dựng…"thuơng hiệu” trong những ngày đầu…thành lập huyện.........
.....................................................................(.còn nữa........)
BS Lê Quang Thông(đăng trong tạp chí Siêu Âm số 49 )

Anh Phan Như Lâm phó bí thư Thành uỷ Đà Nẵng
(nguyên Bí thư Huyện uỷ Hiệp Đức)
Và các anh chị em Bác sỹ
BS Thông, BS Lê Sơn(đứng)&anh Phan Như Lâm
Hoa soan nở đầy trên các nẻo đường
Chúc mừng các Y Bác sỹ và các bạn nhân ngày thầy thuốc VIệt Nam 27/2
Các bệnh nhân thường muốn:
"Lương y như từ mẫu"
Thầy thuốc hết lòng vì bệnh nhân,
Bác Sỹ cũng muốn lắm
Cũng rất thương bệnh nhân
Và tìm mọi cách để cứu chữa người bệnh.
Khi bệnh nhân ra viện đến cám ơn thầy thuốc một chút với tấm lòng biết ơn thật cảm động,
Nhưng có nhiều hơn số đó lại cho rằng mình không có tiền thì Bác sỹ, y tá chẳng chữa cho đâu, thật buồn lắm thay!
Còn bạn .... Bạn nghĩ thế nào ????
Liên hệ
Xem các bài viết khác
Giữa cuộc sống hối hả nhiều khi người ta không còn quan tâm nhiều đến ý nghĩa của những việc mình đang làm...Đôi khi tĩnh tâm nhìn lại ta thường "giật mình" với những gì mình đã làm và chưa làm, với trách nhiệm và tình thương chưa thực hiện... Và rồi, hết đêm rồi lại ngày, cuộc sống lại tiếp tục hối hả...
_Trong thư gửi Hội nghị cán bộ ngành Y tế tổ chức vào ngày 27.2.1955, Hồ Chí Minh nhắn nhủ trách nhiệm của cán bộ y tế: “Thương yêu người bệnh – Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khỏe cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, chăm sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. “Lương y phải như từ mẫu”, câu nói ấy rất đúng”.
Lấy mốc là ngày bức thư này được gửi, từ năm 1955, ngày 27 tháng 2 được Nhà nước Việt Nam chọn làm ngày Thầy thuốc Việt Nam.
Đọc bài viết cũa anh ... thật vinh quang thay cho những người thầy thuốc có cái tâm như thế . Nhưng trong cuộc sống hôm nay .. cũng có những con sâu làm rầu nồi canh . làm sao đễ không tránh khõi điều ấy ... Em mong rằng những tấm gương như anh đã thấy và chứng kiến , còn mãi và sẽ là những tấm gương sáng , đễ xứng đáng với câu nói mà đã tồn tại bao lâu này ... Lương Y như từ mẫu
Trong XH có hai nghề mà rất được mọi người nể trọng đó là nghề trồng người (nhà giáo) và nghề cứu người (bác sĩ).
Câu "lương y như từ mẫu" đã có từ rất lâu rồi và những người làm nghề y luôn tâm nguyện giữ sao cho trọn cũng như lời thề Hipocrat vậy.
Anh VT thật quả may mắn đã được sống và làm việc những con người có y đức, có trình độ như thế.
Nhân ngày TTVN xin chúc những anh chị em làm nghề y một sức khoẻ thật tốt. có trình độ và y đức để chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng ngày một tuyệt vời hơn.
Cũng như các ngành nghề khác cũng đâu tránh khỏi hiện tượng tiêu cực, ăn hối lộ, đút lót, vòi tiền của dân... BB chỉ hy vọng đó là con số nhỏ ...
Chúc các y, bác sỹ nhân ngày Thầy thuốc VN. Suy tôn những y, bác sỹ đã thực hiện đúng "Lương y như từ mẫu". ![]()
nghe chú kể câu chuyện con thấy mừng quá ...đúng là khi học chỉ được 5 phần ,khi ra làm có nhiều cái mà khi học không có ,nhưng ta vẫn sử trí đc ,
lần con về bệnh viện huyện thực tập con cũng được phụ mổ 2 ca mổ đẻ ,3ca mổ ruột thừa...đó là lần ấn tượng nhất mà con có đó chú ạ...bởi ở các bệnh viện lớn bọn con không đc tham gia ...
lại đến ngày thầy thuốc VN con lại nhớ lại nhiều kỉ niệm êm đềm quá chú ạ...
không ai là hoàn hảo ,các nhân viên y tế cũng vậy chú à...cuộc sống và thời gian không ngừng lại ...con hiểu câu hỏi của chú có lẽ từ hai phía chú à ,nhiều nhân viên y tế cũng không thực sự tốt như ....con là một người trong ngành y con hiểu như thế nào...nhưng cuộc sống vẫn phải tiếp diễn đúng không chú ...nhân ngày 27/2 chúc các nhân viên ngành y có nhiều sức khỏe và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao,....
|
ẩn chi tiết 06:30 (2 giờ trước đây)
|
|
|||||||||||||||||||||||||||
Chú viết về đề tài này hay quá ..Mọi người vẫn luôn luôn hy vọng còn có những vị xứng đáng là " Lương Y "
lương y như từ mẫu
-- nhiều mỹ từ đẹp quá, mà đẹp chừng nào dân oải chừng ấy !!!![]()
thế nên lương y " PHẢI " là từ mẫu
nghe cũng thích , nhưng chắc phải vài chục năm nữa ....![]()
nhân ngày thầy thuốc cũng mừng "đãi bôi" vài câu cho các hắn suy nghĩ ![]()
chúc ngày nhà thuốc VN nha anh ... hy vọng 5 chữ LƯƠNG Y NHƯ TỪ MẪU ... MÃI MÃI VẪN LÀ HÌNH ÃNH ĐẸP TRONG LÒNG MỌI NGƯỜI ..
CHÚC ANH MỘT NGÀY VUI VẼ .
Ngày trước chú cũng là bác sĩ hả chú.
Chú là sếp à. Toàn thấy quen các ông bự cả
Cho H chúc mừng các thầy thuốc vn nhá. Chúc cho các bác sĩ trị bệnh cứu ngừoi có tâm có đức đừng có gây khó khăn cho bà con các vùng quê xa là tốt rồi. Ở quê con đi bệnh viện khổ lắm, Ăn chực nằm chờ cả tháng trời luôn à.
Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720 - 1791) là đại danh y có đóng góp lớn cho nền y học dân tộc Việt Nam. Sống trong thời buổi loạn lạc (Trịnh - Nguyễn phân tranh, các cuộc khởi nghĩa nổ ra liên miên) ông đã biết thoát khỏi vòng danh lợi, chuyên tâm nghiên cứu y thuật, viết sách, chữa bệnh cho nhân dân. Ông để lại nhiều tác phẩm lớn như Hải thượng y tông tâm lĩnh gồm 22 tập, 66 quyển chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền, các cuốn Lĩnh Nam bản thảo, Thượng kinh kế sự không chỉ có giá trị về y học mà còn có giá trị văn học, lịch sử, triết học.
Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn Ông. Sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tỵ (11-12-1720) tại thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương. Nay là xã Hoàng Hữu Nam huyện Yên Mỹ, tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên, ông sống nhiều (từ năm 26 tuổi đến lúc mất) ở quê mẹ xứ Bầu Thượng, xã Tĩnh Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn và cũng qua đời ở đây vào ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791) thọ 71 tuổi. Mộ ông nay còn nằm ở Khe nước cạn chân núi Minh Từ thuộc huyện Hương Sơn (cách phố Châu huyện lộ Hương Sơn 4 cây số).
Lê Hữu Trác là con thứ bảy của Lê Hữu Mưu và bà Bùi Thị Thưởng.
Dòng họ của ông có truyền thống khoa bảng; ông nội, bác, chú, anh và em họ đều đỗ tiến sĩ và làm quan to. Cha Lê Hữu Trác đỗ đệ tam giáp tiến sĩ làm Thị lang Bộ Công triều Lê Dụ Tông, gia phong chức ngự sử, tước bá, khi mất được truy tặng Thượng thư.
Năm Kỷ Mùi (1739) Lê Hữu Trác 20 tuổi thì cha qua đời, ông rời kinh thành về nhà, vừa trông nom gia đình vừa chăm chỉ đọc sách, thi vào tam trường, sau đó không thi nữa.
Năm 1739 cũng là năm mở ra quy mô lớn của phong trào nông dân nổi dậy chống phong kiến, chỉ một năm sau (1740) nghĩa quân của Hoàng Công Chất đánh sát huyện ông. Chàng thư sinh trẻ tuổi Lê Hữu Trác đang mê mải đọc sách phải lánh đi nơi khác đọc sách. Có người thấy thế đã bảo ông “Binh lửa khắp nơi, con trai thời loạn há chịu già đời ở trong phòng sách mãi sao?” và khuyên ông nên theo nghề võ. Từ đó ông vừa dùi mài kinh sử vừa nghiên cứu binh thư. Sau nhờ ẩn sĩ họ Võ ở Đặng Xá dạy võ thuật âm dương (phép bói toán độn số), ông “nghiên cứu trong vài năm cũng biết được đại khái, mới đeo gươm tòng quân để thử nghiệm sức học của mình” (Tựa “Tâm lĩnh”).
Chiến tranh phong kiến đã gây đau thương chết chóc cho biết bao nhiêu gia đình làng xóm, nó không đem lại gì cho nhân dân, cho đất nước; đã làm cho Lê Hữu Trác chán nản muốn ra khỏi quân đội, nên ông đã nhiều lần từ chối sự đề bạt của tướng nhà Trịnh. Ông nhận ra theo Lê hay Trịnh cũng là chỉ theo đuổi chiến tranh “cốt nhục tương tàn”; cái chí mạnh “xung Ngu Đẩu” của ông cũng hóa “ngông cuồng” mà thôi. (Đọc bài thơ trong lời tựa bộ “Tâm lĩnh”). Cho nên năm 1746 khi người anh ở Hương Sơn mất, ông viện cớ về nuôi mẹ già, cháu nhỏ thay anh, để xin ra khỏi quân đội, thực sự “bẻ tên cởi giáp” theo đuổi chí hướng mới.
Lê Hữu Trác bị bệnh từ lúc ở trong quân đội, giải ngũ về phải gánh vác công việc vất vả “trăm việc đổ dồn vào mình, sức ngày một yếu” (Lời tựa “Tâm lĩnh”), lại sớm khuya đọc sách không chịu nghỉ ngơi, sau mắc cảm nặng, chạy chữa tới hai năm mà không khỏi. Sau nhờ lương y Trần Độc, người Nghệ An là bậc lão nho, học rộng biết nhiều nhưng thi không đỗ, trở về học thuốc, nhiệt tình chữa khỏi.
Trong hơn một năm chữa bệnh, nhân khi rảnh rỗi ông đọc sách thuốc “Phùng thư cẩm nang” hiểu được chỗ sâu xa của sách thuốc. Ông Trần Độc thấy lạ, muốn đem hết cái hiểu thấu về y học truyền cho ông. Vốn là người thông minh học rộng, ông mau chóng hiểu sâu y lý, tìm thấy sự say mê ở sách y học, nhận ra nghề y không chỉ lợi ích cho mình mà có thể giúp người đời, nên ông quyết chí học thuốc.
ở Hương Sơn, ông làm nhà cạnh rừng đặt tên hiệu Lãn Ông (ông lười) ý nói lười biếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi, của quyền thế, tự do nghiên cứu y học, thực hiện chí hướng mà mình yêu thích gắn bó.
Giữa cảnh thiên nhiên tĩnh mịch của núi rừng Hương Sơn, sớm khuya mê mải đọc các sách thuốc: Y học nhập môn, Cảnh nhạc toàn thư, Nam dược thần hiệu (của Tuệ Tĩnh), Bảo sinh diệu toản yếu… thật là:
Sá chi vinh nhục việc đời,
Đem thân đạo nghĩa vào nơi lâm tuyền.
(Bất can vinh nhục sự
Bảo đao nhập cùng lâm.
An bần - Y lý thâu nhàn)
Hải Thượng Lãn Ông muốn tìm thầy, tìm bạn để học thêm nhưng nơi núi rừng hẻo lánh “trên không có thầy giỏi để học, dưới không có bạn hiền giúp, chỉ một mình nói với mình, tự hỏi tự đáp mò mẫm tưởng tượng đủ thứ” (Lời tựa “Tâm lĩnh”) để tìm ra chân lý. Sau ông nhờ một ông lang ở làng bên đi lại thân mật, giúp ông giải đáp những mắc mớ, vài ba năm sau ông đã chữa được một số bệnh thông thường trong gia đình và làng xóm.
Mùa thu năm Bính Tỵ (1754) Lê Hữu Trác ra kinh đô mong tìm thầy để học thêm vì ông thấy y lý mênh mông nhưng không gặp được thầy giỏi, ông đành bỏ tiền mua một số phương thuốc gia truyền, trở về Hương Sơn “từ khước sự giao du, đóng cửa để đọc sách” (Tựa “Tâm lĩnh”), vừa học tập và chữa bệnh. Mười năm sau tiếng tăm của ông đã nổi ở vùng Hoan Châu (Nghệ An).
Sau mấy chục năm tận tụy với nghề nghiệp, Hải Thượng Lãn Ông đã nghiên cứu rất sâu lý luận Trung y qua các sách kinh điển: Nội kinh, Nam kinh, Thương hàn, Kim quỹ; tìm hiểu nền y học cổ truyền của dân tộc; kết hợp với thực tế chữa bệnh phong phú của mình, ông hệ thống hóa tinh hoa của lý luận Đông y cùng với những sáng tạo đặc biệt qua việc áp dụng lý luận cổ điển vào điều kiện Việt Nam, đúc kết nền y học cổ truyền của dân tộc. Sau hơn chục năm viết nên bộ “Lãn ông tâm lĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển bao gồm đủ các mặt về y học: Y đức - Y lý, Y thuật, Dược… Phần quan trọng nữa của bộ sách phản ảnh sự nghiệp văn học và tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông.
Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng 43 (1782) Lãn Ông nhận được lệnh chúa triệu về kinh. Lúc này ông đã 62 tuổi, sức cũng yếu lại là người chăm lo chữa bệnh cho trăm họ, nhất là ông đã quyết chí xa lánh công danh, theo đuổi nghiệp y đã mấy chục năm nên ông nhận chiếu chỉ của chúa Trịnh với tâm trạng vừa lo lắng, vừa chán nản; mãi sau nghĩ đến bộ “Tâm lĩnh” chưa in được, mà ông “không dám truyền thụ riêng ai, chỉ muốn đem ra công bố cho mọi người cùng biết, nhưng việc thì nặng sức lại mỏng, khó mà làm được” (Thượng kinh ký sự), nên ông hy vọng lần đi ra kinh đô có thể thực hiện việc in bộ sách, phần “con cái trong nhà cũng hết sức van nài”, ông tạm làm vui từ giã gia đình, học trò rời Hương Sơn lên đường.
Ra kinh vào phủ chúa xem mạch và kê đơn cho thế tử Trịnh Cán, ông được Trịnh Sâm khen “hiểu sâu y lễ” ban thưởng cho ông 20 xuất lính hầu, và bổng lộc ngang với chức quan kiểm soát bộ Hộ để giữ ông lại. Nhưng Lãn Ông thấy nếu nhận thưởng chịu ơn thì khó lòng rời kinh đô trở lại Hương Sơn được, nên ông giả ốm không vào chầu, sau lại viện cớ tuổi già mắt hoa, tai điếc thường ốm yếu để được trọ ở ngoài.
Bọn ngự y ghen tị với Lãn ông không chịu chữa theo đơn của ông, nên thế tử không khỏi, ông biết thế nhưng không hề thắc mắc với bọn thầy thuốc thiếu lương tâm này, mặt nữa ông không thật nhiệt tình chữa, kết quả để sớm thoát khỏi vòng cương tỏa của quỳên thần, danh lợi.
Thời gian ở kinh đô, Lãn Ông muốn về thăm cố hương Hải Dương của mình, nhưng mãi đến tháng 9 năm 1782, sau chúa Trịnh mới cho phép ông về. Sau hơn 20 năm xa cách, được trở về mảnh đất “chôn nhau cắt rốn”.
Đang sống giữa quê hương, ông lại có lệnh triệu về kinh vì Trịnh Sâm ốm nặng. Nhận được lệnh triệu, ông đành phải rời quê hương.
Về kinh ông chữa cho Trịnh Sâm khỏi và cũng miễn cưỡng chữa tiếp cho Trịnh Cán. Trịnh Sâm lại trọng thưởng cho ông. Ông bắt buộc phải nhận nhưng bụng nghĩ: “Mình tuy không phải đã bỏ quên việc ẩn cư, nhưng nay hãy tạm nhận phần thưởng rồi sau vứt đi cũng được” (Thượng kinh ký sự).
Trịnh Sâm chết vì bệnh lâu ngày sức yếu, Trịnh Cán lên thay, nhưng Trịnh Cán cũng ốm dai dẳng nên “khí lực khô kiệt”, khó lòng khỏe được, lại nóng lòng trở về Hương Sơn, Lãn Ông đang tìm kế thoái lui, thì may có người tiến cử một lương y mới, ông liền lấy cớ người nhà ốm nặng rời kinh.
Hải Thượng Lãn Ông trở về Hương Sơn bằng đường thủy, nhưng sợ triều đình bắt trở lại ông phao tin đi đường bộ. Thoát khỏi kinh đô ông sung sướng như “chim sổ lồng, cá thoát lưới”, lòng chỉ muốn “bay nhanh” về quê nhà:
Lên đường từ giã long lâu
Gươm đàn nửa gánh ra ngay đô thành,
Ngựa quen đường cũ về nhanh,
Quay thuyền khi lúc lênh đênh giữa dòng.
Mây qua đường để bớt nồng
Núi non mở mặt như lòng vì ai
Xanh xanh một dải non đoài
Giống non ta có chỉ vài hòn thôi.
(Thượng kinh kí sự).
Ngày 2 tháng 11 (năm 1782) Lãn Ông về đến Hương Sơn.
Gần một năm sống giữa kinh đô phong kiến biết bao công danh phú quí lôi kéo, nhưng ông “thung dung” ra đi lại “ngất ngưởng” trở về, lòng trong không hề đục, chí lớn không hề sờn.
Năm 1783 ông viết xong tập “Thượng kinh kí sự” ghi lại tỉ mỉ chuyển đi kinh, tập kế ấy là một tác phẩm văn học vô cùng quí giá. Mặc dầu tuổi già, công việc lại nhiều: chữa bệnh, dạy học, nhưng ông vẫn tiếp tục chỉnh lý, bổ sung, viết thêm (tập Vân khi điển, năm 1786) để hoàn chỉnh bộ “Tâm lĩnh”. Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác không chỉ là danh y có cống hiến to lớn cho nền y học dân tộc, ông còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của thời đại.
Nhân ngày Thầy Thuốc Việt Nam chúc các Lương Y sức khỏe và hạnh phúc.
chúc mừng ngày thầy thuốc việt nam.
câu luơng y như từ mẫu.
em thấy còn phụ thuộc vào nhiều hoàn cảnh anh ạ.
trong khi cuộc sống của y bác sỹ còn khó khăn thì vấn đề
y đức còn là gánh nặng trên vai khi phải lo cơm áo gạo tiền.
nếu mình kinh doanh trên sức khỏe của mọi người thì là mất đức.
trong các chính sách xã hội cần quan tâm nhiều hơn đến đời sống
cũa người làm trong ngành y.để các y bác sỹ toàn tâm hơn đến công
việc khám chữa bệnh đó là điều nhiều người có tâm huyết với nghề mong
muốn nhất.