VỘI VÀNG - ĐỖ ĐỨC ANH

Biên bản thảo luận nhóm:

VỘI VÀNG

Xuân Diệu

Con người thơ ấy, ngay từ buổi đầu bước chân vào làng thơ, dường như đã tự chọn cho mình một tôn chỉ: sống để yêu và phụng sự cho Tìnhyêu! Phụng sự bằng trái tim yêu nồng cháy, bằng cuộc sống say mê và bằng việc hăm hở làm thơ tình – những vần thơ có tiếng máu dồn mạnh trong huyết quản, có dòng nhựa sống tràn trề mãnh liệt của cả thế hệ đang vươn dậy! Người đã ví mình như một con chim bay hay hát tình ca lãng mạn. Và, người ta có đôi khi quên mất việc ông là một người trần mắt thịt được sinh ra sau chín tháng mạng nặng đẻ đau của một người đàn bà quê xứ biển, để cứ tưởng rằng Người đến trên lưng một con ngựa trắng từ xứ sở huyền thoại nào đó, trên tay lúc nào cũng có hoa hồng ánh trăng và trong túi áo thì luôn có thơ tình bay bổng. Đi đến đâu, Người cũng cúi xuống quỳ gối, xin cầu hôn cuộc đời. Người là ai, nếu không phải là ông hoàng thơ tình – Xuân Diệu?

Anh không xứng là biển xanh

Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng

Bờ cát dài phẳng lặng

Soi ánh nắng pha lê.

[….]

Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ, thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi.

Ðã hôn rồi, hôn lại
Cho đến mãi muôn đời.
Dù tan cả đất trời
Anh mới thôi dào dạt.

(Biển – XD)

I. TÌM HIỂU CHUNG

1. Xuân Diệu – người tình của nhân gian

a. Cuộc đời

- Xuân Diệu ( 1916-1985) tên khai sinh Ngô Xuân Diệu, bút danh Trảo Nha. Cha là ông đồ xứ Nghệ. Xuân Diệu chịu ảnh hưởng từ cha đức tính cần cù, kiên nhẫn trong học tập, trong rèn luyện tài năng và lao động nghệ thuật “tay siêng làm lụng mắt hay kiếm tìm”. Học tập, rèn luyện vừa là quyết tâm khắc khổ vừa là lẽ sống lớn. Mẹ là cô hàng nước mắm ở Quy Nhơn. Quê hương Quy Nhơn của mẹ  (kinh đô nước mắm) với ngọn gió biển nồng nàn tha thiết đã đem đến hơi thở mãnh liệt, sôi nổi trong thơ Xuân Diệu. Mối tơ hồng hai phía Đèo Ngang giữa ông đồ xứ Nghệ và cô hàng nước mắm đã để lại cho đời một thi sĩ lớn.

Ôi! Biển Quy Nhơn, biển đậm đà
Thuyền đi rẽ sóng, sóng viền hoa.
Cảm ơn quê má muôn yêu dấu
Vẫn ấp iu hoài tuổi nhỏ ta.

- Thuở nhỏ học chữ Nho và chữ quốc ngữ với cha rồi sau đó đi học ở Quy Nhơn. Xa gia đình đi học từ nhỏ, từng sống và làm việc ở nhiều nơi. Chính vì lẽ đó, Xuân Diệu luôn khao khát tình thương và sự cảm thông của người đời. Chính vì lẽ đó, người ta thường bắt gặp trong thơ Xuân Diệu một cái tôi cô đơn, khao khát giao cảm với đời.

Khao khát giao cảm với đời, Xuân Diệu viết văn làm thơ trở thành một trong những cây bút chủ lực của phong trào Thơ Mới trước CMT8. Sau CMT8, Xuân Diệu đến với Cách mạng rất tự nhiên, chân thành và nồng nhiệt: hăng hái hoạt động trong nhiều lĩnh vực, phục vụ tích cực cho hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.

Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi,
Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu,
Tôi sống với cuộc đời chiến đấu
Của triệu người yêu dấu gian lao.
(Những đêm hành quân)

Xuân Diệu qua đời vào năm 1985. Ai nấy ngỡ ngàng vì luôn nghĩ rằng Xuân Diệu sẽ trẻ mãi, một cây lớn ngã xuống, cả một khoảng trời trống vắng. Ông được trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh vào năm 1996

b. Sự nghiệp thơ văn

Xuân Diệu là cây bút có sức sáng tạo dồi dào mãnh liệt, đã để lại một sự nghiệp văn học lớn, phong phú trên nhiều lĩnh vực khác nhau: thơ, văn, phê bình văn học…. Trong đó, thơ ca chính là cây cầu linh diệu nhất bắc nhịp cho trái tím thi sĩ đến với cuộc đời.

Phong cách thơ

-          Trước CMT8, Xuân Diệu là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ với giọng thơ sôi nổi, đắm say, yêu đời thắm thiết. Tình yêu được diễn tả bằng mọi sắc thái cung bậc, từ e ấp dịu dàng đến nồng nàn, mãnh liệt, có khi điên cuồng đến si mê , thể hiện cái tôi nồng nhiệt, say đắm, sống và yêu hết mình đồng thời cô đơn, hoài nghi, chán nản, mang nỗi buồn thời đại. Xuân Diệu là một trong những cây bút chủ lực phong trào thơ Mới thời kì 1930 – 1945, chịu ảnh hưởng sâu sắc thơ ca lãng mạn phương Tây nhất là thơ Pháp.

-          Sau CMT8, thơ Xuân Diệu chan chứa niềm tin yêu cuộc sống, đất nước, luôn nỗ lực hoà cái riêng vào cái chung của dân tộc, vào cuộc sống, vào công cuộc xây dựng xã hội mới.

Các tác phẩm tiêu biểu:

+ Thơ: Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau – Cầm tay (1962), Hai đợ sóng (1967)…

+ Văn xuôi: Phấn thông vàng (1939), Trường ca (1945)…

+ Phê bình, lí luận: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (1981), Công việc làm thơ (1984)…

+ Dịch thuật: Các nhà thơ Hungari…

2. Bài thơ “Vội vàng”

a. Vị trí, xuất xứ:

   - Trong vườn thơ đồ sộ và phong phú của Xuân Diệu, Vội vàng chưa phải là bài thơ hay nhất nhưng là bài thơ tiêu biểu nhất cho hồn thơ Xuân Diệu. Đúng như một nhà phê bình văn học đã nhận xét “Cái động thái bộc lộ đầy đủ nhất thần thái Xuân Diệu có lẽ là vội vàng”, Vội vàng là bài thơ rất Xuân Diệu, là lời tự bạch chân thành, là bức chân dung tự họa về cuộc đời, tâm hồn, thần thái nhà thơ và là thông điệp sống mà nhà thơ đã chứng minh bằng cả đời người và đời thơ, gửi lại cho người đọc như sự đền đáp cho những tấc lòng tri âm.

    - Vội vàng được in trong tập “Thơ thơ” (1938), một trong những tác phẩm tiêu biểu  nhất của Xuân Diệu trước CMT8.

b. Nhan đề:

    Điệu sống vội vàng bắt nguồn từ sự ám ảnh về thời gian, vì đời người thì hữu hạn mà thời gian thì trôi chảy. Thời gian chảy trôi sẽ cuốn đi tất cả, cho nên mất thời gian là mất tất cả. Đời người ngắn ngủi, phải chớp lấy từng khoảnh khắc, phải chạy đua với thời gian, phải tranh thủ sống, sống hết mình, sống mãnh liệt, sống đã đầy, sống ý nghĩa trong từng khoảnh khắc. Ýthức ấy luôn giục giã, gấp gáp trong Vội vàng.

c. Thể loại:

   - Vội vàngkhông chia theo từng khổ đều đặn mà được cấu tứ theo dòng cảm xúc của chủ thể trữ tình.

   - Thể thơ tự do, vần và thanh điệu được sử dụng linh hoạt để chuyển tải ý, tình

d. Bố cục:3 đoạn

   Bài thơ có thể được chia ra làm ba đoạn theo sự vận động của mạch cảm xúc. Từ sự sung sướng vui tươi trước khu vườn xuân, giọng thơ chuyển sang băn khoăn, tranh biện, lo lắng, thảng thốt, tiếc nuối, để rồi ngọn lửa sống bùng cháy mãnh liệt sôi nổi trong phần kết của bài thơ. Dựa vào đó, chúng ta có thể chia bài thơ thành ba đoạn như sau:

§  Đoạn 1: 13 câu đầu: là sự thiết tha, say đắm trước vẻ đẹp của cuộc sống, tuổi trẻ, tình yêu.

§  Đoạn 2: 17 câu tiếp theo là Băn khoăn, âu sầu vì thời gian qua mau, tuổi trẻ một đi không trở lại.

§  Đoạn 3: 9 câu cuối: Rạo rực, khát khao sống vội vàng, cuồng nhiệt, tận hưởng từng giây, từng phút của tuổi thanh xuân.

Chính nhận thức mới mẻ, mặt luận lí đã chi phối hướng vận động của mạch cảm xúc đó. Mùa xuân đầy hương sắc như cuốn tác giả vào bữa tiệc trần gian đang mời gọi. Nhưng trong sung sướng, ngất ngây, chủ thể trữ tình tôi lại thảng thốt vội vàng một nửa vì nhận ra tất cả chỉ thực sự thần tiên trong cái xuân thì của nó. Con người cũng vậy, tuổi xuân không thắm lại hai lần. Đó là lí do phải sống vội vàng, sống cuống quýt, hi vọng chiến thắng thời gian bắng tốc độ sống và nhất là bằng chất lượng sống. Như vậy, Vội vàng cũng như nhiều bài thơ khác của Xuân Diệu có lối cấu tứ đan xen hòa kết nhuần nhuyễn giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí.

II. ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN:

 1.Tâm trạng thiết tha, say đắm vẻ đẹp của mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu:

a. Ước muốn của thi nhân (4 câu đầu)

- Bốn câu mở đầu bài thơ mang hình thức đặc biệt hơn so với toàn bài bởi thể thơ ngũ ngôn ngắn gọn với nhịp 2/3 chắc, mạnh. => Thể thơ cùng với nhịp thơ rất phù hợp với giọng điệu oai nghiêm, mệnh lệnh. Giọng điệu này lại được thể hiện qua cách nói mạnh mẽ bằng việc sử dụng điệp từ “tôi muốn” cùng các động từ mạnh “muốn”, “buộc”, “tắt”. Đứng giữa cuộc đời, thi nhân dõng dạc oai nghiêm khẳng định mạnh mẽ cái tôi cá nhân của mình “tôi muốn”, “tôi muốn”...

- So sánh:Trong thơ cũ, cái “tôi” không xuất hiện, thảng hoặc có xuất hiện thì cũng là ẩn mình trong cái “ta”, được gọi là phi ngã (không hiện diện cái tôi).

   + Cao Bá Nhạ trong “khúc tự tình” dài 538 câu không có lấy một chữ “tôi”.

   + Bà Huyện Thanh Quan giãi bày lòng mình cũng bằng một cái “ta” “Một mảnh tình riêng ta với ta”.

   + Kể cả bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương táo bạo là thế cũng chỉ dám nhận là kẻ hồng nhan “Trơ cái hồng nhan với nước non”.

   + Ngay khi Thơ Mới vừa ra đời, cái “tôi” xuất hiện ban đầu cũng trong một chữ “ta” dè dặt “Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt, ta nằm dài trông ngày tháng dần qua” (Thế Lữ) rồi nương mình vào chữ “ông tôi, anh tôi, bác tôi”.

   + Nhưng cuối cùng cái “tôi” cũng đã tìm được vị trí của mình. Một cái tôi không khuất lấp vào bất cứ đâu, xuất hiện ngang nhiên, mạnh mẽ và đầy khẳng định với một khát vọng, ước muốn vô cùng mãnh liệt “Tôi muốn tắt nắng”, “Tôi muốn buộc gió”. Một cái tôi muốn trải lòng mình ra, muốn giãi bày, muốn bộc bạch cảm xúc một cách hồn nhiên, chân thành và mãnh liệt nhất.

- Dõng dạc khẳng định mình giữa cõi đời, cái tôi thi sĩ ấp ủ một khát vọng, một ước muốn mãnh liệt. Đó là ước muốn “tắt nắng”, ước muốn “buộc gió”. “Tắt nắng”, “buộc gió” đâu phải là những công việc mà kẻ phàm trần mắt thịt có thể làm. Đó là quyền năng của thiên nhiên, của tạo hóa. Ước mơ tắt nắng, buộc gió - giọng điệu oai nghiêm, mệnh lệnh của thi nhân thì ra là dành cho thiên nhiên, tạo hóa.

=> Thi nhân đang muốn thay đổi quy luật tự nhiên, muốn khuất phục thiên nhiên, muốn đoạt quyền tạo hóa. Tắt nắng để màu đừng nhạt mất, buộc gió để hương đừng bay đi.

=> Đoạt quyền tạo hóa để níu bước thời gian, để lưu hương giữ sắc, để cho đóa hoa cuộc đời luôn tươi thắm sắc màu và luôn ở độ căng tràn nhất.

=> Đây là một ước muốn táo bạo, mãnh liệt và kì lạ. Kì lạ bởi nó là một ước muốn không tưởng nhưng chính sự táo bạo, mãnh liệt lại hé mở một lòng yêu tha thiết, vô bờ đối với cuộc sống trần thế này.=> Đây không phải là một ước muốn mang tầm vóc to lớn của người khổng lồ có thể ghé vai gánh đỡ bầu trời như trong thần thoại, thể hiện một hào tâm tráng chí càng không phải là ước muốn ngông cuồng, bồng bột mà đây là khát vọng cháy bỏng chỉ có ở thi sĩ, khát vọng xuất phát từ tình yêu cuộc sống thiết tha, sôi nổi, vô bờ; từ niềm đam mê đối với cái thế giới đắm sắc đượm hương này.

b) Cội nguồn ước muốn

- Cội nguồn ước muốn thi nhân là bức tranh cuộc sống trần thế. Với cặp mắt xanh non, biếc rờn; với sự cảm nhận tinh tế của một hồn yêu luôn khao khát, rạo rực, luôn đắm say, tha thiết; bức tranh cuộc sống hiện lên trong thơ Xuân Diệu là một khu vườn đẹp, lộng lẫy như một thiên đường, tràn ngập sắc hương tình ái - một thế giới đầy xuân tình.

- Không khó để nhận ra khoảng thời gian nào trong năm đang được vẽ ra trong bức tranh ấy. Là mùa xuân – là khoảng thời gian đẹp nhất trong năm. Mùa xuân tượng trưng cho tuổi trẻ - là khoảng thời gian đẹp nhất của đời người. Tuổi trẻ lại gắn liền với tình yêu. Xuân Diệu là nhà thơ của mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu. Trong đôi mắt biếc rờn ấy, đâu đâu cũng tràn ngập vẻ đẹp của ba hình ảnh này. Bức tranh cuộc sống trần thế trong Vội vàng cũng được xây dựng từ những yếu tố này, đó là một bức tranh cuộc sống tràn đầy hương màu mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu.

- Bình về mùa xuân: Với thi sĩ Xuân Diệu, năm chỉ có hai mùa: Xuân và Thu “Xuân với Thu là hai bình minh trong một năm, sự thay đổi hệ trọng nhất của tâm hồn. Và bởi vậy Thu cũng là một mùa Xuân”. Mùa xuân là mùa của cây cối đâm chồi nẩy lộc, là mùa của sinh sôi hạnh phúc. Khu vườn xuân trong bài thơ cũng vội vàng dâng sắc, tỏa hương, trao mật ngọt vì tất cả đều đang ở vào độ mơn mởn, non tơ nhất, rạo rực sức sống nhất:

§  Hoa phải là hoa đồng nội, mới có được vẻ tự nhiên và thuần khiến nhất. Lại thêm màu xanh rì, hoa đã thuần khiết lại đang ở vào độ thanh tân, mơn mởn.

§  Cành đã non tơ lại mang vẻ phơ phất như đang được gió vuốt ve, như đang cùng gió tình tự, vươn dáng nõn nà trong bức tranh xuân.

§  Hoa xanh rì đắm say, cành non tơ rạo rực như mời gọi ong - bướm, yến – anh dập dìu bay lượn.

=> Mùa xuân của Xuân Diệu, mùa xuân của Vội vàng vì vậy là một mùa xuân tràn đầy sức sống với vẻ đẹp tự nhiên, thuần khiết, đậm đà, tươi tắn, nõn nà của một thiên nhiên đang ở độ mơn mởn, căng tràn.

- Bình về tuổi trẻ: Trong bức tranh ấy, thi nhân đặc biệt chú ý đến đặc biệt chú ý đến những thời điểm quan trọng:

§  “buổi sớm”– thời điểm mở đầu cho một ngày,

§  “tháng Giêng”– thời điểm khởi đầu cho một năm,

§  cũng như tuổi trẻ đã mở đầu cho một đời người.

§  Hình ảnh “ánh sáng chớp hàng mi” là hình ảnh biểu trưng cho ánh mắt đầy nhiệt huyết, đầy khao khát của tuổi trẻ.

=> Nếu mùa xuân là thời khắc tuyệt diệu nhất của đất trời thì tuổi trẻ là khoảng thời gian quý giá nhất của đời người. Chỉ có ở tuổi trẻ người ta mới nhiệt huyết, mới mê say, mới khao khát nhất, mới sống và yêu hết mình nhất.Tất cả đều tràn đầy sức sống, tươi mới, trẻ trung và thanh tân.

- Bình về tình yêu: Với Xuân Diệu, mùa xuân còn là mùa của tình ái. Nhà thơ đã dẫn chúng ta vào khu vườn địa đàng của tình yêu với những hình ảnh lứa đôi gần gũi, gắn kết, quấn quýt, giao hòa: ong - bướm, hoa - lá,  yến - anh, tuần tháng mật, khúc tình si, cặp môi gần.

=> Bức tranh mùa xuân trong Vội vàng là một thế giới tuyệt diệu tràn đầy những thanh âm, hương sắc, mật ngọt được thi nhân đón nhận bằng sự tổng hòa của các giác quan. Không chỉ dùng thị giác để nhìn, để ngắm mà còn dùng thính giác để lắng nghe khúc nhạc tình si, điệu khúc giao hòa của ong-bướm, yến-anh; dùng vị giác để nếm sự ngọt ngào luyến ái của tuần tháng mật, của cặp môi gần; dùng khứu giác để tận hưởng mùi hương thanh tân, trinh khiết của hoa đồng nội; dùng xúc giác để cảm nhận sự ve vuốt của gió đang tình tự với cành tơ, của cặp môi căng mọng, quyến rũ đang ở rất gần... Tất cả đã gợi lên vẻ đẹp say đắm của mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu đang ở độ đẹp nhất, rực rỡ, căng trào sức sống, đầy sức quyến rũ và say mê nhất.

- Mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu, tất cả đều đang ở độ rực rỡ nhất, tươi đẹp nhất, đầy sức sống nhất, tràn ngập ánh sáng, màu sắc và niềm vui. Trước vẻ đẹp xuân thì, đầy đam mê đó, thi nhân càng đắm say, rạo rực.

§  Từ “này đây” được lặp đi lặp lại nhiều lần thể hiện tâm trạng vui sướng, tự hào. Thi nhân nao nức, hồ hởi chỉ cho mọi người thấy sự phong phú dường như vô tận của thiên nhiên. Thi nhân sung sướng như lần đầu tiên trông thấy hoa, lá, bướm, ong, cái gì cũng đẹp, cái gì cũng mê say. Bức tranh xuân càng lộng lẫy, quyến rũ hơn khi được cảm nhận qua tâm trạng đắm say, rạo rực, của một cặp mắt luôn “xanh non, biếc rờn”. Cái nhìn ấy đã trẻ hóa thế giới cũ kĩ, già nua, làm cho nó mới mẻ, đầy bất ngờ, ngạc nhiên như lần đầu tiên được khám phá bởi đôi mắt chập chững, cái bỡ ngỡ hơn người của thi sĩ Xuân Diệu.

§  Tất cả những cảnh sắc tươi đẹp cùng những xúc cảm mãnh liệt dường như kết đọng lại trong hình ảnh “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”.

Nói đến “Tháng giêng” là nói đến mùa xuân, là nói đến những gì mơn mởn, non tơ, tràn đầy sức sống. Vẻ đẹp tươi non ấy đã được thi nhân cảm nhận, thưởng thức bằng nhiều giác quan: vị giác, thị giác, trực giác. Có như thế mới thấy được “Tháng giêng ngon” và lại ngon như “một cặp môi gần” - vẻ đẹp hấp dẫn, quyến rũ, ngọt ngào – là vẻ đẹp của con người. Tháng giêng mơn mởn cành tơ, dìu dặt khúc trao duyên luyến ái, đầy ánh sáng, màu sắc, hương vị, âm thanh, hóa thành cặp môi gần gợi cảm, vừa gợi cảm xúc trần thế đắm say, nồng nàn của con người, vừa trong sáng, thanh cao không gợn chút nhục cảm. Cách so sánh độc đáo, mới lạ và đặc biệt mang đậm chất Xuân Diệu.

So sánh: Thơ xưa lấy thiên nhiên làm chuẩn cho vẻ đẹp của con người “phù dung như diện, liễu như mi”. Nguyễn Du miêu tả sắc đẹp của Thúy Kiều “Làn thu thủy, nét xuân sơn. Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”. Ở đây, sánh “tháng giêng” với “cặp môi gần”, con người đã trở thành trung tâm, là thước đo thẩm mỹ của vũ trụ, là chuẩn  mực của mọi vẻ đẹp trên thế giới. Vẻ đẹp con người là tác phẩm kì diệu nhất của tạo hóa. Không riêng Xuân Diệu, các nhà thơ mới đều xem con người là chuẩn mực cho vẻ đẹp của tự nhiên. Tuy vậy, chưa có ai có cách so sánh mạnh mẽ, táo bạo đến như thế hay nói cách khác: đây là cách so sánh rất đậm chất Xuân Diệu. Với Xuân Diệu, thiên nhiên như một người tình đầy rạo rực, đắm say, như một “cặp môi gần”. Xuân ở đây đã trở thành người tình, và thi sĩ cũng là một người tình“sẵn lòng ân ái với cuộc đời”. Nói Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới, nói Xuân Diệu là ông hoàng của thơ tình yêu cũng chính vì thế. Nỗi khao khát tình yêu thường trực trong hồn thơ Xuân Diệu đã khiến thi nhân nhìn đâu cũng đắm say luyến ái, nhìn đâu cũng hóa tình nhân, nhìn đâu cũng thấy lứa đôi tình tự. “Hoa nghiêng xuống cỏ, trong khi cỏ. Nghiêng xuống làn rêu một tối đầy” hay “Này hoa ngọc đã giật mình trắng muốt. Thoảng tay tình gió vuốt bỗng lao đao”. Đó là cảm quan tình yêu - yếu tố quan trọng làm nên hồn thơ Xuân Diệu cũng như cảm quan cách mạng – yếu tố làm nên hồn thơ Tố Hữu. Nếu Xuân Diệu nhìn đâu cũng bằng đôi mắt tình nhân đắm say thì Tố Hữu nhìn đâu cũng bằng cảm quan cách mạng, bằng đôi mắt trữ tình chính trị. Cũng là mùa xuân, cũng là tình yêu nhưng với Tố Hữu:

Chào xuân đẹp! Có gì vui đấy

Hỡi em yêu? Mà má em đỏ dậy

Như buổi đầu hò hẹn, say mê

Anh nắm tay em, sôi nổi, vụng về

Mà nói vậy: "Trái tim anh đó

Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ:

Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều

Phần cho thơ, và phần để em yêu..."

 Em xấu hổ: "Thế cũng nhiều anh nhỉ!"

 Rồi hai đứa hôn nhau, hai người đồng chí

Chốt ý:Bằng những xúc cảm chân thành, những hình ảnh đầy gợi cảm, ngôn ngữ so sánh mới lạ, độc đáo, thi nhân đã vẽ cho chúng ta một thiên đường ngay nơi trần thế. Giữa lúc “ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên” nhưng “động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi lại tỉnh” thì Xuân Diệu đã đốt cảnh bồng lai và xua ai nấy về hạ giới. Không cần ước mơ về một thiên đường ở nơi xa lạ nào, bằng những xúc cảm chân thành nhất, thi nhân đã chỉ ra một cuộc sống đẹp tươi ngay trong tầm tay, ở xung quanh ta. Trong cuộc sống tươi đẹp ấy, thi nhân khao khát tình yêu, khao khát hạnh phúc, sống hết mình bằng một tâm trạng thiết tha, đắm say và rạo rực.

c. Phức cảm trước mùa xuân:

- Câu thơ gãy nhịp giữa dòng, chia thành hai vế ngăn cách như bước chân của nhà thơ khựng lại giữa khu vườn xuân khi nhận ra giới hạn của cuộc đời.

- Dấu chấm chia đôi hai thế giới tâm trạng: sung sướng trước mùa xuân tràn đầy lạc thú trong hiện tại và cuống quýt, vội vàng với dự cảm về sự phai tàn ở tương lai. Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”: => Ngay trong mùa xuân mà thi nhân đã tiếc nuối mùa xuân, đã dự cảm về sự ra đi của mùa xuân (Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt). Thi nhân băn khoăn, lo lắng, sợ hãi bởi vì càng yêu quý, càng cuồng nhiệt, càng đắm say cuộc sống bao nhiêu thì càng sợ thời gian cướp mất nó bấy nhiêu.

=> Đây là những câu thơ bản lề, chuyển đổi tâm trạng: giọng điệu từ đắm say, tha thiết chuyển sang băn khoăn, âu sầu, lo lắng.

2. Quan niệm về thời gian và tuổi trẻ (đoạn 2)

- Yêu đời, thấu hiểu quy luật thời gian  => tiếc xuân, lo lắng và vội vàng

- Nuối tiếc => sợ hãi:

            xuân đương tới -  xuân đương qua

            xuân còn non -  xuân sẽ già

            xuân hết - tôi cũng mất

- Sự nuối tiếc bật thành tiếng thơ xót xa: “Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”.

- Điệp nghĩa “nghĩa là”: triết lí, gợi nên cảm giác mặc định => đó là dòng chảy không ngừng của thời gian mà con người đành bất lực

=> Quan niệm về thời gian: thời gian trôi nhanh, cái đẹp đến rồi đi trong phút chốc. Đi cùng với thời gian không chỉ là vẻ đẹp, mà còn là tuổi trẻ thanh xuân của đời người. (so sánh: Khác với các nhà thơ cổ điển, miêu tả dòng thời gian tuần hoàn, lặp lại, thời gian của Xuân Diệu như dòng nước chỉ chảy qua trước mắt một lần rồi đổ vào bể lớn, tan biến đi không bao giờ còn trông thấy nữa).

- Lấy cái hữu hạn của đời người để đo đếm ý nghĩa của thời gian.

=> Nếu không có người biết tận hưởng, cái đẹp cũng vô nghĩa

- Hồn thơ bỗng hụt hẫng => thiên nhiên, đất trời như nhuốm màu tang thương sầu oán

- Câu thơ cuối: tiếng reo tỉnh thức giục giã hãy tận hưởng vẻ đẹp cuộc đời khi còn có thể

=> Quan niệm của Xuân Diệu: Thời điểm đẹp nhất của đời người là tuổi trẻ, hạnh phúc lớn nhất của tuổi trẻ chính là tình yêu. Phải sống để tận hưởng những điều đẹp đẽ nhất ấy.

3. Thái độ sống vội vàng của nhà thơ  - khát khao mãnh liệt của thi nhân (đoạn 3)

- Ba chữ “Ta muốn ôm” đặt giữa dòng thơ như là sự mô phỏng hình ảnh nhân vật trữ tình dang rộng vòng tay để ôm tất cả sự sống lúc xuân thì vào lòng. Đó là chân dung của cái tôi tham lam, vồ vập, khát khao của một con người yêu cuộc sống đến vô cùng.

- Điệp ngữ “Ta muốn…” láy đi láy lại như một điệp khúc bất tận, các động từ mạnh: “ôm, riết, say, thâu, cắn”, cùng nhịp thơ sôi nổi dồn dập ðkhát vọng sống dạt dào, muốn thâu tất cả tinh hoa của đất trời vào tâm hồn.

- Từ láy “chếnh choáng”, “đã đầy”, hình ảnh thơ tươi mới, mơn mởn: tâm trạng thỏa mãn, hạnh phúc tột cùng

- Câu thơ cuối: táo bạo, mạnh mẽ ðphút vỡ òa của một tâm hồn yêu sống, khát khao giao cảm với đời mãnh liệt

§  Động từ thể hiện sự ước muốn mãnh liệt nhất: cắn

§  Hình ảnh “Xuân hồng”: cuộc đời như trái chín ửng hồng ngon lành và quyến rũ => trái đời đỏ hồng, chín mọng, thơm ngát, ngọt ngào

- Nhịp điệu thơ: nhanh, dồn dập, đắm say

- Ba hư từ “” trong một dòng thơ:  Và non nước, và cây, và cỏ rạng => thể hiện ước muốn thâu tóm, ôm xiết cả cuộc sống tươi đẹp vào lòng

Chốt ý: “Vội vàng”: xuất phát từ một ý thức yêu đời tha thiết, không phải vội vàng tuyệt vọng, tùy tiện, mà có ý thức rõ ràng: muốn sống cùng với vẻ đẹp mà thời gian mang lại, không phí hoài => tư tưởng tích cực, giàu tính nhân văn của nhà thơ.

III. TỔNG KẾT

            Bằng cảm xúc yêu đời thiết tha, cháy bỏng, bài thơ Vội vàng là khúc hát ngợi ca cuộc sống, mùa xuân, tình yêu và tuổi trẻ. Bài thơ không chỉ thể hiện một khát khao sống mãnh liệt, mà còn là lời tâm niệm của tác giả gửi gắm đến chúng ta: hãy biết quý trọng từng giây từng phút đang trôi qua, hãy sống và yêu đời. Hãy sống sao cho không phí hoài, không hối tiếc, đừng kiếm tìm hạnh phúc ở đâu xa, mà hãy tìm trong cuộc sống tươi đẹp đang mời gọi chúng ta đó.

Vô biên

Như kẻ hành nhân quáng nắng thiêu,
Ta cần uống ở suối thương yêu;
Hãy tuôn âu yếm, lùa mơn trớn,
Sóng mắt, lời môi, nhiều thật nhiều ![….]

Bình luận

 Bình luận
0 Bình luận