trang Blog

voicoi_havyTham gia: 13/08/2010
  • Văn hóa lịch sử Đồng Nai
    Giải Trí
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Văn hóa lịch sử Đồng Nai


     

    Câu 1:

    Câu ca dao: “Nhà Bè nước chảy chia hai. Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về” gợi cho bạn suy nghĩ gì về đặc điểm của quá trình hình thành, phát triển vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai.

        Sau cuộc di cư vĩ đại 1954, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà (Tổng Thống Ngô Đình Diệm), miền Nam Việt Nam được sống trong cảnh thanh bình, hạnh phúc ấm no nên nhạc sĩ Phạm Duy vào năm 1956 có ngẫu hứng viết bài "Tiếng hò Miền Nam".


    Nhà Bè nước chảy chia hai
    Ai về Gia Định Đồng Nai thì về
    Ai hi hò lờ !Ai li hò lờ !
    Đường về xứ bạn không xa
    Qua vùng Đất Đỏ rồi ra Biên Hoà
    Ai li hò lờ !Aili hò lớ !
    Ai nghe chăng tiếng hò bao la
    Những tiếng lòng di cư vẫy vùng theo gió
    Ai nghe chăng tiếng người công phu
    Biết tìm tự do tránh xa ngục tù
    Đường chiều gió thổi vi vu
    Tình nghèo vẫn nở như hoa
    Ai nghe chăng tiếng hò bao la
    Những tiếng cười đôi ta, Nam Bắc một nhà.

        Điều này cũng đã nói lên được hoạt cảnh của Đồng Nai, cũng làm cho ta nghĩ ngay đến một miền đất trù phú đã có hơn 300 năm hình thành và phát triển do con sông Đồng Nai đem đất bùn sa mầu mỡ vun bồi. Nhiều biến cố lịch sử đã ghi lại biết bao thăng trầm với không ít sự biến động trên nhiều lãnh vực của vùng đất Đồng Nai này. Tất cả đã tạo ra diện mạo, cho Đồng Nai một nét độc đáo về Văn hoá vào cuối thế kỷ thứ XVI, khi đó vùng đất Đồng Nai vẫn còn hoang dã, chưa được người ta khai phá, chỉ có người dân bản xứ gồm các sắc dân như dân tộc Siêng, dân tộc Mạ, dân tộc Kơ-ho, dân tộc M'nông, dân tộc Chơ-ro và một vài buôn sóc người Khơ-me sinh sống. Dân cư thưa thớt, sống rải rắc chứ không sống thành cộng đồng, kỹ thuật sản xuất rất thô sơ, trình độ xã hội còn thấp kém. Cuộc chiến tranh giữa hai họ Trịnh - Nguyễn ở miền Trung và Bắc Việt Nam làm cho dân chúng lầm than khổ sở, điêu đứng nên đã tạo ra một làn sóng di cư của người dân miền Thuận an, Quảng Nam, Quảng Ngãi vào Đồng Nai tìm đất để sinh sống.
    Dân tộc ta vốn bản tính cần cù, chịu thương chịu khó, dân di cư người Việt đã cùng chung sống với người bản xứ chung sức chung lòng quyết tâm khai phá đất hoang để sản xuất nông nghiệp. Lâu dần, những khu rừng rậm hoang vu đã trở thành những cánh đồng lúa và các loại hoa màu tươi tốt.
    Trong cuộc Nam tiến có sự góp công của người Hoa mà ta thường gọi là người Minh Hương. Dưới thời chúa Hiền Vương (1649 - 1687), người Mãn Châu xâm lăng nước Trung hoa lật đổ nhà Minh lập ra nhà Thanh, khi nhà Minh ở Trung Quốc bị sụp đổ, những người trung thành với nhà Minh trong đó có Tổng binh Trần Thượng Xuyên trấn thủ các châu Cao, Lôi, Liêm, cùng với một số tướng lãnh khác như Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến, Trần An Bình, họ không khuất phục nhà Thanh nên đã đem khoảng 50 chiến thuyền, hơn ba ngàn binh lính thân tín và gia quyến đến xin thần phục chúa Nguyễn ở Thuận Hóa. Chúa Nguyễn Phúc Chu thời đó đã thâu nhận và cho vào khai khẩn đất vùng Mỹ Tho Bến Tre, và Chợ Lớn. Một số thì đến khai khẩn ở vùng đất Đông Phố (Cù lao Phố ngày nay).
    Năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Đồng Nai (là cả miền Nam bây giờ), đặt vùng đất mới thành phủ Gia Định, chia làm 2 huyện: huyện Phước Long (Đồng Nai) dựng dinh Trấn Biên, huyện Tân Bình (Sài Gòn) đựng dinh Phiên Trấn. Ngoài ra, Nguyễn Hữu Cảnh còn cho lập bộ đinh, bộ điền, chiêu mộ những người có vật lực từ các vùng khác vào lập nghiệp và phát triển kinh tế.
    Người Hoa theo Trần Thượng Xuyên đầu tiên định cư ở Bến Gỗ, nhưng thấy Cù lao Phố có vị trí thuận lợi cho việc kinh doanh buôn bán, họ đã quyết định di chuyển đến đây kinh sống. Từ đây, Cù lao Phố phát triển ngày càng phồn thịnh và nhanh chóng trở thành trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế của cả vùng Gia Định (miền Nam ngày nay).
    Cũng nơi đất Đồng Nai này mà người ta đã chứng kiến biết bao nhiêu mối tình cao đẹp trung thành và nên thơ là khi đôi trai gái đã hứa hẹn với nhau:

    "Ngày nào cạn nước Đồng Nai,
           ngày nào cạn nước ngoài khơi,
           non sông ta xoá mờ,
           không ai nghe tiếng hò, thì lời nguyền mới thôi".

    Chính những câu ca mộc mạc đó mà ta thấy ngay cảnh thanh bình hiển hiện đầy tình tự của người miền Đồng Nai nói ở trên.
    Đồng Nai phồn thịnh và phát triển thêm nữa là vào thời kỳ của dân di cư 1954 trốn chạy chế độ Cộng sản từ miền Bắc vào đây lập nghiệp dưới chế độ Đệ I Cộng Hoà.
    Chỉ cần nghe bài " Tiếng Hò Miền Nam của nhạc sĩ Phạm Duy ông đã sáng tác bài này tại Sai Gòn năm 1956 để ca ngợi cả miền Nam Việt Nam". Vẽ ra một miền đất Đồng Nai nên thơ và mầu mỡ, vì có con sông Đồng Nai tươi mát hữu tình là ta đã cảm nhận ngay cảnh thanh bình của miền Đồng Nai tuyệt diệu đó:

    Mẹ hiền nựng bé ngủ mơ
    Yêu con thơ mỹ miều
    Yêu non sông rất nhiều
    Vẳng lời hò mến yêu.
    Nhà Bè nước chảy chia đôi
    Ai về dưới ruộng cùng tôi thì về
    Aili hò lờ !Aili hò lờ !
    Đường về nước chảy trôi mau
    Đưa thuyền tới mũi Cà Mau ta chuyện trò

    Câu 2:

    Phân tích giá trị di sản văn hoá dân gian (chỉ tính ca dao, tục ngữ, diễn xướng) ở vùng đất Biên Hoà - Đồng Nai trong quá trình đấu tranh xây dựng, phát triển, chống ngoại xâm trước khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

    Ca dao - dân ca:

    Cảm hứng thơ ca của đồng bào dân tộc ít người còn dồi dào, phong phú. Tiếng Châu Mạ, Xtiêng, Châu ro giàu chất thơ, có khả năng biểu cảm tốt, những lời hát đối đáp giao duyên trong lao động và những bài ca nghi lễ thường đọng lại thành ca dao trữ tình. Tiếc làđến nay, chưa có công trình sưu tập đầy đủ. Ở đây chỉ xin nhắc đến Tămpơt (bài ca trữ tình) của người Châu Mạ. Tămpớt của người Châu Mạ gồm những khúc hát đốiđáp trữ tình của Kôông và K’Yai do Boulbet ghi chép được ở đồng bào Châu Mạvùng thượng nguồn sông Đồng Nai  Mới đây (năm 1997) nhóm sưu tập thuộc Chi hội văn nghệ dân gian Đồng Nai vừa xác minh, thấy nó còn lưu truyền đứt đoạn ở ấp Hiệp Nghĩa (Định Quán), và Tà Lài (Tân Phú). Qua câu chuyện tình yêu của Kôông và K’Yai, có thểthấy luật tục, nếp sống, quan niệm về tình yêu, hôn nhân của người Châu Mạ xưa. Theo đó cũng có thể thấy đặc điểm hình thức thơ ca của người Châu Mạ. Ví dụ, lời của chàng K’Yai bày tỏ nỗi khát khao nhớ nhung

    l05. Rnom any yô, joh bou chrka;

    I06. Đak til hơ, joh bou mbring;

    107. Ching any tur bou, kông tapxai;

    I08. Kwaiom ai ma any tam krơm;

    I09. Rơm chong toh bo bai,

    110. Mpao krơm ai bintrony ta bụt,

    III. Krơnl bi két chai xo;

    112.. Bi rao che kiêng.

    Tạm dịch:

    105. Rượu cần (Rnom) không uống vị men sẽchua,

    106. Nước suối không múc bình sẽ lên meo,

    107.Chiêng lâu không đánh sẽ đóng ten đồng.

    208. Chúng mình cùng sống, mong ghì lấy nhau

    109. Cặp vú rắn chắc đóng vào ngực anh,

    110. Như cái khố lành quấn vào eo lưng,

    111. Như lược nhiều chân cài vào búi tóc,

    112. Như diều xoắn vặn cùng sợi dây lèo.

    Chỉ một đoạn thơ ngắn với vần điệu tự do, liền mạch như trên, nỗi khao khát của K'YiI đã cho thấy quan niệm về tình yêu hôn nhân của trai gái Châu Mạ, cũng cho thấy tập tục uống rượu cần, múc nước suối,đánh chiêng đồng bằng tay của nguôi Châu Mạ xưa. 207 câu hát Tampơk Kôông vàK'Yai'' đều chứa đựng những yếu tố trữ tình có ý nghĩa hiện thực như thế. Thợca dân gian của nguôi Việt khá phong phú. Đó là lời ca đọng lại từ những khúc hát trữ tình, lâu dần thành câu nói cửa miệng. Phong phú nhất là mảngca dao trữ tình mang theo trong hành trang của người Việt đến xứ Biên Hòa - Đồng Nai. Nhiều câu hát cũ vẫn nguyên vẹn vẻ đẹp ở đất mới:

    Đã thương thì thương cho chắc

    Đã trục trặc thì trục trặc cho luôn

    Đừng như con thỏ đứng ở đầu truông

    Khi vui giỡn bóng khi buồn bỏ đi.

    (Ca dao Trung bộ)

    Thử chuông cho biết chuông ngân

    Thử bạnđôi lần cho biết dại khôn.

    (Ca dao Bắc bộ).

    Nhiều câu hát gốc Trung bộ, Bắc bộ được biến thể đôi chút trở thành tài sản gắn với địa phương. Ca dao “ Chiều chiều quạ nói với diều... '' phổ biến khắp nơi đậu lại xứ Biên Hòa:

    Bao phen quạ nói với diều

    Ngã ba Rạch Cát có nhiều cá tôm.

    (Rạch Cát: Thuộc Cù Lao Phố, TP Biên Hòa).

    Môtif ca dao “ngó lên'' phổ biến ởTrung bộ (Ngó Lên Hòn Kẽm đá dừng... Ngó lên hòn núi Thiên Thai...) cũng thấy xuất hiện ở Biên Hòa- Đồng Nai:

    Ngó lên Bình Điện thấy miệng em cười

    Tơ duyên muốn kết sợ người đã có đôi.

    (Núi Bình Điện: Tên gọi khắc của núi Bửu Phong).

    Ngó lên Châu Thới có đámmây bạch

    Ngó xuống Rạch Cát thấy con cá chạch đỏ đuôi.

    Nước chảy xuôi con cá đođuôi lội ngược

    Anh mảng thương nàng có được hay không?

    Tương tự, có thể dẫn chứng hàng loạt câu ca dao có nguồn gốc ''miệt ngoài" được cải biến cho phù hợp với tâm tình cư dân vùng đất mới:

    Đố anh con rít mấy chưn

    Câu ô mấy nhịp chợ Dinh mấy người..

    Ba Gioi ăn cá bỏ đầu

    Bà Trường thấy vậy xỏ xâu mang về

    (Ba Gioi, Bà Trường: Địa đanh thuộc xã Phước An huyện Nhơn Thạch).

    Má ơn con má hư rồi

    Cái trâm cũng bán vàng đôi cũng cầm

    Thương em đưa nón đội đầu

    Về nhà má hỏi qua cầu gió bay.

    Có thể phân định mảng ca dao biến thể của người Biên Hòa – Đồng Nai với mảng ca dao nói về Đồng Nai ở chủ thể thầm mỹ của nó. Xứ Đồng Nai xưa rộng lớn, trù phú, giàu súc hấp dẫn đối với người đi khẩn hoang cho nên có mảng ca dao mang nội dung giới thiệu, mời gọi hướng về Đồng Nai:

    Đồng Nai gạo trắng nước trong

    Ai điđến đó thi không muốn về

    Đồng Nai gạo trắng như cò

    Trốn cha trốn mẹ xuống đòtheo anh.

    Hết gạo thì có Đồng Nai

    Hết cúi thì có Tân Sài chở vô.

    Làm trai cho đáng nên trai

    Phú Xuân đã trải Đồng Nai cũng từng.

    Anh đidao bảy dắt lung

    Nón chiên anh đội băng chừng Đồng Nai...

    Mảng ca dao ''về Đồng Nai'' có giá trị ở chỗ nó in dấu ấn hình ảnh và cảm xúc của người phương xa đầu hướng đến Đồng Nai. Ngay cả câu ca dao quen thuộc : “Nhà Bè nước chảy chia hay. Ai về GiaĐịnh Đồng Nai thì về “, cảm hứng chủ đạoở nó có lẽ cũng là tầm tình của người khẩn hoang chưa quen với vùng đất mới. Đáng lưu ý là mảng ca dao dân ca này sinh từ cảm xúc của người địa phương trong bối cánh tự nhiên - xã hội ởxứ Đồng Nai. Mảng ca dao dân ca này số lượng không nhiều nhưng nó mang ý nghĩa hiện thực và sắc thái địa phương, từ hình thức thể hiện đến dòng mạch cảm xúc. Có thể nói, ca dao dân ca ''đặc sản”' của Biên Hòa – Đồng Nai thường ngắn, vần điệu ít nghiêm nhặt, hay phá cách lục bát, ít chải chuốt ngôn từ, quí là ở lời bộc trực chân tình, lòng thực thà, rộng mở. Cảm xúc buổi đầu bỡ ngỡ, lạlùng trước cảnh vật hoang sơ rõ ràng là của lớp người mới di dân khẩn hoang ở Nam bộ:

    Đến đây xứ sở lạ lùng

    Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh

    Đi ra sợ đỉa cắn chưn

    Xuống sông sầu ních lên rùng cọp tha...

    Rồi qua lao động, chinh phục tự nhiên, làm chủ vùng đất mới, niềm tự hào về quê hương, và mối quan hệ máu thịt với đất nước, con người ờ Biên Hòa – Đồng Nai dần trở thành dòng mạch chính trong ca dao dân ca:

    Trà Phú Hội, nước Mạch Bà

    Sầu riêng An Lợi chuối già Long Tân

    Cá buôi, sò huyết Phước An

    Gạo thơm Phước Khánh, tôm càng Tam An

    Biên Hòa có bưởi Thanh Trà

    Thủ Đứcnem nướng, Điện Bà Tây Ninh.

    Rạch Đông nước chảy,

    Con cá nhảy con tôm nhào

    Hai đứa mình kết nghĩa

    Lẽ nào cha mẹ không thương

    Đưa em về miếu Bà Cô

    Em trả trái bưởi em bù trái thơm…

    Bao giờ cạn nước Đồng Nai

    Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền

    Cả những niềm vui tinh nghịch còn âm vang hương sắc của quê nhà:

    Sáng mai đi chợ Biên Hòa

    Mua một vải vuông ta

    Đem về cho con Hai nó cắt

    Con Ba nó may

    Con Tư nó đột

    Con Năm nó viền

    Con Sáu đơm nút

    Con Bảy vắt khuy

    Anh bước cẳng ra đi

    Con Tám níu, con Chín trì

    Ớ Mười ơi, sao em đểvậy còn gì áo anh ?

    Đồn rằng con gái Phú Yên

    Đồng Nai đi cưới một thiên cá mòi

    Chẳng tin giở quả ra coi

    Chị Hươu đi chợ Đồng Nai

    Ghé qua Bến Nghe còn nhai thịt bò...

    Trong quá trình đấu tranh, bảo vệ quê hương xứsở, hào khí Đồng Nai được kết tinh, đọng lại trong ca dao dân ca:

    Rồng Chầu ngoài Huế

    Ngựa tế Đồng Nai

    Nước sông trong đổ lộn sông ngoài

    Thươngngười xa (đáo) xứ lạc loài tới đây.

    Nhiều khi, qua một câu hát, tính khí, lối ứng xử của người Biên Hòa – Đồng Nai bộc lộ rõ rệt. Có sự nóng nảy, mãnh liệt của con người bộc trực:

    Chợ Biên Hòa đèn mờ đèn tỏ

    Anh coi không rõ anh tưởngđèn màu

    Rút dao đâm họng máu trào

    Để em ở lại kiếm nơi nào hơn anh.

    Có tình cảm bền chặt, ít đổi thay:

    Nước Đồng Tranh sóng dồi lên xuống

    Cửa Đồng Môn mây cuốn buồm xuôi

    Bậu với qua hai mặt một lời

    Trên có trời dưới có đất

    Nguyện non cạn sông dời cũng chẳng xa.

    Cũng có nét cởi mở, bạo dạn, mở lòng của thôn nữ Nam bộ:

    Thấy anh lớn tuổi mà khờ

    Lưng em không dựa, dựa bờcỏ mai.

    Nỗi niềm cơ cực của người cùng khổ cũng được gởi gắm chân tình qua ca dao dân ca; nhưlời than của một công nhân cao su:

    Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng khi về bủng beo

    Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, ca dao dân ca tiếp tục nâng đỡ tâm hồn của người kháng chiến. Cuộc sống kháng chiến đă đem lại cho ca dao dân ca Đồng Nai không khí mới. Người phụ nữ kháng chiến xứ Đồng Nai thoát khỏi thân phận bị ràng buộc, rụt rè; dám nói thật và nói vui:

    Khoai lang lột vỏ hai đầu

    Nửa thương anh trung đội trưởng,

    Nửa sầu anh chính trị viên.

    Bà mẹ của vùng kháng chiến ít chữ nghĩa nhưng lòng đầy lạc quan, câu hát đầy theo hũ gạo nuôi quân:

    Sớm mơi (mai) xúc gạo ra vo

    Nhớ đoàn Vệ quốc hốt cho nắmđầy

    Một tháng là ba mươi ngày Mỗi ngày một nắm nhớ rày Vệ quốc quân.

    Không khí đóng cọc, ngăn tàu giặc Pháp của chiến khu lòng chảo cũng được phản ảnh sinh động trong ca dao kháng chiến:

    Đốn cây cắm cọc ngăn tàu

    Lòng sông Vũng Gấm, Bà Hào, Phước An

    Làm cho quân giặc hoang mang

    Không cho khủng bố ruồng càn chiến khu.

    Và nhiều câu ca dao dưới hình thức “bình cũrượu mới'' thể hiện đặc điểm kháng chiến ở đia phương:

    Khu Đ đi dễ khó về

    Lính đi bỏ mạng quan về mất lon.

    Ca dao dân ca ở Đồng Nai là gương phản ánh tâm hồn của người Biên Hòa – Đồng Nai gắn với sự phát triển kinh tế xã hội ở đia phương; nếu sưu tập, tìm hiểu đầy đủ có thể qua đó hiểu được mọi cung bậc tình cảm của con người mà lịch sử giấy bút chưa thể ghi nhận.

    Tục ngữ, phương ngôn:

    Hiện chưa có đầy đủ tài liệu để có thể nói vềtục ngữ, phương ngôn của đồng bào các dân tộc Châu Mạ, Châu Ro, Xiêng ở địa bàn Đồng Nai. Nhóm dân tộc này chưa có chữ viết, cho nên kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm sống và tập quán xã hội ắt được truyền đời chủ yếu qua lời nói ngắn gọn, có vần điệu dễ nhớ hình thành tục ngữ, phương ngôn trong kho tàng văn hóa dân gian địa phương. Như người Châu Ro chẳng hạn, họ truyền nhau kinh nghiệm quan sát tự nhiên để đoán định thời tiết: “Ray nhim Đaq Gung char” hoặc ''GungcharĐaq nhim Ray'' (nghĩa là cây anh (to) ven sông Ray khóc cây em (cỏ tranh) ởnúi Chứa Chan là vào mùa mưa). Cũng vậy, họ thấy ếch kêu, ve kêu, đuôi kì đà đenđều, đầu cắt kè chuyển màu xanh, xương ếch chuyển màu đen... thì tiết trời sắp có mưa. Trong ứng xử xã hội, người Châu Ro khuyên nhau giữ nếp sống ''làm em chịu lành làm anh chịu cả “ và ứng xửchừng mực: “vui cười quá đáng thì sống trước mắt, chết sau lưng”.

    Luật tục kinh nghiệm của người Châu Mạ chủ yếu cũng truyền khẩu qua lời nói. Kinh nghiệm sống cho thấy:

    Rnom any yô jơh bou chrka .

    Đaky tilhơ, jơh bou mbring

    Ching any tua bou, kông tap xai…

    (Rượu cần không uống thì chua men

    Bình không múc nước thì lên men

    Chiêng để lâu không đánh thì đóng ten đồng)

    Bởi vậy, đồ vật phải dùng, yêu phải cưới, con người phải làm việc. Luật tục truyền đời phải nhớ:

    Lưỡi mác phải có cán

    Muốn ngủ phải có mền

    Muốn cưới xin phải có lễ vật và trao vòng tay.

    Luật tục cũng nghiêm cấm không được ngoại tình:

    An ớt rát họng

    An sả rát yết hầu

    Ngủ với vợ người khác có chuyện !

    Tìm hiểu về tục ngữ, phương ngôn của đồng bào dân tộc ít người ở Đồng Nai là công trình lớn, còn ở phía trước; ở đây chỉ muốn ví dụ để cho thấy nó có vai trò quan trọng, như là bộ bách khoa thư không bằng văn tự trong đời sống tinh thần của đồng bào.

    - Người Việt ở Biên Hòa - Đồng Nai kế tục vốn tri thức và tiếng nói của cha ông ở nguyên quán cho nên kho tàng tục ngữ, phương ngôn về kinh nghiệm sản xuất, qui tắc ứng xử ít có khác lạ so với xứ Bắc xứ Trung. Tuy nhiên, có những kinh nghiệm sống hình thành từ cuộc sống cụ thể ở Biên Hòa - Đồng Nai cũng được truyền miệng qua bao thế hệ. Đó là những kinh nghiệm trong việc sản xuất từviệc dự báo thời tiết, mùa vụ đến việc chọn giống nuôi trồng:

    - Được mùa cau đau mùa lúa, đuốc mùa lúa úa mùa cau.

    - Ruộng đấng thì ăn ruộng năn thí bỏ. .

    - Được mùa xoài toi mùa lúa.

    - Đười ươi cười thì nắng, cỏ gà trắng thì mưa.

    - Tháng giêng nắng dai, tháng hai giông tố

    - Tháng ba nồm sợ, tháng tưnồm non.

    - Gà rừng gáy thì cấy hạt đậu...

    - Thợ mộc không ghế, thợrèn không dao…

    Hoặc là những kinh nghiệm thưởng thức sản vậtđịa phương:

    - Cơm Nai Rịa, cá Rí Rang.

    - Gạo Cần Đuốc, nước Đồng Nai.

    - Trầu bai Bến Cá, thuốc lá Tân Huê.

    - Dưa đàng đít, mít đàng đầu.

    - An chuối đàng sau, ăn cau đàng trước.

    - Nhất đầu thỏ, nhì mỏ lươn.

    - Nhất rún chị sui nhì đuôi rắn hổ…

    hoặc là những kinh nghiệm ứng xử xã hội hình thành tập quán cộng đồng:

    - Đi xe coi ách coi nài

    - Coi trong bộ ví coi ngoài bộ tun

    - Họ hàng thì xa, sui gia thì gần

    - Đất mình thì đội dù qua

    - Sang đất người ta thì hạdù xuống

    - Tham ăn một miếng mang tiếng cả đời.

    Nhiều khi, tục ngữ phương ngôn Biên Hòa – Đồng Nai khái quát một hiện tượng xã hội, một sự kiện lịch sử để dễ nhớ; ví dụ để nhắc về thầy võ ở Tân Khánh diệt cọp ( trước thuộc Tân Uyên, Biên Hòa): Cọp Bàu Lòng Võ Tòng Tân Khánh; hay nói vềquan hệ tương xứng giữa hai miền: Gái Đồng Nai trai Thuận Hóa, hoặc lưu ý những mối hiểm nguy: Cọp Biên Hòa, ma Rùng Sắc...

    Tục ngữ phương ngôn mang sắc thái của Biên Hòa - Đồng Nai hiện chưa được ghi chép đầy đủ, có bao nhiêu mặt sinh hoạt của con người là có bấy nhiêu lĩnh vực đời sống đã đi vào kho tàng tục ngữ, phương ngôn, nó góp phần làm giàu thêm vốn sống, làm phong phú vốn tiếng Việt ở địa phương.

    Diễn xướng

    Do mới hình thành từ sự hội nhập nhiều lớp cưdân cách đây hơn ba thập kỷ, ở Biên Hòa – Đồng Nai không thấy có làn điệu dân ca nào đặc thù nhưng lại có gần như đủ giọng dân ca của xứ Trung, xứ Bắc. Quan họ, ca Huế, ví dặm... hiện vẫn có đất sống ở các cụm dân cư còn da diết với cốhương. Tiếng hát ru của các bà má Biên Hòa – Đồng Nai đủ giọng ba miền Nam- Trung – Bắc. Các điệu hò, lý ở đồng ruộng, trên dòng sông hay ở bãi mía, sân đình thường lộ rõ âm điệu của xứ Thuận, xứ Quảng. Có thể nói, hội nhập, tổng hợp, dung hòa là đặc điểm của diễn xướng nghệ thuật truyền thống ở xứ Biên Hòa – Đồng Nai. Có hai dạng diễn xướng nghệthuật truyền thống khó phân đinh rạch ròi: diễn xướng nghệ thuật trong sinh hoạt thông thường và diễn xướng thực hiện nghi lễ.

    3.l Trong sinh hoạt thông thường, người Biên Hòa – Đồng Nai xưa có sinh hoạt nghệ thuật: Hò hát, lý, kể vè, nói thơ, nói tuồng, đờn ca tài tử... nhằm giải trí, giao lưu văn hóa, thư giãn tinh thần và tăng hứng thú lao động.

    Sách Gia Định Thành thông chí của Trịnh Hoài Đức có ghi ở Cù Lao Phố xưa, ngày tết có hát sắc bùa: “Đêm 28 tháng chạp, na nhân (tục danh nậu sắc bùa) đánh trống, gõ phách, một bọn 15 người đi dọn đường, trông nhà hào phú nào mở cửa ngõ thì vào dán lá bùa nơi cửa, niệm thần chú, rồi nổi trống phách lên, ca xướng những lời chúc mừng, người chủ nhà dựng cỗ bàn chè rượu khoản đãi và gói tiền thưởng tạ xong nhà này lại qua nhà khác, cũng làm như vậy cho đến chiều buổi trừ tịch mới thôi, ấy là có ý đuổi tà tống ma, trừ cũ rước mới vậy.

    Đó là hình thức diễn xướng tổng hợp với chức năng chúc xuân, bắt đầu từ 28 tháng chạp đến rằm tháng riêng hàng năm, có nguồn gốc liên quan đến tục hát xiếc bùa của người Mường theo đoàn người di dân vào Đồng Nai, phổ biếnđến đầu thế kỷ XX, hiện đã thất truyền ở Biên Hòa – Đồng Nai, còn thấy bảo lưu ởmột số xă thuộc Tỉnh Bến Tre.

    Hò là hình thức hát đối đáp trong lao động, có người cất giọng diễn lời (xướng), tập thể nối theo phụ họa(xô). Phổ biến ở Biên Hòa – Đồng Nai là loại hò cấy, tức điệu hò của vạn cấy. Xưa, dân cấy thường đi cấy tập thể do đầu công tập hợp và điều hành. Đêm khuya, tiếng tù và của đầu công thổi từng hồi, báo hiệu các công cấy thức giấc, nấu cơm tập trung ở điểm hẹn cùng đi ra đồng. Đến đồng ruộng, nếu thiếu công cấy, lại thổi tù và “còn thiếu...” để mời gọi thêm công hoặc nhờ điều phối công từ vạn cấy khác. Không khí cấy tập thể đông vui, nảy sinh nhu cầu hò hát. Giọng hò cấy tự do, âm điệu na ná hò mái ố của miền Tây nhưng có nét riêng của đồng ruộng Đông Nam bộ. Lời hò là lục bát, song thất lục bát hoặc lục bát biến thể được mở đầu bằng giọng hò dài “Hò... hơ... hớ... ơ… ơ’’;giữa câu ngắt đoạn bằng đoạn hò ngắn ‘’hò.. ơ... hò “, kết thúc bằng giọng xuống hơi kéo dài, giọng xô tập thể nối theo ‘’hò khoan... hò”. Dứt giọng xô của câu đối, giọng hò đắp cất lên. Lời hò sau phải tiếp vần câu hò trước. Nếu bí vần là bi đứt, coi như thua cuộc. Lời đáp câu đối nối nhau, bên nam bên nữ, tốp này tốp kia cùng vào cuộc chơi, có người hò cái, có người nhắc câu, tập thể hò phụ họa. Cứ thế cuộc hò kéo dài, có khi liên tục mấy ngày liền. Nhiều người mê hò mà đến mê nhau. Các vùng Cù Lao phố (Biên Hòa), Cù lao Thạnh Hội (Tân Uyên), Bình Lục (Vĩnh Cửu), Phước Hòa (Long Thành), Hiệp Phước (Nhơn Trạch)…đều có những giọng hò nổi tiếng, thường giao lưu đối đáp với nhau, hiện nhiều nghệ nhân ở lứa tuổi 50, 60 trở lên còn ấp ủ nhiều kỷ niệm đẹp về một thời hò cấy. Ví dụ, một đoạn đối đáp hò cấy ghi được ở Cù lao Thạnh Hội:

    Nam: (Hò… hơ… ơ… ớ… ơ)

    Taycầm bó mạ rẻ hai (hò…hơ…)

    Miệng hò tay cấy/ chân tui thài lai ngoẹo… nàng.

    Giọng xô nam: (Hò …. Khoan… hò…)

    Nữ: (Hò… hơ… hớ… hơ…)

    Mạ non khéo cấy thẳng hàng (hò… hơ… hớ…)

    Hỏi người quân tử / đá vàng hay… chơi

    Giọng xô nữ: (Hò… khoan… hò…)

    Nam: (Hò… hơ… ơ….ớ… ơ…)

    Ngó lên Bình Điện thấy miệng em cười (hò… hơ…)

    Tơ duyên muốn kết/ sợ ngườiđã có… đôi.

    Giọng xô nam: (Hò… khoan… hò…)

    Nữ : (Hò… hơ… hớ…. Hơ…)

    Ván kia lỡ đóng thuyền rồi (hò… hơ…. Hơ…)

    Hỡi người quân tử buông lời nữa… không ?

    Giọng xô nữ: (Hò… khoan… hò…)

    Sau những lời hò dạo, thưa chào, kết nối, ướm hỏi; cuộc hát đi vào nội dung đố đáp. Sự dí dỏm, thông minh, tài ứng đối bộc lộ cả ở giai đoạn này. Ví dụ:

    Nữ:

    Đồn anh hay chữ lắm tài

    Cho em hỏi thử một vài câu ca

    Anh người xứ ở Biên Hòa

    Đó anh biết bưởi thanh tràđâu ngon

    Thuốc đâu đằm khói mê hồn

    Đá đâu nước chảy vẫn còn trơ trơ ?

    Nam:

    Hỏi thơ thì đáp bằng thơ

    Đá Hàn nước chảy trơ trơ vẫn còn

    Tân Huệ thuốc lá thơm ngon

    Bưởi thanh thì chẳng đâu hơn Tân Triều

    Nữ:

    Tiếng anh ăn học đã nhiều

    Cho em hỏi thử cây điều mấy bông ?

    Nam:

    Bậu về bắt hết cá sông

    Qua đây biết được mấy bông cây điều.

    Cùng với hò cấy còn có hò chèo xuống (còn gọi hò chèo ghe), hò giã gạo. Theo các nghệ nhân cao tuổi, thực chất, hò chèo xuồng, hò giã gạo là biến thể của hò cấy trong môi trường lao động chèo xuồng hoặc giã gạo; có khác hò cấy chút ít ở giọng hò ngân dài hơn, ít giọng xô và một số lời hát theo văn cảnh.

    Cũng theo hình thức lao động mà ngoài hò chèo ghe còn có hò đò dọc của giới thương hồ buôn bán đường dài và hò rỗi của nậu ghe chuyên trở cá. Còn có bao nhiều điệu hò nữa ở Biên Hòa –Đồng Nai xưa ? Hiện chưa có đủ điều kiện để trả lời câu hỏi ấy.

    • Lý là hình thức diễn xướng những câu hát ngắn, ngẫu hứng thành làn điệu, một loại hình diễn xướng phổ biến của Nam bộ “Namlý, Huế hò, Bắc thơ”. Theo ký ức của người cao tuổi, ngoài các bài lý phổ biến ở Nam bộ, xứ Biên Hòa – Đồng Nai từng có nhiều người hát lý rất hay, nhưng không hiểu do đâu đã mất hẳn, hiện chưa tìm ra dấu vết. Bài Lý Đồng Nai âm điệu thế nào không rõ, chỉ còn lại phần lời không đầy đủ:

    Gạo đàng Ngoài: Bảy tiền một bát

    Gạo Đàng Trong: Bảy bát một tiền

    Anh không tin thì anh vô Đồng Nai mà coi

    Có quân tập trận có chòi bắn bia

    Có con ngựa hồng mao tiền mao hậu

    Quan võ thầy đầu đội mão đai.

    Bà Ba Dẹt ở xã Long Tân, huyện Nhơn Trạch còn hát được điệu lý lu la, lý trèo lên với các câu hát nửa quen, nửa lạ, ví dụ:

    Lý lu là:

    Ai đem con sáo sang sông

    Cho nên con sáo ăn buồng chuối tiêu.

    Lý trèo lên:

    Trèo lên cây khế mà rung

    Khế rụng đùng đùng không biết khế ai

    Khế này là khế chị Hai

    Khế chưa có trái, chị Hai có chồng

    Xem ra, lý lu là vàlý trèo lên có thể là biến thể của các điệu lý đồng dạng phổ biến của Nam bộ.

    Kể vè, nói thơ, nói tuồng là hình thức diễn xướng tự sự bằng lối “nói vãn” có gõ nhịp hoặc không gõ nhịp, nhằm thể hiện các bài vè, truyện thơ, tích tuồng thuộc nằm lòng. Ở Biên Hòa – Đồng Nai xưa lưu truyền nhiều bài vè. Phổ biến là các bài vè quen thuộc (nguyên bản hoặc dị bản) lưu truyền cả nước như: Vè Chàng Lía, vè Thông Chánh, vè Con cút, vè Bài tới, vè Con gái lấy thợ câu cua, vè Nói ngược, vè Nói dóc, vè Trăm thứ bành… còn có những bài vè ứng tác tại địa phương kể về các sự việc đáng chú ý trong đời thường, có thể nêu: Vè Xã Những mất vợ (Ông Võ Văn Đạc ởxã Long Phước, huyện Long Thành kể), vè Hương thân Cẫn (bà Sáu Nhâm ở xã Phú Hội huyện Nhơn Trạch kể), vè Rượu (ông Chín Lát ở xã Long Tân, huyện Nhơn Trạch kể)…

    Qua nội dung của bài vè được kể, có thể tái hiện một phần của đời thực thủa xưa; ví dụ như bài vè Các đường lục tỉnh được ghi chép trong Di chỉ của Trương Vĩnh Ký

    … Đến đây buôn bán một khi

    Khúc đà chợ Búng, sang đồng Lái Thiêu

    Rạch Tra nhà ở treo leo

    Hóc Môn là xứ vườn trần nghinh ngang.

    Dầu Một, Chợ Thủ, Ba Càng

    Quanh co Đồng Phú, nhộn nhàng Võ Sa

    Bến Cá xóm ở đông nhà

    Xưa kia Đồng Ván trời đà cao xây.

    Chợ Đồn đá dợn nước trào,

    Hoặc khi ngó thấy Cù Lao An Mày

    Hòn núi Châu Thới cao thay

    Kiểng Dương qua khỏi xuống ngay Nhà Bè.

    Tiếng đồn các lái Đồng Nai

    Tháng giêng đóng ván, tháng hai đóng thuyền

    Tháng ba trở gạo mà chuyên

    Tháng tư hành thuyền rải rác mọi nơi.

    Kể từ Rách Cát, Rạch Dơi

    Sài Gòn, Bến Nghé tựa nơi Nhà Bè

    Rủ nhau lãnh thẻ chiêu đề

    Ghe nào bạn nấy ta hèo kéo theo.

    Thơ được kể ở Biên Hòa xưa thường là truyện thơ Nôm: Lục Vân Tiên, Lâm Sanh Xuân Nương, Phạm Công Cúc Hoa, Chàng Nhái Kiểng Tiên, Trần Minh khố chuối… hoặc các truyện cổ tích Tàu diễn ca, như: Tống tửu Đơn Hùng Tín, Tiết Cương phục nghiệp… Đầu thể kỷ XX, có thêm truyện thơlịch sử các hội thâm nhập từ miền Tây: Thơ Sáu Trọng Hai Đẩu, Thơ thầy Thông Chánh, Năm Tỵ, Sáu Nhỏ… Nói tuồng thường là độc diễn các trích đoạn tuồng tích Tàu hoặc tuồng tích dân gian, như: Văn Doan Chàng Lía, ông Trượng – Tiên Bửu…. Hình thức kể vè, nói thơ, nói tuồng thường diễn ra dưới trăng, trong đêm vắng, lúc thư thả hay những buổi hội, giỗ… Đó là món ăn tinh thần của người cao tuổi đồng thời là thế giới kỳ ảo trong trí tưởng tượng của tuổi thơ.

    - Đồng Dao là một dạng hát – kể vè gắn với trò chơi tập thể của trẻ em. Nhiều bài hát đã mất nghĩa ngôn từ nhưng còn ý nghĩa văn hóa trong cách chơi, cách diễn đạt thể hiện tính hồn nhiên của tuổi thơ. Qua khảo sát thực tế, nhận thấy nhiều bài (hoặc dị bản) đồng dao quen thuộc ở Trung bộ, Bắc bộ có mặt tự lâu đời ở Biên Hòa – Đồng Nai, phổ biến là các bài: Tập tầm vông, chơi với quấc, vè Nói ngược, Cu cu chằn chằn, Con cò Xanh, Xích đu tiên, Bắt con kỳ nhông… Đồng dao tập cho trẻ em hòa mình vào tập thể, quen với luật chơi bình đẳng, tự giác.

    - Đờn ca tài tửlà dạng sinh hoạt của các nhóm theo nghiệp đờn ca bài bản tài tử có nguồn gốc từ nhạc sư Ba Đợi (Nguyễn Quang Đại) phổ biến ở Nam bộ từ đầu thế kỷ XX. Ở Biên Hòa, Nhơn Trạch, Vĩnh Cửu xưa có người theo học các thấy đờn ca tài tử tại Sài Gòn, Cần Đước… về lập nhóm, sắm nhạc, họp thành ban nhạc, đờn ca các bài bản cổ điển như là sinh hoạt âm nhạc thính phòng của dân gian. Từ đờn ca tài tử đến ca ra bộ, sau này phát triển thành ca cổ, cải lương.

    - Hát tuồng (còn gọi là hát bội) là hình thức diễn xướng nghệ thuật tuồng truyền thống vốn phát triển đặc sắc ở Trung bộ; có lẽ nó đã phổ biến ở Trấn Biên khá sớm, và có điều gì đó đặc sắc khiến vào khoảng năm 1761 Chúa Nguyễn sai người vào Trấn Biên tìm bắt ca nhi đem về phụng sự phủChúa. Tuồng hát ở Nam bộ thường dựa theo tích Tàu, sau có soạn thêm một số tuồng Việt lấy tích trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc; xoay quanh các chủ đề ca ngợi trung, hiếu, tiết, nghĩa. Đoàn hát do dân tự lập, lưu diễn ở các thôn làng, có diễn trích đoạn ở đám tang theo yêu cầu của gia chủ. Như gánh hát bội của Bầu Làm ở xã An Hòa (huyện Long Thành) chẳng hạn. Họ hàng, bạn bè trong làng hợp lại mua sắm, tự soạn kịch bản, tự diễn tập, mùa hát đi diễn khắp miền Đông, mùa ruộng phân tán làm ăn, diễn được hơn 20 vở tuồng tự soạn cả tích Tàu tích Việt, biết thực hiện nghi xây chầu, đại bội theo tục cổ truyền, đã trụ vững nhiều chục năm qua. Từ khi kịch nghệ cải lương phát triển, hát bội dần dần vắng bóng ở sinh hoạt giải trí thông thường, chỉ còn phổ biến trong các lễ cúng Kỳ Yên gắn với nghi lễxây chầu, đại bội.

    Câu 3:

    Kể tên các di tích văn hóa cấp Quốc gia trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Nêu khái quát về giá trị, ý nghĩa của hệ thống di tích lịch sử, kiến trúc, mỹ thuật, văn hóa cấp quốc gia đó.

    1. Công trình kiến trúc mộ đá cổ độc đáo

    Di tích Mộ Cự thạch Hàng Gòn, nay thuộc ấp Hàng Gòn (xã Hàng Gòn, thị xã Long Khánh,  Đồng Nai) đã được phát hiện và khai quật từ năm 1927.

    Năm 1928, di tích đã được xếp hạng và ghi vào danh mục các di tích lịch sử “Mộ Đông Dương – mộ Dolmen Hàng Gòn” và đến năm 1984, Bộ Văn hóa đã xếp hạng Mộ Cự thạch Hàng Gòn là di tích quốc gia, 1 trong 10 di tích quan trọng ở Nam bộ.

    Các nhà khoa học đánh giá, đây là một di tích độc đáo cả về nghệ thuật và kỹ thuật của các tộc người cổ Nam Á nói chung và người Việt cổ nói riêng.

    Mộ Cự thạch Hàng Gòn là một dạng hầm mộ, được cấu tạo bởi những tấm đá hoa cương lớn và những trụ đá dài, nặng khoảng 30 – 40 tấn. Ngôi mộ có hình chữ nhật dài 4,2m, ngang 2,7 mét, cao 1,6 mét được ghép bới 6 tấm đá hoa cương được bào khá nhẵn ở mặt ngoài; 4 tấm đá thẳng đứng dùng làm vách, 2 tấm nằm ngang dùng làm mặt đáy và nắp đậy.

    Liên kết giữa tấm đá hoa cương nhờ vào hệ thống rãnh dọc chắc chắn. Xung quanh mộ có nhiều trụ đá hoa cương cao 7,5 mét, tiết diện mặt cắt ngang hình chữ nhật dài 1,10m X 0,3m, phần lớn các đầu trụ được khoét lõm hình yên ngựa.

    Những phát hiện đầu tiên về ngôi mộ do một kỹ sư người Pháp tên là Jean Bouchot khám phá vào năm 1927 trong khi đào ủi mặt bằng để thi công tuyến giao thông Long Khánh đi Bà Rịa – V ũng Tàu.

    Sau đó có nhiều đoàn khảo cổ trong và ngoài nước đến nghiên cứu di chỉ khảo cổ học này. Tuy nhiên, cho đến khoảng tháng 3/2006, các chuyên gia của Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ và Ban quản lý di tích – danh thắng Đồng Nai phối hợp mở đợt điều tra nghiên cứu quy mô. Nhiều phát hiện mới đã được đoàn nghiên cứu làm rõ.

    Trong quá trình đào thám sát, đã phát hiện dấu vết của những vệt đất cháy kéo dài thành hình vòng cung, phía trên có rất nhiều than tro và xỉ kim loại; các mảnh đồ gốm trên thân có hoa văn làm từ chất liệu đất sét pha cát và vỏ nhuyễn thể nghiền nhỏ; phát hiện 2 chiếc tù và bằng đồng và 2 chiếc bàn mài bằng đá có lỗ đeo.

    Năm 2007, đoàn đã tiếp tục khai quật và giải mã những “bí mật” di tích Mộ Cự thạch Hàng Gòn. Nhiều hiện vật bằng gốm, bằng đá, các dụng cụ bàn mài, các cột đá và những vết đất cháy, than tro.

    Đặc biệt trong xưởng chế tác đá đã tìm thấy trước đó, đoàn khảo sát cũng đã tìm thấy những tấm đá, cột đá, nhiều phế vật mảnh tước đá và nhiều công cụ lao động. Qua đó cho thấy người xưa đã vận chuyển những khối đá lớn về Hàng Gòn để gia công tạo ra những tấm đan, cột đá sử dụng cho kiến trúc mộ.

    Qua so sánh phân tích, các nhà nghiên cứu đã đưa ra phán đoán cho rằng, chủ nhân của Mộ Cự thạch là một nhân vật quyền uy, là thủ lĩnh của một bộ lạc hay liên minh các bộ lạc hùng mạnh về kinh tế và quân sự; niên đại của di tích được xác định trong khoảng thời gian 150 trước Công nguyên đến 240 năm sau Công nguyên.

    Các nhà khảo cổ cho rằng, để xây dựng công trình trên, người Việt cổ phải huy động sức lao động của cả cộng đồng, tổ chức lao động một cách rất chặt chẽ. Đây là một công trình giống như “thạch tự tháp” của miền văn hóa sông Đồng Nai.

    Ghi nhận của ngành Bảo tàng, Khảo cổ học Việt Nam cho thấy: Từ năm 1975 đến nay, có hàng trăm đoàn khảo cổ học từ các nước đến Hàng Gòn để tìm hiểu, nghiên cứu về quần thể di tích cự thạch độc đáo này.

    Nhiều người cho rằng, đây là một ngôi mộ chôn dưới hình thức hỏa thiêu được xây dựng vào thời kỳ kim khí thuộc giai đoạn đồng phát triển (hậu kỳ thời đại đồ đồng) có khả năng chuyển sang thời kỳ đồ sắt; đồng thời khẳng định công trình này không chỉ có giá trị về kích thước (được xem là ngôi mộ đá lớn nhất Đông Nam Á đã phát hiện vào thời điểm hiện nay) mà còn chứa đựng giá trị lớn về trí sáng tạo của người tiền sử được ví như “ nền văn minh sông Đồng Nai”.

    Bí mật về quần thể di tích mộ Cự thạch Hàng Gòn hiện vẫn đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới khảo cổ học trong và ngoài nước. Một cuộc hội thảo cũng vừa được tổ chức tại tỉnh Đồng Nai để bàn biện pháp phục chế và bảo tồn di tích lịch sử độc đáo này.

    Hiện Bộ văn hóa – Thể thao và Du lịch cùng với UBND tỉnh Đồng Nai đang đề nghị các nhà kiến trúc, nhà quản lý, các nhà khoa học cho ý kiến về phương án bảo tồn và tôn tạo di tích mộ cự thạch Hàng Gòn để sớm triển khai trùng tu.

    1. Ngôi chùa Hoa cổ kính trên đất Cù lao Phố

    ù lao Phố là nơi có nhiều cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng cư dân sinh sống ở Biên Hòa. Miếu Quan Đế hay Thất phủ cổ miếu là một trong nhưng cơ sở tín ngưỡng cổ kính của người Hoa, được người dân địa phương gọi là chùa Ông. Đây là một di tích lịch sử kiến trúc khá độc đáo, được xây dựng vào thế kỷ XVII.

     Một số sử sách cho biết, di tích là “... một miếu điện nguy nga ở phía Nam châu Đại Phố huyện Phước Chính, trông ra sông Phước Long, đền đài rộng rãi, tráng lệ với hai Hội quán Phước Châu và Quảng Đông...”. Châu Đại Phố vốn là thương cảng Cù lao Phố xưa, Phước Long Giang chính là tên gọi của sông Đồng Nai trước đây và huyện Phước Chính xưa rộng lớn mà địa phận TP. Biên Hòa nay nằm trong phạm vi đơn vị hành chính này. Cộng đồng người Hoa do Trần Thượng Xuyên đến Biên Hòa có công tạo dựng nên cơ sở tín ngưỡng này. Cơ sở tín ngưỡng này do bảy phủ người Hoa; Phước Châu, Chương Châu, Quảng Châu, Triều Châu, Quỳnh Châu và Ninh Ba đóng góp công của xây dựng vào năm 1864. Với niên đại này, có thể xem chùa Ông (miếu Quan Đế) là cơ sở tín ngưỡng đầu tiên của người Hoa trên cả vùng Nam bộ.

        Tổng thể kiến trúc của di tích có kiểu hình chữ khẩu, được bố trí theo “nội công ngoại quốc”. Trong chùa lưu giữ một tập hợp tượng thờ về hệ thống thần linh chính yếu của người Hoa sinh sống trên đất Biên Hòa. Đó là tín ngưỡng thờ Quan Công /Quan Thánh đế quân, thờ bà Thiên Hậu, mẹ Sanh mẹ Độ, Phúc thần, Tài thần... Nội thất chùa được trang trí với những mảng kiến trúc đa dạng như: bao lam, liễn đối, khám thờ được chạm trổ tinh tế, thể hiện những điển tích, hình ảnh của các thần linh, vật linh, cảnh trí, sinh hoạt... trong quan niệm của người Hoa. Bên cạnh đó là những mảng văn tự Hán, với trình độ chạm khắc tinh xảo, thủ pháp nghệ thuật tinh tế. Phía sau chánh điện là lầu thờ Quan Âm, được xây dựng vào năm 1927, sau này được tôn tạo mới và phối thờ nhiều tượng thờ có tính dung hợp dân gian.

        Kiến trúc bên ngoài của di tích là một trong tính nghệ thuật khá độc đáo, thể hiện nét đặc trưng của cơ sở tín ngưỡng Hoa. Hai tượng ông Nhựt, bà Nguyệt đặt trên bờ nóc tiền điện là một trong những đặc trưng cơ bản tạo nên nghi dung của một ngôi chùa Hoa. Bên cạnh đó, trên mái chùa là một quần thể tượng gốm liên hoành, sắc sảo. Những mảng tượng gốm với các đề tài lễ hội tiêu biểu như hát tuồng, múa cung đình, đá cầu, chuyện tích dân gian... được thể hiện sinh động. Những mảng chất liệu bằng đá được thiết kế bằng các tượng thú, hoa văn mỹ thuật đa dạng vừa là cấu kiện của kiến trúc vừa là một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc làm cho chùa độc đáo so với các di tích tín ngưỡng trên vùng Cù lao Phố.

        Kể từ khi xây dựng đến nay, chùa Ông đã trải qua nhiều đợt trùng tu, tôn tạo. Vì vậy, những thành tố cấu kết kiến trúc di tích hiện tồn bao gồm những thành tố không đồng nhất về niên đại và cũng không thuần nhất về phong cách, kiểu thức nghệ thuật. Đó là lẽ tự nhiên của sự bảo tồn trước sự biến chuyển, đổi thay của tự nhiên, xã hội. Đó cũng chính là giá trị lịch sử đánh dấu sự tiến triển của di tích qua nghệ thuật tạo hình, điêu khắc của cư dân, của sự giao thoa văn hóa, của sự phát triển của cộng đồng cư dân một vùng đất, đã diễn ra trên phạm vi Biên Hòa xưa – Đồng Nai nay.

    1. ChùaĐại Giác

    iện nay, trên địa bàn Biên Hòa có nhiều ngôi chùa vốn được tạo dựng khá sớm, trong đó có chùa Đại Giác tọa lạc ở vùng Cù lao Phố (nay thuộc xã Hiệp Hòa). Đây là một trong những cơ sở tín ngưỡng được liệt hạng vào danh mục di tích lịch sử cấp quốc gia.

               Kiến trúc chính hiện tồn của di tích theo lối chữ nhị và đã trải qua nhiều lần trùng tu. Kiểu thức kiến trúc mặt tiền với lầu trống, lầu chuông nhô cao. Phần chánh điện có không gian thoáng rộng với sự bài trí của một tập hợp tượng thờ đa dạng. Đặc biệt, ở điện thờ chính có tượng Phật lớn so với các chùa trên địa bàn Đồng Nai. Nội thất kiến trúc có nhiều bức hoành phi, câu đối. Nhà sư Thành Đẳng phái Lâm Tê đời 34 được xem là người khai sơn ngôi chùa này.

    Trong lịch sử của vùng Biên Hòa, chùa Đại Giác gắn với những sự kiện được sử sách ghi chép: Vào năm 1779, trên đường trốn chạy sự truy đuổi của quân Tây Sơn, người con gái của Nguyễn Ánh (sau là vua Gia Long) đến nương náu và thoát nạn. Khi Nguyễn Ánh lập nên thanh thế, xưng vương đã nhớ đến và ban chỉ cho trùng tu chùa. Vua đã sai cho binh thợ đến giúp việc xây cất, cho tượng binh đến dặm nền vì thế chùa còn có tên là chùa Tượng. Trong dịp trùng tu, vua cúng chùa một pho tượng Phật bằng gỗ mít lớn nên chùa còn có tên là chùa Phật lớn. Đời vua Minh Mạng cũng quan tâm và tiếp tục cho tu sửa chùa. Một công chúa của nhà Nguyễn cúng chùa tấm biển “Đại Giác tự” sơn son thếp vàng, bên phải có khắc: “Tiên triều Hoàng nữ đệ tam công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh”. Tiếc thay, tấm biển này không còn nữa bởi những kẻ coi trọng sự tham lam hơn lòng thành chốn cửa thiền lấy mất. Ngày nay, một tấm biển với nội dung của công chúa tặng ngày trước treo ở di tích chỉ là “bản sao” như gợi nhớ về một người thuộc dòng Hoàng gia công đức cho chùa.

    Tương truyền, di tích chùa Đại Giác còn gắn với chuyện tình cảm đầy sắc thái của một phụ nữ xuất thân từ Hoàng gia nhà Nguyễn. Chuyện kể thì dài nhưng chung quy ở cái cách xử sự đầy cảm động của những người trong cuộc. Nhà sư Thiệt Thành là người tài đức từng được vua Gia Long triệu ra kinh đô làm Tăng cang chùa Thiên Mụ. Một phụ nữ hoàng gia cảm phục rồi đem lòng yêu mến nhà sư. Dù chính thân đã đạt được sự uyên thâm trong đạo pháp nhưng nhà sư vẫn lo tránh những sắc trần có thể làm day dứt tâm cang trước sợi dây luyến ái mà người phụ nữ đeo đuổi. Nhà sư từ biệt nơi kinh thành trở về Gia Định và sau đó là Biên Hòa, nhập thất tại chùa Đại Giác. Trong một lần vào Gia Định rồi đến Biên Hòa với chủ tâm gặp cho được nhà sư, Hoàng cô nhà Nguyễn đã quỳ gối, nài nỉ trước tịnh thất của chùa. Nhiều lần như thế với sự nài nỉ của Hoàng cô nhìn thấy bàn tay của nhà sư trước khi tạm biệt về kinh thành, nhà sư cảm động đã đưa bàn tay của mình qua ô cửa nhỏ cho Hoàng cô cầm lấy. Người phụ nữ ôm lấy bàn tay nhà sư một cách trìu mến. Đêm đó, giữa canh ba, trong khi mọi người đang an giấc, bỗng lửa cháy rực lên ở tịnh thất nơi nhà sư đang trú. Mọi người hoảng hốt cùng nhau dập lửa nhưng đã muộn. Tịnh thất cháy và xác thân của nhà sư cũng hóa theo. Sau này, người ta phát hiện một bài kệ của nhà sư trên vách chùa: “Thiệt đức rèn kinh vẹn kiếp trần. Thành không vẩn đục vẫn trong ngần. Liễu tri mộng huyễn chơn như huyễn. Đạo mình mình vui đạo mấy lần”. Hay tin nhà sư viên tịch, Hoàng cô cũng đã tự quyết định số phận của mình bằng một liều thuốc đắng.

    Câu chuyện nơi cửa Phật vẫn còn những đoạn kết khá kỳ thú xung quanh một số bài vị của nhà sư và Hoàng cô thờ tại chùa Sắc tứ Từ Ân. Sức mạnh của tình yêu con người, sức mạnh của niềm tin Phật pháp trong câu chuyện như vẫn còn nhắc nhở cho hậu thế những bài học đầy cảm động.

    Dấu tích kiến trúc xưa của chùa Đại Giác không còn được bảo lưu qua các lần trùng tu trước đây. Kiến trúc hiện tồn được xem như nét chấm phá làm đa dạng cho kiến trúc của chùa chiền Biên Hòa – Đồng Nai, phản ánh những bước phát triển nhiều mặt của xã hội. Với lịch sử khai sơn khá sớm, chùa Đại Giác là một trong những di tích lịch sử cho sự phát triển của vùng Biên Hòa – Đồng Nai.

    1. Địa đạo Nhơn Trạch

    Vùng Phước An vốn là rừng nguyên sinh lòng chảo, một thời được mệnh danh là "Thủ đô của Long Thành kháng chiến chống Pháp". Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, rừng lòng chảo là căn cứ hoạt động của Huyện ủy Nhơn Trạch với hệ thống địa đạo, giao thông hào, ô ụ chiến đấu cùng lán trại trên mặt đất. Lực lượng đào địa đạo khoảng 20 người thay phiên nhau, đào bằng dụng cụ thô sơ như: cuốc, xẻng đã khởi công vào đúng ngày 19-5-1963 nhân kỷ niệm 73 năm ngày sinh Bác Hồ.

    

    Đến cuối năm 1964 đã đào được 1,5km đường địa đạo khép kín, liên hoàn trong lòng đất, nối từ căn cứ Huyện ủy về các xã Phú Hội, Phước An, Huyện đội... Đường địa đạo có kết cấu hình vòm nằm sâu dưới mặt đất từ 5 đến 7m, độ cao từ 1,8m đến 2m, rộng từ 1m đến 1,2m; có nhiều lỗ thông hơi, ngách rẽ sang hai bên, hầm bí mật, giếng nước, bếp Hoàng Cầm... đường địa đạo có thể chịu đựng sức công phá của bom 250kg, chứa được từ 300 đến 500 người.

    Xuất phát từ căn cứ này, Huyện ủy Nhơn Trạch đã lãnh đạo và chỉ đạo các lực lượng cách mạng trong huyện kết hợp đấu tranh vũ trang, chính trị, binh vận đánh bại chính sách ấp chiến lược, chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ - ngụy.

    Sau ngày giải phóng miền Nam, hệ thống địa đạo dài 1,5km này không còn nguyên vẹn, chỉ còn giữ lại gần 200m. Mặc dù vậy, ý nghĩa lịch sử của căn cứ cách mạng này là rất lớn nên ngày 19-1-2001, Bộ VHTT đã xếp hạng địa đạo Nhơn Trạch là di tích lịch sử cấp Quốc gia (Quyết định số 04/2001/QĐ-BVHTT).

    Để bảo tồn và phát huy tác dụng di tích địa đạo Nhơn Trạch, hiện nay trên khu đất rộng 2,5 hecta đối diện với đền thờ liệt sĩ tọa lạc tại ấp 5, xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch, đang tiến hành tu bổ, phục hồi lại đoạn địa đạo dài 200m và nơi làm việc của Huyện ủy theo hồi cố của các nhân chứng lịch sử; xây một nhà truyền thống trưng bày các tài liệu, hình ảnh, hiện vật của căn cứ Huyện ủy xưa với tổng kinh phí hơn 9 tỷ đồng để khách có điều kiện thăm lại vết tích chiến trường xưa, ôn lại trang sử hào hùng một thời oanh liệt. Cũng tại khu đất này, huyện Nhơn Trạch sẽ xây một số công trình văn hóa gắn liền với di tích, du lịch sinh thái vườn trái cây Phú Hội và khu công nghiệp của thành phố trẻ Nhơn Trạch trong tương lai

    1. Đền thờ và mộ Nguyện Hữu Cảnh

    Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh còn gọi là đình Bình Kính tọa lạc bên tả ngạn sông Đồng Nai, xưa kia thuộc ấp Bình Kính, thôn Bình Hoành, tổng Trấn Biên, nay là ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP. Biên Hòa, đã được Bộ VH - TT - TT&DL xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia (Quyết định số 457-QĐ ngày 25-3-1991).

    

    Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, ban đầu ngôi đền có qui mô nhỏ, vách làm bằng ván, mái ngói âm dương, cách ngôi đền hiện tại khoảng 400m về hướng Nam. Các tư liệu cho biết: ngôi đền được xây dựng lại lần đầu tiên vào năm Tự Đức thứ tư (1851); đến năm 1923, đền được tái thiết lại ở địa điểm hiện nay.

       Nguyễn Hữu Cảnh sinh vào năm 1650 tại Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình có nhiều bậc danh tướng đương triều. Ông là  người văn võ song toàn, lập được nhiều chiến công lớn và được chúa Nguyễn tin yêu, trọng vọng. Mùa Xuân năm Mậu Dần (1698), ông vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lược xứ Đàng Trong khi ấy còn rất hoang vu. Đến đất Đồng Nai, ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa); lấy đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đất đai mở mang ngàn dặm. Ông chiêu mộ lưu dân đến lập nghiệp, tổ chức bộ máy hành chính từng bước có qui củ, khuyến khích khai hoang, thúc đẩy Cù lao Phố phát triển thành một trong những cảng thị sầm uất, năng động nhất đàng Trong suốt thế kỷ XVIII và chính thức sáp nhập vùng đất mới phương Nam vào bản đồ Đại Việt. Sau khi kinh lược phương Nam trở về, năm sau ông lại phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu thống lĩnh đại binh dẹp vua Chân Lạp giữ vững miền biên ải phương Nam. Tháng 4 năm Canh Thìn (1700), sau khi hoàn thành sứ mệnh, trên đường trở về đến Rạch Gầm (Tiền Giang) thì ông thọ bệnh qua đời nhằm ngày 16 tháng 5 âm lịch, thọ 51 tuổi. Trên đường di quan ông về quê an táng, quan tài của ông được đình lại khu đất khi xưa ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố để cho nhân dân địa phương có dịp bái biệt ông lần cuối. Nơi đình quan đã được nhân dân địa phương xây một ngôi mộ vọng để ghi nhớ sự kiện này. Khi hay tin Nguyễn Hữu Cảnh mất, Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc đã phong tặng ông là Thượng đẳng công thần đặc Trấn phủ Chưởng cơ với tước: Lễ Thành Hầu và đưa bài vị của ông vào thờ tại Thái miếu.

    Nhằm bảo tồn di sản văn hóa dân tộc và phát huy giá trị văn hóa trong thời kỳ hội nhập, thời gian qua, ngành VHTT Đồng Nai, UBND TP. Biên Hòa, chính quyền địa phương và Ban quý tế đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh đã tiến hành trùng tu, tôn tạo di tích; mở rộng, chỉnh trang lại khuôn viên, kè đá bờ sông với số kinh phí lên đến hàng tỷ đồng. Năm 2006, Ban Quản lý di tích - danh thắng Đồng Nai đã tiến hành xử lý mối mọt, nấm mốc tại di tích. Trong kế hoạch năm 2007, Ban Quản lý di tích - danh thắng sẽ hướng dẫn, hỗ trợ về mặt chuyên môn cho UBND xã Hiệp Hòa thành lập Tổ Quản lý các di tích đã xếp hạng và kiểm kê phổ thông trên địa bàn xã để làm tốt hơn nữa công tác quản lý, bảo vệ, trùng tu tôn tạo, tổ chức lễ hội và đón khách tham quan

    1. Lăng mộ Trịnh Hoài Đức

    Lăng mộ Trịnh Hoài Đức nằm ở địa phận phường Trung Dũng, thành phố Biên Hoà. Người dân địa phương quen gọi là “lăng Ông”. Từ bùng binh Biên Hùng của trung tâm thành phố Biên Hoà, theo Quốc lộ I, hướng đông bắc khoảng 300 mét, rẽ vào hẻm 39 (còn gọi là hẻm Đường Rầy –trước đây, một nhánh của tuyến đường từ ga thẳng đến sân bay Biên Hoà) ta sẽ đến được di tích. Nằm trong khu vực của khu phố 3, phường Trung Dũng có rất nhiều ngôi mộ cổ, được xây bằng đá ong tô hợp chất, xung quanh lăng Ông, nhiều người cho rằng, trước kia đây là khu mộ của họ tộc Trịnh Hoài Đức. Dưới thời Nguyễn, mộ Trịnh Hoài Đức thuộc thôn Bình Trúc, dinh Trấn Biên. Thời Pháp thuộc, địa danh Bình Trúc được đổi thành Bình Trước, thuộc quận Châu Thành, tỉnh Biên Hoà. Trường Viễn Đông Bác cổ đã xếp mộ Trịnh Hoài Đức là di tích vào năm 1938

     Nhiều ngôi mộ của họ tộc Trịnh Hoài Đức nằm rải rác trên khu đất khoảng 3 héc ta, xen lẫn với nhà dân, các con đường mòn nhỏ. Các ngôi mộ đều xây theo lối hình voi phục, mặt bằng dạng khối hình chữ nhật; các bia đá khắc chữ Hán hướng về phía tây nam, tường phủ rêu xanh. Trong toàn khu mộ họ Trịnh, mộ Trịnh Hoài Đức nổi bật lên bởi quy mô của kiến trúc, có lẽ đây là chủ ý của những người dựng mộ trong phép tắc của người xưa về dòng họ.

     Trước khi được trùng tu, tôn tạo năm 1998 (nhân dịp kỷ niệm vùng đất Biên Hoà - Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển), mộ Trịnh Hoài Đức nằm khuất trong khu đông dân cư. Trước năm 1975, đáo lệ hằng năm vào lễ Thanh minh, con cháu Trịnh Hoài Đức từ các địa phương khác đến cúng viếng với nghi lễ rất trang trọng. Về sau, có lẽ do một số con cháu trong thân tộc họ Trịnh đã lớn tuổi hay lưu lạc mà các lễ viếng không còn duy trì như trước.

     Hiện nay, mộ Trịnh Hoài Đức tọa lạc trên chu vi đất rộng với cảnh quan được tôn tạo mới, khang trang hơn trước rất nhiều. Những ngôi nhà dân trong phạm vi của di tích được giải toả, di tích được bảo vệ bởi hàng rào, tường bao chu đáo. Kiến trúc mộ ban đầu được bảo tồn. Nguyên thủy, mộ xây bằng đá ong tô hợp chất, xung quanh có vòng thành kiên cố. Phía sau mộ có bức tường nhô cao, nối vòng thành dạng hình bầu dục lượn sóng. Trên bức tường có khắc các dòng chữ Hán tựa như bài thơ ca ngợi tài đức của Trịnh Hoài Đức nhưng lâu ngày bị mờ, không còn đọc được, hai bên trang trí hình hai đầu rồng cách điệu. Hiện nay, trên bức tường rộng này được trang trí hình long ẩn vân. Phía trước cửa vào mộ có tấm bình phong lớn, ghi khắc tiểu sử và sự nghiệp của Trịnh Hoài Đức. Trên những cột vuông nối các góc bờ vòng thành trước mộ có khắc những câu đối chữ Hán, nội dung chủ yếu nói về sự học, một cách chủ ý đề cập đến sự uyên bác trên bình diện nghiên cứu của Trịnh Hoài Đức. Trong vòng thành là thành tố chính của kiến trúc, gồm hai phần mộ: một của Trịnh Hoài Đức và một của chánh thất phu nhân, người họ Lê. Cấu kết mộ giống nhau, hình voi phục, xung quanh có gờ hình móng ngựa. Phía trước mỗi phần mộ đều có bia đá, khắc chữ Hán; chung quanh trang trí bởi các đường hồi văn, biểu tượng âm dương, phía dưới đắp nổi dạng chân quỳ. Nội dung các bia ở hai phần mộ Trịnh Hoài Đức nêu vắn tắt các danh, chức, phẩm hàm mà Trịnh Hoài Đức được ban tặng, cùng người vợ của ông; đồng thời có ghi cụ thể thời gian là tháng 11 năm Ất Dậu, con cái là Trịnh Thiên Lễ Nhiên, Trịnh Thiên Nhiên Bảo, Trịnh Thiên Bảo cùng lập bia.

    Trịnh Hoài Đức sinh năm 1765 (Ất Dậu). Ông còn có tên là An, tự Chỉ Sơn, hiệu là Cấn Trai. Tổ tiên ông là người Phúc Kiến, Trung Hoa, nối đời làm quan. Đến đời ông nội Trịnh Hoài Đức, nhà Mãn Thanh nổi lên thay nhà Minh, vì bất hợp tác với tân triều, gia đình ông sang cư ngụ ở Việt Nam. Thân sinh Trịnh Hoài Đức là Trịnh Khánh. Ông nổi tiếng ham học, giỏi về thư pháp và có tiếng là cao cờ. Trịnh Khánh kết duyên với cô gái Việt. Trịnh Hoài Đức mồ côi cha từ khi 10 tuổi. Để tránh loạn lạc, mẹ ông từ Qui Nhơn dời nhà đến vùng Phiên Trấn lập nghiệp. Tại đây, Trịnh Hoài Đức được mẹ cho đến thụ giáo thầy Võ Tường Toản, một nhà nho thuần hậu, đạo cao đức trọng nổi tiếng thời bấy giờ. Trịnh Hoài Đức chăm học, kết bạn với Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tĩnh. Cả ba người sau này trở thành những vì sao lấp lánh trời Nam, được mệnh danh là Gia Định Tam gia. Năm 1788, Nguyễn Ánh mở khoa thi ở Gia Định, cả ba ông ra ứng thí và đỗ đạt.

     Trịnh Hoài Đức được bổ nhiệm và lần lượt giữ chức Hàn Lâm viện Chế cáo, Điền Tuấn sứ huyện Tân Bình. Năm 1793, ông được sung chức Thị giảng Đông cung (Hoàng tử Cảnh) và dần được thăng lên Tham tri Hộ bộ, coi việc quân lương. Vào năm 1802, Trịnh Hoài Đức được thăng Thượng thư Hộ bộ cùng Ngô Nhơn Tĩnh, Huỳnh Ngọc Uẩn đi sứ Trung Hoa. Năm 1805, Trịnh Hoài Đức nhậm chức Hiệp lưu trấn Gia Định rồi Hiệp tổng trấn vào năm 1808. Tháng 12 năm 1813, Trịnh Hoài Đức từ cương vị Thượng thư Lễ bộ được thăng làm Thượng thư Lại bộ. Năm 1816, Trịnh Hoài Đức lại được giữ chức Hiệp tổng trấn Gia Định. Khi Nguyễn Ánh mất, Minh Mạng lên thay vào năm 1820, Trịnh Hoài Đức được vua triệu về kinh phong làm Phó Tổng tài ở Quốc sử quán, rồi thăng Hiệp biện Đại học sĩ, trật Tòng nhất phẩm, lãnh Thượng thư Lại bộ, kiêm lãnh Thượng thư Binh bộ. Trịnh Hoài Đức với kiến thức sâu rộng, đức độ khiến kẻ sĩ ngưỡng mộ được cử làm chủ khảo nhiều kỳ thi do triều đình mở.

     Trịnh Hoài Đức sau 40 năm làm quan được xem như bậc khai quốc công thần, tước lộc đứng đầu triều đình nhưng quen cảnh sống thanh bạch, kiệm ước, gần cuối đời cũng không có ngôi nhà riêng. Đến năm 1823, Trịnh Hoài Đức vì tuổi già, lâm bệnh, dâng biểu xin nghỉ việc. Vua Minh Mạng lệnh cho trích kho 2000 quan tiền và gỗ, gạch, ngói làm nhà, đồng thời ban sâm quế cho Trịnh Hoài Đức để nghỉ ngơi, điều trị bệnh. Mùa thu năm 1824, Trịnh Hoài Đức được vua Minh Mạng sung chức Tổng tài biên sửa Nguyễn Triều Ngọc Điệp và Tôn Phả, rồi kiêm lãnh công việc nhà Thương bạc.

     Con đường thăng tiến của Trịnh Hoài Đức một mặt thể hiện sự sủng ái của vua, tín nhiệm của triều đình đồng thời nói lên tài năng và nhân cách của ông trong thời bấy giờ.

     Mùa xuân năm 1825, sau một thời gian lâm bệnh, Trịnh Hoài Đức mất, thọ 61 tuổi. Vua Minh Mạng thương tiếc, sai nghỉ triều ba ngày, truy tặng ông chức Thiếu bảo, Cần Chánh điện Đại học sĩ, ban tên thụy là Văn Khác; phái hoàng thân Miên Hoằng thân hành tế lễ và đưa linh cữu Trịnh Hoài Đức về Nam theo nguyện vọng của ông. Linh cữu của Trịnh Hoài Đức về đến Phiên Trấn, Tổng trấn Lê Văn Duyệt thân hành phúng viếng rồi hộ linh cữu ôngvề chôn cất nơi quê mẹ là làng Bình Trước, Biên Hoà.

     Năm 1852, bài vị Trịnh Hoài Đức được đưa vào thờ ở Trung hưng công thần miếu và đưa vào thờ ở đền Hiền lương năm 1858.

     Trên bước đường công danh, Trịnh Hoài Đức đã lên gần tuyệt đỉnh. Ông là một con người tài đức vẹn toàn, được vua tin yêu, quần thần ngưỡng vọng. Dù ở chức quan cao cực phẩm nhưng Trịnh Hoài Đức vẫn sống giản dị, thanh cao, chỉ biết quên mình lo việc ích nước, lợi dân. Về phương diện văn hoá, Trịnh Hoài Đức là nhà thơ, nhà viết sử lỗi lạc hàng đầu của thời Nguyễn Trung hưng. Trịnh Hoài Đức để lại cho hậu thế một kho tàng trước tác đồ sộ gồm thơ văn và các công trình nghiên cứu như: Gia định thành thông chí, Cấn Trai thi tập... Công trình khảo cứu Gia Định thành thông chí là bộ địa lý học – lịch sử giá trị trong kho tàng thư tịch cổ của nước ta. Bộ sách này ghi lại đầy đủ nhất, toàn diện nhất diện mạo xứ Đồng Nai – Gia Định trong thời kỳ khai phá, lập nghiệp của cư dân Việt.

    Lăng mộ Trịnh Hoài Đức đã được Bộ Văn hoá - Thông tin - Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử theo Quyết định số 1539/QĐ, ngày 27 - 12 -1990.

    Những thế hệ con dân xứ Biên Hoà - Đồng Nai luôn biết ơn và tự hào về Trịnh Hoài Đức, một tài năng lớn, một nhân cách lớn đã góp phần đặt nền móng cho một vùng hào khí Đồng Nai – văn hóa Đồng Nai.

    1. Đình Tân Lân

     Đình Tân Lân, xưa kia thuộc thôn Tân Lân, huyện Phước Chánh, dinh Trấn Biên, nay là phường Hoà Bình, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Đình toạ lạc giữa vùng dân cư trên đường Nguyễn Văn Trị, mặt tiền hướng ra dòng sông Đồng Nai lộng gió, cách trụ sở Uỷ ban nhân dân tỉnh 500m về hướng tây bắc.

    

    Từ khi xây dựng, nhân dân đã lấy tên gọi của thôn là Tân Lân (Xóm Mới) để đặt cho đình. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, tên địa phương nhiều lần thay đổi nhưng tên đình vẫn tồn tại cùng tháng năm. Tương truyền, nguyên thủy đình Tân Lân là ngôi miếu nhỏ ở thành Kèn do dân làng dựng lên từ thời Minh Mạng (1820 -1840) để tỏ lòng ngưỡng vọng Trấn Biên Đô đốc tướng quân Trần Thượng Xuyên, người có công lớn trong việc khai phá đất đai và mở mang thương mại vùng Đồng Nai - Gia Định. Sau hai lần dời chuyển (vào năm 1861 và 1906), ngôi đình ở vị trí hiện nay.

    Toạ lạc trên khuôn viên đất rộng khoảng 3.000m2, đình Tân Lân bề thế, uy nghiêm với lối kiến trúc mang đậm dấu ấn của văn hoá Trung Hoa. Khách đến tham quan sẽ nhận thấy sự trang nghiêm, đầy hưng thịnh của ngôi đình.

    Mặt đình hướng về phía tây nam, được kiến trúc theo kiểu chữ tam (三) gồm ba gian: tiền đình, chánh điện và hậu cung nối tiếp nhau. Hai bên tả hữu là miếu thờ Bà và thờ Ông. Mái đình lợp ngói âm dương. Nền cao 60cm bằng đá xanh, lót gạch bông (20cm X 20cm). Bên trong đình, mỗi gian được bài trí điện thờ, hoành phi, câu đối, bao lam bằng gỗ do các nghệ nhân dân gian chạm trổ tinh vi, sắc sảo mang tính nghệ thuật cao. Các đề tài đều tượng trưng cho hạnh phúc, phồn vinh, tước lộc, công hầu... theo thông tục của người phương Đông.

    Phần tiền đình có diện tích 75,5m2, bộ khung vì bằng gỗ, trên các xà ngang chạm khắc đề tài dơi, đào, hoa, lá... biểu tượng cho sự phước thọ, trường tồn. Trên nóc trang trí đề tài “Lưỡng long tranh châu nhật”, “Lý ngư hoá long”... biểu tượng cho sự thịnh vượng, như ý. Mặt tiền mái đình là cả một công trình nghệ thuật đặc sắc tô điểm cho nền trời xanh thoáng đãng. Hằng trăm tượng người, vật bằng gốm sứ men xanh thể hiện các đề tài cổ điển phương Đông một cách sinh động, tài hoa. Khó có ai ngờ rằng, gần một trăm năm qua, những “Bát tiên quá hải”, “Quan Công phò nhị tẩu”, những chuyện tích thời chiến quốc, nhật nguyệt, lân phụng... sống động trên mái ngói, thi gan với nắng mưa mà vẫn nguyên vẹn sắc màu và đường nét.

    Phần chánh điện chiếm diện tích 487,5m2. Tôn nghiêm nhất là gian giữa với những hàng cột gỗ lim to dị thường, với tượng thần uy nghiêm ngự trên ngai sơn son thếp vàng, với những cặp chim trĩ, loan, phượng... bằng đồng đứng chầu trong tư thế duyên dáng và trang nghiêm. Trước bàn thờ thần là bàn La liệt, tiếp đến là bàn hội đồng nội. Song song với bàn La liệt và bàn hội đồng nội là hai bộ bát bửu bằng đồng. Hai gian bên thờ tả và hữu ban. Dọc tường tả hữu có các bệ thờ Thái Giám, Hậu Hiền, Bạch Mã và Tiền Hiền. Toàn bộ khung vì được làm bằng gỗ tốt, có cột chống ở giữa kiểu bình nước, được lắp ghép với kỹ thuật mộng chốt và gắn dầu rái đảm bảo độ bền vững cao.

    Hậu cung có diện tích 120m2 được chia thành ba gian, chính giữa thờ Tiên sư, hai bên thờ Tiền thứ Việt Nam và Tiền thứ Trung Hoa, được đặt trên bệ thờ bằng xi măng lót gạch men xanh.

    Ngoài ra, sau đình còn có khu nhà bếp nối liền với hậu cung, kiến trúc đơn giản, là nơi nấu ăn của đình.

    Những ai quan tâm đến mỹ thuật không thể không khâm phục bàn tay tài hoa của các nghệ nhân sáng tạo ngôi đình qua các tác phẩm điêu khắc đá, chạm khắc gỗ, phù điêu ghép sành, cẩn xà cừ, tượng sành kiểu Hoa Nam... trong đó ẩn chứa những triết lý nhân sinh sâu sắc. Toàn bộ những mảng trang trí trên là sự kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn giữa hai yếu tố kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn với yếu tố kiến trúc nghệ thuật đặc trưng vùng Hoa Nam (Trung Quốc). Đây cũng là sản phẩm gần như cuối cùng của lớp nghệ nhân tài hoa bản địa.


     

    Câu 4:

    Trong quá trình đấu tranh chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, ở Biên Hoà - Đồng Nai có nhiều sự kiện mở đầu cho các hoạt động cách mạng tạo nên thắng lợi chung của đất nước. Đó là những sự kiện nào? Nêu thời gian, ý nghĩa của từng sự kiện đó.

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng ở Đồng Nai đi vào hoạt động tự giác, có tổ chức, hướng đến mục tiêu trước mắt và lâu dài, xác định từng bước đi thích hợp. Giai đoạn 1935 đến trước tháng 8 năm 1945, chủ yếu là đấu tranh dân sinh dân chủ kết hợp đấu tranh chính trị và nuôi dưỡng lực lượng vũ trang để chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Nhiều cuộc đấu tranh chính trị liên tục của các tầng lớp nhân dân chứng tỏ sự trưởng thành của các lực lượng cách mạng: Liên đoàn học sinh trường tiểu học Bình Hòa được Đảng lãnh đạo rải truyền đơn kêu gọi tinh thần cách mạng ngày 1 tháng 5 năm 1935; mítting trọng thể tại Gò Dê (Bình Ý) tháng 9 năm 1936; Cuộc đấu tranh đòi giảm sưu thuế của nhân dân Long Thành và cuộc đấu tranh đòi tăng lương giảm giờ làm của công nhân Nhà máy BIF thắng lợi. Đầu năm 1937, các cơ sở Đảng phát triển, thành lập Tỉnh ủy lâm thời do đồng chí Trương Văn Bang làm bí thư, đến giữa năm có thêm các chi bộ Đảng: Bình Ý, Bình Phước, Tân Triều, Thiện Tân, Bình Hòa, Mỹ Lộc, Mỹ Quới, Xuân Lộc...

    Năm 1940, kế hoạch chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa Nam kỳ được tiến hành ráo riết nhưng bị lộ, địch bao vây và đàn áp các điểm khởi nghĩa gây nhiều tổn thất; một số đảng viên bị bắt, bị giết hoặc tù đày; một bộ phận có vũ trang thô sơ rút vào rừng (là một trong số các bộ phận hình thành Chi đội 10 sau Cách mạng Tháng tám).

    Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, ngày 27 tháng 9 năm 1941 thực dân Pháp chấp nhận cho phát xít Nhật đem quân chiếm đóng Nam Kỳ. Nhân dân Biên Hoà thêm một tròng áp bức. Rút kinh nghiệm của những thất bại trước đó, dưới sự lãnh đạo của các đảng viên cộng sản, phong trào đấu tranh của công nhân cao su ở các đồn điền trong tỉnh vẫn tiếp tục phát triển như: cuộc đình công của hơn 500 công nhân ở cơ sở Cuộc-tơ-nay, cuộc bãi công của hơn 600 công nhân tại hai phân sở A và B của đồn điền Bình Lộc đấu tranh với chủ sở đòi: không được bắt công nhân đi điểm quá sớm, không được đánh đập cúp phạt công nhân, đòi được phát gạo trắng, đòi tống cổ bọn cai, xu ác ôn, đòi trả công nhân mãn hạn về xứ…

    Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, lập chính quyền và các tổ chức thân Nhật; lãnh đạo Đảng nhận định tình hình, chọn thời cơ cách mạng; địa phương Biên Hòa cùng cả nước thực hiện lệnh tổng khởi nghĩa; buộc tỉnh trưởng ngụy Nguyễn Văn Quý phải chuyển giao chính quyền cho đại diện nhân dân lúc 11h30 ngày 26 tháng 8 năm 1945.

    Sáng ngày 27/ 8/ 1945, tại Quảng trường Sông Phố, một cuộc mít tinh lớn được tổ chức. Gần một vạn người từ các nơi kéo về đây tham dự. Trong không khí trào dâng của thắng lợi cách mạng, đồng chí Dương Bạch Mai – cán bộ Xứ ủy Nam kỳ đại diện mặt trận Việt Minh ở Nam Bộ diễn thuyết về đường lối cách mạng, của Đảng được quần chúng nhiệt liệt hoan nghênh. Đồng chí Hoàng Minh Châu, trưởng ban khởi nghĩa, tuyên bố chính quyền về tay nhân dân và công bố Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Biên Hòa gồm các đồng chí : Hoàng Minh Châu – Chủ tịch; Huỳnh Văn Hớn – Phó chủ tịch kiêm Trưởng ban tuyên truyền; Nguyễn Văn Long – phụ trách Cảnh sát tỉnh; Ngô Hà Thành – phụ trách Quốc gia tự vệ cuộc (công antỉnh); Ông Nguyễn Văn Tàng – phụ trách Ban quản trị tài sản quốc gia.

    Đồng bào phấn khởi hô vang các khẩu hiệu : “Việt Nam độc lập muôn năm”, “Việt Minh muôn năm”... Cuộc mít tinh kết thúc, đoàn người tuần hành biểu dương lực lượng qua các phố xen lẫn trong cờ hoa, biễu ngữ hào hùng, đầy khí thế như hoà chung với niềm vui của nhân dân cả nước. Cả thị xã Biên Hòa như bừng tỉnh hồi sinh sau 80 năm dài sống trong nô lệ, xiềng xích của chế độ thực dân phong kiến.

    Câu 5:

    Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30/4/1975; tỉnh Đồng Nai đã tạo nhiều thành tích ấn tượng về  văn hoá - lịch sử. Nêu ít nhất 5 công trình tiêu biểu và thời gian, ý nghĩa của các công trình ấy.

    Câu 6: Anh/Chị tâm đắc điều gì hay vấn đề nào đó trong những giá trị văn hóa, lịch sử của vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai? Hãy viết cảm nghĩ của bản thân về điều tâm đắc đó.

    Vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai là một vùng đất lâu đời, theo lịch sử, vùng đất này từng thuộc về Vương Quốc cổ Chân Lạp nhưng rất hoang sơ và hầu như chưa hề có một quần thể dân cư đúng nghĩa sinh sống.  Lịch sử của Biên Hòa – Đồng Nai gắn liền với lịch sử của Nam Bộ, là một hành trình dài để hình thành nên vùng đất lịch sử và anh hùng này, đây là điều tôi tâm đắc nhất trong những giá trị văn hóa, lịch sử của Biên Hòa – Đồng Nai.

    Trước đây, Nước Đại Việtchỉ trải từ Ải Nam Quanđến vùng Bắc Đèo Ngang(Quảng Bìnhngày nay). Việc mở rộng được bắt đầu khi có những giao tranh giữa Đại Việtvà vương quốc Chăm Paláng giềng lúc bấy giờ. Để mở rộng cõi bờ về phía Nam, nước Đại Việtlúc bấy giờ đã biết tổ chức một quân đội tốt, hùng hậu và có chiến lược nhu lẫn cương để thực hiện mưu đồ Namtiến của mình.

    Đến khi xảy ra giao tranh giữa vua - Chúa TrịnhChúa Nguyễn, lịch sử vẫn gọi là thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, đây là cuộc phân tranh tạo ra tình trạng cát cứ trong lịch sử Việt Nam, cuộc sống của người dân đói khổ và lâm vào lầm than. Điều này tạo ra một làn sóng di dân ồ ạt đầu tiên từ Bắcvào Nam, trong đó có làn sóng di dân của miền Thuận Quảng vào Đồng Nai tìm đất sinh sống và tái lập nghiệp. Người Việtdi cư đến đâu thì khai khẩn và phá hoang lấy đất canh tác đến đó tạo nên vùng đất trù phú. Ruộng lúa, hoa màu xanh tốt.

    Năm 1679, nhà MinhTrung Quốcsụp đổ, Tổng binh Trần Thượng Xuyên trấn thủ các châu Cao, Lôi, Liêm không khuất phục nhà Thanhđã đem 50 chiến thuyền, 3.000 binh lính thân tín và gia quyến đến xin thuần phục chúa NguyễnThuận Hóa. Lúc bấy giờ, đứng đầu nhà Nguyễn là Chúa Nguyễn Phúc Chuđã thu nhận họ và cho vào khai khẩn, mở mang vùng đất Đông Phố (Cù lao Phố ngàynay). Họ biến Cù Lao Phốtrên sông Đồng Nai trở thành một thương cảng sầm uất và phát triển.Năm Mậu Dần1698, chúa Nguyễn sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnhvào kinh lược vùng đất Đồng Nai (lúc này, từ Đồng Nai hay vùng đất Đồng Nai là ám chỉ cả một vùng Nam Bộrộng lớn của bây giờ), đặt vùng đất mới thành phủ Gia Định, chia làm 2 huyện: huyện Phước Long(Đồng Nai) dựng dinh Trấn Biên, huyện Tân Bình(Sài Gòn) dựng dinh Phiên Trấn. Ngoài ra, Nguyễn Hữu Cảnhcòn cho lập bộ đinh, bộ điền, chiêu mộ những người có vật lực từ các vùng khác vào lập nghiệp và phát triển kinh tế.

    Người Hoavốn dĩ với bản chất kinh doanh thương mại giỏi đã theo Trần Thượng Xuyênđến định cư ở Bến Gỗ, nhưng sau nhận thấy Cù lao Phốcó vị trí thuận lợi cho việc kinh doanh buôn bán nhờ nằm giữa ngã ba của con sông lớn nhất vùng Nam Bộ, họ đã quyết định di chuyển đến đây sinh sống. Từ đây, Cù lao Phốphát triển ngày càng phồn thịnh và nhanh chóng trở thành trung tâm thương mại và giao dịch với các quốc gia lân cận của cả vùng Gia Định(Nam bộngày nay). Từ 1955-1975, sau hiệp định Giơ-ne-ve đất nước bị chia cắt, Đồng Nai thuộc sự cai quản của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

    Đoạn trên chính là tóm lược lịch sử của vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai, theo một quy luật quen thuộc, vùng đất này cũng phải trải qua bao bể dâu, chiến tranh gian khổ và dựa vào con người để phát triển nên một vùng Biên Hòa – Đồng Nai trù phú, kinh tế năng động vào hạng nhất nhì của Đông Nam Bộ. Lịch sử hào hùng của Đồng Nai từ thời khai phá qua đến hai cuộc cách mạng kháng chiến vĩ đại của dân tộc là  niềm tự hào không nhỏ không chỉ của người dân Đồng Nai mà còn là của cả vùng Đông Nam Bộ anh dũng bất khuất.

    Thế hệ trẻ, thanh niên Biên Hòa – Đồng Nai ngày nay ngày càng tiến bộ, trí thức ngày một nâng cao, là những chủ nhân mới mẻ sẽ mang lại vẻ vang cho vùng đất anh hùng, và phát huy truyền thống anh dũng, bất khuất của vùng đất Đồng Nai lịch sử hào hùng.

    Văn hóa lịch sử Đồng Nai