trang Blog

voicoi_havyTham gia: 13/08/2010
  • MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN
    Giải Trí
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN

    MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN

    Ma Văn Kháng

    I. TÁC GIẢ

    Ma Văn Kháng tên khai sinh là Đinh Trọng Đoàn, sinh năm 1936 tại Sơn Tây , Hà Tây. Ông xuất thân là nhà giáo, dạy học ở Lào Cai và viết văn. Từ năm 1976, ông về Hà Nội, vừa hoạt động văn hoá, văn nghệ, vừa viết văn.

    Sự nghiệp văn chương: Ma Văn Kháng có nhiều tập truyện ngắn và tiểu thuyết, tiêu biểu là: Đồng bạc trắng hoa xoè, Mùa lá rụng trong vuờn, Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ, Vệ sĩ của Quan Châu, Đầm sen, Một chiều dông gió, Cỏ dại,…

    Tác phẩm Ma Văn Kháng hoặc in dấu đậm về cảnh sắc thiên  nhiên, phong tục và cuộc sống con người Tây Bắc, hoặc nói về cuộc sống nhiều đa đoan, phức tạp của con người và xã hội thời hậu chiến. Những ngang trái, những số phận đầy bi kịch đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trên trang văn của ông.

    II. TÁC PHẨM

    1. Xuất xứ

    "Mùa lá rụng trong vườn"là một cuốn tiểu thuyết đặc sắc của Ma Văn Kháng, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1985. Chuyện kể về những việc xẩy ra trong gia đình ông Bằng ở Hà Nội, một gia đình nền nếp, có truyền thống gia phong bỗng bị chao đảo trước những đổi thay của xã hội.

    Đoạn trích (sách NV12) là chương II của tiểu thuyết "Mùa lá rụng trong rừng".

    2. Tóm tắt đoạn trích

    Chiều 30 Tết năm Bính Tuất, chị Hoài đi bộ khá xa mới đến được cổng nhà cụ Bằng. Chị là vợ anh Tường liệt sĩ, con trưởng của cụ Bằng, nay chị đã phải đi bước nữa. Các em trai, em dâu anh Tường (Đông, Lý, Luận, Phượng) mừng rỡ, vồn vã, tíu tít đón người chị dâu cũ về thăm gia đình.

    Chị Hoài nay đã trạc năm mươi, người thon gọn, mặc áo bông chần hạt lựu, cặp mắt đằm thắm, cái miệng cười tươi, Chị Hoài đã có một gia đình riêng, chồng chị làm ở Uỷ ban xã, chị làm chủ nhiệm hợp tác xã đan dệt thảm ngô, vợ chồng chị có bốn đứa con, đứa đầu đi bộ đội, ba đứa em còn đi học.

    Taynải chị Hoài mang đến có bao thứ quà quê, nào là gạo nếp tăng sản, nào là giò thủ, nào là bột sắn dây, ... và một gói hạt giống mướp hương...

    Chị em nói chuyện, hỏi thăm, mừng vui vì đã lâu ngày mới gặp gỡ. Ông Bằng từ trên gác xuống cầu thang, mắt chớp chớp liên hồi, môi ông lật bật, ông sắp khóc oà. Chị Hoài chạy đến, cất tiếng chào: "Ông!" sau tiếng nấc. Ông Bằng giọng bỗng khê đặc, khàn rè: "Hoài đấy ư, con?". Nhìn cảnh ấy, Phượng nghẹn ngào, mắt ngấn lệ. Ông Bằng nén xúc động, rút khăn tay, chấm kẽ mắt: "Anh ấy và các cháu vẫn khoẻ cả chứ, con?".

    Khi câu chuyện cảm động giữa ông Bằng và người con dâu cũ đang diễn ra, thì mâm cỗ cúng gia tiên đã bày biện xong. Lí rất ý tứ mời ông Bằng khấn cho lễ cúng gia tiên bắt đầu. Bàn thờ mờ ảo khói hương. Ngọn đèn dầu lim dim. Hai cái bánh chưng bọc lá tươi xanh, buộc lạt điều xếp cạnh mâm ngũ quả, những chén rượu xinh xinh. ảnh song thân ở chính giữa, bên trái là ảnh bà Bằng mặt hoa da phấn, bên phải là ảnh anh cả Tường, áo trấn thủ, mũ ca lô, nét đã phôi pha.

    Ông Bằng tóc bạc lầm rầm khấn. Chị Hoài đăm đắm ngước lên bàn thờ, rồi chị thế chân ông cụ, hai tay nâng lên trước ngực...

    Mâm cỗ ngày Tết thật là sang. Mọi người vào mâm, hân hoan khác thường.

    3. Chủ đề

    Qua cảnh gặp gỡ, chuyện trò giữa cụ Bằng với chị Hoài (người con dâu cũ), giữa các em chồng với chị dâu, qua cảnh lễ cúng gia tiên, hình ảnh bàn thờ và mâm cỗ Tết, tác giả bày tỏ lòng trân trọng trước sự ăn ở đầy tình nghĩa thuỷ chung và truyền thống văn hoá tốt đẹp lâu đời của con người Việt Nam, của con người Hà Nội.

    4. Phân tích

    Mùa lá rụng trong vườn viết về đề tài gia đình, một đề tài không mới trong văn học Việt Nam hiện đại. Trong bối cảnh … (boi canh … la boi canh gi Trinh tom tat viet ra nha), có thể nói, Ma Văn Kháng,với Mùa lá rụng trong vườn,đã có công khơi lại mạch viết về chủ đề gia đình vốn bị ngưng đọng gần nửa thế kỷ trong văn học Việt Nam.
    Cũng đề cập chuyện gia đình, nhưng là gia đình Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới của đất nước, Mùa lá rụng trong vườn  không nói lại những vấn đề từng được các tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn giải quyết khá ổn thỏa, mà  tập trung bàn về tính phức tạp trong các mối quan hệ thuộc nội bộ gia đình hoặc giữa gia đình với xã hội, với dân tộc. Dưới cách đặt vấn đề mới của tác giả, các mối quan hệ thông thường giữa cha và con, vợ và chồng, anh và em, bố chồng và nàng dâu, chị dâu và em chồng... bỗng trở thành điểm thử thách sự bền vững của kiểu gia đình truyền thống trong cuộc va chạm với kiểu gia đình hiện đại. Nguy cơ rạn nứt, đổ vỡ trong từng gia đình do vậy cũng được dự báo kịp thời. Ngoài những điều đó, ở Mùa lá rụng trong vườn, tác giả còn nêu lên sự tác động đáng ngại của xã hội  thời mở cửa đối với tổ chức gia đình vốn dĩ rất dễ bị thương tổn. Việc đề cao đồng tiền quá mức, việc sống buông thả theo dục vọng thấp hèn (mặt trái của nền kinh tế thị trường) rất dễ làm xói mòn mọi giá trị truyền thống, làm đảo điên xã hội.
               Mùa lá rụng trong vườn kể chuyện một gia đình trí thức còn giữ nhiều nền nếp cổ truyền. Nhìn trên nét lớn, đây cũng là một gia đình kiểu "tứ đại đồng đường" (dù không thật điển hình), bởi ở trong gia đình lớn có sự tồn tại của các gia đình nhỏ (gia đình Đông - Lý, gia đình Luận - Phượng và sau này có thêm vợ con Cừ). Bề ngoài đây là một gia đình mô phạm mẫu mực, có nề nếp gia phong: "Ôi cái gia đình gồm hai ông bà xưa nay được tiếng là mô phạm mẫu mực, với năm anh con trai, năm hòn ngọc quý, anh là liệt sĩ, anh đóng trung tá, anh làm nhà báo, anh đi học nước ngoài... anh nào cũng đẹp người đẹp nết, cùng mấy cô con dâu cán bộ nhà nước, cô nào cũng đảm, cũng dễ thương, ưa nhìn, cái gia đình rất đáng tự hào về sự hoà mục, tiêu biểu cho các quan hệ của con người trong một gia đình thuộc xã hội mới". Vậy mà cuộc sống khó khăn, đầy biến động của đất nước sau chiến tranh đã đẩy gia đình "mẫu mực" ấy vào một bước ngoặt với những dấu hiệu rạn nứt rõ ràng, không dễ khắc phục.
             Sự xáo trộn dữ dội như một quy luật tất yếu của xã hội trong thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường đã ảnh hưởng đến mọi gia đình Việt Nam. Ma Văn Kháng đã dùng hình ảnh ẩn dụ mùa lá rụng để nói lên qui luật đó. Mọi loài cây trong vườn vào mùa thay lá đều biến đổi. Chúng trút bỏ những chiếc lá vàng cũ kỹ, thay vào đó là những chiếc lá non tơ mơn mởn. Nhưng những chiếc lá mới ấy cũng mọc lên từ những cành mà trước đó không lâu nó đã rũ bỏ không thương tiếc những chiếc lá cũ. Bởi thế, Mùa lá rụng trong vườn  không chỉ đề cập vấn đề "thời kỳ quá độ đôi khi cuốn hút chúng ta vào những mục tiêu kinh tế, cơ sở vật chất, kỹ thuật... mà xem nhẹ việc xây dựng con người, xây dựng cá nhân, xây dựng cá tính..." hay "lối sống ích kỷ, buông thả theo những dục vọng thấp hèn, coi đồng tiền là trên hết, bất chấp những nguyên tắc luật lệ của đạo đức xã hội đang có nguy cơ xâm nhập vào từng gia đình, làm đảo lộn những gì trước đây cho là thiêng liêng, cao cả" mà còn nêu lên yêu cầu đổi mới gia đình truyền thống cho phù hợp với xã hội mới. Truyền thống văn hoá dân tộc và truyền thống gia đình Việt Nam cùng sự đổi mới và thích ứng của nó trong thời đại mới là những vấn đề cơ bản mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm. Khăng khăng giữ lại tất cả những gì của ngày xưa không phải là chuyện hợp thời, nhưng thoát ly truyền thống, phá vỡ mọi nề nếp nhất định sẽ dẫn tới bi kịch. 
              Bằng một giọng kể ấm áp và cảm động, khi thì qua trật tự tuyến tính dẫn dắt, khi thì qua ngôn ngữ đối thoại, khi thì để cho sự việc phơi trải giữa thời gian hiện tại, khi thì để sự tình xa xôi sau một bức màn hồi ức, Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn  đã đưa người đọc trở về với một buổi chiều cuối năm đầy bình yên và trầm hương. Trong buổi chiều cuối năm đầy thiêng liêng mang tính truyền thống đó, người đọc nhận ra những nét đẹp rất phương đông, rất Việt Nam của ngày Tết cổ truyền: sự đoàn tụ, lễ cúng gia tiên và bữa cơm tất niên, những lời ước nguyện...

    Có thể tiếp cận với không gian và thời gian đầy hương Tết của đoạn trích được dẫn ở ba toạ độ nghệ thuật sau:

    Thứ nhất, chị Hoài và sự trở về trong buổi chiều ba mươi Tết.

    Chị Hoài - người vợ của một liệt sĩ. Chấp nhận sự vô thường, chị tái giá, nhưng vẫn giữ sự hằng thường: sự trong sáng thuỷ chung với gia đình nhà chồng (gia đình ông Bằng). Hết mùa lá rụng năm ấy, chị như chiếc lá tìm về cội nguồn, trở về thăm lại gia đình cũ đúng thời khắc buổi chiều tất niên. Chị Hoài (mà cái tên như ngầm gợi lên một cái gì ổn định, hằng thường, thuỷ chung) hiện lên trong tác phẩm và đoạn trích trong một lát cắt bất ngờ của đời sống, cũng là trong chặng cuối cuộc hành trình của một năm tàn tháng tận. Chị đem đến cho khu vườn của nhà chồng một tiết tấu bình yên – như bù lại cho những gì mà thế giới yên tĩnh ấy đã, đang và sẽ vừa bị tước đoạt vừa được bồi đắp mới để thích nghi trước một nhịp điệu gấp gáp của đời sống thị trường. Lời nhắn gọn gắn mà mênh mang biết bao, ít chữ mà nhiều nghĩa biết bao ở chương XX – chương cuối cùng của truyện – của chị Hoài sau một mùa lá rụng nữa như hoàn chỉnh thêm diện mạo tâm hồn của một người vợ liệt sĩ đã thanh thản chọn cho mình cách sống vì mọi người (trước hết là mọi người trong gia đình dù đó chỉ là một gia đình đã xưa cũ với chị mà chị hoàn toàn có quyền không phải chia sẻ trách nhiệm nữa): “Bao giờ cậu Cần cưới vợ, cô Phượng ở cữ, cô Lí về, nhớ điện cho tôi lên”.

    Đúng như suy nghĩ của ba nhân vật Đông, Lí và Luận: “Quan hệ của chị ở gia đình này đã thuộc về quá khứ. Kỉ niệm của chị ở đây đẹp nhưng buồn. Chị có quyền quên mà không ai được trách cứ.” Nhưng đoạn trích đã cho người đọc đến với một nhân vật chị Hoài của hiện tại chứ không phải là của quá khứ. Vẫn còn đó trong mùa tết năm này của tác phẩm sự chu đáo, lo toan, nghĩa tình vẹn toàn của một người dâu trưởng. Điều đó làm tất cả mọi người trong gia đình ông Bằng đều cảm động. Qua cách miêu tả ấy của Ma Văn Kháng, người đọc cũng bất giác bồi hồi theo tâm hồn nhân hậu, cách sống vị tha, trong sáng nghĩa tình, thuỷ chung của người đàn bà đã một thời là dâu trưởng. Ma Văn Kháng đã ưu ái dành cho nhân vật đặc biệt này cả hai cách giới thiệu, miêu tả vừa trực tiếp (qua ngoại hình và diện mạo bình dị mà có nét tươi tắn: “một phụ nữ nông thôn trạc năm mươi, người thon gọn trong cái áo bông chần hạt lựu. Chiếc khăn len thắt nâu ôm một khuôn mặt rộng có cặp mắt hai mí đằm thắm và cái miệng tươi.”; qua hai con mắt “đậm nỗi bồi hồi” cảnh cũ người xưa; qua ngôn ngữ thô mộc dân dã mà không phải là không tinh tế: “Cô Phượng đấy như?”) vừa gián tiếp (qua hồi ức của mọi người: “Chị Hoài, vợ anh cả Tường liệt sĩ. Chị Hoài, dâu trưởng, nết na, thuỳ mị.”; qua cảm nhận của Phượng trong hiện tại: “Người phụ nữ tưởng đã cắt hết mối dây liên hệ với gia đình này, vẫn giao cảm, vẫn chia sẻ buồn vui và cùng tham dự cuộc sống cuả gia đình này”). Chín năm chưa gặp lại người cha chồng kính yêu. Phút gặp lại, chị Hoài “gần như không chủ động được mình, chị lao về phía ông Bằng, quên cả đôi dép...”. Ma Văn Kháng tinh tế và sắc sảo để chị “kịp hãm lại khi còn cách ông già hai hàng gạch hoa” - hai hàng gạch hoa của lễ giáo và sự xa cách của một lần tái giá. Chị thốt lên tiếng “Ông” nghe như một tiếng nấc. Nhưng đến lễ cúng gia tiên, chị Hoài đã thật sự trở về với niềm tin trong trẻo cũ. Người đàn bà đó đã giản dị một cách hồn nhiên để tin rằng chị vẫn là một phần không thể tách rời của cái gia đình xưa cũ. Vì vậy, ngay khi ông Bằng vừa khấn vái và buông tay chắp xong, chị liền “thế chân ông cụ, hai tay nâng lên trước ngực.” để cất lên lời khấn vái tổ tiên.

    Có phải chính từ hình tượng này mà Ma Văn Kháng đã muốn nói lên một điều không được nói ra nói tác phẩm: thì ra, con người ta có quyền vừa hội nhập với cái mới mà vẫn vừa giữ gìn được những nét tinh tuý hằng thường của cái xưa cũ.

    Thứ hai, ông Bằng và cuộc gặp lại người con dâu.

    Qua cách khắc hoạ của Ma Văn Kháng, ông Bằng vừa là hiện thân vừa là biểu tượng cho giá trị mang tính chuẩn mực của đời sống gia đình. Ông tìm bình yên trong tiết tấu cổ điển của bản “Vườn khuya”. Nhưng giai điệu thong thả du dương êm đềm ấy cũng không giúp ông chống đỡ nổi sự biến động phức tạp đầy tăng tốc của đời sống thị trường. Ông phải chứng kiến dần dần sự đổ vỡ của gia đình: con trai (Cừ  bỏ xí nghiệp và có tin là đã vượt biên), con dâu (Lí - vợ của Đông) đang có biểu hiện chê chồng lạc hậu để đua theo lối sống xa hoa phù phiếm. Khu vườn nhỏ và yên tĩnh của gia đình ông Bằng vừa phải đối mặt với quy luật rụng lá của thiên nhiên, vừa phải đối mặt với quy luật biến động của đời sống xã hội. Ông Bằng chưa chịu nhận ra một điều - mà điều này cho đến cuối tác phẩm, sẽ xuất hiện trong một chiêm nghiệm của con dâu ông là Phượng: “Ai có thể ngờ được căn nhà yên tĩnh, ở đầu cái phố dài yên tĩnh, lại chỉ có được sự yên tĩnh bề ngoài. Gia đình, cái giọt nước của biển cả, có ai ngờ lại là một vùng chứa nhiều sóng gió đến thế.”

    Cuộc gặp mặt giữa ông Bằng và người dâu trưởng là chị Hoài là một cuộc gặp gỡ vừa vui mừng vừa xót xa. Trong một chừng mực nào đó, cuộc gặp lại này xoa dịu niềm cô đơn và tiếp thêm niềm tin cho ông Bằng trong cảnh ngộ gia đình hiện tại. Ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế của Ma Văn Kháng tỉ mẫn ghi lại cận cảnh phút giây rớm nước mắt đó: ông Bằng sững lại khi nhìn thấy chị Hoài, trên gương mặt còn vướng vất ưu tư của ông “thoáng một chút ngơ ngẩn”, rồi mắt ông “chớp liên hồi”, môi “lật bật không thành tiếng”. Tác giả nói thay người đọc và thay cho cả nhân vật người cha chồng giàu cảm xúc này là “có cảm giác ông sắp khóc oà”. Khi chị Hoài lao về phía cha, thốt lên tiếng “Ông” nghe như tiếng nấc, giọng ông Bằng nghẹn ngào đẫm nước mắt: “Hoài đấy ư, con?”. Đúng là một cuộc gặp gỡ nhiều tâm trạng, nhiều nỗi niềm mà một nhân vật trong truyện đã nhận ra : “Cảnh gặp gỡ vui mừng nhiễm một nỗi tiếc thương, đau buồn, ê nhức cả tim gan.”.

    Mùa lá rụng. Cây cối trong thiên nhiên lớn của đất trời và thiên nhiên hẹp là khu vườn của gia đình ông Bằng cũng đều chấp nhận quy luật vừa khắc nghiệt vừa thanh thản của tiết mùa cho một lần thay lá. Để lên non. Cũng như cây cối trong khu vườn nhà ông Bằng, những con người trong Mùa lá rụng trong vườn phải đối mặt cho một lần “lên đời” (cũng là một kiểu “thay lá”) để bước vào cuộc sống đầy năng động, đầy biến động của cơ chế thị trường. Trong cuộc sống tất bật để đi lên đó, một mặt những con người trong đoạn trích và tác phẩm phải phấn đấu để trang bị thêm những giá trị mới để thích nghi với cuộc sống mới; mặt khác, phải ra sức níu giữ, neo giữ những giá trị hằng thường đã trở thành chuẩn mực bất biến của đời sống. Giá trị cần được giữ gìn trong mùa lá rụng của tác phẩm và cũng chính trong đoạn trích là giá trị gia đình.

    Thứ ba, mọi người trong gia đình ông Bằng và lễ cúng tất niên.

    Tất cả đều mong đợi chị Hoài lên thăm, chị Hoài trở về. Và “cầu được, ước thấy”. Niềm vui mừng của mọi người trong gia đình ông Bằng khởi phát từ tiếng reo to mừng rỡ của Phượng, tiếp theo là cảnh Đông, Lí, Luận hấp tấp vội vã từ phòng khách “ùa ra vệt đường lát xi măng đi qua vườn cây ra cổng...”. Cảnh Lí ôm chầm lấy chị Hoài. Rồi một loạt lời hỏi han, trao đổi rộn rã. Rồi cảnh người cha chồng và con dâu trưởng gặp lại nhau trong nghẹn ngào cảm xúc.

    Lễ cũng tất niên tràn ngập không khí trang nghiêm nhưng ấm cúng, lời khấn thành kính mà chân thành. Đứng trước bàn thờ tổ tiên, ông Bằng “như quên hết xung quanh và bản thể”. Ông thành tâm theo khói hương ngày Tết trôi về quá khứ hằng thường, cất lên lời vọng tưởng đầy tri ân với tổ tiên, ông bà, cha mẹ, với người vợ đã qua đời, với người con trai cả đã xanh mồ. Để rồi từ quá khứ thiêng, ông trở về với hiện tại bề bộn. Hơn ai hết trong gia đình này, ông ý thức sâu sắc sự kết nối giữa truyền thống và hiện tại, giữa tổ tiên và con cháu.

                Mâm cỗ tất niên thịnh soạn được cả nhà - nhất là Lí - tươm tất chuẩn bị. Nỗi buồn năm cũ như qua đi, chỉ còn đó đêm trừ tịch đầy sự vui vẻ, hân hoan, ấm cúng của một gia đình tưởng chừng không bao giờ có thể chia cắt.

    Có lẽ người đọc tuy không nói ra nhưng đều cảm động hướng đến và sẻ chia suy nghĩ lặng thầm của ông Bằng trong đêm cuối năm lặng gió ấy ở cuối chương II: “Gia đình và sự sum họp đêm giao thừa, có gì đầm ấm, thiết tha hơn. Kỳ diệu thay thời khắc này.

              Một năm trôi qua, gia đình ông Bằng xẩy ra biết bao chuyện. Có ai ngờ ngôi nhà bề ngoài tưởng là êm ấm, thuận hoà ở đầu cái phố đẹp, ẩn mình dưới vườn cây yên tĩnh lại là một vùng chứa nhiều sóng gió đến thế. Một số thành viên trong gia đình  có người phải từ giã cõi đời, có kẻ phải tìm đến cái chết, có kẻ thương tích đầy mình, nhưng tất cả đã nhận ra chân lý: gia đình dù chỉ là giọt nước của biển cả, song nếu thiếu những giọt nước nhỏ bé ấy thì làm sao có được đại dương bao la! Chúng ta, những độc giả của Mùa lá rụng trong vườn không phải không có lúc băn khoăn về những trang viết có phần cường điệu về tính vô tâm, vô trách nhiệm và thái độ thụ động trước hoàn cảnh của Đông - một trung tá đã trải qua mấy chục năm "vào sinh ra tử". Chúng ta cũng không hoàn toàn bằng lòng với một số giải pháp tác giả đặt ra trong tác phẩm, chẳng hạn việc ông để các nhân vật "nổi loạn" nhận ra lỗi lầm của chính họ quá dễ dàng. Nhưng về cơ bản Mùa lá rụng trong vườn là một tác phẩm tốt, để lại nhiều dư âm trong phải gắn liền với kế thừa. Đổi mới nhưng không bao giờ quên những tinh hoa truyền thống. Có như vậy, chúng ta vừa tránh được tụt hậu vừa giữ vững bản lòng người đọc, giúp họ thức nhận được vai trò quan trọng của mái ấm gia đình và những thông điệp nhà văn gửi gắm trong tác phẩm là đổi mới sắc dân tộc trong việc  xây dựng gia đình, xã hội Việt Nam hiện đại phù hợp  với xu thế hội nhập của thời đại mới.  

    III. TỔNG KẾT

    1. Nội dung:

    Đoạn trích giúp người đọc cảm nhận được những nét đẹp của truyền thống văn hoá dân tộc, để không đánh mất chính mình trước sự tác động của nền kinh tế thị trường..
     

    2.Nghệ thuật:
    - Xây dựng kết cấu truyện hợp lí.
    - Thành công trong những đoạn văn miêu tả diễn biến tâm lí con người.

    IV. GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI SGK/88

     Câu 1: Chị Hoài là người có một tấm lòng nhân hậu đáng quý. Tuy anh cả Trương chồng chị hi sinh đã lâu, chị đã có một gia đình riêng với những quan hệ riêng, những lo toan riêng nhưng chị vẫn luôn luôn quan tâm sâu sắc đến từng thành viên và gắn bó cùng gia đình người chồng cũ với bao biến động buồn vui.
           Chị Hoài đúng là một con người tình nghĩa và thủy chung.
           Mọi người trong gia đình, với những tính cách khác nhau, nhưng tất cả đều yêu quý chị Hoài vì lẽ đó.
           Ở đây trong một buổi chiều cuối năm, chị đã đột ngột trở về sum họp với gia đình người chồng cũ dự bữa cơm cúng ông bà nhân tất niên, với những món quà quê giản dị chân tình với cách quan tâm từng người cụ thể trong gia đình đặc biệt là gia đình nàng đang có những thay đổi không vui với ít nhiều rạn vỡ trong mối quan hệ giữa các thành viên do những biến động của xã hội.
           Sự có mặt của chị Hoài trong thời điểm ấy thật là đáng quý biết bao vì đã gắn kết các thành viên trong gia đình, đánh thức tình cảm thiêng liêng về gia tộc.

    Câu 2
           Cả ông Bằng và chị Hòa đều vô cùng xúc động nhất là lo lắng trước những thay đổi không vui của gia đình và một vài rạn vỡ trong mối quan hệ giữa các thành viên do những biến động của xã hội. Có mặt chị Hoài, ông Bằng như bớt nỗi cô đơn, và có thêm niềm tin trong cuộc đấu tranh thầm lặng nhằm giành lại những gì tốt đẹp vốn của gia đình nay trước bao tác động của thời cuộc đang có nguy cơ bị hủy hoại

    Câu 3:
           Khung cảnh tết và dòng tâm tư cùng với lời khấn của ông Bằng trước bàn thơ làm người đọc hiểu thêm ý nghĩa của việc cúng ông bà, cúng tổ tiên trong ngày Tết và thấy được việc hướng về nguồn cội, bảo vệ các giá trị truyền thống các giá trị tinh thần tốt đẹp trong quá khứ là một vịêc làm rất cần thiết