Bạn vui lòng Đăng nhập nếu đã có tài khoản tại Yume.vn
Hoặc Đăng ký tài khoản miễn phí.
Phụ Nữ Việt Nam Anh hùng - DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA
06/03/2009 14:12 | 5,273 lượt xem

Huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá cho đến nay vẫn còn lưu truyền nhiều truỳen thuyết về thời kỳ bà chuẩn bị khởi nghĩa chống giặc Ngô. Đó là chuyện "Bà Triệu thu phục được con voi trắng một ngà", chuyện "Đá biết nói" rao truyền lời thần nhân mách bảo từ trên núi Quan Yên.
1.- CÔNG CHÚA HUYỀN TRÂN
Vào cuối thế kỷ 13, sau khi cùng liên kết đẩy lui cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ, mối giao hảo giữa Đại Việt và Chiêm Thành (Champa) khá tốt đẹp. Tháng 2 năm tân sửu (1301), nước Chiêm Thành gởi sứ giả và phẩm vật sang thăm viếng ngoại giao. Khi đoàn sứ giả Chiêm Thành về nước, thái thượng hoàng Trần Nhân Tông đi theo. Lúc đó thượng hoàng đã xuất gia đi tu, gặp khi rảnh rỗi, ông qua thăm Chiêm Thành, vừa để trả lễ, vừa để du ngoạn, từ tháng 3 đến tháng 11 âm lịch cùng năm.
Vua Chiêm Thành là Chế Mân (Jaya Simhavarman IV, trị vì 1287-1307), nguyên là thái tử Bổ Đích (Harijit), con đầu của vua Jaya Simhavarman III hay Indravarman XI (trị vì 1257-1287). Thời kháng Nguyên, vua Jaya Simhavarman III đã già, Bổ Đích nắm trọng trách điều khiển việc nước, và đã chỉ huy quân Chiêm đẩy lui lực lượng của Toa Đô (Sogatu).
Trong cuộc gặp gỡ với vua Chế Mân, Trần Nhân Tông hứa gả con gái mình là công chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Có thể lúc đó Trần Nhân Tông muốn làm cho nền bang giao giữa hai nước Việt Chiêm bền vững qua cuộc hôn nhân nầy. Lời hứa của thượng hoàng Trần Nhân Tông gặp nhiều phản bác về phía triều đình nước ta. Thời đó, quan niệm khắc khe về phân biệt chủng tộc đã khiến cho các quan và cả Trần Anh Tông, vị vua đương triều, ngăn trở cuộc hôn nhân nầy.
Mãi đến khi Chế Mân quyết định tặng hai châu Ô và Rí (Lý) ở phía bắc Chiêm Thành làm sính lễ, Trần Anh Tông mới nhận lời, và lễ cưới diễn ra năm 1306 (bính ngọ). Năm 1307 (đinh mùi), Trần Anh Tông đổi châu Ô thành Thuận Châu [Thuận = theo, theo lẽ phải], châu Lý thành Hóa Châu [Hóa = thay đổi, dạy dỗ]. So với ngày nay, Thuận Châu từ phía nam tỉnh Quảng Trị và phía bắc tỉnh Thừa Thiên ngày nay; Hóa Châu gồm phần còn lại của tỉnh Thừa Thiên và phía bắc tỉnh Quảng Nam ngày nay; diện tích tổng cộng vùng đất nầy khoảng 10.000 km2.
Huyền Trân được vua Chế Mân phong tước hoàng hậu Paramecvari. Đám cưới được hơn một năm, Chế Mân từ trần (1307). Vua Trần Anh Tông thương em, sợ Huyền Trân bị đưa lên giàn hỏa thiêu chết theo chồng trong tục lệ Chiêm Thành,(1) nên nhà vua cho tướng Trần Khắc Chung (tức Đỗ Khắc Chung) sang Chiêm lấy cớ viếng tang, rồi lập mưu đưa Huyền Trân và con là Đa Da trở về Đại Việt.(2) Theo Đại Nam nhất thống chí, quyển 16 viết về tỉnh Nam Định, sau khi trở về nước, Huyền Trân công chúa đã đến tu ở chùa Nộn Sơn, xã Hổ Sơn, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Sách nầy không cho biết chính xác thời điểm công chúa đi tu, nghĩa là công chúa đã đi tu ngay khi về nước hay sau khi đã về già?(3) Số phận hoàng tử Đa Da không được sử sách nhắc đến.
Cuộc hôn nhân Huyền Trân và Chế Mân tượng trưng cho sự phát triển một cách hòa thuận về phương nam theo truyền thống sống cùng và để người khác cùng sống của người Việt. Sự hy sinh của công chúa Huyền Trân đã được một tác giả vô danh đề cao trong một bài ca Huế theo điệu nam bình rất được truyền tụng cho đến ngày nay:
“Nước non ngàn dặm ra đi, mối tình chi,
Mượn màu son phấn, đền nợ Ô Ly,
Đắng cay vì, đương độ xuân thì,
Số lao đao hay nợ duyên gì?
Má hồng da tuyết, quyết liều như hoa tàn trăng khuyết,
Vàng lộn với chì,
Khúc ly ca cớ sao mà mường tượng Nghê thường!
Thấy chim hồng nhạn bay đi, tình tha thiết.
Bóng dương hoa quỳ
Nhắn một lời Mân quân, nay chuyện mà như nguyện,
Đặng vài phân, vì lợi cho dân,
Tình đem lại mà cân,
Đắng cay trăm phần...”(4)
2.- CÔNG CHÚA NGỌC VẠN
Vào đầu thế kỷ 17, sau khi Nguyễn Hoàng từ trần năm 1613, con là Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên, lúc đó 51 tuổi (tuổi ta), lên kế vị và cầm quyền ở Đàng Trong từ 1613 đến 1635. Theo di mệnh của Nguyễn Hoàng, Sãi Vương quyết xây dựng Đàng Trong thật vững mạnh để chống lại chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Do đó, ông giao hảo với các nước phương nam để củng cố vị thế của ông.
Phía nam nước ta là Chiêm Thành và Chân Lạp (tức Cambodia ngày nay). Lúc đó, vua Chân Lạp mới lên ngôi là Chey Chetta (trị vì 1618-1628). Ông nầy muốn kết thân với chúa Nguyễn để làm thế đối trọng với vua Xiêm La (Siam tức Thái lan ngày nay), nên đã cầu hôn với con gái Sãi Vương.
Không có sử sách nào ghi lại diễn tiến đưa đến cuộc hôn nhân nầy. Có thể vì ngày trước, quan niệm người Chân Lạp là man di, nên các sách sử nhà Nguyễn tránh không ghi lại việc nầy. Bộ Đại Nam liệt truyện tiền biên, khi ghi chép về các con gái của Sãi Vương, đến mục “Ngọc Vạn”, đã ghi rằng: “Khuyết truyện” tức thiếu truyện, nghĩa là không có tiểu sử. Gần đây, Bộ gia phả mới ấn hành năm 1995 của gia đình chúa Nguyễn cho biết là vào năm 1620 (canh thân) Sãi Vương gả người con gái thứ nhì là Nguyễn Phúc Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp là Chey-Chetta II.(5)
Ba năm sau cuộc hôn nhân của Ngọc Vạn, Sãi Vương cử một sứ bộ sang Chân Lạp xin vua Chey-Chetta II nhượng khu dinh điền ở vùng Mô Xoài, gần Bà Rịa ngày nay. Nhờ sự vận động của hoàng hậu Ngọc Vạn, vua Chân Lạp đồng ý cho người Việt đến đó canh tác. Đây là lần đầu tiên người Việt chính thức đặt chân lên đất Chân Lạp, và Mô Xoài là bàn đạp để người Việt dần dần tiến xuống đồng bằng sông Cửu Long.
Chồng công chúa Ngọc Vạn, vua Chey-Chetta II từ trần năm 1628. Từ đó triều đình Chân Lạp liên tục xảy ra cuộc tranh chấp ngôi báu giữa các hoàng thân. Năm 1658 (mậu tuất) hai hoàng thân So và Ang Tan nổi lên đánh vua Chân Lạp lúc bấy giờ là Nặc Ông Chân (trị vì 1642-1659), nhưng thất bại, xin nhờ thái hậu Ngọc Vạn giúp đỡ. Thái hậu Ngọc Vạn chỉ cách cho hai người nầy cầu cứu chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn lúc bấy giờ là Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần, cháu gọi thái hậu Ngọc Vạn bằng cô ruột, liền cử phó tướng Tôn Thất Yến (hay Nguyễn Phúc Yến), đang đóng ở Phú Yên (dinh Trấn Biên), đem 3.000 quân qua giúp, bắt được Nặc Ông Chân ở vùng Mô Xoài (Bà Rịa ngày nay), đưa về giam ở Quảng Bình vì lúc đó nhà chúa đang hành quân ở Quảng Bình. Tại đây, Nặc Ông Chân từ trần năm 1659.(6)
Chúa Nguyễn phong So lên làm vua Chân Lạp tức Batom Reachea (trị vì 1660-1672). Từ đó, nước ta càng ngày càng can thiệp vào công việc của Chân Lạp và đưa người thâm nhập nước nầy, dần dần tiến đến sinh sống tận mũi Cà Mau như ngày nay.
Như thế, đã hai lần bà Ngọc Vạn đã dẫn đường cho người Việt mở đất về phương nam. Lần thứ nhất sau cuộc hôn nhân năm 1620 và lần thứ nhì trong cuộc tranh chấp nội bộ vương quyền Chân Lạp năm 1658.
3.- CÔNG CHÚA NGỌC KHOA
Như trên đã viết, Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên có bốn cô con gái. Hai người lớn nhất và trẻ nhất có chồng Việt. Người thứ nhì là công chúa Ngọc Vạn kết hôn với vua Chân Lạp. Vậy số phận cô công chúa thứ ba tên là Nguyễn Phúc Ngọc Khoa như thế nào mà trong Đại Nam liệt truyện tiền biên, tiểu truyện của Ngọc Khoa cũng đề là “khuyết truyện”?
May thay, sách Nguyễn Phúc tộc thế phả, do chính Hội Đồng Nguyễn Phúc tộc viết lại, đã chép rằng:"...Năm tân mùi [1631] bà [Ngọc Khoa] được đức Hy Tông [Sãi Vương] gả cho vua Chiêm Thành là Pôrômê. Nhờ có cuộc hôn phối nầy mà tình giao hảo giữa hai nước Việt Chiêm được tốt đẹp.” (7)
Vấn đề không đơn giản chỉ là tình giao hảo giữa hai nước, mà lý do cuộc hôn nhân nầy còn sâu xa hơn nhiều.
Thứ nhất, năm 1629, lưu thủ Phú Yên là Văn Phong (không biết họ) liên kết vơi người Chiêm Thành nổi lên chống lại chúa Nguyễn. Sãi Vương liền cử Phó tướng Nguyễn Hữu Vinh, chồng của công chúa Ngọc Liên, đem quân dẹp yên, và đổi phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên.(8)
Cuộc rối loạn nầy làm cho Sãi Vương rất lo ngại, vì lúc đó chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc vừa mới bùng nổ năm đinh mão (1627) tại vùng Bố Chính (Quảng Bình ngày nay). Nếu ở phía nam, Chiêm Thành mở cuộc chiến tranh chống chúa Nguyễn thì ông sẽ lâm vào tình trạng “lưỡng đầu thọ địch”.
Thứ hai, vào cuối thế kỷ 16, người Chiêm Thành thường buôn bán với người Bồ Đào Nha ở Macao, thuộc địa của Bồ trên đất Trung Hoa. Thương thuyền Bồ Đào Nha hay ghé buôn bán trao đổi với người Chiêm ở các hải cảng Cam Ranh và Phan Rang.(9) Do đó, nếu triều đình Chiêm Thành liên kết với người Bồ Đào Nha để chống lại Đại Việt, thì thật là nguy hiểm chẳng những cho chúa Nguyễn và nguy hiểm cho cả nước ta. Điều nầy làm cho chúa Nguyễn lo ngại, nhất là khi Pô Ro mê là một người anh hùng, lên làm vua Chiêm Thành (trị vì 1627-1651).(10)
Có thể vì cả hai nguyên nhân trên, Sãi Vương quyết định phải dàn xếp với Chiêm Thành, và đưa đến cuộc hôn nhân hòa hiếu Việt Chiêm năm 1631 giữa Ngọc Khoa, con của Sãi Vương, với vua Chiêm là Poromê, nhắm rút ngòi nổ của phía Chiêm Thành, bảo đảm an ninh mặt nam.
Các sách tây phương ghi nhận rằng không hiểu vì sao, sau năm 1639 thì cuộc giao thương giữa Chiêm Thành và người Bồ Đào Nha không còn được nghe nói đến nữa.(11) Phải chăng việc nầy là hậu quả của chuyện công chúa Ngọc Khoa sang làm hoàng hậu Chiêm Thành tám năm trước đó (1631)?
Sử sách không ghi lại là bà Ngọc Khoa đã làm những gì ở triều đình Chiêm Thành, chỉ biết rằng truyền thuyết cũng như tục ngữ Chiêm Thành đều có ý trách cứ, nếu không muốn nói là phẫn nộ, cho rằng bà Ngọc Khoa đã làm cho vua Pô Ro mê trở nên mê muội và khiến cho nước Chiêm sụp đổ.
Trong sách Dân tộc Chàm lược sử, hai ông Dohamide và Dorohiem cho biết theo lời của một vị "Pô Thea", người phụ trách giữ tháp Pô Ro mê, kể cho tác giả E. Aymonier câu chuyện rằng vua Pô Ro mê có ba vợ. Bà vợ đầu là Bia Thanh Chih, con của vị vua tiền nhiệm đã truyền ngôi cho Pô Ro mê. Bà nầy không có con. Pô Ro mê cưới người vợ thứ nhì là một cô gái gốc Ra đê, tên là Bia Thanh Chanh. Bà nầy sinh được một công chúa, sau gả cho hoàng thân Phik Chơk. Hoàng thân Phik Chơk lại "liên kết với vua Yuôn [chỉ người Việt] và cho triều đình Huế rõ nhược điểm trong tâm tánh của Pô Ro mê: sự yếu đuối trước sắc đẹp mỹ nhân. Vua Yuôn đã cho một công chúa thật đẹp giả dạng làm khách thương sang nước Chàm. Do sự sắp xếp khéo léo, tin tức về nữ khách thương duyên dáng ngoại bang nầy đến tai Pô Ro mê, nên Pô Ro mê đã cho dời đến và khi vừa thấy mặt thì đã phải lòng ngay. Người Chàm gọi vị công chúa Yuôn nầy là Bia Ut hay Nữ Hoàng Ut cũng thế. “(12)
Theo truyền thuyết Chiêm Thành, bà Ngọc Khoa hay Bia Ut đã dùng sắc đẹp mê hoặc Pô Ro mê, khiến ông chặt bỏ cây "kraik", biểu tượng thiêng liêng của vương quốc Chiêm Thành, vì vậy sau đó vương quốc nầy sụp đổ.(13) Dân chúng Chàm thường truyền tụng câu đố: "Ô hay ngài linh thiêng, rước vợ từ kinh, lim ngài mất ứng."(Sanak jak po ginrơh patrai, tok kamei Ywơn mưrai kraik po lihik ginrơh). Ngoài ra, người Chàm còn dùng tên bà Bia Ut trong một câu thành ngữ để mỉa mai những phụ nữ béo mập: "Béo như bà Ut " (Limưk yơu Bia Ut).(14)
Ngoài việc thần linh hóa câu chuyện, truyền thuyết trên đây đã phản ảnh một phần sự thật lịch sử, đó là nước Chiêm Thành, một lần nữa suy yếu hẳn đi sau cuộc hôn nhân Việt Chiêm năm 1631, nhờ đó, người Việt nhanh chóng vượt qua Chiêm Thành, xuống đồng bằng sông Cửu Long.
Như thế, hai công chúa Ngọc Khoa và Ngọc Vạn, tuy không chính thức đem lại đất đai về cho đất nước như công chúa Huyền Trân, nhưng cả hai đều đã mở đường cho cuộc Nam tiến, và quả thật khoảng một thế kỷ sau đó, chúa Nguyễn đã mở rộng biên cương về phía nam như địa hình nước Việt ngày nay.
Trong lịch sử, những chiến công oanh liệt để bảo vệ đất nước và mở nươc ở dạng bùng nổ luôn luôn được ghi nhận đầy đủ, nhưng những cuộc mở nước âm thầm như việc làm của các bậc nữ lưu trên đây ít được chú ý đến. Thi sĩ Pierre Corneille (Pháp, 1606-1684), trong kịch phẩm cổ điển Le Cid, đã viết: “A vaincre sans péril, on triomphe sans gloire” (Chiến thắng không gian nguy thì khải hoàn không vinh dự). Tuy nhiên những cuộc mở nước êm đềm, không tốn xương máu của dân tộc, thì chỉ có những bậc nữ lưu can đảm và anh hùng như trên mới có thể thực hiện.
TRẦN GIA PHỤNG
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
Bà Nguyễn Thị Định


Bà Nguyễn Thị Định (còn gọi là Ba Định) sinh tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, Bến Tre. Năm 16 tuổi bà đã tham gia phong trào cách mạng địa phương, Năm 1945, bà tham gia giành chính quyền tại Bến Tre. Khi chiến tranh nổ ra, năm 1946 bà tham gia tổ chức vượt biển, mở tuyến chi viện vũ khí cho Nam Bộ.
Hiệp định Giơnevơ ký kết, bà bí mật ở lại hoạt động tại Bến Tre. Năm 1959, bà là người khởi xướng và lãnh đạo phong trào Đồng khởi ở Mỏ Cày, Bến Tre và lan rộng ra khắp vùng Đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ, hình thành "Đội quân tóc dài" nổi tiếng.
Năm 1960 , bà tham gia xây dựng Quân Giải phóng miền Nam. Năm 1965, bà nhập ngũ, giữ chức Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam.
Bà được phong quân hàm Thiếu tướng..

Các bậc nữ lưu Việt Nam còn nhiều quá !
Kể sao cho hết !!
Mừng lễ kỷ niệm
cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng
và ngày 8/3 ngày Quốc Tế Phụ Nữ
*********************
CHÚ THÍCH:Mang tính lưu trữ lịch sử
1. Nghi lễ vợ hỏa thiêu theo chồng trong Ấn giáo gọi là trà tỳ (suttee), còn thịnh hành ở Ấn Độ cho đến khi người Anh cai trị và bãi bỏ vào năm 1829.
2. Đại Việt sử ký toàn thư [chữ Nho], Hà Nội: bản dịch Nxb. Khoa học Xã hội, 1993, tập 2, tr. 91.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, bản dịch tập 3 của Viện Sử học, Huế: Nxb. Thuận Hoá tái bản, 1997, tr. 358.
4. Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên, Trần Lê thời đại [Quyển 2], Nxb. Văn Hữu Á Châu, Sài Gòn, 1959, tt. 272-273.
5. Hội đồng Trị sự Nguyễn Phúc tộc, Nguyễn Phúc tộc thế phả, Huế: Nx. Thuận Hóa, 1995, tt. 113-114, 126. Trần Trọng Kim trong VNSL bỏ qua sự kiện nầy. Trong Việt sử xứ Đàng Trong, Phan Khoang chép việc nầy nhưng không đưa tên công chúa Ngọc Vạn. Trong phần chú thích, ông viết : "Việc nầy sử ta đều không chép, có lẽ các sử thần nhà Nguyễn cho là việc không đẹp nên giấu đi chăng? " Sau đó, Phan Khoang cẩn án rằng: "...Xem Liệt truyện tiền biên, mục công chúa, thấy chúa Hy Tông có bốn con gái, hai nàng Ngọc Liên và Ngọc Đảnh thì có chép rõ sự tích chồng con, còn hai nàng Ngọc Vạn, Ngọc Khoa thì chép là "khuyết truyện", nghĩa là không rõ tiểu truyện, tức là không biết chồng con như thế nào. Vậy người gả cho vua Chey Chetta II phải là Ngọc Vạn hay Ngọc Khoa." (Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong [Sài Gòn], Houston: Nxb. Xuân Thu tái bản không đề năm, gồm 2 quyển thượng và hạ, đánh số trang xuyên suốt từ q. thượng qua q. hạ, tt. 400-401) Phan Khoang có lý khi viết như vậy. Về khu dinh điền, sách Thế phả (tr. 113) nói vùng Mô Xoài (Bà Rịa ngày nay). Sách của Phan Khoang (trang 401) viết là Prey Kôr tức Sài Côn hay Sài Gòn ngày nay, nhưng dựa vào lời tấu trình của Nguyễn Cư Trinh năm 1755, nói rằng người Việt vào Hưng Phước, Đồng Nai (nói chung là Phước Long), rồi mới đến Sài Côn, vậy Thế phả đúng.
6. Phan Khoang, “Cuộc tranh giành ảnh hưởng ở nước Chân Lạp giữa Tiêm La và các chúa Nguyễn”, đăng trên tập sang Sử Địa, số 14, Sài Gòn: 1969, tr. 78. Phan Khoang dựa vào tài liệu của người Pháp viết như trên. Các sách trước đây chép rằng Nặc Ông Chân chịu thần phục nên được Hiền Vương cho đưa về nước tiếp tục cai trị.
7. Thế phả, sđd. tr. 126.
8. Trấn Biên: thường được dùng để đặt tên cho những dinh vùng biên giới. Khi biên giới được mở rộng, dinh Trấn Biên xuống đến vùng Biên Hòa ngày nay. Nguyễn Phúc Vinh: tên thật là Mạc Cảnh Vinh, con của Mạc Cảnh Huống, có vợ là Nguyễn Phúc Ngọc Liên, con gái đầu của Sãi Vương, nên được đổi qua quốc tính là Nguyễn Phúc.
9. Pierre Bernard Lafont, "On the Relations Between Champa and Southeast Asia", đăng trong sách Proceedings of the Seminar on Champa, gồm những bài thuyết trình trong cuộc hội thảo quốc tế về Chiêm Thành tại đại học Copenhagen (Đan Mạch) ngày 23-5-1987. Sách nầy nguyên bản bằng Pháp văn, do Hội Nghiên cứu Lịch sử và Văn hóa Bán đảo Đông Dương, Paris ấn hành năm 1988, đã được giáo sư Huỳnh Đình Tế dịch sang Anh văn, ấn hành tại California, Nxb. Southeast Asia Community Resource Center (viết tắt SACRC), 1994, tr. 73.
10. Pô Ro mê là một vị vua anh hùng của Chiêm Thành, cai trị khá lâu nước nầy trong thời gian 24 năm (1627-1651). "Với những chiến công hiển hách được tô thêm nhiều chi tiết huyền thoại, Pô Ro mê đã được người dân Chàm thần linh hóa..." (Dohamide và Dorohiem, Dân tộc Chàm lược sử, Sài Gòn: 1965. tr. 147.)
11. Pierre Bernard Lafont, bđd., sđd. tr. 73.
12. Dohamide và Doroheim, sđd. tr. 149.
13. Ngô Văn Doanh, Tháp cổ Chămpa, Sự thật & Huyền thoại, Hà Nội: Nxb Văn hóa Thông tin, 1994, tt. 187-196.
14. Inrasara, Văn học dân gian Chăm, tục ngữ - thành ngữ - câu đố, TpHCM: Nxb. Văn hóa Dân tộc, 1995, tr. 201, 230. [Tác giả Insara có tên Việt là Phú Trạm.
Liên hệ
Xem các bài viết khác

-Sử tầu có Võ Tắc Thiên
còn sử ta có Hai bà Trưng, Bà Triệu .v.v.
tóm lại : phụ nữ ta tài giỏi, trung hậu, đảm đang ... bậc nhất thế giới - quá đỗi tự hào !!!![]()
thời xưa có hai bà trưng.
thời gần đây có bà bình - bà định.
thời buổi kinh tế thị trường hiện nay có rất nhiều
nữ doanh nhân rất giỏi trong làm ăn kinh tế tất cả những tấm
gương phụ nữ đều mang dòng máu con việt cháu rồng.
nhân ngày phụ nữ 8/3 chúc tất cả các mẹ các chị,em thật nhiều hạnh phúc.
H ai Bà Trưng là tên gọi tắt, suy tôn hai nữ anh hùng đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Đó là hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị, thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa lớn vào loại sớm nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam cũng như trong lịch sử nhân loại, chống xâm lược, nô dịch. Họ trở thành những nữ hoàng đầu tiên, cai quản quốc gia, dân tộc, sau khi đất nước được giải phóng, hồi đầu thế kỷ thứ nhất sau công nguyên.
Sử cũ đều chép Hai Bà là dòng dõi lạc tướng (người đứng đầu bộ lạc) Mê Linh (miền đất rộng, giữa Ba Vì và Tam Đảo) thời Hùng Vương. Truyền thuyết nói Hai Bà là con gái bà Man Thiện, cũng là một phụ nữ đảm lược, quê hương ở vùng Ba Vì. Ngọc phả ở các làng Hạ Lôi và Hát Môn - những nơi có đền thờ chính của Hai Bà - đều chép Hai Bà là chị em sinh đôi và sinh vào ngày mồng một tháng tám năm Giáp Tuất (năm 14 sau công nguyên). Các sử cũ cũng chép ràng Trưng Trắc có chồng là Thi Sách, dòng dõi lạc tướng Chu Diên (miền đất dọc sông Đáy). Đây là kết quả của một cuộc "hôn nhân chính trị", nhân đấy mà liên kết được lực lượng của hai miền đất quan trọng nhất của non sông thời bấy giờ.
Lực lượng liên kết ấy là hạt nhân của một cuộc khởi nghĩa đồng loạt, rộng lớn, mãnh liệt, nổ ra vào mùa xuân năm Canh Tý (năm 40 sau Công Nguyên) nhân việc Thái thú (quan cai trị nhà Hán) ở Giao Chỉ (miền đồng bằng Bắc Bộ) là Tô Định giết hại Thi Sách. Nhưng nguyên nhân cơ bản của cuộc khởi nghĩa là vì tinh thần yêu nước, giải phóng và khôi phục nền độc lập cho đất nước, chống áp bức, thống trị và nô dịch, đồng hóa của nhà Hán (Trung Quốc) Vào một sáng mùa xuân năm 40, tại đất Mê Linh, Hai Bà Trưng đã làm lễ tế cờ khởi nghĩa. Trong tiếng trống đồng trầm hùng, âm vang lời thề của Hai Bà trước giờ xuất binh:
Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kêu oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lệnh này.
"Trưng Trắc là người can đảm, hùng dũng" (lời thừa nhận của bộ chính sử chép về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào loại cổ nhất của Trung Quốc) đã cùng em gái đứng đầu cuộc khởi nghĩa liên kết được sức mạnh toàn dân (trong đó có đông đảo phụ nữ, như các nữ tướng: Thánh Thiên, Lê Chân, Bát Nàn, Thiều Hoa...) và toàn quốc (không chỉ gồm Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam là miền đất Việt Nam ngày nay, từ nam Trung Bộ trở ra, mà cả đất Hợp Phố bây giờ là nam Quảng Đông - Trung Quốc).
Chỉ trong một thời gian ngắn, Hai Bà Trưng đã quét sạch giặc thù khỏi bờ cõi và được tôn làm vua, đứng đầu đất nước độc lập trong thời gian ba năm.
Sau đó, nhà Hán sai lão danh tướng Phục Ba tướng quân Mã Viện cầm đầu đại quân sang tái xâm lược, Hai Bà Trưng đã dũng cảm đương đầu cùng quân giặc, tổ chức kháng chiến đánh những trận lớn từ Tây Vu, Lãng Bạc đến Cấm Khê và cuối cùng đã hy sinh anh dũng vào mùa hè năm Quý Mão (năm 43 sau công nguyên), để lại tấm gương oanh liệt nghìn thu. Hiện nay ở nhiều địa phương trong cả nước có đền thờ Hai Bà Trưng và các tướng lĩnh của Hai Bà .
Nguồn: sưu tầm
Giáo sư sử học Lê Văn Lan
(Văn hóa tổng hợp)
Anh hùng Trần Thị Vân 81 tuổi, bà vẫn giữ được ánh mắt tinh anh, cương nghị dẫu những vết thương chiến tranh vẫn âm ỉ hành hạ cơ thể người già. Chứng tắc động mạch buộc bà phải mất đi một chân từ hai năm trước. Nhưng có khách đến nhà, bà vẫn tự mình ngồi dậy, di chuyển xe lăn lên nhà đón tiếp, luôn miệng ngăn mọi ý định giúp đỡ: “Để tự qua, qua đi được mà”. Lật từng trang ảnh kỷ niệm đồng đội năm xưa cùng chiến đấu chống thù, bà kể chuyện cuộc đời cách mạng từ năm 16 tuổi: “16 tuổi, qua theo cha mẹ hoạt động cách mạng ngay tại quê hương mình, làng Phú Đông, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn mình đây. Qua hoạt động du kích đến năm 20 tuổi thì vinh dự được kết nạp vào Đảng. Những ngày tháng ấy, qua bây giờ tuổi lớn rồi có cái nhớ có cái quên. Hồi ấy, giặc đánh tan cửa nát nhà, chẳng riêng gì qua mà mỗi người dân mình đều phải anh hùng, đấu tranh với chúng nó. Bọn thực dân đóng chốt Điện Bàn nhiều lần treo giải: “Nếu ai bắt được Trần Thị Vân, sẽ trọng thưởng”. Qua cùng đồng đội càng chiến đấu. Đến sau đình chiến năm 1954, cùng đồng đội, dân làng, qua bám đất, giữ làng, xây dựng cơ sở cách mạng. Mấy năm sau thì qua bị giặc bắt, giam ở nhà lao Hội An. Chúng dùng cực hình nào, tra tấn đủ cách, qua cũng lì, không hé miệng khai một lời. Làm cách mạng, ai trong tình cảnh qua lúc ấy đều phải thế!”. Bà dừng lại, hớp một ngụm trà nhỏ rồi chỉ vào trang ảnh kỷ niệm đồng đội: “Đây, Lý đây (Anh hùng Trần Thị Lý - người đồng đội, đồng hương Gò Nổi với bà Trần Thị Vân, đã đi vào bài thơ “Người con gái Việt Nam” của Tố Hữu với những dòng xúc cảm “Em là ai, cô gái hay nàng tiên/Thịt da em là sắt hay là đồng ” khi tác giả bài thơ chứng kiến những vết thương bọn giặc dùng cực hình tra tấn để lại trên thân thể chị, gây chấn động cả dư luận thế giới thời ấy - PV)”. Câu chuyện đời tiếp diễn với giọng kể nhỏ, rưng rưng về những kỷ niệm xưa. “Mãi đến 1960, không khai thác được gì, bọn chúng thả qua. Bọn chúng nghĩ với tấm thân đầy thương tích đó, qua không còn làm gì được nữa. Vậy mà về phục sức, không hiểu sao qua còn sống được. Quê hương điêu tàn, đâu đâu cũng có dấu tích của tội ác. Thấng 10 năm 1959, phong trào đồng khởi Điện Bàn, qua giả người bán hàng rong, khi thì làm y sĩ, đủ mọi cách “qua mắt” bọn giặc, tìm đường bắt liên lạc với Huyện uỷ Điện Bàn. Tổ chức lại phân qua về Gò Nổi hoạt động phá kèm (phá vòng vây địch) ở làng Phú Đông. Tháng 4/1962, bọn chúng mở cuộc càn quét tấn công vào ngay Gò Nổi. Lực lượng quá chênh lệch, bên mình ngâm người dưới nước, nhờ lau sậy che thân chiến đấu. Chúng lùng sục gắt gao, sát hại đồng chí Mẫn ngay tại chỗ. Còn qua thì lại rơi vào tay giặc. Hai năm sau, 1964, qua không khai, không nhận, chúng buộc phải thả qua ra. Lần này, qua về, các đồng chí lãnh đạo tỉnh Quảng đà đến thăm. Đồng chí Hồ Nghinh còn động viên: “Vân về cơ sở cố giữ sức khoẻ để phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân”. Chuyện kể về nữ chiến sĩ Điện Bàn Trần Thị Vân với những chiến công anh dũng lúc ấy tiếng vang khắp quê hương. Ban Giám đốc nhà máy Vô sản Đỏ ở Liên Xô cũ đã xin lấy tên bà đặt tên cho nhà máy. Sau này có dịp sang thăm nước bạn, bà kể bà cảm thấy tự hào lắm khi thấy tên mình, tiếng Việt mình ngay cổng vào nhà máy. Nhưng với bà, vinh dự hơn cả trong cuộc đời cách mạng là được gặp vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc - Hồ Chí Minh. Và Bác hỏi: “Cháu nào là Trần Thị Vân?” “Câu hỏi của Bác làm qua xúc động không kiềm được nước mắt dù cả đêm hôm trước qua đã tự dặn mình theo lời của anh cán bộ Trung ương là gặp Bác không được khóc, dễ gây xúc động cho Bác. Đó là lần qua được chọn vào đoàn đại biểu Mặt trận giải phóng Miền Nam ra thăm Bác vào năm 1967. Qua ngồi ngay cạnh Bác trả lời: “Dạ, cháu là Vân đây”. Đồng chí Phạm Văn Đồng cũng ngồi ngay đó tiếp lời hỏi: “Vân có cảm tưởng gì khi gặp Bác?”. Qua thưa: “Con còn sống, còn gặp được Bác Hồ là thấy vui mừng lắm. Con tưởng như giấc mơ…”. Rồi Bác hỏi thăm: “Vân ra đây bố mẹ có biết không” . Khi qua báo với Bác ba mẹ qua bị tù đày, lâm bệnh đã qua đời, Bác cũng không kiềm được xúc động. Hôm trước, đoàn đến thăm Bác. Hôm sau, Bác lại đến tận nhà nghỉ K5 thăm cả đoàn. Bác thăm chỗ ở rồi bếp ăn. Xong Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ - thư ký của Bác mang kẹo ra phát cho hết thảy mọi người. Rồi cả đoàn cùng chụp hình lưu niệm với Bác. Qua còn nhớ như in, lúc đồng chí nhiếp ảnh chuẩn bị chụp thấy bị khuất bóng cây liền bảo Bác và mọi người ra một chỗ sáng hơn để chụp. Bác cầm tay qua bảo: “Mình đi cháu”. Lúc ấy qua xúc động không nói thành lời. Bộ đồ màu kem, đôi dép cao su, ánh mắt như cười, Bác Hồ gần gũi, giản dị quá! Tuổi già, khi nhớ khi quên, nhưng kỷ niệm gặp Bác, qua còn nhớ mãi trong lòng”. Bà kể, chúng tôi lắng nghe. Đôi mắt người con gái Gò Nổi được phong tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ anh dũng năm xưa xa xăm nhìn về quá khứ, như tưởng nhớ về niềm hạnh phúc 2 lần được gần Bác, như tưởng nhớ về những người đồng đội đồng cam cộng khổ, đã hy sinh trên mảnh đất anh hùng bảo vệ quê hương. Những chiến công hiển hách, những hy sinh gian khổ tù đày của bà và đồng đội còn mãi trong lời người mẹ Gò Nổi hát ru con về đất, về làng: “Quê hương chị Lý, chị Vân Chương Dương bến nước nghĩa tình đậm sâu”. Khánh Hiền (ghi chép)
đúng là dân ta là phải biết sử ta .mà con kiến thức vẫn còn kém quá ...qua bài này con học đc nhiều hơn...con cảm ơn chú
>
Nguyễn Thị Định (1920-1992)
>Nguyễn Thị Định quê Lương Hoà, Giồng Trôm, Bến Tre. Tham gia Cách mạng 1936. Nǎm 1940-1943 bị địch bắt giam tại Trạm giam Bà Rá. Nǎm 1945 Nguyễn Thị Định tham gia lãnh đạo chính quyền tỉnh Bến Tre. Nǎm 1960 Bí thư tỉnh uỷ Bến Tre. Nǎm 1965 nhập ngũ. Nǎm 1974 được phong quân hàm Thiếu tướng. Nǎm 1980 Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Đại biểu Quốc hội khoá VI, VII, VIII. Nǎm 1987-1992 Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.
Nguyễn Thị Định sinh ra trong một gia đình nông dân giầu truyền thống yêu nước. Là người phụ nữ thông minh, đôn hậu, khiêm nhường. Có sức thuyết phục đối với mọi tầng lớp phụ nữ và nhân dân trong nước và quốc tế.
Ngay từ những nǎm 1946, đất nước bị chia cắt hai miền. Nguyễn Thị Định đã là một phái viên của Nam Bộ bất chấp hiểu nguy trước phong ba bão tố và sự vây hãm của kẻ thù, bí mật vượt trên 3000km đường biển ra Hà Nội nhận chỉ thị của Trung ương và chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường. Trên đường về Nguyễn Thị Định đã hình thành được đưòng dây vận tải từ Bắc vào Nam. Chuyến vượt biển mở đường của Nguyễn Thị Định đã trở thành bài học kinh nghiệm hoạt động của phong trào chiến tranh du kích Việt Nam. Tháng 9/1972 chuyến hàng chi viện đầu tiên của Trung ương đến miền Nam đã mở ra "Con đường Hồ Chí Minh trên biển" và đoàn vận tải mang biển số "962" đã trở thành đơn vị vận tải anh hùng trên chiến trường ven biển Nam Bộ.
Nǎm 1959 hiệp định Giơnevơ về Việt Nam bị vi phạm nghiêm trọng, nguỵ quyền tay sai đế quốc với luật 10/59 lê máy chém khắp miền Nam để khủng bố phong trào Cách mạng. Nguyễn Thị Định là người khởi xướng và lãnh đạo chủ chốt phong trào Đồng Khởi ở Mỏ Cày, Bến Tre, mở đầu phong trào Đồng khởi trong toàn tỉnh và vùng Đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ. Từ phong trào Đồng khởi xuất hiện cái tên "Đội quân tóc dài" là những phụ nữ thuộc mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi không một tấc sắt trong tay song lại có sức mạnh phi thường đã phá vỡ nhiều thủ đonạ thâm độc, nhiều cuộc càn quét lớn của địch. Thắng lợi của "đôi quân tóc dài" đã hình thành phương châm "Hai chân, ba mũi giáp công" của đường lối chiến tranh nhân dân ở Việt nam. Đội quân tóc dài niềm tự hào của dân tộc nỗi khiếp sợ của kẻ thù đã ghi lại dấu ấn một thời kỳ lịch sử oanh liệt của dân tộc.
Từ 1976, đất nước thống nhất, Nguyễn Thị Định từ một nữ tướng kiên cường mưu lược trong chỉ huy chiến đấu, trong hoà bình xây dựng Nguyễn Thị Định đã trở thành nhà quản lý lãnh đạo đất nước trung thực và liêm khiết chǎm lo đến đời sống của những người dân nghèo khổ, những người bị oan ức. Nguyễn Thị Định đã dành nhiều tâm lực ở cuối đời vào ý tưởng nhân vǎn cao đẹp đỡ đầu Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, - một công trình vǎn hoá có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với phụ nữ và nhân dân Việt Nam.
Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Thị Định đã được nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng nhiều huân chương cao quý và phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Giải thưởng hoà bình Quốc tế Lê Nin. Giáo sư sử học Christine Whate trường Đại học Tổng hợp Hawai Mỹ đã viết thư gửi Nguyễn Thị Định bằng tiếng Việt Nam: "Tôi cảm thấy rất vinh hạnh khi viết thư này gửi thǎm Bà - một người phụ nữ nổi tiếng và có một vai trò quan trọng trong lịch sử thế giới, một tấm gương của người phụ nữ chân chính. Tôi rất sung sướng khi sử dụng cuốn hồi ký của Bà để dạy cho sinh viên nước mình về truyền thống Cách mạng Việt Nam".
Nǎm 1992 Nguyễn Thị Định qua đời sau một cơn đau tim đột ngột, hầu hết các tỉnh, thành Hội phụ nữ trong cả nước đều lập bàn thờ để tưởng nhớ đến Bà, theo triết lý dân gian: "Sống làm tướng chết thành thần". Nhân dân Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Tây nơi thờ Hai Bà Trư
Nhân Ngày Quốc tế phụ nữ 8 - 3, bộ phim tài liệu A Powerful Noise về 3 "nữ anh hùng" thời hiện đại, trong đó có cô gái Việt Nam Bùi Mỹ Hạnh, được công chiếu toàn thế giới. Từ những nơi đói nghèo, chiến tranh, dịch bệnh... Poster phim A Powerful Noise (Ảnh: CARE) Bộ phim do tổ chức CARE sản xuất, tập trung vào 3 người phụ nữ có số phận đặc biệt, và cách họ vượt lên định mệnh nghiệt ngã để sinh tồn và giúp đỡ cộng đồng. Nhân vật thứ 2 là Jacqueline Dembele, đến từ một trong những nơi nghèo nhất thế giới: quốc gia Mali, Châu Phi. Cha của Jacqueline Dembele đã chống lại tục lệ phân biệt đối xử với phụ nữ lạc hậu của địa phương để cho Dembele được đi học. Đoàn phim A Powerful Noise đang ghi hình chị Bùi Mỹ Hạnh tại Quảng Ninh Khi nghe những người phụ nữ phàn nàn: "Chúng tôi phải làm việc cả ngày để kiếm tiền nuôi sống gia đình, trong khi những người chồng của chúng tôi chẳng làm việc gì cả".
Hôm qua, 5/3/2009, bộ phim tài liệu A Powerful Noise được công chiếu lần đầu tiên trong khuôn khổ chương trình hội thảo trực tiếp tại 450 nhà hát trên toàn nước Mỹ.
Hàng ngàn người tham gia sẽ thảo luận trực tiếp với cựu Ngoại trưởng Mỹ Madeleine Albright, Tiến sĩ Helene Gayle - Giám đốc điều hành của Tổ chức CARE International, nhà báo từng đoạt giải Pulitzer, Marie Claire Christy và tác giả kịch bản Nicholas Kristof thông qua những chương trình thảo luận trực tuyến điện tử. Diễn viên Natalie Portman được chọn là điều khiển chương trình.

Một trong 3 nữ nhân vật chính của A Powerful Noise là Bùi Mỹ Hạnh, người phụ nữ sống tại Hải Phòng, Việt Nam có chồng và con gái 5 tuổi chết vì lây nhiễm HIV. Bản thân cô cũng đã mang mầm HIV từ người chồng. Mất chồng con, bản thân nhiễm bệnh vẫn chưa phải là bi kịch lớn nhất đối với cô gái. Sự kỳ thị xa lánh của xã hội mới là ghê gớm nhất.
Thay vì chờ chết, Hạnh lập một nhóm tương ái Hoa Bất Tử nhằm giáo dục trẻ em, phụ nữ và nam giới về công tác phòng chống HIV. Hạnh là người đầu tiên dám công khai căn bệnh của mình. Sau đó, một số người có HIV khác đã tìm đến với chị, và hình thành một nhóm để cùng nhau vượt lên số phận và chống lại sự kỳ thị.
Họ cùng tuyên truyền cho những người trong gia đình hiểu về HIV/AIDS và đi tới nhiều điểm “nhạy cảm” như bến xe, bến tàu, nhà nghỉ để nói cho thanh niên nghe về cơ chế lây nhiễm và cách phòng tránh.
Noi gương cha, Dembele tiếp tục đấu tranh cho phong trào nữ quyền ở địa phương nhằm bảo vệ các thiếu nữ trong quốc gia này tránh khỏi hủ tục man rợ cắt âm vật ở tuổi dậy thì.
Đồng thời Dembele cũng nỗ lực vận động chính quyền và người dân địa phương để các em gái được đến trường. Dembele thiết lập được một hệ thống trường nhỏ cho những người phụ nữ nông thôn, những con mồi thường trực của nạn mại dâm và nô lệ.
... họ đã vượt lên để giúp đỡ chính mình và cộng đồng
Nhân vật cuối cùng đến từ Serbi, Nada Markovic - người đóng góp công sức lớn trong việc hoà hợp cộng đồng người Serbian và Bosnian. Sống sót sau cuộc chiến tranh Bosnia, từ khu tị nạn, Nada Markovic trở về làng Kravna của mình để tìm kiếm những nạn nhân cuộc chiến.
Cùng một người bạn, Amela Salkic - một phụ nữ Bosnian - Nada Markovic gặp gỡ những người phụ nữ khác để bán hàng kiếm sống. Giữa những người phụ nữ hình thành một liên hợp tác xã giao thương sản vật giữa các làng.

(Ảnh: Tuổi Trẻ)
Markovic và Salkic - một người Bosnian và một người Serbian - đã đi bộ nhiều cây số đến tất cả các làng, các gia đình của những người này lắng nghe chia sẻ cùng họ. Họ nói chuyện với những người đàn ông, giúp đỡ những người đàn bà để cùng nhau tháo gỡ khó khăn.
Bằng quyết tâm và lòng dũng cảm Markovic và Salkic đã khắc phục được căng thẳng hận thù ở đây để xây dựng một xã hội mới, cùng phát triển nền kinh tế và cuộc sống cộng đồng. Dần dần, với sự nỗ lực và thân thiện của Markovic và Salkic, khoảng cách giữa hai cộng đồng Serbian và Bosnian đã được xóa bỏ.
Bộ phim này thực hiện trong năm 2007, đựơc coi là tiếng nói tiêu biểu của nữ quyền và sức mạnh thầm lặng của họ.
Diễn viên Meg Ryan phát biểu: "A Powerful Noise là câu chuyện của 3 người phụ nữ trên 3 lục địa khác nhau nhưng có một điểm chung: nghị lực và trách nhiệm cộng đồng. Sự nỗ lực thầm lặng của họ không chỉ đóng góp mà còn tích cực cải thiện thế giới. 3 người phụ nữ ấy thực sự là những anh hùng. Họ đã biến những nỗi đau riêng, cuộc sống riêng của họ thành bài học chung cho gia đình họ, cộng đồng của họ và cho thế giới của chúng ta".
"Trong thế giới của đói nghèo, chia cắt, chiến tranh và dịch bệnh, ba người phụ nữ đã làm được những việc phi thường. Bộ phim không chỉ tôn vinh sức mạnh cá nhân của họ, mà cách họ dùng sức mạnh của mình để kích hoạt cộng đồng. Đó chính là cách để thay đổi thế giới chúng ta", Nhà sản xuất phim Sheila C. Johnson nói.
như vậy phụ nử chúng em mới hãnh diện nhận 8 chử vàng
ANH HÙNG BẤT KHUẤT TRUNG HẬU ĐÃM ĐANG
chứ anh ...........
Sống vĩ đại, chết vinh quang
Chúng ta thường hay nhắc đến nam tử đại trượng phu đầu đội trời chân đạp đất. Nhưng thực tế trong lịch sử dân tộc có không ít những nữ lưu hào kiệt cũng hiên ngang đội trời, đạp đất làm nên những trang sử vẻ vang chói ngời chẳng kém gì trang nam tử vậy. Thật đáng khâm phục thay!
Quan niệm về giá trị của một con người là dùng giá trị của cái chết để đổi lấy giá trị của cuộc sống hay là dùng vinh quang của cái chết đổi lấy vinh quang của cuộc sống.
Phàm những người lập nên sự nghiệp lớn hơn đời đều không ai có tâm lý tham sống sợ chết, tất phải có tinh thần vượt qua tất cả, có phong độ chở che tất cả, có tấm lòng cứu người cứu đời, mang tâm lý và khí phách sẵn sàng chết để hoàn thành sứ mạng, liều chêt cho sự nghiệp tất thành.
Giá trị của những nữ anh hùng dân tộc xưa là giá trị của truyền thống gìn giữ niềm tự hào dân tộc, là giá trị hào hùng của lịch sử đất nước... Giá trị đó mãi mãi được ghi nhớ và tôn vinh, cho dù đời người ta không cuống rễ, bay như hạt cát nhưng ý thức được về sự sống chết đã phai nhạt rồi thì tự nhiên tinh thần đại trí, đại nhân, đại dũng sẽ được mở mang và chính những điều đó là cái gốc để làm nên bậc anh hùng hào kiệt lớn.
Phụ nữ trong đấu tranh dựng nước, giữ nước là như vậy. Phụ nữ của chúng ta trong thời kỳ đổi mới cũng không ít những tấm gương được nghiêm túc nhìn nhận và tôn vinh hằng năm.
Cereus
07/03/09
Cám ơn chú Vt đã cho mọi người ôn lại những trang lịch sử của dân tộc gắn liền với những người phụ nữ anh hùng. Nói thì rất dễ nhưng để cho mọi người biết về những liệt nữ nói riêng hay lịch sử VN nói chung cũng thật là khó. Hôm qua cháu có xem TV người ta phê bình về một số nhà giáo dục học biên soan sách địa ly, lịch sử sai lệch tùm lum !
Một vài gương mặt đi thi đường lên đỉnh Olimpia cũng nhầm lẫn lung tung, chưa nói đến chuyện làm văn, chuyện thi cử. Nghĩ cũng buồn chú nhỉ.

Cũng biết rằng Yume là một mạng cộng đồng. Các Blogger tỏa sức muốn viết gì cũng được tùy theo cảm hứng... Nhưng có được những bài viết có ý nghĩa giáo dục, thức tỉnh lòng tự hào dân tôc, ghi nhớ truyền thống lịch sử của cha ông thì cũng thật là tuyệt vời. Cám ơn anh Vietthu đã có một bài viết như vậy.