trang Blog

vtonga76Tham gia: 23/09/2009
  • Thi tốt nghiệp môn văn và gợi ý trả lời câu 2 điểm
    Nhịp Sống Trẻ
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Thi tốt nghiệp môn văn và gợi ý trả lời câu 2 điểm

    Câu 2 điểm trong đề thi tốt nghiệp môn Văn là câu hỏi kiểm tra kiến thức. Để đảm bảo thời gian cho toàn bài, câu trả lời phải hết sức ngắn gọn, rõ ràng. Có thể trình bày theo hai cách sau đây:

    Cách 1

    Câu hỏi 1: Hãy trình bày ngắn gọn quan điểm sáng tác văn chương của Hồ Chí Minh.

    Trả lời:

             Trong cuộc đời hoạt động của mình, Bác xem văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú, phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng. Người coi văn chương là một thứ vũ khí; các nhà văn nhà thơ là người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng. Quan điểm này được thể hiện rất rõ trong bài “Cảm tưởng đọc thiên gia thi”:

                      Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp

                      Mây, gió, trăng, hoa ,tuyết, núi, sông

                      Nay ở trong thơ nên có thép

                      Nhà thơ cũng phải biết xung phong

             So sánh thơ xưa với thơ nay, Bác khẳng định thơ xưa chỉ thuần túy là nghệ thuật, nhưng trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, thơ ca phải là một thứ vũ khí tham gia vào cuộc chiến đấu giành độc lập cho dân tộc. Các nhà thơ không chỉ là nghệ sĩ mà còn phải là một người chiến sĩ xung phong trên mặt trận văn hóa tư tưởng. Quan điểm này của Người một lần nữa được nhắc lại trong “Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa” (1951), trong đó Bác viết “ Văn học nghệ thuật cũng là 1 mặt trận, anh em nghệ sĩ cũng là người chiến sĩ trên mặt trận ấy”.

             Trong quá trình sáng tác, Bác thường quan tâm đến bốn yếu tố: đối tượng tiếp nhận; mục đích sáng tác; nội dung; hình thức và cho rằng hai yếu tố: đối tượng tiếp nhận và mục đích sáng tác có vai trò quyết định nội dung và hình thức tác phẩm. Bác đã từng nêu lên kinh nghiệm của mình đó là khi viết Bác thường đặt ra bốn câu hỏi: Viết cho ai? Viết để làm gì? Sau đó mới đến: Viết cái gì?Viết như thế nào?

             Hồ Chủ Tịch quan niệm văn chương phải có tính chân thật, người viết phải thể hiện được bản chất tâm hồn dân tộc. Khi nói chuyện với anh em văn nghệ sĩ, người thường căn dặn: Phải viết sao cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn đời sống dân tộc.

    Người đề cao tính sáng tạo trong văn chương nghệ thuật. Trong quá trình chỉ đạo những cán bộ văn nghệ, Người thường căn dặn: Đừng bắt anh em vào một cái khuôn làm mất đi tính sáng tạo. Người coi sáng tạo là một yếu tố then chốt để văn chương trở về đúng nghĩa là một thứ nghệ thuật đích thực.

    Câu hỏi 2: Đánh giá về Nguyễn Đình Chiểu, trong tác phẩm “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc”, tác giả Phạm Văn Đồng đã sử dụng một hình ảnh giàu ý nghĩa, đó là hình ảnh nào? Hãy phân tích ý nghĩa của việc sử dụng hình ảnh ấy.

    Trả lời:

             Đánh giá về vị trí và những đóng góp của Nguyễn Đình Chiểu trong nền văn hóa dân tộc, tác giả Phạm Văn Đồng sử dụng hình ảnh: “trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường phải chăm chú nhìn mới thấy và càng nhìn càng thấy sáng”. Đây là một hình ảnh giàu ý nghĩa.

    Việc sử dụng hình ảnh so sánh đó đã giúp người đọc hình dung một cách cụ thể về vị trí cũng như đóng góp của Nguyễn Đình Chiểu trong nền văn hóa dân tộc. Dùng hình ảnh: “vì sao có ánh sáng khác thường”, tác giả đã chỉ ra rằng văn chương của Nguyễn Đình Chiểu có vẻ đẹp và giá trị riêng, độc đáo, khác với thơ văn của các tác giả cùng thời cũng như trong nền văn học dân tộc. Hình ảnh này định hướng cho người đọc con đường tiếp cận và khám phá vẻ đẹp cũng như giá trị của văn chương Nguyễn Đình Chiểu mà nếu lấy khuôn mẫu chung để đánh giá khó có thể nhận thấy những đóng góp và giá trị của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu cho nền văn hóa dân tộc.

    Tác giả còn tiếp tục khẳng định đó là một vì sao mà “phải chăm chú nhìn mới thấy sáng”. Văn chương của Nguyễn Đình Chiểu có vẻ đẹp tiềm ẩn, không dễ gì nhìn thấy hoặc nếu chỉ nhìn lướt qua có thể không thấy được vẻ đẹp của nó. Bổ sung thêm nhận định này, Phạm Văn Đồng tiếp tục khẳng định và đề cao giá trị của văn chương Nguyễn Đình Chiểu. Có thể hiểu văn chương Nguyễn Đình Chiểu như những vỉa quặng nằm sâu dưới mặt đất cần phải gạt bỏ hết lớp đất mặt để những vẻ đẹp ấy lộ ra.

    Cuối cùng tác giả khẳng định đó là một ngôi sao “càng nhìn càng thấy sáng”. Ở nhận định này, tác giả đã sử dụng cấu trúc tăng tiến. Ngôi sao tỏa ra thứ ánh sáng lấp lánh mà càng nhìn càng thấy sáng, là ngôi sao có vẻ đẹp bất biến. Có nghĩa là vẻ đẹp và giá trị văn chương của Nguyễn Đình Chiểu không phải chỉ là nhất thời, chỉ có trong giai đoạn lịch sử ấy mà tồn tại vĩnh hằng, càng khám phá càng nhận ra đầy đủ và sâu sắc hơn những tầng giá trị phong phú của văn thơ Nguyễn Đình Chiểu. Như vậy, việc tìm được một hình ảnh giàu ý nghĩa đã giúp Phạm Văn Đồng đánh giá được một cách đầy đủ, sâu sắc về vị trí và những đóng góp của Nguyễn Đình Chiểu.

    Câu hỏi 3: Phạm Văn Đồng đã khẳng định thơ văn Nguyễn Đình Chiểu vẫn còn bị nhìn nhận và đánh giá thiên lệch. Luận điểm trên được triển khai như thế nào?

    Trả lời:

             Trước hết tác giả đưa ra nhận định khái quát về việc thơ văn Nguyễn Đình Chiểu (NĐC) vẫn còn bị nhìn nhận đánh giá thiên lệch. Đó là việc người ta chỉ biết đến “Lục Vân Tiên” chứ không biết đến thơ văn yêu nước của NĐC. Bên cạnh đó người ta cũng chỉ biết đến giá trị nội dung tư tưởng của truyện Lục Vân Tiên chứ chưa biết đến giá trị nghệ thuật của truyện thơ này.

             Sau đó tác giả đi vào triển khai cụ thể. Để khẳng định rằng việc đánh giá và đề cao Lục Vân Tiên mà không chú ý đến thơ văn yêu nước NĐC đã làm giảm giá trị và đóng góp của NĐC trong nền văn hóa dân tộc, Phạm Văn Đồng (PVĐ) triển khai như sau:

     Để nhấn mạnh và khẳng định đóng góp của NĐC ở thơ văn yêu nước, tác giả đã trình bày hoàn cảnh lịch sử của đất nước lúc bấy giờ. Chỉ ra rằng trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, thơ văn yêu nước giữ một vai trò đặc biệt và NĐC đã đóng góp rất lớn bằng những tác phẩm thơ văn yêu nước của mình. Tác giả đưa ra hai dẫn chứng cụ thể đó là những bài văn tế bi tráng nổi tiếng và bài thơ “Xúc cảnh”.

     Để khẳng định Lục Vân Tiên có giá trị ở cả 2 phương diện, trước hết PVĐ chứng minh rằng chỉ cần xem xét những đóng góp của truyện LVT về việc truyền tải những đạo lí truyền thống tốt đẹp của dân tộc cũng đã đủ xếp LVT ở vai trò xứng đáng. Tuy nhiên, tác giả chỉ ra rằng cần phải thấy đầy đủ hơn những thành công về nghệ thuật ở truyện thơ này. Để người đọc hiểu được thành công về nghệ thuật ở một tác phẩm mộc mạc giản dị như LVT, tác giả đã phải giải thích rõ về mục đích sáng tác đó là viết truyện LVT để dễ lưu truyền trong nhân dân lao động. Bên cạnh đó, tác giả giải thích về hoàn cảnh riêng của NĐC ảnh hưởng đến việc sửa chữa và hoàn chỉnh về mặt nghệ thuật của tác phẩm. Việc bị mù cả hai mắt khiến cho nhà thơ không có điều kiện đọc soát lại tác phẩm, vì thế truyện LVT giống như một viên ngọc tự nhiên chưa được mài giũa. Tuy nhiên, cuối cùng tác giả vẫn đi đến khẳng định truyện LVT có nhiều câu thơ hay, hấp dẫn người đọc.

    Việc triển khai luận điểm rành mạch và sâu sắc đã giúp cho tác giả khẳng định được vị trí quan trọng của NĐC trong nền văn hóa dân tộc.

    Cách 2

    Câu hỏi 4: Ý nghĩa của việc trích dẫn hai bản Tuyên ngôn của Pháp và của Mĩ trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chủ Tịch?

    Trả lời:

             - Việc trích dẫn hai bản Tuyên ngôn của Pháp và của Mĩ trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chủ Tịch là một thành công về lập luận của tác phẩm. Mở đầu bản Tuyên ngôn, Người viết:

    “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

    Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ…

    Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói:

    “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

    - Việc trích dẫn như vậy mang nhiều ý nghĩa:

             + Vào thời điểm năm 1945, nước ta chỉ là một thuộc địa nhỏ bé của Pháp. Trong mối quan hệ với các nước thuộc địa, thực dân Pháp thường tự xưng là “nước Mẹ đại Pháp” và coi các nước thuộc địa là “nhược tiểu”. Việc trích dẫn như vậy là nhằm tạo ra sự ngang hàng của ba bản tuyên ngôn, sự ngang hàng của ba nền độc lập và ba quốc gia làm cơ sở cho việc đối thoại với kẻ thù thực dân và thế giới.

             + Thực dân Pháp đưa ra luận điệu: chúng đến Đông Dương là để “khai hóa văn minh” và “bảo hộ” cho các nước thuộc địa trong đó có nước ta và thường sử dụng như một chiêu bài lừa dối nhân dân ta và cộng đồng thế giới. Vì thế việc trích dẫn những quyền con người được hưởng và các dân tộc được hưởng từ hai bản tuyên ngôn của chúng chính là cách buộc chúng phải thực hiện những điều, những quyền mà chúng đã tuyên ngôn. Đặc biệt là khi tác giả đã gọi những lời lẽ đã trích ấy là những “Lời bất hủ”.

             + Chứng tỏ tầm hiểu biết sâu rộng của người viết cũng như trí tuệ sắc bén của người cầm bút luận chiến với kẻ thù. Điều này khiến cho tác giả đã nâng cao được vị thế của dân tộc ta trong việc tranh đấu kẻ thù.

    - Tóm lại: Việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn đã khiến cho phần mở đầu rất thành công. Ngay từ phần mở đầu đã có tính chiến luận sắc bén, chứng tỏ một ngòi bút đậm chất trí tuệ.

    Thi tốt nghiệp môn văn và gợi ý trả lời câu 2 điểm